Một trời một biển

vietmessnenger.com

Nguyễn Tấn Hưng

Post by Sơn râu 24 Nov 2025

Phần 10.

Ngỗn ngang trăm mối

Sau hai ngày lênh đênh trên chiếc Tuần dương hạm Chí Linh HQ 11, Tần đã quay trở lại Nha Trang, trở về trường Hải quân, an toàn trên xa lộ. Qua chuyến hải trình này, chàng được dịp sinh hoạt và biết thêm phần nào đời sống của những người thật sự… tuần dương. Những người thật sự bồng bềnh, thi gan cùng sóng gió. Ôi, biển cả giờ đây ta mới biết, mộng hải hồ giết chết cuộc đời ta, hình như có rất nhiều quan tàu đã than thầm như vậy. Sau nhiều ngày trùng trùng mây nước, không thấy đâu là bến bờ. Lắc lư con tàu đi, đi mãi, dài người. Nhưng đối với Tần, không, mộng hải hồ vẫn còn bừng bừng sống mạnh trong tâm tư chàng. Ôi, những phút giây trời cao, biển rộng, sông dài rất là thi vị đó chàng vẫn hằng ấp ủ chờ mong! Hay chỉ là con cá trong lờ đỏ hoe con mắt, con cá ở ngoài ngúc ngoắc muốn vô đây? Chàng cũng đâu làm sao biết được!

Tần trễ phép cả tuần lễ hơn, nhưng không hề bị quan trên làm khó dễ. Lớp học vẫn đều đều tiếp tục như thường lệ, mặc dù khoảng hai mươi tên chưa về trình diện sau cái Tết máu lửa. Tết Mậu Thân! Hầu hết quê quán của những đứa không biết sống chết ra sao này đều nằm quanh quẩn trong vùng cố đô Huế, hoặc tuốt trong Nam, miệt Hậu Giang lục tỉnh. Những nơi có đánh lớn, có thí quân ngay trong thành phố. Có đốt nhà và giết dân lành…

Riêng ở thị xã Mỹ Tho của Tần thì về phía Việt cộng, cuộc “tổng tiến công” do chính tiểu đoàn 307 chủ động chớ ai vô đây! Ngược dòng lịch sử, ngay từ lúc mới thành lập trong thời chống Pháp, đâu vào khoảng năm 1947 ở Cao Lãnh thì phải, dưới sự chỉ huy của Ðỗ Huy Rừa, Nguyễn văn Tiên rồi đến Hồng Sơn (bí thư của Võ Nguyên Giáp) từ ngoài bắc đưa vô, tiểu đoàn khét tiếng Nam bộ này đã đụng nhiều trận ác liệt khắp các miền đồng bằng. Từ Mỹ Tho, Bến Tre qua Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu cho đến Cần Thơ, Long Xuyên, Châu Ðốc. Sau này, dưới chiêu bài xâm nhập quân chính qui từ miền Bắc, vùng hoạt động then chốt của tiểu đoàn này được thu gọn lại trong vùng mật khu Ðồng Tháp Mười và đặt dưới quyền chỉ huy của cái trung đoàn hữu danh vô thực: trung đoàn Ðồng Tháp. Cùng vùng phụ cận, tiếp giáp với mật khu gồm các quận Cai Lậy, Cái Bè, Sầm Giang, đổ qua Bến Tranh, Chợ Gạo… Ðặc biệt là tiểu đoàn 307 này, mặc dù đã bị quan quân sư đoàn 7 của quân lực VNCH giết chết tiệt không biết bao nhiêu lần, mà lần hồi cũng được bổ sung thành lập lại.

Với hàng chục chiếc xe tăng yểm trợ và sau khi đã lọc lựa tính toán cẩn thận, bọn Việt cộng đã lợi dụng thời điểm dân chúng đang cúng rước ông bà về nhà đón Xuân, đã âm thầm lặng lẽ chuyển quân trong đêm giao thừa tăm tối. Bằng hai ngả, cánh thứ nhất, từ vùng Vĩnh Kim, Xoài Hột băng qua Bình Ðức, Xóm Tre, Vòng Nhỏ để đánh vào mạn tây bắc thành phố thân yêu, nơi chôn nhau cắt rốn của Tần. Cánh thứ hai, từ miệt Bến Tranh vượt sông Bảo Ðịnh thọc mũi dùi vào khu Bến Xe Mới.

Ðêm 30 Tết đó trời bên ngoài tối om như mực, đưa bàn tay trước mặt chưa chắc đã thấy. Với muôn vì sao lấp lánh trên cao. Trời không gió không mưa, im lìm chìm sâu trong thăm thẳm, đen ngòm. Ngay lúc Tần cắm mấy cây nhang cúng giao thừa ngoài bàn thiên trước cửa, chàng bỗng nghe mấy tiếng súng “cắc, bùm” vọng lại từ hướng đồn. Chàng có hơi giựt mình, hết hồn. Vì sau nhiều tháng huấn luyện trong quân trường, bây giờ chàng có thể nhận biết dễ dàng sự khác biệt giữa tiếng súng canh khuya và tiếng pháo mừng vui. Tần còn sợ hơn nữa khi nhớ lại buổi xế trưa ngày đó, chàng trở về quê nhà với bộ quân phục còn thơm mùi vải trên mình. Ðể mẹ chàng phải vừa mừng, vừa la:

– Tần mới về đó hả con. Mẹ tổ mầy sao mầy ăn bận chi kỳ cục vậy? Ở nhà tao và bà con xóm giềng quanh đây đều nói mầy đi làm thầy giáo. Bị đổi tuốt ra ngoài miền Trung dạy học…

Tần không ngờ mẹ chàng quá lo lắng đến là như vậy. Ở đây, tuy là vùng xôi đậu nhưng tương đối cũng còn gần đồn bót. Sợ gì, chàng lại đùa với mẹ:

– Má thấy con oai hông? Giống nghĩa quân hay du kích, hả?

Rồi chàng ôm chầm lấy mẹ. Nhưng, mẹ chàng giục tới:

– Thôi, đi lẹ lẹ vô nhà đi con ơi, đừng đứng bẹo hình bẹo dạng ở đó nữa. Nhớ thay liền cho má bộ đồ bà ba, bận cho mát nghen con…

Bởi cứ nghĩ là ba ngày Tết, ai nấy bận lo vui chơi thì chẳng hề gì, nên Tần đã dám làm gan ngủ lại nhà, không xuống chợ ngủ nhờ nhà bạn như mọi khi. Không ngờ lại lâm vào tình trạng tấn thối lưỡng nan, đi không được mà ở cũng không xong. Hình như linh tính có điềm chẳng lành, qua mấy tiếng súng thinh không, mẹ chàng thúc hối anh chị em chàng và các cháu đi ngủ sớm. Nhưng mà ngủ làm sao được khi tiếp theo đó không mấy chốc, tiếng đạn bom, tiếng súng nhỏ, súng lớn nổ vang rền về phía thị xã. Hỏa châu thắp sáng đầy trời. Ðằng đồn Cầu Sắt cũng vậy, thỉnh thoảng phóng lên không trung một tia pháo thăng thiên, thả ra cánh dù tỏa rạng ánh hồng chói lọi. Như những nốt nhạc vút cao đệm theo ca khúc đêm đêm giấc ngủ chập chờn…

Chỉ trong một tối 30, với chiến thuật “a thần phù,” không biết đường tới mà cũng chẳng thuộc đường lui, tiểu đoàn 307 đã nhào vô nướng trọn láng bài, đứt chếnh, không còn manh giáp. Ðể đến nỗi phải đốt nhà dân, một hình thức chui vô ống đồng kiểu mới, mà thoát chạy lấy thân. Xác đồng bọn, hầu hết chưa quá tuổi vị thành niên, cùng xe tăng đại pháo, súng dài súng ngắn nằm ngổn ngang, rải rác dọc suốt lộ trình chém vè. Một lần nữa, thêm mấy trăm mạng đã đi vào cõi thiêu thân trong quân sử 307, nói riêng, quân sử Việt cộng, nói chung.

Sáng ngày, biết không thể chần chờ được nữa, Tần phải từ giã mẹ và anh chị em cùng các cháu ra đi ngay. Tối thiểu cũng phải lọt vào thành phố Mỹ Tho, trước khi tìm đường lên Sài Gòn. Ở lại vùng nửa nạc nửa mỡ này thêm một giây phút nào là nguy hiểm thêm một giây phút đó… Dúi vào tay Tần một mớ tiền, mẹ chàng rơm rớm nước mắt, dặn dò:

– Con đi cẩn thận nghen con. Tới nơi rồi nhớ viết thơ hay đánh giây thép về cho má hay để má khỏi trông!

Tần bâng khuâng chẳng thốt nên lời, tưởng chừng như mình lúc nào cũng thơ dại, bé bỏng trước mặt mẹ. Cũng vẫn xòe tay nhận tiền ăn quà, làm như lương sinh viên sĩ quan hải quân chẳng đủ đâu vào đâu! Mà thực sự cũng đúng như vậy, đối với những ai có cái tật hay sống đời ghi sổ câu lạc bộ, tiền lính tính liền ngay khi vừa mới phát. Chàng lẳng lặng nhảy lên xe Lam…

Gần đến chợ Vòng Nhỏ, từ xa, Tần đã thấy lớp lớp những cuộn kẽm gai tròn kéo ngang nửa lộ. Tạo thành một lối đi dích dắc hình chữ chi. Nhiều binh sĩ trong quân phục rằn ri, nón sắt phủ trùm kín đầu, tay súng tựa đế vào hông trong tư thế sẵn sàng đánh cận chiến, nhưng chỉ đang… kiểm soát khách bộ hành qua lại. Xe Lam không được phép chạy vào trong tỉnh lỵ, chỉ toàn người cuốc bộ hoặc đạp xe đạp. Phía sau, cạnh mấy chiếc thiết giáp, có vài chiếc Jeep của những vị sĩ quan chỉ huy. Tiếng máy truyền tin rè rè, gọi nhau ơi ới liên hồi. Tuy đang mặc đồ civil, Tần vẫn dễ dàng vượt qua vòng đai lộ thiên này vì có đầy đủ giấy tờ tùy thân. Chàng cảm thấy rất là an toàn khi lọt vào trong những vòng kẽm gai ngăn chận. Hú hồn, hú vía! Vì nhìn kia, về phía Chu vi đạo, Hàng Còng, Ðất thánh Tây…, những luồng khói đen vẫn cuồn cuộn bốc cao mịt trời. Và tiếng súng thỉnh thoảng vẫn còn tiếp tục nổ dòn tan như pháo Tết.

Tần tấp vào nhà Phát, thằng bạn thân đã cùng chàng và Hiếu ở dưới Hãng Xáng làm thành bộ ba. Căn nhà nằm sâu trong hẻm nhà bảo sanh cô tư Sâm. Chàng định rủ Phát xách xe Honda chạy một vòng quanh thành phố, xem nơi nào đã bị thiệt hại nặng nề và nơi nào còn đánh nhau. Luôn thể đi thăm bạn bè, coi đứa nào còn đứa nào mất. Nhất là tạt qua nhà Loan, cô học trò dạy kèm nhỏ bé của Tần, có đôi tay dài như vượn. Hồi hộp quá, chắc là nhà “em” đang… cháy, Tần nghĩ như thế!

Do duyên may dun rủi, thật rất tình cờ, Tần gặp lại Loan trong đêm chợ Tết ở khu chợ Hàng Bông. Với hàng hàng lớp lớp đông nghẹt người đi, dập dìu tài tử giai nhân, chen vai thích cánh không thua gì đường phố Lê Lợi, Nguyễn Huệ ở thủ đô. Bẵng đi mấy năm, kể từ ngày chàng lên Sài Gòn theo học Ðại học, bây giờ trông Loan khác lạ quá chừng. Nẩy nở quá chừng. Ngực, mông và gì gì như cũng lớn dần theo thời gian. Ðã vậy còn có đôi gò má hồng hồng muốn chồng thành dịch nữa. Nhờ có da có thịt hơn dạo nào mà đôi tay dài như vượn kia giờ như ngắn bớt. Tuy nhiên, chiếc áo dài học trò như vẫn muôn đời mang một màu trắng trinh nguyên. Chính Loan, đang đi chung với người chị, đã nhận ra Tần trước mới làm chàng thêm bối rối:

– Trời ơi, thầy. Thầy đi lính hồi nào vậy thầy?

– Ồ, Loan! Loan đây hả? Thôi mà,… thầy bà cái gì nữa! Tội quá, tôi kèm mấy cô có năm ba tháng mà thầy thầy cái gì! Giờ đi lính rồi thì phải kêu bằng… lính! Lính anh thôi chớ đừng kêu lính cậu, lính thầy! Bằng không cứ kêu anh là… anh Tần cho gọn. Rồi sao, cô Loan hiện giờ đang làm gì nào và mấy cô bạn của Loan dạo đó giờ đang sống ra sao?

Có lẽ Loan cũng hơi ngạc nhiên với lời nói có vẻ bông đùa, khơi khơi của ông… nửa thầy, nửa anh của mình đã không còn nghiêm nghị, đạo mạo như xưa. Nàng bẽn lẽn trả lời:

– Dạ, Loan vẫn còn đi học ở Lê Ngọc Hân, thầy…, ủa… anh. Chỉ có chị Tuyết đã lập gia đình, còn mấy đứa kia theo cha mẹ đổi đi các tỉnh khác hết trơn. Anh Tần có nhớ chị Tuyết không?

À, thì ra các nàng đã theo mẹ cha đổi đi tỉnh khác làm ăn chớ không phải theo chồng qua xứ khác làm dâu như lời mấy thằng bạn chàng đồn ẩu. Tần định nói bạt mạng là chàng “chỉ nhớ Loan thôi chớ đời nào nhớ Tuyết,” nhưng đã kịp dừng lại. Chàng giả lả:

– À, cái cô Tuyết mập mập, lùn lùn đó hả? Có chồng về xứ nào vậy?

– Dạ, chồng chỉ cũng là lính tiền đồn, đơn vị của ảnh vừa mới đổi ra miền Trung! Anh Tần cũng đang theo học ở ngoải, phải không?

– Sao Loan biết anh đang “trấn ải biên thùy” ở ngoài miền Trung?

– Thì Loan có nghe nói trường Hải quân đóng ở tại thành phố Nha Trang cơ mà.

– Sao Loan biết anh đi lính Hải quân?

– Chớ bộ đồ tiểu lễ anh đang mặc trên người đã không nói lên được điều gì à?

Ðến phiên Tần hơi ngạc nhiên vì xem ra Loan cũng hiểu qua màu áo, sắc phục của các thứ… lính. Có lẽ cô nàng đã quen biết tên nào trong Hải quân nên mới biết rõ ràng chu đáo đến là như vậy, Tần phân vân. Chàng hỏi tới:

– Chắc cạnh nhà Loan có anh chàng đi lính thủy?

– Ô, anh Tần đoán trúng đó! Ba má Loan đã dời nhà xuống bờ Giếng Nước trên, cách nhà chú tư Lam mấy căn. Nghe nói chú làm hạm trưởng tàu gì đó hổng biết.

Tần cảm thấy nhẹ nhõm:

– Thì ra vậy, hèn gì Loan rành lính thủy muốn… hơn cả anh Tần nữa.

Thấy không thể kéo dài cuộc đối thoại với Tần nhiều hơn, Loan kiếu từ:

– Thôi, Loan phải chạy theo chị Loan cho kịp. Hôm nào rảnh mời anh Tần đến nhà chơi. Dễ tìm lắm, hễ anh thấy ngôi nhà nào đằng trước có cây trứng cá to lớn nhứt vùng thì nhà đó là nhà Loan.

– Thiệt vậy hả?

Loan đi sụt lùi vài bước trước khi quay lưng. Biết không thể bỏ đám bạn nửa lính nửa học trò bụi đời của mình trong giây phút này, Tần định vẫy tay chào tạm biệt, nhưng bỗng nhớ ra một điều, chàng gọi lớn:

– Loan…

Loan đứng lại. Tần vụt tới, nói nhỏ vào tai:

– Anh Tần rất muốn đến nhà thăm Loan lắm, ngay ngày mai nếu muốn nói thật lòng. Nhưng, nếu lỡ anh bị bạn bè níu kéo, không ghé được thì Loan nhớ viết thư cho anh nghen. Chỉ đề tên anh và KBC 3317 là thư sẽ tới. KBC 3317, nhớ chưa… Thôi đi đi kẻo chị… em trông.

Tần không khỏi ngạc nhiên không hiểu sao mình nói tiếng “em” với Loan tự nhiên quá đỗi! Nàng gật đầu, khẽ chớp mắt rồi lẹ làng quay lui, như có ý muốn lẩn tránh đôi mắt tình tứ của Tần. Chàng nhìn theo dáng dấp của Loan khuất dần trong ngẩn ngơ, nuối tiếc. Có lẽ đến giờ phút này chàng mới nhận ra Loan đẹp. Người con gái nào vừa qua tuổi dậy thì cũng đẹp, nhưng ở Loan còn có thêm cái nét nhu mì, đằm thắm… Ðêm hôm đó, với Tần, lại là một đêm chập chờn trong giấc ngủ. Chập chờn vì hình bóng Loan, vì men say tình yêu đã đổ trút lên hồn chàng rất ư là bất chợt, chớ chẳng phải là vì men say của rượu trà, chè chén cùng với lũ bạn…

Rồi chỉ trong mấy hôm sau, ngôi nhà của Loan, quả đau đớn ngậm ngùi thay, đã… cháy. Cây trứng cá to lớn nhứt trong vùng, Tần chưa một lần nhìn thấy, cũng đã ra tro. Bãi chiến trường Tết Mậu Thân tội lỗi của tiểu đoàn 307 giờ đây chỉ còn là một bãi đất đen, trống trải, hoang vu đến rợn người. Với những bức tường đổ nát thành những đống gạch vụn. Với những cây cột nhà đã cháy thành than đứng chơ vơ ngó đất ngó trời. Trông như những cây nhang cắm trên một bát hương khổng lồ với nhiều cây đang ngún cháy, còn âm ỉ nghi ngút khói bay. Cùng những xác chết cong queo, đen đúa như những con heo quay quá lửa. Khét nghẹt một mùi. Ðen tối một màu. Bên cạnh những xác người không toàn thây dưới mương ao, cống rãnh đã bắt đầu sình chương, hôi hám… Tần không thể tưởng tượng nổi cái cảnh lâm nguy, sống chết, chống chỏi với tử thần, với máu lửa đạn bom của hàng chục ngàn người đang sống ấm êm trong khu vực đông đúc dân cư này. Trong đó có Loan và gia đình nàng, giờ chẳng biết ra sao… Tần thật sự băn khoan, lo lắng.

Sau năm lần bảy lượt ra bến xe, tìm phương tiện trở về thủ đô không thành tựu, Tần đành quá giang người anh bà con của Hiếu, một người lính Biệt động quân. Ðã lâu lắm rồi, Tần không hề đi xe Honda hoặc ngồi xích lô. Toàn là đi bộ hoặc đi taxi, theo đúng Hải quy… không chính thức, mà đàn anh đã dạy. Giờ, chễm chệ trên yên sau chiếc Honda, chàng cảm thấy lạ quá. Ðó là nói chuyện hai tay được đặt lên đùi ngay ngắn, lưng thẳng đứng đàng hoàng chớ không quàng eo ếch của ai… Dọc theo quốc lộ 4 từ Mỹ Tho lên Sài Gòn, Việt cộng đã phá đường ở nhiều nơi. Chỉ cần một hai lỗ mìn hoặc một vài mô đất đắp vội, bọn chúng đã thành công trong việc ngăn chận lưu thông. Lực lượng bạn vì đang bận truy lùng đám tàn quân của chiến dịch “a thần phù” cho nên việc duy trì giao thông trên các trục lộ đều giao khoán cho khách bộ hành tự lo liệu lấy. Rồi vì không có dụng cụ rà mìn trong tay, những người khách bộ hành đầu tiên chạm trán với chiến thuật “giựt cầu, phá đường”, đã nảy ra sáng kiến: mở bờ bao đi vòng xuống ruộng. Khách bộ hành phải cuốc bộ và Honda phải đẩy. Xe đò và xe Lam phải đậu ở hai đầu chờ hành khách như chó chực xương. Cũng may là ruộng đã gặt, đất đã khô, chớ nếu còn ngập nước như hồi lúa mới cấy thì chắc chỉ có nước phải dùng xuồng ba lá.

Ði từ hừng sáng mà mãi đến xế chiều mới đến Phú Lâm. Từ Phú Lâm vào Sài Gòn lại còn gian nan hơn nữa. Vì có rất nhiều trạm chận xét đặt ở các ngả đường chính. Vì còn đang đánh nhau với Việt cộng ở miệt quận Tám, cầu Nhị Thiên Ðường, chạy tuốt xuống Nhà Bè. Có thể nhìn thấy những đám cháy hoặc những cuộn khói bốc cao từ hướng đó. Tiếng súng, tiếng bom đạn xa gần vẫn vô tình thi nhau nổ thay cho tiếng pháo đầu xuân.

Rồi tàu bè cũng bị trưng dụng. Mấy lần Tần đến trình diện Bộ tư lệnh Hải quân, phòng chuyển vận, để tìm phương tiện đi Nha Trang nhưng vẫn cứ phải quay trở về. Cuối cùng, chàng bắt buộc phải quá giang theo tàu tuần dương…

Giờ, Tần ngồi đây, dựa vào gốc dương này mà thấy đường đời ngổn ngang trăm mối. Mới đó ở quê nhà và trong phút chốc có mặt ở quê người, thấp thoáng như cánh chim bay. Nơi quê nhà có Loan, nơi đây có Hiền và xa hơn ngoài kia, Qui Nhơn, có Phượng vẫn luôn luôn kiêu sa, đài các. Không hiểu sao từ hôm Tết đến nay Hiền chẳng vào thăm Tần đây chớ? Tần không đi ra phố được thì hiển nhiên Hiền phải vào thăm! Vì qua tin đồn, chàng biết rằng Nha Trang không có Việt cộng về thành trong mùa “tổng tiến công.” Chỉ có mấy ngày thiết quân luật, giới nghiêm 24 trên 24 mà thôi. Hay là Hiền đã bị kẹt ở Thành khi về quê ăn Tết với gia đình, Tần lại phân vân lo lắng!

Thay vì ngủ gục trong phòng tối, Tần có thói quen hay trốn giờ nghe Lab anh ngữ để ra phía sau này hút thuốc, ngắm mây. Phong cảnh nơi đây cũng rất thanh thản, yên bình. Nhiều cành dương che bóng nắng và tiếng gió thổi vi vu trên mấy tầng cao. Tần cắm điếu thuốc lên môi, bật lửa mồi, rồi rít một hơi dài, thả khói từ từ cho tâm thần khoan khoái. Chàng lục trong túi, tìm bức thư của Loan vừa mới gửi ra, đọc lại.

Mỹ Tho ngày…

Anh Tần thân mến,

Thật Loan không ngờ là mình còn có cơ hội gặp lại anh, người thầy quý mến của Loan. Cái gì thật tình cờ không sắp đặt trước thường vẫn hay làm lòng mình thêm vương vấn phải không anh?

Từ khi gia đình Loan thoát được cái chết trong đám cháy Mậu Thân, Loan cảm thấy buồn hơn bao giờ hết. Bỗng dưng mình trở thành người vô gia cư, không cửa không nhà, ăn nhờ ở đậu người ta. Bây giờ, cả nhà Loan phải tá túc ở nhà người quen, bạn của ba Loan. Ðây là ngôi nhà sàn cuối dãy trong khu nhà lá, cất cạnh bên bến phà Rạch Miễu. Chắc anh cũng hình dung hoặc đoán biết nó tồi tệ, xập xệ đến như thế nào rồi. Chiều chiều ra ngoài cầu ngồi giặt giũ, ngó mông ra bờ sông Cửu mà bên kia là cồn Thới Sơn xanh rì, Loan không giữ được những nỗi niềm bâng khuâng đang tràn ngập dâng lên trong lòng mình. Như có cái gì man mác buồn cho những mất mát, chia xa anh nhỉ?

Loan chẳng biết mình phải nương tựa vào đâu, tâm sự với ai bây giờ? Bỗng Loan nghĩ tới anh, nhớ lời anh dặn và nhớ luôn cả KBC 3317, cho nên Loan mới có đôi lời nhắn gửi đến anh qua trang giấy và những dòng chữ này đây. Mong anh không cho là Loan quá đường đột.

Ðể Loan kể anh nghe câu chuyện trong đêm 30 Tết. Lúc đó đâu cũng vừa đón giao thừa xong. Ðột nhiên có tiếng gõ cửa gấp rút ở nhà sau, chỗ trông ra con hẻm mới đắp dẫn về bót Số Tám. Ðồng thời có tiếng loa phóng thanh: “Yêu cầu đồng bào nhà nhà hãy mở cửa để đón nhận anh em bộ đội về tiếp thu thành phố và giải phóng đồng bào thoát khỏi ách đô hộ của đế quốc Mỹ.” Nghe mà phát rợn người. Thì ra Việt cộng đã lẻn vào thành phố và Loan cũng đã nghe tiếng súng ì đùng ở phía Nguyễn Tri Phương. Ba má Loan sợ quá không dám chường mặt, bảo Loan ra đối đáp, dặn phải nói là chủ nhà đã về quê ăn Tết hết rồi, chỉ còn mình Loan là người ở, ở lại giữ nhà. Loan nói y chang như vậy và may hồn là bọn chúng không hề bước lên nhà trên nên không phát giác ra là cả nhà đang trốn trong hầm trú ẩn. Mà thực ra bọn chúng cũng chẳng cần tìm đến người lớn làm gì, bọn chúng chỉ cần tìm lấy mấy tấm ván làm bia đỡ đạn. Một tên nhóc nói: “Nhà cô có mấy bộ ván và để ở đâu, chúng tôi cần ngay.” Loan trả lời liền, hai bộ và chỉ cho bọn họ đi lấy. Mèn ơi, chúng đem lên nóc bằng nhà của chú tư Lam đặng làm lô-cốt bắn máy bay. Mà thiệt, chẳng bao lâu thì máy bay tới, đủ mọi thứ, trực thăng cũng có và phóng pháo cơ cũng có. Ðạn dưới đất bắn lên, đạn trên máy bay bắn xuống tua tủa như một màng lưới sấm sét trong ánh hỏa châu sáng ngời. Rồi không mấy chốc, dân chúng trong vùng Ðất thánh Tây túa chạy ra, lớp chết, lớp bị thương máu me đầy đường. Ba Loan mở cửa trước hô hoán, bảo cả nhà phải tuôn ra chạy theo đoàn người lánh nạn, kẻo chết hết. Ổng đang mặc áo thung quần xà lỏn, bèn chụp thêm cái mền quấn ngang người rồi vụt băng ra đường. Má và bọn Loan cùng chạy theo. Của cải đành bỏ lại hết, trong đó có chiếc xe Honda 68 ba Loan mới còm măng về còn nằm trong thùng chưa khui. Trời ơi, thiệt là chỉ trong gang tấc, vì chỉ cần băng qua bờ giếng nước bên kia là an toàn. Thiên hạ tụ lại góc đường trước nhà bà già vợ ông Thiệu, quay về nhìn nhà mình đang làm mồi cho cơn lửa đỏ, trong phút chốc đã biến thành tro tàn. Ôi, sao mà não nùng thay cho cả đời người dành dụm… Nhưng, vẫn không gì quý hơn là mạng sống, và gia đình Loan kể ra cũng còn may mắn rất nhiều so với những gia đình khác, cho dù mỗi người giờ chỉ còn lại vỏn vẹn mỗi một bộ đồ dính thân đi nữa!

Anh Tần ơi, sao đất nước mình cứ mãi chiến tranh hoài vậy hả? Nhớ ngày nào mình còn nhỏ, ngày ngày chỉ biết rong chơi sau những buổi đến trường. Tâm hồn mình lúc đó vô tư, nhìn cái gì cũng nên thơ, cũng đẹp. Giờ lớn lên một chút, sao mỗi thứ một khác, anh có thấy như vậy không? Có thương yêu, thù hận với ai không? Loan không biết làm gì để quên đi những kỷ niệm đầy ắp bên ngôi nhà thân yêu ấy! Mà xui xẻo quá, anh chưa kịp một lần nhìn thấy ngôi nhà mới cất của Loan! Giờ đây, ba má Loan định che một cái chòi ở tạm trên nền nhà cũ, rồi tới đâu tính tới đó.

Thôi, không nên nói mãi cho anh nghe những chuyện đau buồn. Bao giờ anh có phép về thăm Mỹ Tho lần nữa? Bao giờ anh ra trường? Nhớ hồi âm cho Loan nghen, Loan trông thư anh lắm lắm. Cứ gửi theo địa chỉ người quen ghi ngoài phong bì thì Loan sẽ nhận được. À, nhớ đừng mê người đẹp Nha Trang mà bỏ quên cô học trò nhỏ bé của anh! Chúc anh mọi điều như ý!

Thân mến,

Võ thị Phương Loan.

Tần thở dài! Ðúng là đường đời ngổn ngang trăm mối! Với Tần, mới chỉ có hai ba mối thôi mà chàng đã cảm thấy lòng mình như cuộn tơ vò. Loan ơi, em nào có đường đột gì đâu! Chẳng qua, hãy tha thứ cho anh, chỉ vì bạn bè mà hình như anh đã vô tình, hững hờ với người thương bé bỏng. Anh nguyện sẽ đền bù cho em…


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment