Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên 

Post by Sơn râu 24 Nov 2025

Chương 20

Tất cả cảnh đó đã diễn ra trong thời gian tối thiểu không cần phải kể lại. Chiếc máy bay đã xuất hiện vừa đúng lúc để cất đi các nỗi do dự của chúng tôi. Chúng thấy chiếc máy bay ấy các đêm trước, nhưng vào lúc con tàu dừng lại, lần nầy chính các tia lửa than bắn ra từ đầu máy đang chạy đã lôi cuốn sự chú ý của chiếc phi cơ. Riêng đối với người mở cửa toa cho chúng tôi nhờ phản ứng mau lẹ và sự bình tĩnh hiếm có, là một người. Pháp tên Robert, anh đã rình cả buổi tối âm mưu của chúng tôi và tự hứa sẽ theo chúng tôi. Nhưng không muốn bị coi là một kẻ không xứng đáng len lỏi vào nhóm chúng tôi, anh đã trả một thứ lệ phí gia nhập nhóm chúng tôi bằng cách mở cửa và nhảy xuống đầu tiên, hành động của anh là cả một sự khéo léo. Ngoại trừ một vài vết sây sứt nơi tay, gây ra bởi sức rơi trên đá vụn, không ai bị thương trầm trọng cả. Bình minh cũng sắp ló dạng, vì ở phương Đông, một vệt xám và đục mờ đã chọc thủng màn sương đêm đang bao phủ chúng tôi. Tuy nhiên đây không phải là lúc nhìn ngắm cảnh bóng tối nhường chỗ cho ánh sáng. André đã lên dẫn đầu và theo một hàng dọc. Chúng tôi đi về phía một khu rừng in bóng cả một khối đen sậm nghiêng nghiêng về phía Tây. Chúng tôi phải đi một khoảng độ chừng một cây số mới đến khu rừng ấy.

Ý nghĩ liên quan đến vấn đề tiếp tế thực phẩm từng làm chúng tôi lo âu, đột nhiên biến mất khi Guy thoáng thấy một đống đất nhỏ khó nhìn ra, nếu không có cặp mắt tinh ý, nằm trong cánh đồng ven bờ rừng. Đấy chính là một chỗ dự trữ khoai tây mà có lẽ một nông dân vừa mới chôn xuống đất cách đây vài giờ. Nến có ai nhìn chúng tôi từ xa, chắc sẽ phải vô cùng sợ hãi vì chúng tôi trông giống như những kẻ trộm đào mồ đang khai quật một quan tài. Với thức ăn, chúng tôi đã được cứu thoát một nửa rồi. Chúng tôi đi sâu vào rừng thông để tổ chức một phiên họp nhỏ. Chúng tôi không biết được gì hết, cả hướng mặt trận lẫn vị trí địa dư của mình, vụ chúng tôi không có bản đồ, địa bàn, bật lửa, hộp quẹt. Chúng tôi chỉ biết có một điều: hôm nay là sáng ngày 10 tháng 4. Phải đi thám sát một vòng và kiếm cái gì đốt lửa để tạo một ít thức ăn, nếu không sẽ không thể tiếp tục được con đường đào thoát vào đêm mai. Trong tất cả các làng mạc ở Đức, đâu cũng có các tù binh chiến tranh Pháp hay người nước khác, được đi làm đồng áng mà không bị canh giữ, và thật xui tận mạng nếu chúng tôi không gặp được người nào. André, Guy và Robert ở lại để giữ kho tàng và thay phiên nhau nằm nghỉ, trong khi cùng với Marcel tôi đi sâu thêm vào rừng để ra phía bên kia và quan sát cánh đồng. Chúng tôi đang ở giữa một đám thông con bị chặt ngang tầm cao quá đầu người, nhưng các bụi rậm bên dưới dày đặc tạo thành một chỗ nấp lý tưởng để ẩn náu. Cứ gặp một chỗ thuận tiện, tôi lại làm dấu bằng một cành cây nhọn hình mũi tên hoặc một hòn đá để khỏi lạc đường về. Sau khi đi được nửa tiếng đồng hồ, chúng tôi gặp một con suối cho phép Marcel rửa vết thương trên đầu và giúp chúng tôi rửa ráy mặt mày. Qua một màn cây ngăn cách, chúng tôi thấy một cánh đồng bao la bất tận, mặt đất sáng và xốp như cát. Mặt trời đã lên cao đủ chiếu vào tận chỗ chúng tôi. Bất chợt Marcel nắm chặt lấy tay tôi.

– Nhìn đằng kia, anh nói, có một người! Với chiếc nón chào mào ấy, tôi chắc chắn là một người Pháp.

Cố gắng mở lớn mắt, tôi thấy một bóng người trong cánh đồng mênh mông, nhưng mắt tôi không cho phép phân biệt rõ các chi tiết. Không còn phải ngần ngại gì nữa! Trong trường hợp tệ nhất, chúng tôi sẽ sử dụng con dao thô sơ được mang theo từ trại tập trung. Để bớt vẻ bề ngoài của tù nhân, chúng tôi lột nón và vắt áo vào tay. Với chiếc quần mà các đường sọc gần như đã bị phai hẳn vì hao mòn và bụi bặm bẩn thỉu, từ xa chúng tôi có thể trông giống như hai kẻ đi làm đồng áng. Còn 200 thước cách con người đang xới đất kia, Marcel thì thầm:

– Tôi không nhìn lầm, quả là một gã ở Pháp, chỉ cần nhìn cách hắn hút ống vố là đủ biết.

Khi chúng tôi đến gần, anh ta dừng công việc. Mặc một bộ kaki, anh ta trông giống như mọi người tôi quen ở các nhà tù Đức quốc, và nếu không phải là đồng hương, ít ra anh ta cũng là tù binh chiến tranh. Chung quanh chúng tôi, xa đến mức mắt còn nhìn thấy được, không có một bóng người, và từ một con đường ở xa thật xa, không một ai có thể nghi ngờ chúng tôi là hạng người gì. Trong tình thế lấy hai chọi một, ta có thể yên tâm được phần nào, như vậy sau khi ra hiệu cho Marcel để tôi nói, bằng một giọng bình tĩnh nhưng rõ ràng, tôi mạo hiểm thốt câu đầu tiên

– Pháp?

– Phải, Breton.

Anh ta đã nói cái gì kia! Marcel tràn đầy cảm động, lập tức bắt đầu câu chuyện dùng toàn tiếng lóng địa phương hết sức lạ tai đối với tôi.

– Còn quân Mỹ?

Tôi lợi dụng một lúc Marcel ngừng nói để đặt câu hỏi ấy.

– Chúng tôi chờ đợi họ đến ngày hôm nay hay ngày mai, – anh ta trả lời tôi. – Bà chủ sai tôi đến đây đào một cái hầm để dấu một ít khoai tây vì bả sợ bị trưng dụng hết cả.

Và dùng ngón tay trỏ hướng về phía Nam, anh ta chỉ cho chúng tôi thấy một nóc lầu chuông nhà thờ và các mái nhà lợp ngói đỏ. Đó là ngôi làng mà anh ta được đưa đến ở từ ba năm qua. Cũng giống như tất cả tù binh chiến tranh được xử dụng trong các nông trại, anh ta ở đấy như chuột sa vào hũ gạo. Làm nhiều việc, chắc chắn rồi, nhưng được nuôi ăn kỹ, gần như được hoàn toàn tự do, và các mối lợi khác phát sinh từ sự vắng mặt của đàn ông Đức vì họ phải đi nhập ngũ. Thoạt tiên anh tưởng chúng tôi là tù vượt ngục, thật ra cũng gần đúng như vậy ngoại trừ anh ta không biết trại tập trung là và trong vài lời vắn tắt, Marcel cố gắng soi sáng anh ta, nhưng anh ta có vẻ đang tự hỏi có phải chúng tôi đang kể một câu chuyện tiểu thuyết đăng trường kỳ trên nhật báo hay không. Chúng tôi không thể để mất thì giờ. Cuộc gặp gỡ của chúng tôi rất cảm động, tuy nhiên sau tình cảm, thực tế đã trở lại với quyền hành của nó. Đó là một gã tốt bụng, một mẫu người thuần hậu đơn giản, không hề có một ý thức nào về trạng huống của chúng tôi. Anh ta lấy làm tiếc là đã không mang theo phần bánh mì của mình, và đáp một câu hỏi, anh ta cho biết chúng tôi đang ở về phía Đông của sông Elbe, gần chính giữa con đường nối Hambourg và Magdebourg. Anh ta có một chiếc bật lửa. Đấy chính là tất cả những gì chúng tôi cần. Duy có điều khi Marcel cho anh ta biết là chúng tôi cần chiếc bật lửa ấy cũng như cần cặp giò của chúng tôi, anh ta ngần ngại.

– Nó là một kỷ niệm của vợ tôi, – anh ta bảo, và anh ta khẩn cầu chúng tôi khi nào đi ngang qua đây trong đêm, bởi vì đó là con đường chúng tôi phải đi, hãy để lại chiếc bật lửa trong một góc hầm mà anh hấp tấp lấy cán cuốc để làm dấu cho chúng tôi nhớ địa điểm.

Marcel, đôi khi thiếu ngoại giao, đã vấp phải một sơ hở khi muốn, xác định rằng chúng tôi còn cần dùng đến chiếc bật lửa trong nhiều ngày nữa. Nhưng tôi đã không để cho anh nói hết lời:

– Chắc chắn rồi, – tôi nói với ông bạn người vùng Bretagne cứng đầu còn hơn cả Marcel nữa, thông cảm với anh, đây là quà của bả mà. Chúng tôi sẽ trả lại anh, đừng sợ mất.

Và cùng lúc đó tôi nghĩ: “Tội nghiệp anh bạn, nếu anh biết rằng tôi bất cần kỷ niệm của vợ anh. Người ta vừa nói với anh về cả triệu người chết mất xác trong những điều kiện rùng rợn, trong đó có người Pháp, những người Bretagne như anh. Tôi đã ở đó với một người đồng hương của anh, người mà anh được nói chuyện thoải mái, và người đã giải thích với anh rằng chúng tôi chỉ có một mẩu bánh mì trong bụng từ bốn hôm nay, rằng tính mạng chúng tôi đang bị đe dọa sau khi trốn thoát khỏi địa ngục trên chiếc xe lửa, rằng chúng tôi còn ba người bạn đang bị lạnh cóng trong rừng và phải già người đi vì chờ đợi chúng tôi, và chỉ vì người ta xin anh độc có chiếc bật lửa, mà anh, người có quyền ăn mỗi ngày năm bữa trong nông trại, và có thể ngủ cả với bà chủ hay con gái bà, anh lại còn ngần ngừ do dự”.

Nếu anh ta còn cho tôi chiếc bật lửa, cái đó lại có vẻ công bình hơn nữa, mặc dù tôi đã hứa trả. Chính tôi đã giữ nó khiến anh ta bối rối, và suýt nữa tôi bật cười. Quà kỷ niệm của vợ anh ta chỉ là một cục sắt thê thảm đáng giá ba quan trước chiến tranh. Đồng ý một món kỷ niệm là vô giá, như người ta vẫn nói, nhưng sau thời gian ở Ellrich, sự tương phản quá thật quá lớn lao.

Để hoàn toàn làm cho anh ta yên tâm, vì anh ta cứ liếc mãi vào tài sản của mình mà tôi đang nắm chắc trong tay phải, tôi đọc cho anh nghe một đoạn thơ mới, tất cả cái gì hay ho nhất thuộc loại nói về các kỷ niệm và tính cách lãng mạn. Cuộc từ biệt xẩy ra ngắn ngủi, Marcel ghi cho anh ta địa chỉ của anh và hứa sẽ xin cấp cho anh ta một huy chương vì đã giúp đỡ một sĩ quan hải quân gặp nguy khốn. Điều đó đã kết thúc thật hay trong cuộc gặp gỡ nầy. Trên đường về, tâm hồn chúng tôi đầy vui vẻ. Ba bạn đồng hành của chúng tôi chưa biết gì, quả thật chúng tôi đã rơi vào một nơi lý tưởng, xa cách mọi lối đi qua và xa cách các làng mạc mà bọn trẻ con rong chơi ở vùng lân cận có thể là mối nguy hiểm của chúng tôi, và với một niềm hãnh diện rất chính đáng, hãnh diện vì trở về với một kết quả tích cực, và với một chút cảm động, Marcel huýt sáo miệng hai lần tại một điểm thích nghi định trước, để không làm các bạn giật mình sợ hãi vì sự xuất hiện đột ngột. Tiếng trả lời đáp ứng ngay, và khi họ trông thấy vẻ mặt chúng tôi, họ hiểu ngay là chúng tôi đã thành công. Khốn khổ, các bạn tôi bị lạnh cóng. Chỗ chúng tôi nấp, mặt trời không chiếu qua được, nhưng ngược lại, theo Robert, một người hiểu biết thật nhiều, đây là chỗ lý tưởng để đốt một ngọn lửa trên mặt đất. Anh ta đã chuẩn bị tất cả, cành cây thông khô, gỗ thông mục, và năm phút sau khi chúng tôi trở về, các bạn tôi đã được sưởi ấm quanh ngọn lửa. Họ luân phiên quạt khói bằng chiếc nón chào mào để không bị chú ý từ xa. Mọi chuyện đều tốt đẹp và nửa giờ sau, Robert, người đã thú nhận với chúng tôi là một tay chuyên săn bắn trái phép, khi còn ở ngoài dân sự, đưa cho chúng tôi mấy củ khoai tây chín được vùi trongtro. Không muối, không tiêu, nhưng ngon làm sao! Đấy là lúc hoan lạc nhất của chuyến mạo hiểm, bởi vì mọi vật hình như cười đón chúng tôi kể từ khi nhảy vào chốn vô định. Trước hết là thời tiết có vẻ còn khô ráo, sau đó là thức ăn.

Sau khi no nê và nhét đầy túi làm dự trữ cho một đêm hành trình sắp đến, một kế hoạch liền được chấp nhận: nghỉ ngơi tại một khoảng rừng trống có ánh mặt trời kế cận chỗ đang ngồi vì từ năm đêm nay chúng tôi không được ngủ, và ngay lúc mặt trời lặn, lại lên đường: hướng Tây. Không có những tin tức chính xác, vì chúng tôi nghi ngờ tin tức của người tù binh chiến tranh, chúng tôi đồng ý trên nguyên tắc là phải đi ít nhất là 100 cây số, mới gặp được quân đội Đồng Minh. Mỗi đêm đi 20 cây số vậy là phải mất năm đêm. Đó là cá nhân bi quan nhất, nhưng chúng tôi thích giữ lại một sự ngạc nhiên dễ chịu hơn là có ảo tưởng. Chúng tôi không quên điều kiện thể chất tồi tệ của mình, và một cuộc gặp gỡ không mấy dễ chịu vẫn có thể xảy ra. Riêng phần tốc độ đi ban đêm, chúng tôi cũng chỉ căn cứ vào phương tiện tối thiểu. Ban đêm người ta đi chậm hơn ban ngày, và nguyên tắc đi hàng một băng qua cánh đồng cũng làm chậm hơn nhịp đi trung bình. Chúng tôi đến khoảng rừng thưa và nằm sãi ra để tìm giấc ngủ, Marcel nhận phiên gác đầu tiên. Mặt trời đứng bóng. Yên tĩnh biết bao giữa lòng vũ trụ! Chỉ có tiếng chim hót và tiếng rì rầm của côn trùng làm khuấy động cảnh thanh bình của cánh đồng và rừng cây. Làm sao có thể tin được cả thế giới đang nhuộm máu và đầy các đống đổ nát điêu tàn? Còn con tàu, nay nó ở đâu? Thật khó mà ngủ trong những giờ khắc sống sôi động như thế này. Đôi khi sau một tiếng động có vẻ khác thường, chúng tôi nín thở để lắng nghe. Tuy nhiên đó chỉ là tiếng lá rụng hay tiếng cành cây khô nhỏ bị gãy, gây ra bởi chim chóc chuyền từ cành nầy sang cành nọ. Cảnh xế chiều lại còn huy hoàng hơn nữa. Khi mặt trời từ từ lặn xuống, đời sống của hằng hà sa số côn trùng chậm lại một không khí êm dịu nên thơ, nối tiếp giữa cái nắng buổi trưa và cái lạnh của đêm tối, lan tràn khắp khu rừng thưa nơi chúng tôi đang nghỉ.

Cái tự do mà chúng tôi đang ôm đầy trong vòng tay đối với chúng tôi vẫn còn là thứ tự do rất hạn chế. Giống như dã thú, chúng tôi không thể đi ra khỏi rừng và ngay cả trong đêm tối chúng tôi cũng sẽ phải lánh xa thôn xóm làng mạc nơi những con người như chúng tôi đang sống. Con đường ngăn cách với quân Đồng Minh đối với chúng tôi cũng tệ hại như một vùng “Phi chiến địa”: một vực thẳm. Tuy nhiên tâm trí chúng tôi bị một quyết định hung dữ chế ngự: chấp nhập tất cả còn hơn là bị bắt lại. Trong thời kỳ thảm bại và tháo chạy với niềm kiêu hãnh còn lại cửa những kẻ đã chiến thắng ngày trước, binh lính của Hitler chắc sẽ không nhẹ tay khi thanh toán bọn tù nhân bắt gặp trên đường rút lui của chúng; tuy nhiên về phần chúng tôi, ai nấy cũng đã tự hứa là không có lịch sự gì cả đối với những kẻ cản bước chúng tôi, và chúng tôi thích bị chết trong khi chiến đấu hơn là trở lại địa ngục của một trại tập trung nào đó.

Buổi tối, khi bóng đêm bao phủ dần dần bìa rừng, chúng tôi nghe xa xa có tiếng đóng súc vật vào xe vẳng về từ phía nông trại, một ngày đồng áng đã chấm dứt. Đối với chúng tôi, một ngày khác bắt đầu.

– Phải viết một cuốn sách về cuộc phiêu lưu của chúng ta, – Marcel nói trong khi chúng tôi chuẩn bị lên đường.

– Chắc nó sẽ rất lôi cuốn, – André trả lời, – tuy nhiên làm sao nói được tất cả sự thật như chúng ta đang sống đây. Không có một sự ghi chú nào; thật khó mà viết. Và phải đặt cho nó tên gì? Bởi vì sẽ không thiếu các loạt sách viết về đề tài nầy, nhưng chắc chắn sẽ hiếm có các tác phẩm không phải là sản phẩm của tưởng tượng hoặc là có tính cách thủ cựu.

Marcel, trong tư cách và khả năng của một sĩ quan hải quân dẫn đầu, André đi kế đó, tôi đi giữa, Guy và Robert sau cùng. Chúng tôi đã định hướng rất kỹ phía Tây và vì có dấu hiệu cho thấy trời sẽ có sao, có thể hướng dẫn chúng tôi trong đêm tối, cuộc khởi hành được thực hiện trong những điều kiện tuyệt diệu. Khi đặt chân lên cánh đồng tiếp nối cánh rừng.

Marcel ra lệnh dừng lại một lúc. Như vậy là khôn ngoan vì trời cũng chưa tối hẳn, và một nông dân nào đó đi làm về muộn có thể trông thấy chúng tôi.

Vào khoảng 10 phút sau khi chúng tôi ngồi xuống bìa rừng, nhiều tràng đại liên và nhiều phát súng đại bác hạng nhẹ phá vỡ cái im lặng của một đêm mới bắt đầu. Trước hết không ai dám to tiếng phát biểu những gì mình nghĩ trong đầu. Các khẩu súng đã bắn ra các loạt đạn đó chắc chắn được đặt cách đấy tối đa là 15 cây số. Mặt trận ở gần đây quá! Thật tốt đẹp vô cùng Bị ngắt quãng đều đặn vài giây, tiếng tic-tac của vũ khí tự động tiếp tục như thế trong nửa giờ đồng hồ rồi im bặt. Sự hứng khởi đầu tiên của chúng tôi lại trở về số không. Đấy chỉ có thể là tiếng nổ phát ra do một dàn súng phòng không D.C.A. Tuy nhiên lại không có tiếng chiếc máy bay nào trên trời, và một cuộc bắn phá như vậy phải là để ngăn chặn cả một phi đội đang oanh tạc. Vậy thì, nếu đó là tiếng súng chống chiến xa thì tại sao lại có sự im lặng đột ngột? Một hay hai chiến xa có thể đã lị phá hủy, nhưng các mũi nhọn tấn công của quân Mỹ thọc sâu vào phòng tuyến địch chắc chắc phải nhiều hơn hai chiến xa.

Chúng tôi đặt cho nhau tất cả các câu hỏi ấy và mỗi người thứ tìm cách trả lời thành thật nhưng trong sự cố gắng thỏa mãn lập trường cá nhân phần lớn rất là lạc quan. Chúng tôi phát gạt bỏ khỏi tâm trí các giải đáp quá dễ dàng vì trước mặt chúng tôi đang có một đêm phải đi, và trước khi khởi hành lại, André đã nói một câu kết luận hợp lý:

– Rất có thể là có một đoàn cơ giới trong khu vực nầy, có thể nó đã gặp sức kháng cự, và không muốn mạo hiểm trong đêm tối, nhưng như vậy thì cuộc đụng độ lại sẽ xẩy ra vào sáng mai, chúng ta sẽ thấy điều đó. Trong khi chờ đợi, nào lên đường!

Nếu đường thẳng bao giờ cũng đúng là đường ngắn nhất từ một điểm nầy qua một điểm khác, thật không phải dễ gì đem áp dụng định lý ấy cho việc đi ngang qua một cánh đồng. Với một tinh thần đầy phấn thích như chúng tôi đang có, dường như chúng tôi có thể nuốt hàng cây số đường một cách dễ đàng, tuy nhiên với những đôi giày đế gỗ, và trong cuộc đất xốp vì được cầy bừa, cơn mệt mỏi đã đến rất nhanh cùng với cơn đói khát. Những củ khoai tây nướng không có chất béo không phải là thực phẩm dinh dưỡng tốt, và sau khi ăn chúng, người ta lại cảm thấy bao tử trống rỗng ngay sau các nỗ lực đầu tiên.

Trước sự ngạc nhiên đầy khổ tâm của chúng tôi, cánh đồng được canh tác lại được nối tiếp bằng một cánh đồng lầy. Cứ cách một khoảng 2 hay 300 thước lại có một hàng rào dây kẽm, đôi khi là kẽm gai, ngăn cách hai cánh đồng với nhau, chúng tôi bắt buộc phải dừng lại để chờ đợi mọi người. Marcel lợi dụng khoảnh khắc ấy để định hướng sao bắc đẩu. Im lặng bao trùm một cách nghiêm ngặt, và mỗi khi dừng lại, chúng tôi phải vểnh tai nghe ngóng từng tiếng động nhỏ. Nhưng một đôi khi, một người trong bọn cũng phải miễn cưỡng phát lên một tiếng chửi thề, vì một chân bị dẫm sụp xuống một hố nước. Chúng tôi có đi đúng về hướng Tây không? Đó chính là cảm nghĩ của chúng tôi, nhưng chúng tôi đã mất một nửa thời gian để vượt qua các chướng ngại vật và tìm kiếm hướng đi qua một khu rừng chắn lối chúng tôi. Sau vài giờ, chúng tôi phải dừng lại vì đã ước tính quá mức sức lực của chúng tôi. André đang bị sốt và cú đạp vào lưng anh trên toa xe lửa thỉnh thoảng làm anh đau đớn oằn người. Những vết trầy trên tay trái sau khi tôi nhảy khỏi con tàu, tưởng là không nghĩa lý gì, nay lại bị làm độc, cả cánh tay tôi nóng như bốc lửa và tôi phải đeo nó lên ngực nhờ một miếng giẻ mà Robert cột choàng qua cổ tôi. Người ta sẽ cảm thấy rất bị trở ngại lúc đi nếu cả hai tay không được tự do. Marcel cũng bị đau đầu dữ dội. Phải liên tục rình mò quan sát bầu trời và đóng vai trò hướng dẫn là một công việc mệt nhọc vì cả toán đều căn cứ vào cử động của anh, và đã hơn một lần anh bị quáng mắt tưởng là trông thấy một mái nhà trong khi đó chỉ là một khoảng trống mở ra bầu trời của một chòm cây cao. Guy và Robert chưa dám thú nhận, nhưng từ lâu họ cũng mong đợi được dừng lại. Không bao giờ giấc ngủ ban ngày lại có thể thay thế được giấc ngủ ban đêm, chúng tôi có cơ hội để xác nhận sự thật đó. Dầu cho mặt đất ẩm ướt và cái lạnh được cảm thấy ngay sau cơn sưởi ấm nhờ đi bộ, chúng tôi nằm sãi ra một cách dễ dàng giữa mặt đất để gọi là nghỉ ngơi mươi phút. Không một ai dám nói, nhưng tất cả chúng tôi sẽ có thể nằm ngủ luôn cho đến sáng bởi vì cảm thấy đuối sức quá. May thay, những cơn đau giật nơi cánh tay đã ngăn không cho tôi hoàn toàn rơi vào tình trạng vô thức của giấc ngủ, và có thức mới cảm thấy được hơi ẩm ướt cũng như cái chết, thấm dần vào cụ thể như thế nào. Tôi phải lay mạnh các bạn đồng hành mới dựng họ dậy được, nói đúng hơn là mới nhổ họ lên khỏi mặt đất được.

Sau khi cất bước đi lại không bao lâu, tiếng một con chó sủa bắt buộc chúng tôi phải dừng lại. Không còn nghi ngờ gì nữa, chúng tôi đã đi qua gần một xóm nhà. Chúng tôi phải bò qua một thửa đất, vì có ánh sáng chiếu ra từ một cửa sổ. Chúng tôi không quên rằng dân Đức đã bị đầu độc bởi câu chuyện gián điệp nhảy dù và một chủ nông trại khi nghe chó sủa ban đêm, có thể cùng nhiều người khác có võ trang đi ra khỏi nhà thực hiện một cuộc tuần thám.

San biến cố ấy, một nỗi sung sướng chờ đợi chúng tôi. Khi đi ra khỏi một khu rừng mà chúng tôi tưởng là đã bị lạc lối vì con đường băng ngang quá dài, chúng tôi trông thấy các vệt sáng đó chiếu sáng chân trời. Sau khi kiểm điểm thật nhanh, Marcel xác nhận rằng đám cháy sáng ấy nằm đúng về phía Tây. Những đám cháy khổng lồ ấy chắc chắn là đã do các cuộc oanh tạc gây nên, tuy nhiên, nhiều phát đại bác hạng nặng mà chúng tôi không hề nghe trước đó, nay vẳng lại chúng tôi cách khoảng vài phút đều đặn. Người ta có thể giả thiết đủ điều; tuy nhiên kinh nghiệm cho chúng tôi biết là nên nhớ lại câu chuyện bán da gấu. Đó cũng có thể là các dân D.C.A đang hoạt động chống lại một cuộc oanh tạc vào thành phố. Dẫu sao cũng phải tiếp tục đi, ngay cả trong trường hợp mặt trận chỉ còn cách 50 cây số, chúng tôi cũng phải bắt đầu đi thêm một đêm như vậy nữa sau một ngày nằm bẹp xuống đất với hai hay ba củ khoai nướng; ý tưởng đó làm chúng tôi chán nản vì nó đảo ngược những ảo tưởng được xây dựng sau khi trông thấy các đám cháy kia. Nghĩ đến các đêm kế tiếp, một nỗi sợ hãi xâm chiếm lấy chúng tôi, sợ không còn sức lực, sợ chạm phải đám tàn quân Đức đang rút lui và sau cùng lo âu bị mắc cạn khi gần đến đích. Chúng tôi còn phải đi nhiều giờ nữa về phía ánh sáng của các đám cháy đang nhạt dần, rồi lại bùng lên và hình như chập chờn lùi thêm xa mỗi khi chúng tôi tiến lại gần chúng.

Một ánh sáng khác như một bức màn xám từ mặt đất dâng lên, nhưng lại chiếu sáng bầu trời về phía Đông, báo cho chúng tôi biết bình minh đã đến, và chúng tôi phải tìm chỗ ẩn nấp trong rừng. Trước mặt chúng tôi có một khu rừng ẩn nấp được. Vừa có đủ thời giờ đến đó thì trời đã sáng hẳn. Người ngợm chúng tôi trông xấu xí quá. Râu tóc xồm xoàm, dơ bẩn, bùn lấm tận đầu gối. Khoai tây nướng được ăn luôn vỏ làm môi chúng tôi đen sì, và mặc dù trời lạnh và không khí ẩm ướt, chúng tôi khát khô người. Một con suối chảy dọc theo khu rừng và song song với một con đường đã giúp chúng tôi tìm được cảm giác thống khoái dễ chịu, tuy nhiên mỗi giọt nước lại làm chúng tôi đói thêm. Chúng tôi còn lại mấy củ khoai nhưng phải giữ làm thức ăn cho cả ngày và chỗ nghỉ hiện tại không thuận tiện chút nào cho việc nướng thêm một số khoai khác mà chúng tôi có thể tìm kiếm dễ dàng ngoài đồng. Vả lại, không ai còn nói đến ăn nữa, cái mệt làm quên mất cái đói, và chúng tôi bằng lòng thấy ánh mặt trời để có lý do được nghỉ ngơi.

Chúng tôi đã đi được bao nhiêu cây số? Marcel cho rằng 25 cây, André 20, tôi cũng đoán số đó và Guy cũng như Robert thì nói rằng bốn dặm tức 16 cây số là tối đa. Nhiều bụi rậm đã che đầu chúng tôi cách con đường chỉ chừng mười thước. Đằng sau và chung quanh chúng tôi một rừng thông khá dầy trải dài. Bên kia đường là cánh đồng ngút ngàn bất tận. Chúng tôi có ý tiến gần mép rừng để có thể quan sát sự lưu thông trên con đường. Có dấu hiệu cho thấy một ngày có ánh nắng mặt trời và không khí êm dịu. Chắc chúng tôi phải ở xa làng mạc lắm vì không ai nghe được dù là một tiếng gà gáy, yên tĩnh hoàn toàn lúc đó đã sáu giờ sáng và chúng tôi không cảm thấy được thoải mái lắm, nhất là về mặt tính thần, vì về mặt thể chất, chúng tôi đã quá mệt mỏi rồi. Mặc dù khí trời lồng lộng, chúng tôi vẫn cảm thấy nghẹt thở vì bụi bặm bám vào người từ chân lên đầu. Dường như các loạt súng máy đêm qua, những phát súng đại bác và những đám cháy trong đêm chỉ là các ảo ảnh và là hậu quả của trí tưởng tượng bị kích thích quá độ. Rất có thể là chúng tôi còn ở cách; xa mặt trận đến mức độ các cuộc ước tính bi quan nhất cũng không liệu đến, dưới góc cạnh đó, hoàn cảnh của chúng tôi thật tuyệt vọng. Chúng tôi đang kiệt sức và gần như mất hết năng lực như thế, đột nhiên hàng loạt liên thanh giống như đêm hôm qua nhưng lần nầy gần hơn, đã làm chúng tôi giật nảy mình. Đây không phải là hậu quả của ảo giác nữa. Tiếng động ấy làm chân tôi như bị kiến cắn, một sự ham muốn bất thần, được đi, được chạy đến xem chuyện gì đã xảy ra. André nằm dán xuống đất, Guy bắt chước theo, Robert bị trầy một chân, chỉ có Marcel tuyên bố sẵn sàng theo tôi. Tiếng súng nổ dòn vẫn còn tiếp tục, lại còn gia tăng cường độ thêm nữa, và nhiều tiếng súng nổ rất gần đến nỗi sau mỗi loạt, chúng tôi tự động khom mình xuống.

Sau khi đi được vài trăm thước, luôn luôn theo bìa rừng, Marcel không ngừng quan sát con đường, đột ngột đứng lại và ra dấu tôi làm theo anh. Anh ta cúi thấp người xuống và tôi bắt chước anh. Một người từ con đường đi về phía chúng tôi. Còn chừng một trăm thước nữa là ông ta sẽ đi ngang qua chúng tôi. Mỗi người nấp sau một thân cây, chúng tôi có thể quan sát ông ta mà không bị trông thấy. Ông ta đội một chiếc nón kết của quân đội Ba Lan và trên áo khoác ngoài, phía ngực trái, một chữ P trên nền tam giác vùng, dấu hiệu của các nhân viên dân sự Ba Lan làm việc tại Đức. Sau khi chậm bước, ông ta dừng lại đúng ngay trước mặt chúng tôi. Ông ta có trông thấy chúng tôi không? Không thể nào trông thấy được. Hình như ông ta đang lắng nghe một tiếng động mà chúng tôi cũng vừa mới thoáng nghe đâu đây, một tiếng động đều đặn vang tới từ phía có tiếng súng nổ. Lòng ham muốn ra khỏi chỗ ẩn núp làm chúng tôi bứt rứt tay chân. Trong số người Ba Lan, không hiếm kẻ cộng tác lẫn người chống lại bọn Đức một cách cuồng nhiệt. Trong các trại giam tù binh chiến tranh của Đức, một anh bạn tốt của tôi là một chuẩn úy Ba Lan, còn trong trại tập trung, bọn Ba Lan là bọn quỷ sống, vậy phải làm sao đây?

– Phải mạo hiểm, – Marcel nói, – hắn ta chỉ có một mình, hắn không ăn thịt chúng ta được, và nếu bắn báo động, mình có thì giờ để biến mất.

Khi biết được đôi chút tiếng Nga, người ta có thể xoay xở một chút với tiếng Ba Lan. Vậy thì, như sáng hôm qua, tôi báo trước cho Marcel là tôi sẽ bắt đầu câu chuyện và trong mọi trường hợp anh phải sẵn sàng đối phó với tình hình tệ hại. Khi nghe tiếng động đằng sau lưng, người lữ hành quay lui và khi thấy chúng tôi, nỗi ngạc nhiên làm ông lùi một bước. Thật dễ hiểu: có lẽ chúng tôi trông giống với hai kẻ cướp đang tìm kiếm nạn nhân. Để tránh cho ông ta khỏi phải lo âu trong khi chúng tôi còn bị ngăn cách với con đường nơi ông ta đứng bằng một cái hố, tôi la lên về phía ông ta:

– Djinn dobré (chào anh).

Gần như yên tâm được một nửa, ông ta trả lời cũng tiếng chào ấy và vẻ lạnh lùng biến mất, chúng tôi nhẩy một bước qua hố để được nói chuyện với ông ta gần hơn.

– Tzo Novego? (có tin tức gì không?)

Tôi đặt cho ông ta câu hỏi ấy một cách dữ dội để ông ta ý thức rằng không phải mình đang có chuyện với hai tên vô lại, và mặt khác để biết rõ ngay tình hình quân sự. Ông ta nhìn chúng tôi và chúng tôi nhìn ông ta. Một cuộc đối thoại còn bắt đầu, những giây phút trôi qua lâu như hàng giờ. Mắt tôi và mắt của Marcel, thái độ của chúng tôi, dáng điệu của chúng tôi đủ hùng biện để diễn tả cuộc phiêu lưu của chúng tôi, vì không nói một lời nào. Ông ta lôi trong túi ra phần bánh mì của mình và đưa cho chúng tôi và như muốn dành cho chúng tôi một sự ngạc nhiên, ông ta phá lên cười và bắt đầu la lên thật sự trong khi lấy tay chỉ về hướng tiếng động vẳng lại đã từng làm cho chúng tôi lạ lùng.

– Tank! Amerikansky tank!

Sau những tiếng đó, cả một sức nặng vô biên thoát khỏi người tôi, một bức màn bị xé toang trước mắt tôi cảnh vật đột nhiên trở nên trác tuyệt, con người đang nói với chúng tôi là một thiên thần, và Marcel chạy đến ôm choàng lấy tôi. Chúng tôi đã được cứu thoát!

Trong một vài câu ngắn ngủi, người Ba Lan giải thích cho chúng tôi tình hình hiện tại. Trên một con đường nằm cách chỗ chúng tôi đang dừng ít ra là hai cây số, chiến xa Mỹ đã đi qua cách đây 2 giờ hướng về sông Elbe. Quân Đức ít ra cũng là các toán quân có đủ thì giờ, rút lui qua phía bên kia con sông cuối cùng trước thủ đô Bá-linh. Các toán quân khác bị bao vây hoặc bị bắt làm tù binh. Chỉ còn lại vài ổ liên thanh do một vài phần tử cuồng tín trấn giữ còn cố gắng chống trả trong rừng. Về phương diện nầy, ông ta nhấn mạnh đến các may mắn của chúng tôi là đã không gặp chúng trên đường đi trong đêm qua. Chính ông ta cũng được xử dụng làm công nhân trong một toán tiều phu ở gần ngay đấy. Từ hôm qua, không ai làm việc nữa để chờ những người giải phóng đến, và ngay lúc bình minh mọi người đã lên đường đi đến một thị trấn nằm trên con đường chính mà chiến xa Đồng Minh sẽ phải đi ngang qua. Được cử làm đại diện cho tất cả công nhân Ba Lan trong quận, ông ta đang đi tìm các bạn bè tại một ngôi làng ở xa hơn để báo tin vui.

– Nhưng, – ông ta nói, – họ không cần đến tôi nữa, đến đây kiếm cái gì cho các anh và các bạn ăn đã, sau đó các anh chỉ cần đi đến thị trấn tôi vừa nói, các anh sẽ được tiếp đón khá hơn vì có cả một toán đông tù binh Ba Lan và Nga ở đó.

Ông ta dắt chúng tôi đến một căn lều của tiều phu cách đó chừng năm trăm thước. Sau khi nói vài tiếng với một người đàn bà giúp việc, cũng người Ba Lan, bà ta vừa khỏe vừa làm cho chúng tôi một chồng bánh săn-huých mà chúng tôi thấy cao như núi Mont Blanc. Cảnh gặp gỡ cảm động đến nỗi chúng tôi không làm sao ăn được. Trong xó rừng nơi mà chiến tranh không chạm tới nầy đây, sự vật có vẻ giản dị và tự nhiên vô cùng.

Còn năm mươi thước trước khi đến địa điểm mà mấy ông bạn đồng hành đói khát của chúng tôi nằm bẹp xuống đất, Marcel thét to: “Ê! đứng dậy, trong kia, giờ ăn đến rồi”. Ba chiếc đầu khốn khổ xuất hiện trên bụi cây, nhưng cả ba người chưa dám bước ra. Anh ta phải lặp lại sự thật nhiều lần họ mới quyết định cục cựa thân mình. Khi họ thấy gói săn-huých mà chúng tôi cố ý trưng bày sau một thân cây, những bộ mặt co rút lại bắt đầu dãn ra, và trong khi André ngắm chồng bánh trông giống như một cây nấm từ dưới đất mọc lên, Guy và Robert đã bắt đầu ngốn ngấu ăn rồi. Trong nhiều phút liền, không một lời nói nào được thốt ra, mỗi người bằng sự im lặng, muốn tôn trọng tính cách trang nghiêm của hồi chung cục sung sướng nầy. Như vậy 24 giờ trước đây người tù binh chiến tranh đã nói thật với chúng tôi. và theo như các chỉ dẫn của người Ba Lan lúc nầy thì chúng tôi đã đi được 20 cây số nhưng chỉ có 15 cây là theo hướng Tây kể từ lúc chúng tôi khỏi hành. Chính ra, chúng tôi có thể cứ ở trong khu rừng đầu tiên để chờ đợi và có thể trả lại chiếc bật cho ông bạn người Bretngne khốn khổ kia. Và chúng tôi đã sợ trên bốn người thì quá đông, thật ra tất cả mọi người trên toa xe lửa cũng có thể trốn cùng một lúc được. Chúng tôi hấp tấp lên đường ngay hướng về phía thị trấn, nhưng lần nầy đi ngay trên đường cái quan, không ẩn núp dấu giếm gì cả.

Ngay khi thấy các ngôi nhà đầu tiên bỏ trống, chúng tôi hiểu rằng tất cả dân chúng đều đổ ra đón quân Mỹ đi ngang, nhưng trên cửa sổ của nhà nào cũng có cờ trắng. Khăn, giẻ, có khi cả nguyên một tấm trải giường, đâu đâu cũng toàn màu trắng. Sau những năm với bao nhiên là ngạo mạn, ngày nay lại bấy nhiêu sự khiếp nhược, thật đáng buồn nôn. Để tiến đến con đường chính mà chúng tôi thấy xuất hiện từ đầu một con lộ nhỏ, chúng tôi chạy bất kể đến tình trạng sực khỏe, vừa chạy vừa dìu Robert lúc đó chỉ còn đi được một chân. Đàn bà, con nít, ông già bà lão, tất cả dân cư đều tập họp lại để xem các kẻ chiến thắng. Chiến xa, xe mô tô, xe vận tải nối tiếp nhau bất tận, cả một đám thanh thiếu niên, ngửa tay xin “Chokolat”, đang bao quanh một chiến xa dừng lại bên lề đường để sửa chữa. Một lính bộ binh Đức tự cho là đào binh đã mang cả một bình rượu nhẹ đến mời anh quân nhân tài xế uống.

“Kamerad! Ich Kamerad!”. Y sủa không ngừng. Vì có lẽ đã bị say cho nên tôi cũng lợi dụng để uống mừng sức khỏe của y và các bạn tôi cũng bắt chước. Trong khi đó, Marcel hấp tấp chạy đến gặp một trong những anh “Yankee” (lính Mỹ) đang lơ đễnh hút thuốc, và nói với anh nầy trong sự tin tưởng là sẽ làm anh ta giật mình:

– Chào anh, tôi là người Pháp, kháng chiến, bị đày, trốn từ trại tập trung ra.

Marcel đã nói những lời ấy bằng một thứ tiếng Anh tuyệt vời và anh gần như hét lên các lời đó vì đoàn quân xa chạy ngang qua gây ra tiếng ồn ào như sấm động, tuy nhiên, anh chàng kia vẫn lạnh như tiền. Anh ta đã bắt đầu phân phát cho bọn con nít những gói thiếc mỏng, dẹp nhỏ làm tôi nhớ lại các mẩu hàng trong hội chợ ở Ba-lê, và khi tay anh đưa đến trước mặt Marcel, anh ta ngước nhìn Marcel bằng cặp mắt hiền lành và cũng đưa cho bạn tôi một mẩu hàng, sau đó anh cũng trả lời;

– Vâng, vâng, tôi biết, tôi đã gặp nhiều lắm rồi.

Marcel có vẻ gần như muốn sọm người xuống. Với sự phấn khởi nồng nhiệt, đức tính cố hữu của anh, Marcel đã tưởng tượng một cuộc gặp gỡ hấp dẫn hơn nhiều. Tôi đón từ tay anh vật mà người quân nhân Mỹ đưa cho, đó là một thẻ kẹo cao su. Rõ ràng là từ khi vượt qua sông Rhin, người quân nhân nầy, vốn thuộc các đạo quân tiền phương, đã trông thấy tất cả cảnh nghèo đói của một Đức quốc thuộc Hitler, và anh ta cũng đã đến Âu châu từ mười tháng rồi, chắc anh ta hối hả muốn chấm dứt cuộc chiến tranh này. May thay người tiều phu Ba Lan sau khi nhận ra chúng tôi trong đám đông đã đến kiếm chúng tôi. Chỉ một lát sau, trước những cặp mắt ngạc nhiên của dân chúng Đức, một nhóm người Ba Lan và Ukraine vui vẻ bao quanh lấy chúng tôi và chính họ đã đưa chúng tôi đi để lo cho chúng tôi ăn uống. Một người trong bọn, có vẻ là người trưởng nhóm dắt chúng tôi đến một nông trại nơi ông làm việc. Được cạo râu, tắm rửa, chúng tôi trở nên dễ coi hơn. Với kết quả thu thập được để đón mừng chúng tôi, một bữa ăn được dọn ra: bánh mì, mỡ, dồi, rượu, cả một hầm thực phẩm nguyên vẹn của một thương gia đảng viên Quốc Xã bỏ trốn, đã bị cướp phá và suốt buổi chiền, dân chúng trong làng mở đại lễ ăn mừng cuộc giải phóng ngây ngất vì không khí ấy, tôi nằm dài dưới gốc một cội bạch dương thuộc một hàng trồng suốt dọc theo con đường làng. Nhìn lên bầu trời, chiều cao của cây bạch dương làm tôi chóng mặt, nhưng tiếng của một cơn gió nhẹ làm cành lá reo ca, đã mang, đến bên tai tôi một điệu nhạc say sưa, nhắc nhớ lại những kỷ niệm xưa cũ thời thơ ấu, và đã chầm chậm ru tôi ngủ. Như một cậu bé sung sướng, tôi lăn trong cỏ tươi mát và ngủ say sưa trong Tự Do.

Buổi tối một dạ vũ mừng ngày Giải Phóng đã qui tụ trong một vựa lúa tất cả những người ngoại quốc hiện có mặt trong miền. Trong khi một nhạc sĩ đàn phong cầm chơi láy đi láy lại một điệu Tzigane cổ truyền, tôi hướng mắt nhìn chăm chú một cô gái người gốc Ukraine uyển chuyển dưới mái tóc vàng óng ả, và nét mặt giống như tượng Đức Mẹ thật sự. Tôi đã chú ý đến nàng lúc ban ngày, nhưng đến đêm, nàng đổi khác.

Gốc nông dân cũng giống như phần đông các phụ nữ đồng hương. Katia nổi bật trong nhóm nhờ sắc đẹp và một dáng điệu cao sang. Dưới lớp áo mờ nhạt, người ta có thể đoán một thân thể yêu kiều và cách đi đứng, cử chỉ của nàng có một cái gì khêu gợi rất tự nhiên. Sau những ngày công việc nặng nhọc mà nàng phải làm trong nhà máy hay trong nông trại, làm sao vẻ mặt và bàn tay nàng lại có thể còn giữ được vẻ đẹp và tươi mát đến như vậy? Nàng rất giản dị nhưng chói sáng. Thượng để toàn năng và bí ẩn đã tạo ra tác phẩm tuyệt diệu nầy chắc cũng ra công bảo vệ nàng chống lại đàn ông và chống lại mọi biến cố. Bí mật bất ngờ, vui thú đo tình cờ, cô gái đẹp tuyệt vời có vẻ khó hiểu ấy khi biết rằng tôi là một người sống sót từ trại tập trung và tôi sẽ trở về Ba-lê, đã làm cho tôi trải qua một trong những đêm cảm động nhất đời.

Trong khi những người khác uống rượu và khiêu vũ trong cảnh trí đồng quê dưới ánh sáng lọt lợt của đèn gió đã thay cho ánh điện đã bị cắt, tôi được nghe một tâm sự bất ngờ và thật đáng ngạc nhiên. Cha mẹ nàng bị bắt và bị đầy đi Tây-Bá-Lợi-Á trong những năm 1935 vì đã chống lại chủ trương tập thể hóa đất đai và Katia, bị xa cách cha mẹ, từ đó được nuôi trong một cô nhi viện của nhà nước. Khi xảy ra chiến tranh và cuộc xâm lăng của Đức, quân Đức được các nông dân tiếp đón như những người đến giải phóng, họ là những người không bao giờ chấp nhận trong tim chế độ sô-viết. Bị xô đẩy bởi các biến chuyển như một cọng rơm, thoát khỏi mọi cuộc thăng trầm như nhờ có phép lạ, sau cùng nàng đến ở tại thôn ấp nầy và được chỉ định, cũng như bao người khác, vào một nhóm công nhân nông nghiệp và bây giờ nàng đang run sợ với ý nghĩ phải trở lại Nga Sô.

– Không bao giờ tôi có thể quên được quang cảnh ngôi làng bị bọn cảnh sát chính trị Guépéou bao vây và tôi sẽ làm bất cứ điều gì để được qua sống ở Pháp hay ở một nơi nào đó.

Khi nói những lời nầy mắt nàng đượm vẻ buồn rầu và ngây thơ như một em bé bị lạc loài. Nói gì đây trước bao sự tuyệt vọng, trong khi chúng tôi vừa mới tìm lại được tự do, bao nhiêu là điều chưa biết về Tây phương, bao nhiêu là ngây thơ trước ảo ảnh của cuộc đời và… làm sao đây? Tôi cố thử giải thích với nàng rằng mọi sự rồi sẽ được thay đổi sau chiến tranh kể cả “quê hươn” của nàng, một trong những cường quốc chiến thắng trong cuộc xung đột lịch sử nầy, chắc chắn nàng sẽ được gặp lại các thành phần của gia đình và những điều kiện sống đổi mới. Dẫu sau đi chăng nữa, nàng cũng chỉ là nạn nhân trong số hàng triệu nạn nhân trong những năm bi thảm ấy, nàng sẽ lại được tiếp đón nồng nhiệt. Không một lập luận nào, một lời giải thích nào có thể làm dịu cơn lo lắng cho tương lai của nàng và đột nhiên tôi có cảm tưởng là định mệnh đặt trêu chọc ý chí của tôi cũng như trong nhiều lần khác, trong những cơ hội khác; có thể hạnh phúc của tôi đang ở ngay trước mặt! Bởi vì không có gì ngăn cản tôi đưa Katia về Ba-lê và cùng với nàng lập lại cuộc đời. Tôi quan sát vẻ nàng nhìn chăm chăm vào tôi, dường như nàng đoán được vấn đề đang được đặt ra cho lương tâm tôi, và tôi thấy cái nhìn ấy êm đềm nhòa nước mắt.

Liệu đây là tánh dễ xúc động của một người con gái hay chỉ là mưu kế của một người đàn bà, tôi vẫn còn tự hỏi và luôn luôn tự hỏi như vậy, bởi vì lúc chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau đây, một nét mặt khác, da phẳng lì, tóc nâu dịu dàng và đầy đam mê cùng một lúc, thình lình xuất hiện trong trí tôi. Đó là vẻ mặt của người mình tán tỉnh từ ngày niên thiếu và mới được phát giác rằng vẫn còn bền chặt bất kể thời gian vắng mặt do các biến cố dồn dập vừa qua. Tôi đã trông thấy nó, ít lúc trước khi bị bắt, tại Nice cùng với thân quyến, bởi vì Rachel vốn là Do-Thái, tuy nhiên theo lẽ thường, nàng hẳn chờ đợi tôi. Với tất cả tế nhị, tôi dùng vẻ đăm chiêu xa vắng nầy để giải thích với Katia tất cả những khó khăn và may rủi của một cuộc di cư về phía Tây, đủ thứ trách nhiệm. Tóm tắt, trước hết nàng phải trở về nhà, nhất là nhờ hòa bình gần kề, rồi nàng có thể đi du lịch ra nước ngoài, và như vậy không có gì ngăn cản nàng đến Ba-lê sau đó. Viễn cảnh lạc quan nầy dường như làm nàng yên tâm, Katia lau khô nước mắt vốn lại làm cho nàng hấp dẫn gấp bội và chúng tôi cùng nhau ở trong bóng tối lờ mờ hàng giờ để xây dựng các dự tính tương lai trong đó các cuộc viễn du chiếm chỗ quan trọng nhất.

Sau một đêm mơ mộng nhuốm màu buồn bã, vì chúng tôi biết sắp sửa phải chia tay nhau, những bố cáo mới được dán khắp nơi trong làng đã lôi kéo sự chú ý của chúng tôi. Giữa các thông cáo nhằm vào dân Đức, có một bản đã đề cập đến các biện pháp hồi hương những người ngoại quốc có mặt trong các vùng bị chiếm đóng. Thông cáo chỉ dẫn chúng tôi đến một thị trấn cách đó không xa, nơi Mỹ sẽ có cuộc phân loại những người ngoại quốc theo quốc tịch khác nhau. Thật lạ lùng, trong nỗi vui mừng được hồi hương, cố chen lấn một mối lo âu cho tương lai sắp đến. Từ tám năm qua, theo một chiều hướng nào đó, cả một cuộc phiêu lưu đã dứt bỏ tính cách đều đặn của đời sống thường nhật, nhưng bây giờ đây lại sắp bắt đầu lại tất cả trong đời sống dân sự, tất cả những năm tháng đó, bên lề xã hội, thật trở ngại!

Khi cùng với André trao đổi ý nghĩ về vấn đề nầy, tôi nói:

– Anh có biết tôi cảm thấy ra làm sao không? Bị nghiền nát, bị cán dẹp lép. Hình như đã có một chiếc máy cán lạ lùng làm biến đổi toàn diện con. người của tôi và tôi tự hỏi một ngày nào đó liệu tôi còn có thể cười được nữa không, cười như hồi trước chiến tranh.

Dẫu sao, trong mười ngày qua, đã có một cái gì cao cả và ngoại lệ; không tiền bạc, không căn cước, không cả y phục, buổi trưa ở trong thị trấn nầy, buổi tối trong một thị trấn khác, phiêu lưu như những hướng đạo tìm thú rong chơi, vì chúng tôi đã được cho ăn, ở, bởi tất cả thị xã, câu lạc bộ, quân y viện, chúng tôi biết tự do nầy rất hiếm có để làm những gì tốt cho mình mà không vì thế làm phiền người khác. Thời tiết quá đẹp, những cánh đồng lúa đầy bông vàng nặng trĩu và Katia, nàng muốn đưa tôi đến tận trung tâm hồi hương, đã làm cho tôi quên đi tất cả xấu xa của cõi đời.

Có lẽ rồi một ngày nào đó tất cả con người sẽ được biết thứ hạnh phúc thật sự nầy, hạnh phúc mà chúng tôi vừa thoáng thấy.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment