This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Năm 1966, giữa lúc cuộc chiến Việt Nam đang ở thời kỳ ác liệt, một người đàn ông tóc muối tiêu, dáng cao to, ánh mắt lúc nào cũng như nửa đùa nửa thật, đáp xuống Sài Gòn. Đó là Robert Mitchum – tài tử lừng danh Hollywood, ngôi sao của những phim cao bồi và phim trinh thám như Out of the Past, The Night of the Hunter, và Cape Fear.
Lúc bấy giờ, Hollywood đang ở giai đoạn chuyển mình. Thập niên 1960 chứng kiến sự sụp đổ của hệ thống hãng phim cổ điển và sự nổi lên của những ngôi sao “bụi đời” hơn, phá bỏ hình ảnh sạch sẽ bóng bẩy của thời vàng son. Mitchum vốn đã mang tiếng “gai góc” – từng bị bắt vì hút cần sa, từng bị báo chí gán cho biệt danh “người đàn ông không cần đóng kịch”. Chính cái khí chất đó khiến việc ông đến Việt Nam càng gây tò mò: không biết ông sẽ nhìn cuộc chiến này ra sao?
Những cái bắt tay và vài câu nói ngắn ngủi, nhưng đủ để cho người lính trẻ cảm thấy mình được ở quê nhà nhớ tới.
Mới đặt chân xuống, Mitchum đã được đưa vào thủ đô Sài Gòn giữa lòng Đông Nam Á. Sài Gòn lúc bấy giờ vẫn còn những khách sạn cổ kính kiểu Pháp, đèn vàng ấm áp, quầy bar sang trọng, rượu vang ngoại nhập, và những bữa ăn phong cách Âu-Á kết hợp.
Mitchum gặp các sĩ quan cao cấp của Quân lực Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa, bắt tay, chụp hình, trao đổi xã giao.
Robert Mitchum và Tướng Westmoreland ở Việt Nam 1966 – nguồn Flickr
Nhưng sự xa hoa ấy chỉ là lớp sơn mỏng. Chẳng bao lâu sau, Mitchum được đưa tới các quân y viện – nơi thực tế phũ phàng hiện ra. Trước mắt ông là những chàng trai Mỹ vừa rời ghế nhà trường không lâu, giờ nằm bất động trên giường, có người mất một cánh tay, có người mất cả đôi chân, thậm chí có khuôn mặt bị đạn hoặc mảnh pháo thổi mất nửa bên.
*Mitchum ghé thăm một thương binh mất tay trong trận đánh ở miền Trung. “Cậu vẫn còn nguyên nụ cười, đó mới là điều quan trọng,” ông nói.
Ngoài bệnh viện, Mitchum còn được đưa về các làng quê. Ở đó, ông tận mắt thấy lính Mỹ và các đơn vị công binh xây trường học, lắp hệ thống thoát nước, đào giếng, dựng cầu. Mitchum vừa ấn tượng, vừa bực tức: “Sao mấy chuyện tốt đẹp này lại không được đưa lên bản tin ở quê nhà?”
Phần lớn thời gian hai tuần ở Việt Nam, Mitchum di chuyển bằng trực thăng và máy bay hạng nhẹ, từ trại lính này sang trại lính khác, băng qua rừng rậm phía bắc Sài Gòn. Ở mỗi điểm dừng, ông bắt tay, chụp hình, ký tặng, và nhận những mảnh giấy ghi số điện thoại kèm lời nhắn: “Khi về Mỹ, xin hãy gọi cho mẹ tôi.”
Mitchum trở về Mỹ với “90 triệu mảnh giấy” – cách ông đùa về cả đống số điện thoại. Và ông giữ lời. Ông gọi từng nhà, báo rằng người thân của họ vẫn khỏe.
Robert Mitchum ăn trưa cùng binh sĩ Hoa Kỳ ở Việt Nam 1966- nguồn Flickr
Có lần, khi thăm đơn vị Hải quân, thay vì về trực thăng ngay, Mitchum rủ họ đi uống. Họ vào một quán bar dã chiến dựng bằng vỏ đạn rỗng và tạp chí Playboy. Ông hỏi giá… rồi bao luôn cả quán, để lính uống miễn phí nhiều tháng.
Ảnh bìa báo Stars and Stripes đăng hình Mitchum ở Việt Nam gọi ông là “người bạn mới của đơn vị” – một danh hiệu chẳng liên quan gì tới Hollywood nhưng lại khiến ông tự hào.
Tháng 2 năm 1967, Mitchum trở lại Việt Nam lần nữa. Lại bệnh viện, lại làng quê, lại những mảnh giấy tin nhắn về nhà.
Báo Los Angeles Times viết “Mitchum không làm chính trị. Ông không hô khẩu hiệu. Ông chỉ xuất hiện, lắng nghe và giữ lời hứa.”
Tờ *Stars and Stripes* đăng hình ông ôm vai một binh nhì, kèm dòng chữ: “Ngôi sao điện ảnh – và là người bạn mới của đơn vị.”
Không phải ai cũng khen ngợi ông. Có người bảo ông bị lợi dụng làm tuyên truyền. Nhưng Mitchum chỉ đáp: “Mấy chú lính đó đâu cần tuyên truyền. Họ chỉ cần biết ở nhà có người nhớ tới họ.”
Và trong ký ức của những cựu chiến binh Hoa Kỳ, Robert Mitchum không chỉ là tài tử Hollywood, mà còn là người đàn ông từng xuất hiện giữa rừng, để nói một câu rất giản dị: “Tôi sẽ nhắn với mẹ anh là anh vẫn khỏe.”
Bàn góp với người hiểu việc về chuyện dự định xây cầu Mỹ Thuận.
Tôi viết bài nầy và gời cho Tuần Báo Vũng Tàu Chủ Nhựt, tự xét là xía vào một việc không liên quan đến mình, gần như hà rứa, tôi chưa là kỹ sư cầu cống mà dám bàn việc chuyên môn, cũng không phải ở trong Nhà Nước mà xen vào việc thuộc về chánh trị, duy lấy theo tuổi già 92 có chút kinh nghiệm thừa, vả lại biết mà không nói cũng có tội với lương tâm, vậy tôi cứ nói, lời nói được dùng tôi cũng chưa mừng, bằng cho vào sọt rác, thì tôi lại ưng ý, tội già hàm không biết thân, còn gánh bàn độc mướn.
Tôi đã theo dõi tờ 16-6, (khen cho hai cô nhỏ hái dâu xanh có răng tuyệt đẹp) có bài “Lừa đảo trên các bến phà Miền Tây” và tờ 20-6 (với số tiền mua 1700 đồng mà được ngắm nhìn vóc dáng màu da, nước xanh biển mát), trong tờ nầy, có bài nói về “Cầu Mỹ Thuận”. Nhắc lại việc cũ ít người biết, tôi xin tóm tắt lại đây những gì tôi biết về cầu bắc qua sông lớn Miền Nam đồ về Miền Tây, thì có hai cầu: một là cầu Mỹ Thuận, hai là cầu Cái Vồn. Địa danh Mỹ Thuận, nghe được nên còn, trái lại hai chữ “Cái Vồn” nghe kì kì, nên đã xếp vào chuyện cũ. Tôi xin ngứa miệng cãi bướng: trước kia, dường như có “Ta Von”, hai chữ Ta Von, tôi chưa dám chắc là đúng, nhưng tôi hiểu theo tôi “Ta” là “Nắc tà”, ông tà A Rắc của người Thổ và “Von” là tên độc của Neak-ta ấy, và khi phiên âm ra làm “Cái Vồn”, vẫn không nghe tục vì quen miệng quen tai từ lâu … nay bỏ việc từ ngữ, xin kể sơ, khi tôi còn làm thơ ký “đứng bàn ông chánh” tại Cần Thơ, tức làm viên thông ngôn cho quan tham biện chủ tỉnh tại tỉnh Cần Thơ ấy, khoảng những năm 1932 đến 1935, tôi có được dự nhiều kỳ hội nghị về việc xây cầu vĩnh viễn thay cho chiếc phà Cái Vồn, tôi nhớ có một hãng Pháp ở bên Tây, qua đây và đề nghị xin cho hãng ấy bắc qua Cái Vồn: một chiếc cầu nổi (pont flottant) ghép bằng nhiều chiếc tàu nối liền nhau và chở xe và bộ hành qua lại sông Hậu (Bassac), khi có tàu thuyền xin đi, thì tháo ráp dễ dàng, v.v ..và giao kết hãng thâu tiền và sẽ giao chiếc cầu nổi ấy cho Nhà Nước 20 (hai chục) năm sau. Vấn đề “cầu nổi” ấy bị nghị viên Pháp, tên Labaste, lấy danh là Hội đồng Quản hạt (member du Conseil Colonial) thắng tay bác bỏ, viện cớ là hãng ấy chỉ “ư trung thủ lợi”, chớ hai chục năm sau, giao trả cho Nhà Nước thuộc địa, thì tàu bè đã hư nát vô dụng rồi. Nay bàn về vấn đề xây cầu Mỹ Thuận, tôi nhớ người Mỹ đã có dự định và đã dọn đắp hai dốc đất dọn sẵn sẽ xây cầu thật cao bằng bê tông cốt sắt, nhưng vấn đề nầy bị trở ngại và bỏ dở, bất thành, uồng quá, vì có một nước lân bang làm khó, đòi phải xây cầu cao hơn nữa để cho tàu khói qua lại trên Sông Lớn khỏi chờ đợi mở cầu, v.v .. và v.v .. Tôi biết bao nhiêu thì nói bấy nhiêu. Riêng xét, và bàn thừa hai việc:
1. Xây cầu vĩnh viễn, cơm tiền bao nhiêu tỷ USA cho đủ. Nước nhà đang eo hẹp tài chánh, cầu xây nếu bị một trái bom đủ cầu hóa ra hết xài, lại nữa Tiền Giang và Hậu Giang là hai con rồng, thường hay đổi giòng nước chảy, một khi đổi giòng là cầu nọ vô sở dụng, chi bằng thay vì xây cầu cho tốn kém, già nầy đề nghị nên “liệu cơm gắp mắm”, hãy tạm mở thêm nhiều bến bắc (bến phà) tức xây thêm, vừa ở Mỹ Thuận, vừa ở Cái Vồn (Cần Thơ), xây thêm nhiều bến, càng nhiều càng hay, mặc cho xe và vận tải hạng nặng và bộ hành đi bộ qua lại hai sông dễ dàng, dẫu chờ đợi chút ít cũng chưa sao, Nhà Nước có lợi là thâu tiền đò, người dân có lợi, nghèo như giàu đều cùng chung cộng hưởng ích lợi chung, vả lại giữ lại các bến “bac” như cũ, thì dân bán quán có chỗ sanh nhai, chớ theo tôi, nếu xây được chiếc cầu vĩ đại Mỹ Thuận thì dân Hậu Giang, muốn về Cà Mau (Minh Hải), lại cũng còn một chiếc bắc Cái Vồn (Cần Thơ) … còn như tôi là quê ở Sốc Trăng, tôi chỉ cần một phen nằm trong sáu miếng ván, có xe chở qua cầu qua “bac” một lần chót nữa thôi, tôi cóc cần cầu nầy cầu nọ.
2. Việc thứ 2, quả là dư thừa, khi cầu bê tông xây xong, thì quán cơm, quán cà phê cà pháo phải bơ mỏ, dẹp tiệm và Sida, si điếc sẽ dời theo bến theo cảng xe đò xe đậu. Một việc thứ 3 viết thêm, là hắn là chọc giận không nhằm lối, nhưng vẫn cứ nói, là tiếng của chúng tôi xin để lại chúng tôi, nhứt chứ không “nhất” và “núi Châu Thới” chớ không phải Chu Thái Sơn đâu? Người lớn với nhau, chọc tức chơi cho đỡ buồn và xin đừng giận.
Từ giã nơi ngục tù – Chuyến vượt ngục của “dân Tầu” Tôi xuống tàu sau cùng và nhờ Sô-cô-la đẩy, chiếc tàu tiến về phía sông. Không có giầm, chỉ có hai mái chèo tốt, một do Quých chèo phía trước, một tôi chèo phía sau. Chưa tới hai giờ sau, chúng tôi ra đến sông. Mưa đã hơn một giờ. Tôi lấy một bao bột mì để che mưa. Quých-Quých và anh cụt cũng làm như vậy, nước sông chảy siết và xoáy nhiều. Nhờ nước rút, ba giờ sau, chúng tôi đã đi ngang hai cây đèn pha. Tôi biết là đã gần ra đến biển vì hai cây đèn pha này ở mỏm ngoài cửa sông. Chúng tôi kéo buồm chính và buồm mũi, chúng tôi đã đi qua Kourou mà không gặp trở ngại gì Gió thổi phía bên trái mạnh đến nỗi tôi buộc phải buông buồm cho gió trượt đi. Tàu chúng tôi lao mạnh ra biển như một mũi tên, chúng tôi lọt qua cửa lạch và rời khỏi bờ rất nhanh. Trước mặt chúng tôi, cây đèn pha của đảo Royale đã chỉ đường cho chúng tôi. Mười ba ngày trước tôi còn ở phía sau cây đèn ấy, ở Đảo Quỷ. Chuyến ra khơi vào lúc ban đêm, việc mau chóng rời khỏi Đất liền không được hai bạn Tàu của tôi ăn mừng nổ trời. Những tay con trời này không quen lối bộc lộ tình cảm như chúng ta. Ra đến biển rồi, Quých-Quých chỉ bình thản nói: – Chúng ta đã đi ra được, rất tốt. Anh cụt nói thêm: – Phải, chúng ta đã ra đến biển mà không gặp một khó khăn nào. – Tôi khát quá, anh Quých-Quých, cho tôi xin một ít rượu. Sau khi đưa tôi uống, cả hai cũng uống một chầu rượu rhum. Tôi đi không có la bàn, nhưng trong chuyến vượt ngục đầu tiên, tôi đã học cách định hướng căn cứ vào mặt trời, trăng, sao và gió. Và tôi không ngần ngại lao ra biển khơi, cột buồm hướng về sao Hôm. Tàu rất tốt nó vượt sóng một cách dịu dàng và hầu như không bị tròng trành. Gió thổi rất dữ, buổi sớm chúng tôi đã ở rất xa bờ và các đảo Salut. Nếu không phải là làm liều, tôi đã hướng cho tàu chạy xích gần đảo Quỷ để từ ngoài khơi, vừa thoải mái ngắm vừa vượt qua nó. Ròng rã sáu ngày, biển luôn có sóng lừng nhưng không mưa và không có giông bão. Gió rất mạnh đã đẩy chúng tôi đi rất nhanh về hướng tây. Quých-Quých và Vân Huê là những bạn đường tuyệt vời. Cả hai không lúc nào phàn nàn về trời xấu, về nắng, về đêm lạnh. Chỉ có điều là không anh nào muốn cầm lái và coi tàu lấy vài giờ để tôi được ngủ. Hàng ngày họ nấu bếp đến ba bốn lần. Có bao nhiêu gà chúng tôi đã ăn hết trơn. Hôm qua, tôi nói đùa với Quých-Quých. – Bây giờ chúng ta ăn con heo chứ? Anh ta đau khổ thực sự. – Con vật này là bạn tôi và trước khi ăn thịt nó phải giết tôi đã. Các bạn tôi cũng săn sóc đến tôi. Họ không hút thuốc để tôi muốn hút bao nhiêu thì hút. Lúc nào cũng có trà nóng. Họ làm tất cả mà không cần phải bảo. Chúng tôi ra đi đã được bảy ngày. Tôi không chịu đựng nổi nữa. Nắng gay gắt đến nỗi cả hai anh bạn Tàu của tôi cũng bị luộc chín như tôm. Tôi phải ngủ. Tôi buộc lái lại và chỉ căng một chút buồm. Tàu cứ đi theo hướng gió thổi. Tôi ngủ say như chết gần ba giờ. Tôi giật mình tỉnh dậy do bị xô mạnh. Khi rửa mặt tôi ngạc nhiên và vui vẻ thấy là trong lúc tôi ngủ anh bạn Quých đã cạo râu cho tôi mà tôi không biết. Mặt tôi cũng được anh bôi dầu.
Từ chiều qua tôi lái qua hướng Tây Nam vì tôi cảm thấy đi quá xa về hướng Bắc. Tàu nặng nên có cái lợi là nó không dễ bị trệch hướng. Do đó, tôi thấy nó đi quá về hướng Bắe thật ra có lẽ là không đúng. Kìa, có chiếc khinh khí cầu! Đây là lần đầu tiên trên đời, tôi được trông thấy nó. Nó không có vẻ đang bay về phía chúng tôi, và nó ở quá xa, khó ước lượng được kích thước của nó. Ánh nắng phản chiếu trên lớp nhôm làm nó ánh lên màu bạch kim và chói đến nỗi mắt không nhìn thẳng vào đấy được. Nó bỗng đổi hướng, hình như bay về phía chúng tôi. Quả vậy, nó to dần rất mau, và chỉ hai mươi phút sau, nó đã ở trên dầu chúng tôi. Quých và anh cụt vô cùng ngạc nhiên khi thấy chiếc khinh khí cầu, cứ nói huyên thuyên với nhau bằng tiếng Tàu. – Các anh nói bằng tiếng Pháp để tôi nghe mấy chứ. – Khí cầu của Anh – Quých nói. – Không, đấy không phải là khí cầu tròn mà là một chiếc dirigeable: loại khí cầu này có thể điều khiển như máy bay. Chiếc khí cầu rất to, bây giờ chúng tôi đã thấy được rát rõ vì nó hạ thấp và lượn trên đầu chúng tôi thành những vòng nhỏ. Có những lá cờ nhỏ được đưa ra phát tín hiệu. Chúng tôi không hiểu gì nên không trả lời. Khí cầu vẫn ra hiệu và đến gần chúng tôi hơn, chúng tôi thấy được cả người trong khoang tàu. Rồi nó bay về phía đất liền. Một giờ sau một chiếc phi cơ bay tới và lượn nhiều lần trên đầu chúng tôi. Bỗng nhiên biển nổi sóng dữ hơn, gió cũng mạnh hơn. Chân trời bốn phía đều quang và không thể có mưa. Trông kia, anh cụt nói. – ở đâu? – Đằng kia, hướng này, có thể là đất liền ở phía ấy. Điểm đen kia, là một chiếc tàu. – Sao anh biết? – Tôi đoán vậy, tôi còn cho đấy là một tàu khu trục. – Vì sao? – Vì nó không có khói. Đúng vậy, một giờ sau chúng tôi thấy rõ một chiếc tàu chiến màu xám, có vẻ đến thẳng tàu chúng tôi. Nó lớn dần: chắc nó phải đi nhanh ghê gớm, mũi tàu hướng về chúng tôi, tôi sợ nó đi sát chúng tôi quá, sẽ rất nguy hiểm vì biển động và vệt sóng của nó ngược với sóng biển có thể làm tàu chúng tôi bị đắm. Đó là một tàu phóng ngư lôi loại nhỏ, khi nó lượn quanh nửa vòng phơi cả về ngang thân tàu chúng tôi đọc được tên tàu là Tarpon. Chiếc tàu nặng, treo cờ Anh phấp phới ở mũi tàu, đã lượn vòng và từ phía sau chầm chậm đến gần chúng tôi. Nó thận trọng đi sóng đôi, cùng tốc độ với tàu chúng tôi. Một phần lớn thủy thủ đoàn ở trên boong mặc quần áo màu xanh của Hải quân Anh. Từ đài chỉ huy, một sĩ quan mặc đồ trắng nói qua chiếc loa. – Stop You – Stop. – Quých, hạ buồm xuống ngay. Hai phút sau buồm chính, buồm foc và buồm mũi đã được hạ xuống. Không có buồm, tàu gần như dừng hẳn lại, chỉ có sóng xô tàu quay ngang. Tôi thấy không thể để lâu như vậy, vì sẽ nguy hiểm lắm. Một chiếc tàu mà không có xung lượng riêng của mình do động cơ hay do gió, không thể giữ được đúng hướng. Đưa hai tay lên miệng làm loa, tôi kêu to: – Các ông có người nói được tiếng Pháp không hả thuyền trưởng Một sĩ quan khác cầm lấy chiếc loa trên tay viên sĩ quan trước. – Có tôi nói được tiếng Pháp. – Các ông muốn gì? – Lên tàu của các anh. – Không được, nguy hiểm lắm, tôi không muốn các ông đâm hỏng tàu của tôi. – Chúng tôi là tàu chiến đi kiểm tra biển, các anh phải tuân lệnh.
– Tôi không cần biết, vì chúng tôi không đi đánh nhau. – Các anh không phải là những người sống sót của cái tàu bị bắn chìm? – Không chúng tôi là những tù vượt ngục từ một trại giam tù khổ sai của Pháp. Trại giam tù khổ sai là cái gì, trại khổ sai nghĩa là gì? – Nhà tù, tù nhân, tiếng Anh là Convict Hard labour. – à, tôi hiểu rồi. ở Cayenne hả? – Phải, ở Cayenne. – Các anh đi đâu? – Sang Honduras thuộc Anh. Không được, các anh phải theo hướng Tây Nam và đi về thành phố George. Đây là lệnh, các anh phải theo. – Được? Tôi bảo Quých kéo buồm lên và chúng tôi đi về hướng mà chiếc tàu phóng ngư lôi đã chỉ cho chúng tôi Chúng tôi nghe có tiếng động cơ ở phía sau. Đấy là một chiếc xuồng máy được tách khỏi tàu chiến. Nó đuổi kịp chúng tôi ngay. Một thủy thủ, súng đeo chéo qua vai, đứng ở mũi xuồng. Nó đến từ phía bên phải và đi sát kề bên chúng tôi mà không dừng lại, cũng không bắt chúng tôi dừng lại. Người thủy thủ nhảy phóc sang tàu chúng tôi. Chiếc xuồng tiếp tục đi trở về với chiếc tàu chiến. – Good afternoon! – người thủy thủ nói. Anh ta đi về phía tôi, ngồi xuống cạnh tôi rồi đặt tay lên cần lái và hướng tàu về phía Nam, chếch nhiều hơn so với hướng tôi đi. Tôi để cho anh ta lái, và quan sát cách làm của anh. Anh lái rất giỏi, không có gì phải nghi ngờ. Tuy thế, tôi vẫn ngồi tại chỗ của tôi. Biết thế nào được. – Thuốc lá? Anh lấy ra ba bao thuốc lá Anh và đưa cho chúng tôi mỗi người một bao. – Trời ơi! – Quých nói, họ vừa đưa thuốc lá cho anh này đúng lúc anh xuống xuồng, vì chắc anh ta không phải lúc nào cũng mang ba bao thuốc lá trong người. Tôi cười về lời nhận xét của Quých, rồi tôi lại chú ý đến người thủy thủ Anh: anh ta biết lái tàu giỏi hơn tôi. Tôi có đủ thì giờ để suy nghĩ. Lần này, việc vượt ngục đã thành công hoàn toàn, tôi đã là một người tự do, thật sự tự do. Cổ tôi nóng ran, tôi cảm thấy nước mắt trào ra. Thật vậy, tôi đã dứt khoát được tự do vì từ khi có chiến tranh, không nước nào trả tù vượt ngục về nơi cũ.
Trước khi chiến tranh chấm dứt, tôi có đủ thì giờ để được đánh giá tốt và bất cứ nước nào mà tôi định cư cũng sẽ hiểu rõ tôi. Điều bất lợi duy nhất là, do chiến tranh, có lẽ tôi không được lựa chọn nước tôi muốn ở lại. Cũng không sao, ở bất cứ nơi nào tôi sống, tôi cũng sẽ mau chóng làm sao để được dân và các nhà cầm quyền ở đấy quý mến và tin cậy, cách sống của tôi sẽ không ai chê trách vào đâu được. Hơn thế, cách sống ấy phải là gương mẫu nữa. Cảm giác an toàn là cuối cùng tôi đã chiến thắng được con đường thối rữa làm tôi không còn nghĩ đến việc gì khác Papillon, thế là cuối cùng, mày đã được cuộc Sau chín năm, mày đã toàn thắng. Cảm ơn Chúa lòng lành, có thể người đã làm như vậy trừ trước, nhưng con đường người vạch ra rất bí ẩn, con không oán trách người vì nhờ người giúp đỡ, con vẫn còn trẻ, còn lành mạnh và tự do. Chính lúc đang nghĩ tới con đường mà tôi đã vượt qua trong chín năm bị tù đày khổ sai cộng với hai năm tù ở Pháp tổng cộng là mười một năm là lúc tôi đã trông theo tay người thủy thủ đang chỉ và nói với tôi: – Đất liền kia kìa. Hồi mười sáu giờ, sau khi đi ngang một ngọn đèn biển đã tắt, chúng tôi vào một con sông lớn. Sông Demerara. Chiếc xuồng lại xuất hiện, người lính thủy trả tay lái cho tôi và ra phía trước. Anh ta bắt một cuộn thừng to được ném tới và buộc vào ghế băng phía trước. Chính tay anh đã hạ buồm và chèo xuồng nhẹ nhàng kéo chúng tôi khoảng hai mươi kilômét ngược giòng con sông nước vàng vàng này, theo sau độ hai trăm mét là chiếc tàu phóng ngư lôi. Sau một khúc quanh, một thành phố lớn hiện ra, người lính thủy Anh reo to: “Đến thành phố George rồi”. Đúng là chúng tôi đã đến thủ đô của nước Guyane thuộc Anh, do chiếc xuồng kéo. Có rất nhiều tàu chở hàng, thuyền máy và tàu chiến. Có nhiều đại bác đặt trong các tàu chiến cũng như trên đất liền. Chiến tranh là như thế. Chiến tranh nổ ra đã hai năm rồi mà tôi không hay biết gì. Thành phố George, thủ đô của Guyane thuộc Anh, cảng quan trọng trên sông Demerara, ở trong tình trạng có chiến tranh một trăm phần trăm. Cái cảnh một thành phố được vũ trang làm tôi thấy buồn cười. Chúng tôi vừa ghé sát một cầu tàu quân sự thì chiếc tàu phóng ngư lôi đi theo chúng tôi cũng từ từ ghé tới và cặp bến. Quých với con heo, Huê với cái bọc nhỏ trong tay và tôi tay không, chúng tôi lên bến. Không có một người dân nào trên cầu tàu dành cho Hải quân này. Chỉ có lính thủy và quân nhân. Một viên sĩ quan đi tới. Tôi nhận ra ông ta. Ông là người nói tiếng Pháp với tôi từ trên tàu phóng ngư lôi ông ta tử tế chìa tay cho tôi và nói với tôi: – Anh có khỏe không? – Thưa thuyền trưởng khỏe – Tốt. Dù sao anh cũng phải qua y tế để chích ngừa vài mũi. Cả hai bạn của anh nữa.
Cái “cực điểm của sự nhọc mệt của chúng tôi” mà ông vua hề Charlot đã từng nói đến, có thể kéo dài hàng tháng, và mỗi ngày, với từ 40 đến 50 người chết, dài như một thế kỷ. Với nhịp độ nầy, tất cả tù nhân trong trại tập trung đều phải đi qua lò thiêu xác trước khi Đồng Minh đến. Thật nhọc nhằn khi thấy bạn bè ra đi vĩnh viễn và trông thấy cái chết càng ngày càng đến gần với mình. Và khi André báo cho chúng tôi biết rằng cuộc tấn công quyết định của Eisenhower đã mở màn và thành công ngay từ đầu bằng cách vượt qua sông Rhin, và các địa danh như Dusseldorf, Cologne sau cùng đã phải xuất hiện trong các thông cáo, nỗi vui mừng vô hạn của chúng tôi đã làm giảm bớt nỗi u sầu khi biết Barberon đang hấp hối và ít có may mắn nào có thể giữ mạng sống của anh. Lòng tận tụy của một bác sĩ có quen biết anh trong đời sống dân sự đã tỏ ra vô hiệu lực trong việc chống lại với sức mạnh của cơn bệnh, vì ở đó chẳng có tí thuốc men nào trong tay. Vừa thoát được cơn đau phổi, thì bệnh phù thũng và kiết lỵ đã hợp sức kết liễu đời anh. Tất cả những lời ta thán đến không giúp ích được gì. Trong khi quân Đồng Minh vượt qua Francfort, người bạn thân tình của chúng tôi ra đi trong cảnh mây mù xám ngắt giăng khắp bầu trời, trong một ngày mà thân xác anh sẽ biến thành làn khói xanh sau vài phút.
Đúng lúc quân Hoa Kỳ tiến nhanh, nhiều tin đồn kỳ lạ đã lan truyền trong trại: những người sống sót sẽ bị kết liễu bằng súng máy hoặc đưa bằng xe vận tải đến Buchenwald để cho vào lò hơi ngạt. Thật hay giả, chúng tôi cũng không nên để cho bị ảnh hưởng bởi các tin đồn đó, và phải chuẩn bị cho lúc quân đội Đồng Minh đến. Khi người ta bắt đầu nói đến “đoàn quân tiến về Kassel”, một địa điểm cách Ellrich 100 cây số, chúng tôi kiểm điểm lại lần chót các phương tiện để thi hành một kế hoạch mà chúng tôi đã quyết định trong khung cảnh một ủy ban quốc tế. Thanh toán trọn tất cả bọn tù nắm giữ các nhiệm vụ cai quản tù binh trong trại cũng như những tên điểm chỉ viên bị phát giác tại các khối, và bắt giữ để đưa ra trước tòa án, tất cả bọn làm việc tại bệnh xá và các văn phòng. Tất cả các hành động nầy phải được làm trước khi quân Đồng Minh đến để đặt họ trước sự đã rồi, và ngăn chặn mọi âm mưu và mọi ý định săng-ta vào một lúc mà nỗi vui mừng và cảm động sẽ lên đến cực điểm. Chúng tôi gồm có bảy người đã chuẩn bị và quyết định cuộc nổi loạn nho nhỏ nầy. Ba người Pháp (Marcel, André và tôi) đã có ý kiến tiên khởi về hành động đó, Alex đại diện cho tù nhân Tiệp Khắc, viên thư ký của Thị trưởng Anvers đại diện cho nhóm tù Bỉ, một tù nhân chính trị Ba Lan mà không hiểu sao André đã khám phá được, vì họ rất hiếm có, và sau cùng Sachka. Lẽ tự nhiên chính Sachka sẽ cung cấp lực lượng chiến đấu để thực hiện kế hoạch. Trong mỗi khối một nhóm tù nhân Nga, được hỗ trợ bởi các tù khác nhau trong phạm vi có thể được, phải sẵn sàng thi hành mệnh lệnh của chúng tôi.
Vũ khí – gồm có dao được chế tạo lén lút trong các cơ xưởng tại công trường – phải sẵn sàng để thực hiện một vụ Saint-Barthélemy mới. Để tránh tình trạng rắn không đầu, một nhóm được đặc biệt chỉ định để đến giờ H… đến chiếm ngay nhà bếp, và Marcel, biết Anh ngữ sẽ nhân danh chúng tôi trình bày tình hình cho viên sĩ quan Đồng Minh đầu tiên xuất hiện. Tất cả bộ máy của chúng tôi được âm mưu trong phòng tắm, trong một góc biệt lập của tòa nhà, hay trong một khối có thể cho phép chúng tôi tụ họp mà không bị bắt gặp. Lẽ tất nhiên là không bao giờ chúng tôi tụ họp cả bẩy người với nhau cùng một lúc, mỗi người được thông báo tin tức và quyết định, và đến lượt người đó báo cho các người dưới quyền rõ. Chúng tôi phải luôn luôn đề phòng, bởi vì tin tức về các biến chuyển đã không làm cho các chủ nhân ông của chúng tôi khá hơn. Dẫu cho là quân sự hay dân sự, chúng đều hy vọng nơi một phép lạ. Riêng bọn SS, chúng xấu xa hơn bao giờ hết. Cuộc bại trận thật sự đã nghiêng ví phía chúng, và mỗi tù nhân còn sống sót là thêm một nhân chứng cho tội ác của chúng. Vậy thì chúng tôi chỉ được đảm bảo có một nửa, khi nghĩ đến các ngày cuối cùng.
Chúng tôi có nhiều lý lẽ để nghi ngờ. Một hôm, khi có dấu hiệu cho thấy quân Đồng Minh đã đến gần Kassel, chúng tôi đã chứng kiến ngay giữa công trường, lúc tập họp, một vụ hành hình bằng cách treo cổ bốn người. Vụ hành hình nầy đã xảy ra vào lúc cuối ngày, công việc trong ngày chấm dứt, chúng tôi được sắp đứng thành hình vuông chung quanh một cột gia hình. Một đám sĩ quan và lính võ trang cùng mình được điều động từ Dora đến để tăng thêm phần quan trọng cho cuộc hành quyết và để tránh các cuộc lộn xộn có thể xảy ra. Khốn thay, chúng tôi biết rằng mình hoàn toàn bất lực. Các tử tội, bốn thanh niên Nga, một khúc cây chêm ngang miệng, tay bị trói, đứng trước cột gia hình vài thước. Một trong các tên sĩ quan đọc bản án và đối với một số ít tù nhân, người ta có cảm tưởng như đang ở vào năm 1941, vào thời đại cực thịnh của sự đại thắng của Đức Quốc Xã.
– Vô phước cho những kẻ dám phá hoại công việc của Đại Đức Quốc. Bốn tên ăn cướp đứng trước các anh đã phạm tội đó, chúng sẽ bị treo cổ, và chúng tôi cũng sẽ treo cổ những kẻ nào bàn luận về “politik” (chánh trị). Chúng tôi nắm trong tay hàng trăm hàng ngàn tội phạm như các anh, và chúng tôi có thể treo cổ bất kỳ là bao nhiêu nếu xét ra cần thiết để duy trì trật tự Quốc Xã.
Bốn tên ăn cướp chỉ là bốn chú bé. Bị bắt đứng nghiêm và đi đều bước cho đến chiếc ghế dài đặt dưới các thòng lọng, đúng hơn là các sợi dây nhỏ. Đúng lúc một tên SS quàng thòng lọng vào cổ tù tội, họ bật khóc, những tiếng khóc của trẻ con, nhưng một hoặc hai giây trước khi chiếc ghế dài không còn đưới chân nữa, họ la lớn lời tung hô tổ quốc, để chứng tỏ với đồng bọn là họ đã chết như chiến sĩ.
Tôi cùng với André đứng ngay hàng đầu. Cuộc hành quyết kéo dài nhiều phút, trong thời gian đó những thân hình yếu đuối dãy dụa chỉ cách mặt đất độ ba mươi phân. Chúng tôi được báo trước là cấm giở nón và không được bày tỏ tình cảm dưới bất cứ hình thức nào. Súng tiểu liên chĩa về phía chúng tôi sẵn sàng làm chúng tôi hối tiếc vì các cử chỉ do trái tim hướng dẫn thay vì lý trí. Sau đó chúng tôi phải diễn hành đến gần cột treo cổ và nhìn vào mặt các tử tội. Không phải là một cuộc đi hành đưa đám tang trong không khí tôn nghiêm, mà là phải vừa đi vừa chạy, và gậy gộc sẵn sàng để thúc những người nhạy cảm chạy mau. Tóm lại trong thời gian vừa đủ để chúng tôi ghi nhớ trong đầu là chúng tôi sẽ có thể bị tuyển định như bốn thí sinh kia. Đêm hôm đó, tôi cân nhắc với André những may mắn mà chúng tôi có trong suốt 9 tháng qua, may mắn không bị báo cáo bởi một tên điểm chỉ nào đó về các cuộc thảo luận về hoạt động của chúng tôi, không kể vụ nghe lén máy thu thanh. Đó là một sự việc gần như khó tin, và có một cái gì đó cần suy nghĩ trong những ngày sắp đến. Tuy nhiên trong khi cố gắng thận trọng, nhưng biến chuyển xẩy ra đầy tính cách quyết định, khiến cho các sự đe dọa đã không ngăn được chúng tôi hoàn thiện guồng máy nổi dậy. Chính đài phát thanh Đức cũng đã loan tin các cuộc giao tranh trong thành phố tại Kassel, từ nay sẽ không còn có chỗ cho các bài nghị luận triết lý mà một vài kẻ rảnh rang vẫn làm về cuộc tàn sát mà tập thể ký sinh và yêu quý sẽ thực hiện để trả thù chúng tôi. Một vài người có quả tim từ thiện, những người đồng ý về tất cả những gì liên quan đến bọn cướp Đức, nhưng vẫn ao ước rằng người ta sẽ giao các người khác cho quân đội Đồng Minh. Lẽ tự nhiên chủ thuyết cải lương nầy không hề được bàn luận đến vì nó làm cho đa số không thích.
– Trước hết, – Alex nói, – phải rứt khỏi chúng ta những kẻ mập thây từ một năm nay trên mồ hôi và máu của chúng ta. Nếu để chúng sống, chúng sẽ đóng vai trò thần tượng và chúng sẽ tìm cách dàn xếp để được bạch hóa.
Về phần Sachka, anh nói thêm:
– Nếu Hồng quân đến khu vực nầy trước, chúng tôi có thể đưa ra tòa án quân sự để xét xử những tên có trong danh sách của chúng tôi, nhưng với quân Anh và Mỹ, tôi nghi ngờ lắm. Những con người dân chủ ưa nói nhiều quá và chúng ta sẽ được lừa gạt. Chính chúng ta phải thi hành công lý cùng với sự hậu thuẫn của tất cả những người đã từng đau khổ.
Và thỏa hiệp đã đạt được, với niềm sung sướng, trong không khí của một cơn sốt, trong nỗi lo âu và hy vọng, chúng tôi chờ đợi khoảnh khắc thời gian trông thấy chiếc chiến xa giải phóng đầu tiên xuất hiện. Đấy là dấu hiệu thích nghi để chúng tôi chiếm trại tập trung. Theo ước tính của chúng tôi, ước tính không có gì là huyền hoặc, 30 phút là thời gian tối đa để người của chúng tôi có thể làm chủ tất cả các khối và nhà bếp. Gần 100 tù nhân, trưởng khối, Kapo, nhân viên, tôi tớ đủ mọi loại quốc tịch phải bị hành quyết tại chỗ, 50 tên khác phải bị bắt và nhốt vào một nơi để được xét xử trong không khí bình tĩnh. Vì trường hợp của họ đang được tranh luận.
André sẽ phải chỉ huy nhóm thứ nhất gồm năm khối, Marcel nhóm thứ hai cũng gồm năm khối và Alex nhóm thứ ba. Nhưng vì nhóm thứ ba gồm bảy khối và các văn phòng quản lý trại, quá quan trọng vì số tài liệu chứa đựng trong đó, cho nên Alex được sự phụ tá của đại diện Ba Lan và Bỉ. Mỗi người có một bộ tham mưu riêng và thêm vào đó, mỗi người được chỉ định trước cho một khối có nhiệm vụ sau khi chiếm trại, phúc trình tình hình ngay cho trưởng nhóm của mình. Cùng với Sachka, tôi sẽ chiếm giữ các cơ sở thuộc nhà bếp. Mười lăm người, mười Nga và năm Pháp, còn giữ được sức khỏe, sẽ đóng vai trò liên lạc giữa chúng tôi để mang chuyển các mệnh lệnh và báo cáo tin tức xảy ra trong mỗi khu vực. Ngoài ra, chúng tôi còn phải thực hiện việc chiếm nhà bếp với sự đồng lõa của các phần tử tranh thủ được, trong số tù nhân tham dự vào tập thể nhân viên quản lý trại. Các cán bộ tương lai đều được chỉ định trước và trong mỗi khối một ban lãnh đạo mới phải được tổ chức sẵn sàng. Theo cách mà chúng tôi ấn định, hành động trực diện và với phương tiện cực đại, chiến thắng chắc chắn sẽ đạt được và sẽ không có tổn thất về phía chúng tôi. Một giờ sau dấu hiệu hành động, thời gian mà chúng tôi hy vọng sẽ làm chủ toàn diện trại tập trung, một cuộc mít tinh sẽ được tổ chức trước nhà bếp, nơi đó có đủ chỗ để tập họp tất cả mọi người, mục đích là để chuẩn chấp các biện pháp mà ủy ban quốc tế vừa cho thực hiện. Xác của những tên bị hành hình sẽ được trưng bày ngoài sân trước khi cho thiêu trong một đống lửa ma quái mà theo trí tưởng tượng của chúng tôi sẽ là ngọn lửa của mừng vui và của chiến thắng.
Và ngày 1 tháng 4 năm 1945 đến. Lại một lần nữa, mùa xuân tái sanh từ tám ngày nay, tuy nhiên đây chỉ là sự tái sanh trên cuốn lịch, vì trời còn lạnh giá và ẩm ướt lắm. Hôm đó là một ngày chúa nhật nghỉ việc. Ngoài một cuộc điểm danh kéo dài hai giờ, người ta để cho chúng tôi yên. Trên thế giới, nhân loại có lẽ đang tổ chức mừng lễ Phục sinh, vì hôm nay là ngày đầu tiên của một lễ lớn của Công Giáo, nhưng đối với chúng tôi. Không có gì là vui vẻ lẫn hồi sinh. Đêm qua, 31 tháng 3 chính đài phát thanh Đức đã thú nhận là các cuộc chiến đấu trên đường phố vẫn tiếp diễn ở Kassel. Vậy thì điều nầy chứng tỏ rằng thành phố đều bị chiếm và tình trạng cấp bách của tấn thảm kịch có thể xảy ra trước khi chúng tôi được giải phóng làm cho chúng tôi hụt hơi vì hồi hộp và làm cho chúng tôi quên mất mạng mình như chỉ mành treo chuông. Chúng tôi chờ đợi từng lúc, tiếng động của đoàn xe cơ giới ầm ầm đi ngang qua trại. Con đường giữa Kassel và Ellrich rất bằng phẳng và giữa hai thành phố, quân Đức không thể nào thiết lập được một tuyến chống cự. Và đối với chiến xa không có chướng ngại trước mặt thì một trăm cây số có nghĩa lý gì! Tại bệnh xá, khốn thay, người ta vẫn lột áo quần của các người quá cố, những bệnh nhân còn chống cự với tử thần không thể nào tin có chuyện như vậy, họ khóc òa lên vì sung sướng và khẩn nài các bạn bè đang hấp hối cố gắng chống cự thêm vài giờ nữa để được Hồng Thập tự đến cứu. Trong những lúc như vậy, người ta tin tưởng rất nhiều điều.
Dầu sao, dưới nhãn quan của chúng tôi, tối hôm chúa nhật ngày lễ Phục sinh đó, tình hình được loan báo một cách tuyệt vời. Bọn SS hình như chẳng làm gì cả và chúng tôi nghĩ: “Quân Mỹ đã đến gần quá khiến bọn chúng không còn quyết định việc tiêu diệt chúng tôi kịp thời”. Chúng tôi hội họp vào lúc tám giờ tối tại phòng tắm thuộc khối số 3 và quyết định thay phiên giữa các khối để thức suốt đêm. Chiến xa có thể sẽ đến trong đêm và các liên lạc viên cũng nhận được lệnh sẵn sàng để chu toàn sứ mạng. Lẽ tất phiên tất cả các diễn viên của cuộc nổi dậy phải để nguyên áo quần mà ngủ và các con dao cũng phải sẵn sàng để được xử dụng. Rồi chúng tôi giải tán, nhiều người trong chúng tôi tin rằng sẽ không phải đi công trường vào ngày mai, thứ hai của lễ Phục sinh, ngày làm việc thường lệ.
Khi về đến khối số 7, cùng với Marcel, tôi liếc mắt nhìn vào góc phòng dành cho tù nhân Pháp. Tất cả chỉ còn lại 20 người. Hai trong bọn, đang quì trên giường sát mặt đất để cầu nguyện. Họ nắm trong tay một tràng hạt bằng gỗ mà, họ lén lút gọt dũa một cách thô sơ.
Đối với một con chiên, quả thật có một cái gì đáng để cám ơn Đấng tối cao, dẫu cho vị ấy mang tên gì, rằng Ngài đã dẫn đắt họ bình an cho đến lúc nầy. Tuy nhiên, chẳng có gì xảy ra trong đêm và sáng hôm sau, như thường lệ, chúng tôi phải đi công trường. Quang cảnh gần như có vẻ khôi hài vì mọi chuyện vẫn diễn tiến bình thường như mọi ngày. Con tàu đã đến đúng giờ và bọn lính canh đã làm nhiệm vụ với một kỷ luật không thay đổi. Tuy nhiên trong công việc tại công trường, đã có chuyện lạ, nhiều kỹ sư dân sự vắng mặt và người ta còn lưu ý đến sự biến mất của một trong nhưng tên SS trong ban chỉ huy trại. Dấu hiệu đầu tiên của sự tan rã. Đối với chúng tôi, điều bất tiện nhất là thấy quân Mỹ đến ban ngày, bởi vì trong khi chúng tôi vắng mặt, các cuộc âm mưu vận động của bọn người bị chúng tôi kêu án có thể xảy ra lại trại tập trung với quân đội giải phóng. Nhưng vẫn không có gì xảy ra buổi sáng lẫn buổi chiều. Vài phút trước cuộc tập họp vào xế chiều tôi gặp được Gustave, và tôi chú ý trên cái giá hành lý sau chiếc xe gắn máy của anh ta có buộc một chiếc va-li. Như thường ngày, thì tôi không dám rút ra một kết luận nào về sự kiện đó, nhưng hôm nay chắc phải có lý do quan trọng. Có lẽ anh ta đọc được tư tưởng của tôi, vì vừa đi anh ta vừa nói:
– Đúng rồi, tôi phải đi, quân Mỹ có thì đến trong vài giờ nữa. Chúng tôi thua trận, nhưng giữa Đồng Minh với nhau, các anh sẽ choảng nhau.
Tôi chỉ quan tâm đến lời thú nhận bại trận và những chữ “Chúng tôi thua trận” làm êm dịu tai tôi. Tôi hiểu điều đó còn hơn chính anh nữa, nhưng đây là lần đầu tiên tôi nghe chính miệng một người Đức nói câu đó. Tôi chạy đi báo cho anh em trong biệt đội rõ như là một tin bất ngờ. Thật ra, nhiều người không hình dung nổi tình hình thật sự ra sao và vẫn còn tự hỏi liệu đó có phải là sự thật không. Từ ngày chiến tranh khởi đầu, sự thật đã bị gia thêm nhiều mắm muối quá và bị xâm phạm trắng trợn đến nỗi phần đông tù nhân đều biến thành tiên tri trong nhiều lãnh vực. Trên con tàu đưa về trại vào tối thứ hai, Raymond, người sản xuất rượu nho, người có thể kể một lúc 20 thực đơn không lầm lẫn, rỉ tai tôi: Nầy! Không thể nào có chuyện ở gần quá được. Nhìn xem! bọn lính canh hành động đúng y như năm ngoái.
Sự kiện là vừa về đến trại, trong lúc chúng tôi bí mật nghĩ rằng sẽ gặp chuyện thay đổi, thì lại không có gì mới lạ cả. Những tin đồn mâu thuẫn nhau lan tràn trong các khối, trong đó có tin đêm nay, đêm thứ hai rạng thứ ba sẽ là đêm sau cùng của chúng tôi, vì mọi chuyện đã sẵn sàng để đưa chúng tôi vào cõi chết. Dẫu sao tin tức nầy có thể không có gì là có tính cách tưởng tượng cả, về phần chúng tôi, chiểu theo những quyết định đêm qua, chúng tôi lặp lại cho tất cả những người dự mưu rõ là chúng tôi quyết định chống cự nếu cần, ngay cả đối với bọn SS nữa.
Chúng tôi sợ nhất là một cuộc tập họp vào ban đêm. Nên hay không nên đến chỗ điểm danh khi có tiếng còi báo hiệu là một vấn đề hết sức tế nhị. Trước câu hỏi đó của các người có trách nhiệm lại các khối đặt ra cho chúng tôi, câu trả lời thật khó, bởi vì chúng tôi đã đặt ra một thứ kỷ luật sắt, dù cho không loại trừ hẳn quyền tự do thảo luận, nhưng bó buộc thi hành một cách tự động mọi chỉ thị đã được quyết định trước, và trong trường hợp nầy, câu trả lời của chúng tôi sẽ là một mệnh lệnh. Cuối cùng, sau khi xem xét tất cả mọi khía cạnh của vấn đề, chúng tôi quyết định là phải xuống sân khi có tập họp, tuy nhiên chỉ xuống sau chót. Nhờ rộng rãi, sân tập họp cho phép các cuộc điều động đổi chỗ và trong trường hợp có vụ bắn giết tập thể, cách tiêu diệt duy nhất tại Ellrich, vì không có phòng hơi ngạt, thì các dãy nhà sẽ là các chỗ nấp lý tưởng. Ngược lại, nếu nằm ỳ trong khối thì không khác gì tự tử, vì hai hay ba tên lính có võ trang cũng đủ để tàn sát chúng tôi. Và chúng tôi chia tay nhau để trải qua một đêm thứ nhì tâm hồn tràn ngập khi thì nỗi lo âu, khi thì niềm hy vọng! Nhưng chẳng có gì xảy ra và khi thức dậy chúng tôi tự hỏi không biết quân Mỹ đã bị chặn lại bằng thứ võ khí bí mật nào. Trong trường hợp đó người ta tin là đang sống giữa lòng một thế giới mà tình trạng khẩn trương đè nặng lên mối người, đã tạo ra vô số các giả thuyết có vẻ điên khùng, đối với những người bình thường, nhưng lại có thể có thật trong chế độ Quốc Xã.
Sau cùng, trong khi sửa soạn ra sân tập họp, một tin tức đã đến với chúng tôi. Một tin rất quan trọng vì nó có ý nghĩa xác nhận các biến chuyển của tình hình: Không đi làm, mọi người ở lại trại! Một sự bó buộc đầu tiên, sự lao lực, đã bị hủy bỏ, nhưng sau cơn phấn khích đầu tiên, mọi người đều tự hỏi: chuyện gì sẽ xảy ra trong trại? Không thiếu câu trả lời. Câu trả lời bi quan nhất vẫn cùng một giọng điệu thường lệ: hôm đó là ngày cuối cùng của chúng tôi; một mũi chích tại bệnh xá và rồi mồ chôn tập thể, vì lò thiêu xác không thể đốt cháy hết trước khi quân Mỹ đến. Câu trả lời lạc quan nhất thì lại tiến gần đến cảnh giới hoàn toàn hạnh phúc; viên chỉ huy trại quyết định cho chúng tôi nghỉ để chúng tôi có thể tắm rửa sạch sẽ và xuất hiện trước mắt quân đội giải phóng trong những điều kiện tốt đẹp nhất. Và điều mà không ai tiên liệu được lại đến với chúng tôi trong buổi sáng: cuộc đi tản trại tập trung đã được quyết định vào ngày mai. Chúng tôi cũng đã suy nghĩ kỹ về biện pháp nầy, nhưng đối với chúng tôi nó không thể thực hiện được về phía Đông, quân Nga chỉ còn cách có hai trăm cây về phía Tây quân Mỹ còn cách tối đa là 98 cây số, cả hai mặt trận gần như song song với nhau, và nước Đức của Hitler chỉ còn lại một hành lang mà mỗi ngày một co rút lại. Một sự di chuyển về phía Nam là điều không thể thực hiện được vì vùng Weimar đã bị chiếm đóng, chỉ còn lại phía Bắc, nhưng về phía đó cũng thể, chúng tôi phải theo hướng thẳng góc với trục tiến quân của Đồng Minh đang thọc sâu vào phía Hanovre. Thật không hiểu được. Vậy thì chúng tôi sắp được đưa đi đâu? Những thiết lộ còn xử dụng được đều đầy ngập các con tàu chở vật liệu, binh lính và người tỵ nạn. Tại sao họ lại còn đưa chúng tôi nhào vào mớ hỗn độn ấy? Nhưng tìm hiểu nguyên nhân là chuyện vô ích; kế hoạch của chúng tôi bị sụp đổ và cuộc giải phóng chúng tôi lại bị hoãn lại một cách kỳ lạ. Mối ưu tư lo tản cư chúng tôi, như các thường dân bị nguy hiểm, đối với chúng tôi dễ dãi quá đến nỗi không có vẻ gì là cao quí lắm. Suốt ngày thứ ba, cả trại tập trung trông giống như một hội chợ hay một chợ chồm hổm. Một không khí vui tươi tràn ngập các khối và chỉ riêng nỗi sung sướng ấy đã đủ để gạt vào quá khứ thật xa, những kỷ niệm thống khổ dằng dặc. Như một triều sóng không có gì ngăn thăn được, cả tập thể đã lật nhào mọi qui tắc và tập quán do chế độ khủng bố trước đây tạo ra. Không còn vấn đề phải run sợ trước một tên Kapo hay một tên trưởng khối. Phần chúng cũng nghĩ rằng triều đại chúng đã chấm dứt. Paul tên Kapo gốc Alsace, hắn ta đã thận trọng từ bỏ chức vụ giết người từ nhiều tháng qua, lúc ấy làm việc trong các văn phòng hành chánh. Phần đông nạn nhân của hắn đều chết cả và những tù nhân mới đến biết rất ít về hắn, và vì vậy hắn đã có lúc mặt mày mày đạn lui tới nhóm chúng tôi để chơi trò mị chúng. Hắn lại trở thành tù nhân Pháp Với chữ “F” mới toanh trên hình tam giác đeo trên ngực và không còn nói một tiếng Đức nào nữa.
Buổi sáng thứ tư ngày 4 tháng 4 đến cũng như các buổi sáng khác. Rõ ràng là quân Mỹ phải đứng lại trước sông Weser và sông Werra để lấy sức lại một chút. Vào khoảng giữa trưa, có cuộc tập họp mười khối đầu tiên để lên chuyến tàu thứ nhất. Alex đã có thể góp nhặt được các chi tiết liên quan đến việc di tản, sẽ có hai chuyến tàu để làm việc nầy. Chuyến thứ hai sẽ khởi hành vào chập tối dành cho bảy khối khác và những bệnh nhân hay tù nhân tàn phế. Nhân viên của trại phải chia nhau ra đi theo hai chuyến đêm. Vì không có một cuộc kiểm soát nào được thực hiện cả, nếu thận trọng thì nên chờ chuyến thứ hai vì theo lý thuyết thì có 6 giờ ngăn cách giữa hai chuyến khởi hành, thời gian đó quá đủ để cho phép một vài chiến xa đến kịp thời. Biệt đội của tôi phải lên chuyển tàu đầu tiên. Chỉ có Tony và Toso là theo chúng tôi đến khối số 3, khối của Marcel, André và tôi. Tuy nhiên đến khi khối nầy được lệnh tập họp để cùng lên chuyến đầu, chúng tôi lại chạy đến khối 12 của Alex, Sachka và bạn bè của anh đã có mặt ở đó rồi, và trong số những người có cùng chung ý nghĩ, tôi vui mừng gặp lại Vladimir. Không ai để ý đến cuộc điều động của chúng tôi bởi vì có nhiều người lẽ ra phải đáp chuyến tàu thứ hai, lại làm ngược lại. Họ muốn được lên chuyến tàu thứ nhất bằng mọi giá và mau mau rời khỏi nơi khốn nạn nhuốm đầy mùi tử khí nầy.
Lúc hai giờ trưa, ba ngàn năm trăm tù nhân đã rời khỏi trại. Chúng tôi thấy con tàu khởi hành ít lúc sau đó. Tất cả những người quen biết đều hẹn gặp lại nhau tại Ba-lê, họ tin chắc là sẽ được về đó thật sớm. Mãi đến sáng hôm sau, 5 tháng 4, số còn lại mới được đưa đi. Trái với điều chúng tôi hy vọng, chẳng có chiến xa, lẫn thiết vận xa nào xuất hiện ở Ellrich. Đêm trước, các hồ sơ và các xác chết còn lại được đem đốt hấp tấp. Suốt đêm súp được phân phát thả giàn cho các khối còn người ở lại. Mặc dù chỉ là một thứ nước nóng, nhưng từ lâu mới có một lần được ăn no nê.
Trước khi lên tàu, chúng tôi nhận được mỗi người một ổ bánh mì tròn và một hộp thịt. Như vậy là chúng tôi đã hưởng được số thực phẩm dự trữ vì những người ra đi hôm qua chỉ nhận được bánh mì khô. Vài người còn không tin ở mắt mình; cùng một lúc được năm trăm gam thịt; ngoại trừ vài sợi trong nước súp, chưa bao giờ chúng tôi thấy được nhiều thịt đến thế và cuộc khởi hành được thực hiện như là một đoàn học sinh nghèo đi nghỉ hè. Những người đau ốm được chất lộn xộn trên nhiều toa xe chắc phải ý thức được nỗi nhọc nhằn khi bệnh tật trong một ngày như thế. Khốn thay, đối với phần đông bệnh nhân, con tàu chính là mồ chôn của họ. Vào khoảng hai giờ chiều, con tàu lăn bánh. Chúng tôi được đưa lên một toa xe chở hàng lộ thiên, và hình ảnh trại tập trung buồn thảm lại hiện ra trước mắt chúng tôi một lần cuối. Trong một vài giây đồng hồ, thời gian mà trại tập trung không bao giờ xóa nhòa trong cái nhìn của chúng tôi, cuốn phim của những ngày bị giam cầm diễn ra trong tâm trí chúng tôi như để khắc sâu vĩnh viễn vào đó một kỷ niệm bất diệt.
°
Nhưng chúng tôi đi đâu bây giờ? – Cứ theo mặt trời thì con tàu chạy lên phía Bắc. Và lập tức một ý định cũ trở lại trong trí chúng tôi: trốn. Và sau cùng cơ hội chờ đợi đã đến. Ban đêm, lẽ dĩ nhiên, vì chỉ có một quân canh với tiểu liên ngồi trên một chòi canh nhô lên khỏi các toa. Tin tức duy nhất mà chúng tôi có được là nhờ thực phẩm được phân phát. Chúng tôi được báo cho biết rằng ổ bánh mì và hộp thịt phải được dùng trong bốn ngày. Nhưng ngay đêm đầu một nửa đã biến vào dạ dầy và một điều bất liện mà nỗi vui mừng khi khởi hành làm chúng tôi quên đi, nay lại xuất hiện, chúng tôi có tới 80 người trong mỗi toa và không thể nào tìm cho mình một vị trí thoải mái. Trong suốt buổi chiều, ngồi hay đứng dựa vào thành toa, cuộc hành trình có vẻ bình thường, nhưng khi đêm đến, các cuộc cãi và bắt đầu, và như để làm chúng tôi dịu lại hay làm bực bội thêm không rõ, một cơn mưa nhẹ hột nhưng dai dẳng bắt đầu rơi. Marcel đề nghị lợi dụng đêm đầu tiên có vẻ tối trời để nhảy trốn khi tàu chạy chậm lại. André đã từng trốn cách nầy lúc còn là tù binh chiến tranh, nên có một vài kinh nghiệm về vấn đề đó:
– Những đêm trời mưa là những đêm chết người, anh nói, chúng ta không nắm vững được gì và với bộ áo quần rằn rện, chúng ta không thể đi vào một nông trại. Phải chờ trời tối.
Quan điểm của André đã thắng. Những điều anh nói có vẻ hợp lý.
Chúng tôi ngồi và người nầy dính sát vào người kia, một chục người Pháp chìm trong bảy mươi người Nga và Ba Lan. Sachka đã lên một toa khác cùng với Alex. Tốt hơn hết là tách ra từng nhóm nhỏ để dễ trốn hơn bởi vì chúng tôi đã chia tay nhau với hiệu lệnh là không bao giờ gặp lại nhau nữa. Do sự kiện nầy, kế hoạch qui định từ trước sẽ không còn ý nghĩa gì nữa bởi vì chúng tôi còn phải làm những gì có thể làm được để khỏi bị trở lại trại tập trung trong tương lai. Trong đêm, con tàu dừng lại nhiều lần và sáng hôm sau chúng tôi vẫn thấy con tàu chạy về hướng Bắc. Nó lại dừng một lần nữa tại một đường đổi hướng tàu. Bọn quân canh đếm lại chúng tôi trong mỗi toa, và qua thái độ của chúng, thật dễ dàng nhận thấy đã có các cuộc trốn thoát. Marcel lợi dụng thời cơ để trêu André, anh nầy trả lời bình tĩnh: “Ngày trốn thoát của chúng ta sẽ đến”. Tuy nhiên đêm thứ hai và thứ ba trời vẫn mưa và tình hình chung có vẻ trầm trọng thêm. Trận chiến thực sự đã bùng nổ trong đó những kẻ yếu đuối nhất chỉ có cách rên xiết hoặc kêu rú lên dưới các cú đánh, đạp. Tiếng la của họ xé rách cái yên tĩnh của ban đêm như tiếng ốc hu và át cả tiếng bánh xe nghiến trên đường rầy. Kết quả thật đáng buồn; ngoài số bệnh nhân mà mưa gió và lạnh lẽo sớm mai đã làm chết hàng chục người, mỗi toa cũng có người chết. Trong ba đêm đầu tiên có hơn 300 người chết, 1 phần 10 tổng số chúng tôi. Họ được chất thành đống trong một toa xe lộ thiên nằm giữa con tàu. Và chúng tôi tiếp tục lăn bánh cùng với người chết và những người đau yếu, đến một nơi vô định.
Ban ngày, mặt trời giúp chúng tôi hong khô và bắt rận, vì các “cư dân ấy” đã đi theo chúng tôi. Những hộp thịt rỗng được sử dụng để làm hộp đi cầu đêm ngày, là lẽ tự nhiên là cáu ghét làm mặt chúng tôi trở nên đen đủi. Sáng chúa nhật, con tàu ngừng lại ở ga Salzwedel, đúng hơn là cái gì còn lại giống như nhà ga, vì một cuộc oanh tạc có vẻ mới xảy ra đã làm nhà ga cháy tiêu. Thành phố hình như không bị thiệt hại. Không thể nào biết được nó tọa lạc ở đâu, và mặt trận nằm về phía nào. Một điều có vẻ chắc chắn, chúng tôi luôn luôn đi về phía Bắc, hướng Hambourg. Nhưng trong hai ngày, ba đêm, chúng tôi không tiến xa hơn 100 đến 150 cây số, lê lết từ các đường đổi tàu đến các con đường bị cắt đứt, ổ bánh mì và hộp thịt nhận từ ba hôm trước đã tiêu hóa hết và bị quên mất rồi. Vậy là quá nhiều, năm trăm gam thịt trong bốn ngày, trong khi đó ngoài dân sự chỉ có hai trăm gam cho cả tuần lễ, nhưng đối với những kẻ đói khát như chúng tôi, nó chỉ như mấy món ăn chơi và chúng tôi chỉ “Có chừng đó, hoàn toàn không biết rằng liệu có được phát cho thêm khẩu phần không. Nó đến thật, vào buổi chiều chúa nhật, dưới hình thức một mẩu bánh mì độ chừng bốn tram gam. Người ta báo cho chúng tôi biết một cách dễ thương rằng khẩu phần ấy được phát cho đến thứ ba, hy vọng đến hôm đó chúng tôi sẽ đến được nơi chỉ định, vì đó là phần còn lại của số thực phẩm dự trữ. Lẽ tất nhiên ngay đêm đó khó có thể tìm được một mẩu ruột bánh mì.
Con tàu lại tiếp tục chuyển bánh lúc hai mươi giờ, và tại một ngã tư đường, André vẫn rình, rập, đọc được trên một tấm bảng, tên Hambourg nhưng anh không thể nói chính xác khoảng cách 78 hay 178 và có điều thật lạ lùng, chúng tôi lại đi về phía Nam. Vậy là thiết lộ đã bị cắt! Và đêm thứ tư bắt đầu với thảm kịch thường lệ: cuộc đấu tranh để chiếm một chút không gian sinh tồn. Cũng chính những người ban ngày nói chuyện và đùa bỡn với nhau, đến ban đêm lại biến thành thú dữ. Chính vì mọi người muốn thoát ra khỏi cuộc thử thách sau cùng nầy một cách bình an, và thật vô ích nếu muốn kêu gọi sự ý thức tự giác để sắp xếp 75 người vào một nơi mà tối đa chỉ có 25 người có thể nằm được.
Trong một cuộc đánh lộn đã tranh dành súp trước đây, tôi đã từng đọc thấy trong tia nhìn của một vài tù nhân ý định giết người, và trông thấy những kẻ đánh gục hay đánh bay tung một người đang hút thuốc không chịu chia xẻ vài hơi trong khi cơn thèm thuốc hành hạ họ đến tận tâm cang, tuy nhiên mãi trong đêm thứ tư của cuộc hành trình kỳ dị nầy, tôi mới hiểu các trạng thái tinh thần nầy. Trong ba đêm đầu, chúng tôi hy sinh tối đa để tránh tình trạng đồi tệ, nhưng đến một giới hạn nào đó thôi. Suốt đêm, cả một cuộc hỗn chiến toàn các cú đấm, đạp để không giải quyết được gì cả. Marcel bị chảy máu đầu sau một cú gào mên và André nhận một cái đạp sau lưng bằng gót giày bọc sắt làm anh tê liệt bất động suốt thời gian còn lại cho đến sáng. Và trong đêm tối thì biết trả đòn ai và ở đâu bây giờ? Mỗi cú lại làm gia tăng thêm trận chiến. Không trả đòn lại còn đau khổ hơn nữa và Marcel không còn nhân nhượng nữa, anh đã bị khích động.
Từ các toa xe khác người ta nghe những tiếng thét “cứu tôi” của người đồng hương đang bị nguy khốn, và những tiếng S.O.S được la lên dưới nhiều hình thức bởi các tù nhân thuộc các quốc tịch khác. Lẽ tự nhiên là trốn thoát trong một mớ hỗn độn như thế là chuyện không thể được. Tên lính canh không ngừng ló đầu ra khỏi chòi canh để xem coi có phải chúng tôi phát điên lên tất cả rồi không. Và sáng thứ hai ngày 9 tháng tư, ngày thứ năm của cuộc hành trình, chúng tôi đã yên tĩnh, đau nhức bị thương và có vẻ kỳ cục quá. Một tia sáng mặt trời xuất hiện ban mai đủ làm cho chúng tôi phá lên cười vì thấy mình đã đánh nhau một cách ngu xuẩn, và chúng tôi thấy con tàu lại trở về gần Salzwedel sau khi chạy một cách vô ích về phía Nam. Bị cắt đứt mặt Bắc cũng như phía Nam, người ta sẽ làm gì chúng tôi và chúng tôi không hy vọng gì được phân phát thức ăn trong ngày.
Đang suy nghĩ điều đó thì chúng tôi nghe một tiếng động rầm rầm từ phía Tây, và trong bầu trời lấp loáng, xuất hiện những đốm sáng trắng và đen lấp lánh vì ánh mặt trời phản chiếu trên kim khí. Máy bay Đồng Minh. Tiếp theo nỗi vui mừng thấy bóng dáng bạn bè là một nỗi lo sợ chính đáng. Con tàu của chúng tôi gồm năm mươi toa, kéo dài như một con thằn lằn dưới mắt các oanh tạc cơ và phi cơ săn giặc, không có gì chỉ dẫn cho phi công rõ chúng tôi là ai. May cho chúng tôi hôm đó phi đội có nhiệm vụ khác và nhờ đó chúng tôi có cơ hội chứng kiến tận mắt một ngày hội của Không quân với một cuộc thả bom thật sự. Marcel vốn là một chuyên gia về hàng không và hàng hải đã xác định với chúng tôi là cuộc oanh tạc được thực hiện tại một thị trấn cách xa khoảng 20 cây số, Trong vòng 10 phút, cả một góc trời đen nghịt một lớp khói dày, và vài giây sau một lần phi cơ chúi mũi xuống, chúng tôi lại nghe tiếng nổ. Một khẩu cao xạ phòng không, yếu đuối và bệnh hoạn cố gắng vô ích trong việc làm giảm bớt các đợt sóng tấn công của phi đội tiếp nối nhau đều đặn và rồi lần lượt bay đi. Con tàu chỉ khởi hành lại, khi đêm đến sau một ngày chờ đợi, và lại hướng về Nam. Từ lúc đó, rõ ràng là viên chỉ huy đoàn tàu, bị chặn tứ phía, cố gắng đến một trại tập trung nào đó để trút bỏ chúng tôi. Cơn đói khát có thể đẩy chúng tôi đến các hành động cực đoan và giữa đồng trống, y sẽ khó làm chủ chúng tôi hơn là trong một khu vực được rào cản bao bọc. Đối với chúng tôi, năm ngày ở ngoài trời đã làm chúng tôi ưa thích hơn là trở vào một trại tập trung. Và ý định trốn, được quyết định mang ra thực hiện vào tối ngày thứ năm nầy. Suốt buổi chiều chúng tôi đã thảo luận với người Nga và đạt được thỏa hiệp để làm cho cuộc trốn thoát được dễ dàng hơn. Ít ra là cũng cần phải có hai điều kiện: tốc độ con tàu phải không vượt quá 50 cây số một giờ, và đêm phải thật tối: Nhảy qua khỏi thành toa xe là một điều khá nguy hiểm, trước hết là vì chiều cao và nhất là tên lính canh có thể có thì giờ trông thấy và đưa súng lên vai. Trước khi nhảy, lại phải leo lên thành toa xe, dừng lại vài giây rồi buông tay để rơi mình vào khoảng không, vẫn biết là toa xe có một cửa hai cánh, mở ra bên ngoài bằng một chốt sắt, và nếu mở được, thì chỉ phải nhẩy cách mặt đất độ một thước thôi, tuy nhiên mở được chốt cửa là cả một vấn đề, và tốt hơn là đừng nghĩ đến điều đó nữa. Vào khoảng hai mươi người Nga đã sẵn sàng, và nhờ ảnh hưởng của họ trên số bạn bè, yên tĩnh đã ngự trị được trong toa.
Phía chúng tôi có bốn người: Marcel, André, Guy, người không bao giờ lùi bước từ một năm nay, và tôi. Chỉ có một điều đã dày vò tôi: Tony và Toso đã ở với chúng tôi từ lúc khởi hành và nếu Toso bị đau, thì anh kia lại lộ ra và cùng tháo vát trong một hoàn cảnh như vậy, và tôi cảm thấy buồn lòng nếu phải rời họ Marcel không còn muốn biết gì hơn, theo anh, làm bốn là quá nhiều. Người Nga, với số đông có thể chiếm một nông trại để kiếm ăn và không sợ quá đông người; hai mươi hay ba mươi, trái lại họ lại quá số đông. Chúng tôi thì không có được khí phách ấy và chúng tôi lại không nắm vững bất cứ cái gì trong lương lai. Như vậy, trong khi Marcel cương quyết giữ vững lập trường, tôi lại không thể chấp nhận bỏ rơi hai người bạn cùng chung một biệt đội vào một lúc mà mạng sống của họ được quyết định trước cuộc xung đột dường như không lối thoát nầy, chính Tony đã làm cho chúng tôi trở lại hòa hợp với nhau; anh từ chối hẳn việc theo chúng tôi; không phải là một sự hy sinh có vẻ khoa trương để giữ hòa khí, nhưng tại vì Toso đang ở trong tình trạng không thế nào bắt chước chúng tôi được bởi lý do sức khỏe yếu kém, và anh không muốn bỏ rơi người bạn ấu thơ của mình với bất cứ giá nào. Đó là phán quyết trái ngược của Salomon, và nếu lương tâm tôi được giải thoát và thanh thản thì về mặt tình cảm, tôi không thấy như vậy. Không phải lúc nào người ta cũng có thể điều khiển được quả tim của mình.
Khi tất cả mọi vấn đề đã được giải quyết xong, chúng tôi đoán chừng đã đến 23 giờ rồi. Tên lính canh để ý đặc biệt đến toa của chúng tôi, phải chăng đó chỉ là một cảm giác? Cứ cách khoảng đều đều, tên SS lại ló đầu qua bên phải, bên trái chòi canh hai bên để trống, nhờ đó y có thể canh chừng tất cả bọn chúng tôi trong toa xe. Chúng tôi còn có trước mặt năm tiếng đồng hồ trước khi trời sáng, và có cả trăm cơ hội, vậy thì một cuộc luân phiên nghỉ ngơi được quyết định ngay. André và Guy bắt đầu trước, và cùng với Marcel chúng tôi sẽ thấy họ sau một giờ ngủ. Chúng tôi ước tính thời gian sai bét trong đêm tối và ai cũng run sợ với ý nghĩ mở mắt ra là trông thấy ánh sáng ban ngày bắt đầu. Trực giác báo cho chúng tôi biết may mắn sẽ không còn đến nữa sau đêm nay. Trong lúc tôi đang ngủ ngon nhất, nằm co quắp giữa chân cẳng và thân mình của những người khác; tôi chợt cảm thấy bị lay dữ dội. Chính André.
– Xong rồi, – anh thầm thì, – đã đến lúc rồi, nhiều người Nga đã nhảy!
– Còn tên lính canh? – Tôi hỏi.
– Anh biết không, họ nhảy nhanh lắm, thời gian mà đầu hắn biến vào chòi canh là 3 giây và họ nhảy về phía bên kia.
Con tàu chạy với tốc độ có thể nhẩy được. Marcel đã thức dậy và Guy cũng thế, tất cả sẵn sàng. Tôi cũng như họ nhưng vẫn cảm thấy khoảnh khắc đó thật buồn cười. Đêm tối, không khí mát dịu, và cảnh vật thiên nhiên, không có gì khác, và chúng tôi sẽ rơi xuống đâu? Còn bộ áo tù nhân? Và vấn đề ăn uống? Trong vài giờ nữa, như người ta đã hứa là chúng tôi sẽ được phát một mẩu bánh mì. Đã 36 giờ qua, chúng tôi không có gì cho vào miệng. Cứ như vậy vào lúc không cần thiết nhất, các ý tưởng ấy lại trào dâng tấn công trí não tôi, nhưng tôi biết chúng là các mũi tên độc và tôi xóa bỏ chúng thật mau lẹ.
Con tàu trong lúc đó vẫn chạy và mỗi giây trôi qua là mỗi lúc thiệt thòi đối với chúng tôi.”. Ngay cả với sự can đảm được kết tụ lại, nhẩy từ thành toa xe, cũng là điều làm chúng tôi có phần nào sợ hãi. Bọn Nga chắc phải có thân hình ma quái mới dám nhảy như vậy, tuy nhiên rồi cũng phải nhảy. Lệnh nhảy khỏi con tàu đã được quyết định từ trước. André đầu tiên, rồi đến Marcel, tôi sẽ là người thứ ba và Guy kết thúc nhóm. Một nỗi sợ hãi sau cùng: lỡ nhẩy trúng ngay trụ đường, một thân cây, một tảng đá, hay đơn giản hơn, bị gẫy chân. Chúng tôi còn do dự nấn ná bao lâu nữa? 10 phút, 15 phút là tối đa, thời gian ấy đối với chúng tôi lâu như hàng giờ, và đúng lúc André sắp đặt chân lên thành toa xe thí một thiếc máy bay mà chúng tôi không hề nghe tiếng máy, vừa xuất hiện trên đầu chúng tôi và chúi mũi xuống con tàu. Một loạt đại liên đã quét qua không khí như một ánh chớp, và trong khi do bản năng, chúng tôi cúi đầu xuống, thì loạt dạn ấy, còn hơn là một hiệu lệnh, mà là một mệnh lệnh cho chúng tôi. Đó là lúc để nhảy hoặc không bao giờ nhảy nữa vì lúc ấy tên lính gác hoàn toàn ẩn núp trong chòi canh. Nhưng, đi trước André, một người trông giống như một tử sĩ hồi sinh từ một chiến trường đầy dẫy xác chết, vì bên trong toa xe quang cảnh chẳng khác gì mấy, đã trèo lên thành toa tàu, về phía cửa toa xe, mở cánh cửa nầy và nhẩy ra ngoài. Trước cánh cửa mở mời mọc, André nhảy ra, Marcel đi theo, và đến lượt tôi, tôi có cảm giác là Guy đã đẩy tôi ra, và lăn xuống đá sỏi lát đường rầy. Vài giây sau tôi nghe tiếng rơi gần đấy. Mặt úp xuống đất, tay ôm đầu làm như tôi sẽ trở thành vô hình trong dáng điệu ấy, tôi nghe tiếng tàu chạy gần như ngay trên đầu tôi, bởi vì chúng tôi rơi ngay trên mô đất đặt đường rầy xe lửa. Nằm co quắp và đồng thời đầy âu lo: hoặc nghc tiếng súng tiểu liên của bọn lính, hoặc tệ hơn, thấy đoàn tàu dừng lại, tôi nín thở. Nhưng không, với tiếng động đều đều con tàu rời xa một cách đáng yêu biết bao và sau cùng nó biến mất trong bóng đêm. Năm bóng đen trên một khoảng đường độ 100 thước đứng dậy cùng một lúc như được điều động bằng máy, và tìm đến nhau.
Từ ngày dời lên khu Nguyễn Tri Phương gần bên giếng nước lớn, nhường chỗ cho chợ Hàng Bông, bến xe Mỹ Tho đã có một bộ mặt khang trang, sạch sẽ hơn. Rộng rãi nữa, đủ chỗ cho tất cả mọi thứ xe: xe đò, xe lô, và xe cà tàng chạy về các làng xã, thôn ấp xung quanh thành phố. Mát mẻ lắm, vì phía sau lưng kia là dòng sông Bảo Ðịnh, vẽ gọn một vòng đai bao bọc thiên nhiên. Nhiều chiếc ghe lớn chở đầy hàng hóa không thèm cặp bến Trưng Trắc, Cầu Quay, chạy tuốt lên đây, dở hàng ngay tại bờ sông cho đám xe thùng, vận tải đường bộ. Thật là tiện lợi. Dãy phòng ngủ năm bảy từng của thầu khoán Trương văn Phát vừa mới xây cất nằm bên hông ngó ra càng thêm vẻ tân tiến, văn minh.
Quang cảnh bến xe mới bây giờ lại càng rộn rịp hơn vì đang mùa Tết. Ðây đó người ta thấy nhiều đụn dưa hấu xanh um, chất cao theo hình kim tự tháp. Những cành hoa mai nở rộ hoặc đương hàm tiếu được ràng dây xung quanh, dựng bán dọc theo những băng ghế ngồi chờ xe. Và phía trong cùng, dọc bờ sông, những chậu bông cúc, thược dược, ớt kiểng, vạn thọ được sắp đầy trên cỏ. Cơn gió Tết dịu dàng thổi qua, bỗng dưng, nghe thoang thoảng hương hoa.
Người đi xa, kẻ trở về có lẽ nhiều hơn mọi bữa, Tần cảm thấy như vậy! Có thể chàng bị ảnh hưởng tâm lý vì lâu lắm rồi, cũng đến gần cả năm qua, chàng mới được nhìn lại khung trời tỉnh lẻ thân yêu. Nhờ vào dịp có mấy ngày phép về quê ăn Tết, ba ngày lễ thiêng liêng, cao quí của dân tộc Việt Nam, những ngày của vui chơi, hội hè, đình đám, thay cho chém giết, hận thù. Trong bầu không khí mơn man, êm đềm một năm mới có một lần này, thử hỏi ai mà không muốn thả xuôi lòng mình vào niềm thanh thản an bình?
Tần không phải là dân thành phố. Nhà chàng ở làng Bình Ðức, từ phía chợ Vòng Nhỏ đi lên, dọc theo bờ Tiền Giang. Bên này liên tỉnh lộ hầu hết là ruộng đồng và bên kia, sát bờ sông, là những khu vườn cây ăn trái rộng hẹp tùy khúc, thường có những đám lá dừa nước mọc xen kẽ trong đó. Cuộc sống nửa thành thị nửa thôn quê của nơi chàng ở thiệt không gì thần tiên, lý thú cho bằng.
Cách chợ Vòng Nhỏ khoảng một hai cây số, có chùa Quan Âm, với tượng Phật Bà bằng đá trắng như thạch cao, đang cầm bình nước cam lồ rải phước xuống chúng sinh, hiền hòa từ bi đứng trên tòa sen ngay trước mặt tiền chùa. Trong một vòng tròn lớn, cẩn đá trắng từng phiến to, trồng đầy hoa thơm cỏ lạ. Nhiều người lại cứ tưởng lầm đó là tượng của Ðức Mẹ Maria. Mà xa xa nhìn cũng giống thiệt. Lối đi vào chùa cũng rất là đặc biệt, một cây cầu vòng cung, lót ván và hai bên có lan can sắt sơn trắng, bắc qua con lạch ba bốn thước bề ngang. Hai bên chân cầu có những bụi dứa gai mọc lan xuống bờ lạch, thỉnh thoảng vọt lên cao những chùm hoa trắng nõn… Bởi phong cảnh nơi đây cũng khá hữu tình, thanh khiết cho nên sau chùa Vĩnh Tràng trong miệt Gò Cát, chùa Quan Âm đã là nơi có nhiều hình ảnh và kỷ niệm với mọi lứa tuổi của học trò trung học Mỹ Tho.
Ðộ một khoảng nữa là chợ Ðồng Xanh, nơi có thời làm trại cùi, dời từ Cồn Rồng về. Giờ chỉ còn là chỗ nhóm chợ với một nhà lồng trống lổng trống trơn, mái lợp tôn, như gắn hờ hững trên hai hàng cột dầu vuông ốm tong teo. Chung quanh chợ là vườn tược mọc rậm như rừng hoang.
Rồi mới đến cây cầu sắt bắc qua con rạch lớn cắt xuyên ngang liên tỉnh lộ. Ðầu cầu phía trên có một đồn nghĩa quân. Chòi canh và bót chính còn lợp lá. Hàng rào kẽm gai kéo sát bên vệ đường. Phía sau những khu khai hoang dọc hai bên rạch là những đám lá dừa nước mọc cao và dầy không thua gì những đám lá tối trời ở dưới Gò Công.
Thêm khoảng một hai cây số nữa mới đến xóm làng Bình Ðức, nơi mà sau này trở thành một trong hai ngã ba Ðồng Tâm, hai lối chính đi vào căn cứ Ðồng Tâm. Ngã ba trên nằm trên quốc lộ 4, cách Trung Lương năm bảy cây số về hướng Mỹ Thuận, không rộn rịp sầm uất bằng ngã ba dưới. Tại đây bây giờ đã mọc lên những quán nhậu, tiệm hàng xén khắp hai bên đường.
Nhà Tần cách đó một đỗi về phía Mỹ Tho. Cất trong một khu vườn đầy mận, vú sữa, xoài, bưởi và chanh. Sát mé sông Cửu Long, giống như nhiều vườn khác, là vạt lá dừa nước của nhà. Cho một mớ lá chầm lá xé đủ chi dụng hằng năm. Len lỏi trong đó có một lối mòn đắp đất dẫn ra bờ sông. Chỗ có cái vại lá che mưa nắng cho chiếc xuồng, bên cạnh một cầu ván bắc ra xa làm cầu tắm. Một vài cây bần rất lớn mọc sát mí nước, lẫn lộn trong đám lá… Cha chàng đã mất, anh chị chàng tứ tán bốn phương trời và mẹ chàng hưởng huê lợi vườn sống đấp đổi qua ngày. Tần bây giờ như là con một thay vì con út.
Muốn về Bình Ðức thì có thể nhảy lên xe Lam lấy bến ngay tại chợ Vòng Nhỏ hoặc quá giang xe đò đậu tại bến xe lớn chạy về vùng Vĩnh Kim, Xoài Hột, Rau Răm thuộc quận Sầm Giang. Tức là vùng Xoài Mút, Rạch Gầm theo tiếng gọi xa xưa, thời Gia Long tẩu quốc. Ðó cũng là quê hương của quái kiệt Trần văn Trạch, xổ số quốc gia giúp đồng bào ta mua lấy xe nhà giàu sang mấy hồi … Người đã bao lần trình diễn ngoài trời nhiều bộ môn khác nhau, ảo thuật và ca nhạc kịch, trong sân trường Nguyễn Ðình Chiểu cho học trò coi miễn phí, dưới tàn che bóng mát của những cây sao, cây dái ngựa to lớn. Dạo đó Tần còn đang theo học các lớp đệ nhứt cấp.
Tương tự như những vùng Trung Lương, Ðạo Ngạn, Ðạo Thạnh, Bến Chùa, Bến Tranh…, Bình Ðức là vùng nửa chợ nửa quê, chỉ cách Mỹ Tho độ năm bảy cây số. Học sinh ở vùng này thường lâm vào thế kẹt, tấn thối lưỡng nan. Nếu đạp xe đi đi về về trong ngày thì hơi mệt. Ðó là chưa nói đến việc xe hư, vỏ mòn phải sửa chữa liên miên. Còn mướn nhà ở trọ thì hơi phí của. Tốt hơn hết có lẽ là ăn nhờ, ở đậu nhà bà con. Nhưng không phải ai cũng có bà con ở ngay tại tỉnh và đó là trường hợp của Tần. Bởi vậy, Tần thường ngủ lại nhà bạn bè, mỗi tuần lễ đôi ba ngày. Lúc thì nhà của thằng Thân ở Cầu Dầu, nhà máy Ðỗ Quang. Khi thì nhà thằng Phát ở chợ Vòng Nhỏ, gần nhà bảo sanh cô mụ Sâm. Cũng có lần ở nhà thằng Hiếu, đối diện bên này Hãng Xáng…
Tần lẩn thẩn đi lại bến đậu của những chiếc xe cà tàng, xe đò không ra xe đò xe hàng không ra xe hàng, chạy đường Mỹ Tho – Vĩnh Kim. Hên quá, gặp chuyến xe sắp sửa rời bến. Hành khách ngồi chen chúc chật ních trong lòng xe, trên mui đầy quang gánh, gióng thúng. Coi bộ đồ trận bốn túi mới may trên người Tần như không có kí-lô nào hết trơn, anh lơ xe hỏi tới:
– Anh về đâu, anh hai? Về đâu?
Tần đáp gọn:
– Về Bình Ðức!
– Bình Ðức hả? Vậy thì anh phải xuống trước, thôi, hay là anh ngồi tạm phía bên ngoài này đi… Ở bên trong làm ơn xích vô giùm một chút coi bà con. Ở trong thiếu gì chỗ trống mà sao bà con cứ ngồi lấn ra ngoài này hoài làm chi hổng biết nữa!
Nói thì nói cho có lệ vậy thôi chớ anh ta cũng biết chỗ trống nào mà còn trong giờ xe sắp chạy. Tuy nhiên, có lẽ nhờ ảnh hưởng bởi tiếng nói của anh ta đôi chút, nhiều bà bạn hàng sáo lắc đít qua lại một đôi lần cũng lòi ra một chỗ hẹp té ở đầu băng cho Tần ngồi ké. Ðang mang hia đội mão như vầy chẳng lẽ chàng lại đứng đằng sau thùng ba-ga! Nghĩ cũng kỳ, cho nên chàng vội nắm chặc trụ sắt gắn liền giữa mui và sàn xe, xoay người làm liều ấn mông ngồi xuống. Nhúc nhích vài bận thì cũng đâu vào đấy. Rồi như sợ có ai dòm ngó, ăn cắp cái sac Air-France của mình, Tần ôm gọn nó vào lòng. Trong đó có mấy bịch khô mực con nào con nấy thiệt lớn, làm quà cho xóm giềng, bà con… Một lát sau bác tài mở cửa ngồi vào ghế, đóng nhẹ cánh cửa cây, móc cái khoen sắt làm khóa rất là từ tốn, cẩn thận rồi mới chịu nhận nút đề máy.
Xe chạy vòng xuống Cây Xăng theo đường ông bà Nguyễn Trung Long* mon men ra bến phà Rạch Miễu. Rồi từ đó mới quẹo phải theo đường Ngô Tùng Châu về hướng chợ Vòng Nhỏ, thẳng về Bình Ðức… Tần thấy mọi thứ dọc hai bên đường vẫn vậy, không mấy gì thay đổi. Nào là quán phở Tàu Bay, trường Kỹ Thuật, trường nữ Tiểu học và đối diện bên kia là hãng cà-rem Dân Sanh, trường bán công Thiên Hộ Dương, khu gia binh dựa lưng vào bức tường thành Sân Vận Ðộng…, đâu đâu cũng quá quen thuộc đối với Tần.
Có thay đổi chăng chính ra là ở lòng người, Tần tự nhủ? Mấy năm trước đây chàng cũng đã từng lang thang trên khắp những con đường này, nhưng với một tâm trạng khác hơn nhiều. Cùng với một đám bạn học cùng lớp, lẽ dĩ nhiên. Những khúc bánh mì ba-tê, những cuốn bò-bía, những gói đậu phọng rang, những lóng mía thanh diệu hay mía tây đã róc sạch vỏ, những ly nước rau má hay sữa đậu nành… luôn luôn mời gọi bọn lữ khách nhóc tì dừng chân. Ở mỗi góc đường. Sáng cũng như chiều, chiều cũng như tối. Không ai mảy may bận tâm đến ngày mai. Phải làm gì, phải sống như thế nào? Tuổi trẻ và đời học trò, ôi, sao mà hồn nhiên, phơi phới.
Bây giờ mùa Tết này trở về đây, Tần chưa chắc là mình sẽ gặp lại được một thằng, trong đám bạn thân xưa cũ. Vì hầu hết bọn nó đã vào lính, trước Tần. Nhiều đứa đã ra trường và đang đóng ở những nơi đèo heo hút gió nào đó. Một vài thằng lại sớm ra đi mà không buồn trở lại, như Quyền, như Ấu, như Tấn… Nhưng, phố xá hai bên đường hôm nay vẫn vậy. Cột điện và những đường dây giăng mắc trên không vẫn vậy. Lá vẫn xanh và thân cây vẫn xám. Cái gì mãi mãi tồn tại và cái gì luôn luôn đổi thay trong trời đất này, chàng khẽ thở dài? Nhưng, việc trước tiên là chàng phải dành thì giờ để đánh một vòng thành phố Mỹ Tho. Xem lại những quán ăn lúc nào như cũng rộn rịp tấp nập trên đường Trưng Trắc. Ngồi lại ghế đá công viên Lạc Hồng nhìn dòng Cửu Long lặng lẽ chảy xuôi. Thăm lại trường xưa, nơi đã đào tạo biết bao nhiêu người tên tuổi… Cho dù không gặp một người quen đi nữa!
Và sau đó, có lẽ Tần sẽ tìm thăm những cô em gái hậu phương thuần túy của chàng. Một vài đứa trong số đó đã từng là học trò dạy kèm của chàng về các môn toán, lý hóa. Ðặc biệt nhứt là Loan, có thân hình ôm ốm, dong dỏng cao và đôi tay dài thườn thượt. Dáng dấp dành riêng cho những ai thích mặc lên người chiếc áo dài Việt Nam. Ðẹp và độc đáo. Chính vì vậy mà nhiều lần Tần bị tụi bạn chọc, đại khái: “Mầy có con nhỏ học trò có đôi tay dài như tay vượn, ngồi dưới bàn mà chỉ với tay là rờ được ông thầy đứng trên bảng, không sót một chỗ nào…” Tần hi vọng là Loan đừng bắt chước đám bạn của nàng, ùn ùn kéo nhau đi lấy chồng sạch trơn. Với cương vị mới của chàng, người anh tiền tuyến, tình nghĩa thầy trò ngày xưa chắc sẽ có gì thay đổi. Chàng những mong như vậy.
Nghĩ đến đó, Tần bỗng dưng lại thấy mình có lỗi với Hiền, người em gái hậu phương nơi phương trời xa. Kẻ mà chàng đã tự nhiên cảm thấy mến yêu, ngay từ phút đầu gặp gỡ. Không biết giờ này Hiền đang làm gì ở ngoài Nha Trang. Nàng về Thành ăn Tết với mẹ nàng hay là ở lại vui xuân với anh chị nàng trong căn nhà nho nhỏ gần chợ Xóm Mới? Lần này về phép, chàng có ý định sẽ nói qua với mẹ chàng về cảm tình của mình đã dành cho Hiền. Nhưng thôi, bà già chắc không thích gái miền Trung, chàng ngẫm nghĩ lại. Bảo đảm, một trăm bà mẹ miền Nam như một, hễ nghe nói tới gái miền Trung là nơm nớp lo sợ con trai của mình rồi đây sẽ bị vợ ăn hiếp. Làm như ở trong Nam này, không riêng gì con gái mà luôn cả con trai, ai ai cũng hiền lành tử tế hết. Chớ ai có ngờ đâu, lắm lúc gặp nhiều ông thiệt là trật cẳng ngỗng và nhiều bà hết sức trật bàn đạp… Ô hay, phải chi thân này ví xẻ làm đôi thì được việc biết mấy, chàng nhủ thầm!
Xe ngừng lại tại chợ Vòng Nhỏ lấy thêm hàng, thêm người. Hành lý lại được chất chồng lên một lớp nữa trên mui. Hành khách thì phải đứng sắp lớp hạng cá kèo trong bệ chứa ba-ga hoặc phải đeo vè. Phần sau xe xệ xuống thấy rõ. Cũng với một giọng dửng dưng, bất cần hậu quả, anh lơ xe oang oang hò hét:
– Quí bà con cô bác ngồi ở bên trong làm ơn xích xích vô giùm một chút nữa coi. Cho anh ba nầy lọt cái đít vô là xe chạy liền ông bà ơi…
Có bà bạn hàng sồn sồn phản ứng lại ngay:
– Còn chỗ đâu nữa mà xích vô với xích ra! Tại sao mầy không nhường khách cho chuyến tới, hả Tám? Ham ăn quá có ngày không còn cái giống đách gì ăn hết nghen con!
– Chỗ quen biết mà má! Ba bữa nầy đâu làm sao bỏ anh ba đứng đợi cả tiếng đồng hồ ở ngoài đường cho được, má. Tội chết… Tới luôn đi bác tài…
Xe từ từ bò ra đường. Tần thấy thấp thoáng những cành mai vàng rực rỡ được xếp ngay hàng thẳng lối bên cạnh những đống dưa hấu đủ cỡ đủ màu, đen có xanh có sọc có. Vạn thọ, cúc, hạnh, ớt ngũ sắc, móng tay … nữa. Một vài tấm giấy bầu cua cá cọp trải dưới đất đã quây quần được một mớ đông con nít. Phải, đúng là ba bữa này, đâu đâu cũng vậy. Sơn phết, chưng dọn, điểm hoa lá cành để chuẩn bị chào đón chúa xuân. Cùng rước ông bà về nhà ăn Tết. Tháng giêng ăn Tết ở nhà. Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè …
Vừa qua khỏi mí vườn, trước mắt Tần là một vùng bao la, đồng không mông quạnh. Toàn là ruộng lúa đã gặt xong, chỉ còn trơ lại những gốc rạ chơ vơ một màu vàng quách. Như ánh nắng chói chang của mùa Tết thường ngày. Chạy dài tuốt qua phi trường mới mở, phi trường Bình Ðức. Tuy được gọi là phi trường Bình Ðức nhưng bên này phía Bình Ðức lại không có đường đi vô, mà phải từ phía bên kia, độc đạo từ dưới đường Lý Thường Kiệt đi lên… Một cơn gió Tết thổi tạt qua, lòn vào xe mát rượi.
Không còn bao lâu nữa Tần sẽ về bên mái nhà xưa. Gặp lại mẹ chàng cả năm trời xa cách. Chắc bà cũng mạnh khỏe như thường, Tần nghĩ. Rồi còn các anh chị và lũ cháu của chàng nữa chi. Cùng vợ chồng con cái anh bảy Ðồng, người phụ giúp và giữ gìn vườn tược cho gia đình chàng từ bao nhiêu năm nay. Tất cả sẽ vui vầy, sum họp.
Bây giờ chàng mới thật sự nôn nóng cho buổi hạnh ngộ trùng phùng. Tình thương gia đình bao giờ cũng ấm cúng hơn trong thấp thoáng hương xuân và rượu nồng pháo đỏ…
* Cựu quận trưởng quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho, bị Việt cộng giựt mìn, phục kích giết chết hết cả nhà.
Một ngày, 30 năm sau, có cánh chim vượt trùng dương bay về khung trời quê hương cũ. Chim soãi cánh trên không gian lồng lộng, nhìn xuống, nghẹn ngào từng bờ cỏ, từng ngọn cây, từng con đường xưa như còn in dấu chân chim, từng cánh đồng xanh, từng góc núi thẩm Trường Sơn hùng vĩ.
Chim mơ một lần hạ cánh để được đậu lại trên những cành xưa yêu dấu. Chim bình phi hạ dần cao độ, xuống dần. Lòng chim đau như cắt, nhưng làm sao chim có thể an lòng đậu trên những cành cây xưa mà lòng không “kinh cung chi điểu“! Chim vụt lên cao. Chim lại sà xuống tổ cũ, cánh soãi ngang, bàng hoàng, lưu luyến. Cả một vùng trời quê hương yêu dấu ẩn hiện nhạt nhòa trong mắt chim. Và vụt! Một mũi tên bắn lên từ vùng đất xưa, cắm thẳng vào thân chim. Chim đau đớn, tung cánh vút lên cao. Chim vượt Trường Sơn, vượt trùng dương qua biển Bắc, từ Alaska, theo rặng Rocky xuôi Nam.
Chim đuối sức, tàn hơi, hạ cánh đậu lên một mõm đá trên đỉnh Rainier thuộc vùng Tây Bắc Hoa Kỳ. Mùa xuân đen năm xưa, có một đàn chim vỡ tổ. Đàn chim tung cánh lìa đàn hoảng hốt bay bốn phương trời. Có những con chim gãy cánh trên rừng sâu. Có những con chim gãy cánh trên biển rộng, và cũng có những con chim đến được những vùng đất lành.
Chim vỡ tổ. Chim lìa tổ. Chim nhớ tổ. “Việt Điểu Sào Nam Chi“. Có những khung trời nắng ấm. Có những cánh chim mòn mõi. Có những khung trời lạnh giá. Có những cánh chim co ro giữa mùa đông tuyết trắng. Có những cánh chim tàn tạ bỏ mình trên đất khách nghìn trùng…
Trên mõm đá lạnh không còn bóng thù, chim ngoái cổ nhổ mũi tên ra khỏi thân. Một dòng máu chảy tuôn. Chim đặt mũi tên trên phiến đá. Cơn đau cắt ruột trên thân chim bỗng biến đi khi chim kinh hoàng nhận ra chiếc lông chim gắn dính sau đuôi mũi tên lại chính là chiếc lông của chim đã rơi vào tay kẻ thù.
Cơn mưa lạnh đã cuốn đi những vệt máu chim loang trên phiến đá. Mắt chim mờ đi. Không biết sương mù trên đỉnh Rainier rơi vào mắt chim hay chính chim đang khóc, khóc cho mình, khóc cho vận nước oan nghiệt đau thương…
Đoản văn này được viết theo một chuyện ngụ ngôn nói về chiếc lông chim đại bàng của một quốc gia vùng Địa Trung Hải. Và chiếc lông chim đại bàng Việt Nam được gắn làm đuôi mũi tên chính là những đồng đô la người Việt hải ngoại gửi về quê hương hàng năm tròm trèm 5,7 tỷ lọt vào tay cộng sản. Những đồng đô la đó chính là những viên sỏi trong các đôi giày cách mạng Việt Nam, là những mũi tên chí tử cắm vào thân thể những người yêu nước! Không biết cộng sản đã xây thêm bao nhiêu trại giam, bao nhiêu nhà tù để trấn áp muôn dân?!
Ôi, liệu có cánh chim đại bàng nào có thể bay xa khi những mũi tên thù làm bằng chính chiếc lông của mình, cứ tiếp tục phóng thẳng vào thân thể mình?! Mùa xuân nào những con chim đại bàng còn sống sót trên đất lạ, còn đủ lông cánh, có thể tung cánh trở về tổ ấm xưa khi trên thân mình dính đầy những vết thương oan nghiệt?!
Thuộc Hội đồng Thành phố Surf Coast (Surf Coast Shire), tiểu bang Victoria, Australia, Lorne là một thị trấn ven biển, tọa lạc trên Great Ocean Road, một trong những tuyến đường biển đẹp nổi tiếng ở Australia. Vùng đất này vốn là nơi sinh sống của các bộ tộc thổ dân Gunditjmara. Vào cuối thế kỷ 19, với vẻ đẹp tự nhiên nổi bật với bãi biển dài, các vách đá ven biển, và những khu rừng mưa nhiệt đới bao quanh cộng với khí hậu mát mẻ, Lorne bắt đầu phát triển như một khu nghỉ mát, thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước. Tên gọi ‘Lorne’ được đặt theo tên của Công tước xứ Lorne, người đã có chuyến thăm tới khu vực này vào năm 1870. John Campbell (1845 – 1914), Công tước xứ Argyll, kết hôn với công chúa Louise, con gái của Nữ hoàng Victoria, và vì thế ông nhận được danh hiệu Công tước xứ Lorne từ Nữ hoàng.
John Campbell cũng được đặt tên cho Port Campbell, là một làng chài ven biển vốn nằm trên đất của người Eastern Maar, thổ dân bản địa. Port Campbell ngày nay nổi tiếng với các nhà hàng và quán cà phê có tầm nhìn ra bãi biển, cũng như các cửa hàng và phòng trưng bày nghệ thuật đa dạng. Nơi đây cũng gần các thắng cảnh nổi tiếng như: 12 Apostles ( 12 Tông Đồ), Loch Ard Gorge và London Bridge.
Lorne cách thủ phủ Melbourne, tiểu bang Victoria khoảng 140 km về phía Tây Nam. Từ Melbourne muốn tới Lorne, nếu bạn lái xe có thể mất khoảng 2 giờ 15 phút. Xe qua Geelong theo tuyến đường Great Ocean Road dọc theo bờ biển, với cảnh quan tuyệt đẹp trên đường đi. Với 282,809 cư dân, Geelong là thành phố lớn thứ hai ở Victoria, sau Melbourne. Tên “Geelong” có nguồn gốc từ tiếng thổ dân Wathaurong, với “jillong” hoặc “geelong” có nghĩa là “vịnh” hoặc “bến tàu”. Mấy thằng Úc có óc khôi hài đen: tên Geelong nó cắt ra làm ha: ‘Gee’ và ‘long’. “Gee” là viết tắt của “Geez”, dùng để diễn tả sự ngạc nhiên hoặc bất ngờ, giống như kiểu “Ối giời ơi” trong tiếng Việt. Còn “long” thì đúng là có nghĩa là “dài”, và khi ghép lại thành “Gee long”, có thể dịch hài hước ra là “Ối giời ơi, dài quá!”, một cách chơi chữ rất ngộ nghĩnh.
Những người tị nạn Việt Nam đang thoát khỏi một chiếc thuyền bị đắm ở Malaysia, tháng 12 năm 1978. nguồn SBS.com.au
Bãi biển Lorne dài và cát mịn với làn nước trong xanh là một trong những bãi biển đẹp nhất dọc theo Great Ocean Road. Lorne còn nổi tiếng với những khu rừng mưa nhiệt đới, thác nước Erskine Falls gần đó, và các đường dài dành cho đi bộ trong vùng núi Otway. Theo ước tính, mỗi năm Lorne đón khoảng 500,000 du khách nội địa cũng như hải ngoại đến để lướt sóng, chèo thuyền kayak hoặc đạp xe đặc biệt là vào mùa hè xứ Úc (từ tháng 12 đến tháng 2)
Tuy nhiên, Lorne có nước biển cạn và nhiều đá ngầm, gây khó khăn cho việc điều hướng tàu trong các điều kiện thời tiết xấu, nên trong lịch sử có rất nhiều vụ đắm tàu gây chết người. Như vào ngày 9 tháng 6 năm 1851, xuất phát từ Port Phillip Bay, gần Melbourne, và di chuyển dọc theo bờ biển Australia để về Adelaide, Nam Úc, tàu buồm Osprey với hai mỏ neo được thả xuống vào sáng sớm Chủ Nhật ngày 18 tháng 6 năm 1854. Thuyền trưởng Hawkins đã lên bờ. Một cơn gió đông thổi mạnh và những con sóng lớn đã đánh vào làm con tàu bị mắc cạn rồi bị đắm gần bãi biển Lorne. Thủy thủ đoàn của tàu “Osprey” gồm khoảng 20 người, có khoảng 10 người thiệt mạng.
Tàu buôn Schooner Rebel, được ghi danh tại Geelong, dự định di chuyển từ Melbourne (Australia) đến Adelaide, thủ phủ của tiểu bang Nam Úc khoảng 700 km về phía Bắc Tây Nam, đã bị đắm vào ngày 17 tháng 2 năm 1855, gần bãi biển Lorne, tiểu bang Victoria. “Rebel” có một thủy thủ đoàn nhỏ, khoảng từ 10 đến 15 người, tất cả đều mất tích. Không còn ai sống sót!
Cách khoảng 10 phút lái xe về phía tây của thắng cảnh 12 Vị Tông Đồ là Loch Ard Gorge nơi có các vách đá dựng đứng bao quanh một bãi biển nhỏ nằm trong Công viên quốc gia Port Campbell. Đây là một phần của Great Ocean Road và nổi bật với cảnh quan tuyệt đẹp của vách đá, bãi biển và biển cả.
Nhạc sĩ Trần Chí Phúc trình bày “Xác em nay ở phương nào?” thơ Ngọc Khôi – nguồn youtube
Tên Loch Ard thực sự xuất phát từ một con tàu mang tên Loch Ard. Sau 3 tháng lênh đênh trên biển từ Anh đến Melbourne, trong cơn bão lớn cách Lorne khoảng 10 km về phía đông, vào ngày 1 tháng 6 năm 1878. tàu Loch Ard bị mất phương hướng. Những con sóng dữ đã đánh chìm tàu chỉ vài phút sau khi tàu va vào vách đá. Chuyến tàu tổng cộng 54 người gồm hành khách và thủy thủ đoàn, chỉ còn hai người sống sót là Tom Pearce – một thủy thủ học việc trên tàu và Eva Carmichael, một hành khách. Cả hai đều 18 tuổi. Pearce bị dạt vào bờ biển và đã tìm thấy Carmichael sau khi nghe tiếng khóc của cô. Họ trèo ra khỏi Loch Ard Gorge để tìm người giúp đỡ và đã được những người thổ dân bản địa cứu giúp. Vào tháng 6 năm 2009, sóng biển dữ làm mái vòm sụp đổ để lại hai trụ đá được đặt theo tên của hai ngươi là Tom và Eva sống sót trong thảm nạn chìm tàu Loch Ard.
Đứng trong biển chiều Lorne phóng tầm mắt ra xa, tôi tưởng nhớ những người đã chết trong hai vụ đắm tàu cách nay gần 150 năm.
Tôi cũng nhớ hàng trăm ngàn bà con thân yêu của tôi, một thời hãi hùng đã bỏ mình trên sóng nước bao la thời vượt biên, vượt biển. Lại nhớ thơ Cao Tần: “Này biển chiều sóng xô ào lớp lớp. Những tiếng đời tan nát khóc thương nhau…” Lại nhớ thơ Ngọc Khôi: “Xác em nay ở phương nào?” được nhạc sĩ Trần Chí Phúc phổ nhạc. “Chiều ra biển đứng ê chề. Tìm trên ngọn sóng ngó về xác em. Vớt rong rêu ngọn tóc mềm. Quay về hướng gió tưởng em thở dài… Xác em nay ở phương nào. Tấp sang đất Thái hay vào Nam Dương. Có khi xác vượt trùng dương. Trôi về Bắc Mỹ trách hờn người yêu. Biển lớn, biển lớn cuốn em đi. Rồi xa, rồi xa, rồi xa mãi. Biển ơi, trả cho ta xác em yêu. Chiều ra biển đứng ngậm ngùi. Nhớ em và nhớ cả trời Việt Nam”.
Tôi lúi húi làm thơ: “Đêm anh ra biển một mình/ Thuyền linh đinh, giữa u minh nước trời/ Biển ru anh tiếng ru đời/ Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau.”
Hôm nay, 28-5-1993, đang ăn điểm tâm sáng, bỗng có người đến cho hay tin buồn, đáng thương: một nhà sưu tập và buôn cổ ngoạn, đã bị câu lưu rồi thả ra vài tháng nay và nay tin cho hay đã bị bắt và giam trở lại, chưa biết rõ duyên cớ nhưng tạm thấy nghề buôn nguy hiểm và muốn giữ được khỏi phiền toái và hao hớt tinh thần, lẫn vật chất, thì tốt hơn không nên chọn nghề đi buôn vật cổ, sách cũ và đồ vật xưa, khi đã được nhận là hiếm quí, thì tai họa lưu trữ cũng tùy và chưa biết trước được. Cao kế là đừng ham, đừng cố muốn sanh lợi là tốt nhứt.
Sưu tập nhiều năm, tốn hao không ít, đi đây đi đó mua về, mừng chưa kịp no, bỗng thinh khổng thinh không sạch sành sanh, không còn món nào, thân lại bị tù tội, nhà như có tang, vợ kinh hoàng, chạy đôn chạy đáo, con bị bỏ học, người ngoại cuộc hay tin, thỏ thác cáo sầu, nỗi thương tâm không bì nỗi tai họa đất bằng sóng dậy, nhưng nghĩ cho cùng, phải có lửa cháy, mới có khói bay ra … Khách báo tin ra về, đóng cửa lấy bộ Hồng lâu mộng ra đọc, giải buồn. Nhà có đến hai bộ: 1 bộ do Văn Hóa Hà Nội xuất bản năm 1962, dịch lại những thơ chữ Hán, nhưng rất tiếc là không kèm thêm bản phiên âm Hán tự ra quốc ngữ, để giúp người dốt hiểu thêm ý nghĩa người cổ nhân: bộ thứ 2 là bộ của nhà xuất bản “Chiêu Dương” Sài Gòn, in năm 1969, bộ nầy, chẳng qua là của một người, theo tôi, dựa theo bản đã in rồi trên kia và viết lại đổi lại vài từ ngữ, v.v.., nhiều chỗ, tỷ như thi Hán, vẫn phiên âm thay vì dịch nghĩa. Chung qui, ngày nhàn, giờ rỗi, nay đọc lại, mới hiểu thêm một đôi chỗ, giúp cho người dốt đực như tôi, chính tên viết làm sao cũng dốt luôn, vẫn mò và hiểu được chút ít về khoa chơi đồ cổ.
So sánh lại và xin miễn nói chuyện bây giờ, chỉ bàn về chuyện đã qua: tỷ như thời Tây u, thời Diệm như thời Thiệu v.v.., vẫn có tục “Nhà Nước mua sắm, vẫn thông qua nhà thầu, nhà buôn có môn bài, và giấy tờ luộm thuộm, facture, mandat de paiement, giấy giao hàng, ngân phiếu, v.v.. chung qui, vẫn y cựu lệ, đời Mãn Thanh, thời Ung Chánh, Kiền Long, thạnh thời nhứt buổi ấy, cũng vẫn Nhà Nước mua sắm chuyển qua tay các chức viên Thanh triều dưới danh từ y hệt “bình cũ rượu mới”, hoặc “bình mới rượu cũ”, và nói tắt cho mau hiểu, đời Tây đã có compradore, ta dịch Hán văn là “mại bản”, nôm na theo Ba Tàu là “Mái chính”, nói thông thường tiếng Việt là “nhà thầu”, “thầu khoán”, “người lãnh việc”, hoặc người bao mối mua lên và bán lại cho Nhà Nước để nhận tiền còm (vì vậy mà sau ngày Giải phóng 30/4/1975, các tay buôn dưới danh từ ấy đã bị hốt và quét gần như tiệt giống và trái lại, nói về đời Thanh và dựa theo bản Hồng Lâu Mộng, thì vẫn “Đô chuyển vận diêm sứ” (nếu coi về muối ăn cần thiết của triều đình và dân chúng, “Diêm”, hoặc gọi cách khác là “Tư diêm pháp đạo” v.v .. nhưng chung qui cũng là muối hột (nguyên chất) hoặc “muối bọt” khi đã tán, xay ra bột, ra hột muối nhỏ, v.v ..và để hiểu về đồ cổ, sách vở v.v .. , thì … đến đây, xin độc giả cho tôi dài dòng tâm sự cùng tìm hiểu như sau:
a) đồ cổ là gì?
Xin thưa: trước khi thành cổ, đồ ấy vẫn là nay. Tỷ dụ: 1 món gọi Đại Thanh Khang Hy niên chế, thì dưới đời vua Khang Hy, 1666 (K.H. đệ nhứt niên) đến 1722 (K.H. đệ lục thập nhứt niên), món ấy vẫn là nay (tân, mới), nhưng bắt đầu từ 1723 (Ung Chánh đệ nhứt niên) thì món ấy đã trở nên cũ, lỗi thời, và đã qua đời khác rồi và sở dĩ, theo Trung Hoa và theo người Việt ta, căn cứ theo nguyên tắc “thay vua thì phải thay tất cả những gì thuộc ông vua ấy, cho là “quá thời” và phải thay thế bằng vật đổi mới và lấy niên hiệu vua kế nghiệp làm đầu mối lại mới, để tránh sự loạn trong giống dòng, trong cung nội, (thay thế cung phi, của vua đã qua đời và lựa chọn, chế tạo lại dụng cụ theo thể thức mới của ông vua nối ngôi kế tiếp, tôi nói tuy lòng vòng, nhưng sự thật tóm tắt lại đó là để giữ mối giềng cho tinh khiết và cũng vậy mà, nói xuyên qua sự nối dòng, mỗi người nữ ngoại tình, hiểu theo Khổng Mạnh thì tội rất nặng, vì nữ ấy đã đem máu khác diệt máu của chồng và của bao nhiêu tổ tiên của chồng, trong khi và trái lại, hiểu theo đạo Da tô và theo luật người phương Tây, người nữ phạm tội ngoại tình, vẫn có chỗ tha thứ và nhẹ tội, cho rằng người đàn ông tuy cương quyết nhưng vẫn lầm lỗi, thì tức nhiên người đàn bà, trí óc kém người đàn ông, tức phải dễ lầm lạc và rất nên tha thứ, thứ nhứt là bên phương Tây, không có tục “nối dòng thờ phụng tổ tiên” (và phương Tây, gái có chồng còn lấy trai, có chỗ châm chế, không như phương Đông ngoại tình).
Quých-Quých Chưa đến ba giờ sau, chúng tôi đã đến trước một cái ao đầy bùn. Trên mặt lớp bùn là những cây hoa sen và những tàu lá xanh và to. Chúng tôi đi theo mép bùn. – Cẩn thận đừng có trượt chân đấy, nếu bị ngã xuống là không mong lên được đâu, – Văn Huê vừa thấy tôi đi loạng choạng đã cảnh cáo tôi. – Anh cứ đi đi, tôi theo anh, và tôi sẽ cẩn thận hơn. Trước mặt tôi là một hòn đảo nhỏ, cách xa chừng một trăm năm mươi mét. Từ giữa cái đảo tí hon ấy, khói hốc lên. Chắc đấy là chỗ đốt than. Tôi nhận thấy có một con cá sấu nằm trong bùn, chỉ có cặp mắt ló ra. Không biết con cá sấu này ăn gì để sống trong đống bùn này. Sau khi đi bộ hơn một kilômét dọc bờ ao có bùn này. Văn Huê dừng lại và cất tiếng hát một bài hát Tàu. Một bóng người hiện ra bên kia đảo. Đó là một người nhỏ nhắn, chỉ vận một cái quần cụt. Hai người nói chuyện với nhau rất lâu, tôi bắt đầu thấy sốt ruột thì vừa may họ cũng ngừng nói. – Đi lối này – Văn Huê bảo tôi. Tôi đi theo anh, chúng tôi lại lộn ra. – Mọi việc tốt cả. Đây là bạn Quých-Quých, Quých-Quých đi săn cũng sắp về rồi, ta phải đợi ở đây. Chúng tôi ngồi xuống. Chưa đầy một giờ sau, Quých-Quých về. Đó là một người nhỏ và gầy, da vàng, răng nhuộm gần như đen bóng, có cặp mắt thông minh và thẳng thắn. – Anh là bạn của Chang em tôi? – Phải. – Tốt lắm. Anh về được rồi đấy, Văn Huê ạ. – Cảm ơn anh, – Văn Huê nói. – Anh cầm con gà gô này về đi. – Tôi không lấy đâu, cảm ơn anh. – Anh bắt tay tôi rồi quay đi. Quých-Quých kéo tôi đi theo con heo cứ chạy trước anh. Anh theo sát nó từng bước.
– Anh hãy chú ý đấy Papillon. Xảy chân, bước lỡ một bước là anh bị sa lầy ngay. Trường hợp bị nạn, không ai có thể cứu được vì không phải một mà cả hai cũng tiêu luôn. Đường đi lại thay đổi luôn vì bùn cứ xê dịch hoài, nhưng con heo vẫn tìm được lối đi. Có một lần, tôi phải chờ hai ngày mới đi qua được. Quả vậy, con heo đánh hơi và nhanh chóng vượt qua quãng bùn. Anh người Tàu nói với nó bằng tiếng mẹ đẻ. Tôi di theo ngỡ ngàng vì thấy con vật nhỏ bé này nghe lời anh như một con chó.
Con heo đã đi qua được bên kia mà không lần nào lún sâu quá vài phân. Anh bạn mới của tôi cũng mau chân theo nó và nói: Anh bước theo bước chân tôi nhé. Phải đi rất nhanh vì những vết chân heo bị lấp rất chóng. Chúng tôi qua ao bùn không khó lắm. Không lúc nào bùn ngập quá bắp chân tôi, mà có ngập đến bắp chân thì cũng chỉ ở đoạn cuối thôi. Con heo đi hai khúc quành dài, làm chúng tôi buộc lòng phải đi trên lớp đất chắc ấy một quãng dài hơn hai trăm mét. Mồ hôi tôi chảy dòng dòng khắp người. Nói là tôi sợ thật chưa đủ. Phải nói là kinh hoàng mới đúng. Đi quãng đường đầu tiên, tôi tự hỏi không biết số mạng tôi có phải chết như Sylvain không. Tôi như lại trông thấy anh bạn khốn khổ ấy trong giai đoạn cuối cùng, và tuy rất tỉnh táo tôi nhận rõ người anh nhưng mặt lại hao hao giống tôi. Cảm giác của tôi khi tôi đi qua đoạn đường đó thật là ghê sợ. Tôi không dễ quên ngay. – Đưa tay cho tôi – Và Quých-Quých, anh chàng bé nhỏ chỉ có xương và da, đã giúp tôi leo lên bờ. – Anh bạn ơi, bọn đi săn người không tới đây lùng chúng ta đâu nhỉ. – ồ anh yên tâm về chuyện này. Chúng tôi đi sâu vào đáo: Một mùi thán khí xộc vào họng tôi. Tôi ho. Đấy là mùi khói của hai cái lò đốt than đang bốc cháy ở đây tôi không còn sợ muỗi. Một cái lán nhỏ, lợp lá, vách cũng bằng lá kết lại với nhau, đứng trước gió, chung quanh mù mịt khói. Có một cửa vào, và đứng trước cứa là cái ông già người Đông-dương bé nhỏ mà tôi đã trông thấy trước khi gặp Quých-Quých. – Chào me-xừ. – Nói tiếng Pháp với anh ấy, đừng dùng tiếng địa phương, anh ta là bạn của em tôi đấy. Ông già người Tàu, bé quắt một mẩu, nhìn tôi từ đầu đến chân. Hài lòng về cuộc quan sát của mình, ông chìa tay ra cho tôi, miệng mỉm cười móm mém. Vào đi ngồi xuống đây. Cái bếp duy nhất này trông rất sạch sẽ. Trên bếp là một cái nồi to không biết đun nấu gì. Chỉ có một cái giường bằng cành cây đan với nhau, cao cách mặt đất ít nhất là một mét. – Ông giúp tôi làm thế nào cho anh ấy có chỗ ngủ đêm nay đi. – Được rồi,. Chưa đầy nữa giờ sau, chỗ nằm của tôi đã xong. Hai người Tàu dọn thức ăn ra và chúng tôi ăn một món xúp tuyệt ngon, rồi cơm trắng với thịt nấu hành. Ông bạn Quých-Quých là người đi bán than củi. Ông ta không ở lại đảo, vì vậy tối đến, chỉ còn lại Quých-Quých và tôi. – Phải, tôi đã lấy trộm cả bầy vịt của trại trưởng, vì vậy tôi phải vượt ngục. Chúng tôi ngồi đối diện với nhau ngọn lửa nhỏ chốc chốc lại bốc lên soi sáng mặt chúng tôi. Mặt Quých-Quých không vàng hắn. Do phơi nắng, màu vàng tự nhiên đã chuyến thành màu đồng đỏ. Mắt anh xếch, đen nhánh, khi anh nói với ai là mắt anh nhìn thẳng vào mắt người ấy. Anh hút những điếu xì- gà dài mà anh dùng lá thuốc đen cuốn lấy. Tôi vẫn cuốn thuốc lá bằng tấm giấy bản mà anh cắt cho tôi. – Tôi phải trốn vì trại trưởng, chủ đàn vịt, muốn giết chết tôi, chuyện ấy cách đây đã ba tháng. Khổ một cái là tôi thua bạc, không chỉ mất hết tiền bán vịt mà mất cả tiền bán than của hai lò than này. – Anh chơi ở đâu? – Chơi trong rừng. Đêm nào cũng đánh với mấy anh Tàu ở trại Inini và mấy anh tù mãn hạn từ bên Thác sang. – Anh đã quyết định vượt biển chưa? – Tôi chỉ mong có thế. Khi tôi bán được than củi, tôi tính mua một chiếc ghe, tìm một người biết lái chịu đi với tôi. Nhưng trong ba tuần nữa, ta bán than rồi là có thể mua một chiếc ghe và đi đường biển, vì anh biết lái mà. – Tôi có tiền đây, anh Quých-Quých ạ, không cần phải chờ bán được than mới mua thuyền. – Thế thì hay. Có một chiến thuyền tốt lắm, một ngàn năm trăm francs, của một người da đen làm nghề bổ củi bán. – Anh đã coi chưa? – Rồi. – Nhưng tôi cũng muốn xem. – Mai, tôi sẽ đi gặp Sô-cô-la, tôi vẫn gọi hắn như vậy Papillon ạ, anh kể cho tôi nghe chuyện vượt ngục của anh đi. Tôi tưởng không thể nào vượt ngục từ đảo Quỷ đi được. Sao Chang không đi cùng anh? Tôi kể với anh chuyện vượt ngục, con sóng Lisette, cái chết của Silvain. – Tôi hiểu tại sao Chang không muốn đi với anh. Thật là quá mạo hiểm. Số anh đỏ lắm đấy, cho nên anh mới sống sót mà tới đây được. Tôi mừng cho anh lắm. Quých-Quých và tôi trò chuyện với nhau đã ba giờ. Chúng tôi ngủ sớm vì anh muốn đi tìm Sô-cô-la ngay lúc hừng đông. Sau khi đặt vào bếp một cành cây to để nó cháy suốt đêm, chúng tôi ngủ. Khói làm tôi ho và tắc cả mũi, nhưng có điều lợi là không có lấy một con muỗi.
Nằm trên giường, đắp chăn ấm, tôi nhắm nghiền mắt. Tôi không sao ngủ được. Tôi bị căng thẳng quá. Đúng là chuyến vượt ngục diễn ra thật tốt đẹp. Nếu tàu tốt chỉ tám ngày nưa là tôi sẽ ra khơi. Quých-Quých nhỏ và gầy, nhưng anh có sức mạnh phi thường, và sức chịu đựng của anh có thể vượt qua được mọi thứ thách. Chắc chắn là anh trung thực và đàng hoàng đối với bạn, nhưng có thể anh cũng rất tàn nhẫn với kẻ thù. Khó mà nhận xét được điều gì trên mặt một người Á đông, nó chẳng bộc lộ chút gì hết. Tuy vậy, mắt anh đã nói thay anh. Tôi ngủ thiếp đi và mơ thấy biển khơi tràn đầy ánh nắng, tàu của tôi tưng bừng vượt sóng trên đường đi tới tự do. Anh uổng cà-phê hay trà? – Thế anh uống gì? – Tôi uống trà. – Vậy cho tôi trà. Trời vừa ló sáng, lửa vẫn cháy từ đêm qua, nước reo trong xoong. Một con gà vui mừng cất tiếng gáy. Chung quanh chúng tôi không có tiếng chim kêu, chắc chắn khói đã làm chúng bạt đi mất. Con heo đen nằm trên giường với Quých-Quých. Con heo chắc làm biếng lắm, vì đến giờ nó vẫn còn ngủ. Những miếng bánh tráng làm bằng bột gạo đang được nướng trên than hồng. Sau khi pha trà đường, anh bạn tôi cắt bánh làm đôi, phết mỡ rồi đưa cho tôi. Chúng tôi ăn một bữa thịnh soạn. Tôi ăn ba chiếc bánh tráng đã được nướng kỹ. – Tôi đi đây, anh theo tôi ra nhé. Nếu có ai kêu hay huýt sáo, đừng trả lời. Anh không phải lo, không ai đến đây được. Nhưng nếu anh ra chỗ mép bùn, anh có thể bị chết đấy. Con heo đã dậy theo tiếng gọi của chủ. Nó ăn, uống rồi ra ngoài, chủ nó đi theo nó. Nó đến thẳng nơi có bùn. Nó đi xuống cách đoạn đường chúng tôi tới đây hôm qua hơi xa hơn một chút. Đi được vài chục mét, nó quay lại: nó không ưng lối này. Sau khi dò thử ba lần, nó mới vượt qua chỗ bùn. Quých-Quých theo ngay nó, không e ngại và đã tới được chỗ đất rắn. Mãi tận chiều, Quých-Quých mới về. Tôi ăn một mình món súp anh đã đặt trên đống lửa. Sau khi nhặt được tám quả trứng trong chuồng gà, tôi lấy mỡ làm một đĩa ba quả trứng ốp-lết. Gió đã đổi chiều và khói ở hai lò bên lán đã bay về hướng khác. Buổi chiều trời mưa, tôi nằm trên giường gỗ của tôi, tôi không bị thán khí làm cho khó chịu. Buổi sớm, tôi dạo một vòng quanh đảo. Khoảng giữa đảo có một khu đất trống khá rộng, cây đổ và củi bổ tại đó chứng tỏ là Quých-Quých lấy gỗ ở đấy để đốt thành than. Tôi còn thấy một cái hố có đất sét trắng, chắc anh moi lên để phết vào gỗ làm cho nó cháy không thành ngọn. Lũ gà kiếm ăn ở khu đất trống. Một con chuột kếch xù chạy vụt dưới chân tôi và cách đấy vài thước, tôi thấy một con rắn dài gần hai mét đã chết. Chắc hẳn con chuột đã cắn chết con rắn. Suốt ngày hôm ấy, ở một mình trên đảo, tôi khám phá hết cái nọ đến cái kia. Ví dụ, tôi gặp một gia đình những con ăn kiến. Một mẹ và ba con. Một tổ kiến to đang sôi sục quanh chỗ chúng. Hơn một tá khỉ rất nhỏ nhảy từ cành nọ sang cành kia trên khoảng đất trống. – Tôi không gặp Sô-cô-la, cũng không thấy chiếc thuyền. Chắc anh về làng ở vùng Thác mua thực phẩm. Anh ăn đủ chưa? – Rồi. – Anh còn muốn ăn nữa không? – Không. Tôi mang về cho anh hai gói thuốc đen, loại sợi to của lính: vì chỉ có thứ này. – Cảm ơn anh, thứ này được rồi. Khi Sôcôla đi vắng, thường anh ta ở lại làng mấy ngày? – Hai ba ngày, nhưng mai tôi lại đi, ngày nào tôi cũng đi, vì tôi không biết anh ta đi lúc nào.
Hôm sau trời mưa tầm tã. Nhưng Quých-Quých vẫn trần truồng đội mưa ra đi. Anh bọc quần áo trong một tấm vải sơn cắp dưới nách. Tôi không tiễn chân anh. “Anh đừng đi làm gì cho ướt”. Anh nói với tôi thế. Mưa đã tạnh. Nhìn mặt trời, tôi biết là đã mười một giờ. Lò than thứ hai bị nước mưa làm sập. Tôi tới gần để ước lượng tai họa này. Mưa xối xà cũng không làm tắt hết củi. Vẫn còn khói từ trong cái đống dị hình đó bốc lên. Bỗng tôi dụi mắt rồi nhìn lần nữa vì những thứ tôi trông thấy thật bất ngờ: trong lò than có năm chiếc giày. Trông rõ ngay là mỗi chiếc giày đều đặt thắng đứng trên gót, đều được sỏ vào một cái chân còn nguyên từ bàn chân lên đến bắp. Như vậy là có ba người bị thiêu trong lò. Không cần phải mô tả phản ứng đầu tiên của tôi: khám phá ra chuyện này tôi thấy lành lạnh ờ sống lưng. Tôi cúi xuống lấy chân bới chút tàn than cháy dở, thì thấy bàn chân thứ sáu. Quých-Quých cũng ghê thật, anh đã biến những người anh giết hàng loạt thành tro bụi. Tôi bị xúc động đến nỗi phải rời khỏi lò than ngay ra tận khu bãi trống đế có chút ánh nắng. Tôi cần phải được sưởi nóng. Đúng, trong không khí ngột ngạt này, tôi bỗng thấy lạnh và cần phải có một chút mặt trời nhiệt đới. Đọc đến đây, chắc độc giả cho là chuyện vô lý: đáng lẽ sau khi khám phá ra việc này, tôi phải toát mồ hôi mới phải. Thế mà không, tôi thấy lạnh cóng người, về tinh thần và thể chất. Rất lâu, đến một tiếng đồng hồ sau, mồ hôi mới bắt đầu chảy trên trán tôi vì càng nghĩ, tôi càng thấy rằng, tôi đã nói với anh ta là tôi có rất nhiều tiền dấu ở trong plan thế mà đến bây giờ tôi vẫn còn sống thì thật là một điều kỳ diệu. Phải chăng anh ta để dành tôi cho một cái lò đốt than thứ ba? Tôi nhớ là Chang em của anh đã nói với tôi là anh bị kết án về tội ăn cướp và giết người trên một chiếc thuyền buồm. Khi họ tấn công một chiếc tàu để cướp của, họ giết cả gia đình, tất nhiên là vin vào những lý do chính trị. Vậy thì đây là những người đã quen giết người hàng loạt. Thế mà tôi lại bị cầm giữ ở đây. Tôi ở trong một hoàn cảnh thật gay go. Thứ điểm lại tình hình xem sao. Nếu tôi giết Quých-Quých trên đảo này rồi cho xác anh vào lò than, không ai hay biết được. Nhưng con heo lại không chịu nghe tôi con heo được rèn luyện này cũng không hiểu tiếng Pháp. Vậy là không có cách nào ra khỏi đảo. Nếu tôi ép buộc được anh Tàu này nghe theo tôi, thì sau khi bắt anh đưa tôi ra khỏi đảo, tôi sẽ giết anh trên đất liền. Nếu tôi ném anh xuống bùn, anh sẽ biến mất, nhưng chắc anh phải có lý do gì để thiêu những người này mà không ném xác họ xuống bùn, làm thế dễ hơn nhiều. Bọn cai tù, tôi đếch sợ, nhưng nếu các bạn Tàu của anh khám phá ra là tôi đã giết anh, họ sẽ thành kẻ đi săn người. Họ lại thông thạo địa thế ở đây. Như vậy, bị họ đuổi theo chẳng phải là chuyện hay hớm gì. Quých-Quých chỉ có khẩu súng trường một nòng, nạp đạn từ phía đầu nòng. Anh không chịu rời nó, kể cá lúc nấu ăn, lúc ngủ và ngay cả khi đi ngoài anh cũng mang súng theo. Tôi có con dao lúc nào cũng mở sẵn nhưng tôi còn phải ngủ. Thế mà anh lại là người tôi chọn để cùng vượt ngục đấy, thật oái oăm. Cả ngày hôm ấy tôi không ăn. Và khi tôi nghe tiếng anh hát, tôi cũng chưa quyết định làm gì. Quých-Quých đã trở về. Nấp sau các cành cây tôi thấy anh đi tới. Anh mang một cái bọc đặt thăng bằng trên đầu và khi anh đến bên tôi, tôi mới ló ra. Anh tươi cười đưa tôi gói đồ bọc trong cái bao bột mì, leo lên rồi đi vội vào nhà. Tôi đi theo anh. – Tin mừng, Papillon ạ, Sô-cô- la đã về rồi, thuyền vẫn còn. Anh ta nói là tàu có thể chở được hơn năm trăm kí-lô mà vẫn nổi. Thứ anh đang cần là những bao bột mì để ghép lại thành buồm chính và một buồm mui. Đây là bọc hàng đầu tiên. Nhưng thứ còn lại mai ta sẽ lấy về nốt, vì anh sẽ đi xem thuyền với tôi. Quých-Quých vừa đi vừa nói, không quay mặt lại. Chúng tôi nối gót nhau đi. Trước tiên là con heo, rồi đến anh ta, còn tôi đi sau cùng. Tôi khoáng nghĩ rất nhanh là anh không có vẻ gì có ý định cho tôi vào lò than, vì ngày mai anh sẽ đưa tôi đi xem thuyền, và anh đã bắt đầu tiêu pha để chuẩn bị cho cuộc vượt ngục: anh còn mua cả những bao bột mì. – Một cái lò bị sập đổ kìa. Chắc tại trời mưa. – Mưa nhiều quá nên cũng chẳng có gì là lạ. Anh cũng không ra thăm lò, cứ đi thẳng về lán. Tôi không biết nói gì, cũng không biết nên làm gì. Coi như không trông thấy gì cũng không xong. chẳng lẽ suốt ngày tôi lại không mò đến gần lò ở cách lán có hai mươi lăm mét, nghĩ cũng kỳ. – Anh để tắt lửa đấy à? – Phải, tôi chẳng đề ý đến nữa. – Anh đã ăn chưa? – Chưa, tôi không đói. – Anh bệnh à? – Không. – Thế tại sao anh không ăn súp đi? – Quých-Quých, anh ngồi xuống dây, tôi có chuyện muốn nói với anh. – Để tôi châm lửa đã. – Đừng. Tôi muốn nói chuyện với anh ngay, trong lúc trời còn sáng. – Có điều gì vậy? – Có điều là lò sập đã để lộ ba cái xác người bị anh thiêu trong đó. Anh bày giải thích cho tôi nghe việc này. – à! Thảo nào tôi thấy mặt anh là lạ. Không lộ vẻ xúc động chút nào, anh nhìn thẳng tôi nói: – Sau khi nhìn thấy như vậy, anh không yên tâm phải không? Tôi hiểu, chuyện dĩ nhiên thôi. Cũng may cho tôi là anh chưa đâm vào lưng tôi. Anh Pappillon, ba thằng cha ấy là ba thằng đi săn người. Và tuần qua, mười hôm thì đúng hơn, tôi bán một mớ củi cho Sô-cô-la.
Ông người Tàu mà anh đã thấy, giúp tôi đưa các bao than ra khỏi đảo. Chuyện này rắc rối lắm: chúng tôi dùng thừng dài hơn hai trăm mét kéo những bao than cho trượt trên bùn. Đại khái là như vậy. Từ đây đến một con lạch nhỏ, thuyền của Sô-cô-la đậu ở đấy. Chúng tôi đã để lại rất nhiều dấu vết, mấy cái bao rách đã để rơi vài cục than. Thế là bắt đầu xuất hiện kẻ săn người đầu tiên. Nghe thú kêu, tôi biết là trong rừng có người. Tôi thấy được thằng cha nọ, nó lại không trông thấy tôi. Tôi lén đi qua phía bên kia đáo, vòng sau lưng nó đánh bất ngờ, chẳng có gì khó. Nó bị giết chết mà không hề biết ai giết mình. Tôi để ý nhận thấy các xác chết nắm xuống bùn sau vài ngày lại nổi lên, cho nên tôi mang nó về đây, cho vào lò. – Còn hai người kia là thế nào? Chuyện xáy ra ba ngày trước khi anh đến đây. Đêm ấy tối đen như mực và hoàn toàn im ắng, điều này ít khi thấy ở rừng lắm. Hai thằng này ở bờ ao từ chập tối. Một đứa hễ bị khói bay tới là lên cơn ho. Do có những tiếng ho mà tôi biết là có chúng ở đấy. Trước khi trời sáng, tôi đánh liều đi qua phía trước mặt, chỗ bùn mà tôi đã nhớ là có tiếng ho. Muốn cho nhanh, như tôi đã nói với anh, tôi đã cắt cổ tên săn người đầu tiên. Nó không kêu được một tiếng. Còn thằng sau nó, có một khẩu súng săn, nó chỉ lo nhìn về phía trên đảo xem có chuyện gì xảy ra, nên đã để tôi trông thấy. Tôi cho nó một phát súng và thấy nó chưa chết hẳn, tôi lại bồi thêm cho nó một nhát dao vào tim. Đấy là ba thằng mà anh đã trông thấy trong lò than đấy Papillon ạ Một thằng A-rập và hai thằng Pháp. Vác chúng lên vai mà đi qua đống bùn không phải dễ. Chúng nặng lắm, cho nên tôi phải đi làm hai chuyến. Rồi tôi cũng cho nó vào lò được. – Chuyện xảy ra đúng như vậy chứ? – Đúng thế, Papillon, tôi thề với anh ấy. – Tại sao anh không cho chúng xuống bùn? – Tôi đã nói rồi, bùn đẩy xác chết lên. Thỉnh thoảng có con nai bị rớt xuống đấy, chỉ một tuần sau, nó lại nổi lên. Hôi thối lắm, mãi đến khi kền kền đến ăn mới hết mùi. Phải lâu lắm, tiếng kền kền kêu và bay lượn làm cho người ta tò mò tìm đến. Papillon ơi, tôi thề với anh là đi với tôi anh không phải sợ gì. Đây để anh yên tâm, anh cầm lấy khẩu súng này, nếu anh muốn. Tôi muốn nhận khẩu súng đến chết, nhưng tôi đã nén được và tôi cố hết sức nói thật tự nhiên: – Tôi không cầm đâu anh Quých-Quých, tôi đến đây vì tôi cảm thấy được bảo đảm, như đến với một người bạn. Ngày mai anh phải thiêu tiếp mấy tên săn người ấy cho hết dấu vết đi. Dù tôi không có mặt ở đây tôi cũng không muốn bị buộc tội là đã giết ba người. – Được, mai tôi sẽ thiêu nữa. Nhưng anh yên trí. không ai đặt chân được lên đảo này. Không thể có ai dám qua đây nếu không muốn bị sa lầy. Thế với một chiếc xuồng bằng cao su có qua được không? – Tôi không nghĩ đến việc đó. Nếu ai dẫn bọn hiến binh đến đây và chúng muốn vào, anh cứ tin là với một cái bè, chúng có thể vào được. Vì vậy nên phải đi càng sớm càng tốt. – Đồng ý. Ngày mai, sẽ nhóm lò lại, nó cũng chưa tắt hẳn, chỉ cần làm hai ống thông hơi nữa. – Thôi chào anh Quých-Quých. – Chúc anh ngủ ngon, Papillon. Tôi nhắc lại là anh cứ ngủ cho kỹ, anh có thể tin tôi. Nằm kéo chăn lên tận cằm, tôi thấy ấm áp khoan khoái Tôi châm thuốc hút.
Mười phút sau, Quých-Quých đã ngáy, con heo nằm cạnh anh cũng thở phì phò. Lửa không bốc lên nhưng than ở thân cây còn hồng và khi có cơn gió lùa vào lán, nó tạo ta một cảm giác thanh bình, êm ả. Tôi tận hưởng tiện nghi này và tôi đã ngủ với những ý nghĩ sau đây trong đầu? Ngày mai, tôi sẽ thức dậy và giữa Quých-Quých với tôi mọi việc đều êm đẹp; nếu không chú ba tàu này quá là một nghệ sĩ đã che dấu những ý định của mình và kể chuyện tào lao còn giỏi hơn ca Sacha Guitry* (*Sacha Guitry: diễn viên kịch nói và điện ảnh rất nổi tiếng của Pháp còn là tác giả của nhiều kịch bản sân khấu và phim (1885 –1957) – ND) và nếu thế tôi sẽ không thấy ánh mặt trời, vì tôi đã biết quá nhiều về anh, anh sẽ ngại. Chuyên viên giết người hàng loạt đánh thức tôi dậy, tay cầm một ca cà-phê, và như không có chuyện gì xảy ra, anh chào tôi với một nụ cười vô cùng cởi mở. Ngày đã rạng. – Này, anh uống cà phê, ăn bánh tráng đi, đã cho mỡ rồi đấy. Ăn uống xong, tôi ra ngoài, rửa ráy ở một thùng ton-nô lúc nào cũng đầy nước. – Anh giúp tôi nhé, Papillon? – ừ! – tôi nói mà không hỏi xem anh ta cần giúp việc gì Chúng tôi kéo chân mấy cái xác chết đã bị thiêu dở dang. Tôi để ý thấy mà không nói ra, là cả ba cái xác đều bị mổ bụng, anh chàng tàu dễ thương này chắc đã tìm xem họ có dấu tiền trong ruột không. Có đúng họ là những kẻ săn người không. Biết đâu lại chỉ là những người săn bướm và săn thú? Anh ta giết họ để tự vệ hay để lấy của? Thôi, không nghĩ thêm về chuyện này nữa! Mấy cái xác chết đã được đưa vào trong hố lò có củi và đất sét đắp lên trên. Hai ống thông hơi đã được mở ra và lò đã bốc cháy với hai nhiệm vụ: làm ra than củi và thiêu cho ba cái xác thành tro. – Đi nào, Papillon. Con heo con tìm ra lối đi trong nháy mắt. Chúng tôi nối đuôi nhau đi qua quãng bùn. Lúc sắp dấn bước đưa chân, tôi lo đến chết khiếp. Chuyện Sylvain bị sa lầy rồi chết đã để lại trong tôi một ấn tượng sâu sắc đến nỗi tôi không thề nào đi trên bùn một cách thanh thản được. Cuối cùng, toát mồ hôi hột, tôi cũng phải lao theo Quých-Quých. Chân tôi đặt từng bước lên vết chân anh, không có cách gì khác: anh qua được thì tôi cũng phải qua được chứ. Sau hai giờ đi bộ, chúng tôi đi đến được nơi Sô-cô-la lấy gỗ. Trên đường đi chúng tôi không gặp ai và cũng không phải lẩn trốn lần nào. – Chào me-xừ. – Chào ông Quých-Quých. – Anh có khỏe không? – Khỏe lắm. – Anh cho bạn tôi xem thuyền. Cái thuyền rất khỏe, đó là một loại sà lúp chở hàng, nặng nề nhưng bền chắc. Tôi lấy dao sỉa vào mọi chỗ, dao không bao giờ ngập sâu quá nửa phân. Sàn tàu cũng còn nguyên. Tàu này được đóng bằng một thứ gỗ đã được chọn kỹ lưỡng. – Anh bán bao nhiêu? – Hai ngàn năm trăm francs.
1 tháng giêng 1945. Năm mới! Năm của chiến thắng! Xướng ngôn viên của đài B.B.C đã kêu lên như thế, và chúng tôi sung sướng được thấy nó. Ngày đầu tháng giêng nào cùng nói mãi điều đó, đến lúc phải chấm dứt để khỏi mang tiếng lừa phỉnh. Trong khi chờ đợi, định mệnh đã lựa chọn ngay hôm ấy để phân phát cho hơn 30 tù nhân những đòn đánh đập bằng gậy gộc. Lý do: một sai lầm trong danh sách làm cho tên Trung úy SS trong văn nhòng nhân sự nổi sùng. Lại một biến cố rất tầm thường, nếu André và tôi không ở trong số nạn nhân. May thay, trong cơn xui, chúng tôi chỉ bị có 10 gậy, tuy nhiên. Trời đất, đau không chịu nổi! Và tên đê tiện đánh chúng tôi, một tên Kapo Đức thay Paul bị bịnh, không quên nhắm thật kỹ. Chính tên Trung úy đứng nhìn, và một chút tận tụy quá đáng là đủ tạo thành một sự tạ ơn tối thiểu để đòn trừng phạt được xá miễn. Và vì tình cờ, tin rằng sau 20 hay 30 nạn nhân, tên Trung úy sẽ mệt quang cảnh đánh đập đều đều đáng chán, André và tôi được sắp đứng cuối hàng.
A! Chúng tôi đã hối tiếc vì chuyện ấy! Khi người thứ 40 bị đòn xong, y đứng trước bọn chúng tôi và nói với một vẻ chế nhạo:
– Ấy! Các anh chắc bị nhiễm lạnh mất rồi, – nói xong y quay sang một tên bộ hạ: – Feldwebel, bắt chúng làm một vài động tác thể thao.
Đúng là trời lạnh quá, tuy nhiên thà đứng trong không khí giá lạnh 15 phút còn hơn là phải chạy kiểu vịt, trong một khắc đồng hồ. Một giây đồng hồ dừng lại để thở là một cây gậy giáng trên đầu yếu đuối như chúng tôi, trò thể thao ấy quá kinh hồn, và gần như là với tâm trạng thư thái chúng tôi chạy vế phía gia hình, khi đến lượt chúng tôi lãnh đòn. Nhưng chúng tôi đã chạy đến để la hoặc rú lên tùy theo cách của mỗi người. Trong khi tên thô bạo đánh đập, một tên khác giữ không cho chúng tôi cục cựa. Tất cả những ai đã trải qua loại thể thao nầy đều nhớ đời đời. Rudolph cũng bị lôi vào cuộc. Mặc dù đau đớn, chúng tôi không ngăn khỏi tức cười khi thấy ông ta đi kiểu vịt, xiêu bên nọ vẹo bên kia. Ở tuổi 55, người ta chịu dựng một cách khó khăn hơn, các thử thách tương tự, và đối với một cựu sĩ quan hình phạt đó làm đau đớn gấp đôi.
Khi trở về khối sau buổi lễ kỳ lạ đó, đột ngột André hỏi tôi:
– Ngày 1 tháng giêng 1944 anh ở đâu?
– Tại Montluc, bị giam trong phòng tối.
– Tôi cũng vậy, ở Nancy, nhưng chắc chắn anh không giả định rằng phải ở đó đến năm sau chở?
– Không, tôi giả định đủ thứ, nhưng không phải điều đó.
Và chúng tôi buồn rầu làm bằng kết toán các chuyện thăng trầm trong năm qua, thời gian kiểm dịch bốn mươi ngày của anh cũng trải qua trong cùng một thời kỳ, tại một khối khác, những cùng chung các lo âu, cùng hy vọng, cùng tất cả ảo vọng, và tất cả những cái chết. Những cuộc điểm danh dưới trời mưa, bị đánh thức vào lúc ba giờ mỗi sáng, bùn lầy, ẩm thấp, những ngày lao tác dài dằng dặc, những lúc chờ đợi trên sân ga, nhưng làm sao chúng tôi đã có thể chịu đựng nổi tất cả những thứ đó? Quả thật chúng tôi là những kẻ còn sống sót. Trong các khối, chúng tôi tự kiếm nhau, giữa người Pháp. Chỉ có những người có việc làm tốt mới còn lại, và không phải là tất cả đâu, vì người ta tiếp tục chết. Ngay khi tân niên vừa đến, Barot phải đi bệnh xá. Một chứng bịnh mới lại xuất hiện làm như là thần chết chưa được đại diện đủ: bịnh phù thủng. Thay vì trở thành một bộ xương trong vài ngày, bệnh nhân lại sưng phù lên một cách đáng kể cũng trong thời gian ấy. Thường thường bệnh bắt đầu từ chân, nhưng bao giờ cũng lan lên mặt làm thay hình đổi dạng hoàn toàn đến nỗi không còn nhận ra bạn bè nữa. Như vậy, cơ thể thoát khỏi biến chứng của bệnh phổi hay bịnh kiết lỵ, phải nhường bước thê thảm trước tình trạng thiếu ăn bằng cách nầy hay cách khác. Người bạn làm ở văn phòng để đương của chúng tôi chống cự được một tuần. Thật kỳ lạ, tất cả những ai quen biết anh ta đều thương tiếc anh một cách đặc biệt. Tuy nhiên, chính anh đã nói, anh chẳng tham gia kháng chiến, cũng không buôn bán chợ đen, các lãnh vực đó hoàn toàn xa lạ đối với anh. Nhưng anh tỏ ra rất tận tụy với tất cả mọi ngụrời, một cách tự nhiên, không làm dáng làm vẻ gì cả, và thật hiếm có những người thuần lương như vậy.
Trong khối chúng tôi có khá đông người Bỉ phần lớn là người gốc vùng Flandre, họ sống thành nhóm cách biệt không phải vì căm hờn gì ai mà vì thổ ngữ của họ và các tập quán của họ khá khác biệt với chúng tôi. Những mất mát của họ không làm chúng tôi xúc động hơn các bạn bè trong cùng biệt đội, nhưng khi Roger, người nghệ sĩ điêu khắc gia ngã bịnh, chúng tôi kinh hoàng thật sự. Ngã bịnh vào thời đó có nghĩa là chỉ có một phần trăm may mắn trở lại gặp bạn bè, và Roger là bạn của tất cả mọi người. Ngay đêm đầu nhuốm bộnh, anh sốt đến 40 độ. Việc chẩn bệnh không khó, anh tự làm lấy; sưng phổi cấp tính. Chính Rudolph đưa anh đi bệnh xá để xin săn sóc anh với phương tiện tối đa. Tuy nhiên trước khi rời chúng tôi, anh đã nói gở và làm cho chúng tôi vô cùng lo ngai cho số phận của mình.
– Tôi không còn nghi ngờ gì nữa, – anh nói với tôi, – ông tôi và cha tôi đều chết vì bị sưng phổi, và không phải tại đây tôi thoát khỏi được số phận đó.
Trong ba ngày liền, chúng tôi sống trong âu lo, chỉ nghĩ và nói đến Roger. Rudolph, đêm nào cũng đến thăm anh, trở về và đổ sụp người xuống vào đêm thứ tư: Chết! Roger chết rồi! Con “Người” duy nhất của toàn trại, cùng với khoảng mười người khác, anh là người còn xứng đáng được gọi bằng danh nghĩa ấy. Anh đã vượt xa tất cả chúng tôi với đức tính của một “gentleman” thật sự và, đêm 11 tháng giêng, đêm đầu tiên sau cái chết của anh, chúng tôi mới thật sự cảm thấy sự trống vắng vì thiếu anh, trong nhóm, không ai thốt một lời suốt hai giờ chờ đợi trên sân ga. Im lặng là lối tán dương chân thành nhất đối với con người cao cả và thành thật đó.
Ngày 13 tháng giêng, như một cơn gió Đông Nam từ Địa Trung Hải thổi đến các ốc đảo trên sa mạc, tin về cuộc tấn công mới của quân Nga lan tràn giữa các biệt đội lao tác đây đó. Đã đến lúc rồi!
Chính tờ báo cũng loan tin quân Nga đã tiến hơn một trăm năm mươi cây số trong năm ngày: không thể có sự sai lầm nữa và không khí trở nên giống với mùa hè năm 1944 lúc có cuộc tiến quân trên đất Pháp.. Mỗi buổi sáng lúc tập họp, chúng tôi tiên đoán những tin tức trong ngày và chúng tôi hấp tấp đến công trường để trông vẻ mặt của các nhân viên dân sự. Khi Breslau bị bao vây, tôi có dịp gặp Gustave mới trở lại sau mười lăm ngày vắng mặt. Anh ta nói với tôi đủ chuyện ngoại trừ tình hình mặt trận, tôi cũng giữ ý với anh ta, không đụng đến một chữ nào liên quan đến các vấn đề ấy. Sự thành thật không cho phép đến sát sự chế nhạo, và tôi không thể làm cho sự phẫn nộ nổ bùng. Tất cả bọn nhân viên dân sự đều có vẻ ngu muội. Sau khi bị nhồi nhét vào óc những luận điệu tuyên truyền, liệu có thể nào tin được là quân Nga – mà Goebbels đã nhiều lần tuyên bố sẽ bị tiêu diệt và thất bại – lại có mặt tại sông Oder, trước Stetlin, trong khi chỉ mới ba tuần trước đây họ còn ở Ba Lan đằng sau sông Vistule! Chúng tôi thì không thể trông thấy hai mươi ngày đầu của cuộc tấn công diễn ra như thế nào. Mặc dù bị lạnh và đói, cứ mỗi thành phố được chiếm, và có nhiều thành phố như thế trong mỗi ngày, là một mũi thuốc “moọc phin” giúp chúng tôi chịu đựng. Pavel đã trốn thoát ngay từ đầu cuộc tấn công, “khi quân đội tôi tấn công, tôi sẽ đi gặp họ”, anh ta đã nói với tôi. Trong nhiều ngày liền, tôi rình nghe tin về số phận của anh, nhưng anh đã không bị bắt lại. Alex đã cho tôi biết là công cuộc tìm kiếm đã bị hủy bỏ. Chắc chắn là anh ta đã thành công vì bọn SS luôn luôn sung sướng khi được cơ hội trưng bày với chúng tôi một người bạn bất hạnh.
Vụ trốn thoát của Pavel đối với chúng là một dấu hiệu của thời gian thuận lợi. Mùa thu và ngày đầu năm đã nghiền nát tất cả sức mạnh tinh thần của chúng tôi và trước bao nhiêu cái chết, chúng tôi tin rằng số phận đã được an bài, tuy nhiên, như một bình minh chói lọi sau một đêm dài, cuộc tấn công chung cuộc của quân Nga lại cho chúng tôi niềm phấn khởi và một tinh thần ham sống giúp chịu đựng cho đến khi chỉ còn thoi thóp mới thôi.
Thần chết lại tiếp tục hoành hành. Cái chết chỉ lùi một chút để tăng gia nhảy vọt, và một lợi khí mới lại đến tiếp tay đưa đi những nạn nhân đã chống cự được mọi thử thách: Lò bánh mì cung cấp cho chúng tôi bị phá hủy vào giữa tháng hai, và như vậy là thức ăn duy nhất giúp chúng tôi khỏi gục ngã đã bị hủy bỏ. Từ nhiều tháng qua súp ăn chỉ còn là nước củ cải, và nay nó là thức ăn duy nhất của chúng tôi. Một lít lúc bốn giờ sáng để thay cho bánh mì, và một lít thường lệ vào buổi tối. Một thời gian trung bình mười bảy giờ đồng hồ, không ăn giữa hai lần lãnh súp. Thật thê thảm vì đây là nạn đói theo đúng nghĩa của danh từ. Nửa giờ sau khi ăn, không ai cảm thấy còn chút súp nào trong người nữa. Đó chẵng qua là một cuộc rửa ruột làm cho chúng tôi bị bắt buộc phải đi tiểu nhiều hơn thường lệ. Tại công trường, trong giờ nghỉ buổi trưa, từng nhóm người như những đàn chó đói chung quanh làng, mò mẫm tới gần nhà ăn của nhân viên dân sự, bị lôi cuốn bởi mùi thơm của đồ ăn nấu trong bếp. Rau vụn trong thùng rác, lõi bắp cải, vỏ khoai tây là đối tượng của các cuộc đối chiến. Những người lượm được sau khi rửa, bỏ tất cả vào một cái lon và nấu thành súp trên đống lửa đốt bằng củi, chỉ có nước và vỏ rau trái, không muối, không chất béo, nhưng khi họ ăn, người ta có cảm tưởng họ đang ăn ngỗng quay. Nhân số của công trường từ một ngàn năm trăm xuống còn sáu trăm và mỗi tối đoàn người đi về giống như một đoàn đám ma. Chúng tôi có chừng hai mươi người bạn phải mang về, họ ngã gục trong ngày và thật khó phân biệt một vài người với xác chết. Quả thật chẳng mấy chốc họ chết thật và thường thường những người khiêng họ về khiêng luôn một xác xuống bệnh xá, trong lòng tự hỏi là không biết chính mình còn sống được bao ngày nữa. Đến lượt Barberon, người bạn mà không bao giờ chúng tôi đưa được vào cùng một biệt đội nữa, ngã bệnh. Cùng với anh, Marcel, và André. Chúng tôi thuộc vào một lứa tuổi ngang nhau và thường kiếm nhau mỗi tối để cùng nhau chuyện trò. Tất cả chúng tôi đều vượt qua các cơn bệnh kiết lỵ hoặc cúm và Marcel một lần mắc cả bịnh sưng mũi và suýt chết, và mỗi lần thoát khỏi bịnh hoạn một cách vẻ vang, chúng tôi lại được một đảm bảo chắc chắn để vượt qua cơn thử thách. Tuy nhiên biết bao nhiêu thanh niên và bao nhiêu người khỏe mạnh hơn chúng tôi đã bị mang đi như các cọng rơm. Nhưng chúng tôi vẫn còn giữ được vị trí thuận lợi chờ công việc của biệt đội, và ảnh hưởng của chúng tôi trên bạn bè, chúng tôi được xem như một thứ lãnh đạo ý thức, đã tạo ra một thứ không khí tinh thần làm cho chúng tôi trở thành một thứ “bất khuất” Và chính chúng tôi cũng thường tự nhủ “nếu mọi người đều phải đi qua lò thiêu xác cả, ít ra chúng tôi cũng là những người sau cùng. Barberon ngã bệnh trong những ngày đầu tiên không có bánh mì đã làm chúng tôi mất tất cả ảo vọng mà chúng tôi hãy còn có thể có. Với sự phụ lực của André và Marcel, tôi đưa anh đến bệnh xá, nơi đây chúng tôi dự khán một quang cảnh còn khổ nhọc hơn là chúng tôi đã tưởng tượng. May thay cho người có tính trắc ẩn – nhưng hãy còn có loại người đó không? Ánh sáng yếu ớt của những ngọn đèn bão không cho phép chúng tôi thấy tất cả. Ngay khi các đoàn người từ khắp các công trường đi hàng dọc vào cổng trại, các người ngã bịnh và đã chết cũng được đưa về. Những người chết được chất đống ngay bên ngoài, trán được vẽ số, trước hai người chứng để tránh lầm lẫn. Đó là nghi lễ vĩnh biệt duy nhất đối với những kẻ quen biết người quá cố.
Những người đi khám bịnh có thể có cả ngàn cơ hội chết trước khi đến trước bác sĩ. Dãy người chờ đợi nối dài đến hơn 50 thước, các bệnh nhân còn đứng được hay ngã xuống đất đã ôm lấy nhau để bớt lạnh và nhất là để giảm bớt sức mạnh của các luồng gió mang theo tuyết quét đến. Tất cả bệnh nhân đều sốt trên 39 độ nếu không đến mức đó họ không cần phải đi bệnh xá. Chúng tôi đợi suốt hai giờ, hết sức che cho Barberon và đỡ anh hai bên sườn. Trong phòng khám bệnh những người được nhận cho ở lại bệnh xá, nằm la liệt lộn xộn, vì họ phải chờ sáng mai trước khi có thể chiếm các giường trống trong trại dưỡng bệnh. Một y tá đi len lách qua các hàng bệnh nhân, dùng một miếng giẻ ẩm chùi trán họ và viết lên đấy danh số của mỗi người. Năm mươi phần trăm con bệnh tắt hơi ở đấy trong đêm đầu tiên. Ngay từ sáng sớm toán thay thế khiêng xác chết lại bệnh xá, sẽ đến lượm xác tại phòng khám bệnh và họ phải vất vả lắm mới phân biệt được kẻ sống người chết, vì kẻ sống không còn có thể nói được tiếng nào trong cổ họng. May thay, mắt họ còn sáng, nhưng tôi vẫn rùng mình trước ý tưởng rằng có thể có lầm lẫn: một người hấp hối có thể dễ dàng bị mang đến lò thiêu như người đã chết. Một y tá khi nghe tôi phát biểu ý tưởng đó đã trả lời tôi:
– Đã xẩy ra rồi! Ở vào tình trạng của họ chẳng có gì quan trọng.
Barberon là người trầm lắng nhất trong ba chúng tôi, anh ngước đầu lên nhè nhẹ và nói:
– Như vậy ít ra người ta cũng được sưởi ấm một lần chót.
Và khi được người ta viết danh số vào trán, anh nói thêm:
– Các anh thấy chưa! Không bao giờ nên làm chương trình dự án gì cả.
Với anh, không cần không phải biểu lộ tình cảm. Chúng tôi phải khó nhọc lắm mới rời được anh để đi về, bài vì tên y tá phụ trách đánh danh số vào trán bệnh nhân có dáng điệu của một tên đồ tể đóng dấu kiểm nhận cho súc vật trước khi hạ thịt chúng. Tuy nhiên khi ra ngoài chúng tôi được thoải mái làm sao, và có thể hít một hơi không khí trong lành. Quả là chúng tôi vừa rời khỏi địa ngục và chúng tôi nghĩ rằng Dante là một người kể chuyện còn ngây thơ quá.
André trở về khối số ba, Marcel và tôi, số bẩy. Quang cảnh ở khối dù sao cũng ít dễ sợ hơn tại bệnh xá. Nơi đây những kẻ còn sống chiến đấu bằng số năng lực sau cùng, vì giá súp thừa đã tăng gấp đôi kể từ khi không có bánh mì nữa. Những con quỷ bạo dâm đã lợi dụng thời kỳ yếu đuối sau cùng của con người để làm cho thỏa thích thú tánh mà chúng đã không thể thỏa mãn được cho đến bấy giờ.
Và nếu có nhiều người đứng trước một dĩa súp thì các sự đề kháng cuối cùng của một lương tâm mà lúc trước rất trong sáng, hoàn toàn tan biến, thì cũng có nhiều trường hợp, có thể gọi là anh hùng, giúp xóa nhòa bớt các điều nhờm tỡm, Toso, diàng thanh niên ở Grenoble, vẫn bị một tên Kapo kiên nhẫn theo đuổi, đã trả lời khi y đề nghị đánh đổi thức ăn:
– Tôi thích chết đói hơn là nhượng bộ.
Vào đêm thứ tư kể từ hôm không phát bánh mì, nhà bếp bị tấn công về phía kho chứa củ cải. Một cửa sổ đưa vào kho. Khoảng 50 tù nhân lợi dụng đêm tối, và bất cần lệnh cấm di chuyển, đập vỡ cửa sổ và bắt đầu một cuộc cướp phá đúng nguyên tắc. Một cơn gió dữ dội che lấp các tiếng động nhưng tiếng cãi cọ, tiếng la hét đã làm một lính canh trong vọng gác gần đó chú ý. Tên lính bắn về phía phát ra tiếng động và đến hừng đông, những tù nhân đi làm tạp dịch vệ sinh, tìm thấy hai xác chết cứng ngắt và nhiều người bị thương gần như bị đông thành đá. Đêm thứ sáu, bọn phu đám ma đang lột áo quần các xác chết trước bệnh xá chợt bắt gặp một tên Tzigane đang xẻo một miếng “bit tết” nơi bàn tọa xác chết. Tên SS chỉ huy trại được tên Kapo ở bệnh xá báo cáo trường hợp ăn thịt người đầu tiên, liền dắt theo vợ và cả bộ tham mưu dự khán quang cảnh đó. Tôi cũng được báo cho biết để đến xem, và tên Tzigane không tỏ vẻ ngần ngại gì cả trước mệnh lệnh của viên chỉ huy bắt y làm lại một cách công khai những gì y đã làm lén lút, sau khi đua cho y một miếng bánh mì và một chút muối mang theo. Trông thấy miếng bánh mì, dường như khẩu vị của y lại được kích thích, và sau khi xén thêm một miếng nữa nơi đùi xác chết, rắc muối lên trên, y lạo thành một miếng sandwich và ăn ngấu nghiến trong vài phút, Tôi được đứng gần nến trông rõ miếng thịt người có màu đỏ thẫm, và tên chỉ huy trại cười với vợ như có ý nói với bà ta: “Em yêu, anh đã cho em chứng kiến một cảnh hiếm có”. Khuya đêm ấy, tên Tzigan bị hành quyết bởi tù nhân đủ mọi loại quốc tịch.
Tất cả những gì mà Marcel phát họa với bạn bè đã bị sụp đổ đúng vào thời kỳ anh cần đến họ nhiều nhất. Tất cả những người sống sót của chuyến công-voa sau cùng phải ra đi, tren một chuyến tàu gọi là để chở bệnh nhân để đến một trại dưỡng bệnh. Bọn bác sĩ Đức biết những gì mà danh xưng ấy muốn che đậy. Và chúng tôi cũng rất nghi ngờ chuyến đi dưỡng bệnh đó. Tuy nhiên định mạng đã phá hủy dứt khoát cả một âm mưu kim tiền, và bọn ăn cướp còn giữ một biên nhận tiền của họ, nay đã có thể dùng nó làm giấy đi cầu. Tiếc thay, Đại úy Adam, Bureau, ông thầu khoán nhỏ ở Lyon và nhiều người khác cũng phải đi theo chuyến công-voa đến một nơi mà họ sẽ không bao giờ trở về được nữa.
Một đêm, người ta loan báo nhà bếp bán xà lách và củ cải, vẫn không có bánh mì cấp phát cho nên tin nầy lạo ra cả một con đường đổ xô tìm vàng mới. Mỗi nhà buôn thiết lập trong vùng có cho bầy nô lệ chúng tôi mỗi tháng từ một đến bốn Đức kim dưới hình thức một phiếu mua hàng, tuy nhiên nếu tình cờ mà nhà bếp có gì để bán thì chỉ có tối đa 100 khách hàng có thể được thỏa mãn. Nói như vậy để biết hôm đó trận chiến xẩy ra như thế nào.
Đúng lúc vì quá thất vọng tôi sắp trở về khối với tay không, tôi nghe có người gọi tên tôi bằng tiếng Nga. Thật là một phép lạ nếu được người nào nhận ra trong đám đông hỗn loạn và nhất là trong bóng tối, vì chỉ có ánh sáng trong nhà bếp chiếu qua cánh cửa mở hé là soi sáng bên ngoài một chút. Nhưng may mắn đã đến với tôi và một chàng với Vladimir một gào mên hai lít, chứa đầy xà lách, đã nhảy đến choàng cổ tôi. Đã từ bốn tháng nay tôi không được gặp lại người bạn cùng ở khối số 3. Mặc đầu đã có nhiều biến chuyển anh nhưng vẫn khỏe mạnh, ốm hơn, lẽ tất nhiên! Nhưng luôn luôn rắn chắc. Vừa trách tôi không tìm đến chơi thường hơn, anh vừa đưa cho tôi gào-mên rau. Cùng với Marcel đi theo, chúng tôi xấu hổ vì đã ăn ngốn ngấu bằng tay, nhưng ngon làm sao! Mặc dầu đó chỉ là cú cải sống được xắc thành lát và nhúng trong dầu dấm. “Vật chất sáng tạo tinh thần”, lý thuyết nầy không được tất cả mọi người chấp nhận, nhưng với chúng tôi, nó rất đúng, bởi vì sau bữa ăn đạm bạc ấy chúng tôi cảm thấy một tinh thần có thể chịu đựng được nhiều tháng nữa và chúng tôi được ngủ một đêm mà không bị cái đói hành hạ.
André, nhờ các cây đèn mà anh có thể mang về cho tên trưởng khối, đã nhận được gấp đôi phần ăn, Marcel với giấy và viết chì lấy từ văn phòng ở công trường về đã làm một cuộc trao đổi khá tốt đẹp với Frantz, y đang cần các thứ đó. Bébert và Bicot tiếp tay với bọn tù Nga để tấn công các toán khiêng súp. Vì súp được phân phát buổi tối, hành động khá dễ dàng và xứng công. Họ có 20 mạng và mỗi chai súp chứa 50 lít. Họ thành công hai lần trong hai đêm liên tiếp, rồi các nhóm khác bắt chước theo, các chuyến mang súp liền được hộ vệ bởi các nhân viên võ trang bằng gậy. Cứ như vậy, mỗi người tùy theo cơ hội và khả năng, cố gắng tự kiếm ăn.
Các bưu kiện nay chỉ còn là mật kỷ niệm xa xưa và trong các câu chuyện, người ta chỉ còn nói đến ăn uống. Đó là cả một ám ảnh và đã có hơn một người thú nhận rằng mỗi khi nói đến một lát thịt bò đút lò hay một dĩa khoai chiên, khẩu vị lại dâng lên miệng và hình như bao tử được nhét đầy. Tuy nhiên để rồi bị ngất đi sau vài giây. Dầu sao mọi người cũng rung động với ý nghĩ quân Nga chỉ còn cách Bá-linh có 100 cây số và về phía Tây bằng các cuộc oanh tạc gia tang, Đồng Minh đang sửa soạn cho hiệp cuối cùng. Nhưng chúng tôi, một nỗi sợ hãi bao trùm, nỗi sợ hãi thấy lời tiên tri của tên quản trại trở thành sự thật: “các anh rồi sẽ qua đó hết”. Các trại tập trung lớn được nhiều người biết đến, nhưng liệu có mấy ai biết đến vài ngàn người lần khuất trong thị trấn Ellrich nhỏ bé nầy. Cuộn khói từ lò thiêu xác, sẽ không để lại dấu tích nào và chỉ cần một ngày thôi là một đại đội binh sĩ có thể dẹp bỏ trại tập trung này vốn không giống như trại nào khác. Sự yếu đuối cực độ đã làm cho thần kinh chúng tôi căng thẳng, và ngay cả trong biệt đội và trong toán mà chúng tôi kết hợp mỗi chiều trên sân ga, các cuộc gây gổ diễn ra luôn, nhiều khi vì các lý do thật ngu xuẩn. Đã 21 giờ rồi mà tàu hỏa vẫn chưa đến. Một cơn lạnh khô khan – hai mươi độ dưới không độ – bắt buộc chúng tôi từng tiểu đội ôm lấy nhau. Chúng tôi nhét đầy giấy trước ngực và sau lưng, nhưng chúng tôi cảm thấy bị ướp lạnh và mỗi hơi thở cho cảm giác là cơ thể bị khô đi một chút. Nước mũi chảy nhỏ giọt khiến chúng tôi nghĩ rằng từng tế bào óc chảy ra dần dần.
Đến 23 giờ, tàu vẫn chưa đến, may thay trời không mưa. Chúng tôi bị tê cóng toàn diện và không ai còn dẫm chân được nữa. Tôi đói và lạnh, trong khi đó trên trái đất người ta có thể đang ăn và sưởi ấm, thì tại sao tôi lại ở đây? Sợi dây vô hình nào đã lôi kéo tôi đến sân ga này, tôi, một con vi trùng trong háng triệu vi trùng khác. Tôi bắt đầu nói lảm nhảm vì đột nhiên tôi trông thấy một căn phòng sang trọng với một lò sưởi to tướng trong đó một ngọn lửa hồng đang cháy, tôi đang ngồi trong một chiếc ghế bành êm ái trong khi một chị hầu xinh đẹp đang dọn trên bàn một bữa tối thịnh soạn. Và rồi tôi không còn cảm giác gì về chân tay nữa, tôi không còn đói, lạnh, dường như tôi không còn hiện hữu nữa, tôi cảm thấy thư thái và tôi để mặc cho thân xác trôi đi. Mười hai giờ rưỡi khuya, tàu mới đến. Chính bạn bè đã làm tôi tỉnh dậy trên tàu, đã nói với tôi như thế. Thật khổ tâm khi trở lại với thực tế, tuy nhiên dãy trại đối với tôi như cả một lâu đài và dĩa súp nguội như là một chất kem ngon tuyệt. Nhưng khi đồ ăn phân phát xong thì đã gần ba giờ sáng và nửa giờ nữa lại phải thức dậy. Quân Nga còn cách Bá-linh 80 cây số. “tuy nhiên các đường hầm sẽ trở thành các cơ xưởng sản xuất bộ phận rời để đưa đến các xưởng ráp máy bay dùng để oanh tạc chính số quân Nga đó, vẫn được đào tiếp tục”. Và đến bốn giờ, chúng tôi lại ở ngoài sân đứng thành nhóm 100 người. Vì có báo động, đèn pha tắt hết nhưng trời cũng đủ sáng để đếm chúng tôi. Vẫn luôn luôn là đêm tối phân minh, đẹp đẽ ấy chứng kiến sự di chuyển của những bóng người mộng du thường lệ. Rất nhiều người vắng mặt trong buổi điểm danh. Trong vài giờ nữa lại có các ứng viên mới được ghi tên tại văn phòng khai tử. Tôi cũng có thể ở lại trại vì tôi không còn dáng gì sau khi bị ngất hồi đêm qua. Tuy nhiên chỉ cần nghĩ đến con số được ghi trên trán là thần kinh ở chân tôi hoạt động ngay. Để làm cho nỗi bất hạnh của chúng tôi thêm đậm đà”, con tàu sáng ấy lại không đến. Sau khi chờ đợi bốn giờ dài bất tận trong sân, tên chỉ huy trại quyết định chúng tôi phải đi hộ. Đó là cả một biến cố bởi vì chưa bao giờ chuyện ấy lại xảy ra vào buổi sớm mai. Chúng tôi đã mất ba giờ để đi 6 cây số. Lúc khởi hành có vẻ bình thường nhưng sau cây, số đầu tiên, những người yếu đuối nhất rơi rụng phải đỡ hoặc khiêng họ. Ngừng lại là điều bị cấm và chờ đợi lòng thương hại là chuyện vô ích; báng súng được xử dụng để duy trì trật tự. Không biết lúc đó chúng tôi giống cái gì? Các xác chết được khai quật lên, không hơn không kém. Marcel và André phải dìu tôi từ cây số thứ ba và tôi sống trong một nỗi thống khổ vô biên, họ cũng không hơn gì. Chúng tôi đi ở khoảng giữa đoàn người xếp thành hàng năm, và sự kiện có người đi sau mình đã lôi kéo thúc đẩy mình đôi chút. Nhưng kẻ đi sau cùng luôn luôn bị chó cắn chân và bọn lính canh dắt chó kích thích chúng lấy làm trò vui. Con đường đi bộ đã đưa chúng tôi qua một ngôi làng khá lớn hình như bị bỏ trống. Tuy nhiên có lé nay không phải là mùa gặt hái hoặc là dân cư trong làng đã nhận được lệnh không được ra khỏi nhà. Vì quan sát các cửa sổ, người ta có thể trông thấy những cái đầu nhìn lén lút bằng cách kéo bức màn cửa sang một bên. Có lẽ chưa bao giờ tôi nghĩ nhiều đến một không khí trong nhà êm dịu và một bữa ăn sáng thịnh soạn như thế. Và những người kia, chỉ cách chúng tôi vài thước đã có được tất cả những cái đó. Khi đến công trường, chừng 30 người không thể nào đến được chỗ làm việc. Họ nằm dài trên mặt đất thành một nhóm chờ đợi cho đến lúc tập họp vào xế chiều. Những người khác làm việc như thế nào? Xẻng và cuốc như thường lệ, có lẽ với một nhịp chậm hơn, tuy nhiên nếu hôm đó tôi cũng bị bắt buộc phải làm việc, nay tôi đã không có thể viết những dòng nầy và tôi sẽ đến cùng với hàng đống người hấp hối bắt đầu thêm đông ngay từ lúc sáng sớm. May mắn hơn nữa, André mang đến mấy củ khoai, nhờ gặp hên, anh đã thấy chúng trong một gian phòng mà anh phải thực hiện một vụ sửa chữa, có lẽ chính nhờ ba củ khoai ấy mà tôi được cứu sống và cả André nữa. Chiều hôm đó, chỉ riêng người bệnh và người chết cũng chiếm hết một toa tàu và chỉ còn lại năm toa dành cho chúng tôi. Lúc về đến trại, chúng tôi trông giống như một liêu đoàn tiểu đoàn thảm bại từ tiền tuyến trở về với tổn thất lớn lao.
Chúng tôi không được phân phát bánh mì trong vòng mười ngày, con số người chết trung bình đạt tới 125 mỗi ngày và mẩu bánh mì 150 gam mà chúng tôi nhận được sau thời gian nhịn đói dài dằng dặc đó có thể nói ngon hơn bất cứ loại bánh ngọt nào. Nhưng đã trễ quá rồi. Không phải chỉ một mẩu bánh mì là có thể cứu sống tất cả chúng tôi. Sáng hôm sau, trong khoảng thời gian giữa cuộc tập họp và, lúc khởi hành trong mỗi nhóm 100 người có hàng chục người ngã gục vì đói lả. Họ phải chờ cho đến khi chúng tôi đi khỏi mới được đưa xuống bệnh xá. Tất cả những gì chúng tôi làm được là kéo họ ra khỏi đám bùn lầy phủ khắp sân để đặt họ nằm dài trên các khoảng có lót đá và ít ẩm ướt hơn. Riêng đối với những người ngã gục khi đi và trước khi ra khỏi cổng chính, bạn bè đành phải bước ngang qua người hơn là tỏ thái độ muốn giúp đỡ vì cả hàng người đang đi không thể dừng lại được. Với nhịp độ nầy, các công trường sẽ phải đóng cửa vì thiếu nhân công. Tuy nhiên đã có thêm lực lượng tăng cường được đưa đến. Đó là những tù nhân được đưa từ một trại tập trung gần Stettin đến, họ gồm 5000 người đến vào giữa tháng 3. Họ có vẻ mập hơn chúng tôi, nhưng đã được nghe tiếng đại bác của Nga sô và điều nầy đã mang lại cho họ chút can đảm, bù đắp phần nào cho sự thiếu thốn thực phẩm mà họ là nạn nhân, trong suốt bốn ngày bốn đêm của cuộc hành trình. Họ gồm tất cả mọi loại quốc tịch, và vì lẽ họ được phân phối cho tất cả các biệt đội lao tác, nhiều người Pháp đã đến ở với chúng tôi.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.