Một trời một biển

vietmessenger.com

Nguyễn Tấn Hưng

Post by Sơn râu 20 Nov 2025

Phần 6. Như cứt trôi sông

Rốt cuộc rồi cũng có ngày bọn Tần, các sinh viên sĩ quan hải quân thuộc lớp Ðệ nhị Hải sư, lọt vào vùng biển Qui Nhơn. Trước mặt chàng bây giờ là căn cứ hải quân thuộc Duyên đoàn 22, cất ngay trên bãi cát. Với phía sau kia là phố xá, nhà cửa, dinh thự chập chùng.

Từ ngoài khơi, cứ nhìn theo hướng mũi tàu là vịnh Qui Nhơn, nằm về phương bắc, nối liền với đầm Thị Nại bao la thụt sâu trong đất liền. Nơi có con sông Hà Giao (tức sông Côn theo tiếng địa phương), nối tiếp theo sông Ba từ trên miền núi, đổ ra. Ở phía đuôi bao lơn vòng đai của vịnh, có núi Phương Mai trông qua hải cảng, với những đụn cát trắng như bông lau ở ven sườn. Gần lại là đảo Hải Minh, với làng dân chài. Ðương thời rất nổi tiếng và được ưa chuộng bởi đám GI. Không kể ở đằng sau lái tàu, còn lờ mờ bóng dáng Cù Lao Xanh, tức Poulo Gambir, mà bọn Tần vừa mới đi ngang qua cách đây không lâu. Ngó qua tả hạm là bãi biển Qui Nhơn nằm xeo xéo theo hướng đông tây, quay mặt về phía nam, chạy dài xa tít đến tận miệt Gành Ráng. Màu cát ngà ngà, gần như vàng chớ không được trắng như những bãi Cam Ranh, Nha Trang, Vũng Rô, Ðại Lãnh. Nhưng nước biển thì ở đâu cũng vậy, một màu thẫm xanh…

Giây phút đầu tiên vừa đặt chân lên miền đất lạ bao giờ cũng mang cho Tần một cảm giác hân hoan, rạo rực. Cho những khám phá mới đang mời mọc đón chờ. Tần bất chợt cảm thấy vui vui.

Qui Nhơn, đối với sự hiểu biết kém cỏi của chàng, là một nơi thường được gọi là xứ Hời. Xứ của dân tộc Hời nhỏ bé xa xưa. Hay là xứ Chiêm Thành của dân tộc Chiêm đã mất. Ðã chìm sâu vào dĩ vãng cùng với tên tuổi của Chế Bồng Nga, hùng cứ một thời. Chỉ để lại mỗi một chuyện tình đẹp như huyền thoại của Huyền Trân công chúa và tướng Nguyễn Khắc Chung. Qui Nhơn, cũng là xứ Bình Ðịnh của vua Quang Trung, một danh tướng cầm quân chưa bao giờ nếm mùi chiến bại. Nơi xuất phát và lưu truyền cho ngàn đời sau những thế võ Ta bí hiểm không thua gì những pho Thiếu Lâm Tự bên Tàu. Ai về Bình Ðịnh mà coi, đàn bà cũng biết múa roi đi quyền. Rồi gần hơn, Qui Nhơn, lại là xứ của “nẫu”. Nẫu về nẫu nhớ ta chăng, ta về ta nhớ hàm răng nẫu cười, nghe cũng “thàng hậu” (nhơn từ, hiền hậu) đến “nẫu người” đi chớ bộ. Và Qui Nhơn, với nhiều địa danh bắt đầu bằng chữ An, như An Nhơn, An Lão, An Túc, An Khê, v. v… Nối tiếp theo xứ Quảng từ xứ đàng ngoài như Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi…

Một vài con hải âu bay lượn quanh tàu như những vong linh của con cháu dân Hời, vẫn đời đời vật vờ sương khói. Lúc nhanh lúc chậm, lúc lơ lơ lửng lửng như đứng một chỗ trên không. Tần bâng khuâng, cảm thấy một chút gì xót xa cho cuộc đời dâu bể, đổi thay.

Ðột nhiên, từ đài chỉ huy chuyển xuống sân mũi theo đường téléphone, một tiếng lập lệnh thật lớn phát ra từ miệng người thủy thủ, đã lôi Tần về với thực tại:

– Thả neo.

Viên hạ sĩ thi hành lệnh, đánh bật chốt giữ dây neo. Những mắt xích to bằng bàn tay xòe, theo sức nặng cả trăm tấn của cái neo tuôn xuống biển rào rào. Sủi bọt tung tóe. Tiếng thép cạ vào thép điếc tai, sởn óc. Từng vệt sơn, lúc đỏ lúc trắng làm dấu trên dây neo, được vị sĩ quan trưởng sân theo dõi kỹ càng. Và liên tục báo cáo về đài chỉ huy.

– Dây xích một đoạn…, hai đoạn…, ba đoạn…, bốn đoạn…

Mỗi đoạn đâu cũng khoảng chín, mười thước. Như vậy lúc dây xích ngừng chạy, tức ngưng báo cáo, đài chỉ huy đã biết qua độ sâu của đáy biển. Bốn đoạn dây xích đứng thẳng xác nhận bốn mươi thước chiều sâu.

Lại có lệnh cho hầm máy:

– Hai máy lùi một.

Những mắt xích lại từ từ chui qua lỗ xích và những đoạn xích được tiếp tục đếm. Dây neo không còn thẳng đứng nữa mà mỗi lúc một lài ra. Dài ra. Nhưng, khi tàu vừa có trớn lùi thì cùng lúc đã nghe lệnh mới từ đài chỉ huy:

– Hai máy ngưng… Giữ chặt dây neo.

Tại sân mũi, một phần lệnh được lập lại:

– Giữ chặt dây neo, thiếu úy!

Thêm một ít thời gian chết nữa, rồi lệnh chính thức mới được ban hành:

– Giữ chặt dây neo!

Tàu trôi đi từ từ một đỗi, kéo luôn cả neo. Và sau cùng, đứng khựng lại. Sân mũi báo cáo:

– Neo cắn. Dây neo hướng 11 giờ, 10 đoạn xích dưới nước.

Trong phút chốc, lại có chỉ thị của đài chỉ huy, qua người thủy thủ lập lệnh:

– Giải tán nhiệm sở vận chuyển.

– Giải tán!

Vừa ban hành lệnh cho nhân viên toàn sân xong, viên sĩ quan trưởng sân phủi tay “rẹt, rẹt” hai cái như rất bằng lòng với cái sứ mạng đã được hoàn tất mỹ mãn của mình: thả neo. Người thủy thủ lập lệnh gỡ ống điện thoại mang ngang đầu, vội vã cuốn dây, kéo chốt cắm. Những người khác tự động tan hàng rút lui, tụt xuống cầu thang dẫn ra sàn chính. Tất cả đang nghĩ đến nhiệm sở mới, quan trọng và hấp dẫn hơn: đi bờ. Ai cũng bận lo lắng cho bóng dáng phong lưu, lãng tử của mình. Áo quần có bảnh bao, đầu cổ có tươm tất hay không?

Chẳng ai thèm để ý đến con tàu đang tiếp tục từ từ trôi, dạt theo một chiều hướng cân bằng nào đó, tùy theo sóng và gió. Ngoại trừ mỗi một người: hạm trưởng. Ông phải tiếp tục theo dõi tình hình. Bảo đảm là lần này neo không tróc, tàu không trôi? Bảo đảm là nơi này không có đá ngầm và san hô dưới đáy? Và bảo đảm là khi kéo neo lên, không phải là chỉ kéo một sợi dây xích tòn teng nhẹ hửng? Ông là người duy nhất, qua kinh nghiệm, phải phán xét và tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi đó!

Vậy mà người đầu tiên rời tàu lại luôn luôn là ngài hạm trưởng mới kỳ! Và thông thường, ông cũng là người xuống sau cùng trước khi tàu chạy!

Tần nghĩ mình đang sống trong cảnh lênh đênh nhàn hạ, dư dả thì giờ. Trước sau gì cũng vô đến bờ, dĩ nhiên, như chạy trời không khỏi nắng. Cho nên tội gì phải hối hả, chen lấn, tranh dành cho được một chỗ đứng trong những chuyến you-you đưa vào bãi ngay bây giờ. Chàng quay lại hỏi bạn:

– Tới Qui Nhơn rồi đó, hai thằng bây tính sao? Ði thăm nơi nào, đi chơi với em nào?

Thắng cười ha hả, nói với Thành:

– Thằng Tần nó đóng kịch khá lắm mầy biết hôn? Trong bụng nó nôn nóng muốn gặp con Phượng như lửa đốt như kiến bò, vậy mà nó cố tình gắng gượng, làm ra vẻ ta đây tỉnh bơ như không có chuyện gì xảy ra hết! Thôi mầy ơi, cái bản mặt mầy rõ ràng trông giống in như là mèo thấy mỡ. Kẹt một cái là mỡ… đang treo giàn bếp. Coi kìa, ừm, thèm rỏ giãi ra đó mà còn làm bộ làm tịch. Chịu thiệt đi thì tao trèo lên lấy xuống cho mà đớp.

Tần trả đũa:

– Chớ mầy thì sao, bộ mầy không nôn nóng muốn gặp mặt con Hằng chắc? Ý mèn ơi, đúng là gà đẻ gà cục tác, ác đẻ ác la. Bụng mình đang đánh lô tô một hai ba, mà còn giả đò nói xiên nói xỏ bạn bè, chán mầy quá!

Thắng cãi:

– Con Hằng chưa là gì của tao hết. Nó đâu có thương mến gì tao, nó cũng chưa tặng bóng tặng hình cho tao tấm nào, tóm lại… nó chẳng hề thân ái mí lại thân tình với tao. Cho đến bây giờ, mặt mũi của nó đẹp như Hằng Nga giáng hạ hay xấu như Chung Vô Diệm tao cũng chẳng hề biết. Còn con Phượng đối với mầy khác, em đã chẳng viết cho mầy mấy chữ “Anh Tần yêu quí của em ơi…” kỳ thư vừa rồi à?

Tần gạt ngang:

– Mầy “cải lương” vừa vừa thôi chớ Thắng!

Thành xen vào:

– Hai thằng bây bàn chuyện trời ơi đất hỡi gì đâu không, trong khi điểm then chốt là cái trường sư phạm Qui Nhơn đang nằm ở chân trời góc biển nào thì hai thằng mầy lại chẳng hề quan tâm tới. Hừ, dẹp ba cái vụ em út của tụi mầy qua một bên đi. Nè, để khỏi làm mất mặt quan tàu, thằng nào muốn kỳ cọ sạch sẽ trước khi đi bờ thì đi theo tao.

Thành vọt xuống cầu thang cabin. Tần nối gót theo sau, tán đồng:

– Ê, có lý đó. Tắm mát một phát trước khi gặp em là thượng sách.

Thắng cũng phóng theo, chụp bắt liền tại trận:

– Ðó, mầy thấy tao nói có sai chút nào không, Thành? “Gặp em, gặp em…” ngay giờ phút này tao bảo đảm đầu óc của thằng Tần chỉ nghĩ đến cô giáo làng tương lai của nó mà thôi. Có chém chết đi nữa cũng quyết không rời. Vậy mà nó nói tao “cải lương!” Tao mà “cải lương” thì nó thuộc hàng “cải bướng,” phải không mậy?

Thành không thèm trả lời Thắng và Tần cũng lặng thinh như hến…

Ngửa mặt đón nhận vòi nước hôi mùi sét, chảy tỏn tỏn từ cái búp sen đóng bợn vàng khè, Tần cảm thấy hơi nóng trong người như chợt bốc ra thành khói. Mờ mờ hơi sương. Cái vòi nước có mở tối đa thì cũng vẫn vậy. Không hơn người ta đái bao nhiêu. Phải biết, nước ngọt dưới tàu bao giờ cũng được xài ở mức hạn chế tối đa. Cho dù mỗi lần ghé bến, cặp cầu hay ủi bãi, đều được tiếp tế đầy đủ. Bốn bức vách, chỉ có ba là thẳng đứng, bức còn lại xiên xiên, nghiêng theo thành tàu. Tạo thành một gian phòng đít nhỏ đầu to. Màu sơn đọt chuối pha lẫn với màu sét của những chỗ hay sét, phần phía dưới hoặc trong góc chẳng hạn, làm nền cho một bức tranh lỗ chỗ, sọc rằn, răng cưa. Vàng chẳng ra vàng, xanh chẳng ra xanh.

Tần đưa tay vuốt tóc, hai vai rồi lần xuống ngực, bụng. Từng giọt nước len lỏi trên thân, mát rượi. Chàng ngậm một búng trong họng, sục sục, rồi phun ra. Nước tắm khác với nước uống trên tàu…

Nếu người ngoài đời giống như người trong ảnh thì phải nói Phượng của Tần rất xinh đẹp, duyên dáng. Ðôi mắt sáng như sao băng và mái tóc dợn đen tuyền óng ả. Má em màu hoa đào và đôi môi mọng thắm. Có lẽ vì phấn son, chàng nghĩ. Bờ vai tròn trĩnh và gò ngực vun cao trong chiếc áo dài màu hồng tươi, tay raglan , rất thời đại. Hàng nút bóp chạy song song theo đường ráp tay, từ cổ chéo trên ngực vòng xuống nách, chập chùng hé mở. Bên dưới cộm lên đường dây áo xú-cheng, ẩn hiện trên làn da. Bức tượng khỏa thân sẽ tuyệt trần nếu ngần ấy xiêm y được cởi ra. Hây hây một mùi thơm con gái. Bỗng, cặp mắt kia như quay lại, liếc chàng trừng trừng vì những ý nghĩ không mấy thánh thiện trong đầu… Tần giựt mình, vói lấy mảnh xà bông thoa nhẹ lên người.

Bên ngoài đã có tiếng hối của Thắng:

– Tắm lẹ lẹ lên Tần, cả khóa đã đi hết vô bờ rồi mà mầy cứ chần chờ, rị mọ ở đó hoài. Bộ mầy không sợ bọn đi trước tụi nó sẽ “cua” mất em của mầy hay sao?

“Cua” cái nỗi gì! Phượng của chàng là hoa đã có chủ, chàng tin tưởng như vậy! Tần đáp vội:

– Xong ngay, xong ngay!

Rồi chàng khóa nước và lấy tấm khăn lớn máng trên móc, lau sơ sịa rồi choàng ngang người mở cửa đi về chỗ nằm. Tiếng ọp ẹp của đôi dép chứa đầy nước mon men theo từng bước chân. Mặc xong chiếc quần lót, Tần lại mở khăn ra lau tóc, lau mặt, lau lưng một lần nữa. Chưa gặp em anh đã nghĩ rằng, có nàng… cô giáo đẹp như trăng … Tần say sưa huýt gió. Rồi lôi bộ đồ mới may, mới bỏ cho ông Quan giặt ủi hồ keo tuần rồi, mặc vào người. Mắt xanh là bóng dừa hoang dại … Chàng soi gương chảy tóc, rẽ đường ngôi. Âu yếm nhìn anh không nói năng … Mang giày. Ðội mũ lưỡi trai, ngắm nghía một lần chót. Xong, Tần lên tiếng:

– OK, đi tụi mầy.

Thắng nhỏm đít đứng dậy, buột miệng:

– Mai mốt chắc tao với thằng Thành phải bỏ mầy đi bờ một mình quá, Tần ơi. Bộ hệ của mầy sửa soạn coi bộ còn lâu hơn con gái.

– Vừa phải thôi Thắng, lần sau tao sẽ để cho mầy tắm sau chót. Rồi coi ai phải chờ ai cho biết. Ðù me, cái nhà tắm nhỏ xíu, bằng không ba thằng mình nhào vô tắm một lượt thì khỏi phải thằng nào chờ thằng nào. Ở chiến hạm mà mầy làm như đang ở quân trường, đòi cởi truồng đi tắm giếng đêm không bằng.

Thành chẳng nói chẳng rằng, đứng dậy đi thẳng lại cầu thang. Thắng và Tần cùng nhau nối gót, leo lên boong. Ánh nắng chiều đã bớt phần gay gắt, phủ xuống vịnh một màu vàng nhạt. Bầu trời trở nên quang đãng, mát mẻ hơn nhiều. Gió nam non thổi lòn hang dế đã đưa mũi con tàu hướng ra biển, trở đít vào bờ. Sợi dây neo là đà mặt nước, căng thẳng. Tiếng sóng róc rách vỗ vào mạn tàu nghe rõ từng cơn. Huấn luyện hạm Quá Giang nhẹ nhàng chao đi, nghiêng lại.

Bộ ba lại tuột cầu thang dây treo lơ lửng bên hông tàu để xuống chiếc you-you . Chiếc ghe nho nhỏ như chiếc thuyền buồm đánh cá, nhưng có gắn máy đàng hoàng, được thả xuống làm tàu đò. Một con thoi xẹt vô xẹt ra nối liền chiến hạm với bến bờ. Mỗi bận có thể đưa đi hoặc rước về tối đa khoảng hai mươi người trở lại, nếu kể luôn cả lớp nào đứng bên cạnh những đứa ngồi trên đà ngang. Nhưng chuyến này có lẽ là chuyến chót, ít hơn, độ chừng mươi, mười lăm tên.

Người thủy thủ chuyên nghiệp (khác với thủy thủ tập sự, lính mới tò te), ngành vận chuyển, có mặc áo phao cẩn thận như một quy ước cần và đủ khi sử dụng you-you, đã cho nổ máy. Khỏi cần vô số, chỉ cần rồ ga là con thuyền lướt nhanh trên mặt biển, phom phom tẽ sóng… Từ ngoài xa nhìn vào, hậu cứ Duyên đoàn 22 ngày hôm nay bỗng nhiên đông dân hơn ngày đại lễ. Với những bộ ka-ki vàng còn thơm mùi vải của những tên hay chịu khó giữ thể diện cho quân chủng và những bộ treillis xanh lá cây nhăn nheo, hôi hám của những tên chỉ thích bụi đời. Lại có một số không phải là ít, dám ngang nhiên vượt hàng rào kẽm gai vòng đai phòng thủ, đang lô nhô kéo thành đàn dọc theo bãi biển, để đi đâu không ai biết. Ra phố bằng đường tắt, Tần nghĩ vậy! Chẳng khác chi những lúc nhảy rào khi ở trong trường.

Ðến chừng lên đến bờ bọn Tần mới vỡ lẽ ra, rằng, con đường tắt đó là con đường dẫn xuống trường sư phạm Qui Nhơn. Trong khi nếu muốn bát phố thì phải đi lối khác, ngõ hậu của Duyên đoàn. Bây giờ kể như khỏi cần phải hỏi thăm ai về đường đi nước bước nữa, vì chỉ cần nối đuôi theo cái đám lâu la, đầu trâu mặt ngựa đi trước đó là được. Bọn nó có trách nhiệm thám thính, dọn đường cho những ai đi sau. Và đã hoàn thành nhiệm vụ. Tần không ngờ có nhiều sinh viên sĩ quan hải quân… mê cô giáo làng đến là như vậy. Tuy nhiên, Tần vẫn hỏi ý hai bạn:

– Sao, tụi mình ra phố hay là xuống trường sư phạm?

Thắng phân vân:

– Ðối với tao, cả hai, cái nào cũng quan trọng và hấp dẫn hết!

Nhưng Thành nói như quyết định:

– Ði xuống trường trước. Rồi tụi mình sẽ tính kế bắt cóc em, dẫn ra phố luôn. Một công hai chuyện, có phải tiện hơn không?

Tần đồng ý ngay:

– Ðúng đó, nhất cử lưỡng tiện! Mà ý cha, coi bộ thằng Thành tính chắc ăn như bắp mậy, Thắng. Không biết con Trâm viết cho nó những gì trong lá thư kỳ rồi mà chuyến này anh chàng coi bộ xông xáo dữ ta!

– Mầy quên rằng mấy thằng gầy gầy là thầy cơm hay sao? Ðừng thấy nó im ỉm mà nói nó hiền là lầm to nghen mậy!

Con đường Nguyễn Huệ dọc theo bãi biển chưa được tráng nhựa, còn lổm chổm những đá với đất. Lối dẫn vào trường sư phạm cũng vậy, không khác gì đường chính. Ði xe hơi cũng dằn, cũng xóc chớ nói gì đến đi xe đạp hay xe gắn máy. Cổng trường nổi bật với hai trụ vuông lớn xây bằng xi-măng cốt sắt, có ngù tròn. Hai cánh cửa làm bằng sắt đặc, sơn đen, dấu vết của thời phong kiến. Với những cây song thẳng đứng, mũi nhọn chĩa lên trời như gươm giáo. Một hàng rào thưa bằng những vòng kẽm gai chạy bọc theo vuông sân, phía trước mặt tiền.

Từ bên ngoài nhìn vào, người ta nhận ra ngay một dãy hành lang thấp, trống lổng trống trơn nhưng có lợp mái, nối liền hai bên hai dãy lầu cao, hai và ba từng. Dãy phía tây có lẽ là phòng học, vắng bóng sinh viên vì lớp học đã tan từ lâu. Dãy phía đông đúng là nơi dành riêng cho khu nội trú, vì nhởn nhơ khắp chốn nào là quần dài áo ngắn, đồ bộ, pyjama, và ngay cả chiếc áo dài thướt tha. Ôi thôi, đủ cả. Ðang sánh vai với hàng hàng lớp lớp áo trận, ka-ki vàng lẫn treillis xanh, đang xông xáo từ đầu căn đến cuối dãy. Rõ ràng hải quân ta đang tấn công, xâm lăng quí quốc của tập hợp cô giáo làng.

Bỗng dưng bị chôn chân, khựng lại, Tần đùa bâng quơ chọc Thành:

– Than ôi, cổng trường xưa giờ đây đã khóa. Anh về đi, em không thèm… đi ra phố với anh đâu. Ðừng hòng vào đây mà bắt cóc. Ê, cái đám côn đồ đó xâm nhập gia cư bất hợp pháp của chị em ta bằng ngã nào vậy cà?

Thắng trả lời gọn bâng:

– Thì phải phóng qua cái hàng rào này chớ còn tìm lối nào nữa. Mầy đừng làm bộ ngơ ngác con nai vàng, nhảy rào là nghề của mầy mà.

Biết không cách gì chui qua các song sắt chật hẹp kia, cũng như không thể nào trèo qua những mũi giáo nhọn lểu vút cao đó, Thắng đã không ngần ngại cho soulier-bas của mình đè lên những đường kẽm gai. Từng bậc, một, hai, ba, bốn, với hai tay vịn vào trụ cổng leo lên. Rồi a-lê-hấp, làm chim bồ nông soãi hai cánh không lông, bay xuống đất. Phịch. Chưa đầy năm phút Thắng đã lọt vào vùng cấm địa… Tần bèn nối gót và Thành thượng đài sau chót. Bộ ba dang hàng ngang tiến sâu vào sân trường. Tiếng con gái chót chét, vang rân bên dãy nội trú. Thành nói:

– Chỉ cần tìm phòng 12 là gặp hết cả bọn.

Tần không tin cho lắm:

– Chưa chắc nghen mậy. Nhìn kia, ở đầu dãy có cái Câu lạc bộ sinh viên nữa kìa. Biết đâu tụi nó đã vào đó với những tên đi tiên phuông, ra công khám phá chốn địa đàng.

Thắng chen vào:

– Ðâu có chuyện gì kỳ cục như vậy chớ. Nếu mấy em hành động, đối đãi với bọn mình theo kiểu “nớ” thì còn chi tình với nghĩa!

Thành phân vân:

– Giỡn hoài, thằng Tần nói có lý đó. Bọn con Trâm, con Phượng và Hằng có thể sốt ruột vì chờ tụi mình quá lâu không thấy tới, rồi bèn đi ké với bạn bè của nó với lũ trôi sông lạc chợ kia. Nguy hiểm quá, coi chừng trễ tàu, đi lẹ lẹ lên tụi mầy…

Thắng đoan quyết:

– Hứ, tao bảo đảm chẳng hề gì mà! “Bò” của mình đã đóng dấu, dẫu có đi lạc ở chốn nào đi nữa thì mình cũng sẽ nhận ra!

Tần chộ:

– Thôi mầy ơi, tao với thằng Thành đây còn có tấm hình của em làm kiểu, vậy mà tao vẫn cứ thấy em nào cũng giống như em nào. Bổn phận mầy không có cái mốc xì gì dính bóp hết thì cũng đừng nên làm tàng. Ðến như con Hằng dẫu có đứng tiếp chuyện ngay trước mặt mầy bây giờ, chưa chắc mầy đã nhận biết nó là ai, đẹp xấu ra sao.

Trong bộ ba, có lẽ Thắng là người nôn nao, hồi hộp hơn ai hết. Vì chàng đang phải đoán non đoán già coi Hằng của mình sẽ giống con giáp nào. Với giọng văn ấy trong thư chắc chắn nàng phải thuộc vào loại nhỏ con, nhí nhảnh, chót chét. Chàng cũng không mong rằng Hằng sẽ là Tiên nga giáng trần hay Tây Thi tái thế, nhưng ít ra cũng phải làm ơn coi cho được được một chút cho Thắng nhờ. Ðừng làm chàng vỡ mộng, thốt lên hai tiếng than ôi! Lạy trời, chàng thầm bấm đốt ngón tay cầu nguyện. Bọn thằng Tần thằng Thành không cho Thắng coi hình cô giáo của bọn nó chắc chắn phải có nhiều lý do! Một trong những lý do đó có thể là con Phượng và con Trâm không được nhan sắc cho lắm. Chàng lại đoán mò. Bí mật này trước sau gì cũng bật mí, không chóng thì chầy…

Nhưng bây giờ, trước cửa phòng 12, đối diện với Thắng là cả một lũ con gái, năm bảy đứa trông… còn con nít trân. Có một gương mặt nhí nhảnh, búng ra sữa, dám cả gan bạo mồm lên tiếng:

– Xin lỗi, vậy chớ mấy anh định muốn tìm ai hỉ?

Thắng bỗng sợ sệt, ngại ngùng, nhìn Thành và Tần cầu cứu. Thành lúng túng đại diện:

– Hì hì, ba đứa tụi tôi đây định tìm ba cô có ám hiệu là 12 T., 12 P. Phở và 12 H.! Chẳng hay mấy cô ấy có ở nhà không vậy cô?

Ðột nhiên, có người chạy lại nắm tay Tần, thỏ thẻ:

– Anh Tần, em là Phượng nè. Bộ anh không nhận ra em sao?

– Ô, Phượng! Ý mèn ơi, Phượng của anh đây hả? Ðúng rồi, người sao mà… không khác chi trong tranh, ủa, trong ảnh gửi cho anh.

Thật vậy, Phượng đẹp và sáng mát như trong hình gửi cho Tần. Chàng lấy làm mãn nguyện. Trong khi đó Trâm cũng nhận ra Thành, hai bên nói cười vui vẻ như đã quen nhau từ kiếp nào. Duy chỉ thiếu một người mà Thắng đang mong đang đợi. Tội nghiệp anh chàng vì chưa nhận được tấm hình nào làm chuẩn, nên cứ ngó dáo dác tìm tòi rồi sốt ruột hỏi:

– Trong các cô, xin lỗi, có ai là Hằng của Thắng tôi đây không? Làm ơn lên tiếng giùm coi?

Lẽ dĩ nhiên có người đẹp đáp lời sông núi ngay, nhưng không phải để trả lời cho Thắng mà ngược lại, tống thêm cho chàng một câu hỏi nữa:

– Anh Thắng ơi, răng anh có thấy anh Ðức của Vân ở mô không? Nếu anh cho Vân biết anh ấy đang ở mô thì Vân mới chỉ chỗ bọn ni dấu con nhỏ Hằng cho anh đi tìm, nhá?

Thắng hỏi tới:

– Ðức nào? Phải Ðào Khiết Ðức không? Chắc nó cũng sắp tới đây ngay bây giờ đó. Kỳ này bọn anh đi cả khóa mà, không sót một tên…

Ðúng là thân trai mười hai bến nước, không thiếu một bến nào, Thắng nhủ thầm trong bụng. Vì ngay cả thằng Ðức sắp cưới con Hạnh ở chợ Phường Củi, Nha Trang, vậy mà cũng còn chơi thư từ với em gái hậu phương ở Qui Nhơn thì rõ quan tàu ta đa tình thiệt. Nhưng, có lẽ Ðức đã không tìm tới đây, vì Thắng lơ mơ nhớ ra rằng bộ tam-xên của Thắng là ba tên trong những đứa rời tàu sau cùng. Thôi, cũng không nên tiết lộ chuyện này làm chi, Thắng tiếp tục lo lắng cho số phận mình:

– Rồi sao, không ai thèm đá động gì đến chỗ dấu cô Hằng của tôi như lời hứa à?

– Xí, Vân nói là Vân sẽ làm mờ! Nhưng với điều kiện là bây chừ xin anh Thắng của em làm ơn nhắm mắt lại đi. Mau lên. Nhắm kín hỉ, không ăn gian hỉ.

Chờ cho Thắng thi hành mệnh lệnh xong, Vân chõ mỏ vào trong làm bộ réo:

– Hằng ơi, hãy thức dậy đi, đừng ngủ nữa. Mi hãy mau mau ra đây để gặp anh Thắng của mi nghe không…

Cả bọn con gái cười khúc khích. Chờ một lát, Vân tiếp:

– Bây chừ anh Thắng có thể mở mắt ra được rồi…

Thắng làm theo lời nói và ngạc nhiên thấy khung cảnh trước mặt mình như không có gì thay đổi hết. Bị con nít gạt? Hình như cũng chỉ ngần ấy mấy cô nhóc tì này! Nhưng Vân chỉ tay vào cô bạn đứng kế bên, vừa cười vừa giải thích:

– Hí hí, Vân ni mới là Vân thiệt… Còn Vân ni là Vân giả, Vân giả chính là Hằng của anh… Á, á…

Mặc cho nàng la oái oái, Thắng ôm chầm lấy Hằng rít lên trong mừng rỡ:

– Trời ơi, sao em lém lỉnh quá vậy Hằng! Em không sợ anh bị đứng tim chết bất tử hay sao, hả?

– Thả Hằng ra đi, làm ơn thả Hằng ra đi anh Thắng!

– Cho đáng kiếp, cho mi đáng kiếp…

Cả bọn con gái lau nhau hò hét, vỗ tay ầm ĩ. Thành và Tần cũng đều hết sức ngạc nhiên với cái kết cuộc rất là đẹp đẽ cho Thắng. Vì Vân, không Hằng mới phải, chính ra là người có nhan sắc nhất trong đám. Khuôn mặt trái soan hao hao giống đào Thanh Nga hồi còn nhỏ. Bao nhiêu ước mơ của Thắng như đã thành tựu trong phút chốc đến nỗi chàng thật không ngờ. Thắng lơi vòng tay buông Hằng ra, hỏi:

– Sao, tụi anh mời hết mấy em… mấy cô, mấy “chị” đi phố chơi, có ai chịu đi không? Luôn thể làm hướng dẫn viên chỉ giùm đường đi nước bước, chớ tụi này mới đến đây lần đầu, bảo đảm chẳng ai biết “mô” là “mô” đâu nghen!

Phượng của Tần cho ý kiến:

– Ði xuống phố đâu có gì vui anh Thắng! Phố ở đây nhỏ tí tẹo hà! Nếu muốn đi xuống phố thôi thà để đi qua Câu lạc bộ bên này còn sướng hơn. Nơi các anh nên đi thăm có lẽ là khu Gành Ráng. Khu sáu, Qui Nhơn được chia ra làm sáu khu mấy anh biết không? Có dịp viếng mộ nhà thơ Hàn Mặc Tử cho biết với người ta. Phong cảnh nơi đó cũng hữu tình, tuy hơi xa. Còn các anh nếu muốn đi thăm di tích lịch sử thì nên đi thăm thành Ðồ Bàn, cách đây khoảng hai mươi lăm cây số ngàn về phía bắc! Nhưng các anh có chịu dừng bước giang hồ, ở lại đây một hai ngày hay không đây?

Tần xen vào:

– Tụi anh nào có đủ thì giờ cho các mục lớn lao đó! Nè, vậy chớ ở đây không có những quán nhạc du dương, diễm tình, với những cái tên rất là bay bổng theo kiểu Chiều Tím, chiều nhớ thương ai … như ở Nha Trang của tụi anh sao?

Trâm của Thành đáp lễ ngay:

– Thì cũng có Mây Mùa Thu, mây giăng khắp lối … Nhưng mà thôi anh ơi, những nơi đó thường hay xảy ra lắm chuyện ồn ào. Chỗ dành riêng cho mấy ông lính mới đi hành quân về thì anh phải biết…

Thấy không thể dễ dàng bắt cóc mấy cô giáo làng ngay ở giây phút ban đầu, Thành quyết định:

– Nói tới nói lui rồi cũng chẳng đi đến đâu hết, hay là mình kéo nhau qua bên Câu lạc bộ kiếm gì giải khác trước đi rồi sẽ bàn tính lại sau, đồng ý không?

Hằng tán thành:

– Có lý hỉ! Ði! Ði chơi luôn với bọn ni nghe bà Vân?

Vân có ý chờ đợi Ðức, người tình trong mộng của mình, cho nên vùng vằng nửa muốn nửa không:

– Hay là các anh sang bên ấy trước đi, tụi em còn phải thay đồ. Luật ở đây cấm sinh viên mặc đồ bộ hay bà ba khi tiếp khách, cần phải mặc áo dài cho đàng hoàng tử tế với người ta…

Hằng giẫy nẩy:

– Thôi bà ơi, sao dạo ni bà sợ “con heo” Ngư Trương dữ rứa? Mấy anh ni đến thăm bất ngờ chứ nào phải mình có hẹn hò gì trước đâu nờ?

Thắng hỏi:

– Gì mà “con heo” Ngư Trương, nghe ghê vậy?

Vân giải thích:

– Ậy, cái con nhỏ Hằng này bạo mồm thật! Ngư Trương là tên của bà tân giám thị mới lên thay thầy Lưỡng ấy! Mụ ta mới ra trường năm ngoái thôi, rồi chẳng biết lo lót ra sao mà được bổ nhiệm về đây. Mụ chỉ trước tụi nầy một hai khóa chớ mấy, cho nên mụ biết tẩy hết những mánh khóe bê bối của dân nội trú. Thế là mụ ta bắt chẹt đủ điều, làm chẳng ai ưa mụ nổi. Hai chữ “con heo” là để thay thế hai chữ Công Huyền của mụ đó. Công Huyền Tôn Nữ Ngư Trương…, cái tên của mụ nghe sao mà dễ ghét!

Thắng ôn tồn:

– Thì ra vậy! Nhưng lần này chắc không hề gì đâu, có quan tàu tới mà. Vả lại, biết đâu bà Ngư Trương đó không những đã thư từ qua lại mà lại còn gắn bó sắt son với một đàn anh của tụi anh? Kệ, cứ làm tới đi. Ăn mặc như vầy đã ra vẻ cô giáo làng quá rồi còn đòi hỏi gì nữa, phải hôn Thành, Tần?

Thành phụ họa theo:

– Ừa, thôi đi…

Câu lạc bộ chật ních những người. Với những bàn vuông nho nhỏ trong gian phòng rộng lớn cũng hình vuông. Ồn ào hơn người ta nhóm chợ. Nửa lính tàu, nửa em gái hậu phương. Lác đác đó đây một vài cánh áo dài, chắc là đi đâu mới về. Còn hầu hết là quần tây áo sơ mi hoặc đồ bộ, áo thêu quần thêu, đủ màu đủ kiểu. Không khí vui nhộn, cười đùa vang rân. Dân chạy bàn càng thêm hối hả… Vì đã gần đến giờ cơm chiều, nên Thành định kiếm cái gì dằn bụng, chàng gợi ý:

– Ai muốn ăn gì ăn, ai muốn uống gì uống, cứ tự nhiên kêu đi nghen. Còn phần tôi, tôi ăn phở.

Tần biểu đồng tình:

– Tao cũng đớp phở luôn cho tiện.

Thắng vòng vo:

– Có lý! Tụi mình phải nếm qua phở xứ Hời này một lần cho biết mùi vị với người ta! Ðể rồi còn so sánh với phở Chutt của xứ thùy dương của mình nữa chớ tụi mầy. Chỉ sợ ở đây độc nhất có mỗi tái nạm gầu mà không có phở gà thì cũng hoài công thôi!

Và đúng là xui xẻo như lời Thắng mở hàng, phở gà không nằm trong thực đơn của Câu lạc bộ. Chỉ có phở bò. Ðành phải sống tạm qua ngày. Rồi không biết vì cần phải giữ gìn cho thân hình vóc hạc xương mai của mình ngày càng thêm liêu trai hay là sợ hết phở, bởi chủ thầu nấu không kịp thở với một số đông thực khách đến bất thình lình như vầy, cho nên mấy nàng tập tễnh làm cô giáo làng đã kêu toàn thức uống: xá xị, coca cola, hoặc nước trái cây… Nhưng, đang ăn uống nửa chừng bỗng dưng có tiếng còi hụ của xe chữa lửa ỏm tỏi ngoài sân! Rồi chẳng bao lâu có tiếng “quân cảnh tới, quân cảnh tới…” xì xào ngoài hành lang!

– Thôi rồi, chuyến này “con heo” ta định làm lớn chuyện rồi! Mụ dám nhờ đám cố vấn Mỹ can thiệp lắm!

Chỗ Tần ngồi gần ngay cửa nên chàng ngó mông về phía cổng trường. Ðúng vậy, xe quân cảnh có tới thật! Hơn thế nữa, tiếp theo xe cần câu chạy trước, còn có một chiếc mui trần gắn súng đại liên chạy sau. Sẵn sàng nã đạn vào những ai dám ngang nhiên nhảy ra cản đường phi lộ. Làm như Việt cộng tấn công vô thành phố không bằng. Tần chặc lưỡi, trấn an em út:

– Không hề gì mà, chẳng lẽ bọn dùi cui đó dám bắt hết tụi anh sao. Chỗ đâu nhốt cho đủ? Vả lại tụi anh chỉ đến đây thăm viếng thân hữu các em thôi, chưa có làm chuyện gì quá đáng thì làm gì phải sợ. Cứ ăn uống tự nhiên bình thường đi, hơi sức đâu mà lo chuyện không đâu!

Nhưng Thắng bỗng xen vô:

– Ô kìa, có mấy ông xếp lớn của mình đến nữa kìa. Hình như có thiếu tá Giám đốc Quân huấn Võ An Xuân nữa! Ai cho ổng hay mà ổng tới lẹ quá vậy ta? Có ổng đứng ra điều đình, can thiệp thì mọi chuyện kể như xong rồi. Dân chơi cầu ba cẳng mà, ổng đâu có ngán mặt nào!

Vừa ăn vừa ngó, tô phở đâm ra mất ngon, Tần thấy vậy. Từ trong khu cố vấn nằm bên cạnh Câu lạc bộ, một phái đoàn bốn năm người, đàn ông lẫn đàn bà và Việt Nam lẫn Mỹ, đang băng qua sân cỏ túa ra nghênh đón. Ðến nơi, kẻ giơ tay người huềnh chân, kẻ gãi đầu người chống nạnh coi bộ ra vẻ hăng say bàn cãi. Sau một hồi sôi nổi, mọi chuyện như ngã ngũ đâu vào đấy. Vì mạnh ai về nhà nấy, kể cả những người quân cảnh làm trung gian. Lệnh truyền miệng gấp rút lan dần đến Câu lạc bộ: Tất cả các sinh viên sĩ quan hải quân phải rời trường ngay lập tức!

Ngay lập tức? Vừa phải thôi! Thành phần thứ ba đã cuốn gói ra đi thì còn ai kiểm chứng việc thi hành lệnh đây chớ? Chắc phải tin tưởng vào lòng tự trọng của các bạn sinh viên sĩ quan hải quân ta thôi! Có lẽ vậy! Mà nói cho ngay, cũng không một ai thèm ở lại cái trường này thêm một phút giây nào hết. Vì mục đích của mấy chàng là đến đây, quyết đem bàn tay anh hùng nghĩa hiệp của mình cứu vớt hay mua chuộc các nàng ra khỏi lầu… cao, thế thôi. Ấy vậy mà nhiều nàng lại không chịu từ bỏ cấm cung hoang giá của mình nữa, mới kỳ. Bởi sau buổi tiệc sơ giao đạm bạc ở Câu lạc bộ, Hằng và Phượng như cố tìm cách thối thoát, từ chối lời mời mọc của Thắng và Tần. Ðể hai chàng, rốt cuộc, đành phải dẫn thân cu ky, cùng nhau lủi thủi lang thang xuống miệt Gành Ráng chơi cho đỡ buồn. Chẳng dám theo phá đám đôi uyên ương như đã chờ đợi từ kiếp nào, Trâm và Thành, đang hồi sẵn sàng cùng nhau cấu xé. Ai mà nỡ làm kỳ đà cản mũi bạn bè…

Chính vì thế mà đêm hôm đó, Tần và Thắng trở về tàu ngủ. Tần chán nản:

– Biết như vậy tao đương thèm theo mấy con nhỏ đẹp đẹp? Bọn nó ỷ mình có nhan sắc một chút là đã nuôi cao vọng, muốn nhìn lên. Coi tụi mình chẳng ra cái thể thống nào hết. Cuối cùng rồi cũng như nuôi ong tay áo nuôi khỉ dòm nhà, chẳng có sơ múi gì ráo trọi. Một lần đi Qui Nhơn là một lần khó, mầy thấy hôn? Cái thằng Thành vậy mà tốt số. Gặp con Trâm làng nhàng, đẹp không ra đẹp xấu cũng không đến nỗi xấu, coi bộ dễ vô. Ðến bây giờ mà thằng Thành chưa mò về thì tao bảo đảm với mầy hai đứa nó đêm nay sẽ ngủ lại ngoài bãi. Nè, mầy nhắm coi có bao nhiêu cô giáo làng tương lai đang hoặc sẽ trở thành đàn bà?

Thắng phân bua:

– Ối, sướng ích gì ba cái lẻ tẻ đó, thằng Thành đang chơi trò chơi ú tim, chết người thì có! Lạng quạng con Trâm bắt cóc và nắm luôn cả cuộc đời của nó bây giờ chớ mầy đừng tưởng. Chỉ cần tặng cho em một cái bầu tâm sự là hết đường chạy nghen mậy. Lương tâm lính tàu coi vậy chớ mà lớn. Bao la như biển rộng sông dài. Với lại ông bà thường hay nói gái ham tài, trai ham sắc, bọn nó có cái sắc còn bọn mình coi như thiếu cái tài… tán gái! Thôi, hãy ngủ đi, lấy sức cho ngày mai mình còn nhổ neo, tiếp tục cuộc hải hành nữa chớ. Thân anh hai quần, mười hai bến nước, mười ba bến tình mà, bến này đâu phải là bến cuối mậy!

Bến cuối? Tần mơ màng mỉm cười với chính mình trong bóng đêm vì câu hỏi bất chợt đó! Ðối với chàng, bây giờ, làm gì có cái bến cuối ở đất Qui Nhơn này! Chẳng qua là chàng đang tiếc hùi hụi cái công trình của mình đã nắn nót viết hàng tá những bức thư du dương lãng mạn, ân ái mặn nồng cho một mối tình hụt hẫng. Vừa chụp bắt được thì đã tan ngay như sóng biển chạm vào bờ. Phượng ơi, sao em cao sang đẹp đẽ làm chi cho tầm tay anh không với tới. Ðể rồi thân em như cứt trôi sông, còn anh như con chó chổng mông trên… tàu …

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều-Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 20 Nov 2025

21. Ra khỏi chuồng người

 Sau trại Kà Tót hắc ám đầy những cái chết dễ dàng như “chiếc lá buồn cành rơi xuống đất” là trại Sông Mao. Cái trại thứ hai nhốt hàng ngàn sĩ quan sau 75 là một trại khổ sai lao động, chứ chẳng phải là trại cải tạo con mẹ gì cả. Trại có cái tên rất ư là dễ ghét: “Tổng Trại 8 Tù Tàn Binh Sông Mao“. Trên toàn nước Việt Nam dưới mầu cờ đỏ, chẳng có cái trại nào VC lấy cái tên thù hận như vậy. Giấy ra trại của tôi còn y nguyên cái tên đó với chữ ký của trung tá VC Võ Như Loan. Trong thời gian tẩy não mà đảng ta gọi là cải tạo, có một cái chuyện tréo cẳng ngỗng làm tôi nhớ mãi.

Số là trong một buổi trưa hè, cả 4 khối trong trại A chúng tôi chia nhau tập trung 4 chỗ cách nhau không xa, để bắt đầu bài học quan trọng đầu tiên: “Đế quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân thế giới, và là kẻ thù số một của dân tộc Việt Nam“. Chủ đề bài này có vẻ lẩm cẩm và cay cú bỏ mẹ. Thôi học thì học. Ngày học đầu êm ả trôi qua.

Truớc giờ học, các trại viên phải vỗ tay hát các bài hát “Kéo pháo qua đèo“, “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây”… hằm bà lằng. Hát phải hát cho to. Khi hát nhỏ, anh điều khiển hát tập thể vừa hát, vừa hét “to lên!”. To cái chó nào được khi sĩ quan VNCH có thằng nào kéo pháo 122 ly của VC qua đèo đâu! Có thằng nào “Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây” đâu! Và có thằng nào hành quân với “Bác” đâu mà cứ rống “Bác cùng chúng cháu hành quân“? Hành quân hồi nào? Thiệt là trẹo họng. Mà không hát thì bỏ mẹ với “Bác” với Đảng! Chỉ có cái bài “Ôi Tổ quốc ta đã nghe lời sông núi” là phe ta hét to nhất. Nó thăm thẳm chiều trôi cái nghĩa thầm kín dấu trong lời ca, chìm sâu vào đáy lòng của những kẻ bại trận.

Lúc ở khối 4 chúng tôi còn ê a, chưa vào đề tài, dưới cái nắng chói chang của trời Sông Mao, phái đoàn của Trung Đoàn VC do trại trưởng thượng úy Hào từ cổng đi vào trại, hướng về khối 2 Đà Lạt. Cả khối 2 ngưng hát và chuẩn bị bắt đầu hô khẩu hiệu “Đả đảo đế quốc Mỹ” theo lệnh quản giáo như mọi ngày trước khi bắt đầu bài học.

Chẳng biết trời xui đất khiến làm sao, một tiếng hô dõng dạc của người bắt giọng vang cả trại từ khối 2: “Đả đảo cộng sản!” Tiếp theo là tiếng hô hàng loạt: “Đả đảo! Đả đảo!” Rồi tất cả khựng lại ở lần thứ 3. Toàn trại nặng nề, im lặng. Các sĩ quan Việt cộng, các chính trị viên, quản giáo bất ngờ đứng yên như trời trồng. Tôi đá giò thằng bạn bên cạnh nói nhỏ:

– Khối 2 nhậu gan trời!

– Nhậu con mẹ gì! Thằng hô khẩu hiệu thấy cán bộ đến gần nên líu lưỡi hô lộn. Chắc toàn khối 2 lãnh cái búa chiều nay! Ngon thiệt!

Thượng úy Hào tiến vào khối 2:

– Chúng tôi biết mà! Các anh đến lúc này mà còn gồng mình chống cách mạng! Khối 2 nghỉ sinh hoạt bữa nay chờ lệnh tôi!

Về sau tôi biết là toàn khối bị làm kiểm điểm, điều tra, kể cả những ông ngủ gục giật mình đưa tay “đả đảo” sảng mà không biết thằng bạn mắc dịch của mình nó hô cái gì, cứ nghe đả đảo là cả đám ngủ gục giật mình hô đả đảo theo cho nó đồng bộ, đến khi tỉnh ra biết mình đang ở tù VC thì đã lỡ rồi. Đây là một thứ vạ miệng tập thể trong tù.

Ngày tôi được tạm tha, ra khỏi trại cùng mấy thằng bạn chân đứa nào cũng đi trên mây, lãng đãng, phiêu bồng như hút xì-ke. Cũng con đường đó hàng ngày đi nặng trịch hai bàn chân lao động, mà bây giờ nó lại thênh thang như Tề Thiên đói bụng vội vàng đằng vân bay về động Hoa Quả. Cái lệnh tha bằng bàn tay năm ngón sao mà linh thiêng như có phép mầu.

Vừa ra khỏi cổng trại, tôi bỗng thấy tấm thân mấy mươi ký nó nhẹ đi, nó bềnh bồng như mấy con muỗi Kà Tót, lại cái cảnh “kinh cung chi điểu”, thấy bộ đội VC đi ngược chiều bỗng sợ nó chận và lôi vô trở lại trại; nhớ chuyện Khối 2 hô đả đảo, bụng cũng muốn hô to một phát cho hả giận, nhưng mồm lại bảo đừng làm cái chuyện hại đời trai trong tay giặc. Thế là bọn tù thoát cũi kẽm gai cứ rảo bước xa dần trại mà đứa nào hai chân cũng muốn mọc cánh bay như chim.

Ra đến chợ Sông Mao, cả bọn rủ nhau hùn tiền mua kẹo đậu phọng, sốt ruột không chờ được xe Lam ra quốc lộ 1, bọn tôi vừa đi vừa nhai kẹo. Trời ơi! Con đường đất hang ổ đủ loại, từ ổ gà đến ổ voi từ ga Sông Mao ra Chợ Lầu hôm nay sao nó thơ mộng tuyệt vời! Mỗi bước chân tù mới thả ra là mỗi bước thần tiên lên tiên cảnh.

– Ê mày! Gom tiền chui vô quán chơi một ly cà-phê!

– Cà-phê sao phê bằng chè trôi nước trong chợ Phan Thiết!

– Chợ Phan Thiết sao được? Tao về Phan Rang mà!

– Lại đôi ngả chia ly rồi! Thôi bỏ chuyện cà-phê, chè trôi nước đi! Tụi mày mỗi đứa có đủ tiền xe đò không? Chia nhau cho đủ rồi chia tay! Xa quê hương, nhớ vợ hiền thấy bà tổ thì lo về gấp cho rồi!

Chúng tôi bịn rịn chia tay. Ba thằng xuôi Nam về Phan Thiết, hai thằng mới quen khi ra trại bắt xe đi hướng Bắc về Phan Rang.

Từ Chợ Lầu vô đến Phan Thiết, cảnh vật xác xơ, xa lạ dưới mầu cờ đỏ. Dường như tôi có cái cảm giác của Trần Dần khi xưa, nhưng cay đắng hơn, tủi nhục hơn. Xe qua Hậu Quách, những người dân Chàm bơ thờ như ngày Chế Bồng Nga thất trận. Xe qua Xóm Ruộng, rồi Lương Sơn, cả một xã trù phú trước 75, nay như hoang phế vô hồn.

Lương Sơn một thời là nơi sản xuất hạt dưa, mè cho những ngày Tết; bắp hột, đậu, mè tấp nập tải vô Phan Thiết, Sài Gòn, nay co mình trong cát bụi. Xe vô Suối Nhum rồi Sông Lủy, một trạm gác thu thuế với công an áo vàng nằm ngay ngả 3 quốc lộ 1 và đường vô ga. Tôi giật bắn người khi xe bị chận lại xét giấy tờ và kiểm soát nông phẩm.

Thân phận của người vừa ra tù chỉ dựa mong manh vào cái lệnh tha, không biết nó có đủ linh thiêng để hộ trì bọn tôi về tới Phan Thiết hay không. Mấy năm xa cách, đổi đời, đổi chủ, tôi không rõ mặt mũi cái thành phố thân yêu một thời có còn như xưa, hay cũng xác xơ như những thôn xóm vệ đường, nhưng dù gì thì nó cũng thôi thúc người về vô cùng.

Hú hồn! Chẳng ai bị hỏi giấy. Xe lại chạy. Chiếc xe đò như một con rùa, cứ chạy một đoạn lại bỏ người, một đoạn lại bốc người, tôi sốt ruột nhìn con đường thu ngắn dần qua Bàu Ốc, Cây Táo. Tôi nhìn lên cao điểm phía Đông của đơn vị Địa Phương Quân quen thuộc khi xưa, gợi nhớ trong tôi những tang thương của cuộc chiến. Rồi căn cứ pháo binh Nora hoang phế, rồi Long Thạnh, rồi Tà Dôn vách núi lạnh lùng.

Khi xe đò vượt qua Tùy Hòa rồi Phú Long, tôi mới thấy một chút sinh động trong mấy cái quán chợ lèo tèo. Tôi bỗng thèm một đĩa bánh hỏi thịt quay nổi danh một thời của xứ này, ruột cồn cào vì đói. Đói là cơn ác mộng của người tù. Một niềm hạnh phúc lâng lâng trổi dậy trong tim khi gió mát từ cánh đồng ruộng muối thổi vào da thịt, và hình bóng chiếc lầu nước nhoi lên từ thành phố xa xa. “Ta vẫn sống! Ta đã về!”

Tôi muốn hét to khi xe qua ngôi trường cũ, trường Phan Bội Châu thân yêu còn chôn giữ bao nhiêu kỷ niệm của tuổi học trò. Niềm vui bỗng chợt biến tan khi mắt tôi nhìn lên mầu cờ đỏ giữa sân trường. Cả một đất nước đi xuống cả một đất nước đổi thay, cả một cuộc đời rách bươm theo từng manh áo tù, chỉ còn lại cái thứ mà tôi cảm thấy không thay đổi là mấy viên chè trôi nước! Tôi như con chim chờ bay ra khỏi lồng. Cái lồng tạm giam tôi từ Chợ Lầu về Phan Thiết là chiếc xe đò cổ lổ x. Khi nó ngừng đổ người ở ga xe lửa Phan Thiết thì tôi phóng ra xe và ba chân bốn cẳng chạy về nhà. Thằng bạn cùng đi với tôi theo hụt hơi, càm ràm:

– Ông nội! về tới đây ai còn bắt nữa đâu mà đi như ma rượt vậy?

– Ừa! Tao chẳng hiểu sao cái cẳng tao nó như “không người lái“, nó như muốn bay không hà! Tao nói thiệt, tao mà có nghề như Đoàn Dự thì tao đã về tới nhà từ khuya rồi!

– Rồi còn cái vụ chè trôi nước mày nói khi còn ở bến xe Chợ Lầu thì sao?

– Chết rồi! Mày không nhắc chắc tao quên! Đi với tao!

Ba thằng tù mới ra lò cải tạo, mặt mày xanh xao, áo quần rách rưới như quân Cờ Đen thua trận, xăng xái đi như bay qua cầu Quan, vượt công trường Cộng Hòa trước nhà sách Vui Vui, vượt đường Gia Long, cắt vô Đinh Tiên Hoàng rồi phóng vô chợ Phan Thiết. Cái đói, cái thèm ngọt nó làm bọn tôi quên cả nhìn những con đường phố quen thuộc, quên cả buổi tao phùng với vợ con.

– Chết mẹ! Cái hàng bán chè trôi nước đâu mất rồi!

– Ngọt thì cái nào cũng ngọt! Qua chỗ kia ăn chè đậu!

– Đâu được! Chè đậu xanh không phê bằng chè trôi nước!

Tôi hỏi thăm mấy người trong chợ và sau đó là “hội ngộ” với một gánh chè trôi nước trong góc chợ. Mấy bà trong chợ nhìn bọn tôi với cái nhìn vừa thương, vừa tội nghiệp:

– Chắc mấy cậu mới được thả?

– Dạ! Vừa thả ra muốn bay ngay về nhà nhưng thèm chè hết biết. Tụi tui chui vô đây rồi tới đâu hay tới đó!

– Tội nghiệp!

Mấy thằng tôi vét hết tiền còn lại trong túi và xã láng với mây viên chè. Trời ơi! Tuyệt vời! Ngon, ngọt, phê hết chỗ chê! Lúc này, “Với tôi tất cả đều vô nghĩa. Tất cả không ngoài nghĩa chè trôi nước!” Mấy viên chè trôi nước đã giữ chân bọn tôi cả mấy tiếng đồng hồ trong chợ Phan Thiết. Đến khi hết tiền rồi thì cả đám mới sực nhớ cái cảm giác “xa quê hương, nhớ vợ hiền.”

Tôi chào bà bán chè, từ giãvà quay lại hai thằng bạn:

– Tụi mày đã chưa? Hết biết! Thôi chia tay từ đây! Hổ về nhà gấp để vợ chờ!

– Ra tù có ai biết ai hay đâu mà chờ ông nội!

Chúng tôi chia tay, không gặp nhau từ đó. Mấy tháng sau, sống với gia đình, không có hàng rào kẽm gai, không có quản giáo, nhưng chẳng được đi đâu, cứ trình diện định kỳ, được công an “viếng thăm” bất định kỳ, không có mặt ở thành phố là khốn nạn với những câu hỏi của “bạn dân vô sản“. Lâu lâu công an thu giấy tạm tha về đồn giữ vài ba hôm, thế là thằng nhỏ phải tự giam mình trong nhà với cơn ác mộng từng đêm, mất ăn, mất ngủ. Dưới chế độ ưu việt của đảng ta, ra đường không có một miếng giấy lộn là chuyện giỡn mặt nhà nước vô sản, là tai họa trùng trùng, là lưỡi gươm “bác” Hồ treo tòn teng trên cổ!

Chưa hết, mấy cơn sốt rét Kà Tót nó cứ nhớ tình xưa nghĩa cũ trong rừng Kà Tót nên thăm viếng hoài hoài, nó như cái đồng hồ cột theo tấm lịch, đúng 20 ngày nó nổi phong ba một phen, nó vật thằng nhỏ từ giường xuống đất, từ đất lên giường, nó cho mùa Đông băng giá vào xương, rồi đùng một cái, nó trở mặt, nó thổi mùa Hè cháy thịt vào da, nó oánh thằng nhỏ tơi bời hoa lá. Cơm cá, chè trôi nước, đường tán, đường phèn gì… vợ “bồi dưỡng” 2 tuần, nó đánh tan tành trong một buổi lên cơn, không cần AK, lựu đạn, không cần B40, B41.

Trận chiến chấm dứt sau khoảng 3 tiếng đồng hồ quằn quại, thằng nhỏ tung mền bước xuống giường bỗng té cái bịch như đứa con nít mới biết đi, da thịt buổi sáng hồng hồng đôi chút, buổi chiều bỗng tái mét, xanh lè, đi từng bước trong nhà phải vịn tường, mặt mày phờ phạc, ngu ngơ, mất hết thần khí. Ôi thời oanh liệt nay còn đâu!

Những buổi vợ còn dạy mấy giờ cuối ở trường PBC về trễ, ngoài chuyện bò ra sau bếp nấu cơm và gậm từng thẻ đường Quảng Ngải đen như cứt bò, thằng nhỏ còn phải lần mò ra phố mua thuốc. Chuyện đầu tiên là khóa cửa, lò mò băng qua đường Trần Quí Cáp, vịn tường Tòa Giám Mục của Đức cha Nghi, lần theo đường Đồng Khánh. Mỗi bước “chân ngà mệt mỏi” của chàng đo được non hai gang. Chỗ nào không tường thì vịn gốc cây, mệt nghỉ. Một lần qua nhà anh Vĩnh Giên ở đường Đồng Khánh, bỗng nghe một giọng Huế quen thuộc bên tai:

– Trời đất ơi! Sao mà thê thảm vậy?

– Anh Vĩnh Giên! Anh khỏe không? Còn tôi, sốt rét Kà Tót nó thăm hồi xế!

– Cô Lương đâu?

– Còn trên PBC!

– Sao không nói cổ dạy bớt giờ để về sớm săn sóc chồng?

– Dạ tụi tui đâu dám giỡn mặt nhà nước, đảng đoàn?

– Sao kỳ vậy? sốt rét mà đi kiểu này có ngày trúng gió lăn quay!

– Trúng hay trật gì thì cũng không quan trọng bằng lời phàn nàn của nhà trường!

– Họ phàn nàn ra sao?

– Họ phê bình cô Lương rằng từ ngày chồng cô cải tạo được đảng và nhà nước khoan hồng cho về nhà, cô Lương không còn “hồ hởi, phân khởi” trong các buổi học tập như xưa. Cô Lương không “năng nổ” trong các giờ dạy, lấy cớ chuyện gia đình xin nghỉ nhiều hơn. Phải có lý do! Có thể cô bị ảnh hưởng tư tưởng phản động chưa gột rửa hết trong thời gian cải tạo của chồng cô. Họ cóc cần biết tôi bị sốt rét ác tính ra sao. Họ phán với bà xã tôi như vậy thì bố tôi cũng không dám xúi vợ xin nghỉ! Tình cảnh này, có chết là tôi tự chết ở nhà.

Tôi còn dặn bà xã tôi là tuyệt đối không chở tôi đi nhà thương. Ở nhà tôi tự trị, cứt mèo, cứt chó gì người ta bảo đốt uống hết bịnh, tôi cũng uống xã láng, may ra còn sống lâu một chút, đem lên nhà thương, mấy ông y sĩ cách mạng trị thì còn đi sớm hơn là cái chắc! Đời mấy thằng “ngụy” tụi tui bây giờ là cỏ rác, là cát bụi mà..!

Anh Vĩnh Giên trầm ngâm:

– Sẵn xe, leo lên Honda tôi chở đi cho! Mà đi đâu?

– Tiệm thuốc tây Bình Thuận ở đường Gia Long! Mà thôi anh đi đi! Tôi lò mò cũng tới chỗ mà! Tôi ngồi xe anh ôm không chặc té tôi cũng chết. Mà người ta để ý thấy anh chở tôi… không chừng anh cũng chết! Thôi anh đi đi!

Sống cái cảnh này thì thằng nhỏ chịu đời sao thấu! Những tưởng được “thoát cũi sổ lồng“, nhưng khi ra khỏi cũi thì lại thấy vẫn còn ở trong cái lồng to hơn cái cũi, cái lồng oan nghiệt bị theo dõi và dòm ngó kỹ càng hơn, truy áp hơn, căng thẳng hơn và tai họa cho gia đình hơn.

Mấy tháng sau, đêm nào trong giấc ngủ chờn vờn cũng có sóng nước đại dương và chiếc ghe vượt sóng, lớn cũng có, nhỏ cũng có, 1,2,3 block đầu bạc, đầu đen, đầu đỏ gì cũng có, nó thúc giục ban ngày, nó réo gọi ban đêm. Chỉ có ra khỏi Việt Nam, ra khỏi cái quê hương tù ngục này thì may ra cuộc đời mới sống được, và lại nữa, may ra mới có phương tiện đánh gục mấy triệu quân sốt rét plasmodium tràn ngập trong máu tôi, hành hạ tôi định kỳ.

Tôi âm thầm thực hiện chuyến ra đi như trong mơ… và chuyến đi đầu tiên đó, vợ chồng, con cái, anh em đã cùng tôi dắt díu nhau chui vô tù, trong đó có cả một đám bạn bè từ Sài Gòn. Đúng là số con dế!

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển
Post by Sơn râu 19 Nov 2025

Từ suy cổ nghiệm kim qua thú chơi sách.

Suy cổ nghiệm kim nói nôm na là thế nào? Và nói rộng ra có thể là: Noi theo cái đã biết cũ mà tìm và nghiệm xét cái chưa biết hiện nay, – vấn đề trải rộng quá, làm sao dám bao trùm nói cho đủ cho vừa tai mọi người? Thôi thì, hãy tạm cậy tuổi già nay đã 92, cứ nói và mặc mỗi người tự xét và cho riêng ý kiến …

Tôi chẳng qua là một kẻ sống sót, không khác một ngựa được về tới mức, trong khi các tuấn mã đã rớt rơi bỏ cuộc … và thảy đều là mộng mà thôi.

Cái tạm gọi là “văn minh”, theo tôi ngu xét, tôi cho là bắt đầu từ nước nhà đang yên ổn, đang theo dõi một giấc kê vàng, bỗng bị người da trắng cậy có súng bắn xa, đến hiếp cướp và đem lại đây, từ tàu đồng đến trực thăng, tàu

bay lẹ hơn chớp v.v .. kể xưa kia, đường biển tàu máy chạy thẳng thét trên hai tháng mới nối liền Sài Gòn tới hải cảng Marseille của Pháp, nay chiếc Boing thâu gọn Sài Gòn – Paris rút ngắn không đầy hai ngày v.v .. nhưng bao nhiêu phát minh tivi, vidéo, nguyên tử gì gì đó, chỉ đáng chấm và xem trọng, như thánh Gandhi đã nói, là cái quay tơ xe chỉ và chiếc xe đạp cộc kệch … ngoài ra máy truyền hình, truyền tiếng, chỉ là tai hại, trẻ bỏ học chữ, giỏi theo ông Tề, múa ra bộ và báo hại hàng rào tre trúc bị rút cắp, làm thước bảng mang làm đại thánh, và phim Ba Tàu Hồng Kông càng hốt bạc càng gieo hư đồi tai hại, ích gì?

Lạ thay, hôm nay viết không thấy hứng, bèn nhảy qua vấn đề “Thú chơi sách”. Ba chữ “Thú chơi sách”, nhớ lại năm cũ, lúc còn ở Sốc Trăng, mươi ngày trước, tức ngày nên nhớ 9 Mars 1945, có hai nhà văn tự Sài Gòn xuống diễn thuyết về “cái hay của Hát Bội” và đó là ông Đoàn Quan Tấn, hội trưởng Hội Khuyến học Nam Kỳ cùng đi với cử nhơn Sorbonne, Hồ Đắc Thắng, buổi ấy xuống tỉnh nhỏ nầy do lời mời của đốc phủ sứ, chủ quận quận châu thành, Sốc Trăng, hai ông khách quí cũng không xa lạ, đều là bạn quen nhau cùng một hội, lấy danh Hội Khuyến học, để che giấu mục đích kín và gầy dựng lối viết và tư tưởng theo lối mới, truyền bá chữ quốc ngữ, mà kỳ trung là chống khéo phong trào dùng chữ Pháp của nhà cầm quyền Tây.

(viết ngày 4-3-1993)

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 19 Nov 2025

Bài 38

Đảo Quỷ – Chiếc ghe của Deiflus

Đảo Quỷ là hòn đảo nhỏ nhất trong quần đảo Salut. Cũng là hòn đảo nằm cao nhất về hướng Bắc, bị sóng gió vùi dập phũ phàng nhất. Qua một khoảng hẹp bằng phẳng chạy dài dọc bờ biển là phải leo lên một cái dốc đưa tới một bãi bằng, trên đó đặt trạm gác của bọn giám thị và một phòng giam độc nhất cho hơn mười tù nhân. ở đảo Quỷ, chính thức mà nói, không có tù khổ sai về hình sự mà chỉ có những bị án giam hoặc lưu đày vì những lý do chính trị.
Họ sống mỗi người ở riêng một căn nhà nhỏ mái tôn. Cứ đến thứ hai, họ được phát thức ăn sống cho cả tuần, mỗi người một ổ bánh mì. Họ có khoảng ba mươi người. Người đảm đương nhiệm vụ y tá trên đảo là bác sĩ Léger, đã đầu độc cả gia đình, ở Lyon hay vùng phụ cận gì đó. Các tù chính trị không liên hệ với tù khổ sai, và thỉnh thoảng họ lại viết thư về Cayenne phản đối tù nhân này nọ ở đảo. Thế là tù nhân đó bị đưa về đảo Royale.
Một đường dây cáp nối đảo Royale với đảo Quỷ, vì nhiều khi biển động, tàu ở Royale không ra đây cập vào bến xi-măng được.
Chánh cai tù ở đây (có tất cả ba người gác) tên là Santori. Đó là một người to lớn, quen thói ở bẩn, râu thường để đến tám ngày không chịu cạo. 
– Papillon, tôi hy vọng anh xử sự cho đúng đắn ở đảo Quỷ này. Anh đừng kiến chuyện với tôi, tôi sẽ để anh yên. Anh về trại đi, tôi sẽ gặp anh tại đấy.
Tôi thấy ở phòng giam có sáu tù nhân khổ sai: hai người Tàu, hai người da đen, một người dân Bordeaux và một người vùng Lille. Một người Tàu biết rõ tôi, vì đã bị giam chung với tôi ở Saint Laurent về tội giết người. Đấy là một người dân Đông dương, còn sống sót sau vụ nổi loạn ở Côn đảo.
Anh ta vốn là tay cướp biển chuyên nghiệp, thường tấn công các ghe mành và đôi khi giết cả thủy thủ lẫn gia đình chủ ghe. Anh ta là kẻ cực kỳ nguy hiểm, nhưng lại có một cách sống chung với tập thể được ai nấy tin cậy và mến thích. Anh dùng tiếng Pháp bồi chào tôi:
– Papillon, khỏe chứ?
– Còn anh ra sao, Chang?
– Khỏe. ở đây dễ chịu lắm. Anh ăn với tôi. Anh ngủ đây, cạnh tôi. Tôi, nấu ăn ngày hai lần. Anh, bắt cá. Đây, cá nhiều lắm.
Santori đi tới:
– à, anh đã thu xếp chỗ ở xong rồi hả? Ngày mai anh và Chang cho heo ăn. Chang mang dừa tới, còn anh, anh lấy rìu bửa dừa ra làm đôi. Phải dành riêng những trái dừa non cho heo con vì chúng không có răng. Bốn giờ chiều, các anh vẫn làm việc ấy. Ngoài hai giờ làm việc, sáng một giờ, chiều một giờ, anh được tự do muốn làm gì trên đảo thì làm. Ai đi câu được phải đưa một ký cá hay tôm hùm góp vào bếp của tôi. Vậy cho mọi người vui vẻ. Thế có được không?
– Thưa ông Santori, được lắm.
– Tôi biết anh là dân chuyên vượt ngục, nhưng ở đây thì vô phương nên tôi không phải lo. Ban đêm các anh bị nhốt nhưng tôi biết có người vẫn cứ ra được.

Cẩn thận đối với các tù chính trị đấy. Người nào trong bọn họ cũng có dao phát rừng. Anh mà đến gần chỗ họ ở, họ tưởng anh đến ăn cắp gà hay trứng, anh có thể chết hay bị thương, vì họ trông thấy anh được, còn anh, anh không thấy được họ.
Sau khi cho hai trăm con heo ăn, mỗi ngày tôi đi với Chang khắp đảo. Anh biết tường tận tất cả các xó xỉnh trên đảo. Một ông già, có bộ râu bạc dài, gặp chúng tôi trên con đường đi quanh đảo, ven bờ biển. Đó là một nhà báo ở Tân Đảo đã viết tốt cho bọn Đức, chống lại nước Pháp, trong chiến tranh 1914. Tôi còn gặp thằng đểu đã làm cho Edith Cavell – cô nữ y tá người Anh hay Bỉ đã cứu các phi công Anh năm 1917 – bị xử bắn. Nhân vật kinh tởm này, to béo mập mạp, tay cầm một cái gậy, quật một con cá lịch dài tới một thước rưỡi và to bằng bắp đùi tôi.
Cả ông bác sĩ đảm đương nhiệm vụ y tá cũng ở trong một túp nhà nhỏ chỉ danh cho các tù chính trị. Ông bác sĩ Léger này là một con người cao lớn dơ dáy và lực lưỡng. Chỉ có mặt ông là còn sạch, tóc ông đã hoa râm, để rất dài rủ xuống cổ và thái dương. Bàn tay ông đỏ mọng từng mảng vì những vết thương chắc là do víu vào các mỏm đá ở biển, mãi vẫn chưa được lành hẳn.
– Anh cần gì, cứ đến hỏi tôi, tôi sẽ cho. Có bệnh hãy đến. Tôi không ưa ai đến thăm tôi và càng không ưa ai đến nói chuyện với tôi. Tôi bán trứng và cả gà con, gà trống và gà mái. Nếu anh mổ trộm được một con heo nhỏ, mang cho tôi một đùi sau, tôi sẽ trả anh một con gà và sáu quả trứng. Anh đã đến đây rồi thì cầm lấy cái lọ một trăm hai mươi viên thuốc ký ninh này. Chắc anh đến đây để vượt ngục, vậy thì nếu phúc tổ cho anh đi được, anh sẽ cần đến nó để sống ở rừng đấy.
Sáng và chiều, tôi câu được hằng hà sa số cá phèn ở dưới các mỏm đá. Ngày nào tôi cũng gửi cho bếp của cai tù ba đến bốn ký. Santori tươi hẳn lên. Chưa bao giờ lão ta nhận được nhiều loại cá khác nhau lẫn tôm hùm như thế. Có những lúc, nước xuống, tôi lặn mò được đến ba trăm con tôm hùm.
Ngày hôm qua, bác sĩ Germain Guibert đến đảo Quỷ. Biển lặng, ông đã đi cùng vợ và thiếu tá chỉ huy trại Royale. Người đàn bà đáng phục này là người phụ nữ đầu tiên đặt chân lên đảo Quỷ. Theo lời thiếu tá, cũng chưa có thường dân nào đặt chân lên đảo này. Tôi đã được nói chuyện với bà một giờ đồng hồ. Bà đi với tôi đến chiếc ghế dài mà Dreyfus* xưa kia vẫn thường ngồi nhìn ra biển cả, nhìn về phía nước Pháp đã hắt hủi ông. 
(*Dreyfus Alfred, sĩ quan Pháp gốc Do Thái, Năm 1890 bị đưa ra tòa án binh vì tội “gián điệp”, rồi bị đày ra quần đảo Salut. Đến năm 1906 mới được thanh minh và phục hồi danh dự. Vụ án này đã làm chấn động dư luận toàn nước Pháp hồi ấy và gây nên những cuộc tranh luận và xung đột dữ dội giữa những người có tư tưởng cấp tiến bênh vực Dreyfus và những người có xu hướng bài Do Thái. Nhà văn Emile Loa đã viết một bài báo nổi tiếng bài “Tôi tố cáo” bênh vực Dreyfus bằng những lý lẽ đanh thép và một vãn phong nảy lửa đầy sức thuyết phục – ND). 
Bà xoa tảng đá và nói: Giá tảng đá này có thể nói cho chúng ta biết những ý nghĩ của Dreyfus nhỉ… Papillon này, chắc chắn đây là lần cuối cùng chúng ta gặp nhau. Vì anh có nói với tôi rằng anh sắp thử vượt ngục một chuyến nữa. Tôi cầu Chúa cho anh được thành công. Tôi yêu cầu, trước khi anh đi, anh ngồi một phút trên tảng đá tôi vừa xoa tay vào, và cũng xin anh xoa tay vào đấy để vĩnh biệt.
– Thiếu tá cho phép tôi được gửi bằng dây cáp, một ít tôm hùm và cá cho bác sĩ, mỗi khi tôi muốn, Santori cũng đồng ý.
– Vĩnh biệt bác sĩ, vĩnh biệt bà.
Trước khi tàu rời khỏi bến, tôi chào cả hai người một cách rất tự nhiên. Bà Guibert mở to mắt nhìn tôi, vẻ như muốn nói: “Hãy nhớ mãi đến chúng tôi vì chúng tôi cũng không bao giờ quên anh”.

Chiếc ghế của Dreyfus ở tận mỏm phía Bắc của đảo cao hơn mặt biển đến trên bốn mươi mét..
Hôm nay tôi không đi câu. Trong bể cá thiên thiên, tôi còn hơn một trăm ký cá phèn và trong một cái thùng ton-nô bằng sắt, được neo bằng xích, còn hơn năm trăm con tôm hùm. Tôi có thể nghỉ câu. Tôi đã có dư để gửi cho bác sĩ và để dành cho Santori, cho anh người Tàu và cho tôi. Lúc đó là năm 1941. Tôi ở tù đã mười một năm.
Tôi đã ba mươi lăm tuổi. Tôi đã sống những năm tươi đẹp nhất trong đời tôi trong phòng giam, hoặc ở xà-lim. Tôi chỉ sống tự do hoàn toàn được bảy tháng với bộ lạc Anh-điêng của tôi. Những đứa con mà tôi đã có với hai người vợ Anh-điêng bây giờ đã tám tuổi. Thật khủng khiếp! Thời gian trôi qua nhanh đến vậy? Nhưng nhìn về phía sau, tôi vẫn lặng ngắm những giờ những phút chịu đựng kéo dài của khoảng thời gian đó, khoảng thời gian đã được khắc sâu trên con đường đau khổ. Ba mươi lăm năm rồi! Montmartre, quảng trường Trắng, quảng trường Pigalle, khoảng sân khiêu vũ ở Triều Hoa viên, đại lộ Clichy, đâu cả rồi? Đâu rồi em Nenette với bộ mặt y như Đức mẹ, thật sự là bức tranh chạm nổi, có đôi mắt đen mênh mông tràn đầy tuyệt vọng nhìn tôi đăm đăm, đã kêu tôi giữa phiên tòa: “Anh đừng lo, em sẽ đến tận đấy theo anh”?. Đâu rồi, luật sư Raymond Hubert với lời an ủi: “Chúng ta sẽ được trắng án”? Đâu rồi, mười hai cái bị thịt trong ban bồi thẩm? Đâu rồi bọn cớm ấy? Ngài biện lý? Ba tôi và các em gái tôi, đã lấy chồng trong cảnh chiếm đóng, giờ đây đang làm gì?
Bao nhiêu chuyến vượt ngục! Thử tính xem bao nhiêu chuyến rồi.
Chuyến đầu tiên, khi tôi đánh gục bọn cai và tù ở bệnh viện trốn đi. Chuyến thứ hai ở Colombia, từ Rio Hacha đi: chuyến đi đẹp nhất. Chuyến đó tôi thành công mỹ mãn. Tại sao tôi lại bỏ bộ lạc của tôi nhỉ. Một cảm xúc yêu đương mãnh liệt làm toàn thân tôi rung động. Tôi rùng mình, mường tượng như trong thân thể tôi còn giữ lại những cảm giác mà tôi đã được thể nghiệm những khi làm tình với hai chị em cô gái Anh-điêng. Rồi chuyến thứ ba, thứ tư, thứ năm và thứ sáu ở Baranquilla. Những chuyến vượt ngục này chỉ toàn chuyện rủi ro. Rồi mưu toan trốn tập thể trong buổi lễ mi-sa, thất bại một cách thảm hại! Cái chuyến thuốc nổ hư và chuyện cái quần cậu Clousiot bị vướng vào mái tôn. Rồi cái liều thuốc ngủ tác động quá chậm! Chuyến thứ bảy ở đảo Royale, bị thằng xỏ lá Bébert Celier tố cáo. Không có nó, chắc chuyến ấy có thể thành công. Giá nó câm mẹ cái mồm nó đi, chắc tôi và anh bạn Carbonieri khốn khổ của tôi đã được tự do. Chuyến thứ tám, chuyến cuối cùng, ở nhà thương điên. Sai lầm, một sai lầm lớn của tôi, là đã để cho anh người ý chọn điểm hạ thủy. Nếu xuống phía dưới chừng hai trăm mét nữa, chỗ gần lò sát sinh, chắc thả bè dễ hơn nhiều.
Chiếc ghế dài này, nơi Dreyfus vô tội bị án tù, mà vẫn can đảm sống được, nhất định phải giúp cho tôi được việc gì. Không bao giờ được chịu thua! Phải thử làm một chuyến vượt ngục nữa. Phải, tảng đá nhẵn, trơn, nhô lên trên vực thẳm chỉ có đá bị sóng dập liên tục này phải trở thành một sự nâng đỡ về tinh thần và một tấm gương đối với tôi. Dreyfus không bao giờ chịu để tinh thần bị suy sụp, ông luôn luôn đấu tranh đến cùng để được khôi phục danh dự. Quả Dreyfus có một ưu thế đã làm được Emile Zola bênh vực với bài: “Tôi tố cáo” nổi tiếng. Tuy vậy nếu ông không phải là con người đã được tôi luyện thì trước bấy nhiêu nỗi bất công chắc chắn ông đã từ chiếc ghế này gieo mình xuống vực. Ông đã chịu đựng được.
Tôi không thể kém Dreyfus, và tôi phải từ bỏ ý nghĩ vượt ngục với phương châm: thắng hay là chết. Tôi phải bỏ hẳn chữ chết, vì chỉ được nghĩ rằng tôi phải thắng và phải được tự do. Trong khi ngồi trên chiếc ghế của Dreyfus, tâm hồn tôi lang bang nghĩ đến quá khứ, mơ tưởng đến tương lai tươi đẹp. Mắt tôi thường bị lóa vì ánh nắng chói chang, vì ánh phản quang màu bạch kim của những ngọn sóng.

Cứ nhìn biển mãi mà không thực sự nhìn thấy nó, tôi dần dà biết được tất cả những thay đổi thất thường có thể tưởng tượng được của những lớp sóng cuộn theo chiều gió. Đều đều, không mệt mỏi, không thay đổi, biển cả cứ tấn công vào các mỏm đá nhô ra khỏi đảo xa nhất. Nó sục sạo, mài mòn, đập vỡ những tảng đá nọ, như muốn nói với đảo Quỷ: “Mi cút đi, mi phải biến mất đi, ta muốn xô vào Đất liền mà mi cứ làm ta vướng víu, mi chặn đường đi của ta. Vì vậy, hàng ngày, không phút nào ngơi, ta phải tước đi từng chút ít một của mi”. Khi có giông bão, biển thả sức vui vẻ hoành hành. Nó không chỉ lao tới, và khi rút ra, cào hết tất cả những gì nó đã đập phá được, mà hơn thế nữa, có còn chui rúc, len lỏi đưa nước vào tất cả các ngõ ngách để dần dà, từng chút một, xói mòn ngầm những tảng đá khổng lồ đang có vẻ như quát vào biển: “Cấm đi qua đây, cấm qua chỗ này”.
Và tôi đã khám phá ra một điều quan trọng. Ngay dưới chỗ ghế của Dreyfus, sóng xô thẳng vào những tảng đá sống trâu này, tấn vào, tan ra và rút đi vôi một sức mạnh hung hãn. Hàng tấn nước không tung tóe ra được vì bị kẹt giữa hai tảng đá hình móng ngựa rộng chừng năm, sáu mét. Sau đó là vách đá ngựa rộng chừng năm, sáu mét. Sau đó là vách đá dựng đứng, cho nên nước theo sóng vào chỉ có một đường thoát là quay ngược lại, rút ra khơi.
Điều này rất quan trọng vì nếu khi sóng bị tóe ra và lùa vào vực thẳm, tôi từ trên mỏm đá ôm một bao trái dừa lao thẳng xuống đấy, thì chắc chắn, không nghi ngờ gì cả, là nước rút sẽ cuốn tôi ra theo.
Tôi biết chỗ có thể kiếm ra vài cái bao tải, ở chuồng heo muốn có bao nhiêu để đựng dừa cũng có. 
Việc đầu tiên là phải làm thử đã. Vào những ngày trăng tròn, lúc nước thủy triều lên cao nhất, thì sóng cũng mạnh nhất. Tôi sẽ chờ một đêm như thế. Một bao tải nhét đầy trái dừa còn cả vỏ xơ, đã khâu kỹ lại, được dấu trong một cái hang mà muốn vào đấy phải lặn xuống nước. Tôi tìm ra nó lúc lặn mò tôm hùm. Tôm hùm bám vào trần hang, không khí chỉ lọt được vào hang khi nước xuống. Trong một bao tải khác được chằng cùng với bao đựng trái dừa, tôi bỏ một tảng đá nặng chừng bao mươi lăm đến bốn mươi ki lô. Vì tôi tính tôi sẽ vượt ngục với hai bao tải chứ không phải một, mà tôi thì cân nặng bảy chục ký, cho nên tỷ lệ như vậy là tương đương.
Thí nghiệm này kích thích tôi rất dữ. Không ai đến phía này của đảo bao giờ. Cũng không ai giờ rằng có người lại chọn nơi bị sóng dập mạnh nhất, nghĩa là nơi nguy hiểm nhất, để vượt ngục.
Nhưng đây lại là địa điểm duy nhất mà, nếu tôi rời được bờ, tôi sẽ được sóng đưa ra khơi và không thể nào lại đâm đầu vào đảo Royale được. Chỉ ở đây chứ không phải ở đâu khác, tôi sẽ ra đi. Những bao tải đựng dừa và hòn đá không dễ mang vác Tôi không sao kéo nó lên mỏm đá được. Đá trơn và lúc nào cũng ướt. Tôi đã bàn với Chang, và anh ta đã đến giúp tôi. Anh mang cả bộ đồ nghề câu cá, dây câu ngầm, để lỡ bất ngờ gặp ai, chúng tôi có thể nói là chúng tôi đi đặt lới bẫy cá mập.
– Bắt đầu đi, Chang. Một chút nữa là xong.
Trăng rằm chiếu sáng vằng vặc như ban ngày. Tiếng sóng ầm ầm làm tôi choáng váng. Chang hỏi tôi: “Anh đã sẵn sàng chưa Papillon? Cho nó theo lớp sóng này đi. Cột sóng cao năm thước, thẳng đứng ập xuống bờ đá. Chân sóng xô vào phía dưới chúng tôi mạnh đến nỗi ngọn sóng vượt qua cả mỏm đá, làm chúng tôi bị ướt hết. Nhưng nó cũng không ngăn cản chúng tôi ném các bao tải đúng lúc hình thành xoáy nước trước khi sóng rút ra. Hai cái bao tải bị cuốn đi như một cọng rơm.
Tốt rồi, Chang, thế là xong.  Chờ xem bao tải có trở về không.
Năm phút sau, tôi rụng rời cả người khi trông thấy bao tải của tôi ở trên đỉnh một lớp sóng ngầm cao ngất, đến sáu bảy mét bị đưa trở vào bờ. Sóng nâng túi dừa vào tảng đá như không có nghĩa lý gì. Nó đưa những thứ đó lên trước ngọn sóng, khoảng trước bọt nước một chút, với một sức mạnh phi thường, sóng đã trả nó về chỗ nó bắt đầu bị cuốn đi, đập vào đá vỡ tan thành, bao tải rách bươm ra, mấy quả dừa bắn tung ra khắp nơi, còn tảng đá thì lăn xuống đáy vực.
Chang và tôi đều ướt thấu xương, bị đẩy ngã, may mà ngã về phía đất liền. Cả người chúng tôi bị xây xát và ê ẩm. Chúng tôi không buồn nhìn ra phía biển mà vội rời cho thật nhanh cái nơi đáng nguyền rủa này.
– Không tốt đâu, Papillon. Cái ý vượt ngục ở đảo Quỷ không tốt đâu. ở Royale hơn. Anh đi từ phía Nam hơn ở đây.
Phải, nhưng ở đảo Royale, việc vượt ngục chỉ hai giờ sau là nhiều nhất, sẽ bị lộ. Các bao tải đựng dừa chỉ đi được nhờ sức sóng đẩy, tôi sẽ bị ba chiếc tàu ở đảo quây bắt được liền. Còn ở đây, thứ nhất là không có tàu thứ hai, chắc chắn tôi vượt ngục, sau người ta tưởng tôi đi câu bị chết đuối. ở đảo Quỷ, không có điện thoại. Nếu tôi đi lúc trời xấu, không tàu nào có thể đến được đây. Vì vậy tôi phải từ ở đây đi. Nhưng ra đi bằng cách nào?
Giữa trưa, trời nắng chang chang. Một thứ nắng nhiệt đới làm cho đầu óc muốn sôi lên. Một thứ nắng thiêu cháy mọi thứ cây cỏ đã nảy mầm được nhưng chưa lớn đến mức đủ sức đương đầu với nắng. Một thứ ánh nắng mà chỉ trong vài giờ cũng đã làm cho các vùng nước biển không sâu quá phải bay hơi chỉ còn lại một lớp muối trắng. Một thứ ánh nắng làm cho làn không khí chao đảo như nhảy múa. Đúng, ánh nắng chuyển động thật sự trước mắt tôi, và ánh nắng phản chiếu trên mặt biển làm tôi rát bỏng cả mắt. Tuy vậy, lúc ngồi lại trên chiếc ghế của Dreyfus, tất cả những điều đó không ngăn tôi tiếp tục quan sát mặt biển. Lúc bấy giờ tôi mới thấy tôi quá ư là ngốc. Con sóng ngầm, cao gấp hai lần tất cả các con sóng khác, con sóng đã ném các bao tải của tôi vào đá, làm nó tan vụn hoàn toàn, con sóng này chỉ thỉnh thoảng mới có. Tôi tính kỹ thì thấy cứ sáu đợt sóng bình thường mới có một đợt sóng ngầm dữ dội như vậy. Từ giữa trưa đến lúc mặt trời lặn, tôi quan sát xem thử có phải đều đặn như thế không, có những thay đổi gì không, nghĩa là xem thử có gì không đều trong chu kỳ và hình dáng con sóng khổng lồ này không.
Không, không một lần nào con sóng ngầm đến trước hay đến sau. Cứ sáu đợt sóng cao chừng sáu mét kéo vào, thì cách bờ hơn ba trăm mét, con sóng ngầm lại hình thành. Nó đến thẳng đứng như chữ I. Càng tới gần bờ, nó càng tăng khối lượng và chiều cao. Không có bọt sóng ở trên ngọn, khác hẳn sáu con sóng kia. Rất ít bọt. Tiếng sóng cũng đặc biệt, giống như tiếng sấm rền đang tắt dần từ xa. Khi sóng xô vào bờ đá, ập vào khoảng giữa hai tảng đá nọ, rồi đập vào vách, khối lượng nước của nó lớn hơn của các con sóng khác, nó bị tắc lại, quay lộn nhiều lần trong hốc đá và mất mươi mười lăm giây những cuộn nước xoáy mới tìm được lối thoát và rút ra, cuốn theo những hòn đá to cứ lăn đi lăn lại, ầm ầm như tiếng hàng trăm chiếc xe chở đá được đổ xuống vực một cách thô bạo.

Tôi bỏ độ một chục quả dừa vào một cái bao tải tôi tống một tảng đá nặng độ hai mươi ki-lô vào đấy và con sóng ngầm vừa xô vào đá, tôi ném bao tải xuống. Mắt tôi không trông theo được bao tải vì có quá nhiều bọt nước trắng trong vực xoáy, nhưng tôi cũng thoáng thấy nó trong một giây, khi nước như bị hút mạnh, băng băng kéo ra ngoài khơi. Bao tải không bị đẩy trở lại. Sáu con sóng kia không đủ sức ném nó vào bờ và khi con sóng thứ bảy hình thành, cách xa chừng ba trăm mét, cái bao tải hẳn đã vượt ra ngoài cái vùng con sóng ngầm bắt đầu hình thành, vì tôi không còn nhìn thấy bao tải ấy đâu nữa.
Lòng chứa chan vui mừng và hy vọng, tôi đi về trại. Thế là tôi đã tìm ra một cách hạ thủy thật hoàn hảo. Không được phiêu lưu trong việc này. Thế nào tôi cũng cần phải thử một lần cho nghiêm chỉnh hơn, với những số liệu tương ứng một cách chính xác với bản thân tôi: hai bao trái dừa buộc chặt vào nhau, và ở trên là bảy mươi ki-lô được phân đều cho hai hay ba tảng đá. Tôi kể cho Chang. Và anh bạn Tàu của tôi ở Côn Đảo đã giỏng tai ra nghe.
– Tốt lắm, Papillon ạ. Tôi cho thế là anh đã tìm được cách rồi. Tôi sẽ giúp anh làm thử thật sự. Chờ nước thủy triều lên cao tám mét: sắp đến điểm phân mùa rồi.
Được Chang giúp đỡ, lợi dụng điểm phân mùa, có con sóng cao hơn tám mét, tôi ném xuống con sóng ngầm nọ hai bao trái dừa kèm theo ba tảng đá nặng chừng tám mươi ki-lô.
– Tên con bé mà anh bơi ra cứu ở Saint Joseph là gì?
– Lisette.
Vậy ta cũng đặt tên con sóng có ngày sẽ cuốn anh đi theo là Lisette. Bằng lòng không? Đồng ý.
Lisette ập đến ầm ầm như một đoàn xe lửa tốc hành tới ga. Nó hình thành từ ngoài xa hơn hai trăm năm mươi mét, và sừng sững như vách đá, nó tiến vào mỗi lúc một lớn dần. Quả là một cảnh tượng uy nghi. Nó đập vào vách làm Chang và tôi bị hất hẳn sang bên tảng đá, và các bao tải đã tự nó rơi xuống vực Vì biết ngay trong một phần mười giây rằng chúng tôi không thể đứng lại trên mỏm đá được, chúng tôi đã lùi về sau: điều đó tuy không tránh cho chúng tôi khỏi bị một khối nước ập đến tát ướt cả người, nhưng cũng làm cho chúng tôi khỏi bị ngã xuống vực. Chúng tôi làm cuộc thí nghiệm này lúc mười giờ sáng. Chúng tôi không sợ gì vì ba tên cai tù đều ở đầu kia đảo lo việc tổng kiểm kê. Mấy cái bao tải đã trôi không ra khơi, chúng tôi trông rất rõ, nó đã trôi rất xa bờ. Nó có trôi ra quá chỗ hình thành của con sóng không? Chúng tôi không có gì làm chuẩn để biết được các bao tải ở xa hơn hay gần hơn chỗ ấy. Sáu con sóng tiếp theo con Lisette đều không đuổi kịp được đà trôi của nó. Một lần nữa Lisette lại hình thành và bắt đầu xô vào bờ. Các bao tải cũng không bị nó cuốn vào. Thế là chúng đã thoát được khỏi khu vực ảnh hưởng của con sóng.
Trở vội lên ngồi vào ghế của Dreyfus để cố tìm ra các bao tải một lần nữa, chúng tôi có được nỗi vui mừng được bốn lần nhìn thấy nó bập bềnh trên các ngọn sóng, không hướng về phía đảo Quỷ mà đi về hướng Tây. Không còn phải bàn cãi gì nữa, cuộc thí nghiệm đã cho thấy kết quả tốt. Tôi sẽ lên đường dấn thân vào cuộc phiêu lưu vĩ đại trên lưng Lisette.
“Nhìn kìa, nó đến đấy”. Một, hai, ba, bốn, năm, sáu, rồi đến lượt Lisette tiến vào. ở mỏm đá, chỗ đặt ghế của Dreyfus xưa nay, biển vẫn khắc nghiệt, nhưng hôm nay nó đặc biệt hung dữ. Lisette tiến vào với tiếng ầm ầm riêng biệt của nó. Tôi thấy nó lù lù hơn ngày thường, và hôm nay, nhất là ở chân sóng, khối lượng nước được di chuyển còn nhiều hơn nữa. Khối nước khổng lồ này sẽ tấn công hai tảng đá mau lẹ hơn, thắng góc hơn. Vì khi con sóng vỡ, đổ xô vào khoảng cách giữa hai tảng đá khổng lồ, tiếng động còn inh tai nhức óc hơn bao giờ hết, nếu trên đời có thể có một tiếng động quái gở như vậy.
– Anh nói là phải lao xuống chỗ này phải không? Đúng đấy, anh chọn chỗ này thật là tuyệt. Tôi thì tôi không chơi đâu. Tôi muốn vượt ngục thật, nhưng tôi không muốn tự tử.
Sylvain rất xúc động khi tôi giới thiệu Lisette với anh ta. Anh mới đến đảo Quỷ được ba ngày và tất nhiên tôi rủ anh cùng đi với tôi. Mỗi người đi một bè. Do đó nếu anh nhận lời, tôi sẽ có bạn khi đến Đất liền để tiến hành cuộc đào tẩu tiếp theo. ở rừng mà chỉ có một mình chẳng thú vị chút nào đâu.
– Đừng có sợ trước khi làm. Tôi công nhận là lần đầu tiên, ai cũng phải chùn bước. Nhưng đây lại là con sóng duy nhất có thể kéo cậu ra thật xa, các con sóng tiếp theo không có đủ sức kéo cậu trở lại bờ đá.
– Bình tĩnh nào, nhìn kỹ lại, chúng tôi đã thử rồi – Chang nói – Chắc chắn, cậu đã đi rồi là sẽ không bao giờ trở lại đảo Quỷ, cũng không vào đảo Royale đâu.
Mất một tuần, tôi mới thuyết phục được Sylvain. Một người rắn chắc, cao một mét tám mươi, cân đối, với một thân hình lực sĩ điền kinh.
– Được. Tôi công nhận chúng ta sẽ được đưa ra đủ độ xa. Sau đó, cậu tính cứ để sóng đẩy đi, mất bao nhiêu ngày thì đến được Đất liền?
– Thật tình, tôi cũng không biết đâu, Sylvain ạ. Có thể bị giạt nhiều hay ít, tùy thời gian. ảnh hưởng của gió không có mấy, vì chúng ta ở sát mặt nước. Nhưng nếu trời xấu, sóng sẽ lớn và đẩy chúng ta mau hơn vào phía rừng. Khoảng bảy tám, nhiều nhất là mười con nước, chúng ta sẽ bị đẩy vào bờ. Do đó, xê xích ít nhiều thì mát chừng bốn tám đến sáu mươi giờ.
– Cậu tính thế nào vậy?
– Từ các đảo thẳng đến bờ, không xa hơn bốn mươi cây số. Vì bị trôi giạt nên đường đi làm thành cạnh huyền một tam giác vuông. Cậu nhìn hướng sóng đi. ít nhiều, cũng phải đi một quãng từ một trăm đến một trăm hai mươi ki-lô-mét là tối đa. Chúng ta càng đến gần bờ, sóng càng đẩy chúng ta thẳng hướng vào đấy. Thoạt tính, cậu không cho là một vật trôi giạt ở bờ với khoảng cách như thế, lại không được đẩy đi với tốc độ năm ki-lô-mét một giờ.
Anh ta nhìn tôi và chăm chú nghe rất kỹ những lời giải thích của tôi. Chàng trai cao lớn này rất thông minh.
– Đúng. Tôi công nhận là những điều cậu nói chẳng ngu ngốc chút nào, và nếu không có những con nước xuống làm mất thì giờ của ta, vì chúng lại đẩy ta ra ngoài khơi, chắc chắn chỉ trong vòng ba mươi giờ, ta có thể đến đất liền. Do có những con nước xuống, tôi cho là cậu nói có lý: muốn đến đất liền phải mất từ bốn mươi tám đến sáu mươi tiếng.
– Cậu tin chắc rồi thì cậu đi với tôi chứ?
– Có thể. Giả dụ, ta đến chỗ đất liền là rừng thì ta làm gì?
– Ta phải đến vùng gần khu vực Kourou. ở đây có một làng dân chài khá lớn, có những người đi tìm balata và tìm vàng. Phải đến gần một cách thật thận trọng vì ở đấy cũng có một lâm trường của tù khổ sai. Chắc chắn cũng có những điểm để từ đó đi sâu vào trong rừng đến Cayenne và đến một trại của người Tàu được gọi là Inini. Phải bắt một tù nhân hay một thổ dân da đen buộc họ phải dẫn mình đến Inini. Nếu người ấy tử tế, ta có thể cho năm trăm đồng rồi bảo anh ta chuồn đi cho khuất mắt. Nếu cũng là một người tù, thì ta bắt hắn phải cùng đi trốn với ta. Inini là trại giam đặc biệt cho người Đông dương, thế thì ta đến đấy để làm gì?
– ở đấy Chang có người anh ruột.
– Đúng, anh ấy là anh tôi. Anh ấy sẽ vượt ngục với các anh, anh ấy kiếm ra được ca-nô và thức ăn. Cách anh sẽ gặp Quých-Quých, các anh sẽ có đủ thứ để đi đường. Không một người Tàu nào chịu làm chỉ điểm cả cho nên anh gặp bất cứ người An Nam * (*Tác giả cũng như nhiều người Pháp hồi đó, không biết phân biệt người “Tàu với người “An Nam”) nào ở trong rừng, anh cứ bảo người đó tin cho Quých-Quých biết.
– Tại sao người ta lại gọi anh ta là Quých-Quých? – Sylvain hỏi.

– Tôi không biết, do bọn Pháp đặt tên cho anh như vậy – Đoạn anh nói thêm: “Các anh phải cẩn thận, khi đến đất liền rồi, các anh sẽ thấy bùn. Đừng bao giờ đi trên bùn, đi không tốt, nó hút các anh xuống đấy. Chờ cho nước đưa các anh vào tận rừng để có thể bám được dây leo và cành cây. Nếu không thì nguy lắm.
– à đúng đấy, Sylvain à. Không bao giờ được đi trên bùn, ngay cả khi ở rất gần, rất gần bờ. Phải chờ lúc túm được cành cây hay sợi dây leo nào đã.
– Được Papillon. Tôi đã quyết định rồi. Hai cái bè được chế tạo cùng một kiểu, không khác nhau mấy, vì chúng ta cũng nặng cân gần như nhau, chắc chắn chúng ta sẽ không bị tách rời nhau quá xa. Nhưng không sao lường trước được việc gì cả. Nếu lạc nhau ta sẽ tìm nhau ra sao? ở đây, ta không nhìn được tới Kourou. Cậu có để ý, khi cậu còn ở Royale là ở phía bên phải Kourou, khoảng chừng hai mươi ki-lô-mét, có những tảng đá trắng, thấy rất rõ khi mặt trời chiếu vào đấy phải không?
– Đúng.
– Cả vùng bờ biển này, chỉ chỗ ấy là có đá. Bên phải, bên trái, đến vô cùng tận, chỉ là bùn. Đá trắng là do cứt chim là ở đấy. Có đến hàng ngàn con, và vì không có người nào đến đấy bao giờ, chỗ đó sẽ là nơi trú chân để ta lấy lại sức trước khi đi sâu vào rừng. Ta sẽ ăn trứng và ăn chỗ dừa ta đem theo. Không được đốt lửa. Ai đến trước sẽ đợi người tới sau.
– Đợi bao lâu?
– Năm ngày. Không thể nào sau năm ngày, người kia lại không tới được.
Hai chiếc bè đã được làm xong. Các bao tải được lồng vào nhau, hai cái làm một, cho bền hơn. Tôi yêu cầu Sylvain dành cho tôi mười ngày để tập cưỡi bao tải, càng nhiều giờ càng hay. Anh ta cũng phải làm như vậy. Mỗi lần thấy các bao tải sắp bị lật ngửa ra, phải cố gắng làm sao ngồi vững ở trên. Nhưng chú ý không được ngủ quên vì sợ bị nhào xuống nước mà không bấu víu kịp. Chang khâu cho tôi một cái túi nhỏ không thấm nước để đeo vào cổ, trong đựng thuốc lá và máy lửa. Chúng tôi mỗi đứa nạo mười quả dừa để mang theo.
Cùi dừa giúp chúng tôi chịu đói và còn làm đỡ khát nữa. Hình như Santori có một thứ bong bóng bằng da đựng được rượu. Lão ta không dùng đến nó bao giờ. Khi nào có dịp lọt vào nhà lão, Chang sẽ tìm cách xoáy cái đó.

Chúng tôi định khởi sự vào ngày chủ nhật, lúc mười giờ tối. Trăng rằm, sóng thủy triều ắt phải cao đến tám mét. Lisette hẳn sẽ ở vào thời điểm mạnh nhất. Sáng chủ nhật, một mình Chang sẽ cho heo ăn. Tôi sẽ ngủ suốt ngày thứ bảy và cả chủ nhật. Khởi hành lúc mười giờ đêm. Thủy triều bắt đầu xuống đã được hai giờ.
Hai cái bao tải của tôi không thể nào tách rời ra được Chúng được kết chắc lại bằng những sợi gai bện vào với nhau, bằng dây đồng, và khâu liền với nhau bằng gai buồm. Chúng tôi đã kiếm những cái bao có miệng rộng để lồng bao nọ vào bao kia sao cho vừa không thể tuột ra ngoài được.
Sylvain không ngừng tập thể dục, còn tôi, tôi đứng hàng giờ để những lớp sóng lăn tăn đập vào đùi tôi như xoa bóp vậy. Sóng cứ đập liên hồi vào đùi tôi và việc tôi phải lên gân chống lại sóng làm cho đùi và bắp chân tôi cứng như sắt. Ở một cái giếng bị bỏ hoang, có một sợi dây xích dài gần ba mét. Tôi quấn vào nó những sợi thừng nối các bao tải của tôi. Tôi có một cái ốc bù-loong có thể chốt qua các móc xích. Trong trường hợp tôi không chống đỡ nổi, tôi sẽ dùng sợi xích sắt để buộc mình vào cái bao tải. Làm như vậy, tôi có thể ngủ mà không sợ rơi xuống nước và để trôi mất cái bè. Nếu bao tải lật, nước sẽ làm tôi tỉnh dậy và tôi sẽ lật nó lại như cũ. Papillon này, chỉ còn ba ngày nữa thôi. – Chúng tôi ngồi trên ghế của Dreyfus, nhìn Lisette.
– Phải, chỉ còn ba ngày nữa thôi, Sylvain ạ. Tớ tin tưởng là sẽ thành công. Còn cậu thì salà
– Chắc ăn lắm, Papillon à. Đêm thứ ba hay sáng thứ tư, bọn ta sẽ ở trong rừng rồi. Lúc đó, tha hồ mà chén cho đẫy!
Chang nạo cho mỗi đứa chúng tôi mười trái dừa. Ngoài dao, chúng tôi còn mang hai cái rựa đẵn cây ăn cắp được ở kho dụng cụ.
Trại Inini ở phía Đông Kourou. Buổi sáng đi, ngược lại phía mặt trời chiếu tới, chắc chắn là sẽ đúng hướng.
– Sáng thứ hai, Santori sẽ điên lên mất. – Chang nói. – Tôi sẽ không nói là cậu và Papi đã chuồn trước ba giờ chiều ngày thứ ba, khi tên gác đã ngủ trưa dậy. 
– Hay là cậu vừa chạy về vừa kêu là chúng tớ đang câu cá thì bị sóng lớn cuốn đi?
Không được, lôi thôi lắm. Tôi chỉ nói: “Sếp ạ, Papillon và Stephen hôm nay không thấy đi làm, tôi phải cho heo ăn một mình” – chỉ thế thôi, không hơn không kém.










Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên  

Post by Soơn râu 19 Nov 2025

Chương 15

Với các chuyến công-voa mới, tổng số tù nhân nay đã lên tới 12.000, một bệnh xá được thiết lập trong vựa lúa. Số tù chết còn ít, chừng mười hai mạng một ngày, đây là một con số không đáng kể tại một nơi như ở đây. Kiết lỵ là căn bệnh sát hại chính, và vì không có thuốc men, sống chết chỉ là vấn đề may mắn. Đó là một ngày chúa nhật. Buổi sáng chúng tôi làm việc gần một con sông, một toán thiếu niên Hitler, trai có gái có đang tắm ở đấy. Chúng đi ngang qua chúng tôi, sức khỏe tuyệt diệu, cái nhìn của chúng đầy vẻ thù hận và khinh mạn đến nỗi tất cả chúng tôi, ba mươi lăm người trong biệt đội, đều muốn tình nguyện giết chết bọn con trai và hiếp bọn con gái. Một chiếc máy quay dĩa hát để gần bãi tắm phát ra điệu nhạc uể oải trong khi chúng tôi đào con rãnh để đặt đường dây cáp.

Vào thời đó, trong ngày chúa nhật, chúng tôi chỉ làm việc đến trưa. Trên con tàu đưa về trại, đột nhiên tôi cảm thấy đau bụng dữ dội và muốn đi cầu lập tức. Chỉ còn mười lăm phút nữa là đến trại, nhưng mỗi phút đối với tôi kéo dài như cả giờ. Nghiến chặt răng, mồ hôi toát đầm đìa. Một khi bước xuống sân ga Ellrich, chúng tôi lại được kiểm soát lại. Hôm đó, như dồn dập chuyện xui, có chuyện đếm lầm lộn và trước khi kiểm soát đủ số, lại phải mất 20 phút nữa. Sau cùng lối vào trại đã xuất hiện, chỉ còn một trăm năm mươi thước nữa là đến chỗ ao ước. Tôi vừa chịu đựng hợn nửa giờ, tôi còn chịu đựng được nửa phút nữa. Đó là điều tôi nghĩ nhưng ruột tôi lại không đồng ý và khi còn cách mục tiêu độ năm mươi thước, tôi bị chặn lại vì một tiếng nổ tai hại và một sự giải thoát dễ chịu, tuy nhiên thật là một thảm họa! Và không có gì có thể sửa đổi được nữa. Đây chẳng phải là vấn đề tự ái, vì ở đây loại tai nạn nầy xảy ra rất thường, nhưng tôi mất cả buổi chiều, đáng lẽ được. nghỉ ngơi, để giặt áo quần và tự nhiên là tôi phải mặc lại áo quần ẩm ướt. Điều có vệ trầm trọng hơn cả là tôi phải trở ra hố tiêu hơn mười lần để giải thoát, đó là dấu hiệu bắt đầu bị kiết lỵ. Nằm dài trên đệm rơm, tôi cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết. Thêm vào sự thiếu thốn vật chất là nỗi lo âu tinh thần. Để làm cho mọi sự thêm trầm lrọng, một sự ham muốn được không không cưỡng lại được đã xâm chiếm tôi. Tôi biết rằng nước rất nguy hiểm trong trường hợp nầy, nhưng tôi chịu không, nổi nữa. Bureau, vẫn khôn ngoan tiếp tục vụ mua bán thuốc lá vừa đùa vừa giãi bày với tôi: “Anh phải từ bỏ mọi loại chất uống trong bốn mươi tám giờ, và vi trùng sẽ chết vì khát, hoặc nếu anh phình người ra vì nước, vi trùng sẽ tự động chết đuối”. Tôi chọn lối thứ hai, ít ra cũng làm dịu cơn khát, và những người nằm cạnh thấy tôi hấp tấp chạy xuống bồn rửa mặt mới được đặt. Đầu tôi đặt dưới vòi nước tôi uống ừng ực chất lỏng đó cho đến khi gần như nổ tung người vì nước, rồi tôi trở lên nằm. Tôi đã mạo hiểm để chấp nhận tất cả, và suốt đêm, lo lắng, tôi chờ đợi quyết định của sự may rủi, tuy nhiên đã không có âm mưu nào bày trò trong bụng tôi nữa, và sáng hôm sau, tôi khỏe mạnh hơn bao giờ hết.

Công việc đặt đường dây của chúng tôi chấm dứt vào cuối tháng.

Tên Kapo loan báo từ nay chúng tôi được phải tới ga hàng hóa Wofleben để bốc dỡ hoặc chất đầy vật liệu dành cho công trường. Công tác nầy nặng nhọc ở mức trung bình: không tốt, nhưng không quá xấu, những so với các ngày trước, sự thay đổi lớn lao biết bao! Gỗ, than, đá, xi măng, sắt, các toa xe nối tiếp nhau lộn xộn và khi đường sắt bận rộn quá, tình trạng nầy xẩy ra luôn vì các cuộc oanh lạc tại các trung tâm hỏa xa, cần phải chở gấp đối để tránh sự đe dọa bị các vố oanh tạc luôn luôn treo trên đầu. Lúc tập họp, trong khi tất cả các biệt đội diễn qua, người ta có thể đoán công việc của họ qua cách đi và qua tình trạng áo quần.

Sau một vài ngày lao động nhọc mệt, áo quần tôi rách tả tơi và đôi giày cũng không có giá trị gì hơn. Nhiều người đi chân đất, nhưng ngoài việc bị đe dọa bị thương tích một chút tự ái cuối cùng ngăn cản tôi làm như thế. Tuy nhiên, tôi bắt buộc phải thử nhiều cách sửa chữa lạ lùng không tưởng tượng được. Tại kho áo quần, do bọn Tzigane giữ và thông thường là chúng tôi được lãnh đồ đạc, nhưng mọi thứ đều được đem ra mua bán và có cả một giá chính thức được ấn định. Vì không có gì để dâng cho chúng, tất nhiên là tôi không thể đến cửa tiệm đó được. Viadimir, tôi ít gặp anh ta từ ngày không còn ở chung cùng một biệt đội, cho tôi đôi giày của anh, và nó vừa với kích tấc của chân tôi. Tôi nhất định từ chối một sự hy sinh như vậy, nhưng anh ta cho tôi biết là sẽ kiếm được một đôi khác ngay. Ngày hôm sau, anh ta có một đôi giày hoàn toàn mới.

– Chúng ta đang ở trong trại của bọn cướp, anh ta nói với tôi, và nếu muốn còn sống khi ra khỏi đây, không nên ngây thơ quá.

Vladimir cho tôi biết, các tù nhân Nga coi anh như lãnh tụ, và vì ngoài tiếng Nga, anh còn biết tiếng Đức, anh ta kể cho tôi nhiều chi tiết mà anh biết về vài hải cảng Pháp trên bờ Đại Tây Dương vì đã đi qua những nơi đó trong những năm 1937, 38 lúc anh ở trên các chiếc tàu tiếp tế cho nước cộng hòa Tây Ban Nha. Anh cũng đi thăm Ba Lan và Đức vì các sứ mạng mà anh không nói rõ là gì. Anh có vẻ đã quá 30 tuổi và không thể nào biết rõ nghề nghiệp ngoài đời sống dân sự của anh ta là gì. Khi nào bị hỏi gắt, anh ta trả lời: “Tôi là nông dân”. Anh ta yêu nước Pháp nhưng ghét người Pháp.

Tôi thường nghĩ đến tương lai thế giới và của nước Pháp. Nhưng nếu tôi bỏ thây ở đây và biến thành một làn khói xanh thì trái đất vẫn xoay quanh mặt trời, nước Pháp vẫn ở tại vị trí cũ. Và nếu định mệnh bắt tôi phải chết, sao tôi không chết ngoài mặt trận hay trong cuộc chiến đấu chống xâm lăng? Trong khi đó ở trại tập trung, cái chết thật vô ích và nhọc nhằn. Mỗi xẻng than, mỗi tấm ván trên lưng cho tôi thấy thần chết đến gần. Sau tám ngày lao tác tại các toa xe hàng, tôi chỉ còn da bọc xương, và cố lạc quan tôi tự bảo chiến tranh còn kéo dài ba tháng nữa. Luôn luôn còn ba tháng nữa. Trời ơi! Những chiếc máy bay hàng ngày bay ngang trên đầu chúng tôi chắc phải ném rất nhiều bom và bây giờ có hai mặt trận. Rồi sao? Chưa đủ. Những luận cứ bên phía lạc quan còn nhẹ cân quá. Ra đi lúc tờ mờ sáng, làm mười giờ lao tác với một lít súp nhỏ và một mẩu bánh mì; bị đánh đập và về trại khi đêm đến, thật quá sức và tôi cảm thấy chắc không qua khỏi trong vài tuần nữa. Tôi như bị đứng trước một ngã tư mà không có con đường nào đi được. Không có bạn bè có chức vụ, không có bưu kiện. Liệu Pavel có làm được gì cho tôi không? Anh ta phụ trách quét dọn văn phòng, đó là một địa vị vương giả và tôi ngờ rằng nó không phải từ trên trời rơi xuống. Tôi nói cho anh ta nghe những điều tôi suy nghĩ và trước sự ngạc nhiên lớn lao kèm theo nỗi sung sướng không tả được, anh ta cho tôi biết đã lo kiếm chỗ cho tôi từ lúc chúng tôi gặp và quen nhau. Một sự may mắn nữa! Tôi rơi vào một trong rất hiếm các phần tử chính trị có tổ chức tương trợ để giúp một vài người thuộc mỗi quốc tịch. Phương tiện của họ còn yếu vì tất cả việc quản trị đều ở trong tay tù thường tội Đức. Alex, một hóa học gia trẻ ở Prague, làm việc, trong một kho vật liệu, đóng một vai trò quan trọng. Anh ta bồ với kẻ có trách nhiệm về công việc “Arbeit Statistikik”, đã từng bị giam chung với người nầy nhiều năm. Như vậy có thể xin một vài đặc ân vì người ấy phân phát tù nhân đi làm các công việc khác nhau. Khi Pavel giới thiệu tôi với ông ta, còn một người Bỉ vốn là thư ký của viên thị trưởng Anvers cũng được giới thiệu. Alex sau khi khảo sát kỹ, hứa với chúng tôi một giải pháp trong 48 giờ sau. Và anh ta giữ lời. Người Bỉ được vào làm việc ở phòng kinh lý để đo đạc các đường hầm, và tôi, thông ngôn trong một toán thợ điện. Người cô đơn bị bất hạnh biết bao! Thiện cảm hỗ tương và các câu chuyện hàng ngày tạo ra dây liên đới vững chắc hơn bất cứ trò vật chất nào. Suy cho cùng tôi cám ơn sự tình cờ đã bắt tôi học tiếng Đức.

Ngày một ngày hai tôi biến thành người khác đến nỗi tôi còn tin rằng chiến tranh sẽ chấm dứt trong mùa hè.

Hoàn toàn sung sướng, biệt đội gồm toàn người Pháp và Bỉ: 40 trên 50. Chúng tôi thuộc bộ phận gắn điện trong các đường hầm vừa được đào xong. Tên Kapo dắt chúng tôi là dân Đức, nhưng khác với đồng bọn của anh ta. Trong khi tại các biệt đội khác, Kapo là một tên hung dữ có trách nhiệm bắt tù nhân phục vụ tối đa bằng sự khủng bố, Rudolph là một chuyên viên, tù chính trị – một trường hợp rất hiếm ở Ellrich và là hiện thân của một nhân vật tiểu thuyết. Cựu sĩ quan hải quân, bị thương ở tay trong trận kịch chiến nổi danh ở Jutland. Nhiều lần ông ta kể: “Quân Anh đông gấp năm lần, nhưng Lord Kitchener vẫn phải thú nhận bị đánh bại”. Chống đối Quốc Xã 100% và được huấn luyện trong quân đội là cả một niềm hãnh diện đối với ông ta. Sau cuộc bại trận 1918, ông trở về làm kỹ sư trưởng của hãng “Siemens” và trong mười năm phiêu lưu quanh thế giới do hãng cử đi công việc. Ông ta lần lượt làm việc ở Riga, Kharkov, Durban Shanghai. Năm 1930, trở về quê mẹ để nghỉ ngơi trong sự sung túc nhưng chính trị đã nắm lấy ông ta. Gặp lại bạn đồng ngũ và ông ta thấy mình, bị lôi kéo vào một liên minh cựu sĩ quan có khuynh hướng cộng hòa.

Năm 1933, họ phải đi ty nạn. Rudolph qua Pháp. Gestapo để cho con mồi nhỏ được yên nhưng chú ý đặc biệt đến các cán bộ cũ đã trốn đi ngoại quốc. Người lữ hành của chúng ta cảm thấy bị săn đuổi, nhưng ông nghĩ “Ta đang ở Pháp, xứ của tự do và của quyền tỵ nạn”. Ảo tưởng thê thảm! Cảnh sát Pháp bắt ông ta ở Marseille vì tình nghi và khi bộ ngoại giao nhận được yêu cầu dẫn độ, chuyện không có gì nguy hiểm cả, nhưng họ giao ông ta cho nhà cầm quyền Đức một cách hèn nhát. Đó là vào năm 1934. Rồi từ đó bắt đầu con đường cổ điển của tất cả tù chính trị Đức. Trước hết là bốn năm bị giữ trong bí mật và ông ta nhắc lại với tôi nhiều lần: “48 tháng, một mình trong xà lim ở Kassel”. Ông ta không biết bị lên án vì tội gì nhưng nghe kêu án chung thân trong một trại tập trung. Số phận trớ trêu, sau nhiều trại trung ương, ông ta bị rơi vào Ellrich để dắt dẫn biệt đội chuyên trách về điện lệ thuộc vào công ty cũ của ông! Chắc ông gặp lại nhiều kỹ sư quen biết thời vàng son còn được tự do và suốt ngày, cuộc sống của ông ta rất bình thường. Buổi tối tất nhiên phải về trại. Với năm mươi bốn tuổi ông còn giữ được sức khỏe sắt thép thêm vào đó là một tâm trí đầy thiện cảm. Đó là một người Đức của rượu bia và âm nhạc và mỗi khi trong khối của ông có một tù nhân khốn nạn bị đánh rách da đổ máu vì đã thử tìm cách để có thêm một ít súp, Rudolph, nằm trong góc, ứa nước mắt khóc thầm. Nhưng ông không thể can thiệp, các người đồng hương của ông chỉ rình cơ hội để bứng ông khỏi chỗ, vì đó là một trong các chức vụ tốt nhất trong trại.

Qua tất cả các cuộc phiêu lưu, ông ta giữ vài sự oán hận đối với chế độ dân chủ, và ông thường nói với tôi “Nếu Hitler tồn tại ấy là nhờ Anh quốc vì Pháp quốc, và chính các tay lãnh đạo hai xứ nầy mới đáng bị giam thiu người trong các trại tập trung”.

Tôi tự hỏi không biết có phải chính mình nói chuyện chính trị với một người văn minh; một người vẫn đưa cho tôi một nhật báo mỗi ngày mà ông ta xin được nơi một kỹ sư của hàng Siemens hay không. Các toa xe ư? Nhưng tôi không bao giờ có thể làm việc ở đó nữa, đây là một cơn ác mộng và quá xa vời rồi! Hai mươi tám đường hầm đã được đào gần xong. Trong mỗi đường, hai trăm nô lệ luân phiên đào ngày đêm, đào mãi, và các thợ điện nhờ đó mới thấy hạnh phúc của mình. Họ cũng đến đường hầm nhưng được bọn nhân viên dân sự kính nể và ngay cả bọn SS cũng không nói gì họ, uy thế của kỹ thuật. Họ làm công việc của mình, kéo dây chỗ nầy, nối chỗ họ và thường trở về kho lấy thêm vật liệu. Vẫn có tập họp buổi tối sau một ngày làm việc, vẫn có chờ đợi ở sân ga, điểm danh, lúc trở về trại trong đó tình cờ người ta nhận các cú đá vào bụng, vẫn là phần súp gầy mòn, và đánh nhau vì đệm rơm, vì thiếu chỗ nên nhiều người phải ngủ đất; tuy nhiên, tất cả những thứ đó không ăn thua gì khi người ta không bị mệt nhoài vì công việc. quân Đồng Minh vẫn tiến dều và phi cơ Đồng Minh trút bom hàng ngày đập tắt hàng ngàn giọng la Heil Hitler! Vậy thì phải giữ hy vọng cho đến hết mùa hè.

Các tù nhân rất bằng lòng với kết luận đó, không những chỉ có các bạn cùng biệt đội được ưu tiên cho biết tin rút từ báo ra, mà cả những người khác cũng vậy. Lẫn lộn với đủ mọi loại sắc dân, ở đấy, giữa những người nguyên quán tỉnh lẻ ở khắp nơi, tình cờ có một thầy thư ký kế toán tại Châteauroux, một người chăn cừu ở Landes, và một người chủ tiệm ăn ở Firminy. Khi trở về khối của họ, mỗi người lại chuyền tai nguồn tin đúng cho bạn bè cùng giường hoặc cùng xứ làm việc ở các công trường khác. Tổng quát có 3500 tù Pháp, phần đông kiệt sức nhưng cảm thấy còn có thể chịu đựng được qua từ hai đến ba tháng nữa. Từ khi có cuộc đổ bộ, không thư từ bưu kiện nào được gởi đến, nhưng mặc kệ, tất cả đều sẵn sàng hy sinh, miễn là quân Đồng Minh tiến mãi. Mọi người đều đồng ý điểm nầy vào tháng 7 năm 1944 đó, và ngay cả với các tù nhân có quốc tịch khác, sự bất mãn cũng giảm dần. Trong khi chờ đợi ngày đẹp trời đó, tôi khám phá thấy trong biệt đội nhiều chàng trai trẻ đến từ khắp bốn phương trời. Paco, chuyên viên vô tuyến của Hàng không Pháp, tìm thấy ba người bạn thân thoát khỏi bị tử hình, từ nay họ không rời nhau nửa bước và được mọi người gọi họ là nhóm “Ba người ngự lâm pháo thủ”. Tony và Tozo, hai tù nhân gốc Hy Lạp, 20 tuổi, không bao giờ rời nhau từ khi thôi học ở trường làng cho đến trại Ellrich, và tình bạn cũng giống như rượu: càng lâu năm càng tốt. Chưa hề đi lính, bị Gestapo bắt, bị giam xà lim Buchenwald, Dora.

Bicot là tên mà chúng tôi đặt cho một tù nhân tinh quái gốc ở Orléans, nhưng lại tin rằng mình được sinh ra tại Tây Ban Nha và bị bắt trong một chiến khu ở Pyrénées (vùng núi non nằm ở cực Nam nước Pháp ngay biên giới Tây Ban Nha). Để có thể kéo vài hơi thuốc mỗi ngày, anh ta có thể chịu đựng thiếu thốn bất cứ thứ gì. Cặp mắt tinh quái của anh ta nhắm thật mau vào chỗ một nhân viên dân sự vừa vứt tàn thuốc. Chẳng có tí thuốc nào, và nhiều khi cháy cả môi. Nếu các người ghiền thuốc khác chịu đựng thiếu thốn trong im lặng, trái lại anh ta có thể giết một tên Đức nếu anh biết y có mang trong người một gói thuốc lá. Quả thật từ lâu anh ta chẳng được điếu nào. Cùng với thời gian, mỗi người học được vài chữ thứ ngôn ngữ của bọn mình và không có gì khôi hài cho bằng cuộc đàm thoại giữa con dân một xứ Bắc Phi với một người Ukraine.

Barot được tuyền làm nhân viên tại một văn phòng để đương trong một quận lỵ hẻo lánh, miền Basse-Alpes. Anh ta rụt rè như một anh công chức của Courieline, và mắt anh luôn luôn tự hỏi các thân chủ của mình nay ra sao. Ấy vậy mà thật đáng ngạc nhiên vì anh đã vượt qua tất cả các cạm bẫy. Nghe anh kể chuyện về mình là như cả một món ăn ngon:

– Tôi không hề làm điều gì chống lại người Đức, tôi tôn trọng luật lệ hiện hành;và trong thành phố nhỏ bé của tôi, không có gì thay đổi. Đài phát thanh? Tôi luôn luôn nghe đài Ba-lê trước cũng như khi có chiến tranh! Một lần, sau bữa ăn trưa tôi rời nhà đi làm cũng như mọi ngày, lúc đó là 1 giờ 25, có hai ông chặn tôi lại và chở tôi bằng xe hơi đến một khách sạn để hỏi về một chiến khu hình như được thiết lập đâu đó trong vùng. Chưa bao giờ tôi được nghe về chiến khu nầy. Tôi bị tra tấn và tống vào Compiègne, nhờ nói chuyện với người khác tôi mới biết kháng chiến là gì. Ồ! Tôi không có hợp tác với họ, nhưng lương tâm tôi bình thản, tôi tuyệt đối không làm gì chống họ. Chắc họ đày tôi vì lầm lẫn.

Thật cười đến chết, nhưng anh ta nói vậy với tất cả thơ ngây.

– Thật đáng tiếc, Paco than thở, bọn Gestapo sao không bắt những người, không làm gì cả thay vào chỗ chúng ta!

Bébert là một cậu bé ở Pigalle, không biết ngày sinh, nhưng được đào luyện kỹ. Anh ta không biết chính xác về gốc gác mình, do cứu tế xã hội nuôi dưỡng. Do hạnh kiểm xấu, trại tế bần giữ anh ta đến 15 tuổi. Trốn thoát anh ta đóng đô ở Ba-lê trong vương quốc của giới chị em ta và hộp đêm. Anh ta lần lượt làm tất cả mọi việc trong khu vực nầy đó là những công việc không tốt đẹp gì. Anh ta thì vẫn muốn lòe những người chung quanh đang chăm chú nghe, “không phải là những người trung bình thường hay phạm tật xấu có lẽ vì họ không có tiền, nhưng tôi đã đưa mối cho các luật sư, các nhà ngoại giao, các kỹ nghệ gia và ngay cả một ông tu sĩ nữa. Đưa mối và cung cấp gái, anh ta làm cả hai việc và thường thường gái trả phần tiền chia cho anh. Khi bọn Đức đến, tôi đã hốt bạc thật sự, bởi vì cho đến khi có chiến tranh, tôi hãy còn dại. Và rồi tôi bị xúc vì đã đưa một anh sĩ quan Đức đến ngủ với một em bị lậu nặng. Anh nầy không phải là người đầu tiên, và khi người ta bị bệnh lậu, người ta để được miễn dịch, cho nên tôi nghĩ mình cũng đã có hành động phá hoại”.

Bébert xử dụng một ngôn ngữ đấy tiếng lóng; và vì mọi người không hiểu, anh ta giải thích với niềm kiêu hãnh và không bối rối chút nào khi tả những chi tiết về khách hàng của mình. Barot, và không phải chỉ một mình anh ta, mở lớn mắt, dỏng tai để nghe có lẽ phải đến trại tập trung anh ta mới biết là trong con người bằng xương bằng thịt. Không phải chỉ có tình yêu theo thánh thư. Nhận thấy anh ta thường tỏ ra quá ngạc nhiên, một lần, Bébert trắng trợn hỏi anh là đã làm gì với vợ trên giường, bởi vì anh chàng công chức của chúng tôi đã có vợ.

Barberon tánh lãnh đạm như dân Anh, có lẽ còn lãnh đạm hơn thế nữa đối với nơi ấy, tuy nhiên tư tưởng thâm sâu, anh ta có vẻ quyến rũ biết bao! Anh đã trải qua một thời niên thiếu ở Cameroun, nơi cha anh có đồn điền. Và anh kể lại các chuyện hấp dẫn có thể hồi tưởng lại được. Tất nhiên là nhờ gia tài đồ sộ, cuộc sống rất vàng son, Anh có thể tiếp tực sống cuộc đời của mình một cách vị kỷ cho đến hết chiến tranh, nhưng anh thích sự hiểm nguy trong cuộc chiến đấu chống quân chiếm đóng.

– Và, thật ra tôi không kháng chiến vì yêu nước gì cả. Tôi đi du lịch nhiều quá và tôi không hiểu nhiều về lý tưởng của quốc gia, đối với tôi nó cũng chật hẹp như đàn ông một vợ vậy. Và tôi cũng không ghét người Đức đến thế. Tôi chỉ say mê chiến đấu để giết thì giờ, nhưng hiện nay tôi xác nhận là chúng đáng bị ghét, đáng bị tàn sát, và không phải chỉ có bọn Đức thôi, mà tất cả những kẻ có cùng một quan niệm như chúng trong bất cứ quốc gia nào.

Roger là nghệ sĩ của băng chúng tôi, anh là điêu khắc gia, nhưng đó chỉ là nghề phụ, vì anh ta chạy áp phe để sống, và trong thời bình anh di chuyển bằng phi cơ giữa Bruxelles và Luân-đôn như đi chợ. Nhờ sự thông đồng của các kỹ sư, Rudolph có thể thả lỏng anh trong một xó của kho vật liệu, và với phương tiện sung mãn ở đó, anh ta thay đổi lối suy nghĩ của họ. Nếu bọn SS mà biết được, anh ta sẽ bị treo cổ ngay, và những người bảo bọc sẽ bị tù vì tội phá hoại công tác, nhưng nếu phải nghĩ đến tất cả đe dọa mà một tù nhân phải chịu đựng trong ngày, thì sẽ không làm sao sống nổi. Roger có cung cách thanh nhã ngay trong khi làm việc bằng tay chân, không bao giờ anh nổi giận và trong khối, anh chịu đựng các sự bất tiện vật chất với sự trầm tĩnh đáng nể phục.

Lại còn có Raymond, một chủ đồn điền nho ở vùng Beaujolais. Ông ta đã tiếp tế rượu vang cho chiến khu, và luôn luôn khuyên chúng tôi nên uống loại Pouilly, loại rượu thích nhất của ông và không quên kể các câu chuyện đẹp nhất về mùa hái nho. Mỗi khi tham dự câu chuyện với ai, về một vấn đề gì, ông ta luôn luôn nói một câu: “chuyện của các anh đẹp quá, nhưng phải ăn cái đã; hôm nay các anh ăn gì?”, và bắt buộc mọi người nói chuyện ăn uống. Và sau đó là đủ hạng người khác, làm đủ nghề trừ thợ điện. Nhưng khi được hỏi ai biết làm điện, họ đều đưa tay, vì ngửi thấy chỗ dấu đồ ăn. Đó là thời gian trại bắt đầu được xây dựng, và sự táo bạo nhiều lúc đem cho họ phần thưởng, vì chỉ cần độ chục người rành nghề là số còn lại đóng vai trò phụ việc. Họ luôn luôn nghe những câu chuyện nổi bật ấy và nhờ đó thời gian chờ đợi ở sân ga trở thành nơi dễ chịu nhất trong ngày.

Trong số các người đến chơi với chúng tôi, có một nhóm khác cũng chuyên về điện, họ chỉ có sáu người, năm Pháp và một Nga, nhưng có địa vị tốt hơn chúng tôi. Trong khi phần lớn công việc được giao cho chúng tôi, họ chỉ phụ trách các công tác nhỏ trong văn phòng các nhân viên dân sự và trong doanh trại lính canh. Luôn luôn có chuyện hư hỏng cần sữa chữa và nếu cần, cũng có thể tạo ra một vụ hư hỏng dễ dàng. Người chỉ huy họ là một cựu quân nhân SS, xấu tánh như hủi, nhưng đối với họ thì rất đàng hoàng. Lãnh đạo nhóm là một người gốc ở Lorraine, thành phố Nancy, tên André; anh ta cũng là cựu tù binh chiến tranh như tôi và từ ít lâu nay, chúng tôi đã gợi cho nhau các kỷ niệm chung. Liệu chúng tôi có chịu trốn khỏi trại giam tù binh chiến tranh không, nếu biết rằng làm như vậy để rồi lại rơi vào các trại tập trung nầy? Thật khó trả lời. Cuộc vượt ngục là một cuộc phiêu lưu kỳ thú, và rồi còn tất cả những gì tốt đẹp tiếp theo đó nữa chứ. Anh ta cũng bị rơi vào một vụ lộn xộn và tại miền Đông nước Pháp, trong những vụ như thế người ta đi đến nơi đến chốn, không thể có thái độ lừng chừng được. Đấy chính là một phong trào sang lập bởi các cựu tù binh chiến tranh đã trốn thoát. Được chỉ hướng khá rõ, nhưng từ từ vì cần phải tìm hiểu mình đang tâm sự với một người như thế nào, và dần dần chúng tôi khám phá ra rằng cả hai chúng tôi cùng làm việc trong cùng một tổ chức nhưng tại hai vùng khác nhau, chúng tôi kể tên những bạn chung, và người bạn mới hé cho tối thấy các khả năng của anh ngoại trừ một mà anh hứa để dịp khác. Tôi ép buộc quá, anh ta cũng chỉ nói tới mấy tờ báo trên bàn ông chủ và các cuộc nói chuyện mà anh nghe lỏm được trong khi làm việc, vì anh phụ trách về điện trong các văn phòng kỹ sư Đức nhờ biết tiếng Đức. Ngày 21 tháng 7 lúc 15 giờ, André, với một thái độ quá bình thản đến nỗi tôi không chú ý gì cả, đến tìm tôi. Dãy trại làm việc của anh không xa chúng tôi và qua công trường; chúng tôi tự do nói chuyện. Lẽ tất nhiên là với một cái kềm hay một đoạn dây điện trong tay và với vẻ lo lắng cho công việc. Tôi từng đến chỗ ở của anh để lấy vật liệu, nhưng lần nầy là cả một sự ngạc nhiên được ao ước từ lâu. Trong phòng giấy của ông chủ, trên bàn, có một máy thu thanh lật ngược, có vẻ đang được sửa chữa. Mắt André nói nhiều hơn tôi. Vì tôi nín lặng, anh giải thích: “Sao, anh không hiểu hả? Nó đã được sửa xong sáng nay, ở đây nhiều máy thu thanh thường được đưa đến để sửa, ông xếp phụ trách sửa chữa nhưng cả buổi chiều ông ta vắng mặt. Vả lại đã có Guy canh chừng, anh biết rồi, Guy là chú bé ở Toulouse luôn luôn làm việc tại kho vật liệu đó. Nào, phải làm gấp, buổi phát thanh sắp, đến chỉ còn 10 phút nữa thôi”. Tôi đã hiểu từ lâu. Không sao, có thể để đau tim, nhưng định mang đã lựa chọn chúng tôi, không nên chần chừ.

“Đây là Đài phát thanh Luân-đôn…

“Chúng tôi chưa có được mọi chi tiết về vụ mưu sát mà Hitler 1 chỉ bị thương xoàng đã thoát chết nhờ phép lạ… Ảnh hưởng vang dội tại Đức rất lớn lao… Cần đợi các giờ phát thanh tới; quí vị sẽ biết các biến cố quan trọng…”

André nắm chặt tay tôi và tôi cảm thấy móng tay anh bấm sâu vào da thịt tôi.

“Hình như phong trào do các sĩ quan thuộc Bộ Tổng tham mưu cũng với các nhân vật chính trị kỳ cựu lãnh đạo, càng ngày càng lan rộng… Cách mạng bùng nổ tại nhiều thành phố. Một từ báo ở Stockholm loan báo hải quân tại Stetlin ra tại Kiel đã nổi dậy…”

Chúng tôi nhìn nhau, mắt đỏ ngầu, cổ họng khô đắng, có ra đi ngoài hành lang, André đưa tay tắt mày, nhưng chúng tôi đã nghe khá nhiều rồi. Một sự thèm muốn nhảy ra ngoài không cưỡng lại được, để hết to hết sức “Anh em ơi! Hết rồi, các anh tự do rồi!”. đã tràn ngập trong lòng chúng tôi.

Chúng tôi bước ra và cố gẵng giữ bình tĩnh. Mặc dù cọ tự chủ, tôi vẫn thấy chân mình run bây bẩy, nhưng trước mặt chúng tôi không có gì thay đổ cả. Mọi người vẫn làm việc và công trường giữ vẻ bình thường.

Chúng tôi nghĩ rằng các nhân viên dân sự và quân lính chưa biết tin vì đang chăn gát chúng tôi, nhưng trong vài phút tới chúng tôi sẽ chứng kiến họ bỏ chỗ và chạy tán loạn. Chúng tôi lẻn đi tìm Rudolph và kể cho ông ta nghe những gì mà chúng tôi coi như hãy còn là một nguồn tin bí mật và độc quyền.

– Các con ơi, – ông ta bắt đầu nói, – mặt tái mét, nếu các con biết mình vừa trình bày cái gì thì rõ rệt là các con chưa biết thế nào là bọn Quốc Xã… Tôi đã nghe tin vụ mưu sát nầy rồi; đừng có một ảo tưởng nào cả, người Anh tuyên truyền cũng láo khoét như Goebbels vậy. Bản tin được họ soạn trong các sào huyệt ở thủ đô các nước trung lập và thường do điệp viên trong đạo quân thứ năm viết. Tin tải đi, một cuộc cách mạng là chuyện không thể có được, khi nào mặt trận còn vững và vẫn còn cách xa biên thùy của Đức Quốc Xã quá… Nếu Hitler bị giết, thây ông ta sẽ làm cho chế độ vững chắc thêm vì các người kế vị sẽ tán dương ông ta như là một người hy sinh vì chủ nghĩa.

Tôi có cảm giác Rudolph nói thành thật, nhưng lý luận của ông ta làm chúng tôi phát cáu và André lập tức nói nhỏ vào tai tôi “Dẫu sao đó cũng là một tên Đức!”. Chúng tôi không thể chấp nhận rằng những phút say mê mà chúng tôi vừa trải qua lại không để lại được gì. Rudolph gần như muốn làm chúng tôi mất mặt với kinh nghiệm già dặn của ông, nhưng thật là êm dịu khi ta được ru trong ảo vọng. Tuy nhiên ông ta có lý. Báo chí hai mươi bốn giờ sau, không dấu gì cả, và nhan đề một bài báo đập vào mắt ngay trang đầu “Bọn phản bội tắm trong máu”. Dưới một tấm hình Hitler khá lớn có câu chú thích: “Thượng đế đã giữ Ngài lại với chúng ta”.

Nếu sự kiện là thật, đài B.B.C đã quá phóng đại, đó chỉ là một cuộc cách mạng trong lâu đài; cả dân lộc Đức vẫn làm việc và chiến đấu một cách mù quáng và đối với chúng tôi thật là kinh hoàng. Như một tia nắng trong bầu trời xám ngắt, chúng tôi thấy ngày kết thúc sắp đến gần, một sự chấm dứt đã đưa chúng tôi, những người tính toán qua phía hàng ngũ bi quan. Khốn thay quả thật tin về cuộc nổi loạn của hải quân cũng là tin vịt. Trong mỗi dòng chữ của tờ báo, giận giữ và vẻ ngạo mạn của bọn Gestapo bùng nổ, chúng vẫn làm chủ tình thể. Cuộc mưu sát chỉ như là phần thưởng của một thời kỳ khoan khoái bắt đầu từ lúc có cuộc đổ bộ, nhưng rồi tan biến thật nhanh. Các chiến thắng của quân Nga tại Ba Lan và tại các Quốc gia vùng biển Baltique cũng không có ý nghĩa gì quan trọng đối với các bộ óc phải học ở đây về địa lý thế giới, và cuộc kịch chiến vẫn không thay đổi trong vùng Normandie. Riêng phần Ý Đại Lợi, không ai chú ý đến đó nữa. Thêm vào đó, nồi súp càng ngày càng trong veo và người lạc quan nhất cũng đột ngột bị suy sụp tinh thần. Từ khi có cuộc đổ bộ, và trái với điều được tiên liệu, kỷ luật được siết chặt hơn bao giờ hết. Một phần lính canh trong đó có Hans đã được gởi ra tiền tuyến, và những lính trù bị già thế chỗ. Họ lại còn quá sá hơn, nghi ngờ chúng tôi như mắc bệnh dịch hạch. Nhưng chính trong hàng ngũ của chúng tôi mới cần đề phòng gắt, và trong lâu dài, người ta lạc lối trong hệ thống gián điệp và phản gián điệp.

Paul, tên Kapo gốc Alsace đã bị Đức hóa hoàn toàn. Chính y đảm nhiệm việc phân phát đòn bọng cho tù nhân vì các lỗi nhẹ: 10, 20, 30, 50 cú vào mông, bằng gậy hoặc bằng dây điện. Mỗi khi viên Thượng sĩ SS già cần một người tình nguyện, thì Paul xông ra ngay. Y trở nên đẫy đà, ăn mặc đầy đủ. Cả một bầy điểm chỉ viên dưới quyền y, và y tiên đoán là bọn Anh Mỹ sẽ không bao giờ quá được hàng rào của Quân lực Đức, và chẳng bao lâu họ sẽ bị đánh bật ra biển khơi. “Tôi đã từng là Thiếu úy trong quân đội Pháp, – y giãi bày với một tên SS – và tôi biết rõ thứ quân đội đó.”. Đôi khi y la cà vào đám tù Pháp như bị dằn vặt bởi một sự hối hận nào đó, nhưng y được tiếp đón bằng một sự im lặng lạnh nhạt. Lúc đó trong cặp mắt ti hí của người ta có thể đọc thấy nỗi sợ hãi, có lẽ y nghĩ “Nếu tất cả không chết hết, tất có người sẽ nói lại”, và y rút lui với vẻ mặt đe dọa làm ta rùng mình. Chức vụ của y cho y mọi quyền hành đối với tù nhân. Y giống như là một tên Kapo cảnh sát; y không phụ trách đặc biệt một toán lao tác nào, mà là toàn diện công trường, và chính y có thể ban phát hình phạt. Chính y đã thường làm như thế để chứng tỏ cho chủ biết y không phải là kẻ bất lực. Và kết quả là y bị thù ghét hơn cả bọn SS.

Ở đây cũng có cơ quan Gestapo, thứ thiệt. Trong mỗi cộng đồng tại Đức, cơ cấu Gestapo đều được thiết lập. Tại đây, văn phòng đó được đặt trong một dãy trại ngay lối đi vào công trường, có một ủy viên mập ú và một nữ thư ký tóc vàng. Mọi người ai cũng biết hai tên đó, tuy nhiên kẻ săn tin lại cũng ăn mặc như chúng tôi và thật khó mà đánh lạc hướng chúng. Không nhất thiết điểm chỉ viên là một tên được ưa đãi. Trái lại, một người có thể rách tả tơi trong một biệt đội cực khổ nhất vì một điếu thuốc hay một mẩu bánh mì, cam tâm chịu báo cáo nhưng danh số nào có thảo luận “chính trị”. Những tên chó săn nguy hiểm nhất là bọn Tzigane. Vì vậy, tự nhiên người ta xa lánh không dám nói chuyện với chúng. Nụ cười của chúng chứa gươm dao và nếu Đồng Minh đột ngột tiến tới trại nầy, chúng là những kẻ đầu tiên treo cổ những người bảo bọc chúng đêm trước, bởi vì chúng sẵn sàng phản lại bất cứ ai.

Viên quản trại bị thay thể vì ăn cắp quá nhiều của nhà bếp, người thay thế từ Dora đến. Lập tức những tên đặc biệt nhất trong bọn gitan tự hiến dâng để được phục vu. Nhưng thất vọng! Ông chủ mới có vẻ không ưa chúng, và ông ta chọn một chú nhỏ Ba Lan. Như vậy, chúng mất ảnh hưởng. Chú nhỏ mới được ưu đãi chỉ có 15. tuổi và người ta tự hỏi không biết hắn có phải là đại biểu cho phái nam hay không. Lúc điểm danh, khi ông chủ đi qua các hàng người, hắn lẽo đẽo đi theo như một nàng công chúa trẻ với áo quần được sửa lại đúng kích tấc và với đôi giày đánh bóng. Hắn ăn ngay khi nào thấy đói, và ăn khoai nghiền với thịt và uống bia. Bạn bè biết hắn thuở cực khổ, tìm cách nói chuyện, cười với hắn và nhắc nhở các kỷ niệm đẹp. Tùy hứng hắn phân phát cho vài lít súp vì hắn có một “ngân sách” thực phẩm có dư séc làm thỏa mãn cả chục người đói khát. Lúc rảnh, hắn đi đến các khối thăm đồng nghiệp, những người nầy bằng lòng coi viên trưởng khối là chủ nhưng lại được hưởng lợi vật chất giống nhau, và đừng quên, bị nhiều bất tiện như nhau. Chúng cùng nhau hút thuốc, không có vẻ gì là say mê và cả một rừng mắt sáng long lanh rình các tàn thuốc do chúng vứt đi. Tại Buchenwald, một trưởng khối bị trừng phạt nặng nếu làm một hành vì trái thiên nhiên, nhưng ở đây sự hư hỏng toàn diện làm chủ, và quá nhiều kẻ tình nguyện dâng hiến thân thể mình đánh đổi thực phẩm; biết bao nhiên là lời châm biếm cay chua chờ đợi những người từ chối mọi sự nài xin khẩn cầu, thích bị nghèo khổ hơn là bị mất danh dự. Phải có biết bao nhiêu là can đảm và hơn thế nữa, mới cưỡng lại được với sự cám dỗ. Thật đáng buồn… Những thanh thiếu niên đó tượng trưng cho một mẫu người mới trong số cả một loạt nạn nhân của Hitler. Được đưa đến trại tập trung ngay từ khi còn bé con, đói khát đã làm mất nơi chúng mọi ý thức và bây giờ, được ăn là đủ, chúng chỉ có một ưu tư: bảo vệ địa vị, không bao giờ chúng nói đến biến chuyển của tình hình, và chiến tranh không có gì quan trọng đối với chúng. Vậy thì tốt hơn là tránh nói chuyện khi có mặt chúng, vì sau khi bán thể xác, tâm hồn của chúng không còn đáng giá nữa.

——————————–

1Đọc: “Những trận đánh lịch sử của Hitler” – Sông Kiên xuất bản – Sách đã in lần thứ II.

Một trời một biển

vietmessenger.com

Nguyễn Tấn Hưng

Phần 5. Mãi mãi còn lâu

Chiều Qui Nhơn hôm nay vẫn buồn buồn như mọi khi. Bầu trời âm u, không nắng không mưa. Những đám mây trắng đục lãng đãng giữa thinh không trông như những tảng băng sơn trôi lềnh bềnh trong lòng biển chết. Sâu thẳm và đen ngòm. Tất cả như đang rơi vào một cõi vắng xa. Trâm cảm thấy như vậy.

Sau lưng nàng, cái phi trường ồn ào ngày đêm kia như đã biến mất. Trước mặt nàng, trường Kỹ Thuật và quân y viện Duy Tân như cũng đắm chìm trong vùng tăm tối bao la. Xa hơn một chút, xóm làng Gành Ráng với những ghềnh đá nhô ra tận biển, trên đồi đó có ngôi mộ của thi sĩ Hàn Mặc Tử vang bóng một thời, cũng đã nhạt nhòa trong không gian xám xịt, thẫm đen. Và bên kia đồi, dưới thung lũng, là nhà thương và trại cùi Quy Hòa, làm sao nàng có thể hình dung ra được.

Ngoài xa kia vùng biển khơi sóng dậy trùng trùng, lấp lánh một vài chiếc thuyền con bồng bềnh với những cánh buồm cũ mục, trồi lên hụp xuống từng cơn. Sát vào bờ, những lượn sóng mang đầy bọt trắng xóa, không ngớt thi nhau xóa sạch dấu chân và những lâu đài trên cát của loài dã tràng. Im lìm hơn, màu xanh của muôn ngàn ngọn rau muống biển, hàng hàng lớp lớp ngoi lên, như muốn vây chặt khu gia binh phía bên kia đường, không cho một người nào thoát xuống bãi.

Hơi lạnh chạy dọc theo hành lang nội trú, phảng phất quanh người làm Trâm bỗng thấy se da. Mặc dù nàng có chiếc áo len mỏng choàng hờ qua vai. Từ trên lan can tầng hai nhìn xuống, không một bóng sinh viên sư phạm, giám thị, hay ngay cả một người làm công nào hết. Ðìu hiu quạnh quẽ thật. Như chính trong tâm hồn Trâm. Nàng cũng không ngờ mình đã dám đi đến một quyết định cứng rắn và dứt khoát đến là như vậy. Nàng đã nhiều lần xót xa từ chối không tiếp Hải, người mà nàng dan díu và yêu mến từ những hai năm qua. Hai năm cuối cùng của ban trung học, hai năm của đùa vui văn nghệ văn gừng, bích báo và chữ nghĩa văn chương…

Rồi sao lại anh đường anh tôi đường tôi?

Con người gì mà quá độc đoán, nông cạn! Làm cái gì cũng không cho. Quen biết bạn bè với ai cũng không được, cho dù là bạn gái. Vô lý thật!

– Anh thấy em viết văn chỉ để làm mất thì giờ và làm thơ chỉ để hao thêm giấy mực, thế thôi!

Tại sao Hải có thể nói với em những lời như thế được chứ? Tại sao Hải không chịu hiểu cho em? Một ước mơ nho nhỏ làm vui! Ðể bây giờ em phải sống trong đơn lẻ, dằn vặt như thế này? Anh có biết? Bạn bè cùng phòng với em, cuối tuần, đứa nào cũng có người tình đến thăm, đưa nhau rong chơi khắp phố phường, tiệm quán. Còn em, như một nữ tu giam hãm linh hồn mình trong bốn bức tường chủng viện. Hải ơi, em hứa sẽ yêu anh đến trọn đời, nhưng với một điều kiện, xin anh hãy để cho em tự do hơn có được không? Tại sao anh lại nỡ hờn ghen với những mộng mơ, trăng gió của em chứ?

Rõ ràng, Trâm biết nàng không thể tiếp tục với ông cai ngục tương lai của đời mình! Trâm đành phải thoát lấy thân, trốn chạy cảnh tù tội. Bây giờ, hai đứa chưa hẳn đã là gì của nhau, thì tốt hơn nên sớm liệu mà xa nhau. Và Trâm đã làm. Một cách quyết liệt. Mặc dù những lúc đêm về, trong cái tập thể cô giáo làng tương lai này, Trâm rất cô đơn. Nàng vẫn chưa quên được vòng tay âu yếm của Hải, mùi thuốc lá quen quen, và đôi môi đầy tham lam, quấn quít…

– Anh đừng đến đây tìm em nữa! Em sẽ không tiếp anh đâu! Vì xem ra càng ngày hai đứa mình càng không có điểm gì tâm đầu ý hợp hết. Tại sao anh cứ mãi bắt em làm theo ý anh, theo kiểu chồng chúa vợ tôi? Anh hãy đi về đi và đừng bao giờ trở lại. Xin anh hãy để cho em bình yên trong thế giới của riêng em.

– Thế giới của riêng em? Tức là không có anh trong đó! Nếu nói như vậy thì trong hai em đã chọn một, và em không hề có ý định chọn anh, có phải? Thôi được, anh sẽ để cho em nằm đêm tự suy nghĩ lấy. Nhưng anh vẫn giữ ý định của anh, em phải là của riêng anh. Anh không muốn em thư từ, hình ảnh với ai nữa hết, em nghe không?

Trâm không ngờ Hải cố chấp như vậy! Mà tại sao nàng lại quá thành thật với Hải chứ? Chuyện gì nàng cũng đem kể hết cho Hải nghe, tỏ rõ nguồn cơn. Ôi, thế mới biết là mình nhẹ dạ, nông nổi. Và cũng bởi tánh nàng rất thẳng thắn, nhứt quyết không muốn lừa dối bất cứ ai, ngay cả với chính mình. Giờ, dây chuông kể như đã cắt. Duyên phận nàng coi như một chuyến đã lỡ làng rồi. Trâm thở dài…

Bỗng, Trâm nhớ đến Thành, người anh tiền tuyến ở trường Hải quân. Và những bức thư đi đi về về đã bao lần sưởi ấm con tim lẻ loi, đơn điệu. Nàng bước vội về phòng, kéo ngăn tủ tìm lá thư mới nhất của Thành. Mặc dù tuy là lá thư mới nhất, nhưng cũng lại là lá thư được nàng đọc đi đọc lại nhiều nhất. Nàng nhảy phóc lên giường nệm tầng trên, trùm chăn lên tận cổ, đọc lại lần nữa:

Nha Trang ngày…

Trâm thương mến,

Anh không ngờ Trâm của anh lại là người đang sống trong cô đơn lạnh lẽo. Chuyện tình của Trâm kể ra cũng hơi buồn vào đoạn cuối. Nhưng không sao, thường trong một cái chết đều đã có sẵn cái mầm sống, cho đúng luật nhân quả tuần hoàn của đất trời. Cái mầm sống ấy vốn là nỗi vui “muốn làm gì thì làm,” “làm báo,” “viết văn,” “thành lập thi văn đoàn,” “kết bạn với các nhà văn nhà thơ,” v.v. mà Trâm đã đề cập đến trong thư. Tuy nhiên, Trâm nói rằng Trâm “chỉ có mỗi một sở thích nhỏ nhoi đó thôi” mà cũng bị anh ta “cấm đoán,” thì cũng đâu có oan gì cho lắm. Nhỏ nhoi sao được? Trâm không thấy cái sở thích đó là cả một đời người hay sao? Và chính Trâm đã coi trọng cái sở thích đó hơn cả người tình của mình, cho nên cuộc tình học trò ướt át, nên thơ đi đến tan vỡ là phải. Thường, theo ý anh, những tâm hồn nghệ sĩ rồi sẽ phải tìm kiếm và kết hợp với những tâm hồn nghệ sĩ thôi. “Yêu nhau là cùng nhìn về một hướng chớ không phải ngồi đó mà nhìn nhau,” nói theo kiểu St. Exupe’ry. Bằng không, những tâm hồn nghệ sĩ cần phải kết hợp với những tâm hồn rộng lượng, vị tha, biết sống cho người tình của mình (lắm khi còn nhiều hơn cho cả chính mình nữa). Trường hợp của Trâm đã không rơi vào hai môi trường kết hợp căn bản trên, với những điều kiện cần và đủ của nó.

Tình yêu, theo anh nghĩ, phải có hai phần: tâm hồn và thể xác. Ở người mình yêu và ở ngay chính mình. Thiếu một trong hai là không ổn. Chỉ đơn phương từ một người là không ổn. Bởi vậy, cần phải có sự hài hòa của cả hai về cả hai mặt. Ðể có thể nói tuy hai mà một. Nhưng thử hỏi, có mấy ai tìm được những người tình và những mối tình trọn vẹn như vậy chớ? Nói đến những mối tình, có lần anh nói với một thằng bạn rất gần của anh, rằng, mầy chỉ biết yêu những mối tình bé bỏng, lẩm cẩm đã đi qua đời mầy, chớ mầy không biết và chưa hề yêu đúng nghĩa một người tình nào hết. Thậm chí, chưa biết tương tư là gì. Và chính nó, nó cũng công nhận như vậy. Cho nên, việc khám phá thế nào là tình yêu, thế nào là người tình, chắc còn phải tùy thuộc vào từng cơ hội, từng hoàn cảnh, từng tâm hồn phải không Trâm?

Tuy nhiên, cũng theo anh nghĩ, cái gì tròn trịa quá thì chẳng hóa ra là một số không to tướng, có phải không?

Bây giờ, cho dù anh có yêu Trâm đi nữa thì anh chỉ được phép hiến dâng cho Trâm có mỗi một nửa thôi: phần tâm hồn. Phần thể xác thì chắc phải nhường cho người khác! Ít ra trong giai đoạn anh còn phải trụ trì ở chốn quân trường… đổ mồ hôi này tối thiểu hơn một năm rưỡi nữa. Vả lại, tình yêu của anh đến với Trâm không phải là những bức thư mang theo vòng tay ấm áp, bao dung này của anh hay sao? Bao giờ Trâm còn mong đợi, còn trông chờ từng phút từng giây những cánh thư của anh là ngày đó Trâm còn yêu thương anh, chịu không? Anh rất hi vọng rằng những dòng chữ này sẽ sưởi ấm phần nào trái tim đang độ cô đơn, ray rứt của Trâm.

Thôi, ít hàng cho Trâm của anh. Mong Trâm hãy đổi buồn làm vui, nỗi vui bất tận của cả cuộc đời. Cho anh hôn em kỷ niệm…

Thương em,

Thành

Trâm cảm thấy hình như Thành đã thấu hiểu hết tâm can gan ruột mình. Mặc dù hai đứa chưa hề gặp nhau, chỉ nhận biết nhau qua mấy tấm ảnh vô tri vô giác. Có phải chăng Trâm lại nông nổi, nhẹ dạ một lần nữa? Nàng mỉm cười với chính mình! Sao chuyện gì nàng cũng kể cho Thành nghe hết vậy? Trong thư! Ngay cả cuộc tình đầu trắc trở của mình với Hải. Thành ơi, anh có ghen hờn với Hải, với mơ mộng gió trăng của em không? Có lẽ không, Trâm cảm nhận như vậy! Thành bao dung, che chở, và già dặn tình đời hơn Hải nhiều. Thành lại cao ráo, đẹp trai như trong ảnh. Thành của em, Trâm gọi thầm, rồi bất giác chu mỏ, đặt môi hôn lên làn giấy láng.

Trâm tự hỏi phải chăng nàng đã khám phá ra thế nào là tình yêu, thế nào là tương tư như Thành đã ngụ ý với nàng trong thư? Phải chăng Trâm đã yêu Thành? Ðúng vậy, em đã yêu anh mất rồi Thành ơi! Vì ở đây, không ngày nào, không giờ nào mà em không mong ngóng thư anh. Vả lại, em tham lam lắm anh à, em không muốn dừng lại đó. Em muốn hết cả hai, tâm hồn và thể xác của anh cơ. Nếu anh không tìm ra Qui Nhơn được thì em sẽ kiếm đường vào Nha Trang. Trong một ngày gần đây. Em không thể chờ đợi anh thêm những một năm rưỡi trời đằng đẵng nữa…

Trâm quay sang hỏi con nhỏ bạn đang nằm học bài trên giường kế bên:

– Ê, từ đây vào Nha Trang bao nhiêu cây số hả Hằng?

Con bạn ôn dịch của nàng cười ha hả, giọng chị cả, chua chát lên tiếng:

– Hỏi chi lạ rứa! Răng mi tính đi xe đò vô đó tìm chàng? Vừa vừa thôi nha mụ non, trâu tìm cột chớ cột nào tìm trâu. Hãy chờ thêm một xí nữa là sẽ có ngày tàu chàng ủi bãi trước cổng trường và chừng đó mi làm ơn đừng có gọi tao đi chạy trốn nhá con quỷ sứ!

Trâm thở dài thườn thượt, kéo chăn phủ luôn lên cả mặt, cả đầu. Cái ngày mà Hằng và nàng mong đợi sao như mãi mãi còn lâu…

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều – Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 19 Nov 2025

Phần 20.

Bụi rau Dền Gai

Buổi sáng, những tia nắng rừng vạch sương rọi thẳng xuống sân trại. Những tàn cây, thân thẳng như những chiếc đũa chọc trời, không đủ sức che những vạt nắng càng lúc càng hừng hực trên lưng người tù. Những chiếc ba sườn cong lên khi người tù khom xuống.

Một ngày như mọi ngày, đám tù tập họp chờ lao động. Hơn ba tháng lao động giữa rừng xanh, cơm mục lẫn sạn cát, canh măng trộn muối, ngủ không mùng, đi chân trần, đau ốm không thuốc men, chết nhẹ nhàng như giun dế. Cả chục người chết chỉ mới mấy mươi ngày tập trung lao động, chờ hoài không thấy bút giấy, học hành gì. Thét rồi dường như người tù nhận luôn cái số kiếp con người lên khu rừng này chỉ có nhiệm vụ lao động và ngả xuống theo ông bà, không cần một giọt nước mắt của mẹ cha. Hà quay sang người bạn thắc mắc:

– Mày thấy bữa nay có cái gì là lạ không?

– Ừ! Nói nhỏ nhỏ vậy! Tụi nó nghe rắc rối!

– Lẽ ra bây giờ đã chui hết vào rừng cắt tranh và xắn măng, bây giờ còn đứng đây, chả có lệnh lạc gì! Tao thấy trên trại có mấy tên mới đến!

Toàn trại gần như im thin thít. Gần với cái chết, gần với bệnh tật, gần với cảnh chôn bè bạn không một miếng ván hòm… làm cho đám tù chai đi, ù lì và phó mặc. Nhưng quả thật, trong đầu đám tù, người nào cũng có những thắc mắc y như Hà . Bỗng mọi người không hẹn, mấy trăm cái đầu quay nhìn về văn phòng trại trưởng. Trung Ống Vố đi với một tên cán bộ lạ mặt, thẳng xuống sân trại, sau hắn là hai tên bộ đội súng cầm tay. Dường như cả hai khẩu AK đều trong tình trạng tác chiến.

– Tất cả các anh, thứ tự từng dãy trại, mang hết đồ đạc ra sân tập họp và chờ lệnh. Các anh nghe rõ không?

– Rõ!!

Đám tù như những cái máy, tuần tự ra sân sắp hàng.

Bóng nắng đã nghiêng góc. Rừng Kà Tót hôm nay khác lạ, ngay cả chiếc lá rơi cũng không bình thường, nó không rơi xuống đất mà đậu trên vai người tù, nhẹ nhàng, êm ái. Tâm trạng những người tù cũng không giống như mọi ngày. Một chút âu lo, một chút hy vọng. Có kẻ lại cóc cần… .

– Kệ mẹ nó! Đi đâu cũng được! Miễn là thoát được chỗ này!

– Ê mày ! Mấy thằng sốt rét bò càng mỗi đêm lên cơn sốt làm sao nó chuyển trại?

– Tao đâu biết? Cái thân tao, tao không biết có lết nỗi vài chục cây số đường rừng hay không thì còn lo cho ai được! .

– Không chừng lúc tụi mình đi, mấy ông nội sốt rét sợ cọp ăn cũng phóng theo. Mày khỏi lo!

Trên ban chỉ huy trại, một tên bộ đội bỗng ôm ra mấy cái võng. Hắn bỏ võng xuống đất và nhìn vào đám tù. .

– Ê? Anh kia? Ra khỏi hàng… Anh kia! Anh kia nữa!…Khẩn trương lên! Hai anh nhận một cái võng, nhanh lên?

– Thưa cán bộ! Tôi yếu, mới hết cơn hôm qua, chắc khiêng không nổi?

Một tên bộ đội lên nòng đạn AK, nhát gừng:

– Tôi không cần biết? Anh có khiêng hay không thì bảo!?

Thế là đám tù tong teo phải thay phiên nhau võng những đám tù da bọc xương rời trại. Lệnh chuyển trại không hề được báo trước, nó đến một cách đột ngột. Nó cũng không cho đám tù biết sẽ về đâu. Đám tù dắt díu đưa nhau rời trại, vượt rừng theo một lối mòn hướng về liên tỉnh lộ số 8, hai bên súng ống bộ đội chạy ngược chạy xuôi …

Đoàn xe chở tù từ trại Kà Tót về đến Sông Mao thì trời đã về chiều. Trại tạm trú là doanh trại của một đơn vị bộ binh VNCH bỏ hoang phế tự bao giờ. Có một số tù các nơi được chuyển về dây mấy hôm trước. Họ đứng từng nhóm nhìn đám tù mới đến.

– Trời đất ơi? Mấy anh em này bị nhốt ở đâu mà ông nào cũng như ông nấy, ốm và xanh xao như những thây ma!

– Có mấy anh em không xuống xe được, làm sao mình tới giúp họ!

– Bộ mày muốn bị nằm chuồng cọp chắc! Mày không thấy mấy thằng bộ đội hầm hầm nhìn đám tù hay sao? Họ cấm quan hệ với người mới tới. Bộ mày quên tên cán bộ nói buổi sáng hay sao?

– Tao thấy dường như có mấy thằng bạn quen! ĐM, tụi nó hành con người ta cái kiểu gì mà thằng nào cũng như những con ma đói!

Khi mọi người đã xuống xe, tập trung điểm danh, bộ đội đuổi tất cả đám tù cũ đang tụm năm tụm ba bàn tán về đám tù mới đến về phòng. Hà nói nhỏ:

– Mấy ông nội kia ở đâu mà sao tao thấy họ còn mướt và khỏe mạnh quá vậy mậy?

– Tao loáng thoáng thấy mấy thằng Đà Lạt và Phan Rang. Có lẽ tụi nó trình diện ở Lâm Đồng, Đà Lạt hay Ninh Thuận thì phải. Tụi mình số con rệp mới trình diện ở Bình Thuận để bị đày lên Kà Tót. Chắc kiếp trước mắc nợ Trung Ống Vố! Nghĩ mà tội những anh em không về Sông Mao với mình!

– Ai?

– Sao mày ngu quá vậy! Mấy chục đứa chết trên Kà Tót kể từ lúc mất Lâm Đồng, vượt rừng về Phan Thiết bị bắt, và một số anh em nghe lời xúi dại trình diện sớm, như Biên, chi khu Tuy Phong…, đa số đều ngủ lại thiên thu trên Kà Tót. Về đây tao mới thấy cái sống, may ra!

– May ra là sao? Sao lại may ra?

– Thì ai biết?? Mình như con dế trong hộp, tụi nó rinh đi đâu thì mình chết dí ở đó. Ai cấm sáng mai, tuần sau tụi mình bị chuyển đi nơi khác còn tàn độc hơn Kà Tót!

– Kệ mẹ nó! Coi như hết số rồi! Tìm chỗ ngả lưng cái đã! Mai còn sống thì thấy mặt trời mọc, còn chết thì bỏ, lo nghĩ hoài mệt quá!

Đêm đầu tiên ở Sông Mao là đêm thần tiên. Đám tù ngủ say như chết. Sáng ra không thấy rừng cây u ám, không thấy những rừng tranh ngun ngút, không thấy lên rừng đốn tre, chặt mây… và không thấy cái cùm dài hàng chục thước xỏ chân người như xâu cá nục, nhung nhúc những rệp. Nhưng khi nắng lên, hực lửa đổ xuống mái tôn, anh em bỗng nhớ những tàn cây trong rừng Kà Tót, nhớ dòng suối uốn quanh bên sân trại, nước trong và mát. Kà Tót vô cùng nên thơ trong những đêm trăng tỏ, trừ những đêm trăng cọp gầm hay về chụp mấy con heo của trại. Trại không có hàng rào chỉ nghe tiếng lách cách của AK ở đâu đó, nó làm cho trăng vỡ, nó làm cho đêm thành ác mộng…

Cuối hè 1975, đầu tháng Tám, trời Sông Mao đổ nắng, nước không có, từng toán tù chia nhau đào giếng. Chẳng có giếng nào có nước trên vùng đất cao. Những ngày đầu chưa phân trại, nhìn ra bên ngoài hàng rào thấy dân qua lại cũng đỡ buồn, nhưng nghe tiếng bà bán xôi bắp rao hàng, hàng trăm bao tử của đám tù thi nhau co thắt. ..Đói! Cái đói trên rừng Kà Tót cận kề tử sinh nên nó ngủ yên, nay về đồng bằng, gần dân, gần thôn làng, gần với những giấc mơ được gia đình tiếp tế nên nó thao thức, nó đòi hỏi, nó dày vò. Trại thì cấp lương thực cho tù gần như lấy lệ kiểu nuôi mèo hoang, nên đám tù phải kiếm thức ăn như trâu bò để dằn bao tử.

Cả một khu doanh trại quân đội VNCH bỏ hoang mọc lên đủ thứ, khoai mì, rau đồng tiền, rau lang, rau dền trơn, rau dền gai nuôi heo và những cây bắp rài. Các toán tù đến trước đó vài ngày từ các nơi khác, khỏe mạnh, hồng hào, còn dự trữ thức ăn của gia đình, họ nhìn bọn tù về từ Kà Tót như những tên ăn mày đói rách, thất thểu lang thang dưới nắng hè tìm đủ mọi thứ rau để ăn dậm.

Lúc đầu thì chỉ nhặt các loại rau lang, đồng tiền, rau dền trơn. Vài ngày sau, đến bắp non, đọt mì… Và một tuần sau nữa thì sạch, chỉ còn những thảm cỏ còi cháy nắng và khu dền gai mọc cao hơn đầu người đầy sâu bọ, rắn rết. Hà nằm trong toán tôi. Tôi chịu đựng, lầm lì. Hà bất an lo âu.

– Anh Hai! Tụi mình quả ăn nhanh hơn trâu bò. Chưa đầy 10 hôm mà mình ngốn cha nó hết những thứ rau dại, cỏ hoang, mà vẫn đói thấy bà tổ. Chẳng hiểu tại sao mấy thằng chả cho tụi mình ăn như mèo!

– Ở Kà Tót, tôi thấy tụi mình là những con vật. Về đây, nhìn anh em Đà Lạt, Lâm Đồng, Ninh Thuận mình mới thấy hy vọng mình được đối xử như con người một chút. Nhưng đói thế này thì thành ma đói, cắt đi lao động là chắc chết! Hà có biết đại úy Nguyễn Văn Tư hấp hối tự hôm qua không? Chắc Tư ra đi trước bọn mình!

– Toán mình có bác sĩ Lê Bá Dũng mà!

– Bác sĩ Lê Bá Dũng làm gì được với mấy con trùng sốt rét tràn ngập trong máu Tư? Bộ anh tưởng hễ là bác sĩ thì có quyền án ma ni thần phù khỏi cần Chloroquine, Quinine, Fansida chắc!?

– Tôi không rành chuyện thuốc men. Không về đây, anh Tư cũng chết trên Kà Tót, về đây ảnh chết gần nhà hơn! Số kiếp! Thôi để tôi chạy tìm chút rau cỏ gì để cải thiện chiều nay.

Hà chụp lên đầu cái mũ làm bằng bao cát bước ra ngoài. Tôi nghĩ bụng, bây giờ là lúc Hà BĐQ tận dụng hết ngón mưu sinh thoát hiểm trong các lớp rừng núi sình lầy trước đây ở trong cái rọ này, mưu sinh thét rồi cũng không còn một cọng cỏ non, còn thoát hiểm thì vô kế khả thi! Ngày xưa, quân trường Sình Lầy Dục Mỹ đâu có ngờ, đâu có dự liệu cái ngày phe ta thê thảm như hôm nay.

Tôi qua phòng Lê Bá Dũng, Tư hai mắt lờ đờ gần như đứng tròng. Tôi phụ Dũng đổ một ít nước vô miệng Tư. Dũng lắc đầu. Dũng là y sĩ chỉ huy phó Quân Y Viện Đoàn Mạnh Hoạch và Tư là sĩ quan tài chánh. Hai người cùng đơn vị, hội ngộ trong tù, và sắp chia tay. Tôi là bạn học cùng lớp. Hai thằng trơ mắt, xuôi tay trước cái chết sắp xẩy ra trong giây phút của bạn mình. Tư tắt thở sau đó trên tay tôi và Dũng. Thêm một đứa ra đi. Những người ở lại cũng chai đá trước cái chết gần như định số, kẻ trước, người sau…

Buổi chiều, Hà trở về, kéo theo một bụi rau dền gai bị chặt gốc. Hay tin Tư qua đời, Hà khựng lại, thở dài rồi tiếp tục với bụi dền gai, coi như không có chuyện gì xẩy ra.

– Bụi dền gai tổ bố này Hà kiếm ở đâu vậy?

– Ở góc trại, sát hàng rào kẽm gai. Chỗ đó chui ra được bên ngoài là thoát, vì nó nối sát với một đường mương.

– Nhưng lạng quặng coi chừng vướng mìn phe ta còn để lại. Ớn bỏ mẹ!

– Bộ gần đó không có trạm gác sao?

– Bây giờ thì không. Tương lai thì không biết! Thôi bỏ chuyện này đi. Lọt tai cán bộ là khốn nạn!

Lần đầu tiên kể từ ngày lên Kà Tót và chuyển về đây bữa nay mới nghe Hà đề cập tới chuyện trốn trại. Bị cắt đứt với bên ngoài, bị khủng hoảng đến tê liệt tinh thần ở bên trong, tôi gần như không có ý niệm gì cho cái chuyện vượt thoát. Thế nhưng hôm nay, khi nói chuyện thì thầm với Hà, tôi bỗng thấy bầu trời bung rộng lớn hơn, màu xanh của đám cây ngoài trại dễ thương hơn, cánh chim trên bầu trời nhẹ nhàng hơn, và nỗi khát khao tự do bừng bừng trỗi dậy, nó trỗi dậy như sóng vỗ, và nó cũng tan mau như cơn sóng lùi ra biển khi tầm mắt nhìn vào lớp kẽm gai vây kín, bên ngoài lảng vảng bóng dáng những tên bộ đội đi tuần. Khi tôi tư lự Hà bắt đầu chặt bụi dền gai ra từng nhánh.

– Chiều nay toán mình bồi dưỡng mấy nhánh này. Phần còn lại cho ngày mai!

– Dền gai toàn là gai làm sao ăn được?

– Bộ anh không biết người ta bầm dền gai nấu cháo heo sao? Heo ăn được là người ăn được. Món này có trong danh sách các thứ rau cỏ mưu sinh. Lần này tụi mình mưu sinh, chuyện thoát hiểm hạ hầu phân giải!

Anh em xúm nhau lặt tất cả đọt non, tất cả lá, bất kể lá non hay lá già. Thân cây dền lô nhô những gai nhọn hoắc được anh em róc bỏ, chặt ra từng khúc, tước vỏ ngoài còn lại cái lõi bên trong. Đọt và lá luộc riêng, lõi thân dền luộc riêng. Cả đám chụm đầu nhau ăn buổi chiều, gạo mục, rau dền chấm nước mắm. Một bữa ăn thần tiên của anh em nhờ ngón nghề xưa của Hà.

Sang đến đầu năm 1976, trại Sông Mao được phân trại theo cấp bậc tù nhân dưới cái tên trên giấy tờ: Tổng Trại 8 Tù Tàn Binh Sông Mao thuộc quân khu 6 của Việt cộng. Trại A ở phía Đông tập trung tất cả sĩ quan từ đại úy đến đại tá. Đại tá Lê Hưng Phê, chỉ huy phó BĐQ/QK2 cũng nằm trại này. Trại B nằm ở giữa tập trung tất cả anh em sĩ quan cấp trung úy, và trại C nằm về hướng Tây gồm tất cả anh em thiếu úy và chuẩn úy. Tù nhân phải tự làm trại và hội trường lấy để chuẩn bị học tập chính trị.

Từ khi tổng trại gom tù các nơi về và chia làm ba phân trại, tôi ở trại A, Hà ở trại B, cách nhau một hàng rào kẽm gai gang tấc mà anh em lại xa như ngàn trùng. Sau gần 6 tháng xây trại và các dãy phòng học, toàn trại bị vùi đầu vào các lớp học chính trị tẩy não, nhồi sọ với bài học số một: “Đế quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân thế giới và là kẻ thù số một của dân tộc Việt Nam”… “Tội ác ngụy quân, ngụy quyền..”, “Ba dòng thác cách mạng..”, rồi thu hoạch, rồi kiểm điểm, toàn những thứ nhét vô lại trào ra, nhưng nó lại làm cho con người phờ phạc, thèm đi lao động, thèm phơi nắng giữa trời, thèm ật lộn với mồ hôi hơn là ngồi chồm hổm nghe những bài nhồi sọ.

Cho đến khi bắt đầu trở lại giai đoạn lao động, đám tù ba trại thỉnh thoảng mới gặp nhau. Dọc đường xe lửa các ga Sông Mao về phía Nam độ ba cây số, tù nhân ba phân trại được lệnh tập trung phá rừng thưa trồng bắp. Có những buổi trưa hạnh phúc khi nhìn đoàn tàu đi ngang qua. Có những buổi trưa hạnh phúc khi một vài cánh tay nõn bà con gái đưa tay vẫy về phía đoàn tù đang chống cuốc đứng nhìn đăm đăm.

Dường như ai cũng muốn tìm trong đám đông trên toa xe hình bóng thân thương của vợ con, cha mẹ. Một vài anh em vẹt nước mắt, không biết nước mắt hay mồ hôi. Có những toa tàu đi qua, có những toa tàu mất hút. Hà là người nhìn tàu hỏa đi qua một cách chăm chú như bị con tàu thôi miên. Tôi gặp lại Hà trên các luống bắp, đang nhìn theo con tàu. Tôi kéo Hà vào một bóng cây, nhìn quanh, không có ai, tôi hỏi.

– Hà! Khỏe hả? Sống bên trại B ra.sao? .

Dường như Hà gặp tôi mà quên cả mừng, quên cả trả lời câu hỏi. Trong đầu Hà đang bị một cái gì cuốn hút. Hà bất chợt hỏi:

– Nghe nói ngày xưa đơn vị đầu tiên sau khi anh ra khỏi lò Thủ Đức là An Ninh Thiết Lộ?

– Ừa! Lính xe lửa!

– Anh thấy sau khi rời ga Sông Mao chạy ngang khu rừng này mà xe chạy tốc độ mình thường thấy hàng ngày, anh có thể phóng theo nhảy lên tàu được không?

– Hà ơi! Tôi hiểu Hà rồi! Tội quá! Bây giờ hai cái giò tôi muốn teo lại không biết có chụp tàu được không, nhưng thuở xưa thì lính An Ninh Thiết Lộ lên tàu và xuống tàu dễ dàng với tốc độ này. Hà còn trẻ, còn khỏe, tôi không biết sao, nhưng nguyên tắc là phải chạy theo tàu gần với tốc độ tương đương, rồi chụp thành tàu phóng theo, không thể đứng một chỗ phóng lên tàu khi tàu chạy, và cũng không thể chạy chậm hơn tàu mà phóng được lên tàu. Vấn đề là có một khoảng thuận tiện để có thể chạy theo tàu!

– Tôi hiểu rồi! Thôi mình chia tay, hết giờ ăn trưa, tụi bộ đội đang đi tới!

Tôi lách ra, cúi đầu vun những gốc bắp. Hà biến mất trong mấy lùm cây. Hôm sau, Hà gặp lại tôi cũng vào giờ nghỉ trưa. Cũng lại một đoàn tàu đi qua. Mỗi đoàn tàu đi qua để lại trong đầu Hà một viễn tượng vượt thoát mạnh hơn. Hà tâm sự:

– Thú thật, trong số anh em, tôi biết anh hơn cả. Tôi tin anh hơn cả. Tôi lại biết cả đơn vị đầu tiên của anh, hay là tôi và anh tìm cách thoát. Về thẳng Sài Gòn, anh sống lang thang với tôi, sau đó tìm cách chui xuống miền Nam.

– Hà biết, khát vọng tự do, khát vọng thoát tù trong tôi không thua gì Hà cả. Tôi đã mơ ngàn giấc mơ. Tôi mơ trong giấc ngủ, tôi mơ khi ngả lưng nhìn những con chim bay, tôi mơ những đám mây lang thang trên bầu trời… Cái thân tôi đánh cuộc cái chi tôi cũng cóc cần, nhưng tôi mà thoát là cả 1 lò nhà tôi bị hết, bị vây bủa, khốn nạn. Tôi biết rõ cảnh này.Tôi chịu đựng, tôi an phận tù đày một phần cũng vì cái an nguy của gia đình. Chế độ này không từ một ai. Chế độ này không có chuyện ai làm nấy chịu. Họ cột nhau một chùm, họ cột cả nước một chùm.

Hà nắm tay tôi xiết mạnh.

– Anh giữ gìn sức khỏe. Tôi đã định một con đường. Anh cầu cho tôi nghe. Anh đạo Phật hả! Anh thầm tụng kinh cho tôi nghe!

– Ừ Tối nay, tôi sẽ lấy đũa làm nhang hướng qua trại B tụng Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế âm Bồ Tát cho Hà! Hà phải thật cẩn thận, kín đáo, đừng để ai hay, thoát không được thì tìm cách nhập vào toán lao động để về trại Tụi nó phát giác là tàn đời, Hà hiểu không?

– Anh đừng lo! Số tôi cao lắm!.

Hôm sau, các toán lao động lại tập trung ở rẫy bắp. Kể từ khi hết học tập chính trị và ra lao động đến nay, chưa có một vụ đào trại nào. Buổi trưa đám vệ binh chui vào bóng râm, các toán lao động cũng ngừng việc tìm bóng mát ăn trưa. Hà băng mình như con chuột lủi xuống ống cống và chui sang bên kia đường rầy. Trưa đó Hà không gặp tôi.

Chuyến tàu về Nam hú những tiếng còi dài rời ga Sông Mao tiến gần, càng gần đến ngang rẫy bắp. Tôi gần như bỏ ăn, hồi hộp nhìn đoàn tàu đi qua. Tôi hồi hộp sợ nghe tiếng súng nổ. Không có gì. Tôi mừng cho người bạn trẻ. Đoàn tàu mất hút. Tôi cứ đăm đăm nhìn theo mà tường chừng Hà đã thoát được lên tàu.

Mọi người lại bắt đầu lao động tiếp. Buổi chiều, trên đường về, toán lao động trại B về trước, đi ngang qua toán tôi, tôi kinh ngạc thấy Hà thất thểu vác cuốc đi chung toán, áo quần rách toạt mấy chỗ, chân đi cà nhắc. Hà nhìn tôi lắc đầu. Tôi nhìn Hà lắc đầu. Buổi lao động kế tiếp, gặp Hà tôi chưa hỏi được câu nào, Hà đã lên tiếng thì thầm:

– Suýt nữa là thoát. Tôi chờ toa chở gỗ sau cùng không có người, chạy theo kiểu anh nói, nhưng tôi chụp hụt thành tàu, té muốn gẩy bản họng. Chả ai thấy tôi. Tôi lăn xuống mé đường rầy, lom khom bò về ống cống, chui qua rẫy nhập bọn lao động tỉnh bơ. Phải trước kia ra trường tôi chui vô cùng đơn vị anh thì hay biết mấy !

– Tôi lo điếng người. Khi tàu mất hút, tôi cứ ngỡ Hà con chim xổ lòng tối nay tung tăng ở Sài Gòn!

Một thời gian sau, khi các toán lao động không làm việc chung trên cùng một đám rẫy, tôi không có cơ hội gặp lại Hà. Tôi không biết Hà còn ở trại hay đã “hổ mất xác”. Rồi mọi chuyện cũng quên đi. Một đêm Sông Mao lạnh cứng người, cơn mưa ném mạnh những hạt nước theo gió qua khe vách tù. Cái lạnh của đêm, của mưa, của gió, của những tấm vĩ sắt thay ván không ngăn nỗi những mệt nhọc của một ngày lao động mệt nhoài, đám tù cứ ngả lưng là lăn ra ngủ. Nửa đêm, bỗng có tiếng AK nổ, và thượng liên trên chòi canh nổ theo dồn dập. Có tiếng bộ đội cộng sản chạy thình thịch. Cả trại thức giấc. Cơn mưa lại tiếp tục. Tiếng súng không còn nổ. Nhiều anh em đoán chừng là có người vượt trại bên phân trại B. Tôi bỗng lo cho Hà và không ngủ được đến sáng.

Buổi sáng, trời tạnh mưa và mây tan. Mặt trời lên sớm. Tôi ra sân trại, vờ đi cầu ở hầm cầu gần hàng rào kẽm gai phân trại B để quay mặt nhìn qua một góc hàng rào đầy những bụi dền gai, nơi bộ đội cộng sản chùm nhum làm cái gì đó Bỗng tôi điếng người. Họ khiêng ra một xác người mắc dính dưới hàng rào kẽm gai.

– “Trời ơi? Hà!”

Hà đã tìm cách vượt trại ngay đám dền gai mà Hà phát giác từ lúc rời Kà Tót về Sông Mao và Hà đã thua cuộc.

Miền Nam đã không dự liệu được ngày 1975. Quân lực đã không dự liệu được cái cảnh mưu sinh mà không đường thoát hiểm, và Hà đã bỏ mình ngay bụi dền gai ban đầu trong những ngày mưu sinh trên vùng đất chết của cái gọi là Tổng Trại 8 Tù Tàn Binh Sông Mao. Tội nghiệp Hà, một con chim bất khuất, khao khát tự do, bị chết oan nghiệt trong chiếc lồng tù ngục.

Tôi biết gì về báo Nam Phong và về Phạm Quỳnh đối với đồng bào trong Nam

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 18 Nov 2025

Dẫn

Tôi thuở nay là đứa nhát đèn, nhưng có tánh ưa nói chuyện động trời, khi nói lỡ và viết lỡ, thì như con thỏ có tai dài, ở chung trong rừng với các chúa sơn lâm, thì cứ vẫn sợ bị nghi tai dài như sừng, và chỉ các chúa trong sơn lâm mới được phép có sừng, và khi ở chợ ở kinh thành, thì tôi rất sợ làm con bướm ham se sua khoe cánh vào đèn mà lửa táp cháy cánh không hay, và vẫn thích làm con dế mèn, trốn trong hang kín, khi trăng thanh gió mát thì xòe cánh gáy chơi … Bấy lâu có người tặng và gọi tôi là “học giả”, tôi xin nhìn nhận có lẽ là học giả giả thì được mà học giả thứ thiệt thì còn xa. Sách báo cho tôi đồng hàng với cụ Trần Văn Giáp, ông nầy là phụ tá chánh thức của trường Viễn Đông Bác Cổ, Pháp gọi assistant de l’Ecole Française d’Extrême Orient, còn tôi vẫn chưa ra chưa biết Hà Nội lần nào, chỉ khi Tây chạy vô đây, thiếu người dùng, và sẵn thấy tôi làm viên thơ ký ăn lương công nhựt nơi viện bảo tàng ở đây lúc đó, rồi dùng tôi luôn, còn như sánh tôi với Đào Duy Anh, thì xa nhau mười lăm bã trầu liệng chưa tới, Đào quân chữ nho chữ Hán đầy bụng còn tôi chữ nghĩa lem nhem không đầy lá mít, hoặc giả sánh tôi với Lộc Đình Nguyễn Hiến Lê có lẽ được và tôi nhìn nhận tôi là bạn và thường năng lui tới nhà anh và kính anh Lê như người thầy vong niên, nhưng nhờ tôi từng lặn ngòi lội nước, biết chút ít học lóm trường đời, nhưng một đôi khi anh Lộc Đình cũng chịu tôi khá khá về việc trong nầy: Đồng Tháp cũng từng, Sài Gòn tiêm hút á phiện, xóm chị em cũ đều từng đặt lưng hoặc từng chà lết chung chạ …

Có bao nhiêu nay xin khai hết và xin bỏ qua cho. Hôm nay, 29 tháng 11 năm 1992, có một bạn nhỏ đến nhà mời viết về đề tài trên đây “Nam Phong và ông Phạm Quỳnh, đối với đồng bào trong Nam”, tôi đã giẫy nẩy từ chối, và tôi khuyên ông bạn nhỏ hãy cậy bà Mộng Tuyết, quả phụ của thi sĩ Đông Hồ, là người biết rành hơn tôi và xứng đáng hơn tôi, nhưng ông bạn cứ nằn nì bảo viết rằng nay bất chấp và tha hồ … Vì vậy mà có bài “xả láng” nói huỵch tẹt nầy, mặc cho sấm sét búa rìu, thương nhờ ghét chịu, trâu già hết sợ dao phay!

Với cái tuổi 92, và chỗ sẽ đi tới vẫn khỏi thông hành chứng chỉ. Sợ gì? Miệng tuy nói vậy và bụng cũng không mấy hứng, vì bây giờ có tật sửa, xén, cắt và bỏ của mình gần hết, – nhưng lần này kể như lần chót hay thử coi ra thế nào. Nói về tạp chí Nam Phong trước.

Báo Nam Phong ngày nay giá mắc hơn vàng. Một tờ báo lẻ, giá tương đương có hơn hoặc bằng lương một tháng, nói đây là nói với người ham sưu tập chớ đối với trong đất Nam nầy, ngày xưa, khi phát hành, nhớ như lối năm 1917 gì đó, theo như tôi biết và chỉ nói riêng về tỉnh nhỏ nhau rún của tôi là tỉnh Sốc Trăng, vừa bị nạn sóng thần thăm viếng tan nhà nát cửa hai quận Long Phú và Vĩnh Châu, sóng leo lên bãi thì mặc kệ lượn sóng nó điên cuồng, người Thổ trong vùng, gọi “rồng hay cù dậy”, dân bổn xứ đã có chữ “sóng Thần”, nhưng ngoài kia không chịu chữ “Thần”, đổi lại gọi “Triều cường”, triều vả chăng là nước biển nước sông khi lên khi xuống thì gọi làm vậy, còn cường là mạnh, ai lại không biết, nhưng triều cường thế cho sóng thần, vẫn

chưa mấy ổn, cũng là tại cái tật của Nam Phong còn sót lại, báo Nam Phong năm nào đó đăng lại bài văn tế chúa Nguyễn Ánh tế thầy cả Bá Đa Lộc, có câu: “ … trời Phú Quốc”, trong báo N.P. sửa lại là … “trời cố quốc”, và ngày nay vô đây thấy hòn đảo, mới nhận “Phú Quốc” là đúng, và nhớ lại tỉnh Sốc Trăng khi báo N.P. ra đời, tỉnh có gần gần một trăm xã thôn, thì quan chánh bố ép làng mua hộ giúp N.P. rắc rắc gần đủ 100 niên báo, mà một năm báo như vậy giá chỉ có ba đồng sáu cắc bạc (3$60) tức ba cắc bạc mỗi tháng, nhưng trên biên lai thu tiền vẫn ghi 3$60 và viết thêm “ba đồng sáu hào chỉ”, dân trong nầy hồi đó đều cười và nói thầm với nhau, cắc bạc là cắc bạc nói phứt cho rồi, hào chỉ (hầu chỉ tiếng Quảng Đông) lại cũng nói theo Tàu chưa bỏ, còn báo thì – khi tôi khởi sự ham sưu tầm và tìm mua, thì mọi làng đều trả lời: “Không ai hiểu báo nói gì, và đã lấy giấy đậy hũ mắm hoặc cho trẻ phất diều, cho mẹ bù trẻ lót tã và tệ hơn nữa, cho chùi … khi đứa trẻ làm xấu! Của quí, đã nói quí hơn vàng, mà đành đem làm giấy vệ sinh, than ôi, đâu phải chỉ có Phật có người thường lâm nạn, mà khi vào tay dân quê dân dốt, chữ ông Thánh cũng khó tránh tai ương!

Và phần đông các tỉnh trong Nam, Bạc Liêu, Sốc Trăng, Trà Vinh, Châu Đốc, dân cư là dân Thổ, thì đều na ná như vậy, không biết giá trị N.P. và tôi hỏi kỹ lại, chỉ có mấy tỉnh dân kinh ở nhiều, Mỹ Tho kể đầu, Vĩnh Long, Sa Đéc, đều biết giữ lại tờ N.P. vì dân cư phần lớn là người kinh, công chức về hưu, hoặc cai tổng, hội đồng địa hạt có vốn chữ nho hoặc đã đọc một ít tờ báo từ ngoài kia lọt vào, duy lạ nhứt là báo N.P. được một tỉnh nhỏ xa xôi, khỉ ho cò gáy, Hà Tiên, sùng bái lại đề cao nhứt, vì Hà Tiên là quê hương của một người, không học Pháp văn nhiều, nhưng già giặn chữ Hán, là bạn tâm giao, Đông Hồ và nữ sĩ Mộng Tuyết, Đông Hồ mở trường luyện quốc văn, và M.T. trước là học sinh, vốn người trong thân rồi trở thành người bạn trăm năm, vừa trung thành, vừa đồng chí, đồng gối chăn.

Trong khi các tỉnh có nhiều người khơ me ngụ, chê đè tạp chí N.P. như đã nói nơi đoạn trên, thì trái lại, ở đất Cần Cao (do tiếng Cảng khẩu nói giọng Tàu) Hà Tiên (Cần Vọt) lại có phong trào sớm vung bồi tiếng mẹ, chít khăn đóng, mặc áo dài thâm và nói nhiều giọng Bắc, viết nhiều văn Hán Nôm và mỗi mỗi cử chỉ, phong tục, văn chương, văn hóa, lấy làm gốc: điệu bộ, thói lề, nghề viết muốn cho được y như trên cao kia mới nghe: âu cũng là một biến cố mới, nói theo giọng tân thời, hoặc đó là một chuyển biến của một thế hệ thấy cử chỉ, phong tục, văn hóa gốc Tàu của họ Mạc, họ Lâm v.v .. cần phải thay đổi cho hợp thời hạp mới.

Trong lúc miền Nam đang xáo trộn thay đổi như vậy, tôi bắt đầu biết giá trị tạp chí N.P., nhờ một sự bất ngờ. Tôi đang học lớp nhì (cours moyen trường tỉnh Sốc Trăng) năm 1918, vừa 16, 17 tuổi đầu, thì có một đàn anh lối xóm, đến làm quen, anh ấy tên Nguyễn Tích Thiện, có dắt theo và giới thiệu một bạn, hình dáng vặm vỡ to xương, chắc da chắc thịt, da đen ngăm ngăm, bắt tay siết mạnh và xưng tên Phan Văn Hùm. Lạ nhỉ, sao lại tên Hùm? Hóa ra cùng một tuổi dần, nhưng mình vừa lớp nhì, còn vài năm nữa mới thi “xẹt”, còn Thiện đã có bằng thành chung, đít lôm và sắp ra trường Hà Nội, Cao Đắng Sư phạm, còn Hùm, thì chưa nói học lực tới đâu, duy rõ là bạn tốt của Thiện, vì thấy Thiện sẽ bị cho thi rớt, không được thi đỗ làm giáo sư Trung học và tấm lòng nghĩa hiệp của Hùm càng làm cho tôi kính nể thêm nhiều, và nhứt là trong giao thiệp, trong nói năng, thảy thảy đều lướt và hơn tôi thập bội. tỷ như: Thiện muốn lập trường tư có nuôi học trò vừa dạy vừa cho chỗ ngủ, cho cơm ăn, tôi nói: “trường ăn cơm trong”. Hùm cười và nhỏ nhẹ sửa lại: “Thưa anh, Ký túc xá, Tây gọi Pensionnat, Internat”. Tôi mắc cỡ thầm, qua tiếng khác, tôi hỏi: cũng nói học buộc (tưởng mình lòe … biết chút tiếng Tây, nhưng Hùm sửa lưng: “Đừng nói vậy! Đó là “có học bồng!”. Tôi biết mình kém và sớm chịu thua, rón rén hỏi: “Học ở đâu mà có những từ hay quá đó?” Hùm lễ phép trả lời: “Anh về tìm mua tạp chí NAM PHONG”. Tôi day qua hỏi người anh cả, mua ở đâu? Thiện cười cười đáp: “Mua không có nữa đâu. Chính tôi lục soát mấy năm ở Hà Nội mà tụi nó không có mà bán!”

Rồi từ ngày ấy, năm 1918, chia tay nhau. Năm 1919, tôi thi đậu xẹt, lên học trường Sài Gòn, collège  Chasseloup-Laubat, còn Hùm ở lại Sốc Trăng giúp Thiện lập trường Pensionnat Nguyễn Tích Thiện, nhưng khi phát tài, Thiện trở nên hoang phí, Hùm can ngăn không nghe, Hùm thôi làm tổng giám thị (surveillant Général), trở ra Hà Nội, học trường Công chánh, đậu chức cán sự chuyên môn (agent technique des travaux publics), rồi sang Pháp trở về cử nhơn văn Pháp, nhưng gãy cánh giữa đường, còn tôi vẫn lé đé đỗ brờ vê (brevet élémentaire), đỗ thành chung (diplôme de fin d’études complémetaries franco-indigènes) mang chữ “anh đi rềnh” đậu thêm chức thơ ký Soái phủ Nam kỳ (sau gọi Thống đốc), nhưng mỗi người riêng mỗi kiếp và mỗi số phận, nhưng Hùm và tôi biệt và không thấy mặt nhau từ 1918, tuy thỉnh thoảng tôi vẫn tìm đọc bài viết của Hùm, sở dĩ về sau Hùm được khen viết chánh tả ít sai (lời khen nầy là của Phan Khôi) và tôi rõ lại viết cứng là nhờ có thọ giáo với Diệp Văn Cương, ông nầy, tôi biết mặt vì ông dạy lớp Việt văn đệ tứ (4ème année), tôi ngồi lớp đệ Một (1ère année) hai phòng sát cạnh, tiếng giáo sư ngang hàng giáo sư Tây của ông Cương, lồng lộng nghe vang, nhưng tôi chỉ được nghe lóm, cho đến nay còn tiếc hối, và tự trách viết còn phải kè kè khít bên, cuốn Chính tả của anh Lê Ngọc Trụ. Nhớ câu của Tư Chơi khóc kép Tư Úc: “Những thằng đáng chết sao chưa chết, lại chết chi thằng đáng sống lâu?”. Nay thảy đều không còn và còn một mình đây, chưa chắc là hay là cái chắc! Tuy dở thì xin chịu, nhưng nhờ vảy may, học được với Hùm và mua được một bộ Nam Phong tạp chí chẵn chòi 210 số, mới toanh, nhưng nay đã lọt về tay người khác, và xin để cho tôi thuật đầu đuôi tự sự như sau:

Cái tật của tôi là khi viết vẫn ưa cu cu chần chần làm vậy đã quen, muốn nghe thì đừng cắt, cắt cụt thì tốt hơn là đừng nghe, và tôi vẫn thấy đài B.B.C như đài Mỹ, phát thanh ăn tiếng (manger les mots), tôi dám chê, nhưng vẫn chê thầm chớ làm sao gởi phản đối tới tai họ. Trở lại chuyện Nam Phong và Phạm Quỳnh, viết đến đây đã bốn trương, khiến đâm chán, viết dài bị thiến, muốn cắt cho mất giống, thôi thì tôi viết tóm tắt đại lược rồi lấy chi mà thiến, và chuyện thâu vắn như dưới đây là ngoài ý muốn:

Đến hôm nay, độc lập về trong tay đã 18, 19 năm, mà tại sao chữ in trên sách báo vẫn nhỏ tí xíu, nhỏ hơn chưn muỗi, rồi làm sao mắt già đọc được. Giấy in thì xấu, mực in lại quá lu, mua sách mua báo uồng tiền, tiền trả cho người viết bỏn sẻn, chung qui nhà xuất bản quá thâu chặt miệng túi, vả lại vẫn tùy vì vẫn ở trong tay kẻ bao thầu, rốt cuộc nín hơi rặn hai năm, đẻ ra tỷ như tôi, năm 1982, bản thảo “Chuyện một cô lưu lạc, chuyện bà giấu tên, V.A … ” năm 1983, bản thảo “Sài Gòn tạp pín lù”, tôi viết “tạp pín lù”, trối kệ thây tôi, khi in lại đòi đổi làm “Sài Gòn muôn vẻ” rồi nhập hai bản thảo làm một. Về giá trị của báo Nam Phong, tôi biết có một người tốt số là Nguyễn Khắc Kham (đã mất), một bữa nọ, ông đi đâu đó gặp một chú Ba Tàu, gánh một gánh sách cũ ông hỏi mua và túi không đủ tiền, ông ba chưn bốn cẳng chạy về lấy trả cho Ba Tàu, ông mua được bảy hay tám chục số lẻ rời rạc Nam Phong, mà chỉ tốn mỗi số độ 1.000 như giá thách của Ba Tàu, vị chi tốn có bảy hay tám chục ngàn đồng (70.000 hoặc 80.000) trong khi nghe đâu Đại Đức Thích Tâm Châu định sai người qua Paris xin thâu ảnh (photocopie) N.P. nơi Thư viện quốc gia (Bibliothèque Nationale) của Pháp, thì ắt phải xuất biết bao nhiêu triệu mà kể?

Một người tốt số thứ hai là Đông Hồ. Anh nầy, ở Hà Tiên chạy lên Sài Gòn, lập quán bán sách lớn, anh đăng báo và mua đủ mọi giá, lần hồi anh có được một số sách báo to, anh tuyển chọn, vá víu, lựa được toàn một bộ Nam Phong vừa ý (nay đã qua đất Pháp về tay cháu ngoại), tôi không rõ anh đã xuất ra bao nhiêu, nhưng có ai lanh trí, nhạy hơn, và có duyên với sách quí, bằng anh Đông Hồ?

Và người tốt số nhứt hạng, và bộ Nam Phong nầy nay cũng đã qua đất Pháp duy không rõ còn trong tay người đó hay đã sang tay chủ khác (Toàn quyền đặc sứ cũ là Đề đốc Decoux, có một bộ Kỷ yếu của Hội Đô Thành Hiếu cổ (Bulletin des Amis du Vieux Huế) một đầu lãnh Đông Dương muốn sưu tập sách, có thể tỷ như ra một ý nhỏ đủ cho các nơi tới tấp gởi sách về để nịnh, ông Decoux nghe như lúc sau, đã nhượng bộ sách hiếm có (mỗi năm chỉ in 600 tập cho hội viên) cho một người và người ấy, tôi xin tạm không nói tên và chỉ viết tắt H.X.H., học giả đại danh vẫn ở Pháp, lão thành và lão luyện về sử Việt và môn sưu tầm sách cũ, quí).

Nhưng phải nói luôn có lẽ người ngu hạng nhứt là kẻ hèn đang viết bài nầy, có sách quí mà không biết giữ làm của, nhưng nay nghĩ lại, lúc đó, tôi đang xính vính hụt tiền mà người kia sẵn lòng giúp tôi ba trăm ngàn (đời ông Diệm), tôi nhận số bạc ra tiền đổi lại làm ba chục lạng vàng (10 ngàn mỗi lượng) – xin hỏi ai cầm lòng cho đậu?

Vả lại Nam Phong, theo tôi lúc đó, như cây mía ngọt đã bị ép lấy gần ráo chất ngọt, tuyển ra nào Thượng Chi văn tập, nào “Nam Phong”, truyện ngắn, Tuyển nào “Chủ đích Nam Phong” v.v .. Ngoài ra, như bộ “Hạn mạn du ký” của Nguyễn Bá Trác, thì bằng chữ Hán, tôi tịt mù, cho nên cái ngu của tôi hóa ra hợp thời, đổi ra vàng y, hữu ích hơn … và đã cà kê xin cho tôi cà kê luôn, mặc dù đã hứa muốn vắn tắt, và dưới đây là sự tích, để dụ người đọc ham học nghề.

Thú chơi sách.

Như đã nói, nhờ được nghe Phan Văn Hùm giải thích, tôi quyết tìm và sắm cho được Nam Phong đủ bộ. Tôi ra trường năm 1923, mà Nam Phong ra đời từ 1917. Dịp may, vừa ra khỏi trường, thì thầy cũ, ông Đốc Nguyễn Văn Mai, mời tôi làm phụ tá cho ông để mỗi chiều ngày thứ năm, trở vào trường, giúp ông chỉ dẫn cho mấy ông Tây vô đây học tiếng Việt. Tôi kiếm được ba quan Tây cậy tôi dạy riêng mỗi tuần một giờ tại nhà họ, đã có rượu khai vị khi giảng, lại thêm mỗi ông bê tôi hai chục bạc, vị chi tôi làm ra gần gần bằng lương một tri huyện trong Nam hoặc một kỹ sư cầu cống cháy da nám phổi học Cao đắng Hà Nội ba hay bốn niên, thi đỗ mới có số tiền khá cao ấy, năm 1927, tôi lại thi đậu nửa miếng chức còm ni, cái vảy may của tôi là năm 1924, tôi gặp lão Lê Mai, tác giả sách dạy o mèo, Lê Mai bán sách lẻ ở chợ Bến Thành, Lê Mai đã làm mai bán cho tôi bốn chục số báo Nam Phơng, từ số 7 đến 37, mỗi số báo, chủ là một ông Đồ già, bán sách đứt ruột và xin lại phần chữ Nho, ra giá “ba hào chỉ” (0$30) mỗi số, lão Lê Mai bắt mối, xin thêm một cắc mỗi số, và ba chục báo Nam Phong (số 7 đến số 37, thiếu phần Hán văn, tôi cắn răng xỉa đủ mười hai đồng bạc Đầm Xòe (12$00), rồi cắp ca cắp củm, không nhớ rõ, bỗng tôi mua được sáu số khó kiếm nhứt là số 1 của tháng 7 năm 1917, đến số 6 – décembre 1917, thật là có thể nói “buồn ngủ may gặp chiếu manh” và nói chữ chút chơi, “tụ thiểu thành đa”, tôi vừa có đủ 37 số, rồi bắt đầu từ đó, tôi liên tiếp gởi ngay ra Hà Nội mua Nam Phong, cứ thiếu số nào, hoặc bị cho mượn làm mất, nay không trả hoặc bị rách bị hư bìa, tôi vẫn gởi thơ mua bổ túc, và bộ Nam Phong của tôi, tôi tự cho là có một không hai, tôi giữ kỹ còn làu làu, đặc biệt là tôi không đóng thành tập và tôi đóng rời mỗi số đóng theo điệu sách Tàu, vừa chắc, vừa nhẹ, muốn nằm ngồi trên võng hay ôm vào mùng khêu đèn điện đọc cũng xong, vừa khi qua tay người mua bộ Nam Phong nầy, tôi lại chế ra cho hai thợ mộc lấy ván cẩm lai làm bìa gỗ, lấy ván gõ đỏ làm thành mỗi sáu số làm một hộp, và thợ Đào Văn Hòe, người làng Đình Bảng, trổ nơi gáy cẩm lai hai chữ Hán Nam Phong, thêm có con rồng nổi bay lên, nhưng vào năm 1975, sau ngày binh Giải Phóng vào đây, người chủ bộ Nam Phong giao sách cho hãng Tây Transitaire Réuni chở sang Pháp, và hãng nầy có lẽ bỏ những hộp gỗ bọc Nam Phong ấy lại đây cho nhẹ tiền chở chuyên, và sự thật là cách nay vài năm, chính ông bạn Bắc, bố vợ ông bạn Hh. V. Tiểng, quen thân với tôi, đã cho hay ông từng thấy những hộp ấy bỏ rơi trống phốc nơi kho hay hè hội Pháp văn đồng minh (Alliance Française, đường Lý Tự Trọng) và chứng minh việc nầy là ông Thụ đã đưa cho tôi nhìn tập “Hiếu cổ đặc san” nhan là Phong lưu cũ mới, tập nầy tôi đã tặng ông C.T.N. là chủ hộ Nam Phong, cho hay, theo tôi, sách như người, đều có duyên phần số mạng.

Suốt những bảy trang kể lề dài dòng, tôi đã lợi dụng lòng nhẫn nại của chư độc giả, nhưng xin nhà in đừng cắt xén, cái tật của tôi không bỏ, là mặc dù lời hứa viết tắt, nhưng muốn biết chơi cổ ngoạn cũng như biết chơi sách cũ, phải vòng vo tam quốc mới thấy nỗi cam go của nhà sưu tập, và một lời chót để bắt qua nói về ông hay cụ Phạm Thượng Chi, là (xin tha thứ cho tôi kể lại chi việc tục) là tạp chí Nam Phong nay quí hơn vàng, nhưng trong Nam nầy, và lúc Nam Phong ra đời (1917 đến 1920), báo bị dân quê dốt Miền Nam coi rẻ, còn rẻ và vẫn giá rẻ hơn bèo cho heo ăn, tỷ như trên một bìa Nam Phong để trên một bàn hội tề làng nọ ở Sốc Trăng, tôi đã thấy nhan báo hai chữ Nam Phong, đã có người đặt tay bỏ dấu, đọc “Nằm Phòng” và hỏi kỹ lại, đó là chữ của vị đại hương cả trong làng, ông là người Miên (Khơ me) vì giàu sụ được tôn hương cả, ông bập bẹ tiếng Việt y như Tây nói tiếng Nam, khi làm hương quản, ngồi tra hỏi một trên trộm vặt, ông hỏi: “Mầy ăn tôm mà để cua ở đâu?” (và tên trộm đã dõng dạc thưa: “Bẩm, tôi không có ăn tôm ăn cua nào cả!” (trộm, của, ông nói mà không bỏ dấu, và hai chữ Nam Phong, đại hương cả Mên, khi lên Cần Thơ dự làm cố vấn dân sự, tòa Đại Hình (conseiller assistant de la Cour d’ Appel), khi ông đến khách sạn, bồi phòng (boy d’hôtel) kính cẩn hỏi ông muốn chọn lựa “nằm nơi phòng hạng nào?” và ông lại tưởng tờ tạp chí nọ có người nói mà quên bỏ dấu!

Tôi biết gì về ông hay cụ Thượng Phạm Quỳnh.

Tôi đã quên hỏi người đến đặt cho tôi viết bài về Nam Phong và Phạm Quỳnh là với mục đích gì, tôi đã 92 tuổi đầu, chỉ chờ ngày xuống lỗ và đã hết ham vừa danh vừa lợi, tôi không quên chỉ là một thơ ký quèn từng làm mọi cho Tây nay dấu dây xích nơi cổ chưa lành, như vậy tôi nay còn dấn thân viết bài nầy để làm gì? Hình như dặn tôi viết vài trương, mà tôi lại quyết viết mươi trang cà kê cho được hả hơi, vả lại tôi đã hết thời giờ tra cứu tài liệu cũ, vậy tôi xin người đọc hiểu cho tôi, đây là tôi thố lộ tất cả chân tình, tôi tỏ bày riêng cái nghe thấy cạn hẹp của một tên may thời còn sót lại và đã được mớ người trẻ và người cao kiến muốn biết chút lòng kẻ sống dai nầy thôi.

Tôi tóm tắt, tôi biết trước đây, trong Nam có tờ báo chữ Pháp L’Echo Annammite của Nguyễn Phan Long và tờ La Tribune Indochinoise của Nguyễn Phú Khai, Bùi Quang Chiêu, v.v .. , là hai tờ báo của Dân Miền Nam muốn tỏ bày sự muốn hiệp tác với Pháp … trong khi ấy ở Miền Bắc, vẫn có Đông Dương tạp chí (xuất bản từ năm 1913 do F.H. Scheider đứng tên), rồi tờ chữ Pháp L’Indochine Nouvelle, có ông viết cừ văn Pháp Nguyễn Văn Vĩnh cầm bút … trong lúc ấy, đã khởi sự có báo Tàu, viết Hán văn, và báo Tiếng A-lơ-măng do nước Đức cốt cán, lăm le dòm ngó Đông Dương mầu mỡ, khiến nên nước Pháp giựt mình và sai qua đây một quan toàn quyền giỏi tài mị dân thuộc địa, là Albert Sarraut và một quan coi về sở mật thám, là Louis Marty, nói và hiểu rành tiếng Bắc, hai người nầy nghĩ ra cách đẻ ra “chính sách giữ sách thực dân cho được tồn tại bằng sách báo” và vì vậy, nảy sanh tờ báo Nam Phong và sanh ra ông Phạm Quỳnh. Theo tôi, ông Phạm Quỳnh nầy, chỉ là một hi sinh của Pháp thực dân, ông lắm tài, nhưng mà về sau ông đi không đúng đường, khiến thân bại danh liệt … và “khi trâu đứng ít kẻ cho ăn cỏ, khi trâu ngả xuống nhiều kẻ cầm dao”, thậm chí có lúc, một nhóm sinh viên trường sư phạm ở Sài Gòn lập ra và “làm án Phạm Quỳnh” “lên án Nam Phong” nhưng nay Nam Phong vẫn có người tìm mua, và Phạm Quỳnh, riêng tôi thì tôi vô cùng tội nghiệp và vô cùng tiếc mến tài, tôi chỉ nói về tôi và xin miễn nói về ý kiến phần đông người trong nầy, có tay cầm viết mà khó ghi lời nào khỏi bị sửa chữa, cắt xén, – vả lại tôi là người gì mà được cho phép nói, “quán rằng xin chớ nói nhăng, dầu cho có giỏi, cũng thằng bán cơm!” (Lục Vân Tiên) …nhưng đã hỏi thì phải nói, và khi nói đố ai bụm miệng tôi kịp! Nhớ lại như đời Nam Phong là một đời đã qua, nhưng tiếng thơm còn tồn tại, còn như Phạm Quỳnh, tại sao khi được giữ cán cờ lại phất quá mạnh, lúc ông từ chủ bút vào làm ngự tiền văn phòng cho vua, làm thượng thư bộ lại, có nghĩa tế đặt cạnh làm bí thư cho bà hoàng hậu, vinh vang tôi ở đây nào thấy, chỉ thấy lúc ngai vàng sụp đổ, ngôi sang của ông cũng mất, Nam Đình, tay viết báo trong Nam ra Huế khi gặp ông thì ông nhỏ nhẹ than van, “đừng gọi tôi là cụ Thượng …” và ông chỉ ham đội mũ cánh chuồn, và khi cánh chuồn như cánh bướm gần đèn, bị lửa táp, tôi chỉ nhớ ông là một tay độc thủ, ít muốn cho ai cùng hưởng mối tiền do Tây cấp phát, vua ta còn lĩnh lương của Tây huống hồ gì, các tay phụ giúp ông viết cho tờ Nam Phong, ông lần hồi loại ra: ông cầm lại như Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, như Mân Châu (Nguyễn Mạnh Bổng), để giữ mục phục cổ, còn như Nguyễn Bá Trác, bỏ đảng về viết “Hạn mạn du ký”, rồi lên làm tổng đốc, được khoái khẩu hơn … như Nguyễn Bá Học viết “câu chuyện gia tình”, ông nầy vẫn như cây đèn dầu lạc, được khêu lên cho văn học Hán cũ, phựt sáng lên để rồi tắt luôn, kỳ dư: như Phạm Duy Tốn, sớm vào trong Nam, mượn xấp tiếu lâm cũ của học giả Trương Vĩnh Ký, đem về sửa lại giọng Bắc, in ra bộ “Tiếu Lâm An Nam” ký Thọ An, (hai người con của ông đều tài lạ, một Phạm Duy Khiêm qua học trường khó vào nhứt của Pháp, trường Đại học Sư phạm Ecole Normale Supérieure, đỗ thạc sĩ (agrégé) và trở nên một thầy đồ gàn, bỏ học bỏ chữ lót, còn giữ một tên “Khiêm”, hai nữa là Phạm Duy Mẫn, giỏi về âm nhạc, lại bỏ mất tên cúng cơm (Mẫn) chỉ giữ vỏn vẹn hài chữ Phạm Duy … ngoài ra trợ bút đào tạo bởi trường Pháp là Hoàng Ngọc Phách, để lại “Giọt lệ hồng lâu” và “Tố Tâm” rồi không ai nhắc đến nữa … vài người khen ông như Thiếu Sơn, với “Những áng văn hay” rồi khi ông xuống chưn thì cũng trở cờ … và như Vũ Ngọc Phan, tôi xin chừa còn nhiều người biết hơn tôi, và cho phép tôi bỏ qua nói về ông Phạm Quỳnh, ông vào trong Nam đăng đàn diễn thuyết nơi nhà hát Tây (nay là nhà Hội lớn đường Đồng Khởi), văn ông lưu loát, giọng nói hữu duyên, ông tìm người phụ giúp cho tờ Nam Phong, ông xuống Mỹ Tho, thì cháu con của cụ Đồ Chiểu sụt sè không dám nhận lời, vì biết còn kém nhiều tay ngoài kia đều khoa bảng còn lại, như cụ Nghè Ngô Đức Kế, bút chiến với ông về truyện Kiều, và vẫn tức vì ngòi bút lông, kết bằng lông thỏ lông mèo, không sắc bén bằng ngòi Flamant, Major đúc bằng thép điêu luyện lò Tây nhưng khi ông cho nghĩa tế vào thay ông, lên diễn đàn chỗ cũ, tôi đây chen được vào nghe, tôi ba chớp bốn sáng nghe ông nghĩa tế dõng dạc la lớn: “Tự Ro là Dzì? Tự Ro là Tự Rụng (Tự do là gì? Tự do là tự dụng” … tôi nghe được bao nhiêu đó thì mồ hôi ra ướt áo, tôi xuýt nghẹt thở và lật đật chui ra ngoài kẻo nín thở luôn, tôi quên nữa, cộng tác với ông, như thi sĩ Tản Đà, bị ông cười, “đời tân học, chuộng trơn bén bóng loát, Khắc Hiếu, giỏi nghề chạm rồng trổ phụng, đẹp mắt thật nhưng nhiều bụi bặm”, Tản Đà tức, ôm mớ văn chương lên bán ở Chợ Trời, tuy vậy “trận gió thu phong rụng cánh hồng” vẫn còn nhiều thanh niên ngâm đi hát lại, và tỷ như ông Lô gic Phan Khôi, cũng vẫn bị ông cho nghỉ việc, khiến Phan Khôi vào Nam, giúp tờ Đông Pháp thời báo của ông Diệp Văn Kỳ, rồi ra Huế dựng tờ Sông Hương … Diệp Văn Kỳ, bạn học cũ ở Quốc học Huế đô với Bác và Phan Văn Hùm, thời buổi ấy chưa có máy bay cứu thoát nên đã đi bán muối dưới Diêm đài, việc ấy xin hồi sau phân giải … đến đây bài của tôi đã quá dài, tôi xin chấm dứt để nhớ lại, năm 1967, tôi được cho ra Huế dự khảo xét các bạn Đại Học nhỏ, xuýt thi ra trường, một tên thơ ký quèn dốt nho dốt nôm, nhưng vì ham tìm mua đồ cổ ngoạn, phúc được ra Huế có vé máy bay khứ hồi, tội gì mà từ chối, không nhớ đó là vào tháng nào, chỉ nhớ một hôm, bỗng một ông bạn bác sĩ có mở phòng trị bịnh ở đường Gia Hội, ông lấy xe nhà, mời đi một vòng, bác tài xế lái xe đến chùa Vạn Phước, bỗng sừng sực thấy trước mắt một ngôi mộ bằng ô dước hay xi măng đã quên, kiểu thức lối cổ, có vòng đai chung quanh và miếu nhỏ thờ thổ thần, trời đã nhá nhem sắp tối, ngoài xa giăng giăng hàng núi Ngự xanh xanh, và chớp chớp nước sông Hương sáng sáng, tôi đứng run lặp cặp, nửa vì lạnh, nửa vì không mặc áo ấm ngự hàn, ngậm ngùi thức cảnh sanh tình, rán đọc mấy chữ rẻ “thập nhì”, “thập bát”, còn lại mấy chữ mắt, có người đọc cho tôi ghi lại ba hàng:

Nam NAM ất

PHẠM PHONG mùi

BÍCH CHỦ niên

lịnh BÚT thập

đệ PHẠM nhị

tự QUỲNH ngoạt

PHẠM? THƯỢNG nhị

đồng CHI thập

bái DI bát

lập THẾ nhựt

Tôi bỗng vụt hỏi:

– Sao lại “di thể”,

Người đứng kế bên, bác sĩ Hà:

“Restes mortels”, ông Diệm sai tìm xác anh, Cố Trầu sai bộ hạ, bộ hạ biết chỗ, moi trong lỗ lên ba xác: 1 xác đàn bà, loại ra, cái thứ 2, mắt còn mang nhãn kính gọng đồi mồi, biết chắc đó là di thể cụ Phạm, nên trả cho thông gia là Ung Trình, còn xác thứ ba, đúng là của tổng đốc Ngô Đình Khôi. Xe đưa tôi trở về, tôi xuống xe trước nhà hàng Morin, bắt tay cám ơn bác sĩ, leo lên lầu, vào phòng lấy bánh mì và nem chua ra xơi, lên giường nằm suy nghĩ: “thơ ký lem nhem ba chữ không đầy lá mít, chỉ vì khéo tránh bẫy tránh dò nay còn sót lại, tưởng số hơn ông nằm ban chiều nơi chùa sư nữ, hỏi ra vì mẹ ông đã được an táng tại đó, và chớ chi ông đừng bôn chôn ham cái mũ cánh chuồn, ông ở lại Bắc làm chủ tờ Nam Phong, thì danh thơm không mất, chẳng qua mỗi người mỗi số kiếp, khéo tu thì còn, vụng tu thì chìm, mà ở đời ai dám biết vụng hay khéo? Và chớ chi Nhà Nước đừng hấp tấp, dưỡng ông lại như nuôi con bò để kéo xe chở cỏ, có lẽ mình đây ắt được học thêm nhiều, nhưng mấy đời người ta biết xót thương người hiếu học, và câu chót, tôi lại nghe, lúc Tây đi

kiếm để cứu ông Quỳnh, cứ đi tới đâu, câu trên môi của lính sơn đá Tây là “cù est Phạm Quynh? “Où est Quynh? v.v .. , rõ Quỳnh lợi hại thôi thì hạ sát cho xong. Ở đời xin đừng vội tưởng hễ được cầm cờ thì tay cứ phất? Phải coi lèo coi lái, khi gặp gió ngược, trở tay sao kịp? Lỗi về ai, có khi lỗi về người ra lịnh phất cờ. Gió đã thay chiều, không nên hơ hỏng? (viết 12 trang làm bốn ngày, tuổi 92 vẫn còn minh mẫn hỉ).

2-12-1992 V.H.S.

(Ất Mùi là 1955).

Bộ Nam Phơng của tôi gồm 211 số, có dư một số về Xuân, không rõ năm nào, ngoài bìa vẽ hình một táo đen giao tay qua một táo đỏ, tôi cứ dư số Xuân ấy, dâng cho cụ Cử Võ Hoành ở Sa Đéc, cụ nhận mà bĩu môi: “Văn thằng Quỳnh, thằng Chác, ghét quá!” Cũng vì thét thay vì hét, phì cười v.v .. kha kha là anh, trong nầy lại nói “ca ca”, một ông Tây đi xem hát bội, nói với tôi: Il a trop de caca? Thiết tưởng còn hoài, từ Trịnh Nguyễn tranh phuông cho đến nay vẫn chưa dứt …

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 18 Nov 2025

37. Một cuộc vượt ngục của người điên

Vì đang có chiến tranh, các hình phạt lại được tăng lên nếu vượt ngục thất bại, lúc này không phải là lúc để lỡ chuyện, phải không, Salvidia?
Cậu người ý có hai plan bằng vàng trong đoàn tàu đang bàn với tôi ở chỗ giặt áo quần sau khi đọc tờ yết thị thông báo về những biện pháp mới đối với các trường hợp vượt ngục. Tôi nói với y:
– Cái án tử hình ấy không làm cho tôi từ bỏ ý định vượt ngục được đâu. Còn cậu thì sao?
– Papillon ơi, tôi chịu hết nổi rồi và tôi cũng muốn tếch thẳng luôn. Muốn ra sao thì ra. Tôi đã xin vào làm y tá ở nhà thương điên. Tôi biết là tại phòng cung tiêu của nhà thương lấy có hai cái thùng tôn-nô chứa được 225 lít tức là thừa sức ghép thành bè. Một thùng chứa đầy dầu ô-liu, một thùng đầy dấm. Hai cái thùng ấy mà chằng kỹ vào nhau, sao cho nó không thể tách ra được tôi thấy có cơ may về được Đất liền đấy. Phía bên ngoài tường bao quanh nhà thương điên không bị kiểm soát. Phía trong thường ngày chỉ có một tên lính y tá gác, có tù phụ giúp, luôn luôn kiểm soát xem bệnh nhân làm gì. Sao cậu không đến đấy với tôi?
– Làm y tá à?
– Không được đâu. Cậu biết thừa là không bao giờ cậu được làm việc ở nhà thương điên. Vừa xa trại giam vừa ít bị kiểm soát, tất cả những điều đó làm cho người ta không đưa cậu đến làm việc ở đây. Nhưng cậu có thể vào đây với tính cách người mất trí.
– Khó đấy, Salvidia ạ. Khi một bác sĩ đã coi cậu là “điên”, ông ta cho cậu được quyền tha hồ muốn làm gì thì làm, không hơn không kém. Cậu được công nhận là không phải chịu trách nhiệm về những hành động của mình. Cậu thử nghĩ đến trách nhiệm của một bác sĩ khi chấp nhận ký vào bản chẩn đoán ấy? Cậu có thể giết tù, giết cả lính hay vợ lính, hay một đứa con nít cũng không sao. Cậu có thể vượt ngục, phạm bất cứ tội gì luật pháp cũng vô phương đối với cậu. Quá lắm người ta cũng chỉ có thể lột truồng cậu ra rồi tống cậu vào một phòng giam có lót nệm, và cậu phải mặt áo trần lực của người điên. Chế độ ấy chỉ kéo dài một thời gian, rồi có ngày họ lại phải nới nhẹ cách chữa trị bằng vũ lực đó Kết quả là: với bất cứ hành động nghiêm trọng đến đâu, kể cá vượt ngục, cậu cũng chẳng mất mát gì.
Papillon ơi, tôi tin cậu, tôi muốn vượt ngục với cậu. Cậu hãy cố làm đủ mọi cách để vào được nhà thương điên với tôi đi. Với tư cách là y tá, tôi sẽ giúp cậu chịu đựng được tốt nhất và đỡ đần cậu những lúc gay go nhất. Tôi công nhận rằng không bị điên mà phải sống chung với những người nguy hiểm như vậy, cũng khủng khiếp thật.
– Cậu cứ về nhà thương điên đi, Roméo, tôi sẽ nghiên cứu thật kỹ vấn đề này và nhất là tìm hiểu những hiện tượng đầu tiên của bệnh điên để bác sĩ tin được Làm sao cho bác sĩ xếp mình vào loại không phải chịu trách nhiệm gì cũng là ý kiến hay đấy.

Tôi bắt đầu nghiên cứu vấn đề một cách nghiêm chỉnh. Thư viện của trại không có cuốn sách nào về vấn đề này. Cứ có dịp là tôi bàn luận với những người đã từng mắc bệnh điên trong một thời gian nào đấy.
Dần dần, tôi đã có ý niệm khá rõ ràng:
1. Tất cả những người điên đều đau đầu dữ dội.
2. Họ thường bị những tiếng ù ù trong tai.
3. Vì thần kinh họ bị kích thích nên họ không thể nằm lâu ở một tư thế mà không bị một cơn co giật thần kinh thực sự khiến cho cả cái thân thể bị căng thẳng đến tột độ của họ nấy bật lên như cái lò xo.
Vậy thì phải làm sao để đừng phô bày ra một cách lộ liễu mà người ngoài vẫn phát hiện ra những triệu chứng đó. Bệnh điện của tôi phải vừa đủ nặng để buộc bác sĩ quyết định gửi tôi đi bệnh viện nhưng không dữ dằn để phải đòi hỏi những biện pháp đối xử tồi tệ của các giám thị như: phải mặc áo trấn lực của người điên, bị đánh đập, phải nhịn ăn, phải chích bromure, phải tắm bằng nước lạnh nay nước nóng già v.v…. Nếu tôi đóng kịch khéo, tôi có thể làm cho bác sĩ cũng bị lừa.
Có một điều có lợi cho tôi: tại sao, vì lý do gì mà tôi phải giả bệnh? Bác sĩ không thể giải thích một cách hợp lý vấn đề này, chắc chắn tôi có thể thắng cuộc trong trò này. Đối với tôi không có giải pháp nào khác.
Họ đã từ chối không chịu đưa tôi đi đảo Quỷ. Tôi không còn chịu đựng nổi cảnh ở lại trại sau cái chết của Matthieu, bạn tôi. Do dự làm quái gì! Tôi phải quyết định thôi, thứ hai tôi sẽ báo các bệnh. Thế cũng không xong, tôi không thể tự mình khai bệnh được. Tốt hơn là để một người khác làm việc này, nhưng người ấy lại phải là người tin rằng tôi điên thật mới được. Tôi phải làm hai hay ba việc kỳ cục ở phòng giam. Rồi trưởng khối sẽ báo cáo với cai tù và cai tù sẽ ghi tên cho tôi đi khám bệnh.
Đã ba ngày nay, tôi không ngủ, không rửa ráy, cũng không cạo râu. Mỗi đêm tôi thủ dâm nhiều lần và ăn rất ít. Hôm qua tôi hỏi người nằm kề bên tôi sao anh ta lại lấy mất tấm hình tôi vẫn bày ở đầu võng (tấm hình này không hề có bao giờ ở chỗ tôi). Anh ta thề sống thề chết là không đụng đến đồ đạc của tôi. Anh ta sợ, và xin chuyển đi chỗ khác. Thông thường xúp vẫn được để ở chậu vài phút trước khi đem chia. Tôi đến gần chậu xúp và trước mặt đông đủ mọi người tôi đái vào đấy Ai nấy đều tỏ ý bực mình, nhưng cái vẻ mặt lầm lầm của tôi chắc đã làm cho mọi người thấy ngán nên không ai nói gì, chỉ có anh bạn Grandet nói với tôi
– Papillon, sao cậu làm thế?
– Vì họ quên chưa cho muối.
Rồi chẳng thiết để ý đến những người khác, tôi lấy ga-men của tôi đưa ra để trưởng khối sớt xuất của tôi vào đây
Trong một không khí im lặng hoàn toàn, mọi người đã đứng nhìn tôi ăn xúp.
Hai sự việc đó đã đưa đến kết quả là hôm nay, tôi được đưa đến bác sĩ mà không phải xin xỏ gì.
– Bác sĩ có khỏe không?
Tôi nhắc lại câu hỏi một lần nữa. Bác sĩ kinh ngạc nhìn tôi. Tôi nhìn lại ông với cặp mắt cố tình làm ra vẻ tự nhiên như không.
– Tôi vẫn khỏe, bác sĩ nói. Còn anh. Anh bị ốm phải không?
– Đâu có?
– Thế tại sao anh lại đi khám bệnh?
– Chẳng tại sao cả. Họ nói với tôi là bác sĩ bị ốm.
– Hóa ra không phải, cho nên tôi cũng mừng. Chào bác sĩ tôi về
– Khoan đã, Papillon. Anh ngồi xuống đây, trước mặt tôi. Anh nhìn vào tôi đi.
Rồi bác sĩ dùng một cái đèn gì chiếu ra một tia sáng nhỏ xíu soi vào mắt tôi.
– Bác sĩ không thấy cái mà bác sĩ muốn tìm à?
Đèn của ông không đủ sáng nhưng dù sao ông cũng đã hiểu chứ, phải không? Ông có thấy chúng nó không, ông cho tôi biết đi. 

– Thấy gì? Bác sĩ hỏi.
– Ông đừng giở trò ngớ ngẩn, ông là bác sĩ hay là thú y? ông đừng nói với tôi là ông không có thì giờ trông thấy chúng trước khi chúng trốn mất, hoặc ông không muốn nói với tôi, hoặc ông cho tôi là một thằng ngu.
Mắt tôi ánh lên vì mệt mỏi. Bề ngoài của tôi, râu chưa cạo, mặt chưa rửa, đều góp phần vào màn kịch nhỏ của tôi. Bọn cảnh sát đứng nghe, sững sờ cả ra, nhưng tôi không hề có một cử chỉ dữ dằn nào khiến họ phải can thiệp. Bác sĩ có thái độ hòa giải và về hùa theo tôi để tôi khỏi bị kích động, ông ta đứng dậy và đặt tay lên vai tôi. Tôi vẫn ngồi yên.
– Phải, tôi không muốn nói cho anh biết, Papillon, nhưng tôi đã có đủ thì giờ để thấy chúng.
– Bác sĩ chỉ nói láo, mà mặt vẫn trơ trơ ra như thổ địa. Bởi vì tôi biết thừa là ông chẳng thấy quái gì cả ông đang tìm ba cái đốm đen ở trong mắt trái của tôi chứ gì? Ba cái đốm đen ấy, tôi chỉ trông thấy chúng khi tôi nhìn vào khoảng không hay lúc tôi đọc sách. Nếu lấy gương soi, tôi nhìn thấy mắt tôi rõ ràng, nhưng ba cái đốm thì đi đâu biệt tăm biệt tích. Hễ tôi cầm gương lên một cái là chúng biến đi đàng nào mất tang ngay tức khắc.
– Nhập viện ngay, – Bác sĩ nói – Không phải quay về trại nữa, Papillon, anh nói với tôi là anh không có bệnh phải không? Có thể đúng như vậy, nhưng tôi lại thấy anh mệt mỏi lắm, cho nên tôi để anh nghỉ vài ngày ở bệnh viện, anh bằng lòng chứ?
– Chẳng sao cả, được thôi. Bệnh viện hay trại thì cũng vẫn là ở đảo.
Bước đầu đã trót lọt. Nửa giờ sau, tôi đã ở bệnh viện, tại một phòng sáng sủa, giường sạch sẽ, nệm trắng tinh. Ngoài cửa treo tấm bảng “Đang theo dõi”. Dần dà, do sức ám thị lên đến cao độ, tôi đã thành người điên. Trò chơi này cũng nguy hiểm: cái tật làm cho mồm méo xệch đi và dùng hai hàm răng cửa cắn chặt môi dưới, tôi vẫn nghiên cứu với một cái gương soi nhỏ lén giấu được, tôi quen làm như vậy, nhiều lúc tôi tôi bắt gặp thấy mồm mình méo đi như thế tuy tôi không hề cố ý. Papi ơi, không nên sớm chơi với cái mẹo vặt này. Nếu cứ ép mình phải tự cảm thấy mình mất trí mãi có thể nguy hiểm và để lại cho mình những chứng tật vĩnh viễn. Nhưng tôi vẫn phải chơi trò này đến cùng nếu muốn đạt kết quả. Để vào nhà thương điên, được xếp vào loại không chịu trách nhiệm rồi vượt ngục với anh bạn. Vượt ngục! Hai tiếng kỳ diệu ấy đưa tôi bay bổng, tôi đã hình dung thấy mình ngồi trên hai chiếc thùng ton-nô, được sóng nước đẩy về đất liền, cùng với anh bạn thân y tá người ý của tôi.
Bác sĩ thăm bệnh hàng ngày. Ông khám tôi rất kỹ, và lần nào chúng tôi cũng nói chuyện với nhau, lễ độ và hòa nhã. Ông ta có vẻ lo nhưng chưa tin hẳn. Vậy thì tôi phải cho ông ta biết là tôi có những cơn đau nhói ở vùng gáy, và đấy là những triệu chứng đầu tiên.
– Thế nào Papillon? Anh ngủ được chứ?
– Vâng thưa bác sĩ, nói chung tôi cũng khỏe. Cám ơn bác sĩ đã cho tôi mượn tờ báo Match, nhưng ngủ thì lại là việc khác. ở sau phòng tôi, có một cái máy bơm, chắc để tưới cái gì đó: máy chạy suốt đêm, tiếng phòng phòng của nó cứ dội vào gáy tôi, cứ như là ở trong đầu tôi cũng có tiếng vang phòng phòng vậy. Cả đêm cứ thế, chịu không nổi. Cho nên tôi rất biết ơn nếu bác sĩ cho tôi được sang phòng khác.
Bác sĩ quay sang phía người lính y tá và hỏi nhỏ, rất nhanh.
– Có cái máy bơm à?
Y tá lắc đầu ra hiệu không có.
– Giám thị, cho anh ta sang phòng khác. Anh muốn ở phòng nào?
– Càng xa cái máy bơm chết tiệt này càng tốt, phía cuối hành lang. Cảm ơn bác sĩ.

Cửa đã được khép chặt, chỉ còn một mình tôi ở trong phòng. Một tiếng động rất nhỏ, báo cho tôi biết có người đang theo dõi tôi qua khe nhòm, chắc chắn đấy là ông bác sĩ, vì tôi không nghe tiếng chân ông đi xa dần khi ông ra khỏi phòng. Thế là tôi giơ nắm tay hướng về phía tường che khuất cái máy bơm tường tượng của tôi và tôi kêu lên, không to lắm “Tắt máy đi? Tắt máy đi! Đồ khốn kiếp. Đồ thợ vườn hạng bét, tưới gì tưới lắm thế?” Rồi tôi lăn ra giường, vùi đầu dưới gối.
Tôi không nghe được tiếng chiếc nắp đồng của khe nhòm đóng lại nhưng tôi nhận ra tiếng chân đi xa dần. Kết luận: người nhòm qua khe cứa đúng là bác sĩ. Buổi chiều, tôi được đổi phòng. Chắc tôi đã gây được ấn tượng tốt vào lúc sáng, vì đưa tôi đi dọc hành lang chỉ vài bước mà phải có đến hai người lính và một người tù y tá đi kèm. Họ chẳng nói gì nên tôi cũng không nói. Tôi chỉ lặng thinh đi theo họ. Hai ngày sau, tôi cho ra cái triệu chứng thứ hai: những tiếng ù trong tai.
– Khá chứ, Papillon? Anh đã xem tờ tạp chí tôi gửi cho anh chưa?
– Chưa, tôi chưa đọc được. Suốt ngày hôm qua và một phần đêm nữa, tôi đã cố tìm cách làm cho con ruồi hay con muỗi gì đấy vào làm tổ trong tai tôi phải chết ngạt. Tôi đã lấy bông nhét vào tai mà vẫn không ăn thua gì Cánh của nó cứ rung lên liên hồi không giây nào dứt, hết o-o-o lại đến di-di-di… Hơn thế nữa, lại còn thêm cái cảm giác nhột nhột buồn buồn khó chịu lắm. Đến loạn óc mất thôi, bác sĩ ạ! Bác sĩ thấy thế nào? Nếu tôi không làm cho nó chết ngạt được, ta có thể kiếm cách làm cho nó chết đuối vậy nhỉ, bác sĩ bảo sao? 
Mồm tôi cứ máy máy liên hồi và tôi nhận thấy bác sĩ đã để ý đến điều đó, ông ta nắm tay tôi và nhìn thẳng vào mắt tôi. Tôi cảm thấy ông bối rối và phiền lòng.
– Được rồi, Papillon ơi, chúng ta sẽ dìm cho nó chết. Chatal, anh rửa tay cho anh ấy đi. Mỗi sáng, những cảnh như vậy cứ lặp đi lặp lại có cải biên ít nhiều, nhưng bác sĩ vẫn chưa quyết định gửi tôi đi nhà thương điên.
Có lần, trong khi chích bromure cho tôi, Chatal báo trước cho tôi biết: “Bây giờ thì ổn rồi. Bác sĩ nghĩ nhiều lắm nhưng chắc cũng còn lâu, ông ấy mới gửi cậu đi bệnh viện. Nếu cậu muốn ông ta quyết định sớm, cậu phải làm cho ông ta thấy là cậu có thể trở nên nguy hiểm mới được.
– Anh thấy thế nào Papillon? – Bác sĩ, có hai y tá và Chatal đi theo, mở cửa vào phòng tôi, và thân mật hỏi tôi.
– Ông bỏ ngay lối chơi ấy đi, bác sĩ. – Tôi giở thái độ gây gổ ra. – ông biết thừa là không ổn rồi. Tôi muốn hỏi trong bọn ông, ai đã thông đồng với cái thằng vẫn hành hạ tôi?
– Anh hành hạ anh? Bao giờ? Hành hạ thế nào? – Trước hết, bác sĩ có biết các công trình của bác sĩ Arsonval không đã?
– Biết, tôi hy vọng là có biết.
– Ông biết là ông ta sáng chế ra một cái máy dao động có nhiều làn sóng để ion-hóa không khí xung quanh một bệnh nhân bị loét hành tá tràng. Với cái máy dao động ấy, người ta có thể phóng ra những giòng điện. Thế mà, một kẻ thù của tôi đã đánh cắp một cái máy như thế ở bệnh viện Cayenne. Cứ mỗi lần tôi ngủ yên, là nó ấn nút, làm điện giật vào đúng bụng và hai đùi tôi. Tôi giật mình, nẩy đến mười phân lên khỏi giường. Cứ thế ông bảo tôi chống đỡ và ngủ nghê sao được? Cả đêm, chẳng lúc nào ngừng. Tôi cứ vừa chợp mắt là pằng một cái, điện lại giật, cả người tôi cứ nẩy lên như lò xo. Bác sĩ ạ, tôi không chịu được nữa đâu ông báo cho mọi người biết là hễ tôi mà tóm được thằng nào tòng phạm với nó là tôi giết đấy. Tôi không có vũ khí thật nhưng tôi đủ sức bóp cổ nó cho đến chết, dù cho nó là ai. Biết được rồi thì liệu mà giữ lấy thân nhé. Ông cũng cút đi với cái lối: “khỏe không, Papillon?” cái lối chào hỏi giả dối của ông. Tôi nhắc lại cho ông biết đấy, bác sĩ ạ, ông bỏ ngay lối chơi ấy đi!
Sự việc này đã đem lại kết quả. Chatal cho tôi biết là bác sĩ đã dặn dò bọn gác phải hết sức cẩn thận. Không bao giờ được mở cửa phòng của tôi mà không có hai hay ba người. Phải nói năng ôn tồn với tôi. Tôi mắc chứng bách hại cuồng, bác sĩ nói thế, phải đưa tôi đi nhà thương điên càng sớm càng tốt. 
– Tôi có thể đưa anh ấy đi nhà thương, chỉ cần một người phụ là đủ – Chatal đề nghị để tránh cho tôi khỏi phải mặc áo trấn lực của người điên. 
– Papi, anh ăn được chứ?
– Ăn được, Chatal ơi, ăn ngon nữa.
– Anh có thể đi với tôi và ông Jeannus chứ?
– Đi đâu?
– Mang thuốc đến cho bệnh viện, như đi dạo một quãng thôi mà.
– Nào thì đi.
Thế là cả ba chúng tôi rời bệnh viện để đến nhà thương điên. Vừa đi Chatal vừa nói chuyện, và khi gần đến nói, Chatal bỗng hỏi: “Cậu ở trại mãi có chán không, Papillon?”
– ồ, chán đến tận cổ, nhất là từ khi Carbonieri bạn tôi không còn ở đấy nữa.
– Thế tại sao cậu không ở lại vài ngày ở nhà thương điên? Thằng cha có cái máy sẽ không tìm ra cậu để phóng điện vào người cậu nữa.
– ý hay đấy. Nhưng tớ không bị loạn óc, không biết họ có chịu nhận không?
– Cậu cứ để tôi lo việc này, tôi sẽ nói hộ cậu. 
Tên cảnh sát nói, mừng vì thấy tôi rơi vào cái bẫy mà nó tưởng Chatal giăng ra để đánh lừa tôi. Tóm lại, tôi đã vào nhà thương điên ở với cả trăm người điên khác. Sống với người điên, thật chẳng dễ dàng chút nào. Chúng tôi ngồi từng tốp hai, ba chục người ở ngoài sân để thay đổi không khí, trong khi các y tá cọ rửa các phòng. Mọi người đều trần truồng suốt ngày đêm. May mà trời nóng. Riêng tôi họ để lại cho đôi bít tất ngắn.
Tôi vừa được y tá cho một điếu thuốc lá đã châm sẵn. Ngồi giữa nắng, tôi suy nghĩ và tính ra là ở đây đã năm ngày mà chưa liên hệ được với Salvidia.
Một người điên lại gần tôi. Tên anh ta là Fouchet. Tôi biết câu chuyện của anh. Mẹ anh bán nhà và gửi cho anh mười lăm ngàn francs nhờ một giám thị chuyển, để anh lấy tiền vượt ngục. Tên đó được năm ngàn và phải đưa cho anh mười ngàn. Nhưng y đã lấy tất rồi đi Cayenne. Khi Fouchet qua một đường dây khác biết được là mẹ anh đã gửi tiền cho anh và bà mẹ đã hy sinh tất cả một cách vô ích, anh ta nổi cơn điện và ngay hôm đó, anh đã tấn công các giám thị. Nhưng anh chưa kịp làm gì họ thì đã bị chế ngự ngay. Từ ngày ấy, cách đây đã ba, bốn năm, anh ở nhà thương điên.
– Cậu là ai?
Tôi nhìn con người đáng thương vừa hỏi tôi. Hắn còn trẻ, chỉ chừng ba mươi tuổi.
– Tớ là ai à? Một người đàn ông bình thường, như cậu thôi, không hơn không kém.
– Cậu trả lời ngớ ngẩn lắm. Tớ đã thấy rõ, cậu là đàn ông rồi. Tớ muốn hỏi cậu là ai? Nghĩa là cậu tên gì?
– Papillon.
– Papillon à? Cậu là con bướm à? Khổ cho cậu rồi. Bướm phải bay và có cánh, thế cánh của cậu đâu?
– Tớ đánh mất rồi.
– Phải tìm cho ra, có cánh mới vượt ngục được. Bọn lính không có cánh. Cậu sẽ ăn đứt chúng. Đưa thuốc lá của cậu cho tớ.
Tôi chưa kịp đưa, hắn đã giật lấy. Rồi hắn ngồi.. trước mặt tôi hút, vẻ say sưa.
– Còn cậu, cậu là ai?
– Tớ là thứ thịt để cho ôi. Cứ mỗi lần người ta đưa cho tớ cái gì của tớ, là người ta lại lừa tớ. 
– Tại sao vậy?
– Nó là như vậy. Cho nên tớ giết bọn cai tù, càng nhiều càng tốt. Đêm nay, tớ đã treo cổ hai đứa. Nhưng đừng nói với ai nhé!
– Tại sao cậu lại treo cổ chúng?
– Chúng nó đã ăn cướp nhà của mẹ tớ. Mẹ tớ gửi nhà của bà cho tớ, chúng nó thấy nhà đẹp, chúng giữ lại và ở ngay tại đấy. Tớ treo cổ chúng lên, không hay sao?
– Cậu có lý. Như vậy chúng không thể lợi dụng nhà của mẹ cậu được.
– Thằng cai bự ở đằng kia, sau hàng rào sát ấy, cậu thấy không? Nó cũng ở nhà ấy đấy. Thằng đó, tớ cũng sẽ giết nó thôi, cậu cứ tin ở tớ.

Rồi anh ta đứng lên và bỏ đi.
Trời đất ơi! Sống giữa những người điên, chẳng có gì là vui thú, mà còn nguy hiểm nữa. Ban đêm, có tiếng kêu la ở khắp bốn phía và vào những đêm trăng rằm, những người điên lại càng bị kích thích hơn. Vì sao tuần trăng lại ảnh hưởng đến hành động của người điên? Tôi nhận xét thấy thế nhiều lần nhưng không giải thích nổi.
Bọn cai có nhiệm vụ báo cáo về những người điên phải theo dõi. Với tôi, chúng còn đối chiếu thêm với những việc khác. Chẳng hạn chúng cố tình quên không cho tôi ăn một bữa. Tôi có một cái gậy và một sợi dây, và tôi làm điệu bộ câu cá. Tên xếp gác hỏi tôi: 
– Cá có cắn câu không, Papillon?
– Chúng không cắn mồi được. Có một con cá nhỏ cứ lẽo đẽo theo tôi hoài, mỗi khi cá lớn sắp đớp mồi, nó lại báo trước: “Chú ý, đừng đớp, Papilìon đang câu đấy”. Vì thế tôi chẳng được con nào bao giờ. Nhưng tôi vẫn cứ câu. Chắc có ngày sẽ có một con cá không tin con cá nhỏ kia.

Tôi nghe thấy tên lính đó nói với y tá: “Thằng cha này điên thật rồi”.
Khi tôi phải ngồi ăn ở bàn công cộng tại nhà ăn, tôi không sao ăn được đĩa đậu đũa của tôi. Có một thằng rất to con, cao ít ra đến một mét chín mươi, tay chân và ngực đầy lông lá trông như con khỉ, nó chọn tôi làm nạn nhân để nó hành. Thoạt tiên nó luôn luôn ngồi cạnh tôi. Đậu được dọn ra, đang rất nóng cho nên muốn ăn phải đợi cho nguội đã. Với chiếc muỗng gỗ, tôi xúc từng ít một và cứ thế ăn được vài thìa. Ivanhoe – thằng cha tưởng mình là trang kỵ sĩ thời Trung thế kỷ – cầm đĩa của nó lên, đổ vào lòng bàn tay và ăn hết trong năm phút. Rồi nó tự tiện lấy đĩa của tôi và cũng làm như vậy Khi đĩa đã nhẵn như chùi, nó đặt mạnh trước mặt tôi và nhìn tôi với cặp mắt to, vằn tia máu như muốn nói: “Mày đã thấy tao ăn đậu chưa?”. Tôi bắt đầu chán ngấy Ivanhoe, và vì tôi chưa được xếp hẳn vào loại điên nên tôi quyết định cho nó một đòn để gây tiếng vang. Hôm nay lại là ngày ăn đậu đũa, Ivanhoe không bỏ qua cho tôi. Nó đến ngồi cạnh tôi. Bộ mặt rồ dại của nó trông rạng rỡ hẳn lên. Nó tấm tắc hưởng trước nỗi khoái trá được chén phần đậu của nó và cả của tôi. Tôi đem theo một cái hũ sành to và nặng, đựng đầy nước. Thằng cha khổng lồ vừa cầm đĩa của tôi lên và bắt đầu đồ đậu vào mồm thì tôi đứng lên, lấy hết sức bình sinh đập hũ nước vào đầu nó. Thằng cha rống một tiếng như bò rồi gục xuống. Ngay lập tức, những người diên, tay vẫn cầm đĩa thức ăn của mình. xông vào đánh nhau loạn xạ. Cảnh ồn ào như vỡ chợ bắt đầu. Cuộc loạn đả tập thể này lại có thêm những tiếng la hét của tất cả lũ người điên trong bệnh viện hòa theo.
Bốn viên y tá lực lưỡng đã bế thốc tôi lên không nương nhẹ chút nào và đưa ngày tôi về phòng, tôi kêu váng lên là: “Ivanhoe đã ăn cắp cái bóp trong đó có giấy căn cước của tôi”. Lần này thì đạt yêu cầu! Bác sĩ quyết định xếp tôi vào loại không phải chịu trách nhiệm về bất kỳ hành động nào của mình. Tất cả các cai tù đều nhất trí nhận định chứng bệnh của tôi là điên thuộc loại hiền, nhưng cũng có những lúc rất nguy hiểm. Đầu Ivanhoe được băng bó tuyệt đẹp. Hình như tôi đã làm da đầu nó rách dài đến tám phân. Cũng may mà nó không ra đi dạo cùng giờ với tôi.
Tôi đã nói chuyện được với Salvidia. Anh đã làm được chìa khóa giả mở gian phòng để thùng ton-nô. Anh đang kiếm cho đủ dây thép để chẳng các thùng ấy lại với nhau. Tôi nói với anh ta là tôi sợ dây thép dễ bị đứt do các thùng ton-nô ra đến biển sẽ co kéo nhau, có lẽ nên dùng thừng chão, dẻo hơn. Anh sẽ cố kiếm thứ đó, cả dây thừng và dây thép. Anh còn phải đánh ba cái chìa khóa nữa: một cái mở phòng tôi, một cái mỏ cửa hành lang dẫn đến phòng tôi và một cái mở cửa chính nhà thương điên. Các phiên gác không nhiều lắm. Mỗi phiên gác dài bốn giờ, chỉ có một lính canh. Từ chín giờ tối đến một giờ sáng rồi từ một giờ đến năm giờ. Hai cai tù đến phiên trực của mình chỉ ngủ và không đi tuần lần nào. Họ ỷ vào người tù y tá cùng gác với họ. Vậy là ổn, chỉ cần bình tĩnh chờ. Nhiều nhất là một tháng.
Viên sếp gác đã cho tôi một điếu xì gà loại tồi y đang hút dở khi tôi ra sân. Tuy thuốc tồi, tôi cũng thấy ngon tuyệt. Tôi nhìn lũ người trần truồng, hát hỏng, khóc lóc vung chân vung tay loạn xạ, nói một mình. Họ còn ướt sũng nước vì vừa tắm trước khi ra sân, thân thể họ còn mang những vết bầm do bị đánh đập hoặc tự họ gây ra, cùng vết dây chẳng của áo trấn lực thắt quá chặt. Đúng là thảm cảnh cuối cùng trên con đường đến nơi ruỗng nát. Có bao nhiêu người điên này được các bác sĩ tâm thần ở Pháp buộc phải chịu trách nhiệm về mọi hành động của mình?
Titin – đấy là tên người ta thường gọi anh ta – cùng đi một chuyến với tôi năm 1933. Anh đã giết một người ở Marseille, rồi gọi xe ngựa, cho nạn nhân lên xe, bảo xe chở tới bệnh viện, và đến nơi anh đã nói: “Hình như anh ta bị bệnh, các ông săn sóc giùm cho” Anh bị bắt ngay. Các bồi thẩm nhất định không chịu coi anh ta là thuộc loại không phải chịu trách nhiệm, dù chút ít, về hành động của mình. Mà đúng là anh có điên mới làm như vậy. Người bình thường dù ngớ ngẩn đến đâu cũng chẳng ai làm như vậy. Giờ đây, Titin đang ngồi cạnh tôi. Anh ta bị kiết lỵ kinh niên. Anh ta giống như một cái xác chết biết đi. Anh nhìn tôi với đôi mắt xám chì, không hồn. Anh nói với tôi: “Anh bạn đồng hương ơi, có những con khỉ con ở trong bụng tôi. Có những con ác lắm, chúng cắn ruột của tôi và khi tôi đi ra máu là lúc chúng đang cáu giận đấy. Những con khác thuộc giống khỉ xù toàn lông cả là lông, có những bàn tay êm dịu như tơ. Chúng nhẹ nhàng xoa vuốt tôi và ngăn không cho lũ ác kia cắn tôi: khi lũ khỉ con hiền lành này chịu khó bảo vệ tôi, tôi không đi ra máu”.
– Cậu có nhớ Marseille không, Titin.
– Tất nhiên là nhớ chứ. Nhớ kỹ nữa là khác. Quảng Trường Chứng khoán với những thằng cha chuyên chơi chứng khoán và những băng trấn lột…
– Cậu có nhớ được tên vài thằng không? Thằng Thần hám lợi? Le Gravat? Clément chẳng hạn?
– Không, tôi không nhớ tên thằng nào hết, chỉ nhớ thằng cha đánh xe ngựa chở thằng bạn bị bệnh của tôi và tôi đến nhà thương. Tôi còn nhớ nó đã nói tôi là nguyên nhân làm bạn tôi bị bệnh. Có thế thôi.
Tội nghiệp cho Titin, tôi cho anh ta mẩu xì gà và tôi đứng lên, lòng xót thương vô hạn. Con người khốn khổ này rồi sẽ chết như một con chó. Đúng là sống chung với những người điên rất nguy hiểm, nhưng biết làm sao được? Tôi cho đấy là cách độc nhất để tổ chức vượt ngục mà không lo bị trừng phạt.
Salvidia đã gần hoàn thành các công việc chuẩn bị. Anh ta đã có được hai cái chìa khóa, chỉ thiếu chìa khóa phòng tôi. Anh đã xoay được một cuộn dây thừng rất tốt, thêm vào đó, anh còn tháo võng để bện một cuộn dây có năm sợi. Về mặt này, mọi việc đều tốt. Tôi muốn mau mau chuyển sang hành động vì vừa đóng kịch vừa chịu đựng cảnh này thật gay go. Để được tại phòng này trong khu nhà thương. thính thoảng tôi phải lên một cơn điên.
Tôi đã lên một cơn giống như thật đến mức các y tá tống tôi vào bồn tắm nước nóng già và chích cho tôi hai mũi bromure. Cái bồn tắm này phủ một tấm vải bạt rất dày để giữ cho tôi không ra được. Chỉ có một lỗ hổng để tôi thò đầu ra. Tôi ở trong bồn tắm loại làm cho người điên này được hai giờ thì Ivanhoe bước vào phòng. Tôi hết hồn khi thấy cách hắn nhìn tôi. Tôi sợ nó bóp cổ tôi, đến chết khiếp. Tôi bị bó tay dưới tấm vải, tôi không thể nào tự vệ được.

Nó tiến lại gần tôi, đôi mắt thao láo của nó chăm chú dòm tôi, có vẻ như cố nghĩ xem nó đã từng trông thấy ở đâu cái đầu từ dưới lớp vải này nhô lên. Hơi thở của nó và một mùi thối khẳn phả vào mặt tôi. Tôi muốn kêu cứu nhưng tôi sợ tiếng kêu của tôi làm cho nó càng thêm hung dữ. Tôi nhắm mắt lại chờ đợi, tôi tin chắc là hai bàn tay hộ pháp của nó sắp chít lấy cổ tôi. Tôi không dễ quên được những giây phút hãi hùng ấy. Sau, nó quay đi, đảo một vòng quanh gian phòng, rồi tới chỗ những vòng vô lăng vặn với nước. Nó đóng với nước lạnh và mở hết mức với nước nóng. Tôi kêu thét lên, vì tôi đang bị luộc chín thật sự. Hơi nước tỏa kín phòng, tôi bị ngợp thở vì hơi nước, tôi cố vùng vẫy cuống cuồng để thoát ra khỏi tấm vải chết tiệt này nhưng vô ích. Sau rồi cũng có người đến cứu tôi. Bác cai tù thấy hơi nước lọt từ các cửa sổ ra. Khi tôi ra khỏi được cái nồi hầm này, tôi bị bỏng nặng và đau như một linh hồn dưới hỏa ngục, nhất là ở đùi và bộ phận sinh dục, ở đấy da đã bị lột ra. Tôi được bôi acid pieric và được vào nằm trong phòng nhỏ của bệnh xá. Vết bỏng của tôi nặng đến mức họ phải gọi bác sĩ đến khám. Tôi được chích vài mũi thuốc morphin để chịu đựng được trong hai mươi bốn giờ đầu. Khi bác sĩ hỏi tôi việc gì đã xảy ra tôi nói là trong bồn nước có một ngọn núi lửa bắt đầu phun. Chẳng ai hiểu đầu đuôi ra sao. Và viên y tá gác đổ lỗi cho người chuẩn bị nước tắm đã điều chỉnh lộn hai cái với nước.
Salvidia, sau khi bôi acid picric cho tôi đã đi ra. Anh đã sẵn sàng và nói với tôi, may mà tôi được ở bệnh xá vì nếu cuộc vượt ngục thất bại, tôi có thể trở về khu vực này mà không sợ có ai trông thấy. Anh phải cấp tốc làm một chiếc chìa khóa giả của phòng này. Anh đã lấy dấu chià khóa bằng một mẩu xà phòng. Ngày mai sẽ có chìa. Chỉ cần tôi cho biết ngày nào tôi đỡ đau, đủ sức để lợi dụng phiên gác đầu tiên của người coi tù không đi tuần. Chúng tôi quyết định là đêm nay sẽ trốn đi trong phiên gác từ một giờ đến năm giờ sáng. Salvidia không phải trực. Để tranh thủ thời gian, anh sẽ dốc hết thùng ton-nô dấm vào hồi mười một giờ đêm. Thùng dầu sẽ được để nguyên vì biển động, có thể dầu phủ lên nước biển sẽ làm dịu bớt sóng khi chúng tôi xuống nước. Tôi mặc một cái quần làm bằng bao bột mì, dài tới đầu gối và một cái áo va-rơi bằng len, một con dao tốt dắt vào thắt lưng. Tôi còn đeo một cái túi nhỏ không thấm nước ở cổ, trong đựng ít thuốc lá và một cái máy lửa. Salvidia thì chuẩn bị sẵn một túi dết không thấm nước đựng bột sắn trộn với dầu ăn và đường, chừng ba ki-lô, theo lời anh nói. Đã khuya rồi. Tôi ngồi trên giường, đợi anh đến. Tim tôi đập thình thình. Chỉ trong chốc lát, cuộc vượt ngục sẽ bắt đầu. Cầu Trời và vận may đến với tôi để cuối cùng tôi thành công, vĩnh viễn thoát được ra khỏi con đường thối rữa này. Điều lạ lùng là tôi chỉ có một ý nghĩ thoáng qua về quá khứ. Tôi nghĩ về bố tôi và về gia đình tôi. Không có một hình ảnh nào về phiên tòa đại hình, về các bồi thẩm hay về viên biện lý.
Khi cửa được mở ra, tôi bất chợt thấy cảnh Matthieu bị lũ cá mập rước đi thẳng đứng.
Lên đường nào, Papi.
Tôi đi theo anh. Anh vội khóa cửa và giấu chìa khóa ở góc hành lang: “Mau lên, làm thật mau đi”. Chúng tôi đến nhà kho, cửa đã mở. Vần cái thùng tôn-nô rỗng ra dễ như chơi. Anh lấy dây thừng cuốn quanh người, tôi thì cuốn dây thép. Tôi vớ cái túi dết bột, và trong đêm tối đen như mực, tôi bắt đầu lăn cái thùng tôn- nô của tôi ra phía biển. Anh lăn thùng dầu theo sau. May là anh rất khỏe nên đã dễ dàng kìm được cái thùng khi nó lăn xuống đường dốc thẳng đứng này.
– Từ từ thôi, cứ từ từ, cẩn thận đừng để nó lăn quá nhanh. Tôi chờ anh, để phòng trường hợp anh thả thùng ton-nô của anh ra sẽ bị thùng của tôi chặn lại. Tôi đi giật lùi, tôi đi trước, thùng ton-nô của tôi lăn theo sau. Chúng tôi xuống đến cuối con đường nhỏ không khó khăn lắm. Có một lối hẹp để ra biển, nhưng sau đó là khu có đá khó vượt qua được.
Dốc hết dầu ra, để thùng đầy, không sao đưa qua được quãng có đá đâu. Gió thổi mạnh và sóng đập ào ào vào bờ đá. Thùng đã được trút hết dầu, xong xuôi “Nứt cho chặt. Chờ đây, đậy miếng sắt tây này lên đấy”. Các lỗ đã được bịt kín. “Đóng cho chặt các đầu đinh”. Tiếng sóng gió ầm ầm, không thể nào nghe thấy tiếng đóng đinh. Khó mà khiêng nổi hai cái thùng ton-nô đã được cột chặt vào nhau này. Mỗi thùng chứa được hai trăm hai mươi lăm lít. Thật cồng kềnh, khuân vác rất vướng. Địa điểm anh bạn tôi chọn cũng không dễ dàng xoay trở. “Đẩy đi nào, trời đất ơi! Nâng lên một chút. Cẩn thận đợt sóng này đấy”. Cả hai đứa chúng tôi và cả đôi thùng ton-nô bị nhấc bổng lên và bị ném mạnh vào đá. “Cẩn thận, không chừng bị bể tanmất, chưa kể là ta còn bị gãy chân gãy tay nữa!.
– Cứ bình tĩnh, Salvidia! Cậu đi trước ra phía biển hay lại đằng sau đây thì hơn. Đó, ở chỗ ấy được rồi. Khi tôi kêu, cậu kéo mạnh nhé. Tôi cũng đẩy và chắc chắn ta sẽ ra khỏi được quãng đá này thôi. Muốn thế, phải giữ cho vững và đứng cho chắc tại chỗ, dù có bị sóng ập đến”…
Tôi cứ gào lên ra lệnh cho anh, giữa tiếng sóng gió ào ào này, tôi chắc anh nghe được: một con sóng lớn đổ ập xuống cái khối cứng nhắc gồm đôi thùng ton-nô, anh và tôi. Lúc ấy tôi điên tiết, lấy hết sức đẩy mạnh chiếc bè. Anh ta chắc cũng kéo tới vì bỗng nhiên tôi thấy nhẹ nhõm và bập bềnh trên sóng. Anh ta leo lên thùng ton-nô trước tôi và đúng lúc tói định trèo lên thì một đợt sóng thật mạnh đẩy từ dưới lên, quăng chúng tôi như một cọng lá lên một tảng đá nhô ra xa hơn cả. Con sóng xô mạnh đến nỗi hai cái thùng bị bửa toang ra mỗi nơi một mảnh. Khi sóng rút, tôi thấy mình bị kéo ra xa, cách tảng đá đến hai mươi mét. Tôi bơi và bị một con sóng khác đẩy thẳng vào bờ đặt ngồi giữa hai tảng đá. Tôi đã kịp bám giữ để khỏi bị cuốn ra khơi. Khắp người bị bầm giập, tôi đã vùng thoát được nhưng khi đến chỗ cạn, tôi mới nhận ra là tôi bị trôi xa cách chỗ chúng tôi xuống nước đến một trăm mét. Không gìn giữ gì cả, tôi la to: “Salvidia Roméo! Anh ở đâu đấy?”. Không có tiếng đáp lại. Mệt rã rời, tôi nằm trên đường đi, cởi quần dài, áo va-rơi và lại trần truồng chẳng mang gì ngoài đôi bít tất ngắn ở chân. Trời đất thiên địa, anh bạn tôi ở đâu rồi? Tôi lại kêu váng lên: “Cậu ở đâu đấy?”. Chỉ có tiếng gió, biển và sóng đáp lại. Tôi ngồi đấy, không biết bao nhiêu lâu, thẫn thờ, bị suy sụp hoàn toàn cả về thể chất lẫn tinh thần. Rồi tôi khóc vì bực tức và quẳng đi cái túi nhỏ đeo ở cổ đựng thuốc lá và máy lửa – biểu hiện mối quan tâm ruột thịt của anh bạn đối với tôi, vì anh không hút thuốc.
Đứng trước gió, trước những đợt sóng quái đản đang quét tất cả mọi thứ, tôi giơ nắm tay lên và nguyền rủa Trời: “Đồ xỏ lá, đồ chó đẻ, đồ pê-đê, mi không thấy hổ thẹn vì cứ bám riết lấy ta mà hành hạ như thế này ư? Chúa lòng lành gì mi? Mi chỉ là đồ đáng ghê tởm, đúng thế đấy, mi là kẻ xa-đích, kẻ đáng nguyền rủa! Mi là đồ thoái hóa! Ta sẽ không bao giờ gọi tên mi nữa! Mi không xứng đáng chút nào!”. Gió đã dịu dần và cảnh êm ả đã làm tôi tỉnh táo trở về với thực tại.
Tôi sẽ trở lên nhà thương điên và nếu có thể, lại lê về bệnh xá. Chỉ cần chút ít may mắn, tôi có thể làm được việc ấy
Tôi leo dốc và chỉ nghĩ một điều: trở về nằm vào giường mình. Không để ai trông thấy, không để ai biết. Tôi đã tới hành lang bệnh xá mà không gặp trở ngại. Tôi phải nhảy qua tường bệnh viện vì tôi không biết Savidia giấu chìa khóa cổng chính ở đâu.
Tôi chẳng phải tìm lâu cũng thấy chìa khóa cửa bệnh xá. Tôi vào phòng và khóa trái hai lần cửa phòng tôi lại Tôi ra cửa sổ, ném chìa khóa đi thật xa. Nó rơi phía bên ngoài tường. Và tôi đã vào giường nằm. Vật duy nhất có thể tố cáo việc tôi làm, là đôi bít tất còn ướt Tôi dậy đi vào nhà cầu để vắt cho kiệt nước. Tôi kéo chăn lên tận mặt và dần dần ấm người được đôi chút. Gió và nước biển đã làm tôi tê cóng. Không biết bạn tôi có bị chết đuối thật không? Có thể anh ấy bị sóng cuốn đì xa hơn tôi, đến tận cuối đảo và đến đấy mới bíu được lên bờ. Tôi có trở lên sớm quá không? Đáng lẽ tôi phải chờ thêm chút nữa. Tôi tự trách mình quá vội khi cho là bạn tôi đã bị thiệt mạng.
Trong ngăn kéo bàn ngủ đầu giường tôi, có hai viên thuốc ngủ. Tôi nuốt cả hai viên mà không uống nước. Nước miếng của tôi cũng đủ làm nó trôi vào họng. Tôi đang ngủ thì bị lay dậy và thấy anh y tá đứng trước mặt. Gian phòng đầy ánh nắng và cứa sổ đã được mở. Ba người bệnh đang đứng ngoài nhìn vào. 
– Thế nào Papillon? Cậu ngủ như chết vậy? Mười giờ sáng rồi. Cậu không uống cà phê à? Nguội lạnh cả.
– Uống đi.
Tuy còn ngái ngủ, tôi cũng nhận thấy là đối với tôi mọi việc vẫn bình thường.
– Sao anh lại đánh thức tôi dậy?
– Vì những vết bỏng của cậu đã lành rồi mà đang cần giường. Cậu sẽ trở về phòng của cậu.
– Thôi được.
Tôi đi theo y. Đi ngang qua sân, y để tôi ở lại đấy. Tôi tranh thủ hong đôi bít tất ra nắng cho mau khô. Cuộc vượt ngục đã tan vỡ được ba ngày rồi. Tôi không nghe thấy xì xào bàn tán về chuyện này. Tôi đi từ phòng ra sân rồi lại từ ngoài sân về phòng. Không thấy Salvidia xuất hiện, vậy là anh ta đã chết, tội nghiệp cho anh, chắc anh ta bị đập vào đá mà chết. Tôi cũng gặp may mới sống được, và tôi thoát hẳn là vì tôi ở phía sau thay vì ở đằng trước. Làm sao biết được? Tôi phải rời khỏi nhà thương điên này thôi. Làm cho họ tin là tôi đã khỏi hay ít ra cũng đáng trở về trại giam, có lẽ còn khó hơn là vào đây: Bây giờ tôi phải thuyết phục để bác sĩ thấy là tôi đã khỏi bệnh.
– Thưa ông Rouviot (ông ta là y tá trưởng), đêm qua tôi bị lạnh. Tôi xin hứa sẽ không làm bẩn quần áo của tôi, sao ông không cấp quần dài và áo sơ mi cho tôi?
Viên cai sửng sốt. Ông ta ngạc nhiên nhìn tôi rồi nói: 
– Papillon, anh ngồi xuống đây. Nói cho tôi nghe, có chuyện gì vậy?
– Tôi lấy làm lạ là tại sao tôi lại ở đây, hả sếp. Đây là nhà thương điên, như vậy là tôi sống với người điên à? Có phải, chẳng may tôi bị mất trí không? Tại sao tôi lại ở đây? Sếp vui lòng nói cho tôi nghe đi. 
– Anh bạn Papillon, vừa qua anh bị bệnh, tôi thấy anh đã khá hơn. Anh muốn làm việc không?
– Có ạ
– Anh muốn làm gì?
– Làm bất cứ việc gì.
Thế là tôi được mặc quần áo, tôi được giao việc quét dọn các phòng. Buổi chiều, cửa phòng tôi được để mở cho đến chín giờ tối và chỉ khi người gác đêm nhận phiên gác, tôi mới bị nhốt ở trong.
Một người tù – y tá, người Auvergne, chiều qua lần đầu nói chuyện với tôi. Chỉ có hai chúng tôi trong phòng gác. Cai tù chưa tới. Tôi không biết anh này nhưng anh ta nói là anh biết tôi.
– Bây giờ thì chẳng cần phải vờ vịt làm gì cho mệt, bạn ạ.
– Cậu nói gì vậy?
Cậu tưởng tôi không biết cậu giả vờ sao? Tôi làm y tá ở nhà thương điên đã bảy năm nay, và ngay từ tuần đầu tôi đã biết thừa là cậu chỉ giả vờ điên..
– Thế rồi sao nữa?
– Sau đó tôi rất tiếc vì cậu đã thất bại trong chuyến vượt ngục với Salvidia. Cậu ấy đã bỏ mạng rồi. Tôi đau khổ thật sự vì đây là một người bạn tốt, tuy cậu ấy không nói cho tôi biết, nhưng tôi cũng không để bụng giận cậu ấy. Còn cậu có cần gì, cứ cho tôi biết, tôi sẽ lấy làm sung sướng nếu được giúp cậu.
Anh có cặp mắt thẳng thắn làm tôi không nghi ngờ lòng thành thật của anh. Vì nếu tôi không nghe ai nói tốt về anh, tôi cũng không thấy ai nói xấu về anh: như vậy hẳn anh phải là người khá.
Tội nghiệp cho Salvidia! Khi biết chuyện anh ta trốn đi, mọi người đều sửng sốt. Họ tìm thấy những mảnh thùng ton-nô bị sóng đưa vào bờ. Ai cũng cho là anh đã bị cá mập ăn rồi. Bác sĩ làm toáng lên vì chỗ dầu ô-liu bị đổ đi. Ông nói trong hoàn cảnh chiến tranh không dễ gì có được.
– Anh khuyên tôi nên làm gì?
– Tôi sẽ xin cho cậu việc đi lãnh thực phẩm hàng ngày ở bệnh viện cho nhà thương này. Cậu sẽ được đi dạo một vòng. Cậu phải bắt đầu giữ gìn hạnh kiểm cho tốt. Nói mười câu thì tám câu cho có lý. Vì cũng không nên khỏi bệnh quá mau. cảm ơn, tên cậu là gì?
– Dupont.
– Cảm ơn cậu. Tôi sẽ không quên những lời khuyên của cậu.
Tôi vượt ngục hụt đã được một tháng. Sáu ngày sau, người ta tìm thấy xác anh bạn tôi nổi lên mặt nước. Do một sự tình cờ không sao hiểu được, cá mập không ăn anh. Nhưng Dupont kê với tôi rằng các loại cá khác đã ăn bộ lòng của anh, và cả một khúc chân nữa. Sọ của anh cũng bị thủng. Vì thịt đã rữa nên tử thi không bị mổ để xét nghiệm. Tôi hỏi Dupont xem anh ta có thể gửi giùm tôi một bức thư bằng đường bưu điện được không. Muốn vậy phải trao thư cho Galgani để lúc niêm phong túi đựng thư, cậu ta có thể dúi vào trong.
Tôi đã viết cho mẹ của Ro meo Salvidia ở ý bức thư sau đây:
“Thưa bà, con trai bà đã chết, chân không bị xiềng. Anh ấy đã chết ở biển, một cách can đảm, xa bọn cai ngục và xa nơi giam cầm. Anh ấy đã chết tự do trong khi đấu tranh dũng cảm để dành lại tự do cho mình. Chúng tôi đã hứa với nhau sẽ viết thư cho gia đình của bạn mình nếu có người nào gặp nạn. Nay tôi làm tròn cái nhiệm vụ đau đớn ấy và xin kính cẩn hôn tay bà với lòng yêu kính của một người con.
Bạn của con bà
Papillon”

Làm xong nhiệm vụ đó, tôi quyết định không nghĩ tới cơn ác mộng ấy nữa. Đời là thế, còn phải ra khỏi nhà thương điên, tìm mọi cách để về bằng được đảo Quỷ và thử vượt ngục một chuyến nữa. Viên cai tù đã giao cho tôi việc làm vườn nhà y. Tôi trở lại bình thường đã hai tháng nay, và tôi được mến thích đến nỗi thằng cha đó không muốn buông tôi ra nữa. Cậu người Auvergne kể cho tôi nghe, lần khám bệnh vừa qua bác sĩ muốn cho tôi xuất viện về trại để “thử nghiệm”. Viên cai tù đã phản đối, nói rằng chưa bao giờ vườn của hắn lại dược chăm sóc cẩn thận đến như vậy.
Cho nên sáng nay, tôi đã nhổ tất cả các cây dâu tây và vất vào sọt rác. Rồi tôi trồng một cây thập tự nhỏ vào chỗ ấy. Cứ mỗi gốc dâu lại có một cây thập tự Không cần phải kể, cũng biết là sự việc này đã rùm beng lên như thế nào. – Thằng cha cai tù béo phệ này tức điên lên tưởng chết được. Hắn sùi cả bọt mép và nghẹn ngào nói không ra tiếng nữa. Sau cùng ngồi trên chiếc xe cút kít, hắn đã khóc nức nở, hai hàng nước mắt thật tuôn lã chã. Tôi đã chơi hơi quá nhưng biết làm sao được?
Bác sĩ không coi việc này là quá nghiêm trọng. Ông nhấn mạnh, bệnh nhân này phải được đưa trả về trại giam, cho thích nghi lại với môi trường sống bình thường để “thử nghiệm”. Khi còn lại một mình ở trong vườn, ông mới nảy ra cái ý nghĩ kỳ quặc này.
– Papillon ơi, anh nói cho tôi biết tại sao anh lại nhổ dâu tây để trồng các cây thập tự vào đấy? Tôi cũng không giải thích nổi tại sao tôi làm như vậy bác sĩ ạ, và tôi đã xin lỗi ông giám thị. Ông ấy cưng mấy cây dâu quá làm tôi cũng khổ tâm lắm. Tôi sẽ cầu nguyện để xin Trời cho ông ấy những cây dâu khác.
Tôi đã trở về trại giam, và gặp lại các bạn. Chỗ của Carbonieri vẫn để trống. Tôi mắc võng ở bên cạnh, làm như thể Matthieu vẫn còn nằm ở đấy. Bác sĩ bắt dính vào áo ngoài của tôi giòng chữ: “Đang điều trị đặc biệt. Không một ai, trừ bác sĩ, được ra lệnh cho tôi”. Ông bảo tôi nhặt lá rụng trước bệnh viện từ tám giờ đến mười giờ sáng. Tôi ngồi ghế bành uống cà phê và hút thuốc với bác sĩ ngay trước nhà ông. Vợ ông cũng ngồi với chúng tôi, ông cùng vợ ông cố gợi chuyện tôi về quá khứ của tôi.
– Sau rồi làm sao, Papillon? Sau khi rời những người Anh-điêng mò ngọc trai, việc gì đã đến với anh? Trưa nào tôi cũng ngồi với hai con người đáng khâm phục ấy. Vợ bác sĩ nói: “Anh lại đây hàng ngày với tôi nhé, Papillon. Trước hết vì tôi muốn gặp anh, thứ đến là tôi rất thích nghe kể những chuyện đã xảy ra với anh”.
Ngày nào tôi cũng đến vài giờ với bác sĩ và vợ ông, thỉnh thoảng chỉ có một mình bà vợ. Bắt tôi kể lại quãng đời đã qua của tôi, cả hai tin chắc rằng việc ấy sẽ làm tôi vĩnh viễn lấy lại được thăng bằng. Tôi quyết định xin bác sĩ chuyển tôi đi đảo Quỷ.
Rồi việc ấy cũng xong, ngày mai, tôi sẽ đi. Ông bác sĩ và vợ ông biết vì sao tôi đòi đến đảo Quỷ. Cả hai quá tốt với tôi nên tôi không muốn lừa dối họ: “Bác sĩ ơi, ở nhà tù khổ sai này, tôi không sao chịu nổi, bác sĩ cho tôi chuyến đi đảo Quỷ để tôi vượt ngục hay là chết, sao cũng được, miễn là chấm dứt tình trạng này đi cho rồi”.
– Tôi hiểu anh, Papillon ạ, cái chế độ đàn áp này cũng làm tôi chán ngấy, cái Ban Quản trị ở đây quá thối nát. Thôi vĩnh biệt và chúc anh gặp may.








Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên  

Post by Sơn râu 18 Nov 2025

Chương 14

Nhiều chuyến công-voa từ Buchenwald đến và nhiều khối khác được thành lập. Chúng tôi không có thì giờ chạy kiếm coi có người quen không. Chỉ có sự tình cờ do chuyển dịch trong lúc tập họp, mới giúp chúng tôi gặp lại một người bạn.

Trong khi tôi sắp bắt đầu tuần lễ thứ hai trong biệt đội lao tác nầy, công việc tương đối nhẹ nhàng, thì cùng với ba mươi sáu tù nhân khác, tôi bị thộp một cách tình cờ để đưa lên con tàu chở súc vật mà mỗi sáng đưa nhân công đến đại công trường. Rõ ràng là tôi không được làm việc quá tám ngày tại một chỗ mà tôi bắt đầu thích được ở lại mãi. Tuy nhiên, suy cho cũng, tôi sắp thấy chuyện mời là khác. Chúng tôi xuống tàu tại một ngôi làng vui tươi đẹp đẽ tên là Wofleben. Bị bao học bởi lính canh, 1500 người chúng tôi ra khỏi ga và đi vào con đường chính trong làng. Làng mạc ở Đức dễ có cảm tình, sạch, và những cửa sổ đủ màu đã che khuất những gì khó coi trong một trang trại. Chúng tôi thấy có một lữ quán mang tên: “Sân bắn của Đại đế Frédéric le Grand”, tuy nhiên có vẻ không đắt khách lắm. Ngay khi vừa ra khỏi làng, một bên đường bị rào kẽm gai hàng trăm thước, vì bên trong là các nhà phụ thuộc của nhà máy vĩ đại đang được đào sâu vào lòng núi gần đó. Chúng tôi vào đây. Trên một khoảng rộng nhiều biệt đội đứng sắp hàng sau một tấm bảng tên người cai liên hệ.

Rọ đi qua một chiếc bàn có sĩ quan SS đứng đằng sau kiểm soát, và tôi thấy hoặc họ biến mất trong đường hầm, hoặc trong các dãy nhà dùng làm đủ loại cơ xưởng. Các toán khác được phái bốc dỡ hoặc chất đầy các toa tàu trên một đường xe lửa đi qua công trường. Chúng tôi, số người bị lấy thêm, tự hỏi người ta sắp giao cho việc gì đây.

Một chiếc xe vận tải nhỏ đến chở chúng tôi cho đến vùng ngoại ô Nordhausen, cách đó chừng mươi cây số. Một người dân sự chờ đó với xẻng, cuốc và các cuộn dây điện thoại, chúng tôi phải đặt một đường dây phụ nối thành phố này với công trường. Khoảng cách đường dây độ chừng mười cây số. Phần dây chôn dưới đất dành cho chúng tôi. Phần còn lại dành cho một toán chuyên viên gồm toàn người Ý trong quân đội của Badoglio. Họ được hưởng chế độ tù binh chiến tranh, nghĩa là sự xa hoa so với chúng tôi, nhưng họ không ngạc nhiên khi trông thấy chúng tôi, họ quen làm việc với mọi loại người nội trú mà Đại Đức quốc đã “tuyển dụng” để làm việc. Chúng tôi phải đào một rãnh dài, và vì trời đẹp nên ngày đầu tiên trôi qua không có gì mệt nhọc. Tình trạng hôm sau không còn được như vậy nữa. Một tên lính canh, thường không lưu tâm gì đến công tác, đã đến gần tôi trong buổi sáng. Từ lúc bắt đầu làm việc, tôi chú ý là y theo dõi tôi một cách đặc biệt:

– Sao, không biết xử dụng cuốc ạ, y nói với tôi, đưa tay coi?

Đó là một tên tóc đỏ hoe, vẻ mặt được đánh dấu đặc biệt bởi một chiếc mồm giống miệng thỏ và vẻ thù hận trong ánh mắt. Tôi đưa hai tay trình y.Y phá ra cười chế nhạo và ra lệnh cho tôi cuốc với nhịp nhanh hơn. Y đứng ở gần tôi để theo dõi sự thi hành mệnh lệnh. Sau nửa giờ, tôi mệt đứt hơi nhưng nỗi thống khổ chỉ mới bắt đầu. Mỗi lần có ý định dừng lại một giây để lấy sức, một báng súng dáng vào lưng tôi nhắc nhở sự hiện diện của y. Y cười ngạo mạn, chỉ trỏ tôi cho bọn đồng nghiệp, và tự nhiên là vì tính hèn hạ, chúng đã đồng tình với y. Tất cả những gì tôi chịu đựng cho đến lúc đó chỉ là trò trẻ con. Khi buổi nghỉ trưa, sau cùng, rồi cũng đến, kiệt lực, tôi tự hỏi với nỗi sợ hãi làm sao có thể tiếp tục vào buổi chiều được. Trên đường, nhiều người chạy xe đạp ngang qua. Cảnh đồng quê thật đẹp, mọi vật yên bình và tươi tĩnh. Chúng tôi lại được lệnh tiếp tục làm việc, tôi nghe một tên lính nói với bạn y một câu có vẻ lo âu: “Mày nghe chưa, radio nói là chúng đã thực hiện rồi”. Cả hai đi vào một căn nhà gần đó để nghe tin tức và tất cả bọn lính canh chặn lại sầm sì với nhau có vẻ bí mật. Tình trạng nầy thật là hấp dẫn bởi vì tên đao phủ thủ đã quên mất tôi và suốt cả buổi chiều tôi đã cố thử đoán xem tin tức gì mà có thể làm xao động đến như vậy. Tất cả những dự đoán đều trải qua trong óc. nhưng mãi đến tối, lúc trở về trại tôi mới biết rõ, mọi người đều đề cập đến nó. Đài phát thanh Đức cũng loan báo tin nầy và nhiều tù nhân đã nghe được. Cuộc đổ bộ đã được thực hiện rồi, lần nầy không còn là tin vịt nữa. Từ ngày người ta chờ đợi nó, chúng tôi đã chán quá vì tin bậy bạ, mọi người đều thừa nhận sau cơn phấn khích: “đã đến lúc rồi”. Hôm đó, vả chăng, thực cũng là một ngày tốt đẹp.

Biến cố vừa xảy ra ở phía Tây dường như có vẻ gần gũi quá, và mọi loại ảo tưởng lại trở về trong tâm trí. Sự sụp đổ mau lẹ của Đức quốc vì cả hai mặt trận và, hậu quả tức thời chắc là có sự nới rộng chế độ kỷ luật. Ngay cả với những người bi quan nhất, cũng thấy có khả năng chịu đựng được chuỗi ngày còn lại của cuộc giam cầm, và không một ai trong số 10.000 tù nhân ở đây còn nghi ngờ gì về chuyến chiến tranh sắp chấm dứt. Ngay đêm 6 tháng 6 đó, khi chúng tôi đã nằm duỗi dài trên đệm rơm, một người dân xứ Flandre cắt đứt sự đồng tình toàn diện trong tâm trí mọi người bằng cách tuyên bố:

– Nếu người Anh Mỹ không đến, người ta tự hỏi quân Nga sẽ bị chặn lại ở đâu. Vấn đề là chiến đấu, bọn Nga có đó, tôi không nói ngược lại, nhưng tôi không chịu nổi chủ nghĩa Cộng sản.

Nhân xét này đã gây ra một cuộc cãi vã và một người đã nói rằng sau khi chiến tranh chấm đứt, các cường quốc rồi ra có lợi hơn cả, nhờ buôn bán nhờ kỹ nghệ võ khí, và như vậy các quốc gia bị chiến tranh tàn phá sẽ còn gặp rắc rối, khó khăn.

Người đa nghi vừa phát biểu ý kiến trên đã làm tôi tò mò, và tôi không phải mất nhiều thì giờ để làm quen với Paco, tên của vô tuyến điện viên hãng Air France. Anh nầy đã điều khiển một lưới liên lạc ở Pas de Calais. Khi tôi tỏ bày sự ngạc nhiên khi thấy một người có vẻ chán chường như anh ta mà lại tham gia kháng chiến, anh ta trả lời:

– Không có gì kỳ lạ cả, chiến tranh đã làm tôi bó gối ở Á căn đình và làm tôi bực dọc. Người ta nói đời sống bắt đầu lúc 40 tuổi, tôi vừa đạt đến tuổi đó. Tôi xin tòa Đại sứ Anh cho phép đến Luân-đôn gặp Lực lượng Pháp quốc Tự do. Ở đó có rất nhiều chỗ làm cho bọn cơ hội chủ nghĩa và bọn chính khách sa-lông cho nên khi tôi thấy giỏ cua ấy tôi liền mau lẹ xin được thả dù xuống Pháp và rồi, tôi ưa thể thao, ưa mạo hiểm, tôi chẳng hối tiếc gì cả.

Anh ta vừa đến trại này không lâu cùng với một công-voa gồm 700 tù nhân đã từng xây cất một nhà máy tại Saxe. Một ngàn ba trăm trên hai ngàn tổng số lúc đầu đã bỏ mạng cho công trình xây cất mới mà mục tiêu là để sản xuất hóa phẩm. Vùng Nordhausen mà chúng tôi đang ở, nhận tối đa nhân lực có sẵn, vì dự án khi hoàn tất sẽ gồm 80 cây số đường hầm ngang qua dãy núi Thuringe và ngoại trừ Dora, nhà máy trung ương gần như đã hoàn thành, tất cả phần còn lại của dự án thì mới bắt đầu từ sáu tháng nay và đang được làm gấp. Trong mùa hè này, sức khỏe tổng quát của mọi người tương đối tốt, và số người chết ít đến nỗi không còn ai chú ý đến nữa. Vài ngày sau cuộc bộ, khoảng 15 tháng 6, một đêm, khi đi làm về, một cuộc tập họp tổng quát được triệu tập theo từng loại quốc tịch, trong khi chúng tôi nghĩ đây chỉ là một cuộc điểm danh thường lệ, thì người ta lại loan báo rằng chúng tôi sẽ chứng kiến cảnh treo cổ hai người. Một cột treo cổ với hai thòng lọng còn mới, được đựng lên chính giữa chúng tôi để mọi người đều có thể trông thấy. Những tử tội, người Tiệp Khắc, được đặt đứng trên một chiếc ghế dài. Tay họ bị trói, mồm ngậm một mảnh gỗ để nói không được. Viên thông ngôn chính của trại, lại là người Tiệp Khắc, phải công bố bằng ba thứ tiếng tội phạm mà hai bạn đồng hương của anh ta đã phạm phải: dự định vượt ngục tiếp theo sau các biến chuyển mới nhất của tình hình. Tuy nhiên, vì sự xúc cảm đã làm anh ta nói không ra hơi, tên chỉ huy trưởng SS, tên đã đón tiếp chúng tôi khi mới đến, đã nện cho anh ta mấy đấm vào bao tử, đến nằm ẹp dưới đất, và rú lên bằng tiếng Đức:

– Đây là những tên đầu tiên mà tôi cho treo cổ, tôi báo trước, chúng không phải là những người cuối cùng đầu. Các anh đang ở trong một Arbeitlager SS (trại khổ sai SS) và ở đây chỉ có một điều duy nhất có giá trị thôi: hiệu năng.

Sau khi cho lệnh hành hình, y sấn vào trong hàng ngũ tù Tiệp Khắc, và một cách điên cuồng, y phân phối các cú đá, đấm, khắp mọi phương vị, chính tên tù, quản trại, tình nguyện quàng thòng lọng vào cổ hai nạn nhân.

Y làm việc đó với vẻ tự nhiên như bất cứ công việc tạp dịch thường lệ nào khác. Một cái đá chân nhẹ làm đổ chiếc ghế dài và hai thân người đu đưa trong khoảng không. Trong vài giây đồng hồ, cái hư vô của tất cả những gì trên cõi thế đã hiện ra trong ánh mắt của đám khán giả bị bắt buộc chúng tôi, rồi đến khi có lệnh giải tán để đi lãnh phần ăn, mọi người đều nghĩ đến số đường đất mà quân Anh Mỹ tiến được trong ngày. Khi không còn gì nữa, người ta bám vào bất cứ nơi nào có thể.

Một lúc sau, trước lối vào khối số 3, nơi chúng tôi ở, tôi thấy tên tù quản trại – luôn luôn là y – đánh một tù Nga bằng gậy, dưới các đòn đánh đập, nạn nhân lăn lóc và hét lên vì đau đớn. Điều đó cũng không làm tên sát nhân nương tay chút nào, y còn thọc cả mũi giày nhọn đá vào bụng vào ngực chú nhỏ. Nhưng nạn nhân đã phạm tội gì mà nên nỗi? Anh ta đã cãi lộn và khốn thay, đánh mấy cái vào một tên gitan gia nô ruột của tên quản trại. Không cần phải đoán là y sẽ giết nạn nhản, bởi vì đó là ý định của y. Cuộc hành tội kéo dài 20 phút và tôi không còn nghe tiếng rên rỉ nữa, y nghiêng người xem nạn nhân còn thở không, nhưng hết rồi. Lúc đó, y thở dốc, nhìn lên gia nô ruột. Tên nầy, thật tôi muốn cho ai phần bánh mì nếu đập bể được mặt nó quá, hiu hiu tự đắc thốt ra một câu nhận xét “Da nó cứng quá, hả?” Hai tù nhân Nga mang xác còn nóng hổi của bạn mình đi và tôi nghe họ lầm bầm “khi nào chủ nó rớt đài, mình sẽ tính chuyện với nó”. Thật vậy, thường thường một tên kapo, hay trưởng khối, và ngay cả tên quản trại, khi mất chỗ sau một cuộc chấp tranh nội bộ với các đối thủ hung dữ hơn. Một vài người đã lợi dụng thời cơ để trả thù thật tàn bạo.

Vào giữa tháng 6, khi biệt đội của tôi vẫn còn đặt đường dây điện thoại, một lính canh đến gần tôi và đưa cho tôi một mẩu bánh mì gói trong trang đầu của một tờ báo. Bọn lính canh giờ chúng tôi thay đổi luôn. Đó là cả một sự may mắn, bởi vì kinh nghiệm mới đây còn để lại cho tôi một kỷ niệm xấu, nhưng tôi có thái độ còn hơn cả ngạc nhiên nữa, bởi vì mọi sự liên lạc giữa lính canh và tù đều bị cấm chỉ. Nếu vi phạm, cả hai bên đều bị trừng phạt. Quả thật chúng tôi đang ở ngoài trại và kẻ cho tôi một cách rộng lượng một mẩu bánh mì, chắc phải có thâm giao với trưởng toán và chỉ có vậy mới cho phép anh ta đi xa qui tắc như thế. Trong giờ nghỉ, anh ta đến kiếm tôi và nói bằng tiếng Pháp lưu loát, về các biến chuyển quân sự mới nhất, và đây là lần đầu tiên tôi khám phá thấy được, một thanh niên Đức chống Hitler. Đây không phải là một cái bẫy vì không có một lợi ích nào thúc đẩy anh ta làm như thế. Trái lại, nói chuyện tin cẩn với một tù nhân là cả một cái gì nguy hiểm cho anh ta. Tôi có thể tố cáo anh ta và nhờ đó được các lợi lộc vật chất, trong khi anh ta có thể bị đi nằm nhà đá hay đưa ra trước tiểu đội hành quyết. Tất nhiên là tôi để cho anh ta nói và vì thận trọng, tôi chỉ trả lời mơ hồ thoái thác. Bởi vì làm sao có thể trả lời được cho kẻ có thể hạ gục mình bằng một viên đạn súng lục, và đặt cho mình một câu hỏi đột ngột “Anh có tin rằng chúng tôi đứng vững không?” Sự kiện là, mặc dù chống chế độ, anh ta chỉ chấp nhận một cách khổ tâm sự bại trận của Quốc gia mình. Tôi phải thừa nhận rằng thời gian sống ở “Quartier Latin” (khu vực sinh viên ở Ba-lê) đã ảnh hưởng tới anh rõ rệt, và chuyển biến có thật, tôi gặp một kẻ có thiện cảm với người Pháp, trong thế đối nghịch. Mỗi lần đến phiên anh ta coi gác chúng tôi, tôi chắc là sẽ có một cái gì đó để ăn và một tờ báo là một món ăn ngon của tôi trong thời kỳ hoàn toàn mù tịt tin tức nầy.

Ngay buổi tối ngày tôi làm quen với anh ta, mấy tù nhân Pháp cùng có mặt trong biệt đội nhào đến hỏi tôi đủ thứ câu hỏi:

– Sao, y nói gì với anh? Y có vẻ lo âu. Ồ! Đó là chứng cớ rõ ràng nhất là anh ta đang kinh hãi. Rồi sẽ chấm dứt sớm hả!

Thật ra, vẻ âu lo mà Hans – đó là tên của anh lính canh – để lộ ra chỉ là vì nguyên nhân đơn giản: vấn đề tình nhân loại nói chung. Tôi đã gặp một chú bé tình cảm và có thể lãng mạn nữa, bị nghiền nát bởi kỷ luật và các phương pháp của bọn Quốc Xã. Anh ta có vẻ không xa sự thật lắm khi xác nhận với tôi.

– Nếu Đồng Minh không gấp rút lên, Hitler sẽ có khả năng qua mặt nhanh chóng. Không nên đùa với loại vũ khí bí mật và hỏa tiễn V1 1 mới được đem ra xử dụng chỉ là trò trẻ con trong nghệ thuật giết người mà bọn Quốc Xã đang chế tạo trong vòng bí mật.

Tôi báo cho các bạn bè biết nhận định đó khi họ đến hỏi tin tức. Hệ thống tuyên truyền chung quanh sự tiêu diệt Luân-đôn bằng loại máy bay do người máy điều khiển đã đến tai chúng tôi và một vài âu lo đã len vào các lời chế nhao mà mọi người vẫn bày tỏ. Nhất là cũng vẫn cứ mấy dịa danh đó được nhắc trong thông cáo và sức đề kháng của Đức trong bán đảo Cotenlin (miền Bắc nước Pháp), bắt đầu có vẻ kéo dài quá, đối với chúng tôi. Chúng tôi nghĩ nếu mỗi thước đất của quê hương người Gaulois phải được chiếm lại với các trận chiến khốc liệt, thì xứ sở chúng tôi sẽ bị tàn phá còn hơn Đức quốc nữa.

Trong biệt đội của tôi có một cựu sĩ quan thuộc địa có gia đình tại Caon mà tôi biết, qua một tờ báo, là phần đông dân chúng đã bị chôn vùi dưới các đống đổ nát tiếp theo sau các cuộc dội bom dữ dội đêm trước khi có cuộc đổ hộ.

Tin tức nầy, có vẻ phóng đại quá trớn, nhưng cũng đã làm lay chuyển những người sắt đã nhất. Tuy nhiên Đại úy Adam – đó là tên của viên sĩ quan – lại nói chuyện khác. Bà mẹ già và vợ ông ta chắc bị chết rồi, hai con trai ông chắc là ở đâu đó trong chiến khu và chính ông lại ở trong cảnh khốn khổ, nhưng khi có thì giờ rảnh. ông đã trình bày quan niệm một chính sách đối ngoại thật sự có tính cách Quốc gia.

– Đáng lẽ chúng ta không nên tuyên chiến năm 1939, ông ta nói. Nước Anh, nếu ở trong vị thế của chúng ta cũng không làm như vậy. Quyền lợi của chúng ta là nhào vào cuộc nhảy nhót càng chậm càng tốt. Nhưng nếu đã vì một lầm lỗi phạm phải vào ngày 3 2 tháng 9, năm 1939 thì không nên phạm một lầm lỗi nữa vào ngày 17 tháng 6 năm 1940 khi van nài đình chiến mới phải.

“Thật rõ ràng là sau Clémenceau, chúng ta thiếu các chính khách giỏi, tuy nhiên không có gì ngăn cản được chiến tranh tiếp tục tại Bắc phi. Không những Rommel sẽ không bao giờ trở lại đó mà quân Ý cũng đã quỳ gối từ lâu. Nước Ý có thể làm được gì để chống lại một hành động phối hợp của hải quân Pháp Anh?

” Chiến tranh có thể chấm dứt rồi. Thay vì như vậy, người ta còn đùa giỡn với phòng tranh với cuộc diễn ngựa lại bờ bể Phi châu, và nay với đồng quê của Ý, để làm gì? Dẫu sao nước Pháp cũng bị chiếm đóng hoàn toàn và rốt cuộc là chúng ta bị thiệt thòi nhất.”

Khi ông ta đi đến kết luận đó, không ai dám nói lời nào. Duy chỉ có một tù Ba Lan, con một kỹ nghệ gia ở Cracovic, đã từng qua học ở Pháp, trêu chúng tôi.

– Rồi đời nước Pháp rồi, – anh ta la lên! – Vai trò của nước Pháp chấm dứt rồi. Sau chiến tranh nầy chúng tôi sẽ trở lại thành cường quốc như thời trung cổ. Từ bờ bể Baltique đến “Hắc hải”, đó là tất cả những gì mà Đồng Minh hứa với chúng tôi, vả chăng, đấy là quyền lợi của họ, nhất là đối với Anh quốc. Một nước Đức bị nghiền nát, lúc đó kẻ thù số một là Nga sô.

Vài ngày sau, trong chiếc xe đưa chúng tôi đến nhà máy Dora vì đường dây điện thoại của chúng tôi đi ngang qua qua. Hans lo gác chúng tôi, thì thầm thì vào tai tôi:

– Xong rồi, điều mà các anh chờ đợi nay đã đến.

Vì lẽ anh ta không nói gì hơn, tôi vẫn còn thắc mắc, mặc dù rất vui vì được là người đầu tiên biết tin, nhưng tôi không hiểu nội dung tin đó là gì. Trong thực tế chúng tôi chờ đợi hai điều: mặt trận Miền Tây mở máy vì đã dậm chân tại chỗ khá lâu, dẫu cho trận chiến có vẻ khốc liệt; điều thứ hai là lực lượng Nga sô mở cuộc tiến công Miền Đông. Mọi người đều biết: nếu cả hai mặt trận phối hợp với nhau, chiến thắng cuối cùng sẽ đến nhanh hơn. Chắc Hans phải phòng một trong những đồng bạn, bởi vì mặc dầu tôi ra dấu không hiểu, anh ta cũng không hé thêm được điều gì. Mãi đến lúc xuống xe khi tới địa điểm làm việc, anh ta mới có thể nói nhanh cho tôi một chi tiết: “Cuộc tấn công của Nga sô đã được phát động đầu hôm qua tại Vitebsk”. Hôm ấy là ngày 23 tháng sáu và thời tiết rất tuyệt. Tin tức được lan truyền nhanh chóng và nỗi sung sướng làm mặt ai cũng sáng rỡ. Áo quần chúng tôi bị mòn rách cả rồi, nhiều người có dưới chân một bó giẻ thay vì đôi giày, người đầy rận, và cái đói kềm kẹp chúng tôi không ngừng. Tuy nhiên chúng tôi sung sướng và vui sống hơn cả những người được ưu đãi trên cõi đời nay nữa.

Nhưng trong thực tế, chúng tôi đang ở Dora, tên của một nơi nằm ngay giữa đường từ Nordhausen đến công trường Woflben của chúng tôi. Từ ngoài đường chúng tôi trông thấy doanh trại và vật liệu được chất ngút ngàn, nhưng không có dấu hiệu nào cho thấy ngọn núi bên phải lại chứa trong một hang động, một nhà máy tối tân với hai mươi ngàn nô lệ đang chế tạo bom và vài bộ phận của hỏa tiễn trứ danh V1. Đường dây của chúng tôi băng qua các khu rừng trong ngọn núi nầy, và từ đó, chúng tôi có thể trông thấy bao quát cả khu nhà máy. Thật sự nó tọa lạc tại một địa điểm rất tốt, và người ta không thể ngăn cản được ý nghĩ so sánh với các trại dưỡng sức. Nó được chia ra làm ba phần: phần thứ nhất gồm các dãy nhà dành cho tù nhân tạm trú; phần thứ hai dành cho trung đoàn SS, và phần chót làm nơi chứa vật liệu dùng cho nhà máy. Một đường xe lửa đến tận chân núi qua cổng chính. Đường sắt nầy được ngụy trang kỹ, và không thể nào bị máy bay khám phá. Toàn bộ được bao bọc, ngoài hàng rào kẽm gai và hàng rào truyền điện, còn có các rừng thông; có hình dáng một cái móng ngựa khổng lồ nếu đứng trên cao nhìn xuống. Như thế, khu trại dường như đã được thiết lập xong và nhà máy thì hoàn tất từ đầu mùa xuân.

Lúc nghỉ trưa, tôi gặp may nói chuyện được với một tù nhân Pháp làm việc ở ngoài từ sáu tháng nay. Ngồi trên cỏ, và trong bộ y phục tù nhân. Với một chút tưởng tượng, người ta có thể tưởng rằng đang nghỉ mát trong một khung cảnh đồng quê dễ chịu. Tuy nhiên những gì nghe chính miệng người đồng bạn của tôi nói đã giữ tôi lại với thực tế:

– Anh thấy không, anh ta vừa nói vừa chỉ khu doanh trại, khi tôi đến đây vào mùa thu năm ngoái, vùng nầy là một vũng bùn và đôi khi chúng tôi phải lội bì bõm ngang đầu gối.

Nhưng điều đó cũng chưa thấm gì. Hãy nghĩ đến nỗi kinh hoàng của chúng tôi khi bị đưa vào đường hầm đang được đào và không được trở ra nữa, ít ra là cho đến lúc các dãy trại được cất xong. Và chỉ có một tuán tù ít ỏi đảm trách công cuộc dựng các trại nầy. Bên trong, ba toán thay nhau làm việc liền trong 8 tiếng để tiếp tục công cuộc khoan hầm, và trong khi toán nầy làm việc trong tiếng ầm ĩ của các chiếc máy khoan bằng hơi ép và trong bụi bặm đến mờ mắt, những người khác nằm ngủ hay cố ngủ kế bên đó, trong một đường hầm nằm ngang, trên các giường chồnn lên nhau bốn hay có lúc năm tầng. Ai nằm tầng dưới thường hứng được, từ các tầng trên một chất lỏng lẽ ra phải cho chảy vào ống cống. Tuy nhiên ai cũng bị mệt mỏi đến nỗi không muốn mất thì giờ đi đến thùng tiểu đại tiện đặt gần các nồi súp và bàn để bánh mì, vì mọi thứ trong đó đều lẫn lộn với nhau. Phần ăn phải được ăn ngay vì nhiền khi bị giật trên tay. Ai giật? Không thể nào biết được trong đám hỗn loạn đó. Cả một “băng” dọn ăn nịnh trên nạt dưới, gậy trong tay, thay bọn SS làm bọn nầy chỉ thỉnh thoảng mới vào kiểm soát. Anh cũng biết trong chế độ đó, thần chết rất khoái trá. Trong khu vực của tôi, mỗi ngày có hai mươi lăm mạng ra đi và có một toán đặc biệt chuyên khiêng xác họ ra ngoài. Nhân lực không bao giờ thiếu, vì luôn luôn được trại Buchenwald đưa đến. Trong ba tháng, tôi ở trong lòng đất không được thấy ánh mặt trời, và trong những ngày đầu tiên khi được đưa ra ngoài, mắt tôi đau nhói. Khi nhắc đến thời gian đó để so sánh, thì hiện nay đúng là một trại dưỡng sức. Nhưng người ta có thể nói nó được xây trên xác chết.

Khi anh ta nói với tôi, tôi thấy nhiều người xuất hiện ở cửa hầm vừa chạy vừa đẩy xe cút kít. Những tù nhân khác, trong vai trò cai thợ, đánh xả lên người họ để giữ nhịp chạy và dựng các người bị ngã lăn bắt phải đứng dậy. Họ ở cách xa chúng tôi hàng mấy trăm thước và người ta cũng có thể thấy nhiều tên SS với chó săn dắt nơi tay. Đoán biết tôi ngạc nhiên, người cựu tù nhân làm việc ở Dora giải thích:

– Đó là bọn Do-Thái Hung Gia Lợi vừa được đưa từ Auschwitz đến hai ba ngày trước. Tôi không hiểu sao bọn Đức không đưa họ vào lò hơi ngạt và một số trong họ chắc phải lấy làm hối tiếc về chuyện ấy! Chúng bắt huộc một số đông trong họ, dưới sự đe dọa cho chó cắn, phải đóng vai trò cai phu và đánh đập bạn bè của mình.

Sau buổi chiều, khi trở lại xe hơi, tôi thấy nhiều hàng tù nhân đi ra khỏi đường hầm chính. Đó là toán ban ngày, sau khi hết phiên, trở về chỗ ở. Từ sáng sớm, tôi hy vọng gặp một người quen và đó là một may mắn vô vọng, khi được chứng kiến sự đổi phiên. Tôi nhìn chăm chú các bộ mặt hốc hác của đám tù khổ sai. Đột nhiên một tiếng kêu thoát khỏi miệng tôi: “Hubert!” anh ta gầy còn một nửa, nhưng tôi nhận ra ngay. “Sao?” tôi la lớn về phía anh ta. Một bộ mặt còn da bọc xương, vẻ nhìn thất thần hướng về phía tôi, hoàn toàn trông giống như một xác chết đang đi. Tay anh làm một cử chỉ mơ hồ tỏ rõ sự mệt nhọc và tôi nghe độc một câu: “Tu viện trưởng Bourgeois chết rồi?” Một vài giây nữa và bóng anh mất hút trong hàng người dài vô tận đi ra khỏi đường hầm như một con sâu khổng lồ. Vậy là trong số những người sống với nhau trong thời gian kiểm dịch đầu tiên, một trong các người bạn tốt nhất đã ra đi, và nếu Hubert chỉ nói đến người tôi biết rõ nhất, điều nầy có nghĩa là nhiều bạn khác có thể cũng đã chết rồi. Chính anh, cũng có và sức tàn lực kiệt rồi, và cuộc gặp gỡ mà tôi tưởng là vui vẻ, lại chỉ gợi cho tôi nhiều cảm giác nhọc nhằn, tôi sẽ cho tất cả để được nói chuyện mười phút với anh. Liệu tôi còn gặp lại anh nữa không? Tất cả những gì anh cho tôi biết là cái chết của một người bạn tận tụy và xứng đáng, và khi người ta biết tin về cái chết của người thân, ta có cảm giác một mảnh của thân mình cũng ra đi với người ấy.

Buổi tối khi về đến Ellrich sau khi rời xe lửa, cũng như mọi đêm, cùng với các tù đồng bạn ở Wofleben, chúng tôi được biết một công-voa toàn người Do-Thái Hung Gia Lợi cũng đã đến doanh trại chúng tôi. Phần lớn ở khắp các khối, và vào khoảng năm mươi người đã đến khối số 3. Luôn luôn là một sự dồn cục các tù nhân mới, tôi liên lạc làm quen với một người trong bọn, một thợ may ở Munkasz. Y nói rằng gia đình y đã bị thanh toán cả tại Auschwitz và bọn SS chỉ để dành lại đàn ông có sức làm việc. Thật vậy phần đông bọn họ đều là thanh niên trẻ nhưng cơ thể đã bị biến đổi quá nhiều. Tất cả xuất thân từ giới khiêm nhường bị bắt trong các cuộc bố ráp tại các thành phố tỉnh lẻ. Tại Pudapest, những người Do Thái giàu được hưởng một chế độ đặc biệt và không phải lo sợ gì cả. Khi anh ta hỏi số phận các người Do Thái Pháp, tôi trả lời tình trạng cũng tương tự như tại xứ anh ta. Tất cả người nghèo và trung bình đều bị nhốt vào trại và đưa thẳng đến Ba Lan đã bị tiêu diệt. Anh ta có một nguyên tắc là trước hết phải tránh móng vuốt bọn Quốc Xã và mặc kệ các người khác cũng làm như vậy với tiền bạc của họ. Vì anh ta tưởng rằng tôi chống Do Thái, tôi cho anh ta biết rằng thái độ đó cũng hèn hạ và ngu xuẩn như sự ghen ghét, và tôi chỉ kể lại duy nhất những điều tôi thấy, và chỉ tỏ ý tiếc rằng một số người có phương tiện đã không tham dự vào sự giúp đỡ một vài đồng bạn khốn khổ, bởi vì ai cũng nghĩ là do truyền thống liên kết về phương diện tôn giáo, người Do Thái đoàn kết với nhau trong bất cứ hoàn cảnh nào.

– Đừng rơi vào lĩnh vực mơ mộng nữa, – anh ta bảo tôi, – trong cộng đồng Do Thái, vẫn có tình thương, nhưng trong Do Thái giáo cũng như trong Cơ đốc giáo, tinh liên đới giữa cả hộp và cá mòi là cả một cái gì hoàn toàn không tưởng.

Trái với một cơ thể hao mòn vì đời sống khép kín của các cộng đồng Do Thái Trung Âu, trí óc của họ không hề bị lay chuyển và chiếu sáng với sự sống động, biếu hiệu của đức tính tổng quát của người Do Thái. Tất cả bọn họ nói lưu loát từ bốn đến sáu ngoại ngữ, những ngôn ngữ thông dụng nhất, và nếu không bị coi là hạ cấp vì tôn giáo của họ thì thật khó tìm được một chân thông ngôn trong các trại tập trung nào có mặt họ ở đó. Vô phước thay cho họ, những công việc nhọc nhằn hơn hết được dành cho họ, và thật đáng ngạc nhiên khi thấy không rõ sự kiên nhẫn nào đã giúp họ chịu đựng lâu dài. Buổi tối trong khi mọi người cãi cọ nhau vì vài muỗng súp phụ, những người Do Thái, không bao giờ được quyền nhận thêm, tụ họp tại một góc và trước khi đi ngủ, nhiều người trong bọn, quay mặt vào vách, thầm thì đọc kinh. Từ đó người ta hiểu, bằng cách nào dân tộc nầy trường tồn qua hàng bao thế kỷ, qua mọi loại thử thách và mọi sự ngược đãi hành hạ mà họ là nạn nhân.

——————————–

1Đọc: Hitler và vũ khí bí mật – Sông Kiên xuất bản. Sách đang in.
2Đọc “Hitler Và Ngày Cuối Cùng Của Thế Giới Cũ” Sông-Kiên xuất bản.