Một trời một biển

vietmessenger.com

Nguyễn Tấn Hưng

Post by Sơn râu 18 Nov 2025

Phần 4. Tình thư trên chiến hạm

Quang cảnh Cầu Ðá sáng nay khác hẳn mọi ngày. Trông vắng vẻ đìu hiu hơn vì không có thương thuyền nào cặp cầu, để cất hàng hay xuống hàng hết trơn. Tất cả đều bỏ neo xa ngoài vịnh. Duy nhất chỉ có mỗi chiếc HQ 451 nhỏ nhoi, khiêm tốn của Trung tâm huấn luyện Hải quân Nha Trang, mới đại kỳ về, nằm gọn một bên ở phía cuối cầu. Ðược giữ chặt bởi những đường dây gai to cỡ, quấn nhiều vòng số tám vào các trụ bít (bittle) bằng thép. Những trụ bít trông như cái đe đập sắt của thợ rèn. Sát bờ, nhiều chiếc du thuyền với những cột buồm cao vút trên không của các thương gia tiền của như núi, hoặc của mấy ông lớn quyền hành sinh sát trong tay, cũng đang nằm sắp lớp cạnh các ponton ken nhau làm thành cầu nổi. Dấu hiệu của ù lì, mệt mỏi? Nhiều con hải âu như cũng làm biếng bay, đáp xuống sàn cầu thành bầy, thi nhau mổ mổ tìm thức ăn…

HQ 451, tức Huấn luyện hạm Quá Giang, hậu thân của chuyển vận hạm Ðịnh An do Pháp bàn giao cho Hải quân Việt Nam vào năm 1955, là một chiếc tàu cũ kỹ, rỉ sét, sắp mục đến nơi. Ðây là loại tàu chuyển vận hàng nhẹ, light cargo freighter của Mỹ, có cách kiến trúc giống như những chiếc tàu buôn. Nếu không sơn màu xám đậm và vẽ số Hải quân, người ta có thể nói đây là một chiếc nhỏ nhứt trong những chiếc tàu hàng của bà Ngô Ðình Nhu, những chiếc Nhựt Lệ, Tiền Phong, Thống Nhứt, Trường Sơn, Phú Quốc. Loại tàu buôn một máy, một chân vịt. Một cột buồm, một ra-đa. Một trụ cần trục, nhưng, không phải một mà là bốn đòn ngang như bốn cánh tay dùng để lên xuống hàng cho đủ bốn hướng, tả hữu hạm ở phía trước mũi và sau lái. Còn những con số kỹ thuật của chiếc tàu này thì lại là những con số gần đúng với bội số của số mười. Rộng mười thước, dài năm chục thước. Vận tốc mười hải lý. Máy một ngàn mã lực. Trọng tải một ngàn tấn. Ðại khái là như vậy!

Thân tàu, nếu nhìn ngang, như được chia làm ba phần rõ rệt. Phần mũi và lái nhô lên cao cho dễ điều khiển, phòng thủ và khoảng giữa thấp xuống cho dễ nhận hàng, bốc hàng. Phần lái rộng hơn phần mũi có hai từng và đài chỉ huy, tầng dưới có lan can chạy quanh tả hữu hạm và sân trống đằng sau đuôi. Phòng ăn, phòng ngủ cho thủy thủ đoàn và nhà bếp được đặt ở tầng này. Sân mũi là nơi tọa lạc của dàn cà-nông bô-pho bốn mươi ly đơn… Các hầm chứa hàng, bây giờ, đã được sửa chữa và sơn phết lại làm phòng tạm trú cho các khóa sinh, sinh viên sĩ quan. Nhiều giường bố, chồng đôi chồng ba, được gắn thêm dọc theo mấy bức vách. Hai tấm tăng lớn phủ lên gần hết sân giữa con tàu, chỉ chừa một khoảng trống bao quanh cái trụ cần trục…

Quang cảnh Cầu Ðá hôm nay khác hẳn mọi ngày, thêm một điểm nữa, là vì đang có hằng trăm sinh viên sĩ quan hải quân tuần hành hàng một xuống tàu HQ 451 để “thực tập đi biển.” Một tuần lễ lênh đênh trên trùng dương sóng nước, một cơ hội quí báu nhằm áp dụng và thực hành những gì đã học qua trên lý thuyết. Về các môn hàng hải. Nào là hàng hải cận duyên, hàng hải viễn duyên, và luôn cả hàng hải thiên văn mặc dù luôn luôn… thấy bờ. Và nếu cần, sẽ thực tập hải hành trong sương mù, hoặc hải hành trong giông bão khi có những điều kiện thuận tiện. Nhưng, một biển một tàu thì không thể nào hải hành tập đội được, lẽ dĩ nhiên.

Vừa bước vô cabin tạm trú, Tần cảm thấy như muốn ngộp thở. Mùi sơn, mùi sét, mùi ẩm mốc trộn lẫn với nhau… y như mùi xú uế xông lên nồng nặc. Ánh sáng vàng vọt từ những bóng đèn tròn lu câm, như thiếu kilowatt mặc dù đang câu điện bờ dẫn tới từ nhà đèn, đã không làm cho cõi âm u tăm tối như địa ngục này sáng sủa thêm chút nào hết. Trên trần, giăng mắc chằng chịt những dây những ống. Dưới sàn, tua tủa mọc lên những trụ những cột. Luồng hơi nóng từ bên trong cái hầm có vỏ làm bằng kim khí này hừng hực thổi ra cửa như muốn đẩy Tần dội ngược trở lại. Trời đất, nếu không có máy lạnh thì làm sao mà sống nổi với cái cảnh màn gang chiếu thép này đây, chàng tự hỏi. Nhiều quạt tròn gắn trên xà ngang thổi vù vù, quay qua quay lại, cũng không làm sao xua đuổi được cái nóng cho nó đi chỗ khác chơi. Chỉ nơi nào gần ống gió thông hơi, như những ống loa dẫn xuống từ bên trên, thì đỡ ngột ngạt hơn. Tần nhanh chóng có được một nhận xét như vậy. Cho nên, chàng réo giật ngược hai thằng bạn thân:

– Ê, Thắng, Thành… mau lại đây. Tụi mình sẽ đóng đô ở khu này.

Thắng mò tới, nghi ngờ:

– Có chắc mình muốn chiếm giường nào thì chiếm không? Hay phải chia khu cho từng trung đội như lần rồi?

Tần thảy cái sac marin của mình lên cái giường bố tầng trên, nói với giọng quả quyết:

–Lần đi trước mình đi thực tập trên chiến hạm biệt phái cho Vùng 2. Lần này khác, mình đi bằng tàu riêng của trường mới lãnh về. Mới sửa chữa, mới biến cải thì đúng hơn. Lần trước chỉ đi ngắn hạn một hai ngày, lần này dài người ra cả tuần lễ. Hên cho tụi mình kỳ này là trung đội một của mình xuống trước. Hẳn nhiên phải có quyền ưu tiên chọn lựa chớ. Còn khuya mới có người rỗi rảnh đứng ra xếp chỗ ăn chỗ ngủ cho mình. Mầy muốn giỡn nhột hả? Chần chờ một lát là phải ra đằng trước mũi, ngủ ở hầm cầu tiêu đó nghen.

Liệng sac marin của mình vào giường dưới của Tần đánh bịch, thiếu điều muốn rách bố, Thành tán đồng:

– Tao thấy thằng Tần nói có lý. Chậm chân là không còn chỗ tốt. Vẫn còn đeo sac marin trên vai, Thắng phân vân:

– Có chắc gì nằm gần cái ống gió này mà là chỗ tốt? Tới hồi gặp giông bão, nước mưa lòn vào ướt thấy mẹ luôn đó!

Tần gắt:

– Chớ bộ mầy không biết vói tay đóng cái cửa hublot (cửa tròn kín nước) bên trên à!

Thắng nghe xuôi tai bèn chiếm cái giường kế bên. Quả như lời Tần đoán, không mấy chốc khắp các gian phòng chật nứt cả người, mạnh ai nấy tìm lấy chỗ nằm cho riêng mình. Mùi xú uế của con tàu rỉ sét lâu năm giờ pha thêm mùi chua chua của mồ hôi và hơi người làm Tần muốn lợm giọng. Mấy tên đi xuống trễ chửi thề om sòm:

– Ðù me, tao thấy lên trên boong nằm còn sướng hơn chui vô cái lò hầm than này.

Có tiếng trả lời:

– Hừm, tới hồi mưa gió bão bùng thì mầy chạy đi đâu, hả? Chỉ cần vài cơn sóng phủ đầu là cha con mầy ướt mẹ nó như chuột lột. Nước biển chớ không phải nước mưa đâu nghen. Rồi nó sẽ rít chịt, ngứa ngáy… gãi cho mà đã luôn. Thôi, chịu khó chui vào góc kia nằm đỡ đi. Thà chết nóng chết nực còn hơn chết mưa chết lạnh mầy ơi. Ai biểu mày cứ mò mò… như mò háng con gái làm chi.

– Ðù me, sao lúc nào trung đội một cũng được ưu tiên một hết vậy ta.

Thắng xen vào:

– Vậy chớ trung đội năm của mầy kỳ vừa rồi được ưu tiên đi thăm Hải học viện đó thì có ai nói ra nói vào gì nào.

– Chuyện đó không quan trọng mầy biết hôn! Vì trước sau gì tụi mầy cũng đi. Tao nói là nói những lúc cả đại đội cùng đi chung kìa. Không mấy khi trung đội năm được phép dẫn đầu, mầy thấy không? Bất công vừa vừa thôi chớ!

Tần nháy mắt với Thắng thầm bảo đừng thèm cãi lý với bọn đó nữa. Tưởng ai chớ thằng Nguyễn Nối thì Tần không ưa. Không phải mới đây, mà là ngay từ lúc mới bước chân vào quân trường, ăn bữa cơm nhà bàn đầu tiên kìa. Chuyện ăn coi nồi ngồi coi hướng, lẽ đương nhiên là chuyện không thể xảy ra ở quân trường rồi. Nhưng, Tần cũng chưa từng thấy ai ăn uống dơ dáy như tên này. Chàng cứ nhớ mãi cái đôi đũa dính đầy cơm vừa lấy ra từ miệng hắn, vậy mà hắn nhẫn tâm đem thọc vô tô canh, dĩa đồ xào và món mặn dành… ăn chung. Ai mà ăn cho vô đây chớ. Dẫu có đói đến rã họng đi nữa cũng không ai hùng hục, chụp giựt như heo vậy. Thôi, tốt hơn hết là Tần đi tìm carré, bốn tên một bàn, khác. Bởi, con người ta rất dễ gây ấn tượng suốt đời xấu hoặc tốt khi vừa mới chạm mặt nhau lần đầu, chàng nghĩ.

Trong khi Thành và Thắng lo bày biện đồ cá nhân ra giường, trải tấm drap và kê cái gối, Tần nhảy phóc lên tầng trên, ngồi ngó dáo dác khắp gian phòng. Nhận định tình hình. Ðâu đâu cũng đầy
sac marin
, túi Air-France, túi Boeing, túi dết đeo vai nói chung. Có cái để ơ hờ, có cái lại cài thêm ống khóa. Ống khóa? Làm gì cẩn thận dữ vậy ta? Bộ chứa vàng trong đó sao? Nhưng, Tần đã biết tẩy hết! Thật ra, chẳng có gì quan trọng ngoài ba cái lương thực đặc biệt như mía khúc, dưa leo, củ sắn… dành cho những tên hay say sóng. Những tên không thể ăn cơm gạo sấy và thịt hộp, ration C, như mọi người. Tần cười thầm! Chỉ cần sóng gió cấp ba, cấp năm là bọn nó chỉ có biết uống nước lã cầm hơi. Cần phải để bụng trống, vì càng ăn vô thì càng có cái cớ để mửa ra mật xanh mật vàng. Ðến chừng đó, những mía những dưa những sắn rồi cũng phải ngó lơ cho người khác… “ăn giùm” mà thôi. Nói cho ngay, bảo là “ăn giùm” thì cũng hơi quá đáng, ăn trộm ăn cắp thì đúng hơn. Khỏi cần chìa khóa, chỉ cần uốn cong cái sac như cây cung, thì kéo fermature chạy từ đầu này đến đầu kia cũng dễ dàng như kéo fermature… quần đàn bà!

Bây giờ, có lẽ người nào cũng đã vào vị trí của người nấy. Biết không ai dám vứt sac marin ốm tong teo của mình đi chỗ khác để dành cái giường này, Tần nhảy xuống sàn rủ Thắng và Thành:

– Ê, lên boong chơi, tụi mầy. Ở trên đó mát mẻ, thoải mái hơn! Chắc còn lâu phái đoàn sĩ quan hướng dẫn mới tới. Ở dưới này ngộp thở thấy mẹ.

Với tánh cẩn thận cố hữu, Thành đưa ý kiến:

– Hai thằng bây lên trước đi, để tao ở lại coi chừng đồ một chút rồi tao sẽ lên sau.

Tần chịu ngay:

– Vậy cũng được. Ði mầy, Thắng.

Thắng chần chờ:

– Khoan, để tao lục mấy bức thư tình của em cái đã.

Quả là một nhắc nhở quan trọng, Tần nói thêm:

– Ừa, để tao lục của tao cầm theo luôn. Tao với mầy trao đổi…

Bỏ mấy lá thư vào túi, Tần và Thắng nhắm hướng cầu thang, trồi lên boong. Nắng đã lên cao, chói chang vào mắt. Không khí mát mẻ trong lành hơn. Từng đợt gió phả vào người khoan khoái. Tần banh ngực thở một hơi thật đầy vào hai buồng phổi. Tiếng phần phật phát ra từ tấm tăng hòa lẫn với tiếng máy tàu chạy đều đều làm thành một điệu nhạc trầm bổng, du dương. Tần bỗng thèm một giấc ngủ vô tư, không mảy may phiền muộn. Ngay bây giờ. Ở một góc kẹt nào đó, trong căn nhà mát trôi nổi bềnh bồng này… Nhưng Thắng đã lên tiếng:

– Tao với mầy lại ngồi dựa vào nắp hầm đằng kia… Mầy nhận được thư của những em nào trong mấy ngày gần đây?

Tần mon men đi theo Thắng, trả lời:

– Của cô giáo sư phạm Qui Nhơn và của học trò trung học Nha Trang! Còn mầy?

Thắng nói giọng tài khôn:

– Mầy có thư của con Phượng và con Hiền chớ gì? Còn bày đặt cô giáo với lại học trò, tao chán mầy quá Tần ơi. Tao kỳ này chỉ có thư của con Hằng thôi, nhưng em viết dài lắm, tao chịu đổi với hai cái thư của mầy đó.

– Mầy xạo ke nữa hả Thắng? Làm gì mà mầy chỉ có mỗi thư của con Hằng, tao không tin. Nếu con Thảo ở chợ Phước Hải không viết vô cho mầy thì còn con Kim, người em cư xá Lữ Gia của mầy nữa chi? Mầy dấu tao hả? Nếu vậy thì kỳ này cô giáo đổi với cô giáo thôi! Ðâu, đưa thư của con Hằng đây cho tao.

Thắng cười ha hả:

– Mầy ăn gian quá Tần ơi! Thư của con Phượng viết cho mầy chắc vỏn vẹn có một trang, giống y chang như lần trước phải không, nói thiệt đi?

Tần giựt xéo lá thư trên tay Thắng nói trả đũa:

– Viết một trang mà người ta viết hay là được rồi. Viết tràng giang đại hải mà viết theo kiểu đụng đâu nói đó như con Hằng của mầy đọc chán bỏ mẹ. Mầy đọc thử thư con Phượng kỳ này rồi mầy sẽ thấy, lâm ly bi đát lắm mầy ơi. Phải công nhận con nhỏ biết viết thư tình…

– Vừa thôi Tần. Ðúng là mèo khen mèo dài đuôi, hễ cái nào của mầy… nếu không hay thì cũng phải đẹp, tao biết hết trơn. Ðâu, để chánh chủ khảo Thắng chấm bài cô giáo Phượng coi nào…

Thắng mở tờ giấy học trò ra, chăm chú đọc:

Qui Nhơn ngày…

Anh Tần thương mến,

Vừa nhận được thư anh ngày ni là đêm về Phượng phải vội vã hồi âm cho anh ngay, kẻo anh trông tội nghiệp anh hỉ. Nghe anh nói trong một tương lai rất gần, tàu anh sẽ “phom phom tiến tới Qui Nhơn” mà Phượng đâm lo. Tại vì Phượng không biết phải tiếp đón anh theo kiểu mô cho hợp tình, hợp cảnh. Mấy con nhỏ bạn trong phòng của Phượng cũng đều nôn nóng, hồi hộp như Phượng. Như anh đã biết, hầu hết tụi nó đều có… “người anh tiền tuyến” để viết thư tâm tình đang ở cùng phòng với anh, như các anh Ðức, Thành, Thắng, Bích, Nghĩa… Với lại, ban giám thị trường Phượng khó lắm, không dễ như trường anh, tụi Phượng không nghĩ ra cách chi để vượt vòng rào đi… du hí với các anh được. Thôi thì tới mô hay tới đó.

Tấm ảnh của anh chụp ở Hòn Chồng đẹp trai lắm. Nhưng, trông anh giống như người lính rừng quá đi thôi. Phượng thích tấm ảnh anh chụp trên tàu HQ 500 hơn, trông có vẻ lính tàu oai vệ hí. Bắt chước anh, Phượng cũng gửi tặng anh tấm ảnh mới chụp trước “cổng trường cổ kính” nhìn vô làm kỷ niệm. Từ cổng này ngó ra phía trước, cách chừng vài trăm bước là bãi biển Qui Nhơn. Có lẽ không đẹp và sạch sẽ bằng bãi biển Nha Trang của các anh, nhưng ban đêm cũng có nhiều người đi dạo mát ở đó lắm. Chừ, Phượng của anh cũng thuộc loại trời bắt xấu phải không anh? Thôi, xin anh đừng chê nữa mà làm Phượng thêm tủi hổ! Phượng phải chui vô mùng đi ngủ đây! Và không thèm nằm mơ thấy anh nữa mô! Mong tin anh nhiều lắm!

Mến thương anh!

Phượng

Trong khi đó Tần cũng say sưa đọc lá thư của Hằng. Chẳng biết Thắng viết thư cho người đẹp ra sao mà coi bộ nàng “đía” dữ:

Qui Nhơn ngày…

Anh Thắng ơi,

Bữa ni có thư anh nên nhỏ Hằng chắc sẽ lên cân vì được… ăn ngon ngủ yên đó. Mà nói chứ không có thư của anh thì Hằng cũng… ngủ yên ăn ngon thôi. Tội chi phải lo phải không anh? Bởi “lo cho lắm, tắm cũng bận quần” như anh nói đó. Ở đây tụi Hằng có nhà tắm, có vòi búp sen đàng hoàng chớ không có màn chiều chiều mặc xà lỏn đi tắm giếng như các anh. Con gái mà đi tắm giếng giữa trời, ai coi cho được răng anh hỉ?

Chẳng biết ở trong đó các anh có nhiều anh “ba-gai” hay không, chớ ở đây có nhiều “mụ non” chằn ăn trăn quấn dữ lắm. Trong số đó chắc phải kể luôn cả Hằng của anh nữa. Bọn ni phá phách thiên hạ chạy mặt hết. Tuần vừa rồi có chuyện vui lắm để Hằng kể cho anh nghe. Như anh cũng biết tụi Hằng đang ở lầu hai. Sáng sáng có nhiều mụ làm biếng, không chịu đi lại phòng toilet làm vệ sinh, hay ra trước hành lang đánh răng rửa mặt, phun nước phèo phèo, dội nước ào ào xuống bãi cỏ trước sân bên dưới. Thường thường, muốn làm như vậy thì các “mụ chị” ni phải thức dậy sớm hơn mọi người một chút. Xui cho bữa đó, bà giám thị nội trú vừa đi kiểm soát ngang qua. Không biết bà “mụ chị” mô sớn sơ sớn sác, phun bọt kem đánh răng trúng ngay đầu bả. Chu choa, mụ giám thị đứng dưới sân hét lên ỏm tỏi. Bà “mụ chị” sợ quá chạy trốn như biến. Nhưng có một “mụ chị” khác lại không hay không biết gì hết, vô tình đổ thau nước rửa mặt cái ào xuống ngay trước mặt bà ấy luôn nữa chứ. May là bả không lãnh nguyên con cái thau nước đó bằng không thì kể như bả sẽ ướt ngoi ngóp như chuột lột. Bà ta tức tốc chạy lên lầu điều tra liền tại chỗ. Mấy “mụ non” chối leo lẻo, dạ em không có, dạ em chẳng dám làm vậy đâu, dạ em sợ bị đưa ra hội đồng kỷ luật lắm. Rốt cuộc rồi không ai nhìn nhận và bà giám thị không tìm ra được thủ phạm, cho nên bà ta phạt hết cả phòng. Làm vệ sinh, chùi cầu tiêu nhà tắm cả tuần luôn. Cho bỏ tật ăn ở bừa bãi. Nhưng anh biết, chỉ được vài ba ngày thôi, sau đó rồi đâu cũng lại vào đấy, chứng nào tật ấy anh hỉ.

Nói anh nghe, Hằng sợ bị phạt làm vệ sinh quá trời đi. Anh biết trường của Hằng nhứt nhứt mọi thứ đều do Mỹ trang bị, tu sửa. La-va-bô tráng men, cầu tiêu hột xoài, giựt nước rột rột… chớ không tệ như ở trường Hải quân mà anh đã tả thêm tả bớt đâu. Vậy mà mấy “mụ non” ta ẩu tả lắm, đi cầu xài toàn giấy học trò, giấy nhựt trình vứt vô đó mà bảo sao không nghẹt cho được. Nhiều con hư thúi còn ẩu hơn nữa, tháng tháng cứ hay nhét bậy những… của riêng của mình vô đó nữa! Bởi, Hằng sợ phải bị phạt làm vệ sinh, là như rứa. Anh đừng tưởng bọn con gái không ăn dơ ở dáy, nhiều con còn chúa ăn dơ ở dáy hơn cả bọn con trai các anh nữa.

Nghe anh bảo mấy lần thực tập đi biển tàu anh chỉ chạy vòng vòng ngoài biển, lên xuống vùng Sông Cầu, Vũng Rô, Cam Ranh, Thanh Hải… không được đổ bộ lên bờ mà Hằng ít lo. Anh không cặp bến Qui Nhơn được là Hằng mừng rồi vì Hằng sợ lắm, không dám gặp anh đâu, Hằng hay… mắc cở, hay… khóc nữa. Thôi, anh ở đâu thì cứ ở đó đi cho yên chuyện, đừng tìm cách đi thăm Hằng làm chi. Chỉ thư từ qua lại với nhau như ri là vui rồi, phải răng anh?

À, mà răng anh chưa gửi hình cho Hằng thấy dung nhan lính thủy của anh? Mấy “mụ non” trong phòng ai người ta cũng có hình của người anh tiền tuyến của mình hết trơn làm Hằng buồn quá chừng. Lần sau mà anh không gửi ảnh cho Hằng thì Hằng sẽ nghỉ chơi anh luôn. Anh làm mất truyền thống Sư phạm Qui Nhơn với Hải quân Nha Trang hết trơn… Thôi, thư bất tận ngôn, hết giấy rồi, cho Hằng hẹn lại lần sau. Chúc anh ăn no ngủ kỹ…

Thân ái,

Hằng

Tần vừa đọc xong hàng cuối thì Thắng cũng vừa hối:

– Lẹ lên đi chớ mậy, đọc gì lâu dữ… “rựa”! “Răng”, mầy thấy em Hằng của tao viết thư đọc đã không? Ðừng có tưởng bở nghen mậy. Nè, trả thư con Phượng cho mầy nè. Lần sau viết thư bảo nó đừng có hà tiện chữ, viết nhiều nhiều thêm một chút. Chỉ có một trang quèn đọc mất hứng. Ê, mà hình con Phượng gửi cho mầy đâu, cho tao coi ké một phát coi…

Tần đưa điều kiện:

– Giỡn nhột mậy, khi không mà cho mầy coi em khơi khơi sao được? Chừng nào mày có hình của con Hằng thì hãy đi tìm tao, trao đổi con tin. Ê, sao mầy tiết lộ… bí mật quân sự của bọn mình với con Hằng hết trơn vậy, Thắng? Bộ mầy không sợ nó là cô giáo nằm vùng do Việt cộng gài vô à?

– Vừa thôi Tần, đừng học sách Tào Tháo mầy ơi! Việt cộng hay không là con Phượng của mầy kia kìa, chưa gì nó đã tìm cách móc nối với mầy rồi đó. Chưa gì mà đã thương đã mến, anh Tần thương mến, chán mầy quá… Rồi thư con Hiền đâu, sao không đưa tao coi?

Thư của Hiền? Ðúng vậy, Tần vừa mới nhận thư của Hiền! Nhưng nàng chỉ viết cho Tần có mấy câu thôi. Toàn là những dặn dò đặc biệt, riêng tư. Nàng ngỏ ý muốn rủ Tần về thăm nhà trên Thành, gặp mặt mẹ nàng và hai em nàng một lần cho biết. Ðâu làm sao cho Thắng biết được chớ! Tần phân vân chẳng biết có nên đưa cho Thắng coi lá thư này không? Bạn bè dù thân nhau cách mấy đi nữa cũng phải giữ một giới hạn nào đó cho riêng bản thân mình. Chuyện tình cảm của Hiền và Tần đã không còn ở mức giản dị như buổi ban đầu, thuần túy bè bạn như khi vừa mới làm quen mà Thắng đã từng chứng kiến. Suy bụng ta ra bụng bạn, Tần cũng muốn đánh tâm lý vào con bồ ruột của Thắng:

– Chừng nào mầy đưa thư của con Kim cư xá Lữ Gia thì tao mới lòi ra cái thư của con Hiền.

– Tao chưa có lá thư nào mới của con Kim hết, cái thư cũ mầy đọc rồi giờ đọc lại mầy chịu không?

Kẹt dữ a, Tần than thầm, vì biết là Thắng nói thật. May phước, đang gặp lúc rắc rối thì bỗng có tiếng Thành vọng lại từ phía sau lưng, giải tỏa cho Tần…

– Ê, hai thằng mầy làm gì đây? Ở trên này dễ chịu, thoải mái, mát mẻ quá hả?

Nhưng, Thắng quay lại hỏi gấp:

– Thành nè, hình như tuần rồi mầy có nhận thư Qui Nhơn phải không?

Thành đáp gọn:

– Ừa, có, chi vậy?

– Tao với mầy đổi thư, tao có thư của con Hằng đây!

Vì đã đọc lá thư ướt át mùi mẫn của Trâm, cô giáo Qui Nhơn rất tâm đầu ý hiệp của Thành, Tần xen vào:

– Ðừng thèm đổi với nó, Thành. Thư của con Hằng kỳ này nói toàn chuyện cầu tiêu, nhà tắm gì đâu không… đọc lên thúi thấy mẹ.

Thắng cung tay thụi vào vai Tần một cái thiệt mạnh:

– Ê, đừng có xuyên tạc nghen bạn…

Hum… Hum… Hum… Ba hồi còi tàu bỗng rú lên, âm ba vang dội. Còi kêu gọi thủy thủ đoàn hãy mau mau trở về tàu. Chuẩn bị sắp sửa khởi hành, ra khơi trùng dương bát ngát. Ba hồi còi cắt đứt câu chuyện… tình thư trên chiến hạm của Tần, Thắng, và Thành. Những bức thư đã đi từ xa lạ với những cái tên ký tắt như P., như H., như T. cho đến thân thiện với những Phượng, những Hằng, những Trâm, rồi nồng nàn hơn với những thương mến, những thân ái, những hứa hẹn, đợi chờ, nhớ mong… Những bức thư làm bọn Tần mê mẩn tâm thần, mải mê đánh đổi cuộc đời với thời gian, đến nỗi chẳng hay chẳng biết là phái đoàn sĩ quan hướng dẫn đã xuống tàu từ lúc nào. Giờ nhìn lên đài chỉ huy mới giựt mình vì đã thấy một hai cái mũ lưỡi trai cấp tá, hoa lá rong rêu.

Không mấy chốc đã có lệnh vận chuyển: tháo dây số bốn, tháo dây số ba, tháo dây số hai, tay lái hết bên phải, máy lùi một… Những tiếng lập lệnh, nhận lệnh, báo cáo… chạy đều đều tới lui, từ đài chỉ huy ra các sân mũi, sân giữa, sân sau, phòng lái, hầm máy và ngược lại. Thì ra hạm trưởng phải dùng dây số một để ra tàu. Vì loại tàu chuyển vận giống như tàu buôn này có một máy, không thể sử dụng phương pháp “biệt máy,” tức một máy tiến một máy lùi như tàu chiến, để lấy lái ra ngoài được. Lại nghe: máy ngưng, nới dây số một, giữ dây số một, máy tiến một… Xê tới, xịch lui chỉ một lần thôi mà đã thấy tàu từ từ tách ra khỏi cầu. May là nhờ có gió và nước cùng hướng đã đẩy đưa phụ một phần. Lệnh sau cùng: tháo dây số một… Sợi dây rơi tòm xuống biển đang được kéo về tàu và quấn thành vòng tròn tròn cạnh mối cột vào trụ bít. Tàu kể như rời bờ, không còn dính dáng gì với đất liền nữa. Lại có lệnh: hai máy tiến hai, lái thẳng. Tàu phom phom tiến về phương bắc. Nhiệm sở vận chuyển chấm dứt và nhiệm sở hải hành bắt đầu. Lại phải đi ca, làm point định vị trí, một động tác căn bản của người sĩ quan hải quân…

Chẳng mấy chốc, tàu chạy ngang qua quân trường. Từ ngoài khơi nhìn vào, quang cảnh thật là hùng tráng, nguy nga. Bức tường thành vòng đai thật dài, làm một đường nét thật đậm ngang tầm mắt. Và trông kìa, những chòm dương lơ thơ ở khu bệnh xá, cũng như những hàng cây khuynh diệp vươn cao quanh sân cờ, sao mà rất thân tình, quen thuộc đối với Tần trong giờ phút chia tay! Bên này nữa, biển khơi gió lộng muôn đời. Trên phía kia là hòn Rùa, ngang đây là hòn Tre, và dưới đó hòn Miếu. Xa ra ngoài kia một chút, thấp thoáng trong nước biển thẫm xanh và những lượn sóng bạc đầu, Tần còn lờ mờ nhận ra hòn Yến. Những thứ đó, đối với Tần, phải chăng chính là linh hồn của khung trời Nha Trang mến yêu…

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều – Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 18 Nov 2025

Phần 19

Những mảnh trời nghiêng đổ bên bờ sông Ba

Dòng thác người thoát đi từ Cao Nguyên bức tử, từng đợt bỏ xác theo từng tấc đường oan nghiệt mùa xuân 1975. Lớp lớp người lính miền Nam súng trên tay mở đường, dân theo lính ra đi., một người lính mấy chục người dân nối đuôi theo sau. Những AK, những B40 bắn xả vào đoàn người, những chiếc xe, từ xe tăng đến xe đò, dầy đặc người, người rụng xuống như sung khi bị B40 của Bắc quân nả trúng. Người lính miền Nam bắn trả, người lính miền Nam gục chết theo đường, người dân miền Nam gục chết theo lính. Những viên đạn oan nghiệt của Bắc quân đeo đuổi đoàn người chạy loạn và khựng lại tại Sông Ba.

Người ta không biết bao nhiêu người đã chết dọc theo quốc lộ 14 rồi liên tỉnh lộ 7B. Rất nhiều, không ai biết ai đã chết, không ai xem căn cước người dân ngã xuống, không ai xem thẻ bài người lính ngã xuống dọc đường miên man, mê loạn… Những cái lệnh bỏ Cao Nguyên quái đản đưa đến một cuộc rút quân “không sách vở”, và trong đó có những cái chết anh dũng, có những hy sinh anh dũng mà người nằm xuống không cần ghi tên….Họ, những người lính miền Nam, những người lính Lôi Hổ… đã đem thân mở đường máu cho dân chạy giặc “Giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay thấm máu anh em!” Lời hát đã hiện thực.

Chưa bao giờ trong cuộc chiến, người ta thấy người dân kinh sợ Bắc quân phải bỏ chạy và chết thảm dọc dường như ngày tận thế. Có những cái chết mà người dân đã chết trên lưng người lính. Họ đã dìu nhau đi, họ đã cõng nhau đi, và họ đã cùng nhau nhận những tràng AK ngã xuống, họ đã cùng chết một chỗ. Những dòng máu đổ theo vệ đường di tản rút quân nối nhau từng đoạn, máu của người dân miền Nam, máu của người lính miền Nam, chan hòa, đậm đặc, khô cứng dưới trời Cao Nguyên. Bị bỏ lại sau lưng, dòng người cứ cuồn cuộn đổ về phía trước, ngơ ngác, bàng hoàng, mắt không khô lệ …

Bên này bờ sông Ba, quân cũng như dân, hết toán này sang toán khác, băng mình qua con nước chảy. Hắn chần chừ nhìn dòng nước chảy xiết, rồi đi dọc ngược theo bờ sông Ba, dừng lại bên một chiếc xe ieep lùn với hai chiếc cần câu cột quặt về phía trước, hai bánh trước dừng lại sát bờ nước. Đứng trầm ngâm trên xe là Thiếu Tá Nguyễn Bá Nguyệt, đơn vị trưởng 103 Pháo binh 175 ly nòng dài. Không biết ông đang suy nghĩ gì giữa âm thanh chát chúa của hàng loạt AK đâu đó vọng lại. Quanh xe ông là những người lính thuộc quyền. Họ không qua sông vì ông chưa quyết định qua sông. Họ không muốn bỏ ông thầy, người đơn vị trưởng sống chết của họ . Hắn chen giữa những người lính, những người lính thấy hắn là một sĩ quan mang phù hiệu pháo binh cùng tiểu đoàn nên lách ra. Hắn đến gần ông đưa tay chào và hỏi:

– Thiếu tá quyết định ra sao?

– Tụi mày cứ qua sông! Dìu nhau qua sông nhanh lên! Còn tao… Tao sẽ tính sau!

Giọng ông chắc và tĩnh. Ông vẫn quen gọi đàn em và lính ông cái kiểu “mày tao” thân mật như thế. Ông trả lời hắn, và đồng thời lời ông cũng là lệnh. Ông ngước nhìn đồi núi xung quanh, nhìn mấy đứa con qua sông. Hắn chào ông rồi đi dọc theo bờ sông để tìm chỗ vượt. Hắn đứng lại bên bờ nước nhìn về chiếc xejeep của Thiếu Tá Nguyệt như muốn từ giã ông một lần cuối. Bóng ông sừng sững trong trời chiều ảm đạm.

Bỗng hắn thấy ông đưa tay lên, mũi súng ngắn phòng thân của ông dí thẳng vào đầu. Một tiếng nổ, người ông đổ xuống khung kính xe Jeep. Thế là hết! ông đã hy sinh. Tiếng súng Bắc quân nghe thật gần. Hắn lao mình vào dòng nước. Tiếng AK như đuổi theo dòng nước chảy.

Hắn qua khỏi sông Ba tối 13 tháng 3 năm 1975. Hắn vượt núi rừng hướng về Củng Sơn, quần áo tả tơi. Trưa hôm sau, lên tới đỉnh đồi, miệng khô khốc, hắn dựa lưng vào một gốc cây nghỉ mệt. Hắn muốn thiếp đi, nhưng tiếng súng địch như gần lại, như theo chân hắn. Hắn lửng thửng đứng dậy tiếp tục xuống núi và mơ dưới chân núi là một dòng suối nước trong vắt. Những vục nước hiện trong trí, trong mắt hắn, giục hắn đổ dốc nhanh hơn.

Đến nơi, trước mắt hắn chỉ là một dòng suối cạn, vương vải những đồ đạc, áo quần, những bi đông không còn một giọt nước của lớp người đi trước bỏ lại. Hắn lại trèo lên một sườn đồi khác, rồi lại mơ ước bên kia chân đồi là một dòng suối. Gần đó, một chiến xa bốc cháy. Người lính mũ đen nằm úp mặt bên cạnh xe, máu tươm trên mặt cỏ. Hắn lại gần đỡ anh dậy.

Người lính thều thào:

– Tôi bị đạn vào ruột rất nặng! Tôi sẽ chết tại đây? Nếu anh về được Tuy Hòa nhờ nhắn… .

Người lính thều thào rồi tắt thở trước khi nói lời sau cùng. Anh là ai? Gia đình anh là ai? Hắn đặt người lính mũ đen xuống, vuốt mắt anh và chạy tiếp. Lên lưng chừng đồi, một quảng trống và bằng có bóng cây, hắn ngã lưng nằm dài xuống cỏ, bóng mát không che lấp nỗi cô đơn tuyệt vọng của hắn. Hắn nhìn những đám mây qua bầu trời. Đám mây thênh thang, bay về phương Nam. Hắn nghĩ đến Sài Gòn. Sài Gòn vời vợi trong cơn mơ. Hắn muốn thành mây, nhưng thực tại chôn chân hắn trên đất, chôn chân hắn trong hiểm nghèo, trong thân phận của một bại binh tháo chạy.

Hơi gió núi làm hắn tỉnh người. Hắn bỗng nhớ hai bông mai còn trên bâu áo trận, vai áo còn phù hiệu binh chủng. Hai cái này có thể giết hắn như chơi nếu hắn bất ngờ gặp VC. Hắn lột bộ đồ trận nhét vào bụi rậm và lôi ra trong bọc vải một bộ quần áo cũ, mặc vào. Cuộc đời binh nghiệp của hắn gói trọn trong bụi rậm. Hắn không buồn. Đúng ra, hắn không còn cảm giác để tiếc nuối. Khi hắn dợm đứng lên và đi tiếp, một người hạ sĩ quan quân y trên vai còn nguyên phù hiệu, không rõ đơn vị, bỗng xuất hiện tiến về phía hắn, hai tay dính đầy máu.

– Anh bị thương phải không?

– Không? Tôi vừa sanh cho một chị ở cuối dốc. Trời ơi! Còn cái cảnh nào đoạn trường hơn? Người đàn bà phải sinh con trong cảnh chạy loạn sống chết này. Tôi đã thay cô Mụ để làm tất cả cái gì tôi có thể làm được. Tôi đã bọc đứa bé trong cái áo của mẹ nó, và để hai mẹ con dưới gốc cây. Tôi không hiểu làm sao hai mẹ con có thể về tới Củng Sơn hay Phú Bổn. Làm sao người mẹ bất hạnh này trèo non, vượt suối làm sao cô ta biết đường đi xuyên rừng, đói khát! Tôi phải đi, không ở lại giúp gì hơn. Dường như VC sẽ có mặt nơi đây. Thôi tụi mình đi cho có bạn!

Hắn và người bạn đồng hành đổ nhanh qua một khu rừng thưa và lần mò xuống núi. Bóng chiều theo chân, màn đêm dần dà phủ chụp không gian. Những người chạy loạn vẫn còn nghe tiếng đạn réo xé từng mảnh âm thanh tịch mịch.

Thoai thoải trên sườn đồi, có những toán người rách rưới, phờ phạc đi về hướng mặt trời mọc. Người đàn ông tay dìu vợ tay dắt một đám con nhỏ. Vạt áo trước bụng người đàn bà đẫm ướt máu. Không biết chị bị trúng đạn từ bao giờ. Tiếng súng AK càng gần, người đàn ông càng kéo vợ chạy nhanh hơn. Mấy đứa con theo mẹ như đàn gà, và nó không ..biết là mẹ nó đã kiệt sức. Đến một gốc cây có bóng mát, người đàn bà giật tay chồng và thều thào:

– Em không thể sống! Anh bỏ em lại đây! Đem mấy đứa con thoát khỏi chỗ này! Trời ơi, Anh ơi!

– Làm sao anh và các con bỏ em lại đây cho đành!

– Anh không thể đem xác em về Tuy Hòa được? Phải cứu các con, Em không còn sức! Em không còn máu! Em không còn hơi thở! Để em xuống? Dựa em vào gốc cây! Chạy nhanh đi!

Người đàn ông như hiểu được những lời cuối cùng của vợ mình. Nàng sắp từ giã cõi đời. Anh bó tay tuyệt vọng. Anh không làm gì được để cứu vợ. Anh thương vợ đứt ruột, nhưng anh đầu hàng trước định mệnh nghiệt ngã. Người đàn bà nhắp miệng thều thào:

– Sao anh không dắt con chạy đi! Vĩnh biệt anh! Vĩnh biệt các con!

Hai dòng nước mắt chị tuôn ra. Chị còn thoi thóp nhưng yếu dần. Người đàn ông gọi mấy đứa con lại quì trước mẹ.

– Lạy mẹ đi con!

Và anh, nước mắt đầm đìa, cùng với mấy đứa con quỳ sụp xuống lạy mấy lạy trước hình hài bất động của người đàn bà. Tiếng súng AK nghe đâu đó rất gần. Người đàn ông gạt lệ, nhìn vợ lần chót rồi ôm con chạy xuyên rừng, lúp xúp ba đứa trẻ chạy theo sau rồi khuất dần trong rừng xanh…

Anh là ai? Chị là ai? Những người lính miền Nam bỏ xác bên đường Cao Nguyên di tản là ai? Nào ai đếm được bao nhiêu sinh linh đã ngậm hờn trong rừng sâu núi thẳm, dọc quốc lộ 14, dọc liên tỉnh lộ 7B … của những ngày giữa tháng Tư 1975 oan nghiệt.

Viết những dòng này 27 năm sau mà người viết vẫn không kềm được những nghẹn ngào, đau xót đến hai khóe mắt cứ muốn ứa ra những giọt lệ không cầm…

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

(viết 4-5-1992 cho Tạp Bút 1991)

Post by Sơn râu 17 Nov 2025

Phần 3

Mạnh Thường Quân Giả Hiệu

Tôi có tật viết vẫn đề ngày, sau nầy sẽ nhìn nhận tôi có lý. Vừa rồi, tôi ưng cho một nhà xuất bản in lần đầu tập 2 và tập 3, nối tiếp tập 1 nhan là “Sài Gòn năm xưa”. Tôi viết tập 2, năm 1982 nhan là “Sài Gòn đời Pháp thuộc” kể từ năm 1945 đến năm 1963, và qua năm 1983, tôi viết tập 3, lấy nhan là “Sài Gòn tạp pín lù” kể việc từ 1963 đến gần đây, chẳng qua tôi nói bâng quơ việc nghe, việc thấy theo tai mắt phàm phu nhục tử của kẻ hèn nầy. Tôi mừng bụng và đinh ninh nhà xuất bản, nếu cứ cái đà cũ (theo lối trước 1975), in hai tập làm hai lượt, tỷ dụ mỗi tập xuất bản độ 3000 cuốn, thì tôi ắt sẽ có một số tiền nhuận bút đủ sống tạm bợ một vài năm nữa trong buổi tuổi cao (91 tuổi), bạc kém (kiếm không ra) và “củi châu, gạo quế” thời đại tôi trùm chăn chờ thời như vầy. Mảng cà kê thuật và than thở chuyện của mình mà đã đi quá xa đề, nay xin trở lại, nói về Mạnh Thường Quân. Ngày xưa M.T.Q. là người hào hiệp, coi tiền bạc như nước chảy dưới cầu, chứa khách đếm số ngàn, trái lại ngày nay, tôi có trước đây một Nhà xưng Mạnh Thường, nhà ấy, người ấy chạy sang Pháp địa, và nghe đâu năm 1988, ông đưa bộ môn sưu tập “đồ sứ Huế” (bleu de Huế) cho nhà đấu giá Hôtel Druot lo việc phát mãi, lấy tiền xài. Câu chuyện kéo dài, ông vua mất ngôi B.Đ. tranh chấp, rằng các vật ấy là của triều đình nhà Nguyễn Phước, và một mặt khác, Nhà Nước ở Hà Nội cũng ngăn cản rằng của ấy nay thuộc quốc gia Việt Nam, nhưng tóm lại cả hai đứng đầu tranh cãi đều thất lý, và tòa án Pháp đã xử cho phép Hôtel Druot phát mãi, viện lẽ những vật ấy mua nơi mấy nhà buôn có môn bài (tức không gian) và nói tắt cho mau, cho đến nay, nhà Mạnh Thường ấy nào có nhớ công tôi mua lựa và chút công ấy có lẽ đúng là Mạnh Thường thì phải nhớ và đừng quên tôi.

Hôm nay tôi nói vòng vo tam quốc, là để tả oán, nhưng mình nói mình nghe chớ Nhà Mạnh Thường kia, ở Pháp, nào có nghe chút nào! Tục ngữ Pháp có câu “Les chiens aboyent, et la caravane passe”, tôi dịch lẹ: “Bầy chó cứ việc sủa (cắn), nhưng đoàn lạc đà cứ tiếp tục đi” và tôi nói mỏn hơi tôi, chi cho bằng tạm lược dịch thoát lại đây hai bức như vầy:

1. Việt Nam vừa thu hồi được hai cổ vật quí, thuộc triều đình Huế bị đánh cắp trước ngày 30-4-1975:

a. Một bầu gọi “đầu hồ, đánh đầu hồ”, tức lối luyện sự nhẫn nại của người cổ nhân, mà tương truyền thiện

nghệ hơn ai là vua Dực Tôn (Tự Đức), đang đêm, ngài cầm lối mươi cây roi và vẫn phóng từ xa cho roi nhảy vọt vòng 1 trúng ngay “con cóc”, kêu tiếng “cóc” rồi roi lại vọt một vòng nữa rơi vào miệng hồ, tiếng dội “tung! tung! tung!” ba lần như vậy.

Và tôi xin giải thích thêm: sở dĩ người Tây Âu ở xứ lạnh, thì cần mỗi ngày mỗi sớm mỗi chiều, phải tập dượt thể thao, thể dục thật nhiều cho huyết mạch mau lưu thông khỏe mạnh, trái lại người nước ta, ở xứ nóng, tránh sự thoát mồ hôi (làm dơ y phục) thì vẫn chuộng luyện nhẫn nại (tập bắn giàng (cho viên đạn trúng hường tim), và tập tỷ như “đánh đầu hồ” nầy …

b. Cái bàn lùn, chưn thấp ở dưới, sơn son thếp vàng, và trên mặt bàn là một miếng sứ vuông có vẽ san thủy và chữ bùa … Bàn nầy tôi mua nơi nhà buôn đồ cổ do ông Hoàng Đàn làm chủ, nơi xóm Đinh Tiên Hoàng, Đakao, Sài Gòn, hiện tôi đã quên địa chỉ. Bàn có đặc điểm lạ, là đặt bàn ở nơi nào, thì vài hôm sau, trọn vuông phòng có hương trầm thơm ngào ngạt. Khi mua được, chở về COPHAVINA, chủ nhân đặt bàn nầy nơi phòng khách, rồi khi nghe tôi cắt nghĩa đặc điểm mùi trầm, chủ nhơn dời bàn qua phòng chứa sách, phòng nầy có máy lạnh, và hôm sau, mở cửa phòng, quả nhiên hương trầm tỏa ra thơm phức sỡ dĩ có như vậy, xét ra vì bàn nầy trước ở nơi Đại Nội cung vua, trầm đốt liên miên, nên bàn nhiễm hương trầm như vậy.

c. Món thứ ba, vẫn bị cản trở, nhưng rốt được cho bán, và nghe như giá bán trên mười mấy ngàn đô, thế mà tôi nào có được xu ten gì, và tôi nhớ mại món ấy có cảnh trong photocopie, chủ nhân Mạnh Thường ấy, sai tôi trả giá mua lại của Hoàng Văn Chánh, chủ hiệu buôn đồ cổ đường Đinh Tiên Hoàng, chủ hiệu ưng bán cho tôi 800.000, tôi than không đủ tiền, sau đó có người tranh giành và rốt lại chủ nhân Mạnh Thường trả 1.300.000 đồng năm có đảo chánh lật ông Diệm nhưng không xong, tôi chở về COPHAVINA và xin độc giả xem bức ảnh về lai lịch và hình cái lu ấy hơn là đọc lần thẩn những gì tôi viết.

Appartenant à Monsieur X

Collection de porcelaines dites “Bleus de Hué”. Porcelaines de Chine des XVIIè, XVIIIè et XIX è siècles

Objets d’Art provenant du Palais Impérial de Hué, Guéridon en bois doré et laqué avec plat en céladon

d’époque MING Appartenant à divers Amateurs Céramique de la Chine des époques Ming et Qing

“Liding” en bronze d’époque SHANG

Tabatières en porcelaine, verre, ambre

Pierres dures – Jades – Objets du Lettré Montagne sacrée en jade vert épinard avec inscriptions de l’empereur

QIANLONG

Objets d’Art du JAPON

Sabres – Inro – Ivoires – Estampes

Paravent japonais du XVIIIè siècle

II9- Important vase décoré en bleu saphir de quatre réserves ornée de jeunes femmes sur les terrasses d’un

palais. A la partie inférieure, scène de chasse avec cavaliers. Le col est orné d’une suite de pivoines sur fond feuillage. A l’épaulement, les huits objets précieux sur fond quadrillé. Epoque KIANGXI. Dernières années du XVIIe siècle. (Félures au col et à base). Col cerclé d’argent. Haut. 94 cm.

Ce vase, dont des exemplaires se trouvaient à Deesde à la Cour d’Auguste le Fort, provient des Palais de la Cour à Hué. Les pérégrinations sibies par ce vase méritent d’être contées: “Le 22 juillet 1885, l’empereur Ham Nghi, après l’échec des armées vietnamiennes devant les forces françaises, dut s’enfuir de sa capitale et se réfugier dans les régions montagneuses de Quang Tri. Pour remercier le chef de cette population qui lui donna asile, il lui offrit ce vase. Longtemps plus tard il appartint à un riche personnage qui le conserva pendant plus de 30 ans à Tourane. À la fin de sa vie, celui-ci tomba amoureux d’une jeune fille de vingt ans à qui il offrit ce vase. Elle s’empressa de le vendre et, après diverses tribulations, il parvint à notre  collectionneur”.

(Tôi viết thêm những chi tiết trên đây đều do thẻ viết tay của tôi viết và khi chạy qua Pháp, Mạnh Thường đem theo).

(viết ngày 29-11-1992)

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 17 Nov 2025

Phần 2.

Dược Sư họ Cổ quê ở Gò Công bán đồ cổ ở Hotel Druot Paris năm 1988

Người ta học nghề bán thuốc, người khác học nghề thầy thuốc, bắt mạch ra toa, thảy đều thâu tiền công, và làm giàu. Rủi làm chết, vẫn vô tội, bằng cấp. Duy tôi, nghề coi đồ cổ, người đến nhờ xem, xem rồi,

phủi đít, cười lấy lệ hà hà, hề hề rồi ra về, không cho một xu ten, có giỏi lắm biếu một chầu phở, một đôi điếu phì phà 555, hoặc giả, mến lắm, tặng một gói trà ngon, đôi ba hộp sữa ông Thọ. Nếu tôi cho hay đồ cổ đem lại tôi xem là “xấu, già, không cổ” thì người đem lại ắt không bằng lòng, nghi ngờ tôi nói sai, và trước sau gì cũng không có tiền thưởng công như bác sĩ, dược sư v.v ..

Vả lại thầy thuốc trị bịnh, thầy bán thuốc (dược sư) vẫn học trong trường và có giáo sư dạy đường hoàng, trái lại, ai dạy tôi đây, kinh nghiệm trường đời dạy, học lóm với cô bác, nghe vụng với mấy lão thành, học nơi quán rượu, nơi tiệm hút á phiện, học đường học xá, nhờ linh khiếu, nhờ bản lĩnh, ngày nay, bịnh nhơn qua nhà bán thuốc Tây, mổ xẻ lần coi mạch, khoét túi lần lãnh thuốc, duy tôi, khi muốn cắt nghĩa tận tình, tự mở tủ, lấy vật cổ ra cho xem, rủi ro cái đế vật cổ ấy, tự rơi xuống và làm bể một cái dĩa đời cháu Trịnh Sâm, hiệu Nội Phủ thị Đoài, tức vật quí chúa đặt làm bên Trung Quốc, vật ngự chế vô giá đấy, mà dĩa bề lỡ, người mượn coi giùm đồ cổ, tỏ ý thương tiếc và ăn năn, ăn năn mà dĩa đã bể rồi. Tôi đây rán chịu. Tôi ai oán thiết tha mấy dòng nầy và tự an ủi, lấy câu tự đặt:

“Còn thì chơi, hết thì thôi, mất trộm không tiếc, sức bực của vua của chúa, mà còn không giữ được lâu bền, giá trị chỉ mi, con nhà bần, học chưa tới, “thiên bất đáo địa bất chí, của Thiên trả Địa”, chúa Trịnh Sâm nằm xuống Cống Chỉnh đoạt vàng, chở về, thuyền chìm ở biển khơi, sau thuyền chài vớt vàng lại gọi “chì thâm đen” bán rẻ mạt cho Ba Tàu, mua, đồ sứ phủ Trịnh, về tay vua Quang Trung, sanh anh em nồi da xáo thịt, rồi tay vua Gia Long, xuống tới vua Tự Đức thì còn, sang tới Khải Định, làm viện bảo tàng, xuống vua Bảo Đại, bà Từ Cung lần hồi bán ra, tới mình thì trong nhà sanh biến đứa nuôi làm trộm, vật phi nghĩa bất thủ, nhơn phi nghĩa bất giao, mà ly.

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 17 Nov 2025

Bài 36

Đảo Saint-Joseph – Cái chết của Carbonieri

Ngày hôm qua, Matthieu Carbonieri bạn tôi đã bị một nhát dao trúng tim. Vụ giết người đã kéo theo một loạt những vụ giết người khác. Anh ta đang tắm trần truồng ở xưởng giặt, và khi bị đao đâm, mặt còn đầy xà phòng. Khi đang tắm gương sen, chúng tôi có thói quen mở sẵn dao và dấu dưới quần áo, để kịp thời lấy được ngay nếu có người nào vẫn được coi là kẻ thù của mình bất thần ập đến. Vì lần này không làm như vậy nên anh đã thiệt mạng, kẻ giết bạn tôi là một tên Armeni, suốt đời làm mướn.
Được thiếu tá cho phép, và có một người phụ giúp tôi đưa xác anh xuống tận bến. Anh ta nặng ký nên khi xuống đốc, tôi phải nghỉ ba lần. Tôi buộc vào chân anh ta một tảng đá to và chẳng bằng một sợi dây thép thay cho sợi dây thừng thường lệ. Làm như vậy, cá mập không thể cắn đứt dây được và xác anh sẽ chìm xuống đáy mà không bị chúng ăn.
Chuông nhà thờ vang lên khi chúng tôi đến bến tàu. Đã sáu giờ chiều. Mặt trời lặn ở cuối chân trời. Chúng tôi lên ca nô. Trong cái hòm thường ngày, được dùng cho tất cả mọi người, nắp đã được đậy lại Matthieu nằm yên trong giấc ngủ vĩnh viễn. Với anh ta thế là hết.
“Chèo đi nào”, – viên cảnh binh cầm lái nói. Chưa đầy mười phút, chúng tôi đã tới dòng lạch chảy giữa hai đảo Royale và Saint-Joseph. Tự nhiên, tôi thấy cổ nghẹn lại. Cả chục cái vây cá mập nhô lên khỏi mặt nước, quay vòng rất nhanh trong một khoảng chật hẹp chưa tới bốn trăm mét. Bọn cá ăn thịt tù đây. Chúng đến thật đúng giờ hẹn và điểm hẹn chính xác. Cầu trời cho chúng không đớp kịp bạn tôi. Các mái chèo đã được dựng đứng, để chào vĩnh biệt. Cái quan tài đã được nâng lên. Thi hài của Matthieu, liệm trong mấy cái bao bột mì, bị sức nặng của tảng đá lớn lôi theo, đã trượt nhanh xuống biển.
Kinh khủng quá! Cái thi hài vừa rơi xuống nước, tôi tưởng nó chìm nghỉm thì nó lai bị dội lên mặt nước do bảy, mười hay hai mươi con cá mập – ai biết được, nâng bổng lên. Trước khi chiếc thuyền quay mũi, những bao bột mì liệm xác đã bị rách tan nát và một điều không sao hiểu được đã xảy ra. Matthieu đứng thẳng trên mặt nước chừng hai, ba giây. Cánh tay phải đã mất. Nứa thân người anh tiến thẳng về phía thuyền rồi bị một cái xoáy rất mạnh hút xuống, anh đã biến mất. Lũ cá mập lao vun vút ở phía dưới va phải đáy thuyền, làm một người mất thăng bằng suýt ngã xuống nước.
Tôi bước chậm chạp đi từ bến về trại. Không ai đi theo tôi. Tôi mang cái cáng trên vai và tới quãng bằng nơi con Brutus tấn công con Danton dạo nọ. Tôi dừng lại và ngồi xuống. Trời đã tối, nhưng bấy giờ môi có bảy giờ. Về phía Tây, bầu trời còn le lói vài tia sáng nhạt của vầng dương đã khuất dưới chân trời. Còn lại là một màu đen tối, chỉ thỉ thoảng mới có ánh đèn pha của đảo quét thành một đường sáng. Lòng tôi nặng chĩu. Rõ khỉ! Mày đã muốn xem đám ma, lại là đám ma bạn mày nữa! Thì mày đã được xem, lại được xem kỹ nữa còn gì! Có cả tiếng chuông tiếng chiếc đầy đủ lệ bộ: mọi thứ! Mày đã được hài lòng rồi chứ? Cái tật tò mò bệnh hoạn của mày được thỏa mãn rồi còn gì? Bây giờ còn cái việc thanh toán thằng khốn đã giết bạn mày vào lúc nào?

Đêm nay. Tại sao lại đêm nay? Chưa được đâu. Hãy còn sớm quá, thằng cha chắc hẳn đang thủ thế đề phòng hết mức. Nhóm của hắn có đến mười thằng. Tôi không thể để cho mình mắc bẫy, tự dẫn xác đến cho chúng hạ thủ. Nhưng cũng không thể để cho chúng tranh thủ đánh phủ đầu trước được. Thử tính xem tôi có thể có bao nhiêu người trợ thủ nào? Có bốn người, kể cả tôi là năm. Được! Phải thanh toán nó và nếu có thể, tôi sẽ xin chuyển sang đảo Quỷ. Tại đấy, không cần bè, không cần chuẩn bị gì cả; chỉ hai bao dừa khô, là tôi lao xuống biển được rồi. Khoảng cách đến bờ biển tương đối gần, bốn mươi ki-lô-mét theo đường chim bay. Tính thêm sóng gió và nước thủy triều, cho là một trăm hai mươi ki~lô-mét đi. Còn lại là vấn đề chịu đựng được hay không. Tôi còn khỏe, và hai ngày cưỡi lên túi dừa, lênh đênh trên biển chắc tôi sẽ chịu được.
Tôi nhấc cáng và lên đường về trai. Đến cửa, tôi bị lục soát, một việc khác thường. Chưa bao giờ tôi bị như vậy. Tên lính gác đoạt con dao của tôi. 
– Ông muốn tôi bị giết hả? Tại sao ông lại lấy dao của tôi? Ông có biết làm như vậy là ông giết tôi không? Tôi mà chết là tội ông đấy.
Không ai trả lời tôi, từ lính gác đến bọn A rập giữ chìa khóa. Họ mở cửa và tôi bước vào phòng: “Sao tối mò thế này? Mọi ngày có ba cái đèn, sao hôm nay lại chỉ có một?
Grandet kéo tay áo tôi.
– Papi lại đây.
Căn phòng không ồn ào lắm. Hình như có việc gì nghiêm trọng sắp xảy ra hoặc đã xảy ra.
– Tôi bị tước mất dao rồi. Bọn nó khám tôi lấy luôn.
– Đêm nay cậu không cần đến nó.

– Sao vậy?
– Thằng Armeni và bạn nó đã ở trong nhà tiêu.
– Chúng làm gì ở trong ấy?
– Chúng chết rồi.
– Ai giết chúng?
– Tớ
– Mau nhỉ. Còn những đứa khác thì sao?
Trong nhóm chúng còn bốn đứa. Paulo đã hứa danh dự với tớ là chúng sẽ không làm gì, chúng chờ gặp cậu để hỏi xem cậu có bằng lòng cho chuyện này chấm dứt ở đây không.
– Đưa cho tớ con dao.
– Đây cầm lấy dao của tớ. Ra nói chuyện với bọn đó đi, tớ ở lại đây.
Tôi tiến lại phía nhóm của họ. Mắt tôi lúc này đã quen dần với bóng tối lờ mờ. Rồi tôi cũng nhận ra nhóm họ. Bọn họ đang đứng túm tụm vào nhau, trước võng. 
– Paulo, anh muốn nói chuyện với tôi phải không? Phải.
– Nói một mình hay có cả các bạn anh? Anh muốn gì?
Tôi thận trọng để một khoảng cách một mét rưỡi giữa chúng tôi. Dao đã được mở sẵn, giấu trong cánh tay áo trái, chuôi dao nằm gọn trong lòng bàn tay tôi.
– Tôi muốn nói, tôi cho rằng bạn của anh thế là đã được trả thù xứng đáng rồi. Anh mất người bạn thân nhất, còn chúng tôi mất hai. Theo ý tôi, thế là đủ. Anh nghĩ sao?
– Tôi sẽ xét đề nghị của anh, Paul ạ. Điều ta có thể làm được, nếu các anh đồng ý, là hai nhóm thỏa thuận sẽ không làm gì trong vòng tám ngày. Chịu không?
– Được.
Và tôi rút về.
– Bọn chúng nó nói những gì với cậu?
Chúng nó cho là, với cái chết của thằng Armeni và thằng Vô Lô, Matthieu đã được trả thù đủ rồi.
– Không được – Galgani nói.
Garandet không nói gì. Jean Castelli và Louis Gravon đồng ý là phải thỏa thuận đình chiến.
– Còn ý cậu thì sao Papi?
– Trước hết, ai giết Matthieu? Thằng Armeni phải không? Tôi đã đưa ra một điều thỏa thuận. Tôi đã hứa và bọn kia cũng vậy, là trong vòng tám ngày, hai bên sẽ không có ai hành động gì để hại nhau.
– Cậu không muốn trả thù cho Matthieu hả? Galgani hỏi.
– Bây giờ, Matthieu đã được trả thù rồi, vì cậu ấy mà hai thằng đã chết. Còn giết những thằng khác làm gì?
– Chúng có biết như vậy không đã chứ? Phải tìm hiểu điều gì?
– Xin lỗi và chào tất cả. Tớ cố ngủ một chút đây, ít ra tôi cũng cần được yên tĩnh một mình. Tôi nằm dài trên võng. Tôi cảm thấy có một bàn tay lướt trên người tôi, nhẹ nhàng rút con dao của tôi. Trong đêm tối, một giọng nói thì thầm: 
– Papi cố ngủ đi, nếu ngủ được cứ yên tâm mà ngủ. Bọn tớ dù thế nào cũng thay nhau canh gác.
Cái chết tàn nhẫn, khốn nạn của bạn tôi là không có lý do chính đáng. Tên Armeni giết anh vì trong đêm đánh bạc, Matthieu đã bắt nó phải trả ngay một trăm sáu mươi francs. Thằng chó đẻ mất thể diện vì bị buộc phải bỏ tiền ra trước mặt bốn chục con bạc khác. Bị Matthieu và Gandet kẹp hai bên, nó chỉ có cách tuân lệnh.
Và nó đã giết một cách hèn nhát một tay giang hồ kiểu mẫu, trong sạch và thẳng thắn với giới của mình. Vố này đã làm tôi xúc động mạnh, có một điều làm tôi thỏa mãn là bọn giết người chỉ sống được vài giờ sau khi chúng phạm tội ác: cũng chẳng được bao năm. Grandet, khác nào một con hổ, với tốc độ của một nhà vô địch, đã thọc con dao vào cổ từng đứa một, trước khi chúng có thì giờ thủ thế. Tôi hình dung chỗ chúng gục xuống chắc phải ngập ngụa máu. Tôi tự hỏi một cách ngớ ngẩn: “Không biết ai đã kéo xác chúng vào nhà xí?”. Nhưng tôi không nói ra. Mắt nhắm nghiền, tôi hình dung thấy những tia sáng cuối cùng của mặt trời đỏ và tím một màu thê thảm đã chiếu sáng cái cảnh rùng rợn này: lũ cá mập đang tranh giành thi thể bạn tôi… Và cái thân trên thẳng đứng, đã cụt một cánh tay, đang tiến về phía ca-nô?… Rõ ràng là tiếng chuông đã gọi lũ cá mập đến, và lũ khốn kiếp ấy biết rằng khi có tiếng chuông là chúng sắp được ăn. Tôi còn thấy hàng chục cái vây cá lóe lên một ánh bạc ảm đạm, lượn tới lượn lui như những chiếc tàu ngầm. Chắc phải tới hơn trăm con.. Với Matthieu, với bạn tôi thế là hết! Con đường thôi nát đã đưa anh đến tận cùng.
Chết ở tuổi bốn mươi vì một nhát dao do một chuyện tầm phào. Tội nghiệp cho bạn tôi. Tôi chịu hết nổi rồi. Không, không được. Không được đâu. Tôi muốn cho lũ cá mập ăn thịt tôi trong khi tôi còn sống, liều mình đi tìm tự do, không bị bọc trong mấy cái túi bột mì, không bị buộc vào đá, trói vào dây. Và không có một ai chứng kiến lúc đó, dù là tù nhân hay là lính gác. Không có tiếng chuông nhà thờ. Nếu tôibị ăn thịt, thì… chúng sẽ chén tôi lúc tôi còn sống, trong khi tôi đang vật lộn với thiên nhiên để tới được đất liền.
Thôi đi. Thôi hẳn đi. Không còn những cuộc vượt ngục chuẩn bị qua quá kỹ càng nữa. Từ đảo Quỷ, chỉ cần hai bao tải đựng đầy dừa, rồi phó mặc cho số mạng, nhờ ơn Trời?
Nói cho cùng, đây chỉ là vấn đề chịu đựng của thể xác. Bốn mươi tám giờ hay sáu mươi giờ? Một thời gian ngâm mình trong nước biển lâu như vậy, cộng với sức lực của cơ đùi phải bỏ ra để kẹp chặt lấy các bao tải dừa, đến một lúc nào đó, liệu có làm chân tôi tê cứng lại không? Nếu tôi may mắn đến được đảo Quỷ, tôi sẽ thử. Trước hết phải rời đảo Royale, và đến đảo Quỷ đã. Sau rồi sẽ liệu.
– Cậu ngủ chưa, Papi?
– Chưa.
– Cậu uống cà-phê không?
– Nếu có.
Và tôi ngồi trên võng, cầm ca cà phê nóng Grandet đưa cho tôi cùng một điếu Gauloise đã châm sẵn.
– Mấy giờ rồi?
– Một giờ. Tớ bắt đầu gác từ nửa đêm, tớ thấy cậu cứ trằn trọc hoài, tớ biết là cậu không ngủ được.
– Đúng đấy. Matthieu chết làm tôi ngao ngán quá chừng, nhưng việc mai táng cậu ấy chỗ lũ cá mập còn làm tôi đau lòng hơn. Thật là khủng khiếp.
– Tớ không muốn nghe chuyện ấy đâu, Papi ạ. Tưởng tượng cũng thấy được. Lẽ ra cậu không nên đi thì hơn.
– Trước kia tôi cứ nghĩ câu chuyện về tiếng chuông là bịa đặt. Rồi với dây thép chẳng vào đá, tôi nghĩ là không bao giờ cá mập có thể đớp được cậu ấy khi đang chìm xuống đáy. Tội nghiệp cho Matthieu, tôi sẽ còn nhìn thấy cái cảnh rùng rợn đó mãi cho đến chết. Còn cậu, cậu làm thế nào để khử được thằng Armeni với thằng Vô Lô lẹ vậy?

– Tớ ở phía cuối đảo, đang ghép một cánh cửa cho cửa hàng thịt thì nghe tin chúng nó giết bạn của ta. Lúc ấy là giữa trưa. Đáng lẽ về trại, tớ lại đến xưởng, lấy cớ cần phải sửa ổ khóa. Tớ đã lồng vào một cái ống dài một thước một con dao găm hai lưỡi. Chuôi dao và ống đều rỗng cả. Năm giờ khi về trại, tớ mang cái ống ấy về. Tên lính gác hỏi để làm gì, tớ nói là cái xà treo võng của tớ bị gãy và đêm nay tớ sẽ dùng cái ống này để thay tạm. Khi tớ về đến phòng, trời còn sáng, nhưng tớ đã để cái ống đó ở chỗ giặt quần áo. Trước khi điểm danh, tớ mới ra lấy về. Trời bắt đầu tối. Các bạn đứng quanh che cho tớ lồng con dao vào cái ống. Thằng Armeni và thằng Vô Lô đứng tại chỗ trước võng của chúng. Paulo hơi lùi về sau một chút. Cậu biết là Jean Castelli và Louis Gravon can đảm đấy, nhưng già rồi, cũng không đủ nhanh nhẹn nếu hai bên dàn trận ra đánh nhau. Tớ muốn hành động trước khi cậu trở về để tránh cho cậu khỏi bị dính dáng vào việc này. Với thành tích cũ của cậu, nếu cánh ta bị gì, thì cậu sẽ lãnh án tối đa. Jean đứng ở cuối phòng và đã tắt bớt ngọn đèn ở đấy, Gravon ở đầu phòng đằng kia cũng làm như vậy. Cả gian phòng gần như tối mò, chỉ có một cây đèn dầu ở chính giữa. Tớ có một cây đèn pin của Dega cho. Jean đi trước, tớ theo sau. Đến ngang chỗ bọn chúng, Jean cầm đèn chiếu thẳng vào mặt chúng. Thằng Armeni bị lóa, đưa tay lên che mắt. Tớ có đủ thì giờ lao cả ngọn dao vào cổ nó. Đến lượt thằng Vô Lô, cũng bị lóa, nó đã rút dao và chĩa ra phía trước nhưng chẳng biết đâm vào đâu. Tớ cũng lao mạnh đến nỗi con dao xuyên qua cổ sang tận bên kia. Paulo nhào xuống sàn và lăn vào dưới võng. Jean đã tắt đèn, tớ thôi không đuổi theo Paulo ở dưới võng, cho nên nó mới thoát chết.

– Ai kéo chúng vào nhà cầu?
– Tớ không biết. Tớ cho là chính bọn cùng nhóm với chúng đã kéo chúng vào đấy để moi hai cái plan dấu trong bụng chúng.
– Chắc phải có đến một ao máu nhỉ?
– Chứ còn gì nữa. Chúng nó đúng là bị chọc tiết nên máu phải ra đến hết. Tớ nghĩ ra mẹo dùng đèn pin trong khi chuẩn bị cái lao. ở xưởng tớ tình cờ trông thấy một tên lính gác thay pin cho cái đèn của nó. Tớ nghĩ ngay đến cái mẹo ấy, liền nhờ Dega kiếm cho một cây đèn pin. Bây giờ thì chúng tha hồ lục soát. Cây đèn pin và cả con dao găm nữa, đã được một thằng A-rập giữ chìa khóa lấy trong xưởng mang đến cho Dega. Về phần ấy, không lo bị lộ. Tớ cũng chẳng có gì tự trách mình. Bọn chúng giết Martthieu trong khi mắt cậu ấy đầy bọt xà phòng, còn tớ đã giết chúng trong khi mắt chúng đầy ánh đèn pin? Thế là xong nợ. Cậu nghĩ sao, Papi?
– Cậu làm đúng đấy. Tôi không biết phải cảm ơn cậu như thế nào vì cậu đã hành động mau như vậy để trả thù cho bạn, hơn thế, cậu còn nghĩ cách giữ cho tôi được đứng ngoài cuộc trong vụ này.
– Đừng bận tâm đến chuyện ấy. Tớ chỉ làm bổn phận của tớ. Cậu đã chịu đựng nhiều và cậu khát khao được tự do quá đỗi nên tớ phải làm việc ấy.
– Cảm ơn cậu, Grandet ạ. Phải, bây giờ tớ lại càng muốn đi cho thoát hơn bao giờ hết. Vậy cậu hãy giúp đỡ làm sao cho việc này ngưng lại đây nhé. Thẳng thắn mà nói, tớ rất ngạc nhiên nếu thằng Armêni, trước khi hành động, đã báo cho nhóm nó biết. Paulo không bao giờ chấp nhận một vụ giết người hèn nhát đến thế đâu. Nó biết rõ những hậu quả sẽ phải chịu.
– Tớ cũng nghĩ vậy. Nhưng Galgani thì nói là tất cả bọn chúng có tội hết.
– Chờ đến sáu giờ xem việc gì sẽ xảy ra. Tôi sẽ không ra ngoài để đổ thùng đâu. Tôi sẽ cáo bệnh để ở lại xem tình hình diễn biến ra sao.
Năm giờ sáng. Bác Trưởng khối đến chỗ chúng tôi: “Các cậu này, ta có nên gọi vọng gác không nhỉ? Tao vừa thấy hai xác chết trong nhà tiêu. Người tù già bảy mươi tuổi này muốn cả chúng tôi cũng tin rằng từ sáu giờ rưỡi tối qua, giờ hai thằng ấy bị giết, bác ta không biết gì cả. Gian phòng chắc bê bết máu, vì vũng máu ở đúng giữa lối đi, mọi người đi qua đi lại bắt buộc phải dẫm vào đấy. Grandet cũng trả lời với cái vẻ thơ dại như người tù già:
– Sao, có hai người chết ở trong nhà tiêu à? Từ lúc nào vậy?
– Mày đi mà hỏi xem – ông già nói – Tao ngủ từ sáu giờ. Bảy giờ, tao đi tiểu, tao bị trượt chân ngã suýt vỡ mặt ra. Tao bật máy lửa lên, mới biết là máu và trong nhà tiêu, tao trông thấy hai thằng đó.
– Thôi bác cứ gọi đi, rồi xem sao.
– Ối giám thị ơi, giám thị?
– Làm gì mà to mồm vậy, lão già kia. Cháy nhà hẳn?
– Không đâu, sếp ơi, có hai người chết ở nhà xí.
– Bọn bay muốn tao làm gì nào? Làm cho chúng sống lại chắc? Bây giờ là năm giờ mười lăm chờ đến sáu giờ hẵng hay. Không được cho ai vào cầu tiêu đấy. 
– Ông nói thế không được đâu. Vào giờ này, sắp dậy cả rồi, ai cũng phải đi là, đi đái chứ.
– Được rồi, chờ đấy đã. Để tao đi gọi sếp gác. Ba lính gác, một cai giám thị và ba người nữa đã tới. Tưởng họ vào phòng giam nhưng không, họ đứng bên ngoài cánh cứa sắt.
– Có hai người chết ở nhà xí hả?
– Thưa sếp, vâng.
– Từ mấy giờ?
– Tôi không biết. Tôi vừa đi đái thì trông thấy họ.
– Những ai vậy? 
– Tôi không biết.
– Vậy thì, lão gàn này, tôi nói cho lão biết. Một thằng chết là thằng Armeni, vào xem đi.
– Đúng rồi, đấy là thằng Armeni và thằng Vô Lô. Chờ đến lúc điểm danh thôi. 
Rồi cả bọn bỏ đi. 
Sáu giờ sáng, chuông reo lần thứ nhất. Cửa được mở và có hai người phát cà-phê đi từ chỗ người này đến chỗ người kia, theo sau là những người phát bánh mì.
Sáu giờ rưỡi, là hồi chuông thứ hai. Ngày đã rạng. Và lối đi đầy những vết chân đã dẫm vào máu đêm qua.
Hai viên trại trường đến. Trời đã sáng rõ. Tám giám thị và một bác sĩ cũng đến theo.
– Tất cả cởi hết quần áo, đứng nghiêm trước võng của mình. Trời đất ơi! Đây đúng là cái lò sát sinh. Chỗ nào cũng đầy máu là máu.
Phó trại trưởng vào nhà tiêu trước. Khi trở ra, mặt ông ta trắng bệch. “Đúng là họ bị chọc tiết. Dĩ nhiên, không ai trông thấy hay nghe thấy gì, phải không?”.
Im lặng hoàn toàn.

– Ông già, ông là trưởng khối này, hai người kia đã cạn hết máu. 
– Xin bác sĩ cho biết họ chết chừng được bao lâu rồi.
– Từ tám đến mười giờ. – bác sĩ nói.
– Thế mà đến tận năm giờ lão mới thấy họ? Lão không trông thấy, không nghe thấy gì chứ?
– Phải, tôi vốn nặng tai. Tôi nhìn cũng chẳng rõ, hơn nữa tôi đã bảy mươi tuổi, đã bốn mươi năm trong tù. Cho nên, các ông hiểu cho, tôi ngủ. Sáu giờ tôi đã ngủ, vì mót đi tiểu, tôi mới phải dậy lúc 5 giờ sáng. Cũng may, vì thường ngày tôi chỉ dậy khi có tiếng chuông.
– Lão nói đúng, cũng may mà lão mới nhìn thấy đấy nhỉ, – thiếu tá nói, giọng châm biếm – Ngay với chúng tôi, tất cả mọi người, giám thị cũng như tù, tất cả đều ngủ ngon lành suốt dêm. Ai khiêng cáng đây, đưa hai cái xác này đi, đem tới bệnh viện, để bác sĩ khám nghiệm. Còn tất cả, đi ra sân, từng người một cứ trần truồng như thế.
Từng đứa chúng tôi đi ngang qua mấy viên chỉ huy và bác sĩ. Tất cả các bộ phận trên thân thể chúng tôi đều dược xem xét tỉ mỉ. Không ai có thương tích, nhiều người bị vấy máu. Họ đều nói là họ trượt chân khi bị vào nhà tiêu. Grandet, Galgani và tôi bị kiểm tra tỉ mỉ hơn mọi người.
– Papillon, chỗ anh nằm dâu? – Họ lục soát đồ đạc của tôi – Con dao của anh đâu?
– Dao của tôi bị ông giám thị tịch thu ngay từ cửa, lúc bảy giờ.
– Phải – người lính nói – Anh ta còn làm toáng lên, nói là người ta định giết mình.
– Grandet, dao này của anh hả?.
– Vâng, nó ờ chỗ của tôi, vậy nó là của tôi. Con dao sạch như một đồng xu mới, không có lấy một dấu vết, được xem xét thật kỹ lưỡng.
Bác sĩ từ nhà tiêu trở ra nói:
– Hai người này bị đâm bằng một con dao hai cạnh. Cả hai bị đâm khi đang đứng thẳng. Chẳng làm sao hiểu nổi. Không tù nhân nào chịu để bị người ta giết như giết con thỏ mà không chống cự. Phải có ai ở đây bị thương.
– Nhưng bác sĩ thấy đấy, chẳng ai có lấy một vết xước
– Hai người này có nguy hiểm không?
– Đặc biệt nguy hiểm, bác sĩ ạ. Tên tù người Armeni hẳn là kẻ đã giết Carbonieri ở xưởng giặt chín giờ sáng hôm qua.
– Xếp việc này lại thôi, – thiếu tá nói, – nhưng cứ giữ dao của Grandet lại. Tất cả đi làm hết, trừ người bệnh. – Papillon, anh có báo bệnh không?
– Thưa thiếu tá, có.
– Anh không bỏ phí thì giờ để trả thù cho bạn nhỉ. Tôi không bị bịp đâu nhé. Đáng tiếc là tôi không nắm được chứng cớ gì, và tôi biết là sẽ không bao giờ tìm ra những chứng cớ ấy. Một lần nữa, ai có gì cần khai không? Ai có thể giúp chúng tôi có được chút ánh sáng về hai vụ giết người này, tôi hứa là người đó sẽ được ra khỏi trại và đưa về đất liền. 
Im lặng hoàn toàn
Cả tổ của thằng Armeni đều báo bệnh. Thấy vậy, Grandet, Galgani, Jean Castelli và Louis Gravon cũng cáo bệnh vào phút cuối cùng. Một trăm hai mươi người ra cả, gian phòng vắng hẳn. Nhóm tôi có năm đứa, nhóm thằng Armeni, bốn đứa thêm người tù sửa đồng hồ và ông già khối trưởng luôn mồm càu nhàu không ngớt vì phải dọn dẹp chỗ máu, và một hay hai tù nhân khác trong đó có một tù nhân cao lớn người Alsace tên là Sylvain.
Anh này sống độc thân trong tù và được mọi người quý mến. Anh đã dám một mình làm một việc phi thường, vì vậy mà bị hai mươi năm tù. Đó là một con người hành động, rất được nể trọng. Chỉ có một mình, anh đã tấn công một toa xe lửa chở bưu kiện trên chuyến tàu tốc hành Paris-Bruxelles, đánh gục hai người lính gác rồi ném xuống đường những túi bưu kiện, được đồng bọn đi dọc đường sắt thu nhặt lại, và có được một món tiền lớn
Sylvain thấy hai nhóm rầm rì nói chuyện ở góc của mình, và vì không biết rằng chúng tôi đã thỏa thuận không chống nhau, nên đã lên tiếng:
– Tôi hy vọng các anh không dàn trận đánh nhau kiểu ba chàng ngự lâm pháo thử chứ?
– Hôm nay thì không – Galgani nói – việc đó để sau hẵng hay.
– Sao lại để sau? Việc gì làm được hôm nay không nên để đến ngày mai – Paulo nói – nhưng tôi thấy không có lý do gì phải chém giết nhau. Anh thấy thế nào, Papillon?
– Tôi chỉ hỏi một câu: anh có biết thằng Armeni định làm gì không?
– Xin lấy danh dự mà nói rằng tôi không biết gì cả và anh có muốn tôi nói thêm điều này không? Nếu thằng Armeni không chết rồi, không biết tôi chịu đựng sao nổi việc này.
– Nếu vậy tại sao chúng ta không kết thúc chuyện này cho dứt khoát? – Grandet nói.
– Chúng tôi đồng ý. Chúng ta hãy bắt tay nhau và thôi không bàn tới câu chuyện đáng buồn này nữa.
– Tán thành.
– Tôi làm chứng nhé? – Sylvain nói – Tôi vui lòng thấy việc này được bỏ qua.
– Thôi không nói nữa.
Sáu giờ chiều, chuông nhà thờ vang lên. Nghe tiếng chuông, tôi không sao quên được cảnh ngày hôm qua, nửa thân trên của bạn tôi tiến về phía thuyền. Hai mươi bốn giờ đã trôi qua, mà hình ảnh ấy vẫn làm tôi xúc động đến nỗi tôi không mong thấy dù trong một giây, thằng Armeni và thằng Vô Lô bị lũ cá mập rước như vậy.

Galgani không nói một câu nào. Anh ta biết việc gì đã đến với Carbonieri. Anh ngồi trên võng, hai chân thõng hai bên, mắt đăm đăm nhìn vào khoảng trống ở trước mặt. Grandet vẫn chưa về. Tiếng chuông vừa lặng đi được độ mười phút thì Galgani, chân vẫn đung đưa mắt không nhìn tôi, nói nho nhỏ: “Tớ chỉ mong con cá mập nào đã ăn Matthieu đừng đớp miếng thịt của thằng xỏ lá Armeni. Lúc sống thì tách biệt, lúc chết lại cùng năm trong bụng một con cá, nếu thế thì đời chó má quá!”.
Rõ ràng, việc mất người bạn cao thượng và thành thật ấy đã gây ra cho tôi một khoảng trống lớn. Tốt hơn cả là tôi đi khỏi Royale, và đi càng sớm càng tốt.
Ngày nào tôi cũng nhắc nhở với mình như vậy.









Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên  

Post by Sơn râu 17 Nov 2025

Chương 13

Một lần nữa, tôi lại leo lên được khỏi miệng vực thẳm, nhưng ngay trong những ngày đầu tiên tôi nhận thấy chúng tôi đang ở trong sào huyệt của một đảng cướp thật sự. Cái dá để phân phát xúp không đúng một lít theo tiêu chuẩn và người ta cố ý làm như vậy để giúp Helmut có thêm một số lượng cần thiết cho công cuộc mua bán. Ai mà khiếu nại sẽ được lãnh ngay mấy cán xẻng.

Cứ như thế khi tối đến, cả một bầy đói rách chạy ào ào như để tấn công vào tầng lầu một, tại đây tôi sửa soạn dọn xúp với sự giúp đỡ của người phụ tá gốc Ba Lan. Bureau cấp tốc kể cho tôi nghe rằng anh ta thích vận động để có gấp đôi phần xúp như tại Buchenwald, nhưng đã có sự khác biệt.

Trong mỗi đội lao tác, hình phạt roi rất khắc nghiệt, và khi đi làm về phải chạy và trải qua một cơn mưa gậy. Tên gia nô nhỏ bé nhứt tay cầm một khúc cây, dấu hiệu để phân biệt cấp bậc của y, và luôn luôn có sự cạnh tranh trong việc bày tỏ sự tận tụy quá đáng.

Bởi vì đó là kiểu thời thượng, tên trưởng khối của chúng tôi cũng giống như các “ônghoàng” khác trong trại, có riêng cho mình một tên Tzigane để sử dụng như là hầu cận, điểm chỉ viên, và như là tấm chùi chân. Lúc phân phối xúp, y mò đến đi thơ thẩn, trong khi tôi ghi các danh số để phát xúp. Trước mặt tôi bốn trăm tên tù khổ sai đi ngang qua phần đông rất trẻ, có cả trẻ con từ mười bốn đến mười sáu tuổi. Khi phân phát xong, những cặp mắt van xin các nồi đựng súp để vét sạch bằng muỗng, bằng ngón tay hay bằng lưỡi. Tôi thử tổ chức một vòng luân phiên, nhưng tôi bị chìm mau lẹ dưới làn sóng người và sau đó là đánh lộn. Helmut nhào vào và đánh đập loạn lên trong đống người, sau đó, quá mệt, y bỏ rơi cây gậy và tôi thấy y thích bạt tay hơn. Y rình một chiếc má lộ ra, nhắm kỹ và bang!… Trò tồi bại nầy là cố tật và y rất vui vẻ một khi làm như thế. Không ai dám quấy nhiễu y, trái lại, đã có một vài người cười theo để nịnh nọt. Tôi phải nói với y mới được, tôi còn cảm thấy rõ mùi vị của cái bạt tay của y đêm thứ ba, y giáng cho tôi một phát, chiếc bạt tay gây đau đớn còn hơn bị đánh bằng gậy khi tôi bị thẩm vấn. Không vì lý do gì cả? Tôi đang đếm phần bánh mì khi y đi qua gần tôi với cái nhìn kỳ lạ; chắc y đang lên cơn. Lập tức tôi muốn bóp cổ y, nhổ móng tay và dùng búa chẻ y ra từng mảnh.

Buổi sáng trong giờ cà-phê, lại đánh lộn tiếp và suốt ngày không có một phút nghỉ ngơi giữa các công tác khổ dịch khác nhau. Để giúp tôi, Helmut phái tên cận vệ của y đến, nhưng con heo cái nầy lại muốn nghe tôi kể chuyện về Ba-lê. Thỉnh thoảng tên chủ lại gọi hắn và cố ý khiêu khích hắn để thỏa mãn đam mê riêng. Tôi nghe hoạt cảnh từ đàng xa. “Giày bốt của tao không sạch mậy!”

– Một cái tát. “Mền tao sao không dũ mậy!”.

– Một cái tát nữa. Cứ thế năm, sáu cái bạt tay. Từ trong góc, tôi rất thú vị và đối với tôi đó là lúc nghỉ ngơi dễ chịu nhất trong ngày.

Một thảm kịch trên trời rơi xuống vào tối chúa nhật, đúng làm ngày sau khi tôi được chỉ định. Khi đi làm về, với sự hấp tấp thường lệ để được là người đầu tiên được ăn, bọn tù nhân không ý thức được rằng chiếc cầu thang bằng gỗ trắng chật hẹp đưa lên tầng lầu một, cũng phải than thở vì mệt nhọc; nó đổ sụp đúng lúc đó, kéo theo một chùm người. Sàn nhà cũng qhịu không nổi và nhiều tù nhân nằm la liệt dưới nền. Helmut bắt tên hầu cận chạy mau đến kiếm viên quản trại và tên nầy xuất hiện trong một trạng thái giận dữ đến nỗi người gan dạ nhất cũng phải rùn mình.

– Mau lên, phạng vào bọn hạ tiện nầy coi, – y ra lệnh cho tất cả những tên đứng bao quanh, và không thiếu gì kẻ tình nguyện. Chính y cũng nện vào những người không đứng dậy nổi vì các vết thương do tai nạn gây ra. Hai lối thoát ra ngoài của tầng trệt bị canh giữ, và những tù nhân chạy ùa ra đó bị một cơn mưa gậy tứ phía. Ba cán xẻng đã bị gãy trong đám hỗn loạn và xương người ta chắc phải cứng lắm vì cán xẻng đâu có gãy một cách quá dễ dàng như vậy. Và để chấm dứt cuộc chiến, hãy bỏ việc phân phát súp. Tên quản trại cho khiêng qua một khối khác, và còn có vẻ chưa nguôi giận, y thở hổn hển.

– Nầy cầm lấy, đây là vũ khí của các anh, tôi muốn thấy nó bị gãy đều đều.

Mỗi tù nhân thuộc viên được y phát cho một cán xẻng mới do các tên phụ tá ôm đến.

Không trông thấy tôi đứng đầu hàng người thuộc “lực lượng trật tự”, y gọi tôi và ngạc nhiên thấy tôi không cầm gì cả. Tôi biết trước sẽ chuốc họa vào thân nhưng tôi vẫn cứ thử giải thích rằng tôi không biết xử dụng thứ dụng cụ nầy và dẫu sao cho đến lúc đó tôi thấy nó mang lại hậu quả bất lợi. Y không để cho tôi nói hết, và bọn thân cận tự hỏi không hiểu sao tôi dám thảo luận thay vì tỏ ra bảo một làm mười để củng cố địa vị. “Ngày mai anh sẽ đi lao tác”. Đó là một tiếng gầm gừ rít vào lỗ tai tôi và tôi có cảm tưởng là vừa tránh khỏi bị đánh. Có lẽ là nhờ Montmartre, một sự hổ thẹn không đâu đã ngăn cản y làm vậy. Lẽ dĩ nhiên, tôi có thể tạo cho mình một chức nghiệp ngon lành bằng chiếc cán xẻng.

Đây không phải là lần cuối tôi bị rơi đài. Phải, rồi lại thoát ra, và phát lặp đi lặp lại để in điều đó. Nhưng đêm đó, khi tôi nằm dài ra với chiếc bao tử trống rỗng, đầu óc tôi toàn mầu đen tối và trong tận cùng sâu thẳm của bóng tối, một con số chợt hiện ra trong trí nhớ của tôi: hôm đó, tôi vừa đúng hai mươi bảy tuổi.

Hình ảnh lúc hai mươi tuổi tròn lúc đi thi hành quân dịch, với một vài ảo tưởng và, tại sao không thừa nhận, một vài phấn khởi trong lòng, so với bây giờ sao có vẻ xa vời quá.

Là con dân một nước, phải rời ghế nhà trường lúc còn trẻ, nhưng vì ưa thích và vì không được cuộc đời ưu đãi lắm và, đúng hơn vì ăn uống thiếu thốn, thì trại binh tượng trưng cho một thứ trường trung học lớn, nơi đó người ta được ở, được ăn miễn phí. Tuy nhiên, thất vọng biết bao nhiêu!

Chaumont-sur-Marne, một thành phố tỉnh lẻ một vài quán rượu, hai rạp chiếu bóng, và một nhà chứa. Toàn thể như bị bao phủ bởi một tấm vải liệm âu sầu và hung dữ. Hai năm đần độn, chìm ngập trong rượu chát đỏ của các câu lạc bộ trại binh.

A! Những ngày chúa nhật, tôi nhu nhược làm sao, và tôi chưởi bới những ngày khác cùng với một viên thượng sĩ, một người, mà hồi tưởng lại tôi thấy rất giống các tên Kapo ở đây.

Một vài người bạn hiếm hoi, một vài ngày nghỉ phép, những khoảng rừng thưa trong khu rừng rậm rạp.

– Tiêu tiền của chú hết mau đi, chú lính con, và sau đó, đi cho khuất mắt!

Chắc những con buôn trong thành phố trại binh nầy nghĩ như thế. Chúng tôi ra đi, toàn khóa 37, nhưng là đi ra tiền tuyến! Thoạt tiên, chiến tranh có vẻ “kỳ cục” như người ta nghĩ. Thật sự, nó giống như một cuộc thao diễn, mặc dù một mùa đông mà ngay cả dân cư vùng Alsace, đã không mấy hoan hỷ vì sự hiện diện của chúng tôi, cũng phải lấy làm ngạc nhiên. Và, tuy nhiên, cùng với mùa xuân 1940, một mùa xuân đẹp bên bờ sông Rhin giữa Mulhouse và Ba-lê, nơi sư đoàn của tôi trấn đóng, biết bao nhiêu người còn tin là chiến tranh sẽ chấm dứt nhanh chóng, trong chiến thắng hay trong hòa bình như phép lạ.

Thế rồi, cái vụ nổ như sấm động ngày 10 tháng 5, cuộc khởi hành đến sông Somme, đến vùng chiến tranh thật sự, sự khám phá tất cả kinh hoàng của chiến tranh, chấm dứt mọi ảo tưởng. Ông Trung úy Đại đội trưởng nói với tôi trước khi tiến lên phòng tuyến trước Amiens:

– Nếu nằm luôn lại ở đó, chú mày sẽ là một thây ma, nếu trở về được, chú mày sẽ trở thành anh hùng.

Tôi nghĩ phớt qua hai giải pháp, nhất là giải pháp đầu, nhưng một giải pháp thứ ba lại xuất hiện: tù binh chiến tranh.

Các trại giam chờ chúng tôi trên khắp lãnh thổ Đức, có thể trở thành nơi nghỉ mát đối với những kẻ biết nói tiếng Đức, và mặc kệ các hàng rào kẽm gai, các chòi canh, với một chút liều lĩnh và may mắn, người ta có thể ra khỏi các trại giam ấy. Cũng như nhiều người khác, tôi đã thử, sau 18 tháng nghỉ ngơi bó buộc, và tôi thành công. Đó là một cuộc mạo hiểm không gian nguy gì lắm, ít ra là trong một vài cơ hội nào đó. Mặc y phục thường đân, chữ Vạn Quốc Xã trên hàng nút áo, và tiếng hô “Heil Hitler” tự động, vừa đưa tay mặt lên cao, để chào hỏi nhau, cả một dân tộc, từ đứa con nít trong nôi cho tới ông già sắp xuống lỗ, đều chào nhau theo kiểu đó. Ngay giữa thế kỷ 20, sau Goethe và Schiller, sau Bach và Beethoven, và sau những gì của 2000 năm văn minh thiên chúa, và tiến bộ kỹ thuật phi thường! Định mệnh con người xét ra thật bi hài biết bao!

Ông cựu Đại sứ của chúng tôi ở Bá-linh, ngài Scapini, đã nói rằng vượt ngục là chứng cớ của sự vị kỷ. Chỉ có những người muốn tìm cách tỏ bày ân hận về sự nhu nhược của mình mới cho ông ta có lý.

Đến vùng phía Nam, sau vài giai đoạn bi hài, tôi phải trốn kỹ. Những biến chuyển đủ loại đã gặm mòn vài người như là bệnh ung thư, trong vùng không bị chiếm đóng, có vô số kẻ sẵn sàng tình nguyện phục vụ chế độ Vichy, biết bao nhiêu kẻ sẵn sàng hợp tác với khu vực bị chiếm đóng miền Bắc. Phải chăng chiến tranh đã là cơ hội đặc biệt để thay đổi dòng định mệnh và để làm giàu nhanh chóng? Cơn mơ ước đó há chẳng phải đã biểu hiện trong óc não từ khi quả địa cầu là quả địa cầu ư! Bọn Quốc Xã hiểu rõ vấn đề nầy và vì tiền bạc có thể làm thối nát tất cả, chúng đã vung vãi thật nhiều tiền. Tham nhũng, tố cáo hèn hạ, chợ đen… Người tù binh chiến tranh vượt ngục trở về để khám phá thấy vào năm 1942 một quê hương bạc nhược và phân hóa, yếu hèn và qui phục.

Tuy nhiên nếu tìm kỹ, người ta cũng có thể khám phá ra bên cạnh đám người hèn mọn thời đó cũng có một bông hoa mong manh: kháng chiến, ở đó, không có thì giờ để buồn bực; nhưng cùng với sự thoái bộ của thời gian, bộ mặt thật của nó từ từ xuất hiện. Những gương hy sinh cao cả! Những anh hùng vô danh! Phải, nhưng luôn luôn cũng chỉ phát xuất từ cùng một hạng người, những người có ý thức quốc gia, ý thức xã hội. Rõ ràng họ chỉ là một thiểu số trong cả một dân tộc. Dẫu sao đây cũng là một sự thỏa mãn duy nhất, nhưng rất sâu sắc và rất thật, sự thỏa mãn của người không đứng chung trong đàn, với bầy cừu. Phải, dẫu sao, cho đến khi bị bọn Gestapo bắt và trải qua nhà ngục Montluc, Compiègne, Buchenwald cho đến chiếc giường thô kệch của trại Ellrich.

Thực cũng là một thời gian dài, bảy năm những năm đẹp nhứt của thời trưởng thành, những năm mà ở đó người ta cảm thấy mình thành nhân, có khả năng làm những việc lớn lao nhứt.

Thế nhưng tất cả những gì diễn ra trong trí tôi đêm đó như một cuốn phim câm, đã chết rồi và chưa hết. Ở đây còn tệ hại hơn trong trại lính bội phần, tệ hại hơn chiến tranh và tôi không biết tệ hại hơn các nhà giam tù binh chiến tranh bao nhiều lần.

Sáng hôm sau khi đi xuống sân nơi tập họp các lao công, tôi thấy tổng số lên đến cả ngàn. Ba phần tư sẽ được xe lửa chở đi đến một công trường cách xa sáu cây số, và số còn lại phải ở tại trại để tiếp tục công cuộc xây cất, sửa sang. Công việc khoan núi lập nhà máy là một việc đặt cái cầy trước con trâu, đòi cho nhiều tù dễ làm việc nhưng không lo sắp đặt chỗ ở. Như vậy phải cấp tốc chuẩn bị các hạ tầng kiến trúc tổng quát và nơi tạm trú cho các đoàn công-voa sắp đến. Trong khi chờ đợi cơ sở ấy, người ta không được tắm rửa và một chiếc hố sâu được đào để làm hố tiêu. Cho đến lúc đó, tôi chưa hề bước quá hai khối khác đã có sẵn. Helmut “săn sóc”chúng tôi kỹ quá. Nay tôi mới thấy mặt những người đến trước chúng tôi vài tuần. Áo quần họ bẩn thỉu và rách, và thật khó để đọc chữ đầu mang dấu hiệu quốc tịch trên áo họ. Nhưng, luôn luôn là những người mang chữ “R” (Nga). Chưa có một tổ chức lao tác nào được thành lập. Một tên thô bạo đếm những người phải di chuyển, và trong số ở lại, bọn Kapo đến lấy bất ngờ, 20, 30 hay 50 người. Tù nhân có thể len lỏi đứng vào bất cứ nhóm nào, nhưng phải biết nhóm ấy phụ trách công tác gì. Vì lẽ tôi chỉ mới được báo cho biết phải đi lao lúc đêm hôm trước, tôi để cho bị dẫn dắt như một tên tù. Trả lời một câu hỏi sẽ làm gì, một tù Nga làm một cử động bằng tay mơ hồ. Không có gì quan trọng đối với anh ta.

Chúng tôi đi qua nhiều sân ngổn ngang gạch ngói đổ nát, đâu đâu bọn khổ sai chúng tôi cũng đã bắt đầu một ngày làm. việc. Dọc theo con hương lộ, gần nhà ga một con kênh đã được đào khá dài đang chờ chúng tôi. Tôi nhận một cái xẻng, nhưng vì làm việc theo từng cặp hai người, nên phải thay phiên nhau xử dụng cuốc và xẻng. Người ta có thể đoán quang cảnh sau cùng của trại tập trung một khi được xây dựng xong, bằng cách nhìn chung quanh, hiện tại, nó còn là một đống vôi vữa. Có một điều chắc chắn, cổng trại sẽ hướng thẳng về sân ga, để tránh cho các biệt đội khỏi phải đi qua xóm dân cư mà các căn nhà đầu tiên có thể đứng đây nhìn rõ được ba toán trộn hồ, bị chặn lại hoặc làm việc chậm lại, theo một kế hoạch tập trung kỹ nghệ, đã được trưng dụng để xây cất chỗ cư trú cho 15.000 tù nhân, nhân số lấy từ trại Buchenwald. Chúng tôi chỉ là số đầu tiên của kế hoạch đó, và trong khi chờ đợi, tôi đưa đẩy chiếc xẻng trên lớp đá vôi, chúng tôi đã đào sâu 80 phân, phải đào đến một thước. Một toán khác sẽ đặt các ống cống bằng sa thạch, sau đó chúng tôi phải trở lại để lấp đất. Khi mà người ta chứa bao giờ làm công việc đào đất, thì đã rất khó rồi, nhưng khi có mưa xen vào, thì thật như bị giết tại chỗ. Vì lẽ không thể đi ẩn nấp, chúng tôi bị ướt như chuột rất mau. Đất dính bết vào xẻng và càng vung vẩy, nước càng chẩy vào cổ áo nhiều hơn. Mưa rơi không lớn hột lắm, nhưng rơi đều đều đủ để một môn đệ của thi hào Verlaine cảm hứng làm thơ và đủ để chúng tôi nổi sùng. Không có cách nào để tự giúp đỡ, phải đứng đó, chân ngâm dưới nước, thân hình ướt nhẹp. Dẫu là, lạnh thấu xương, và cái cử động khi làm việc không đủ để sưởi ấm. Bọn Kapo thì có thể đi nấp mưa dưới các kiến trúc gần đó. Tù nhân cũng lợi dụng cơ hội để nghỉ. Trải qua cơn mưa – là cả chuyện khổ nhọc. Người bạn cuốc đất của tôi có thể đốt một điếu thuốc mà chất liệu chính được cuộn lại là một mẩu giấy báo. Không cần trao đổi lời nào, anh ta chuyển cho tôi hít vài hơi. Loại thuốc trộn nầy có đó mùi vị và khi rít một hơi người ta có cảm giác được ấm áp đôi chút và nó cũng làm cho ta thêm nhiều mộng lương. Mưa rơi suốt ngày. Tôi có thể nói là mình đã bắt đầu trong tình cảnh thật xấu, và tôi chưa quen được ai. Những tù Pháp đến cùng lúc với tôi nay làm việc trong các biệt đội khác, và trong khối, họ chia từng toán ba người cách xa nhau dự trù để nhận bưu kiện. Tôi không thể dối họ, tôi chẳng nhận được gì, và vì tôi vừa mất chỗ làm tốt, không chắc trong tình thế mới tôi có thì tạo ra những giao thiệp.

Paul, lên người Alsace, đã trở thành Kapo thật sự, và ở riêng cách xa chúng tôi. Hắn đã gỡ chữ F trên ngực và càng ngày càng ít nói tiếng Pháp. Vì không phải nơi tên nhãi ranh ấy mà tôi sẽ đến xin xỏ được vật gì. Phải, một lần nữa tôi đã lại rơi sâu xuống vực thẳm và mỗi giọt mưa lại nhắc nhở tôi điều đó.

Trở về khối, đến lượt tôi phải đứng nối đuôi để nhận phần súp.

Vừa ăn xong, tôi leo lên giường ngay. Người bị ướt nhưng sung sướng được nằm nghỉ tôi khám phá thấy với tất cả lòng vui sướng rằng tôi có được một người bạn. Từ trước, vì đi ngủ trễ, tôi không có dịp nói chuyện với người nằm cùng giường tên là Vladimir. Anh ta giải thích rằng có một thông lệ gần như trở thành qui tắc, trong trại tập trung, đó là một nhân viên, sau khi bị rơi đài, phải chịu điếc tai vì bị mắng chửi, hậu quả của những việc xấu xa mà y đã làm trong khi có địa vị, nhưng đối với tôi, tình trạng khác hẳn. Mọi người đã biết câu tôi trả lời tên quản trại, và đã thấy tôi làm việc trong 8 ngày có thẩm quyền. Anh ta như không mãi mãi lưu tâm khi tôi kể lại ngày lao tác khó nhọc.

– Ngày mai anh sẽ đi với tôi, – anh ta bảo trong khi chờ đợi, – chúc anh ngủ ngon.

Vào lúc sáng, phải thức dậy. Và lúc tập họp tôi không rời Vladimir và khi tên Kapo đếm lấy 30 người, tôi có mặt trong số đó. Y dẫn chúng tôi đến một trong các tòa nhà của trại, công việc gồm có dọn sạch tất cả vật liệu còn sót lại trong đó. Tên Kapo tối ngày ở miết trong một phòng nhỏ tầng trệt và trách nhiệm duy nhất của y là đưa chúng tôi về buổi tối, khi hết giờ và trình diện đủ số lúc điểm danh. Y không cần phải sự một sự vượt ngục nào. Vì ngoài hàng rào kẽm gai đã được đặt chung quanh trại, tất nhiên còn có các lính canh mà một phần đứng trên các chòi vừa mới được cất. Một người dân sự có trách nhiệm canh chừng tiến triển của công tác trong mỗi khu vực, tuy nhiên trong tòa nhà nơi chúng tôi có mặt, hiệu năng công việc không thể nào kiểm soát được. Chúng tôi phân tán ra làm việc lại nhiều tầng, nhiều phòng, và liệng gạch, gỗ, sắt vụn qua cánh cửa sổ. Những người khác đến lượm để sắp lại cách đó một khoảng xa. So với ngày lao tác hôm trước, tôi có cảm tưởng hôm nay được nghỉ hè, và buổi tối khi trở về tôi không biết nói sao để cảm ơn Vladimir. Tôi sẽ ước phải chi mình nhận được một bưu kiện, ít ra là một lần nhận bưu kiện để chia xẻ với anh ta. Khi biết tôi không nhận được gì cả, anh ta dặn tôi: “Đừng nói gì với ai cả, nhất là với tên Kapo, vì như anh đã để ý thấy, y o bế người Pháp, hy vọng là được họ cho quà. Trong thâm tâm, lý do chính là thế đó. Vậy phải để y không biết gì cả. Trong khi chờ đợi thư tin từ Buchenwald đến, thời gian sẽ lâu chừng mười ngày; cứ giả định là anh sẽ nhận được quà, duy có điều không phải là người đầu tiên đó mà thôi. Cần nhất là phải tranh thủ thời gian. Hè sắp đến rồi và anh sẽ thấy cuộc đại tấn công”.

-A! thế hả, mặt trận thứ hai?

– Không, quân đội của chúng tôi, họ không chỉ tiến quân trong mùa đông. Tất nhiên nếu Anh Mỹ cũng lúc đó có thể đổ bộ được thì rất lý tưởng, tuy nhiên họ đã hứa điều đó bao lần rồi…

Vladimir chưa đầy mười chín tuổi nhưng được đời làm cho chín chắn, anh ta nói như một người lớn tuổi. Một đêm tại Bá-linh, cuộc oanh tạc đã làm sập một phần doanh trại của nhà máy nơi anh làm việc, đây không phải là lần đầu tiên, và cũng như mọi lần, anh ta cùng một số bạn lợi dụng sự lộn xộn, lẻn ra phố kiếm thêm thực phẩm bổ túc bữa ăn thường nhật, và đưa về một số đồ ăn dự trữ, dấu trong đệm rơm. Nhưng một đêm, một cảnh sát viên có bọn thiếu niên Hitler đi kèm, chộp được họ và thế là con đường cổ điển mở rộng; thẩm vấn tại sở cảnh sát hình sự ở Alexanderplatz, và hoặc bị treo cổ, hoặc bị tống đi trại tập trung. Vladimir bị hình phạt thứ nhì, may mắn. Anh gốc ở Kharkov, con một kỹ sư hỏa xa. Mộng của anh ta: trả thành sĩ quan và đến Tachkent, “thành phố sung túc”. Khi nói với tôi về thành phố đó, mắt anh ta sáng rực vì say mê. Cả một thiên tiểu thuyết được xây dựng quanh thành phố mới nầy. Sau bữa súp, thay vì chạy chỗ này chỗ kia kiếm thuốc hút, Vladimir nằm dài trên đệm và đầy khao khát hiểu biết, anh ta hỏi tôi về Ba-lê, về nước Pháp, cả ngàn chuyện. Cũng như nhiều người đồng hương khác của mình, anh ta biết một phần văn chương Pháp và không ngừng bày tỏ với tôi sự ngưõng mộ Victor Hugo, Banlzac và Alexandre Dumas. Anh ta đoán quyết là không một làng mạc nào ở xứ anh mà thanh niên không biết và ngưỡng mộ cha đẻ của “Ba người ngự lâm pháo thủ”.

Một trời một biển

vietmessenger.com

Nguyễn Tấn Hưng

Post by Sơn râu 17 Nov 2025

Phần 3. Bệnh của người

Trời hôm nay mưa phùn bay lất phất. Lạnh lạnh, cái lạnh của mưa gió sụt sùi. Không gian như mờ đục hơi sương. Những hạt mưa bụi nhỏ li ti tuy không thấy rõ nhưng đã làm ẩm ướt khắp mọi nơi. Trên mặt nhựa đường đen nhánh, cũng như trên thân cây nâu sậm và lá cành thẫm xanh. Những hạt mưa đã từng làm những chiếc áo mưa thêm hồng và những chiếc dù thêm thắm. Cho những đôi tình nhân suốt đời thèm lang thang trên hè phố, sát vào nhau như muốn chuyền hơi ấm. Những hạt mưa đã từng làm khung trời thêm phần ảm đạm, thê lương. Cho những cuộc chia ly, kẻ ở người đi. Trên sân ga hay đường qua cổng Long Vân. Và hiển nhiên không thiếu những bến bờ thương mến, vấn vương: Cầu Ðá hay bãi ủi trước cổng trường Hải quân.

Hiền ngồi co ro bên hiên nhà, tựa cửa ngó mong, dõi mắt trông ra đường. Lòng buồn rười rượi. Lại mất tiêu một ngày thứ bảy nữa rồi, nàng nhủ thầm. Nếu như trời không mưa, có lẽ giờ này nàng và một hai con bạn đang tung tăng thả lần trên đường Ðộc Lập. Với không một chủ đích trong đầu. Ði lên đi xuống như một góp mặt với đời, cho tuổi trẻ này của nàng rồi sẽ chóng qua.

Từ ngày tình cờ gặp lại Tần ở ngoài phố, xéo xéo rạp chớp bóng Tân Tân, nàng hay suy nghĩ vẩn vơ cho duyên phận mình. Có bọt bèo lắm không? Gia đình chàng có phải là một gia đình cao sang quyền quý ở trong Nam? Biết đâu chàng chẳng lại là một công tử miệt vườn? Con cái hay cháu chắt thừa tự của một ông hội đồng ruộng vườn rẫy bái cò bay thẳng cánh chó chạy cong đuôi, hay của một viên chủ tỉnh về hưu với nhiều đồn điền cao su nào đó của một thời phong kiến xa xưa?

Nàng không hề mong như thế! Ðúng vậy! Vì so với hoàn cảnh gia đình nàng thì kể ra cũng có phần hơi khó xử, nếu không muốn nói là bế tắc, trong tương lai. Nếu những gì nàng nghĩ đến về Tần đều là sự thật… Từ ngày ba nàng, cũng như biết bao nhiêu người yêu nước đã hiên ngang dám liều thân cho “cách mạng,” chịu tập kết ra Bắc vào năm 1954, mẹ nàng vẫn sống thui thủi một mình ở thôn ấp buồn hiu, quạnh quẽ của xứ Thành. Tảo tần buôn bán nuôi con. Chị Diệu, rồi đến Hiền, và hai đứa em trai nàng. Ðứa vừa biết đi lẩm đẩm, Trí, và đứa còn sấp ngửa, Dũng. Nguồn sống của gia đình chỉ trông cậy vào mảnh vườn con trồng đủ thứ cây ăn trái và miếng đất nhỏ trồng mãng cầu dai, do bên ngoại chia cho. Má nàng vẫn phải làm thêm công việc khác, tráng và bán bánh tráng bánh phồng, mới đủ kiếm sống. Có khi bỏ mối trên chợ Ninh Hòa, có khi phải chạy xuống giao cho bạn hàng ở các chợ Nha Trang.

Trong khi đó, cha nàng đã biền biệt làm… “kẻ ra đi, hề, không bao giờ trở lại.” Trường hợp của những người khác thì sao nàng không biết, chớ thật sự đối với nàng, nàng chẳng hề thấy chút gì “anh hùng tính” trong câu nói này hết. Vì sau một hai lần thư trong đôi ba năm, ba nàng bỗng bặt vô âm tín. Chẳng biết ổng đã hy sinh hay đã vui với niềm vui mới. Bây giờ, tất cả như đã đi sâu vào dĩ vãng, Hiền không thể nào hình dung ra khuôn mặt của cha mình. Một người mà nàng chỉ nhớ mang máng gặp được một đôi lần, trong đêm hôm tăm tối. Cách mạng nào không dẫn đến chiến tranh và chiến tranh nào không đem lại tang tóc chia ly? Cho những gia đình đang sum vầy, hạnh phúc! Cách mạng, ôi, hai chữ này nghe sao mà thần thánh, quyến rũ quá. Nhưng, cũng đừng ai lợi dụng nó và biến nó thành một công cụ giết người. Máu chảy thành sông. Ðể không còn ai tin tưởng vào ý nghĩa trung thực, tốt đẹp của nó nữa.

Sau đó, chị Diệu được gửi xuống Nha Trang học. Nhưng, chưa học xong ban trung học thì chị đã có chồng, anh Thiện, một chân thợ làm ở nhà in Bác Ái. Rồi hên cho chị là nhờ có ông chú bên chồng dẫn vào, chị được làm thơ ký có ngạch trong viện Pasteur. Cho nên, dạo sau này, đời sống của hai người tương đối có phần dễ thở, thoải mái. Nhất là những lúc nhà in bận, anh vẫn hay làm trễ hoặc làm thêm vào cuối tuần. Nhưng, tánh chị Diệu lại hay ăn xài sang. Thấy món gì đẹp cũng muốn mua, thấy món gì ngon cũng muốn nếm. Thành thử, tuy vợ chồng làm có tiền mà cũng không dành dụm được bao nhiêu. Lấy vào cửa trước, đưa ra cửa sau. Hơn bốn năm lập gia đình, đến nay, chị đã sinh cho anh một đứa trai, thằng Tiến, và một đứa gái, con Liên, rất là mũm mĩm dễ thương.

Rồi như những lượn sóng mãi mãi nối nhau tấp vào bờ, lớp sau ùa tuôn theo lớp trước, hết chị Diệu bây giờ đến Hiền, lại phải xuống Nha Trang trọ học. Ở với chị bề gì cũng dễ hơn ở với mẹ, Hiền nghĩ. Chị Diệu không mảy may cấm đoán Hiền đi đó đi đây, rong chơi bè bạn. Hầu hết là bạn gái, lẽ dĩ nhiên. Trường học của Hiền, trường Kim Yến ở đường Nguyễn Trãi, ngay trong khu chợ Xóm Mới cũng gần. Ði tới đi lui cũng tiện. Trường của nàng tuy nhỏ nhít về tầm vóc nhưng lại lớn tiếng về mặt… chẳng lành. Là nơi quy tụ những học trò tối ngày chỉ khoái lo party hơn là bài với vở. Là nơi, một thời, nổi tiếng với cặp nhị Kiều: Kiều Tiên và Kiều Nữ…

Thật ra Hiền quen với Hạnh, Thảo và Thúy trong một trường hợp rất là đặc biệt. Nhân một buổi công tác ủy lạo bão lụt miền ngoài, vùng Phú Yên, Sông Cầu. Như là… những chí lớn thường gặp nhau vậy thôi. Chớ không phải vì lý do đơn giản “cùng trường cùng xóm” như hồi nào anh Ðức, ý trung nhân của bà Hạnh, giới thiệu. Hiền cứ cười thầm trong bụng hoài khi thấy Tần, và các anh Thắng, Thành coi bộ dễ tin những gì anh Ðức nói.

Hiền đang ngồi lớp đệ nhị. Và nàng cứ tự hỏi: mình có đủ tư cách để làm một đứa học trò lớn hay chưa? Một học trò có thể đem vòng tay của mình tặng cho người tình, ôm ấp người tình không bao giờ biết mỏi! Nhiều người ở lứa tuổi nàng đã đi lấy chồng, như chị Diệu của nàng lúc trước chẳng hạn. Sang năm, nếu đậu xong Tú Tài, nàng nhất quyết sẽ trở thành cô giáo. Nàng sẽ theo học ban sư phạm, bốn năm hoặc hai năm. Ước mơ nhỏ nhoi của nàng và luôn của mẹ nàng chỉ có thế!

Từ nhỏ đến giờ, ngoại trừ việc chợ búa, mỗi khi Hiền đi đâu thường có anh có chị đi theo hay ít ra cũng có một hai con bạn đi cùng. Ít khi Hiền đi một mình lắm. Như vậy, lần này, làm sao Hiền đi xuống trường Hải quân để thăm Tần đây? Chẳng lẽ nàng lại rủ Thảo, Thúy, hoặc bà Hạnh? Hay đèo thêm chị Diệu? Những người mà nàng muốn dấu. Ít ra cũng trong buổi ban đầu. Mà ô hay, chẳng lẽ Hiền đã yêu Tần đến độ say đắm rồi chăng? Cho dù chỉ sau một hai lần gặp mặt! Mỗi lần nghĩ tới, nàng cảm thấy “mắc cở” trong lòng quá đi thôi!

Nhưng Hiền đâu làm sao dấu nổi người chị, đã ít nhứt một lần, từng trải qua những yêu thương, đón đưa, nhung nhớ… Chị Diệu như đã đi guốc trong bụng Hiền, đã đến từ phía sau lưng, đặt nhẹ tay lên vai nàng, hỏi nhỏ:

– Sao, làm gì mà thẫn thờ ra đây vậy cô em! Ðang mơ tưởng điều gì hả? Hay là đang nhớ đến “tên” Tần?

Hiền giựt mình, đánh trống lãng:

– Ðâu có gì đâu chị! Chỉ tại trời mưa hoài mưa hủy, buồn bã quá phải không chị? Em định về nhà thăm má bữa nay, mà sao thấy làm biếng đi quá chừng. Mà nếu về được trên đó, có lẽ em cũng ngồi ru rú trong nhà chớ có giúp ích cho má được việc gì đâu!

Những cuối tuần về thăm nhà, thực ra, Hiền cũng chẳng có làm công lên chuyện xuống gì để có thể gọi là nặng nhọc hết. Bất quá chỉ quét dọn nhà cửa, giặt giũ quần áo, xách nước từ giếng vào bồn, hay nấu thay mẹ một bữa cơm. Không còn chuyện tắm rửa em út nữa vì Trí và Dũng cũng đã lớn, mười bốn mười lăm tuổi tới nơi rồi. Nàng lại rất ít khi giúp mẹ về chuyện rẫy bái, vườn tược…, ngoài việc đi tìm hái mấy trái chín cây treo lủng lẳng trên cành. Hiền hỏi lại chị:

– Bữa nay chị có tính đi đâu không?

– Mưa gió thúi đất như vầy thì đi đâu cũng ngại, tiệm quán chắc là ế ẩm, đóng cửa hết. Nhưng chắc chị cũng phải chạy lại đằng chợ một tí, mua một ít rau cải và cá mắm về làm cơm cho anh Thiện. Cuối tuần cũng nên có cho ảnh một bữa ăn tươm tất, tươi mát một chút. Em có muốn đi với chị?

Chuyện đi chợ đối với Hiền chẳng có gì mới mẻ hết. Nàng vẫn làm hằng ngày vì cả hai, chị Diệu và anh Thiện, đều đi làm ngày hai buổi. Công việc đó hai người đã nhiều lần giao khoán cho nàng. Kể cả nấu ăn, làm bếp. Nhưng, thật sự, Hiền muốn đi rảo ngoài phố Ðộc Lập, Trần Quý Cáp hơn. Ở đó, cho dù trong làn mưa bụi mù mù sương khói, nàng cũng có thể bất ngờ gặp Tần. Như lần trước. Còn vòng vòng ở cái chợ Xóm Mới kia với chị Diệu thì kể như là hết hi vọng. Mà nàng bỗng nghĩ lại, liệu bữa nay mưa gió như vầy thì biết Tần có can đảm xách đít “đi bờ” hay không đây? Ðể mà gặp với gỡ? Hay chàng lại nằm trại đọc sách, đọc thư nhà. Ðọc thư tình nữa, cũng không biết chừng! Làm sao mà hiểu nổi những người con trai bay bướm hào hoa, những sinh viên sĩ quan hải quân như Tần chớ! Nhưng nếu nàng nói không muốn đi thì chị Diệu sẽ nghi! Vả lại còn hai đứa nhỏ ở nhà thì bỏ cho ai trông coi, chẳng lẽ lại bồng theo… May quá, chị Diệu đã tự trả lời thế cho Hiền:

– Hay là em muốn đi chơi với mấy đứa bạn thì chị đi một mình cũng được.

Hiền nói ngay như sợ chị nàng đổi ý:

– Em định lại nhà con Thảo, lâu quá không gặp lại nó!

Chị nàng hơi ngạc nhiên, mỉm cười:

– Thế à! Vậy thôi để chị sửa soạn đi cho rồi, kẻo trưa!

Thật ra Thảo đã ghé nhà thăm Hiền cách đây vài ngày. Con nhỏ vẫn hay tạt ngang trên đường đi học về, đạp xe đạp từ trường Thánh Tâm qua ngã Nguyễn Hoàng lần ra khu chợ Phước Hải. Trường nhà dòng thì kỹ luật khó khăn hơn, nhưng thỉnh thoảng Thảo cũng bỏ lớp cúp cua đi chơi với bạn. Lạng quạng nó dám bị đuổi học có ngày, Hiền nghĩ. Lại phải chui vào các trường tư thục, không nổi tiếng cái này thì cũng nổi tiếng cái kia. Rất tiếc là lần vừa rồi Hiền quên đề nghị với Thảo về việc đi xuống trường hải quân thăm “chàng.” Phải nói không riêng gì Tần của Hiền, mà còn Thắng của Thảo nữa chi. Con nhỏ coi mòi cũng chịu đèn “chàng” của mình dữ lắm.

Nhưng muốn đi thì phải có kế hoạch. Vì không thể đến thăm “chàng” trong giờ làm việc được. Ngoại trừ những trường hợp khẩn cấp dành cho thân nhân ruột thịt như cha mẹ, anh chị em hay vị hôn thê, Hiền biết vậy. Mà trong khoảng thời gian này, chắc “chàng” cũng đang bù đầu vào bài vở, lớp học, thi cử. Không tâm trí đâu mà để ý đến chuyện bồ bịch, vẩn vơ. Ðang đợi chờ ngoài cổng. Rồi, nếu có đi thăm sau năm giờ chiều tan học về thì phải viện dẫn lý do chính đáng thế nào đây? Cho chị Diệu và anh Thiện tin tưởng? Cho ba má con Thảo bằng lòng? Nàng suy nghĩ mãi mà không tìm ra được một kế hoạch nào chu đáo. Vả lại, nếu xuống đó thăm thì phải nói với “chàng” những gì? Lại phải dắt nhau đi đâu, câu lạc bộ chẳng hạn, hay chỉ ngồi nói bâng quơ vài câu trong phòng tiếp tân? Nàng thấy sao mà rắc rối quá!

Nhưng, trước sau gì Hiền cũng phải thực hiện lời hứa oan nghiệt của mình đối với Tần: Sẽ có một ngày đẹp trời, không xa lắm … Và hiển nhiên, nàng không thể để Tần chờ lâu hơn. Rủi chàng lỡ quên luôn nàng thì sao? Xa mặt dễ cách lòng mà! Có thể nàng phải gấp rút ghé tạt qua đó, ngay ngày hôm nay cũng nên. Chỉ cần gặp mặt chàng cho… đỡ nhớ và ghi cho chàng cái địa chỉ nhà, thế thôi. Hẹn chàng cứ đến nhà tìm thăm, nếu chàng thích. Trâu phải tìm cột chớ cột nào lại đi tìm trâu. Nhưng nàng lại chợt nhớ, hôm nay là thứ bảy, rủi chàng không sợ gió bấc mưa phùn, cứ lầm lũi đội mưa “đi bờ” thì càng tréo cẳng ngỗng! Rõ lẩn thẩn! Càng nghĩ, nàng càng có lý do để gặp Thảo bàn tính chương trình.

Chị Diệu trở ra trong cánh áo sơ mi bâu lật màu hường nhạt, quần tây đen. Vẫn mang đôi giày bít sờn gót đi làm thường ngày, có lẽ cho đỡ văng bùn lên gấu quần. Chị tròng vô tấm áo mưa ny-lông trong suốt với cái mũ ba góc trùm đầu cùng loại. Mặc dù không son phấn sửa soạn chi hết, trông chị vẫn còn mơn mởn đào tơ. Không ai ngờ rằng chị đã có hai con. Con gái đẹp thường hay bị con trai xỏ mũi, rước đi sớm là vậy. Kèm theo cái cảnh hay bị chồng ghen, tiệc tùng cưới hỏi gì gì ở đâu, anh Thiện cũng đi theo giữ chị chằng chằng như chằn giữ kho tàng. So với chị, tuy Hiền không sắc sảo bằng nhưng nàng lại có duyên ngầm. Ðiểm giống nhau của hai chị em là đều có nước da sáng sủa, dẫu sống quanh năm bên vùng biển mặn. Hiền khen khéo chị Diệu một phát:

– Chị đi một mình phải coi chừng có mấy anh chàng hải quân độc thân theo tán tỉnh bất tử đó!

Chị Diệu đẩy đưa, nói bóng nói gió:

– Theo chị hay theo em đây? Lại nhớ tới hải quân nữa rồi phải không? Cô này bữa nay quá lắm rồi nghen, coi chừng chị mét má!

Hiền giẫy nẫy:

– Chị quỷ nè.

Diệu tiếp:

– Ở nhà trông cháu giùm chị, chị đi một chút xíu sẽ về ngay. Sữa chị đã pha rồi dưới bếp, nếu con Liên thức dậy, em cứ lấy cho nó bú, khỏi khuấy. Chị đi đây.

Hiền đáp nhẹ:

– Dạ, chị để đó cho em.

Chị Diệu đi rồi, Hiền lấy chiếc áo len trắng do chính nàng đan tay máng sau bệ ghế khoác lên người, cho đỡ lạnh và đi xuống nhà sau. Hai đứa nhỏ còn ngủ say sưa trong buồng anh chị nàng, Hiền ghé đầu ngó vào trông chừng. Trời mưa âm u càng làm cho căn phòng như đang chìm lỉm trong màn đêm. Trở lại phòng mình, nàng bật đèn ngồi vào bàn viết. Làm gì đây, nàng tự hỏi? Học bài giờ này thì chắc là học không vô rồi, nàng biết chắc chắn như vậy. Hay là viết thư? Cho Tần! Gửi xuống KBC 3317, một KBC mà hầu hết con gái ở Nha Trang đều biết! Hiền ngại quá, chuyện gì chớ chuyện giấy trắng mực đen coi bộ hơi nguy hiểm. Bút sa gà chết! Mà biết viết gì đây? Chẳng lẽ lại vào đề: Tần… thương mến… Úi chao, không được. Sao chưa gì mình lại đi thương mến người ta chớ!

Phải chi có Thảo, có Thúy, hay bà Hạnh… ở bên mình giờ này thì đỡ cho Hiền biết mấy. Hai ba bộ óc liễu yếu, đào thơ dễ thường… dụm lại cũng nên hòn núi cao lắm chớ chẳng phải chơi, nàng bỗng nghĩ. Ít ra bọn nó sẽ cho nàng một vài ý kiến! Ối, mà chuyện tâm tình của bọn nó cũng giống như của Hiền, nghĩa là luôn luôn rối nùi như mớ bòng bòng thôi. Ở đó mà cho ý kiến! Ý, biết đâu chuyện mình thì quáng, còn chuyện bạn bè hay tình địch thì các nàng lại sáng như sao băng đây? Nghĩ đến đó Hiền lại càng nôn nóng muốn nhảy tót lên xe đạp chạy tuốt qua chợ Phước Hải gặp Thảo ngay. Hay vọt lên chợ Ðầm gặp Thúy… Còn bà Hạnh ở chợ Phường Củi thì miễn bàn đi. Bà này hay làm tài khôn, dạy đời Hiền dữ lắm, Hiền không thèm hỏi ý kiến đâu. Bả chỉ đòi làm má Hiền thôi, mặc dầu mới lớn hơn Hiền chỉ vài ba tuổi.

Nhưng nói gì thì nói, Hiền cũng phải chờ chị Diệu đi chợ về, rồi nàng mới dứt khoát đi tới nhà ai. Bậy quá, phải chi mình vọt từ sáng sớm thì được rồi, khỏi phải nằm nhà suy nghĩ tới lui. Mà cũng không được nữa! Mới sáng sớm mà đến nhà người ta chỉ để… chơi không thôi sao? Ít ra phải có vấn đề gì quan trọng chớ! Hừm, quan trọng thì rất quan trọng thiệt đó, nhưng nàng không dám nói ra là cái cẳng. Ừa, hay là Hiền cứ sửa soạn, son phấn ngay từ bây giờ đi là vừa. Mà thôi, trời đất kia đang tỉ tê ướt át đến như thế này thì sửa soạn, son phấn cho ai coi, nàng lại phân vân. À, nếu không làm mặt làm mày thì ít ra mình phải chọn mặc đồ gì, hàng gì cho thích hợp đây chớ. Chẳng lẽ lại trắng với đen hoài, black on white always right, như nàng đã có lần đọc ở đâu đó trong một cuốn catalog hàng ngoại quốc…

Bỗng, bên kia phòng có tiếng con nít khóc ré lên. Chậc, con Liên và thằng Tiến đã thức dậy! Hiền chạy nhanh qua phòng, bật công tắc. Hai đứa đang lồm cồm ngồi dậy, dụi mắt, mặt nhăn nhó như khỉ ăn ớt. Mùi nước đái khai nồng nặc, lại đái dầm, nàng than thầm. Bế xốc Liên bên mình và đưa tay đỡ Tiến leo xuống giường, nàng nói:

– Chạy ra nhà sau cho dì rửa mặt nghe không!

Thằng bé ở truồng đưa cu dòng dõng ngoan ngoãn vâng lời, lẩm đẩm bước đi. Hiền theo sau. Nàng múc thau nước mát để trên bàn nhỏ, khoát nước rửa mặt cho hai cháu trước rồi mới rửa cu rửa chim cho từng đứa sau. Nước lạnh làm Tiến rùng mình, uốn éo, tỉnh ngủ. Liên cũng vậy. Hiền lấy ngón tay khều khều vào bụng con nhỏ, Liên nhoẻn miệng cười đưa hai cái răng sữa như hai hạt gạo nanh chồn. Hiền hỏi bâng quơ:

– Khát sữa rồi phải không? Biết lắm mà! Cười cái nữa đi, dì thương!

Con bé chép miệng đưa tay lên mút. Nàng đi lại bình hấp sữa, mở nắp, lấy một chai nhỏ giao cho Tiến tự cầm bú lấy. Thằng nhóc thấy chai sữa như mèo thấy mỡ, mặt mày sáng sủa, tươi rói ngay. Hai tuổi rưỡi rồi mà vẫn còn bú sữa ké của em, không biết mắc cở, nàng ngạo thầm. Lấy thêm một chai nữa cho con nhỏ, rồi nàng lại nằm treo trên võng. Ðể đầu con bé gối lên tay, nằm gọn bên hông mình, nàng lêu lêu bình sữa trước mặt. Con bé quơ quơ hai cánh tay tròn lẳn như hai củ cải trắng, chụp lấy chụp để trên không. Ðói dữ hả con, nàng tự nói với mình, rồi đút núm vú vào miệng cháu. Con bé chu mỏ nút, lúm hai đồng tiền lớn bên má. Nàng đẩy võng đong đưa, bất giác, hát lên câu ca dao mẹ con tình tự:

Con tôi khát sữa bú tay
Ai cho bú thép ngày rày mang ơn
.

Rồi bỗng dưng mắc cở một mình, con ai đâu mà con, nàng nhủ thầm… Chợt, Hiền bâng khuâng vụt nghĩ tới má nàng và hai em. Giờ này chẳng biết má nàng đang làm gì, tráng bánh hay nấu cơm? Và hai thằng em láo táo như khỉ của nàng nữa, đã chạy rong hàng xóm hay đi chơi đâu đó dọc theo bờ sông Cái trong cảnh đời mưa gió vi vu, âm u mù mịt như thế này? Tự nhiên, nàng cảm thấy mình bất hiếu với mẹ quá! Làm thân con gái, có nuôi cho lớn rồi cuối cùng cũng theo trai. Sống với chồng con, mải lo cho chồng con như chị Diệu nhà này, có bao giờ để tâm để trí đến kẻ sinh thành nữa! Nàng buông tiếng thở dài! Có lẽ nàng phải về Thành thăm nhà ngay trưa này, thay vì đi bàn tính chuyện riêng tư, tình cảm cá nhân với bạn bè, con Thảo, con Thúy. Tần ơi, em không nỡ bỏ má em để đi đón anh chiều nay, xin anh tha lỗi… Tha lỗi cái con khỉ, người ta nào đã là gì của mình đâu, nàng nghĩ mình chắc đã khùng tới! Chưa gì đã lẩn thẩn chuyện bên hiếu, bên tình! Nhưng thân phận nàng rồi có bèo bọt lắm không? Làm sao nàng biết được rằng Tần không thuộc vào một gia đình cao sang, quyền quý?

Vô lý thật, mấy lúc gần đây sao Hiền cảm thấy hơi khó ăn khó ngủ. Lại hay nhớ trước, quên sau. Ðầu óc luôn nghĩ chuyện đâu đâu, vớ va vớ vẩn. Chẳng hiểu tại sao trong đêm dạ vũ gắn alpha, nàng lại dám cả gan hôn lên má Tần và để cho chàng ghì chặt vào lòng. Làm con gái mà hành động như Hiền có nên gọi là thứ lẳng lơ, trắc nết hay không? Biết đâu Tần cũng đã “phải lòng” Hiền, cũng đã thương nhớ Hiền không nguôi? Giờ này nữa, Tần đang làm gì? Chàng có để hình bóng Hiền rơi vào đôi mắt xanh màu biển rộng của chàng chăng? Chàng đang vui với bạn bè hay đang buồn vì vọng nhớ quê nhà, miền Nam xa vắng kia? Dẫu vui hay buồn, nàng đều nhứt quyết muốn chia sẻ cùng chàng!

– Tần ơi, có phải gió mưa là bệnh của trời, tương tư là bệnh của người… mới yêu …

Hiền bỗng thì thầm như vậy. Và ngoài kia, trời vẫn lất phất mưa bay…

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều – Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 17 Nov 2025

Phần 18 – Ta phải sống

Trong trại giam Thẩm-vấn Phan Thiết, ngày lại ngày, thời gian là những chuỗi tuyệt vọng vô hình. Như những con chim bị nhốt trong lồng, mỗi ngày cho ăn hai bữa trong lò lửa tù, hàng ngày phải chịu cái nóng hừng hực, những con chim tù coi nước uống là những thứ vô cùng quí báu. Người nhà thăm nuôi, bỏ bao cho tù thường là thức ăn, nào ai gởi nước. Dường như chưa có nhà tù nào cho tiếp tế nước cho tù. Mỗi bữa ăn, trại thay đổi từ bo bo đến bột mì luộc vo thành bánh xe méo xẹo, đôi lúc nhai dai như cao su. Hôm nào đẹp trời, đảng cho ăn độn một cơm chín khoai lát. Có người tù cẩn thận, tẳn mẳn ngồi lựa mấy hạt cơm dính tòn ten trên mấy lát khoai và la lớn:

– Bữa nay tao được 65 hạt cơm trắng! Hết sẩy!

Trong tù, thằng nào không bị sốt rét thì trơ xương như nhau, trắng bệt như nhau; thằng nào có thêm món sốt rét mà còn sống thì màu da xanh tái, bên dưới lớp da là những dòng sông xanh chằng chịt, mờ ảo, ẩn hiện như những dòng định mệnh u buồn li ti chạy trăm ngả.

Mỗi kỳ thăm nuôi, hắn được bồi dưỡng mấy cục đường, vài trái chuối và một ít cám rang trộn bắp xay ngào đường. Mấy thứ này giúp hắn kiếm lại ít hồng cầu trong máu, da hắn bớt xanh và tiệp màu da anh em, nhưng cứ mỗi tháng hai kỳ, mấy con sốt rét dựa hơi đảng và nhà nước, trở lại tàn phá thân thể hắn bằng những cơn nóng lạnh chết người, thế là hắn xanh lè trở lại. Nhưng hắn không chết, dù sốt rét quật hắn không biết bao nhiêu lần. Cái này không phải tại hắn ngoan cố hay ngoan cường gì cả, voi mà bị sốt rét ác tính cũng lăn quay như hắn. Hắn không chết là tại vì số hắn chưa chết. Hắn là hạt bụi trong tay đảng kia mà!

Hắn ngồi nhâm nhi chén khoai, nhai từng miếng, có những miếng bột, có những miếng sượng, có những miếng sùng đắng nghét. Hắn đổ quạu:

– Thứ này cho heo ăn nó cũng không thèm ăn!

Tiếng hắn rõ mồn một trong lúc cả phòng nín khe. Hắn chợt ngước lên nhìn ra cửa, tên công an đứng trước cửa phòng tự bao giờ. Nghe hắn nói trọn câu, tên công an nhìn hắn:

– Ê! Anh kia! Anh nói cái gì nói lại nghe coi! ĐM! Thứ phản động, tay sai đế quốc, chưa bắn bỏ là may! Bày đặt còn chê khoai sùng khoai thúi! Lần sau tôi mà còn nghe anh nói kiểu ó đâm đó là tôi tống cổ cho nhịn đói trong chuồng cọp nghe chưa!

Hắn cúi đầu, nhẫn nhục làm thinh. Hắn nuốt nỗi nhục nhằn, uất hận, giữ cho nó khỏi tuôn ra đôi mắt. Hắn sợ cán bộ Việt cộng thấy ruột gan hắn. Hắn dấu kín, hắn nghĩ phản ứng là vô ích; trả lời, biện cải là vô ích, vì người tù có khi phải trả cái giá chết người chỉ vì trả treo, lý sự với những thứ người cộng sản mất nhân tính, coi tù như cỏ rác.

Tên công an bỏ đi xuống nhà bếp. Hắn ném nhúm khoai sùng vào xô cầu và cẩn thận lùa hết muỗng cơm trắng vào miệng. Hắn nhai từ từ, mắt lim dim thưởng thức những hạt tinh bột theo cổ họng chạy xuống bao tử và hắn thấy tinh bột như đang ngấm vào máu. Nhà bếp tiếp theo đó, đặt trước mỗi phòng một xô nước. Mỗi người tù có một chiếc ca riêng, thứ tự từng người xếp hàng lết ra cửa, thò tay múc nước đủ uống. Qui định của trại giam không cho chứa nước. Sức nóng của phòng giam, của mái tôn, của ánh nắng làm cho từng giọt nước quí như vàng. Mỗi lần uống thì cố uống cho cành hông cho đã đời. Chiều tối trại mới cho uống một lần nữa.

Dãy phòng ngang gồm 4 phòng, mỗi thùng nước đặt trước mỗi phòng, từ cuối đầu nhà bếp, tên công an ngồi kiểm soát từng ca nước thò ra, thụt vô. Công an coi tù ra lệnh cấm bất cứ ai ló đầu ra ngoài, trại tù không muốn tù nhân nhìn ra hành lang quan sát sinh hoạt bên ngoài. Gần tới phiên hắn uống nước trưa, hắn lôi trong bọc ra một cái ca nhựa màu vàng nhà mới bỏ bao kỳ thăm nuôi tuần trước. Thanh Cùi chợt đề nghị:

– Anh uống xong anh cho em mượn ca. Cái ca em nhỏ quá, uống một lần không đã.

– Ừa!

Thanh Cùi chuẩn bị giở trò ăn cắp nước. Bằng một động tác có chuẩn bị trước, Thanh Cùi rút ra một chiếc đũa, đầu đũa kẹp một miếng kính nhỏ nhặt ở đâu, hồi nào không biết, rồi từ từ thọc nhẹ đầu đũa ra ngoài, nghiêng đầu nhìn vào miếng kính nhỏ để dò xem tên công an có mặt hay không ở cuối dãy hành lang nhà bếp. Thanh thò ca múc uống phần mình, rồi nhanh như cắt, Thanh Cùi thọc chiếc ca vàng vào xô nước múc vô một ca đầy nước. Hắn hả hê:

– Trưa nay có nước bồi dưỡng rồi!

Nhưng tai nạn đến ngay liền sau đó. Chẳng biết tên công an núp ở một xó nào, nó rình các sai phạm của tù như một trò chơi thú vị buổi trưa, và thích thú, “hồ hởi” khi lôi được một tên tù ra nhốt phòng kín hay bạt tai, bất kể tù nhỏ tuổi hay tù đáng tuổi cha. Buổi trưa đó, tên công an trực tù nhỏ con là Hoa nhí. Hoa nhí hiện ra như một con ma:

– Cái ca vàng vừa múc nước tới hai lần! Ai vừa múc nước tự giác đứng dậy!

Cả phòng im lặng. Hoa nhí khuỳnh tay:

– Giởn mặt hả! Cả phòng đứng đậy! Ôm cả đồ đạc gốì đầu!

Tất cả đám tù đứng dậy, lòi ra ca nước màu vàng dưới chân Thanh Cùi. Hoa nhí thích thú:

– Bắt tận tay đấy nhé! Anh kia! Ca nước dưới chân là của ai?

Thanh Cùi ngơ mặt ra, lắp bắp không nên lời, không phủ nhận hay xác nhận. Hoa nhí hét:

– Anh kia, anh bên cạnh! Có phải của anh không?

– Không phải của tôi cán bộ!

– Không phải của anh thì của anh kia!

Hoa nhí chỉ mặt Thanh Cùi:

– Bước ra!

Thanh Cùi vẫn đứng như trời trồng, nhìn hắn cầu cứu. Hắn đứng lên:

– Tôi nhận cái ca đó của tôi!

– À! Ngon! Tự giác cao! Nhưng tại sao chỗ anh bên kia mà cái ca nước lại ở bên này?

– Tôi múc thêm nước dấu uống buổi trưa. Tôi chuyền dấu qua bên đó!

Thanh Cùi thở phào, nhìn hắn như cám ơn. Cái ca nước thì đúng là của hắn, mà tội múc nước lậu là của Thanh Cùi, nhưng Hoa nhí truy chủ nhân cái ca nên hắn nhận đại cho rồi, có bị phạt thì phạt một thằng. Và hắn nghĩ đó cũng là cách trả ơn Thanh Cùi những ngày Thanh Cùi quạt hắn khi hắn lên cơn sốt. Hoa nhí nhìn hắn một chập rồi ra lệnh:

– Anh bước ra!

Hắn dợm bước ra cửa phòng giam, Hoa nhí hét:

– Quay lại lấy quần mặc vô! Trình diện cán bộ mà ở truồng hả!

Trở lại chỗ mình, hắn cúi xuống lấy cái quần đùi, thọt hai cái giò khẳng khiu vào, trở ra đứng trước mặt Hoa nhí.

Cơn gió mát bỗng đâu thoảng qua hành lang, hắn cảm thấy thoải mái, hắn có cảm giác được ướp một hơi lạnh vô cùng dễ chịu mà không một ai trong phòng giam có cái may mắn được hưởng. Bị mấy cái tát tai mà thở được một chút không khí trong lành như thế này cũng đáng. Tự dưng hắn mĩm cười.

Buổi trưa hè oi bức này, được một cơn gió mát là được của trời cho. Cuộc đời kỳ thật, hắn nghĩ, cái thằng nhóc con này đáng tuổi em út hắn, đứng thấp hơn hắn hơn một cái đầu, lại sắp tát tai hắn. Hắn thường thấy Hoa nhí véo tai, tát má những ông già vượt biên bị bắt, nên hắn có lãnh mấy cái tát cũng chẳng sao.

Hoa nhí thấy hắn cười, nụ cười của người tù như một thứ hoa nở vô thường trên nỗi nhục nhằn chai đá của những chuỗi ngày tù tội không tương lai, không ngày về mà thời gian trước mặt là một xa lộ cụt đường trong mầu đen kịt chủ nghĩa, nụ cười tự phát từ trong một cõi vô thức nào đó mà người tù không hề có ý định trước, nhưng đối với tên công an coi tù, đó là một thứ thách thức, ngạo mạn. Hoa nhí gằn giọng:

– Anh coi thường cách mạng hả! Tại sao cười? Cười cái gì? Cười linh tinh? Đứng thẳng người coi!

Cả phòng trố mắt coi Hoa nhí đánh tù, một chuyện hầu như thường ngày. Gương mặt hắn trở lại nét bình thường, nụ cười không còn trên môi, hắn trầm tư, nhẫn nhục nhìn khoảng trời mây qua đầu Hoa nhí. Xuyên qua mé mái tôn, hắn thấy mấy vạt mây thênh thang bay qua bầu trời. Hắn ước chi mình được hóa thân là mây, là gió, là con chim nhỏ, là hạt bụi trong khung trời bao la trước mặt, tâm trí hắn bay bổng gần như thoát hồn, đứng trơ trơ như cục đá.

Hoa nhí cung tay, nhón cao chân tát thẳng một cái tát vào má trái hắn, nhưng không hiểu tại sao, bàn tay Hoa nhí dừng lại trước khi đụng vào hai gò má xanh xao đang nhìn trời, có vẻ bất cần của hắn. Hắn không hiểu tại sao Hoa nhí dừng tay!

Nhìn xuống, hắn thấy Hoa nhí chống nạnh, và hốt nhiên, từ trong mớ tiềm thức lộn xà ngầu sau cuộc đổi đời đen như mõm chó, hắn nhớ ra Hoa nhí là thằng học trò lớp đệ thất Phan Bội Châu của vợ hắn trước 30/4/75 có lần đến nhà nộp bài và chào hắn bằng thầy. Hắn nghĩ bụng: “À thì ra thằng này chắc nhận ra mình, và lương tri hắn còn chút tôn tri trật tự trong cái đầu 30/4, hắn không nỡ đánh ông thầy. Thằng VC này chắc chưa đến nỗi!” Nhưng rồi Hoa nhí nói như tạt nước lạnh vào mặt hắn:

– ĐM! Cà chớn! Lần sau tái phạm biết tay tôi! Vô!

Hắn lửng thửng vô lại chỗ nằm. Hoa nhí tịch thu ca nước tạt ra hành lang và mang ca đi luôn. Hắn không tiếc cái ca, hắn tiếc những giọt nước, hắn đăm đăm nhìn vạt nước tràn lan trên nền xi măng, rồi hắn nhìn Thanh Cùi, nụ cười hồn nhiên lại hiện ra trên môi hắn, dường như hắn coi cuộc đời vô thường này như cơn gió qua hè. Cửa phòng được lệnh đóng kín lại. Hắn cởi quần thoát y một trăm phần trăm trở lại như anh em.

Có những buổi trưa nóng hết chịu nỗi, mùi hôi người, mùi hôi xô cầu trộn nhau dưới sức nóng hắt lửa của mái tôn trong một phòng giam chật hẹp thiếu không khí, đã làm một vài tù nhân ngất ngư ngộp thở. Cửa khóa bên ngoài. Công an canh phòng có thể đang cởi trần ngủ trưa trên võng hay trên chiếc ghế bố ngoài hành lang. Trong đám tù ngất ngư đó, dường như chỉ có hắn là người còn để cho cái đầu hoạt động trước nghịch cảnh. Hắn đăm đăm nhìn vào các song cửa lá sách với những miếng gỗ mỏng xếp nghiêng, mà người bên trong có thể nhìn chéo xuống và thấy chân giép râu của công an canh tù đi ngang qua lại ở bên ngoài. Một ý nghĩ lóe lên trong đầu hắn. Hắn dựng Thanh Cùi dậy:

– Thanh! Mày làm cái này cho tao. Nếu ngon lành, chiều nay tao chia mày nửa chén bo bo!

Thanh nhừa nhựa ngồi dậy:

– Cái gì anh nói thử coi!

– Này! Mày lách anh em, đứng ra giữa phòng, quay mặt về cửa phòng, dùng cái quạt của mày và của tao, xòe quạt theo tầm ngang và thẳng tay quạt lên quạt xuống gần mấy miếng lá sách. Mày làm động tác như kiểu tao làm. Mày coi này!

Hắn đứng dậy chỉ cho Thanh Cùi cách quạt gió. Thanh Cùi có vẻ không hiểu gì cả, nhưng trong đầu Thanh Cùi là chiều nay có thêm được nửa chén bo bo. Cái đó mới quan trọng. Thanh Cùi dạng chân quạt. Chỉ sau vài phút là phép lạ xẩy ra trong phòng giam. Người phát giác phép lạ đầu tiên lại là tên đang ngồi trên xô cầu cuối vách, và người la làng đầu tiên là ông tù phòng trưởng nằm gần cửa để lúc nào cái lỗ mũi cũng nhận nhiều không khí mát từ bên ngoài nhiều hơn anh em.

Phải là một tên tù thâm niên nhất phòng mới được đặc ân làm phòng trưởng, điểm danh, chia cơm nước cho anh em, và chiếm vị trí gần cửa nhất. Tên ngồi trên xô cầu bỗng la lớn một cách thích thú:

– Trời ơi! Tự nhiên sao có gió mát quá!

Tiếp theo là ông tù phòng trưởng:

– Chết cha! Sao nóng và hôi quá! ĐM! Sao gì kỳ vậy!

Từ giữa phòng, hắn đứng dậy, nói với cả phòng, nói một cách nghiêm trang:

– Tôi đã vừa thử một cách làm cho phòng chúng ta bớt nóng, có chút không khí trong lành vô phòng. Khi Thanh quạt xuống, một số tù khí trong phòng chúng ta bị tông ra ngoài theo hai cây quạt vào phần dưới cửa lá sách, tức khắc, một luồng không khí mát bên ngoài tràn vào, theo phần trên của lớp lá sách chui vô phòng chúng ta, chạy dọc theo mái tôn dụng vách xô cầu và tràn xuống. Hơi nóng bị luồng không khí lùa ra ngoài qua mấy khe dưới của cửa lá sách. Đó là lý do tại sao anh Mười phòng truỏng đột nhiên thấy nóng và la làng. Nhưng không sao, nếu chúng ta thay phiên làm kiểu này mỗi buổi trưa một vài tiếng đồng hồ, không khí trong phòng này sẽ dễ thở và mát hơn. Thanh tiếp tục quạt như thế cho anh năm mười phút nữa xem sao!

Thanh Cùi làm theo lời hắn, và quả nhiên, cả phòng vô cùng thích thú – y như những gì hắn giải thích. Từ đấy, một số tù lớn tuổi đã cùng hắn chia bớt phần ăn cho các tù trẻ để làm dịch vụ thay đổi không khí trong phòng. Và vị trí nằm độc tôn sát cửa của phòng trưởng không còn là nơi lý tưởng duy nhất trong phòng giam. Phát kiến này có tiếp ngay một hệ quả khác mà anh em gọi là “nhiệt độc tà khí thần chưởng”, được áp dụng vô cùng thần sầu vào mỗi đêm để đuổi công an.

Buổi tối, sau khi kẽng trại báo ngủ, tất cả các phòng giam bị khóa cứng, bên ngoài, công an bắt đầu đi tuần. Thường thì công an đi rình nghe các phòng nói chuyện. Phòng hắn có lẽ là cái phòng già chuyện nhất trong các dãy phòng ngang đầy ắp người. Phòng giam quá đông, không có chỗ đánh cờ tướng nên buổi tối thường chụm đầu nhau kể chuyện. Kể chuyện mà bị công an nghe là bị phạt cả phòng.

Thành ra, mỗi đêm kể chuyện, phòng đều cử một anh em gác cửa bằng cách đứng gần cửa lá sách nhìn chéo xuống đất, hễ thấy đôi giép râu vừa ló gần tới là ra hiệu cho cả phòng im tiếng. Tên công an vừa rón rén tới gần và đặt tai vào cửa, mấy cây quạt bên trong cùng lúc quạt vào khung cửa lá sách. Báo cáo sau đó là:

– Hết sẩy! Khi mình quạt cái đầu, em thấy ông công an lùi lại cái rột! Ông không chịu nổi mùi hôi trong phòng. Cái này bác Cương chắc gọi là “nhiệt độc tà khí thần chưởng” của “Đệ Bát Tử Vong Cốc”.

Cương dường như là sĩ quan thuộc Nha Tuyên úy Phật giáo bị tù vì tội vượt biên, và thường kể chuyện chưởng cho anh em nghe. Và Đệ Bát Tử Vong Cốc chính là tên anh em đặt cho phòng ngang số Tám.

Cái kinh nghiệm điều hòa không khí bằng cách quạt vào cửa lá sách không biết các phòng khác có nghĩ ra hay không song không có cách chi chia sẻ kinh nghiệm với anh em. Vấn đề cái nóng chết người tạm thời giải quyết được, nhưng diện tích phòng giam, chiều cao vách tường thì chịu. Tù lúc nào cũng dày đặc.

Phan Thiết nằm trên bờ Thái Bình Dương nên là một trong những thành phố có nhiều người vượt biển nhất, và số nạn nhân bị công an cộng sản bắt cũng vào hạng nhất nước. Thuận Hải lúc đó là tỉnh hai năm liên tục đoạt cờ đầu của chủ tịch Tôn Đức Thắng về thành tích bắt người vượt biên, và nghe đâu một đại biểu quốc hội tỉnh Minh Hải có lần họp ở Hà Nội hỏi móc họng đại biểu tỉnh Thuận Hải, là “các các đồng chí cai trị dân ra sao mà năm nào các đồng chí cũng đoạt cờ đầu về thành tích bắt người bỏ nước ra đi!” Không nghe mấy ông Thuận Hải trả lời ra sao.

Cũng vì lý do đó mà phòng giam của hắn lúc nào cũng ở trong tình trạng cá hộp, tù nhân phải ngủ thế hai chân gác tréo mẩy. Ngủ tréo mẩy là nằm dài lưng trên ván, hai chân co lại và chân này gác chân kia, tay cầm quạt phe phẩy. Đó là dáng cách của mấy ông nhà nho, mấy ông quan, hay cả của bác nông dân thư thả buổi trưa hè.

Mấy ông đó nay không còn tồn tại, mà trong phòng giam của hắn, chỉ còn hàng lớp tù nhân cũng nằm ngủ đêm hay ngủ trưa trong cái thế tréo mẩy có vẻ nhàn nhã nhưng thực ra là một cực hình.

Họ ngã lưng, chân co lại gác lên nhau ở thế tréo mẩy, đít người này thẳng hàng chạm đít người đối diện để vừa đủ hai người nối nhau, hai đầu đụng hai vách có độ dài cách nhau không quá một thước tám, chia hai vừa đủ mỗi người một phản lưng, dư chút xíu cho hai cái mông đâu lại. Không “tự giác” nằm theo thế này thì những người vào sau, có đến nửa phòng, sẽ phải ngủ đứng, ngủ ngồi, nếu có người chết hay chuyển trại mới thế người mới thâm niên vào chỗ nằm của người ra đi.

Theo “luật giang hồ” trong phòng, mỗi lần người đối diện đứng dậy đi cầu, khoảng trống sẽ dành cho anh bạn đối đít duỗi chân thoải mái, không ai được dành chỗ. Giây phút được duỗi thẳng hai cẳng là những giây phút thần tiên. Nhiều lúc quá mõi chân, hoặc ngủ say, hoặc đồng ý duỗi chân gác lên ngực nhau, hai tên tù cùng nhau bỏ thế tréo mẩy, duỗi cẳng dài ra, ôm cẳng chân nhau mà ngủ. Gặp cái thằng mập mạp, mới vô lò với hai cái giò tổ bố nặng thì người kia khó mà không xẹp ngực qua một đêm dài…!

Hắn sống khốn nhục như vậy trong suốt bảy tháng trời, cùng với những cơn sốt rét tái đi tái lại, hắn thành một cây tre rụng lá biết đi. Bên ngoài, người nhà hắn nghĩ có thể VC không giết hắn, song hắn sẽ chết vì sốt rét trong nhà giam, hoặc vì hắn tự tử khi sức chịu đựng đã quá mức mà con người có thể chịu đựng.

Thực vậy, những dự tưởng của người nhà hắn không sai lắm. Gác ngang chuyện chết vì sốt rét do kiệt sức và không thuốc men, chuyện tự tử cho xong đời… đã nhiều lần lảng vảng trong đầu hắn, nếu có trong bọc quần áo một chục viên thuốc ngủ, không chừng hắn chơi luôn trong một đêm mưa gió nào đó. Hắn sẽ về với Chúa cũng tốt, với Phật cũng xong, về với ma vương, ngạ quỉ cũng được, cái nào cũng khá hơn cuộc đời khốn nhục này.

Một buổi trưa, sau khi nhận quà hàng tháng do người nhà tiếp tế, hắn giao hết cho nhóm ăn chung, chỉ giữ lại hai viên chè trôi nước trong bọc nylon. Sau bữa cơm chiều, hắn đổ hai viên chè ra ca và thưởng thức vị ngọt của đường. Hắn nhai nhè nhẹ, hai mắt lim dim như nghe chất ngọt qua từng đợt theo thành ruột ngấm tràn vào máu. Bỗng hắn khựng lại, ngừng nhai. Hai viên chè đã bị công an kiểm soát đâm nát, mà lại có cái gì còn cộm giữa viên chè. Hắn thấy một cái gì bất thường khi lưỡi và răng hắn cho hắn biết vật cồm cộm là một bọc nylon nhỏ.

Không đời nào có chuyện nhân đậu xanh trộn giấy ny-lon. Hắn không hé răng cho ai biết chuyện lạ trong miệng hắn. Hắn lừa qua, lừa lại, nhét được bọc nylon nhỏ xíu vào hốc má như con khỉ, phần khác nuốt xuống như không có gì xẩy ra. Hắn giữ như vậy đến khuya, khi mọi người ngủ say hắn len lén ngồi dậy, lừa bọc nylon ra ngoài, chộp lấy chùi khô, bên trong là một miếng giấy xếp nhỏ. Mắt hắn sáng lên, hồi hộp. Hắn xé bọc nylon được hàn kín bằng bàn ủi nóng, miếng giấy nhỏ có mấy chữ viết tay của vợ hắn: “Nếu thoát không được thì đừng tự tử! Ráng sống để nuôi con!” Hai hàng nước mắt hắn bỗng chợt tuôn lăn trên má. Thằng nhóc con đầu lòng mới sinh không đầy 3 tháng của hắn theo cha vô tù, trở thành tên tù chính trị bé nhất trại lúc bấy giờ. Sáu tháng sau, cộng sản cũng không tha thằng nhóc, gia đình phải làm đơn xin bảo lãnh nuôi, trại mới cho ra, sau đó giam mẹ tiếp một năm nữa. Ngày hắn nhận thông điệp “đừng tự tử” gởi trong viên chè trôi nước là ngày vợ hắn đã được thả về mấy tháng trước. Thằng bé không nhận ra cả mẹ nó, nó ôm chặc lấy bà dì nuôi, nó trố mắt nhìn mẹ nó khóc nức nở khi gặp lại con…

Một thời gian dài hắn sống trong tù như cục đất, khốn nhục, sống chết dường như không còn là cái gì quan trọng trong cuộc đời, hắn quên bẳng thân phận mình, quên cha mẹ, vợ con, bạn bè… Cho đến một hôm, trong cái giây phút thiêng liêng tĩnh lặng giữa phòng giam tịch mịch, trừ tiếng ngáy đủ kiểu âm thanh của bạn tù, hình ảnh đứa con đến với hắn qua mấy chữ vợ hắn viết, nó bỗng như cắt ruột, dao đâm, nó cào gan, xé phổi, nó làm cho sức đề kháng của định mệnh trổi dậy như giông bão trong cái đầu muốn buông xuôi của hắn. Hắn đập tay trần xuống nền xi măng:

– “Ta phải sống!”

Hắn thốt lên như một lời thề, và hốt nhiên, toàn thân hắn, một mạch hưng phấn, nhiệm mầu từ cõi vô hình nào đó bỗng tràn ngập trong từng mạch huyết quản dồn dập đô về tim. Trong hắn, sức sống trổi dậy như triều dâng, như thác lũ. Và quả thật hắn đã sống. Định mệnh nuôi nấng và chở che hắn.

Cuối cùng thì hắn thoát. Giữa biển rộng bao la, hắn thấy mình như một tên tù vừa chui lọt một cái lỗ kim khâu nhỏ tí. Ngày nay, xa cách quê hương gần nửa vòng trái đất, hắn vẫn nhớ như in những ngày khốn nhục, từ Kà Tót đến Sông Mao, từ Thẩm vấn Phan Thiết, đến Bình Tú… Và những dòng ký ức hắn viết lại trong bài này, dù đã hơn 22 năm trôi qua, dư âm, hình ảnh những ngày tù vẫn còn đậm nét trong trí nhớ, và từng dòng chữ viết dường như vẫn còn đủ sức vực dĩ vãng sống dậy, đủ sức làm hắn lặng người bàng hoàng như ngày vừa ra khỏi trại tù lần sau cùng, vừa đi vừa ngó lại, và hai chân chân hắn như đi lảng đảng trên mặt lộ suốt dọc con đường Hải Thượng Lãn Ông, qua cầu Quan, qua đường Gia Long, Đồng Khánh và về tới tận nhà ở đường Trần Quý Cáp, Phan Thiết.

Suốt dọc đường đi, hắn có cái cảm giác ngờ ngợ như chung quanh hắn, cành cây nào cũng cong như cây cung với những mũi tên đi đâu hắn cũng thấy chỉa vào lưng…

(Mùa đông Canada 2001)

Em về, tủi lá sầu cây
Trổ trăm nhánh lạ, hao gầy gió sương
Em về, hòn sỏi bên đường
Vỡ ra còn thấy máu xương đậm màu..

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 16 Nov 2025

PHỤ LỤC

Phần 1

Bà Nguyễn Thị Thanh

Bà, thị dòng Nguyễn Phúc, nhà trước đây rân rát, đông khách vãng lai, nghề làm bác sĩ, thêm được mát tay, nhưng hồng nhan phận bạc, có chồng, chồng nán lại Canada, với một bạn mới “trên bộc trong dâu”, bà tam sầu bạch xác, cùng hai con, thuộc Tôn thất, gái Hà, trai Sơn, gái thiện nghệ đàn thập lục, trai chờ ra nước ngoài sẽ học chữ, rồi cả ba, một mẹ hai con, được xuất ngoại, rêu rao trên giấy “élève de V.H.S” mà cơ khổ, tôi có dạy bao giờ, giờ nào, dạy gì??? Thế mà khi qua tới Gia nã đại, hiệp với một người bán đồ cổ, tên Lộ công Mười Ba, vậy mà nổi sóng gió, và bán chạy, nhiều tiền. Cái giấy chứng “élève de V.H.S.” nay tôi làm thất lạc, không sẵn đây để giải một buổi cơm tại đường ngang Bịnh viện Bình Dân, được nghe bà Tân Du, Đệ nhị giai phi của đế Khải Định. đọc cho nghe bài tám câu “Cứ sống cho vui, có việc gì, Sống dư trăm tuổi cũng Ừ đi”, v.v .. và v.v .. sáu câu sau tuổi 91, nhớ tiếng còn tiếng thiếu, đành tạm gác khi nhớ sẽ viết thêm …

Nay chỉ nhớ và tiếc một món đồ cổ, bình sứ da Bạch định, chấm kiểu “song hạc tề phi” (chặp cánh liên cành),

bình có quai nguyên vẹn nắn nặn hình “rồng” nơi hông như đã kể, là chim phụng ẩn bóng, nên bình gọi “Long phụng ngọc hồ”, trước có một thiếu phụ mang từ đất Bắc vào đây, nài bán cho tôi lúc bạc 500 đổi lấy một đồng giấy, tôi mua 2000, đổi bình với một bạn trẻ, bạn trẻ gã bình bao nhiêu tôi không rõ chắc duy biệt về sau, khi lọt về tay bà, bà bán được 5 cây vàng, và vì vậy tôi gọi “Tang thương ngẫu lục” đời Ngọ Mùi, và nhớ lại T.T.N.L. của Ph. Đình Hồ, đã viết “một tô trà, một chiếc bánh, một trầu têm”, nhớ mại làm vậy mà giá

“chỉ một đồng tiền hoẻn” trái lại ngày nay lá trầu trên bạc trăm, trái cau bạc ngàn, đám cưới tân thời có mâm trầu cau, xin hỏi giá mấy, và ai đâu còn xơi mà tục lệ xưa pha lẫn, tân giai nhân mặc Âu phục che đầu khăn lưới trắng, tay ôm bó hoa trinh bạch trắng phếu mà cái kia đã rách tự hồi nào?

Đừng hỏi tôi sao mà “rách”, thiếu chi lối, tập thể thao, chạy xa nhảy cao, cũng rách được mà, cần gì “nước vỏ lựu, máu mồng gà, xưa quá”.

Thanh có sắc, nhưng nói năng kém phần duyên, nay sum hiệp đoàn viên, với chồng, Sơn và Hà kết chăng thành “xã tắc”, thôi việc của người, lo chi cho mệt. Chắng qua cũng vì tiền, tiền thờ “le veau d’or” (tiểu kim ngưu), biến đổi lẹ như chớp. Nhứt tiếu thiên kim “ngàn vàng là gì, ngàn lạng, ngàn chỉ, ngàn phân, khó giải đáp. Nhứt tự thiên kim, hai chữ thiên kim trở đi trở lại mãi mãi, nhưng giá trị vẫn tùy thời. Ngày trước đọc truyện “Thuyết Đường”, ngày nay bạn trẻ không đọc truyện Tàu, Đường Thuyết, Thuyết Đường, trẻ làm sao hiểu, nên tôi xin lần thẩn cắt nghĩa nghe chơi:

Trong truyện Thuyết Đường, có kể tích tướng Tần Thúc Bảo, lúc làm mã khoái cùng đi với một bạn, giải tội nhơn qua hai chỗ khác nhau, khi đi đến một ngã ba chia tay mỗi người đi mỗi ngả, người bạn không chia bạc và ôm trụm qua tay không để lại cho Thúc Bảo đồng nào, khiến Thúc Bảo chịu nghèo chịu đói, ngày nầy qua ngày kia, tháng nầy qua tháng nọ, cả năm trời, không bạc lộ phí, không tiền trả cơm quán, – truyện éo le mà không giải thích, nay già xét lại mới hiểu, đời Đường còn xài bạc nguyên khối, bạc nặng cân, nên Thúc Bảo giao hết cho bạn giữ, và ngày nay so sánh lại thật thâm thúy – trước đây, ông nhà giàu trong Nam, quê ở Hạnh Thông Tây, (đất Gia Định), tặng cháu gái “một triệu đồng bạc Đông Dương” cân nặng 27 gr. x 1.000.000 đồng tức 2700 kí, và cháu gái trở nên hoàng hậu, trong khi ấy, đời 1992, một triệu đồng là 200 tờ giấy 5000, nhẹ hếu hếu, xếp bỏ túi áo, làm gì có chuyện con gái quan thượng thơ phụ chánh đại thần mất chồng Thái tử và đi tu, mất âm hao tin tức?

(viết ngày 3-5-1992)

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 16 Nov 2025

Bài 35

Cuộc nổi loạn ở đảo Sant-Joseph (tt)

Vừa đóng cửa lại. Filissari vừa nói với tôi: 
– Phúc tổ cho mày là tao lại là dân Corse! 
Chưa đầy một giờ sau, gần hết những người thuộc căn nhà của chúng tôi đã về cả. Chỉ thiếu mười tám người: bọn gác đã nhận ra rằng trong lúc hốt hoảng cuống quít họ đã nhốt lầm mấy người này vào một nhà khác Khi tất cả đã cùng trở về, ở đâu về đó, chúng tôi mới biết rõ sự việc đã xảy ra như thế nào, vì tất cả những người đó đều đang đi làm cỏ-vê. Một anh kẻ trộm người Saint-Etienne đã thầm thì kể với tôi: 
– Papi này, anh thử tưởng tượng là chúng tôi đang kéo một tảng đá nặng gần một tấn trên quãng đường dài gần bốn trăm mét. Con đường kéo đá không có đoạn nào gay go lắm, và chúng tôi đến một cái giếng cách nhà trại trưởng chừng năm mươi mét. Cái giếng vẫn là nơi nghỉ chân từ trước đến nay. Nó vừa có bóng dừa mát, lại ở giữa đoạn đường phải đi tiếp. Cho nên chúng tôi đã dừng lại như mọi ngày, chúng tôi kéo một xô nước giếng mát lịm lên uống, có mấy thằng thấm nước vào khăn để che lên đầu. Mỗi lần nghỉ thường là mười phút, thằng lính gác cũng đến ngồi ở thành giếng. Hắn bỏ mũ ra, đang lấy khăn tay ra lau đầu và mặt thì Arnaud từ đằng sau tới tay cầm một cái cuốc, buông thõng xuống cho nên không ai biết mà báo cho thằng lính đề phòng. Giơ cuốc lên và dùng phía lưỡi bén bổ vào giữa đầu người lính chưa mất đến một giây đồng hồ. Đầu bị tách ra làm hai mảnh, người lính ngã sóng soài ra đất không kêu được một tiếng. Hautin đã đứng sẵn từ trước ở đó, chộp ngay lấy khẩu mút-cơ-tông, còn Marceau thì cởi thắt lưng và lấy khẩu súng ngắn. Có súng trong tay, Marceau quay lại nói với cả bọn tù: “Đây là một cuộc nổi loạn, ai theo chúng tôi, thì đi cùng chúng tôi”. Không có một tên giữ chìa khóa nào nhúc nhích hay kêu la, không có tù nhân nào tỏ ý muốn theo họ.” 
Cậu ta kể tiếp: 
– Arnaud nhìn chúng tôi khắp lượt rồi nói: “Đồ hèn! Cả lũ chúng mày ấy. Rồi chúng tao sẽ cho chúng mày thấy đã làm người thì phải thế nào?” Arnaud lấy khẩu mút-cơ-tông từ tay Hautin rồi cả hai chạy về phía nhà thiếu tá. Marceau ở lại nhưng đứng tách riêng ra một bên. Cậu ta cầm một khẩu súng và ra lệnh: “Không được động đậy, không được nói, không được la hét. Còn bọn A-rập kia, nằm úp sấp xuống đất”. ở chỗ tôi đứng, tôi nhìn thấy rõ lắm. 
Arnaud đang lên bậc thềm nhà thiếu tá thì thằng A-rập giúp việc ở đấy mở cửa đi ra, với hai đứa bé gái, một đứa dắt tay, một đứa bế bên hông. Cả hai bên đều sửng sốt, thằng A-rập đang bế đứa bé đá cho Arnaud một cái. Arhaud muốn giết hắn nhưng hắn đã thẳng tay đưa đứa bé ra để đỡ. Không ai kêu la, cả thằng A-rập lẫn những người khác. Khẩu mút-cơ-tông chĩa vào thằng A-rập đến bốn năm lần, ở đủ các góc độ khác nhau. Cứ mỗi lần như thế là đứa bé lại bị giơ ra trước nòng súng. Hautin không leo lên bậc mà đứng bên kéo ống quần của thằng A-rập. Thấy mình sắp ngã đến nơi, nó quẳng cả đứa bé gái vào khẩu mút-cơ-tông của Arnaud. Bị mất thăng bằng trên bậc thang, Arnaud, đứa bé gái, thằng A-rập bị Hautin kéo chân, tất cả đều ngã đè lên nhau lỏng chỏng. Lúc đó mới có những tiếng la hét đầu tiên, trước hết là của hai đứa bé, rồi của thằng A-rập, rồi tiếng chửi rủa của Arnaud và Hautin. Thằng A-rập, nhanh tay hơn hai gã kia, đã nhặt được khẩu súng nhưng nó chi nắm được cái nòng, lại nắm bằng tay trái. Hautin lại tóm dược cẳng hắn. Còn Arnaud thì nắm lấy cánh tay phải của hắn và bẻ xoắn lại. Thằng A-rập ném khẩu mút-cơ-tông ra cách xa mười mét. 
Trong khi cả ba xông tới để cướp khấu mút-cơ- tông, thì có tiếng súng nổ lần đầu tiên, do người lính coi tù đi quét lá bắn tới. Ông thiếu tá hiện ra ở cửa sổ và bắn phát một, vì sợ bắn phải thằng A-rập, nên ông ta chỉ nhằm vào chỗ khẩu mút~cơ-tông rơi. Hautin và Arnand chạy trốn về phía trại theo con đường ven bờ biển, và vẫn bị súng bắn theo. Hautin chân bị tê cứng nên chạy không được nhanh, và đã bị hạ trước khi tới mép nước. Còn Arnaud thì lội xuống nước, khoảng giữa chỗ tù tắm và hồ bơi của lính. Chỗ ấy lúc nào cũng đầy cá mập. Arnand bị bao vây giữa những phát súng của một tên lính nữa vừa đến trợ lực và một tên lính coi tù đi quét lá. Y nấp sau một tảng đá to. 

– Đầu hàng đi, sẽ được sống, – bọn lính kêu to. 
– Không bao giờ, – Arnaud đáp lại, – tao thà cho cá mập phanh thây còn hờn là nhìn thấy bộ mặt khả ố của chúng mày. 
Và y lội xuống biển, thẳng vào chỗ lũ cá mập tập trung ở đấy. Hình như y bi trúng một viên đạn vì y có dừng lại một lát. Thấy thế, bọn lính tiếp tục bắn. Arnaud lại đi chứ không bơi, thân trên trên y còn nhô lên trên mặt nước thì lủ cá mập đã tấn công y. Trông rất rõ y đâm một con cá mập đã phóng nửa người lên mặt nước để lao vào y. Rồi y đã bị phanh xác ra – hiểu theo nghĩa đen – vì lũ cá mập kéo tứ phía mà không cắn đứt chân tay y ra được. Chưa đầy năm phút sau y đã biến mất. 
Bọn lính đã bắn ít ra là một trăm phút súng xuống chỗ Arnaud và lũ cá mập đang quần nhau. Chỉ có một con cá mập bị chết; nó đã dạt vào bờ, ngửa bụng lên. 
Thấy bốn phía đều có cảnh binh kéo tới, Marceau vất súng xuống giếng, hòng cứu lấy mạng mình, nhưng bọn A-rập đã đứng lên, dùng gậy và tay đấm, chân đá, dồn hắn về chỗ bọn lính, nói rằng nó có ở trong cuộc. Tuy hắn bê bết máu và đã giơ tay lên, bọn lính cũng dùng súng lục và mút-cơ-tông bắn vào hắn, và cuối cùng, một tên lính còn cầm đầu nòng khẩu mút-cơ-tỏng phang báng súng vỡ đầu ra cho chết hẳn. 
Bợn cảnh binh cũng xả đạn vào Hautin. Có cả thảy ba mươi tên, mỗi tên bắn sáu phát, và chúng đã cho cậu này ăn trước sau hơn một trăm hai mươi phát đạn. Filissari bắn chết những đứa bị bọn A-rập tố cáo là đã nhúc nhích định theo Arnaud nhưng sau lại chùn bước. 
Đó là chuyện bịa đặt một trăm phần trăm vì tuy có thể có những thằng đồng lõa, song không hề có một ai cựa quậy cả.
Đã hai ngày hôm nay, tất cả những tù nhân bị nhốt trong mấy căn phòng giam dành riêng cho từng loại rồi không ai được ra đi làm. ở cửa, linh gác cứ hai giờ thay phiên một lần. Giữa các nhà, lại có những lính gác khác. Cấm nói từ nhà này sang nhà kia. Giữa hai hàng võng là lối đi; đứng tại lối đi đó, hơi chếch một chút, có thể nhìn ra sân qua cửa sát. Có cả những cảnh binh được đưa từ đảo Royale đến để tăng cường. Không một tù nhân nào được ở bên ngoài. Kể cả bọn A-rập giữ chìa khóa cũng vậy. Tất cả đều bị nhốt. Thỉnh thoảng, có một người trần truồng theo sau là lính, bị đưa đến khu xà lim giam tù bị phạt nhưng không thấy có tiếng kêu la hay tiếng đánh đập. Bọn lính thường đứng nhìn vào trong qua các cửa sổ bên hông nhà. ở mỗi cửa ra vào, có hai lính gác, một ở bên trái, một ở bên phải. Thời gian gác ngắn, chỉ hai giờ nhưng họ không bao giờ ngồi, cũng không đeo súng lên vai: khẩu mút-cơ-tông tì vào cánh tay trái, luôn sẵn sàng nhả đạn. 
Tù nhân quyết định đánh bài poker, từng nhóm năm người một. Không đánh bài Marseillaise, cũng không chơi những thứ bài ăn lớn vì như thế quá ồn ào. Marquetti đang kéo một bài sonate của Beethoven cũng bị ngăn lại. 
– Không được chơi thứ nhạc ấy nữa, lính chúng tôi đang có tang. Một không khí căng thẳng khác thường đè nặng không phải chỉ trên trại giam mà trên toàn trại. Không có cà phê, không có xúp. Buổi chiều chỉ có một mẩu bánh mì, trưa thịt hộp, chiều thịt hộp, bốn người một hộp. Vì các thứ đồ lề của chúng tôi không bị phá hủy, nên chúng tôi có cà phê và thực phẩm: bơ, dầu, bột mì, v.v…. Các nhà khác không còn gì. Khi chúng tôi đun nước pha cà phê và khói ở trong nhà xí bay ra, một tên cảnh binh bắt tắt lửa đi. Người đun nước là một tù nhân thuộc giới giang hồ trở về già, người Marseille, tên là Niston, thường pha cà phê để bán. 
Lão đã trả lời lính gác một cách xấc xược: 
– Anh có muốn tắt lửa thì vào mà tắt lấy đi. 

Thế là tên lính bắn qua cửa sổ mấy phát súng. Cà phê và lửa đành biến vội. Niston bị trúng đạn vào chân. Mọi người đều cảm thấy quá căng và tưởng lính bắt đầu bắn chúng tôi nên ai nấy liền nằm sấp xuống đất. 
Chỉ huy phiên gác vào giờ đó lại vẫn là Filissari. Y chạy như điên đến, theo sau có bốn lính. Người lính vừa bắn xong, gốc vùng Auvergne, đang trình bày sự việc xảy ra. Filissari chửi anh ta bằng tiếng Corse, còn anh nọ không nghe được gì, chỉ biết nói: 
– Tôi không hiểu gì cả. 
Chúng tôi lại lên võng ngồi. Chân Niston bị chảy máu. 
– Đừng nói là tôi bị thương. Chúng nó sẽ khử tôi luôn ở ngoài đó mất. 
Filissari đến gần cửa sắt. Marquetti nói gì với y bằng tiếng Corse. 
– Cứ làm cà phê, chuyện này sẽ không xảy ra nữa. Nói xong y bỏ đi. 
May cho Niston là viên đạn không nằm trong chân: gặp đoạn cơ bắp, nó ra ở phía nửa chân bên kia. Bọn tôi buộc ga rô cho lão, máu ngưng chảy và sau đó lão được băng bó với nước giấm. 
– Papillon, ra đây – Lúc bấy giờ đã tám giờ rồi: bên ngoài trời tối đen.. 
Tôi không biết mặt người lính đã gọi tôi, có thế đấy là một người gốc Bretagne. 
– Tại sao tôi lại phải ra ngoài vào giờ này? Tôi chẳng có việc gì ở ngoài ấy cả. 
– Thiếu tá muốn gặp anh. 
– Bảo ông ta đến đây. Tôi không ra đâu. 
– Anh từ chối không đi hả? 
– Phải, tôi từ chối không đi đấy. 
Các bạn tôi vây thành một vòng quanh tôi. Người gác nói qua cánh cửa vẫn đóng kín. Marquetti ra cửa nói: 
– Chúng tôi không để Papillon ra khỏi đây nếu không có thiếu tá. 
– Thì chính ông ta cho kiếm Papillon đấy mà. 
– Vậy thì bảo ông ấy cứ lại đây. 
Một giờ sau. hai tên lính trẻ đến trước cứa phòng có tên A-rập giúp việc ở nhà thiếu tá đi theo. Tên này đã cứu ông và ngăn chặn được cuộc nổi loạn. 
– Papillon ơi, tôi là Mohammed đây. Tôi đến tìm anh, thiếu tá muốn gặp anh, ông ấy không thể đến đây được 
Marquetti nói với tôi: 
– Papi này, thằng cha ấy mang súng mút-cơ-tông đấy 
Tôi ra khỏi vòng người do các bạn tôi quây thành và lại gần cửa. Quả thật Mohammed đang cầm trong tay một khẩu súng trường. Một tên tù khổ sai lại được chính thức mang súng trường? Chuyện khó tin lại có thật. 
– Đi thôi, tên A-rập nói. Tôi đến đây để cùng đi theo anh và để bảo vệ anh, nếu cần. 
– Nhưng tôi không tin là cần. 
Tôi ra ngoài, Mohammed đi cạnh tôi, có hai tên lính đi theo sau. Tôi đến sở chỉ huy. Đi ngang qua vọng gác ở ngoài cổng trại. Filissari nói với tôi: 
– Papillon, tôi mong anh không có gì phải hàn nàn về tôi đấy. 
– Riêng tôi thì không có gì, trong phòng giam tù nguy hiểm cũng không ai có gì phàn nàn về ông. Còn ở chỗ khác thì tôi không biết. 
Chúng tôi đi xuống nhà thiếu tá. Căn nhà và bến tàu được thắp đèn đất cốt tỏa ánh sáng ra xung quanh nhưng chẳng được bao nhiêu. Trong khi đi đường. Mohammed đưa cho tôi một bao thuốc lá Gauloises. 
Khi bước vào gian phòng được hai cây đèn đất chiếu sáng, tôi thấy có thiếu tá chỉ huy đảo Royale, viên chỉ huy phó của ông ta, thiếu tá chỉ huy Saint-Joseph, viên chỉ huy và viên chỉ huy phó của nhà lao cấm cố trên đảo Saint-Joseph. 

Bên ngoài tôi thấy bốn tên A-rập, và có bốn cảnh binh giám sát. Tôi nhận ra hai tên thuộc toán cỏ-vê hữu quan. 
– Papillon đến rồi ạ – Tên A-rập nói. 
– Chào anh, Papillon, – thiếu tá trại trưởng Saint- Joseph nói. 
– Chào ông. 
– Anh ngồi xuống ghế này. 
Tôi ngồi đối mặt với tất cả mọi người. Cửa phòng để mở, trông vào bếp, tôi thấy bà mẹ đỡ đầu Lisette giơ tay thân mật chào tôi. 
– Papillon này, – thiếu tá trại trường Royale nói, anh được thiếu tá Dutain coi là người có thể tin cậy được Anh đã chuộc tội bằng cách cố cứu sống đứa con đỡ đầu của bà ấy. Tôi thì chỉ biết anh qua những báo cáo chính thức, coi anh là một tù nhân nguy hiểm về mọi mặt. Tôi muốn bỏ qua các báo cáo ấy và tin vào ông Dutain đồng sự của tôi. Chắc chắn rồi sẽ có một phái bộ đến đây để điều tra, và các tù nhân các loại ai cũng phải khai ra những điều gì mình biết. Chắc chắn là anh và một vài người nữa, có uy tín lớn đối với các tù nhân, và họ sẽ răm rắp nghe lời anh. Chúng tôi muốn biết ý kiến anh về cuộc nổi loạn và cả những điều mà anh đã ít nhiều thấy trước là những người trong khối anh, rồi sau đó là những người khác, có thể khai ra. 
– Tôi không có gì để khai ra cả, cũng không có bổn phận gây ảnh hưởng gì đối với lời khai của những người khác Nếu có một phải bộ đến để điều tra thật sự, thì trong tình hình hiện nay, các ông sẽ bị cách chức hết. 
– Anh nói gì lạ vậy, Papillon? Tôi và các đồng sự của tôi ở Saint-Joseph đã ngăn chặn được cuộc nổi loạn kia mà! 
– Có lẽ riêng ông, ông sẽ thoát được, nhưng các ông chỉ huy ở Royale thì không thoát được đâu. 
– Anh hãy nói cho rõ đi nào. – Hai viên chỉ huy ở đảo Royale đứng lên rồi lại ngồi xuống. 
– Nếu các ông cứ chính thức nói là có cuộc nổi loạn, các ông đều sẽ lãnh đủ. Nếu các ông chịu chấp nhận các điều kiện của tôi, tôi sẽ cứu tất cả các ông trừ Filissari. 
– Điều kiện gì?. 
– Thứ nhất, sinh hoạt ở đây phải trở lại nếp bình thường ngay lập tức, bắt đầu từ ngày mai. Chỉ khi nào chúng tôi nói chuyện được với nhau bình thường, chúng tôi mới tác động được vào mọi người về những điều phải khai với ban thanh tra. Có đúng không nào? 
– Đúng – Dutain nói. – Nhưng tại sao lại phải cứu chúng tôi? 
– Bởi vì từ đảo Royale, các ông không phải chỉ huy đảo Royale mà chỉ huy cả ba đảo nữa. 
– Đúng. 
– Và các ông đã dược Girasolo báo cáo là có một cuộc nổi loạn đang được âm mưu chuẩn bị. Cầm đầu là Hautin và Arnau chứ gì. 
– Cả Carbonieri nữa, tên lính gác nói. 
Không, điều đó là sai. Girasolo có thù riêng với Carbonieri từ khi còn ở Marseille. Nó đã tố giác thêm anh ta một cách vô căn cứ. Nhưng các ông có tin là có nổi loạn đâu. Tại sao vậy? Vì hắn nói là cuộc nổi loạn này nhằm mục đích giết đàn bà, trẻ con, bọn A-rập và các cảnh binh. Điều đó có vẻ khó tin. Mặt khác, ở Royale có tám trăm người mà chỉ có hai chiếc sà-lúp, còn ở Saint-Joseph có sáu trăm người mà chỉ có một chiếc sà-lúp. Không một người chín chắn nào lại đi chấp thuận một mưu đồ như thế. 
– Làm sao anh biết được tất cả những điều đó? 
– Đấy là việc của tôi. Nhưng nếu các ông cứ nói mãi về cuộc nổi loạn, dù cho các ông có thủ tiêu tôi đi, và nhất là khi các ông làm thế thật, thì tất cả những điều ấy sẽ lộ rõ và sẽ được chứng minh rành rọt. Do đó trách nhiệm sẽ thuộc về đảo Royale, đã chuyển những người kia đi Saint-Joseph, lại không tách rời họ ra. Quyết định hợp lý duy nhất – cho nên nếu cuộc điều tra thấy được thì các ông sẽ không tránh khỏi những hình thức kỷ luật nặng nề đấy – là đưa người này đến đảo Quỷ, người kia đến Saint-Joseph. Nhưng tôi vẫn thừa nhận là khó có thể tin được câu chuyện đó do lũ điên rồ ấy bày ra được. Tôi nhấn mạnh là nếu các ông nói đến nổi loạn, các ông sẽ sa lầy đấy. Vậy nếu các ông chấp nhận điều kiện của tôi, thì thứ nhất là, như tôi đã nói, mọi việc phải trở lại bình thường ngay từ ngày mai; thứ hai, tất cả những ai bị nhốt vào xà lim vì tình nghi có âm mưu nổi loạn phải được thả ngay – cũng không được tra hỏi những người đó về phần đồng lõa của họ trong cuộc nổi loạn, bởi vì không làm gì có nổi loạn; thứ ba là ngay bây giờ, Filissari phải được đưa tức khắc về đảo Royale trước hết để đảm bảo an toàn cho chính ông ta: bởi vì một khi không hề có nổi loạn thì làm thế nào biện bạch được việc giết chết ba người kia? Sau nữa vì ông ta là một kẻ giết người ti tiện, và khi sự việc xảy ra ông ta đã hành động trong một tâm trạng sợ hãi đến cùng cực: ông ta toan giết chết tất cả mọi người, kể cả chúng tôi ở trong phòng giam. Nếu các ông chấp nhận những điều kiện đó, tôi sẽ thu xếp để tất cả mọi người đều phát biểu là Arnaud, Hautin và Marcean đã hành động với mục đích làm sao gây ra thật nhiều tai họa trước khi chết. Những gì họ làm không thể lường trước được. Họ không có tòng phạm, không hề tâm sự với ai. Theo nhận xét của toàn thể phạm nhân, dó là những kẻ đã quyết định tự vẫn bằng cách ấy, giết càng nhiều người càng tốt, trước khi họ bị giết: mục đích của họ là làm sao khiêu khích cho lính bắn vào họ. Nếu các ông ai muốn, tôi xin vào trong bếp để các ông bàn luận và trả lời cho tôi sau. 
Tôi đi vào bếp và đóng cửa lại. Bà Dutain bắt tay tôi và đưa cà phê với cả rượu cô nhắc chó chúng tôi uống. Tên A-rập Mohammed nói: Anh không nói gì cho tôi à? 
– Đó là việc của ông thiếu tá. Một khi ông ấy đã giao súng cho cậu, tức là ông ấy định tha tội cho cậu đấy 
Bà mẹ đỡ đầu của Lisette nhẹ nhàng nói với tôi: 
– Các ông ở đảo Royale lần này thì lãnh đủ nhé. Tất nhiên rồi, thừa nhận có cuộc nổi loạn ở Saint- Joseph mà ai cũng bắt buộc phải biết rõ, trừ ông chồng bà, đối với họ dễ quá. 
– Papillon này, tôi nghe được hết và tôi hiểu ngay là anh muốn làm điều tốt cho chúng tôi. 
– Đúng vậy, thưa bà Dutain. 
Cửa mở ra và một lính vào gọi. 
– Papillon, qua đây. 
– Anh ngồi xuống đi, – thiếu tá chỉ huy đảo Royale nói. – Sau khi bàn luận với nhau, chúng tôi nhất trí kết luận là anh nói đúng: không hề có nổi loạn. Ba tù nhân đó đã quyết định tự vẫn và trước khi chết, họ cố giết được càng nhiều người càng tốt. Vậy là mai mọi việc hàng ngày sẽ lại như cũ. Ngay đêm nay, ông Filissari sẽ được chuyển về đảo Royale. Giải quyết trường hợp của ông ta là việc của chúng tôi, nên chúng tôi cũng không yêu cầu anh cộng tác với chúng tôi. Chúng tôi trong vấn đề này chỉ mong anh giữ lời hứa. 
– Các ông cứ tin ở tôi. Xin chào các ông. 
– Mohammed và hai ông giám thị hãy đưa Papillon về phòng. Và mời ông Filissari vào đây. Ông ta sẽ đi với chúng tôi về đảo Royale ngay. 
Trên đường về, tôi nói với Mọhammed rằng tôi hy vọng là anh ta sẽ được thả. Anh ta cảm ơn tôi. 
– Bọn chỉ huy muốn cậu làm gì thế? 
Trong cảnh im lặng hoàn toàn, tôi kể lại rõ ràng và tỉ mỉ từng câu một, những gì đã xảy ra. 
– Nếu có ai không đồng ý hay có gì chỉ trích những gì tôi đã nhân danh tất cả mà thỏa thuận với các cấp chỉ huy ở đây, xin cứ nói ra. 

– Tất cả đều nhất trí tán thành. 
– Cậu cho rằng họ tin là không còn ai liên quan đến vụ này sao? 
– Không đâu, nhưng nếu họ không muốn bị cách chức thì họ bắt buộc phải tin như vậy. Cả chúng ta nữa, nếu chúng ta không muốn gặp chuyện rắc rối, chúng ta cũng phải tin như vậy. 
Bảy giờ sáng hôm nay, tất cả các tù nhân bị giam ở xà lim đều được thả về chỗ cũ. Có trên một trăm hai mươi người. Chưa ai đi làm nhưng tất cả các phòng giam đều được mở cửa và ngoài sân đầy những tù nhân được tự do hút thuốc, thoải mái chuyện trò, ngồi ngoài nắng hay trong bóng râm. Niston đã được đưa đi bệnh viện. Carbonieri cho tôi biết là có những tấm bìa ghi hàng chừ: “Tình nghi tham gia vào vụ nổi loạn” được treo trước cửa ít ra từ tám mươi đến một trăm xà-lim. 
Lúc này đây, được tập trung đông đủ, chúng tôi mới biết rõ sự thật. Filissari chỉ giết có một người, những người khác bị hai tên lính trẻ giết, hai tên này bị mấy phạm nhân giết, trong bước đường cùng: tưởng mình sắp bị giết, các phạm nhân này đã cầm dao lao bừa vào lính, cố giết lấy một người trước khi chết. Thế là một vụ nổi loạn thật sự may sao đã phá sản ngay từ đầu để trở thành một cuộc tự vẫn kỳ quặc của ba tù nhân khổ sai: đấy là luận đề hình thức được mọi người, cả ban Quản trị lẫn tù nhân, công nhận. Còn lại là truyền thuyết hay chuyện thật, tôi không biết nói thế nào cho chính xác. 
Hình như việc mai táng ba người bị giết ở trại cùng với Hautin và Marceau được tiến hành như sau: vì chỉ có một cỗ quan tài có rãnh trượt để thả các thi hài xuống biển, nên bọn lính đặt tất cả các xác chết xuống lòng thuyền rồi cả năm cái xác được ném bằng tay xuống cho cá mập. Khi tiến hành việc liệng xác, họ tính rằng, trong lúc những thi thể ném xuống trước đang bị cá mập cắn xé thì những thi thể ném sau đã được buộc đá vào chân có đủ thời gian chìm sâu xuống nước. Tôi được nghe kể lại rằng không có cái xác nào chìm xuống nước cả, và cả năm cái xác đó, được liệm vải trắng vào lúc chập choạng tối, đã nhảy múa như những con rối thật sự, được miệng và đuôi lũ cá mập đưa đẩy trong một bữa tiệc thịnh soạn xứng với Nabuchodonozor. Cảnh tượng hãi hùng đó đã làm cho đám tù chèo thuyền và đám lính gác hốt hoảng tháo lui 
Một ban thanh tra đã tới, ở lại gần năm ngày trên đảo Saint-Joseph, và hai ngày trên đảo Royale. Tôi không bị tra hỏi riêng mà cũng chỉ như mọi người. Qua thiếu tá Dutain, tôi biết là mọi việc đều êm thấm. Filissari được nghỉ phép chờ ngày về hưu, như vậy là lão ta sẽ không trở lại đảo này nữa. Mohammed được ân xá hoàn toàn, và thiếu tá Dutain được gắn thêm một lon. 
Vì thế nào cũng có những kẻ không được vừa lòng nên hôm qua, một tù nhân người Bordeaux đã hỏi tôi: 
– Giúp đỡ cho bọn coi tù như vậy, phỏng chúng ta có được xơ múi gì? 
Tôi nhìn thẳng vào y: 
– Chẳng được gì mấy: chỉ có độ năm, sáu chục tù không bị giam vào ngục cấm cố về tội tòng phạm, cậu thấy thế là không có gì hả? 
May mắn là cơn giông tố đó đã dịu dần. Một sự thỏa thuận ngầm giữa cai tù và tù đã hoàn toàn vô hiệu hóa ban thanh tra trứ danh nọ, mà có lẽ chính ban thanh tra cũng chỉ mong sao mọi việc được ổn thỏa cho rồi. 
Về phần tôi, tôi chẳng được gì cũng chẳng mất gì nếu không nói đến sự biết ơn của các bạn tôi đã không phải chịu đựng một kỷ luật khắt khe hơn. Trái lại, lao dịch kéo đá đã được bãi bỏ. Đó là một lao dịch kinh khủng. Bây giờ trâu kéo đá, tù nhân chỉ xếp đá vào chỗ đã định. Carbonieri được trả về lò bánh mì. Tôi tìm cách trở về đảo Royale. ở đây thì không có công xưởng nên không thể đóng bè được. 
Việc Pétain lên cầm quyền ở Pháp làm quan hệ giữa tù nhân và giám thị nặng nề thêm. Tất cả các nhân viên thuộc chính quyền đều lớn tiếng tuyên bố theo phải Pétain, và có một lính gác người Normandie đã nói với tôi: 
– Cậu có muốn nghe tôi nói với cậu điều này không, Papillon? Tôi chưa bao giờ theo phải Cộng hòa cả. ở đảo, không ai có máy thu thanh và không ai biết được tin tức gì. Ngoài ra, lại có tin đồn là chúng tôi tiếp tế cho tàu ngầm Đức ở Martinique và Guadeloupe. Thật không sao hiểu nổi. Luôn luôn nổ ra những cuộc tranh luận. 
– Mẹ kiếp! Cậu có muốn tớ nói cho cậu biết không, Papi? Bây giờ mới là lúc nổi loạn, để trao các đảo cho nước Pháp của De Gaulle. 
– Cậu cho là ông Charlot cao kều ấy cần nơi giam tù khổ sài à? Để làm gì? 
– Thì để có được hai ba ngàn quân chứ còn sao? 
– Những thằng hủi, những thằng ngớ ngẩn, lao phổi, kiết lỵ hả? Cậu không đùa đấy chứ? Ông ta không ngốc đến nỗi phải ôm lấy lũ tù khổ sai đau. 
– Thế hai ngàn tù còn khỏe mạnh thì sao? 
Đấy lại là chuyện khác. Đúng là người, nhưng không phải là những người có khả năng cầm súng. Cậu tưởng chiến tranh giống như đi ăn cướp đấy hả? Ăn cướp chỉ mười lăm phút là xong, chiến tranh kéo dài hàng năm. Muốn trở thành một chiến sĩ tốt, phải có lòng tin của người yêu nước. Cậu có tin hay không mặc cậu, tớ không muốn ở đây có lấy một thằng nào dám hy sinh thân mình cho nước Pháp. 
– Hy sinh làm quái gì, sau khi nước Pháp đã đối xử với chúng ta như thế này? 
– Cậu đã thấy tớ nói có lý chưa? May mà ông Charlot cao kều đã có những người khác các cậu để tiến hành chiến tranh. Nhưng cũng phải nhớ là bọn Đức khốn nạn đang ở trên đất nước chúng ta! Lại có những thằng Pháp đi với tụi chúng nữa. Tất cả quan và lính ở đây, không trừ ai, đều nói là chúng ủng hộ Pétain. 
Bá tước Bérac nói: “Giá có thể liều thân đánh nhau với Đức thì đó cũng là một cách để chúng ta chuộc tội”.
Thế là sinh ra cái hiện tượng sau đây: trước kia chưa có tù nhân nào nói đến việc chuộc tội. Thế mà bây giờ tất cả mọi người, từ dân giang hồ đến dân trưởng giả, tất cả các phạm nhân khổ sai khốn khổ ấy đều thấy lóe lên một tia hy vọng. 
– Thế để được gia nhập vào hàng ngũ của De Gaulle, chúng mình sẽ nổi loạn chứ hả Papillon? 
– Đáng tiếc là tớ chẳng cần phải chuộc tội đối với bất cứ ai cả. Tớ ngồi xổm lên cái công lý của nước Pháp với cái mục “phục hồi nhân phẩm” của nó. Tớ sẽ tự tay mình chứng minh là tớ đã “phục hồi nhân phẩm” rồi. Nhiệm vụ của tớ là vượt ngục, để khi được tự do, sẽ trở thành một người bình thường, sống trong xã hội mà không gây nguy hại gì cho xã hội đó. Tớ không tin rằng một con người có thể chứng minh một cái gì khác bằng một cách gì khác được. Tớ sẵn sàng tham gia bất cứ hành động nào để đạt mục đích vượt ngục. Trao quần đảo này cho ông Charlot cao kều không phải là việc của tớ, và tớ chắc rằng ông ta cũng chẳng thiết. Vả lại nếu ta làm như vậy, cậu có biết những thằng cha ngồi trên chóp bu sẽ nói gì không? Rằng chúng mình chiếm đảo để được tự do, chứ không phải để làm một nghĩa cử vì nước Pháp tự do. Mà cậu nào có biết ai đúng, ai sai. De Gaulle hay Pétain? Tớ thì tớ chẳng biết cái cóc khô gì cả. Đất nước bị chiếm đóng, tớ cũng đau khổ như mọi người dân thường, tớ nghĩ đến những người thân của tớ, đến bố mẹ, đến các chị em tớ, đến các cháu tớ. 
– Chúng ta lo lắng như vậy cho cái xã hội chẳng thương xót gì chúng ta ấy làm quái gì nhỉ. 
– Điều ấy cũng là bình thường, vì bọn cảnh sát và bộ máy luật pháp của nước Pháp, bọn hiến binh, bọn cảnh sát, chúng không phải là nước Pháp. Đấy là cả một tầng lớp riêng biệt, gồm những kẻ tâm địa hoàn toàn méo mó. Bây giờ có biết bao nhiêu kẻ như thế sẵn sàng trở thành đầy tớ cho bọn Đức? Tớ cá với cậu là cảnh sát Pháp đang bắt bớ đồng bào của chúng để giao cho bọn cầm quyền Đức. Thôi nhé. Tớ đã nói và tớ nhắc lại rằng tớ không tham gia vào một cuộc nổi loạn, với bất cứ lý do gì. Trừ phi là để vượt ngục, nhưng cũng còn phải xem vượt ngục như thế nào đã. 
Những cuộc tranh cãi rất gay gắt đã nổ ra giữa các phe phái trong trại. Kẻ ủng hộ De Gaulle, kẻ ủng hộ Pétain. Thật ra chẳng ai hiểu gì cả, vì như tôi đã nói, cả giám thị lẫn tù nhân, không ai có cái máy thu thanh nào. Tin tức có được đều do các tàu đi ngang qua đem đến cho chúng tôi một ít bột mì, rau khô và gạo. Đối với chúng tôi, chiến tranh đứng từ xa như vậy mà nhìn, thật khó hiểu. 
Nghe đâu như có một người đến Saint-Laurent- du-Maroni để tuyển mộ lính cho lực lượng tự do. Tù nhân chẳng biết gì hết, chỉ biết một điều là bọn Đức đóng khắp nước Pháp. 
Có một sự kiện vui vui: một linh mục đến đảo Royale có thuyết giảng sau khi làm lễ. Ông ta nói: 
– “Nếu các đảo bị tấn công, các anh sẽ được phát súng để giúp các giám thị báo vệ đất đai của nước Pháp” Chuyện thật mười mươi đấy. Ông cha ấy ngộ nghĩnh thật, và không biết ông ta hiểu về chúng tôi ra thế nào mà lại đi thuyết giảng như vậy được. Chắc ông ta đánh giá trí khôn của chúng tôi chẳng cao chút nào. Kêu gọi tù nhân đi bảo vệ nhà giam của họ. Thật là chuyện kỳ quặc khó nghe nổi. 
Đối với chúng tôi, chiến tranh có nghĩa là: người gác tăng gấp đôi từ lính quèn đến chỉ huy trưởng và chánh giám thị; rất nhiều thanh tra, một số thanh tra nói giọng Đức hay giọng Alsace rất rõ; rất ít bánh mì: chỉ còn bốn trăm gam; rất ít thịt. 
Chỉ có một thứ được tăng là giá biểu phải trả cho một cuộc vượt ngục thất bại: tử hình. Vì thêm vào bản án về tội vượt ngục là: “mưu toan chạy sang hàng ngũ những kẻ thù của nước Pháp”. 
Tôi ở đảo Royale đã được bốn tháng nay. Tôi đã có một người bạn lớn là bác sĩ Germain Guibert. Vợ bác sĩ, một người đàn bà khác thường, đã nhờ tôi trồng cho bà một vườn rau để giúp bà sống được trong cái chế độ ăn uống hạn chế này. Tôi đã trồng trong vườn của bà nào rau xà lách, nào cải củ, đậu đũa, nào cà chua, và cà tím. Bà rất khoái và coi tôi như một người bạn tốt 
Ông bác sĩ này không bao giờ bắt tay một viên giám thị, bất kể ở cấp bực nào, nhưng lại thường bắt tay tôi và một vài tù nhân khác mà ông đã biết rõ và đem lòng quý trọng. 
Sau này, khi được tự do, tôi đã liên hệ lại với bác sĩ Germain Guibert qua bác sĩ Rosenberg. Ông đã gởi cho tôi một tấm hình ông chụp cùng với vợ trên bến Canebière ở Marseille. Ông đã chết ở Đông Dương vì cố cứu một thương binh rơi lại phía sau. Ông là một con người phi thường và vợ ông cũng tương xứng với ông. Năm 1976, khi về Pháp, tôi định đến thăm bà. Sau tôi lại thôi vì bà đã không viết thư cho tôi sau khi bà cho tôi một giấy chứng nhận mà tôi cần xin bà. Từ đó, tôi không được tin tức gì của bà nữa. Tôi không biết lý do của sự im lặng này, nhưng trong đáy lòng tôi vẫn giữ mãi một mềm tri ân sâu sắc đối với cả hai ông bà về cách họ đối xử với tôi trong gia đình họ ở Royale. 
Vài tháng sau, tôi đã có thể trở về đảo Royal rồi.