Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên 

Post by Sơn râu 25 Nov 2025

Chương 21

Ở K… địa phương đầu tiên có một trung tâm hồi hương, một xã hội trật tự, với các cuộc kiểm soát và các qui tắc, luật lệ, lại chờ đón chúng tôi, khốn thay, đó lại là điều cần thiết. Thành phố là cả một mớ hỗn độn thật sự gồm đủ mọi loại quốc tịch và những cách phục sức kỳ cục nhất cũng không làm ai ngạc nhiên. Làm sao có thể phân biệt trong đám người ấy, người cộng tác với kẻ phá hoại, người tình nguyện với kẻ bị trưng tập, một dân quân với, một tù binh chiến tranh và người kháng chiến với tên do thám? Tất cả đều với lòng ái quốc chói lọi, và kiêu hãnh trưng ra các mầu sắc quốc gia, và rõ ràng là muốn lợi dụng màu sắc ấy để xâu xé ông chủ cũ. Đó là giờ của sự hài tội, thật khó coi, vì những người vô tội trong những thời kỳ ấy thường cung cấp nhiều nạn nhân hơn kẻ có tội thật sự. Một vài ví dụ diễn ra dưới mắt chúng tôi đủ để chúng tôi tin điều đó là đúng.

Một viên thượng sĩ thuộc một đại đội vận chuyển Pháp đi theo sư đoàn quân Mỹ và đảm trách nhiệm vụ giữ trật tự, một đêm đã mời chúng tôi đến ăn tối tại chiếc xe làm nơi tạm trú của ông ta. Phần ông ta thì rất dễ thương, nhất là ngày nào ông cũng thết một bữa tiệc như thế nầy. Tuy nhiên khi thấy ông hành sự, ông ta nhắc nhở cho chúng tôi các phương pháp thật kỳ dị. Để kiếm thêm một ít thực phẩm phụ trội, ông ta chỉ độc dùng có mỗi một cách: đe dọa bằng khẩu súng lục, và khi đại đội của ông phải di tản dân chúng trong một ngôi làng, ông ta luôn luôn ra lệnh cho nổ sập căn nhà mà ông tạm trú. Chính ông đã nói với tôi rằng ông chẳng có đau khổ gì vì chiến tranh mà cũng chẳng vì người Đức, nhưng lý do duy nhất khiến ông ta đăng vào đơn vị nầy là, ông nói, đã “chọc tức bọn Đức chơi, và để nhớ lại thời kỳ vàng son của quân đội lê dương”. Trong số người Đức bị trưng tập để làm việc khổ dịch hoặc làm việc cho đại đội, các quân nhân ưa chọn các người trai trẻ để bắt làm bọn hầu cận và một cựu lê dương còn dùng họ vào việc khác nữa. Còn những người lớn tu sĩ, toàn là công nhân và viện chức tầm thường, họ thường tự hỏi có phải chỉ mình họ là phải trả nợ cho các hậu quả gây ra bởi sự thảm bại của đảng Quốc Xã không, bởi vì bọn thân hào của thành phố vẫn ở nguyên vị hoặc bị mang vào canh tay chiếc băng Hồng Thập tự tuyệt diệu để khỏi bị trưng tập. Một nhóm lính khác chiếm quán rượu ở nhà ga, đã đùa giỡn ngay đêm đầu tiên, bằng cách bắt nhốt viên chủ quán trong hầm rượu, và lấy lý do để cho ông nầy nếm mùi các phương pháp của bọn SS, họ đã bắt ông ta làm những việc không thể ghi lên giấy được. Thế rồi, trong đêm đó, sau một bữa no say đúng cở, họ dùng ông ta để làm bia cho một cuộc thi tác xạ súng lục.

Bà vợ của nạn nhân đến khiếu nại với bộ chỉ huy Mỹ và một sĩ quan lập tức được gởi đều để mở cuộc điều tra. Những lên tội phạm ngẫu nhiên của chúng ta, vô cùng bối rối nhưng muốn đóng vai trò của những kẻ đi thanh lọc, đã cho đưa các cựu tù binh chiến tranh đến để phải xác nhận trước viên sĩ quan điều tra rằng đây là một lãnh tụ Quốc Xã đã luôn luôn hành hạ người Pháp làm việc trong thành phố lúc trước. Để làm vui lòng các người đồng hương, họ chấp nhận đóng vai trò nhân chứng mà không cần biết nội vụ ra làm sao. Tuy nhiên đến lúc đối chất, khi tấm chăn phủ lên người nạn nhân được dở ra, và khi mặt nạn nhân xuất hiện, họ không thể nào giữ được khỏi kinh ngạc và quên mất điều đã hứa.

– Sao, – một người trong bọn la lên, – các anh đã giết ông ấy à? Nhưng đó là quán rượu duy nhất đã lén lút bán rượu bia cho chúng tôi, và không có ai lịch sự đối với chúng tôi hơn ông ta. Khốn nạn, trong khi đó thì bọn Quốc Xã thật sự lại được tự do.

Rõ ràng là thêm một người chết nữa, tiếp theo sau tất cả những gì chúng tôi đã thấy, không tạo thành một quang cảnh lạ kỳ, nhưng dẫu sao vẫn là đáng tiếc khi giết một trong những người Đức hiếm hoi không phải là Quốc Xã, vì sau cùng, Đức quốc vẫn tiếp tục.

Bọn lính trong đại đội không thể nào có được một hình ảnh chính xác về nước Pháp được giải phóng. Phần đông đều ở đồng quê ngày có cuộc đổ bộ và hoàn toàn mù tịt về các biến chuyển trong nội bộ quốc gia mình. Tuy nhiên một Đại úy đặc biệt đảm trách nhiệm vụ chào đón những người Pháp được giải phóng bởi tiền quân Đồng Minh, đã đến nói chuyện với chúng tôi qua một bài điễn văn ngắn. Sau một vài câu ước lệ để chào đón, ông ta đã gây nên một cơn lạnh mình trong cử tọa, khi yêu cầu một số người tình nguyện để thành lập các toán gát, canh giữ nhiều cơ xưởng khác, nhau. Đây là một hoạt động phụ dịch mà quân Mỹ dành cho các cựu tù binh chiến tranh Pháp, có lẽ là nhằm mục đích cho họ ảo tưởng rằng mình cũng là những người chiến thắng.

– Chiến tranh chưa chấm dứt, – ông ta xác định, – các anh sẽ không tìm thấy ở Pháp những gì các anh hy vọng, vả chăng, vì thiếu phương tiện chuyển vận, không nên tin rằng sẽ được hồi hương trước hai tháng nữa. Ngược lại những người tình nguyện sẽ được đãi ngộ y như người Mỹ về phương diện thực phẩm, y phục, thuốc lá và lương bổng.

Cuộc diễn thuyết không thành công lắm, tuy nhiên cũng đã có người đưa tay. Vấn đề là, đối với phần đông tù binh chiến tranh, trở về nhà sau năm năm vắng mặt, tượng trưng cho tất cả một tấn thảm kịch. Một vài người qua thư từ mà không phải luôn luôn là vô vụ lợi, được biết vợ mình đã tìm một người khác thay thế hoặc là họ đã trở thành cha của những đứa con không do họ tạo ra. Nhiều người khác thì quên mất vợ ở nhà sau nhiều năm đằng đẵng và để rơi vào tay một nàng “Gretchen” vì thường thường trở thành chủ nhân ông một nông trại. Sau cùng một loại thứ ba, gồm những người mà cuộc hồi hương đã được định với một nỗi buồn man mác. Trên tất cả tiếng nhạc rộn ràng của cuộc tiếp đón chính thức, họ thoáng thấy sự tầm thường mà họ sắp tìm lại được sau cuộc phiêu lưu vĩ đại. Một trong những người đó trình bày với tôi những cảm nghĩ của anh:

– Trong năm năm trời, tôi đã làm không biết bao nhiêu nghề, từ nông trại đến nhà máy, qua các hầm mỏ, tài xế xe vận tải, và tôi cũng đã trở thành một tên bồi rượu tại một quán cà-phê trong làng. Tôi đã làm quen với người thuộc các chủng tộc khác, với các tập quán khác. Tôi đã thử vượt ngục ba lần và lần sau cùng đã đưa tôi đến Rawa Ruska, trại trừng giới ở Ba Lan, nhưng tôi hãnh diện là đã vượt qua mọi thử thách ở đó, vì tôi đã trở thành một người khác. Chiến tranh và các xáo trộn do nó gây nên đã làm tôi tin rằng xã hội rồi ra sẽ sụp đổ để nhường chỗ lại cho một thế giới trong đó con người muốn sáng tạo, muốn hành động, sẽ không còn phải sống khổ sở vì nguồn gốc xã hội nữa. Tuy nhiên căn cứ vào những điều mà viên Đại úy vừa giải thích với các anh, tôi thấy mình chỉ là một tên mơ mộng. Chiến tranh cũng giống như cơn bão tố trên biển cả. Nó tạo ra các thay đổi trên thượng tầng nhưng những người bé nhỏ vẫn tiếp tục sống ô nhục trong đáy biển. Sung sướng hơn nữa là nếu họ sống sót được từ lò sát sinh. Và bây giờ thì phải đi về, tôi không thể tin rằng, sau những gì tôi đã sống qua, tôi sẽ trở lại được với nghề cũ là công chức nhà bưu điện. Suốt ngày ngồi sau quầy lưới thép mắc cáo vây quanh, như một con vật tò mò ngơ ngác. Bụi bặm, giấy tờ, và sau cùng cuối tháng lãnh một số lương mà một kẻ khác có khi chỉ kiếm trong một ngày. Tôi cảm thấy có khả năng làm bất cứ việc gì để đừng trở lại thấy các thứ đó.

Chắc chắn tất cả những người giơ tay đáp lời kêu gọi của viên sĩ quan đều có một trong những lý do trên để lợi dụng một duyên cớ chính thức cho phép họ được ở lại Đức. Còn một yếu tố nữa là uy tín của bộ quân phục của kẻ thắng trận, và tất cả những lợi lộc của sự chiếm đóng trong một xứ mà dân chúng sẽ phải khúm núm quì gối đầu hàng.

Khi viên Đại úy biết cánh huống của chúng tôi, những người trốn thoát khỏi một trại tập trung, vì lẽ chúng tôi chỉ có năm người lạc lõng trong số đông, ông ta hấp tấp tiếp chúng tôi tại văn phòng đặt trong thành phố. Với một khổ người đẹp đẽ mà vẻ uy nghi lại được gia tăng thêm nhờ bộ quân phục, ông ta có vẻ độ chừng bốn mươi tuổi. Sau cùng, chúng tôi sắp nghe được tin tức về nước Pháp. Tuy nhiên, sau khi mời chúng tôi giải khát, và hút thuốc, ông ta bắt đầu bằng một cách khác:

– Các anh đã thấy tôi nói với bọn tù binh chiến tranh như thế nào chưa? Mặc dù chính phủ giao cho tôi làm việc đó nhưng tôi không phải là người mang vòng hoa đến cho chúng, khi trông thấy lũ trâu bò ấy, lũ người đôi khi còn ít đau khổ hơn thị dân ở Pháp, mà lại muốn đóng vai trò anh hùng dân tộc, tôi tức lộn gan. Những người vượt ngục hay những kẻ tìm cách vượt ngục, đó mới là những con người! Tất cả bọn còn lại đều là những tên bất tài vô tướng. Có lẽ tôi hơi quá cứng rắn, nhưng chính vì tôi nghĩ đến các anh, đến tất cả những người bị đầy đọa mà người ta chỉ gặp lại có một phần mười thôi, đến những anh hùng trong bóng tối của kháng chiến, đến những người tình nguyện chiến đấu ở Phi Châu, lúc đổ bộ, trong chiến dịch tái chiếm lãnh thổ Pháp quốc; tôi đoán chắc với các anh rằng lại Alsace, chúng ta phải trả giá đắt, thế mà chính chúng lại còn muốn được đón tiếp như những người tuẫn sanh. Tôi không chủ trương đến mức yêu cầu đưa tất cả bọn ra tòa án quân sự, theo luật chiến tranh, nhưng ít ra cũng phải biết xấu hổ để câm mồm lại và tỏ ra khiêm nhường hơn.

– Sự phán xét của anh cũng có phần nghiêm khắc quá, André nói, toàn thể nước Pháp đã bị cầm tù từ năm 1940 và người ta không thể trách mọi người sao không trốn thoát cả. Mặt khác, ngoài những người ở nông trại, những tù binh chiến tranh cũng đã chịu đựng nhiều khổ đau về phần họ, và tôi tin chắc rằng khi tất cả được hồi hương, họ sẽ gây nên một phong trào làm chuyển động toàn dân, bằng cách đòi xét xử những kẻ đã tạo ra sự thảm bại, nghĩa là những kẻ đã tạo ra các trại giam tù binh chiến tranh.

Đối với các lời sau cùng đó, một nu cười biện ra trên vẻ mặt của người đang thông báo tin tức về nước Pháp của chúng tôi, ông ta nói:

– Tôi hiểu các anh! hỡi vì các anh là cựu tù binh chiến tranh và hơn thế nữa là tù binh vượt ngục, chắc các anh hiểu rõ vấn đề hơn tôi, tuy nhiên các anh cho phép tôi được cười về điều mà tôi gọi là sự ngây thơ của các anh.

Và ông ta nói tiếp bằng một giọng sắc bén:

– Trước hết các anh nên biết rằng những kẻ chịu trách nhiệm về sự thảm bại của chúng ta không lo âu gì; trái lại họ đang từ từ chuẩn bị dư luận để trở lại cầm quyền. Và các anh sẽ thấy là tù binh chiến tranh sẽ bị lừa phỉnh cũng như các cựu chiến sĩ của trận thế chiến trước.

– Nhưng, còn Tướng de Gaulle đâu? – Marcel xen vào.

– À! người ta cũng không thể đòi hỏi ở ông ta tất cả mọi chuyện! Cứ cho rằng thì là nhờ hành động của ông ta, chúng ta được ở về phía thắng trận. Đấy cũng đã là quá vĩ đại rồi nếu không nói là chủ yếu. Phần còn lại, rõ ràng là việc chung của mọi người người. Và, nhân dịp được giải phóng, mọi người không thiếu sự phấn khởi. Ba-lê luôn luôn như vậy, đã chứng tỏ xứng đáng với lịch sử của nó lần nầy, không phải như ở các khu ngoại ô tất cả mọi người đều có thể nói rằng họ đã tham dự vào công cuộc giải phóng. Tôi đến đây ngày 25 tháng 8 với những đơn vị đầu tiên tiến vào thủ đô. Không thể nào tả lại cảm nghĩ của mình lúc ấy, nhưng tôi có thể đảm bảo rằng sự cao thượng đã được đạt đến. Trên các rào chắn mà đàn bà và trẻ con đã giúp để dựng nên, cả một dân tộc bị khích động vì đang tự do, đứng hoan hô chúng tôi, và xuyên qua đám đông đang rung động Vì sự hoan hỉ ấy, người ta thấy cả nước Pháp, bệnh hoạn và lạc lõng trong năm năm qua, sẵn sàng tiến lên con đường chính nghĩa. Và rồi còn phải nghĩ rằng tất cả mọi người không hề quan tâm gì đến việc con bệnh có bình phục hay không, vì thời kỳ ấy chỉ như là một ngọn lửa rơm. Những người ở Ba-lê đã trải qua một mùa đông rất nhọc nhằn, và có thể nói là đã có trẻ con chết vì lạnh giá. Vấn đề tiếp tế thực phẩm, tốt hơn là đừng nên nói đến, và tôi nghĩ rằng các anh hiểu là không nên đặt lòng tin quá đáng vào Đồng Minh nếu chúng ta muốn giữ độc lập. Những hứa hẹn được loan trên đài phát thanh trong những năm qua toàn là luận điệu tuyên truyền. Tôi lại mới trải qua tám ngày ở Ba-lê, đó là lần đầu tiên trở lại sau sáu tháng, khốn thay, tôi chẳng thấy có gì khá hơn. Tất cả đều trái ngược; chính quyền thì không ngừng kêu gọi làm việc và sản xuất, nhưng chính quyền chẳng có nêu gương tốt vào về phía mình. Chính quyền chỉ phác họa sơ về một kế hoạch thanh lọc, và những người làm việc liêm chính hiện nay không thể sống một cách đàng hoàng với đồng lương của mình. Tuy nhiên các lời tuyên bố hoa mỹ thì không thiếu. Một vài Bộ trưởng không ngừng nói về cái vĩ đại, cái sức mạnh của chúng ta, tuy nhiên lời nói cho sướng miệng ấy không che dấu được, tình trạng bệnh hoạn toàn diện đang ngự trị trên toàn lãnh thổ. Người ta có cảm tưởng rất rõ rệt rằng nước Pháp sau cuộc chiến tranh nầy, bị đặt trước cùng một số vấn đề đã từng làm cho nó bị phân hóa năm 1939.

Ông ta dừng lại sau những lời nói ấy, có vẻ đang suy nghĩ đến các điều để tâm sự khác, tuy nhiên sau cùng ông đứng dậy nói với chúng tôi với giọng vui vẻ, như để kết luận:

– Chắc tôi bắt đầu làm các anh buồn long vì các lời nghiêm trách của tôi quá! Hãy cùng nhau cạn một ly nữa, các anh còn trẻ và có một kinh nghiệm vĩ đại, hãy lợi dụng chúng! Suy cho cùng, chúng ta lại vẫn được tự do, và đó là điểm chánh.

Ngay đêm hôm có cuộc tiếp xúc đó, một toán tù đầy khác cũng được đưa đến trung tâm K… Có nhiều người Pháp đã chạy thoát khỏi một đoàn tù bị đưa vào rừng để tàn sát và những người Nga cùng trốn thoát từ trên cùng chuyến tàu với chúng tôi. Trong đó, tôi được gặp lại nhiều người quen cũ, đặc biệt là Vladimir. Cùng với vài người bạn, anh đã nhẩy một đêm trước chúng tôi, và cho đến khi gặp được chiến xa của đoàn quân giải phóng, anh cũng đã sống trong nỗi lo âu tương tự chúng tôi. Điều làm tôi hài lòng nhất đó là sau cùng tôi có thể chứng tỏ với anh, một cách khác hơn là bằng lời nói, lòng biết ơn của tôi đối với những sự giúp đỡ mà anh đã dành cho tôi trong quá khứ. Nhưng về một phương diện khác, tôi rất lấy làm tiếc rẻ vì cuộc gặp gỡ nầy, bởi vì nó là một cuộc gặp gỡ sau cùng trước khi chia tay vĩnh viễn.

Trên chuyến xe đưa tôi về Hanovre, anh đến nói với tôi lời vĩnh biệt, và nhìn Katia khóc nức nở, tôi có cảm nghĩ rằng mình sắp xa rời cùng một lúc, một tình yêu và một tình bạn không thể thay thế được. Tôi cố gắng cười vui để khỏi phải khóc theo, tuy nhiên nước mắt tôi cũng chực trào ra khi đoàn xe bắt đầu chuyển bánh. Trên con đường trắng xóa, viền hai bên bởi hai hàng cây phong sáng bạc, bóng dáng họ đang đưa tay vẫy tôi để chào vĩnh biệt, nhỏ dần, nhỏ dần cho đến khi trở thành hai chấm đen và cuối cùng biến mất sau đám bụi mù trời. Trong tiếng ồn ào của đoàn xe lúc chuyển bánh, tôi còn nghe Vladimir la lớn; “Đừng có quên… Tachkent… 1 vùng Trung Á…anh sẽ gặp lại tôi ở đó…”

——————————–

1Một thị trấn nhỏ vừa bị hủy diệt trong một trận động đất mới đây.

Một trời một biển

vietmessenger.com

Nguyễn Tấn Hưng

Post by Sơn râu 25 Nov 2025

11. Mộng du

Câu lạc bộ sinh viên sĩ quan chiều nay, bỗng dưng đông nghẹt khách. Làm như đang có lễ nhận “bố con” không bằng (sau thời gian huấn nhục, theo truyền thống, mỗi sinh viên đàn anh đều được rút thăm và nhận một sinh viên đàn em làm con và rồi bố phải làm tiệc đãi con). Khắp các mặt bàn đầy ắp thức ăn cùng tiếng vui đùa ỏm tỏi, ồn ào. Tuy nhiên, nếu nhìn kỹ hơn một chút, thì quanh đi quẩn lại cũng chỉ chừng ấy những bộ mặt quen thuộc.

Thứ nhứt là đám giàu sang, con ông cháu cha, ỷ mình tiền xài không hết vẫn thường xuyên chê cơm nhà bàn, sáng trưa chiều bò lên đây đóng chốt. Mà thiệt, chẳng biết nói sao khác, dường như cơm phạn xá không có một chút hương vị nào hết. Cho nên bị chê là phải! Mặc dù rau cải, thịt cá mua về hằng ngày vẫn tươi tốt, vẫn đúng tiêu chuẩn ấn định. Sinh viên kiểm thực, đàn anh lẫn đàn em, đều được bộ chỉ huy tiểu đoàn cắt cử đi theo xe cam-nhông ra chợ mỗi sáng kia mà! Những sinh viên này có quyền từ chối, không ký vào biên bản nhận hàng nếu nhà thầu vô tình cung cấp thịt trâu thay cho thịt bò, cá mối ươn thay cho cá chuồn ngáp ngáp chẳng hạn. Bắp cải, cà rốt, khoai tây nữa, bảo đảm không ai nỡ mang về trường cho bạn bè mình thưởng thức những thứ héo úa tàn phai, đổi màu, thiếu cân thiếu ký, thiếu ngày thiếu tháng… Tóm lại, có lẽ chỉ vì cách nấu bằng chảo đụng mà hương vị nó mất đi chăng?

Thứ hai là đám đánh bóng chuyền ăn cơm dĩa. Thắng được ăn, lẽ đương nhiên, mà thua cũng không mất phần. Cơm sườn, chưa đem lên đã nghe mùi thịt cháy thơm phức. Cơm gà, với nguyên cái đùi óng ánh mỡ tươm ra dưới lớp da vàng ngậy, xắt từng lát mỏng. Vài miếng dưa leo, vài lá xà lách cùng nước mắm pha, có điểm những cọng củ cải trắng hay cà rốt đỏ bằm nhuyễn làm duyên. Thêm một ly trà đá chanh đường thì đủ bộ, ừm… Và biết đâu trong dĩa cơm đó còn có chút chút hơi hướm gì gì của em, à không, của hai chị em con bà chủ câu lạc bộ nữa chớ! Vì nếu không đo bàn tay em Nguyệt vun xới thì ít ra cũng còn có bàn tay em Nga mang tới tận bàn.

Thông thường, Tần vẫn hay là người của nhóm thứ hai. Vì Tần biết mình nắm chắc phần thắng trong tay khi cặp với Trí “Voi”, cho dù phải chấp bên kia lưới có đủ sáu mạng chẵn chòi đi nữa. Cũng có đôi lần thua, hiển nhiên, chạy trời không khỏi nắng khi nhảy vào bất cứ cuộc chơi nào. Nhưng bữa nay Tần chung vui với nhóm thứ ba, nhóm chỉ hay ăn nhậu thôi chớ chẳng có gì ghê gớm, gồ ghề hết.

Ðồ nhắm hôm nay gồm một con mực nang thật lớn, năm bảy con ghẹ và một con cá khác lạ mà bọn Tần vừa săn được ở bãi biển trước cổng trường hồi xế chiều. Con mực nang do công lao của Thắng. Con cá hình lục lăng, góc cạnh nhô lên đàng hoàng trông như trái mướp khía, không biết phải gọi tên nó là cá gì, thì do tài nghệ của Tần. Còn mớ ghẹ là của chung. Những đứa không bỏ công đi kiếm mồi thì lo rượu. Câu lạc bộ xào nấu giúp để bán bia. Rõ ràng đề huề cả làng, ai cũng có những niềm vui riêng, những lợi lộc riêng cần phải hưởng. Với bọn Tần, lắm khi phải… tận hưởng đến mức bò lăn bò càng!

Dĩa mực xào cần tàu, cà chua, hành lá thơm phưng phức, điếc mũi được đem lên trước tiên. Con mực này coi bộ trọng tuổi, miếng thịt dầy cả chóng, có đến hai phân tây hơn, trắng hếu. Thành ngồi phía ngoài đỡ lấy dĩa mực to tướng, cười hề hề, tán nhẹ:

– Món ăn nào có bàn tay của cô Nga nhúng vô đều trông mát mắt hết, phải hông cô?

Nga mỉm cười, lễ phép:

– Dạ, đâu dám!

Nhiệm vụ chính của cô chị là ngồi thâu tiền, trong khi cô em chịu phần hơi lép vế hơn một chút, là… chạy bàn. Mặc dầu có mướn thêm người làm, nhưng những lúc rảnh rỗi cả hai chị em vẫn thường xuống bếp phụ giúp mẹ nấu nướng, dọn dẹp. Nguyệt, khoảng 17 tuổi, đang hồi trổ mã, trong khi Nga, khoảng 15 tuổi, trông còn con nít trân. Cả hai đều có dáng vóc mảnh mai, cao ráo. Thêm nước da sáng sủa và khuôn mặt trứng ngỗng có duyên ngầm. Bởi hai nàng vẫn chưa là những đóa hoa nở rộ, cho nên phần lớn các sinh viên sĩ quan vẫn hay coi như em, tuy cũng có một vài tên theo ráo riết, cây si trồng ngay bên quầy tính tiền ngày một lớn, một sum xuê. Nhưng chưa chắc gì trồng cây si thật lớn mà lọt được vào mắt xanh đâu nghen. Lắm khi điều kiện để lọt vào mắt xanh chỉ là duyên may đưa đẩy. Và Tần đã có cái duyên may kỳ cục đó.

Số là ngày nào Tần ba gai, bị sĩ quan tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn sinh viên sĩ quan, Hải quân đại úy Nguyễn Biển, phạt phải đứng thao diễn nghỉ ở ngã tư Trần Hưng Ðạo, 24 trên 24. Nói 24 trên 24 thì cũng hơi quá, chỉ từ lúc mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn thôi. Cho hợp với khoa hàng hải thiên văn, thường phải đo hướng độ sao trong giờ nhá nhem, chạng vạng. Khỏi cần để tâm đến bài vở, học hành, thực tập liên tiếp mấy ngày luôn. Chẳng biết quan trên thù hận cái gì đây vì cái hình phạt kể ra cũng hơi quái đản. Nhưng có lẽ cũng nhờ cái quái đản đó mà Tần đã nhảy xổm vào lòng con ngươi xanh dờn của người đẹp. Vì Nguyệt đã cầm lòng không đậu với cái nắng chói chang, đổ lửa ngoài trời trong tư thế thao diễn nghỉ của Tần. Cho nên nàng phải từng lúc, từng lúc bưng nước ra cho Tần uống lấy sức. Tình thương dễ dàng nẩy nở qua những lời cảm ơn, thăm hỏi, có phải vậy không?

Nhưng tánh của Tần chẳng muốn nổi bật giữa đám đông, cho nên sau đó chàng từ từ rút lui, không muốn lợi dụng tấm chân tình mà Nguyệt đã dành cho chàng. Chỉ xã giao qua lại, ỡm ờ, cà lơ phất phơ vậy thôi. Hãy để cho nàng có cơ hội chọn lựa người khác, Tần nghĩ thầm. Hàng ngày, đối diện với hai ba trăm quan tàu, lao nhao như một bầy vịt hãng, tuy hơi khó lựa nhưng trước sau gì rồi nàng cũng sẽ tìm được một người vừa ý, xứng đáng mà thôi.

Nga vừa đi khỏi, Thắng liền che miệng nói:

– Ê, bữa nay thằng Thành nó định kêu thằng Tần bằng anh tụi mầy, nó đang đòi chèo mũi đó!

Ðức chận họng Thắng ngay:

– Kêu thằng Tần hay kêu mầy bằng anh, hả? Chuyện này chắc còn phải điều tra lại! Tao coi mòi chính mầy cũng có tên trong danh sách chạy đua nước rút nữa thì phải.

Thắng nghiêm chỉnh đính chính:

– Vừa phải thôi, Ðức! Mầy cũng biết, xin lỗi mầy nghen, đất Nha Trang này không phải là đất dụng võ của tao!

Có thiệt như vậy không đây? Tần thăm dò bạn:

– Chớ còn con Thảo ở ngoài chợ Phước Hải của mầy thì sao? Cha, dạo này coi bộ chung tình với người em “cư xá Lữ Gia” dữ ha…

Dĩa mực xào vơi dần, cạn nhanh trong nháy mắt vì những đôi đũa dài chôm chĩa lia chia như những con cò mổ tép. Toàn là dân “phá mồi” với lại “hũ chìm” không thì phải biết! Phá mồi đi trước và hũ chìm theo sau, giai đoạn nào cũng quyết liệt khẩn trương hết. Ðớp nhanh, uống mạnh và đi bờ… khỏe là quan niệm sống của lính biển ta! Ý là rượu bất khả ép mà buổi tiệc nào cũng vậy, vỏ chai không chất đầy la liệt trong góc tường trước khi tàn cuộc. Nhưng, những lần họp bạn chung vui như vầy lại càng ngày càng ít khi xảy ra mới kỳ. Bởi lẽ mỗi đứa hình như đã dần dà thay đổi theo một chiều hướng hoạt động riêng, một môi trường riêng, một vùng trời riêng, Tần nghĩ.

Riêng phần Ðức, một trong những “thanh niên Khánh Hòa,” thì đã có nơi có chỗ, yên bề gia thất từ lâu rồi. Anh chàng được coi như là một trong những đứa lập gia đình sớm nhứt của khóa, những đứa có vợ mà còn đi… học. Ðúng là hỏi vợ thì cưới liền tay, chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha . Và đôi uyên ương Ðức-Hạnh xem ra cũng tràn trề hạnh phúc!

Số phận Tần có phần đặc biệt hơn, vì ngày nào “ba cô đội gạo xuống trường, một cô yếm thắm lại… đi thương anh Tần,” một trong ba chàng “ngự lâm pháo thủ” của Ðệ nhị Hải sư. Bởi vậy ảnh hưởng của Hiền và gia đình nàng đối với Tần rất lớn. Giờ giấc của Tần dành cho bạn bè hầu như lúc nào cũng thiếu hụt. Chàng tự hiểu như vậy mà cũng chẳng biết làm sao hơn.

Với Thành, bóp kèn qua mặt Tần khá xa trong những liên hệ gái trai, càng lúc càng đi sâu vào chuyện tình tay ba, với Trâm ở Qui Nhơn và Oanh ở Sài Gòn. Kể từ ngày gặp nhau trong chuyến đi thực tập… lịch sử, với đội hùng binh thuộc nhóm quan tàu đã dám hiên ngang tấn công và xâm lăng đất lành sư phạm, Trâm vẫn thường xuyên vào Nha Trang thăm Thành. Coi như mỗi tháng một lần. Trong khi đó, Oanh chỉ dừng lại thành phố thùy dương theo tính cách không định kỳ, mà tùy thuộc vào những chuyến bay. Vì nàng là một chiêu đãi viên hàng không của hãng Air Con Rồng. Có lẽ Thành đã dành cảm tình của mình cho Oanh nhiều hơn, bởi Oanh sinh trưởng ở Cần Thơ, cùng quê quán và đã có lần cùng học một lớp với Thành. Hai người tình cờ mới gặp lại nhau đây thôi và nơi xứ lạ quê người, bạn bè kể như bồ bịch. Rồi bồ cũ không rủ cũng tới như người xưa thường nói. Với lại, tình yêu thường dễ có môi trường để sinh sôi, nẩy nở hơn một khi vật chất được cung phụng đầy đủ hoặc đôi khi… quá mức. Và dĩ nhiên lương chiêu đãi viên hàng không của Oanh bắt buộc phải nhiều hơn lương cô giáo làng của Trâm rồi. Sướng thay cho những kẻ có số đào hoa, đào mỏ!

Tuy nhiên, cũng khổ thay cho những người thường hay suy tư về số phần của quê hương, đất mẹ như Thành. Chàng chẳng hiểu vì lý do gì mà Việt Nam ta lại rơi vào trường hợp chia đôi đất nước như hai nước bạn, Ðức và Triều Tiên. Vì ý thức hệ quốc gia, cộng sản hay chỉ là vì sự áp đặt của những cường quốc ngoại bang? Tại sao Miên, Lào, Thái, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân… đều dành được độc lập sau thế chiến thứ hai? Tại vì ý đồ ngoan cố của thực dân phong kiến hay chỉ tại vì các tầng lớp lãnh đạo của mình bất tài? Người đời lại chẳng thường nói: Nước Cao Miên có hết thảy sáu triệu người ngu, duy chỉ có một người khôn mà được việc; trong khi nước Việt Nam mình có cả thảy gần bốn chục triệu người khôn, duy chỉ vì có hai người ngu mà hỏng hết mọi đường! Ðám bạn chàng, hầu hết như chàng biết, đều không hề coi Việt cộng là kẻ thù không đội trời chung, bất cộng đái thiên. Mặc dầu không một gia đình nào tại miền Nam mà lại không bị chút ít tì vết do bọn Việt cộng gây nên. Chàng không tài nào hiểu nổi! Nhưng, kẻ thù của người Việt Nam chắc chắn không phải là người Việt Nam, chàng vẫn hằng tâm khẳng định như vậy! Chính vì thế, nhiều lần chàng cảm thấy hết sức hoang mang đối với cuộc đời trong quân ngũ, để rồi chàng sống như thế hệ trang lứa của chàng theo kiểu ai làm sao thì mình làm như vậy cho có lệ thế thôi!

Chỉ có Thắng là hơi khác thường một chút. Tuy ngoài miệng hơi bô lô ba loa, ấy mà hơn ai hết, trong lòng chàng luôn luôn giữ một dạ thủy chung với người tình riêng. Chính Tần cũng không ngờ rằng Thắng yêu Kim, người em “cư xá Lữ Gia,” ghê gớm đến thế. Hình như, trong tình yêu, nếu có điều gì càng trắc trở thì cùng lúc, cũng tao thêm niềm tin càng vững mạnh cho hai kẻ yêu nhau. Trắc trở của Thắng và Kim chỉ là trắc trở gia đình, chuyện môn đăng hộ đối thường tình vẫn còn xảy ra hà rầm ở thời đại văn minh, tân tiến này…

Màn đêm đã xuống hẳn, bóng tối đã bao trùm cảnh vật, cỏ cây. Bên ngoài, đèn đường đã được thắp sáng khắp mọi nơi, kể cả hàng rào bao quanh vòng đai phòng thủ của quân trường. Mang theo tiếng sóng ì ầm, gió từ ngoài khơi thổi qua những vuông cửa sổ, phả vào người mát rượi… Dĩa ghẹ xào chua mặn và con cá lục lăng đút lò, nằm gọn gàng trong cái dĩa hột xoài cho phải phép, được tiếp tục mang ra. Thành lại ngước mắt lên, tán tỉnh:

– Cô Nga nè, tôi thấy cô Nguyệt coi bộ ăn hiếp cô dữ quá đó nghen! Ai đời, ỷ mình được làm cái chức chị có tí xíu vậy mà sai cô chạy có cờ! Trong khi đó, cô coi kìa, cổ ngồi không dũa móng tay ở quầy tính tiền, trông ung dung nhàn hạ hết sức!

– Dạ, đâu có ai sai bảo gì em đâu anh! Chẳng qua, hễ người nào đang bồng em thì khỏi giã gạo đó thôi!

Trời, bữa nay cô Nga trả lời coi bộ điệu nghệ quá ta, Tần khen thầm! Rồi một ý nghĩ lóe lên, chàng lại chêm vào:

– Ồ, không phải vậy! Ý của anh Thành muốn nói là nếu cô cần anh Thành chạy bàn giúp một tay thì anh ấy sẽ vui mừng nhảy ra ngay. Cho cô nghỉ xả hơi, đỡ mệt một chút vậy mà! Anh Thành thấy cô chạy tới chạy lui hoài ảnh cầm lòng không đậu đó cô Nga à!

– Dạ, em không dám!

Thắng cười:

– Thôi, kể như mầy rớt đài kỳ này rồi đó, Thành! Cô Nga đã nói… “em không dám,” nghe chưa?

Chẳng ai buồn nói thêm điều gì nữa, có lẽ vì đang còn nhiều chuyện quan trọng khác phải làm. Mà đúng vậy, chờ cho Nga đi khỏi, Thắng liền đặt vấn đề ngay:

– Ê, nếu thằng nào sợ ăn con cá quái dị này rồi câm bất tử thì cứ vui lòng, tự nhiên lên tiếng nghen! Ðặng tao xin chia buồn, cảm ơn trước, vì tao phải ăn nó… để mà sống!

Ðức thọc đôi đũa gỡ lớp da cháy khét bên ngoài, trả lời Thắng:

– Thôi đi, đừng có làm bộ nói tránh! Sao không nói cái bản mặt của mầy sống để mà ăn… món ngon vật lạ, hả? Con cá này chưa biết có phải là món ngon hay không nhưng kể ra cũng là một vật lạ đây! Tại vì nó không giống một con nào nếu đem so với mấy trăm con đang nằm trong ve keo ngâm rượu ở dưới Hải học viện hết, đồng ý không? Tao thấy mầy coi bộ chắc cũng chẳng khác gì Tề Tuyên Vương nghen Thắng, cái thằng cha đòi ăn món “gân gà” trước khi chết đó.

Thắng quạt trở lại liền:

– Ðúng là cái thằng ăn ngược nói ngạo! Mình nói ăn để mà sống mà nó lại đem so sánh với thằng cha ăn để mà chết! Ê, mà thịt con cá này coi bộ ngon à nha, ngon hơn thịt cá nóc của thằng Thành bắn lần rồi là cái chắc…

Ðang rỉa thịt nửa mình con ghẹ, món ruột, Tần xen vào:

– Ê, nếu ngon thì cũng phải chậm chậm chờ tao với, mậy! Phải chừa cho nhà thiện xạ thân chủ của mầy một miếng chớ!

– Có ngay! Có gì tụi mình sẽ đi cùng xuồng… ý quên, cùng tàu xuống âm phủ, cho Diêm vương dễ nhận diện, mậy.

Thành “suỵt, suỵt” trước khi nói:

– Nhỏ nhỏ thôi tụi mầy! Không sợ đám đàn em phía bên kia bàn, tụi nó nghe được cười cho thúi đầu à! Thiệt, miếng ăn là miếng tồi tàn …

Ðức bỏ đũa xuống bàn, ngưng ngang, cười hề hề:

– Cái thằng làm mình mất trớn, mậy! Ðó, tao để cho tụi mầy ăn đó, ăn cho nhiều ỉa lớn đống có con chó nó thương! Tao bây giờ chỉ nhậu thôi! Vô mầy, Thắng!

Cụng ly với Ðức, Thắng chửi thề:

– Ðù me, chớ không phải no cành hông rồi! Tao chán mầy quá! Vô!

Vô! Gì chớ chuyện “vô, vô” thì dễ quá đối với các quan tàu ta, vì phần lớn và nhất là bộ ba lục tỉnh của Tần, đều có tửu lượng đáng kể. Tần uống vô một chút thì mặt mày đỏ như má hồng Ðà lạt, trong khi mặt Thành xanh lại và mặt Thắng đen thêm. Còn mặt Ðức thì thuộc loại đau gan, tái tái vàng vàng! Nhưng chẳng mấy khi anh chàng chịu nhập bầy đi chơi chung với bọn Tần. Bao giờ cũng có những chuyện riêng tư nào đó ngoài Nha Trang cần phải làm. Bữa nay chắc là trời sắp mưa, nên mới không ngại ngùng bỏ công lê gót lên đây, tham gia trận chiến tàn sát mực, cá, cua… hi hữu này.

Nam vô tửu như kỳ vô phong, Tần ngẫm nghĩ lại người xưa nói đúng! Làm trai mà không biết hút thuốc, uống rượu, dan díu với đàn bà, những… tứ đổ tường nói chung, thì chẳng khác chi là một thứ… gà trống không biết gáy! Rượu uống để mua vui mà đôi lúc cũng để giải sầu cho những ai đang tự coi mình là những lữ khách tha hương, thực sự đang sống nơi xứ lạ quê người. Như bọn Tần đây chẳng hạn. Kẹt một nỗi, hình như không có cô nương nào chịu gá nghĩa tào khang với mấy tên đệ tử của Lưu Linh hết, mới chết. Họa hoằn lắm mới có một hai nàng trên cõi đời này thiệt tình muốn đốt than nướng cá cho vàng, lấy tiền mua rượu cho chàng uống chơi. Hoặc thích sống với cái cảnh có thằng chồng say như trong chay ngoài bội, ngó vô nhà như hội Tầm vu … Cái gì là hội Tầm vu? Tên một quận lỵ thuộc tỉnh Long An! Phải chăng là cái hội bàn tròn mà bọn Tần đang ngất ngưởng? Chàng mỉm cười với khám phá mới của chính mình! Ðó là chưa nhắc đến chuyện có thằng chồng ghiền như ông tiên nho nhỏ, ngó vô nhà đèn đỏ đèn xanh …

Rồi rượu nào uống vào mà lại chẳng say! Nhưng, mỗi người thường hay say một cách! Ngay cả trời với đất cũng vậy, đất say đất cũng lăn quay, trời say mặt cũng đỏ gay ai cười . Với bọn Tần thì có thằng “rượu vào thì lời ra” hay nói cho đẹp đẽ hơn là “nhả ngọc phun châu.” Có đứa lại nổi hứng “ngâm thơ, nói lối” hay nói đẹp đẽ hơn là “xuất khẩu thành thơ.” Còn có tên thì… một ly nhâm nhi tình bạn, hai ly uống cạn lòng sầu, ba ly mũi chảy tới râu, bốn ly ngồi đâu gục đó, năm ly cho chó ăn chè, sáu ly vợ đè cạo gió …

Việc gì chớ vấn đề “vợ đè cạo gió” thì có lẽ chỉ có Ðức… vũ sư nhà ta là thấm thía sự đời. Bọn tam xên Thắng, Tần và Thành thì chưa được những cơ hội vàng son đó. Cùng lắm thì chỉ được em, người đẹp, người tình riêng… cạo gió mà thôi. Bề nào, chắc hẳn phải khác với vợ hiền! Nhưng, được một điểm là bọn Tần không mấy khi cho chó ăn chè. Hễ thấy sần sần, ngà ngà say, chân nai đá chân xiêu thì tự biết với nhau, kiếm đường rút lui.

Tần có tật hễ uống rượu say thì hay tìm chỗ nằm vùi ngủ một giấc, cho nên lần này cũng vậy, lên tiếng trước:

– Thôi về ngủ tụi mầy, tao đã rồi, mai còn đi học nữa!

Thắng tán đồng:

– Ừa, về thôi… Vô, vô hết cái này rồi đi…

Không mấy chốc tất cả rời bàn, lững thững tiến đến quầy tính tiền. Bổn phận ai người nấy lo, đứa thì trả tiền mặt, thằng thì ghi sổ. Tần nhắn nhủ:

– Cô Nguyệt nè, tôi nói cho cô nghe điều này nhưng cô đừng bảo tôi say nghen! Rằng thì là… rất khác với ngày nào cô bưng nước cho tôi uống, dạo “ni” trông cô đẹp hẳn ra! Hèn gì tôi thấy đám cây si mọc xung quanh đây càng ngày càng rậm!

Nguyệt đẩy đưa:

– Thôi anh Tần ơi, anh đừng có chọc quê Nguyệt hoài! Có ai ngó ngàng gì đến Nguyệt đâu mà si với lại không si! Lâu quá rồi sao chẳng thấy anh Tần đụng độ hay tổ chức một buổi tiệc nào lớn hết ha?

Chu choa, lại dở giọng câu khách nữa rồi, khổ quá! Nhưng Thành đã nói chữa cho Tần:

– Chớ bữa tiệc hôm nay không phải là đụng độ lớn hay sao cô Nguyệt? Vậy mà tôi cứ tưởng hễ bữa tiệc nào có tôi tham gia thì đều là những bữa tiệc lớn hết đó chớ!

Nguyệt liếc Thành một cái thật bén…

Trời bên ngoài mát mẻ lạ thường. Tiếng sóng vỗ bờ nghe rõ hơn, gần lại. Ở phía đó, lấp lánh những đèn ghe câu đêm, ẩn hiện như những vì sao sáng trên cao. Ánh trăng non nhẹ nhàng, bàng bạc khắp mọi nơi làm Tần say sưa ngửa mặt, thở một hơi dài khoan khoái. Mùi biển mặn dâng lên tận mũi, mon men chui vào lồng ngực…

Cẩn thận bước xuống mấy bậc tam cấp, cả bọn hướng về ngã tư Trần Hưng Ðạo, giao điểm của hai con đường cát đất, lót vỉ sắt do con cái Ðệ nhị Hải sư mới đắp sau thời gian huấn nhục… Bỗng, Tần kéo áo giữ Thắng lại! Chờ cho Ðức và Thành đi trước một khoảng khá xa, Tần hỏi nhỏ:

– Ê, trước khi vào tiệc mầy nói là mầy có một chuyện bí mật muốn tiết lộ cho tao biết, rồi sao, bây giờ mầy có thể bật mí được chưa?

Thắng đi chậm lại, ngần ngừ:

– Mà thiệt mầy có muốn nghe hay không đây chớ? Chuyện buồn chớ không phải chuyện vui đâu nghen, tao chỉ sợ làm mầy mất vui đêm nay thôi!

– Ối, hết vui thì tới buồn, hết buồn thì lại vui, đời mà mậy, lo gì!

– Tao hỏi thiệt mầy nghen, hổm rày mầy có ra nhà thăm con Hiền không?

– Không! Mấy tuần nay bận học bài thi thấy mẹ luôn, tao đâu có thì giờ mà nghĩ đến chuyện bồ bịch vớ vẩn đó! Coi vậy chớ thằng Tần này cũng biết sợ trợt vỏ chuối, Thắng ơi! Nguy hiểm lắm! Rớt vì kỷ luật thì không nói chi, chớ rớt vì bài vở thì hóa ra mình lại… tệ quá sao?

– Nếu vậy thì mầy cũng nên bình tĩnh, chuẩn bị tinh thần để mà nghe tao nói đây! Vả lại biết đâu cũng có lợi cho mầy, biết người biết ta, đặng mà đối phó với tình thế mới! Tại vì tao gặp con Hiền của mầy đi phố với thằng khứa lão! Nói cho ngay, thằng khứa này cũng không đến nỗi lão cho lắm, khứa sồn sồn thì đúng hơn.

Chuyện gì nữa đây? Không ai hiểu rõ Hiền hơn Tần, người trong cuộc mà lị! Tuy trong lòng có hơi xốn xang, chột dạ nhưng Tần cũng giả bộ điềm nhiên:

– Ðiều đó đâu có gì quan trọng cho lắm! Biết đâu nó đi chơi với chú bác hay anh em bà con gì đó của nó, mình đâu làm sao trách phiền người đẹp khơi khơi cho được, mậy!

– Giỡn hoài Tần! Nếu là chú bác hay anh em thì làm gì có vụ cặp kè, ôm eo ếch như người tình muôn thuở, ngay giữa thanh thiên bạch nhật như vậy chớ?

– Thiệt hôn đó, mậy? Hay là mầy mắt nhắm mắt mở rồi nhìn lầm sang cặp nào, cô cậu nào, hả? Mà mầy gặp tụi nó ở đâu?

– Ở ngay trước cửa chợ Ðầm! Mới ràng ràng sáng ngày hôm qua đây thôi, trong lúc tao đi kiểm thực! Thì cũng cái áo dài màu xanh nước biển, thêu bông trắng mà dạo trước nó mặc trong buổi dẫn tụi mình về Thành, giới thiệu với má nó đó, mầy nhớ không? Thành thử, đâu làm sao mà tao nhìn lầm cho được! Nhưng thôi, nói như vậy chớ tin hay không thì tùy mầy!

Tần bâng khuâng, ngậm ngùi:

– Thiệt vậy à!

Thấy bạn ngả theo ý của mình, Thắng thành thật khuyên lơn:

– Thôi, để đó rồi từ từ hẵng tính! Mầy về phòng ngủ trước đi, tao mò lên thư viện có chút việc…

Tần về phòng, để nguyên quần áo, giày vớ nhảy phóc lên giường bố. Hai tay chới với trên không, quờ quạng kéo mí mùng bỏ xuống hững hờ bên mình. Hai mắt mở thao láo nhìn bóng đêm, nghĩ ngợi mông lung! Có lẽ Thắng nói thật, vì lắm lúc Tần cảm thấy không thể hiểu được Hiền…

Nhớ ngày nào mới quen nhau đôi ba tháng, trong đêm Tần tập tễnh nhảy rào lần đầu tiên, chỉ vì duyên tình ra phố thăm người mình yêu, chàng đã hành động vụng về ngay từ phút đầu đến phút cuối. Vụng về ngay từ lời chào hỏi bối rối của Hiền khi ra mở cửa đón chàng:

– Ô, anh Tần, anh đi đâu giờ này?

– Thì ra đây thăm em chớ đi đâu nữa!

– Ủa, sao không nghe anh nói trước gì với em hết vậy…

– “Ði bờ lậu” ra đây mà nói trước, nói sau cái gì? Bộ em không thích anh dành cho em một sự gặp gỡ bất ngờ như vầy hay sao? Chị Diệu, anh Thiện và hai đứa nhóc đâu rồi mà nhà cửa gì… tối om om vậy?

Hiền vẫn còn vịn cánh cửa khép hờ, nửa muốn bật đèn phòng khách lên, nhưng thôi. Rồi bằng một giọng thật ngỡ ngàng, nàng nói trong hơi thở:

– Không có ai ở nhà hết á! Ảnh chỉ vừa mới bồng hai đứa nhỏ đi ăn sinh nhật đằng nhà anh bạn của ảnh rồi! Anh không nói trước, em đâu có chuẩn bị gì kịp cho…

Tiếng nói của Hiền tắt nghẽn trong nụ hôn bất chợt nhưng tới tấp, vồn vã từ phía Tần. Chàng nghe tiếng tim nàng lẫn tim chàng đập mạnh trong lồng ngực. Bóng tối đã đồng lõa với đam mê. Chỉ cần bao nhiêu đó thôi, “không có ai ở nhà hết á” là đủ rồi. Hiền muốn mời mọc hay xua đuổi chàng bằng câu nói đó chớ? Chàng không cần biết! Chàng chỉ biết mình đang được ôm người tình mà chàng hằng mến thương, ấp ủ trong vòng tay! Nếu nàng càng dãy dụa thì chàng càng ghì siết chặt hơn… Ôi, người yêu bé bỏng của anh ơi, anh nhớ em muôn vàn, bằng mọi giá anh phải vượt suối băng ngàn tìm đến đây gặp em trong đêm nay. Anh không cần em phải chuẩn bị, sửa soạn cho anh một điều gì hết! Tần nhủ thầm…

Hiền bỗng dưng mềm nhũn trong tay Tần, nàng không còn mảy may một sức kháng cự nào trước cơn mê vũ bão, sảng khoái của yêu đương. Nàng để mặc cho chàng bồng nàng gọn ghẽ trên đôi tay rắn chắc, đầu nàng áp vào ngực chàng bên cạnh trái tim hừng hực bốc cao qua từng nhịp thở. Tần đưa chân khép trái cửa và đưa nàng vào phòng riêng gần như đã quen thuộc của hai đứa. Bóng đèn trái ớt cũng không làm căn phòng sáng hơn bên ngoài bao nhiêu. Chàng đặt nàng xuống giường, duỗi hai chân nàng thẳng ra, áp mình lên người nàng, cúi hôn… hai đầu lưỡi quyện vào nhau, quấn quít. Hai mắt nàng nhắm nghiền trong cảm giác đê mê, say sưa hưởng thụ…

Ðột nhiên, hai tay chàng buông lơi, vói lấy cái mền len trắng đục xếp trên đầu giường, xổ tung ra trải xuống nền gạch bông. Phải, cái giường cá nhân lò xo này nhỏ quá, không đủ chỗ cho hai đứa! Thêm cái gối nằm và cái gối ôm quăng bừa lên tấm mền mới trải cho có bạn! Chàng lại lòn tay bồng nàng bê xuống đất. Gối đầu lên cái gối ôm tròn, nàng không còn nghĩ suy, phó mặc cho tình thế đẩy đưa! Tần cũng vậy, chàng chưa biết phải làm gì nữa đây, trong tư thế… chủ động! Chàng lại cúi hôn và nàng hân hoan đón nhận. Từng khuy áo bật nút và, theo bản năng, bàn tay chàng ve vãn bờ vai trần, mơn mởn thịt da. Hương con gái ngào ngạt tỏa ra từ đôi ngực đào tơ, lồ lộ, không mặc áo sú-cheng. Nàng bất giác rùng mình, nổi da gà, khi những ngón tay chàng chạm vào đầu vú, phớt qua phớt lại… rồi nắn bóp, cương lên, săn gọn trong lòng bàn tay chàng. Nàng quằn quại, uốn cong người, ú ớ thành tiếng trong miệng chàng… nhưng rồi cũng tan loãng, chìm xuống trong men say dục vọng. Chàng mân mê vòng eo thon và bờ mông chắc nịch. Cả hai, chiếc quần lót và chiếc quần ngoài, cùng đi theo dấu tay chàng tuột lần xuống bên dưới. Rồi dừng lại ở ngọn đồi cỏ mượt, sắt se sợi vắn sợi dài, liễu rũ quanh khe… Nàng, theo phản xạ tự nhiên, giựt bắn người, tréo hai chân khép lại. Chàng từ tốn lòn bàn tay năm ngón thương yêu len qua vùng da thịt êm êm, thơm mát, trắng ngần… vạch ra, banh ra. Nàng lại nẩy người lên, ú ớ, khép lại. Chàng tiếp tục dở ngón thủ thuật, òn ĩ banh ra…, rộng hơn, rộng hơn nữa… rồi nằm đè lên người nàng. Trong hấp tấp, vụng về chàng loay hoay giơ từng cánh tay đơn trút bỏ chiến bào…

Nàng không một lời trong lúc giao hoan! Tuyệt nhiên, không một tiếng trong phút trao thân! Ðể rồi, sau đó, lã chã giọt châu! Như tiếc nuối, như hân hoan… Sao lạ vậy? Chàng không hiểu được và càng không thể nào hiểu được Hiền, người chàng yêu tha thiết, trong phút giây ngắn ngủi đó!

Có lẽ chàng đã vụng về, không biết mơn trớn người yêu của mình chăng? Ở phút ban đầu! Có lẽ chàng đã vụng về khi nghe nàng báo tin… có bầu? Sau đó không lâu! Có gì đâu, con em đẻ thì anh sẽ nuôi, đúng như lời chàng vô tư phát biểu! Có lẽ chàng đã vụng về khi nghe lời đề nghị của nàng rồi đồng ý đi mua và trao cho nàng viên “ô kim,” viên thuốc tễ đen thui đựng trong bọc sáp trắng hình tròn như quả địa cầu nho nhỏ! Rồi chàng cũng đã vụng về, mới gần đây thôi, khi nàng tỏ ý sẽ… bỏ rơi chàng! Quái lạ chưa? Chàng thách thức đó, làm đi! Chàng không hiểu được và càng không thể nào hiểu được Hiền, người chàng yêu tha thiết, ngay trong phút giây đen tối này đây! Một người con gái đã một lần trao thân, giao cuộc đời trong trắng của mình cho người tình, mà rồi lại dửng dưng… không còn thiết tha gì với người tình chung của mình nữa thì cuộc đời này còn nghĩa lý gì để chàng ngẫm suy đây chớ! Phải chăng chỉ vì câu nói thiết thực của chàng: Em hãy thủng thẳng chờ anh! Chờ anh, chờ đến bao giờ, chính Tần cũng chưa thể trả lời câu hỏi đó được! Hay là Hiền đã có cuộc tình duyên nào mới? Con cháu hay bà con xa gần gì đó với ông chủ nhà lầu bảy từng có thang máy đưa lên đưa xuống, Khách sạn Nha Trang, tiền rừng bạc biển chăng? Chàng cũng chỉ biết thở dài, chẳng biết nói sao!

Không thể để mất Hiền trong tầm tay! Không thể chần chờ được nữa, chàng phải tìm cho ra câu trả lời, ngay trong đêm nay! Chàng phải moi trái tim của Hiền ra và đem đặt dưới kính hiển vi. Xem coi thằng người ngợm mà Hiền đang để tâm đến nó giống con giáp nào? Cho dù giờ này chàng biết chẳng còn xe! Cho dù giờ này sẽ không ai cho chàng quá giang! Cho dù chàng sẽ đau đớn chạy bộ suốt đêm trường ra tận Nha Trang! Cho dù phải cam lòng dựng Hiền thức dậy trong đêm hôm khuya khoắt! Cho dù phải bị chị Diệu của nàng mắng chửi, rầy la! Nhảy rào! Chỉ còn một biện pháp duy nhất cho Tần. Chàng tự tin nơi mình và biết mình có lý do chính đáng! Chàng vén mùng nhảy tuột xuống đất, rời phòng, lững lờ đi về phía hàng rào trường Kỹ Thuật mờ mờ trong sương như kẻ mộng du…

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều – Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 25 Nov 2025

26. Ta phải sống

Tôi nói ngay, ông cụ tôi muốn nói là một giáo sư đại học của trưòng Luật Khoa Sàigòn năm xưa. Dường như ông dạy luật hiến pháp hay bang giao quốc tế gì đó. Tôi học ở một trường khác nên không rõ chính xác ông dạy môn gì.

Ngày Sàigòn lọt vào tay VC, ông phóng lên lầu và thủ kín trong phòng không dám ra đường. Ông vừa thù, vừa ghét, vừa kinh sơ cộng sản. Ông cứ than: “Trốn chạy chúng nó vô Nam giờ này chúng cũng mò đến tận nơi! Điệu này tôi chết mất!”. Hàng ngày, cứ mỗi lần ai gõ cửa nhà là ông lên ruột, máu ông cứ lên xuống kiểu đó từng ngày. Bà cụ, vợ ông, là người duy nhất trả lời tiếng gõ cửa, không có bà ở nhà, ai kêu cửa vỡ nhà, ông vẫn “tử thủ” trên lầu, không thèm xuống.

Hai ông bà sống hồi hộp từng ngày. Khi Sàigòn đổi tên ra thành Hồ, ông đóng cửa phòng chửi thề tùm lum. Ông nói với bà: “Dẹp cái radio giùm tôi, ném nó vào thùng rác cho tôi nhờ! Cứ nghe đài nhắc tới tên lão là tôi muốn điên lên!”

Thế nhưng trời còn thương ông, không để ông sống ở thành Hồ khi Sài Gòn thành địa ngục. Đứa con ông ở Canada bảo lãnh cho cả ông bà ra khỏi nước. Ông mừng như chết rồi sống lại. Nơi ông sống là thành phố Vancouver, Canada.

Tại thành phố này, tuổi già thần tiên của ông trôi qua theo năm tháng. Ông ít giao thiệp với ai. Thỉnh thoảng có vài học trò cũ mò đến thăm ông. Ông vẫn nhắc đến những năm dạy ở trường Luật như những kỷ niệm không quên, song hễ ai nói đến thành Hồ là ông bảo dẹp, “đừng nhắc đến cái lão khốn nạn tàn dân, hại nước đó!”

Ông cụ biết và quen thân tôi qua tờ Nguyệt San Việt Nam, đó là tờ báo ông chịu. Ông thường đến văn phòng bác sĩ gia đình để khám bệnh và lấy báo đọc. Có khi tôi đưa ông cụ về nhà từ phòng mạch ông bác sĩ, có khi tôi bốc ông giữa đường. Ông cụ thường than khi gặp tôi:

– Tôi năm nay gần 90 tuổi! Không biết chừng nào cộng sản đổ ở Việt Nam để tôi về gửi thân ở quê nhà! Anh viết báo, anh có đoán được chừng nào tụi nó đổ không?

– Cộng sản Việt Nam không biết chúng ăn cái chi mà sống dai như đỉa, con cũng mong nó chết sớm để con còn về thăm ông cụ, cũng gần bằng tuổi bác. Thôi thì bác ráng giữ sức khỏe. Bác thọ đến 95 là thấy được ngày tàn của cộng sản!

Mắt ông cụ sáng lên.

– Thật không?!

Ông cụ, cho tới ngày bóng xế, chân đi run run với cây gậy vẫn mong một ngày về lại quê hương không cộng sản. Ông thường nói với tôi là “còn cộng sản là tôi không về!” Ông giữ lời cho đến ngày hấp hối và ra đi trên đất khách, có điều là ông đã đi trước cộng sản.

Trước đây, ông và bà cụ có mua hai cuộc đất nhỏ ở Burnaby gần Vancouver làm nơi an nghỉ, nhưng trong phút lâm chung, ông cụ đổi ý trối lại:

– Bố không muốn chôn thân ở Canada. Khi bố mất, hoả táng bố bỏ tro vào lọ!

Mấy đứa con hỏi:

– Thế bố muốn đem tro bố về chôn ở quê mình phải không?

– Không! Không chôn ở đất Sài Gòn, cũng không chôn ở đất Hà Nội!

– Sao vậy bố?

– Vì đất nào cũng có Việt cộng!

– Thế tụi con đem tro bố vô chùa ở Việt Nam được không?

– Không!

– Sao vậy bố?

– Làm sao tụi con biết được đó không phải là chùa của mấy ông sư quốc doanh Việt cộng!

– Thì bố nói rõ ý bố. Khi bố mất, tụi con sẽ làm theo lời bố!

– Không chôn bố trên đất cộng sản chiếm, không đem tro bố vào chùa quốc doanh, về Việt Nam thuê ghe ra sông Lòng Tảo rải tro bố xuống nước…

Di chúc của ông được gia đình thực hiện trọn vẹn. Ông đã về lại quê hương, trong lòng nước, trong lòng sông, trong lòng biển. Từng hạt phấn tro tàn của thân xác ông không dính dáng gì tới thứ mà ông căm ghét. Lần ra đi này, cộng sản không thể theo ông.

Mấy ngày gần đây, một số bài viết liên quan tới cái chết và “di chúc” của tướng tình báo cộng sản Phạm Xuân An rằng “đừng chôn tôi gần cộng sản” như thể cuối đời Phạm Xuân Ẩn nhìn ra mặt thật của cộng sản. Nhưng nếu chôn Phạm Xuân Ẩn ở Việt Nam thì chỗ nào là chỗ không gần cộng sản? “Đừng chôn tôi gần cộng sản” chỉ là một lời bóng gió muộn màng của một người điệp viên thông minh nhưng chậm hiểu và ngu xuẩn. Ẩn đã thấy rõ mặt thật của cộng sản ngay từ 1975. Ẩn đã đưa vợ con qua Mỹ, rồi buộc vợ con trở về khi cộng sản ban hàm tướng cho ông ta. “Đừng chôn tôi gần cộng sản” chỉ là giọt nước nhạt trong biển nước mắt của muôn dân hai miền Nam Bắc dưới chế độ cộng sản, một thành tựu máu xương oan khuất mà Phạm Xuân Ấn đã đóng góp khi thở không khí tự do của những năm tháng ở Sài Gòn.

So về tiết tháo và con người, Phạm Xuân Ẩn khi từ bỏ cõi đời này, dù có hối tiếc về tội ác của mình, cũng không thể là kẻ có thể xách giép cho ông cụ gửi nắm tro tàn của mình trên dòng sông Lòng Tảo. Ông cụ “không chơi với cộng sản cho tới ngày qua thế giới bên kia” là giáo sư Lê Đình Chân của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn.

Gia đình giáo sư Lê Đình Chân không đăng cáo phó về sự ra đi của ông, chỉ muốn ông đi âm thầm. Tôi là người dọn phòng cho ông để trả phòng lại cho nhà nước. Ông để lại cho tôi hình ảnh một ông già bất khuất và không chấp nhận cộng sản cho tới ngày tàn hơi. Ông để lại cho tôi một đôi giầy vừa vặn chân tôi, đôi giầy mới toanh mà ông thường đi bộ từ đường Main lên dốc đồi Queen Elizabeth mỗi buổi sáng.

Phải gần 20 năm nữa tôi mới bằng cái tuổi ông ra đi. Không biết đôi giầy của ông để lại, tôi có theo ông tới cái tuổi đó hay không? Lạy Chúa, lạy Phật cho tôi được leo tới cái tuổi của ngày ông ra đi thì thế nào tôi cũng thấy được cái ngày cộng sản lăn quay ra chết!

Bài viết này viết để tưởng nhớ giáo sư Lê Đình Chân, và cũng xin coi đây là một thông báo đến những học trò của ông trên khắp thế giới chưa biết tin về sự ra đi của Thầy mình.

Web Vietland Feedback

1.Tạ Văn Chi

Posted: 2006/10/12 1:21 Updated: 2006/10/12 1:21 Re: Phạm Xuân Ân chỉ đáng xách dép …

Tạ Văn Chi tôi thú thật rất thích cái lối viết của anh Hải Triều, nó không có gì văn hoa bóng bẩy cũng không rườm rà lê thê. Lời văn giản dị và rất thật, đọc là hiểu được cái ý mà anh Hải Triều muốn tỏ bày.

Nhân đây, tôi cũng xin kể một câu chuyện tại tiểu bang Oklahoma, nơi tôi cư ngụ để nói lên tấm lòng của một đôi vợ chồng nhất định không về thăm Việt Nam chừng nào cái chế độ cộng sản còn đó. Hai vợ chồng tuổi đời không lớn lắm, trình độ học thức so với Gs Lê Đình Chân thua xa, qua Mỹ từ năm 1975. Hiện có cuộc sống rất thoải mái, thích giao du bạn bè… cở như anh Hải Triều chẳng hạn. Trong những lần chuyện trò, có người hỏi sao không thấy Anh về thăm VN, Anh chỉ cười không trả lời. Hỏi tiếp thế Chị có về VN lần nào chưa?, Anh trả lời Chị cũng không về.

Tạ Văn Chi miễn có ý kiến riêng, nhưng có ý kiến chung là nếu đại đa số người Việt hải ngoại mà giống như 2 vợ chồng này thì cái chế độ của cộng sản trong nước có còn tồn tại cho đến ngày hôm nay hay không?

2. Lê Thi

Posted: 2006/10/12 1:31 Updated: 2006/10/12 1:31 Re: Phạm Xuân Ân chỉ đáng xách dép cho một…

Tôi rất hân hạnh là học trò của giáo sư Lê Đình Chân. Giáo sư là một người chân thật và hiền lành nên hay bị sinh viên ghẹo phá. Có lần thi vấn đáp, giáo sư thường cho hàng chục sinh viên vào một lúc, rồi phát câu hỏi để trả lởi, có lẽ vì câu hỏi khó quá, nên thừa lúc giáo sư không chú ý, cả chục sinh viên đó ùa chạy ra khỏi phòng trốn mất, chờ buổi sau trở vào thi lại, thầy có nhớ ai là ai đâu. Nhưng sau này, thầy thu thẻ sinh viên, nên hết đường chạy. Được tin thầy đã ra đi tôi thật xót xa và hy vọng tới phiên trò ra đi thì VC đã sụp đổ rồi…

3. Băng Nhi.

Posted: 2006/10/12 3:05. updated: 2006/10/12 3:05 Re: Phạm Xuân An chỉ đáng xách dép cho một…

Phải nói là văn của ông Hải Triều rất thực, thực như con người của ông vậy. Trên Net gần đây đã có hằng loạt bài đánh phá cuộc đời của ông. Ngẫm nghĩ người lính già Hải Triều nầy đã một thời hy sinh đời trai trẻ của mình để đi bảo vệ cho một miền Nam Tự do. Bây giờ ông Hải Triều đã đến được đất Tự Do nhưng tâm vẫn nghĩ về những người lính VNCH, nghĩ đến những bạn chiến hữu của ông người còn, người mất…

Qua những công lao mà ông đã góp cái sức tàn của mình qua những tác phẩm “Các trận đánh không tên của QLVNCH” đấy là con người của Hải Triều mà tôi khâm phục. Những kẻ đánh phá ông cũng chẳng làm lung lay những ý nghĩ tốt đẹp của những người yêu mến ông. Những độc giả thầm lặng như tôi hôm nay xin tặng cho ông Hải Triều một đoá hoa hồng đẹp nhất.

Charlie ngày ấy & Charlie bây giờ

baotreonline.com

Trần Vũ

November 14th, 2025

Post by Sơn râu 24 Nov 2025

Kỳ 4 – Kỳ cuối

Tiểu đoàn 11 Nhảy dù khi xuống cao điểm Charlie quân số 489 binh sĩ, tính luôn 5 sĩ quan và 10 “lạc đà” cầm máy truyền tin của Liên toán Quan sát Pháo binh do Trung úy Lưu Văn Đúng làm trưởng toán. Mỗi đại đội không quá 120 lính, thêm Bộ Chỉ huy và toán Quân y.

Trong chiến sử Nhảy dù Việt Nam chưa tiểu đoàn nào thiệt hại nặng như Tiểu đoàn 11 Dù. Ngay tại Điện Biên Phủ, Tiểu đoàn 5 Nhảy dù Việt Nam với Đại úy Phạm Văn Phú thăng Tiểu đoàn phó, cấp số 642 binh sĩ khi nhảy xuống lòng chảo, lúc trao trả còn được 87 lính và sĩ quan, là sau gần hai tháng chiến đấu. Trên đỉnh Charlie sau hai tuần còn duy nhất 43 binh sĩ thoát về Võ Định. Thêm toán của Trung úy Nguyễn Văn Lập là 69 sống sót. Mức tử vong cao nhất, chỉ thấp hơn Tiểu đoàn 1 Nhảy dù Lê Dương cấp số 675 binh sĩ, sau mười ngày chưa đến 20 người về được Lạng Sơn trong trận Biên Giới 1950. Nhìn vào chi tiết tuy ít lính nhưng số sĩ quan của Tiểu đoàn 11 Nhảy dù hơn gấp đôi so với Tiểu đoàn 5 Nhảy dù ở Điện Biên Phủ (chỉ có 7 sĩ quan). Có nghĩa kỷ luật và chỉ huy ở Tiểu đoàn 11 Dù rất chặt chẽ.

Khác trong Mùa Hè Đỏ Lửa của Phan Nhật Nam, trận đánh chấm dứt khi Thiếu tá Lê Văn Mễ được trực thăng cứu thoát, hồi ký của Trung úy Nguyễn Văn Lập ghi lại gian truân của 26 binh sĩ Nhảy dù băng rừng về đến xã Diên Bình thuộc quận lỵ Dakto.

Sinh 1945, vào tháng 4-1972 Trung úy Nguyễn Văn Lập 27 tuổi là Tiền sát viên pháo binh của Tiểu đoàn 2 Pháo binh Dù  –  tăng phái cho Tiểu đoàn 1 Pháo binh Dù của Thiếu tá Bùi Đức Lạc và được cắt cử về Tiểu đoàn 11 Nhảy dù trên đỉnh Charlie cao 1050 mét.

Cựu Trung úy Nguyễn Văn Lập định cư tại Texas và qua đời ngày 7 tháng 12 năm 2024 tại Arlington vì tai nạn xe cộ. Thọ 79 tuổi.

Nguyễn Văn Lập

Ðến gần sáng thì ra đến bãi bốc giống như một cái thung lũng cạnh một con suối, đây là một khoảng trống đầy lau sậy, Tiểu đoàn 11 kiểm tra lại quân số và chia khu vực phòng thủ đợi trực thăng bốc về Võ Ðịnh. Tôi và đệ tử Hạnh được cắt lên slick trực thăng sau cùng của Ðại đội 114. Thông thường khi đi hành quân trực thăng vận, đề-lô phải nhảy theo toán đầu tiên và khi rút thì đi sau hết, để có thể gọi pháo binh bắn bất cứ lúc nào.

Ngày 15/4/1972, trời sáng dần, khi ánh nắng mặt trời đầu tiên trong ngày vừa sáng hẳn lên từ phương đông thì có tiếng trực thăng bay đến, dẫn đầu là hai chiếc Cobra và phía sau là một đoàn trực thăng UH1B của Mỹ, hai chiếc Cobra có trang bị rocket bay một vòng quanh bãi bốc quan sát, một trái khói màu vàng được thả ra đánh dấu chỗ trực thăng đáp xuống, chiếc UH1B thứ nhất vừa sà sà xuống mặt đất thì có tiếng đạn cối rơi xuống nổ ngay đúng bãi đáp rồi hằng chục tiếng pháo cối 82 ly tiếp tục rơi xuống, những chiếc trực thăng vội vàng bay thẳng lên không bốc được toán nào. Dứt loạt cối, Việt cộng từ hai bên triền đồi xuất hiện như mọi da đỏ dàn hàng ngang xung phong y hệt trong phim cao bồi Viễn Tây, vì đồi lau sậy thưa thớt nên rất dễ thấy chúng không thổi kèn xung phong mà vừa chạy, vừa bắn, vừa hô “hàng sống chống chết!”, “hàng sống chống chết!” vang trời. Tiểu đoàn 11 Dù đang bị nguyên một trung đoàn Việt cộng phục kích, trung đoàn này được lệnh đi đánh phi trường Phượng Hoàng đêm trước, khi Tiểu đoàn 11 Dù rút lui khỏi Charlie, chỉ huy của chúng đoán được ta sẽ bốc quân tại đây nên cho lệnh trung đoàn này lui trở lại để phục kích định hốt gọn 11 Dù, bọn chúng tưởng khi pháo ở giữa tất nhiên ta sẽ bung chạy tản ra chung quanh, bọn chúng đã phục kích sẵn sẽ hốt gọn, nhưng không ngờ khi chúng tràn xuống, thì Nhảy dù cũng bung ra chống lại mãnh liệt.

Trận chiến lúc này như một cái nia đựng đậu đen và đậu trắng sàng qua sàng lại lẫn lộn như đang đánh xáp-lá-cà, chỗ nào cũng có tiếng AK47 và M16 nổ lẫn lộn còn hơn pháo Tết, coi như cả Tiểu đoàn 11 trừ cùng bắn nhau một lúc với một Trung đoàn Việt cộng, hai bên chạy qua chạy lại thấy đâu bắn đó như xi-nê, làm Cobra bay trên đầu cũng không biết bắn vào đâu, một chiếc trực thăng liều chết đáp xuống đất, tôi thấy một số người chạy tới leo lên, những chiếc sau vừa sà xuống thì Việt cộng cũng rượt gần đến nơi, xạ thủ đại liên Nguyễn Tấn Vinh (hiện ở Houston) dừng lại ôm đại liên 60 ria hết luôn một dây đạn còn lại, Việt cộng ngã rạp xuống đồi rụng như sung, viên đạn đại liên cuối cùng vừa ra khỏi nòng là mấy cây AK đã chĩa vô đầu Vinh, có lẽ vì cảm phục tinh thần anh dũng của người lính Nhảy dù này mà chúng không giết để trả thù cho đồng bọn, chỉ bắt sống.

Nhờ lòng quả cảm của người xạ thủ đại liên này mà một slick duy nhất 4 chiếc trực thăng đã bốc được Bộ Chỉ huy Tiểu đoàn 11, Sĩ quan liên lạc pháo binh, và cố vấn Duffy, nhưng Đại úy Ðoàn Phương Hải trưởng Ban 3 (hiện ở San Jose) thì bị một viên đạn AK bắn xuyên bàn chân từ dưới đất lên, rớt xuống máy bay, may nhờ Thiếu tá Duffy gan dạ quay trực thăng trở lại kéo lên.

Ðạn hai bên vẫn nổ tới tấp, thêm một cặp Cobra và một slick trực thăng khác vào vùng bay vòng vòng trên trời. Việt cộng chỉ bất ngờ đi phục kích nên không đem theo phòng không cho nên trực thăng của Mỹ mới hoạt động được nhưng chỉ bốc chứ không dám bắn vì sợ trúng quân bạn. Chiến trường lần lần bớt đi tiếng súng, nhưng những tiếng kêu hàng vẫn còn nghe văng vẳng, tiếng động cơ trực thăng vẫn còn nghe vần vũ trên đầu. Lúc này tôi đang sát dưới bờ suối với ba bốn người lính nhìn lên khá rõ nên bảo họ chạy theo tôi ra bãi, may ra trực thăng thấy được rõ đồ rằn ri so với đồ lục bụi đất của Việt cộng mà bốc chúng tôi lên. Những người lính nghe theo tôi chạy lên triền đồi, đang chạy, tôi thấy một chiếc Cobra bay phía bên trái ngược hướng tôi chạy lên, chừng quay lại phía sau thấy nó vòng lại nghiêng cánh, kinh nghiệm chiến trường đã cứu tôi thoát chết, Cobra mà nghiêng cánh về phía nào là nó bắn rocket về phía ấy, chắc là trực thăng nó thấy Việt cộng rượt theo chúng tôi nên bắn, tôi chỉ kịp hô:

– Dạt ra bên, trực thăng bắn!

Tôi vừa nhào đại qua một bên thì một tiếng rocket nổ như trời giáng cách tôi cỡ vài mét không còn nhớ rõ phía bên nào, tôi thấy mình văng lên rồi rớt lăn trở xuống triền đồi, cây súng Colt 45 cầm trên tay văng đâu mất, cái la bàn đeo trên cổ và tấm bản đồ nhờ bỏ trong áo nên còn lại, may mắn tôi chỉ bị chấn động nhẹ, nhưng không hiểu những người kia có sao không. Tôi đứng dậy chạy ngược xuống bờ suối thì gặp một tốp lính Nhảy dù, trong đó có Chuẩn úy Linh đang chạy theo bên bờ suối về hướng bắc, thấy tôi họ mừng lắm, cả tôi cũng thế, chưa kịp hỏi thì tiếng súng đuổi theo cũng nghe kế bên, lẫn tiếng hét kêu đầu hàng, tôi chỉ hướng chạy qua bên kia bờ suối, vừa vượt qua bờ suối thì một người chạy sau bị bắn rớt xuống suối, tôi thúc anh em chạy tiếp, chạy khoảng 50 mét không nghe tiếng rượt theo, chúng tôi dừng lại để thở. Tôi nói vội với anh em:

– Tuyệt đối không đầu hàng, đi theo tôi, nếu người nào bị bắn mà bị thương, kể cả tôi, thì phải bỏ lại, chạy thoát thân, chứ không được đầu hàng.

Mọi người tuân lệnh. Vừa đi tôi vừa xem bản đồ. Võ Ðịnh cách khoảng 8 cây số, chỉ băng theo hướng đông bắc là đến nhưng thế nào cũng gặp Việt cộng, tụi nó dứt Charlie rồi tất phải đánh phi trường Phượng Hoàng, vô đó là lãnh đủ (về sau đúng như vậy vì bọn chúng đang điều quân đánh căn cứ Võ Ðịnh). Cho nên tôi quyết định đi thẳng lên hướng bắc khoảng một cây số đánh lạc hướng địch rồi vòng lại hướng đông nam ra Diên Bình, cách đó khoảng mười mấy cây số. Vừa đói, vừa mệt, 10 người mà chỉ còn có 3 cây M16, mỗi cây chỉ có một băng đạn, không biết lúc đụng trận nữa thì thế nào, tôi lại nhớ đến Hạnh, người đệ tử nhỏ con nhưng rất tháo vát, lên hạ sĩ thường được ở lại pháo đội học bắn, nhưng không hiểu khoái tôi cái nổi gì đòi theo tôi đi đề-lô cho khổ tấm thân, bây giờ không biết ra sao.

Ði gần nữa ngày, đồi cao cả ngàn mét, đói lả người, nửa tháng nay không đêm nào ngủ được vài tiếng. Bỗng người đi đầu giơ tay ra hiệu dừng lại, khu rừng tre trước mặt có tiếng động, quan sát một hồi thấy được một toán lính Dù thất lạc, chúng tôi ra thủ hiệu nhận diện rồi nhập chung, tới chiều thì gặp thêm một toán nữa, thêm hai Chuẩn úy và mấy Hạ sĩ quan. Quân số bây giờ là 26 người với 10 cây M16, có vài người bị thương nhẹ nơi chân và tay, mọi người đều đói quá, không ai còn miếng gạo sấy nào, chỉ còn một lon thịt ba lát, anh em khui ra đưa cho tôi, tôi cắn một miếng rồi trả lại nói mặn quá, cả tuần nay chẳng nuốt gì được để từ từ rồi ăn. Biết được Chuẩn úy Linh lớn tuổi và thâm niên hơn hai Chuẩn úy kia nên tôi kêu Linh ra riêng và nói:

– Lính của anh, anh dễ chỉ huy hơn, còn tôi thì dẫn đường ra thôi.

Chuẩn úy Linh trả lời:

– Trung úy lớn nhất ở đây, chỉ huy, dẫn đi đâu chúng tôi theo lệnh Trung úy.

Tôi trở lại nói với anh em:

– Như vậy tôi ra lệnh, nếu gặp địch đông thì bỏ chạy, nếu địch ít thì đánh, ai bị thương kể cả tôi cũng phải bỏ lại, tuyệt đối không được đầu hàng, tôi có niềm tin tôn giáo, Ðức Mẹ sẽ che chở chúng ta. Mọi người tuân lệnh. Tôi cho tất cả mọi người còn vũ khí đi đầu, ba Chuẩn úy chia ra xen kẽ, còn lại không có vũ khí thì đi sau. Tôi cũng dặn dò kỹ hướng ra quốc lộ 14, trên đường sẽ gặp những gì trên bản đồ. Nếu có thất lạc vì đụng trận thì theo hướng đó mà ra. Không phải tôi sợ anh em đụng trận, tôi chỉ muốn làm tròn bổn phận người anh, lỡ tôi có bề gì thì biết đường ra cho sớm, trễ một ngày là có thể chết vì đói.

Tối đó, tôi dặn Chuẩn úy Linh cắt gác xong chia nhau đi ngủ. Sau một đêm nghỉ thật ngon kể từ nửa tháng nay, tôi đánh thức mọi người dậy thật sớm để leo núi đỡ mệt hơn. Ðến trưa, theo bản đồ chúng tôi đến một làng Thượng đã bỏ hoang, không có gì để ăn, chỉ có một cây xoài thật cao toàn trái xanh, đói gần chết mà chơi thứ này vô còn tịch sớm hơn nữa. Một người lính bỗng thấy một cây điều rừng trong bụi cây trước mặt, có rất ít trái nhỏ màu vàng cỡ ngón tay, tôi nói để tôi thử coi, bứt một trái không dám đưa hẳn vào trong miệng để nhai, tôi nhây nhây ngoài răng cửa, hơi có vị ngọt chát, tới chừng nuốt vô vừa đến cuống họng thì nghe thật rát, tôi vội vàng nhổ ra, nguyên cổ họng tôi bị ngứa tàn bạo, và một chốc sau thì đôi môi bị sưng lên, tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, may mà không nuốt vô, nếu không dám toi mạng lắm. Chúng tôi tiếp tục đi một lúc thì lên một ngọn đồi dài mà đỉnh của nó thật bằng phẳng như ai đã san bằng. Ngọn đồi rất đẹp, cây cối rậm rạp, chúng tôi dừng lại ngồi nghỉ thì nghe tiếng trực thăng bay từng đoàn về hướng Nam, có lẽ trực thăng đổ quân, tôi cho anh em rút xuống triền đồi bên này, sợ trực thăng dọn bãi hay pháo binh bắn ghép bãi lỡ trúng thì xui tận mạng.

Thật đúng như phép lạ, trực thăng dọn bãi phía bên kia đồi, đạn bạn vút qua trên đỉnh mà chúng tôi vừa rút xuống. Hú hồn. Sau đó nghe tiếng trực thăng đáp xuống. Ðúng là đổ quân nhưng không biết đơn vị nào đây (sau này tôi biết được Tiểu đoàn 9 Dù đổ quân). Sợ ngộ nhận, tôi quyết định đi tiếp, đến gần chiều thì dừng quân nghỉ đêm. Ðôi môi tôi giờ này sưng vù lên và thâm đen phía ngoài, còn trong cổ thì ngứa vô cùng, chỉ muốn đưa cả nguyên bàn tay vào miệng mà cào cho đã ngứa, không biết tôi có ra kịp quốc lộ không, nếu bỏ mạng lãng xẹt như thế này vì ăn bậy thì đau quá. Trong lúc dừng quân, chúng tôi kiếm được đâu đó ít rau tàu bay, luộc lên với nước suối cầm hơi. Ðêm đó nhìn lên bản đồ, tôi còn cách sông PoKo độ 2 cây số nữa, qua sông này được thì chiều tối đến xã Diên Bình. Nhưng con sông rộng và nước chảy thật xiết như thế và người nào cũng  đuối sức hết thì làm sao mà qua đây.

Trưa hôm sau, chúng tôi đến sông PoKo đúng y tọa độ. Tôi cho mọi người ngồi nghỉ trong các lùm cây trên bờ. Ngay lúc đó, một chiếc trực thăng từ hướng quốc lộ 14 bay thẳng vô núi, chúng tôi chạy ra bờ sông cởi áo giơ tay vẫy vẫy. Từ xa trực thăng thấy được nhưng không dám bay lại gần, nó chỉ bay vòng vòng quan sát chúng tôi một hồi rồi xong cũng giơ tay vẫy vẫy rồi bay luôn. Tôi nghĩ trong bụng, chắc là trực thăng đi kiếm chúng tôi, thấy chúng tôi gần ra đến nơi rồi nên bay vào tìm những người còn kẹt lại trong sâu hơn, nhưng thế nào cũng báo về Lữ đoàn để báo cho đồn Ðịa Phương quân biết đừng bắn lầm. Tôi xem lại bản đồ, đây là đầu một cái ấp, thế nào họ cũng có ghe để qua sông, tôi cho người đi dọc bờ sông khoảng một trăm mét thì thấy có một cái ghe nhỏ và một người đã tình nguyện bơi qua bên kia bờ lấy ghe, rồi lần lượt đưa chúng tôi qua sông. Có lẽ bề trên đã an bài, một cái ấp bỏ hoang như thế này lại có một chiếc ghe của ai đó bỏ lại để đưa chúng tôi qua sông, như một phép lạ. Mọi người đều kiệt sức nên tôi quyết định cho anh em đi ngang qua rẫy dân và cố tình nói chuyện lớn tiếng, để nếu có lính nghĩa quân ở đây thì nhận ra giọng miền Nam chứ không phải giọng Bắc con cháu giặc Hồ mà không bắn lầm, đồng thời cũng vớt vát chút đỉnh củ khoai trái bắp gì đó trên đường đi. Ðây là một quyết định có lẽ lạ đời nhất và phản chiến thuật nhất của một sĩ quan. Cứ như vậy mà đi, có lúc những người lính còn ca lên mấy câu vọng cổ hoặc mấy bài hát của miền Nam nữa, chẳng có gì ăn trên đường qua rẫy vì rẫy cũng bị bỏ hoang lâu rồi, thì lót lòng bằng tiếng ca ngọt ngào hương lúa miền Nam quê hương vậy.

Chúng tôi từ địa ngục trở về đâu có còn ngán cái địa ngục nào nữa đâu, ba cái thằng du kích xã dám xuất hiện ngăn chúng tôi sao? Tôi lấy cái lý của kẻ lì cho anh em tự do ca hát nói chuyện cho đến khi gần đến xã Diên Bình thì dừng lại. Sợ mò vào ban đêm bị vướng mìn tự động hay lựu đạn gài nên tôi cho dàn quân lại phòng thủ ngủ đến sáng mới vô, và dặn dò hết sức cẩn thận, không chết dưới chục ngàn quả đạn pháo mà chết vì đạp mìn Địa Phương quân thì lãng xẹt.

Tôi vừa đi một vòng kiểm soát lại mọi người thì Chuẩn úy Linh tiến lại nói có hai thằng mò vào liên lạc được bên trong rồi, họ mở cổng cho mình vào. Tôi nói tài thiệt, sau đó tôi đi vào đồn chào vị Ðại úy Tiểu đoàn Trưởng Ðịa Phương quân và trình bày lý do, viên Ðại úy nói hồi chiều tôi đã được biết trước anh em sẽ về đúng nơi đây đêm nay, nên đã chuẩn bị các thứ để giúp anh em Nhảy dù. Tôi mượn máy liên lạc với Tiểu đoàn 1 Pháo Binh Dù và nhờ chuyển qua báo cho Tiểu đoàn 11 Dù biết chúng tôi đã ra đến nơi, xong nói tôi có một số người bị thương, xin Ðại úy săn sóc giùm, viên Ðại úy cho người dẫn anh em bị thương lại một tu viện gần đó, tôi đi theo.

Những vết thương được các soeur rửa ráy hết sức cẩn thận, dòi con nào con nấy to bằng đầu đũa bò ra từ trong xương tay mà anh em không cảm thấy đau đớn nhiều, có những nỗi đau còn lớn hơn trong lòng mọi người và không ai dám nói ra vào lúc này vì nói ra chúng tôi sẽ khóc. Giọt lệ anh hùng phải rơi đúng lúc và đúng chỗ. Các soeur cũng cho tôi vài viên thuốc gì đó uống cho khỏi làm độc, tôi cám ơn rồi về gọi Chuẩn úy Linh đến để giao lại nhiệm vụ chỉ huy anh em. Viên Ðại úy hỏi tôi muốn ăn gì, tôi chỉ xin một tô cháo, và một chỗ nằm.

Trong lúc chờ đợi, tôi bước ra khỏi hầm, bước lên cầu Diên Bình nhìn về dãy Trường Sơn âm u phía tây, ánh hỏa châu lung linh trong đêm tối như canh giấc nghìn thu cho đồng đội tôi đời đời an nghỉ, hay còn tiếp tục đâu đó cuộc chơi tốn nhiều xương máu vì hai chữ Tự Do, những người đi không về đêm nay, có Hạnh, có Sơn, có Khánh hình như đang bay theo những đốm lửa nổ bộp bộp trên không, rồi tan vỡ từ từ thành hình một cánh dù trên đồi máu, tôi thấy mình nắm lấy hai dây thượng thăng, chạy băng xuống đồi, cánh dù từ từ lộng gió lên cao, bên tai tôi còn nghe tiếng kêu khát nước của Binh nhì Nhỏ, tiếng đạn hú rợn người trên non, và tôi đi vào cơn mơ lúc nào không biết…

Tiểu đoàn 11 Dù, Song Kiếm Trấn Ải Charlie đã để lại nơi đây người anh cả Nguyễn Ðình Bảo cùng ba trăm đồng đội, và tiểu đoàn về được tới Võ Ðịnh trước sau chỉ có mấy chục người, chưa được một đại đội. Sau Hiệp định Paris, Ðại úy Hùng mập, Ðại đội trưởng 113 được trao trả. Xạ thủ đại liên Nguyễn Tấn Vinh dọc đường dẫn ra Bắc, nhiều lần bọn cán binh Việt cộng đòi giết để trả thù cho đồng bọn nhưng cấp chỉ huy của chúng không cho vì nhu cầu trao trả, anh hiện ở tại Houston. Đệ tử của tôi, Hạ sĩ Hạnh và nhiều anh em khác thì nằm lại tại một trại tù binh nào đó tại vùng Thượng du Bắc Việt vì bị sốt rét và đói khát. Trung úy Lạc giải ngũ sau trận này, không chết, nhưng vết thương trên đầu khi thở ra hít vào thì da đầu cũng phập phồng theo, trông rất ghê, nên lúc nào cũng phải đội nón bảo hiểm. Ðại úy Hùng móm và Chuẩn úy Trưng đề-lô bị bắt sống nhưng đã trốn thoát được sau đó, và chỉ vài tháng sau thì Ðại úy Hùng móm đã nằm xuống trên đường tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị, chỉ cách ngôi nhà cũ của mình có 100 mét. Sau trận Charlie, tôi được Thiếu tá Mễ chạy cho một cái Nhành dương liễu, đợi mãi không thấy, hỏi lại thì được biết Bộ Tổng Tham Mưu cúp hết huy chương của Quân Khu II sau trận này.

Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù đã đánh hai trận lẫy lừng nhất trong quân sử Việt Nam Cộng Hòa, Trận Charlie lãnh cỡ 10,000 quả đạn đại bác đủ loại trên một căn cứ nhỏ xíu, chưa có trận nào mà một đơn vị của quân đội ta bị pháo khủng khiếp đến như thế. Tiểu đoàn 11 Dù bị mất hơn 4 đại đội, nhưng đã tiêu diệt được ít nhất cũng một trung đoàn cộng quân của Sư đoàn 320 “quả đấm thép”, một đổi bốn. Sau chỉ một tháng bổ sung quân số rồi ra tái chiếm Quảng Trị, chỉ trong một đêm đến sáng của một ngày tháng 6 năm 1972, Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù và đề-lô pháo binh đã bắn cháy 26 xe tăng địch gần bờ sông Mỹ Chánh, có lẽ quân sử thế giới cũng chưa có một đơn vị nào lập được một kỳ công như thế trong không đầy 12 tiếng đồng hồ, và cũng chính nhờ Tiểu đoàn 11 đã dùng hỏa tiễn TOW bắn cháy một xe tăng T54 của địch định khóa đuôi Trinh Sát Dù của Thiếu tá Nguyễn Văn Dũng, mà tôi đã thoát chết được khi đi đề-lô cho đại đội này ngay sát bờ Nam sông Mỹ Chánh, Hải Lăng, Quảng Trị cuối tháng 6 năm 1972./.

NVL

Sơ đồ chỉ huy

Tiểu đoàn 11 Nhảy dù

Tiểu đoàn trưởng: Trung tá Nguyễn Đình Bảo

Tiểu đoàn phó: Thiếu tá Lê Văn Mễ

Ban 3 Hành quân: Đại úy Đoàn Phương Hải

Ban 1 Quân số, Ban 2 Quân báo, Ban 4 Tiếp liệu: Không rõ.

Quân y: Đại úy y sĩ Tô Phạm Liệu

Sĩ quan Điều không: Đại úy Đoàn Phương Hải đảm trách.

Đại đội 110 (Đại đội Chỉ huy): Đại úy Nho

Đại đội 111: Trung úy Thinh

Đại đội 112: Đại úy Hùng “móm”

Đại đội 113: Đại úy Hùng “mập”

Đại đội 114: Trung úy Phan Cảnh Cho

Liên toán Quan sát Pháo binh: Trung úy Lưu Văn Đúng

Liên lạc Pháo binh Đại đội Chỉ huy 110: Trung úy Đúng

Tiền sát viên Pháo binh Đại đội 111: Trung úy Khánh

Tiền sát viên Pháo binh Đại đội 112: Chuẩn úy Sơn

Tiền sát viên Pháo binh Đại đội 113: Chuẩn Úy Trưng

Tiền sát viên Pháo binh Đại đội 114: Trung úy Nguyễn Văn Lập

Charlie ngày ấy & Charlie bây giờ

baotreonline.com

Trần Vũ

November 8th, 2025

Post by Sơn râu 24 Nov 2025

Kỳ 3

Ngày 10 tháng 4-1972, tình hình vô cùng nguy ngập trên căn cứ Charlie. Trung đoàn 52 là Trung đoàn Tây Tiến trong thơ Quang Dũng tràn ngập cao điểm C1 của Trung úy Thinh. Đại đội 111 phải rút lên C2 nơi đặt  Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn 11 Dù. C1 ở giữa C3 (Đại đội 113 của Đại úy Hùng  mập) và C2 (Đại đội 112 của Đại úy Hùng Móm + Đại đội 114 của Trung úy Phan Cảnh Cho + Đại đội Chỉ huy 110 của Đại úy Nho), có nghĩa là Tiểu đoàn 11 Dù đã bị xé đôi. Sáng 11 tháng 4, Đại đội 112 cố gắng tái chiếm C1 nhưng không thành. Ngày 12, Trung tá Bảo tử trận, ngày 13 Trung úy Thinh, Trung úy Khánh, Chuẩn úy Ba, Trung sĩ Lung tử trận… Lễ thiêu sinh bắt đầu.

Trong phần trước của hồi ký, Trung úy Nguyễn Văn Lập đã giận dữ quở trách Trung tướng Ngô Du tư lệnh Quân đoàn II đã không cho triệt thoái, khiến Tiểu đoàn 11 Dù liên tục hứng pháo vô ích vì không thể thực hiện nhiệm vụ vừa kiểm soát quốc lộ 14 vừa quan sát gọi phi pháo hủy diệt quân xa Bắc Việt trên đường mòn Hồ Chí Minh ven biên giới sát ngay cạnh; cũng không thể ngăn Sư đoàn 10 của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam uy hiếp Tân Cảnh (Dakto).

Yếu kém của Quân lực VNCH không ở dàn sĩ quan trung cấp mà ở hàng tướng lĩnh. Những tướng tài như Đỗ Cao Trí, Ngô Quang Trưởng, Nguyễn Khoa Nam, Phan Trọng Chinh… đếm trên đầu ngón tay. Số đông còn lại là các vị tướng xuất thân quân đội Pháp ít tác chiến chỉ đóng đồn, chưa đánh trận lớn, rồi tự phong chức cho nhau sau các cuộc đảo chánh. Đại tướng Trần Thiện Khiêm đánh trận nào mà lên Đại tướng? Trung tướng Lê Nguyên Khang đánh những trận nào trước khi làm tư lệnh TQLC? Các Trung tướng Trần Văn Đôn, Hoàng Xuân Lãm, Lữ Lan chưa nhiều trận mạc. Vì sao Đại tướng Cao Văn Viên ghi danh theo học Văn Khoa giữa lúc chiến tranh sôi sục? Ở cương vị Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, ông dư thời gian vì ít công việc hay sao? Hay mộng cử nhân văn chương lấn át bận tâm chiến trường? Chương trình huấn luyện của các trường võ khoa Nam Định, Huế, Đà Lạt ban đầu có 9 tháng, tập trung đào tạo Trung đội trưởng nhưng không dạy về học thuyết chiến tranh hay thuật hành binh và đặc biệt không phân tích các trận đánh trong chiến tranh Việt-Pháp tuy cùng một kẻ thù, cùng dàn tướng lĩnh Cộng sản đó đang tấn công Miền Nam với cùng một phương pháp, cùng chiến thuật, chiến lược. Trung tướng Ngô Du, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Đại tướng Cao Văn Viên thụ huấn chương trình 9 tháng này. Các tướng lĩnh Cộng sản ngược lại rất dầy dạn chiến trận sau 9 năm đánh nhau với Pháp.  

Charlie, là sai lầm của suy nghĩ tin có thể ngăn chính quy Bắc-Việt bằng vài tiểu đoàn Dù trên vài mỏm núi.

[Trần Vũ]

Nguyễn Văn Lập

Những ngày hôm sau địch tiếp tục pháo vào căn cứ, và sau loạt pháo là đánh thăm dò tiếp Ðại đội 114. Liên tiếp trên một tuần, 114 bị tấn công nhưng mức độ chỉ vừa phải, và không lần nào địch vào được sát tuyến, sau mỗi lần tấn công thất bại, đêm về là chúng bò lên lấy xác, và Ðại đội 114 cũng không buồn bò ra ngoài thu chiến lợi phẩm. Sau mỗi đợt pháo kích, căn cứ càng xơ xác không còn nhìn ra hình dáng nữa, từng tấc đất bị xới lên, mùi thuốc súng nồng nặc khắp nơi, cây cối bị khói ám đen thui và bị mảnh đạn pháo chém ngang dọc ngả nghiêng, hầm hố tanh banh, tôi có cảm tưởng một con kiến cũng không sống được, những cuộn băng vết thương văng tung tóe dính trắng xóa trên các ngọn cây, địch đã điều chỉnh được toàn bộ căn cứ C2, pháo vô là trúng phóc. Những hàng dây kẽm gai cao ngang ống chân ngoài tuyến Ðại đội 114 giờ biến đâu mất dưới cả hai làn pháo của ta và địch, có thể nói là nằm lăn xuống đồi cũng không còn vướng một cọng kẽm nào. Những ngày đầu chúng chỉ bắn bằng đạn nổ, những ngày sau thì xen vào đạn delay tức là đạn chui vào lòng đất hơn một mét rồi mới nổ, không có hầm hố nào chịu nổi cả, thế mà ngoài phòng tuyến anh em Dù vẫn sống, vẫn thở, những người chết và bị thương thì vẫn nằm chung với anh em dưới chiến hào, mùi thuốc súng và đạn pháo đánh át đi mùi tử khí, nội hơn một trăm anh em bị thương không được di tản cũng là gánh nặng tâm lý đè lên tinh thần chiến đấu của người lính. Nhưng đây là Nhảy Dù, một dân chơi thứ thiệt, dám cân hồ tất cả giới giang hồ khét tiếng sinh Bắc tử Nam thì còn coi cái chết vào đâu… Là dân pháo binh nhưng tôi cũng ngán kỷ luật chiến đấu của Nhảy Dù, về Sàigòn chịu chơi tới đâu thì chịu, chứ ra trận có lệnh là phải tiến, không có lệnh lui thì… mẹ kiếp, trận này nằm đây chịu chết để vinh quang cho những tên không biết mẹ gì là chiến thuật đã trói tay chúng tôi, tận diệt.

Chân dung tưởng niệm Đại tá Nguyễn Đình Bảo với vũ khí Việt cộng tịch thu trưng bày trên sân vận động Hoa Lư, ĐaKao.

Ngày 6/4/1972, địch tấn công căn cứ Delta của Tiểu đoàn 2 Dù (Thiếu tá Lê Văn Mạnh) ở phía Nam nhưng bị đánh bật ra để lại hằng trăm xác, không chừng Tiểu đoàn 11 Dù cũng được lệnh phải đợi địch đánh để làm giống như vậy chăng, tụi nó đánh Ðại đội 114 cả tuần rồi mà, chết quá trời mà đâu có lên được. Ðịch lại pháo kích, nằm dưới hầm nghe đạn pháo, có những trái đạn delay rơi sát hầm, nổ tung dưới lòng đất kêu ục ục, đất chuồi xuống, cái chết đang từ từ đến với tôi với tất cả nỗi phẫn nộ, đúng là sinh nghề tử nghiệp, pháo nó thì chết vì nó pháo là công bằng sao, tôi đang bị trói tay mà. Sau dứt mỗi loạt pháo, tôi chạy vội ra tuyến quan sát, những người lính vừa tu bổ cộng sự chiến đấu vừa đưa mắt nhìn tôi dò hỏi, như khẩn khoản tôi nói một lời gì, tôi biết họ muốn hỏi gì nên cũng chỉ biết hất mặt về hướng đông, đường ra quốc lộ 14, nếu bị địch tràn ngập.Ngay lúc đó thì có một người lính giơ tay ngoắt tôi, xong chỉ về ngọn đồi xéo về hướng đông nam, tôi cúi mình chạy đến, cách đó khoảng 500 mét đường chim bay, bóng một tên lính Bắc Việt in trên nền trời với tất cả thách thức, như vậy là cả ba hướng đông, tây, và nam đều bị địch bao vây, vậy còn hướng bắc, gần nhất với ngọn đồi Charlie của Ðại đội 111 (Trung úy Thinh), chưa biết thế nào, không đánh được thằng 114, tụi nó dám chơi thằng 111 sao, chỉ có phía tây mới có thể đánh lên 111 mà lại là là dốc đứng nữa…Tôi gọi Hạnh chạy vào hầm báo cho Trung úy Cho biết và xách máy PRC-25 gọi 415 (Căn cứ 5) bắn, điều chỉnh trúng mục tiêu rồi cũng chả ăn nhằm gì, dứt loạt đạn lại thấy nó đứng lên chống nạnh, như vậy là tụi nó đã khoét núi nằm sâu trong đó rồi, đâu có móc ra được. Không chừng thằng này là đề-lô, tôi chỉ còn biết xin 415 bắn cấm chỉ khi có thể.

Những ngày kế tiếp, lương thực cạn dần, có dấu hiệu địch sẽ đánh Charlie vì Ðại đội 111 nằm riêng rẽ còn thằng 113 thì nằm kế bên pháo binh khó đánh, và chúng tôi cũng không còn xuống dưới chân 111 lấy nước được. Hai trung đoàn địch (Trung đoàn 52 Tây Tiến và 64 Quyết Thắng cùng một tiểu đoàn của Trung đoàn 48 Thăng Long) quân số gấp 8 lần, luân xa chiến, tiền pháo hậu xung gần nửa tháng cũng không chơi được Ðại đội 114, nên thế nào tụi nó cũng tìm hướng khác và mục tiêu thì chỉ có Charlie của 111. Ngày 9/4/1972, địch pháo dữ dội Bộ chỉ huy Tiểu đoàn 11 và mưa pháo xuống Charlie xong bắt đầu tấn công 111. Ðại đội 111 chống trả quyết liệt, xác địch đầy sườn đồi. Khu trục rồi trực thăng võ trang vào vùng trút xuống hàng tấn bom đạn quanh căn cứ. Sau nhiều đợt xung phong không thành, địch lại rút lui để lại hằng trăm xác chết.

Lúc này thì địch đã công khai di chuyển quân xa ban ngày, tiếng xích sắt xe tăng, tiếng xe Molotova có thể nghe thấy sau những loạt pháo. Bằng mọi giá chúng phải nhổ cái gai Charlie dầu có hy sinh cả hai trung đoàn này thì còn những trung đoàn khác sẵn sàng vào trận để lấy tiếng trên bàn hội nghị. Không chơi được Song Kiếm Trấn Ải thì còn gì là danh hiệu “Quyết Thắng” của chúng đây. Vừa đánh chúng vừa điều quân, phía đông tức là đường rút của 11 Dù, tôi đã quan sát được vị trí bọn chúng đã đặt hai cây phòng không, một cây 12 ly 7 và một cây 37 ly. Hướng đông địch đã công khai để lộ vị trí để bắn máy bay và uy hiếp tinh thần 110 (Đại đội của Ðại úy Nho). Máy bay yểm trợ cho Charlie thì phải bay từ hướng bắc hoặc hướng nam rồi đánh một vòng về hướng tây để thả bom, xong phải chúc mũi về hướng đông ra thẳng quốc lộ 14, địch đã đặt hai cây phòng không tại đây chặn đầu khiến cho máy bay không dám xuống thấp, thỉnh thoảng chúng còn nhắm xuống Charlie trực xạ. Mỗi lần máy bay vào vùng là tiếng phòng không từ các hướng nổ đầy trời, và ít nhất cũng cả chục cây phòng không giờ đây đã dàn trận. Pháo binh của ta thì gần như bị tê liệt vì bị pháo cấm chỉ của địch, cả Tiểu đoàn 11 cũng thấy được nhiều chiếc Chinook từ phi trường Phượng Hoàng tải đạn pháo binh vừa đến Yankee thì bị pháo và phòng không từ hướng đông bắn qua phải trở lui, ngưng tiếng pháo thì lại bay vào rồi lại bị bắn không đáp xuống được, cứ như vậy cả ngày. Tôi đã gọi các vị trí pháo bắn hai cây phòng không này hoài mà cũng chẳng ăn thua gì. Cả nửa tháng nay chúng đã đào hầm trong núi đợi giờ quyết tử dứt điểm 11 Dù, dầu có bắn trúng cây này thì chúng cũng sẽ điều cây khác đến. Mấy chiếc khu trục đã trúng đạn phòng không, còn trực thăng võ trang của ta hay Cobra của Mỹ là miếng mồi dễ lãnh đạn phòng không nhất nên khó có thể vào vùng.

Ðến giờ phút này thì đã rõ thế nào bọn chúng cũng dứt điểm Charlie, sáng ngày hôm sau, Ðại đội 111 bị pháo thật nặng nề, dứt đợt pháo, bộ binh địch tràn lên, pháo binh của ta cũng bị cấm chỉ không yểm trợ được, định mệnh đã dành sẵn cho 111, bị tràn ngập nhưng thiệt hại vừa phải, 111 phải rút về nhập chung Bộ chỉ huy Tiểu đoàn. Ðộ nửa tiếng sau, Trung úy Thinh Ðại đội trưởng 111 chạy vào hầm chúng tôi, Trung úy Cho hỏi, Thinh kể lại:

– Việt cộng tràn lên là lo kiếm mấy cái ba-lô của ta, chúng chụp được ba-lô của tôi, tôi buông ba-lô chạy, tụi nó không đuổi theo, có lẽ tụi nó đói lắm nên lên được là lo kiếm ăn, chúng lục ba-lô của ta, khui đồ hộp ra ăn tại chỗ (thường là khi rút lui, ta mang theo ba-lô trên lưng đề phòng bị bắn phía sau). Ngay lúc đó thì Trung úy Khánh cũng chạy vào hầm, tôi hỏi thì Khánh cũng nói bị y như tình trạng của Thinh. Tôi hỏi tiếp vậy súng của mày đâu. Khánh kéo cái la bàn M1 đeo nơi cổ ra nói tao chỉ còn có cái này. Tôi ôm bụng cười ngặt nghẽo làm mọi người cũng cười theo. Nửa tháng nay, tôi không thể nở nổi một nụ cười, giờ này ôm bụng cười ra nước mắt về cái chuyện tiếu lâm có thực này thật thoải mái. Việt cộng ngoài việc bị bỏ đói phải liều lĩnh hy sinh tính mạng kiếm từng lon đồ hộp của ta, chúng còn bị ép uống thuốc “Hùng Tâm” tức là một loại thuốc kích thích uống vào là hăng máu lên xung phong chẳng coi việc sống chết ra sao cả, chiến thuật biển người của chúng thường kèm với liệu pháp “hùng tâm” này. Cứ xem ảnh xác Việt cộng bị xích trên xe tank thì mới biết cấp chỉ huy của chúng dã man như thế nào.

Sáng ngày 11/4/1972, Ðại đội 112 được điều xuống chiếm lại Charlie (C1) đem theo cả đại bác không giựt 90 ly trang bị riêng cho Nhảy Dù để bắn xe tank hoặc phá hầm; máy bay Mỹ lại vào vùng thả bom, bay thấp thì sợ phòng không, nhưng bay cao quá khó trúng mục tiêu, nên những phi đội sau, Tiểu đoàn 11 xin thả bom napalm, còn pháo binh vị trí nào của ta không bị cấm chỉ thì pháo xuống phụ họa sau khi các phi tuần bay ra, hết đợt này đến đợt khác, từng phi tuần của không quân Việt Nam vào vùng trải những thảm lửa xuống Charlie, thả bom napalm phải bay thật thấp nên rất chính xác, từng trái bom rơi trúng mục tiêu, nhưng Việt cộng quyết cắt đôi 11 Dù nên cố thủ trong các hầm hố của ta bỏ lại. Bất kể phòng không, một chiếc phi cơ nóng lòng bay thật thấp xuống mục tiêu, thả một quả bom napalm, lúc ngóc đầu bay lên thì cánh bên phải vướng vào ngọn cây trên ngọn đồi phía đông kế bên chỗ hai cây phòng không, bị gãy cánh rồi rớt xuống đồi nổ tung, viên đại úy phi công Việt Nam đã oanh liệt hy sinh. Chiếc còn lại bay vòng vòng tìm đồng đội, sau khi xác định được vị trí, bèn quay trở lại Charlie, giận dữ trút xuống những trái bom lửa còn lại. Lửa thiêu cháy Charlie, thiêu luôn cả những con thiêu thân đợi ngày giải thoát.

Trung tá Nguyễn Đình Bảo đeo kính ở giữa

Ngày 12/4/72, để trả thù cho đồng bọn bị lửa bom đốt sạch tại Charlie, địch tăng cường pháo kích thật mạnh lên đồi C2, từng tấc đất bị cày lên như địa ngục có thật, tôi ngồi trong hầm lại nghe cái chết đến từ từ, ước lượng có đến cỡ gần 10,000 quả đạn đại bác các loại rơi xuống C2 kể từ ngày tử chiến, ngoài hầm bê-tông cốt sắt ra chứ hầm hố như thế này thì làm sao chịu nổi, bất cứ đơn vị nào mà trấn thủ nơi đây chắc là phải tự động rút từ lâu rồi, tôi không dám nghĩ đến một điều xấu nhất dành cho mình, không biết nhà tôi và đứa con đầu lòng đang mang trong người giờ này ra sao, mỗi lần tôi đi trận, nhà tôi đều dặn cầu nguyện Ðức Mẹ che chở, giờ tôi đang làm điều này… Chợt thấy Trung úy Cho nhổm dậy cầm lấy máy nghe rồi lo lắng, tôi cũng qua tần số Trung úy Ðúng hỏi, Trung Tá Bảo, Tiểu Ðoàn Trưởng Song Kiếm Trấn Ải đã gãy cánh thiên thần sau loạt pháo kích vừa rồi, một quả 130 ly trúng hầm, Trung Tá Bảo hy sinh còn Thiếu Tá Duffy và Thiếu Tá Mễ ở hầm khác chỉ bị thương nhẹ. Thiếu Tá Mễ lên thay. Suốt ngày hôm đó, địch tiếp tục pháo kích C2 và bắn cấm chỉ các vị trí pháo binh của ta. Một bịch gạo sấy cả tuần nay tôi nuốt không hết, miệng thật đắng còn nước uống thì đo bằng từng nắp bi-đông, riêng việc vệ sinh thì giải quyết ngay ngoài miệng hầm. Pháo dữ quá nên tôi cũng giới hạn bớt chạy ra ngoài tuyến quan sát. Trên tấm bản đồ, tôi ghi chi chít những vị trí nghi ngờ pháo của địch báo cho Trung úy Ðúng và Trung úy Ðúng cũng chẳng làm được gì khác hơn, gần tối địch ngưng pháo kích, tôi thiếp đi lúc nào không biết cho đến khi Hạnh chạy vào lay chân tôi dậy hỏi cần gì không, tôi lắc đầu.

Sáng ngày 13/4/1972, Ðại đội 113 được lệnh đi lên phía Bắc tìm bãi đáp, còn Ðại đội 111 lên ngọn đồi phía Ðông xem có chỗ nào tải thương được không. Khi Khánh chui vào hầm tôi, tôi thấy mặt có vẻ nghiêm trọng, không còn cái giọng Nha Trang đơ đớ Quảng Ngãi nữa, không thấy có vẻ đùa cợt hàng ngày như lúc còn ở hậu cứ, tôi bảo Khánh chạy theo tôi ra ngoài tuyến và chỉ về ngọn đồi mục tiêu trước mặt, theo hướng tôi chỉ, bóng tên Việt cộng đứng gác vẫn còn đó, tôi lại chỉ Khánh chỗ vị trí hai cây phòng không cách đó không xa và nói:

– Tụi nó đầy ở trên đó, tao bắn hoài cũng chả ăn thua gì, mày hết sức cẩn thận, nếu muốn bắn mở đường tao bắn cho, khi lên coi chừng phòng không tụi nó trực xạ. Khánh trở lại 111 bàn với Trung úy Thinh và cũng không thấy xin bắn mở đường, chắc là muốn giữ im lặng.

Ðộ nửa tiếng sau, súng nổ vang dội từ triền đồi bên kia, 111 lên được gần đến đỉnh đồi thì địch khai hỏa, bằng luôn cả phòng không trực xạ. Không thấy Khánh xin tác xạ, tôi muốn bắn phụ lắm, nhưng giờ này không biết nó ở chỗ nào. Súng vẫn nổ, một chốc tôi nghe tiếng Khánh trong máy, Trung úy Thinh, Ðại đội trưởng 111 đã tử trận, Khánh lên thay. Rồi một chốc lại nghe tin Trung sĩ Lung gọi máy, tôi biết Khánh cũng đã nằm xuống… cánh dù lộng gió muôn phương – vào lòng đất mẹ, máu xương ngậm ngùi. Ðại đội 111 thêm lần nữa tan hàng. Một số còn lại rút về được căn cứ. Cả ngày đó địch vẫn tiếp tục giữ mức độ pháo kích khủng khiếp, lương thực và đạn dược lại cạn dần, lại thêm người chết và bị thương. Ðêm dần xuống, tôi nằm trong hầm buồn lắm, Trung Tá Bảo ra đi hôm qua, Chuẩn úy Sơn đề-lô ra đi trong loạt pháo đầu tiên, Khánh vừa đi sáng nay, Lạc bị thương nặng chưa biết ra sao, còn những người khác thì nằm đầy ngoài chiến hào, bao giờ thì rút đây, không phải tôi bi quan, mà tức vì cái lệnh tử thủ quái ác từ đâu đâu, chết như vậy thật uổng mạng.

Ngày 14/4/1972, Tiểu đoàn 11 Dù tự quyết định rút lui vào ban đêm, nhưng vào buổi trưa sau những đợt pháo kích dữ dội, địch xung phong lên từ phía Ðại đội 114 đồng thời pháo luôn các vị trí pháo của ta, tôi gọi mãi mà không con gà nào chịu gáy, ngoài tuyến, không còn sợ pháo binh ta bắn cản, địch nhào lên đông như kiến cỏ, Ðại đội 114 chống cự không lại phải rút về dàn hàng ngang với Bộ chỉ huy Tiểu đoàn, máy bay cũng đã lên vùng bỏ bom ngay trên tuyến 114, hai bên giành nhau từng hầm hố, từng giao thông hào. Pháo binh ta coi như bị tê liệt, tôi đứng dưới giao thông hào sát với Thiếu Tá Mễ, và Đại úy Ðoàn Phương Hải trưởng Ban 3, giờ kiêm Tiểu đoàn phó, Trung úy Ðúng đứng kế bên, cạnh đấy là bác sĩ Tô Phạm Liệu, một bác sĩ Nhảy Dù mê đánh trận còn hơn cầm ống chích, lưng đeo khẩu Colt 45, tay cầm súng M16 giơ lên, miệng hét binh sĩ ráng giữ vững vị trí, tôi nghĩ thầm trong bụng nói cha nội này đi quân y uổng quá, phải cầm quân đánh nhau mới đúng. Thỉnh thoảng tôi lại gọi máy, khản cổ họng nhưng pháo binh của ta im lặng vô tuyến vì vẫn còn bị pháo kích. Lúc này mặc dù chiếm được gần một nửa C2 nhưng địch vẫn chưa dám nhào tới cận chiến nên phòng tuyến thứ hai của ta vẫn giữ được. Chỗ tôi đứng, xác một binh sĩ Dù nằm trên chiến hào ngay trước mặt, chết đã nhiều ngày, xác trương lên nhưng không thấy mùi hôi vì đầy thuốc súng, còn trên mình mang thêm nhiều mảnh đạn pháo sau đó, có lẽ chết hai ba lần. Bỗng Hạ sĩ Hạnh chạy tới chỗ tôi nói:

– Em kiếm Trung úy nãy giờ, thằng Nhỏ bị thương muốn gặp Trung úy.

Tôi cúi chạy dọc ra ngoài tuyến, gặp Nhỏ đang nằm dưới giao thông hào, bụng bị mảnh pháo phá nát, ruột đổ ra ngoài dính đầy đất cát. Tôi cúi xuống, Nhỏ thì thào bên tai:

– Em khát nước quá, Trung úy đái cho em uống.

Giữa tiếng đạn bay, tôi muốn khóc mà không rơi được giọt lệ, đệ tử tôi đến giờ phút hấp hối còn nghĩ đến ông thầy. Tôi nghẹn ngào nói với Nhỏ:

– Em còn điều gì muốn nói thì nói cho Hạnh biết, anh còn phải coi xem còn bắn được hay không.

Nói xong tôi đưa bi đông nước còn lại một chút cho Hạnh, để cho Nhỏ uống rồi gạt nước mắt định chạy về chỗ Thiếu Tá Mễ. Ngay lúc đó có nhiều tiếng đạn AK bắn xéo trên đầu tôi, khói súng mù mịt không thấy rõ phía triền đồi, tôi rút quả lựu đạn M26 ném xuống dưới chân đồi. Ðây là quả lựu đạn đầu tiên trong đời lính tôi sử dụng để ngăn địch. Không cần quan sát hiệu quả lựu đạn vừa rồi, tôi chạy lại phía Thiếu Tá Mễ. Giờ phút này địch đã lên được hơn nửa đồi C2 và từ hướng Nam cùng với hướng Tây đánh lên, cả Tiểu đoàn 11 chuẩn bị một màn cận chiến, bỗng một viên đạn AK bắn trúng bình khói cay E8 của ta đặt trước mặt Thiếu Tá Mễ cỡ chục mét. Tôi thấy rõ gió thổi ngược khiến cho khói cay màu vàng bay ngược về hướng Tiểu đoàn, những người lính la lên địch pháo khói cay rồi rút về phía Bộ Chỉ huy Tiểu đoàn, và Tiểu đoàn 11 chính thức rời bỏ Charlie vào lúc này, nếu không bị bình khói cay thì không biết thế nào, đây có lẽ trời khiến cho 11 Dù không bị tràn ngập trên đồi C2.

Cũng may địch sợ ta dùng chiến thuật “đồng ư quy tận” tức là gọi pháo binh bắn ngay trên đầu cùng chết với địch nên không dám đuổi theo, nhờ vậy chúng tôi xuống đến chân đồi không có phát súng nào bắn theo. Trời hơi tối, địch cũng không dám pháo kích nữa sợ lộ vị trí, vả lại chúng đã lên đầy trên C2 và giờ đây có lẽ đang lục hầm kiếm thức ăn, nên pháo binh của ta hoạt động lại được liền bắn chặn không cho địch truy kích. Rút theo hướng đông nam độ vài trăm mét thì nghe nhiều tiếng rít xé trời, bom B52 rơi xuống Charlie cày nát thành bình địa. Ðại đội 113 ở hướng Bắc hầu như còn nguyên vẹn từ ngày đầu đến giờ không bị đánh cũng như không thiệt hại vì pháo kích, nên được lệnh đi ngược xuống Yankee tìm đường ra PZ (tức bãi bốc, tiếng Anh là Picking Zone), trên bản đồ cách Charlie khoảng gần 4 cây số. Trời tối, đồi cao, rất khó đi, máy bay lên vùng thả hỏa châu soi sáng, những dây đạn M197 Gatling từ phi cơ OV10 (North American Rockwell OV-10 Bronco) rót đều phía sau chặn hậu, nổ tụp tụp bum bum nghe như một điệp khúc buồn nản của chiến tranh. Binh sĩ còn khỏe dìu những người bị thương nhẹ, thật không thể tưởng tượng được có người bị thương ở chân phải đi bằng cả hai tay ở những đoạn dốc khó đi không thể dìu được, bản năng sinh tồn của con người nhất là của người lính chiến thì không có gì có thể diễn tả ra hết được. Cạn hết lương thực, đạn dược, thuốc men, và dưới những cơn mưa pháo khủng khiếp nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, hơn một trăm con người còn lại này chia đều mỗi người đã lãnh cỡ gần 100 trái đại bác, thử hỏi còn có ai chịu đựng được như thế không. Tôi chợt nhớ đã đọc đâu đó một câu nói của danh tướng Mỹ McArthur: “Tôi thương những người lính bộ binh hằng ngày 24 giờ phải đối diện cái chết trên chiến trường, lại còn phải gánh chịu những bất công của thượng cấp”. Nghĩ lại hoàn cảnh của 11 Dù còn tệ hại hơn thế nữa, bị trói tay để đánh.

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 24 Nov 2025

Chương 10.

Tôi biết gì về hát bội, cải lương và tuồng Phụng Nghi Đình

Ngày nay, với ti vi màu mè, ở nhà nằm coi sướng hơn đi mua vé đến rạp xem diễn, để cho bận về, ra cửa, bị chúng giựt bóp, giựt đồng hồ, có khi đâm đổ ruột lòi phèo, vậy cho nên hát bội cũng như hát cải lương bị ế giòng, cô Bạch Tuyết, Ngọc Giàu phải chịu nằm co (nhại câu cũ và viết chọc chơi: ghẹo chơi đừng giận rạp vắng khách, đào kép kêu trời), và với tuổi 92 chờ ngày theo ông bà, và nói bá láp vẫn có độc giả rộng lượng dung thứ, thêm tật lớn “biết gì vẫn nói hết”, nay tôi xin kể lại những gì tôi biết và còn thương tiếc về hát xướng, kể từ năm 1915, tuổi 14 đã biết nghe hát, chí để năm ni 1993, đã cúp hàm thiếc không đi xem diễn và tiếc hùi hụi những đêm cụp lạc cô Giàu mua thúng độn bụng làm Đổng Trác, v.v.., nhứt là tiếc những đêm ngâm thơ và đêm các trẻ thi nhau khoe giọng tốt hay vịt đực. Năm 1915, tôi học lớp nhì trường tỉnh ở Sốc Trăng, (cỡ 10 hay 11 nay) hát bội đang thịnh hành, có đào Sáu Sển, người xứ Trà Vinh, thủ vai Lưu Kim Đính giải giá Thọ châu thành, tối về tôi nằm mơ vẫn thấy … , một đêm nọ lối 1918, ông Phó tham biện Nguyễn Phú Quí bắt ép hai gánh hát, gánh Lưu Thị Ngoạn (bà Ba Ngoạn) có đào Năm Nhỏ và gánh Sáu Sển nhập chung, diễn lấy tiền quyên cho Nhà Nước Tây thuộc địa buổi ấy gọi giúp quốc trái, diễn tuồng “Tây Hà ngộ thê”, lớp vợ Trần Nhựt Chánh (Năm Nhỏ) đối đáp với mẹ chồng (Sáu Sển), tôi còn nhớ rành rành cô Sáu (nếu còn sống tuổi hơn 100), làm mẹ, nhiếc và nói toàn chữ Hán, nhiếc cay, nhiếc đắng nàng dâu (Năm Nhỏ) không trả lời được và chỉ lấy nước mắt và khóc hai chữ “Mẹ ôi!” mà trừ…) không hát được câu nào để đối cho xứng, vì chưa già giặn và nghề non, thua …

Thuở ấy, quãng vài chục năm sau, kể về kép có hạng, tôi biết và từng xem diễn, có Sáu Ất, người ốm, thấp nhưng mắt thật lanh, cử chỉ vén khéo, thủ vai Quan Công, thì tôi chưa biết có ai hơn, còn vai Tư Đồ Vương Doãn, thì có kép Tám Tri, vai Lữ Phụng Tiên có kép và bầu Hai Thắng…, vai Châu Du có kép Mường Vàng (tuồng Phó hội Giang Đông), còn kép Chín Tài, thủ vai gần gần như Bầu Thắng, nhưng Chín Tài múa quều quào nên tôi dám lén chê ..

Kể về đào, các cô Cao Long Ngà, Năm Đồ, Ba Út, đều quá vãng nên xin miễn nghị, Ba Đắc còn sanh tiền, thủ vai Tôn phu nhơn đọc thơ của mẹ thì lâm li thống thiết, tuyệt, nhưng vợ của mình và đào nhà, Năm Sa Đéc tôi được phép riêng khen và nhớ lại tình cũ nghĩa xưa và nhắc lại đây một chuyện nhỏ, tin hay không là quyền của độc giả, một buổi tối gần đây, tôi lấy hồ sơ để trên bàn định viết về “cái hay của chuyện hát bội” nhưng lạ quá, hồ sơ thất lạc, tìm mãi không thấy đêm đó hay đêm kế, tôi nằm mơ thấy Năm Sa Đéc về khóc và nói: “Anh đừng viết, tôi muốn giấu nghề … lại nữa….

Đến đây thì tắc tị vì trang 299 trong quyển sách “Nửa Đời Còn Lại” này bị in trùng lấp đọc không ra, độc giả nào có sách nếu trang đó không bi lỗi xin chụp lại và gởi lên trang blog của Sơn râu cho tôi được bổ túc. Xin cám ơn và đa tạ lắm.

Hình trên là cái trang sách bị lỗi đọc làm sao ra, quý bạn đọc nào có trang sách rõ ràng xin gởi cho Sơn râu trên trang blog, tối cám ơn lắm.

Thanh bị Thoại Ba cầm giữ, không cho đi, Lưu Khánh khuyên nguyên soái: “đánh cho be bét, vài hôm, bỏ giận lăng nhăng mấy bữa …” (rất tục mà thật gói ghém, tôi xin diễn cho bạn trẻ mau hiểu. “Đánh cho bả đi hết nổi thì bả buông tha chớ gì!… ”

– Mưu ai khiến bà bẻ nhành suốt lá … tôi cho thật mới, thật khéo, v.v..

– Tuồng Mạnh Lệ Quân, lớp giả trai cùng vua dạo ngự hoa viên, vua Thành Tôn muốn thử thừa tướng là gái giả trai, nên trờ ngựa tới trước và lấy roi quất vào nhánh cây cho giọt mưa rơi xuống, Lịch thừa tướng (Phùng Há) chùi mặt không phấn và lấy mắt trách quân vương lỗi đạo, lớp nầy không đờn không trống, chỉ diễn câm, mà khéo tuyệt, còn như tuồng Phụng Nghi Đình buổi Tây rút lui, người lùn qua đây, Lữ Bố (P.H.) diễn quá bạo, đào Điêu (Bích Thuận) chơn đi giày trắng peau de daim và hát xang xừ líu, tăng gô si noa, (đít vêu vêu, anh em cô bác nghĩ sao?) và gần đây, Má Bảy đã tròm trèm hoặc hơn tám mươi còn diễn cho ông Lớn xem, ông Lớn khen “Lẳng lơ Lữ Bố hý Điêu Thuyền” – tôi tiếc già hết xài, không ai nhớ mời đi coi … và tôi chấm dứt bài nầy bằng chuyện cũ, năm kia, lối min nớp xăng ca răng ngoài lối đó, thuộc chánh trị tôi không dám nói rõ năm ấy là năm nào, có một gánh hát Tàu qua đây, tôi xem diễn nơi một rạp ở Cầu Ông Lãnh, tuồng Phụng Nghi Đình, gánh đó diễn: Điêu Thuyền là nước Tàu, Đổng Trác và Lữ Bố, Vương Doãn, v.v… và v.v ..là nhơn vật thời nay của buổi Nhựt lấn đánh Trung Quốc, Đổng là thằng lùn, hay Bố cũng là thằng giặc gì gì đó, tôi không dám hiểu nhiều, duy nhớ trong lúc Tầu qua đây diễn lớp tuồng bị cướp đoạt nước ấy, thì vẫn có một họa sĩ người Tàu đi theo sát gánh hát, mỗi ngày và đêm, ở Sài Gòn nầy, họa sĩ Tàu nầy vẫn treo một bức tranh cao độ hơn ba thước Tây, bề ngang độ 1 mét 50, bốn chữ to tướng cỡ bắp tay: “Hoàn … Ngã … Hà … San” (ẩn ý là “Hãy trả lại tôi sông núi của tôi”, bốn chữ nầy, thuở ấy Thuộc địa Pháp vẫn cho treo và sau đó, một thức giả (ông Huyện Của, cha tướng Xuân) đã xuất mười ngàn đồng bạc con cò (10.00 piastres indochinoise) mua lên, nay tranh ấy còn hay mất, tôi xin chừa một khi khác … và thật tôi chưa biết.

(viết ngày 1-7-1993)

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 24 Nov 2025

Bài 43

Georgetown

Buổi chiều, sau khi được chích nhiều thứ thuốc vắc- xin khác nhau, chúng tôi được chuyển sang đồn cảnh sát của thành phố, một thứ trụ sở lớn có hàng trăm cảnh binh tấp nập ra vào không ngớt. Giám đốc cảnh sát của thành phố George, người cầm quyền tối cao, chịu trách nhiệm về sự an toàn của hải cảng quan trọng này, tiếp ngay chúng tôi tại phòng làm việc của ông. Quanh ông là các sĩ quan Anh mặc đồ ka-ki, quần cộc, bít tất trắng, trông chửng chạc không chê vào đâu được. Ông đại tá ra hiệu cho chúng tôi ngồi xuống trước mặt ông. Bằng tiếng Pháp chính cống, ông hỏi chúng tôi:
– Lúc người ta bắt gặp các anh trên biển, các anh từ đâu tới?
– Từ trại tù khổ sai ở Guyane thuộc Pháp.
– Các anh cho tôi biết những điểm chính xác mà từ đó các anh vượt ngục đi.
Tôi ở đảo Quỷ. Các anh này ở một trại giam ở đất liền, một nửa là tù chính trị, tại Inini, gần Kourou trên đất Guyane thuộc Pháp.
– Anh bị kết án thế nào?
– Tù chung thân. Lý do: giết người.
– Còn bác người Tàu?
– Cũng giết người.
– Án ra sao?
– Chung thân.
Nghề nghiệp?
– Thợ điện.
– Còn các anh kia?
– Nấu bếp.
– Các anh theo Degaulle hay Pétain?
– Chúng tôi không biết gì. Chúng tôi chỉ là những tù nhân muốn tìm cách sống lương thiện trong tự do.
– Chúng tôi sẽ để các anh ở một xà-lim dược mở cửa suốt ngày đêm. Chúng tôi sẽ trả tự do cho các anh sau khi xét lời các anh đã khai. Nếu các anh nói thật, các anh không phải sợ. Các anh phải hiểu là chúng tôi đang có chiến tranh, nên chúng tôi buộc lòng phải thận trọng hơn thời bình nhiều.
Tám ngày sau, chúng tôi đã mau chóng được trả tự do. Chúng tôi lợi dụng tám ngày ở lại Đồn cảnh sát ấy để trang bị quần áo tươm tất. Chín giờ sáng mai anh Tàu và tôi đã ăn mặc chỉnh tề ra đường với giấy căn cước có dán ảnh.
Các nhà trong cái thành phố 250.000 dân này hầu hết là bằng gỗ, kiến trúc kiểu Anh: tầng trệt bằng xi- măng, phần còn lại bằng gỗ. Đường xá và đại lộ chật ních những người thuộc đủ các chúng tộc: da trắng, da đen, ấn Độ, có các phu phen, thủy thủ Anh, Mỹ, hoặc người phương Bắc. Chúng tôi hơi say sưa thấy mình được ở giữa đám đông sặc sỡ này. Một niềm vui mãnh liệt tràn ngập lòng chúng tôi, mạnh mẽ đến nỗi nó lộ rõ trên mặt chúng tôi, kể cả hai anh người Tàu, làm nhiều khách bộ hành nhìn chúng tôi và mỉm cười vui vẻ.
– Chúng tôi đi đâu bây giờ? – Quých hỏi. Tôi biết sơ sơ địa chỉ vài người. Một cảnh sát da đen đã cho tôi địa chỉ của hai người Pháp ở đường Penitence Rivers.

Hỏi thăm kỹ thì đấy là một khu đặc biệt chỉ có người Ấn Độ cư ngụ. Tôi đến gặp một cảnh sát viên ăn mặc đồ trắng, trông chửng chạc, tôi đưa địa chỉ cho anh ta coi. Trước khi trả lời, anh hỏi giấy tờ của chúng tôi Tôi hãnh điện lấy ra đưa cho anh. “Rất tốt, cám ơn”, và anh ta sốt sắng đưa chúng tôi đến một chiếc tàu điện và nói gì với người lái. Chúng tôi đi ra ngoài thành phố và hai mươi phút sau, người lái tàu bảo chúng tôi xuống. Chắc là đến nơi rồi. Chúng tôi hỏi đường. “Anh là người Pháp hả?” Một thanh niên ra hiệu cho chúng tôi đi theo anh ta. Anh ta đưa chúng tôi đến thẳng một căn nhà thấp. Tôi vừa tới nơi thì thấy có ba người đi ra, điệu bộ niềm nở:
– Sao lại thế này, Papi, anh ở đây à?
– Vô lý, người già nhất, tóc bạc trắng nói. – Vào đi! Đây là nhà tôi. Hai người Tàu này đi với anh đấy?
– Phải.
– Vào đi, mời các anh vào cả.
Người tù già này tên là Guitto Auguste, còn gọi là Le Guittou, dân Marseille chính cống. Chín năm trước, năm 1933, anh lên tàu La Martinière cùng một chuyến với tôi. Sau một chuyến vượt ngục thất bại, anh được tha tội chính và đã bỏ trốn đi, cách đây ba năm, theo như lời anh nói. Hai người kia, một là Louis Nhỏ, người ở Ardes, một người dân Toulouse tên là Julot. Cả hai cùng trốn đi sau khi mãn hạn tù, đáng lẽ họ phải ở lại Guyane thuộc Pháp một thời gian tương đương với thời gian họ bị giam, mười năm và mười lăm năm (gọi là thời gian quản thúc).
Căn nhà có bốn gian: hai phòng, một căn bếp, kiêm phòng ăn và một xưởng nhỏ. Họ đóng giày bằng balata, một thứ cao-su thiên nhiên kiếm ở trong rừng, cứ bỏ vào nước nóng là có thể nhào nặn thành đồ dùng rất dễ dàng. Nhược điểm của nó là đề lâu ngoài nắng thì bị chảy, vì đó là thứ cao su chưa được lưu hóa. Người ta khắc phục khuyết điểm đó bằng cách cho những lớp vải xen kẽ với các lớp balata.
Chúng tôi được tiếp đón nồng hậu, với tấm lòng cao thượng của một người đã từng đau khổ, Guittou đã thu xếp cho ba chúng tôi một văn phòng và để chúng tôi ở nhà anh không hề do dự chút nào. Chỉ có một vấn đề là con heo của Quých-Quých, nhưng Quých bảo đảm là nó không làm dơ nhà và chắc chắn là nó biết ra ngoài một mình để đi đái.
Guittou nói: “Được, rồi sẽ tính sau, bây giờ anh em cho nó ở với anh”.
Tạm thời chứng tôi lấy ba tấm chăn củ của lính trải ra đất làm giường nằm.
Sáu người chúng tôi ngồi trước cửa, hút vài điếu thuốc, tôi kể cho Guittou nghe những chuyện gian truân của tôi trong chín năm qua. Hai người bạn của anh và anh hết sức chăm chú lắng nghe và như cùng sống lại những biến cố đó và họ cũng qua những kinh nghiệm thực tế của bản thân để cảm thông được. Có hai người biết Sylvain, đã than vãn về cái chết của anh ta. Trước mặt chúng tôi, rất nhiều người thuộc đủ các chủng loại đi qua đi lại. Thỉnh thoảng có người vào mua một đôi dép hay một cây chổi, vì Guittou và các bạn anh còn làm cả chổi để kiếm sống. Qua họ tôi biết là trong số tù khổ sai và đi đày có chừng ba chục người vượt ngục đã đến ở thành phố George. Ban đêm, họ gặp nhau tại một quán rượu ở trung tâm thành phố để uống rượu rhum hay bia. Julot nói với tôi là tất cả đều làm việc để sinh sống và đa số có thái dộ tốt.
Trong khi chúng tôi ngồi hóng mát ở cửa có một người Tàu đi qua, Quých liền gọi anh ta lại. Rồi không nói gì với tôi, anh và anh cụt đi theo người nọ. Chắc họ không đi xa vì con heo cũng theo sau. Hai giờ sau, ba gác nhỏ. Anh vênh vang như Artaban, ghìm con lừa dừng lại và nói với nó bằng tiếng Tàu. Con lừa có vẻ hiểu được thứ tiếng này. Trong xe, có ba cái giường sắt, ba tấm nệm, gối và ba chiếc va-li. Anh đưa cho tôi một chiếc va li đầy trong có áo sơ-mi, quần đùi, áo lót cùng hai đôi giày, v.v.:..
– Anh kiếm ra những thứ này ở đâu vậy, Quých?
Các bạn đồng hương của tôi cho tôi đấy. Ngày mai chúng ta đến thăm họ nhé?
– Đồng ý. Chúng tôi tưởng Quých lại dắt con lừa và chiếc ba gác đi, nhưng không. Anh tháo lừa ra, buộc nó ở trong sân.
– Họ tặng tôi cả con lừa và chiếc xe này. Họ nói, với những thứ ấy, tôi có thể kiếm sống dễ dàng. Sáng mai, một người cùng quê với tôi sẽ đến đây chỉ cho tôi.
Dân Tàu, làm gì cũng mau thật.
Guittou bằng lòng cho chiếc xe và con lừa được ở tạm trong sân. Ngày tự do đầu tiên của chúng tôi trôi qua tốt đẹp. Buổi tối, sáu chúng tôi ngồi quanh bàn làm việc, ăn ngon lành món xúp rau, do Julot nấu, và một đĩa mì ống.
– Lần lượt, mỗi người thay phiên nhau dọn nhà và rửa bát chén- Guittou nói:
Bữa ăn chung này tượng trưng cho một tập thể nhỏ đầy nhiệt tình. Cảm giác biết mình được giúp đỡ trong bước đầu của cuộc đời tự do làm chúng tôi vững lòng. Quých, anh cụt và tôi thấy sung sướng thật sự và hoàn toàn. Chúng tôi có một mái nhà, một cái giường, những người bạn hào phóng, tuy nghèo nhưng cũng có tinh thần cao thượng đã giúp đỡ chúng tôi. Còn cần đòi hỏi gì hơn nữa?

– Đêm nay, cậu có muốn làm gì không. Papillon?
– Guittou hỏi tôi. – Cậu muốn đến quán rượu ở trung tâm, nơi các tay tù vượt ngục đều tới không?
– Tôi thích ở nhà đêm nay hơn. Anh muốn đi thì cứ đi Mặc tôi.
– Được tôi sẽ đi vì tôi cần gặp một người.
Tôi sẽ ở lại với Quých và anh cụt.
Louis nhỏ và Guittou ăn mặc chỉnh tề, thắt và vạt và đi về phía trung tâm. Chỉ có Julot ở lại để làm nốt vài đôi giày cho xong. Các bạn tôi và tôi đi một vòng quanh các đường phố lân cận cho biết. Tất cả dân ở đây đều là người ấn Độ. Rất ít người da đen, hầu như không có dân da trắng, rải rác có vài tiệm ăn Tàu.
Penitence Rivers, tên khu phố này, là một góc nước ấn Độ hay xứ Nam Dương. Các thiếu phụ và thiếu nữ đều rất đẹp, và các ông cụ đều mặc áo dài trắng. Nhiều người đi chân đất. Khu phố nghèo nhưng mọi người đều ăn mặc sạch sẽ. Đường phố thiếu đèn, những quán ăn, uống, đều đông nghẹt người, đâu đâu cũng nghe thấy âm nhạc ấn Độ.
Một người da đen bồ hóng mặc đồ trắng, thắt và vạt chặn tôi lại: 
– Ông là người Pháp phải không, thưa ông?
– Phải.
– Được gặp người đồng hương, tôi mừng lắm. Mời ông muốn một ly với tôi.
– Cũng được, nhưng tôi còn hai người bạn.
– Không sao, họ có nói được tiếng Pháp không?
– Được
Cả bốn chúng tôi vào ngồi một bàn kê bên lề đường, trước một quán rượu. Anh chàng Martinique này nói một thứ tiếng Pháp còn chọn lọc hơn chúng tôi. Anh bảo chúng tôi phải đề phòng bọn da đen Anh, vì theo anh, họ đều nói dối. “Chúng nó không như người Pháp chúng ta đâu, chúng ta chỉ nói một lời, bọn chúng không như vậy”.
Tôi cười thầm vì thấy anh chàng đa đen Tombouctou này tự xưng là người Pháp chúng ta, song tôi lại thực sự lúng túng. Đúng me xừ này là một người Pháp, chính cống hơn tôi, tôi nghĩ vậy, vì anh ta nhận quốc tịch mình một cách đầy nhiệt tình và tin tưởng. Anh ta có thể chết vì nước Pháp, còn tôi thì không. Do đó anh ta Pháp hơn tôi. Cho nên tôi cũng phụ họa theo anh.
– Được gặp đồng hương và nói tiếng mẹ đẻ tôi rất thích vì tôi nói tiếng Anh tồi lắm.
– Còn tôi, tôi nói được, tôi nói tiếng Anh thạo và đúng văn phạm nữa. Anh cần gì, tôi sẵn sàng giúp anh. Anh ở thành phố George này đã lâu chưa?
Mới được tám ngày, không hơn.
– Anh ở đâu đến?

– Ở Guyane thuộc Pháp.
Không thể thế được, anh là dân vượt ngục hay là người coi tù chạy theo De Gaulle?
– Tôi vượt ngục
– Còn các bạn anh?
– Cũng vậy.
– Henri ơi, tôi không muốn biết quá khứ của anh, bây giờ là lúc phải giúp đỡ nước Pháp để chuộc tội. Tôi theo De Gaulle và tôi đang chờ tàu để sang Anh đây.
Ngày mai anh lại tìm tôi ở Câu lạc bộ Martiner nhé. Địa chỉ đây. Tôi rất sung sướng nếu anh cùng tham gia với chúng tôi. Anh tên là gì?
– Homère.
– Me-xừ Homère ơi, tôi không thể quyết định ngay được. Tôi phải tìm hiểu tình hình gia đình tôi và suy xét kỹ trước khi quyết định một việc quan trọng như vậy ông Homère ơi, nước Pháp đã làm tôi đau khổ và đối xử với tôi vô nhân đạo lắm.
Anh chàng Martinique đã cố thuyết phục tôi với tất cả nhiệt tình sôi nổi vô hạn độ của trái tim anh. Nghe những lý lẽ của con người này đi bảo vệ nước Pháp đã bị tàn phá của chúng tôi, thật vô cùng cảm động.
Chúng tôi về nhà rất muộn và khi đi nằm, tôi nghĩ lại rất cả những gì người dân Pháp lớn đó đã nói với tôi tôi phải suy nghĩ đứng đắn về đề nghị của anh ta. Nói cho cùng thì bọn cảnh sát, bọn quan tòa, chính quyền nhà tù đâu phải là nước Pháp. Tôi cảm thấy mình vẫn còn rất yêu nước Pháp. Thế mà lại có bọn Đức trên đất Pháp. Trời ơi, những người thân của tôi đau khổ biết bao nhiêu, và đối với tất cả những người dân Pháp, thật là nhục nhã biết chừng nào.
Khi tôi tỉnh dậy, con lừa, chiếc xe ba gác, con heo, Quých và anh cụt đã biến đâu mất.
– Cậu ngủ ngon chứ? – Guittou và các bạn anh hỏi.
– Ngủ say lắm, cảm ơn.
– Cậu muốn uống cà phê sữa hay trà? Cà phê với bánh mì phết bơ.
– Cảm ơn!
Tôi vừa ăn vừa xem họ làm việc.
Julot chuẩn bị balata dần dần theo nhu cầu cần thiết, anh ta bỏ thêm những tảng balata rắn chắn vào nước nóng và nhào lẫn với cái khối đã mềm.
Louls nhỏ chuẩn bị sẵn những mảnh vải, còn Guittou hoàn tất chiếc giày..
– Các anh làm được nhiều không?
– Không. Bọn mình làm đủ kiếm hai mươi đô-la một ngày. Trả tiền nhà và ăn năm đô-la. Còn lại cho mỗi đứa năm đô-la làm tiền túi, may mặc và tiền hớt tóc
– Các cậu bán hết à?
– Không, thỉnh thoảng, một đứa trong bọn mình phải đi bán giày và chổi ở các đường phố: Đi bán dạo như vậy, dưới nắng, gay lắm.
Nếu cần, tớ cũng muốn cùng làm với các cậu ở đây tớ không thích là kẻ ăn bám. Tớ cũng phải góp phần vào bữa ăn chứ.
– Tốt thôi, Papi.
Suốt ngày, tôi đi dạo ở khu phố người Ấn của thành phố George. Tôi trông thấy một bảng quảng cáo chiếu bóng và thấy thèm xem một phim màu, có tiếng nói, lần đầu tiên trong đời. Chiều nay tôi sẽ bảo Guittou dẫn tôi đi coi. Tôi đi trên đường Penitence Rivers suốt cả ngày. Thái độ lịch thiệp của những người dân ở đó làm tôi mến họ vô cùng. Họ có hai đức tính: họ rất sạch và rất lễ độ. Cái ngày thơ thẩn một mình tại đường phố ở khu này của thành phố George đối với tôi còn lớn lao hơn nhiều so với ngày tôi đến Trinidad chín năm trước.
Ở Trinidad, giữa những cảm giác kỳ diệu do được đi lẫn trong đám đông, tôi luôn luôn tự nhủ: một ngày nào, trong hai tuần lễ nữa là nhiều nhất, tôi lại phải ra đi trên biển. Nước nào sẽ vui lòng nhận tôi? Có quốc gia nào cho tôi cư trú không? Tương lai sẽ ra sao? ở đây khác hẳn. Tôi được hoàn toàn tự do, và nếu tôi muốn, tôi có thể sang Anh, tham gia các lực lượng tự do nước Pháp. Tôi phải làm gì? Nếu tôi quyết định đi theo De Gaulle, người ta có thể nói là tôi chẳng biết đi đâu nên phải đâm đầu vào đấy? Giữa những người lành mạnh, biết đâu họ sẽ chỉ coi tôi như một tên tù khổ sai chẳng ẩn náu được vào đâu, nên phải đến với họ? Người ta đồn là nước Pháp bị chia ra làm hãi, một bên theo Pétain và bên kia theo De Gaullê. Sao một thống chế pháp lại không biết đâu là danh dự và quyền lợi của nước Pháp nhỉ? Nếu tôi tham gia các lực lượng tự do sau này, tôi có phải bắn vào những người Pháp không? ở đây thật là khó, rất khó tạo cho mình một chỗ đứng tạm chấp nhận được. Guittou, Julot và Louis nhỏ không phải là những thằng đần, mà họ vẫn làm việc để kiếm năm đô-la một ngày. Trước hết, tôi phải tập sống tự do đã. Từ năm 1931 – bây giờ là 1942 – tôi là tù nhân. Tôi không thể giải quyết được những ẩn số trong ngày tự do đầu tiên. Tôi không còn biết có những vấn đề gì được đặt ra cho một người muốn tạo cho mình một chỗ đứng trong cuộc sống. Tôi chưa bao giờ làm việc bằng tay của mình. Tôi chỉ là một anh thợ điện quèn. Tôi chỉ tự hứa với mình một điều duy nhất: sống sao cho sạch sẽ, ít ra cũng sạch sẽ nhất trong khuôn khổ đạo đức của riêng mình.
Tôi về đến nhà thì đã mười bốn giờ.
– Thế nào Papi, lần đầu tiên hít không khí tự do khoái chứ? Cậu đi chơi vui hả?
Hay lắm, Guittou ơi, tôi cứ quanh di quẩn lại mãi trên các đường phố ở vùng ngoại ô lớn này.
– Anh có gặp bọn Tàu không?

Không.
Họ ở ngoài sân. Các bạn anh rất tháo vát. Họ đã kiếm bốn mươi đô-la và họ nhất định bắt tôi phải nhận hai mươi đô. Tất nhiên, tôi không chịu. Anh ra mà xem.
Quých đang thái một cây bắp cải cho con heo của anh ăn. Anh cụt đang kỳ cọ con lừa. Nó cứ đứng yên, có vẻ thích cho lắm.
– Thế nào Papillon?
– Tốt, còn các anh ra sao?
– Chúng tôi thích lắm, chúng tôi đã kiếm được bốn mươi đô-la.
– Các anh làm gì?
– Chúng tôi đi từ ba giờ sáng về vùng quê với một người đồng hương để anh ta chỉ dẫn cho. Anh ta mang theo hai trăm đô-la. Với số tiền ấy, chúng tôi mua cà chua, rau sà-lách, cà tím, nghĩa là các loại lau tươi và xanh. Vài con gà, trứng và sữa dê. Chúng tôi mang ra chợ ở gần bến tàu và thoạt tiên chúng tôi bán cho người ở đây bán lẻ ít một, sau bán cho thủy thủ Mỹ. Họ bằng lòng về giá cả và họ bảo tôi là ngày mai, tôi không phải vào chợ nữa, tôi cứ đợi ở cổng trước bến. Họ sẽ mua tất cả cho. Tiền đây. Anh là người chỉ huy, anh cầm lấy tiền.
– Quých, anh biết là tôi cũng có tiền, tôi không cần đến món tiền này. 
– Anh cứ giữ lấy. Nếu không, chúng tôi không làm việc nữa.
– Các anh hãy nghe tôi. Người Pháp có năm đô-la là sống được rồi. Chúng ta mỗi người cũng lấy năm đô-la để riêng cho mình, năm đô-la góp tiền ăn. Còn lại ta cất đi để trả nợ cho đồng hương các anh số hai trăm đô-la mà họ cho anh mượn. 
– Đồng ý.
– Ngày mai, tôi muốn đi với các anh.
Không, anh cứ ngủ. Nếu anh muốn, bảy giờ sáng anh tìm chúng tôi trước cổng bến tàu.
– Được
Mọi người đều vui vẻ. Trước tiên, chúng tôi thấy đã kiếm sống được, không còn là gánh nặng cho các bạn. Sau Guittou và hai anh kia, họ tuy tốt thật, nhưng họ cũng phải lo không biết bao nhiêu lâu nữa chúng tôi mới có thể tự đi kiếm sống được.
Để ăn mừng việc làm phi thường này của bạn anh, Papillon ơi, chúng ta phải uống hai lít rượu. Julot đi một lát thì về, mang theo rượu mía trắng và đồ nhắm: Một giờ sau, chúng tôi uống rượu như ở Marsille. Rượu vào lời ra, và những tiếng cười vui đời vang lên ròn rã hơn thường lệ. Những người ân hàng xóm nghe nói ở bên nhà người Pháp có tiệc cũng sang chơi tự nhiên, có ba người đàn ông và hai cô gái. Họ mang những xiên thịt gà và thịt dê được tẩm rất nhiều tiêu ớt. Hai cô gái đẹp lạ thường, cả hai mặc toàn trắng, đi chân đất, cổ chân trắng đeo vòng bạc. Guittou nói với tôi:
– Cẩn thận, con gái trinh nguyên cả đấy. Anh đừng vì thấy họ để ngực trần dưới tấm voan mỏng trong mà ăn nói sàm sỡ với họ. Đối với họ thế là tự nhiên. Tôi thì không sao, tôi già rồi. Hồi mới tới đây, Julot và Louis nhỏ đã thử bờm sơm chút đỉnh, cả hai đã lãnh đủ. Các cô này không chịu sang đây từ lâu rồi. Hai cô gái Ấn Độ này đẹp tuyệt trần. Vết xăm giữa trán làm cho cả hai có một vẻ gì kỳ ảo. Hai cô nói chuyện tử tế với tôi, và với vốn liếng tiếng Anh ít ỏi của mình, tôi cũng hiểu rằng hai cô hoan nghênh việc tôi đến thành phố George này.
Đêm nay, Guittou và tôi đã đi vào trung tâm thành phố. Đến đấy tưởng như đi vào một nền văn minh khác, hoàn toàn xa lạ với nơi chúng tôi sống. Thành phố đông nghẹt người. Da trắng, da đen, người ấn Độ, Trung Hoa, quân nhân và lính thuỷ mặc quân phục cùng một số thủy thủ các thương thuyền. Rất nhiều quán rượu, tiệm ăn, tiệm giải khát và hộp đêm với ánh đèn gay gắt làm đường phố sáng như ban ngày.
Sau buổi xem phim (lần đầu tiên trên đời tôi được biết phim màu, loại có cả tiếng nói nữa), còn đang ngây ngất với cái mùi đời mới được hường đó, tôi đi theo Guittou vào một quán rượu rất lớn. Hơn hai mươi người Pháp chiếm một góc phòng. Họ uống “Cu ba tự do” (rượu cồn pha Coca cola).
Tất cả những người này đều là tù vượt ngục, dân anh chị cả. Có người đã mãn hạn, được thả rồi nhưng còn bị “quản thúc” tại chỗ. Đói khổ không có việc làm; lại bị dân chính quốc và cả dân địa phương Guyan khinh rẻ, họ đã tìm đến một xứ sở mà họ cho là sẽ sống khá hơn. Nhưng ở đây họ vẫn rất cực, họ kể lại vậy.
– Tôi vào rừng chặt củi cho John Fernandaz lấy hai đô la rưỡi một ngày – Tháng nào tôi cũng về thành phố George chơi tám ngày. Tôi tuyệt vọng rồi.
– Còn anh?
– Tôi sưu tầm bướm. Tôi vào rừng săn bướm và khi có được một lô kha khá những con bướm các loại, tôi xếp chúng vào một cái hộp kính tồi đem bán cả bộ sưu tập.
Có người đi bốc dỡ hàng ở bến cảng. Ai cũng làm việc không chỉ vừa đủ ăn. “Cực đấy nhưng được tự do, họ nói thế. Tự do quý lắm”.
Tối nay, có một người tù biệt xứ tên là Faussarđ đến thăm chúng tôi. Anh mời tất cả cùng uống. Anh làm trên một chiếc tàu Canađa chở bốc-xít (bị trúng ngư lôi ở cửa sông Demerara). Anh sống sót và được trợ cấp đắm tàu. Thủy thủ đoàn chết gần hết. Anh may mắn lên được xuồng cấp cứu. Anh kể lại rằng chiếc tàu ngầm Đức đã nổi lên mặt nước và nói chuyện với những người còn sống sót sau khi tàu đắm. Chúng hỏi có bao nhiêu tâu còn đậu ở bến chờ được xếp bốc-xít và sắp rời cảng. Tất cả đều trả lời là không biết, thằng cha hỏi họ liền cười và nói: “Hôm qua, tôi còn xem chiếu bóng ở rạp nầy rạp nọ trong thành phố George. Các anh coi đây tôi còn giữ được nửa tám vé vào cửa đây này”: Rồi chỉ vào áo vét ngoài, hắn lại nói: “Bộ quần áo này cũng mua ở thành phố George đấy”. Có những người hoài nghi kêu là chuyện bịa nhưng Faussard nhất định bảo là đúng như vậy thật. Chiếc tàu ngầm còn báo trước cho những người đắm tàu biết là tàu nào sẽ đến vớt họ. Về sau đúng chiếc tàu ấy đã đến đón họ thật. Ai cũng nói chuyện mình. Tôi và Guittou ngồi cạnh một ông già dân Pari, ở Khu Chợ. Ông ta nói tên ông là Louis Nhỏ ở đường Lombards.
– Anh bạn Papillon ơi, tôi nghĩ ra một mẹo để chẳng làm gì mà vẫn sống được. Hễ trên báo ở mục “hy sinh vì vua” hay “vì nữ hoàng” (tôi cũng chẳng rõ nữa), có tên một người Pháp, là tôi tìm đến một cửa hàng bán mộ chí bằng đá, thuê chụp một tấm hình có tôi đứng bên một tấm bia có sơn tên tàu, ngày tàu đắm và tên người Pháp nọ. Sau đó tôi đến các biệt thự sang trọng của người Anh, tôi nói là họ phải góp tiền xây mộ cho người Pháp kia đã hy sinh cho nước Anh để lưu lại làm kỷ niệm tại nghĩa trang. Cho đến tuần vừa qua, có một thằng ngốc người Bretagne được đăng là chết trong một vụ đắm tàu vì trúng ngư lôi, lại sống nhăn răn ra mà trở về. Thằng cha ấy đi thăm mấy bà, đúng là những người tôi đã quyên năm đô-la để xây mộ cho hắn. Thằng cha đi đâu cũng réo lên là nó còn sống sờ sờ ra đấy, còn tôi thì chẳng làm tấm bia nào cả. Phải kiếm cách khác để sống thôi, vì với tuổi tôi tôi không làm gì nổi rồi.
Rượu vào ai cũng lớn tiếng kể đủ các chuyện bất ngờ nhất, tưởng ở đây chỉ có chúng tôi biết tiếng Pháp. Một người kể:
– Tôi làm búp bê và tay ghi-đông xe đạp bằng balata. Chẳng may mấy con bé để quên búp bê ở ngoài vườn dưới nắng, thế là búp bê chảy ra, hay rúm ró lại. Anh tưởng tượng khi tôi quên khuấy là mình đã bán ở đường phố nào, thì chuyện rùm beng đến đâu không. Đã một tháng nay, ban ngày tôi không dám đi đâu đến nửa cái thành phố George này. Xe đạp cũng vậy, thằng nào đi xe ngoài nắng, khi lấy xe là tay bị dính chặt vào tay lái làm bằng balata mua của tôi.
Một người khác kể:
– Còn tôi, tôi làm roi ngựa, có gắn đầu đàn bà da đen, cũng bằng balata. Với thủy thủ Anh, tôi nói tôi đã thoát chết ở trận Mers-el-Kebir*(*Mers-el-Kebir là một thành phố cảng của Algérie còn là thuộc địa Pháp hồi đại chiến thế giới lần thứ hai. Lúc Pétan đầu hàng Đức, có một hạm đội Pháp bỏ neo ở quân cảng Mers-el-Kebir đã không chấp nhận cả hai đề nghị của hạm cuội Anh ở Địạ Trung Hải: hoặc chiến đấu chống phát xít Đức, hoặc phải để hải quân Anh tước khí giới để khỏi rơi vào tay bọn Đức. Các tàu Pháp không chịu, hải quân Anh đã nổ súng ngày 3.7.1940 đánh chìm các tàu Pháp ở đó làm chết 1297 thủy thủ Pháp – ND) nên họ phải mua cho tôi vì nếu tôi sống sót được, điều ấy không phải là lỗi của họ. Mười người thi có đến tám người đã mua. 
Tôi khoái những kẻ đầu trộm đuôi cướp hiện đại, nhưng đồng thời cũng thấy rằng kiếm được miếng ăn quả là gian nan.
Có người mở máy thu thanh ở quầy rượu: De Gaulle đang đọc lời kêu gọi. Tất cả đều nghe tiếng nói của Pháp đang từ London hiệu triệu người Pháp sống tại các thuộc địa và đất hải ngoại. Lời kêu gọi của De Gaulle thống thiết làm mọi người im phăng phắc lắng nghe.

Bỗng, một tay anh chị đã quá chén đứng phắt dậy nói:
– Mẹ kiếp. Nói nghe được lắm, các bạn ơi. Thế là tự nhiên, tớ học được tiếng Anh, tớ hiểu hết tất cả những gì cái lão Churchill đó nói.
Mọi người cười phá lên, chẳng ai thiết vạch ra cho tay ấy biết hắn lầm cả.
Đúng là trước tiên tôi phải tìm cách kiếm sống, và qua những người khác, tôi thấy việc đó không dễ chút nào. Tôi không lo mấy. Từ năm 1930 đến 1940, tôi đã hoàn toàn không còn trách nhiệm với mình và cũng không phải cho lấy lòng ai. Một con người bị giam cầm lâu như vậy, không phải lo việc ăn uống, lo chỗ ở, lo chuyện may mặc, một con người đã bị kẻ khác điều khiển, xoay tới xoay lui, không được tự ý làm bất cứ việc gì phải tuân theo như máy đủ các mệnh lệnh linh tinh nhất mà không được suy nghĩ gì. Con người như vậy chỉ trong vài tuần bỗng rơi tõm vào một thành phố lớn, rồi phải tập lại cách đi trên hè phố mà không xô đẩy ai, qua đường mà không bị xe cán, thấy người khác hầu hạ việc ăn uống của mình, nghe theo lệnh của mình, con người ấy phải tập lại cách sống. Chẳng hạn, người ấy có những phản ứng bất ngờ. Giữa những dân anh chị này, người thì được phóng thích, kẻ bị đi đày đã vượt ngục, nói tiếng Pháp thỉnh thoảng lại pha vài tiếng Anh hay tiếng Bây Ban Nha, tôi dỏng tai nghe chuyện họ kể. Bỗng nhiên, trong cái quán rượu Anh này tôi muốn đi tiểu. Vậy mà, thật không sao tưởng tượng nổi, chỉ thoáng qua thôi, tôi định tìm giám thị để xin phép đi. Chỉ thoáng qua rất nhanh, nhưng nhận ra điều đó, tôi thấy nực cười, Papillon ơi, bây giờ mi không phải xin phép ai khi muốn đi tiểu hay làm bất cứ việc gì.
Ở rạp chiếu bóng cũng vậy, khi cô nhân viên tìm chỗ cho chúng tôi ngồi, tôi thoáng có ý muốn nói với cô ta: “Xin cô cứ để mặc tôi, tôi chỉ là một tên tù không đáng phải bận tâm đâu”, đi ngoài đường, từ rạp chiếu bóng đến quán rượu, tôi cứ ngoái nhìn phía sau: Guittou vốn biết thói quen đó đã bảo tôi 
– Sao các cậu cứ quay nhìn lại phía sau luôn thế? Cậu xem lính có đi theo cậu không chứ gì? ở đây không có lính đi theo cậu đâu, Papi. Cậu đã để chúng ở lại trại giam rồi.
Theo lối nói hình tượng của dân tù, thì phải trút bỏ bộ cánh của dân tù đi. Còn hơn thế nữa, vì quần áo tù khổ sai chỉ mới là một vật tượng trưng. Không phải chỉ lột bộ cánh là xong, phải rứt ra khỏi tâm hồn và trí óc cái dấu tù được khắc bằng lửa ô nhục.

Một đội tuần tra Anh toàn lính da đen, ăn mặc chừng chạc vào quán rượu. Họ đi từng bàn, hỏi thẻ căn cước. Đến góc chúng tôi ngồi, đội trưởng nhìn kỹ mặt mọi người. Có một khuôn mặt người đó chưa biết, đấy là tôi.
– Xin ông cho xem căn cước.
Tôi đưa giấy cho anh ta. Anh liếc nhìn qua rồi đưa trả tôi ngay, và nói:
– Xin lỗi, tôi chưa được biết ông, thành phố George rất vui mừng được đón tiếp ông.
Rồi anh đi ra.
Khi anh ta đã ra hẳn, Paul Savoie nói:
– Bọn cảnh sát ở đây hay tuyệt, những người nước ngoài được họ tin cậy là tù vượt ngục trăm phần trăm. Làm sao chứng minh cho nhà cầm quyền Anh biết được cậu là tù vượt ngục, thế là cậu được tự do ngay tức khắc đấy.
Mãi khuya mới trở về nhà. Mới bảy giờ sáng, tôi đã có mặt ở cổng cảng. Nửa giờ sau Quých và anh cụt đã chở đến một xe ba gác đầy rau tươi vừa hái lúc sáng sớm, lại có cả trứng và vài con gà. Chỉ có hai người thôi. Tôi hỏi người đồng hương đã chỉ dẫn họ cách làm ăn đâu rồi. Quých đáp:
– Hôm qua, anh ta đã chỉ cho tôi, thế là đủ. Bây giờ chẳng cần ai dạy bảo nữa.
– Anh đi kiếm những thứ này ở xa lắm hả?
– Phải đi mất hơn hai tiếng rưỡi. Bọn tôi đi từ ba giờ sáng, bây giờ mới tới đây.
Quých kiếm ngay được trà nóng và bánh tráng, anh như người đã ở đây hai mươi năm rồi. Chúng tôi ngồi bên lề đường, cạnh xe ba gác, ăn uống và chờ khách tới mua.
– Bọn Mỹ hôm qua đã mua, liệu hôm nay có đến không?
– Tôi hy vọng họ sẽ tới, nếu họ không tới, ta bán cho người khác.
– Còn giá cả thì sao? Anh tính thế nào?
– Tôi không nói với họ: Cái này giá bao nhiêu. Tôi hỏi họ: anh trả bao nhiêu?
– Nhưng anh có biết tiếng Anh đâu?
– Đúng, nhưng tôi biết dùng tay chỉ trỏ, dễ lắm. Anh nói được tiếng Anh đủ để mua bán, anh làm trước đi, – Quých nói với tôi.
– Được nhưng tôi muốn xem anh làm một mình đã. 
Không bao lâu, một chiếc xe jeep lớn được gọi là com-măng-ca tới. Một lái xe, một hạ sĩ quan và hai lính thủy ở trên xe đi xuống, viên hạ sĩ leo lên xe ba gác, xem tất cả các thứ hàng hóa, rau xà lách, cà tím, v.v. sau khi kiểm tra kỹ các món kia, y nắn mấy con gà.
– Tất cả bao nhiêu?
Thế là hai bên bắt đầu mà cả:
Tên lính thấy nói giọng mũi. Tôi chẳng hiểu y nói gì. Quých lúng búng nói nửa tiếng Tàu nữa tiếng Tây..
Thấy hai bên không ai hiểu được ai, tôi kéo Quých ra một bên.
– Anh mua tất cả hết bao nhiêu?
Anh ta móc túi thấy còn mười bảy đô la
– Một trăm tám mươi ba đô-la, – Quých nói với tôi
– Họ trả bao nhiêu?
– Hình như là hai trăm mười đô-la, tôi thấy chưa đủ
Tôi tiến vê phía viên hạ sĩ, y hỏi tôi có nói được tiếng Anh không. Tôi nói là được chút ít.
– Ông nói chầm chậm nhé, – tôi nói với y.
– Được.
– Các ông trả bao nhiêu? Hai trăm mười đô la không được đâu. Phải hai trăm bốn mươi.
Y không chịu.
Y giả bộ bỏ đi, quay lại, rồi lại bỏ đi rồi ngồi lên xe jeep, nhưng tôi cảm thấy y đang đóng kịch. Đứng lúc y xuống xe lần nữa thì hai cô bạn Ấn hàng xóm với tôi, vẫn che nửa mặt, đi tới. Chắc các cô đã quan sát cảnh buôn bán của chúng tôi, vì các cô làm như không biết chúng tôi. Một cô leo lên xe ba gác, xem xét số hàng rồi hỏi chúng tôi.
– Tất cả bao nhiêu?
– Tất cả hai trăm bốn mươi đô la, tôi đáp.
Cô ta nói: “Được rồi”.
Nhưng tên lính Mỹ đã lấy hai trăm bốn mươi đô-la ra đưa cho Quých và nói với các cô gái Ấn rằng y đã mua những thứ đó rồi. Các cô bạn láng giềng của tôi cũng không chịu đi mà đứng xem bọn Mỹ bốc hàng trên xe ba gác chất lên com-măng ca. Phút cuối cùng, một tên lính thủy vớ luôn cả con heo, tưởng nó cũng thuộc mớ hàng đã được thỏa thuận bán. Tất nhiên, Quých không chịu để họ bắt heo đi. Thế là bắt đầu một cuộc cãi cọ trong đó chúng tôi không làm sao giải thích nổi cho họ hiểu rằng con heo không ở trong lô hàng đem bán.
Tôi cố làm cho các cô gái Ấn hiểu như vậy, nhưng khó quá Chính các cô cũng không hiểu gì. Bọn lính thủy Mỹ thì không chịu rời heo ra, Quých không chịu trả lại tiền, có lẽ xảy ra đánh lộn mất. Anh cụt đã rút một thanh gỗ xe ba gác ra, thì một xe jeep quân sự đi ngang. Viên hạ sĩ thổi còi. Bọn Quân cảnh đến gần. Tôi bảo Quých hãy trả lại tiền nhưng anh nhất định không chịu. Bọn lính thủy đã giữ con heo cũng nhất định không trả heo. Quých đứng chắn trước xe díp, không để cho xe đi. Một nhóm khá đông những người hiếu kỳ vây quanh cái cảnh huyên náo này. Bọn quân cảnh Mỹ bênh bọn lính thủy, vả lại, họ cũng chẳng hiểu chúng tôi nói gì. Họ tưởng là chúng tôi định đánh lừa các thủy thủ.
Tôi chưa biết xoay xở ra sao thì sực nhớ có ghi số điện thoại Câu lạc bộ Thủy thủ cùng tên anh chàng người Martinique. Tôi đưa cho viên sĩ quan quân cảnh và nói: “Gọi phiên dịch”. Y đưa tôi đến một cái máy điện thoại. Tôi gọi mà may làm sao, tóm được anh bạn theo phái De Gaulle của tôi. Tôi nhờ anh giải thích cho viên sĩ quan quân cảnh hiểu rằng đấy là con heo đã được thuần hóa, nó như con chó của Quých, rằng chúng tôi đã quên không nói trước với các thủy thủ là nó không thuộc vào lô hàng đem bán. Sau tôi đưa ống nghe cho viên sĩ quan quân cảnh. Chỉ ba phút sau là y hiểu cả. Tự tay y cầm con heo đưa trả Quých, làm anh ta sung sướng quá, ôm nó vào lòng và vội đưa nó lên xe ba gác ngay. Sự việc đã chấm dứt vui vẻ, và tốp lính Mỹ cười như nắc nẻ. Ai đi đường người nấy và thế là xong.
Buổi tối ở nhà, chúng tôi cảm ơn các cô bạn ấn Độ. Mấy cô cũng cười rất dữ về chuyện này. 
Chúng tôi ở Georgetown đã được ba tháng. Hôm nay, chúng tôi về ở phần nhà của các bạn ấn Độ nhượng cho chúng tôi. Hai phòng sáng sủa rộng rãi, một phòng ăn, một bếp nấu ăn nhỏ đun than và một cái sân rộng mênh mông, trong góc có mái tôn để gia súc trú. Chiếc xe ba gác và con lừa cũng có chỗ chu đáo. Tôi được ngủ một mình một giường to có nệm ấm. Hai anh bạn Tàu ở phòng bên, mỗi người một giường riêng. Chúng tôi còn một cái bàn và sáu ghế tựa cùng bốn ghế đẩu. Trong bếp có đủ dụng cụ nấu nướng. Sau khi cám ơn Guittou và các bạn về nhà chúng tôi, như lời Quých nói. Trước cửa sổ phòng ăn nhìn ra đường chễm chệ chiếc ghế phô-tơi quà tặng của các cô bạn Ấn. Trên bàn ăn, trong bình thủy tinh, có cắm hoa tươi do Quých mang về.
Cảm giác có căn nhà riêng đầu tiên của mình, xoàng xĩnh nhưng sạch sẽ căn nhà sáng sủa tinh tươm, kết quả đầu tiên của ba thằng cùng kiến ăn chung, làm tôi tin tưởng vào bán thân và vào tương lai.
Mai là chủ nhật, không có chợ, vậy là chúng tôi được tự do cả ngày. Ba chúng tôi quyết định nấu một bữa mời Guittou và các bạn anh, mời cả các cô bạn Ấn Độ với mấy người anh, em của họ. Khách danh dự là bác ba Tàu đã giúp Quých và anh cụt, đã tặng hai người chiếc xe ba gác với con lừa, lại còn cho chúng tôi mượn hai trăm đô-la để khởi đầu chuyện buôn bán của chúng tôi. Bác ta sẽ thấy trên đĩa đặt trước mặt bác, một cái phong bì trong có hai trăm đô la, và một tấm giấy của cả ba chúng tôi cảm ơn bác, viết bằng chữ Hán.
Sau con heo mà anh yêu dấu, Quých dành tất cả tình bạn của anh cho tôi. Anh luôn luôn chăm chút tôi từng ly từng tí. Trong ba người chúng tôi, tôi là người ăn mặc tươm tất nhất, và đi đâu anh cũng thường mang về cho tôi một cái áo sơ mi, một chiếc cà vạt hay một cái quần dài. Anh mua những thứ dó bằng tiền riêng của anh. Mỗi ngày cả ba chúng tôi kiếm được từ hai mươi lăm đến ba mươi đô la cũng chẳng là bao, nhưng chúng tôi hài lòng vì thấy đã mau chóng tự kiếm sống được. Không phải lúc nào tôi cũng đi mua hàng với hai anh, tuy tôi đi thì mua được rẻ hơn. Bây giờ tôi chuyên bán hàng, nhiều lính thủy Mỹ và Anh được cử lên bờ để mua hàng cho tàu của mình, đã quen biết tôi. Chúng tôi nói chuyện giá cả với nhau rất tử tế, không nóng nẩy. Có một gã cao lớn phụ trách bếp ăn của sĩ quan Mỹ, một thằng Mỹ gốc Ý, chỉ nói với tôi bằng tiếng Ý. Nó sung sướng ra mặt khi thấy tôi trả lời bằng tiếng mẹ đẻ của nó và chỉ mặc cả cho vui. Cuối cùng, nó mua với giá tôi đòi từ khi bắt đầu gặp nhau.
Chừng tám giờ rưỡi đến chín giờ sáng, chúng tôi đã về nhà. Cả ba chúng tôi ăn một bữa nhẹ rồi anh cụt và Quých đi nằm, còn tôi sang tìm Guttou, hay các cô láng giềng sang chơi bên tôi. Việc nhà chẳng có mấy, chỉ quét nhà, giặt đồ, làm giường, dọn dẹp nhà cho sạch sẽ, hai chị em hàng ngày làm việc đó cho chúng tôi rất chu đáo mà chẳng lấy bao nhiêu, có hai đô la mỗi ngày. Tôi đã biết đầy dủ thế nào là tự đo, không còn phải kinh hoàng lo nghĩ đến tương lai nữa.









Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên 

Post by Sơn râu 24 Nov 2025

Chương 20

Tất cả cảnh đó đã diễn ra trong thời gian tối thiểu không cần phải kể lại. Chiếc máy bay đã xuất hiện vừa đúng lúc để cất đi các nỗi do dự của chúng tôi. Chúng thấy chiếc máy bay ấy các đêm trước, nhưng vào lúc con tàu dừng lại, lần nầy chính các tia lửa than bắn ra từ đầu máy đang chạy đã lôi cuốn sự chú ý của chiếc phi cơ. Riêng đối với người mở cửa toa cho chúng tôi nhờ phản ứng mau lẹ và sự bình tĩnh hiếm có, là một người. Pháp tên Robert, anh đã rình cả buổi tối âm mưu của chúng tôi và tự hứa sẽ theo chúng tôi. Nhưng không muốn bị coi là một kẻ không xứng đáng len lỏi vào nhóm chúng tôi, anh đã trả một thứ lệ phí gia nhập nhóm chúng tôi bằng cách mở cửa và nhảy xuống đầu tiên, hành động của anh là cả một sự khéo léo. Ngoại trừ một vài vết sây sứt nơi tay, gây ra bởi sức rơi trên đá vụn, không ai bị thương trầm trọng cả. Bình minh cũng sắp ló dạng, vì ở phương Đông, một vệt xám và đục mờ đã chọc thủng màn sương đêm đang bao phủ chúng tôi. Tuy nhiên đây không phải là lúc nhìn ngắm cảnh bóng tối nhường chỗ cho ánh sáng. André đã lên dẫn đầu và theo một hàng dọc. Chúng tôi đi về phía một khu rừng in bóng cả một khối đen sậm nghiêng nghiêng về phía Tây. Chúng tôi phải đi một khoảng độ chừng một cây số mới đến khu rừng ấy.

Ý nghĩ liên quan đến vấn đề tiếp tế thực phẩm từng làm chúng tôi lo âu, đột nhiên biến mất khi Guy thoáng thấy một đống đất nhỏ khó nhìn ra, nếu không có cặp mắt tinh ý, nằm trong cánh đồng ven bờ rừng. Đấy chính là một chỗ dự trữ khoai tây mà có lẽ một nông dân vừa mới chôn xuống đất cách đây vài giờ. Nến có ai nhìn chúng tôi từ xa, chắc sẽ phải vô cùng sợ hãi vì chúng tôi trông giống như những kẻ trộm đào mồ đang khai quật một quan tài. Với thức ăn, chúng tôi đã được cứu thoát một nửa rồi. Chúng tôi đi sâu vào rừng thông để tổ chức một phiên họp nhỏ. Chúng tôi không biết được gì hết, cả hướng mặt trận lẫn vị trí địa dư của mình, vụ chúng tôi không có bản đồ, địa bàn, bật lửa, hộp quẹt. Chúng tôi chỉ biết có một điều: hôm nay là sáng ngày 10 tháng 4. Phải đi thám sát một vòng và kiếm cái gì đốt lửa để tạo một ít thức ăn, nếu không sẽ không thể tiếp tục được con đường đào thoát vào đêm mai. Trong tất cả các làng mạc ở Đức, đâu cũng có các tù binh chiến tranh Pháp hay người nước khác, được đi làm đồng áng mà không bị canh giữ, và thật xui tận mạng nếu chúng tôi không gặp được người nào. André, Guy và Robert ở lại để giữ kho tàng và thay phiên nhau nằm nghỉ, trong khi cùng với Marcel tôi đi sâu thêm vào rừng để ra phía bên kia và quan sát cánh đồng. Chúng tôi đang ở giữa một đám thông con bị chặt ngang tầm cao quá đầu người, nhưng các bụi rậm bên dưới dày đặc tạo thành một chỗ nấp lý tưởng để ẩn náu. Cứ gặp một chỗ thuận tiện, tôi lại làm dấu bằng một cành cây nhọn hình mũi tên hoặc một hòn đá để khỏi lạc đường về. Sau khi đi được nửa tiếng đồng hồ, chúng tôi gặp một con suối cho phép Marcel rửa vết thương trên đầu và giúp chúng tôi rửa ráy mặt mày. Qua một màn cây ngăn cách, chúng tôi thấy một cánh đồng bao la bất tận, mặt đất sáng và xốp như cát. Mặt trời đã lên cao đủ chiếu vào tận chỗ chúng tôi. Bất chợt Marcel nắm chặt lấy tay tôi.

– Nhìn đằng kia, anh nói, có một người! Với chiếc nón chào mào ấy, tôi chắc chắn là một người Pháp.

Cố gắng mở lớn mắt, tôi thấy một bóng người trong cánh đồng mênh mông, nhưng mắt tôi không cho phép phân biệt rõ các chi tiết. Không còn phải ngần ngại gì nữa! Trong trường hợp tệ nhất, chúng tôi sẽ sử dụng con dao thô sơ được mang theo từ trại tập trung. Để bớt vẻ bề ngoài của tù nhân, chúng tôi lột nón và vắt áo vào tay. Với chiếc quần mà các đường sọc gần như đã bị phai hẳn vì hao mòn và bụi bặm bẩn thỉu, từ xa chúng tôi có thể trông giống như hai kẻ đi làm đồng áng. Còn 200 thước cách con người đang xới đất kia, Marcel thì thầm:

– Tôi không nhìn lầm, quả là một gã ở Pháp, chỉ cần nhìn cách hắn hút ống vố là đủ biết.

Khi chúng tôi đến gần, anh ta dừng công việc. Mặc một bộ kaki, anh ta trông giống như mọi người tôi quen ở các nhà tù Đức quốc, và nếu không phải là đồng hương, ít ra anh ta cũng là tù binh chiến tranh. Chung quanh chúng tôi, xa đến mức mắt còn nhìn thấy được, không có một bóng người, và từ một con đường ở xa thật xa, không một ai có thể nghi ngờ chúng tôi là hạng người gì. Trong tình thế lấy hai chọi một, ta có thể yên tâm được phần nào, như vậy sau khi ra hiệu cho Marcel để tôi nói, bằng một giọng bình tĩnh nhưng rõ ràng, tôi mạo hiểm thốt câu đầu tiên

– Pháp?

– Phải, Breton.

Anh ta đã nói cái gì kia! Marcel tràn đầy cảm động, lập tức bắt đầu câu chuyện dùng toàn tiếng lóng địa phương hết sức lạ tai đối với tôi.

– Còn quân Mỹ?

Tôi lợi dụng một lúc Marcel ngừng nói để đặt câu hỏi ấy.

– Chúng tôi chờ đợi họ đến ngày hôm nay hay ngày mai, – anh ta trả lời tôi. – Bà chủ sai tôi đến đây đào một cái hầm để dấu một ít khoai tây vì bả sợ bị trưng dụng hết cả.

Và dùng ngón tay trỏ hướng về phía Nam, anh ta chỉ cho chúng tôi thấy một nóc lầu chuông nhà thờ và các mái nhà lợp ngói đỏ. Đó là ngôi làng mà anh ta được đưa đến ở từ ba năm qua. Cũng giống như tất cả tù binh chiến tranh được xử dụng trong các nông trại, anh ta ở đấy như chuột sa vào hũ gạo. Làm nhiều việc, chắc chắn rồi, nhưng được nuôi ăn kỹ, gần như được hoàn toàn tự do, và các mối lợi khác phát sinh từ sự vắng mặt của đàn ông Đức vì họ phải đi nhập ngũ. Thoạt tiên anh tưởng chúng tôi là tù vượt ngục, thật ra cũng gần đúng như vậy ngoại trừ anh ta không biết trại tập trung là và trong vài lời vắn tắt, Marcel cố gắng soi sáng anh ta, nhưng anh ta có vẻ đang tự hỏi có phải chúng tôi đang kể một câu chuyện tiểu thuyết đăng trường kỳ trên nhật báo hay không. Chúng tôi không thể để mất thì giờ. Cuộc gặp gỡ của chúng tôi rất cảm động, tuy nhiên sau tình cảm, thực tế đã trở lại với quyền hành của nó. Đó là một gã tốt bụng, một mẫu người thuần hậu đơn giản, không hề có một ý thức nào về trạng huống của chúng tôi. Anh ta lấy làm tiếc là đã không mang theo phần bánh mì của mình, và đáp một câu hỏi, anh ta cho biết chúng tôi đang ở về phía Đông của sông Elbe, gần chính giữa con đường nối Hambourg và Magdebourg. Anh ta có một chiếc bật lửa. Đấy chính là tất cả những gì chúng tôi cần. Duy có điều khi Marcel cho anh ta biết là chúng tôi cần chiếc bật lửa ấy cũng như cần cặp giò của chúng tôi, anh ta ngần ngại.

– Nó là một kỷ niệm của vợ tôi, – anh ta bảo, và anh ta khẩn cầu chúng tôi khi nào đi ngang qua đây trong đêm, bởi vì đó là con đường chúng tôi phải đi, hãy để lại chiếc bật lửa trong một góc hầm mà anh hấp tấp lấy cán cuốc để làm dấu cho chúng tôi nhớ địa điểm.

Marcel, đôi khi thiếu ngoại giao, đã vấp phải một sơ hở khi muốn, xác định rằng chúng tôi còn cần dùng đến chiếc bật lửa trong nhiều ngày nữa. Nhưng tôi đã không để cho anh nói hết lời:

– Chắc chắn rồi, – tôi nói với ông bạn người vùng Bretagne cứng đầu còn hơn cả Marcel nữa, thông cảm với anh, đây là quà của bả mà. Chúng tôi sẽ trả lại anh, đừng sợ mất.

Và cùng lúc đó tôi nghĩ: “Tội nghiệp anh bạn, nếu anh biết rằng tôi bất cần kỷ niệm của vợ anh. Người ta vừa nói với anh về cả triệu người chết mất xác trong những điều kiện rùng rợn, trong đó có người Pháp, những người Bretagne như anh. Tôi đã ở đó với một người đồng hương của anh, người mà anh được nói chuyện thoải mái, và người đã giải thích với anh rằng chúng tôi chỉ có một mẩu bánh mì trong bụng từ bốn hôm nay, rằng tính mạng chúng tôi đang bị đe dọa sau khi trốn thoát khỏi địa ngục trên chiếc xe lửa, rằng chúng tôi còn ba người bạn đang bị lạnh cóng trong rừng và phải già người đi vì chờ đợi chúng tôi, và chỉ vì người ta xin anh độc có chiếc bật lửa, mà anh, người có quyền ăn mỗi ngày năm bữa trong nông trại, và có thể ngủ cả với bà chủ hay con gái bà, anh lại còn ngần ngừ do dự”.

Nếu anh ta còn cho tôi chiếc bật lửa, cái đó lại có vẻ công bình hơn nữa, mặc dù tôi đã hứa trả. Chính tôi đã giữ nó khiến anh ta bối rối, và suýt nữa tôi bật cười. Quà kỷ niệm của vợ anh ta chỉ là một cục sắt thê thảm đáng giá ba quan trước chiến tranh. Đồng ý một món kỷ niệm là vô giá, như người ta vẫn nói, nhưng sau thời gian ở Ellrich, sự tương phản quá thật quá lớn lao.

Để hoàn toàn làm cho anh ta yên tâm, vì anh ta cứ liếc mãi vào tài sản của mình mà tôi đang nắm chắc trong tay phải, tôi đọc cho anh nghe một đoạn thơ mới, tất cả cái gì hay ho nhất thuộc loại nói về các kỷ niệm và tính cách lãng mạn. Cuộc từ biệt xẩy ra ngắn ngủi, Marcel ghi cho anh ta địa chỉ của anh và hứa sẽ xin cấp cho anh ta một huy chương vì đã giúp đỡ một sĩ quan hải quân gặp nguy khốn. Điều đó đã kết thúc thật hay trong cuộc gặp gỡ nầy. Trên đường về, tâm hồn chúng tôi đầy vui vẻ. Ba bạn đồng hành của chúng tôi chưa biết gì, quả thật chúng tôi đã rơi vào một nơi lý tưởng, xa cách mọi lối đi qua và xa cách các làng mạc mà bọn trẻ con rong chơi ở vùng lân cận có thể là mối nguy hiểm của chúng tôi, và với một niềm hãnh diện rất chính đáng, hãnh diện vì trở về với một kết quả tích cực, và với một chút cảm động, Marcel huýt sáo miệng hai lần tại một điểm thích nghi định trước, để không làm các bạn giật mình sợ hãi vì sự xuất hiện đột ngột. Tiếng trả lời đáp ứng ngay, và khi họ trông thấy vẻ mặt chúng tôi, họ hiểu ngay là chúng tôi đã thành công. Khốn khổ, các bạn tôi bị lạnh cóng. Chỗ chúng tôi nấp, mặt trời không chiếu qua được, nhưng ngược lại, theo Robert, một người hiểu biết thật nhiều, đây là chỗ lý tưởng để đốt một ngọn lửa trên mặt đất. Anh ta đã chuẩn bị tất cả, cành cây thông khô, gỗ thông mục, và năm phút sau khi chúng tôi trở về, các bạn tôi đã được sưởi ấm quanh ngọn lửa. Họ luân phiên quạt khói bằng chiếc nón chào mào để không bị chú ý từ xa. Mọi chuyện đều tốt đẹp và nửa giờ sau, Robert, người đã thú nhận với chúng tôi là một tay chuyên săn bắn trái phép, khi còn ở ngoài dân sự, đưa cho chúng tôi mấy củ khoai tây chín được vùi trongtro. Không muối, không tiêu, nhưng ngon làm sao! Đấy là lúc hoan lạc nhất của chuyến mạo hiểm, bởi vì mọi vật hình như cười đón chúng tôi kể từ khi nhảy vào chốn vô định. Trước hết là thời tiết có vẻ còn khô ráo, sau đó là thức ăn.

Sau khi no nê và nhét đầy túi làm dự trữ cho một đêm hành trình sắp đến, một kế hoạch liền được chấp nhận: nghỉ ngơi tại một khoảng rừng trống có ánh mặt trời kế cận chỗ đang ngồi vì từ năm đêm nay chúng tôi không được ngủ, và ngay lúc mặt trời lặn, lại lên đường: hướng Tây. Không có những tin tức chính xác, vì chúng tôi nghi ngờ tin tức của người tù binh chiến tranh, chúng tôi đồng ý trên nguyên tắc là phải đi ít nhất là 100 cây số, mới gặp được quân đội Đồng Minh. Mỗi đêm đi 20 cây số vậy là phải mất năm đêm. Đó là cá nhân bi quan nhất, nhưng chúng tôi thích giữ lại một sự ngạc nhiên dễ chịu hơn là có ảo tưởng. Chúng tôi không quên điều kiện thể chất tồi tệ của mình, và một cuộc gặp gỡ không mấy dễ chịu vẫn có thể xảy ra. Riêng phần tốc độ đi ban đêm, chúng tôi cũng chỉ căn cứ vào phương tiện tối thiểu. Ban đêm người ta đi chậm hơn ban ngày, và nguyên tắc đi hàng một băng qua cánh đồng cũng làm chậm hơn nhịp đi trung bình. Chúng tôi đến khoảng rừng thưa và nằm sãi ra để tìm giấc ngủ, Marcel nhận phiên gác đầu tiên. Mặt trời đứng bóng. Yên tĩnh biết bao giữa lòng vũ trụ! Chỉ có tiếng chim hót và tiếng rì rầm của côn trùng làm khuấy động cảnh thanh bình của cánh đồng và rừng cây. Làm sao có thể tin được cả thế giới đang nhuộm máu và đầy các đống đổ nát điêu tàn? Còn con tàu, nay nó ở đâu? Thật khó mà ngủ trong những giờ khắc sống sôi động như thế này. Đôi khi sau một tiếng động có vẻ khác thường, chúng tôi nín thở để lắng nghe. Tuy nhiên đó chỉ là tiếng lá rụng hay tiếng cành cây khô nhỏ bị gãy, gây ra bởi chim chóc chuyền từ cành nầy sang cành nọ. Cảnh xế chiều lại còn huy hoàng hơn nữa. Khi mặt trời từ từ lặn xuống, đời sống của hằng hà sa số côn trùng chậm lại một không khí êm dịu nên thơ, nối tiếp giữa cái nắng buổi trưa và cái lạnh của đêm tối, lan tràn khắp khu rừng thưa nơi chúng tôi đang nghỉ.

Cái tự do mà chúng tôi đang ôm đầy trong vòng tay đối với chúng tôi vẫn còn là thứ tự do rất hạn chế. Giống như dã thú, chúng tôi không thể đi ra khỏi rừng và ngay cả trong đêm tối chúng tôi cũng sẽ phải lánh xa thôn xóm làng mạc nơi những con người như chúng tôi đang sống. Con đường ngăn cách với quân Đồng Minh đối với chúng tôi cũng tệ hại như một vùng “Phi chiến địa”: một vực thẳm. Tuy nhiên tâm trí chúng tôi bị một quyết định hung dữ chế ngự: chấp nhập tất cả còn hơn là bị bắt lại. Trong thời kỳ thảm bại và tháo chạy với niềm kiêu hãnh còn lại cửa những kẻ đã chiến thắng ngày trước, binh lính của Hitler chắc sẽ không nhẹ tay khi thanh toán bọn tù nhân bắt gặp trên đường rút lui của chúng; tuy nhiên về phần chúng tôi, ai nấy cũng đã tự hứa là không có lịch sự gì cả đối với những kẻ cản bước chúng tôi, và chúng tôi thích bị chết trong khi chiến đấu hơn là trở lại địa ngục của một trại tập trung nào đó.

Buổi tối, khi bóng đêm bao phủ dần dần bìa rừng, chúng tôi nghe xa xa có tiếng đóng súc vật vào xe vẳng về từ phía nông trại, một ngày đồng áng đã chấm dứt. Đối với chúng tôi, một ngày khác bắt đầu.

– Phải viết một cuốn sách về cuộc phiêu lưu của chúng ta, – Marcel nói trong khi chúng tôi chuẩn bị lên đường.

– Chắc nó sẽ rất lôi cuốn, – André trả lời, – tuy nhiên làm sao nói được tất cả sự thật như chúng ta đang sống đây. Không có một sự ghi chú nào; thật khó mà viết. Và phải đặt cho nó tên gì? Bởi vì sẽ không thiếu các loạt sách viết về đề tài nầy, nhưng chắc chắn sẽ hiếm có các tác phẩm không phải là sản phẩm của tưởng tượng hoặc là có tính cách thủ cựu.

Marcel, trong tư cách và khả năng của một sĩ quan hải quân dẫn đầu, André đi kế đó, tôi đi giữa, Guy và Robert sau cùng. Chúng tôi đã định hướng rất kỹ phía Tây và vì có dấu hiệu cho thấy trời sẽ có sao, có thể hướng dẫn chúng tôi trong đêm tối, cuộc khởi hành được thực hiện trong những điều kiện tuyệt diệu. Khi đặt chân lên cánh đồng tiếp nối cánh rừng.

Marcel ra lệnh dừng lại một lúc. Như vậy là khôn ngoan vì trời cũng chưa tối hẳn, và một nông dân nào đó đi làm về muộn có thể trông thấy chúng tôi.

Vào khoảng 10 phút sau khi chúng tôi ngồi xuống bìa rừng, nhiều tràng đại liên và nhiều phát súng đại bác hạng nhẹ phá vỡ cái im lặng của một đêm mới bắt đầu. Trước hết không ai dám to tiếng phát biểu những gì mình nghĩ trong đầu. Các khẩu súng đã bắn ra các loạt đạn đó chắc chắn được đặt cách đấy tối đa là 15 cây số. Mặt trận ở gần đây quá! Thật tốt đẹp vô cùng Bị ngắt quãng đều đặn vài giây, tiếng tic-tac của vũ khí tự động tiếp tục như thế trong nửa giờ đồng hồ rồi im bặt. Sự hứng khởi đầu tiên của chúng tôi lại trở về số không. Đấy chỉ có thể là tiếng nổ phát ra do một dàn súng phòng không D.C.A. Tuy nhiên lại không có tiếng chiếc máy bay nào trên trời, và một cuộc bắn phá như vậy phải là để ngăn chặn cả một phi đội đang oanh tạc. Vậy thì, nếu đó là tiếng súng chống chiến xa thì tại sao lại có sự im lặng đột ngột? Một hay hai chiến xa có thể đã lị phá hủy, nhưng các mũi nhọn tấn công của quân Mỹ thọc sâu vào phòng tuyến địch chắc chắc phải nhiều hơn hai chiến xa.

Chúng tôi đặt cho nhau tất cả các câu hỏi ấy và mỗi người thứ tìm cách trả lời thành thật nhưng trong sự cố gắng thỏa mãn lập trường cá nhân phần lớn rất là lạc quan. Chúng tôi phát gạt bỏ khỏi tâm trí các giải đáp quá dễ dàng vì trước mặt chúng tôi đang có một đêm phải đi, và trước khi khởi hành lại, André đã nói một câu kết luận hợp lý:

– Rất có thể là có một đoàn cơ giới trong khu vực nầy, có thể nó đã gặp sức kháng cự, và không muốn mạo hiểm trong đêm tối, nhưng như vậy thì cuộc đụng độ lại sẽ xẩy ra vào sáng mai, chúng ta sẽ thấy điều đó. Trong khi chờ đợi, nào lên đường!

Nếu đường thẳng bao giờ cũng đúng là đường ngắn nhất từ một điểm nầy qua một điểm khác, thật không phải dễ gì đem áp dụng định lý ấy cho việc đi ngang qua một cánh đồng. Với một tinh thần đầy phấn thích như chúng tôi đang có, dường như chúng tôi có thể nuốt hàng cây số đường một cách dễ đàng, tuy nhiên với những đôi giày đế gỗ, và trong cuộc đất xốp vì được cầy bừa, cơn mệt mỏi đã đến rất nhanh cùng với cơn đói khát. Những củ khoai tây nướng không có chất béo không phải là thực phẩm dinh dưỡng tốt, và sau khi ăn chúng, người ta lại cảm thấy bao tử trống rỗng ngay sau các nỗ lực đầu tiên.

Trước sự ngạc nhiên đầy khổ tâm của chúng tôi, cánh đồng được canh tác lại được nối tiếp bằng một cánh đồng lầy. Cứ cách một khoảng 2 hay 300 thước lại có một hàng rào dây kẽm, đôi khi là kẽm gai, ngăn cách hai cánh đồng với nhau, chúng tôi bắt buộc phải dừng lại để chờ đợi mọi người. Marcel lợi dụng khoảnh khắc ấy để định hướng sao bắc đẩu. Im lặng bao trùm một cách nghiêm ngặt, và mỗi khi dừng lại, chúng tôi phải vểnh tai nghe ngóng từng tiếng động nhỏ. Nhưng một đôi khi, một người trong bọn cũng phải miễn cưỡng phát lên một tiếng chửi thề, vì một chân bị dẫm sụp xuống một hố nước. Chúng tôi có đi đúng về hướng Tây không? Đó chính là cảm nghĩ của chúng tôi, nhưng chúng tôi đã mất một nửa thời gian để vượt qua các chướng ngại vật và tìm kiếm hướng đi qua một khu rừng chắn lối chúng tôi. Sau vài giờ, chúng tôi phải dừng lại vì đã ước tính quá mức sức lực của chúng tôi. André đang bị sốt và cú đạp vào lưng anh trên toa xe lửa thỉnh thoảng làm anh đau đớn oằn người. Những vết trầy trên tay trái sau khi tôi nhảy khỏi con tàu, tưởng là không nghĩa lý gì, nay lại bị làm độc, cả cánh tay tôi nóng như bốc lửa và tôi phải đeo nó lên ngực nhờ một miếng giẻ mà Robert cột choàng qua cổ tôi. Người ta sẽ cảm thấy rất bị trở ngại lúc đi nếu cả hai tay không được tự do. Marcel cũng bị đau đầu dữ dội. Phải liên tục rình mò quan sát bầu trời và đóng vai trò hướng dẫn là một công việc mệt nhọc vì cả toán đều căn cứ vào cử động của anh, và đã hơn một lần anh bị quáng mắt tưởng là trông thấy một mái nhà trong khi đó chỉ là một khoảng trống mở ra bầu trời của một chòm cây cao. Guy và Robert chưa dám thú nhận, nhưng từ lâu họ cũng mong đợi được dừng lại. Không bao giờ giấc ngủ ban ngày lại có thể thay thế được giấc ngủ ban đêm, chúng tôi có cơ hội để xác nhận sự thật đó. Dầu cho mặt đất ẩm ướt và cái lạnh được cảm thấy ngay sau cơn sưởi ấm nhờ đi bộ, chúng tôi nằm sãi ra một cách dễ dàng giữa mặt đất để gọi là nghỉ ngơi mươi phút. Không một ai dám nói, nhưng tất cả chúng tôi sẽ có thể nằm ngủ luôn cho đến sáng bởi vì cảm thấy đuối sức quá. May thay, những cơn đau giật nơi cánh tay đã ngăn không cho tôi hoàn toàn rơi vào tình trạng vô thức của giấc ngủ, và có thức mới cảm thấy được hơi ẩm ướt cũng như cái chết, thấm dần vào cụ thể như thế nào. Tôi phải lay mạnh các bạn đồng hành mới dựng họ dậy được, nói đúng hơn là mới nhổ họ lên khỏi mặt đất được.

Sau khi cất bước đi lại không bao lâu, tiếng một con chó sủa bắt buộc chúng tôi phải dừng lại. Không còn nghi ngờ gì nữa, chúng tôi đã đi qua gần một xóm nhà. Chúng tôi phải bò qua một thửa đất, vì có ánh sáng chiếu ra từ một cửa sổ. Chúng tôi không quên rằng dân Đức đã bị đầu độc bởi câu chuyện gián điệp nhảy dù và một chủ nông trại khi nghe chó sủa ban đêm, có thể cùng nhiều người khác có võ trang đi ra khỏi nhà thực hiện một cuộc tuần thám.

San biến cố ấy, một nỗi sung sướng chờ đợi chúng tôi. Khi đi ra khỏi một khu rừng mà chúng tôi tưởng là đã bị lạc lối vì con đường băng ngang quá dài, chúng tôi trông thấy các vệt sáng đó chiếu sáng chân trời. Sau khi kiểm điểm thật nhanh, Marcel xác nhận rằng đám cháy sáng ấy nằm đúng về phía Tây. Những đám cháy khổng lồ ấy chắc chắn là đã do các cuộc oanh tạc gây nên, tuy nhiên, nhiều phát đại bác hạng nặng mà chúng tôi không hề nghe trước đó, nay vẳng lại chúng tôi cách khoảng vài phút đều đặn. Người ta có thể giả thiết đủ điều; tuy nhiên kinh nghiệm cho chúng tôi biết là nên nhớ lại câu chuyện bán da gấu. Đó cũng có thể là các dân D.C.A đang hoạt động chống lại một cuộc oanh tạc vào thành phố. Dẫu sao cũng phải tiếp tục đi, ngay cả trong trường hợp mặt trận chỉ còn cách 50 cây số, chúng tôi cũng phải bắt đầu đi thêm một đêm như vậy nữa sau một ngày nằm bẹp xuống đất với hai hay ba củ khoai nướng; ý tưởng đó làm chúng tôi chán nản vì nó đảo ngược những ảo tưởng được xây dựng sau khi trông thấy các đám cháy kia. Nghĩ đến các đêm kế tiếp, một nỗi sợ hãi xâm chiếm lấy chúng tôi, sợ không còn sức lực, sợ chạm phải đám tàn quân Đức đang rút lui và sau cùng lo âu bị mắc cạn khi gần đến đích. Chúng tôi còn phải đi nhiều giờ nữa về phía ánh sáng của các đám cháy đang nhạt dần, rồi lại bùng lên và hình như chập chờn lùi thêm xa mỗi khi chúng tôi tiến lại gần chúng.

Một ánh sáng khác như một bức màn xám từ mặt đất dâng lên, nhưng lại chiếu sáng bầu trời về phía Đông, báo cho chúng tôi biết bình minh đã đến, và chúng tôi phải tìm chỗ ẩn nấp trong rừng. Trước mặt chúng tôi có một khu rừng ẩn nấp được. Vừa có đủ thời giờ đến đó thì trời đã sáng hẳn. Người ngợm chúng tôi trông xấu xí quá. Râu tóc xồm xoàm, dơ bẩn, bùn lấm tận đầu gối. Khoai tây nướng được ăn luôn vỏ làm môi chúng tôi đen sì, và mặc dù trời lạnh và không khí ẩm ướt, chúng tôi khát khô người. Một con suối chảy dọc theo khu rừng và song song với một con đường đã giúp chúng tôi tìm được cảm giác thống khoái dễ chịu, tuy nhiên mỗi giọt nước lại làm chúng tôi đói thêm. Chúng tôi còn lại mấy củ khoai nhưng phải giữ làm thức ăn cho cả ngày và chỗ nghỉ hiện tại không thuận tiện chút nào cho việc nướng thêm một số khoai khác mà chúng tôi có thể tìm kiếm dễ dàng ngoài đồng. Vả lại, không ai còn nói đến ăn nữa, cái mệt làm quên mất cái đói, và chúng tôi bằng lòng thấy ánh mặt trời để có lý do được nghỉ ngơi.

Chúng tôi đã đi được bao nhiêu cây số? Marcel cho rằng 25 cây, André 20, tôi cũng đoán số đó và Guy cũng như Robert thì nói rằng bốn dặm tức 16 cây số là tối đa. Nhiều bụi rậm đã che đầu chúng tôi cách con đường chỉ chừng mười thước. Đằng sau và chung quanh chúng tôi một rừng thông khá dầy trải dài. Bên kia đường là cánh đồng ngút ngàn bất tận. Chúng tôi có ý tiến gần mép rừng để có thể quan sát sự lưu thông trên con đường. Có dấu hiệu cho thấy một ngày có ánh nắng mặt trời và không khí êm dịu. Chắc chúng tôi phải ở xa làng mạc lắm vì không ai nghe được dù là một tiếng gà gáy, yên tĩnh hoàn toàn lúc đó đã sáu giờ sáng và chúng tôi không cảm thấy được thoải mái lắm, nhất là về mặt tính thần, vì về mặt thể chất, chúng tôi đã quá mệt mỏi rồi. Mặc dù khí trời lồng lộng, chúng tôi vẫn cảm thấy nghẹt thở vì bụi bặm bám vào người từ chân lên đầu. Dường như các loạt súng máy đêm qua, những phát súng đại bác và những đám cháy trong đêm chỉ là các ảo ảnh và là hậu quả của trí tưởng tượng bị kích thích quá độ. Rất có thể là chúng tôi còn ở cách; xa mặt trận đến mức độ các cuộc ước tính bi quan nhất cũng không liệu đến, dưới góc cạnh đó, hoàn cảnh của chúng tôi thật tuyệt vọng. Chúng tôi đang kiệt sức và gần như mất hết năng lực như thế, đột nhiên hàng loạt liên thanh giống như đêm hôm qua nhưng lần nầy gần hơn, đã làm chúng tôi giật nảy mình. Đây không phải là hậu quả của ảo giác nữa. Tiếng động ấy làm chân tôi như bị kiến cắn, một sự ham muốn bất thần, được đi, được chạy đến xem chuyện gì đã xảy ra. André nằm dán xuống đất, Guy bắt chước theo, Robert bị trầy một chân, chỉ có Marcel tuyên bố sẵn sàng theo tôi. Tiếng súng nổ dòn vẫn còn tiếp tục, lại còn gia tăng cường độ thêm nữa, và nhiều tiếng súng nổ rất gần đến nỗi sau mỗi loạt, chúng tôi tự động khom mình xuống.

Sau khi đi được vài trăm thước, luôn luôn theo bìa rừng, Marcel không ngừng quan sát con đường, đột ngột đứng lại và ra dấu tôi làm theo anh. Anh ta cúi thấp người xuống và tôi bắt chước anh. Một người từ con đường đi về phía chúng tôi. Còn chừng một trăm thước nữa là ông ta sẽ đi ngang qua chúng tôi. Mỗi người nấp sau một thân cây, chúng tôi có thể quan sát ông ta mà không bị trông thấy. Ông ta đội một chiếc nón kết của quân đội Ba Lan và trên áo khoác ngoài, phía ngực trái, một chữ P trên nền tam giác vùng, dấu hiệu của các nhân viên dân sự Ba Lan làm việc tại Đức. Sau khi chậm bước, ông ta dừng lại đúng ngay trước mặt chúng tôi. Ông ta có trông thấy chúng tôi không? Không thể nào trông thấy được. Hình như ông ta đang lắng nghe một tiếng động mà chúng tôi cũng vừa mới thoáng nghe đâu đây, một tiếng động đều đặn vang tới từ phía có tiếng súng nổ. Lòng ham muốn ra khỏi chỗ ẩn núp làm chúng tôi bứt rứt tay chân. Trong số người Ba Lan, không hiếm kẻ cộng tác lẫn người chống lại bọn Đức một cách cuồng nhiệt. Trong các trại giam tù binh chiến tranh của Đức, một anh bạn tốt của tôi là một chuẩn úy Ba Lan, còn trong trại tập trung, bọn Ba Lan là bọn quỷ sống, vậy phải làm sao đây?

– Phải mạo hiểm, – Marcel nói, – hắn ta chỉ có một mình, hắn không ăn thịt chúng ta được, và nếu bắn báo động, mình có thì giờ để biến mất.

Khi biết được đôi chút tiếng Nga, người ta có thể xoay xở một chút với tiếng Ba Lan. Vậy thì, như sáng hôm qua, tôi báo trước cho Marcel là tôi sẽ bắt đầu câu chuyện và trong mọi trường hợp anh phải sẵn sàng đối phó với tình hình tệ hại. Khi nghe tiếng động đằng sau lưng, người lữ hành quay lui và khi thấy chúng tôi, nỗi ngạc nhiên làm ông lùi một bước. Thật dễ hiểu: có lẽ chúng tôi trông giống với hai kẻ cướp đang tìm kiếm nạn nhân. Để tránh cho ông ta khỏi phải lo âu trong khi chúng tôi còn bị ngăn cách với con đường nơi ông ta đứng bằng một cái hố, tôi la lên về phía ông ta:

– Djinn dobré (chào anh).

Gần như yên tâm được một nửa, ông ta trả lời cũng tiếng chào ấy và vẻ lạnh lùng biến mất, chúng tôi nhẩy một bước qua hố để được nói chuyện với ông ta gần hơn.

– Tzo Novego? (có tin tức gì không?)

Tôi đặt cho ông ta câu hỏi ấy một cách dữ dội để ông ta ý thức rằng không phải mình đang có chuyện với hai tên vô lại, và mặt khác để biết rõ ngay tình hình quân sự. Ông ta nhìn chúng tôi và chúng tôi nhìn ông ta. Một cuộc đối thoại còn bắt đầu, những giây phút trôi qua lâu như hàng giờ. Mắt tôi và mắt của Marcel, thái độ của chúng tôi, dáng điệu của chúng tôi đủ hùng biện để diễn tả cuộc phiêu lưu của chúng tôi, vì không nói một lời nào. Ông ta lôi trong túi ra phần bánh mì của mình và đưa cho chúng tôi và như muốn dành cho chúng tôi một sự ngạc nhiên, ông ta phá lên cười và bắt đầu la lên thật sự trong khi lấy tay chỉ về hướng tiếng động vẳng lại đã từng làm cho chúng tôi lạ lùng.

– Tank! Amerikansky tank!

Sau những tiếng đó, cả một sức nặng vô biên thoát khỏi người tôi, một bức màn bị xé toang trước mắt tôi cảnh vật đột nhiên trở nên trác tuyệt, con người đang nói với chúng tôi là một thiên thần, và Marcel chạy đến ôm choàng lấy tôi. Chúng tôi đã được cứu thoát!

Trong một vài câu ngắn ngủi, người Ba Lan giải thích cho chúng tôi tình hình hiện tại. Trên một con đường nằm cách chỗ chúng tôi đang dừng ít ra là hai cây số, chiến xa Mỹ đã đi qua cách đây 2 giờ hướng về sông Elbe. Quân Đức ít ra cũng là các toán quân có đủ thì giờ, rút lui qua phía bên kia con sông cuối cùng trước thủ đô Bá-linh. Các toán quân khác bị bao vây hoặc bị bắt làm tù binh. Chỉ còn lại vài ổ liên thanh do một vài phần tử cuồng tín trấn giữ còn cố gắng chống trả trong rừng. Về phương diện nầy, ông ta nhấn mạnh đến các may mắn của chúng tôi là đã không gặp chúng trên đường đi trong đêm qua. Chính ông ta cũng được xử dụng làm công nhân trong một toán tiều phu ở gần ngay đấy. Từ hôm qua, không ai làm việc nữa để chờ những người giải phóng đến, và ngay lúc bình minh mọi người đã lên đường đi đến một thị trấn nằm trên con đường chính mà chiến xa Đồng Minh sẽ phải đi ngang qua. Được cử làm đại diện cho tất cả công nhân Ba Lan trong quận, ông ta đang đi tìm các bạn bè tại một ngôi làng ở xa hơn để báo tin vui.

– Nhưng, – ông ta nói, – họ không cần đến tôi nữa, đến đây kiếm cái gì cho các anh và các bạn ăn đã, sau đó các anh chỉ cần đi đến thị trấn tôi vừa nói, các anh sẽ được tiếp đón khá hơn vì có cả một toán đông tù binh Ba Lan và Nga ở đó.

Ông ta dắt chúng tôi đến một căn lều của tiều phu cách đó chừng năm trăm thước. Sau khi nói vài tiếng với một người đàn bà giúp việc, cũng người Ba Lan, bà ta vừa khỏe vừa làm cho chúng tôi một chồng bánh săn-huých mà chúng tôi thấy cao như núi Mont Blanc. Cảnh gặp gỡ cảm động đến nỗi chúng tôi không làm sao ăn được. Trong xó rừng nơi mà chiến tranh không chạm tới nầy đây, sự vật có vẻ giản dị và tự nhiên vô cùng.

Còn năm mươi thước trước khi đến địa điểm mà mấy ông bạn đồng hành đói khát của chúng tôi nằm bẹp xuống đất, Marcel thét to: “Ê! đứng dậy, trong kia, giờ ăn đến rồi”. Ba chiếc đầu khốn khổ xuất hiện trên bụi cây, nhưng cả ba người chưa dám bước ra. Anh ta phải lặp lại sự thật nhiều lần họ mới quyết định cục cựa thân mình. Khi họ thấy gói săn-huých mà chúng tôi cố ý trưng bày sau một thân cây, những bộ mặt co rút lại bắt đầu dãn ra, và trong khi André ngắm chồng bánh trông giống như một cây nấm từ dưới đất mọc lên, Guy và Robert đã bắt đầu ngốn ngấu ăn rồi. Trong nhiều phút liền, không một lời nói nào được thốt ra, mỗi người bằng sự im lặng, muốn tôn trọng tính cách trang nghiêm của hồi chung cục sung sướng nầy. Như vậy 24 giờ trước đây người tù binh chiến tranh đã nói thật với chúng tôi. và theo như các chỉ dẫn của người Ba Lan lúc nầy thì chúng tôi đã đi được 20 cây số nhưng chỉ có 15 cây là theo hướng Tây kể từ lúc chúng tôi khỏi hành. Chính ra, chúng tôi có thể cứ ở trong khu rừng đầu tiên để chờ đợi và có thể trả lại chiếc bật cho ông bạn người Bretngne khốn khổ kia. Và chúng tôi đã sợ trên bốn người thì quá đông, thật ra tất cả mọi người trên toa xe lửa cũng có thể trốn cùng một lúc được. Chúng tôi hấp tấp lên đường ngay hướng về phía thị trấn, nhưng lần nầy đi ngay trên đường cái quan, không ẩn núp dấu giếm gì cả.

Ngay khi thấy các ngôi nhà đầu tiên bỏ trống, chúng tôi hiểu rằng tất cả dân chúng đều đổ ra đón quân Mỹ đi ngang, nhưng trên cửa sổ của nhà nào cũng có cờ trắng. Khăn, giẻ, có khi cả nguyên một tấm trải giường, đâu đâu cũng toàn màu trắng. Sau những năm với bao nhiên là ngạo mạn, ngày nay lại bấy nhiêu sự khiếp nhược, thật đáng buồn nôn. Để tiến đến con đường chính mà chúng tôi thấy xuất hiện từ đầu một con lộ nhỏ, chúng tôi chạy bất kể đến tình trạng sực khỏe, vừa chạy vừa dìu Robert lúc đó chỉ còn đi được một chân. Đàn bà, con nít, ông già bà lão, tất cả dân cư đều tập họp lại để xem các kẻ chiến thắng. Chiến xa, xe mô tô, xe vận tải nối tiếp nhau bất tận, cả một đám thanh thiếu niên, ngửa tay xin “Chokolat”, đang bao quanh một chiến xa dừng lại bên lề đường để sửa chữa. Một lính bộ binh Đức tự cho là đào binh đã mang cả một bình rượu nhẹ đến mời anh quân nhân tài xế uống.

“Kamerad! Ich Kamerad!”. Y sủa không ngừng. Vì có lẽ đã bị say cho nên tôi cũng lợi dụng để uống mừng sức khỏe của y và các bạn tôi cũng bắt chước. Trong khi đó, Marcel hấp tấp chạy đến gặp một trong những anh “Yankee” (lính Mỹ) đang lơ đễnh hút thuốc, và nói với anh nầy trong sự tin tưởng là sẽ làm anh ta giật mình:

– Chào anh, tôi là người Pháp, kháng chiến, bị đày, trốn từ trại tập trung ra.

Marcel đã nói những lời ấy bằng một thứ tiếng Anh tuyệt vời và anh gần như hét lên các lời đó vì đoàn quân xa chạy ngang qua gây ra tiếng ồn ào như sấm động, tuy nhiên, anh chàng kia vẫn lạnh như tiền. Anh ta đã bắt đầu phân phát cho bọn con nít những gói thiếc mỏng, dẹp nhỏ làm tôi nhớ lại các mẩu hàng trong hội chợ ở Ba-lê, và khi tay anh đưa đến trước mặt Marcel, anh ta ngước nhìn Marcel bằng cặp mắt hiền lành và cũng đưa cho bạn tôi một mẩu hàng, sau đó anh cũng trả lời;

– Vâng, vâng, tôi biết, tôi đã gặp nhiều lắm rồi.

Marcel có vẻ gần như muốn sọm người xuống. Với sự phấn khởi nồng nhiệt, đức tính cố hữu của anh, Marcel đã tưởng tượng một cuộc gặp gỡ hấp dẫn hơn nhiều. Tôi đón từ tay anh vật mà người quân nhân Mỹ đưa cho, đó là một thẻ kẹo cao su. Rõ ràng là từ khi vượt qua sông Rhin, người quân nhân nầy, vốn thuộc các đạo quân tiền phương, đã trông thấy tất cả cảnh nghèo đói của một Đức quốc thuộc Hitler, và anh ta cũng đã đến Âu châu từ mười tháng rồi, chắc anh ta hối hả muốn chấm dứt cuộc chiến tranh này. May thay người tiều phu Ba Lan sau khi nhận ra chúng tôi trong đám đông đã đến kiếm chúng tôi. Chỉ một lát sau, trước những cặp mắt ngạc nhiên của dân chúng Đức, một nhóm người Ba Lan và Ukraine vui vẻ bao quanh lấy chúng tôi và chính họ đã đưa chúng tôi đi để lo cho chúng tôi ăn uống. Một người trong bọn, có vẻ là người trưởng nhóm dắt chúng tôi đến một nông trại nơi ông làm việc. Được cạo râu, tắm rửa, chúng tôi trở nên dễ coi hơn. Với kết quả thu thập được để đón mừng chúng tôi, một bữa ăn được dọn ra: bánh mì, mỡ, dồi, rượu, cả một hầm thực phẩm nguyên vẹn của một thương gia đảng viên Quốc Xã bỏ trốn, đã bị cướp phá và suốt buổi chiền, dân chúng trong làng mở đại lễ ăn mừng cuộc giải phóng ngây ngất vì không khí ấy, tôi nằm dài dưới gốc một cội bạch dương thuộc một hàng trồng suốt dọc theo con đường làng. Nhìn lên bầu trời, chiều cao của cây bạch dương làm tôi chóng mặt, nhưng tiếng của một cơn gió nhẹ làm cành lá reo ca, đã mang, đến bên tai tôi một điệu nhạc say sưa, nhắc nhớ lại những kỷ niệm xưa cũ thời thơ ấu, và đã chầm chậm ru tôi ngủ. Như một cậu bé sung sướng, tôi lăn trong cỏ tươi mát và ngủ say sưa trong Tự Do.

Buổi tối một dạ vũ mừng ngày Giải Phóng đã qui tụ trong một vựa lúa tất cả những người ngoại quốc hiện có mặt trong miền. Trong khi một nhạc sĩ đàn phong cầm chơi láy đi láy lại một điệu Tzigane cổ truyền, tôi hướng mắt nhìn chăm chú một cô gái người gốc Ukraine uyển chuyển dưới mái tóc vàng óng ả, và nét mặt giống như tượng Đức Mẹ thật sự. Tôi đã chú ý đến nàng lúc ban ngày, nhưng đến đêm, nàng đổi khác.

Gốc nông dân cũng giống như phần đông các phụ nữ đồng hương. Katia nổi bật trong nhóm nhờ sắc đẹp và một dáng điệu cao sang. Dưới lớp áo mờ nhạt, người ta có thể đoán một thân thể yêu kiều và cách đi đứng, cử chỉ của nàng có một cái gì khêu gợi rất tự nhiên. Sau những ngày công việc nặng nhọc mà nàng phải làm trong nhà máy hay trong nông trại, làm sao vẻ mặt và bàn tay nàng lại có thể còn giữ được vẻ đẹp và tươi mát đến như vậy? Nàng rất giản dị nhưng chói sáng. Thượng để toàn năng và bí ẩn đã tạo ra tác phẩm tuyệt diệu nầy chắc cũng ra công bảo vệ nàng chống lại đàn ông và chống lại mọi biến cố. Bí mật bất ngờ, vui thú đo tình cờ, cô gái đẹp tuyệt vời có vẻ khó hiểu ấy khi biết rằng tôi là một người sống sót từ trại tập trung và tôi sẽ trở về Ba-lê, đã làm cho tôi trải qua một trong những đêm cảm động nhất đời.

Trong khi những người khác uống rượu và khiêu vũ trong cảnh trí đồng quê dưới ánh sáng lọt lợt của đèn gió đã thay cho ánh điện đã bị cắt, tôi được nghe một tâm sự bất ngờ và thật đáng ngạc nhiên. Cha mẹ nàng bị bắt và bị đầy đi Tây-Bá-Lợi-Á trong những năm 1935 vì đã chống lại chủ trương tập thể hóa đất đai và Katia, bị xa cách cha mẹ, từ đó được nuôi trong một cô nhi viện của nhà nước. Khi xảy ra chiến tranh và cuộc xâm lăng của Đức, quân Đức được các nông dân tiếp đón như những người đến giải phóng, họ là những người không bao giờ chấp nhận trong tim chế độ sô-viết. Bị xô đẩy bởi các biến chuyển như một cọng rơm, thoát khỏi mọi cuộc thăng trầm như nhờ có phép lạ, sau cùng nàng đến ở tại thôn ấp nầy và được chỉ định, cũng như bao người khác, vào một nhóm công nhân nông nghiệp và bây giờ nàng đang run sợ với ý nghĩ phải trở lại Nga Sô.

– Không bao giờ tôi có thể quên được quang cảnh ngôi làng bị bọn cảnh sát chính trị Guépéou bao vây và tôi sẽ làm bất cứ điều gì để được qua sống ở Pháp hay ở một nơi nào đó.

Khi nói những lời nầy mắt nàng đượm vẻ buồn rầu và ngây thơ như một em bé bị lạc loài. Nói gì đây trước bao sự tuyệt vọng, trong khi chúng tôi vừa mới tìm lại được tự do, bao nhiêu là điều chưa biết về Tây phương, bao nhiêu là ngây thơ trước ảo ảnh của cuộc đời và… làm sao đây? Tôi cố thử giải thích với nàng rằng mọi sự rồi sẽ được thay đổi sau chiến tranh kể cả “quê hươn” của nàng, một trong những cường quốc chiến thắng trong cuộc xung đột lịch sử nầy, chắc chắn nàng sẽ được gặp lại các thành phần của gia đình và những điều kiện sống đổi mới. Dẫu sau đi chăng nữa, nàng cũng chỉ là nạn nhân trong số hàng triệu nạn nhân trong những năm bi thảm ấy, nàng sẽ lại được tiếp đón nồng nhiệt. Không một lập luận nào, một lời giải thích nào có thể làm dịu cơn lo lắng cho tương lai của nàng và đột nhiên tôi có cảm tưởng là định mệnh đặt trêu chọc ý chí của tôi cũng như trong nhiều lần khác, trong những cơ hội khác; có thể hạnh phúc của tôi đang ở ngay trước mặt! Bởi vì không có gì ngăn cản tôi đưa Katia về Ba-lê và cùng với nàng lập lại cuộc đời. Tôi quan sát vẻ nàng nhìn chăm chăm vào tôi, dường như nàng đoán được vấn đề đang được đặt ra cho lương tâm tôi, và tôi thấy cái nhìn ấy êm đềm nhòa nước mắt.

Liệu đây là tánh dễ xúc động của một người con gái hay chỉ là mưu kế của một người đàn bà, tôi vẫn còn tự hỏi và luôn luôn tự hỏi như vậy, bởi vì lúc chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau đây, một nét mặt khác, da phẳng lì, tóc nâu dịu dàng và đầy đam mê cùng một lúc, thình lình xuất hiện trong trí tôi. Đó là vẻ mặt của người mình tán tỉnh từ ngày niên thiếu và mới được phát giác rằng vẫn còn bền chặt bất kể thời gian vắng mặt do các biến cố dồn dập vừa qua. Tôi đã trông thấy nó, ít lúc trước khi bị bắt, tại Nice cùng với thân quyến, bởi vì Rachel vốn là Do-Thái, tuy nhiên theo lẽ thường, nàng hẳn chờ đợi tôi. Với tất cả tế nhị, tôi dùng vẻ đăm chiêu xa vắng nầy để giải thích với Katia tất cả những khó khăn và may rủi của một cuộc di cư về phía Tây, đủ thứ trách nhiệm. Tóm tắt, trước hết nàng phải trở về nhà, nhất là nhờ hòa bình gần kề, rồi nàng có thể đi du lịch ra nước ngoài, và như vậy không có gì ngăn cản nàng đến Ba-lê sau đó. Viễn cảnh lạc quan nầy dường như làm nàng yên tâm, Katia lau khô nước mắt vốn lại làm cho nàng hấp dẫn gấp bội và chúng tôi cùng nhau ở trong bóng tối lờ mờ hàng giờ để xây dựng các dự tính tương lai trong đó các cuộc viễn du chiếm chỗ quan trọng nhất.

Sau một đêm mơ mộng nhuốm màu buồn bã, vì chúng tôi biết sắp sửa phải chia tay nhau, những bố cáo mới được dán khắp nơi trong làng đã lôi kéo sự chú ý của chúng tôi. Giữa các thông cáo nhằm vào dân Đức, có một bản đã đề cập đến các biện pháp hồi hương những người ngoại quốc có mặt trong các vùng bị chiếm đóng. Thông cáo chỉ dẫn chúng tôi đến một thị trấn cách đó không xa, nơi Mỹ sẽ có cuộc phân loại những người ngoại quốc theo quốc tịch khác nhau. Thật lạ lùng, trong nỗi vui mừng được hồi hương, cố chen lấn một mối lo âu cho tương lai sắp đến. Từ tám năm qua, theo một chiều hướng nào đó, cả một cuộc phiêu lưu đã dứt bỏ tính cách đều đặn của đời sống thường nhật, nhưng bây giờ đây lại sắp bắt đầu lại tất cả trong đời sống dân sự, tất cả những năm tháng đó, bên lề xã hội, thật trở ngại!

Khi cùng với André trao đổi ý nghĩ về vấn đề nầy, tôi nói:

– Anh có biết tôi cảm thấy ra làm sao không? Bị nghiền nát, bị cán dẹp lép. Hình như đã có một chiếc máy cán lạ lùng làm biến đổi toàn diện con. người của tôi và tôi tự hỏi một ngày nào đó liệu tôi còn có thể cười được nữa không, cười như hồi trước chiến tranh.

Dẫu sao, trong mười ngày qua, đã có một cái gì cao cả và ngoại lệ; không tiền bạc, không căn cước, không cả y phục, buổi trưa ở trong thị trấn nầy, buổi tối trong một thị trấn khác, phiêu lưu như những hướng đạo tìm thú rong chơi, vì chúng tôi đã được cho ăn, ở, bởi tất cả thị xã, câu lạc bộ, quân y viện, chúng tôi biết tự do nầy rất hiếm có để làm những gì tốt cho mình mà không vì thế làm phiền người khác. Thời tiết quá đẹp, những cánh đồng lúa đầy bông vàng nặng trĩu và Katia, nàng muốn đưa tôi đến tận trung tâm hồi hương, đã làm cho tôi quên đi tất cả xấu xa của cõi đời.

Có lẽ rồi một ngày nào đó tất cả con người sẽ được biết thứ hạnh phúc thật sự nầy, hạnh phúc mà chúng tôi vừa thoáng thấy.

Một trời một biển

vietmessnenger.com

Nguyễn Tấn Hưng

Post by Sơn râu 24 Nov 2025

Phần 10.

Ngỗn ngang trăm mối

Sau hai ngày lênh đênh trên chiếc Tuần dương hạm Chí Linh HQ 11, Tần đã quay trở lại Nha Trang, trở về trường Hải quân, an toàn trên xa lộ. Qua chuyến hải trình này, chàng được dịp sinh hoạt và biết thêm phần nào đời sống của những người thật sự… tuần dương. Những người thật sự bồng bềnh, thi gan cùng sóng gió. Ôi, biển cả giờ đây ta mới biết, mộng hải hồ giết chết cuộc đời ta, hình như có rất nhiều quan tàu đã than thầm như vậy. Sau nhiều ngày trùng trùng mây nước, không thấy đâu là bến bờ. Lắc lư con tàu đi, đi mãi, dài người. Nhưng đối với Tần, không, mộng hải hồ vẫn còn bừng bừng sống mạnh trong tâm tư chàng. Ôi, những phút giây trời cao, biển rộng, sông dài rất là thi vị đó chàng vẫn hằng ấp ủ chờ mong! Hay chỉ là con cá trong lờ đỏ hoe con mắt, con cá ở ngoài ngúc ngoắc muốn vô đây? Chàng cũng đâu làm sao biết được!

Tần trễ phép cả tuần lễ hơn, nhưng không hề bị quan trên làm khó dễ. Lớp học vẫn đều đều tiếp tục như thường lệ, mặc dù khoảng hai mươi tên chưa về trình diện sau cái Tết máu lửa. Tết Mậu Thân! Hầu hết quê quán của những đứa không biết sống chết ra sao này đều nằm quanh quẩn trong vùng cố đô Huế, hoặc tuốt trong Nam, miệt Hậu Giang lục tỉnh. Những nơi có đánh lớn, có thí quân ngay trong thành phố. Có đốt nhà và giết dân lành…

Riêng ở thị xã Mỹ Tho của Tần thì về phía Việt cộng, cuộc “tổng tiến công” do chính tiểu đoàn 307 chủ động chớ ai vô đây! Ngược dòng lịch sử, ngay từ lúc mới thành lập trong thời chống Pháp, đâu vào khoảng năm 1947 ở Cao Lãnh thì phải, dưới sự chỉ huy của Ðỗ Huy Rừa, Nguyễn văn Tiên rồi đến Hồng Sơn (bí thư của Võ Nguyên Giáp) từ ngoài bắc đưa vô, tiểu đoàn khét tiếng Nam bộ này đã đụng nhiều trận ác liệt khắp các miền đồng bằng. Từ Mỹ Tho, Bến Tre qua Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu cho đến Cần Thơ, Long Xuyên, Châu Ðốc. Sau này, dưới chiêu bài xâm nhập quân chính qui từ miền Bắc, vùng hoạt động then chốt của tiểu đoàn này được thu gọn lại trong vùng mật khu Ðồng Tháp Mười và đặt dưới quyền chỉ huy của cái trung đoàn hữu danh vô thực: trung đoàn Ðồng Tháp. Cùng vùng phụ cận, tiếp giáp với mật khu gồm các quận Cai Lậy, Cái Bè, Sầm Giang, đổ qua Bến Tranh, Chợ Gạo… Ðặc biệt là tiểu đoàn 307 này, mặc dù đã bị quan quân sư đoàn 7 của quân lực VNCH giết chết tiệt không biết bao nhiêu lần, mà lần hồi cũng được bổ sung thành lập lại.

Với hàng chục chiếc xe tăng yểm trợ và sau khi đã lọc lựa tính toán cẩn thận, bọn Việt cộng đã lợi dụng thời điểm dân chúng đang cúng rước ông bà về nhà đón Xuân, đã âm thầm lặng lẽ chuyển quân trong đêm giao thừa tăm tối. Bằng hai ngả, cánh thứ nhất, từ vùng Vĩnh Kim, Xoài Hột băng qua Bình Ðức, Xóm Tre, Vòng Nhỏ để đánh vào mạn tây bắc thành phố thân yêu, nơi chôn nhau cắt rốn của Tần. Cánh thứ hai, từ miệt Bến Tranh vượt sông Bảo Ðịnh thọc mũi dùi vào khu Bến Xe Mới.

Ðêm 30 Tết đó trời bên ngoài tối om như mực, đưa bàn tay trước mặt chưa chắc đã thấy. Với muôn vì sao lấp lánh trên cao. Trời không gió không mưa, im lìm chìm sâu trong thăm thẳm, đen ngòm. Ngay lúc Tần cắm mấy cây nhang cúng giao thừa ngoài bàn thiên trước cửa, chàng bỗng nghe mấy tiếng súng “cắc, bùm” vọng lại từ hướng đồn. Chàng có hơi giựt mình, hết hồn. Vì sau nhiều tháng huấn luyện trong quân trường, bây giờ chàng có thể nhận biết dễ dàng sự khác biệt giữa tiếng súng canh khuya và tiếng pháo mừng vui. Tần còn sợ hơn nữa khi nhớ lại buổi xế trưa ngày đó, chàng trở về quê nhà với bộ quân phục còn thơm mùi vải trên mình. Ðể mẹ chàng phải vừa mừng, vừa la:

– Tần mới về đó hả con. Mẹ tổ mầy sao mầy ăn bận chi kỳ cục vậy? Ở nhà tao và bà con xóm giềng quanh đây đều nói mầy đi làm thầy giáo. Bị đổi tuốt ra ngoài miền Trung dạy học…

Tần không ngờ mẹ chàng quá lo lắng đến là như vậy. Ở đây, tuy là vùng xôi đậu nhưng tương đối cũng còn gần đồn bót. Sợ gì, chàng lại đùa với mẹ:

– Má thấy con oai hông? Giống nghĩa quân hay du kích, hả?

Rồi chàng ôm chầm lấy mẹ. Nhưng, mẹ chàng giục tới:

– Thôi, đi lẹ lẹ vô nhà đi con ơi, đừng đứng bẹo hình bẹo dạng ở đó nữa. Nhớ thay liền cho má bộ đồ bà ba, bận cho mát nghen con…

Bởi cứ nghĩ là ba ngày Tết, ai nấy bận lo vui chơi thì chẳng hề gì, nên Tần đã dám làm gan ngủ lại nhà, không xuống chợ ngủ nhờ nhà bạn như mọi khi. Không ngờ lại lâm vào tình trạng tấn thối lưỡng nan, đi không được mà ở cũng không xong. Hình như linh tính có điềm chẳng lành, qua mấy tiếng súng thinh không, mẹ chàng thúc hối anh chị em chàng và các cháu đi ngủ sớm. Nhưng mà ngủ làm sao được khi tiếp theo đó không mấy chốc, tiếng đạn bom, tiếng súng nhỏ, súng lớn nổ vang rền về phía thị xã. Hỏa châu thắp sáng đầy trời. Ðằng đồn Cầu Sắt cũng vậy, thỉnh thoảng phóng lên không trung một tia pháo thăng thiên, thả ra cánh dù tỏa rạng ánh hồng chói lọi. Như những nốt nhạc vút cao đệm theo ca khúc đêm đêm giấc ngủ chập chờn…

Chỉ trong một tối 30, với chiến thuật “a thần phù,” không biết đường tới mà cũng chẳng thuộc đường lui, tiểu đoàn 307 đã nhào vô nướng trọn láng bài, đứt chếnh, không còn manh giáp. Ðể đến nỗi phải đốt nhà dân, một hình thức chui vô ống đồng kiểu mới, mà thoát chạy lấy thân. Xác đồng bọn, hầu hết chưa quá tuổi vị thành niên, cùng xe tăng đại pháo, súng dài súng ngắn nằm ngổn ngang, rải rác dọc suốt lộ trình chém vè. Một lần nữa, thêm mấy trăm mạng đã đi vào cõi thiêu thân trong quân sử 307, nói riêng, quân sử Việt cộng, nói chung.

Sáng ngày, biết không thể chần chờ được nữa, Tần phải từ giã mẹ và anh chị em cùng các cháu ra đi ngay. Tối thiểu cũng phải lọt vào thành phố Mỹ Tho, trước khi tìm đường lên Sài Gòn. Ở lại vùng nửa nạc nửa mỡ này thêm một giây phút nào là nguy hiểm thêm một giây phút đó… Dúi vào tay Tần một mớ tiền, mẹ chàng rơm rớm nước mắt, dặn dò:

– Con đi cẩn thận nghen con. Tới nơi rồi nhớ viết thơ hay đánh giây thép về cho má hay để má khỏi trông!

Tần bâng khuâng chẳng thốt nên lời, tưởng chừng như mình lúc nào cũng thơ dại, bé bỏng trước mặt mẹ. Cũng vẫn xòe tay nhận tiền ăn quà, làm như lương sinh viên sĩ quan hải quân chẳng đủ đâu vào đâu! Mà thực sự cũng đúng như vậy, đối với những ai có cái tật hay sống đời ghi sổ câu lạc bộ, tiền lính tính liền ngay khi vừa mới phát. Chàng lẳng lặng nhảy lên xe Lam…

Gần đến chợ Vòng Nhỏ, từ xa, Tần đã thấy lớp lớp những cuộn kẽm gai tròn kéo ngang nửa lộ. Tạo thành một lối đi dích dắc hình chữ chi. Nhiều binh sĩ trong quân phục rằn ri, nón sắt phủ trùm kín đầu, tay súng tựa đế vào hông trong tư thế sẵn sàng đánh cận chiến, nhưng chỉ đang… kiểm soát khách bộ hành qua lại. Xe Lam không được phép chạy vào trong tỉnh lỵ, chỉ toàn người cuốc bộ hoặc đạp xe đạp. Phía sau, cạnh mấy chiếc thiết giáp, có vài chiếc Jeep của những vị sĩ quan chỉ huy. Tiếng máy truyền tin rè rè, gọi nhau ơi ới liên hồi. Tuy đang mặc đồ civil, Tần vẫn dễ dàng vượt qua vòng đai lộ thiên này vì có đầy đủ giấy tờ tùy thân. Chàng cảm thấy rất là an toàn khi lọt vào trong những vòng kẽm gai ngăn chận. Hú hồn, hú vía! Vì nhìn kia, về phía Chu vi đạo, Hàng Còng, Ðất thánh Tây…, những luồng khói đen vẫn cuồn cuộn bốc cao mịt trời. Và tiếng súng thỉnh thoảng vẫn còn tiếp tục nổ dòn tan như pháo Tết.

Tần tấp vào nhà Phát, thằng bạn thân đã cùng chàng và Hiếu ở dưới Hãng Xáng làm thành bộ ba. Căn nhà nằm sâu trong hẻm nhà bảo sanh cô tư Sâm. Chàng định rủ Phát xách xe Honda chạy một vòng quanh thành phố, xem nơi nào đã bị thiệt hại nặng nề và nơi nào còn đánh nhau. Luôn thể đi thăm bạn bè, coi đứa nào còn đứa nào mất. Nhất là tạt qua nhà Loan, cô học trò dạy kèm nhỏ bé của Tần, có đôi tay dài như vượn. Hồi hộp quá, chắc là nhà “em” đang… cháy, Tần nghĩ như thế!

Do duyên may dun rủi, thật rất tình cờ, Tần gặp lại Loan trong đêm chợ Tết ở khu chợ Hàng Bông. Với hàng hàng lớp lớp đông nghẹt người đi, dập dìu tài tử giai nhân, chen vai thích cánh không thua gì đường phố Lê Lợi, Nguyễn Huệ ở thủ đô. Bẵng đi mấy năm, kể từ ngày chàng lên Sài Gòn theo học Ðại học, bây giờ trông Loan khác lạ quá chừng. Nẩy nở quá chừng. Ngực, mông và gì gì như cũng lớn dần theo thời gian. Ðã vậy còn có đôi gò má hồng hồng muốn chồng thành dịch nữa. Nhờ có da có thịt hơn dạo nào mà đôi tay dài như vượn kia giờ như ngắn bớt. Tuy nhiên, chiếc áo dài học trò như vẫn muôn đời mang một màu trắng trinh nguyên. Chính Loan, đang đi chung với người chị, đã nhận ra Tần trước mới làm chàng thêm bối rối:

– Trời ơi, thầy. Thầy đi lính hồi nào vậy thầy?

– Ồ, Loan! Loan đây hả? Thôi mà,… thầy bà cái gì nữa! Tội quá, tôi kèm mấy cô có năm ba tháng mà thầy thầy cái gì! Giờ đi lính rồi thì phải kêu bằng… lính! Lính anh thôi chớ đừng kêu lính cậu, lính thầy! Bằng không cứ kêu anh là… anh Tần cho gọn. Rồi sao, cô Loan hiện giờ đang làm gì nào và mấy cô bạn của Loan dạo đó giờ đang sống ra sao?

Có lẽ Loan cũng hơi ngạc nhiên với lời nói có vẻ bông đùa, khơi khơi của ông… nửa thầy, nửa anh của mình đã không còn nghiêm nghị, đạo mạo như xưa. Nàng bẽn lẽn trả lời:

– Dạ, Loan vẫn còn đi học ở Lê Ngọc Hân, thầy…, ủa… anh. Chỉ có chị Tuyết đã lập gia đình, còn mấy đứa kia theo cha mẹ đổi đi các tỉnh khác hết trơn. Anh Tần có nhớ chị Tuyết không?

À, thì ra các nàng đã theo mẹ cha đổi đi tỉnh khác làm ăn chớ không phải theo chồng qua xứ khác làm dâu như lời mấy thằng bạn chàng đồn ẩu. Tần định nói bạt mạng là chàng “chỉ nhớ Loan thôi chớ đời nào nhớ Tuyết,” nhưng đã kịp dừng lại. Chàng giả lả:

– À, cái cô Tuyết mập mập, lùn lùn đó hả? Có chồng về xứ nào vậy?

– Dạ, chồng chỉ cũng là lính tiền đồn, đơn vị của ảnh vừa mới đổi ra miền Trung! Anh Tần cũng đang theo học ở ngoải, phải không?

– Sao Loan biết anh đang “trấn ải biên thùy” ở ngoài miền Trung?

– Thì Loan có nghe nói trường Hải quân đóng ở tại thành phố Nha Trang cơ mà.

– Sao Loan biết anh đi lính Hải quân?

– Chớ bộ đồ tiểu lễ anh đang mặc trên người đã không nói lên được điều gì à?

Ðến phiên Tần hơi ngạc nhiên vì xem ra Loan cũng hiểu qua màu áo, sắc phục của các thứ… lính. Có lẽ cô nàng đã quen biết tên nào trong Hải quân nên mới biết rõ ràng chu đáo đến là như vậy, Tần phân vân. Chàng hỏi tới:

– Chắc cạnh nhà Loan có anh chàng đi lính thủy?

– Ô, anh Tần đoán trúng đó! Ba má Loan đã dời nhà xuống bờ Giếng Nước trên, cách nhà chú tư Lam mấy căn. Nghe nói chú làm hạm trưởng tàu gì đó hổng biết.

Tần cảm thấy nhẹ nhõm:

– Thì ra vậy, hèn gì Loan rành lính thủy muốn… hơn cả anh Tần nữa.

Thấy không thể kéo dài cuộc đối thoại với Tần nhiều hơn, Loan kiếu từ:

– Thôi, Loan phải chạy theo chị Loan cho kịp. Hôm nào rảnh mời anh Tần đến nhà chơi. Dễ tìm lắm, hễ anh thấy ngôi nhà nào đằng trước có cây trứng cá to lớn nhứt vùng thì nhà đó là nhà Loan.

– Thiệt vậy hả?

Loan đi sụt lùi vài bước trước khi quay lưng. Biết không thể bỏ đám bạn nửa lính nửa học trò bụi đời của mình trong giây phút này, Tần định vẫy tay chào tạm biệt, nhưng bỗng nhớ ra một điều, chàng gọi lớn:

– Loan…

Loan đứng lại. Tần vụt tới, nói nhỏ vào tai:

– Anh Tần rất muốn đến nhà thăm Loan lắm, ngay ngày mai nếu muốn nói thật lòng. Nhưng, nếu lỡ anh bị bạn bè níu kéo, không ghé được thì Loan nhớ viết thư cho anh nghen. Chỉ đề tên anh và KBC 3317 là thư sẽ tới. KBC 3317, nhớ chưa… Thôi đi đi kẻo chị… em trông.

Tần không khỏi ngạc nhiên không hiểu sao mình nói tiếng “em” với Loan tự nhiên quá đỗi! Nàng gật đầu, khẽ chớp mắt rồi lẹ làng quay lui, như có ý muốn lẩn tránh đôi mắt tình tứ của Tần. Chàng nhìn theo dáng dấp của Loan khuất dần trong ngẩn ngơ, nuối tiếc. Có lẽ đến giờ phút này chàng mới nhận ra Loan đẹp. Người con gái nào vừa qua tuổi dậy thì cũng đẹp, nhưng ở Loan còn có thêm cái nét nhu mì, đằm thắm… Ðêm hôm đó, với Tần, lại là một đêm chập chờn trong giấc ngủ. Chập chờn vì hình bóng Loan, vì men say tình yêu đã đổ trút lên hồn chàng rất ư là bất chợt, chớ chẳng phải là vì men say của rượu trà, chè chén cùng với lũ bạn…

Rồi chỉ trong mấy hôm sau, ngôi nhà của Loan, quả đau đớn ngậm ngùi thay, đã… cháy. Cây trứng cá to lớn nhứt trong vùng, Tần chưa một lần nhìn thấy, cũng đã ra tro. Bãi chiến trường Tết Mậu Thân tội lỗi của tiểu đoàn 307 giờ đây chỉ còn là một bãi đất đen, trống trải, hoang vu đến rợn người. Với những bức tường đổ nát thành những đống gạch vụn. Với những cây cột nhà đã cháy thành than đứng chơ vơ ngó đất ngó trời. Trông như những cây nhang cắm trên một bát hương khổng lồ với nhiều cây đang ngún cháy, còn âm ỉ nghi ngút khói bay. Cùng những xác chết cong queo, đen đúa như những con heo quay quá lửa. Khét nghẹt một mùi. Ðen tối một màu. Bên cạnh những xác người không toàn thây dưới mương ao, cống rãnh đã bắt đầu sình chương, hôi hám… Tần không thể tưởng tượng nổi cái cảnh lâm nguy, sống chết, chống chỏi với tử thần, với máu lửa đạn bom của hàng chục ngàn người đang sống ấm êm trong khu vực đông đúc dân cư này. Trong đó có Loan và gia đình nàng, giờ chẳng biết ra sao… Tần thật sự băn khoan, lo lắng.

Sau năm lần bảy lượt ra bến xe, tìm phương tiện trở về thủ đô không thành tựu, Tần đành quá giang người anh bà con của Hiếu, một người lính Biệt động quân. Ðã lâu lắm rồi, Tần không hề đi xe Honda hoặc ngồi xích lô. Toàn là đi bộ hoặc đi taxi, theo đúng Hải quy… không chính thức, mà đàn anh đã dạy. Giờ, chễm chệ trên yên sau chiếc Honda, chàng cảm thấy lạ quá. Ðó là nói chuyện hai tay được đặt lên đùi ngay ngắn, lưng thẳng đứng đàng hoàng chớ không quàng eo ếch của ai… Dọc theo quốc lộ 4 từ Mỹ Tho lên Sài Gòn, Việt cộng đã phá đường ở nhiều nơi. Chỉ cần một hai lỗ mìn hoặc một vài mô đất đắp vội, bọn chúng đã thành công trong việc ngăn chận lưu thông. Lực lượng bạn vì đang bận truy lùng đám tàn quân của chiến dịch “a thần phù” cho nên việc duy trì giao thông trên các trục lộ đều giao khoán cho khách bộ hành tự lo liệu lấy. Rồi vì không có dụng cụ rà mìn trong tay, những người khách bộ hành đầu tiên chạm trán với chiến thuật “giựt cầu, phá đường”, đã nảy ra sáng kiến: mở bờ bao đi vòng xuống ruộng. Khách bộ hành phải cuốc bộ và Honda phải đẩy. Xe đò và xe Lam phải đậu ở hai đầu chờ hành khách như chó chực xương. Cũng may là ruộng đã gặt, đất đã khô, chớ nếu còn ngập nước như hồi lúa mới cấy thì chắc chỉ có nước phải dùng xuồng ba lá.

Ði từ hừng sáng mà mãi đến xế chiều mới đến Phú Lâm. Từ Phú Lâm vào Sài Gòn lại còn gian nan hơn nữa. Vì có rất nhiều trạm chận xét đặt ở các ngả đường chính. Vì còn đang đánh nhau với Việt cộng ở miệt quận Tám, cầu Nhị Thiên Ðường, chạy tuốt xuống Nhà Bè. Có thể nhìn thấy những đám cháy hoặc những cuộn khói bốc cao từ hướng đó. Tiếng súng, tiếng bom đạn xa gần vẫn vô tình thi nhau nổ thay cho tiếng pháo đầu xuân.

Rồi tàu bè cũng bị trưng dụng. Mấy lần Tần đến trình diện Bộ tư lệnh Hải quân, phòng chuyển vận, để tìm phương tiện đi Nha Trang nhưng vẫn cứ phải quay trở về. Cuối cùng, chàng bắt buộc phải quá giang theo tàu tuần dương…

Giờ, Tần ngồi đây, dựa vào gốc dương này mà thấy đường đời ngổn ngang trăm mối. Mới đó ở quê nhà và trong phút chốc có mặt ở quê người, thấp thoáng như cánh chim bay. Nơi quê nhà có Loan, nơi đây có Hiền và xa hơn ngoài kia, Qui Nhơn, có Phượng vẫn luôn luôn kiêu sa, đài các. Không hiểu sao từ hôm Tết đến nay Hiền chẳng vào thăm Tần đây chớ? Tần không đi ra phố được thì hiển nhiên Hiền phải vào thăm! Vì qua tin đồn, chàng biết rằng Nha Trang không có Việt cộng về thành trong mùa “tổng tiến công.” Chỉ có mấy ngày thiết quân luật, giới nghiêm 24 trên 24 mà thôi. Hay là Hiền đã bị kẹt ở Thành khi về quê ăn Tết với gia đình, Tần lại phân vân lo lắng!

Thay vì ngủ gục trong phòng tối, Tần có thói quen hay trốn giờ nghe Lab anh ngữ để ra phía sau này hút thuốc, ngắm mây. Phong cảnh nơi đây cũng rất thanh thản, yên bình. Nhiều cành dương che bóng nắng và tiếng gió thổi vi vu trên mấy tầng cao. Tần cắm điếu thuốc lên môi, bật lửa mồi, rồi rít một hơi dài, thả khói từ từ cho tâm thần khoan khoái. Chàng lục trong túi, tìm bức thư của Loan vừa mới gửi ra, đọc lại.

Mỹ Tho ngày…

Anh Tần thân mến,

Thật Loan không ngờ là mình còn có cơ hội gặp lại anh, người thầy quý mến của Loan. Cái gì thật tình cờ không sắp đặt trước thường vẫn hay làm lòng mình thêm vương vấn phải không anh?

Từ khi gia đình Loan thoát được cái chết trong đám cháy Mậu Thân, Loan cảm thấy buồn hơn bao giờ hết. Bỗng dưng mình trở thành người vô gia cư, không cửa không nhà, ăn nhờ ở đậu người ta. Bây giờ, cả nhà Loan phải tá túc ở nhà người quen, bạn của ba Loan. Ðây là ngôi nhà sàn cuối dãy trong khu nhà lá, cất cạnh bên bến phà Rạch Miễu. Chắc anh cũng hình dung hoặc đoán biết nó tồi tệ, xập xệ đến như thế nào rồi. Chiều chiều ra ngoài cầu ngồi giặt giũ, ngó mông ra bờ sông Cửu mà bên kia là cồn Thới Sơn xanh rì, Loan không giữ được những nỗi niềm bâng khuâng đang tràn ngập dâng lên trong lòng mình. Như có cái gì man mác buồn cho những mất mát, chia xa anh nhỉ?

Loan chẳng biết mình phải nương tựa vào đâu, tâm sự với ai bây giờ? Bỗng Loan nghĩ tới anh, nhớ lời anh dặn và nhớ luôn cả KBC 3317, cho nên Loan mới có đôi lời nhắn gửi đến anh qua trang giấy và những dòng chữ này đây. Mong anh không cho là Loan quá đường đột.

Ðể Loan kể anh nghe câu chuyện trong đêm 30 Tết. Lúc đó đâu cũng vừa đón giao thừa xong. Ðột nhiên có tiếng gõ cửa gấp rút ở nhà sau, chỗ trông ra con hẻm mới đắp dẫn về bót Số Tám. Ðồng thời có tiếng loa phóng thanh: “Yêu cầu đồng bào nhà nhà hãy mở cửa để đón nhận anh em bộ đội về tiếp thu thành phố và giải phóng đồng bào thoát khỏi ách đô hộ của đế quốc Mỹ.” Nghe mà phát rợn người. Thì ra Việt cộng đã lẻn vào thành phố và Loan cũng đã nghe tiếng súng ì đùng ở phía Nguyễn Tri Phương. Ba má Loan sợ quá không dám chường mặt, bảo Loan ra đối đáp, dặn phải nói là chủ nhà đã về quê ăn Tết hết rồi, chỉ còn mình Loan là người ở, ở lại giữ nhà. Loan nói y chang như vậy và may hồn là bọn chúng không hề bước lên nhà trên nên không phát giác ra là cả nhà đang trốn trong hầm trú ẩn. Mà thực ra bọn chúng cũng chẳng cần tìm đến người lớn làm gì, bọn chúng chỉ cần tìm lấy mấy tấm ván làm bia đỡ đạn. Một tên nhóc nói: “Nhà cô có mấy bộ ván và để ở đâu, chúng tôi cần ngay.” Loan trả lời liền, hai bộ và chỉ cho bọn họ đi lấy. Mèn ơi, chúng đem lên nóc bằng nhà của chú tư Lam đặng làm lô-cốt bắn máy bay. Mà thiệt, chẳng bao lâu thì máy bay tới, đủ mọi thứ, trực thăng cũng có và phóng pháo cơ cũng có. Ðạn dưới đất bắn lên, đạn trên máy bay bắn xuống tua tủa như một màng lưới sấm sét trong ánh hỏa châu sáng ngời. Rồi không mấy chốc, dân chúng trong vùng Ðất thánh Tây túa chạy ra, lớp chết, lớp bị thương máu me đầy đường. Ba Loan mở cửa trước hô hoán, bảo cả nhà phải tuôn ra chạy theo đoàn người lánh nạn, kẻo chết hết. Ổng đang mặc áo thung quần xà lỏn, bèn chụp thêm cái mền quấn ngang người rồi vụt băng ra đường. Má và bọn Loan cùng chạy theo. Của cải đành bỏ lại hết, trong đó có chiếc xe Honda 68 ba Loan mới còm măng về còn nằm trong thùng chưa khui. Trời ơi, thiệt là chỉ trong gang tấc, vì chỉ cần băng qua bờ giếng nước bên kia là an toàn. Thiên hạ tụ lại góc đường trước nhà bà già vợ ông Thiệu, quay về nhìn nhà mình đang làm mồi cho cơn lửa đỏ, trong phút chốc đã biến thành tro tàn. Ôi, sao mà não nùng thay cho cả đời người dành dụm… Nhưng, vẫn không gì quý hơn là mạng sống, và gia đình Loan kể ra cũng còn may mắn rất nhiều so với những gia đình khác, cho dù mỗi người giờ chỉ còn lại vỏn vẹn mỗi một bộ đồ dính thân đi nữa!

Anh Tần ơi, sao đất nước mình cứ mãi chiến tranh hoài vậy hả? Nhớ ngày nào mình còn nhỏ, ngày ngày chỉ biết rong chơi sau những buổi đến trường. Tâm hồn mình lúc đó vô tư, nhìn cái gì cũng nên thơ, cũng đẹp. Giờ lớn lên một chút, sao mỗi thứ một khác, anh có thấy như vậy không? Có thương yêu, thù hận với ai không? Loan không biết làm gì để quên đi những kỷ niệm đầy ắp bên ngôi nhà thân yêu ấy! Mà xui xẻo quá, anh chưa kịp một lần nhìn thấy ngôi nhà mới cất của Loan! Giờ đây, ba má Loan định che một cái chòi ở tạm trên nền nhà cũ, rồi tới đâu tính tới đó.

Thôi, không nên nói mãi cho anh nghe những chuyện đau buồn. Bao giờ anh có phép về thăm Mỹ Tho lần nữa? Bao giờ anh ra trường? Nhớ hồi âm cho Loan nghen, Loan trông thư anh lắm lắm. Cứ gửi theo địa chỉ người quen ghi ngoài phong bì thì Loan sẽ nhận được. À, nhớ đừng mê người đẹp Nha Trang mà bỏ quên cô học trò nhỏ bé của anh! Chúc anh mọi điều như ý!

Thân mến,

Võ thị Phương Loan.

Tần thở dài! Ðúng là đường đời ngổn ngang trăm mối! Với Tần, mới chỉ có hai ba mối thôi mà chàng đã cảm thấy lòng mình như cuộn tơ vò. Loan ơi, em nào có đường đột gì đâu! Chẳng qua, hãy tha thứ cho anh, chỉ vì bạn bè mà hình như anh đã vô tình, hững hờ với người thương bé bỏng. Anh nguyện sẽ đền bù cho em…

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều-Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 24 Nov 2025

25. Karl Marx mắng mỏ đảng Cộng Sản Việt Nam

Thiệt tình mà nói, trước khi vô bài, tôi đặt cái tít này chắc bà con khó hiểu, chắc mấy ông đầu đảng Cộng Sản ở Hà Nội ngạc nhiên tưởng tôi điên. Nhưng hãy khoan! Cứ bình tâm nghe tôi lý sự, nghe tôi kể chuyện.

Quả thật. tôi là người không ưa Cộng Sản Việt Nam, không ưa chủ nghĩa Cộng Sản, không phải chỉ vì mấy năm tù bị đì như thú vật mà tôi có định kiến mà vì Cộng Sản dã man và nhiều khi mất nhân tính thật. Ở trong tù như ở trong địa ngục, mà ra khỏi tù thì cũng thấy Cộng Sản đối xử với đồng bào như cỏ rác, như nô lệ. sống vất vưởng đầu đường xó chợ trong khi Cộng Sản thi nhau bỏ giép râu đi xe Mẹc-Sơ-Đì bóng loáng, nhà cao của rộng phung phí như ông hoàng. Tôi có cảm giác Cộng Sản Việt Nam là những sinh vật đến từ một thứ hành tinh nào, chứ không cùng nòi giống Việt Nam.

Thoát ra được nước ngoài. nghĩ lại những năm tháng ở Việt Nam mà còn lạnh xương sống, cóng xương sườn, đêm trường ngủ mơ thấy ở tù kỳ cục, rồi chợt nhớ lời ông Karl Marx phán mà thấy thấm thía. Ổng phán rằng thì là:“Chỉ có thú vật mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại, mà chỉ lo chăm sóc cho bộ lông của mình…”

Nói thiệt với bà con, tôi ghét cay đắng chủ nghĩa Mác Lê Nin, nhưng rất khoái và thấm câu nói của Mác. Có thể Marx nói xỏ mấy ông chủ bóc lột công nhân thời của ông bên Anh khoảng thế kỷ 17, 18 thì phải. Tôi dốt sử nên đoán mò, trúng tôi nhờ, trật bà con chịu và thông cảm cho.

Tuy nhiên, hôm nay, khi viết những dòng này, nhớ về Việt Nam, nhớ những gương mặt “giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay dính máu anh em” của năm 1975, với những đổ nát, đau thương, chết chóc, mất mát, chia ly, đọa đày trên khắp nước vẫn còn tiếp diễn dưới bàn tay thống trị của Cộng Sản Việt Nam, nhớ những ngày chính tôi và bạn bè khiêng xác anh em bạn tù đi chôn ven rừng, mồ xiêu, mã lạng, tôi bỗng thấy dường như câu nói của Mác là câu nói ông nói của Mác là câu nói với đảng Cộng Sản Việt Nam. Mác tiên tri? Mác mặc khải? Mác làm ông Trạng Trình?. Tôi không biết. nhưng điều tôi biết là Mác nói không sai khi áp dụng vào đảng Cộng Sản Việt Nam.

Ngày 13 tháng 7 năm 2001, vào một buổi xế chiều tại công viên Stanley Park nổi danh của Vancouer, Canada (đứng vào hàng công viên đẹp hàng thứ 7 trên thế giới), người ta chứng kiến một trường hợp lạ lùng: Một con vịt mẹ dắt một bầy vịt con từ một mé rừng công viên đến bờ ao. Trên đường đi, cả đám vịt con rớt tòm xuống một cống nước. Vịt mẹ đứng nhìn xuống cống nước cất tiếng cạp cạp tuyệt vọng không biết làm sao đem bầy con mình lên bờ.

Cảnh sát vỉên Ray Peterson tình cờ đi ngang gần đó khi tuần tra, ông ngạc nhiên thấy con vịt mẹ chạy lạch bạch tới cắn ống quần ông kéo đi về hướng ống cống. Thoạt đầu ông tưởng con vịt cắn sảng, ông hất nó ra, nhưng nó cứ một mực cắn ống quần ông kéo đi. Ông ngạc nhiên , đi theo con vịt, nó dẫn ông tới lỗ cống có song sắt lớn chắn rác. Con vịt mẹ chạy trước đến đó và chờ ông vói tiếng kêu kêu cạp cạp thống thiết. Ray Peterson vô cùng ngạc nhiên thấy 8 con vịt con rơi tòm kẹt duới cống lỏm bỏm nước. Ray Peterson chợt hiểu chuyện gì đã xẩy ra.

Cảnh sát và xe cứu hỏa được gởi tới, và chuyện lạ lùng này lọt vào lai phóng viên tờ Vancouver Sun. Tức thời báo chí bay đến viết tin và chụp hình khi người ta giở tấm vĩ sắt, dùng vợt vớt 8 chú vịt con lên bờ trả cho vịt mẹ. Vịt mẹ dắt bầy con, từ giã đám người hiếu kỳ đang bu quanh, dắt bầy con đến một cái ao bên cạnh và mẹ còn ùa xuống nước. Nhiều người vừa chụp hình, vừa gãi đầu trước hiện tượng lạ lùng kỳ thú này.

Hình ảnh vịt mẹ dắt bầy con cùng bản tin lạ này lập tức được Reuters loan đi khắp thế giới với tựa đề: Ducklings in trouble, mother calls the police. (By Reuters 07/13/01). Người viết có được hình con vịt thông minh dắt bầy vịt con trên tờ Vancouver Sun, nhưng không biết nó thất lạc đi đâu trong cái núi sách báo và hồ sơ…. Tuy nhiên, cũng như rất nhiều người ở Vancouver và độc giả khắp nơi, câu chuyện có thật lạ lùng và cảm động này cứ nằm trong đầu tôi với câu hỏi tại sao con vịt mẹ này lại thông minh đến độ như vậy”? Nó không bỏ bầy con, nó lại biết gọi cảnh sát mới là kỳ diệu! Ai bảo loài vật không có lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào”. .!?”

Ngày 14 tháng 5 năm 2007 mới đây, phóng viên Trung Đông Ali Jareki, lại cũng của Reuters phóng lên bản tin và tấm hình một con mèo nuôi gà con. Con mèo tên Nimra, một năm tuổi. Sau khi con gà mẹ của 7 con gà con sơ sinh bị chết: con mèo Nimra đứng ra thay thế gà mẹ chăm sóc 7 con gà con. Bầy gà con mất mẹ tưởng mèo là mẹ nó nên lẩn quẩn theo mẹ mèo. Chuyện xảy ra ở Amman, Jordan.

Ngày 25 tháng 5 năm 2007, phóng viên Arben Celi, cũng của Reuters tung lên các hệ thống truyền thông một bản tin, một tấm hình cảm động khác. Tại một thành phố nhỏ tên Mamurras thuộc vùng nước Albani cách thành phố Tirana 50km, một con mèo mẹ sinh ra mấy con mèo con và chẳng may tất cả mèo con bị chết trong lúc vú mèo mẹ còn căng sữa.

Cùng sống trong một ngôi nhà một con chó sinh ra hai con chó con, một đen và trắng và không may, con chó mẹ bị xe cán chết. Mất mẹ, hai con chó con chạy theo con mèo mẹ mất con để tìm vú bú sữa. Con mèo mẹ nằm xuống cho hai con chó con bú sữa mèo. Và rồi ngày ngày con mèo mẹ chăm sóc hai con chó con như con ruột! Một hình ảnh cảm động, rất dễ thương.

Con mèo, con chó, con vịt… là những con vật, tại sao đối xử với con, với loài khác giống như những con người có lương tri, đầy tình thương với đồng loại”? Có những trường hợp con người không hiểu nổi sự thông minh và tình thương trong phản ứng của loài vật, như trường hợp con vịt được đề cập phần trên. Phải chăng Marx đã nói oan cho loài vật? “Chỉ có thú vật mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại, mà chỉ lo chăm sóc cho bộ lông của mình”

Marx sai với con vịt. Con vịt đâu có bỏ đi và bỏ con chết dưới cống nước, nó biết gọi cảnh sát cứu con nó mà !

Marx sai với con mèo. Con mèo còn thay mẹ gà nuôi và chăm sóc mấy con gà con mất mẹ, dù mèo và gà không là đồng loại.

Marx sai với con mèo. Con mèo còn biết thay con chó mẹ bị chết để cho chó con bú và nuôi hai con chó con. dù mèo không cùng loại với chó.

Nhưng Marx hoàn toàn đúng với trường hợp chế độ Cộng Sản Việt Nam. Tôi nhắc lại lời Marx:

“Chỉ có thú vật mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại, mà chỉ lo chăm sóc cho bộ lông của mình”. Vì sao?

Từ ngày thành hình, đảng CSVN, qua dòng lịch sử, đã thể hiện rõ nét, là họ đã quay lựng với những nỗi đau của đồng loại, mà chỉ lo chăm sức cho quyền lực của đảng Cộng Sản, của giai cấp thống trị, của quyền lợi giới tư bản đỏ tai Việt Nam, và của gia đình họ.

Oan khuất của đồng bào trùng trùng khắp trời Nam Bắc, khát vọng của đồng bào bị dập tắt dã man. Mất lòng dân, mất lòng người.,mất biên thổ của tổ tiên… Cộng Sản Việt Nam đã và đang quay lưng lại với nỗi đau và khát vọng của đồng loại và dân tộc. Và thưa cụ Karl Marx, theo cụ thì chế độ CS Việt Nam là loại gì?

Thưa cụ Mác! Ai bôi bác cụ vì Cộng Sản Việt Nam cứ dùng hoài cái món ngoại lai mà họ gọi là “Chủ nghĩa Mác Lênin bách chiến bách thắng muôn năm” . . nhưng cuối cùng cũng chầu ông Bush hay Ohama . . . thì cứ bôi bác, nhưng tôi phải thành thật mà thưa rằng cái tâm ban đầu của cụ là tốt, là thiện nhưng bị ông Lê, ông Sịt và VC biến chế thành ác để dùng, để đi làm cách mạng kiểu:

Đỗ 10 học hết lớp ba
Đi làm cách mạng chết cha giống nòi!
Không tin hỏi bác mà coi
Muôn dân ở dưới, đảng ngồi ở trên!

Không biết tôi đoán có sai hay không, cụ linh thiêng thì hiện hình dạy bảo nhưng dù sao tôi cũng cám ơn cụ đã phán một câu quá đúng về mặt đạo lý và nhân bản: “Chỉ có thú vật mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại, mà chỉ lo chăm sóc cho bộ lông của mình”.

Cụ hết sẩy cụ Mác ui! Cụ phán trúng phóc, không trật một ly ông cụ nào khi đem câu đó trùm lên đầu chế độ cộng sản cầm quyền hiện nay ở Việt Nam! Mấy ông VC ở Hà Nội nghĩ sao thì mặc xác mấy ông, nhưng theo kẻ hèn này thì ông Mác nói đúng, chỉ có “loài vật” mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại mà chỉ lo chăm sóc mấy đồng đô la trong túi mình.