Xương trắng Trường Sơn

Xuân Vũ

vanviet.info

Posted on 12 tháng Sáu, 2020 by Văn Việt

Post by Sơn râu 30 Jul 2025

Kỳ 4

Tôi và Thu đi hết quãng đường này đúng vừa lúc Thu mệt ngất lả người ra, không còn một chút sinh lực để bước thêm một bước.

Tôi biết là đến nơi rồi.

Tôi vọt lên bờ, đứng dang chân ra và khom người xuống đưa tay cho Thu, Thu đã đến mé bờ nhưng Thu chỉ còn sức để đưa tay lên cho tôi nắm lấy và ngã gục mặt vào hai mũi bàn chân tôi, như một sự buông trôi cả thể xác lẫn tâm hồn Thu cho tôi.

Tôi lấy hết sức lôi nàng lên khỏi nước và tôi buông nàng xuống đất nằm sóng soài ra đó không cần kể tới sự phải giữ gìn kín đáo cho một người con gái.

Ở đây không ai còn tâm trí và sức lực để nhìn để nghĩ về một tấm thân của một người con gái.

Thu nằm đây lăn lóc dưới đất, áo quần ướt đẫm, rách nhiều nơi, da nàng lộ ra nhiều mảnh trắng nhưng đâu có ai buồn nhìn.

Tôi lắc nhẹ Thu và bảo:

– Em ạ, đến nơi rồi!

Nhưng Thu vẫn nằm,, đôi mắt Thu nhắm nghiền, Thu không tỏ vẻ hay biết về những việc xảy ra chung quanh nàng.

Những anh bộ đội mặt mày xanh ngắt xanh ngơ cũng theo dấu chân của tôi, cố trườn lên bờ. Nhiều người nằm tại bờ suối đó, nhưng cũng có nhiều người cố vượt lên vài chục bước rồi nằm vật ra.

– Thu ạ!

Thu vẫn không đáp.

Quần áo dán sát vào thân người nàng, làm lộ hẳn những đường nét đáng yêu. Tôi lặng người đi giây lâu, không còn nhớ mình là ai, cũng không còn biết đây là đâu, mà chỉ thấy rằng mình đang đứng trước một cái gì đáng yêu đáng bảo vệ quá.

Tôi cúi xuống bế xốc Thu lên.

Nhưng để làm gì? Nhìn quanh quất tôi không biết làm gì. Mà cứ thấy rằng mình không thể để cho một con người như thế, nằm lăn lóc dưới đất.

Tôi ôm sát nàng vào ngực tôi như để sưởi ấm cho nàng. Trời ơi! Tôi yêu nàng, yêu cả những thói xấu và những sự bất mãn của nàng.Tôi biết rằng tôi yêu nàng vì tình yêu của tôi đối với nàng là động cơ mạnh nhất thúc đấy tôi đi tới, sau cái tình quê hương của tôi.

Nếu không có Thu thì có lẽ tôi buông trôi cuộc đời tôi, để cho nó cứ trôi dạt, và rồi tôi sẽ phải chấp nhận cái bãi biển, cái bến bờ nào mà sóng gió đưa tôi đến.

Tôi đặt Thu xuống và lấy võng mắc bừa lên rồi ẳm Thu đặt lên võng như lần trước qua khỏi con sông gì đó! Mà chính tôi cũng không biết tên.

Tôi lấy chăn – tấm chăn ướt – đắp cho Thu rồi lại ngồi bên đầu võng Thu, như một tên nô lệ canh giấc ngủ cho một nữ hoàng.

Những người lính lại lôi thôi lếch thếch đi qua.

Họ không còn là những chiến sĩ của quân đội Miền Bắc.

Họ là những cái bộ xương còn có thể di động trong vài hôm nữa, và chỉ cần một trận mưa nữa là những bộ xương ấy sẽ rã ra, rải rác khắp trên con đường vinh quang này như những cánh hoa vô giá, làm cho con đường giải phóng Miền Nam thêm hương thêm sắc.

Ông Chín và ông già Noël không biết làm sao mà rồi cũng tới nơi được. Trông họ còn bệ rạc, bi thảm hơn cả Thu. Ông Chín thì mắc võng nằm. Còn ông già Noël thì cứ trườn lên được trên bờ rồi lăn ra đất như một đống thịt vô tri.

Chập sau, thấy Thu hơi tỉnh người lại, tôi hỏi:

– Em thấy trong mình thế nào?

Thu lắc đầu. Đôi môi Thu khô ran như muốn nứt ra. Nước da của Thu vừa xanh vừa tái. Quần áo ướt đẫm. Tôi chú ý thấy dưới đít võng những giọt nước hồng hồng. Thì tôi biết Thu vẫn khó ở. Và có thể Thu ốm nặng vì cái trận lội suối này. Tôi ái ngại cho Thu vô cùng. Tôi muốn tìm ông bác sĩ Năm Cà Dom nhưng không thấy ông ta ở đâu.

Tôi biết Thu đang khóc. Có lẽ nếu tôi không hỏi cái câu lúc nãy, cứ để cho Thu nằm im, thì Thu không khóc, nhưng vì tôi hỏi câu đó cho nên Thu tủi thân.

Nước mắt Thu trào ra khóe mắt. Thì cũng như mọi người con gái khác hay mọi người khác khóc thôi, thế nhưng ở đây mỗi một giọt nước mắt chứa đựng rất nhiều nối niềm trong đó có sự tủi hận.

Tủi vì tấm thân của con người “đi làm cách mạng giải phóng Miền Nam” bị đối xử như con vật, con vật hy sinh (không biết để làm gì), hận vì trót nghe lời thiên hạ quá dễ dàng, tin chắc ba bó một giạ.

Riêng Thu, tôi nghĩ giọt nước mắt càng phức tạp hơn trong đó không khỏi có sự tiếc thương cái sắc đẹp tiêu tan của mình trên con đường này.

Gái Hà Nội khéo ăn, khéo mặc. Tôi đã từng biết điều đó. Mảnh vải thồ, họ cũng biến thành chiếc áo đẹp và duyên dáng. Một sợi tóc họ để lả lơi trước trán hay buông thả bên thái dương, cũng đều có ý thức chứ không “may rủi” bao giờ.

Bây giờ nằm ở đây, Thu làm sao khỏi chạnh lòng, tủi hận? Tôi cũng không biết cách nào giúp đỡ Thu, giữ gìn sức khỏe của nàng. Trong tôi và trong ba lô tôi, cũng như trong nàng và trong ba lô nàng không còn một vật gì khô sau mấy tiếng đồng hồ ngâm nước.

Còn gạo trong ruột tượng, chỉ vài nhúm thôi, nhưng gạo đâu còn là gạo. Nó rã mềm và nát ra như bột thối. Nhưng tôi cũng không dám bỏ. Vì dầu sao thì nó cũng là gạo. Có cái gì thay thế nó.

Tôi đi quơ củi gom lại và bất kể sự vi phạm kỷ luật đi đường, tôi nấu cho Thu một bát cháo với số gạo đó và nấu một bi đông nước sôi để cho Thu chuờm bụng.

Thu cứ kêu đau bụng luôn. Đáng lẽ những ngày khó ở đã chấm dứt rồi, nhưng vì bị ngoại cảnh ác nghiệt cho nên nó mới kéo dài và gây ra nhiều sự phức tạp cho Thu, mà chứng đau bụng liên miên là một.

Thu cầm lấy bi đông nước và áp vào bụng. Qua làn áo ướt hơi nóng truyền vào cơ thể nàng, làm cho gương mặt nàng tươi dần.

Rồi nàng húp chén cháo nấu với mớ gạo mục kia. Nàng càng tỉnh ra và nàng bắt đầu nói chuyện.

Nàng nói gì? Nàng nói toàn những chuyện bất mãn và những chuyện trái ngược lại mơ ước mà nàng xây đắp ở đầu đường.

Nàng nói:

– Em dè thế này, thì em đã không đi!

– Thôi em ạ! Tôi bảo. Em không nên nghĩ như vậy.

– Em đã quyết ở lại từ phía bên kia sông. Em không muốn đi từ sau cơn sốt đầu tiên kia anh ạ. Nhưng sở dĩ em còn gắng gượng đi tiếp là vì em muốn để thử xem sự đời nó có khác hơn không. Nhưng cho đến hôm nay là đúng một tháng mười tám ngày đi trên đường này rồi. Em nhận hai điều. Một là… càng ngày những sự vô lý càng nhiều thềm và càng cao độ. Nếu cuối cùng em có hy sinh thì đó là kết thúc sự vô lý. Hai là em không thể đi nổi nữa. Anh cũng biết rõ sức khỏe của em. Nhất là đôi chân của em. Ở trường ra, em coi trọng đôi chân hơn cả. Bởi vì múa ba-lê mà không có đôi chân khỏe và tế nhị thì lấy gì mà múa. Nhất là cái cổ chân. Bây giờ qua bao nhiêu lần sưng bao nhiêu lần trặc thì nó sượng ngắt rồi không như xưa nữa, còn mũi chân với những cái ngón chân tòe thì cũng hết nhạy rồi!

Thu nói tiếp:

– Anh thấy không? Nếu em cố mà đi cho khỏi mang tiếng thì em cũng chỉ đi được vài chặng nữa mà thôi. Rút cuộc những cố gắng hy sinh của em không đem lại cái gì cho ai cả.

Tôi ngồi lặng thinh.

Tôi không còn cách giải thích nào hay ho hơn mà ngược lại tôi thấy Thu nói đúng quá, đúng cho đến nỗi ngay cả những người chủ trương cuộc đi này cũng không thể cãi lại nổi.

Hơn nữa để chứng minh cho những lời nói vừa rồi của Thu, còn có ông Chín, ông già Ngũ, anh binh sĩ bị pháo đè gãy chân, anh Khấu đội trưởng bị đội viên đánh rớt xuống suối. Đó là những hiện tượng quá hùng hồn mà Thu đã trông thấy trước mắt để làm cơ sở cho những lời nói của Thu.

Đàng kia, cái võng cáng anh binh sĩ gãy chân vừa ló ra dưới nước. Bốn người khiêng ngập đến ngực, người nằm trên võng thì hai tay đeo chiếc đòn, cố ngóc đầu lên cho khỏi bị nước ngập.

Vừa đến bậc đá để trèo lên, người đi đầu nghển cổ lên quát: “Tiếp! Tiếp!” rồi đưa bàn tay xanh ngắt bám lấy một mỏm đá mà đứng đấy.

Cả đám binh sĩ ngồi chung quanh cũng nghển cổ lên nhìn trả lại. Không có cậu nào chạy đến tiếp cứu cho anh bạn kia.

Tôi bực mình quá, đứng dậy, lại quát:

– Các đồng chí ra lôi nó lên đùm một chút.

Một người nói:

– Thì đến nơi rồi, ráng lên tí nữa.

– Nó khiêng người bệnh mà. Tôi hạ giọng thiết yếu. Tội nghiệp nó.

– Tụi tôi cũng bệnh đây, có đứa nào khỏe đâu.

Thế thì hết chỗ nói rồi.

Không anh nào chịu đến tiếp lôi cái cáng lên cả.

Tôi đành phải đi làm việc đó. Tôi nắm tay của anh đi đầu và lôi tuột lên bờ. Cái cáng bị dốc ngược ra sau, hai anh khiêng phía sau bị sức nặng dồn xuống vai, té ngửa. Tôi nhanh tay chụp lấy anh bệnh binh lôi lên bờ như lôi một khúc gỗ. Nếu không có tôi anh ta sẽ rơi xuống nước và bị cuốn đi.

Anh bệnh binh nằm dưới đất, cách mé bờ vài tấc nhưng cũng không có ai ngó ngàng tới. Tất cả đều xem việc đó như không có ở trước mắt mình. Tôi chỉ làm đến đó thôi, rồi trở lại ngồi bên võng của Thu, đưa mắt nhìn.

Anh binh sĩ gãy chân bắt đầu kêu la thảm thiết, cũng vẫn cái giọng đêm qua, nhưng bây giờ thì đã khàn rồi.

“Ố làng nước ôi, ối cha mẹ ôi, chắc con hết trông thấy mặt thày mẹ rồi, ối… ối…”

Cái chân gãy của anh do bác sĩ Năm Cà Dỏm băng và cặp nẹp bằng những thanh nứa tươi hôm qua, nay đã sưng lên nước thấm vào băng chảy xuống ròng ròng. Anh để nó nằm ngay ra nó, có lẽ để cho mỗi người xem một chút chăng?

Bốn anh chàng hiệp sĩ khiêng anh ta cũng tìm chỗ mà nằm sải tay ra, không buồn ngó đến cái anh đồng chí này nữa. Họ tự xem như đã làm xong nhiệm vụ với anh này.

Anh giao liên tự nãy giờ ngôi êm rơ trên một tảng đá nhìn rõ mọi sự việc xảy ra, nhưng cũng không buồn mó tới. Đợi cho mọi người không còn để ý tới anh binh sĩ gãy chân nữa, anh ta mới đến gần. Anh ta nhìn nhìn một chốc rồi lắc đầu:

– Đau cái gì thì còn mong mỏi, chứ gãy chân thì hết phương rồi Làm sao mà đi? Chỗ đâu mà nằm? Đường này ai mà khiêng cho nổi? Ở đây đâu có bệnh viện!

Rồi anh quay trở lại tảng đá lúc nãy. Trên tảng đá có một mảng nắng. Anh ta đang căng cái áo phơi ở đó. Cũng trong mảng nắng đó có một mớ thuốc lá. Anh ta đang săn sóc mớ thuốc đó cho mau khô để hút lấy hơi ấm. Chốc chốc anh ta quay lại xốc xốc mớ thuốc lên. Rồi có lẽ không đủ kiên nhẫn chờ đợi cho mớ thuốc khô, anh ta bốc bỏ cả lên lòng bàn tay đưa lên miệng hà hơi. Tại anh ta sốt rưột chứ hà hơi thuốc đâu có khô nhanh hơn phơi nắng.

Thấy anh ta là bợm ghiền còn tôi thì, tuy không nghiện nhưng tôi có mua mấy gói thuốc Thăng Long bỏ trong ba lô với ý định là sẽ biếu cho mấy bạn thân ở Miền Nam để cho họ nếm mùi xã hội chủ nghĩa chơi.

Tuy định như vậy, nhưng cũng tùy cơ ứng biến. Tôi lấy ra một gói bọc trong hai ba lớp ni lông nhưng thuốc vẫn hơi i ỉ. Tôi xé bao thuốc, chỉ rút ra một điếu thôi. Tôi cầm điếu thuốc trên tay rồi đi đến tảng đá ngồi ngay xuống bên cạnh anh giao liên. Anh này hơi khó chịu vì cái cử chỉ đường đột của tôi, nhưng tôi chìa ngay điếu thuốc ra rước mắt anh ta và nói:

– Làm cái này này anh bạn.

Tức thời anh giao liên sáng mắt lên ngay. Anh nhìn sang tôi. Có lẽ anh muốn biết tôi là ai mà giờ phút này còn có ớ được cái món quí giá như vậy.

Tôi mời thân thiết:

– Làm điếu này đi đồng chí cho đỡ lạnh.

Anh giao liên cầm lấy điếu thuốc đưa lên mũi ngửi ngửi:

– Chà chà! Ngon dữ ha!

– Thăng Long hạng nhất ngoài đó đó, đồng chí!

Anh giao liên nâng điếu thuốc lên tận mắt rồi gật gù:

– À có chữ Thăng Long đây.

– Hút đi! Tôi vừa bảo vừa móc cái bật lửa ra.

Cái ruột bật lửa cũng bị ướt cho nên tôi phải vất vả và khéo léo lãm mới bật ra lửa.

Khói lên thơm ngát một vùng.

Mấy người nằm bên cạnh lơ mơ, bỗng nghển cố lên:

– Cha nào hút thuốc thơm ngon vậy

– Ở đây mà còn thuốc, cha chả là đế vương rồi!

Anh giao liên cứ bình tĩnh rít từng hơi vừa trang trọng vừa cẩn thận. Nét mặt anh ta có vẻ tập trung cao độ một tình cảm và ý nghĩ để thụ hưởng làn khói thơm tho ngon lành. Tôi có cảm tưởng là những nhọc mệt trong chặng đường vừa qua đã tan trong làn khói ấy.

Tôi lân la hỏi:

– Chặng đường sắp tới thế nào, đồng chí?

– Hết suối rồi.

Anh giao liên rít một hơi dài rồi phun khói ra một đợt ngắn còn bao nhiêu thì anh ta hít cả vào trong phổi. Anh ta gật gà gật gù cái đầu và nói tiếp:

– Nhưng chưa hết khổ.

– Khổ gì đồng chí?

– Hết suối thì tới núi.

– Núi thì tụi tôi cũng lội quá sá rồi.

– Nhưng núi ở đây khác núi ở ngoài đó.

– Khác làm sao đồng chí?

– Nó lầy lội khó đi lắm.

– Trời đất! Núi gì mà lầy lội?

Anh giao liên làm như không chú ý đến câu hỏi của tôi. Anh ta mải mê rít thuốc. Điếu thuốc đã cháy hết quá nửa rồi. Nhất gái một con, nhì thuốc ngon nửa điếu. Nửa điếu thuốc còn lại, nhựa ngon dồn lại ở đây, làm cho sợi thuốc săn lên và đậm đà hơn.

Anh giao liên tỏ ra rất sành. Anh ta không gạt cái tàn trắng ở đầu điếu thuốc, để cho nó bao bọc cái cục lửa giữ khói và giữ hơi ấm.

Anh trả lời:

– Để rồi đồng chí sẽ thấy. Lá mục từ đời Hồng Bàng tới bây giờ có ai mà cào hốt đi. Bây giờ con cháu đức Hùng Vương mới lội qua lần thứ nhất. Nó ngập đến ống chân. Đồng chí lội vào đấy rồi đồng chí có cảm tưởng là da thịt của đồng chí đã mục đi, hoặc là bị cái lớp lá mục đó cạp hết còn lại cái ống xương mà thôi.

– Đồng chí nói gì nghe ghê vậy?

– Tôi nói thiệt mà! Anh giao liên tiếp, nhưng chưa hết đâu, còn vắt nữa. Trời đất ông bà thánh thần ơi! Vắt như mạ rải trên ruộng vậy Rất tiếc rằng mình không ăn nó được, chứ nếu ăn được thì ở vùng này không lo cực ăn.

Tôi rùng mình. Chỉ hai cái chi tiết của anh giao liên vừa nêu lên đó cũng đã làm cho tôi hình dung ra chặng đường sắp tới.

Anh giao liên hãy còn trẻ, nhưng gương mặt đầy vẻ phong sương dáng người xơ xác quá. áo quần thì rách mướp.

Trong người anh không có cái gì quí giá cả, ngoài chiếc bai-on-nết của một khẩu súng cạc-bin. Vải mủ của anh dùng để che mưa thay áo mưa cũng rách nát.

Có lẽ vì có cảm tình với tôi và trông tôi nhiều tuổi hơn anh nên anh tự xưng tên và đôi lần xưng bằng em khi nói chuyện với tôi.

– Em tên là Tấn! Em công tác ở đây đã hai năm.

Tấn tiếp:

– Trên chặng đường này chỉ có em là công tác lâu nhất. Còn ai đổi đến đây cùng chỉ chịu đựng sáu tháng là cùng. Hoặc xin đổi, hoặc trốn mất. Anh xem đó, khúc đường này là toàn ngâm mình dưới nước. Một năm ít ra cũng tám tháng. Cứ cách một ngày lại ngâm nước một lần như thế. Mà mỗi lần ngâm ít ra cũng từ sáu đến tám tiếng đồng hồ. Da thịt nào chịu nổi. Từ dưới nước lên bờ, đâu có quần áo mà thay!

– Chặc! Khổ thế!

– Em cũng biết các anh đau lắm. Nhưng không còn cách nào khác.

– Sao không tìm con đường khác mà đi cho khỏe.

Tấn rít đến hơi thuốc cuối cùng. Hòn lửa đã cắn đôi môi Tấn, Tấn mới chịu phun nó ra. Tấn còn luyến tiếc nhìn theo cái đuôi thuốc không thề hút thêm hơi nào nữa và lơ mơ nói với tôi:

– Đường nào đâu mà dễ anh?

– Đường bộ chẳng hạn. Cho nó khô, khỏe hơn.

Tấn nói:

– Tôi đã lội nhẩm dấu cái vùng này. Tôi cũng đã nghĩ tới điều đó chứ không phải là không nghĩ, nhưng nếu bây giờ mà tôi dắt các anh đi đường bộ thì lập tức anh sẽ chửi tôi gấp trăm lần đi con đường này.

– Sao dữ vậy? Tôi lội rừng trèo núi cũng đã nhiều.

– Ừ tôi nghe nói các anh leo đồi “ngàn linh một” là cao nhất, nhưng ở ngoài đó chỉ có một cái đồi đó thôi và lại có đường để mà đi, còn vô đây không còn đường đất gì nữa cả. Nay lối này mai lối khác Đi mãi rồi nó thành đường ra.

– Sao cứ đổi đường như vậy cậu?

– Biệt kích người Thượng ghê lắm anh ạ!

Tôi rùng mình nhớ lại có lần một cậu đã kể cho tôi nghe về bọn này. Tấn tiếp:

– Nếu mình cứ đi mãi một con đường thì chết với nó ngay.

Chúng tôi ngồi lặng im. Tôi thì hoang mang còn Tấn thì đăm chiêu lo nghĩ. Một chốc Tấn nói:

– Các anh không thể đi đường bộ ở đây. Nếu tôi có dắt các đi thì trong các anh sẽ có người bị ngã chết hoặc không chịu đi. Tôi thấy trong đoàn đi kỳ này toàn thứ dữ nào phụ nữ phụ nang, nào ông già, nào nòng pháo, khiêng sao được. Đại khái những cái dốc leo lên mà nếu người ở trên ngã thì những người ở phía dưới cũng ngã theo, vì người đi dưới “cái mũi hôn cái gót chân người đi trên”. Không phải chỉ một quãng mà toàn bộ chặng đường này từ đầu chí cuối.

Anh Khấu đội trưởng đến.

Anh ta như con mèo ướt, giống như một vị chỉ huy đang đi tới tuyệt lộ cùng đồ.

Anh ta dáo dác có vẻ như tìm đám tàn quân của anh ta. Tôi đã học được cái thái độ lạnh nhạt của anh giao liên trước mọi sự đời. Hăng hái quá chỉ chuốc thêm tai họa, ở đâu chớ ở trên con này thì như thế đó.

Đột nhiên Tấn hỏi tôi:

– Anh đi tập kết như vậy là mười mấy năm?

– Mười năm. Cậu ra đây bao lâu rồi?

– Mới có hai năm thôi!

Tôi lại gặp một thanh niên Nam bộ ở đây nữa. Điều đó làm cho tôi ngạc nhiên. Tôi hỏi:

– Sao các cậu không ở trong đó, lại ra đây làm gì vậy?

– Thanh niên xung phong mà.

– Nhưng phải chọn vùng thích hợp chứ! Tôi coi cậu bị chanh nước phải không?

– Thì đúng quá rồi. Ma thiêng nước độc mà. Tấn tiếp, thì tôi cũng tưởng là đi vài tháng hoặc một năm là cùng, chớ ai dè nó dây dưa thế này. Hơn nữa tuổi trẻ ham cái lạ. Tôi nghe nói vùng này cảnh đẹp lắm. Muốn ra xem cho biết. Với lại nghe các anh về đông lắm. Súng ống rất dồi dào. Ra đây tiếp sức vận tải với các anh không ngờ ra đây thì gặp toàn chuyện thối chí, bây giờ muốn trở lại xứ mình, không có đường về.

Tôi ngồi lặng thinh mà nhìn cậu thanh niên. Đây lại cũng là một loại người hăng hái đi theo cách mạng như tôi thuở trước.

Tấn thở dài:

– Thiệt đúng là buông hình bắt bóng. Cuộc đời nó cứ đưa đẩy mình đi càng ngày càng xa quê hương mình, đi đến những nơi không biết đề làm gì và sẽ đi tới đâu nữa.

Tôi cười:

– Thì cũng như bọn tôi đây và cả bọn tập kết, hồi ra đi đâu có ngờ phải đi lâu dữ vậy. Hai năm trở thành mười năm, không chừng trở thành hai chục năm nữa là khác.

– Té ra… Té ra không có gì đúng cả.

– Ờ thì có thể! Cách mạng mà…

Ông Chín vọt miệng đáp:

– Mấy đồng chí nói vậy thành ra cách mạng nói láo hay sao? Nói vậy mà nghe được à?

– Đâu có phải tôi nói cách mạng nói láo, nhưng tôi cho rằng cách mạng không tiên đoán nổi nhiều vấn đề thành ra không đối phó được.

– Ví dụ? Ông Chín hớp một ngụm nước trong cái bi đông Mỹ nhìn tôi chòng chọc chờ đợi tôi không tìm ra câu trả lời.

Tôi cười và nói:

– Thì đó.

– Đó đâu? Cái gì? Hồi nào? Và có chứng ai? Nói thì phải có biện chứng.

Dường như ai động tới tim gan của ông. Nhưng tôi cũng không muốn khơi lên làm gì cái sự gàn dở của ông ta. Ông ta làm như ông là người thủ thành độc nhất của cách mạng, không có ông thì cách mạng bị phá lưới ngay vậy. Cho nên tôi chỉ cười giả lả:

– Nói cho vui vậy thôi mà ông Chín.

Tấn có lẽ cũng biết tính ông Chín, nên vội gạt ngang câu chuyện mà sang hướng khác. Tấn nói:

– Còn cái chuyện tình hình trong mình hiện nay tôi nói cho anh nghe. Em thì cũng lạc hậu lắm rồi, nhưng vừa có mấy anh từ trong đó ra hoặc em được thư nhà cho nên em biết được. Trong đó bây giờ nó đánh dữ lắm. Ở nhiều nơi cơ quan không có chỗ ở, ba-lô lúc nào cũng vác trên lưng.

– Tại sao vậy? Nghe nói vùng giải phóng bây giờ rộng hơn cả hồi đánh Pháp mà.

– Cái đó thì ở đâu không biết chứ còn ở Cà Mau, Bạc Liêu thì không thấy. Anh nên nhớ rằng bây giờ Mỹ đã nhảy vô bốn, năm trăm ngàn lính rồi, mà nó đánh mình không có đi bộ đi tàu như Tây hồi trước đâu.

-Vậy nó đi bằng cái gì?

– Đi bằng máy bay!

– Nó nhảy dù hả. Nhảy dù thì không đáng sợ.

– Nhảy dù thì ít, mà nhảy giò thì nhiều.

– Nhảy giò là gì?

Tấn cười và nói:

– Anh phải học sách tránh nhảy giò trước nhé, kẻo về trong kia bất cập rồi thì không né được đó.

– Ừ nói đi nghe thử.

– Đại khái là nó dùng trực thăng. Anh biết trực thăng không, một loại máy bay. Có nhiều người ở Bắc mới về khi nghe nói trực thăng thì bĩu môi! Ôi! Máy bay to bằng con chuồn chuồn! Đó là so sánh nó với phản lực, chớ nó là diều hâu mà mình là gà con anh ạ!

Ông Chín bao giờ cũng là thủ thành rất chăm chú trong khuôn gỗ, mắt của ông lom lom dòm trái bóng, để nhào ra cướp lấy trong chân đối thủ. Ông nói:

– Đó là đánh giá địch quá cao rồi!

– Dạ không phải vậy đây ông ngoại. Tấn vui vẻ đáp. Để con “tỏa” đầy đủ rồi ông ngoại xem con có đánh giá địch cao hay không?

Tấn tiếp:

– Con ví dụ mình đang hội nghị nhé ông ngoại, con ví dụ như thế, mấy chục người mình đang ngồi trong mái nhà bỗng nghe tiếng máy bay, người gác chạy vào báo. Ông ngoại xếp giấy tờ vào sắc-cốt chưa xong thì máy bay nó ào ào tới. Ló đầu ra xem thì máy bay nó ở ngay trên đầu mình rồi. Cánh quạt nó quạt tung cả nóc nhà rồi, chạy đi đâu? Chiếc trực thăng như một con diều hâu thò móng ra và xòe cánh ra chụp phủ lên đầu mình. Có phải mình trở thành một lũ gà con không ông ngoại?

Ông Chín ngồi há hốc mồm ra nhìn Tấn.

Tôi cũng lặng thinh. Không ai cãi được cái ý kiến gà con và diều hâu của Tấn nêu ra từ đầu. Tấn tiếp:

– Nhưng chưa hết đâu. Khi cuộc hành quân xảy ra thì chung quanh cây cỏ cũng không rảnh rang mà nhìn. Tất cả đều quằn quại trong những loạt đạn đại liên.

– Ở đâu bắn? Nó không sợ bắn lầm nhau à?

Tấn nói:

– Đâu lầm được. Lính chưa nhảy xuống là súng từ trên máy bay bắn xuống làm vòng đai chung quanh cuộc hành quân mà. Nghĩa là nó vây chặt, nếu mình nhát thì không chạy lọt ra được khỏi vòng vây. Và nếu ở trong vòng vây thì nó bắt sống.

Tôi nói:

– Nhưng ai bắt sống mới được chứ? Máy bay bắt sống thế nào được?

Tấn cười:

– A chết tôi chủ quan quá. Tôi quên rằng anh và ông Chín ở ngoài Bắc về chưa từng bị nhảy giò nên không biết việc đó ra làm sao. Nó như thế này. Không phải nó đi máy bay thôi đâu, mà trong ruột máy bay có lính hẳn hoi. Nó đáp xuống đất, lính nhảy xuống vừa chạy vừa bắn liền. Đấy anh coi chung quanh thì nó vây rồi, trong ruột lại có lính sục sạo và bắn như mưa bấc mình có khác nào như cá trong đăng trong lưới không? Cho nên lúc bị nhảy giò, người yếu bóng viá không dám chạy thoát ra khỏi vòng vây mà cứ ngồi trong hầm thì tội nghiệp lắm, cùng một lúc với lính đổ xuống đất, mấy chiếc trực thăng yểm trợ bắn vây chung quanh, lưới lửa dày đặc. Nếu có gan thì chạy liều, rủi ro thì gãy giò, may thì chạy thoát. Nếu nhát thì ngồi trong hầm, khi nghe tiếng súng vừa dứt loạt ló đầu ra định chạy đi thì lúc đó lính đã tới bên miệng hầm vẫy gọi, mình lóp ngóp chui ra.

Tấn tợp một hớp trà rồi tiếp:

– Đại khái một cuộc nhảy giò gồm có màn thứ nhất nó như vậy đó. Ông ngoại còn xí quách để chạy không? Như vậy mình có phải trở thành như lũ gà con không?

Ông Chín làm thinh.

Tôi thấy ông Chín hơi ngượng vì không làm sao vớt nổi cái khí thế mạng dưới lằn đạn trực thăng cho nên tôi đỡ cho ông khỏi ngượng.

– Vậy ở ngoài Bắc tôi nghe chiến thuật trực thăng vận bị bẻ gãy hết rồi mà? Bảo là mình muốn rủ nó tới rồi mình muốn diệt lúc nào cũng được mà!

– Ai nói?

– Thì có biết ai nói bây giờ. Nhưng đọc báo nghe đài thì thấy nói luôn. Nào chiến thuật “bủa lưới phóng lao”, nào “phượng hoàng vồ mồi”, v.v. tất cả đều chẳng ra chi. Ở ngoài Bắc nghe nói thì tụi tôi tưởng tượng chẳng khác nào Mỹ là một lũ ngớ ngẩn. Một lũ chim non cứ đâm đầu vào bẫy.

– Mấy thằng cha nhà báo nói dóc, có chiến thuật nào của nó mà bị phá sản đâu? Tôi biết mấy cha đó nghe một ít rồi tán ra, chẳng hiểu cái trực thăng nó ra làm sao cả. Nó gắn cả chục cây súng toàn đại liên trên đó chớ phải chơi sao mà muốn hạ thì hạ?

Tôi ngao ngán:

– Ai biết đâu, ở ngoài đó nghe vậy thì hay vậy và ai cũng định về xem một vài trận quân mình hạ trực thăng chơi, tôi còn nghe nói là cả trẻ con cũng có mưu kế bắt được trực thăng.

Tấn trề môi:

– Toàn những chuyện chổng cẳng lên trời dộng đầu xuống đất, chuyện nước lã khuấy nên hồ thôi! Để anh về tới trong đó rồi anh sẽ thấy trực thăng là cái gì mà mình “bẻ gãy” dễ dàng như vậy.

Tấn nói tiếp.

– Tôi nói thật với anh, nếu Mỹ bỏ cái trực thăng rồi mình mới khỏe.

Ông Chín thấy khó bề qui kết cho Tấn là mất lập trường và nhờ tôi mở lối ra, cho nên ông ta quay đi nấu nước không sân si nữa.

Xương trắng Trường Sơn

Xuân Vũ

vanviet.info

Posted on 7 tháng Sáu, 2020 by Văn Việt

Post by Sơn râu 30 Jul 2025

Kỳ 3

Bên kia, toán khiêng anh lính gãy chân đã bắt đầu khởi hành. Bệnh nhân nằm ngửa trên võng, cái ngực gần sát với cây đòn, vì chiếc võng mắc thật thẳng để tránh cho anh ta khỏi bị ngâm xuống nước càng ít càng tốt. Anh ta nằm, nhưng có lẽ không an tâm, cho nên anh ta đưa hai tay lên bám chiếc đòn đề phòng những người khiêng loạng choạng đong đưa.

Nhưng vừa bước xuống suối là những người khiêng đã ngấm đến cổ rồi, thành thử ra cả người anh bệnh binh cũng bị ngâm dưới nước. Anh ta cố ngóc lên để thở. Chẳng còn cách nào khác để cho anh ta thoải mái hơn.

Anh Khẩu đội trưởng lui cui cùng với những anh đội viên của anh ta tổ chức khiêng cái nòng pháo. Trông vừa chua chát vừa muốn bật cười.

Tổ chức chiến đấu gì kỳ cục vậy chứ? Người ta cứ ném tất cả vô đây và ở ngoài kia cứ tổ chức ăn mừng, hoan hô sự sáng suốt của đảng và cứ cười tít mắt lên mà tưởng như chiến thắng hiển hách đã ngửi thấy đến nơi rồi.

Họ có biết đâu những đơn vị nguyên lành của họ khi vô đến hang hùm nọc rắn này rồi, trở thành tàn quân trở thành thổ phỉ hung hãn chuyên đi cướp giật của đồng đội, thậm chí lột cả đồ đạc những người ốm mê man để làm hành trang sống lẩn lút trong rừng. Và cuối cùng để quay về quê cũ, họ có biết đâu những cậu thanh niên hăng tiết vịt cắt tay lấy máu viết huyết tâm thư dâng lên đảng đòi vào Nam chiến đấu giờ đây lại là những người chửi đảng to tiếng và độc ác hơn ai hết.

Còn lũ tôi đây thì không đánh ai, vì những người tôi muốn đánh thì không có ở quanh đây, nhưng tinh thần thì xuống thấp hơn ngọn cỏ.

– Ầm ầm ầm!

Những người khiêng anh bệnh binh trợt chân ngã hằng loạt. Cả anh bệnh binh và những người khiêng bị nước cuốn đi. Trên mặt nước chỉ còn trông thấy những cái đầu nhấp nhô và những cánh tay quơ lên tìm cái gì để bám.

Những người mạnh thì bơi vào bờ, còn anh bệnh binh bị nước đập tấp vào một cái nhánh của cây cổ thụ đã quay sang như chiếc cầu từ chiều hôm qua. Những người kia bò lên bờ lóp ngóp, kẻ ngồi người đứng, vuốt mặt lia lịa mà nhìn dòng suối. Kẻ mất ba lô người sút dép, mất nón, tuột áo, mất quần.

Họ không buồn tìm cách vớt anh bạn kia lên nữa. Nhưng cũng may, anh thương binh cứ nắm chắc nhánh cây và nhô hẳn đầu lên mà gào. Tiếng gào của anh ta vang dội vào vách đá, làm như ở đằng kia cũng có một người bị nạn và đang gào kêu cứu như anh!

– Bớ là… là… ông… nư… ức ơi!

Mồm anh ta hả to ra, bị nước vọt vào làm tiếng kêu của anh ta đứt quãng hoặc tắt ngấm đi.

Sự đau khổ đó làm động lòng bác sĩ Năm Cà Dom. Năm Cà Dom lại phóng xuống nước lần nữa, lôi anh thương binh lên bờ.

Sự bi thảm đã lên mức đó, tràn ngập cả trái tim tím bầm của tôi nhưng đây chưa phải là điểm cao nhất.

Từ dưới dòng, hai con người lần lần theo vách đá đi lên. Hai người này không dám lội ra xa bờ vì có lẽ họ sợ nước cuốn.

Bỗng tôi kêu lên:

– Ông Chín! Trời ơi ông Chín!

Tôi không trông thấy mặt mũi ông già nhưng tôi biết đó là ông Chín vì trên lưng trên đầu ông um tùm những nhánh cây. Cơ khổ ông già. Cứ hễ đi ra một bước là giắt lá cây đầy mình. Ông có ý thức che mắt địch nhưng ông lại không biết áp dụng địa hình cũng giống in như một kẻ bị lệ thuộc vào những công thức, những giáo điều mà họ chỉ biết nghe theo chớ không đời nào dám nghĩ khác đi đừng nói chi nghĩ ngược lại. Ông Chín đi qua rừng cây bị chất khai quang chết trụi không còn một cái lá xanh, ông vẫn giắt lá xanh, hay như bây giờ đây, lội giữa suối mà vẫn ngụy trang. Tên phi công nào đần độn nhất từ trên cao cũng nhận ra một mớ cây trôi lên, ngược dòng suối.

Ông Chín ngước mắt nhìn tôi. Mắt ông chỉ còn bằng hai hạt tiêu. Có lẽ ông nhận ra tôi, nên ông đưa tay vẫy vẫy. Tôi gặp ông Chín ở trạm ba, cách trạm làng Ho một trạm. Tôi qua mặt ông Chín rồi tôi sốt ông Chín lại vượt qua tôi. Chiều hôm qua chúng tôi lại gặp nhau trước khi vượt sông. Khi bắt đầu lao thân vào lòng suối thì tôi không còn thấy ông Chín đâu nữa.

Ông Chín đã lội tới chỗ tôi đứng. Tôi đưa tay lôi ông Chín lên và hỏi:

– Giao liên không giúp cho ông nữa à?

– Có biết nó đi đâu đâu!

– Thằng ác thật, nó bỏ ông già thế này.

Tôi nhìn ông Chín. Những nhánh lá vẫn còn dính trên người ông Chín như nhũng người bạn trung thành. Tôi đưa tay rút một nhánh vứt đi và bảo:

– Bỏ đi cụ ạ! Cho nó nhẹ! Lội dưới suối mà ngụy trang lá cây thế này cản nước lội mệt lắm.

Nhưng ông già giáo điều đã xua tay:

– Ấy chết! Đồng chí cứ giữ mãi cái lối khinh địch đó, không chịu bỏ. Tôi bảo cho đồng chí biết từ đây trở vô, lúc nào trên trời cũng có mắt của thằng địch nó dòm mình lom lom. Mình mà sơ hở một chút là bị nó ngay.

Tôi đã tranh luận về việc trốn máy bay với ông Chín không biết bao nhiêu lần. Ông Chín cũng bị thiên hạ phản đối không biết bao nhiêu lần, nhưng ông Chín vẫn chứng nào tật ấy nghĩa là khi ra đi thì y như một bụi cây rậm đang di động.

Tôi nhìn thấy da thịt ông Chín đã đóng rong, đầu ngón tay móp như trái táo khô, hai vành tai tím như tai người chết, còn mồm thì thở vừa ra hơi nước vừa chảy ra nước. Tôi biết ông Chín bết bát lắm rồi, nhưng tôi làm gì được trước một cụ già như thế?

Tôi bảo:

– Cụ ngồi xuống đi bồi dưởng sức khỏe một chút rồi đi.

– Thằng dắt đường đâu rồi?

– Nó vừa đi qua!

– Nó không chờ, thì biết đường nào mà đi?

– Cứ đi đại lại thôi, hễ còn thấy người bệnh treo võng dọc bờ suối thì đúng là đường đi.

-Thế hả?

Ở phía dưới dòng một người khác bạn đường của ông Chín lúc nãy đã đến ngay chỗ ông Chín đứng. Tay anh ta với lên nắm lấy ống chân của ông Chín làm cho ông giật mình, ông rút chân lên.

Anh bạn kia không còn chỗ bám, và rơi sụt xuống nước. Tôi nhanh tay chụp lấy tóc anh ta và kẻo xểnh anh ta lên bờ.

Trời ơi tôi đã vớt đúng một cái thây ma. Tôi đã tự dưng chuốc vào mình một cái tai họa…

Cái người tôi vừa kẻo lên là một cái xác không hồn. Hình như anh ta phải chết lúc này nhưng vì trông thấy chúng tôi ở đây như một cái đích rất gần, cho nên anh ta cố lần vách đá tới đây để mà trút hơi thở cuối cùng. Tôi gọi Năm Cà Dom:

-Về ngay đây!

– Gì nữa đó?

– Về ngay đây?

Năm Cà Dom vốn là một người tốt bụng, một bác sĩ còn có lương tâm, cho nên nghe tiếng kêu cứu của tôi thì nhảy ùm xuống nước bơi về ngay.

– Gì thế?

– Đây này, bác sĩ về mà giải quyết.

Năm Cà Dom nói ngay:

– Đánh gió, làm hô hấp nhân tạo ngay!

Rồi Năm móc túi ba lô lấy cù là, vạch lưng anh bệnh binh xoa, nắn bóp cạo lia lịa không hở tay. Rồi anh làm hô hấp nhân tạo. Chỉ trong vòng mười phút là anh ta cử động được ngay.

Năm nói:

– Anh này chưa có chết, nhưng vì ngâm mình dưới nước lâu nên bị vọp bẻ không đi được. Nếu anh không lôi nó lên nó bị nước cuốn tay chân cứng đờ không bơi được là uống nước chết đắm ngay.

Trên khoảng đất có mấy thước vuông của tôi như cái nền nhà bị nước ngập, có đủ các giới, các thành phần, các miền, đủ cả. Cái sự có mặt của anh bị vọp bẻ làm cho số người trở nên phong phú lên. Anh ta là lính.

Tôi mới nhận ra anh ta là cái anh chàng đi bằng hai cây gậy mà tôi và Thu gặp cách đây mấy trạm. Anh ta có chiếc khăn lông con treo ở quai nón dưới cắm lòng thòng như một bộ râu vĩ đại. Do đó, tôi và Thu gọi anh ta là ông già Noël.

Ông già Noël còn trẻ quá. Hôm nay tôi mới nhìn tận mặt ông ta. Ông ta chỉ là một học sinh. Không biết đau ốm thế nào mà đôi chân cứ đi cà lỉa, cho nên khác hơn mọi người, ông già Noël đi với hai chiếc gậy.

Bây giờ thì ông ta nằm đây trên tảng đá lạnh như nước đá, mà thịt ông ta cũng không ấm hơn nước đá, đang nhờ ông bác sĩ hảo tâm làm cho sống lại.

Tôi cũng không biết làm sao nữa. Tôi biết tôi không thể giúp ai, và chắc chắn không ai có thể giúp tôi. Mỗi một người tự xem cái bản thân mình là một cái nợ đối với mình.

Năm Cà Dom hảo:

-Thời đi thì đi.

– Ta đi đi…

Ông Chín cố mở đôi mắt hẹp khổ của ông ra mà nhìn chúng tôi ngạc nhiên về sự thúc giục của bác sĩ Năm Cà Dom. Có lẽ theo ông Chín thì người ta chỉ cớ thể đi tới đây thôi. Và nằm, và ngồi và ngủ tại đây để chờ Trung ương tới, đưa ra khỏi con suối ” tuyệt long lãnh” này, bằng tàu bay xe tăng, xe lội nước hay bằng phép Tiên phép Phật gì thì bằng, chứ còn như ông, một ông lão già năm mươi bốn tuổi, dù ai nói gì thì nói, ông không thể nào xem con đường này là con đường vinh quang cho được.

Bỗng ông Chín hắt hơi. Rồi ông Chín hắt hơi mấy cái nền. Ông Chín nhìn quanh quất rồi nói:

– Có mùi gì lạ vậy mấy chú?

– Mùi gì đâu ông Chín.

– Mấy chú không ngửi thấy à?

– Mùi thây ma chớ mùi gì nữa. – Năm Cà Dom vọt miệng đáp.- Ba cái thây ma kết súng thành tổ tam tam chế nằm chết thẳng cẳng trên võng bên kia gộp đá kia kìa.

Ông Chín ngạc nhiên, ông hỏi:

– Sao chết dữ vậy?

– Đói chết, bịnh chết chứ sao ông già!

Năm Cà Dom lại giục:

– Bởi vậy cho nên chúng mình phải rời khỏi khu vực này ngay. Chốc nữa nắng lèn, thây ma sẽ sình lên vỡ ra. Nước vàng nó chảy xuống suối mình ngâm mình dưới nước ghê lắm. Ngửi lấy cái không khí này vào người, bị dịch hạch dịch tả dịch… dịch đủ thứ dịch…

Năm Cà Dom nhìn chỗ nào cũng phát hiện ra bệnh, ớn quá. Nào gãy giò, nào nhiễm trùng, nào dịch hạch v.v… Bệnh nào cũng chẳng hiền cả.

Thật là buồn cười. Bây giờ kiểm điểm lại trên chặng đường này, chúng tôi cương quyết rời bỏ cái nền đá này là vì sợ bệnh dịch, chớ không phải vì nôn nóng đi vô giải phóng Miền Nam. Còn kiểm điểm lại động cơ thường trực của những người đi trên con đường này thì mỗi người một khác: tôi thì vì nhớ nhà quá mà xin về, Thu thì vì không biết gì nên xung phong đi, còn bác sĩ Năm Cà Dom về để làm cái nghề cũ là nuôi ngựa đua v.v… Thế nhưng những người lãnh đạo ngồi ngoài Hà Nội cứ rung đùi ngỡ rằng mình đã tận dụng, thậm chí lạm dụng, lợi dụng lòng yếu nước của mọi người để biến họ thành công cụ sống thực hiện những điều mong ước của họ một cách tốt đẹp, không ngờ rằng tất cả những người vượt Trường Sơn, không có trường hợp đặc biệt, đều oán trách, hận thù Trung ương Đảng.

Khi chiến tranh, có lẽ một trong những vấn đề phải đặt lên hàng đầu là phương tiện. Đối với một kẻ thù quá thừa thải phương tiện như Mỹ, thì có lẽ người lãnh đạo sáng suốt phải nghĩ tới việc đó trước khi xông vào đánh đá.

Tôi biết có những chiếc xe cút kít của hợp tác xã được cải tiến để chở phân bón lúa. Thế mà không biết do sáng kiến của ai, những chiếc xe ấy được đưa vào làng Ho để giúp cho pháo binh tải pháo!

Tôi không hiểu những nhà chiến thuật nào đã nghĩ ra cái sáng kiến vĩ đại đó.

Có phải chăng họ nghĩ rằng cái chiến trường mà bộ đội chánh quy của họ đang lao vào đánh nhau với Mỹ là một thứ hợp tác xã mà những xã viên bê trễ thối chí cũng dùng những chiếc xe cút kít này tải pháo trên những con đường bằng phẳng như ở làng quê?

Họ đã lạm dụng sức con người và lòng tin của con người đến mức độ xưa nay chưa từng có.

Họ bắt con người hy sinh quá mức.

Nếu có thể, tôi xin kết luận một câu: Nếu anh muốn làm chiến tranh, anh phải có đầy đủ phương tiện, nếu không, đừng làm!

3.

Ông Chín cứ kêu mãi về cái mùi hôi thối của thây ma:

– Sao kỳ cục vậy he! Sao kỳ cục vậy he?

Năm Cà Dom cười và hỏi:

– Vậy từ lúc đi vô nay tới bây giờ ông Chín chưa gặp ai chết dọc đường hay sao!

– Chưa! Chưa gặp người nào chết hết cả!

– Chưa gặp người chết, hay chưa gặp người chết mà không ai chôn?

– Cái nào cũng không gặp hết.

Năm Cà Dom cười:

– Tại ông không thấy, chứ thiếu gì!

Ông Chín nói:

– Tôi nghĩ rằng trên đường này mọi tổ chức đều chu đáo hết. Tôi không tưởng tượng được rằng có một người chết ở đây mà không có người chôn.

– Ông muốn xem không? Năm Cà Dom hỏi dồn tới.

Ông Chín bị hỏi bất ngờ, hơi lúng túng:

Năm Cà Dom nói tiếp:

– Tại ông Chín già yếu rồi, đi đến trạm là nằm nghỉ chứ không có hay tìm tòi xoi mói cho nên không gặp những trường hợp như vậy. Chứ ông Chín có nghĩ rằng có một người treo cổ chết trên đường này không?

– Ối thôi thôi đừng có nói nữa. Đó là trường hợp đặc biệt mà!

Năm Cà Dom cười:

– Chứ chẳng lẽ lại phổ biến?

Ông Chín nói:

– Theo tôi thì cái sự đó nằm trong phạm trù ngẫu nhiên chớ không phải là tất nhiên.

Năm Cà Dom cười:

– Nghĩa là sao ông Chín?

– Nghĩa là ít khi xảy ra, mà có xảy ra là cũng vì một sự bất ngờ nào đó chứ không phải là tất yếu phải xảy ra như vậy. Đồng chí hiểu chưa?

Năm Cà Dom vẫn lắc đầu một cách trêu chọc:

– Chưa hiểu, ông Chín ạ.

Ông Chín hơi cáu như ông đang đứng trước lũ học trò lóc cóc của ông mà giải đáp một bài toán cộng. Ông nói:

– Chú đi vô Nam mà chú không có được võ trang lý luận Mác làm sao mà chiến đấu được. – Rồi ông Chín kiên nhẫn giải thích những trường hợp mà Năm Cà Dom vừa trình bày.

– Trong duy vật biện chứng pháp có cả thảy là năm phạm trù và năm qui luật, đồng chí hiểu chưa?

Năm Cà Dom lại hỏi:

– Nhưng phạm trù là cái gì mới được chớ?

Ông Chín chẳng có ngờ cái thằng bác sĩ này lại hỏi câu đó. Ông lúng lúng:

– Phạm trù là phạm vi hoạt động, là cái vòng bao bọc sự việc xảy ra đồng chí hiểu chưa?

Năm Cà Dom nói:

– Vậy sao không gọi là phạm vi hoạt động, là cái vòng bao bọc việc xảy ra mà lại gọi là phạm trù chớ?

– Thì tại sách nó dạy là “phạm trù” thì mình học là phạm trù chớ gọi là “phạm vi” làm sao được?

– Thế gọi là châu vi có được không? Như châu vi hình chữ nhự, hình tam giác vậy đó, được không?

– Đâu có được đây là triết học chớ không phải toán học, đồng chí lẫn lộn rồi.

Năm Cà Dom nói tiếp, vừa nói vừa đưa tay vẽ một cái vòng chung quanh:

– Thế thì tôi hiểu rồi. Phạm trù là cái vòng bao bọc sự việc xảy ra, ví dụ như cái nền ngập nước mà chúng ta đang đứng đây gồm có ông Chín, tôi, ông văn sĩ này, cô văn công và anh lính bị vọp bẻ đây là một phạm trù.

Ông Chín dậm chân:

– Không phả… ải!

– Vì nó cũng là cái vòng bao bọc sự việc xảy ra. Cái sự việc đang xảy ra là tất cả mọi người đang nằm ngồi đứng và nói chuyện với nhau.

– Chậc! Sao đồng chí lại tầm thường hóa lý luận như vậy được. Đây là duy vật biện chứng pháp chớ đâu có phải cái chuyện lơ mơ xoàng xĩnh, lề mề như đồng chí ví dụ.

Năm Cà Dom cười ngất:

– Thế thì tôi cũng chưa hiểu phạm trù là cái gì hết.

Ông Chín rướn cổ sát vào mặt ông bác sĩ Năm Cà Dom:

– Phạm trù là phạm trù. Voi là voi! Hiểu chưa?

– Chưa hiểu!

– Chưa hiểu thì thôi. Mặc kệ đồng chí, tôi không biết!

Tôi đã từng bị ông Chín giải về Triết học Mác như bốc đất cục bỏ trên giấy cho nên tôi thất kinh hồn vía rồi. Tôi đã bị ông Chín khui cái mớ Triết học loam ngoam của ông ta để cãi nhau với tôi về một cuộc trốn máy bay, bây giờ lại nghe ông Chín giở nó ra để giải thích về những cái chết vô lý, tôi không giận gì ông ta, mà tôi chỉ buồn cười. Một lão già gần đất xa trời và lấm cẩm như vậy mà lại đi về Nam để “chiến đấu.”

Tôi bảo:

– Có đi thì đi, đi cho khỏi chỗ này nhanh lên.

Rồi tôi làm tên quân cảm tử đi tiền phong, tôi lội xuống suối, đi trước mọi người để làm gương sáng, làm đầu tàu, làm nòng cốt cho cái đám nam phụ lão ấu đang ngại ngùng, đang đứng trên cái nền ngập nước.

Năm Cà Dom bảo:

– Cô Thu đi đi.

Thu cắn răng lại, nhắm mắt lại mà đưa chân dò từng bước bước xuống nước. Cái thân hình ngọc ngà của Thu ngấm dần xuống nước.

Tôi không dám nhìn nữa.

Trên đường này tôi đã từng quay mặt đi trước nhiều thảm cảnh mà đây là một. Tôi không muốn trông thấy sự tương phản giữa cảnh trí và con người của Thu.

– Con người là vốn quý nhất.

Ai đã nói câu đó, ai đã in câu đó trên sách vở và đã cho nhồi vào đầu của hàng triệu người. Bây giờ ai đã đem cái vốn quý nhất đó ra mà dùng một cách trân trọng như thế này. Cô nữ diễn viên kia xuất hiện ở đây có phải chăng cũng là một trường hợp chứng minh điều đó?

Tôi nghe những lỗ chân lông của tôi hút nước vào trong cơ thể, cái cơ thể vốn sợ nước, vốn đã bã ra vì nước!

Tôi cố bước lên vài bước để lấy trớn, để quên đi cái sự giá lạnh nó đang ùn ùn vây phủ mình. Rồi tôi dừng lại để chờ Thu. Tôi đưa tay ra cho Thu nắm lấy. Tôi lôi Thu đi tới và ngoảnh lại nhìn. Ở hai bên bờ suối chưa có ai lội xuống hết. Anh Khẩu đội tưởng ngồi trên một hòn đá với mấy đội viên của anh ta, và cái nòng pháo vừa được lôi lên khỏi nước.

Nét sầu tiền kiếp, và sự man rợ của những thế kỷ man rợ đã in đậm nét trên gương mặt họ.

Năm Cà Dom đang đứng chống nạnh như một ông tướng.

Anh ta bảo:

– Đi trước đi? Tôi chấp hai ông bà đi nhanh lên, rồi tôi bắt kịp cho mà coi nghe!

Rồi Năm Cà Dom quay lại bảo ông Chín và ông già Noël:

– Ông và đồng chí này đi đi kẻo ở sau không còn ai hết. Rơi lại phát này là không còn ai vớt nữa đâu. Theo tôi thì giao liên trong chuyến tới nó không dùng con đường này nữa, nó chờ cho đến mùa nước cạn năm tới mới quay lại dùng con đường này.

Tôi nghe Năm Cà Dom giải thích mà ớn lòng.

Tôi và Thu dắt nhau đi tới. Tôi cố không nhìn khi đi qua chỗ anh binh sĩ gãy chân.

Nhưng tiếng kêu than của anh ta rền vang hai bên vách đá.

– Ối làng nước ơi! ôi cha mẹ ơi! Chắc con không trông thấy mặt cha mẹ rồi! Hồi ở nhà, cha mẹ bảo con trốn đi, đừng có đi Nam mà không thấy ngày về, bỏ cha bỏ mẹ, nhưng con không nghe, con định đi lập công dâng đảng. Ôi cha mẹ ơi, ối làng nước ơi, ối làng nước ôi cha mẹ ôi!

Vậy là anh ta cứ gọi bố mẹ, làng nước chứ không gọi cái gì thiêng liêng khác như ngày thường anh ta gọi.

Bất giác tôi quay nhìn anh ta. Thiệt là một hình hài làm cho tôi đau khổ suốt đời.

Anh binh sĩ không còn là người nữa, anh ta là một cái mớ giẻ rách, biết nói, một bộ xương, một con ngợm, một con quái vật, một cái gì, ai muốn đặt tên là gì cũng được trừ hai chữ “con người”.

Tôi nhắm mắt lại mà lội bươn qua, làm như cái cảnh tượng đó không có xảy ra trước mắt tôi, hoặc nó có trước mắt tôi mà không có dính ăn dính thua gì với tôi cả.

Đi ngang qua những người khiêng, tôi cố gượng hỏi:

– Sao các đồng chí không trở lại khiêng đồng chí kia?

– Đồng chí có giỏi thì khiêng. Một người trả lời.

– Đồng chí đó là đồng chí đồng đội của đồng chí mà?

– Tôi chẳng đồng gì với ai cả.

Một người khác trong đám tiếp:

– Không có gạo đồng chí ạ. Ba lô trôi, ruột tượng cũng tuột hết rồi. Lấy gì mà khiêng. Khi cái chân không bước nổi?

Tôi cũng biết vậy, nhưng sự thương tâm làm cho tương tri của bật lên tiếng nói.

Tôi bảo:

– Cái đó thì tùy.

Tôi quay lại nhìn phía sau. Ông Chín và ông già Noël đang đi theo chiến thuật cũ, nghĩa là lần vách đá mà đi. Còn Năm Cà Dom thở phì phì như trâu nước. Năm Cà Dom đã đi đến ngang tôi. Năm Cà Dom hỏi:

– Ba-lô đâu, đưa tôi quẩy đùm cho.

– Thôi được!

Tôi yếu sức quá, nhưng tôi sợ rủi Năm Cà Dom làm tụt mất có mà chết. Tôi bảo Thu đưa ba lô cho Năm mang giúp. Có lẽ cùng một ý nghĩ như tôi cho nên Thu cũng xin cảm ơn Năm. Năm trườn đi tới, tôi thấy mà thèm, nhưng không tài nào tôi như Năm được. Tôi như cái cục cơm nếp mắc mưa bây giờ đem ngâm xuống nước.

Tôi nhìn Thu, Thu như không còn hồn phách. gì nữa.

Tôi gắng gượng bảo Thu:

– Cố gắng lên em. Tới phía trước có chỗ nghỉ!

Dọc đường tôi đi, không biết còn có bao nhiêu thảm cảnh như thế nữa. Mà chính tôi và Thu đây cùng với cây cỏ chung quanh cũng là một thảm cảnh rồi, cực hình rồi.

Bây giờ tôi cũng không cần phải tả thêm cái con suối ác nghiệt này một nét nào nữa.

Sống chết bên nhau

hung-viet.org

12 Tháng Mười 2011

Huy Phương

Post by Sơn râu 29 Jul 2025

“Hài cốt người phi công tìm thấy là Trung Úy Nguyễn Văn Tạng và người phụ nữ cùng em bé là vợ con của y tá phi hành Nguyễn Chược (thuộc Phi Đoàn 257 Trực Thăng)?”

Theo lời kể của ông Nguyễn Minh Đệ, 55 tuổi, trưởng nam của Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Điềm, những năm trước đây, với nguồn tin máy bay trực thăng do Trung Tá Lê Ngọc Bình lái bị bắn rớt tại Sa Huỳnh vào ngày 28 tháng 3, 1975 sau khi Đà Nẵng bị thất thủ, gia đình Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Điềm đã đến vùng này để tìm kiếm nhưng không có kết quả. Thật ra địa điểm máy bay rơi là Sa Kỳ thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Năm ngoái, có một thân nhân ở Đà Lạt cho biết ở Sa Kỳ năm 1975 người ta có chôn một ông tướng VNCH tên Điềm và chỗ này dân chúng tin tưởng rất linh thiêng, hay đến cầu xin và nhang khói, tuy vậy gia đình đã mất lòng tin vì đã cất công tìm kiếm nhiều lần.

Nhân có người em của Chuẩn Tướng Điềm ở Mỹ mới về thăm nhà và ông này đã thúc giục gia đình nên đi Sa Kỳ một lần để rõ thực hư. Khi đến nơi hỏi thì dân làng ai cũng biết ngôi mộ này, nằm trong một xóm nhỏ có tên là Lá Ngái.

Theo lời kể của dân làng thì đầu tháng 4 năm đó có rất nhiều xác người tấp vào bờ và dân làng đã chôn họ rải rác ven bờ biển, qua các trận bão lụt, bây giờ đã không còn dấu tích gì. Rất may mắn, sáu thi thể trong đó có Chuẩn Tướng Điềm, Đại Tá Võ Toàn nằm gần một hố bom, cao hơn mặt biển được dân làng mai táng vào đó, nên không hề bị ảnh hưởng bởi sóng gió. Vì sự linh thiêng của người chết mà dân trong vùng tin tưởng, nên khi gia đình đến nơi, người trong thôn đã chỉ nơi chính xác của ngôi mộ.

Khi công nhân khai quật nấm mộ đã bắt gặp hai đôi giầy trận đã mục nát. Một hài cốt nhỏ nhắn được gia đình nghi là của Chuẩn Tướng Điềm, còn thẻ bài mang rõ họ tên, và trong túi áo còn có một mảnh bùa. Cạnh bên là hài cốt của Đại Tá Võ Toàn, có thẻ bài và một chiếc nhẫn vàng trên lóng xương tay. Theo xác nhận của bà quả phụ Võ Toàn, hiện đang sống tại Việt Nam nói chuyện với chúng tôi qua điện thoại, đây là chiếc nhẫn đính hôn từ năm 1964, sau này tay của ông mập ra nên không thể nào cởi nhẫn ra được, do đó mà chiếc nhẫn mới còn.

Trong ngôi mộ này người ta còn tìm thấy hài cốt của một em bé, một phụ nữ, một thiếu úy (xác nhận nhờ cấp bậc trên cổ áo), một phi công (nhận ra nhờ bộ đồ bay). Hai quân nhân này không có giầy, và hài cốt của người phi công lớn hơn bình thường. Qua cuộc điện đàm với chúng tôi sau khi có tin nấm mộ được khai quật, cựu trung tá phi công Lê Ngọc Bình, hiện cư ngụ tại La Fayette, Louisana, cho rằng đây có thể là hài cốt của cố Trung Úy Nguyễn Văn Tạng, co-pilot của ông trong chuyến bay định mệnh này, và người đàn bà và đứa trẻ là gia đình của “y tá phi hành” Nguyễn Chược trong Phi Đoàn 257 Trực Thăng có nhiệm vụ “tản thương-tìm cứu” mà ông Lê Ngọc Bình là phi đoàn trưởng. Ông Nguyễn Chược đã gửi theo chuyến bay này người vợ và 4 đứa con nhỏ. Về những người khác đi trên chuyến bay ông không biết rõ.

Sống chết bên nhau

Trong thời gian có cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh sang Hạ Lào, lúc Đại Tá Điềm (Khóa 4 Thủ Đức), chỉ huy Trung Đoàn I BB thì Trung Tá Võ Toàn (khóa 17 VBQG Đà Lạt) là tiểu đoàn trưởng TĐ 3/1. Năm 1973 lúc Chuẩn Tướng Điềm được giao trọng trách tư lệnh SĐ 1 thì Đại Tá Võ Toàn là trung đoàn trưởng Trung Đoàn IBB. Tháng 3 năm 1975, Sư Đoàn 1 Bộ Binh cùng Liên Đoàn 15 Biệt Động Quân, chịu trách nhiệm bảo vệ hướng Tây và Nam tỉnh Thừa Thiên. Trong lúc hành quân, sư đoàn được lệnh rút về cửa Tư Hiền để thực hiện lệnh tái phối trí Quân Đoàn I. Theo kế hoạch rút quân, Sư Đoàn 1 Bộ Binh cùng các đơn vị phụ thuộc sẽ tập hợp tại cửa Tư Hiền, vượt đầm Cầu Hai, qua đèo Hải Vân rồi theo quốc lộ 1 về Đà Nẵng. Trước sự tấn công của cộng sản và Duyên Đoàn 13 Hải Quân chịu trách nhiệm đưa quân qua sông bị khó khăn, không làm tròn trọng trách, nên cuối cùng Sư Đoàn 1 Bộ Binh tan rã tại đây, và chỉ khoảng vài nghìn quân nhân về được đến Đà Nẵng.

Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Điềm được Trung Tướng Ngô Quang Trưởng chỉ định làm Quân Trấn Trưởng Đà Nẵng để tái lập an ninh, và Đại Tá Võ Toàn tuy là phụ tá Quân Trấn Trưởng nhưng gần như ông đôn đốc mọi công chuyện. Định mệnh đã sắp xếp để cuối cùng hai chiến hữu của SĐ1BB, đã từng chiến đấu bên nhau cùng lên một máy bay trực thăng HU1H do Trung Tá Lê Ngọc Bình lái từ căn cứ Non Nước bay về hướng Nam. Ngày 18 tháng 4 khi CS tiến vào Đà Nẵng. Trong cuộc phỏng vấn truyền hình của chúng tôi (và phóng viên quay phim Đăng Minh SBTN) tại nhà riêng của Cựu Trung Tá Lê Ngọc Bình tại thành phố La Fayette vào tháng 10, 2007, ông Bình xác nhận là không biết có Đại Tá Toàn trên máy bay hay không, vì trong lúc hỗn loạn và quá đông người.

Cuối cùng khi khai quật nấm mồ, người thấy Chuẩn Tướng Điềm và Đại Tá Toàn nằm sát bên nhau.

Sau hơn 36 năm Đại Tá Võ Toàn đã về với gia đình tại Long Thành (Biên Hòa) và Chuẩn Tướng Điềm có mộ phần tại Bà Rịa (Phước Tuy). Hai người đều sinh trưởng ở Huế, chiến đấu nhiều năm cho mảnh đất quê hương, nhưng sau tháng 4, 1975, gia đình của hai tử sĩ này đều bị vùi dập, kỳ thị và xua đuổi phải đi dần về phương Nam tìm đất sống và đã “nhận nơi này làm quê hương.”

Huy Phương/Người Việt

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 29 Jul 2025

89. Trịnh Hưng

Trong tuần lễ này những người yêu nhạc và một số thân hữu đã được

gặp lại nhạc sĩ Trịnh Hưng tại một Hội quán ở quận Cam và nghe một số ca sĩ

cả cũ lẫn mới hát nhạc Trịnh Hưng. Ngày tháng qua mau hay ba chục năm cũng là một khoảng thời gian khá dài, nên chàng nhạc sĩ tài hoa son trẻ mới ngày nào, nay đã là một lão trượng ngoài bảy mươi?

Trịnh Hưng viết nhạc không nhiều. Nhưng bài nào của ông khi tung ra đời cũng được yêu thích ngay. Các ca khúc của ông, nhạc cũng như lời, giản dị, trong sáng. Và chính vẻ giản dị, trong sáng, đã làm tăng thêm giá trị những ca khúc của ông. Ông tránh dùng giai điệu cũng như những từ ngữ cầu kỳ. Nghe nhạc Trịnh Hưng người ta có cảm tưởng như được hưởng một làn gió mát. Còn có thể nói, đó là những cơn gió bất chợt người ta bắt gặp giữa một cánh đồng, trên một quãng đường đầy rãy những kỷ niệm, mỗi vật nhìn thấy, mỗi tiếng động nghe thấy, đều hòa nhịp với nỗi yêu thương rào rạt trong lòng.

Các nhạc sĩ của chúng ta, hình như ai cũng có một bài dành cho quê hương. Nhạc hoài hương của chúng ta hầu hết đều buồn. Riêng Trịnh Hưng, ông có 5, 6 ca khúc cho phổ biến thì tất cả những bài hát ấy đều viết về quê hương và bài nào cũng phơi phới, đầy ắp niềm vui. Ông sáng tác theo cảm hứng của mình, chứ không thác lời nông dân để viết dân ca. Nhạc ông là những bản tình ca ngợi ca vẻ đẹp của quê hương. Từ “quê hương” ở đây có thể hiểu là đất nước. Vâng, Trịnh Hưng lấy quê hương để ca ngợi vẻ đẹp của cả đất nước. Cái tình yêu đối với quê hương miền Bắc của ông trong ca khúc “Tôi Yêu” dường không có sự khác biệt nào khi ông vào tới miền Nam, yêu miền Nam, và viết các bài Trăng Soi Duyên Lành, Lúa Mùa Duyên Thắm, Tiếng Ca Dân Lành.

Vẫn cái “hơi” nhạc ấy, những lời ca mộc mạc, đằm thắm tương tự. Gần đây, ca sĩ Ngọc Minh đã dùng bài Tôi Yêu của Trịnh Hưng để làm nhạc hiệu cho các chương trình quảng cáo của mình, nên gần như tuần nào người ta cũng được nghe ca khúc này vài ba lần. Rất nhiều người nói rằng, họ biết bài hát, thuộc bài hát, nhưng không biết là của ai. Người khác nói mình biết đó là tác phẩm của Trịnh Hưng nhưng chưa được thấy mặt ông bao giờ.

Đó là những người ở vào các lứa tuổi khác nhau. Người lớn tuổi nói các bài Tôi Yêu hay Lúa Mùa Duyên Thắm làm nhớ Sài Gòn, nhớ Việt Nam quá. Lứa tuổi 30 hẳn không biết những gì làm nên cái “nỗi nhớ” ấy . Họ yêu những bài hát đó như những tác phẩm nghệ thuật. Rồi từ đó mới lần hỏi để hiểu, để biết ra từng hình ảnh, từng mỗi tình cảm trong bài hát.

Những người quen biết cũ của Trịnh Hưng luôn nhớ tới nụ cười hóm hỉnh của ông, tới cái lớp nhạc nho nhỏ của ông ở đường Cao Thắng, nơi một số ca sĩ cũng như những người sáng tác nổi danh sau này, đã được đào tạo ở đó. Trịnh Hưng gần như không bao giờ xuất hiện ở những nơi công cộng với tư cách là một tác giả. Ông sống khiêm nhường, đối xử hòa nhã với tất cả mọi người và được mọi người yêu mến. Ngoài nhạc, Trịnh Hưng còn một cái tài nữa là vẽ “caricature”. Còn nhớ ngày ấy ông chỉ cầm bút nguệch ngoạc vài nét là có ngay một bức chân dung [giống hệt] ông Lê Khải Trạch, một người có rất nhiều giao tình với các văn nghệ sĩ đương thời.

Khi ấy LKT đang là Đổng Lý Văn Phòng Bộ Thông Tin. Sau biến cố 75 ông bị bắt rồi mất tích trong trại cải tạo.

Sau đây là nguyên văn bài Lối Về Xóm Nhỏ của Trịnh Hưng:

Về thôn xưa ta hát khúc hoan ca

Ngọt bông lúa tình quê thêm đậm đà

Rạt rào bao niềm vui trong mái lá

Bờ dâu xanh cô lái hát êm êm

Tầm mai chín gửi anh dâng mẹ hiền

Lòng già thêm hơi ấm khi chiều lên

Có những chiều hôm

Trời nghiêng bóng xế đầu non

Nắng xuống làng thôn

Làm cho đôi má em thêm hồng

Lúa đã lên bông

Mắt già tươi sáng thôi chờ mong

Tiếng hò cô gái sông Cửu Long

Mơ rằng mai lúa lên đầy bông

Chiều hôm nay quay gót bước phiêu du

Về thôn xóm để vui chung ngày mùa

Đường về thôn quyện chân bên nhánh lúa

Vầng trăng nghiêng soi mái tóc em thơ

Vài cô gái nhỏ to vui chuyện trò

Đường về thôn niềm vui dâng đây đó

Elvis Phương

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 259 Jul 2025

88. Trịnh Công Sơn

Chúng ta vừa mất đi thêm một tài năng lớn nữa về âm nhac, đó là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Ông mất tại Sài Gòn. Hẳn quý vị và các bạn, cũng như chúng tôi, đã nghe quá nhiều về Trịnh Công Sơn. Báo chí trong nước, báo chí ngoài nước, các đài truyền thanh, truyền hình, không ngớt nhắc tới tên ông. Phải nói, Trịnh Công Sơn là một hiện tượng của âm nhạc Việt Nam. Trước ông chưa có ai. Sau ông, e cũng khó có một người thứ hai, có được cái tài năng như ông. Người ta gọi ông là thiên tài. Thậm chí có người coi ông là hiền triết nữa. Vậy thì chúng ta còn gì để nói về Trịnh Công Sơn?

Trịnh Công Sơn có một sức sáng tác phong phú. Ông nhậy cảm với tất cả những gì xẩy ra trong cuộc sống, từ xã hội, chính trị đến tâm linh. Số lượng tác phẩm của ông ít người bì kịp.

Nguyễn Xuân Khoát, qua lời kể của Văn Cao, nói rằng:

“Trịnh Công Sơn viết nhạc dễ như lấy đồ ở trong túi ra”.

Phạm Duy còn phải kêu lên ông phát ghen với Trịnh Công Sơn. Hẳn, Trịnh Công Sơn biết rõ hơn ai hết, trong những lời ấy có bao nhiêu phần sự thật. Nhưng ngần ấy thôi, cũng đã đủ chứng tỏ, ông đã đạt tới sự nể nang của những đỉnh cao nhất của âm nhạc Việt Nam rồi.

Nói chung, Trịnh Công Sơn là người viết ca khúc thuần túy. Và, đã gọi là ca khúc thì dù dài, ngắn, nói đến điều gì chăng nữa, cũng chỉ gồm hai phần: phần nhạc và phần lời ca.

Về phần nhạc, Trịnh Công Sơn viết nhạc rất giản dị. Tài hoa của ông cũng nằm trong sự giản dị này. Ngay cả những quãng cách khó hát, cũng ít khi nào ông dùng đến. Nhạc của ông tuôn chảy nhẹ nhàng như một dòng suối.

Hình như Trịnh Công Sơn nghe thấy nhạc ở khắp mọi nơi, nhìn thấy thơ ở khắp mọi chốn. Bằng ngôn ngữ, ông có thể mê hoặc người nghe đến độ người ta không biết ông nói thật hay không thật nữa:

Ta thấy em đang ngồi khóc

Khi rừng về nhiều mây

Rừng thu đã khép

Em hãy ra đi

Đôi khi ông có thể làm cho người ta choáng váng chỉ vì một hình ảnh cũ kỹ:

Trăng muôn đời thiếu nợ sông

không nhớ ra

Tóm lại, sự đóng góp của Trịnh Công Sơn đã làm cho  nền âm nhạc Việt Nam giàu có hơn nhiều. Tình ca của ônglà một kho tàng đối với tuổi trẻ, những người yêu nhau có thêm nhiều điều để nói với nhau. Nhờ ông, nhiều người nhìn thấy thêm nhiều vẻ đẹp chung quanh đời sống, từ lâu, người

ta không thấy. Cũng nhờ ông, người ta tin chắc rằng, đất trời của chúng ta dù có trải qua bao nhiêu đắng cay, vẫn tràn đầy âm nhạc, nếu người ta biết lắng nghe. Và, tiếng nói của dân tộc hàm chứa một khả năng diễn tả vô tận, nếu người ta biết vận dụng.

Nếu hiểu tác phẩm nghệ thuật là những đóng góp để nâng cao cái đẹp của đời sống, Trịnh Công Sơn có thể tự hào về những ca khúc của mình. Tình dù có đau đớn, hóa thân thành nhạc, vẫn cứ là một niềm hạnh phúc. Trịnh CôngSơn đã chia xẻ hạnh phúc với những người yêu nhạc ông. Những người yêu nhau, còn được gần nhau hay đã phải chia xa, đều có thể hát nhạc Trịnh Công Sơn, để thấy rõ, tình mình đang được hưởng hay mất đi, quý giá thế nào. Từng ngón tay, một sợi tóc, mùi phấn hương, con đường đi qua, hẹn hò để lỡ, chỉ có thể nhìn thấy, nhận ra, bằng đôi mắt tình nhân. Mọi vật chỉ thực sự hiện hữu khi người ta sống trong tình.Từ khi trăng là nguyệt cho đến khi trăng thôi là nguyệt, chỉ mình anh hay mình em biết như thế. Về phương diện nghệ thuật, chắc không ai phủ nhận sự đóng góp to lớn của Trịnh Công Sơn đối với nền âm nhạc của đất nước.

Nhưng đối với số phận của đất nước thì thái độ, cách thế sống của Trịnh Công Sơn, lại gây nhiều rắc rối. Những rắc rối người ta có thể thấy ngay trong những tin tức được loan đi về cái chết của ông. Người nói ông mất ở

thành phố Hồ Chí Minh. Người lại nói ông mất ở thành phố Sài Gòn, chẳng hạn. Chuyện không liên can gì đến văn chương, nghệ thuật nữa. Và, chắc sẽ còn mất nhiều thì giờ cho những lời qua tiếng lại.

Dầu sao, xin cảm ơn Những Cánh Vạc Bay, Ru Ta Ngậm Ngùi, Tưởng Rằng Đã Quên, Nguyệt Ca, Tình Nhớ …

Chiếc Lá Thu Phai

Về đây đứng ngồi

Đường xa quá ngại

Để lòng theo chút nắng hiên ngoài

Mùa xuân qua vội

Mười năm tắm gội

Giật mình ôi chiếc lá thu phai

Người đâu mất người

Đời tôi ngốc dại

Tự làm khô héo tôi đây

Chiều hôm thức dậy

Ngồi ôm tóc dài

Chập chờn lau trắng trong tay

Về thu xếp lại

Ngày trong nếp ngày

Vội vàng thêm những lúc yêu người

Cuồng phong cánh mỏi

Về bên núi đợi

Ngậm ngùi ôi đá cũng thương thay

Nằm nghe giữa trời

Ròn vang tiếng cười

Điệu kèn ai buốt trong tôi

Mùi hương phấn người

Một đêm nhớ lại

Hẹn ngày sau sẽ mua vui

Nguyễn Đức Đạt & Luân Vũ

Văn học miền Nam 54-75 Xuân Vũ

Xương trắng Trường Sơn

vanviet.info

Posted on 5 tháng Sáu, 2020 by Văn Việt

Post by Sơn râu 29 Jul 2025

Kỳ 2

Càng đi tôi thấy con đường càng khó khăn, hiểm trở và sức khoẻ như cái thùng không đáy, cứ rót và lại chảy tuột ra hết, đôi khi chỉ sau một cơn sốt một con người đang khoẻ bỗng trở thành bại liệt, nằm ngo ngoe như một con lươn giữa đống trấu.

Càng đi, tôi thấy con đường này là một sự vô lý, vô lý đối với từng con người một, đối với Dân tộc ta và ngay đối với cả cái mục đích mà vì đó nó được vạch ra.

Càng đi càng trông thấy đích ngắm càng xa, hy vọng càng mờ và lý tưởng càng ung thối ra như một vết thương nhiễm trùng bị những lớp băng bao bọc, cuối cùng máu mủ vẫn tuôn ra không bịt lại được nữa.

Đã hơn một tháng qua, trên con đường này tôi toàn thấy những sự kêu la, oán trách, tự gây thương tích, lủi trốn, cướp bóc, trộm cắp, thậm chí cả sự tự sát hoặc chống lệnh chỉ huy. Gương tốt người tốt ít quá, hoặc không tìm thấy ở đây.

Tôi chưa hề trông thấy một sự kiện nào chứng tỏ rằng những người có trách nhiệm xua quân vào đây, hiểu rõ hoàn cảnh của binh sĩ một khi binh sĩ đã vào con đường này. Họ không tiên đoán được, hay họ biết mà họ vẫn mặc kệ?

Ai đời đại liên, trọng pháo, cối 82 mà được dự định tải bằng xe cút kít, một thứ xe dùng để chở phân bón đồng của hợp tác xã?

Họ bắt con người phải hy sinh quá nhiều. Sự hy sinh trở thành vô bờ bến, không có thời hạn, không có điều kiện. Vì thế sự hy sinh đã trở thành những cực hình, chứ nó không mang tính chất tự nguyện của cách mạng.

Tôi nhìn đi nghĩ lại, thấy Năm Cà Dom nói đúng, không còn cách nào cấu cào ra củi bằng cách gọt gốc cây sống lấy ra từng lát. Nhưng đây không phải chỉ là một vấn đề lao lực đơn giản mà nó thuộc về ý thức tư tưởng nhiều hơn.

Tôi tự hỏi:

– Cái cảnh này sẽ tái diễn bao nhiêu lần?

Tôi cầm con dao găm mà bổ vào cái gốc cây rừng.

Chao ôi! Lưỡi dao găm của một hợp tác xã ở phố Hàng Thùng Hà Nội là một con dao trên hình thức, còn thực tế thì nó chỉ là một cái trành bằm. Mép nó dày như da trâu và không đủ thép để mài cho bén. Thành ra tôi bổ lia lịa mà chưa lấy ra được một cái dăm nào bằng lát cam thảo.

Năm Cà Dom làm cái việc gọt cây như tôi với một sự kiên nhẫn phi thường. Anh ta có kinh nghiệm nên chỉ trong giây lát anh ta lại nhìn sang tôi mà bảo:

– Nhìn sang tôi đây này.

Còn Thu thì ôi thôi! Tay này cầm con dao găm nom thật thảm khổ.

Những ngón tay búp măng móng dài và nhọn hoắc, cố nắm chắc cán dao và bổ lưới dao vào gốc cây, và cứ mỗi nhát Thu lại cau mặt.

Những ngón tay ấy xuất hiện trên sân khấu như những búp hoa ngọc lan búp trong các điệu múa Tân Cương, múa ba-lê của Nga La Tư. Mỗi cử động của ngón tay là cả một nghệ thuật… thế mà giờ đây những ngón tay ấy dùng để bổ củi.

Vâng, đảng đã dùng con người “như cái vốn quí nhất ” như thế đó! Như thế đó, những “con người vốn quí nhất ” của đảng được đem ra dùng.

Và chung quanh đây, dọc hai ven suối này, tất cả những người nằm la liệt trên phiến đá, trong hốc đá, trên võng vì bệnh tật, vì thương tật, vì đói, v.v. cũng lại là những cái “vốn quí nhất” được đảng đem ra dùng…

Năm Cà Dom cứ hét lên từng chập một:

– Cố lên anh chị ơi? Không có củi thì chết đói! Chết đói.

Tôi vừa đẽo vừa nhìn quanh quất, thấy nước đã tràn lên đến nền võng. Chỉ còn có một lõm nơi chúng tôi để ba lô. Thật ác quá, trời không ngó lại cho mình.

Một lũ kiến bò loanh quanh trên quai ba lô, rồi chuyền lên đầu võng bò lên cây. Ô chúng nó sắp bị lụt. Chúng có đường thoát, còn chúng tôi thì cam chịu, đành nhìn nước lên tấn công mình mà không có đường rút lui.

Chắc trên nguồn lại mưa cho nên nước đổ xuống hung hơn.

Tôi nói với Năm Cà Dom:

-Chỗ đâu mà bắt bếp anh? Làm sao mà nhóm lửa?

– Đừng lo! Đẽo cho ra củi cho tôi đi, rồi sẽ có bếp.

– Không, anh phải nói đi rồi tôi mới đẽo.

– Ta treo cà mèn.

– Còn lửa?

– Ờ, ờ cũng kẹt dữ he? Nhưng mà không sao… Rồi Năm hì hục bổ vào gốc cây với con dao găm bất hủ.

Bỗng Thu òa lên khóc… Thu buông con dao xuống đất gục mặt vào hai đầu gối…

– Gì thế em? Tôi cũng ngừng tay hỏi.

Thu không nói, vẫn cứ nức nở, làm cho lòng tôi càng thêm rối rắm. Tôi buông dao, đến gần bên Thu, rỉ tai nàng.

– Cái gì thế em?

Thu lắc đầu nguẩy nguậy. Chao ôi! Trông nàng khóc mà tôi não lòng. Nàng đẹp ra, thế mới chết!

Đôi vai nàng run run. Tóc nàng lòa xòa phủ xuống gương mặt tuy mang đầy dấu vết bàn tay quái ác của hung thần sốt rét, nhưng nó vẫn cứ đẹp và đáng nhìn quá!

Nàng ngước mắt nhìn tôi. Đôi mắt đẫm lệ, như đôi mắt của một con vật sắp sửa bi đem ra tế lễ, van xin tên đao phủ đừng sát hại. Đôi mắt châm chọc tim tôi.

Tôi nhìn tay nàng. Bàn tay, ôi!… Tôi cầm lấy nó, mềm mại mong manh như làm bằng bột, những ngón tay nho nhỏ như những cái búp non. Tuy đã gầy đi, và đầy vết sẹo nhưng nó vẫn còn vẻ đẹp thanh tú, quí phái.

Tôi nhìn cái vết phồng to, căng ứ nước trong lòng bàn tay. À, đây rồi nguyên nhân của những dòng nước mắt. Tôi khẽ bóp tay nàng và hỏi:

– Có đau không?

Thu lắc đầu.

-Vậy sao em khóc?

Thu lặng thinh và nhìn xuống.

Tôi sực nhớ ra rằng nàng đang trong lúc khó ở.

Chao ôi! Có kinh mà phải lội suối? Và nàng đã vượt con sông chiều hôm trước, chạy qua cả một vùng đất trắng không có một cái lá cây và còn hăng xè mùi chất độc, nàng đã lội suốt một ngày hôm qua và bây giờ lại sắp lội suối.

Tôi không biết làm sao thì bác sĩ Năm Cà Dom quay sang. Anh ta đã nói từ hôm qua. Cái anh này chuyện gì cũng biết, việc gì cũng có sự tính trước. Anh ta nói thằng vào vấn đề.

– Chốc nữa, trước khi đi phải băng lại thật kỹ. Nó mà nhiễm trùng một cái, thì ảnh hưởng tới buồng trứng là mất tương lai…

Thu nghe nói thế lại òa lên, nước mắt của nàng như đang đựng trong những bọc thật căng bỗng nhiên bị xé toạc ra tràn trề…

Tôi ngồi ngây ra. Tôi nghe như tương lai của chính tôi cũng bị đe doạ, vì đời sống của tôi hình như một phần đã là của nàng.

Năm Cà Dom nói:

– Nếu tôi biết thế, hôm vượt sông tôi đâu có cho đi. Nguy lắm. Dưới suối chưa biết chùng cũng có chất độc?

Tôi nói:

– Nhưng nếu không đi thì ai chờ mình.

– Bây giờ thì phải cố mà đi! Phải đi…!

Ngại quá! Mỗi người có một cái ngại khi nghĩ đến lúc mình đì trên một con đường như con đường đang trải ra trước mặt tôi đây. Con đường không phải như những con đường khác.

Tôi thì mới cắt cử, Thu thì đang khó ở, Năm Cà Dom thì không có bệnh gì rõ rệt nhưng sau này tôi mới biết ra là ông bác sĩ này đau bao tử mà ngâm mình dưới nước thì có lẽ cũng không thuốc gì. Còn những anh kia thì đủ một trăm thứ ngại, ngoài nòng pháo nặng như núi còn cái chân gãy báo cô kia.

Thương nhất là anh anh bị pháo đè gãy chân. Anh ta phải nằm võng để cho người ta khiêng. Người khiêng thì cực chẳng đã khiêng còn người nằm cũng cực chẳng đã phải nằm. Kìa họ đang sửa soạn để lên đường.

Thú thực rằng tôi không đến đỗi kém thông minh, nhưng tôi không nghĩ ra một cách nào có thể giúp họ đỡ lao lực đi một tí.

Dưới lòng suối có một người vừa bè bè đi, vừa quơ quơ tay.

– Đi nghe bà con! Mau lên! Mau lên!

Tôi nhìn kỹ ra thì nhận ra người đó là anh giao liên. Anh giao liên đang tập họp đám khách ly tán của anh bị trận mưa chiều qua làm tan tác.

Đã bảo “nhất trạm nhì trời” mà.

Khách có nhiệm vụ bám anh ta, đeo dính anh ta. Anh ta đi chậm thì đi chậm, đi nhanh thì phải đi nhanh, anh ta khiến gì hay nấy. Anh ta có đủ mọi thứ quyền hành, còn khách thì chỉ có nhiệm vụ là không có quyền hạn gì cả, ngoài cái quyền phải bám chặt anh ta. Khách không có quyền hỏi đây là đâu và sẽ đến đâu và đã qua những đâu. Ở đây không có địa danh, sông không có tên, suối vô danh và những kẻ đi trên con đường này cũng như con suối vô danh kia, đã thay đổi họ, lẩn trốn nhau, từ khi còn ở Hà Nội và vô đến đây thì đi đứng ăn ở đều lén lút như những tên ăn trộm.

Tại sao phải lẩn lút phải đổi thay tên họ? Phải chăng vì việc làm của mình quá ư quang minh chính đại mà mình phải che đậy như thế?

Cho nên, xin lỗi độc giả, nếu trong thiên hồi ký này độc giả không hề thấy tác giả nêu lên một địa danh nào thì đó không phải là lỗi của tác giả mà tại nó thế đó.

Anh giao liên vừa đi giữa lòng suối vừa vẫy gọi khách treo võng hoặc nằm la liệt hai bên vách đá.

Nhiều người chửi ầm lên:

– Đi cái lỗ mô giờ mới thò cái mặt mẹt ra đó?

– Quân bất lương!

Tôi thấy khổ tâm cho anh Khẩu đội trưởng: một bên là cái nòng pháo, một bên là anh lính gãy giò. Nếu tôi là Khẩu đội trưởng trong lúc này thì tôi xin đổi cái chức vụ của tôi với một thìa muối.

Tôi bảo Thu:

– Chuẩn bị đi em!

Thu đứng chết trân như một cái tượng đá hay chính Thu đã hóa đá?

Tôi cực lòng quá. Nỗi cho tôi, nỗi vì Thu. Nếu không đi nằm lại đây thì gạo đâu ăn. Cái nhúm gạo chiều qua mắc mưa không có nắng sấy, bây giờ đã thành bột rồi, nhưng tôi cũng cứ giữ nó vì dù sao nó cũng là gạo. Nếu nằm lại đây thì nằm cho đến bao giờ? Chờ cho suối cạn thì đó là điều không bao giờ có.

Cỏn đi thì làm sao? Thu ngại nước hơn ai hết. Chậm một ngày suối càng dâng lên cao một ngày.

Sự phát hiện của bác sĩ Năm Cà Dom làm tôi sợ hãi cho Thu. Đàn bà con gái mà nói tới việc không có con là họ sợ nhất. Tôi là cán bộ, còn Thu là văn công trình độ biểu diễn quốc tế. Ấy vậy mà là một đám người đi lẫn trong đám người lô nhô lúc nhúc kia, không ai biết ai. Nói thì nghe hay quá, nào kỹ sư linh hồn gì gì, nhưng thực tế trên con đường này, những điều xảy ra cho tôi đều là (chứng?) minh một định lý ngược lại.

Văn học miền Nam 54-75

Xuân Vũ

vanviet.info

Posted on 31 Tháng Năm, 2020 by Văn Việt

Post by Sơn râu 29 Jul 2025

Kỳ 1

Xuân Vũ (Tiểu sử)

Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đình nông dân, từng học tại trường Collège Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đã đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo “Tiếng Súng Kháng Địch” của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1965 ông vượt Trường Sơn trở về miền Nam và đã ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1968.

Sau đó ông làm việc cho nhật báo Tiền Tuyến, và Ðài Mẹ Việt Nam trực thuộc Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn.

Xuân Vũ được trao Giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc năm 1973 với tác phẩm Ðường Ði Không Ðến, tập hồi ký vượt Trường Sơn.

Tỵ nạn sang Hoa Kỳ 1975, ông tiếp tục viết văn đến khi qua đời. Các tác phẩm gồm có hồi ký, truyện ngắn, truyện dài, truyện phim… Tổng cộng đến 90 cuốn.

Ông qua đời ngày 1 tháng 1 năm 2004 tại San Antonio, Texas.

Tác phẩm:

Đường đi không đến

Vàng mơ bông lúa

Xóm Cái Bần

Tấm lụa đào

Cô Ba Trà

(Theo Wikipedia)

Xương Trắng Trường Sơn

Lời Giới Thiệu Của Nhà Xuất Bản

Đã ngót hai mươi năm qua kể từ quyển hồi ký Đường Đi Không Đến ra mắt độc giả ở Sài gòn. Lớp thanh niên đọc quyển sách ấy nay tóc đã hoa râm, còn lứa tuổi trung niên thì nay đã ra lão. Thời gian đi nhanh, nhưng con đường mà tác giả đã trải qua mãi mãi còn đậm nét trên những trang sách và trong lòng người

Nếu chúng tôi nhớ không lầm thì quyển hồi ký Đường Đi Không Đến ra mắt độc giả trước tiên năm 1969 trên nhật báo Tiền Tuyến do nhà văn Phan Lạc Phúc làm Chủ Nhiệm và nhà báo Huy Vân làm Chủ bút. Nhà văn Phan Lạc Phúc bi bắt đi cải tạo, đến nay vẫn còn trong tù. Còn nhà báo Huy Vân thì đã hy sinh cũng trong trại cải tạo của bạo quyền.

Quyển Đường Đi Không Đến xuất bản năm 1973. Không đầy một năm, nhà xuất bản Nam Cường đã tái bản (tháng 5 năm 1974). Ra hải ngoại cũng được in lại nhiều lần.

Quyển Xương Trắng Trường Sơn mà chúng tôi hân hạnh cho ra mắt độc giả hôm nay là tập hai của bộ Đường Đi Không Đến gồm năm tập được biết như sau: Đường Đi Không Đến (I), Xương Trắng Trường Sơn (II), Mạng Người Lá Rụng (III), Đến Mà Không Đến (IV) và Đồng Bằng Gai Góc (V).

Ba quyển sau cùng, theo tác giả cho biết, thì đã mất bản thảo chạy giặc trước năm 1975. Chúng tôi đã yêu cầu – và được nhà văn Xuân Vũ nhận lời – ông viết lại để chúng tôi có dịp giúp độc giả theo dõi tiếp những chương sau cùng của con đường oan nghiệt mà mỗi tấc đất đã phủ xương trắng nhuộm máu tươi của nửa triệu thanh niên Bắc Việt và cán bộ Miền Nam hồi kết. Chính tác giả là “người khách lữ hành” trên con đường ấy.

Trân trọng.

Nhà xuất bản Xuân Thu

Mấy Dòng Tâm Tư

Hồi năm 1945 tại chợ làng tôi thường xảy ra những cuộc diễn thuyết, diễn giả là cán bộ tuyên truyền của quận bộ hay tỉnh bộ Việt Minh. Tôi rất thích nghe vì họ nói toàn là những chuyện mà một đứa bé như tôi lúc bấy giờ không thể hiểu nổi.

Tôi còn nhớ một hôm có một diễn giả đăng đàn. Ông ta chỉ là thôn bộ Việt Minh của làng tôi thôi. Ông ta là người không phải đạo cũng không phải đời, ông ta mặc nâu sồng tay lần chuỗi hạt. Người ông nhỏ thó nét mặt gân guốc có phần choắt lại và tay luôn luôn lần chuỗi hạt. Người nhà giàu thì sợ ông ta ra lệnh bắt giam hoặc giết chết, còn người thường thì lác mắt khiếp oai. Ông ta lên đăng đàn lần đó, nói những câu mà tôi nhớ mãi. Nếu tôi là sử gia tôi phải ghi trên vách đá.

Ông ta tuyên bố: “Một tay tôi lần chuỗi hạt, một tay tôi chống trời.”

Rõ thật một con người ghê gớm.

Ông ta giải thích về cách mạng cho mọi người nghe như sau:

– Ngày mai cái nơi bùn lầy nước đọng này, (tức là cái chợ làng của tôi có lão già đánh xe ngựa đã lừa chú ngựa còm bằng một mớ cỏ non suốt hàng chục năm trời), sẽ có nước phông-tên và đèn điện. Ngày mai nơi đây sẽ thành thiên đường của thế gian.

Tôi mê quá! Hồi đó tôi coi ông Chủ nhiệm thôn bộ Việt Minh là đệ nhất anh hùng – và không phải chỉ của riêng làng tôi.

Rồi về sau tôi được đọc một câu tiếng Pháp cũng na ná như thế. “Chủ nghĩa Cộng sản là mùa xuân của nhân loại!” 

Vì mê cái “thiên đường” và cái “mùa xuân” trên chót lưỡi của hai bậc “vĩ nhân” kia cho nên tôi đã tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp từ những ngày đầu.

Năm 1946 thực dân Pháp đến đóng bốt ở đầu cầu chợ, ngay trong một cái chành lúa đã chứa sẵn mười ngàn giạ (chiếc cầu có hai cái dốc thật cao đã chứng kiến con ngựa còm của lão già đứt ruột trong một lần kéo xe lên dốc).

Dân làng tôi đã cùng với bộ đội đánh cái bốt đó. Súng của bộ đội chỉ có đến trung liên là cùng, không thể phá nổi phòng tuyến bốt xây bằng lúa bao. Nhưng dân làng tôi quyết không lùi bước.

Người ở chợ thì giở nhà mang tới, kẻ ở ngoài vườn thì đội rơm vác lá đem vào chất chung quanh bốt và châm lửa. Lửa dậy ngất trời. Đồn bốt ra tro. Hai mươi tám tên pạc-ti-dăng bị quay sống trong bốt.

Vì bốt xây bằng lúa bao cho nên lửa cứ ngùn cháy hoài, như một quả núi lửa, năm năm sau chưa tắt. Những lớp tro quánh lại thành cái vỏ cứng bao bọc ruột lửa bên trong. Sau những trận mưa, người ta thấy những mẩu xương phơi lẫn trong tro than như những mẩu vôi thực sự. Và ngọn khói vẫn cứ ri rỉ bay lên như oan hồn của những tên xâm lược xấu số.

Tôi đi theo kháng chiến rồi tập kết ra Bắc. Đúng hai mươi năm thì tôi trở về làng cũ (1945 – 1965). Lão già đánh xe ngựa đã chết từ lâu. Con cháu của lão không thể nối nghiệp lão vì con đường đầy ồ gà ngày trước nay đã trở thành đường tráng nhựa. Xe hơi xe lam xe gắn máy chạy vun vút xuôi ngược suốt ngày, cho nên bóng dáng chiếc xe ngựa đã biến hút đi từ lâu. Cái chợ làng tôi đã trở thành quận lỵ với đèn điện với ăng-ten tivi tua tủa trên các dãy phố, không còn ai ngờ rằng đây là nơi bùn lầy nước đọng ngày xưa, nơi ông Chủ nhiệm Việt Minh đăng đàn diễn thuyết, tay lần chuỗi tay chống trời.

Nhiều người gánh nước mướn, những chú chệt bán kẹo đục nay trở thành chủ tiệm. Trong đám học trò đã từng nhóc mỏ cá kèo nghe diễn thuyết với tôi, nay không ít đứa làm nên sự nghiệp, có đứa là triệu phú!

Ở đây không còn ai diễn thuyết nữa.

Tôi được nghe ông chủ nhiệm thôn bộ Việt Minh cũng đi kháng chiến như tôi, nhưng ông đã bỏ nghề diễn thuyết, cũng không lần chuỗi hạt và cố nhiên tay kia cũng không dùng để chống trời nữa. Ông quay ra làm phim ảnh. Thuở đó ông lận đận nhiều. Không rõ bây giờ đời ông vui buồn ra sao?

Đứng trên mảnh đất ngày xưa, tôi nhìn quang cảnh ngày nay chợ búa, xe cộ hàng hóa và sắc diện con người. Tôi có biết bao dòng suy nghĩ. Tôi tự bảo: Phải chăng đây là một cái thiên đường con con ở một góc trời xa xôi của xứ sở tôi.

Dân làng tôi hai mươi năm xưa dỡ nhà đốt bốt Tây, nay đã an cư lạc nghiệp. Chuyện ngày qua nay hầu như đã lãng quên. Từ mảnh đất thực tế, nảy lên một chân lý:

– Người ta vẫn xây được thiên đường theo ước vọng của người ta, nhưng hà tất phải đi theo con đường của ông chủ nhiệm Việt Minh. Và dù có đi theo con đường của ông chủ nhiệm, đã chắc người ta tìm được thiên đường.

Nếu ông chủ nhiệm kiêm nhà làm phim còn sống và nếu ông trở về đây chắc ông sẽ tìm thấy hứng thú trước quang cảnh chợ làng đã đổi thành chợ quận này, để làm một cuốn phim hay hay.

Khi đi trên đường Trường Sơn, có những đêm mưa tôi nằm ôn lại chuyện xưa. Tôi có nhớ đến quả núi tro ở quê tôi rắc đầy xương của những người lính pạc-ti-dăng.

Một ý nghĩ đã chợt đến với tôi: Cái quả núi tro ấy chính là hình ảnh của Trường Sơn thu nhỏ lại. Còn lũ chúng tôi và hàng chục vạn quân binh miền Bắc – trên đường Trường Sơn này chỉ là những bộ xương biết đi – thì chẳng khác nào…

Số phận của những kẻ mang quân đi đánh nước người rồi ra có khác gì nhau?

Tiện đây tôi xin được phép thưa cùng một số độc giả của Đường Đi Không Đến” – hoặc bằng thư từ hoặc đã trực tiếp hỏi tôi: “Đường Trường Sơn cực khổ đến thế à? Bộ đội miền Bắc tang thương đến thế à?” 

Xin thưa: Đây là những chuyện xảy ra hồi 1965. Và xin lấy ý kiến của một tiểu đoàn trưởng của bộ đội chánh quy miền Bắc xâm nhập đã tìm Tự do, nay đang có mặt ở Sài Gòn, sau khi đọc quyển Đường Đi Không Đến: “Văn thì hấp dẫn nhưng chuyện khổ thì không ăn thua gì với sự chịu đựng của đơn vị tôi!”.

Ngoài ra, có một số độc giả lo lắng cho số phận của cô Thu. Tác giả xin được phép thưa: Cô Thu, sau năm năm tình duyên và công tác chìm nổi, đã mang một chứng bịnh kinh niên mà nguồn gốc phát sinh từ lúc cô vượt sông và ngâm mình dưới suối…

Do đó cô trở thành phế nhân, suốt năm năm không hề biểu diễn được một màn nào. Vì thề cô được “ân huệ” cho về Bắc, cũng bằng đường Trường Sơn, với cặp chân cô ta, như lúc cô vào Nam. Tôi sẽ xin kể tỉ mỉ trong quyền cuối cùng của thiên hồi ký “Đường Đi Không Đến”.

Sài Gòn, hè 1974

Xuân Vũ

Lại Thêm Mấy Dòng Tâm Sự

Trong một dịp bất ngờ tôi được quen với Anh Giám Đốc nhà xuất bản Xuân Thu. Trong dịp này tôi còn được biết thêm rằng thân phụ của anh là giáo sư trường Le Myre de Vilers, thầy học cũ của tôi.

Vừa rồi, anh có nhã ý muốn xuất bản tác phẩm của tôi. Tôi liền đưa ngay cho anh quyển Xương Trắng Trường Sơn là một tập trong bộ Đường Đi Không Đến của tôi. Thực ra tôi không mấy khi nghĩ đến việc in lại các tác phẩm của tôi hoặc viết lại những bản thảo đã mất. Bởi vì, cũng như các văn hữu khác, tôi luôn luôn nghĩ tới những truyện còn nằm trong bụng.

Riêng quyển Xương Trắng Trường Sơn mà tôi có đề đưa cho nhà Xuân Thu là nhờ anh bạn nối khố của tôi, ông Nguyễn Tri Sử, trưởng ban Tuyên Nghiên Huấn thuộc Tổng Liên Đoàn Lao Công của ông Trần Quốc Bửu. Cũng là một dịp bất ngờ khác. Đời tôi toàn gặp những bất ngờ… may mắn.

Trên chuyến bay lưu vong từ Guam sang Hoa Kỳ, gia đình tôi đi với gia đình anh Nguyễn Tri Sử. Hai đứa định xuống trại Sacramento ở California, nhưng khi máy bay hạ cánh ở Los Angeles thì được tin trại đã chật, bèn bay sang Fort Chaffee ở Arkansas. Lạ nước lạ cái, nên hai đứa tìm nhau luôn. Một hôm, anh đưa cho tôi một quyển sách và bảo: tôi tặng lại cho anh đấy, để làm của?

Thì ra là quyển Xương Trắng Trường Sơn tôi đã tặng cho anh ở Sài Gòn cách đây không đầy một tháng. Quyển sách này phát hành vào đầu tháng tư, nhưng tôi vẫn không đoán được những gì xảy ra vào cuối tháng tư nên gần nửa triệu bạc bản quyền tôi nhận được của ông Nam Cường (người Mỹ Tho đồng hương?) tôi đem trút cả vào cho ngôi nhà hai tằng sắp xây xong ở Hàng Xanh (với dự định sẽ xây lên thêm một tầng nữa để làm Thiên Thư Lầu). Còn một tuần nữa ăn tân gia thì lại phải chạy ra Phú Quốc để đi Guam. Tác giả Xương Trắng Trường Sơn trở thành Tay Trắng Mình Không.

Nhận quyển sách từ tay bạn cố tri trên đất Hoa Kỳ tị nạn, tôi bùi ngùi cho số phận của nó vừn ra đời vừa được độc giả biết đến hai tuần thì đã phải bay đi theo vận nước. Tôi đút nó vào chiếc cặp da cũ lưu truyền từ đời ông nội tôi đến cha tôi rồi đến tôi, món báu vật độc nhất được tôi quảy đi từ Sài gòn.

Nếu không có nhà Xuân Thu hỏi tới chắc chắn tôi chưa có dịp giải phóng nó ra khỏi cái nhà tù tí hon kia, sau mười bốn năm giam cầm nó một cách độc đoán. Trước khi đưa nó sang nhà Xuân Thu, tôi đã liếc sơ qua, và thấy rằng nó chưa mất màu mặc dù giấy trắng đã thành vàng nẫu.

Sau hai mươi lăm năm vượt con đường chết trên thực địa, ghé mắt nhìn lại con đường trên những trang sách, tôi hãy còn kinh hoàng.

Vừa rồi tôi có nghe tin Tổng Cuộc Chính Trị quân lính Việt Cộng có phát động một phong trào viết Kỷ niệm Trường Sơn. Tôi biết họ bắt những người cầm bút viết theo đường lối “phải đạo” của họ tức là gọt xén tô phết làm sao cho con đường này trở thành con đường đầy hoa thơm cỏ lạ, con đường vinh quang chớ không phải con đường lót bằng xương nhuộm bằng máu của thế hệ thanh niên Hồ chí Minh. Dù sao đi nữa, những kẻ sống sót trên con đường này cũng còn khá đông, cho nên họ không thể nói láo.

Nhân dịp nhà xuất bản Xuân Thu tái bản quyển Xương Trắng Trường Sơn, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của tôi đối với Bác sĩ Hồ Văn Châm, người đã đề tựa cho quyển Đường Đi Không Đến của tôi (sau 1975 nó đã trở thành một trong những quyển đứng đầu bảng sách cấm). Lời tựa này ắt hẳn đã thêm một bằng chứng để bọn cai ngục hành hạ bác sĩ thêm trong mười bốn năm trời trong trại cải tạo mà bác sĩ đã trải qua.

Tôi cũng xin cảm ơn độc giả đã đón nhận nó một cách rất khích lệ cho tôi. Đặc biệt là độc giả trong nước, trước mũi súng và màng lướ dày đặc của công an mà vẫn bí mật in và phát hành quyển Đường Đi Không Đến, tuy với giá bốn mươi lăm ngàn đồng vào răm 1985 mà vẫn có người tìm mua.

Cuối cùng xin cảm ơn Anh Nguyễn Tri Sử và Anh Xuân Thu. Nếu không có hai anh giúp tôi thì quyển Xương Trắng Trường Sơn không có cơ may đến tay độc giả.

Hoa Kỳ, tháng 9 năm 1989

Xuân Vũ

Sắt và máu

hung-viet.org

Posted 8 Tháng Mười Hai 2014

Huy Phương

Post by Sơn râu 28 Jul 2025

Người ta gọi cờ của Cộng Sản Việt Nam là lá cờ máu, mà không phải chỉ Việt Nam, các nước Cộng Sản trên thế giới đều có lá cờ nền đỏ, từ Liên Bang Xô Viết, Trung Cộng, Bắc Hàn hay Cuba.

Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, nơi tưởng niệm các binh sĩ VNCH và Hoa Kỳ hy sinh trong cuộc chiến Việt Nam. (Hình minh họa: David McNew/Getty Images)

Chính cái màu máu đó Hồ Chí Minh đã vác về từ Liên Xô gây thảm họa cho dân tộc Việt Nam. Tố Hữu trong bài “Hoa và Máu” đã ca tụng “Người” của ông, nhưng có kết quả ngược, khi đọc lên, người ta thấy Hồ Chí Minh quả thật là một nhân vật ngoi lên từ vũng máu:

“Ôi Việt Nam! Từ trong biển máu

Người vươn lên như một thiên thần!”

Và cả dân tộc này đang hân hoan phấn khởi được ngụp lặn, vùng vẫy trong máu:

“Ta lại về ta, những đứa con

Máu hòa trong máu, đỏ như son.”

Từ chủ trương sắt máu đó Tố Hữu cũng đã hò hét:

“Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,

Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong…”

Không ai nghĩ ra vì sao phải đổ máu cho tốt ruộng đồng và thu thuế nhanh hơn, phải chăng đó là một lối cai trị bằng sắt máu và khủng bố!

Ngay trong bài quốc ca “Tiến Quân Ca” chúng ta đã phải rùng mình khi nghe những lời hát man dại của Văn Cao:

“Thề phanh thây uống máu quân thù

Tiến mau ra xa trường, tiến lên!”

Những nhà thơ khác như Xuân Diệu cũng nhập cuộc, chủ trương:

“Máu kêu máu trả thù.

Súng đâu, anh em đâu.

Bắn nó thủng yết hầu,

Bắn tỉa nó dài lâu!”

Lời kêu gọi của những con người thèm khát nhìn thấy máu này, đã đưa dân tộc đến thảm sát Mậu Thân, pháo kích trường học ở Cai Lậy, bắn pháo trên “đại lộ Kinh Hoàng,” gây biển máu trên Quốc Lộ 7B và những vụ trả thù ghê gớm trong ngày miền Nam thất thủ. Những người thèm máu trong chiến tranh, hôm nay ngày hòa bình đã có kết quả.

Ngày xưa có những bài toán trừ: “10 tên lính Mỹ giết 6 tên, còn lại mấy tên?” Nhưng ngày nay Việt Nam mon men lại gần Mỹ, “hoan nghênh việc Hạ Viện Hoa Kỳ lần đầu tiên thông qua một nghị quyết ủng hộ những nỗ lực giải quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, và việc xây dựng một bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông,” thì bài toán có máu sẽ đổ lên đầu trẻ thơ vô tội, là, “10 ngón tay bị chặt đứt 2 ngón, tính ra còn mấy ngón tay?” Cũng là máu!

Trên những trang báo trong nước ngày nay, không có ngày nào là không có chuyện máu. Người ta giết nhau không cần đến súng, mà bằng búa bằng dao. Sư giết người yêu chôn trong vườn chùa, cha giết con, con cầm dao giết mẹ, anh em vợ chồng đoạt mạng nhau, còn phân thây, vứt bên lề đường, vùi trong bụi chuối, ao hồ. Mới đây là chuyện thiếu niên mới 15 tuổi giết cô chăn bò 52 tuổi, lột lấy bông tai và hiếp dâm thi thể, một thanh niên khác trấn nước nạn nhân cho đến chết, rồi kéo lên bờ làm chuyện tồi bại.

Bây giờ là thời buổi của ma quỷ hiện hình cũng như con người khát máu ưa chém giết nhau, chỉ vì không biết phù phép, bùa chú, yểm ma trừ tà, không chịu chôn hay thiêu đốt mà để con quỷ dâm dục, khát máu, bạo tàn sống nằm khô héo nhăn răng trong lăng.

Chúng ta thường nghĩ, chiến tranh là chuyện bất đắc dĩ, khi tiếng súng đã im trên chiến trận, dù ai chết, bên này hay bên kia, thì cũng là người, ai cũng có những người thân, cũng có một mái ấm. Phải là người lính của miền Nam ngày trước mới có được nỗi buồn xót xa, nhân bản như Tô Thùy Yên:

“Trời ơi, những xác thây la liệt

Con ai, chồng ai, anh em ai?

Hay như Trần Hoài Thư:

“Ai bạn, ai thù sao quá thảm,

Trên một dòng cuồn cuộn oan gia!”

Trong khi đó, những người Cộng Sản hả hê:

“Ném lựu đạn cho người vui vật sướng!”

Hay cầm súng giết người mà hãnh diện:

“Ôi êm ái khi tay cầm vũ khí!” (Xuân Diệu)

Ngay cái hầm chông của du kích là một vũ khí giết người, khi một con vật sa vào bẫy, dù thèm miếng thịt cũng bất nhẫn, khi thấy con vật giẫy giụa đau đớn trong máu me, nhưng Chế Lan Viên đã “yêu,” ca tụng nó, thứ vũ khí giết người:

“Hỡi cái hầm chông

Ta yêu ngươi hơn vạn đóa hoa hồng

Cái hầm chông nhọn hoắt…”

Sau khi giết người, họng súng của con người Cộng Sản “phải reo ca,” nên chế độ ấy, ngày nay sinh sản ra những con người sát nhân, hiếp dân, vứt xác xong về đi ngủ, hay ra quán ngồi nhậu tiếp.

Thời buổi cai trị bằng sắt máu, dùng bạo lực, công an là lực lượng trung thành trấn áp nhân dân, “còn đảng còn ta” nên cảnh giết người, đánh đập người dân trong các đồn công an trong khi lấy khẩu cung gây nên cảnh chết chóc, dàn cảnh tự tử không hiếm tại Việt Nam hôm nay. Cảnh cướp đất, cướp nhà đã dồn người dân lành thành dân oan, ăn đường, ngủ bụi, oán thán ngất trời.

Chúng ta trông đợi, hy vọng gì ở cái xã hội suy đồi bại hoại này, nó phát xuất từ cây đa Tân Trào, hay hang Pác Bó thì cũng đem lại cái chết cho hàng triệu thanh niên và ngày nay là đạo lý suy đồi. Hay biết mấy những câu thơ của Tố Hữu áp dụng cho hoàn cảnh hôm nay:

“…Càng tức nước, càng xui bờ vỡ

Lòng dân ta như lửa thêm dầu

Lưỡi lê, mũi súng, nhà tù

Càng đau, càng khổ, càng thù, càng căm!”

(Ba mươi năm đời ta có đảng)

Rồi đây, có lẽ sẽ không có “Cách Mạng Nhung,” “Cách Mạng Hoa Lài,” gì nữa hết. Chúng khởi đầu con đường đi bằng máu, sợ rồi đây nó sẽ tự kết thúc bằng máu như Tố Hữu đã từng kêu lên, “Máu kêu trả máu, đầu kêu trả đầu!”

Huy Phương

Sài Gòn và Hà Nội

hung-viet.org

Huy Phương

8 Tháng Chín 2014

Post by Sơn râu 28 Jul 2025

Sau khi đi tù về vài năm, khoảng 1985, tôi có mở một tiệm làm hình và tráng phim gia công trên đường Lý Thái Tổ, Sài Gòn.

Nhờ vậy, ở đây tôi có dịp tiếp xúc với nhiều người đủ mọi tầng lớp xã hội và ở khắp mọi miền, nhất là dân miền Bắc, sau Tháng Tư, 1975, đổ xô vào Nam kiếm ăn rất nhiều. Vì dù miền Nam sau ngày “giải phóng” đã xuống cấp tột cùng, trông cũng còn khá giả, tươm tất hơn ở miền Bắc sau 20 năm dưới chế độ cộng sản.

Sài Gòn ngày nay. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

 Một ngày nọ, tôi gặp một người trung niên miền Bắc, trông mặt mày cũng khôi ngô, nhưng áo quần nhàu nát, làn da xanh mét như người thiếu ăn, anh vào tiệm, ngửa tay ra, nói mấy câu. Nghe giọng nói tôi biết ngay là người này ở ngoài Bắc mới vào, đang hành nghề xin ăn.

Tôi hỏi anh, “Tận ngoài Bắc, sao anh vào đây đi ăn xin?”

Không hề ngượng nghịu, anh nói rõ, “Vào đây xin 10 người cũng có được 6 người móc túi cho, lại chẳng bao giờ bị chửi bới. Ngoài Bắc, nhất là Hà Nội, thì đừng hòng! Có mà chết đói.”

Đó là điều tôi nhận ra, như vậy là có sự khác biệt nhau giữa Sài Gòn và Hà Nội. Hà Nội đại diện cho miền Bắc và Sài Gòn phản ánh cho những đặc tính của miền Nam.

Cộng Sản vào không phải làm điện khí hóa cho nông thôn trở thành thành thị, nhưng thật tình đã “nông thôn hóa” thành thị, nên dân Sài Gòn thường trực bị cúp điện, nhiều nơi tìm cách đào giếng để kiếm nước và sẵn sàng bới sân gạch lên để trồng khoai lang cải thiện, hay như ông bạn tôi ở chung cư Thanh Đa, bớt chỗ sinh hoạt để nuôi hai con heo nái trên sân thượng.

Sài Gòn sau thời gian đổi tên, nguyên do chỉ vì cái bến Nhà Rồng chết tiệt, chẳng mấy chốc xuống gần bằng Hà Nội. Bằng Hà Nội hơn, nhất là sau khi họ ồ ạt “vào thành phố” như một câu hát của Trịnh Công Sơn, với những “cửa hàng thịt phụ nữ,” “cửa hàng chất đốt thanh niên” mọc ra, cái cảnh phơi áo quần trên cửa sổ, treo khăn lông trong “xe con,” nuôi heo, trồng rau ngay trong sân nhà, hay hai anh bộ đội lái xe khác chiều dừng xe ngay giữa lộ để nói chuyện với nhau, bất cần tiếng chửi của thiên hạ.

Mới thoạt nhìn, Sài Gòn bỏ ngỏ và bắt đầu nhếch nhác giống Hà Nội, nhưng sự thật trong gan ruột, hai thành phố đối cực, đối đầu này đang có những điều khác biệt, một bên là “nơi hang ổ cuối cùng và đâu cũng thấy tàn dư Mỹ Ngụy,” và Hà Nội, “thủ đô của lương tri, phẩm giá con người!” Vì vậy mà ngày nay, sau gần 40 năm “thống nhất” người ta còn đi tìm và thấy ra có quá nhiều khác biệt giữa Sài Gòn, Hà Nội. Cách biệt vì cách đối xử chính trị như vậy, trách sao Sài Gòn và Hà Nội không cách biệt về văn hóa, mặc dầu lúc nào hai bên cũng cho bên kia là “quê hương tù dày!” Tuy vậy, Hà Nội thắt lưng, buộc bụng, tẩy não, “dốc hết hạt gạo, cục muối cho miền Nam đánh Mỹ,” làm sao so được với Sài Gòn “bơ thừa sữa cặn!”

Nói về giáo dục, sau Tháng Tư, 1975, đồng bào và thầy cô giáo miền Nam hẳn đã biết loại văn hóa ăn nói vô lễ, thô tục của lũ trẻ miền Bắc mới vào Nam, vì miền Bắc không có khẩu hiệu “tiên học lễ, hậu học văn” treo trong các lớp tiểu học. Ngày ra Bắc, lên tận Hoàng Liên Sơn, tôi đã trông thấy những nét văn hóa tiêu biểu, được viết bậy lên vách tường nhà trường tiểu học, chưa kịp xóa sạch, nói đến sự quan hệ của ngành công an và giáo dục: “Công An (đ.) Cô Giáo!”

Trên đường làng Cẩm Nhân, Yên Bái, chúng tôi đi ngang một nhà giữ trẻ của hợp tác xã, nghe tiếng trẻ khóc la và tiếng quát của một phụ nữ: “Bố mẹ chúng mày đéo cho lắm vào, để chúng mày làm khổ thân bà!” “Bà” đây là người giữ trẻ của hợp tác xã nông nghiệp, bà có nhiệm vụ giữ trẻ thì khỏi ra đồng như các hợp tác xã viên khác. Liệu lũ trẻ này lớn lên dưới sự chăm sóc của những người này này, ngôn ngữ của chúng sẽ ra sao?

Trên các blog và báo chí trong nước, đề tài “những sự khác biệt giữ Sài Gòn và Hà Nội” tương đối là một đề tài hấp dẫn.

Tôi dẫn một vài ví dụ:

Giao tiếp:

– Ở Sài Gòn, bạn dửng dưng khi thấy cô bán hàng cúi gập người chào bạn.

– Ở Hà Nội, bạn xúc động đến sững sờ khi thấy ai đó nói lời cảm ơn.

Hàng quán:

– Tô hủ tíu mì Sài Gòn được bưng ra với tô được đặt trên chiếc đĩa.

– Bát phở gà Hà Nội được khuyến mại với ngón tay cái của con bé bưng bê!

Ca ve:

– Khi bạn vừa thanh toán xong tiền cho cave…

Cave Hà Nội: “Cho em xin thêm 10 nghìn để còn đi xe ôm về.”

Cave Sài Gòn: “Em bớt cho anh 10 ngàn, lần sau nhớ kiu em nha!”

Nhà sách:

– Hà Nội: Nhân viên hách dịch.

– Sài Gòn: Vào đọc chùa thoải mái, nhất là các em bé, có thể ngồi tại chỗ đọc mà không sợ bị đuổi!

Trong quán ăn:

– Sài Gòn: “Vâng em làm ngay đây.”

– Hà Nội: “Làm gì mà cuống lên thế! Muốn nhanh thì xéo sang hàng khác!”

Bạn bè:

– Hà Nội: Hay để bụng, ghét mà trước mặt vẫn chơi, về nhà nói xấu.

– Sài Gòn: Mau huề, ghét là biến, không chạm mặt!

Nhưng liệu những sự khác biệt này kéo dài được bao lâu nữa? Bây giờ, Sài Gòn và Hà Nội đã bắt đầu đầu giống nhau, ảnh hưởng và bị đồng hóa, vì người Nam ra Bắc thì ít mà người Bắc vô Nam càng ngày càng đông, như một người tên Jor Dan viết trên blog: “Mỗi người có một cách suy nghĩ riêng. Nhưng đa phần chỉ nói yêu Hà Nội, nhưng lại thích được sống ở Sài Gòn. Ca sĩ Hà Nội vào Sài Gòn lập nghiệp nhiều quá còn gì!”

Sau gần 40 năm bây giờ hai thành phố này đã có những chuyện giống nhau. Ở đâu cũng kẹt xe kinh khủng, và sau một trận mưa, không chỉ ở thành phố “bác” mà ở Hà… cũng lội!

Vô kỷ luật:

Sinh viên:

– Hà Nội: Nhiều em cave trông như sinh viên.

– Sài Gòn: Nhiều em sinh viên trông như cave.

Giao thông:

– Sài Gòn: Bạn có thể vượt đèn đỏ thoải mái.

– Hà Nội: Bạn có thể lượn lờ trước mũi xe hơi.

Chúng ta không hy vọng gì Hà Nội và Sài Gòn sẽ mãi mãi khác nhau. Sự đồng hóa và việc di dân ồ ạt sẽ làm cho Sài Gòn càng ngày càng gần với Hà Nội. Điều rõ nhất là Hà Nội trước năm 1954 và Hà Nội bây giờ hoàn toàn khác nhau. Năm 1954, sau Hiệp Định Geneva, một số người đã mang sự thanh lịch của Hà Thành năm xưa đi xa, để “Hà Lội” ngày nay cho những người mới vào tiếp thu, từ giọng nói đến văn hóa cư xử đã hoàn toàn khác biệt.

Người Sài Gòn hôm nay sẽ không còn là người Sài Gòn của những ngày tháng cũ, tất cả chỉ còn là chuyện thời gian.

Chỉ sợ sau ngày Sài Gòn trở lại tên cũ, chất Sài Gòn sẽ không còn nữa.

Chúng ta yêu Sài Gòn chính là yêu chính chúng ta, cái bóng của dĩ vãng. Muốn Sài Gòn không đổi thay, chính lòng mình phải không thay đổi.

Huy Phương

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 28 Jul 2025

87. Trần Văn Nhơn

Trần Văn Nhơn thuộc lớp nhạc sĩ tiền phong ở miền Nam cùng thời với những Trần Văn Lý, Võ Đức Thu. Ông ít xuất hiện trong những buổi trình diễn tại các rạp hát, các sân khấu. Ông đóng góp công sức xây dựng nền tân nhạc Việt Nam bằng những việc làm ở các đài phát thanh và các sáng tác của mình.

Ba ca khúc nổi tiếng của ông là các bài: Sài Gòn Xa Hoa, Ảo Ảnh Chiều Thu, Hà Nội 49. Giữa Trần Văn Nhơn và Lê Thương có một điều trái ngược là lạ.

Lê Thương sinh trưởng tại miền Bắc, nhưng dường như ông lại khởi nghiệp tại miền Nam. Mấy ca khúc quan trọng nhất trong trong toàn bộ tác phẩm của ông, ba bài Hòn Vọng Phu I. II & III, đều được ông sáng tác tại miền Nam. Ngôn ngữ ông dùng để viết lời cho các ca khúc Lòng Mẹ Việt Nam, Hoa Thủy Tiên, Nàng Hà Tiên, cho người ta cảm tưởng tác giả phải là người Nam mới viết được. Trần Văn Nhơn sinh trưởng ở miền Nam, nhưng không biết ông lưu lạc sao đó mà vào lúc nổi tiếng nhất ông lại đang ở miền Bắc và từng có lúc giữ chức vụ nhạc trưởng Ban Việt Nhạc của đài phát thanh Hà Nội.

Sài Gòn Xa Hoa và Hà Nội 49 có thể coi là những bài sử ca về hai thành phố lớn nhất đất nước với đầy đủ vẻ đẹp và những nỗi vui buồn, ai oán, một thời. Nó cũng mở đầu cho những bài ngợi ca các thành phố của chúng ta sau này. Chỉ khi có dịp tới Sài Gòn người ta mới nhận ra được cái nhịp sống của cả một thành phố Trần Văn Nhơn nói tới trong ca khúc của ông. Trong những thanh âm lướt lướt, nhất là nếu lại được nghe qua tiếng phong cầm, người ta tưởng chừng như thấy được cả cái nhấp nháy của muôn vàn ánh đèn qua lại. Cho đến nay, đã có không biết bao nhiêu bài hát nói về Hà Nội, ngợi ca Hà Nội. Nhưng nhiều người vẫn cho rằng Hà Nội 49 của Trần Văn Nhơn và Hướng Về Hà Nội của Hoàng Dương là những bài gợi cảm nhất.

Có một khoảng cách 4, 5 năm về việc ra đời của hai tác phẩm này. Khi Trần Văn Nhơn viết Hà Nội 49, Hà Nội là một Hà Nội ‘tề’. Tề là vùng đất quốc gia để phân biệt với các phần đất do cộng sản kiểm soát, khi ấy được gọi là hậu phương’ hay ‘kháng chiến’.

Ranh giới giữa hai vùng không rõ rệt. Vì thế khi ấy nẩy sinh một thành ngữ “ấm ớ hội tề”. Và từ hậu phương trở về vùng tề người ta gọi là “dinh tê” [rentrer tiếng Pháp]. Chiến tranh vừa lùi xa thành phố không bao lâu, Hà Nội vẫn còn nhiều đổ nát nhưng đồng thời cũng có những dấu hiệu hồi sinh. Người ta đang xây dựng lại nhà cửa, xây dựng lại đời sống. Cùng một lúc, hàng ngày người ta vẫn nghe tiếng bom đạn nổ đâu đó, các cuộc giết chóc, bắt bớ xẩy ra quanh mình. Gọi là vùng quốc gia nhưng thực tế quyền hành đều nằm trong tay người Pháp. Vì thế phần lớn người Việt khi ấy sống trong cảnh “một cổ đôi ba tròng”. Hướng Về Hà Nội được Hoàng Dương viết khi sắp xẩy ra hiệp định Genève chia đôi đất nước. Tình hình ở khắp nơi đều rất rối ren, nguy hiểm. Không có gì chắc chắn, nhưng theo các bằng hữu của ông cho biết, Hoàng Dương đã bỏ Hà Nội về Nam Định trước ngày 20 tháng 7/54 ít lâu. Ca khúc là nỗi nhớ của ông đối với Hà Nội khi ấy.

Không phải chỉ là một Hà Nội xa, mà còn là một Hà Nội sắp mất, trong ý nghĩa thật và ý nghĩa đổi thay. Một người, Trần Văn Nhơn, ở ngay trong lòng Hà Nội, yêu Hà Nội, nghĩ về Hà Nội như một du khách cùng một lúc cũng là người Việt Nam, cảm thương cho số phận của đất nước.

Một người, Hoàng Dương, là người Hà Nội, tự tách mình ra khỏi Hà Nội, nhớ về Hà Nội, như một giấc mơ, có nghĩa là có thể tan biến. Nghe Hướng Về Hà Nội người ta có thể cảm nhận nỗi lo âu tan biến đó, từa tựa một Hà Nội nhìn thấy trong giấc mơ, trong bóng nước.

Trần Văn Nhơn mất đã lâu lắm [?]. Hoàng Dương vẫn còn ở Hà Nội.

Hà Nội hiện có bao nhiêu đổi thay so với Hà Nội trong nhạc Hoàng Dương và trong nhạc Trần Văn Nhơn? Sau đây là nguyên văn bài Hà Nội 49:

Hà Nội 49

Bước men quanh hồ Hoàn Kiếm

giữa thu chiều uá

Tôi nhớ tháng ngày sống nơi thủ đô hồi qua

Hồ đẹp gương nước liễu xưa la đà bóng hồ

Đời vui thái bình trước lúc chiến tranh

Khắp chốn nay điêu tàn

Nhà xiêu đổ một cảnh nát tan

Hồ xanh nay vẫn xanh

Nhưng liễu xưa ven hồ đâu tá

Tôi đứng im lặng nhìn

Nhìn tháp cũ bóng soi hồ Gươm

Tháp kia sao lạnh lùng

Như dấu muôn e thẹn căm hờn

Nước in trên hồ bao phen gió run hồn nước

Chinh chiến hung tàn ngất cao

khói sương mờ gương

Hồ ơi mi đã từng phen chứng kiến phút qua

Ngày nào mi thấy đời sống đầy hoa

Hà Nội yêu quý! Là chốn tôi hằng mến yêu

Là nơi khi trước tôi tìm làm nơi gửi thân

Hầu quên những mối sầu khổ

đớn đau tiêu điều

Hồn tôi đã mang thầm kín sớm chiều

Hà Nội yêu quý!

Là chốn lịch sử ngàn năm

Là trái tim của Việt Nam

Là linh hồn Việt anh dũng

Là nơi đẫm thắm máu xương

biết bao anh hùng

Tổ quốc muôn đời ghi nhớ

Sử xanh thắm ghi chiến công

Hà Nội yêu quý!

Cầu chúc cho ngày ấm êm

Rày mau chấm dứt tháng ngày

tang tóc ưu phiền.

Duy Trác