Một trời một biển

vietmessenger.com

Nguyễn Tấn Hưng

Post by Sơn râu 22 Nov 2025

Phần 8.

Phải ở lại thành

Một cuối tuần lại đến với các khóa sinh Ðệ nhị Hải sư. Ðối với những tên muốn ôm giấc mộng thủy chung với người tình nhỏ nơi quê nhà, coi con gái Nha Trang như không ai nhan sắc hết, thì cuối tuần này cũng có thể là một cuối tuần như mọi cuối tuần đã qua. Nghĩa là mò lên giảng đường hay chui vào thư viện để tiếp tục nấu sử sôi kinh, chuẩn bị cho kỳ thi sắp tới. Ngoại trừ thời gian dành cho ngày ba bữa, điểm tâm và cơm nước nhà bàn.

Năm khi mười họa mới thấy mấy tên này nghĩ đến chuyện đi bờ. Mà cũng chỉ nhằm vào việc mua sắm lặt vặt những vật dụng cần thiết mà thôi. Cùng lắm là làm một chuyến to see * Hùng Vương để giải tỏa nỗi ẩn ức cho bầu tâm sự đang dâng đầy tới não. Và kể như là quá đầy đủ, nếu không quên thẳng tới bến xe đi Sài Gòn đớp một phát cơm sườn ở quán bình dân Bên Ðường. Nói nào ngay, khi vào những nhiệm sở bắn nhanh rút mạnh này, anh em ta thường hay mang cái mặc cảm đã làm mất mặt quân binh chủng. Cho nên, không một tên nào dám đóng trên người bộ đồ mang màu trắng trinh nguyên. Nếu không tìm được chỗ thay thì cứ tự tiện vọt đến nhà ông Quan, nhà thầu giặt ủi.

Còn đối với những tên có nơi ăn chốn ở tạm bợ ở ngoài phố, thì phải nói mỗi cuối tuần là mỗi mong đợi, chờ trông. Làm sao có thể chôn vùi đời trai vào bốn bức tường quân trường vô nghĩa, trống không? Tình yêu, vẫn là cái gì luôn luôn mang đến cho muôn loài những giây phút huy hoàng và hấp dẫn nhất của cuộc đời. Không ai có thể mặc nhiên đứng nhìn, mà bắt buộc phải chạy theo tiếng gọi của nó. Lắm khi trong một trạng thái rất là mù quáng, u mê. Ðến nỗi, khi thương trái ấu cũng tròn … thì phải biết mức độ quờ quạng của những người đang lầm lũi tiến bước trong cánh rừng yêu đương đã là như thế nào rồi!

Nha Trang với những chiều mưa buồn! Và Nha Trang với những cơn mưa sớm mù sương! Giờ như đã quá quen thuộc với Tần. Vì từ lâu chàng đã khám phá và biết rõ rằng, đất trời Nha Trang không mấy khi có mưa ban ngày, nhất là ngay giữa trưa. Ðiều này giúp cho những cuộc hẹn hò, vui chơi ít khi bị tan tác, cuốn trôi theo dòng nước lũ. Ðặc biệt là ngày hôm nay, Tần những mong như vậy. Ngày mà chàng dám dẫn hai thằng bạn thân, Thắng và Thành, cùng khăn gói đi xa, về tận miền quê hương thôn dã của xứ thùy dương.

Nắng ban mai như tơ vàng lụa thắm, long lanh sưởi ấm lòng người. Cảnh vật và cây cỏ bên đường như ngời sáng, xanh tươi thêm và bừng lên sức sống. Ðể cùng tan chảy vào niềm hân hoan tràn đầy trong con tim của những chàng trai trẻ đang yêu. Ðang ngọt ngào hòa điệu, nhịp nhàng từng cung bậc với những tâm hồn biển mặn, ngây thơ trong trắng của lứa tuổi học trò.

Trên đường đi đến chốn hẹn hò, Thắng hỏi Tần:

– Mầy có chắc là vùng đó an ninh một trăm phần trăm không? Ăn mặc tiểu lễ trắng bóc như vầy thì tụi du kích Việt cộng bắn sẻ khỏi cần nhắm nghen mậy!

Tần chê bạn:

– Sao dạo này mầy nhát gan quá vậy Thắng? Nếu bọn nó bắn sẻ khỏi cần nhắm thì tao đã không dẫn xác về trường từ lâu rồi.

Thành góp ý:

– Biết đâu tụi nó thấy mầy sắp sửa trở thành đồng hương đồng liêu, đồng tịch đồng sàng gì gì… với con Hiền mà tụi nó tha cho. Chớ còn tao với thằng Thắng đâu có cơm cháo gì ở đó mà tụi nó nghĩ tình. Tụi tao coi vậy chớ còn yêu đời, yêu Sài Gòn, yêu Cần Thơ, yêu Bình Dương… lắm nghen mậy.

– Vừa phải thôi Thành! Chớ còn Mỹ Tho của tao thì tụi mầy bỏ cho chó gặm chắc! Nè, không mấy ngày nữa tụi mình sẽ được phép về nhà ăn Tết, trong bụng tụi mầy có nôn không?

Thắng tiếp lời:

– Nôn thì có nôn, nhưng hãy để tụi tao nôn. Bổn phận mầy thì đương nhiên phải về xứ Thành làm rể, ăn Tết ở đó thì còn nôn với nóng cái nỗi gì?

Tần thở dài, ngậm ngùi phân bua:

– Giỡn hoài, tao phải bay về nhà ăn Tết với ông bà, cha mẹ, anh chị em chớ mậy. Cả năm trời xa quê hương rồi, nhớ nhà thấy mẹ…

Tất cả đã đồng ý chọn góc đường Phan Bội Châu và Phương Câu (tên của một nhân vật lịch sử hay là một huyền thoại nào đây?) làm điểm hẹn. Vì hai lý do. Thứ nhất, vì gần nhà Thúy, gần chợ Ðầm thì đúng hơn, có chỗ cho các nàng dễ dàng lấy cớ tụ họp. Thứ đến, vì không ai muốn phải đánh mất một cơ hội bát phố cuối tuần. Từ đây, cứ theo đường Phan Bội Châu ra Ðộc Lập rồi đi thẳng một đường mực tàu là đến bến xe Lam đi Thành, rất ư tiện lợi.

Tại sao phải đi bát phố? Có gì quyến rũ mà phải say mê dữ vậy? Quả kỳ lạ thật, chỉ là đi nhông nhông lên xuống vỉa hè Ðộc Lập vậy thôi, mà tại sao cảm thấy thiêu thiếu một cái gì đó nếu không có nó. Bất quá thì cũng chỉ gặp lại đám bạn bè thấy mặt nhau hằng ngày trong quân trường, nói dăm ba câu chào hỏi bâng quơ: “Ê, mầy đang đi đâu, định làm gì ngày hôm nay, có tiết mục nào vui vẻ hấp dẫn không?” Chỉ bấy nhiêu đó thôi!

À, có lẽ cái điểm tâm lý then chốt, căn bản của quan tàu ta là “khoe đào.” Vì em có đẹp đẽ xinh xắn, sắc nước hương trời thì anh mới hân hoan hãnh diện dìu em chường mặt trên hè phố! Chớ bố bảo anh cũng không dám mặc quân phục tiểu lễ trắng tinh như hoa bưởi mà lại dắt theo một con búp bê lọ nồi, đười ươi. Còn phần anh thì khỏi nói rồi, dẫu mặt mày tướng tá của anh có quằn quện xấu xí như ma cà rồng đi nữa cũng còn có bộ đồ trên mình làm chuẩn. Ngẫm nghĩ lại, nhìn ở bề ngoài, quan liêu với chức phận kể cũng có nhiều điểm lợi!

Bữa nay, cả ba nàng Hiền, Thảo và Thúy đều mặc quần trắng áo dài. Chắc là đã có bàn với nhau trước, Tần nghĩ vậy. Nhân vật chính của đoàn lữ khách từ thành phố trở về… Thành, là Hiền, tươi tắn trong cánh áo màu xanh nước biển với những cành hoa trắng, lớn nhỏ lẫn lộn, được thêu tay mịn màng khéo léo trên thân áo, từ ngực xuống chân. Ðôi môi mọng đỏ tự nhiên của nàng luôn luôn điểm nhẹ một nụ cười duyên. Làm cho đôi má thêm hây hây với chút phấn hồng tô nhạt. Trong khi Thảo mặc chiếc áo lụa màu thiên thanh rải rác chỗ này chỗ kia một vài cánh hoa hồng in sẵn, bó sát vào người hơi đẫy đà của nàng. Nàng cũng thích hay cười có chủ đích, khoe hai hàm răng đều đặn. Chỉ có Thúy là ra chiều đăm chiêu tư lự, có phần rụt rè e lệ trong chiếc áo dài trắng học trò…

Giữa Thảo và Thắng cũng như Thúy và Thành vẫn còn chút gì ngăn cách, chỉ đứng chắp tay vào nhau, trao đổi qua loa vài lời. Trong lúc Hiền và Tần tự nhiên như ruồi, chàng và nàng âu yếm choàng tay ôm chặt lưng nhau. Chàng hỏi:

– Em đến đây hồi nào? Chờ tụi anh có lâu lắm không?

– Chừng năm mười phút thôi. Nhưng biết chắc các anh sẽ tới, nên em không lo!

– Tại gặp chiếc xe Lam chạy chậm như rùa bò, từ dưới trường lên đến bến mà phải mất hơn nửa tiếng đồng hồ! Sao, bây giờ mình khởi hành được chưa? Ê, đi tụi mầy…

Cả bọn liền chia ra làm ba cặp, kẻ trước người sau, dấn bước giang hồ. Phố xá ngày hôm nay cũng không khác gì mọi khi. Vẫn đông đúc người đi, với gần phân nửa là lính quân trường: Không quân, Hải quân, Ðồng Ðế, Lam Sơn, Dục Mỹ… Mỗi trường đều có ấn định quân phục đặc biệt riêng cho khóa sinh của mình mỗi khi đi phố, nhưng nổi bật hơn hết vẫn là màu áo trắng Hải quân. Nha Trang, đương thời là thành phố của lính và nhiều tiệm quán, ciné, cửa hàng sống nhờ vào đồng lương của những người lính… chưa thực sự là lính. Mỗi cuối tuần, quả là dập dìu tài tử giai nhân. Ðường phố như được điểm trang bằng mọi thứ hoa lá cành và căng phồng nhựa sống bởi những bước chân tình tự vỉa hè.

Lần lượt trôi qua là những khu chính như Phạm Hồng Thái với nhà in Bác Ái, Quang Trung với phòng thông tin, Hai Chùa với rạp Tân Tân và bên kia quán Lise, Chiều Tím… Rồi không mấy chốc đến điểm hội tụ của ba đường Ðộc Lập, Trần Quí Cáp và xéo xéo phía góc, đường Phương Sài (bạn hiền hay hoặc giả có liên hệ mật thiết gì với Phương Câu?). Một đoạn ngắn nữa, lại đến điểm hội tụ thứ hai của ba đường Ðộc Lập, Yersin, và Gia Long từ dưới ngã bảy nhà thờ Núi đâm lên… Tất cả dồn lên chiếc xe Lam. Hên một cái là vừa đủ chỗ cho chuyến xe đầy vì có vài ba hành khách đã ngồi sẵn trước. Bác tài rồ máy chạy ngay.

Nhờ có gió lòn vào, cái nóng hâm hấp như lửa đốt trong người, sau cuộc bát phố một chiều, đang từ từ tỏa ra. Rồi có lẽ vì chật chội, mặt đối mặt, thịt chạm xương, cho nên ai nấy đều im lặng, không buồn nói một câu pha trò. Mỗi người theo đuổi, ôm ấp một ý nghĩ riêng tư. Bàn tay Hiền đặt lên đùi Tần âm ấm. Chẳng cần lên tiếng, chàng lòn tay mình bên dưới, đan vào nhau. Qua ánh mắt, Hiền cảm động trao về Tần nỗi lòng trìu mến, yêu thương. Chàng mỉm cười đáp lại rồi bâng quơ nhìn mông lung ra phía ngoài.

Xe vừa qua ngã ba Mả Vồng, chỗ tiếp giáp với liên tỉnh lộ 7 từ dưới khu Lữ Gia đi lên. Lãnh địa của Ðào Khiết Ðức, người bạn “thanh niên Khánh Hòa” của bộ ba tam xên miền Nam, mặc dù hắn ta cư ngụ trên một trong những con đường mang cả tên lẫn… số. Ðường số 1, số 2, số 3, số 4, và số 5 tức là đường Ðống Ða, Hồng Lĩnh, Lam Sơn, Nhị Hà, Vân Ðồn. Tần có lần nghe Ðức kể như vậy…

Ðang miên man thả hồn mơ mộng viển vông, Tần bỗng nghe Thắng, đang ngồi bìa ngoài đối diện với Tần, lên tiếng trong vẻ ngạc nhiên:

– Hê, ở đằng sau lưng mầy có ông Phật đang tọa thiền tuốt trên đỉnh đồi cao kìa Tần. Chỗ này coi bộ giống Thích ca Phật đài xây ở ngoài Vũng Tàu quá!

Thành nghe nói cũng chồm ra, dõi mắt ngước nhìn. Trong khi Tần gật gật đầu tỏ vẻ ta đây sành đời, trả lời bạn:

– Tao biết rồi. Ðó là chùa Phật Học.

Phải, đó là chùa Phật Học đúng như Tần nói. Nơi có tượng Phật trắng như san hô, ngồi trên tòa sen cao đến mười bốn mười lăm thước, xây trên đỉnh đồi cao chót vót phía sau chùa. Với hơn một trăm năm mươi bậc tam cấp cho đường đi lên. Ðứng dưới bệ Phật đài người ta có thể thấy toàn cảnh thành phố Nha Trang đang hiện ra dưới chân. Ở mọi phương hướng. Thấp thoáng trong những chòm cây xanh dọc theo đường phố. Bên cạnh chùa còn có thêm trường Bồ Ðề. À, sao mà ở Nha Trang lại có lắm trường quá hả, Tần tự nhủ? Ngoài các trường mà chàng nghe riết đã quen tai như Võ Tánh, Huyền Trân (tên xưa cũ của trường nữ trung học Nha Trang), Thánh Tâm, Kim Yến còn có Âu Cơ, Vinh Sơn, Ðăng Khoa, Bá Ninh, Trí Dũng…, và hiển nhiên ngang đây có thêm trung học Bồ Ðề. Ðó là chưa nói đến trường Tây (Collège Francais), trường Ðại học Duyên hải, trường nhà dòng thiên chúa giáo Thần học viện.

Ở vùng ngoại ô này, có nhiều lạch nhỏ chảy vào một phụ lưu của con sông Cái. Trước khi tất cả ngọn nguồn, chánh phụ gom về một mối và đổ ra biển qua ngả Hà Ra, Xóm Bóng (giữa hai cây cầu này là một hòn đảo lớn). Bởi vậy, trên đoạn đường vừa ra khỏi thành phố Nha Trang về phía tây, người ta đã bắt gặp nhiều cầu. Nào là cầu Chợ Mới, nổi tiếng với các xóm, ấp làm chiếu. Rồi đến cầu Dứa, cầu Ông Bộ… trước khi đến ngã ba Dầu Ðôi, chỗ có cây dầu thân bị chẻ làm hai thiệt lớn. Nếu đi theo ngã rẽ thì về thị trấn Ninh Hòa, một quận lỵ rất được biết tiếng nhờ hai món: nem và cua biển. Còn tiếp tục đi tới là sẽ vòng xuống hướng núi Ðồng Bò, để thẳng trớn đi luôn về miền Nam: qua Phan Rang, rẽ lên Ðà Lạt, rồi vô Phan Rí, Phan Thiết, Biên Hòa, Sài Gòn, Lục Tỉnh. Tần chỉ biết lõm bõm như thế.

Nhưng trước khi quẹo xuống Ðồng Bò, người ta phải đi ngang qua Thành. Ðây là một trong một vài địa danh của đất nước Việt Nam được đặt tên với chỉ có mỗi một chữ. Một tiếng: Thành. Một tiếng: Búng (ở Bình Dương)… Thực ra Thành đây là tên gọi ngắn gọn của thành Diên Khánh, đã được xây cất từ hồi Trịnh Nguyễn phân tranh. Sau này, chúa Nguyễn Ánh cũng đã từng cho tu bổ lại để làm bàn đạp tiến đánh quân Tây Sơn. Bây giờ, thành Diên Khánh chỉ còn lại có mỗi cái móng và một vài đoạn vách thành loang lổ, nối liền cửa Ðông qua cửa Tây để làm cảnh. Còn hầu hết đã biến thành những con đê ngát xanh cỏ dại, bao bọc ruộng vườn của dân chúng trong vùng. Trong thành! Âu cũng là một chứng tích hùng biện cho cuộc đời dâu biển!

Tất cả đã xuống xe và lục tục kéo nhau đi theo Hiền vào làng. Con đường mòn cát trắng ngoằn ngoèo uốn khúc trong chòm cây bụi cỏ mọc rậm ven bờ. Xa xa có mấy cây dừa lả ngọn. Gió hiu hiu Tết phất phơ tà áo, ẩn hiện những đường cong. Tần đang đi bên cạnh Hiền, ngó ngoái lại nói với đám bạn phía sau:

– Ê, tụi mầy thấy sao? Phong cảnh ở đây cũng tình chán, hả?

Thành không trả lời Tần mà có ý nói vọng sang Thắng:

– Tao thấy tụi mình như đang làm đám cưới, đưa thằng Tần về nhà đàng gái rước dâu phải không Thắng? Thôi, kể từ nay ván của mầy coi như đã đem đi đóng thuyền rồi nghen mậy, Tần!

Hiền giả bộ không nghe, trong khi Thảo và Thúy cười khúc khích. Thắng nói thêm vào:

– Bữa nay làm đám cưới cho hai đứa tụi nó, còn ngày mai sẽ làm đám cưới của cô sơn nữ nào đây?

Thảo vọt miệng:

– Thân em còn nhỏ dại lắm anh Thắng ơi. Anh làm ơn hãy để cho em học hành đến nơi đến chốn cho ba má em nhờ!

Thắng cười ha hả, chọc lại:

– Thân em nhỏ thì không nhỏ rồi. So với Hiền và Thúy em vẫn tròn trịa, có da có thịt hơn người ta mà. Rồi dại hay khôn thì cũng còn cần phải xét lại nữa. Nếu em thiệt dại dột đúng như lời em nói thì làm sao em sẽ học hành đến nơi đến chốn được đây chớ?

Thảo quay lại, cung hai tay nện vào ngực Thắng bình bịch:

– Anh quỉ vật gì đâu á! Ðã không bênh người ta mà còn ghẹo phá chẳng chút nương tay, thương tình gì hết hà!

Tần can:

– Nè, nếu đã chưa làm đám cưới thì cô đâu có quyền cấu xé người tình không chăn chiếu của cô dữ như vậy, cô Thảo?

Thảo tru tréo:

– Còn anh Tần nữa! Coi chừng Thảo nói nhỏ với con nhỏ Hiền ra tay năm ngón, “rửa tội” anh láng-xì-coóng bây giờ! Ðừng có ỷ làm lớn mà ăn hiếp em út hoài nghen!

Thúy theo phe Tần:

– Thôi đi cô nương ơi, ai mà dám ăn hiếp sư tử Hà Ðông…

Ngôi nhà gỗ ba gian lợp tranh của má Hiền đã khiêm tốn hiện ra dưới những tàn cây cao lớn, nhưng không phải là cây đa đầu làng. Xung quanh nhà chuối, dừa và cây ăn trái như xoài, đu đủ… xanh mởn, tươi tốt. Ðặc biệt là mãng cầu dai, đất cát miền núi rất thích hợp với cái ngữ này. Một khoảng sân rộng phía trước hàng hiên có đặt hai cái mái vú đựng nước màu gạch nung đỏ ối. Mặt tiền đóng ván, sơn màu xanh dương lợt, nhưng hai bên hông là những tấm vách tre được đan bằng những tấm nẹp thả nằm ngang. Phía hiên tây có cất thêm một cái chái gie ra ngoài, cũng lợp bằng tranh. Xóm giềng chung quanh hình như cũng đang sống trong cùng một hoàn cảnh tương tự, không mấy gì giàu có, vì Tần không thấy một ngôi nhà nền đúc lợp ngói nào hết. Một cái xóm bình dân, Tần hiểu rõ ràng như vậy. Bên trong những ngôi nhà lụp xụp đó, thỉnh thoảng Tần cũng bắt gặp những ánh mắt trẻ thơ, đang tò mò ngắm nhìn những bộ quân phục xa lạ và nhũng tà áo dài màu mè đùa bay trong gió.

Phía sau cái xóm bình dân bé bỏng đó là con sông Cái, trũng sâu, uốn khúc như cái bụng của một con rồng thật to. Mùa này nước giựt xuống thấp, hai bên bờ bãi cát phơi bày trắng bạch. Giữa lòng sông cũng vậy, những cồn cát ngầm trắng ngà, vì thấm nước dưới chân, đã hiện nguyên hình. Dòng nước trong veo, nhỏ nhoi như một con lạch đang lừ đừ chảy chậm.

Vừa bước vô nhà đã gặp má ngồi tại bàn nước kê giữa phòng khách, Hiền liền đứng nép bên Tần, giới thiệu:

– Thưa má, đây là anh Thành, anh Thắng, con Thúy và con Thảo. Tất cả đều là bạn của tụi con.

Những tiếng “Chào bác” hoặc “Dạ, chào bác” vang rân. Sở dĩ Hiền không giới thiệu Tần là vì chàng đã đến đây rồi. Má Hiền nói:

– Mấy cô cậu ở trên chợ hết đó hả? Chu choa, chẳng mấy thuở đi lạc về vùng đồng quê cỏ cháy này, thôi thì cứ tự nhiên như ở nhà, thay đồ thay đạc ra nghỉ ngơi hay chạy ra vườn chơi với tụi trẻ…

Hiền đỡ lời:

– Dạ, tụi con xin phép ra nhà sau, má! À, còn hai thằng Trí và Dũng có ở nhà không, má? Sao con không thấy tụi nó đâu hết vậy?

Má nàng cho biết:

– Ối, đi chơi rồi. Mới thấy hai đứa xách cần câu chạy băng ra sau vườn hồi nãy!

Cả bọn dồn ra đằng sau nhà bếp, ăn thông với cái chái mé hiên tây. Ở đó có bày một cái bàn tròn và mấy cái ghế đẩu. Một chõng tre kê sát bên vách, không biết để cho ai nằm ngủ trưa mà lên nước láng bóng. Thay mặt gia chủ, Tần vừa kéo ghế cho mình vừa mời hai bạn:

– Ê, ngồi chơi tụi mầy!

Thành và Thắng làm theo lời Tần. Trong khi đó, Hiền đề nghị với hai cô bạn:

– Hay là để mấy ảnh ngồi ở đây nói chuyện, tụi mình đi thay đồ ngắn ngay bây giờ đi. Chớ không lẽ hai bà muốn làm khách? Vả lại đâu làm sao chui vào bếp nấu nướng hay làm bánh trái với áo quần như vầy được?

Thảo lên tiếng:

– Trời đất, áo của bà làm sao thân tui tròng vô cho vừa!

Hiền tiếp lời:

– Mình có mấy bộ đồ bộ may rộng lắm, chỉ sợ bà chê kiểu vở thôi…

Ba cô nàng liền biến mất vào nhà trong. Tần tiếc rẻ một cơ hội được phép… ăn gian mà không ai dám truy tố. Như hồi nào Hiền rủ Tần về đây lần đầu tiên, Tần cứ theo Hiền không rời một bước. Ngay cả khi Hiền vào phòng riêng thay đồ. Hiền đuổi chàng ra, nhưng chàng không chịu. Rốt cuộc rồi Hiền cũng phải đền bù cho chàng những nụ hôn say đắm, quấn quít. Trong lén lút, sợ sệt. Vì ánh sáng bên ngoài ngang nhiên, ung dung len lỏi qua tấm vách tre đan. Chính vì vậy mà Tần không dám bồng Hiền lên giường, chớ chàng đâu phải là thần thánh mà dừng lại ở chỗ đó cho được.

Giờ thì chàng biết quá rồi, đứng bên ngoài này không thể thấy gì bên trong hết, nếu không dán mắt sát vào một lỗ trống. Trái lại, đứng ở bên trong nhìn ra, mọi di chuyển bên ngoài sẽ hiển hiện rõ ràng như trên một màn ảnh lớn. Chẳng biết Thảo và Thúy đã có cái kinh nghiệm này chưa? Chắc là hai cô nàng trong bụng đang đánh lô tô vì sợ ai đó đang nhìn lén mình, cố đi tìm chỗ núp kín đáo đâu đó trước khi dở trò thoát y vũ, Tần nhủ thầm!

Bỗng, Thắng khơi chuyện:

– Ê, hay là mình ra ngoài vườn chơi cho thoải mái, tụi mầy. Chẳng lẽ lại ngồi ở đây, lõ mắt nhìn nhau một cách vô tích sự như thế này?

Tần khuyên:

– Hãy khoan, chờ cho mấy em ra cái đã. Phải hỏi lại coi chương trình của mấy em sắp xếp ra làm sao trước khi mình tính chuyện của mình. Bề nào tụi mình cũng phải ở đây tới chiều mới về, đâu có gì gấp gáp phải không Thành?

Không trả lời Tần vì anh chàng đang mơ màng chuyện riêng, Thành bâng quơ hỏi lại:

– Không biết ở quanh đây có mương hay đìa không hả, Tần? Chớ như ở Cần Thơ, kéo vô vườn bà ngoại tao, ba thằng mình ra tay chận tát một khúc mương, một hai tiếng đồng hồ sau cạn nước, kiếm một rổ tôm cá dễ như chơi. Nhứt là ba cái thứ tôm lóng, tôm cụt, tôm lò rèn… chà, đem luộc sơ rồi trộn gỏi đu đủ rau răm, số dách hả?

Thắng cười khan:

– Ở miền biển mà mầy nói chuyện mương, đìa! Chỗ này lại trẻo trên núi, nếu có muốn tắm suối với mấy cô em sơn nữ… trần truồng như nhộng thì được, chớ còn tôm tát mương với gỏi đu đủ thì coi bộ xa vời dữ đa! Hay là như tao đã nói, cứ vọt ra ngoài vườn kiếm vài ba trái chua chua đem về nhậu ba sợi là tiện hơn hết.

Ba người đẹp xứ thùy dương vừa hóa thân thành ra ba cô sơn nữ xinh xinh, nhưng không hề… trần truồng như Thắng mong muốn. Hiền trong chiếc áo bà ba màu tím hoa cà, viền ren cả tay lẫn tà, và quần lãnh đen. Thảo mặc nguyên bộ đồ thêu màu cẩm thạch, bông trắng. Thúy đơn giản hơn, áo sơ mi trắng vạt bầu quần hàng trơn đen hơi mốc mốc.

Một tay nhéo tà áo và một tay đưa lên cao, Thảo nhún gối nhẹ một cái:

– Ta ra ra… Nè, mấy anh xem Thảo có khá hơn chút nào không?

Thắng vội vàng nói trước cho phải lẽ, nửa đùa nửa chọc:

– Mèn ơi, không ngờ Thảo của anh hôm nay trông đẹp ớn, có duyên ác!

Thảo phụng phịu:

– Nữa, anh lại chê em nữa rồi! Thôi, em không thèm chơi với anh Thắng nữa đâu!

Hiền lườm Tần, trách yêu:

– Sao nãy giờ anh không nói với anh Thắng anh Thành cởi áo ra cho mát. Tụi em sẽ đãi các anh ăn một món rất đặc biệt của xứ Thành… Hì hì, không cởi ra bây giờ lát nữa cũng phải cởi thôi!

Tần vừa kéo áo bỏ ra ngoài quần, vừa hỏi:

– Món gì? Bánh tráng hả? Vẫn bổn cũ soạn lại à? Hê, thay tiểu lễ mặc áo thun cho mát tụi bây. Ăn cái gì chớ ăn bánh tráng theo kiểu ở đây là tao bảo đảm, vừa mới nhập cuộc là đã tháo mồ hôi hột… Hay là như vầy Hiền ơi, anh với anh Thành anh Thắng dông ra ngoài vườn mãng cầu của má một chút, em với cô Thảo cô Thúy ở trong này sắp xếp thức ăn. Bao giờ xong xuôi đâu đó thì em chạy ra hú tụi anh một tiếng.

Hiền gật đầu, đồng ý:

– Cũng được.

Ba người con trai giao cho ba người con gái ba chiếc áo tiểu lễ, ba cái mũ kết quan tàu đem vào buồng cất giùm, rồi vọt thẳng vào khu vườn rậm…

Lại ăn bánh tráng? Tần không khoái cho lắm cái món quốc hồn quốc túy đó của người dân xứ Thành, xứ có tiếng về bánh tráng dẻo. Không giống như bánh tráng miền Nam, mỏng và cứng, khi ăn phải nhúng nước. Bánh tráng dẻo ở đây dầy hơn, giống giống như bánh phồng. Mềm như bánh phồng và để vậy ăn sống, cuốn tròn chấm nước mắm ớt chặt khúc cay thiệt cay. Chớ không đem nướng như bánh phồng trong Nam… Ðoạn trường ai có qua cầu mới hay, Tần nghĩ chàng cũng không nên nói trước cho hai thằng bạn thân của mình biết qua cái phong tục dễ thương nhưng có hơi… cháy ruột, phỏng bao tử đó làm chi! Hãy để cho tụi nó tự tìm hiểu lấy, mới thấy thế nào là thấm thía khi đọc mấy câu thơ bình dân mà có lần chàng đã viết tặng Hiền làm kỷ niệm:

Về Thành phải ở lại Thành
Thích ăn bánh tráng cuốn
Chấm nước mắm ớt vừa hái trên cành
Thì em mới chịu yêu anh suốt đời 
…

* Ðộng thanh lâu ở địa chỉ 2C đường Hùng Vương, khoảng giữa Trịnh Phong và Lê Ðại Hành.

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều-Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 22 Nov 2025

23. Cốt nhục tương tàn

Xuân Mậu Thân 1968…

Trinh Tường, tiền đồn phía Bắc của thành phố Phan Thiết chịu áp lực vô cùng nặng nề của cộng quân. Liên tỉnh lộ 8 đi Ma Lâm bị cắt đứt, và sau khi bị loạt AK xen vào tiếng pháo Tết rải vô tháp canh đồn thì những lớp giây kẽm gai được lệnh giăng mắc thêm chắn ngang đường ở cổng phía Bắc. Những giây mìn Claymore và mìn chiếu sáng được gài thêm dọc hàng rào phòng thủ đồn. Lệnh báo động khẩn cấp được ban hành trên khắp miền Nam và trên toàn lãnh thổ tỉnh Bình Thuận.

Xuân Mậu Thân đẫm máu bắt đầu từ những tiếng AK nổ vang trong ngày hưu chiến. Xạ thủ đại liên, hạ sĩ Lê Bá có lẽ chả thắc mắc gì với cái tên Hồ chí Minh, và anh cũng chẳng cần biết Nguyễn Chí Thanh là ai; đối với anh, thứ quan trọng, gần gũi anh nhất là khẩu đại liên trên tháp canh. Dù chiến trận chưa bùng nổ, nhưng mỗi đêm nhìn xuyên bóng đen, anh vẫn ngờ ngợ những bất trắc. Ban ngày, anh tháo ráp, lau chùi súng cẩn thận, bao cát được lót thêm cho vững hai chân càng, giây đạn móc sẵn vào ổ súng, các giây đạn khác thò đầu ra khỏi thùng nắm chờ đợi bên khẩu đại liên, sau lưng anh là mấy chục thùng đạn mở nắp.

Xuân Phong là làng sinh quán của anh. Đêm nay làng anh nằm trong tầm vòng đai tác xạ của các loại vũ khí trong đồn Trinh Tường. Các mũi tiến quân của địch khép dần về thành phố trên một vòng cung Tây Bắc từ sông Cà Ty vòng qua Xóm Tỉnh, Xuân Phong và cầu Bến Lội. Thế nhưng muốn tràn ngập Phan Thiết, địch phải khống chế hay đánh sụp đồn Trinh Tường để thọc mũi dùi vào khu chợ Phường gần trường Phan Bội Châu, tiến quân chiếm bệnh viện và nhà ga Phan Thiết hầu tấn công tòa tỉnh. Đồn Trinh Tường là yết hầu chiến lược quan trọng của thành phố nối liền với Ma Lâm, Thiện Giáo ở phía Bắc…

Trời vừa sập tối, tiếng AK đã nổ khắp các vòng cung tấn kích. Từ trên pháo tháp, khẩu đại liên đạn đã lên nòng, Lê Bá sắp lại các giây đạn, ước lượng tầm hỏa lực cho những điểm khả nghi, những cục gò mối, những chỗ địch có thể cắt rào xâm nhập. Bá lấy nón sắt che kín điếu thuốc trước khi rít một hơi dài để lấy bình tỉnh. Những lằn đạn AK vẹt đêm đen bay thẳng vào đồn. Mắt Bá cay cay, anh dụi tắt điếu thuốc và xoay nòng súng qua lại về hướng địch.

Một loạt đạn từ hướng Tây Bắc Xuân Phong bay thẳng vào tháp canh của Bá, anh nhận ra địch đã lởn vởn đâu đó gần xóm nhà bà Nội, anh định phóng một tràng đại liên về hướng địch nhưng ngón tay bóp cò bỗng ngưng lại. Mục tiêu chưa xác định, vã nhà tự bà Nội nằm trong hướng và tầm đại liên của Bá. Anh chợt nghĩ tới bà Nội sống một mình cô đơn trong căn nhà lúc nào nhang cũng cháy trên bàn thờ ông Nội. Anh lo cho bà Nội, không biết đêm nay bà sẽ ra sao, và khi những tràng đại liên anh quét về hướng xóm bà Nội, bà có kịp chui xuống hầm hay không, đạn anh bắn có trúng nhà tự bà Nội không…

Súng địch đã nổ. Đồn Trinh Tường vẫn im tiếng không bắn trả viên đạn nào. Tất cả đều chong mắt chờ địch tấn công. Ngồi trên tháp canh, anh biết rõ là ngày mai mồng Một Tết sẽ không có chuyện anh được phép về ăn Tết ở nhà, không có chuyện thăm Nội, thăm bà con, cô bác. Anh không biết chuyện cộng sản vi phạm ngày hưu chiến Tết nó nghiêm trọng ra sao, kéo dài ra sao, chết chóc ra sao, nhưng anh biết rõ là cái Tết đã tan tành. Anh chợt buộc miệng chửi thề:

– ĐM, mấy thằng VC! Bộ đánh đấm cả năm không đã hay sao mà ba ngày Tết còn mò về thử AK! Thiệt là mấy thằng trời đánh!

Mấy năm đi lính, chuyện đụng trận, bắn nhau là chuyện cơm bữa. Anh nghĩ chắc chuyện bắn nhau với VC đêm nay thì cũng vậy thôi. Giới nghiêm, báo động là chuyện thường, thế nhưng đêm nay, anh không hề biết anh đang là một trong những người lính đang ở tuyến đầu trong một trận đánh lịch sử của mùa xuân Mậu Thân máu lửa, trận đánh quyết liệt đã giữ cho Phan Thiết không bị cộng sản tràn ngập.

Vừa vói tay định bẻ hộc cốm bỏ vào miệng nhai cho đỡ buồn, một quả B40 chợt nổ đâu đó ở hướng vòng đai sau trường tiểu học Trinh Tường, Bá bỏ vội hộc cốm xuống thùng đạn, lừa cục cốm vào má, ngưng nhai và chụp súng khạc một tràng đại liên về phía cục gò mốì ngoài bờ ruộng gần nơi có tiếng nổ. Bá nghĩ bụng:

– Tụi mày muốn chơi B40 hay quan sát cận đồn, tụi mày phải núp sau cục gò mốì này! Cho mày ăn đạn! Thằng nào tới số chết bỏ!

Dường như quả B40 là hiệu lệnh địch khai hỏa, nên quanh vòng đai, tiếng súng nổ dồn dập hơn. Tràng đại liên đầu tiên của Bá làm các tay súng phòng thủ đồn tỉnh người, căng thẳng chờ địch và bắt đầu bắn trả. Bá thấy đêm càng khuya, tiếng súng hai bên càng nổ dữ hơn. Bá nghĩ bụng: “Chắc VC định ăn thua đủ trước khi trời sáng!”

Nguyên một vòng cung an ninh thành phố chạy dài từ Trinh Tường qua sông Cà Ti, chả có nơi nào là rừng, chỉ toàn là ruộng và nhà dân. Địch đánh ban ngày ở vùng này chỉ tổ làm mồi cho máy bay và pháo binh. Bá linh cảm thấy đêm nay là đêm sống chết. Mắt mở lớn hơn, đầu tỉnh táo hơn, mấy thùng đạn sẵn sàng đầy đủ hơn, và chưa bao giờ Bá thấy đạn đạo của địch đổ vào đồn dày hơn đêm nay.

Khoảng 2 giờ sáng, tiếng súng địch nổ rát hơn ở hai mặt Xóm Tỉnh và phía Tây Bắc Trinh Tường, trong lúc hướng Xuân Phong dẫn vào cổng đồn phía Đông Bắc rìa liên tỉnh lộ 8 thì không một tiếng súng. Cái yên lặng này làm Bá chú ý và lo lắng. Linh tính và kinh nghiệm trận mạc của Bá cho biết một cái gì bất thường.

Bá đưa nòng đại liên về hướng hàng rào kẽm gai phòng thủ đầy mìn nhưng thật là yên lặng này. Bá chờ đợi. Hỏa châu thắp giăng giăng đều theo các vòng cung phòng thủ. Hàng loạt hỏa châu treo đèn, soi chập chờn những mái tranh xa xa, và giữa những mái tranh hiền lành run rẩy dưới ánh sáng vàng vọt, nhô lên nóc ngói của ngôi nhà tự, nơi bà Nội Bá đang ở. Bá lẩm bẩm:

– Địch tấn công mặt này chắc nhà bà Nội có cơ lãnh đạn của mình. Tôi nghiệp! Không biết đêm nay Nội có chui kịp xuống hầm hay không! Nội có ngủ dưới hầm hay không! Bà ở một mình trong vùng lửa đạn, có mệnh hệ gì, ai lo cho bà đây!

Lòng Bá như tơ vò, như lửa đốt. Bỗng chợt, một loạt mìn Claymore nổ tung ở phía hàng rào kẽm gai phía Bắc, nơi mà từ giữa hôm không nghe một tiếng súng. Từ phía những lùm cây thấp và gò mả, những trái sáng tự động bị vướng giây bật sáng cả một góc trời. Dưới vùng ánh sáng của hỏa châu lơ lửng trên trời và những trái sáng chiếu rực hàng loạt dưới đất, từng lớp bóng đen tràn vào theo những lằn kẽm gai bị cắt. Địch bị khựng lại vì hàng loạt mìn nổ, cùng lúc khẩu đại liên của Bá đan lưới lửa phủ vào các bóng đen đang kẹt giữa những hàng kẽm gai bị cắt dang dỡ.

Vì địch đã nằm trong tầm đạn chờ sẵn của Bá nên hàng loạt bóng đen đã bị đốn ngã ngay trong đợt xâm nhập đầu tiên bị lộ. Số còn lại rút ra, Bá thấy rõ mồn một những đặc công cõng xác đồng đội tháo lui, Bá thay giây đạn và quét theo những tràng đại liên hòa nhịp với những tay súng phòng thủ khác. Đạn từ trong đồn bắn ra như mưa. Tác xạ từ trên cao, Bá cho lưới lửa săn đuổi bén gót những bóng đen, xác địch vắt từ trên những giây kẽm gai ra tận bờ ruộng ngoài hàng rào phòng thủ.

Kháng tuyến Trinh Tường không bị vỡ, đổi lại, toán đặc công chủ lực làm mũi nhọn thọc vào thành phố bị bẽ gẫy với những tổn thất nhân mạng vô cùng nặng nề. Tính chung, bộ đội cộng sản bị thất bại thê thãm thảm trên các kháng tuyến trong trận tấn công Phan Thiết năm Mậu Thân 1968.

Năm 1970 từ hậu cứ đơn vị ở Nha Trang, tôi có chuyến công tác về Phan Thiết và ghé thăm nhà, và tôi gặp Bá. Bá là con ông Bác, tôi gọi Bá bằng anh, nhỏ hơn tôi vài tuổi, chơi với nhau từ thuở nhỏ, vẫn xưng hô với tôi bằng mày tao. Lúc đó, hai anh em vẫn mặc quân phục và tôi đã mọc thêm một bông mai trên vai áo. Khi gặp nhau, chúng tôi là anh em máu mủ, chả có cấp bậc gì ráo, và tôi cảm thấy ấm áp với không khí xưng hô gia đình như vậy. Tôi hỏi thăm Bá về chuyện họ hàng, bà con. Khi đề cập đến gia đình cô Ba chúng tôi, Bá bỗng cúi mặt buồn buồn. Tôi hỏi:

– Anh Bá! Nghe nói anh Kháng, anh Chiến con cô Ba theo Việt cộng về đánh trận Mậu Thân ở Trinh Tường bị chết phải không?

Bá nhìn tôi:

– Cốt nhục tương tàn đó mày!

– Cái gì? Anh nói rõ hơn được không?

– Tao bắn hai đứa nó đó! Hai đứa nó nằm trong toán đặc công, toán tấn công vô đồn Trinh Tường kỳ Tết Mậu Thân bị đại liên tao đốn gục đó!

Sau câu trả lời của Bá, lòng tôi chùng xuống. Tôi hiểu là trong cuộc chiến tương tàn này, súng đạn không tránh được ai, súng đạn không hỏi căn cước, không tra lý lịch trước khi ghim thẳng vào thân người. Trong tầm tác xạ gần đạn đạo là một đường thẳng vô tri, vô giác, vô tình, nó không tránh né, cong quẹo khi gặp người thân. Và anh Bá kể lại cho tôi nghe câu chuyện nát lòng.

– ” Mày cũng biết, tao hiểu tụi mình có những anh em bà con theo Việt cộng. Trong trận Tết Mậu Thân, Việt cộng tấn công tiền đồn Trinh Tường, tao là xạ thủ đại liên của đồn mà tầm đạn bao dàn một vùng rộng lớn về hướng làng Xuân Phong của mình, trong đó có cả nhà tự bà Nội đang ở. Đêm đầu tiên, địch muốn tràn ngập chiếm thành phố bằng nổ lực dứt điểm nhanh và gọn đồn Trinh Tường. Nếu tụi nó thành công, có thể ngày hôm nay, tao không còn gặp mày.

Trong toán đặc công đầu tiên xông vào dãy hàng rào kẽm gai bị cắt, một mớ chết vì mìn, một mớ tiến sát đến sát lớp kẽm gai sau cùng gần đường lộ, bị tao quét sạch bằng đại liên, khoảng cả chục tên bị đốn gục, không có một tên nào lọt được vào đồn, không có một tên nào kịp bắn một phát B40 nhắm vào lô cốt tao và dường như khó có tên nào thoát khỏi lưới lửa đại liên của tao trên đường rút ra bờ ruộng.

Hôm sau, khi Việt cộng bị đẩy ra khỏi các vị trí xâm nhập khác trong thành phố, bị truy kích hay bị tiêu diệt tại chỗ, tình hình an ninh được vãn hồi trong thị xã và các vùng ngoại ô, kể cả Xuân Phong, các xác chết của cán binh Việt cộng được chuyển ra lộ và bờ ruộng ngoài cổng đồn. Các xác chết vì mìn được tập trung gần mấy cái gò mả, các xác chết kẹt trong hàng kẽm gai gần lộ do hỏa lực đại liên của tháp canh tao bắn được xếp bên bờ lộ gần cổng đồn. Sau khi kiểm soát, chính quyền ra thông báo cho thân nhân nhận diện tử thi và được phép đem về chôn cất.

Tinh hình an ninh đã khá hơn, song lệnh báo động và cấm quân vẫn còn rất căng. Tao vẫn thủ ngày thủ đêm cây đại liên trên tháp canh. Không có nó bữa đó là chết cả lũ. Khi tao đưa ống dòm lên mắt coi những người đến nhìn xác Việt cộng, tao tá hỏa tam tinh khi thấy cô Ba có mặt trong số người thất thểu tìm thân nhân bị chết, và linh tính tao cho biết có một cái gì rất là thê thảm… Tao dụi mắt và tao tiếp tục theo dõi cô Ba qua ống dòm. Tao cầm lòng không đậu khi thấy cô Ba lần mò lật mấy cái xác gần lộ, rồi cô Ba quỵ xuống ôm một xác người khóc thảm thiết. Hai tay cô Ba đập đất, hai tay cô Ba cào trời…

Chưa hết, khóc một hồi, cô Ba đứng dậy, lấy tấm khăn choàng đắp lên mặt một xác chết, rồi cô Ba xoay lưng tìm mấy cái xác còn lại. Và lần này, tao nghe tiếng cô Ba thét lên “Trời ơi! Chiến ơi! Con ơi!…” Rồi cô lăn dài ra đất. Lúc này thì tao đã hiểu ra cơ sự. Hai đứa nó, thằng Kháng, thằng Chiến con cô Ba nằm trong toán đặc công bị tao đốn gục đêm đó. Nó là con cô cậu của mình, nhưng súng đạn đâu có ăn nhậu gì với tình thân, ruột thịt.

Đêm đó tao không đốn kịp tụi nó thì nó đốn tháp canh tao bằng mìn hay B40. Làm sao biết được! Cô Ba không hề biết hai người con trai duy nhứt của cô bị chết vì đại liên của tao. Cô Ba cũng không hề biết là tao đã nhìn hình ảnh cô lăn lộn trên xác con. Cô Ba cũng không hề biết là tao đã khóc cho cô từ trên tháp canh. Tao kể chuyện này cho mày nghe và giữ kín, không cho bà con biết. Mày hứa là mày giữ kín chuyện này. Tao không muốn cô Ba không nhìn mặt tao! Mày biết chưa?!”

Kể đến đây, người anh tôi bật khóc. Tôi ngồi như trời trồng, lặng người, đau xót. Dường như cái cảm xúc máu mũ, ruột thịt nó có cái gì vượt lên trên lý trí, chính trị, chủ nghĩa; nó chập chờn trong không gian đâu đó, và khi trái tim mở ra, nó chui vào tâm thức lúc nào không hay. Nghĩ đến hình ảnh cô tôi tìm xác con, vật vã gào la dưới trời tuyệt vọng, mắt tôi mờ, hai giọt lệ ứa tuôn lăn xuống má tự lúc nào.

Hàng chục năm chinh chiến xa nhà, đơn vị tôi đóng ở Nha Trang, tôi không một lần gặp lại cô tôi. Tôi bùi ngùi nhớ lại hình ảnh hai ông anh con bà cô, anh Kháng, anh Chiến của những ngày thơ ấu cùng tôi đánh đáo, đánh trỏng đá banh, dành ăn và bị đòn… Và khi lớn lên, lịch sử oan nghiệt đã chia chúng tôi làm hai ngả đối chiến.

Sau đó, tôi và Lê Bá chia tay. Trước khi về lại đơn vị, tôi hỏi anh Bá về người con thứ ba và là đứa con gái út của cô tôi. Anh Bá trả lời:

– Kim hả? May mà Kim không có mặt trong đám đặc công của ông Kháng, ông Chiến, giờ chả biết nó ở xó rừng nào!

– Nghĩa là dượng Ba lôi cả bà út Kim lên núi?

– Thì chớ sao! Cái lão Việt cộng đó có chừa ai, có chừa đứa nào cho cô Ba đâu. Lão đem cả ba đứa con theo con đường mù tịt cùa lão. Lão mê cộng sản, lão theo tới cùng, lão đặt tên con là Kháng, là Chiến thì mày biết cái đầu lão ra sao. Chỉ tội cho cô Ba thui thủi một mình buôn bán nuôi cái thân ngày đau đêm ốm. Tao nghe nói Dượng Ba bị sốt rét chết sao đó. Sau vụ Mậu Thân, chắc bà Kim cũng biệt tích giang hồ trên núi, lạng quạng mò về để mà chết!

Năm 1971, tôi trở lại Phan Thiết nhân một chuyến công tác ở Sông Mao, mới hay tin anh Bá đã đổi sang Sư Đoàn 23 và bị mất trong một trận đánh nào đó. Tôi mất đi một người anh cùng chiến tuyến. Khi chúng tôi về đến thị xã thì trời đã xế chiều. Bốn thầy trò chúng tôi trên một chiếc xe Jeep đầy đủ súng đạn, không thể bỏ xe ngoài đường, tôi ghé đồn quân cảnh thăm Trung úy Canh và báo tối sẽ xin gửi xe ở đồn. Tôi cho Canh hay là tôi sẽ phóng xe về Xuân Phong thăm bà Nội và quay trở lại phố ngay. Canh dặn:

– Ồng cẩn thận! Chiều tối Việt cộng thường mò về vùng đó lắm đấy! Thăm bà cụ xong là “hổ ” gấp nghe chưa!

Theo đuờng Hải Thượng Lãn Ông, tôi bắt liên tỉnh lộ 8 đi Ma Lâm để về Xuân Phong. Qua khỏi đồn Trinh Tường không tới một cây số, xe cua trái vào hương lộ nối qua Xuân Phong, Đại Nấm, Phú Hội. Tất cả súng ống trên xe đều có đạn lên nòng. Chúng tôi đang vào vùng không được an ninh mỗi khi chiều sập tối. Không tới 5 phút sau là chiếc Jeep tôi ngừng trước nhà tự Nội tôi. Tất cả anh em bước ra khỏi xe với súng cầm tay. Tôi dặn TSI Phúc coi xe và canh chừng, có gì nghi ngờ thì báo tôi hay để chuồn gấp. Một mình tôi vào nhà mang theo khẩu M16 với giây “ba chạc” đầy các băng đạn. Tôi không xài súng lục ngắn khi đi công tác xa. Loại này vô ích khi chơi với AK.

Tôi vào nhà bằng cửa chính đang mở, cửa sau không đóng, mấy cây nhang trên bàn thờ ông Nội tôi còn đang cháy. Tôi dừng lại thắp nhang trên bàn thờ ông Nội, xong bước nhanh ra gian nhà sau, vừa lên tiếng gọi “nội ơi!” thì tôi khựng lại. Trước mặt tôi là một cô gái khoảng 16,17 gì đó, nón tai bèo, giép râu, hoảng hốt muốn chui xuống hầm trốn nhưng không kịp phải đứng lại.

Cô gái đứng yên bất động như trời trồng. Tôi chợt hiểu ra ngay cô gái trước mặt là ai: chị Kim, đứa con duy nhất còn lại của cô Ba tôi sau khi hai người anh bị chết trong trận Mậu Thân. Chị Kim vẫn đứng đó nhưng người chị run lên thật tội nghiệp. Có lẽ chị chờ tôi bắt chị. Chị thấy trên người tôi đầy đạn trong giây “ba chạc”, tay cầm súng, song tôi không làm gì hết, lại bất ngờ lên tiếng:

– Chị là chị Kim con cô Ba?

Câu hỏi không có vẻ gì thù hận của tôi làm chị ngạc nhiên. Có lẽ trong đầu chị thoạt đã nghĩ rằng tên “sĩ quan ngụy” này không có trái tim, không còn tình cảm. Chị Kim lên tiếng, giọng chị run run, nói như hụt hơi:

– Tôi biết cậu mà! Cậu bây giờ quan quyền rồi mà còn nhìn bà con được nữa sao?

Câu nói chống chế của chị Kim bị cắt đứt khi bà Nội tôi từ sau bếp bước vào. Tôi quay người qua ôm lấy Nội tôi:

– Đi công tác ngang, con ghé thăm Nội một chút rồi đi lại. Nội khỏe không?

Chỉ trong một phút giây ngắn ngủi, khi nhớ lại chị Kim tôi quay lại thì chị Kim đã biến mất như một con ma. Chi Kim đã trốn trong một hốc tối nào đó trong gian nhà sau mà tôi không biết. Tôi không bắt chị ngay từ đầu thì không lý gì tôi gọi lính tôi vào lục soát nhà tự Nội tôi để bắt chị Kim. Tôi tha cho chị vì một cái gì rất người, từ tim, từ óc, từ máu mũ ruột thịt mà lý trí của một người lính trong tôi trong giây phút đó nó biến tan đi đâu tôi không biết.

Trên một góc độ nào đó, trong bộ quân phục, tôi nghĩ là tôi có lỗi, nếu nói có tội cũng được. Nghĩ lại, tôi không chỉa súng vào người chị Kim ngay trong giây phút bất ngờ gặp chị là một cái gì rất là người, rất là nhân bản, tự nhiên. Vào lúc đó thì tôi không hiểu tại sao tôi lại tỉnh như vậy.

Chị Kim đã trốn được, và tôi không hối tiếc, tôi thanh thản đã không bắt chị Kim trong lần tao ngộ bẽ bàng đó. Song nếu lúc đó có một người lính tôi bên cạnh, tôi đã bắt chị Kim. Chính tôi bắt chị. Và lúc đó tình cảnh đã đổi khác, tôi không có sự lựa chọn của trái tim. Tôi phải bắt chị Kim… Người lính đi bên cạnh tôi sẽ là một đơn vị, nó không còn cái gì của riêng tôi.

Ngay sau đó, để tránh những bất trắc không lường được, trời gần sập tối, tôi vội vã rời nhà Nội tôi. Và khi chiếc Jeep của tôi rú ga phóng về Phan Thiết, chị Kim hiểu rõ là tôi đã tha cho chị. Nội tôi cũng không biết những gì vừa đã xẩy ra trong gian nhà tự. Lúc đó, cụ gần 75 tuổi, không có một ý niệm gì về quốc-cộng, chỉ khi nghe tiếng súng thì đem giỏ trầu, ống quấy chui xuống hầm, hết tiếng súng thì chui lên.

Ba người lính tôi trên xe cũng không biết chuyện gì đã diễn ra trước đó. Tôi giữ yên lặng, giữ tất cả những bí mật riêng tư, chưa bao giờ nói với ai, kể cả đơn vị trưởng, kể cả cha mẹ, bạn bè và kể cả cô Ba tôi nay còn sống mà có một lần tôi gặp lại khi ra tù Việt cộng. Tôi không rõ chị Kim có bao giờ kể lại điều đó cho cô tôi biết hay không.

Năm 1975, cả cuộc đời lộn ngược, cả đất nước tang thương dưới mầu cờ đỏ, tôi và bè bạn bị đẩy vào các trại tù “cải tạo”, sống sót từ trại tử thần Kà Tót, về sau chuyển về “Tổng trại 8 Tù Tàn Binh Sông Mao”. Trong thời gian khai lý lịch và thẩm cung ở trại Kà Tót, Việt cộng hỏi tôi khá kỹ về dòng họ tôi, về “tội ác” của tôi, cả đến việc viết lách và bút hiệu của tôi. Họ phán những tên đi lính “ngụy” mà viết báo đều là CIA! Họ đề cập tới cô tôi và trong lúc khai cung và hỏi cung, tôi được biết chồng cô tôi từng là tay cán bộ gộc hoạt động trong vùng mật khu này. Có lẽ ông Kháng, ông Chiến và chị Kim một thời cũng có ở trong rừng Kà Tót, nơi mà ngày nay tôi và bè bạn bị giam.

Sau những tuần lễ khai đi, khai lại tả tơi cái món lý lịch và “tội ác”, nằm đêm, tôi cứ nghĩ vẩn vơ về chuyện chị Kim. Mấy con tắc kè bám trên nóc tranh cứ chắc lưỡi đánh thức tôi từng đêm, nghĩ đến ngày mai đen tối, nhìn ra cánh rừng mù mịt, tôi đôi lúc cũng chắc lưỡi với con tắc kè và giật mình nghĩ lại chuyện chị Kim.

Nếu kỳ đó tôi chỉa súng chộp chị Kim, người chị con bà cô ruột thịt với mình ngay trong nhà tự bà Nội, giao cho tiểu khu Bình Thuận khai thác, rồi chị Kim bị tống vào tù mà về sau sống chết tôi không rõ, thì không biết giờ này trong tay Việt cộng số phận tôi sẽ về đâu.

Tôi đã thấy Việt cộng hành hạ tù ra sao, tôi đã thấy cảnh đang hỏi cung, Việt cộng quát tháo và lôi đại úy Thông Ngộ ra trói ngữa trên sạp nứa gần nhà bếp, hai chân, hai tay và cổ bị cột dính xuống sạp như thể chuẩn bị thiêu tù trên dàn hỏa, và họ bỏ đói anh ra sao. Và đến lượt tôi, tên trưởng trại Kà Tót, tên gì chả biết nhưng anh em gọi hắn là Trung Ông Vố, gọi tôi lên, và cơn ác mộng có thể diễn ra như sau:

– Anh là Lê Khắc Hai?

– Thưa vâng!

– Đại úy ngụy?

– Thưa vâng!

– Anh là người bắt sống đồng chí Nguyễn Thị Kim của chúng tôi giao cho quân ngụy?

– Thưa vâng!

– Anh có biết hai đồng chí Nguyễn Văn Kháng, Nguyễn Văn Chiến, anh ruột của đồng chí Kim, đã hy sinh cho cách mạng trong trận Mậu Thân?

– Thưa vâng, biết! Hai anh ấy là con bà cô ruột tôi!

– Nghĩa là anh biết đồng chí Kim là chị cô cậu ruột với anh?

– Thưa vâng, biết!

– Thế nhưng tại sao anh bắt chị anh giao cho quân ngụy?

– Là một quân nhân, tôi chỉ làm nhiệm vụ của tôi!

– Im! Câm mồm! Phản động! Anh có biết tội ác của anh đối với cách mạng, với nhân dân và thân nhân của anh?

– …..

– Sao anh không trả lời? Thế anh có biết bố của các đồng chí liệt sĩ Kháng, Chiến và đồng chí Kim là gì của chúng tôi không?

– Thưa không?

– Đồng chí ấy ngày trước từng chỉ huy ở đây, ngay trong căn cứ Kà Tót này, và đồng chí ấy từng là lãnh đạo của chúng tôi! Hừ! Hừ! Anh là một tên quân ngụy phản quốc, không có trái tim…!

Những anh em tù tàn binh đã từng qua trại Kà Tót với tôi nay sống sót ra nước ngoài, nhớ tên trưởng trại Trung Ông Vố và những tên Việt cộng không còn nhân tính trong trại đều biết là trong tình huống oan nghiệt đó, tôi khó có cơ hội sống còn để cùng anh em lết về “Tổng trại 8 Tù tàn binh Sông Mao” như những thây ma đói xanh xao, vàng vọt…

Ôi! Một chút tình ruột thịt, một chút từ tâm, một chút Phật tính, một chút con người trong hoàn cảnh éo le bât chợt đã ngăn tôi không chĩa súng vào chị Kim để trói chị đem ra xe, tránh được cái cảnh “cốt nhục tương tàn”, và phải chăng. cũng nhờ một chút lòng từ đó mà trời cho tôi được sống còn đến ngày nay!?

Nghĩ cho cùng, ngày đó tôi có bắt chị Kim, cuộc chiến cũng không xoay sang một góc độ khác, lịch sử vẫn đậm một mầu tang… Sài Gòn vẫn bị cưỡng chiếm. Còn tôi, tôi biết mệnh số mình sẽ ra sao trên rừng Kà Tót năm xưa: một nấm mồ hoang không bia, không nhang, không khói giữa rừng tranh u ám bên cạnh nơi an nghỉ nghìn thu của Long, của Biên, của vô số anh em tù tàn binh bị giết hay bỏ xác trên thung lũng chết người này.

Cám ơn Trời đã cho tôi một trái tim người đủ để chứa những khổ đau oan khuất, đủ để xử thế đương đầu với nghịch cảnh, đủ để cưu mang cả một dòng đời bất hạnh. Sau hơn 30 năm, viết lại những dòng này mà lòng vẫn như còn mang mang đất trời nghiêng ngả…

Em về, sông cạn núi mòn

Mà trong hư ảo như còn lửa binh

Em về, mấy triệu sinh linh

Bó tay, cúi mặt, cực hình bủa vây.

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 21 Nov 2025

Chương 7

Nên Chơi Sách Hay Nên Chơi Cổ Ngoạn

Lấy người nầy làm gương. Tôi đã quá già, nhưng tánh hay lo việc bao đồng. Riêng tôi, tôi đã chán ngán, nhưng tưởng cũng cần nói vài lời về hai thú trên đây, nghe cùng không tôi không cần biết, và người nói trong nhan đề, oan hay ưng, tôi cũng không vụ tất làm chi. Xét lại cho kỹ, chơi cổ ngoạn thú vị nhiều, nhưng vẫn có nhiều người ganh tị. Khi ganh, không ngại đặt điều nói xấu, phao vu buôn lậu vật báu của nước, như vừa rồi, việc còn nóng hổi, có một chàng nọ, tuổi còn trẻ, chơi thân với tôi và thường nghe lời tôi, thường ra Bắc hay về Huế đô, mua sắm được nhiều món lạ, chính tôi thấy cũng thèm, tôi đã khuyên phải cẩn thận, chơi thì nên nhưng đừng làm con buôn, và phải coi chừng kẻo đứt tay có ngày, người ấy bỗng bị bắt, bị giam, cổ vật sưu tập bị hốt, một vài tháng sau được tha rồi bị bắt trở lại, cổ vật có được thu hồi, và người ấy có thật phạm tội cùng không, việc không mắc mớ gì tôi, chính nếu có người cáo tôi thì tôi cũng phải chịu vào ngồi trong đó như ai kia chớ tôi nào có hơn ai, tuy vậy thỏ chết cáo buồn, và bài nầy tôi viết là cốt lấy kinh nghiệm mớ tuổi già và xin lấy trực tâm già nghề, nghề chơi sách và nghề chơi đồ cổ, tôi là kẻ dưới, còn sự công bình và xét đoán phân minh là ở bề trên, tôi không dám nói nhiều chỉ mong có hải hà lượng cao.

Gần đây, tôi có đọc kỹ lại hai bộ sách để trên đầu nằm, đó là:

– Le Viet Nam, Histoire Et Civilisation của Lê Thành Khôi (Nhà Minuit, 1955, Paris)

– Việt Nam Sử Lược, của Trần Trọng Kim, bản Tân Việt lần 5, năm 1954.

Sách Pháp của ông Khôi ghi gãy gọn: Nguyễn Du, Kim Vân Kiều 1802 (tr 509);

V.N.S.L. Trần Trọng Kim, tr 418, cũng vắn tắt: “Truyện Kim Vân Kiều của Tham tri bộ Lễ Nguyễn Du, cũng phát hiện thời bấy giờ” (xin hiểu đó là năm 1802).

Cả hải học giả đều sở học uyên thâm, tôi lé đé dưới mắt cá, dám đâu đèo bòng nói lăng xăng trong lúc không có mặt, duy trong nghề chơi đồ cổ và làm mọt sách, tôi đọc lại và riêng thấy: “năm 1802, phương Bắc đang bị xáo trộn, có binh trong Nam của chúa Nguyễn Ánh kéo lên, Du nào có lòng yên để ngồi viết sách và có lẽ vào năm 1813, nhơn được đi sứ sang Tàu và mua được sách hay (bộ Thanh tâm tài nhân) và nhơn đọc chuyện nàng Kiều trầm luân, mới nhớ và tỷ hứng xa vời chuyện nước nhà hay chăng?

Theo tôi ngẫm lại văn hóa nước ta có được bộ truyện Kiều, chính là nhờ có được cuộc đi sứ năm 1813 nầy. Vả lại, bộ sách Hán cũng chỉ văn viết tầm thường thôi, nhưng sự tích khá li kì, cũng năm 1813 nầy sứ bộ của ta mang về bộ chén trà “Mai Hạc” tôi sẽ nói nơi đoạn sau, và nơi đây, tôi xin cho tôi được lẩn thẩn lấy theo sức học đáy giếng mà luận việc trên cao để được tỏ chút nỗi lòng lại vẫn không khác nào cảnh đã phải gánh chịu của một đại văn hào phương Bắc buổi Lê tàn, Trịnh mạt, Tây Sơn lên mau như chớp rồi tắt lịm như bóng đèn khí khi điện lực bị cúp, sự việc một gái nhà lành vì hiếu phải bán mình, rồi bị đày đọa, thân bị vằn vọc, trăm cay ngàn đắng suốt mười lăm năm trời, nhưng binh sĩ chúa Ánh kéo lên phương Bắc năm 1802, chỉ làm nhục và cầm tù một nhà khoa bảng là Phan Huy Ích, và chỉ đánh đòn, nhưng lỡ tay hay vì căm thù, đánh quá nặng đến chết một nhân tài là Ngô Thời Nhiệm, và theo như tôi tự xét và hiểu, có lẽ thức cảnh sanh tình, Du năm 1802 cũng na ná cảnh ngộ tựa tựa như vầy, nên bỗng mượn lấy nòng cốt chuyện Kiều mà đẻ ra một bản kiệt tác gợi lại chuyện xa xăm quãng phong ba bão táp cuối thế kỷ XVII bước qua đầu thế kỷ XIX v.v .. nhưng phải đợi năm 1813 yên chí đi sứ Tầu về, và phải đợi năm 1813 hoặc sau 1813 tâm thần bình tĩnh, thấy xa hiểu rộng một năm dài khi ngồi thuyền khi ngồi võng hay chạy ngựa suốt một năm dài bận đi như bận về, mắt ngắm tai nghe đủ mọi cảnh đẹp việc hay của nước lớn Trung Hoa, đến đây tôi không quyết đoán phải đúng năm 1813, nhưng cũng lối năm ấy, và một bằng chứng khác, xét theo lối chơi cổ ngoạn, tôi đã gặp và làm chủ một bộ chén trà niên hiệu để năm Giáp tý (1804) là năm đi sứ sang Tàu của một văn nhân trong Nam là Trịnh Hoài Đức có miếu thờ trong Chợ Lớn.

Và xin cho tôi được dài dòng kể lại đây, tuy đã có nhiều sách dẫn giải trước và theo như tôi hiểu nông cạn lấy tỷ dụ không khác giữa nhóm bình dân, ngày xưa nước Tàu rộng lớn bao la, đối với các nước nhỏ lân bang, chỉ muốn “làm người Anh Chị” đối với “hàng Em Út dưới tay” và chỉ cần “đầu hàng” là đủ, cần có dâng “cống vật” và có đi có lại, nước nhỏ nạp lễ cống: ngà voi, tê giác, sáp trắng, mật ong, quế Thanh, quế Quảng, sa nhân, đậu khấu v.v .. là đủ, rồi nước lớn hiến lại nào đồ gốm sứ có ngự bút nhà vua, bánh đúc đi, bánh sáp đáp lại và như vậy là đồng đều … và xin cho tôi kể thêm đại lược những năm đi sứ sang Tàu, theo bộ sách Bang Giao (không kể rành chi tiết) và duy nhờ mò lần theo các cổ sứ mua được mà tôi rõ như sau:

– Năm 1802, chúa Nguyễn Ánh, tuy tức vị nhưng chưa có sắc của Thanh triều ban cấp thì chưa đủ uy tín cho dân thờ, tuy đã sai quan Thượng thơ Binh bộ là Lê Quang Định làm chánh sứ sang Trung Quốc cầu phong, xin đổi quốc hiệu là Nam Việt – lấy lẽ nam là An Nam, Việt là Việt Thường. Nhưng sứ bộ nầy bị nhà Thanh hỏi khó, sứ bộ không đáp được cho nên có sứ bộ khác do Trịnh Hoài Đức cầm đầu sang tiếp, Hoài Đức gốc người Phước Kiến và mẹ là người Việt, ứng đáp suôn sẻ rằng: “nước nhỏ dám đâu xúc phạm thượng quốc, duy “hiện Bắc hữu Thăng Long, Nam hữu Gia Định, nay đã qui nhứt thống, nên chọn đế hiệu “Gia Long”, chữ “Long” không tiếm chữ của tiên đế Kiền Long, chữ “Gia” lại không cố ý chọn chữ của đức kiêm thượng tại ngự, và được chấp nhận. Duy đến hai chữ Nam Việt, lại bị bắt lỗi sái văn phạm và lấy nhẹ tỷ dụ “dư chi phu, dư chi thê”, đành dùng hai chữ Việt Nam cho xong việc. Tôi vốn dốt nát duy nghe người rành nói lại có lẽ người Tàu chiết tự và tránh nhắc lại danh hiệu cổ Nam Việt của cổ thời Triệu Đà hay chăng?

Nhơn tiện tôi xin nhắc lại đây sứ bộ Trịnh Hoài Đức chuyến về có mang về bộ chén trà ba quân một tống đề niên hiệu “Giáp tý niên chế” dương lịch 1804, có câu thi:

“Thúy sắc du xuân noãn, kiên tâm nại tuế hàn” (tôi dịch lẹ cho mau: ngày nay đạp xuân hưởng sắc thúy, đầm ấm; Xin đừng quên cảnh lòng bền năm lạnh). Cũng trong năm 1804 nầy có một sứ bộ khác do Lê Bá Phẩm cầm đầu (V.N.S.L. trang 419 có kể), nhưng tôi chưa gặp và bắt được món sứ nào.

– Năm Mậu Thìn (1808) tôi may mắn có mua được một chén quân uống trà duy nhứt, vẽ san thủy thật khéo nhưng không một câu thi nào, theo tôi, đây là chén sứ của võ quan dùng, niên hiệu đủ bốn chữ “Mậu thìn niên chế”.

– Hai năm, Kỷ tỵ (1809) và năm Canh ngọ (1810) tôi có gặp và mua lên hai cái tô lành lẻ tuyệt khéo, hai tô nầy tôi đã tả tỷ mỷ trong bản thảo số 8 “Những đồ sứ đi sứ mang về” (Les bleus d’ambassade) sách đang in và xin miễn viết lại đây.

– Theo một quyển đã in dày 239 trang khổ 13×23 tác giả là Nguyễn Lộc xuất bản tại Đà Nẵng năm 1986, có kể và tôi tóm tắt đại lược, thì:

– Năm Quí dậu (1813) đến năm Quí dậu (1993) nầy là đúng 180 năm, thì sứ đoàn chính là do Nguyễn Du, tác giả truyện Kiều làm chánh sứ đem về bộ chén trà Mai Hạc, và theo tôi 1813 là móc chứng nhận năm sáng tác của truyện Kiều.

Trong quyển của Phủ đặc trách văn hóa thời Ông Diệm in tại Sài Gòn năm 1968, sách nầy dịch lại theo bộ Bang Giao của bộ “Khâm định Đại Nam hội điển sử lệ”, sách chữ Hán nầy lớn rộng mà không để lại chi tiết nào, tôi đành theo Nguyễn Lộc thì:

– Năm Quí dậu (1813) sứ đoàn đi nạp cống cho Thanh triều, gồm:

– Chánh sứ: Nguyễn Du, Cần chánh điện đại học sĩ,

– Phó sứ: Trần Văn Đại, Lại bộ thiêm sự;

– Bồi sứ: Nguyễn Văn Phong, Lễ bộ thiêm sự.

– Cuộc hành trình. Lên đường, khởi đi từ Phú Xuân, giữa tháng 2 âm lịch. Trung tuần tháng 4 mới tới Thăng Long. Nay xin cho tôi mạn phép gọi chánh sứ tắt là Du cho gọn viết: mấy năm về trước Du đã gặp và thăm Nguyễn Để, nay gặp lại vẫn nhìn không ra và không nhìn được các dấu cũ. Nào xưa là đài các thì nay là lộ là đường. Cố cung nay đã bị một bức tường chia làm đôi, cắt đứt cung và điện cũ. Bạn bè lớp xưa nay có người đã thay hai thứ tóc, kẻ nữa lụm cụm già nua quá tuổi, bơ phờ hoặc ngu ngơ. Phái cầm ca con hát, nào ngờ giới phấn son, quần thao lại đổi sắc quá mau. Đúng hệt câu dâu biển thay nhiều, tang thương cũng lắm. Không trách triều đại nhà Tây Sơn như đã nói, phát như điện mà cũng tàn lẹ như ánh sét thình lình.

– Ngày 6 tháng 5, đến cửa Nam quan (Quỉ môn quan) (tên nghe ghê sợ thế nào). Rồi đến Nam Ninh, thuộc tỉnh Quảng Tây. Sứ đoàn bỏ đường bộ sang qua đường thủy, bình bồng trên thuyền chèo chống qua nhiều nơi chưa từng mắt thấy và thường đọc tên trong sách: Thương Ngô, Quế Lâm, Tuyền Châu (Phước Kiến), Trường Sa, Nhạc Dương v.v ..

Khi thuyền đến Hán Khẩu, lại phải trở lên đường bộ trực chỉ Bắc Kinh. Quả là một con đường nhiêu khê man mác, Du bắt nhớ lại các di tích đã từng đọc trải qua sử sách đã từng nghiên cứu, nay Du sống lại bằng mắt thấy tai nghe, khiến ôn cố tri tân, nặng lòng hoài cựu, chạnh lòng thương cho cuộc đời từ phong kiến đến hiện đại, quá mau, của Trung Quốc cổ thời và của nước nhà hiện nay, than ôi, “ … trải qua một cuộc bể dâu … “, Lê tàn, Trịnh mạt, nay Du nầy lại phải gượng gạo phù tá triều đại mới, và nhờ có cuộc đi sứ nầy mới rõ được ý nghĩa câu “bất quá cao sơn, bất tri thiên cao”, Du vả chăng là người nhớ dai hiểu rộng, nay được đặt bước vào Vị, Hoài, Tầm Dương, Động Đình, Nhạc Dương Lâu, Hoàng Hạc Lâu … Mịch La là đâu, rồi nào Hàn Tín, Dương quí phi, Kinh Kha, Lạng Tương Như, núm mồ Đỗ Phủ, núm mồ Tỷ Can, mộ lăng Tây Sở Bá Vương, mộ Liễu Hạ Huệ, Đồng tước đài, hồ Tam Giang, Ngũ Hổ, miếu Nhạc Võ mục (Nhạc Phi), tượng Tần Cối và vợ là Vương thị, bị hình phạt và dân ném đá tượng đã bị chôn vùi … Ngày lên tới Bắc Kinh là ngày 29 tháng 10 kể theo dương lịch là 1813, lễ nạp cống đã xong, được chầu vua Thanh đủ lễ, tạ từ Thanh quốc trở về đất mẹ, chuyến nầy lại không noi theo con đường đã trải và để đổi qua đường mới, noi theo Đức Châu, Từ Châu, Tiền Sơn, Hoàng Mai, Quảng Tế … và khi đến Hán khẩu lại xuống thuyền trở về nước, duyên may đã khéo gặp và đã làm được hai việc đáng kể như sau.

1. Việc tuân lịnh đức vua, đặt chế cho lò sứ tỉnh Giang Tây một bộ chén trà, có đủ dĩa dầm (dĩa nhỏ chứa chén pha trà), dĩa bàn (dĩa lớn chứa chén uống trà, một chén tống (do tướng nói trại, để pha), và bốn chén quân cũng gọi chén tốt (sĩ tốt), duy giữ theo phong tục Huế thì chỉ dùng ba chén (tam quân), và vẽ tích Mai Hạc, với câu lục bát nôm “Nghêu ngao vui thú yên hà, Mai là bạn cũ, Hạc là người xưa”. Tiện đây xin nói nhà có giữ một bộ Mai Hạc gồm ba chén quân có thơ nôm kế đây và một chén lại đề câu Hán “Hàn mai xuân tín tảo, tiên hạc tháo vi đầu”, và xin ghi rõ bộ chén nầy nhơn đào mộ lăng Hoàng Công Lý bị xử trảm dưới thời Tổng trấn Tả quân Lê, và xin nhìn nhận bộ chén nầy có thể dùng làm mẫu cho chén Mai Hạc chánh hiệu, chớ ngày nay có rất nhiều bộ Mai Hạc, tôi biết thêm hai câu: “Thả liễm xung thiên vỏ, Vi khán Lĩnh Nam chi” và nhiều bộ Mai Hạc thơ nôm, nhưng chữ “Cũ” (bạn cũ) khi viết đơn, chữ Nhựt gạch một nét, đã qua, và chữ “Nhựt”,

viết kép kềm chữ “cựu” v.v .. theo tôi, thảy đều làm sau 1813 hoặc là tân tạo, khách ham chơi đồ cổ phải đề phòng. Lại nữa hai câu 6 – 8 nôm, thợ lò sứ Tàu khi viết làm bốn hàng, khi viết làm hai hàng 5 chữ và hai hàng 2 chữ, hóa như thơ thất ngôn, tôi đã tốn rất nhiều tiền mua sắm gần trọn bộ môn, kế bị người trong nhà trộm cắp mà tôi không khai báo, lấy theo lời nghiêm thân đã dạy: “nhân phi ngãi bất giao, vật phi nghĩa bất thủ”.

2. Một việc khác, quan trọng hơn nhiều và thuộc về văn hóa nước nhà và thú riêng chơi sách, là chánh sứ Du đã bắt gặp và may mắn cho nước Việt ta quá, là người đã mua được bộ sách Hán “Thanh tâm tài nhân”, việc nầy tôi đã nói rồi nhưng xin cho tôi nhại lại, và thưa với Lê Thành Khôi và tác giả quá cố bộ V.N.S.L. rán theo tôi, nói “truyện Kiều có từ năm 1802, đời Gia Long nguyên niên, nói làm vậy là nói vắn tắt cho gọn và cho được việc, còn tò mò như tôi, dựa theo nghề khảo cổ, làm tôi bắt nhớ Nguyễn Du năm 1802, tâm thần đang loạn rối, có một cha chức Tham tụng triều Lê cũ, một anh là sủng thần chúa Sâm, trong hàng anh và em khác, kẻ theo Tây Sơn cũng chết, kẻ chống lại cũng bị giết, bản thân Du chạy theo vua Chiêu Thống thì vua đã bỏ chạy xa vời không theo kịp, ở lại thì tiêu tan sự nghiệp dòng họ, bản thân chứng kiến cảnh rùng rợn khoa bảng kẻ vào tù kẻ bị đánh đòn. Tôi không dám giẹ hẹm, chỉ nhớ Du phải đợi buổi đi sứ trở về, như con cá thia thia được ngon nước, lên sắc, phình xòe, phùng mang đá bóng, chừng ấy mới trực nhớ cảnh binh Tây Sơn khi ra Bắc cũng ngồi nghe hát cô đầu, Hồ Tôn Hiến, Từ Hải mới hiện và hiển hiện dưới ngọn bút xuất kỳ, để lại: “Giờ ra thay bực … ” “Tức gan muốn đạp” “thân lươn bao quản”, “phòng khi nước đã”, “sớm khuya khăn mặc”, “than sao thân đến”, v.v .. và v.v .. , tôi sao nhớ cho đủ? Theo tôi hiểu riêng, bao nhiêu ý thâm, bao nhiêu câu nắn nặn tình tứ, phải có rơi nước mắt thật nhiều mới xét nghĩ ra, và tiện đây xin nói liền, đừng viết và nói vua Tự Đức không thích và ghét Du câu “Thì con người ấy, ai cầu làm chi?”, câu nầy khi Du viết thì vua chưa sanh, làm sao ghét được? Viết đến đây, bỗng giựt mình, tôi đã làm chướng mắt độc giả không ít, với những lời bàn thừa thãi, nay xin trở lại tình cảnh người bạn nhỏ đang bị giam cầm cũng vì tội ham mê đổi chác đồ cổ và tưởng lượng trên xin khoan hồng, tôi rất tin, tuy không là dị đoan, nhưng tôi tin đồ cổ rất linh và vẫn có cô hồn, tôi bị trộm, đi thưa chưa chắc gì kiếm lại được, thà phí phà cho nhẹ bớt lòng lo, còn chú bạn nhỏ nầy, cũng nên tha cho về và trả lại các vật đã thâu. Cổ vật, cổ ngoạn, trừ những vật thuộc loại quốc dụng, loại thuộc sử liệu quí hiếm, thì xin cứ việc cho dân chơi líp (libre) miễn đừng thầm kín bán ra ngoại bang, hoặc như muốn bán, thì nên bán cho viện bảo tàng trả đúng giá giữ làm mẫu, hay là trình viện bảo tàng cho người lão luyện xem xét và cho giấy chứng nhận bán ra y như ở Paris, lúc tôi qua đó và đã chứng kiến tận mắt. Tôi đã thấy áp dụng quyền thâu lại cho viện bảo tàng chờ đấu giá và đến giá cao chót, viện sẽ mua lên, không thiệt hại cho người bán, đó là luật pháp gọi “droit de préhension” và một luật nữa là droit de priorité là quyền mua trước tiên sau khi viện thương lượng và thuận tình với người chủ bán.

Tạm kết luận.

Nhơn năm ni là năm Quí dậu 1993 cũng gần hết, với tuổi 92, như con cáo già sắp trở đầu về núi, chưa biết đó là ngày nào, xin nhắc lại vài quí dậu, cớ sau việc biến chuyển như con chong chóng, các bạn trẻ người nào chưa ra nước ngoài, nghe tôi kể đây cũng “lời quê chắp nhặt” đọc ngày xuân đỡ buồn.

Năm Quí dậu 1813, Nguyễn Du gặp sách hay, nghĩ ra và viết truyện Kiều, tôi xin chừa cho người cao kiến xét lại. Năm Quí dậu 1873, cái hoa niên 60 năm ấy sao mà quá sôi nổi? Năm 1862, ba tỉnh miền Đông trong Nam bị Tây lấy; năm 1867, Phan Thanh Giản tự uống á phiện lấy sự liều mình để cho nhà vua giừ tròn chữ Hiếu, con nhà học trò giữ đạo Khổng Mạnh làm vậy, còn hàng quan võ thì Nguyễn Tri Phương, Trương Định, kẻ moi ruột kẻ tự bắn hay cắt cổ cho tròn chữ Trung, Hoàng Diệu tự treo cổ, năm 1874, hiệp ước triều Huế ký với Pháp nhưng cớ sao nhà cầm quyền Pháp lụi đụi nấu chảy ấn bạc của nhà Thanh và không biết gởi trả ấn ấy cho Trung Quốc tự liệu, chắng là cao kế hơn chăng?

Và đến năm Quí dậu 1993 còn mấy tháng cũng hết, sao xảy ra đó đây lắm chuyện động trời, sụp đất, lũ lụt, chết người, tôi xin để độc giả chiêm nghiệm lấy. Ngồi buồn, lấy ra quyển sách Pháp nhan đề là “Trois siècles de ventes publiques” (Ba thế kỷ bán công khai cổ vật quí, tác giả là Beurdeley có qua đây và có ghé nhà, thuật lại rằng: “có một chén nhỏ có chưn (coupe), bề cao chỉ độ bảy phân bảy ly thước Tây (7,7cm), hiệu đề “Thành Hóa” (1465 – 1487), vẽ vời hoa dây xanh đỏ, trước kia năm 1937 một người tên là Pairfax xuất tiền mua giá 28 guinées (hai mươi tám bạc vụn nước Ăng lê, và vào ngày 25-11-1980, đưa ra bán đấu giá thâu được 4.200.000 HK $, tức bốn triệu hai trăm ngàn đô la Hồng Kông, tương đương 4.800.000 francs lourds Pháp (bốn triệu tám trăm quan nặng của Pháp), trang 205 sách đã dẫn, món ấy số 198 có in ảnh, tôi chép lại câu sách Pháp:

“Petite coupe à vin, dite stemcoup, en émaux doucat ét bleu sous couverte, avec marque Chenghua (1465 – 1487), au revers. Achetée 28 guinées lors d’une vente en Angleterre en 1937, par un dénommé Pairfax, elle atteindra le prix des 4.200.000 HK $ (soit environ 4.800.00 F.F. (avec les frais de vente, le 25 novembre 1980, payé par un amateur indonésien”.

Porcelaine, H. 7,7 c/m, Possesseur actuel non identifié (theo sách đã dẫn).

Một cái tin quá giựt gân như vậy, hỏi có làm loạn trí người chơi cổ vật xứ nầy hay chăng. Và như vậy cổ vật cổ ngoạn đã có người đeo đuổi ham chơi, đấu giá qua lại giành giựt và chuyền tay nhau bên Âu châu đã có trên ba thế kỷ.

(viết ngày 28-5-1993)

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 21 Nov 2025

Bài 40

Trong rừng

Trước khi mặt trời lặn, tôi vội vã tiến sâu vào rừng, vừa bơi, vừa đi vì ở đây vẫn còn lớp bùn cứ muốn hút lấy người ta. Nước vào rất sâu trong rừng, và đêm đã xuống, mà người tôi vẫn chưa khô. Một mùi thối úng sộc vào mũi tôi và thán khí bốc lên làm tôi bị cay mắt. Chân tôi ngập đầy cỏ và lá cây. Tôi vẫn đẩy cái bao tải của tôi. Mỗi lần tiến một bước, tôi lại lấy bàn chân dò khoảng đất ở dưới nước, chỉ khi nào không thấy đất lún, tôi mới bước lên.
Tôi qua đêm đầu tiên trên một cây to. Rất nhiều con thú đi phía dưới tôi. Cả người tôi nóng hừng hực và như bị chín khắp nơi. Sau khi kéo bao tải lên thân cây và buộc chắc hai đầu vào cây, tôi lấy áo va-rơi ra mặc. Trong bao tải là nguồn sống, vì chỉ bổ dừa là tôi có cái ăn để lấy sức chịu đựng. Tôi buộc con dao phát vào cổ tay phải của tôi. Tôi nằm dài trên cây, người mệt lả, giữa hai cành cây tạo thành cái hốc, và tôi ngủ thiếp đi không kịp nghĩ đến bất cứ việc gì. Không, có lẽ tôi còn lẩm bẩm hai ba lần: “Tội nghiệp cho Sylvain” trước khi ngủ như chết.
Tiếng chim đã đánh thức tôi dậy. Nắng chiếu xiên ngang rất sâu vào rừng: Vậy thì bây giờ phải là bảy tám giờ sáng. Xung quanh tôi toàn là nước; vậy là nước thủy triều đang lên. Có thể là đợt nước lên lần thứ mười đang chấm dứt.
Tôi rời đảo Quỷ đã được sáu mươi giờ. Tôi không nhận ra chỗ tôi có ở xa biển không. Dù sao tôi cũng phải chờ cho nước rút để ra bờ biển hong cho khô người và tắm nắng. Tôi không còn nước ngọt. Tôi ăn nốt ba miếng cùi dừa còn lại rất ngon lành, tôi lấy dừa xoa lên các chỗ đau. Cùi dừa có chất dầu, làm dịu các vết bỏng của tôi. Rồi tôi hút hai điếu thuốc. Tôi lại nghĩ đến Sylvain lần này còn xót xa hơn. Trước hết, đáng lẽ tôi không nên rủ bạn cùng vượt ngục thì hơn? Vì tôi vẫn có tham vọng tự mình xoay xở lấy. Nếu vậy, sẽ không có gì thay đổi, chỉ có điều là một nỗi buồn mênh mông làm tim tôi thắt lại và tôi nhắm nghiền hai mắt, tưởng chừng làm như thế tôi sẽ không còn trông thấy cảnh bạn tôi sa lầy nữa. Đối với anh, thế là hết. 
Tôi đã nhét chắc bao tải vào chạc cây, bắt đầu lấy trái dừa ra. Tôi lột vỏ được hai trái bằng lấy hết sức đập mạnh dừa vào thân cây giữa hai chân tôi. Phải đập ở khoảng đầu trái dừa mới bửa nó ra được. Dùng dao phạt càng tốt. Tôi ăn cả một trái dừa tươi và uống chút nước dừa ngọt lịm. Nước rút rất nhanh, và chỉ lát sau tôi đã có thể dễ dàng đi trên bùn để ra bãi biển. 
Ánh nắng thật rạng rỡ, và hôm nay biển đẹp không lấy gì so sánh nổi. Tôi nhìn mãi về nơi mà tôi cho là Sylvain đã chìm xuống. Quần áo tôi đã khô, người tôi sau khi được kỳ cọ ở một hố nước mặn cũng đã khô. Hút xong một điếu thuốc, tôi nhìn lần cuối nơi đã chôn vùi bạn tôi, rồi đi vào rừng, bước không khó khăn lắm. Bao tải trên vai, tôi từ từ đi sâu vào lùm cây. Sau hai giờ, tôi thấy một khoảng đất mà nước không bao giờ tới. Dưới gốc cây, không có một vết tích gì chứng tỏ nước thủy triều tràn vào tận đây. Tôi sẽ cắm lại đây để nghỉ hẳn hai mươi bốn giờ. Tôi bổ dần các trái dừa, nạo cùi và cho tất cả vào xắc đề khi muốn là ăn được ngay. Tôi có thể châm lửa, nhưng tôi nghĩ làm như vậy là không thận trọng.
Phần còn lại của ngày và đêm hôm đó đã trôi qua vô sự Tiếng chim ồn ào đã đánh thức tôi dậy. Tôi nạo nốt cùi dừa rồi đi về hướng đông, vai mang xắc. 
Khoảng ba giờ chiều, tôi thấy một con đường mòn. Đây là một con đường nhỏ của những người đi kiếm balata (một thứ nhựa cây thiên nhiên) hoặc đi khai thác gỗ, hoặc đi tiếp tế cho những người đi tìm vàng. Con đường hẹp nhưng quang đãng, không có những cành cây chắn ngang, nghĩa là thường có người đi lại. Thỉnh thoảng lại có vết chân lừa hay la không đóng móng. Những chỗ bùn đã khô, tôi để ý thấy có vết chân người, ngón cái hằn rất rõ nét trong đất sét. Tôi đi cho đến khi trời tối, miệng nhai cùi dừa vừa để nuôi dưỡng cơ thể vừa để khỏi khát.

Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên  

Post by Sơn râu 21 Nov 2025

Chương 17

Duy chỉ còn một điều là ở phía Tây, Đồng Minh đột nhiên dừng lại ngay cửa ngõ đi vào Đức Quốc, cuộc dừng quân nầy sẽ kéo dài bao lâu? Chúng tôi hết sức nôn nóng, vì tất cả đều mong muốn được giải thoát càng sớm càng hay. Nhất là mùa hè đã chấm dứt và những cơn mưa đầu mùa đã bắt đầu.

Và trong khi chúng tôi rình rập trong âu lo mỗi tin tức, một tai vạ lại giáng lên đầu chúng tôi vào cuối tháng 9, lúc chúng tôi nghe được một diễn văn của Churchill, (thủ tướng Anh quốc) trong đó ông ta tiên đoán cuộc chiến tranh có thể chấm dứt vào đầu năm 1945. Báo chí Đức có thể nói láo và bịa tin giả. Một tù nhân Bỉ, thợ mộc, trong công tác sửa chữa văn phòng một sĩ quan, đã bắt gặp y đang nghe chương trình của đài Luân-đôn bằng Đức ngữ. Cũng biết tiếng Đức, anh ta đã nghe một bài bình luận về bài diễn văn nầy. Đó cũng có thể là một sai lầm nữa. Nhưng André lại nói với tôi chính tai anh có nghe chương trình ấy khi ông chủ của anh vắng mặt, vậy thì không còn có thể nghi ngờ gì nữa. Đoạn diễn văn làm chúng tôi xúc động có nội dung như sau “Chúng ta hy vọng chiến thắng cuối năm nay, nhưng chiến tranh chỉ có thể chấm dứt trong những tháng đầu năm 1945”. Một vài người chỉ suy xét về câu đầu tiên thôi, nhưng chúng tôi lại sợ vì phần thứ hai của câu tuyên bố đó, vì thế trong khi chúng tôi giữ im lặng, vài người đã mang tin ra tiết lộ cho bạn bè. Vả lại, phía những tù Tiệp khuc cũng đã biết tin và trong vài ngày cả trại đều biết rằng không những chỉ phải chuẩn bị cho mùa Thu mới bắt đầu mà còn cho cả suốt mùa Đông dằng dặc nữa. Tất nhiên nhóm bi quan đã xem tin nầy là quan trọng và một sự hỗn loạn đã manh nha. Tờ báo cũng trích báo chí Mỹ, tiên liệu một ngày chiến tranh chấm dứt xa hơn nữa trong năm tới. Và để xác nhận các tin ấy, luôn luôn là sự im lặng tại hai mặt trận.

Và như là định mệnh nhắn báo cho chúng tôi biết rằng mình là các tử tội chịu án treo, vố nầy đến vố khác, nhiều biến cố như là dấu hiệu báo trước, đã dồn dập xảy đến trong những ngày tiếp theo bài diễn văn của ông Thủ Tướng Anh. Barberon là nạn nhân đầu tiên. Anh ta phải trả giá cho một sự phớt tỉnh rất nguy hiểm. Từ một tuần nay, khi đến công trường anh ta đến một dãy trại mà bọn SS muốn thay toàn thể hệ thống điện thắp sáng. Anh được lựa chọn bởi vì toán phụ trách về điện luôn luôn bận rộn. Ông bạn “Bob” của chúng tôi giữ thói quen ngồi nghỉ trong khi chờ đợi những người làm việc trong dãy trại đến lúc bảy giờ hay đôi khi trễ hơn nữa. Khi tôi nói với anh ta làm thế là nguy hiểm, anh trả lời “tôi luôn luôn có dụng cụ trong tay và tôi canh chừng chứ”. Anh ta canh chừng hay đến nỗi một lần, một tên SS bắt gặp anh ngủ say trên một chiếc ghế, một cuộn dây quanh cổ, cái kềm trong tay. Tên SS không phải là một tên thô bạo mà là một tên rất tinh tể. Y cho gọi vài tên Kapo chuyên nghiệp trong việc đánh đòn tù nhân, cả bốn tên cùng đánh thức Barberon. Không những chúng đánh thức anh mà chúng còn làm anh ngủ lại bởi vì cuối cùng anh không còn nhìn rõ nữa. Trong vụ đánh đập, vật mà anh dùng làm bóp (một tấm giấy cạc-tông gấp lại trong đó chúng tôi cất dấu một bức thơ hoặc một vật nhỏ nhặt nào nhắc lại dĩ vãng của mình) rơi khỏi túi áo vét của anh. Xui cho anh là một tên Kapo đã lục soát và khám phá thấy một bản đồ các cuộc hành quân phía Tây cắt trong báo. Trong văn phòng có bản đồ và báo, nhưng một tù nhân có thứ nầy trong người là phạm trọng tội và lập tức các danh từ “chính trị”, “phá hoại” được nói đến. Để tỏ lòng tận tụy với chủ, tên Kapo phất mẩu giấy như một chiến lợi phẩm và trình cho tên SS bỏ đi từ đầu lúc đó mới trở lại. Trong vài giây đồng hồ, số phận của bạn chúng tôi dược quyết định trong óc của tên Đức. Bọn giám ngục đã lên án treo cổ và có lẽ đó là hình phạt dành cho anh. Tên SS nhìn anh và có lẽ tình trạng của anh lúc đó đã gợi nơi y một phần ngàn gam tình thương, vì y chỉ phạt anh một cách cổ điển: 25 roi ở xuống, Paul, tên: Kapo gốc ở Alsace được kêu đến, y là kẻ đảm trách phần vụ thi hành ấy, và một Barberon bị thương tích phải nhận hai mươi lăm roi bằng loại dây cấp đã được chọn lựa một cách quá đáng, làm mông anh nhuộm máu. Người ta tưởng mông là nơi nhiều thịt sẽ làm giảm sức roi, không phải vậy. Phải cần nghe tiếng rú của người bị hình phạt nầy mới biết được nỗi đau đớn như thế nào. Để chấm dứt, tên SS tuyên bố anh phải đổi qua biệt đội khác, và hôm sau anh bạn chúng tôi mắt tím bầm vì bị đánh đập, môi sưng và đầy máu, áo quần rách tả tơi, và đi đứng khó khăn, bắt đầu một ngày làm việc thuộc loại cực khổ nhất tại đường rầy xe lửa. Đó là một công việc vừa nặng nhọc vừa nguy hiểm vì thường có những vụ dập chân do việc đặt đường rầy sai chỗ.

Câu chuyện tầm thường nầy (khắp công trường đâu cũng có hình phạt đó vì vô số lý do khác nhau) đã có tác dụng mạnh đối với chúng tôi vì tấm bản đồ tìm được trong người Barberon đã làm Gestapo chú ý đến biệt đội của chúng tôi. Cho đến lúc đó chúng tôi vẫn được xem như là đáng nể vì có nghề chuyên môn, nhưng nếu có cuộc kiểm soát tổng quát đo một tù nhân Đức làm tay sai cho Gestapo thì ảo tưởng về chúng tôi sẽ bị sụp đổ. Chắc chắn đã có sự tiết lộ nào đó. Chắc chắn là giữa tù nhân với nhau, ai cũng biết chúng tôi đọc báo, nhưng một vài người làm ra điều ta đây biết nhiều tin tức đã quả quyết mỗi khi có tin mới: “tin nầy do bọn thợ điện cung cấp mà”. Mặc dù đã thận trọng, chúng tôi cần phải siết chặt hàng ngũ thêm. Chúng tôi quyết định không nói chuyện về các biến cố lúc đứng chờ tàu trên sân ga nữa, vì ở đó nhiều lỗ tai không kín đáo có thể nghe lỏm, mà chỉ bàn với nhau trong khi làm việc và buổi tối trong khối.

Một việc không hay khác lại xảy ra. Một buổi chiều, khi chúng tôi đi làm về, thay vì cho giải tán sau khi vào cổng trại, chúng tôi lại phải diễn ngang qua một cái gì trông từ đằng xa giống một đống thịt và áo quần lẫn lộn. Nhiều lính canh đứng cạnh, và khi đi ngang qua, chúng tôi nghe một trong bọn chúng lặp đi lặp lại “chiến tranh chưa chấm dứt, chiến tranh chưa chấm dứt” hắn có nhiệm vụ hét lớn câu đó trong khi ngón tay duỗi thẳng chỉ vào đống thịt bất động kia. Một lát sau tôi được giải thích về màn trình diễn ấy. Một tù Pháp và một tù Nga trong cùng một biệt đội đã tìm cách vượt ngục vào buổi chiều. Lập tức bọn SS cùng với chó săn có mặt tại công trường lên đường đuối bắt. Nếu thoát khỏi địa điểm làm việc là một chuyện dễ thì sự vắng mặt của một hoặc hai tù nhân sẽ được nhận biết một cách mau chóng. Thật vậy, trong ngày bọn Kapo và bọn cai kiểm điểm số lượng tù dưới quyền kiểm soát của chúng nhiều lần và kẻ nào muốn trốn thoát phải đối phó với yếu tố thời gian, với bộ quần áo có sọc, với một tập thể dân chúng có ác cảm và với tình trạng không một xu dính túi. Khi họ đã vượt qua được nhiều cây số, hai tay liều mạng bị một toán học sinh rong chơi ngoài đồng bắt gặp. Chúng báo hiệu ngay và điện thoại reo vang. Không đầy một giờ sau họ bị bắt lại bởi toán tuần tiễu đang đi lùng họ. Bị đánh gục, trói chặt, họ bị đưa về trại, ở đấy hình phạt chính thức đang chờ họ. Để làm gương cho chúng tôi, bởi vì các hình phạt thay đổi luôn, viên chỉ huy trại, tên bạo chúa Néron tân thời, quyết định cho chó cắn họ. Chúng là loại chó giữ nhà to lớn, luôn luôn bị khích động, được huấn luyện đặc biệt với các hình nộm mặc đồng phục của chúng tôi. Chúng nhảy chồm lên hai người vượt ngục, họ không thể tránh né gì được, vả chăng họ cũng đã kiệt lực. Khi họ bị chó cấu xé vừa đủ để không còn động đậy gì được nữa, bọn SS kéo chó lại, chúng không muốn chó thanh toán họ, vả lại chúng không muốn họ chết. Các xác chết lúc nầy không làm chúng tôi xúc động nữa, tuy nhiên hai sinh vật bị xé nát, còn thoi thóp thở là một cảnh chắc chắn làm chúng tôi hãi sợ hơn để không dám trốn hoặc nổi loạn, và trước khi chúng tôi trở về, hai thân người được để giữa sân, đợi chúng tôi đi qua. Khi tất cả chúng tôi đã đi qua, bạn bè của hai nạn nhân mới được phép đưa họ xuống bệnh xá. Thân mình họ qua áo quần tả tơi, nhuộm đầy máu, và những mảnh thịt bị xé rách còn đong đưa. Một chấn động thần kinh làm họ động đậy, dấu hiệu cho thấy họ còn sống. Nhưng họ không thể nói một tiếng nào, họ kinh hãi và đau đớn quá.°

Thần chết vẫn tiếp tục tung hoành với một nhịp độ đều đặn đáng sợ. Từ mười đến mười lăm người mỗi ngày trong tháng 8, con số lên đến từ hai mươi đến hai mươi lăm người mỗi ngày vào hạ tuần tháng 9. Ba ngày một lần, một xe vận tải để chở xác họ đến lò hỏa thiêu ở Dora. Bệnh kiết lỵ luôn luôn tấn công vào một chút sức khỏe cuối cùng còn lại trong cơ thể rã rời của tù nhân. Người Bỉ và Pháp cung cấp nhiều nạn nhân nhất. Trong khối chúng tôi cũng như trong các khối khác, chế độ nửa khẩu phần đã làm mọi người ốm teo thêm trông thấy và cuộc sống thường trực tại một nơi thiếu không khí đã làm da họ có một màu giống như màu da của xác chết. Suốt ngày, họ bị trần truồng, Những kẻ may mắn nhất, có được một mảnh mền phủ trên lưng. Họ có thể suy gẫm về cái đói, cái khổ và ngày lại ngày, người ta có thể theo dõi sự suy tàn của tinh thần và thể chất của họ. Buổi tối khi thấy chúng tôi đi làm về, họ trông giống như các hồn ma, nhào đến chúng tôi để hỏi một câu đầy lo lắng “có gì mới lạ không?”. Trả lời làm sao đây? Chỉ có các cuộc oanh tạc, các bài diễn văn, nhưng không ai còn chú ý đến các sự kiện ấy nữa.

Vào giữa tháng 12, một tâm trạng cuồng nhiệt thật sự xâm chiếm chúng tôi, ngay cả những người bị bệnh hoạn nhất. Dường như đối với chúng tôi, đạt đến tới năm 1945 là tượng trưng cho sự chịu đựng thống khổ tối đa, và sau đó, những tháng của mùa xuân sẽ dễ chịu đựng hơn. Và rồi thì có một điều mà chúng tôi chờ đợi từ ngày tuyết rơi đầu tiên, đã nâng cao tinh thần chúng tôi đôi chút: Cuộc tấn công của Nga sô. Mặt trận Miền Đông, trong khu vực ở giữa, khu vực quan trọng nhất đã bất động từ tháng 8, đã 4 tháng trôi qua, và chúng tôi cảm thấy một cuộc tấn công sấm sét sắp xẩy ra. Về phía Tây, lực lượng Đông minh có lẽ đã thấy rằng phòng tuyến Siegfried và lò thuốc súng ở Rhonanie không phải là một chuyện dối trá, bởi vì bộ chỉ tiến được từ 3 đến 500m mỗi ngày từ khi chiếm được Aix-la-Chapelle. Cuộc phản công của Von Rundstodt tại Bastogne 1 đã làm cho một vài bạn bè sợ hãi, những khi đọc báo, chúng tôi đã nhận định mau lẹ. “Một canh bài Poker với số tiền đặt thật lớn, nhưng trước một đối thủ không nhường bước vì trò bịp, không thể nào tiếp tục được vì phương tiện”; đó là ý định của Hitler nhằm phá vỡ vòng vây trong đó chúng tôi bị lọt vào cùng với dân Đức lẽ tự nhiên là Gustave, viên kỹ sư, đã say sưa vì chuyện đó, anh ta đến kiếm tôi và bày tỏ sự vui vẻ:

– Tôi đã nói với anh là chẳng bao giờ họ vượt được phòng tuyến Siegiried cả. Chúng tôi chỉ chiếm trong 38 giờ nhưng gì bọn Mỹ phải để 2 tháng mới chinh phục được. Đến lễ Phục sinh, chúng tôi lại sẽ trở lại Ba-lê.

Cũng như mọi lần tôi để cho anh ta nói. Tôi có thể nói với anh ta rằng đó chỉ là một cơn khủng hoảng khi hấp hối, tiếng gáy của con vạc, tuy nhiên có làm cho một con ngựa thêm thông minh hơn khi nó chẳng thông minh tí nào, để mà làm gì? Cứ để anh ta như vậy, nhất là khi anh ta tỏ ra tốt bụng, và Gustave lại còn thành thật khi có thái độ như thế. Trước sự gầy mòn và đói khổ toàn diện của chúng tôi, Gustave là một trong số rất hiếm nhân viên dân sự đã bị xúc động, và khi có phương tiện, anh ta không quên chuồi cho người nào trong bọn chúng tôi có vẻ yếu đuối nhất một cái gì đó. Ít khi thấy anh ta quên mời tôi một điếu thuốc khi tôi nói chuyện với anh. Vậy thì tôi để mặc anh với các ảo tưởng riêng tư và tôi nghĩ “Người bạn Đức thân mến, từ nay đến lễ Phục sinh, tôi rất hy vọng là sẽ có chuyện mới lạ nhưng theo một chiều hướng khác…”

Mùa đông đến, mang theo tuyết và giá lạnh. Trong mùa thu, một vài hôm mặt trời chiếu trên các vòm lá cây màu đỏ, chúng tôi có được đôi lúc mơ màng. Bây giờ chỉ còn là màu tang tóc, màu trắng tuyết, màu đen của rừng thông, và bùn lầy bất tuyệt, và bầu trời xám ngắt không cùng. Một áo choàng ngoài cũng có sọc rằn rện, nặng vừa bằng một cân Anh là y phục phát thêm cho chúng tôi, và chỉ có người chết đi mới giúp được cho người sống khỏi phải đi chân không. Trong khối, bây giờ có chỗ rộng, tuy nhiên mọi người tự nguyện dồn vào nhau để bớt lạnh. Những người “không áo quần” đã được mặc, dù ít dù nhiều, nhưng những người còn sống. sau ba tháng thiếu ăn, không thể nào còn sức để đi được trăm bước. Toàn là các bộ xương được khoát ngoài một lớp da: đó là những gì mà họ có thể tượng trưng. Nhưng họ không muốn buông trôi xuống dốc. Họ chịu đựng sự tra tấn thường trực. Họ không còn bị gọi đi điểm danh nữa, nhưng hai lần mỗi ngày, để tôn trọng bằng mọi giá qui ước đặt ra, một nhân viên đi qua các giường ngủ tay cầm danh sách và kiểm điểm các thân xác nằm bẹp suốt ngày. Người ta có thể cho họ là những kẻ cuồng tín nhất thuộc Gandhi. Tên SS phụ trách khối chúng tôi đã có ý nghĩ như sau khi ngắm họ:

– Tôi nghĩ rằng nếu người ta không kết liễu họ, họ sẽ không bao giờ chết.

Và một người trong số nầy đã nói với tôi:

– Khi nghĩ rằng trong nhà tù tại Pháp, người tự hào: bị kết án thế nào cũng được, nhưng miễn là đừng chết. Tuy nhiên, thà rằng nhận mấy viên đạn hay qua ba phút trong phòng hơi ngạt còn hơn là như chúng tôi bây giờ, cứ trông thấy cái chết đến chầm chậm hàng tuần có khi là hàng tháng. Thà rằng họ mất hết tất cả thức ăn còn hơn là chế độ nửa khẩu phần, tôi tự hỏi không biết có phải họ cố ý cho chúng tôi ăn như thế để kéo dài cơn hấp hối của chúng tôi không. Chúng tôi cũng không thể tự tin được, có người nói tử tù là hèn nhát, chúng tôi thì nghĩ rằng chúng tôi thiếu can đảm để tự tử.

Dầu là can đảm hay hèn nhát, một người Do Thái cũng đã chứng tỏ, khi đâm đầu vào dưới con tàu đưa chúng tôi đến công trường lúc anh ta vừa đi làm trở lại. Thân mình anh bị cắt làm đôi. Chuyện nầy xẩy ra trong một buổi sáng sương mù lạnh lẽo, trong khi chờ đợi cổng xe lửa được mở trên đường chúng tôi đi. Chúng tôi chỉ bước tới theo linh tính như một bầy cừu sợ cơn bão và nhìn một người vừa rời chúng tôi, một vài người thử đoán xem trong cái nhìn của bọn lính canh có chút lòng trắc ẫn nào báo trước tấn thảm kịch đó không, nhưng chính bọn nầy cũng không biết mình đang ở trong một thế giới nào. Và rồi còn có một điều nữa là người ta đã nhồi vào đầu óc những người lính canh ấy ý tưởng theo đó tất cả chúng tôi rồi sẽ phải bỏ mạng cả trong các trại tập trung, và những tên “khổng lồ” nầy những tên ngu độn, thô bạo ấy, cũng run rẩy trong bộ quân phục trước một thượng cấp có cấp bậc nhỏ nhất. Chúng sợ thượng cấp chúng nhiều hơn chúng tôi sợ các tên nầy gấp bội, mà đôi khi chúng tôi buồn cười trông thấy chúng điều động lực lượng để canh giữ chúng tôi, những thân xác chỉ cần một cái xô đẩy nhẹ cũng văng xuống đất.

Ngày lễ Giáng Sinh, lễ lớn nhất ở Đức, đã có giá trị đối với chúng tôi bằng một cuộc điểm danh kéo dài sáu giờ liền. Trời lạnh đến hai mươi độ dưới không độ, và tôi hoàn toàn quên rằng mình có đôi chân. Thật là mệt mỏi khi phải dẫm chân một chỗ trên một mặt đường xấu, nhưng vì chúng tôi yếu quá chỉ có thể chống lại cái rét bằng cách đó. Một sự lầm lộn trong khi đếm đã đưa đến quyết định đó của tên chỉ huy trại. Bị gọi tập họp lúc mười một giờ và thường lệ sẽ được giải tán nửa giờ sau, tuy nhiên hôm đó mãi đến mười bảy giờ chúng tôi mới được giải tán. Hàng chục người ngã gục trong hàng vì bị đông máu hay bị đói lả. Nhưng chết hay sống, chúng tôi cũng phải chờ tiếng còi giải thoát. Tình cờ trong sự di chuyển đã đặt tôi đứng gần một người Áo, ông ta là người luôn luôn từ chối một chỗ làm trong số nhân viên, mặc dù ông có quyền được hưởng. Ông là thủ kho của công trường, bằng lòng với số phận của mình, vì như thế ông khỏi phải canh giữ các bạn đồng tù tội, một chứcvụ mà ông ghê tởm. Ông ta cũng như chúng tôi chỉ lãnh khẩu phần tối thiểu, nhưng từ tám năm nay ông đã quen và cơ thể của ông chống chỏi được. Trong khi tôi nguyền rủa buổi chờ đợi bất tận này nhất là nguyền rủa cái rét, ông chỉ cười, dường như không có cảm giác gì cả. Và vì có thể nói chuyện mà không bị lưu ý, ông nói với tôi:

– Đó chỉ là một trò chơi nhỏ.

– Nhưng, tôi trả lời, nó đã kéo dài hơn ba giờ rồi và mình không biết nó sẽ chấm dứt lúc nào.

– Ờ! Ông ta nói, nó sẽ không bao giờ lâu hơn một cuộc điểm danh mà người ta đã bắt chúng tôi chịu dựng năm 1941, tất cả những tù nhân kỳ cựu đều không quên được. Phải rồi, hồi đó chưa có người Pháp.

Câu chuyện nầy, tôi đã được Jacoh, trưởng khối 58 của tôi kể lại hồi còn ở Buchenwald, nhưng vì lễ phép tôi để cho ông bạn người Áo nói, biết rằng cuộc thử thách đó đã ăn sâu vào trí nhớ của những người trong cuộc như thế nào.

– Một tối, đúng vào mùa đông, khi đi làm về, cuộc điểm danh diễn ra như thường lệ trước 19 giờ nhưng đã kéo dài một cách khác thường. Sau hai giờ chờ đợi, tên chỉ huy trại loan báo trên máy phóng thanh rằng trong chuồng heo thiếu mất hai con, y lên án, không những chỉ năm tù nhân Ba Lan phụ trách coi sóc heo, mà cả trại. Vì tội đồng lõa, vì, y nói thêm, rằng năm người không thể nào ăn hết hai con heo trong một đêm. Y đợi kẻ phạm tội đứng ra thú nhận. Mà, làm sao anh lại muốn rằng những người kiệt lực sau một ngày làm việc và sung sướng vì ngày đã hết để được ngốn một lít súp, lại có thể biết chuyện gì xảy ra trong một chuồng heo dùng để tiếp liệu cho Bộ chỉ huy của trại tập trung. Chính là bọn SS với sự đồng lõa của tên chỉ huy trại đã ăn cắp hai con heo để buôn bán, gì đó tôi không rõ. Vì lẽ việc bí mật cáo giác và mạng sống của chúng tôi bị đe dọa vì vụ nầy, chắc chắn là vụ chợ đen, tên chỉ huy trại lên án một cách đơn giản rằng chính tù nhân là tác giả vụ ăn trộm. Và anh biết kết quả ra sao không? Năm người Ba Lan bị treo cổ. Còn chúng tôi thì phải đứng suốt đêm và dưới thời tiết lạnh hơn bây giờ nhiều. Một ngàn năm trăm người đã ngã gục; một tên SS đến và đập vào các người đã ngã để thử thách sự yếu đuối của họ.

“Đến sáu giờ sáng, sau 11 giờ đứng chờ, công việc lại chờ đợi chúng tôi; có hàng trăm xác chết đông cứng, nhưng nhục hình chính còn chờ đợi chúng tôi. Năm ngày không ăn không uống mà vẫn phải làm việc; ba ngàn người khác ngã ra chết và những người còn sống cũng không hơn gì. Đến ngày thứ sáu, chúng tôi khóc như trẻ con trước khẩu phần bánh mì. Do đó anh hiểu rằng tại sao tôi không ngăn được khỏi buồn cười khi tôi thấy anh tỏ ra bồn chồn. Và suy cho cùng, nếu chúng ta nằm trong khối, chúng ta có lẽ đang nói lảm nhảm về các chuyện Giáng Sinh và chuyện đó sẽ làm ta buồn lòng thêm. Ở đây, chúng bắt ta hít thở một ít không khí trong lành, có lẽ như thế tốt hơn.

Ông ta đã bị bắt ngay sau “vụ Anschluss”, bởi vì, là một thương gia, ông đã từ chối treo một bức hình Hitler trong cửa tiệm. Ông ta trạc tuổi 40 và không có ý niệm chính trị nào rõ rệt, có thể liệt ông vào nhóm Xã hội – Công giáo. Do tính tò mò tôi hỏi ông về bọn Đức:

– Phải, người ta có thể tận diệt cả bọn SS một cách có ý thức, mà không sợ trời phạt. Nhưng nhìn bọn Kapo thì bọn Đức không phải luôn luôn xấu. Lại còn có bọn Ba Lan, Bỉ, Pháp và nếu chúng ta coi bọn SS là kiểu mẫu của sự xấu xa, thì tôi có thể đảm bảo với anh là xứ nào cũng có đấy, và Đức quốc có nhiều hơn, thế thôi! Tôi đã học lịch sử, triết học thật nhiều, tôi mà biết nhiều chuyện, và ở xứ tôi, chúng tôi yêu tự do và đời sống đẹp cũng như ở Pháp vậy. Thế thì liệu anh có thể giải thích cho tôi biết tại sao tại Áo, tỷ lệ số người gia nhập đảng Quốc Xã lại cao hơn tại Đức không? Thế giới có lẽ chưa biết được chuyện đó, nhưng đó là sự thật chính xác. Vì chính những người Áo ấy, 15 ngày trước khi Hitler xâm phạm vào bờ cõi chúng tôi lại tuyên bố, trong một cuộc trưng cầu dân ý với một đa số 85% rằng họ ủng hộ một nền độc lập hoàn toàn. Tôi biết rằng anh không thể giải thích được, và tôi cũng vậy, nhưng tôi rất phật ý vì tất cả người đồng hương của tôi, và chán ngán nhiều chuyện. Nếu lại được thấy tự do tôi sẽ kính trọng tất cả những người hoạt động cho nghiệp đoàn và các tổ chức phục vụ quần chúng để giáo hóa quần chúng, như thần thánh! Họ kiên nhẫn biết bao!

Ông ta còn nói với tôi về Vienne, về các du khách Pháp, rất đông người hàng năm mang một bó hoa đông thảo đến nhà thờ Capucins, nơi giữ di hài của Quận Công Reichstad! 2. Người Pháp phần đông có khuynh hướng cộng hòa, anh nói thêm, nhưng họ tôn kính truyền thống ấy.

Lúc được lệnh giải tán, mọi người đều nhảy tại chỗ để làm cho chân hết cóng.

——————————–

1Đọc “Những trận đánh lịch sử của Hitler” – Sông Kiên Xuất bản – Sách đã in lần thứ II.
2Tước hiệu của người con trai của Nã-phá-luân đệ nhứt, từ sau năm 1814. Ngay sau khi chiếm đóng nước Pháp. Hitler đã ra lịnh mang di hài của Quận Công về Ba-lê.

Một trời một biển

vietmessenger.com

Nguyễn Tấn Hưng

Post by Sơn râu 21 Nov 2025

Phần 7. Đường về bến cũ

Trăm năm bia đá thì mòn…

Ðúng vậy! Tục truyền rằng ngày xưa vua Lê Thánh Tôn mở mang bờ cõi về phía nam đã khắc lên hòn Ðá Bia mấy chữ nhằm đánh dấu, rằng: năm Hồng Ðức nhị niên bờ cõi của nước ta đã tiến đến đây. Ngày nay, sau hơn những năm trăm năm, những lời khắc ghi lên bia đá kia đã mòn, lẽ dĩ nhiên, mặc dù hòn Ðá Bia vẫn còn trơ trơ ra đó. Núi Ðá Bia, thường được gọi là hòn Ðá Bia, chính là ngọn núi cao nhất trong vùng đèo Cả, khoảng ranh giới của hai tỉnh Tuy Hòa và Khánh Hòa. Tức giữa Phú Yên và Nha Trang, trên đường nam tiến. Ðối với lính tàu nói riêng và những người đi biển nói chung, tương tự như đỉnh Cù Mông, Mũi Nay (Cấp Varella)…, Ðá Bia là một trong những điểm chuẩn rất tốt dùng để làm point định vị trí.

Ðặc biệt hơn nữa là vùng này còn có vịnh Vũng Rô. Nơi mà trước đây khoảng hai năm, Hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã phát hiện và bắn chìm một tàu xâm nhập chuyên chở vũ khí rất lớn của Cộng sản Bắc việt. Hằng trăm tấn vũ khí đạn dược đã được người nhái lặn mò vớt lên. Một bằng chứng hùng hồn cho thế giới thấy rằng Mặt trận Giải phóng miền Nam chỉ là một công cụ lót đường cho phường xâm lăng phương bắc. Âu, quả là một chiến tích lẫy lừng trong quân sử Hải quân.

Dưới mắt Tần, Vũng Rô là một vịnh nhỏ hình cánh cung, với bãi cát trắng như bông, từ ngoài khơi nhìn vào lấp lánh như một vầng trăng lưỡi liềm. Phía sau lưng là ghềnh đá và rừng cây đổ ra tận biển, làm cứ tưởng Vũng Rô như chỉ đến được, độc đạo bằng đường thủy mà thôi. Giải đất hẹp đó là nơi đồn trú của một đơn vị hải quân Hoa Kỳ ở góc tây bắc và cũng là nơi cư ngụ của một làng đánh cá lụp xụp về phía nam. Bên ngoài vịnh có vài hòn đảo nhỏ chắn gió, cho nên mặt nước bên trong lòng vịnh thật là yên tĩnh. Ðến nỗi xem chừng như đây là một cái hồ bao la trong đất liền. Sóng gợn lăn tăn, thuyền câu bé bỏng. Nước biển nơi này lại trong vắt như mắt mèo, nhìn thấy luôn cả đáy sâu, cá lội từng bầy. Cái đẹp của thiên nhiên bao giờ cũng trầm lặng, tiêu dao.

Bởi Vũng Rô đẹp và nên thơ như vậy cho nên mười lần như một, mỗi lần dẫn sinh viên sĩ quan hải quân thực tập đi biển, các sĩ quan hướng dẫn đều cho Huấn luyện hạm Quá Giang HQ 451 neo tại đây. Lúc thì bận đi khi thì bận về. Một hai ngày hay ít nhứt nửa buổi. Vừa vui thú an nhàn và vừa được bảo đảm an ninh.

Nhưng, hễ chỗ nào có Mỹ đóng là chỗ đó bắt đầu ồn ào. Vì kể từ ngày thành lập căn cứ hải quân ở đó, mỗi khi đi ngang qua đây, hình như người ta luôn luôn thấy một vài tên lính Mỹ chơi trò trượt nước với những chiếc ca-nô nhiều mã lực. Vũng Rô bỗng dưng như không còn là phần đất của Việt Nam! Thuyền bè lảng vảng đến gần đều bị chận xét, lục lạo. Ngoại trừ những ngư dân đánh cá trong làng mà họ đã biết mặt, quen tên. Và ngoại trừ tàu hải quân Việt Nam, lẽ đương nhiên.

Tần cảm thấy buồn cho thân phận nhược tiểu của quốc gia mình, luôn luôn bị ảnh hưởng và chi phối bởi ngoại bang. Không Tàu thì Tây, không Mỹ thì… Nga, như chúng đang làm quan thầy ở miền Bắc nước ta. Có phải đây là một món nợ ngàn đời phải trả? Cho cái tội xâm lăng và đồng hóa các lân quốc Chiêm Thành, Thủy Chân Lạp tức Phù Nam theo tiếng gọi xa xưa? Nào ai mà biết được!

Giờ, không biết nguyên nhân từ đâu, lại đẻ thêm ra cái nạn Cộng Sản, Quốc Gia! Ðể hai bên con dân Việt, mặt đối mặt, hàng ngày tàn sát lẫn nhau. Bọn cường quốc, ngoại lai cứ coi Việt Nam như là một thí điểm cho các vũ khí tối tân mà chúng vừa mới sáng chế, phát minh. Tại sao người mình không thể ngồi lại nói chuyện với nhau? Mà bên nào cũng vậy, cứ phải tự tuyên dương và tâng bốc mình là tiền đồn của thế giới tự do, dân chủ? Ðể phần lớn anh em và bạn bè của Tần, những ai trong lứa tuổi bắt buộc phải cầm súng, không mấy chốc đã làm những kẻ ra đi mà không bao giờ trở lại! Vị quốc vong thân, hy sinh vì tổ quốc! Có mỉa mai lắm không? Khi kẻ thù của ta lại là những người cùng mang một dòng máu, cùng một màu da? Tần bất chợt thở dài, vì chàng chẳng biết rồi mình sẽ chiến đấu cho ai…

Tần gợi chuyện với Thắng và Thành:

– Ðất nước mình nhiều nơi đẹp quá tụi mầy hả?

Thắng không đồng ý:

– Sao lại nhiều nơi? Phải nói đất nước mình đâu đâu cũng đẹp, phải hôn Thành?

Có lẽ đang cùng mang một tâm trạng như Tần, Thành cũng không đồng ý với Thắng:

– Chưa chắc! Vì có nhiều chỗ đẹp thì có đẹp, nhưng mầy không được phép bước chân vào! Không được phép bước chân vào thì làm sao mà đẹp được? Với tao, tao không chịu nổi cái kiểu tụi Mỹ hay thành lập những khu tắm biển riêng, khu ăn chơi riêng cho bọn nó trên đất nước mình. Coi chừng có ngày nó dám để bảng “cấm chó và người Việt Nam” như hồi nào bọn liệt cường đã làm ở bên Tàu thì phiền dữ nghen!

Thắng bực dọc:

– Vừa phải thôi! Nó mà treo tấm bảng đó thì tao là thằng đầu tiên đi gỡ bảng xuống và tàn sát tụi nó ngay tại chỗ!

Thành chêm thêm:

– Thôi mầy ơi, mầy hãy nên học cách nhìn đời bằng con mắt thực tế một chút! Trước mặt mầy kia kìa, mầy nhắm mầy có làm gì được với hàng dây phao ngăn chia khu vực Mỹ tại biển Vũng Rô này hay không? Tao đố mầy dám xách tàu vượt qua hàng rào phao cái trắng cái đỏ đó!

Tần giảng hòa:

– Thây kệ mẹ nó! Nó đã chi tiền viện trợ cho mình thì nó phải có quyền rồi! Nhìn lại bản thân mình đi, từ đầu xuống chân có cái gì không “Made in U.S.A.” hay không? Ngay cả tiền lương hằng tháng của mình cũng vậy! Thân phận mình chẳng khác gì những tên đánh giặc mướn thì cũng không nên đòi hỏi nhiều điều chi cho lắm. Nè, tao hỏi tụi mầy lần này có chịu vô “bãi Tiên” hay không đây? Gì chớ chỗ đó tao bảo đảm không đẹp, không hấp dẫn, không lấy tiền! Tiền, tiền, tiền… Tất cả chẳng qua chỉ vì tiền thôi, tụi mầy đồng ý với tao không?

Tất cả chẳng qua chỉ vì tiền? Ðúng vậy, có tiền mua Tiên cũng được! Tư bản luận căn bản của bọn cường quốc tư bản đã nói như thế, theo Tần! Nhưng, bãi Tiên là đâu? Và tại sao là bãi Tiên mới được chớ? Kìa, hãy nhìn vào trong bờ, tiếp giáp với vịnh Vũng Rô về phía bắc là một vùng núi rừng cheo leo, không người ở. Tuy nhiên, sát biển lại hiện ra một bãi cát dài trắng xóa như bông xoài nở rực vào hè. Khuất nắng trong chòm lá, cành cây, xanh tươi mơn mởn. Và đó là bãi Tiên, do bọn Tần gọi như vậy. Ðặc biệt một điểm nữa là trước khi bọn Tần đến nơi, chốn tiêu sơ hoang vắng đó chưa hề có dấu chân người. Vì không có đường bộ hay ngay cả một lối mòn nào dẫn vào cõi mộng. Vì không ai có thể vượt qua những vách núi cao sừng sững kia ngoại trừ loài khỉ, vượn dài tay.

Người đi biển nói chung, dân lính tàu nói riêng, thường có cái hân hạnh được cái cơ hội khám phá và đặt chân trên những bãi cát hoang hay những hoang đảo lần đầu tiên. Tần cũng đã trải qua cái kinh nghiệm đó. Cái kinh nghiệm mà đất trời ngàn năm như bỗng dưng ngừng lại dưới chân mình. Ở một lần thực tập đi biển trước đây.

Lần này khác hơn, tàu neo lại Vũng Rô nghỉ xả hơi trên đường trở về từ Qui Nhơn. Nếu đem so với Qui Nhơn, như một người con gái mới làm quen, thì Vũng Rô đích thị phải là cô bạn láng giềng thân thương. Vẫn luôn luôn đem lại cho bọn Tần nhiều cảm giác đê mê, thích thú. Mặc dù cũng chỉ chừng đó ở bãi Tiên, nhưng mỗi lần ghé thăm là một câu chuyện mới, một cảm giác mới đã diễn ra. Không lần nào giống lần nào. Bởi vậy, Thắng hăm he:

– Bữa nay vô đó mà tụi mình không bắt được một con kỳ đà như cái đám đầu trâu mặt ngựa của trung đội 5 là dở!

Không bắt buộc phải theo ý Thắng, Thành phát biểu cảm nghĩ riêng của mình:

– Nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ đó, thịt kỳ đà chưa chắc đã ngon hơn thịt kỳ nhông! Ðã vậy lại khó “làm lông.” Rồi nếu không đủ gia vị tiêu hành tỏi ớt và cà-ri, thì miếng thịt ăn vô miệng sẽ hôi rình, tanh ói!

Tần chen vào:

– Giỡn hoài mậy, thịt kỳ đà ngon ngọt hơn thịt gà. Kỳ vừa rồi tụi nó có cho tao nếm qua. Mà chẳng biết tụi nó đào đâu ra củ hành, cà-ri, sả ớt…, ôi thôi đủ thứ, thơm phức. Không lẽ tụi nó chạy ra chợ Nha Trang mua dự trữ sẵn trước khi xuống tàu đi thực tập? Ðã vậy còn mang theo cả nồi niêu, xoong chảo? Tao chịu thua luôn!

Thắng quả quyết:

– Chớ còn gì nữa, muốn ăn thì phải lăn vào bếp! Ở trung đội 4 và trung đội 5 có mấy thằng tánh tình giống như đàn bà tụi mầy ơi. Tụi nó tối ngày chỉ nghĩ đến toàn là chuyện bếp núc, nấu nướng, chợ búa gì đâu không hà! Chơi với tụi nó thì chắc mẻm, khỏi lo cho cái bao tử bị đói.

Tần nhắc nhở:

– Nói gì thì nói, lát nữa đi tụi mình đừng quên lận theo một mớ muối và tiêu ration C nghen. Thiếu hai món đó thì kể như kỳ nhông nướng mất ngon.

Thành giục:

– Ê, vậy thì còn chần chờ gì nữa, tụi mầy? Hãy đi cụ bị lương thực lẹ lẹ lên, đặng còn nhào xuống you-you , vọt vô bờ chớ. Coi kìa, đám vô trước lớp nào săn nai trên núi, lớp nào bắn cá dưới biển… lô nhô, lố nhố như đám khỉ hợp bầy.

Thắng cười ha hả:

– Thì tụi mình rồi cũng như vậy chớ có khác gì ai mà bày đặt châm biếm người ta? Chán mầy quá, Thành ơi!

Mặt trời đã lên cao, lừng lững cõi từng không, tỏa rạng những tia hào quang chói lọi. Nắng ươm vàng mặt biển, long lanh phản chiếu những đốm sáng như muôn vạn đồng tiền nổi. Gió hây hây từ ngoài khơi phả vào, vẫn còn mang theo cái lành lạnh của đêm dài cho dù đã đi qua thật lâu. Một vài con hải âu cứ mãi theo tàu làm bạn, tiếp tục xoải nghiêng cánh nhỏ, bay lượn vờn quanh đài chỉ huy, cột an-ten ra-đa. Bộ ba Thành, Thắng và Tần, mỗi người một ba lô đầy nhóc các vật dụng cá nhân, đeo thang dây bước xuống you-you , chiếc thuyền con thoi đang cặp sát bên hông tàu. Chẳng mấy chốc, thuyền tách bến rời chiến hạm. Tần khơi khơi lý luận một mình, gợi ý:

– Nè, tao đố tụi mầy mấy chả thả bọn mình vào đất liền, vô trong bãi hoang kia với mục đích gì? Chẳng lẽ chỉ nhằm vào việc học chấm tọa độ và nhận phương hướng trong rừng? Hay định biến tụi mình thành những tên thủy quân lục chiến? Tao không nghĩ như vậy! Mà có thể mấy chả định cho mình một bài học tự lực cánh sinh. Ðặng sau này có khả năng nắm những toán biệt hải hay hải tuần gì gì đó! Lực lượng chuyên môn đổ bộ xâm nhập các vùng biển ngoài bắc! Tụi mầy nghĩ sao?

Thắng cười khan:

– Thôi thôi đừng có ở đó mơ mộng viển vông mầy ơi! Không ai cho mấy thằng ốm nhom như mầy gia nhập lực lượng PT, seal, hay người nhái đâu. Bộ hệ mầy có giỏi cho lắm thì chỉ làm tới chức… thợ lặn, chiều chiều ra bãi Nha Trang đi săn ba con mực nang với lại mực ống bằng cái chĩa ba, ủa, cái đinh ba Trư Bát Giới của mầy…

Thành cắt ngang Thắng:

– Hừ, tối ngày hai thằng mầy chỉ lo bàn cãi những chuyện vớ vẩn không đâu, nào là xâm nhập gia cư bất hợp pháp, nào là nhảy rào ra phố thăm em, nào là lặn mút mùa mút chỉ không cần mang bình hơi… Ấy, tao bảo đảm lát nữa mấy chả sẽ dở cái mục “cờ, đèn” ra cho mà coi. Trên tàu đánh đi, mình ở đây nhận. Dám kỳ này ngài thượng sĩ “cờ, đèn” nhà ta sẽ cho tụi mình thi “cờ, đèn” bất tử đó!

Tần bẻ qua hướng khác:

– Mầy nói cũng có lý đó, Thành! Nhưng dẹp chuyện bài vở, thi cử qua một bên đi. Ðang trên đường đi bắt kỳ nhông, kỳ đà mà mầy đem con kỳ đà “cờ, đèn” đó ra cản mũi thì còn gì hứng với thú chớ? Phải hôn Thắng?

Chiếc you-you đã vào tới bãi. Thắng nhảy xuống cát, cất giọng:

– Ði theo tao lên núi, Tần! Bỏ thằng Thành ở dưới này cho nó ôn tập “cờ, đèn” và cho nó đậu thủ khoa “cờ, đèn” luôn! Ðể rồi coi ai sẽ mất cái cơ hội săn bắt kỳ đà ngàn năm một thuở đây cho biết!

Thành cười giả lả:

– Ê, tao đề nghị bữa nay tụi mình đi mút cái bãi này rồi hãy vào rừng, leo núi. Biết đâu ở trên đó sẽ có nhiều mục ly kỳ hơn. Rừng ở đây hết sim rồi, núi lại dốc đứng khó trèo thấy mẹ!

Tần đồng ý:

– Ðúng đó, tao cũng định nói với hai thằng mầy như vậy.

Cả ba liền lên đường, thẳng tiến.

Càng về phương bắc bãi càng hẹp. Nhiều chỗ đá tảng trồi ra tận mí cát, muốn băng qua phải đu cành cây rừng hoặc phải lội bì bõm dưới nước. Qua phía bên kia, bãi lại rộng trở lại. Cát trắng tinh, không một dấu vết của muôn loài cầm thú. Rừng càng lúc càng rậm hơn, nhưng núi lại thấp đi. Tuy vùng này không còn là địa bàn hoạt động của bọn cộng sản nữa, sau ngày chiến thắng Vũng Rô hiển nhiên, nhưng, những bước chân vào chốn không người vẫn mang đến cho Tần những cảm giác sợ sệt. Pha lẫn với thích thú phiêu lưu, phải nói rõ như vậy. Nhất là lúc tẽ vào rừng sâu.

Vừa qua khỏi rặng núi cao, lổm chổm đá, bọn Tần không khỏi ngạc nhiên thấy bên kia hiện ra một thung lũng xanh rì. Một lòng chảo trũng thấp xuống trong bốn bề vách núi. Có một hòn đá tròn nhẵn, thật lớn, nhô lên giữa tàn cây trông như một bàn thạch lộ thiên. Chỗ đánh cờ của các bậc đại tiên ông? Tiếng chim kêu vượn hú lảnh lót bên mình, bản nhạc huyền diệu nhiệm mầu của thiên nhiên, đã trổi lên chào đón bọn Tần đang lạc vào chốn bồng lai tiên cảnh. Chẳng nói chẳng rằng, cả ba cùng lẳng lặng len lỏi trong chòm cây khóm lá.

Ðột nhiên, Tần nhận ra dấu vết của một con đường mòn lâu ngày không ai sử dụng, cỏ cây đã mọc phủ lên từng đoạn từng mảng. Chàng định nói với bạn nhưng nhắm chừng bọn nó cũng đã nhận biết nên thôi. Thì ra nơi đây đích thực đã có một thời là chỗ ở của tiên đồng ngọc nữ. Bằng không thì phải là nơi xuất phát của một loài sơn vương hay dã nhân nào đó, Tần nghĩ vậy.

Chẳng bao lâu, cả bọn đã đến bên bàn thạch. Một hòn đá hoa cương chơ vơ màu đen xám, cao khỏi đầu người và rộng như một căn nhà lớn, nằm vững vàng trên một nền đá nghiêng nghiêng cùng màu. Trên đó, những góc cạnh đã bị đẽo mòn trở thành tròn trịa, lúc thì phẳng phiu khi thì lồi lõm. Nhiều chỗ hũng sâu, biến thành một cái bồn thiên tạo, chứa đầy nước mưa hay sương rơi còn đọng lại chưa kịp bốc hơi. Cái lớn nhất dưới sâu kia trông không khác gì một cái hồ bơi nho nhỏ. Bọn Tần đang tìm cách leo lên trên bàn thạch xem trên đó có gì, một bàn cờ chẳng hạn, mà chưa được. Chỉ có cách đứa này đứng chồng lên vai đứa kia thì may ra…

Bỗng có tiếng gà gáy trưa, ò ó o ò… o, lanh lảnh đâu đây. Bất giác, Tần cảm thấy chột dạ rợn người, vì đã vô tình xâm nhập gia cư bất hợp pháp của ai đó khuất mặt khuất mày. Nhưng Thắng đã nhanh nhẩu đánh tan bầu không khí u trầm, tĩnh mịch:

– Bắt con gà rừng đó làm thịt, tụi mầy!

Hai tiếng sau cùng, tụi mầy, tạo thành một điệp khúc… tụi mầy, tụi mầy, tụi mầy… như tiếp tục vang vọng lại từ vách đá cheo leo! Không một tiếng trả lời từ phía Tần và Thành, cả hai dường như đang còn mê man trong cơn tham thiền nhập định! Thắng hối:

– Lẹ lẹ lên tụi mầy, để nó chạy mất bây giờ!

Nhưng Tần đã buột miệng lên tiếng, cản:

– Hãy khoan!

Tất cả im lặng chờ đợi, nghe ngóng! Chẳng biết Thắng và Thành đang chờ đợi và nghe ngóng những gì, nhưng riêng Tần, chàng đang chờ đợi và nghe ngóng tiếng gáy thứ hai. Mà chẳng bao giờ nghe. Tần nói:

– Kỳ hén, gà gáy một giữa ban trưa, xóm trên có chửa mà chưa có chồng. Ở đây hoang vắng như vầy thì làm gì có xóm trên ấp dưới, hoặc giả làng trong xã ngoài. Hổng chừng ở chỗ này có Việt cộng nằm vùng tụi mầy ơi. Thôi, hay là tụi mình hãy mau mau trở ra bãi cho chắc ăn, cho tao khỏi chết bất tử vì bị đứng tim! Ðói lòng ăn nửa trái sim …, còn hơn là ăn con gà của thằng Thắng, tao sợ bị mắc nghẹn!

Thành phụ họa thêm:

– Có thể đây là nơi tụi Việt cộng đã từng di chuyển súng ống và đem lên sườn núi kia bố trí đặng bắn vào tàu mình, nhằm yểm trợ giải vây cho tàu xâm nhập của bọn chúng tìm đường tẫu thoát. Nếu tàu mình có bắn trả thì tụi nó thụt xuống nơi này, an toàn trên xa lộ. Họa may chỉ có súng cối câu cầu vồng thì tụi nó mới ngán. Chỗ này kể ra cũng thần tiên chớ tụi mầy. Nhất là những đêm trăng thanh gió mát, hữu tình ta lại gặp ta. Tao nghĩ, tụi mình quả đã có đi hơi quá xa.

Thắng còn kỳ kèo, hỏi lại:

– Không lùng bắt con gà thiệt sao?

Tần ngăn:

– Thôi mầy ơi, để cho con gà tre rừng đó nó sống đi. Nó đã sợ mầy đến không dám gáy tiếng thứ hai nữa là. Vả lại xác nó cũng không lớn hơn con chim dòng dọc nghệ bao nhiêu, một thằng lủm một miếng là hết. Nè, có thằng nào chịu phản cung hồi trào thì đi theo tao…

Tần phóng mình, băng rừng trở lại con đường mòn. Thành và Thắng vọt theo, trả lại cái tĩnh mịch âm u ngàn đời cho núi rừng Vũng Rô trùng điệp. Bị động, bầy chim rừng trên cây lại đùa hót vang rân, một bản nhạc tiễn đưa không hẹn trước.

Chỉ có Thắng tiếc hùi hụi cơ hội đuổi bắt con gà rừng. Thay cho mớ kỳ nhông hay làm hang trong cát mà chàng chận bắt thật dễ dàng. Thắng không ngờ hai thằng bạn thân của mình lại nhát như thỏ đế. Giữa ban ngày ban mặt mà sợ bọn ma trơi Việt cộng, muôn đời xa rời ánh sáng văn minh, chỉ biết sống lẩn lút trong lùm cây bụi cỏ.

Lúc trở về gần đến bãi chính, bọn Tần nghe nức mũi mùi xào nấu và thịt nướng cháy khét, thơm lừng cả một góc trời. Ðâu đâu cũng có tiếng cười nói, vui đùa. Trên những gộp đá chênh vênh, trong những tàn cây bóng mát, hay ngay cả dìm mình trong lớp cát và con sóng phủ đầu. Một cuộc cắm trại cho sinh viên sĩ quan thì đúng hơn, chớ không phải là một cuộc hải hành thực tập… Sẵn lửa sẵn củi của đám bạn cùng trung đội 1, cả ba nhào vô ké, hâm nóng lại gạo sấy và thịt hộp cho bữa ăn trưa. Không còn thì giờ đâu mà nghĩ đến chuyện đi bắt kỳ đà.

Sau khi ực một bụng nước bi đông và làm một điếu thuốc Pall Mall lấy hơi, Tần chui vào rừng tìm chỗ đánh một giấc trưa. Thành và Thắng cũng vậy, mạnh tên nào tên nấy tự lo lấy thân. Ðứa thì căng võng trên không, thằng thì trải poncho dưới đất. Nơi nào cũng được, miễn làm sao duỗi thẳng hai cẳng là xong. Không ai phàn nàn gì về cảnh màn trời chiếu cỏ này hết.

Rồi chẳng biết mình đã đặt lưng nằm được bao lâu, Tần lại phải trỗi dậy vì tiếng còi tập hợp. Mồ hôi trong người chàng vã ra như tắm, bần thần dã dượi. Bên kia chòm cây lá không tên, Thành và Thắng cũng chợt vươn vai, ngáp vắn ngáp dài. Hình như không một ai đã ngủ thẳng giấc.

Ðúng như Thành tiên đoán, một cuộc thực tập liên lạc với bộ chỉ huy trên tàu bằng cờ và đèn. Ðèn trước cờ sau. Tần buột phải moi óc, nhớ vội những tín hiệu Morse mà chàng đã nhiều lần đọc qua. Ðèn với Morse cũng vậy thôi, cùng một ước hiệu, nhưng đèn sử dụng thị giác, trong khi Morse thì nhờ vào thính giác. Cái nào cũng xài “tít và tè” tức cái “ngắn và dài” (nói theo kiểu chớp đèn). Tít tè là A, tức alpha theo qui ước quốc tế hay “an lộc” an lão theo ngôn ngữ truyền tin của ta. Tè tít là N, tức november hay “non nước.” Tít tít tít là S, tức sierra hay “sơn nữ” Phà Ca. Tè tè tè là O, tức oscar hay “ong bầu” chích đau thấy mẹ. Ðại khái là như vậy…

Trong môn nhận bắt “cờ, đèn,” những đứa bắt khá khá hay ngứa nghề làm tài khôn, thường khoái đọc lớn lên cho bạn bè nghe. Nhưng lắm khi bị tổ trác, đọc trật lất, bị bạn bè dũa cho thảm thiết. Vậy mà rồi cũng chứng nào tật nấy, chẳng chịu chừa. Thực ra mấy tên im lặng, ít bép xép, lại là những đứa bắt tín hiệu “cờ, đèn” rất là thiện nghệ. Mấy lúc thầy muốn thử tài trò, cố đánh nhanh như mưa bấc, thì cả khóa chỉ còn vài tên nhận đủ bản văn. Một trong những đứa đó là Thành. Trong khi, sự chuyển đạt tín hiệu từ con mắt hay cái lỗ tai đưa lên não bộ của Thắng coi bộ không mấy nhạy cảm. Tần còn tệ hơn một bực. Chẳng mấy khi hai chàng ta nhận nguyên bài bản mà không bị sót một lỗi nào. Bởi, con người ta sinh ra đời không ai giống ai như hai giọt nước. Hễ được cái này thì mất cái kia, nhơn vô thập toàn là thế!

Cuối công điện ngày hôm nay, qua ước hiệu cờ, quơ qua quơ lại từng chữ một, là lệnh cho tất cả khóa sinh chuẩn bị rời bãi, đi ra tàu để tiếp tục cuộc hành trình. Nhiều đứa còn lưu luyến bến bờ, lưu luyến đất liền thì đúng hơn vì không ưa sóng gió, đã phát chửi thề thành tiếng ngang xương.

Trong khi Tần chỉ mong vị sĩ quan hướng dẫn đem tàu về Nha Trang. Vì một lý do khác hơn, bởi Tần đang bâng khuâng nghĩ đến Hiền! Mới đi chưa đầy một tuần mà chàng đã thấy muôn vàn nhung nhớ? Ôi, những buổi chiều rơi dần tàn, ngồi ôm em trong vòng tay, nghe sóng biển vỗ rì rào, bên hàng dừa lao xao trong gió. Tuyệt cú mèo là ở chỗ đó. Và chắc có lẽ chỉ phải trở về thôi, Tần đoán như vậy. Tại vì chiều hôm qua và sáng ngày nay bọn chàng cũng đã học sử dụng kính lục phân ( sextant ) để đo sao trời và làm point thiên văn. Mục tiêu chót của những ngày thực tập. Tuy hầu hết các tam giác kết quả đều lớn hơn đầu con cá ngựa, thay vì hội tụ lại thành một điểm, nhưng những point thiên văn đầu đời ấy đã phải gọi là… thần sầu quỉ khốc lắm rồi (hay chỉ thuần may mắn?). Còn point cận duyên thì hiển nhiên, đã không thành vấn đề với bọn Tần nữa…

Tần hỏi bạn:

– Theo hai thằng mầy nghĩ thì rồi tàu mình sẽ chạy đi đâu?

Thắng hân hoan hơn:

– Về Nha Trang mầy ơi! Vì em Thảo của tao đã thần giao cách cảm, nhắn với tao là lần này… tàu về bến em hẹn mình ra phố, tay đan tay em xinh dáng ngoan hiền … Chà, còn làm bộ hỏi bóng hỏi gió nữa ta! Tao coi mòi thằng Tần nó đang nhớ con Hiền dữ lắm mậy, Thành?

Tần châm chọc lại:

– Mầy đưa hơi trật đường rầy rồi Thắng ơi! Thằng Thành nó đâu có chịu về Nha Trang, nó còn muốn đi Qui Nhơn thăm cô giáo làng của nó một lần nữa kia kìa. Ê, tao hỏi thiệt mầy nghen Thành, giữa hai đứa, con Trâm Qui Nhơn và con Thúy Nha Trang mầy chọn em nào?

Thắng xen vào, bồi thêm một quả nữa:

– Và đêm đó mầy làm gì con Trâm? Tại sao mầy không dám kể cho tao với thằng Tần nghe một điều gì hết vậy? Mầy nhắm mầy có dấu được suốt đời hay không?

Thành vọt miệng:

– Tao đinh ninh là bọn mình đang trên đường về bến cũ.

Á, thì ra Thành đã chọn! Bến cũ? Hình như cả ba đứa đều cùng có một ý nghĩ trong đầu: trở về bến cũ! Ý cha, rõ ràng thằng Thành nói nghe chí lý, Tần nhủ thầm. Hiền ơi, em có biết em đang là cái bến cũ thương mến vô bờ đó của anh? Thân hải quân mười hai bến nước, mười ba bến tình, nhưng ngẫm nghĩ có chiếc lá nào rơi, xuôi dòng, mà không tìm về nguồn cội…

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều-Lê Khắc Anh Hào
Post by Sơn râu 21 Nov 2025

22. “Tri Ngã Giả Kỳ Thiên Hồ”

 Sáng nay thức dậy mở cửa, ánh nắng chan hòa, cơn gió xuân phả mát vào mặt. Tôi chợt buồn buồn nói nhỏ với vợ: “Hôm nay là ngày 30 tháng Tư!” Nàng trầm ngâm lặng thinh, rồi buông tiếng thở dài: “Mới đó mà đã 28 năm!” Trời mây Bắc Mỹ bao la này vẫn không choán hết nỗi trống vắng quê hương. Tôi ray rức, dựa cửa nhìn trời. Ký ức chập chờn những kỷ niệm. Tôi chia ký ức ra từng phần, phần cho những mùa xuân trong tù, phần cho mùa xuân đen tối trùm xuống quê hương năm nào, phần cho những ngày tháng lưu vong. Một mớ ký ức hỗn độn, tiếc nuối, đớn đau, muộn phiền cứ ra vào trong tiềm thức.

Ngày 30 tháng Tư 1975 như một vết đen mang tính ba động trong tâm hồn mỗi khi bị đánh thức, nó không chết hay tàn phai với thời gian và không gian. Tôi vẫn nuối một ngày về tự do trên những con đường yêu dấu cũ. Vancouver không biết ngày 30 tháng Tư như tôi vẫn nhớ, và biết với nỗi đau còn vương vấn, nó như sợi tơ cứ giăng dài theo năm tháng.

Thành phố tôi sống tạm dung, thành phố đẹp nhất Bắc Mỹ, được thiên hạ xếp vào hàng đầu trên thế giới 5 năm liền, đang chìm ngập trong mầu hoa anh đào nở rộ, thơ mộng thần tiên. Mỗi khi xuân đến, hoa nở một lần, khắp nẻo đường rực nắng rực hoa. Tôi thả tầm mắt lang thang trên từng nhánh hoa anh đào trước cửa và bỗng nhớ những mùa xuân xưa nơi quê nhà. Tôi thấy dường như khung trời xuân Vancouver thiếu một cái gì… À! Tôi nhớ ra rồi! Một cánh én.

Tôi nhớ lại. Xuân trên quê hương Việt Nam dập dìu những cánh én lượn. Những con chim nhỏ dễ thương này thường đậu dài trên những giây điện. Những ngày xuân trong tù, tôi lại thấy én chùm nhum đậu từng đàn trên những dây kẽm gai. Nhìn chim mà tủi thân tù ngục. Thỉnh thoảng tôi vẫn nói với vài bạn tù “chim là cõi phúc, tù là giây oan!” Ừ! “Phải chi mình hóa thành chim được. Để bốn phương trời tung cánh bay!” Người ta không thể giăng kẽm gai, xây nhà tù giữa bầu trời xanh. Và đó chính là niềm hạnh phúc của loài chim. Người và chim, ai hạnh phúc hơn ai? Rồi bỗng một hôm, một con chim én báo hiệu mùa xuân đó lọt vào tay tôi trong một tình huống khá éo le, oan nghiệt.

Kể từ ngày “trình diện học tập” tại sân nhà thờ Lạc Đạo Phan Thiết ngày 19/5/1975, bị đưa lên trại Kà Tót gần 6 tháng, rồi chuyển về Tổng trại 8 Tù Tàn Binh Sông Mao, chúng tôi bị ném vào lò tù lao động tẩy tim tẩy óc. Trong giai đoạn đầu, 6 tháng mới cho thăm nuôi một lần, tù lao động nặng nhưng cộng sản cho nuôi ăn theo tiêu chuẩn cầm hơi toàn khoai sắn và bí bánh xe, nên tên nào cũng tong teo, bơ phờ, ghẻ chóc. Cóc, nhái, rắn, chuột, thằn lằn, cắc ké… gì lọt vô trại là bị tù chộp cho vô dàn hỏa ngay. Cái đói nó hành con người còn ác hơn những ngày lao động cong ba sườn, hay những buổi học tập phờ người.

Một buổi trưa, có một tên tù nẩy ra sáng kiến làm bẫy bắt chim én. Hắn tước mấy cọng nylon trong vạt chiếu, thắt một vòng tròn nhỏ, bắt con ruồi cắm vào một que nhọn rồi cắm xuống vòng lang trụi lá. Con ruồi nằm giữa vòng tròn. Đàn én lượn qua lại và rồi một con dính bẫy. Tên tù mừng húm phóng ra vòng lang chộp chim, nhổ lông cho vô lò than.

Mùi thịt chim đánh thức đám tù đói, nhìn người bạn tù chấm con chim thơm phức vô gói muối nhai ngon lành cả đám bỗng tìm ra cách giải quyết cho vấn đề bao tử trống Thế là mấy chiếc chiếu được lôi ra tước giây nylon, và mấy cái vòng lang mọc đầy bẫy én, tua tủa chong lên như những dàn hỏa tiển chống máy bay.

Trên vĩa hè trại buổi trưa Chúa Nhật nghỉ lao động, đám tù ngồi từng hàng chăm chú theo dõi bẫy én của mình. Những cái đầu chăm chú xoay qua xoay lại theo chiều bay của én. Tôi là một trong những tên tù đói đó. Trời xanh vô nghĩa. Én xuân vô nghĩa. Mùa xuân vô nghĩa. “Với tôi, tất cả đều vô nghĩa. Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau” vì đói.

Tôi có bốn cái bẫy én trên vòng lang của tổ tôi. Tôi chờ từ sáng đến trưa, lai rai các chú én dính bẫy bên cạnh và kết thúc cuộc đời bay liệng trên mấy cục than hồng, nhưng không con nào vô bẫy của tôi. Tôi ngồi buồn chống cằm theo dõi mấy con én lướt nhanh qua vòng lang mình. Một cán bộ quản giáo Việt cộng đi ngang, thắc mắc, ném một câu hỏi vào đám tù:

– Ngày nghỉ các anh không ngủ trưa, ngồi cả đám sau hè làm cái gì?

– Canh bẫy bắt chim én bồi dưỡng, cán bộ!

Một tên tù vội trả lời. Tên quản giáo đứng lại nhìn mấy cái bẫy thô sơ cắm dọc trên mấy vòng lang, rồi buột miệng:

– Mấy anh ngụy các anh có sáng kiến khắc phục giỏi nhỉ! Bắt én trong trại thì được! Nhưng phơi khoai sắn, dấu muối để trốn trại thì không thoát đâu nha! Liệu hồn!

Tên quản giáo khuất bóng cuối sân trại. Đám tù vẫn còn chăm chú vào mấy con én. Tôi vừa buồn ngủ, vừa nản, định bụng nhổ bẫy vô sạp nằm ngủ, bỗng một con én dính vào bẫy tôi. Nó cố bay lên, rồi bị giựt xuống vì sợi giây nylon tròng xiết vào cổ. Tôi phóng cái ào ra vòng lang, tóm cổ con chim én. Đúng là con én tới số chết. Không có con én nào làm nỗi mùa xuân trong bụng những tên tù. Và cũng không có mùa xuân nào trong vòng kẽm gai với những tên tù bị nuôi và hành hạ như súc vật, dù có những cánh én lượn giữa trời bao la.

Trước mắt tôi, trong hai bàn tay là con chim bẫy được, là miếng thịt nhỏ nhoi ngon lành trong cơn đói. Nhưng chẳng hiểu sao tôi không nhổ lông con chim ngay, mà lại mang nó vào bóng mát, tưng tiu trong bàn tay. Lông nó đen nhánh mượt mà. Nó nằm im, không mở mắt, không cục cựa trong lòng bàn tay trái của tôi. Tôi vuốt lưng chim bằng bàn tay phải chai cứng, sần sùi vì những tháng năm lao động mà không có chút vinh quang. Lớp lông vũ mịn màng chuyền vào tôi một thứ cảm giác dễ chịu chưa bao giờ tôi có được trong những ngày tù.

Chim vẫn nằm yên bất động. Nó chết? Không! Tôi thấy nó còn ấm và thở, thật nhẹ và đều. Tôi thử đưa tay trái giơ ra giữa trời! Nó không bay. Tôi coi lại cánh chim. Cánh nó còn nguyên không gẫy lặt lìa. Tôi thu bàn tay lại. Chợt chim mở mắt. Ôi! Đôi mắt đen diệu kỳ, tuyệt đẹp và dễ thương. Dường như nó nhìn tôi. Dường như nó cam chịu số kiếp. Nó vẫn không bay, dù nó bay tôi cũng không chộp bắt nó lại.

Cơn đói trong tôi đã biến đi đâu mất tự lúc nào trước đôi mắt đen láy thần tiên của con chim. Lòng tôi chùng lại. Tôi thấy thương và tội nghiệp con chim. Tôi nghĩ đến thân phận mình. Tôi nghĩ đến thân phận chim. Tôi nghĩ mình vô thường, và chim cũng vô thường. Vạn vật gặp nhau cũng bởi cái duyên. Tôi gặp chim trong hoàn cảnh éo le này cũng bởi cái duyên. Làm sao tôi có thể kết thúc đời chim trong lửa đỏ chỉ vì một cơn đói nhỏ nhen, trần tục trong cõi trầm luân đầy hệ lụy này. Tôi sẵn sàng trả chim trở lại khung trời xanh, còn ai chịu thả tôi ra khỏi những vòng kẽm gai oan nghiệt? Ai hiểu được lòng tôi? Ai hiểu được lòng chim?

Tôi mang chim vào sạp nằm, xé một vạt vải trắng nhỏ từ chiếc áo sơ mi rách, cột một chéo vải vào cổ chim, phần còn lại, tôi viết một dòng chữ Hán “tri ngã giả kỳ thiên hồ” rồi mang chim ra giữa sân trại. Tâm sự “tri ngã giả kỳ thiên hồ” này dường như là lời trăn trối cuối cùng của Đức Khổng Tử trước khi ngài nhắm mắt. Chim vẫn nằm im, tội nghiệp. Tôi nói với chim: Bay đi! Nhân danh tự do, ta thả chim trở lại trời xanh. Biết được lòng ta chỉ có Trời. Ta, thân phận tù đày nhưng chưa chết, thì hà cớ gì chỉ vì một chút đói lòng mà ta lại sát sinh, ta lại giết chim. Ta mơ tự do. Ta trả tự do cho chim! Bay lên đi!

Tôi lại vỗ nhẹ lưng con chim én. Nó cựa mình, mở mắt và vụt cánh tung bay, mang theo tiếng than “tri ngã giả kỳ thiên hồ” lên trời xanh. Én vút lên cao. Dường như mảnh vải nhỏ làm nó lảo đảo, và rồi cánh én bình phi mang theo một vệt trắng biến mất giữa trời xanh bao la.

Hai mươi tám năm sau, ngày 30 tháng Tư 1998, tôi đắm mình trong nắng xuân đầm ấm đầy hoa anh đào dưới trời Vancouver, tôi đưa mắt trông tìm không ra một cánh én. Tôi thấy mùa xuân xứ người thiếu vắng một cái gì. Tổ quốc? Quê hương? Mùa xuân? Cánh én? Dường như tất cả! Tôi vẫn tiếc nhớ cái nồng nàn của mùa xuân Việt Nam. Và tôi bỗng nhớ con chim én ngày nào giữa trại tù, nơi tôi trả nó lại trời xanh với dòng tâm sự “tri ngã giả kỳ thiên hồ“, như nhờ nó mang đến cho cao xanh ở một phương trời vô định nào đó mà tôi không có địa chỉ…

Ngày nay tôi vẫn sống. Tôi tưởng đã chết trong khói lửa chiến tranh. Tôi tưởng đã bỏ thân trong những tháng ngày tù ngục. Ra tù, vượt đại dương sóng gió trên chiếc thuyền con đi sông rạch, tôi tưởng đã bỏ thân phận mong manh của đời mình trong lòng biển trên đường trôi giạt đến Pulau Bidong…

Phải chăng nhờ chút từ tâm, nhờ chút Phật tính chìm đọng dưới đáy lòng mà tôi đã không sát sinh, tôi đã tha cho én và Trời đã thương tôi. “Tri ngã giả kỳ thiên hồ!” Lòng trời linh diệu, bao la. Tạ ơn Đức Khổng Tử! Tạ ơn Trời! Tạ ơn Phật! Tạ ơn én! Tạ ơn mùa xuân Bắc Mỹ đầy hoa anh đào.

(Vancouver mùa Xuân 1998)

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 20 Nov 2025

Phần 6 – Trối Trăn, Tự Tình

Tôi đang bực tức và bất mãn, mình giận lấy mình, nhưng khó nói nên lời đành gõ máy giấc trưa, gởi ấm ách cho xì ra hơi, xả xú bắp lâng lâng đỡ tức. Năm rồi, tôi ưng cho xuất bản hai tập nhỏ, viết ứ đọng từ lâu, nhưng khi in thành sách, tôi đã bị sửa văn, họ thiến của tôi bộn bàng. Tôi dùng chữ “văn” đây là tạm bợ và nên nói lại những gì tôi viết ra, họ đốn không nương tay, duy tôi là thằng chơi đồ cổ, xin hỏi tỷ như khi chưng một lục bình dịp Tết, bình hoa vẫn có xen kẽ đôi lá lơ thơ cho dễ coi, rồi người mướn tôi trưng bày, đã rút tỉa những hoa lá phụ, rằng cho thêm gọn thêm xinh, nhưng về mặt mỹ thuật, xin cho tôi tỏ ý kiến rằng làm như vậy, bình hoa sẽ trơ trẽn, nhứt là trái ý của tôi, vả lại theo như tôi hiểu và tỷ thí, văn Pháp, người xuất bản nào dám đụng chạm đến bao giờ?

Nói sơ sơ để tỷ ví, có nhiều câu tôi cho là đắc thể, tôi rặn è è lâu hoắc hoặc đó là lời nói của những nhà có kinh nghiệm đã rỉ tai tôi, và tôi cố ghi lại vào bản thảo, đều bị bôi bỏ, chê là rườm rà, nhưng quên rằng đó là những cái mốc để đánh dấu thời đại như giá vàng, ngày mua, người bán, nay lược bớt, khiến cho hiện nay, có một cuốn tôi được tái bản, nhưng bán rất chậm, khách chơi cổ ngoạn vẫn tìm sách cũ bản của tôi và để ế bản của kỳ in nhì (không phải tự tôi cho in), tuy trong ruột sách vẫn y chang, duy ngoài bìa đã thay đổi và thay thế một cách ngu dốt, nên sách bán không chạy.

Tỷ như câu “Kiệm cần chắt mót làm gì, thà làm công tử tù ti sướng đời” và câu “Má sai bán lúa Bãi Xàu, để anh xúc bớt cho vào túi em?” và có chỗ tôi viết: “người Hồi khi uống rượu, không cho rượu đụng môi”, chỗ khác tôi viết: “vàng vòng có đổ đế để tránh móp méo” v.v .. hai chỗ ấy sách in ra đọc: “uống rượu không cho đụng môi như heo (như beo)” và “đổ đế” thì sửa chữa “đổ đá”, đều là sai ý tác giả, đến đây tôi xin chừa cho độc giả hiểu lấy. Nói được mấy lời như trên bỗng thấy cơn giận đã nguôi và tự xét, tuổi gần đất xa trời, cũng nên hỉ xả họa may nối thêm được một ít lâu để chờ xem mãn cuộc … cuộc gì cũng chưa dám nói và nên hiểu ngầm và khỏa lấp …

Nay xin bắt qua một đề tài khác để đổi không khí: Việc tôi nói đây, vừa là thú chơi sách và cũng vừa là thú chơi cổ ngoạn, và theo tôi tưởng lại, dư tiền và có dịp tốt, nên chơi sách ít tốn kém và ít nguy hiểm hơn, vả lại sách giấy cũng dễ giấu hơn, chứ chơi cổ ngoạn, không khác chơi dao hai lưỡi, đứt tay là nhẹ, đứt mạng, sạt nghiệp không hay …như trong năm 1992, việc còn ràng rạng nóng hổi, một bạn vong niên, có nhiều ngoạn hảo đích đáng, vừa say mê sưu tầm, vừa thỉnh thoảng làm nhà mãi mại vật xưa, tôi đã từng khuyên nên chọn một nghề và không nên bắt cá hai tay, bạn nhỏ ấy bỗng bị kẹt và mắc vòng li tiết hơn bốn tháng trời, nay đã được về nhà, nhưng hay đâu vật sắm chơi đã bị tịch thu và hiện đang xin xỏ lại, v.v .. cho hay đó là lời tôi dặn hờ thoạt đã linh ứng, theo tôi vẫn tin nhiều về phúc họa, may rủi, có người sẽ cười tôi lắm tin dị đoan, nhưng rõ ràng vật cổ vẫn có hồn linh, mình đức bạc khó cầm vật quí, tức vật cao giá, ai ai cũng muốn, v.v .. đã là đức bạc, tỷ như có con đến tuổi đi quân dịch, thì ngày xưa tướng tá nắm trong tay sinh mạng, tha miễn dễ dàng, nhưng vật kia sẽ đổi chủ, còn như hiện nay, lịnh trên đã cấm mua sắm, cấm xuất ngoại đồ cổ, mà mình bất chấp lịnh trên thì như đã thấy gương bạn vong niên kể trên đây, kết liễu ra làm sao chưa biết và tôi xin khuyên vắn tắt, có một món đủ chơi là đủ và không nên có nhiều. Có cho thật nhiều, cho hơn tất cả thiên hạ làng chơi đồ cổ, ấy là ý tham muốn của đại đa số người chập chum mới bước vào nghề hay thú chơi cổ ngoạn, nhưng khi chán chê như tôi ngày nay và gẫm lại triết lý và kinh nghiệm dạy khôn, nùi giẻ đỡ nóng tay, có một món cho thật độc đáo, hoặc thật cổ, hoặc thật mỹ thuật là đủ để săm soi khi ngã lòng buồn chán và rủi có việc cũng dễ giấu dễ chôn vùi dưới đất sâu, người đi moi xét cũng ít hay dễ gì bắt gặp, chớ như có bộn bàng và bày la liệt đầy nhà, ấy không khác mỹ nhơn lúc hở hang lộ liễu, hoặc không khác con lão bạng và lão bạng đây là ý tôi muốn nói về một loại con hàu có chứa ngọc trai trong bụng và tánh tôi ham nói tam quàng cuốc chí, nay nhắc đến lão bạng, lại thấy cần đính chính một hiểu nghĩa sai lầm. Miền Nam nầy cũng như ngày trước khi còn đi đó đi đây, tôi đã từng thấy hoa lão bạng mọc lềnh khênh khắp hông núi Ngũ Hành sơn ở Quảng Nam, và hoa đã từng bị dân chúng Trung Nam khinh rẻ và đố kỵ, vì bấy lâu trong dân gian, lão bạng mà đã hiểu lầm và đọc sai lầm là “lẻ bạn” và xúm nhau dặn nhau không nên trồng trong sân nhà vì là triệu chứng vợ chồng sẽ chia ly nhau, bạn không đủ đôi đủ cặp v.v .. chớ kỳ trung, hãy nhìn kỹ hoa thì biết, hoa lá dưới tím đỏ tốt tươi trên lá xanh biếc và khi trổ bông thì rõ ràng bông trắng phau như hột ngọt mọc kẹt nách hoa và đúng hệt như câu Hán tự đã tả “lão bạng sanh châu”, hiểu nghĩa trắng là “ngọc trai trổ hoa” còn hiểu ngầm theo nghĩa đen, là “lão già sanh con muộn” hoa là lão già, còn “bông nở” kia là ngọc trai thi vị hóa.

Mảng ham nói sa đà đến xuýt lạc đề, xin cho tôi nói luôn cho hả hơi, nghĩ cho trận Điện Biên Phủ thì rõ ràng có cần gì phải tầm sư học đạo, trường Saint-Cyr, trường Politechnique mà chạy bò càng trước tay ngang ông cựu sinh viên lẫy lừng trường luật, và máy bay tối tân làm mồi lửa cho súng cà nông xập kỷ nìn (thập kỷ niên) mới thật sướng cho! Chúng bây tám chục năm trước ỷ cầm súng có tầm bắn xa thắng tầm vong vạt nhọn, chúng bay cười chưa kịp đã, nay mếu máo khóc hận trước sức mạnh súng khạc lửa từ trên cao, bây ở dưới trũng lòng chảo lãnh đủ và như đã nói, có cần gì phải đi học từ phương xa!

Viết đến đây, bỗng nhớ lại một sự việc cũ: Lúc Khám Lớn Sài Gòn bị triệt hạ để xây dựng kho sách, đường Lý Tự Trọng đời ông Nguyễn Văn Tâm làm thủ tướng nơi Miền Nam nầy và lúc ấy tôi được làm thầy giảng, heo vú thừa, nơi Đại học Văn khoa, tôi có thấy bỏ nằm chình ình nơi sân hoang giữa cỏ dại, một viên đá to, giữa có khoét một lỗ trống khá lớn mà trước kia tôi đã từng thấy và biết chắc viên đá ấy, rõ ràng là đá Khám Lớn, đặt nơi vách tường kiên cố của phòng chứa tội tử hình và lúc ấy sẵn sự ưng thuận của ông Khoa trưởng trường Đại học, cụ Nguyễn Đăng Thục, nay mạnh giỏi thể nào? Và tôi đã bê cục đá di tích ấy về và đặt nó nơi sân trong của musée, nơi tôi giữ tạm chức quản thủ, tôi có đề nghị với bạn cũ là cụ quá cố Mai Thọ Truyền, kiêm chức đặc trách Văn hóa, nhưng đề nghị của tôi không được chấp nhận và tôi cũng văng mất chức quản thủ kia, tuy vậy viên đá có khoét lỗ ấy cứ nằm yên nơi musée, nhưng cách mấy năm sau, khi tôi có dịp đến viếng viện bảo tàng nầy, tôi thấy mất dấu viên đá nọ, tôi có hỏi ông quản thủ đương thời thì ông vẫn cho tôi biết đá ấy không mất tuy đã dời đi nơi khác và ngày nay, sẵn đang có phong trào làm sống lại cảnh ngộ anh hùng liệt sĩ chống chế độ đô hộ Pháp cũ, sẵn dịp nầy, nay tôi xin nhắc lại về đề nghị năm xưa của tôi là: “chớ chi nay hãy tìm lại viên đá cổ tích ấy và diễn cho nó một vai tuồng mới, là lựa một chỗ xứng đáng, tỷ dụ nơi sân cỏ xanh góc đường Công Lý đụng đường Lý Tự Trọng và cho xây lại nơi vị trí ấy một góc Khám Lớn cũ, vách tường dày và kiên cố độ hai hay ba lớp gạch thức cũ, không cần xây vách cao, nhưng có bề thế để đủ chắc và ghi nhắc lại viên đá ấy với vai trò chứa nơi lỗ khoét, một cây cùm sắt thật to, có đủ năm ba cây vòng cùm to tướng xưa kia đã dùng thời thuộc Pháp, để xích chân những người làm chánh trị buổi ấy và đã bị trào Tây đô hộ kêu án tử hình v.v ..

Có lẽ và nên lựa một câu thật gọn thật đầy ý nghĩa, tỷ dụ như “Đây là di tích thời Pháp thuộc … và gông cùm Pháp nay đã thay thế bằng thư viện chứa sách truyền bá Tự do và Văn hóa v.v .. ”.

Xin thưa, tôi chẳng qua là một kẻ sống thừa, xét thấy đã là vô dụng, nhưng lời quê mộc mạc, tuy vậy vẫn một mực chí thành, dám nào xin kính cẩn dâng lên cho nhà chức trách thẩm xét. Thành tâm kính ước.

VHS

(viết lại ngày 11-9-1993 với cảm tưởng ngày 11-9 thay vì ý cũ 4-5-1993)

Năm 1960, tôi viết tập “Thú chơi sách” và nhờ ông bạn Phạm Việt Tuyền chủ sở báo chí và xuất bản Tự Do ra vốn in, nay bán đã hết. Đó là bước đầu chập chủm, việc nghe thấy còn sơ sài nông cạn. Năm nay, 1993, với tuổi già 92, tôi viết tiếp tập nầy, chỗ hiểu biết, thú thật không giàu hơn trước, có người đã trách tôi “có gì thì nói ra hết và viết không biết chừa … ”, – tiện đây, tật cũ không bỏ và nay lại “tóc tơ cạn kẽ đôi điều”, còn sống tới ngày nào và nay biết thêm được chút ít gì, xin nói hết ra đây và nâng cao “Thú Chơi Sách” thêm lên một bậc và đổi lại là “Nghệ Thuật Chơi Sách”.

Việc của mình xin nói trước. Gẫm lại cái tuổi trên chin mươi, ít có người đi tới, tuổi ấy có cái hay của nó và ít ai chịu biết là con người vào tuổi ấy, đã thuần nết lại, kẻ dữ đã thấy bớt hung hăng, vì nhuệ khí đâu còn, còn người hiền càng thêm dịu tánh, muốn gần đạo lý và muốn lánh xa niềm tục lụy và tự thầm trách hố đào đã sẵn, tại sao chưa trao gánh nặng cho xong.

Nhắc lại năm 1984, tôi còn đi bách bộ cả mấy cây số ngàn không biết mệt, từ 21-4 đến 2-8-1984, tôi viết

được 206 trang giấy đánh máy 21×28, lấy nhan là “Tôi và cuốn sách”. Qua năm 1989, tôi được 88 tuổi, viết lại từ 2-2 đến 3-4, viết được 208 trang nữa, nhưng vẫn cất giữ trong tủ nay tôi thâu gọn lại làm tập nầy, đổi ngược, lựa nhan “Cuốn sách và tôi” cho thêm nhã và đề “Nghệ thuật Chơi Sách” cho thêm gọn, thêm thanh.

Cẩn tự.

(viết ngày 12-4-1993)

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 20 Nov 2025

Bài 39

Vượt ngục từ đảo Quỷ

Chủ nhật, bảy giờ tối. Tôi vừa thức giấc. Tôi cố ngủ mãi từ sáng thứ bảy. Đến chín giờ trăng mới lên. Cho nên lúc này còn tối như mực. Trời rất ít sao. Những đám mây đen nặng trĩu mưa bay nhanh qua đầu chúng tôi Chúng tôi vừa ra khỏi lán. Vì chúng tôi vẫn thường đi câu lén ban đêm, nhiều khi lại còn dạo chơi buổi tối nữa, cho nên ai nấy đều thấy đó là chuyện bình thường. Một thằng nhóc đi vào lán bên cạnh thằng bố của nó, một thằng A-rập to béo. Chắc hẳn chúng nó vừa làm tình với nhau trong một cái xó nào đấy. Nhìn hai đứa nhấc tấm ván bước vào lán, tôi nghĩ bụng: đối với thằng A-rập này, mỗi ngày được hôn hít thằng kia vài ba lần quả là tuyệt đỉnh của niềm hoan lạc. Được tha hồ thỏa mãn tình dục – điều đó đã biến cảnh tù đày thành cõi thiên đường của hắn. Còn thằng pê-đê kia cũng vậy. Tuổi nó khoảng hăm ba hăm lăm. Thân hình nó chẳng còn dáng dấp lực sĩ thiếu niên Hy Lạp bao nhiêu nữa. Nó đã bỏ công tránh ra nắng để giữ một nước da trắng như sữa, nhưng đến nay sắc đẹp của nó đã bắt đầu phôi pha rồi.
Nhưng ở trại khổ sai nó có được nhiều bồ hơn ở ngoài. Ngoài thằng bồ một là thằng A-rập ra, nó còn kiếm được khách trả hăm lăm quan một lần chơi, hệt như một con điếm ở phố Rochechouart khu Montmartre. Ngoài cái khoái cảm mà khách chơi đem lại cho nó, nó còn thu được món tiền đủ cho nó và “chồng” nó sống phong lưu. Cả lũ chúng nó cố tình ngập ngụa trong dâm ô, và kể từ ngày chúng đặt chân lên mảnh đất tù tội, đầu óc chúng chỉ biết có một lý tưởng là thỏa mãn được tình dục.
Viên biện lý đã làm rùm beng lên để khép tội chúng, đẩy chúng vào con đường thối rữa. Nhưng trong cảnh thối rữa đó, chúng lại tìm thấy hạnh phúc. Sau khi tấm ván đã được đóng lại sau đôi mông tròn của thằng pê-đê, chỉ còn lại ba đứa chúng tôi: Chang, Sylvain và tôi.
– Đi thôi. Chúng tôi nhanh chóng tiến về phía Bắc đảo
Chúng tôi đi vào hang lấy hai chiếc bè ra. Cả ba chúng tôi bị ướt như chuột ngay tức thì. Gió ào ào thổi, tiếng rít của nó là tiếng rít đặc biệt của gió lộng, của biển khơi giận dữ. Sylvain và Chang giúp tôi đưa bè lên đỉnh mỏm đá. Phút cuối cùng, tôi quyết định buộc chặt cổ tay trái của tôi vào sợi thừng buộc bao tải. Bỗng nhiên tôi sợ bị tách ra khỏi bao tải và bị cuốn ra xa nó. Chang cũng giúp Sylvain lên được tảng đá trước mặt tôi. Trăng đã lên cao, nên trông sáng như ban ngày. Tôi quấn một cái khăn mặt lên đầu. Chúng tôi phải đợi sáu con sóng. Hơn nửa giờ. Chang đã đến gần tôi. Anh ôm cổ tôi. Anh nằm trên tảng đá và tựa vào một hốc đá thật chắc, anh nắm chân tôi để giúp tôi chịu được cú dập của Lisette.
– Chỉ còn con sóng này nữa là đến nó đấy, – Sylvain hét to. 
Anh đứng trước bè của anh, đưa cả thân mình chống đỡ khối nước ập xuống anh. Tôi cũng ở trong tư thế như vậy, còn được tay không giữ thật chắc, nhưng anh quá căng thẳng, móng tay anh bấm ngập vào bắp vế tôi.
Con sóng Lisette đưa chúng tôi đi đã tới. Nó thẳng đứng như một cái tháp chuông nhà thờ. Với tiếng gầm váng óc quen thuộc, nó đập mạnh vào hai tảng đá và luồn mạnh về phía vách đá.

Tôi lao xuống trước bạn tôi một tích tắc. Sylvain cũng lao xuống gọn gàng không kém, và cả hai cái bè của chúng tôi cũng được Lisette hút ra khơi nhanh đến chóng mặt. Chưa đến năm phút sau, chúng tôi đã ở cách xa bờ hơn ba trăm mét. Sylvain chưa leo lên bè của anh. Hai phút sau, tôi đã ngồi trên bè của tôi. Chang chạy vội lên chiếc ghế của Dreyfus đứng dơ một chiếc khăn tay trắng để chào từ biệt. Chúng qua khỏi được điểm nguy hiểm, chỗ sóng tập trung lại để xô thẳng vào Đảo Quỷ. Những cơn sóng đẩy chúng tôi ra khơi dài hơn, gần như không có bọt, êm đến nỗi chúng tôi hòa với chúng làm một, tôi mà không bị xóc, không sợ bè bị lật.
Chúng tôi từ từ ra khơi một cách êm ái, lên xuống theo những lớp sóng cao thấp, vì thủy triều đang lấp xuống. Trên đỉnh cao một ngọn sóng, quay hẳn mặt lại tôi còn được trông thấy một lần nữa tấm khăn trắng của Chang. Sylvain cách tôi không xa, chừng năm mươi mét về phía trước. Anh dơ tay lên vẫy nhiều lần, tỏ ý vui mừng vì thắng lợi.
Đêm cũng dễ chịu, và chúng tôi cảm thấy sức hút của biển rất mạnh. Nước thủy triều vừa nãy cuốn chúng tôi ra khơi bây giờ lại đẩy chúng tôi về phía đất liền. Mặt trời đang mọc ở chân trời, như vậy là đã sáu giờ. Chúng tôi đang ở thấp dưới mặt nước nên không trông thấy bờ. Nhưng tôi cũng nhận ra là chúng tôi ở rất xa các đảo vì, tuy mặt trời chiếu sáng các mỏm cao của đảo, chúng tôi chỉ thấy một khối lù lù, có thế thôi. Không thấy rõ nét các đảo, tôi cho là chúng ở cách đấy ít ra đến ba mươi ki-lô-mét. Tôi mỉm cười với thành công, với thắng lợi. Hay tôi thử ngồi lên chiếc bè xem sao nhỉ? Gió thổi vào lưng tôi, có thể đẩy tôi đi.
Và tôi đã ngồi lên. Tôi gỡ sợi xích ra và cuốn một vòng quanh thắt lưng. Chiếc ốc bù-loong đã bôi mỡ làm trơn, dễ vặn chặt ốc ê-cu. Tôi hong tay trước gió cho chóng khô. Tôi tìm cách châm một điếu thuốc. Được rồi. Tôi hít những hơi đầu, thật dài, thật sâu và thở khói ra, từ từ. Tôi không còn sợ gì nữa. Và không cần phải mô tả những cơn đau quặn trong bụng tôi từ trước và trong thời gian bắt đầu hành động. Không, tôi không sợ gì cả, đến nỗi hút xong điếu thuốc, tôi quyết định ăn vài miếng cùi dừa. Tôi ngón một nắm lớn và lại hút một điếu thuốc nữa. Sylvain vẫn còn xa tôi. Thỉnh thoảng khi cả hai cùng ở trên đỉnh một ngọn sóng, chúng tôi có thể thoáng trông thấy nhau. Nắng gắt chiếu thẳng vào đầu làm cái sọ của tôi như sôi lên. Tôi ngâm khăn mặt xuống nước rồi quấn lên đầu. Tôi cởi áo va-rơi len ra. Tuy có gió nhưng tôi cũng thấy chết ngột trong chiếc áo này.
Trời đất ơi! bè của tôi vừa bị lật và tôi suýt chết đuối. Tôi uống phải hai hớp nước biển. Tuy cố hết sức tôi cũng không lật nổi cái bao tải và leo lên trên được. Sau cùng tôi xoay nghiêng cái bao tải và tôi bơi đứng ở bên cạnh. Tôi đã thở được dễ dàng hơn. Tôi cố tháo hẳn sợi xích ra khỏi thắt lưng, nhưng mấy ngón tay của tôi không vặn nổi ốc ê-cu. Tôi phát cáu, có lẽ vì ngón tay tôi bị co quắp lại không còn đủ sức để vặn ốc nữa. Hú vía! Sau cùng, rồi cũng xong! Tôi vừa trải qua một giai đoạn ngặt nghèo. Tôi thật sự hoảng hồn tương không thể gỡ ra khỏi sợi xích được.
Tôi không buồn lật bè lại nữa. Mệt lả, tôi tự thấy không còn đủ sức làm việc ấy. Tôi leo lên bè. Thì ngồi trên đáy bây giờ đã lật lên thành phía trên, cũng có sao đâu! Tôi sẽ không trói mình vào bè với sợi xích hay với bất cứ cái gì nữa. Bây giờ tôi đã thấy rõ tôi buộc cổ tay tôi vào bè lúc bắt đầu khởi hành là ngu ngốc đến nhường nào. Việc ấy phải là một kinh nghiệm đối với tôi.
Nắng chiếu gay gắt làm cháy da tay và đùi tôi.
Mặt tôi nóng bừng bừng. Dấp nước vào còn tệ hại hơn, tôi nghĩ vậy, vì nước bốc hơi ngay tức khắc và tôi lại càng bị bỏng nặng hơn.
Gió đã dịu đi rất nhiều, và vì bây giờ sóng không cao nữa nên đi dễ chịu hơn nhưng chậm hơn. Cho nên gió to và biển động thế mà còn hơn là đẹp trời. Tôi bị chuột rút ở chân phải, đau đến nỗi tôi kêu toáng lên làm như thể có người nào ở quanh đấy có thể nghe thấy. Tôi lấy ngón tay làm dấu chữ thập lên chỗ đau, vì tôi nhớ bà tôi bảo làm như vậy sẽ qua được cơn đau. Cách chữa bệnh lang vườn này thất bại thảm hại. Mặt trời đã ngả về Tây. Bây giờ chừng bốn giờ chiều, từ lúc bắt đầu đi, đây là cơn thủy triều thứ tư. Lần nước lên này như đẩy tôi vào bờ mạnh hơn.

Lúc này tôi trông thấy Sylvain thường xuyên và anh ta cũng trông thấy rõ tôi. Anh rất ít khi bị khuất vì sóng không xuống thấp lắm. Anh đã cởi áo sơ-mi và ở trần. Anh ta ra hiệu cho tôi. Anh ở trước tôi ba trăm mét về phía ngoài khơi. Hình như anh đang dùng tay chèo, vì xung quanh anh tôi thấy nước hơi sủi bọt. Có lẽ anh muốn hãm bè của anh cho đi chậm lại để tôi đến gần anh được. Tôi nằm dài trên bao tải và xúc tay xuống nước để chèo. Nếu anh ta hãm bè, còn tôi thì dấn lên, có lẽ khoảng cách giữa hai chúng tôi sẽ thu hẹp lại chăng?
Tôi đã chọn đúng bạn đường cho chuyến vượt ngục này, anh đã trăm phần trăm xứng đáng.
Tôi thôi không chèo bằng tay nữa. Tôi thấy mỏi. Tôi cần phải giữ sức. Tôi lại ăn và cố lật bè lại. Bọc thức ăn ở phía dưới, chai nước ngọt cũng vậy. Tôi đói và khát. Môi tôi đã nét nẻ và bỏng rộp lên: Cách tốt nhất để lật các bao tải là đeo lấy nó, đối diện với sóng rồi lấy chân đạp lúc nó lên đến đỉnh sóng.
Sau năm lần làm thử, tôi đã lật được bè lại. Tôi mệt lả vì đã cố gắng quá sức và khó khăn lắm tôi mới leo nổi lên bè.
Mặt trời đã xuống sát chân trời, chẳng bao lâu nó sẽ lặn. Vậy là gần sáu giờ rồi. Cầu cho đêm đừng bị xáo động quá, vì tôi hiểu rằng ngâm mình lâu dưới nước sẽ làm tôi mất sức. Sau khi ăn hai tảng cùi dừa, tôi tu một ngụm to nước đựng trong quả bầu của Santori. Thỏa thuê rồi, tôi hong tay trước gió cho tay khô, rồi lấy thuốc lá ra hút, rất khoan khoái. Trước khi trời sập tối, Sylvain vẫy khăn tay, tôi cũng vẫy lại, để chúc nhau ngủ ngon. Anh ta vẫn ở xa tôi như cũ. Tôi ngồi trên bè, hai chân duỗi dài. Tôi vừa vắt áo va rơi len của tôi cho kiệt nước, và mặc áo vào. áo dù ướt cũng giữ được ấm, mà mặt trời vừa lặn là tôi cảm thấy lạnhngay tức khắc. Gió đã trở mạnh. Chỉ còn những đám mây ở phía Tây còn được ánh sáng hồng ở chân trời chiếu sáng. Còn thì mọi vật đều chìm trong bóng tối đang mỗi lúc một xẩm đen hơn. ở phía đông, nơi gió thổi về, trời không có mây. Vậy là lúc này không sợ trời đổ mưa.
Tôi chẳng nghĩ đến gì ngoài việc ngồi cho chắc, đừng để bị đẫm nước một cách vô ích, và tôi tự hỏi, không biết khi đã mệt, nên buộc mình vào các bao tải hay là làm như vậy dễ nguy hiểm, do kinh nghiệm vừa qua của tôi. Rồi tôi nhận thấy tôi lúng túng là do sợi xích ngắn quá, một đầu để thừa vô ích, nó quấn vào dây thừng và dây thép của bao tải. Thu hồi đoạn đó cũng dễ. Tôi sẽ cử động thoải mái hơn. Tôi sửa lại sợi xích, và lại cuốn nó vào thắt lưng. Như vậy tôi thấy yên tâm hơn vì tôi rất sợ ngủ quên và để mất các bao tải.
Đúng, gió đã nổi lên cùng với sóng. Trò trượt lên trượt xuống với sóng biển tiếp diễn, mỗi lúc khoảng cách giữa điểm cao nhất và điểm thấp nhất lại một tăng lên.
Đêm đã xuống hẳn. Bầu trời chi chít hàng triệu ngôi sao, và chòm sao Chữ thập phương Nam sáng hơn tất cả các sao khác.
Tôi không trông thấy anh bạn của tôi. Đêm đầu tiên này rất quan trọng vì nếu vận may xui khiến cho gió thổi mạnh và đều suốt đêm, đến sáng mai, tôi đã đi được một đoạn đường khá dài. Càng về khuya, gió thổi càng mạnh. Trăng từ dưới biển từ từ mọc lên, một màu đỏ nâu, và khi lên cao rỏi, nó lộ hắn ra, to tướng, tròn vành vạnh, và tôi thấy rất rõ những đốm đen làm cho nó giống mặt người. Vậy là đã hơn mười giờ đêm. Trời mỗi lúc một sáng hơn. Trăng càng lên cao, ánh trăng càng sáng tỏ.
Đỉnh sóng nhuộm một màu bàng bạc và ánh phản xạ kỳ lạ của nó làm tôi chói mắt. Không thể không nhìn ánh phản chiếu bàng bạc này được nhưng quả thật nó làm cho mắt ta đã bị nắng và nước mặn kích thích lại càng khó chịu và nhức nhối thêm.
Dù tôi tự cho như vậy là quá nhiều, tôi vẫn không cưỡng lại được và tôi đã hút liền ba điếu thuốc.
Không có gì bất bình thường đối với chiếc bè trên biển sâu, nó cứ lên xuống đều đều không có vấn đề gì phải lo lắng. Tôi không thể duỗi mãi chân trên các bao tải vì tư thế ngồi đã mau chóng làm chân tôi bị chuột rút rất đau.

Dĩ nhiên, tôi luôn luôn bị ướt từ hông trở xuống. Ngực tôi gần như khô ráo, gió đã làm khô áo va rơi của tôi và sau đó không có đợt sóng nào làm tôi bị ướt quá khoảng thắt lưng. Mắt tôi mỗi lúc một nhức hơn. Tôi nhắm mắt lại. Thỉnh thoảng tôi lại thiếp đi “Không được ngủ”. Nói thì dễ, nhưng tôi không sao chống lại cơn buồn ngủ được. Mẹ kiếp? Tôi phải chống lại cái trạng thái đờ đẫn này. Và cứ mỗi lần trở lại với thực tại, tôi lại thấy đau nhói trong óc. Tôi lấy máy lửa ra. Thỉnh thoảng tôi lại để ngọn lửa sát cánh tay phải hay sát cổ cho bỏng da.
Một nỗi lo âu khủng khiếp tràn vào lòng tôi, tôi lấy hết nghị lực xua đuổi nó đi. Tôi sẽ ngủ thiếp đi chăng? Nhỡ ngã xuống nước, cái lạnh có làm tôi tỉnh dậy không? Tôi buộc người vào sợi xích là đúng. Tôi không thể để mất hai bao tải này, chúng là cuộc sống của tôi. Nếu bị lăn xuống nước mà tôi không tỉnh dậy thì quả là tai hại.
Vài phút qua, tôi lại bị ướt đẫm cả người. Một cơn sóng quái ác, chắc hẳn không chịu đi theo con đường đều đặn của các lớp sóng khác, đã dội vào tôi từ bên phải.
Con sóng đó không phải chỉ dội cho tôi ướt mà còn làm cho tôi quay ngang ra thành thử hai lớp sóng khác đi đúng hướng lại dội một mẻ nữa ướt từ đầu đến chân.
Đêm thứ hai đã khuya lắm rồi. Không biết mấy giờ? Theo vị trí mặt trăng bắt đầu ngả về tây, chắc phải hai ba giờ sáng. Chúng tôi ngâm mình trong nước đã năm lần thủy triều lên xuống, cả thảy ba mươi giờ đồng hồ. Bị ướt thấu xương cũng có lợi cho tôi: cái lạnh làm tôi tỉnh hẳn. Tôi run bần bật, nhưng tôi lại mở được mắt mà không phải cố gắng lắm. Chân tôi bị tê cứng, và tôi quyết định thu chân vào sát dưới mông. Tôi dùng hai tay kéo từng chân một, cuối cùng tôi cũng ngồi lên được chân mình. Các ngón chân của tôi đã bị lạnh cóng, chúng có nóng lên được dưới thân tôi không?. Tôi ngồi xếp bằng tròn, giữ tư thế ấy thật lâu.
Thay đổi cách ngồi cũng làm tôi dễ chịu. Tôi cố tìm Sylvain vì trăng chiếu mặt biển rất rõ. Chỉ có điều nó đã xuống thấp, lại chiếu thắng vào mặt làm tôi khó nhận ra mọi vật. Tôi chẳng trông thấy gì. Sylvain không có gì để buộc người vào các bao tải, không biết anh còn ở trên đó không?
Tôi dõi tìm anh một cách tuyệt vọng. Vô ích. Gió thổi mạnh, nhưng thổi đều đều, không giật từng cơn, và điều ấy rất quan trọng. Tôi quen với nhịp độ của gió và cả người tôi hòa vào làm một với các bao tải của tôi. Cứ rõi mắt nhìn quanh mãi, dần dần tôi chỉ còn một ý nghĩ cố định trong đầu: trông thấy được bạn tôi. Tôi hong ngón tay cho gió thổi khô rồi tôi cho vào mồm thổi hết sức mạnh. Tôi lắng nghe. Không có tiếng đáp lại Sylvain có biết huýt sáo bằng ngón tay không? Tôi cũng không rõ nữa. Đáng lẽ tôi phải hỏi anh ta điều đó trước khi đi, cũng có thể làm hai cái còi tu huýt một cách dễ dàng! Tôi tự trách mình đã không nghĩ đến điều đó. Rồi tôi để hai tay trước mồm làm loa cất tiếng hú rõ to: “Hú-ù! Hú-ù!”. Chỉ có tiếng gió và tiếng sóng đáp lại
Không chờ thêm nữa, tôi đứng thẳng lên các bao tải, tay trái đỡ sợi xích, tôi giữ thăng bằng trong khi năm con sóng đưa tôi lên tận đỉnh cao. Khi lên đến tột đỉnh, tôi đứng thẳng, còn khi sóng đang hạ hay đang lên thì tôi ngồi xổm. Bên phải, bên trái, phía trước đều chẳng thấy gì. Sylvain có ở phía sau không? Tôi không dám đứng lên nhìn về phía sau. Tôi chỉ nhận ra một điều không nghi ngờ gì được là ở phía trái tôi có một đường dài đen sẫm dưới ánh sáng trăng. Chắc chắn đây là rừng.
Ban ngày hẳn là tôi sẽ trông thấy cây cối, điều đó sẽ làm tôi thấy dễ chịu. “Papi, ban ngày, mi sẽ trông thấy rừng. Lạy Chúa hãy làm cho tôi trông thấy cả bạn tôi nữa”.
Sau khi xoa bóp các ngón chân, tôi duỗi dài hai cẳng chân ra. Rồi tôi quyết định hong tay cho khô và hút thuốc. Tôi đã hút hai điếu. Không biết lúc này là mấy giờ? Trăng đã xuống thấp. Tôi không nhớ được đêm qua, nó lặn được bao lâu thì mặt trời mọc. Tôi nhắm mắt cố nhớ lại những hình ảnh của đêm đầu tiên. Nhưng vô ích. à, tôi đã nhớ ra rồi, Tôi chợt thấy rõ mặt trời mọc ở phía đông và cùng lúc đó, còn thấy được một mảnh trăng trên đường chân trời về phía tây. Như vậy là chắc độ năm giờ. Chùm sao chữ Thập phương Nam đã lặn từ lâu, Đại hùng tinh và Tiểu hùng tinh cũng vậy.

Chỉ còn sao Bắc cực sáng hơn các vì sao khác. Từ lúc chùm sao Chừ Thập lặn, sao Bắc cực là chúa tể ở trên trời.
Gió như bốc lên. Có thể nói nó thổi mạnh hơn lúc ban đêm. Vì sóng cũng mạnh và sâu hơn, và trên các ngọn sóng, những đám bọt trắng nhiều hơn lúc đầu hôm. Tôi ở trên biển đã được ba mươi giờ. Cho đến bây giờ, phải thừa nhận là mọi việc tốt nhiều hơn xấu, và ngày hôm nay mới là ngày gay go nhất.
Hôm qua, tôi đã bị phơi nắng chang chang ở ngoài trời từ sáu giờ sáng đến sáu giờ chiều, và da bị nướng đi nướng lại nhiều lần. Hôm nay, mặt trời lại rọi vào tôi nữa, thật không phải chuyện đùa. Môi tôi đã nứt nẻ, thế mà giờ này vẫn còn là đêm, trời vẫn còn mát. Hai môi tôi nhức nhối không kém gì hai con mắt tôi. Cả cánh tay và bàn tay cũng thế. Nếu có thể, tôi sẽ không để hở tay cho nắng chiếu vào nữa. Một chỗ khác cũng làm tôi đau nhức là giữa hai bến bẹn và hậu môn. ở đấy không phải do ánh nắng trời mà do da ngấm nước biển, lại bị cọ xát với các bao tải.
Nhưng dù bị bỏng, anh bạn ơi, anh cũng là đang vượt ngục, và ở chỗ này còn hơn là chịu đựng đủ điều tệ hại ở trai khổ sai. Viễn cảnh tới được đất liền mà vẫn sống có đến chín mươi phần trăm, và thế là đã hay lắm rồi, chứ còn gì nữa? Dù cho tôi tới nơi, da có bị lột hết và nửa thân người có trơ cả thịt, cũng không phải là trả giá quá đắt cho một chuyến đi như thế này, với một kết quả như thế này. Anh bạn thấy không, chẳng thấy bóng một con cá mập nào: chúng đi nghỉ phép ở đâu cả rồi không biết? Anh bạn đúng là gặp vận đỏ, không thể chối cãi được. Lần này rồi anh sẽ thấy là lần thành công thật sự. Trong tất cả các chuyên vượt ngục được tính giờ quá chính xác, được chuẩn bị quá kỹ càng, thì rốt cục, chuyến vượt ngục thành công lại là chuyến đi ngớ ngẩn nhất. Chỉ có hai bao tải đựng trái dừa, rồi phó mặc cho sóng và gió muốn đẩy đi đâu thì đẩy. Nó lại đẩy vào Đất Liền mới hay chứ. Chẳng cần phải tốt nghiệp ở trường võ bị Saint-Cyr ra mới biết được rằng tất cả các vật trôi giạt trên biển đều bị đẩy vào bờ. Nếu siốt ngày hôm nay gió và sóng cứ mạnh đều như đêm qua, chắc chắn chiều nay chúng tôi sẽ đến đất liền.
Con quái vật vùng nhiệt đới đa hiện lên sau lưng tôi. Hôm nay, nó có vẻ kiên quyết muốn thiêu cháy tất cả, vì trông nó rừng rực những lứa. Nó đuổi ánh trăng đi trong nháy mắt. Chưa ra khỏi chỗ nằm, nó đã chễm chệ chiếm ngôi bá chủ, làm vua cả vùng nhiệt đới mà không ai dám ho he. Mới thoáng một chút, gió đã gần như ấm hẳn lại. Chỉ một giờ nữa là sẽ nóng. Một cảm giác khoan khoái đầu tiên xâm chiếm lấy tôi. Những ánh nắng sớm vừa chạm vào da thịt tôi là tôi thấy dễ chịu hẳn, từ đầu đến thắt lưng. Tôi bỏ chiếc khăn mặt che đầu, để ánh mặt trời chiếu vào má tôi như sưởi lửa. Con quái vật đó, trước khi nung tôi lên, muốn tôi phải cảm thấy nó là sự sống trước khi là cái chết.
Máu tôi chảy đều trong các huyết mạch, và ngay cả hai bộ bắp đùi ướt nhễ nhại của tôi cũng cảm biết được dòng máu đầy sinh khí bên trong.
Tôi thấy rất rõ cánh rừng rậm, dĩ nhiên là chỉ thấy được các ngọn cây. Tôi có cảm giác nó không còn xa. Tôi chờ cho mặt trời lên cao hơn chút nữa để đứng trên các bao tải xem có thấy Sylvain đâu không.
Chưa đến một giờ sau, mặt trời đã lên cao. Trời ơi đúng là nó rồi. Tôi không mở hẳn được mắt trái. Tôi lấy tay vốc nước xoa vào mắt. Cay quá. Tôi cởi áo va-rơi ra. Tôi sẽ ở trần chốc lát trước khi ánh nắng chiếu gay gắt quá.
Một lớp sóng cao hơn hẳn các lớp khác từ dưới sâu nâng bổng tôi lên. Sóng nhồi một nửa giây trước khi hạ xuống thấp, và tôi thoáng thấy anh bạn tôi. Anh ngồi trên bè của anh, mình trần. Anh không trông thấy tôi. Anh ở hơi chếch về phía trước, bên trái tôi, cách tôi chưa tới hai trăm mét. Gió vẫn thổi mạnh, cho nên tôi quyết định tiến lại gần anh, vì anh ở phía trước tôi cùng trên một đường thắng, tôi xỏ tay vào áo va-rơi và giơ lên cao, mồm tôi cắn vạt áo phía dưới. Cái thứ buồm này chắc đẩy tôi đi nhanh hơn anh. Tôi căng buồm như vậy độ nửa giờ. Nhưng chiếc áo va-rơi làm tôi nhức răng, và sức lực bỏ ra để chống lại với gió làm tôi chóng mặt. Thế mà khi bỏ “buồm” xuống tôi vẫn còn cảm giác đã đi được nhanh hơn là để cho sóng đẩy.
Hoan hô? tôi vừa thấy được “anh bạn lớn” của tôi. Cách tôi chưa đầy một trăm mét. Nhưng anh ta làm gì thế kia? Anh không có vẻ quan tâm xem tôi đang ở đâu. Khi một đợt sóng đưa bổng tôi lên khá cao, tôi trông thấy anh một, hai, ba lần. Tôi để ý thấy rõ ràng anh đưa tay phải lên mắt, đúng là anh đang quan sát mặt biển. Nhìn về phía sau đi, đồ ngốc! Chắc anh có nhìn, đúng là thế, nhưng anh không thấy gì cả.
Tôi đứng lên và huýt sáo. Khi sóng nhồi tôi lên cao, tôi thấy Sylvain ở trước tôi. Anh giơ áo va-rơi lên trời. Chúng tôi chào nhau đến hai mươi lần trước khi ngồi xuống. Cứ mỗi lần sóng nhồi lên là chúng tôi lại chào nhau, được cái may là anh ta cũng được sóng đưa lên cùng một lúc với tôi. Hai đợt sóng sau cùng, anh ta chỉ tay về phía cánh rừng già, mà bây giờ chúng tôi đã trông rõ các chi tiết. Rừng chỉ còn cách chúng tôi chưa đến mười ki-lô-mét. Tôi vừa mất thăng bằng ngã ngồi xuống mảng. Được trông thấy bạn và rừng gần như vậy, một niềm vui lớn lao tràn ngập lòng tôi. Tôi cảm động khóc òa lên như một dứa con nít. Nước mắt đã rửa sạch đôi mắt đầy ghèn của tôi, và qua những giọt nước mắt ấy, tôi thấy hàng ngàn những tinh thể đủ màu, tôi nghĩ vớ vẩn trông chúng giống như những tấm kính màu ở các cửa sổ nhà thờ. Hôm nay, Chúa lại đến với mi rồi, Papi ơi. Trước những hiện tượng quái gở của thiên nhiên, trước gió, biển rộng mênh mông, sông sâu thăm thẳm, rừng xanh oai nghiêm, con người cám thấy mình vô cùng nhỏ bé so với mọi vật xung quanh, và có lẽ không cần tìm ở đâu, người ta cũng gặp và sờ tay được tới Thượng đế. Cũng như đêm đêm tôi đã từng sờ mó thấy được Thượng đế đế trong số hàng ngàn giờ tại các phòng giam khủng khiếp mà tôi đã bị nhốt vào, không có lấy một tia sáng, giờ đây tôi cũng nhìn thấy Thượng đế trong ánh nắng thiêu đốt những gì không đủ mạnh để chống lại nó, tôi đã sờ được vào Thượng đế, tôi cảm biết được Thượng đế ở quanh tôi, ở trong tôi. Chúa còn thủ thỉ nói bên tai tôi: “Con đang đau khổ và con sẽ còn phải đau khổ nữa, nhưng giờ đây ta quyết định sẽ đến cùng con. Con sẽ được tự do và sẽ là người thắng cuộc, ta hứa với con như vậy”. Không được dạy dỗ gì về tôn giáo, không biết ất giáp gì về giáo lý Cơ đốc, dốt nát đến nỗi không biết cha đức Chúa Jesus là ai, mẹ Chúa có đúng là đức thánh bà đồng trinh Maria không, cha của ngài là thợ mộc hay người chăn lạc đà, dù dốt hoặc cán mai như vậy nhưng nếu thật sự tìm đến Chúa, thì người ta vẫn có thể nhận ra Người trong gió, trong biển, trong ánh mặt trời, trong chốn rừng sâu, trong các vì sao trong những con cá mà người đã tạo ra hằng hà sa số để nuôi sống con người.
Mặt trời đã nhanh chóng lên cao, gần mười giờ sáng. Người tôi từ thắt lưng trở lên đến đầu đã khô ráo, tôi thấm nước vào khăn mặt và cuốn lên đầu. Tôi lấy áo va-rơi để che thêm vì da ở vai, lưng và cánh tay bị bắt nắng làm tôi thấy rát bỏng. Cả đùi tôi, tuy vẫn ngâm dưới nước, cũng đỏ ối lên như con tôm luộc. Vì đã gần đất liền, sức hút mạnh hơn gấp bội, nên sóng xô thẳng đứng vào bờ. Tôi nhận rõ các chi tiết của cánh rừng và tôi cảm thấy rằng chỉ trong buổi sáng nay, chỉ độ năm sáu giờ nữa chúng tôi sẽ vào sát bờ. Qua lần vượt ngục đầu tiên, tôi đã biết ước lượng khoảng cách. Khi nhìn rõ từng chi tiết được vật gì, thì chỉ còn cách xa vật đó chưa tới năm ki-lô-mét, thế mà ở đây tôi phân biệt được cả các thân cây lớn nhỏ khác nhau. Và trên đỉnh một con sóng cao hơn hết tôi nhận ra rất rõ một thân cây lớn nằm ngang, cành cây sà xuống cả mặt biển.
Kìa, lại có cá heo và chim! Cầu cho cá heo nô rỡn đẩy bè của tôi vào bờ. Tôi được nghe kể rằng cá heo có thói quen đẩy những mảnh thuyền vỡ và những người trôi giạt trên biển vào bờ, chúng còn thúc mõm vào người ta làm cho người ta chết đuối, mặc dầu chúng chỉ có một ý định tốt đẹp là giúp đỡ người bị nạn. Nhưng không, lũ cá đó, có đến ba bốn con lượn đi lượn lại đến ngửi xem đấy là cái gì rồi bỏ đi mà không đụng đến mảng của tôi. Thế là hết!
Đúng ngọ, mặt trời thẳng đứng trên đầu tôi. Cái thằng cha ấy muốn đun tôi làm nón xúp thịt nhừ chắc? Mắt tôi bị mưng mủ, trào nước mắt sống dàn dụa, mũi và môi tôi đã tróc hết da. Các lớp sóng đã ngắn dần và hung hãn xô vào bờ, tiếng đổ ầm ầm vang lên dữ dội.
Tôi liên tục trông thấy Sylvain. Sóng không trũng xuống thấp, nên anh ta không lúc nào bị che lấp đi. Thỉnh thoảng anh quay lại và đưa tay lên cao. Anh vẫn ở trần, khăn mặt cuốn trên đầu.
Không phải những đợt sóng mà là những cuộn sóng đẩy chúng tôi vào bờ. Có một doi đất bị sóng xô vào ầm ầm nghe phát sợ, nhưng sau khi vượt qua doi đất tràn trề bọt sóng, chúng lao về phía cánh rừng.
Chúng tôi chỉ cách bờ chừng một ki-lô-mét nữa và tôi sẽ thấy rõ những con chim sắc trắng và hồng, có những cái mào trông rất quý phái, vừa đi vừa mổ xuống bùn. Có đến hàng ngàn con. Không con nào bay cao quá được hai mét. Chúng bay từng chặng ngắn là để khỏi bị bọt nước bắn phải. Nước biển đầy bọt, một màu vàng như bùn, nhớp nhúa. Chúng tôi đã vào gần bờ, và tôi nhận thấy rõ cả những đường vạch bẩn do nước để lại trên các thân cây khi thủy triều lên tới mức cao nhất.

Tiếng sóng không át nổi tiếng hàng ngàn con chim cao cẳng đủ màu sắc này kêu the thé. Păng? Păng, còn cách bờ hai ba mét nữa thôi. Plou! Thế là đã đến nơi rồi, tôi đã ở trên bùn, người khô ráo. Nước không đủ sâu để tôi có thể đứng được. Căn cứ vào vị trí mặt trời, bây giờ là hai giờ chiều. Tôi đã lênh đênh trên biển được bốn mươi giờ. Bắt đầu từ ngày hôm kia, vào lúc mười giờ đêm, sau khi nước rút được hai giờ. Vậy, đây là con nước thuỷ triều thứ bày, và tôi đến vào lúc khô ráo là phải, lúc này nước đang xuống. Nước bắt đầu lên vào lúc ba giờ. Đêm nay tôi sẽ vào tới rừng. Phải giữ sợi xích để không bị văng ra khỏi các bao tải, vì nguy hiểm nhất là lúc sóng trào qua người tôi nhưng lại không cuốn tôi đi theo vì tôi đã nằm sát bùn. ít ra phải ba giờ nước dâng tôi mới nổi lên được.
Sylvain ở bên phải tôi, về phía trước chừng hơn một trăm mét. Anh trông về phía tôi và ra hiệu cho tôi. Tôi có cảm giác anh muốn nói lên điều gì nhưng cổ họng anh hình như không phát ra được tiếng nào, vì nếu có thì tôi đã nghe thấy rồi. Sóng cũng không cuộn vào nữa vì chúng tôi ở trên bãi bùn, chỉ có tiếng chim kêu đến tai chúng tôi. Chỗ tôi ở cách rừng chừng năm trăm mét mà Sylvain lại ở phía trước tôi chừng một trăm hay một trăm năm mươi mét. Nhưng cái thằng đại ngốc, nó đang làm gì thế kia? Nó đã đứng lên và rời khỏi cái mảng của nó. Nó điên hay sao vậy? Không thể đi trên bùn được, vì đi mỗi bước sẽ lại bị lún sâu hơn một chút, có thể không trở về mảng được. Tôi muốn huýt lên nhưng không huýt được. Bình đựng nước của tôi còn một ít nước, tôi đã uống hết rồi. Tôi cố kêu to để ngăn Sylvain lại, nhưng không thốt lên được một tiếng nào. Bọt khí từ dưới bùn sủi lên, đấy chỉ là một lớp móng, dưới nữa là bùn loãng và kẻ nào bị sa lầy xuống đây chắc chắn là không thể nào ngoi lên được nữa.
Sylvain quay về phía tôi, nhìn tôi và ra hiệu gì tôi không hiểu. Tôi cũng quơ tay làm hiệu, tôi muốn nói với anh ta “Đừng ra khỏi bè, cậu không thể tới được rừng đâu. Vì anh ta đứng phía bên kia cái bao tải đựng trái dừa nên tôi không biết anh đứng cách nó xa hay gần. Thoạt tiên, tôi nghĩ anh đứng rất gần bè, và nếu có bị sa lầy, anh cũng bám được vào đấy. Rồi tôi chợt nhận thấy cái khoảng cách ấy hơi xa, và Sylvain đang lún xuống bùn, không rút chân lên được để trở về bè. Tôi nghe được một tiếng kêu, tôi vội nằm sấp xuống bao tải của tôi và xúc tay xuống bùn, lấy hết sức trườn lên phía trước. Các bao tải trượt đi dưới thân tôi, và tôi trườn lên được hơn hai mươi mét. Lúc bấy giờ tôi đứng dậy, nhìn hơi xiên về phía trái, không bị các bao tải của Sylvain che khuất, tôi thấy bạn tôi đã bị lún xuống bùn đến ngang bụng. Anh ta ở cách bè của anh tới hơn mười mét. Do khiếp sợ, tôi mới kêu lên được: “Sylvain, Sylvain, đừng nhúc nhích nữa, nằm dài xuống bùn đi, cố rút chân lên”. Gió đưa tiếng nói của tôi đi, và anh đã nghe được. Anh gật đầu ra hiệu là đã hiểu ý tôi. Tôi lại nằm sấp và cào vào bùn để cái bao tải của tôi trườn lên trước. Cơn giận dữ điên cuồng làm tôi có một sức mạnh phi thường, và tôi đã mau chóng tiến đến gần anh được ba mươi mét nữa. Chắc phải mất hơn một giờ, nhưng tôi đã đến rất gần Sylvain, có lẽ chỉ còn năm sáu trăm mét nữa. Tôi không nhìn rõ anh. Bàn tay, cánh tay và mặt tôi lấm lem đầy bùn, tôi ngồi lên cố chùi con mắt trái bị chất bùn lẫn muối mặn lọt vào, làm tôi không trông thấy gì cá, trong khi con mắt phải cũng bắt đầu là nước mắt làm tôi càng khó chịu thêm. Sau cùng tôi cũng nhìn thấy anh, anh đứng thẳng, chỉ có thân trên nhô ra khỏi bùn. Cuộn sóng đầu tiên vừa ào qua, nó tràn qua người tôi mà không nhấc tôi lên, và còn lao đi một quãng nữa, bọt sóng lấp cả lớp bùn. Nó tràn tới chỗ Sylvain. Thân người anh vẫn nhô trên bãi bùn. Tôi nghĩ thật nhanh: “Các cuộn sóng càng tới nhiều, bùn càng loãng. Mình phải tới chỗ cậu ta bằng bất kỳ giá nào!”. Một nghị lực như của loài dã thú sắp bị mất đàn con tràn vào tôi, và giống như một người mẹ đang cố giằng giật đứa con ra khỏi một tai họa sắp giáng lên đầu nó, tôi lấy hết sức bình sinh vục hai tay vào bùn để trườn tới chỗ Sylvain. Anh nhìn tôi không nói một lời, không cử động, mắt anh mở to trông vào tôi, trong khi tôi cũng nhìn anh chằm chằm. Tôi nhìn anh không chớp mắt, và tôi cũng chẳng quan tâm để ý xem tôi vục tay vào chỗ nào. Tôi lết đi được một chút nữa nhưng do hai đợt sóng vừa tràn qua người tôi, bùn lại loãng hơn và tôi tiến lên chậm hơn so với giờ trước nhiều. Một đợt sóng lớn lại ào qua làm tôi sặc nước và gần như bị nhấc bổng lên. Tôi ngồi dậy để trông cho rõ. Bùn đã lên đến nách Sylvain, tôi còn cách chỗ anh độ bốn mươi mét. Anh nhìn tôi hết sức chăm chú. Tôi thấy là anh biết mình đã bị sa lầy ở đấy và sắp chết một cách thảm hại, cách nơi đất hứa ba trăm mét.
Tôi lại nằm xuống, cố bám vào lớp bùn bây giờ đã gần loãng như nước. Mắt tôi và mắt anh như xoáy sâu vào nhau. Anh ra hiệu bảo tôi thôi, đừng ráng nữa. Tôi vẫn cứ cố và tôi chỉ còn cách anh chưa tới ba mươi mét thì một con sóng lớn tràn qua người tôi làm tôi suýt bị tách ra khỏi các bao tải và nhấc bổng cái bao tải lên đẩy nó về phía trước được năm sáu mét. Khi con sóng đã qua đi tôi lại nhìn: Sylvain đã biến hẳn. Lớp bùn phủ dưới một váng nước mỏng nổi bọt đã phẳng lì. Không thấy cả bàn tay của anh bạn tội nghiệp của tôi đưa lên chào vĩnh biệt tôi. Phản ứng của tôi lúc bấy giờ là cái phản ứng khủng khiếp, ghê tởm của một con thú, bản năng tự bảo tồn đã át tất cả các tình cảm khác. Mi vẫn sống. Chỉ còn một mình mi và khi đến được rừng, không có bạn, không dễ dàng hoàn thành chuyến vượt ngục đâu. Một đợt sóng bổ vào lưng tôi vì lúc này tôi đã ngồi dậy – nhắc nhở tôi trở về với thực tại. Nó đẩy tôi sấp mặt xuống mạnh đến nỗi tôi nghẹt thở mất vài phút.
Cái mảng trượt lên phía trước thêm vài mét, và bây giờ, nhìn lớp sóng tàn dần dưới gốc cây, tôi mới khóc Sylvain. “Giá cậu đừng động đậy có phải đã đến nơi rồi không, chỉ còn cách đám cây chưa đến ba trăm mét? Tại sao vậy! Hãy nói cho tôi biết tại sao cậu lại làm cái việc ngu ngốc ấy? Tại sao cậu lại tưởng lớp bùn khô dủ chắc để cậu có thể đi bộ đến tận bờ? Tại ánh nắng chăng? Tại cậu chói mắt? Tôi làm sao biết được? Cậu không thể chống lại được cảnh địa ngục ấy sao? Hãy nói lên cho tôi biết tại sao một con người như cậu lại không thể chịu khó dạn nắng thêm vài giờ nữa?”. 
Những đợt sóng nối tiếp nhau liên tục, ầm ầm như tiếng sấm. Chúng ào tới, lớp sau tiếp lớn trước mỗi lúc một mau hơn, lớn hơn. Mỗi lần chúng xô đến, là tôi lại bị nước tràn qua người và mỗi lần như thế, tôi lại trôi thêm được vài mét, người vẫn áp sát vào bùn. Khoảng năm giờ chiều, bỗng nhiên những lớp sóng lăn tăn ấy biến thành sóng lớn, tôi bị nhấc bổng lên và nổi lềnh bềnh. Những lớp sóng ngầm hầu như không réo lên thành tiếng. Tiếng sấm của những đợt sóng đã ngừng. Bao tải của Sylvain đã được nước biển đẩy đến tận khu rừng.
Tôi đến nơi khá nhẹ nhàng, cách xa khu rừng nguyên thủy chưa đến hai mươi mét. Khi sóng rút ra tôi lại mắc cạn trên bùn, tôi quyết định không rời khỏi bao tải của tôi chừng nào tôi chưa nắm được một cành cây hay một sợi dây leo trong tay. Còn gần hai mươi mét nữa thôi. Phải gần một giờ, mới có được đợt sóng đủ mạnh để nhấc tôi lên và đẩy tôi vào rừng. Con sóng ầm ầm đến thẳng dưới gốc cây. Tôi vặn ốc bù loong sợi xích ra khỏi người. Tôi không vất nó đi, tôi còn cần đến nó.





Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên  

Post by Sơn râu 20 Nov 2025

Chương 16

Ngày tháng trôi qua – lúc nầy khổ hơn – những kẻ sốt ruột nhất, tất nhiên là những người làm trong các biệt đội tệ nhất, hoàn, toàn nghi ngờ thời hạn ba tháng trứ danh, vẫn được coi như thời gian cần thiết để kết thúc chiến tranh. Câu trả lời vẫn được chờ đợi mỗi khi câu hỏi đặt ra quá chi tiết. Tự tin và không lừa bịp là thái độ cũng ngày càng khó giữ. Những thông cáo của bọn Đức đầy ngạo, mạn, và hàng ngày không quên nhắc nhở Luân-đôn bị chìm ngập dưới hỏa tiễn V1 1. Người ta đã không tin hay tin rất it, nhưng giọt nước rơi đều cũng làm thương tổn chất liệu cứng rắn nhất. Từ khi chiếm được Varsovie, quân Nga đã dừng lại. Tháng 8 đã đến và chỉ có oanh tạc mà thôi. Ngoại trừ các chuyến tàu đến trễ, kết quả của chiến lược nầy không thấy được trong diễn biến của tình thế, và người ta không biết trọng lượng chính xác của nó là bao nhiêu trên cán cân lượng giá sự bại trận của Đức. Và quần chúng thì đầy phụ nữ tính. Tập thể đó bao bọc chúng tôi, và đã bắt đầu quá quen với các tin hấp dẫn từ mấy tuần qua, muốn thấy một cuộc tiến quân thêm vài cây số và một thành phố được chiếm lại. Cuộc mưu sát Hitler sưởi ấm được tâm trí họ và họ từ chối dữ dội các lời nói thật. Nếu không ai loan báo gì, họ sẵn sàng nghe theo các tin thất thiệt.

May mắn cho những kẻ tuyệt vọng. Marcel đã đến bổ túc cho tình trạng thiếu kém tin tức của chúng tôi. Không phải là anh ta mang lại những tin tức chính xác gì, nhưng anh là loại người mà lời nói được tin ngay. Anh kể lại cuộc đời thanh niên đầy sứ mạng đặc biệt của mình, và vì mỗi người tin rằng biết được một bí mật đặc biệt, ai ai cũng ngưỡng mộ anh ngay. André và tôi, chúng tôi là những người đầu tiên theo dõi sự cảm phục tổng quát, vì nhờ thế chúng tôi có thể nghỉ ngơi và đổi hướng một sự chú ý bắt đầu có vẻ nặng nề vậy thì, “đến 15 tháng 10, Churchill sẽ có mặt ở Bá-linh”. Marcel còn giữ một mẩu tờ báo trong đó có ghi rằng ông Thủ Tướng Anh đã đảm bảo ngày tháng đó với viên xử lý tòa Đại sứ Mễ Tây Cơ tại Luân-đôn, trong một cuộc tiếp xúc ngay sau hôm quau Đồng Minh đổ bộ. Và anh ta tin tưởng việc đó một cách sắt đá. Churchill là thần tượng của anh ta và mặc dù Marcel là Đại úy Hải quân, mọi sự ngờ vực Anh quốc, ý tưởng lưu truyền của Hải quân Pháp, đã biến mất, trong anh. Điều nầy dễ hiểu. Năm 1940 anh ở Luân-đôn, chấm dứt một khóa huấn luyện về Hải quân, dưới các trận mưa bom của không lực Đức, và bây giờ anh nói Anh ngữ giỏi như tiếng mẹ đẻ, cùng vởí một số người Pháp yêu nước khác, anh đã chịu đựng cuộc huấn luyện gian khổ để trở thành biệt kích đổ bộ. Với một thanh niên 20 tuổi, thật đáng chú ý! Như thế, tất cả những gì thuộc về quê hương thứ hai của anh đều có tính cách thiêng liêng.

Marcel kể các con số, các cuộc mạo hiểm trên bể. Anh đã đi theo nhiều chuyến công-voa, trước hết là trên Đại Tây Dương, Bắc hải cho đến Mourmansk. Anh đã toát mồ hôi một lần vì tàu ngầm của Đô Đốc Doenitz, nhưng không có gì làm giảm được niềm tin của anh. Anh có giọng chí thành đến nỗi trở thành thần tượng của mọi người. Và vì anh ta còn đi xa hơn cả những người lạc quan, người ta khai thác anh, bắt anh lặp lại các lời dự đoán. Cùng với André, chúng tôi không ngớt nhấn mạnh rằng chính chúng tôi đã khám phá ra anh ta. Chỉ nhờ một sự tình cờ: chúng tôi đưa vật liệu cho một toán làm việc trong đường hầm. André đưa tôi đi qua công trường, vừa đi vừa kể những ngày đầu tiên ở trại tập trung:

– Cả một vùng rộng lớn toàn lúa mì. Chúng tôi gồm có năm trăm người, những người đầu tiên, để xây dựng trại Ellrich. Những xe vận tải nhỏ đưa chúng tôi lại đây. Lúc đó là tháng tư, ngày thứ hai đúng lễ Phục sinh. Vì là công tác khởi đầu, chúng tôi phải phân tán trong cánh đồng mênh mông và dẫm chân lên lúa bằng thích, có nhiều xe ủi đến tiếp sức để hoàn tất công việc phá hoại, và quang cảnh nầy đối với tôi là cảnh đẹp nhất của thời đại điên khùng mà chúng ta đang sống. Tại nhà ga Wofleben, các toa xe vật liệu đang chờ. Từ đó như anh thấy, công cuộc xây cất không hề ngừng nghỉ. Nhiều con đường được phóng thêm, con sông uốn khúc theo triền núi có thể làm cản trở cho việc đào hầm, đã bị đổi dòng, và trong cả một góc trời, cái gì có vẻ xinh tươi đều đã bị chúng biến thành địa ngục.

Càng đến gần các đường hầm, tiếng động càng chát chúa. Họ đứng cách nhau chừng mười thước, và một đường sắt giúp cho những toa xe mang đá ra ngoài. Hầm càng được đào sâu, đường sắt cần nối dài thêm và toán bắt điện chúng tôi phải điều chỉnh đường dây để họ có ánh sáng làm việc. Ngay lối vào, một cơn lạnh ẩm ướt bao phủ lấy người, và bên trong toàn bụi xám, mịn như bột gạo, phủ khắp mọi vật. Bóng tối chỉ được soi thủng bởi vài ngọn đèn tù mù như các ngọn đèn bão. Người ta chỉ đặt ánh sáng thật sự cho những người thợ dân sự Đức, mỗi khi đường hầm hoàn tất, đến thiết trí các nhà máy. Kẻ nào rủi ro rơi vào toán đào hầm sẽ có bộ mặt như thây ma của loại nhân công làm việc lâu ngày dưới đất; họ chỉ làm tám giờ, nhưng họ thích làm mười sáu giờ ở chỗ khác hơn, nhất là họ phải làm việc luân phiên ngày đêm. Nguy hiểm nhất là các vụ nổ mìn để sửa soạn cho việc nới sâu đường hầm thêm vào phía lòng núi. Đường hầm được để trống bằng cách di tản mọi người ra ngoài một chốc, nhưng nếu một ngòi mìn không nổ, một tù nhân phải vào xem lại, và thường thường bạn bè người nầy phải lượm lại các mảnh thịt xương bắn vung vãi chung với đá vụn. Các vụ hầm sụp xảy ra luôn, nhưng vì không có một biện pháp an toàn nào, bọn nhân viên dân sự chỉ vào kiểm soát ít phút trong một ngày.

Khi chúng tôi tiến vào hầm với André, các bạn chúng tôi đang căng đường dây. Tự nhiên, tôi nhìn lên trần hầm, bởi vì có nước rơi xuống. Trong tiếng huyên náo đáng sợ” – những tù khổ sai làm công việc chất đá lên các toa xe nhỏ. Toán đào hầm không thấy được vì một lớp bụi dày bao phủ lấy họ. Rất nhiều thiếu niên làm việc trong cái lò nầy.” Ở Dora cũng như vậy, André lưu ý tôi, vì anh ta cũng đã từng nếm mùi vị chế độ lao tác nầy rồi trước khi trở thành thợ điện nhờ biết tiếng Đức. Chúng tôi biết là thứ ngôn ngữ nầy là cứu tinh tối hậu của chúng tôi. Nếu không có nó, ngoại trừ có phương tiện đặc biệt, thì tai hại cũng như câm điếc, và phải cam tâm làm tất cả các công việc nhọc nhằn. Trong một dãy trại nằm trước miệng hầm, dùng làm văn phòng của nhân viên dân sự. André phải đặt một chỗ cắm điện. Tôi đi theo anh ta, nhiệm vụ tôi đã xong và chúng tôi gặp một tù nhân làm chúng tôi ngạc nhiên vì bộ áo quần còn tốt của anh ta và nhất là vì chữ anh ta mang trên ngực:

– Kia, những người Pháp! – Anh ta kêu lên. – Thật vui thú khi thấy các anh trốn việc được, chỉ một số ít thôi đấy nhé. Tôi tên là Marcel, tôi từ Dora đến đã sáu ngày nay và tôi làm việc tại phòng họa đồ. Tất nhiên là nhờ nói được tiếng Đức.

Anh ta cũng là một người tốt số, suốt ngày ở với một viên kỹ sư vẽ các họa đồ. Thỉnh thoảng anh ta hút nguyên một điếu thuốc, có một cô thư ký đánh máy, quả là xinh, làm việc gần anh. Đó là một trong các mâu thuẫn của các trại tập trung. Vì không quen biết ai, chúng tôi lập tức mời anh ta đến nhập bọn lúc tập họp vào buổi tối, và tại đó, anh chinh phục được mọi người vì vẻ lạc quan và tính ưa kết bạn của anh, nhất là vì anh cho họ hút một cách quảng đại trong khi giá cả thuốc lá không ngớt tăng thêm.

Tuy nhiên các biến chuyển của tình hình dường như xác nhận anh ta có lý. Qua báo chí cũng như qua các buổi phát thanh mà André nghe được, chúng tôi được biết vụ Arranches, cuộc tiến quân đến Reunes, vụ bao vây vùng Bretagne và vụ khởi đầu tiến quân về Ba-lê. Đó là những ngày khó quên và những tù nhân lại được phép hy vọng. Mỗi thông cáo mang lại các địa danh mà dường như có sức mạnh bơm vào tim chúng tôi. Không lúc nào không tin chiến tranh sắp chấm dứt trong nay mai. Thế nhưng tại sao lại có nhận định rằng chiến tranh sẽ chấm đứt tháng 5 năm 1945 mà đài phát thanh Mạc-tư-khoa loan đi và được một người bạn Đức ở Buchenwald cho tôi biết, con số nầy cứ trở lại trong trí tôi mỗi khi tình hình có vẻ khá hơn. Tôi thích chẳng thà dừng biết gì và trong sự sung sướng của toàn thể, tôi thường rùng mình nghĩ rằng chắc nó đứng quá. Đúng lúc đó, nhân một cuộc phân loại lại, tôi rời khỏi khối số 3 để cùng với cả biệt đội di chuyển qua khối số 7. Marcel cũng đã có thể làm như thế và chúng tôi tìm cách nằm gần nhau để có thể tiếp tục các câu chuyện được đề cập trên sân ga, nhưng một cách chi tiết hơn. Và rồi chúng tôi trao đổi các kỷ niệm cũ. Chuyện của anh nhiều khi rất cảm động vì anh biết vận dụng yến tố tình cảm, chỉ riêng trong câu chuyện về Anh quốc, về tổ tiên của anh, tất cả đều ở trong hải quân, Tất nhiên bao giờ anh cũng trở lại câu chuyện thời gian sống ở Luân-đôn và anh bày tỏ sự ngưững mộ Tưởng De Gaulle.

– Tôi đến đó ngày 18 tháng 6, tất cả phong trào Pháp quốc tự do có mặt ở đó, trong hai gian phòng khách sạn. Một trong hai gian để một chiếc bàn, một cuốn tập và một giá đựng viết. Một tùy phái có nhiệm vụ ghi tên những người tình nguyện, Ngày đầu tiên có 300, chụp hình chung, ông Tướng nói vài lời rồi bắt tay mỗi người. Đó là lịch sử và dù không nhiều, chúng tôi cảm thấy có khả năng làm bất cứ chuyện gì. Mỗi người theo ngành chuyên môn, vì phải học hỏi phương pháp mới để tái chiếm Pháp quốc. Chúng tôi ở trong các đơn vị huấn luyện đặc biệt với thanh niên thuộc đủ loại quốc tịch… Năm 1943, người ta yêu cầu một số tình nguyện cho công tác phá hoại trên lực địa. Đó là các cuộc mạo hiểm và một tương lai vô định, nhưng có rất nhiều ứng viên: Ba Lan, Nga, Bỉ, Pháp và cả Đức nữa, tất nhiên là chống Quốc Xã. Chúng tôi được thả dù xuống xứ mình. Cuộc khởi hành được tổ chức trong đêm nhưng những giờ trước đó chắc chắn là những giờ phút đẹp nhất trong đời. Thời gian tượng trưng cho niềm khích lệ tột độ, trong đó người ta cảm thấy tình anh em thật sự. Chúng tôi chỉ biết nhau qua họ của mỗi người, có những Peter, Hans, Stanislas, Georges. Không cần nói lúc lên tàu bay, ai ai cũng ứa nước mắt. Chúng tôi hẹn gặp nhau trong tất cả các quán rượu ở Âu châu sau chiến tranh, nhưng đó chỉ là để đè nén mối xúc cảm và ai cũng biết là không bao giờ còn gặp lại nhau nữa… Đó là các nhân viên được thả dù và tính theo tỷ lệ, thì số lượng mất mát lên cao nhất, và trước sau gì mọi người cũng sẽ bị bắt. Số phận của tôi còn khá, đa số đồng bạn đã bị xử tử hình.

Lửa thiêng vẫn còn nơi anh, không lay chuyển được, và anh nóng lòng ra khỏi trại không phải để được ăn uống ngấu nghiến hay nghỉ ngơi, nhưng để chiến đấu, lần nầy chống Nhật Bổn.Tôi không muốn tranh luận với anh và nhất là khi anh có thái độ thành khẩn như thế, tuy nhiên Paco, đôi khi đến họp mặt với chúng tôi, bày tỏ quan điểm trái ngược, mặc dù vậy Marcel cũng không có vẻ gì bị lung lạc. Suy cho cùng cuộc nói chuyện của chúng tôi cũng chỉ là một phương cách đưa tinh thần và các mối ưu tư ra khỏi lãnh vực các điều kiện sống vật chất hiện tại càng ngày càng nhọc nhằn.

Trong thực tế, khối chúng tôi ở, mỗi đêm, lại bày ra cảnh sống cơ cực. Vì thiếu chỗ, chúng tôi chồng chất lên nhau như cá hộp, hiểu theo nghĩa đen, và thật là một bài toàn vỡ óc khi muốn kiếm một góc để nằm. Trong số 700 người chúng tôi. 200 phải nằm đất giữa hai dãy giường chồng lên nhau, và vấn đề là đứng lọt vào trong số 200 người đó. Khi giờ ngủ được loan báo, một nhân viên cầm gậy lùa ba người vào một giường và khi tất cả giường ngủ đều đầy, lúc đó số người còn lại phải nằm đất. Không phải vì ích kỹ mà Marcel với tôi lợi dụng vị thế công trường đã chiếm một giường, nhưng nếu là ba người thì quả thật là một cực hình, vả chăng đưa thêm một người nằm đất lên với chúng tôi cũng không phải là một sự giúp đỡ lớn lao gì.

Hơn nữa họ cũng có đệm rơm, điều bất tiện cho họ là bị gió luồng, bụi và tất cả những gì có thể từ các giường trên rơi xuống. Lại còn vấn đề chăn mền: một chiếc cho hai hay ba người. Số mền lại không đủ cho tất cả mọi người và rủi ro nhất là những kẻ bị kéo mất mền khi đèn mới tắt. Tuy nhiên trong suốt thời kỳ ấy, tổng quát, những bất tiện đó không đáng kể, bởi vì đã có cái khác an ủi; trời đẹp, tin tức tuyệt diệu, và qua tất cả mọi ngôn ngữ trong trại cũng như ngoài công trường, ai ai cũng nghe nói đến tên thành phố Ba-lê. Hình như Đồng Minh đã tiến đến ngưỡng cửa thủ đô và có thể nói đó là một biến cố đặc biệt trong số các biến cố khác, không những chỉ thuần túy về mặt quân sự, nhưng hơn thế nữa, một cái gì thuộc về tình cảm.

Ngày 20 tháng 8, các trận đánh trên đường phố được loan báo bằng tít lớn trên báo làm chúng tôi lo sợ. Tất nhiên là Ba-Lê có những dấu vết đáng hổ thẹn: các khu nhà ổ chuột, khu đĩ điếm, nhưng ở đấy cũng có nào là bảo tàng viện, đài kỷ niệm, công viên, các đại lộ xinh đẹp và tất cả danh tiếng của lịch sử hàng ngàn năm, vì ngay trong trường hợp không ở đấy, người ta cũng có thể đi dạo trong thành phố như thường. Luân-đôn, Varsovie, Rotterdam, Bá-linh, nhiều thủ đô khác đã bị ít nhiều thiệt hại vì chiến tranh, và thành thật mà nói, điều đó không làm chúng tôi quá xúc động, khi nghĩ đến chuyện vài quả bom có thể làm Ba-lê tan tành, thì đó là điều không thể quan niệm được. Chúng tôi sống trong lo sợ. Bị hủy diệt, có nghĩa là không có gì thay thế được André và tôi quả quyết là sẽ có một buổi phát thanh về cuộc tiến chiếm Ba-lê. Vừa lúc đó có một máy thu thanh cần sửa chữa trên bàn ông chủ của anh, nhưng chỉ là sửa lặt vặt không liên quan gì đến tình trạng máy cả. Hôm ấy là ngày 24 tháng 8. Ông chủ của André sẽ đi khỏi bàn giấy lúc 17 giờ. Cho đến 18 giờ, giờ tập họp, có một buổi phát thanh và nhất định phải đón nghe. Báo chí vẫn đề cập đến các trận đánh trên đường phố và còn kể ngay cả vài địa danh trong đó có khu Quartier Latin. Giữa 5 và 6 giờ, thời gian không thuận tiện vì cuối ngày, nhiều nhân viên dân sự mang báo cáo hoạt động bay giấy tờ khác về các văn phòng cùng ở trong một dãy trại, và họ thường đến gặp ông chủ của André. Tuy nhiên việc nầy có thể làm được cũng như mọi lần khác, khi cơ hội đến.

André quyết định tự để bị nhốt vào trong văn phòng từ 17 giờ bởi Guy, anh nầy có một chìa khóa được tất cả các cửa và phải giả vờ quét hành lang để che dấu vai trò canh chừng. Tôi chỉ có thể đến nhập bọn 20 phút sau. Khi tôi đến, Guy đã ở vào vị trí. Tôi mang theo Tony, Tozo và Bicot, cũng đã xong việc và mỗi người phải đứng ở một vị trí thích hợp để xem chừng có ai xuất hiện từ xa. Họ trang bị đủ loại vật liệu dụng cụ, làm như đang công tác một cách tự nhiên. Sau khi chắc chắn không có ai trông thấy, Guy mở cửa nhanh và nhốt tôi vào văn phòng cùng với André. Phòng tối om, cửa sổ đóng kín. Tận cuối phòng, tôi thấy trên một chiều cao ngang mặt bàn có một đốm sáng, đó là mắt thần của chiếc máy thu thanh, và người ta vừa nghe được một giọng nói từ phương trời đưa đưa lại. André đâu? Tôi đứng yên một lúc, không dám thở và sau cùng tôi nghe kẻ đồng mưu đứng dậy từ trong góc phòng và tiến nói với tôi:

– Khi nghe tiếng chìa khóa, tôi lùi vào góc tối nhất vì linh tính.

– Tốt, anh bắt được chưa?

– Được ngay, tôi dò được chỗ rồi nhưng họ chưa loan báo tin tức.

Chúng tôi đứng gần nhau, sát đến nỗi đầu cụng vào nhau, nhưng giọng xướng ngôn viên luôn luôn đọc một bản văn về kinh tế với các lời hứa hẹn trong thời hậu chiến, sau khi chiến thắng. Tôi nghĩ rằng chưa bao giờ tôi chưởi rủa một xướng ngôn viên đài phát thanh nhiều hơn và André cũng phụ giúp tôi. Tuy nhiên nếu trông thấy được chúng tôi y có thể nói trong phần trình bày một câu, ít ra là một câu liên quan đến Ba-lê. Lời của xướng ngôn viên, làm chúng tôi bị căng thẳng thần kinh. Nói thành thật chúng tôi sợ! Lần thứ nhất người ta có thể hành động ít mù quáng, nhưng lần thứ hai, ít nhiều ý thức về về hành động của mình hơn, chúng tôi hoàn toàn bị nguy hiểm trong hành động liều mạng. Hình ảnh những người Tiệp Khắc đu đưa nơi đầu sợi thòng lọng chợt hiện về trong trí óc André chỉ chiếc đồng hồ đặt trên bàn. Hai mươi phút đã trôi qua. Phải tắt máy ra đành chờ một dịp khác. Và rồi khi đi ra đến cửa một sức mạnh vô hình, một trực giác kỳ dị bắt chúng tôi quay trở lại. Chiếr máy được mở mau lẹ và cùng lúc chúng tôi siết tay nhau thật chặt, chúng tôi nghe mấy chữ: “Đã vào được Ba-lê anh dung”. Ai đã vào? Không cần biết, André đã tắt máy, không để mất một giây nhỏ, vì đã đến giờ tập họp. Một phản ứng sáng suốt đã kềm chế không cho chúng tôi nhảy nhót hò hét vì sung sướng. Qua lỗ khóa, ba tiếng huýt còi nhỏ báo cho Guy biết chúng tôi muốn ra. Chắc không có gì ngoài hành lang nên chúng tôi lập tức nghe tiếng chìa khóa. Một xúc động khác, khi tiếng chìa khóa xoay trong ổ, “Nếu sau cánh cửa là một tên SS hay là một nhân viên dân sự?”. Không, đó chính là Guy, anh không cần sự giải thích, khi chúng tôi nhảy lên bá cổ anh. Để đánh lạc lối về nguồn gốc của tin tức, vì không ai ngăn được những người đầu tiên được nghe chạy đi cho bọn mình hay, rồi đến lượt người nầy tiết lộ, chúng tôi quyết định để cho một nhân viên dân sự thông báo cho một đồng nghiệp và nhiều người trong bọn chúng tôi nghe được câu chuyện.

Nhưng chúng tôi không có gì phải sợ, khắp trại đâu có phải chỉ có một mình chúng tôi là có thể nghe được tin tức, và không có gì chính xác, nhưng với sức mạnh, dư luận khi đến chúng tôi đã trở thành tin Đồng Minh vượt quá Ba-lê rồi và loan báo những đoàn quân tiến rất xa về phía Đông. Dư luận ấy chỉ chậm hơn có vài giờ, vì mỗi ngày lại có tin tiến quân về phía sông Rhin và phía Bắc.

Giống như núi tuyết, tùy theo tin tức, tinh thần chúng tôi không giữ cố định, từ đầu tháng 6 cho đến giữa thánh 9, ngày giờ trôi sao nhanh quá. Khi quân Mỹ dừng lại trước Alx-la-Cha- pells, ai cũng đồng ý là cần có sự chỉnh đốn lại hàng ngũ trước khi mở cuộc tấn công cuối cùng. Mọi người đây là tù nhân vì dĩ nhiên là các nhân viên dân sự cùng làm việc với chúng tôi thì không nghĩ như thế. Một kỹ sư điện, Gustave, vẫn thường nói chuyện với tôi mỗi khi có biến cố lớn và luôn luôn trả lời mọi câu hỏi của tôi đựa trên sự kiện. Những kháng biện còn anh ta có thể làm độc giả một tờ báo hài hước buồn cười, nhưng anh ta nói với tất cả nghiêm trang, rõ ràng. Chuyện đó xảy ra rồi, trước cuộc đổ bộ không thể nào tìm được một công dân Đức tin chuyện đó có thể xẩy ra, nhưng khi cuộc đổ bộ đã được thực hiện, tuyên truyền của bọn Quốc Xã thích ứng mau lẹ với tình hình mới, Vì tôi vẫn trêu Gustave về vấn đề nầy, anh ta trả lời tôi với vẻ quan trọng:

– Bọn tài “phiệt” mạnh hơn chúng tôi về không quân và về hải quân, thế thì tại sao chúng tôi lại tự làm cho tiêu hao ở bờ biển. Bức tường Đại Tây Dương được xây dựng thật, ra là để hãm bớt cuộc đổ bộ, nhưng chúng tôi để chúng tiến thêm vào nội địa, nơi đó chúng tôi có một sức mạnh vô địch. Chẳng bao giờ chúng tiến khỏi được bán đảo Colentin.

Khi Ba-lê bị vượt qua, anh ta giãi bày với vẻ bí mật rằng để biểu dương toàn lực. 2 Von Rundstedt chỉ cần một nửa nước Pháp và từ đó người ta sẽ thấy cuộc tàn sát vô tiền khoáng hậu, vì về bộ binh, năm Sư đoàn Mỹ chưa chắc đã địch nổi được với một sư đoàn SS.

Sau cùng khi Đồng Minh tiến đến biên thùy Đức, anh ta lại xác nhận rằng từ khi bom bay V1 3 được mang ra xử dụng, vấn đề lãnh thổ không còn quan trọng nữa, và trình bày kế hoạch tối hậu của Tống hành dinh của Fuhrer:

1. Nhử các lực lượng Đồng Minh đang đồn trú tại Anh quốc tiến tối đa vào đất Pháp.

2. San bằng Luân-đôn và cả vùng phía Nam nước Anh bằng V1 và loại V2 sắp được mang ra sử dụng.

3. Trong khi bọn Anh và Mỹ bị chẻ ra từng mảnh trước phòng tuyến Siegfried, sẽ có vô số quân dù và các Sư đoàn không vận được đổ xuống nước Anh xảo quyệt.

Và anh ta kết luận:

– Đấy sẽ là sự toàn thắng của Đức quốc.

Đây là một người chấp nhận mỗi sự chiến bại, mỗi cuộc rút lui mới bằng cách dựa vào nguyên tắc, theo đó, nếu Fuhrer đã ra lệnh như vậy, chắc chắn là để nhằm mục tiêu chiến thắng tối hậu. Anh ta không tìm kiếm các lời giải thích khác. Mọi sự thất bại có thể xẩy đến cho Đức đều bị gạt bỏ dứt khoát.

Trước sự ngoan cố như thế, tôi quên mất vị thế của mình, và mất bình tĩnh

– Nhưng, tôi nói với anh ta khi được biết Aix – la – Chapelle coi như đã bị bao vây, anh có giả định rằng một khi cuộc đổ bộ thành công, ba tháng sau kẻ địch của các anh đã đến được bờ sông Rhin không? Hãy nhớ lại giọng điệu báo chí của các anh vào giữa tháng 6 khi loan báo V1 ra đời. Luân-đôn chắc chắn sẽ bị san bằng trong vài tuần nếu không nói là vài ngày. Anh cho rằng bọn Anh sẽ xin ân huệ, nhưng chính họ cùng với người Mỹ đã làm tê liệt hoàn toàn nhiều thành phố của các anh hàng ngày và bây giờ chỉ còn cách đây có 300 cây số. Đó, anh thấy rõ là đã thua, và lợi ích của Đức là đầu hàng.

Tôi dừng lại đúng lúc, vì tôi thấy một tia sáng thú vật lóe lên trong mắt anh ta; tôi đã đạt tới giới hạn của người văn minh. Một lời nói thêm nữa là tôi sẽ làm thức tỉnh con người Đức dã man xưa, vẫn còn tiềm ẩn trong mỗi người Đức hiện tại. May thay cho tương lai của tôi, chính con người có giáo dục trả lời tôi. Nhưng tôi đủ làm thương tổn niềm tin vững chắc của anh ta vì anh ta chạy nấp sau một bức tường như tín đồ nấp vào bóng Chúa.

– Dẫu cho sự thể ra sao, chúng tôi sẽ không bao giờ đầu hàng vì chúng tôi sẽ chiến đấu đến người cuối cùng. Chúng tôi không thể nào chấp nhận thất bại sau biết bao nhiêu nỗ lực và hy sinh. Người Mỹ phải hiểu và sẽ có một sự dàn xếp. – Gần như sắp ngã sụp xuống, – anh ta trở lại giọng châm biếm như một kẻ hấp hối, để nói với tôi vẻ gần như tức giận: “Vả lại họ sẽ phải bắt buộc đi đến một thỏa hiệp tại phương Tây; vì họ đã và sẽ chết bằng hà sa số trước phòng tuyến Siegfried mà họ sẽ không bao giờ vượt qua được. Đó là một kho thuốc súng mà họ sẽ tìm thấy trên mỗi thước đất.

Ngoài các vấn đề gai góc đó, anh ta là một người trung hậu, anh đối xử với chúng tôi như người với người và không bao giờ lợi dụng điều kiện yếu kém của chúng tôi.

Đó đây, cũng có dấu hiệu hèn hạ trong số nhân viên dân sự. Một thợ máy giãi bày với tôi nhân một lần máy bị hư và chúng tôi có thể trao đổi vài lời, anh ta ở vùng Sarre, gần biên giới Pháp, và ông nội anh là người vùng Lorraine. “Tôi không có gì phải sợ cả, tôi có thể chứng minh gốc gác của tổ tiên tôi”, anh ta nói thêm. Vì lẽ ý tưởng chủ yếu nơi người Đức là tất cả mọi công dân Đức đều sẽ bị lên án, nếu không bị Đồng Minh tàn sát. Tất nhiên, nơi kẻ cuồng tín cũng như nơi kẻ hèn hạ, không có một dấu hiệu nào cho thấy có tình trạng vô kỷ luật hay chán nản. Himler, con nhện chúa, đã dệt màn lưới của mình rất kỹ, và Goebbels, người nắm giữ toàn quyền từ sau cuộc mưu sát ngày 20 tháng 74, đã gia tăng số giờ làm việc để giảm thiểu thêm thời gian rảnh rỗi của đồng bào y. Và vào tháng 9 ấy, thành thật, chúng tôi sung sướng hơn bọn lính Đức và nhân viên dân sự làm việc bên cạnh chúng tôi. Chúng tôi cảm thấy chiến thắng đã gần kề. Bọn Đức thì lại không có gì để tự an ủi; tiếp liệu tổng quát rất tệ! Các thành phố bị oanh tạc, dân tị nạn tràn ngập vùng đồng quê.

——————————–

1Đọc: “Hitler và vũ khí bí mật” – Sông Kiên xuất bản. Sách, đang in.
2Đọc: “Những trận đánh lịch sử của Hitler” – Sông Kiên xuất bản – Sách đã in lần thứ II.
3Đọc: Hitler và vũ khí bí mật – Sông Kiên xuất bản. Sách đang in.
4Đọc “Những trận đánh lịch sử của Hitler” và “Hitler và sứ mạng lịch sử của Skorzeny” – Sông Kiên xuất bản. Sách đã phát hành.