Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên 

Post by Sơn râu 25 Nov 2025

Chương 21

Ở K… địa phương đầu tiên có một trung tâm hồi hương, một xã hội trật tự, với các cuộc kiểm soát và các qui tắc, luật lệ, lại chờ đón chúng tôi, khốn thay, đó lại là điều cần thiết. Thành phố là cả một mớ hỗn độn thật sự gồm đủ mọi loại quốc tịch và những cách phục sức kỳ cục nhất cũng không làm ai ngạc nhiên. Làm sao có thể phân biệt trong đám người ấy, người cộng tác với kẻ phá hoại, người tình nguyện với kẻ bị trưng tập, một dân quân với, một tù binh chiến tranh và người kháng chiến với tên do thám? Tất cả đều với lòng ái quốc chói lọi, và kiêu hãnh trưng ra các mầu sắc quốc gia, và rõ ràng là muốn lợi dụng màu sắc ấy để xâu xé ông chủ cũ. Đó là giờ của sự hài tội, thật khó coi, vì những người vô tội trong những thời kỳ ấy thường cung cấp nhiều nạn nhân hơn kẻ có tội thật sự. Một vài ví dụ diễn ra dưới mắt chúng tôi đủ để chúng tôi tin điều đó là đúng.

Một viên thượng sĩ thuộc một đại đội vận chuyển Pháp đi theo sư đoàn quân Mỹ và đảm trách nhiệm vụ giữ trật tự, một đêm đã mời chúng tôi đến ăn tối tại chiếc xe làm nơi tạm trú của ông ta. Phần ông ta thì rất dễ thương, nhất là ngày nào ông cũng thết một bữa tiệc như thế nầy. Tuy nhiên khi thấy ông hành sự, ông ta nhắc nhở cho chúng tôi các phương pháp thật kỳ dị. Để kiếm thêm một ít thực phẩm phụ trội, ông ta chỉ độc dùng có mỗi một cách: đe dọa bằng khẩu súng lục, và khi đại đội của ông phải di tản dân chúng trong một ngôi làng, ông ta luôn luôn ra lệnh cho nổ sập căn nhà mà ông tạm trú. Chính ông đã nói với tôi rằng ông chẳng có đau khổ gì vì chiến tranh mà cũng chẳng vì người Đức, nhưng lý do duy nhất khiến ông ta đăng vào đơn vị nầy là, ông nói, đã “chọc tức bọn Đức chơi, và để nhớ lại thời kỳ vàng son của quân đội lê dương”. Trong số người Đức bị trưng tập để làm việc khổ dịch hoặc làm việc cho đại đội, các quân nhân ưa chọn các người trai trẻ để bắt làm bọn hầu cận và một cựu lê dương còn dùng họ vào việc khác nữa. Còn những người lớn tu sĩ, toàn là công nhân và viện chức tầm thường, họ thường tự hỏi có phải chỉ mình họ là phải trả nợ cho các hậu quả gây ra bởi sự thảm bại của đảng Quốc Xã không, bởi vì bọn thân hào của thành phố vẫn ở nguyên vị hoặc bị mang vào canh tay chiếc băng Hồng Thập tự tuyệt diệu để khỏi bị trưng tập. Một nhóm lính khác chiếm quán rượu ở nhà ga, đã đùa giỡn ngay đêm đầu tiên, bằng cách bắt nhốt viên chủ quán trong hầm rượu, và lấy lý do để cho ông nầy nếm mùi các phương pháp của bọn SS, họ đã bắt ông ta làm những việc không thể ghi lên giấy được. Thế rồi, trong đêm đó, sau một bữa no say đúng cở, họ dùng ông ta để làm bia cho một cuộc thi tác xạ súng lục.

Bà vợ của nạn nhân đến khiếu nại với bộ chỉ huy Mỹ và một sĩ quan lập tức được gởi đều để mở cuộc điều tra. Những lên tội phạm ngẫu nhiên của chúng ta, vô cùng bối rối nhưng muốn đóng vai trò của những kẻ đi thanh lọc, đã cho đưa các cựu tù binh chiến tranh đến để phải xác nhận trước viên sĩ quan điều tra rằng đây là một lãnh tụ Quốc Xã đã luôn luôn hành hạ người Pháp làm việc trong thành phố lúc trước. Để làm vui lòng các người đồng hương, họ chấp nhận đóng vai trò nhân chứng mà không cần biết nội vụ ra làm sao. Tuy nhiên đến lúc đối chất, khi tấm chăn phủ lên người nạn nhân được dở ra, và khi mặt nạn nhân xuất hiện, họ không thể nào giữ được khỏi kinh ngạc và quên mất điều đã hứa.

– Sao, – một người trong bọn la lên, – các anh đã giết ông ấy à? Nhưng đó là quán rượu duy nhất đã lén lút bán rượu bia cho chúng tôi, và không có ai lịch sự đối với chúng tôi hơn ông ta. Khốn nạn, trong khi đó thì bọn Quốc Xã thật sự lại được tự do.

Rõ ràng là thêm một người chết nữa, tiếp theo sau tất cả những gì chúng tôi đã thấy, không tạo thành một quang cảnh lạ kỳ, nhưng dẫu sao vẫn là đáng tiếc khi giết một trong những người Đức hiếm hoi không phải là Quốc Xã, vì sau cùng, Đức quốc vẫn tiếp tục.

Bọn lính trong đại đội không thể nào có được một hình ảnh chính xác về nước Pháp được giải phóng. Phần đông đều ở đồng quê ngày có cuộc đổ bộ và hoàn toàn mù tịt về các biến chuyển trong nội bộ quốc gia mình. Tuy nhiên một Đại úy đặc biệt đảm trách nhiệm vụ chào đón những người Pháp được giải phóng bởi tiền quân Đồng Minh, đã đến nói chuyện với chúng tôi qua một bài điễn văn ngắn. Sau một vài câu ước lệ để chào đón, ông ta đã gây nên một cơn lạnh mình trong cử tọa, khi yêu cầu một số người tình nguyện để thành lập các toán gát, canh giữ nhiều cơ xưởng khác, nhau. Đây là một hoạt động phụ dịch mà quân Mỹ dành cho các cựu tù binh chiến tranh Pháp, có lẽ là nhằm mục đích cho họ ảo tưởng rằng mình cũng là những người chiến thắng.

– Chiến tranh chưa chấm dứt, – ông ta xác định, – các anh sẽ không tìm thấy ở Pháp những gì các anh hy vọng, vả chăng, vì thiếu phương tiện chuyển vận, không nên tin rằng sẽ được hồi hương trước hai tháng nữa. Ngược lại những người tình nguyện sẽ được đãi ngộ y như người Mỹ về phương diện thực phẩm, y phục, thuốc lá và lương bổng.

Cuộc diễn thuyết không thành công lắm, tuy nhiên cũng đã có người đưa tay. Vấn đề là, đối với phần đông tù binh chiến tranh, trở về nhà sau năm năm vắng mặt, tượng trưng cho tất cả một tấn thảm kịch. Một vài người qua thư từ mà không phải luôn luôn là vô vụ lợi, được biết vợ mình đã tìm một người khác thay thế hoặc là họ đã trở thành cha của những đứa con không do họ tạo ra. Nhiều người khác thì quên mất vợ ở nhà sau nhiều năm đằng đẵng và để rơi vào tay một nàng “Gretchen” vì thường thường trở thành chủ nhân ông một nông trại. Sau cùng một loại thứ ba, gồm những người mà cuộc hồi hương đã được định với một nỗi buồn man mác. Trên tất cả tiếng nhạc rộn ràng của cuộc tiếp đón chính thức, họ thoáng thấy sự tầm thường mà họ sắp tìm lại được sau cuộc phiêu lưu vĩ đại. Một trong những người đó trình bày với tôi những cảm nghĩ của anh:

– Trong năm năm trời, tôi đã làm không biết bao nhiêu nghề, từ nông trại đến nhà máy, qua các hầm mỏ, tài xế xe vận tải, và tôi cũng đã trở thành một tên bồi rượu tại một quán cà-phê trong làng. Tôi đã làm quen với người thuộc các chủng tộc khác, với các tập quán khác. Tôi đã thử vượt ngục ba lần và lần sau cùng đã đưa tôi đến Rawa Ruska, trại trừng giới ở Ba Lan, nhưng tôi hãnh diện là đã vượt qua mọi thử thách ở đó, vì tôi đã trở thành một người khác. Chiến tranh và các xáo trộn do nó gây nên đã làm tôi tin rằng xã hội rồi ra sẽ sụp đổ để nhường chỗ lại cho một thế giới trong đó con người muốn sáng tạo, muốn hành động, sẽ không còn phải sống khổ sở vì nguồn gốc xã hội nữa. Tuy nhiên căn cứ vào những điều mà viên Đại úy vừa giải thích với các anh, tôi thấy mình chỉ là một tên mơ mộng. Chiến tranh cũng giống như cơn bão tố trên biển cả. Nó tạo ra các thay đổi trên thượng tầng nhưng những người bé nhỏ vẫn tiếp tục sống ô nhục trong đáy biển. Sung sướng hơn nữa là nếu họ sống sót được từ lò sát sinh. Và bây giờ thì phải đi về, tôi không thể tin rằng, sau những gì tôi đã sống qua, tôi sẽ trở lại được với nghề cũ là công chức nhà bưu điện. Suốt ngày ngồi sau quầy lưới thép mắc cáo vây quanh, như một con vật tò mò ngơ ngác. Bụi bặm, giấy tờ, và sau cùng cuối tháng lãnh một số lương mà một kẻ khác có khi chỉ kiếm trong một ngày. Tôi cảm thấy có khả năng làm bất cứ việc gì để đừng trở lại thấy các thứ đó.

Chắc chắn tất cả những người giơ tay đáp lời kêu gọi của viên sĩ quan đều có một trong những lý do trên để lợi dụng một duyên cớ chính thức cho phép họ được ở lại Đức. Còn một yếu tố nữa là uy tín của bộ quân phục của kẻ thắng trận, và tất cả những lợi lộc của sự chiếm đóng trong một xứ mà dân chúng sẽ phải khúm núm quì gối đầu hàng.

Khi viên Đại úy biết cánh huống của chúng tôi, những người trốn thoát khỏi một trại tập trung, vì lẽ chúng tôi chỉ có năm người lạc lõng trong số đông, ông ta hấp tấp tiếp chúng tôi tại văn phòng đặt trong thành phố. Với một khổ người đẹp đẽ mà vẻ uy nghi lại được gia tăng thêm nhờ bộ quân phục, ông ta có vẻ độ chừng bốn mươi tuổi. Sau cùng, chúng tôi sắp nghe được tin tức về nước Pháp. Tuy nhiên, sau khi mời chúng tôi giải khát, và hút thuốc, ông ta bắt đầu bằng một cách khác:

– Các anh đã thấy tôi nói với bọn tù binh chiến tranh như thế nào chưa? Mặc dù chính phủ giao cho tôi làm việc đó nhưng tôi không phải là người mang vòng hoa đến cho chúng, khi trông thấy lũ trâu bò ấy, lũ người đôi khi còn ít đau khổ hơn thị dân ở Pháp, mà lại muốn đóng vai trò anh hùng dân tộc, tôi tức lộn gan. Những người vượt ngục hay những kẻ tìm cách vượt ngục, đó mới là những con người! Tất cả bọn còn lại đều là những tên bất tài vô tướng. Có lẽ tôi hơi quá cứng rắn, nhưng chính vì tôi nghĩ đến các anh, đến tất cả những người bị đầy đọa mà người ta chỉ gặp lại có một phần mười thôi, đến những anh hùng trong bóng tối của kháng chiến, đến những người tình nguyện chiến đấu ở Phi Châu, lúc đổ bộ, trong chiến dịch tái chiếm lãnh thổ Pháp quốc; tôi đoán chắc với các anh rằng lại Alsace, chúng ta phải trả giá đắt, thế mà chính chúng lại còn muốn được đón tiếp như những người tuẫn sanh. Tôi không chủ trương đến mức yêu cầu đưa tất cả bọn ra tòa án quân sự, theo luật chiến tranh, nhưng ít ra cũng phải biết xấu hổ để câm mồm lại và tỏ ra khiêm nhường hơn.

– Sự phán xét của anh cũng có phần nghiêm khắc quá, André nói, toàn thể nước Pháp đã bị cầm tù từ năm 1940 và người ta không thể trách mọi người sao không trốn thoát cả. Mặt khác, ngoài những người ở nông trại, những tù binh chiến tranh cũng đã chịu đựng nhiều khổ đau về phần họ, và tôi tin chắc rằng khi tất cả được hồi hương, họ sẽ gây nên một phong trào làm chuyển động toàn dân, bằng cách đòi xét xử những kẻ đã tạo ra sự thảm bại, nghĩa là những kẻ đã tạo ra các trại giam tù binh chiến tranh.

Đối với các lời sau cùng đó, một nu cười biện ra trên vẻ mặt của người đang thông báo tin tức về nước Pháp của chúng tôi, ông ta nói:

– Tôi hiểu các anh! hỡi vì các anh là cựu tù binh chiến tranh và hơn thế nữa là tù binh vượt ngục, chắc các anh hiểu rõ vấn đề hơn tôi, tuy nhiên các anh cho phép tôi được cười về điều mà tôi gọi là sự ngây thơ của các anh.

Và ông ta nói tiếp bằng một giọng sắc bén:

– Trước hết các anh nên biết rằng những kẻ chịu trách nhiệm về sự thảm bại của chúng ta không lo âu gì; trái lại họ đang từ từ chuẩn bị dư luận để trở lại cầm quyền. Và các anh sẽ thấy là tù binh chiến tranh sẽ bị lừa phỉnh cũng như các cựu chiến sĩ của trận thế chiến trước.

– Nhưng, còn Tướng de Gaulle đâu? – Marcel xen vào.

– À! người ta cũng không thể đòi hỏi ở ông ta tất cả mọi chuyện! Cứ cho rằng thì là nhờ hành động của ông ta, chúng ta được ở về phía thắng trận. Đấy cũng đã là quá vĩ đại rồi nếu không nói là chủ yếu. Phần còn lại, rõ ràng là việc chung của mọi người người. Và, nhân dịp được giải phóng, mọi người không thiếu sự phấn khởi. Ba-lê luôn luôn như vậy, đã chứng tỏ xứng đáng với lịch sử của nó lần nầy, không phải như ở các khu ngoại ô tất cả mọi người đều có thể nói rằng họ đã tham dự vào công cuộc giải phóng. Tôi đến đây ngày 25 tháng 8 với những đơn vị đầu tiên tiến vào thủ đô. Không thể nào tả lại cảm nghĩ của mình lúc ấy, nhưng tôi có thể đảm bảo rằng sự cao thượng đã được đạt đến. Trên các rào chắn mà đàn bà và trẻ con đã giúp để dựng nên, cả một dân tộc bị khích động vì đang tự do, đứng hoan hô chúng tôi, và xuyên qua đám đông đang rung động Vì sự hoan hỉ ấy, người ta thấy cả nước Pháp, bệnh hoạn và lạc lõng trong năm năm qua, sẵn sàng tiến lên con đường chính nghĩa. Và rồi còn phải nghĩ rằng tất cả mọi người không hề quan tâm gì đến việc con bệnh có bình phục hay không, vì thời kỳ ấy chỉ như là một ngọn lửa rơm. Những người ở Ba-lê đã trải qua một mùa đông rất nhọc nhằn, và có thể nói là đã có trẻ con chết vì lạnh giá. Vấn đề tiếp tế thực phẩm, tốt hơn là đừng nên nói đến, và tôi nghĩ rằng các anh hiểu là không nên đặt lòng tin quá đáng vào Đồng Minh nếu chúng ta muốn giữ độc lập. Những hứa hẹn được loan trên đài phát thanh trong những năm qua toàn là luận điệu tuyên truyền. Tôi lại mới trải qua tám ngày ở Ba-lê, đó là lần đầu tiên trở lại sau sáu tháng, khốn thay, tôi chẳng thấy có gì khá hơn. Tất cả đều trái ngược; chính quyền thì không ngừng kêu gọi làm việc và sản xuất, nhưng chính quyền chẳng có nêu gương tốt vào về phía mình. Chính quyền chỉ phác họa sơ về một kế hoạch thanh lọc, và những người làm việc liêm chính hiện nay không thể sống một cách đàng hoàng với đồng lương của mình. Tuy nhiên các lời tuyên bố hoa mỹ thì không thiếu. Một vài Bộ trưởng không ngừng nói về cái vĩ đại, cái sức mạnh của chúng ta, tuy nhiên lời nói cho sướng miệng ấy không che dấu được, tình trạng bệnh hoạn toàn diện đang ngự trị trên toàn lãnh thổ. Người ta có cảm tưởng rất rõ rệt rằng nước Pháp sau cuộc chiến tranh nầy, bị đặt trước cùng một số vấn đề đã từng làm cho nó bị phân hóa năm 1939.

Ông ta dừng lại sau những lời nói ấy, có vẻ đang suy nghĩ đến các điều để tâm sự khác, tuy nhiên sau cùng ông đứng dậy nói với chúng tôi với giọng vui vẻ, như để kết luận:

– Chắc tôi bắt đầu làm các anh buồn long vì các lời nghiêm trách của tôi quá! Hãy cùng nhau cạn một ly nữa, các anh còn trẻ và có một kinh nghiệm vĩ đại, hãy lợi dụng chúng! Suy cho cùng, chúng ta lại vẫn được tự do, và đó là điểm chánh.

Ngay đêm hôm có cuộc tiếp xúc đó, một toán tù đầy khác cũng được đưa đến trung tâm K… Có nhiều người Pháp đã chạy thoát khỏi một đoàn tù bị đưa vào rừng để tàn sát và những người Nga cùng trốn thoát từ trên cùng chuyến tàu với chúng tôi. Trong đó, tôi được gặp lại nhiều người quen cũ, đặc biệt là Vladimir. Cùng với vài người bạn, anh đã nhẩy một đêm trước chúng tôi, và cho đến khi gặp được chiến xa của đoàn quân giải phóng, anh cũng đã sống trong nỗi lo âu tương tự chúng tôi. Điều làm tôi hài lòng nhất đó là sau cùng tôi có thể chứng tỏ với anh, một cách khác hơn là bằng lời nói, lòng biết ơn của tôi đối với những sự giúp đỡ mà anh đã dành cho tôi trong quá khứ. Nhưng về một phương diện khác, tôi rất lấy làm tiếc rẻ vì cuộc gặp gỡ nầy, bởi vì nó là một cuộc gặp gỡ sau cùng trước khi chia tay vĩnh viễn.

Trên chuyến xe đưa tôi về Hanovre, anh đến nói với tôi lời vĩnh biệt, và nhìn Katia khóc nức nở, tôi có cảm nghĩ rằng mình sắp xa rời cùng một lúc, một tình yêu và một tình bạn không thể thay thế được. Tôi cố gắng cười vui để khỏi phải khóc theo, tuy nhiên nước mắt tôi cũng chực trào ra khi đoàn xe bắt đầu chuyển bánh. Trên con đường trắng xóa, viền hai bên bởi hai hàng cây phong sáng bạc, bóng dáng họ đang đưa tay vẫy tôi để chào vĩnh biệt, nhỏ dần, nhỏ dần cho đến khi trở thành hai chấm đen và cuối cùng biến mất sau đám bụi mù trời. Trong tiếng ồn ào của đoàn xe lúc chuyển bánh, tôi còn nghe Vladimir la lớn; “Đừng có quên… Tachkent… 1 vùng Trung Á…anh sẽ gặp lại tôi ở đó…”

——————————–

1Một thị trấn nhỏ vừa bị hủy diệt trong một trận động đất mới đây.

Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment