Một trời một biển

vietmessenger.com

Nguyễn Tấn Hưng

Post by Sơn râu 27 Nov 2025

13. Cái cảnh chia tay

Những ngày hè ở Nha Trang thật là nóng, không thua gì Sài Gòn, Cà Mau. Ðất trời như đang nung nấu bởi hai lò lửa thiên nhiên, một nằm sâu bên dưới các tầng lớp nham thạch và một trải rộng bên trên không gian mờ mịt, đến độ sỏi cát cũng sắp sửa bốc khói, thành hơi. Chim chóc không dám đáp xuống tìm mồi, chỉ lo kiếm chỗ lẩn khuất trên cành. Những cây bàng, những ngọn dương khô héo. Nhựa đường từ từ chảy ra, mềm nhũn, lấp lánh ánh sao trưa. Gió từ biển khơi mang đầy hơi ẩm liên tục thổi vào bờ, đã không làm giảm sút nhiệt độ trong người mà lại càng tăng thêm sự bứt rứt khó chịu. Rít chịt, nhớp nhúa vì lớp mồ hôi đầy muối tươm ra như mật dưới làn áo trận dầy cui, hâm hấp nực nồng.

Ðã vậy còn thêm cái nóng của mùa thi cử nữa chớ! Nào là Hàng hải cận duyên, viễn duyên, Hàng hải thiên văn, Lý thuyết thuyền bè, Hải hành tập đội, Vận chuyển chiến thuật, Tiếp tế và cứu vớt ngoài khơi, Hải pháo, Ngư lôi, Thủy lựu đạn, Truyền tin, Cờ đèn, Radar, Sonar…, môn nào cũng phải ôn tập, chuẩn bị! Ðể thi cuối khóa! Học hành bao nhiêu năm đậu rớt chỉ một vài giờ là vậy! Ngoại trừ môn lái chiếc tàu há mồm con con dùng để đổ bộ, cặp cầu ở Cầu Ðá là thoải mái nhứt. Như một buổi đi câu bằng thuyền máy vậy thôi, Tần nghĩ.

Cũng may là dạo ấy Tần chẳng còn một mảy may gì liên hệ, dính líu, dây dưa với… người ở ngoài kia phố. Nên chàng có đủ thì giờ thanh thản và tâm trí an bình để dò lại bài. Chuyện học thi mà bị người tình chi phối thì cũng dễ rớt lắm chớ chẳng phải chơi. Kể từ buổi đi thực tập giông bão trở về, nhận được tấm giấy ghi vội của Hiền để lại ở cổng trường đến nay, Tần đã thề với lòng là không bao giờ trở ra phố Nha Trang lần nữa. Một cách dứt khoát, quyết liệt! Và chàng đã làm!

Em đến thăm anh ngay trong ngày đám hỏi của em, mà xui xẻo cho em quá, anh không có mặt ở trường để cho em tỏ rõ nỗi niềm tâm sự. Và còn để, biết đâu, con đường tình em đi lại không rẽ sang một hướng khác? Giờ, tất cả đã quá trễ và không thể nào thay đổi được nữa rồi, số phần hai đứa mình coi như trời đất đã an bày, định sẵn. Có lẽ hai đứa mình chỉ có duyên mà không có nợ, anh ơi! Thôi thì từ nay, anh đường anh, em đường em, anh nhé! Chúc anh may mắn ở đoạn cuối đường! Vĩnh biệt tình anh! Vĩnh biệt anh!

Em của anh,

Lê thị Hiền

Thử hỏi, khi nhận được những dòng chữ như vậy, Tần có một chọn lựa nào khác hơn ngoài việc tự giam mình trong bốn bức tường vòng đai? Chàng đã suy nghĩ rất nhiều, đêm qua đêm, mà không tìm ra một phương cách giải quyết nào tạm gọi là ổn thỏa hết! Xách súng ra chợ Xóm Mới phá làng, ngăn cản việc hôn nhân của Hiền chăng? Nếu chàng thật sự muốn ngồi tù! Giết nàng rồi chĩa súng vô đầu? Ích lợi gì với hai cái xác không hồn chớ! Duy chỉ còn cách là lựa lời quyến dụ, lôi Hiền ra khỏi gia đình và khăn gói bỏ trốn theo mình? Nhưng, liệu phải trốn đi đâu? Trong khi chàng vẫn còn phải bó gối chồn chân, dậm cẳng tại chỗ ở chốn quân trường này! Ðể rồi cuối cùng, ngay cả việc ra nhà chị Diệu, với mục đích gặp lại Hiền một lần cuối, cũng đã làm Tần không khỏi phân vân.

Thôi thì hãy gắng tìm quên trong sách vở. Thời gian bao giờ cũng là liều thuốc thần tiên mầu nhiệm, biến những gì đậm nét trở thành mờ phai, biến những gắn bó thành phôi pha. Chàng tự an ủi với mình như vậy. Tuy nhiên, cái đau khổ và khó khăn cho chàng là ngày qua ngày, Thành, Thắng và bạn bè chàng cùng những người tình và bạn gái của chúng vẫn tiếp tục nhởn nhơ, vui chơi khắp phố chợ. Bọn nó kể lại cho chàng nghe những chuyến đi cuối tuần ngày một gần đến… giờ chia tay, anh ra chốn biên cương, tôi nơi sa trường! Chúng nhắc nhở đến Hiền, người chàng yêu mến gần hai năm trời qua mà trong phút chốc bỗng trở thành vắng xa, mây khói. Chàng mới hiểu, cái tìm quên dễ thường lại càng hay đưa đến cái nhớ nhung, ray rứt khó lay. Thời gian hình như dài ra, không gian hầu như trống trải. Tuy vậy, lòng dặn lòng, chàng cần phải cố gắng và can đảm hơn nữa để lướt qua cơn bão tình biển mặn này thì họa may, trong tương lai, chàng mới có thể làm được việc gì lớn lao hơn cho chính bản thân mình. Anh hùng nào mà lại không có những phút giây hệ lụy mỹ nhân, nhưng cái chiến thắng cuối cùng vẫn là làm sao vượt được ra khỏi vòng vây đó. Và chàng nhứt quyết không thể để cơn giông tố tình yêu kia cuốn trôi đi cuộc đời mình! Bất chợt, chàng thầm nở một nụ cười!

Những ngày thi rồi cũng qua, những môn thi rồi lại vắng… Hầu hết các khóa sinh đều đậu, duy chỉ một số nhỏ thiếu may mắn, năm tên, tức khoảng ba bốn phần trăm, rớt. Mà phải nói, nếu không có đậu, rớt thì không phải là cuộc thi, hẳn ai cũng nghĩ vậy. Nhưng, trong đời binh nghiệp nói chung, sinh viên sĩ quan Hải quân nói riêng, những đứa rớt vì kỷ luật là những đứa khổ đau nhứt. Trong số đó có Ðức, chàng thanh niên Khánh Hòa mà cũng là bạn thiết của bộ tam-xên miền Nam: Thành, Tần và Thắng. Chỉ vì hắn có vợ, có gia đình ngoài Nha Trang. Chỉ vì hắn thường xuyên nhảy rào. Chỉ vì hắn nhiều tù tội. Ô hay, ngẫm nghĩ lại, Tần không khỏi giựt mình cho thân phận của chính bản thân, vì cũng lắm ngày tù tội vậy! Có phải chăng chàng đã dừng chân đúng lúc? Có phải chăng chàng đã vượt thoát được vòng vây tình ái oan nghiệt đó đúng thời? Hay, có phải chăng Hiền đã có ý tự nguyện, giúp ích chàng trong bước đường tiến thân, vào đời?

Những đứa rớt đã tự động rời trường với những công điện bổ nhiệm đặc biệt, khẩn cấp trong tay. Chỉ còn lại đám đỗ đạt, đang chờ đợi làm lễ ra trường. Hằng ngày phải tập dợt diễn hành, tập dợt tung hô. Và chiều chiều, ban văn nghệ văn gừng cũng không quên tập dợt ca nhạc cho đêm dạ vũ… ra khơi, lướt sóng. Chỉ là những nghi lễ, phong tục của trường mà Tần vẫn thản nhiên, trầm lặng theo dõi. Vì chàng vẫn còn giữ mãi lời thề không trở lại Nha Trang! Vì ở đó, một Nha Trang thiếu vắng bóng Hiền thì không thể là một Nha Trang mến yêu đối với Tần được!

Khác với các khóa đàn anh đi trước, ngay sau khi ra trường các khóa sinh tốt nghiệp đều được gởi đi khắp bốn vùng chiến thuật, ở các đơn vị bờ lẫn biển, đằng này con cái Ðệ nhị Hải sư chỉ được phân phối cho độc nhứt mỗi một đơn vị mà thôi: Hạm Ðội. Tất cả các tân Thiếu úy, cơ khí cũng như chỉ huy, đều phải xuống tàu, đi tàu, phải nếm mùi… ôi, biển cả giờ đây ta mới biết với người ta! Một truyền thống, tập tục mới đã được đẻ ra, dựng lên cho trường Hải quân và cho các khóa đàn em đi sau!

Rồi cũng vì chịu khó nằm nhà, giam mình trong trại mà Tần đã có mặt trong một số không lớn lắm, khoảng một phần ba khóa thôi, khi có còi tập hợp đi lên giảng đường để… chọn tàu. Trên tấm bảng đen rộng lớn, cả trăm chiếc tàu lớn nhỏ được vẽ lên, trông như hàng hàng lớp lớp những chiếc lá cắt ngang, bao bọc bên trong một số tàu dẫn đầu bằng hai chữ HQ. Bên cạnh những chiếc lá đó, còn có thêm hai con số đi kèm, số sĩ quan tiếp nhận cho hai ngành chỉ huy và cơ khí. Quanh đi quẩn lại cũng chỉ có ba nhóm tàu: tàu tuần, tàu chuyển vận và tàu linh tinh như trục lôi, rà mìn, chở dầu.

Xong xuôi đâu đó, vị sĩ quan phụ trách bắt đầu kêu tên từng người theo thứ hạng từ cao xuống thấp. Thủ khoa, vắng mặt! Từ hạng nhì đến hạng bảy, tức Trương Viết Thành, tất cả đều đang bận đi bờ! Thứ tám, có mặt, chọn LST (Landing Ship Tank), Dương vận hạm Thị Nại, HQ-502, tàu đổ quân, vận tải. Một gạch nhỏ được ghi lên bảng trong tiếng chộ, u…, vang dậy. Nên biết rằng, dân đậu cao thì phải chọn tàu tuần dương mới đúng với mộng hải hồ! Ðến thứ mười hai mới có “anh hùng… rơm” chọn PCE (Patrol Craft Escort), Tuần dương hạm Ngọc Hồi, HQ 12. Chúng bạn liền cùng nhau vỗ tay hoan hô anh chàng… khùng, muốn thi gan cùng sóng gió! Lại thấy lác đác những bộ đồ trắng mới đi bờ về nhảy vô nhập cuộc. Nếu tên mình chưa kêu thì còn hên, bằng không phải ráng chờ cho đến lúc kêu tên anh bạn cầm đèn đỏ. Rồi mới bắt đầu tắt đèn làm lại. Nhưng, lụi hụi không mấy chốc đã đến người thứ hai mươi sáu, Nguyễn Phước Thắng. Vắng mặt, vì bận đi coi xi-nê ngoài phố, Tần đoan chắc như vậy! Kể như thằng bạn thân của mình đã đánh mất cái cơ hội được ưu tiên chọn tàu rồi, Tần nhủ thầm!

Giảng đường đã lên đèn và bên ngoài trời tối hẳn. Gió đêm xào xạc cành cây dọc theo hàng cửa sổ lớn hai bên hông. Không khí đã có phần nào mát dịu lại. Tần ngó mông ra vệ đường lấp lánh bóng người đi, áo trắng lẫn lộn áo treillis. Bọn này coi bộ vô tư, đang hồn nhiên nói cười đùa giỡn, có lẽ vì chưa hay, chưa biết… cái mục chọn tàu. Mà như vậy biết đâu lại hóa hay, Tần nghĩ. Mình cứ vớt vát của thừa của bỏ của bạn bè và lỡ sau này nếu có lọt vào một chiếc tàu cũ mục, sắp sửa phế thải đi nữa thì cũng có lý do để bào chữa, đổ thừa cho số mệnh. Còn bây giờ mình ngang nhiên chọn lựa những chiếc mình có quyền chọn lựa, nhưng rồi biết đâu được lúc bước chân xuống tàu, lắm khi lại vỡ lẽ ra là đã chọn lầm những chiếc không đúng như ý mình mong muốn, suy tưởng. Ðã vậy còn hồi hộp, đau tim nữa. Vì ai cũng biết mình đậu, nhưng không ai biết mình đậu hàng thứ mấy hết, mới chết. Lắm lúc phải chờ hoài mỏi cả cổ, như Tần đây.

Tuy nhiên, giờ phút mong đợi rồi cũng đến với Tần. Nguyễn Hương Tần, thứ sáu mươi bảy! Chà, đã tròm trèm gần nửa khóa! Giờ, phải chọn tàu nào đây chớ? Tàu tuần dương, tuần duyên thì bảo đảm là không có mặt Tần rồi! Chàng những muốn tìm một chốn dung thân trên LST, nhưng mới đó mà đã hết chỗ, lẹ thiệt. Thì ra những tên đồng bệnh với Tần cũng nhiều lắm. Thôi thì hàng thứ đến phải chọn là LSM (Landing Ship Medium), Tần nghĩ vậy. Dầu gì đi nữa thì đây cũng là tàu há mồm, nếu không ủi bãi dài dài thì cũng thường xuyên cặp cầu bốc hàng nhận hàng, chớ không neo ngoài vịnh như tàu chiến, lắc lư con tàu… đậu như cái trứng vịt thả lội trong thau nước lớn.

Nói chung trong công tác lựa tàu, với Tần, đầu tiên là tàu chục (10, tuần dương), tàu hai và ba trăm (200, 300, tuần giang), tàu sáu và bảy trăm (600, 700, tuần duyên) thì chê, nhưng hết tàu năm trăm (500, chuyển vận hạng nặng) rồi thì chọn tàu bốn trăm (400, chuyển vận hạng trung)! Kế tiếp là nhắm vào qui luật chung về mới cũ của Hải quân, trong những chiếc hàng chục, hàng trăm đó cứ chọn chiếc nào có số lớn nhứt là chắc ăn. Vì đó là chiếc mới lãnh về, mới bàn giao, mới gia nhập hạm đội. Và đương nhiên phải… mới hơn những chiếc cùng loại là cái cẳng. Cho dù, lắm khi chỉ là mới sơn đi nữa. Với những lý luận sơ đẳng đó, Tần chọn Hải vận hạm Hậu Giang, HQ-406. Xong, kể như chim trời cá nước, giờ chỉ mong trong thì nhờ mà nếu đục thì ráng chịu vậy thôi. Dân hải quân, thân trai mười hai bến nước mà lị.

Vừa ngay lúc đó, Thành đi bờ về, mon men tìm đến Tần:

– Ê, có nghe kêu tên tao chưa mậy? Ủa, sao mà mầy không chọn tàu tuần, đi chận bắt tàu xâm nhập chuyên chở vũ khí của Cộng sản Bắc việt, lại chọn HQ-406, coi bộ yếu quá vậy?

Tần ung dung trả lời từng câu hỏi cho Thành:

– Tên mầy đã kêu qua rồi, cùng với mấy thằng đỗ đầu! Còn sở dĩ tao chọn HQ-406 là tại vì tao muốn đi du lịch. Mầy coi nè, Huế, Ðà Nẵng, Qui Nhơn, Phan Thiết, Phan Rang, Phan Rí, Cà Mau, Côn Sơn, Phú Quốc… đất nước mình có rất nhiều chỗ mình cần phải đặt chân tới, mầy đồng ý không? Cho biết với người ta, mậy! Ði tàu tuần ngoài biển mầy thấy được gì, ăn cái giải gì? Trời, mây, gió, nước… nhìn hoài chán thấy mẹ! Mầy mà muốn đi tàu tuần thì khỏi cần phải đứng đợi ở đây, cứ về phòng tắm rửa một mách cho mát mẻ rồi trở lại cũng còn dư chỗ cho mầy chọn!

– Hừm, tao tưởng đâu máu hải hồ của mầy cũng còn đầy trong huyết quản chớ!

Cũng trong bộ tiểu lễ trắng phau như Thành, từ phía sau lưng Tần, Thắng nhào tới câu vai hai bạn, chêm vào:

– Thôi Thành ơi, từ ngày con Hiền cho nó de, tao thấy hình như tinh thần lẫn thân xác của nó bệ rạc, xuống dốc thấy rõ! Mầy đừng có chê nó nữa! À, tao mới nghe thằng Bích nói tên tao cũng đã kêu rồi, phải đúng như vậy không mậy Tần?

Úi chà, tinh thần và thân xác của Tần đã sa sút, xuống dốc dữ như vậy sao? Ðến nỗi thằng bạn mình cũng đã nhận ra! Có lẽ Thắng nói đúng, Tần khỏi cần phải đính chính làm chi. Nhưng, mất cái này thì phải được cái kia, đâu có ai chịu thua lỗ hết mọi bề. Ðèn nhà ai người nấy sáng, Tần trả lời giả lả với Thắng:

– Ừa, tên mầy cũng đã kêu rồi! Hai thằng bây đều thuộc vào hàng đậu cao! Trong tương lai có thể được gởi đi thực tập trên Ðệ thất Hạm đội đó, chuẩn bị va-li đi là vừa.

Thành phân bua:

– Vừa phải thôi Tần, mầy định cười mũi tao đó hả! Ði thực tập Hạm đội Bảy đâu phải nhờ đậu cao mậy, chỉ cần trình độ Anh ngữ thôi. Ðiểm ECL cỡ tám chục trở lên như thằng Thắng đây thì có hi vọng. Chớ còn tao với mầy thì có cơm cháo, nước tương gì. Mà thôi, như mầy nói, để tao về phòng tắm rửa, thay đồ nhẹ cho thoải mái rồi hãy đến đây chọn tàu cũng không muộn. Vả lại tao thấy chẳng cần thiết cho lắm, tàu nào cũng là tàu, thế nào rồi mình cũng có một chiếc lái cầm rai với người ta, hơi sức đâu mà lo.

Thắng nghi ngờ hỏi lại, bàn ra:

– Thiệt vậy à? Thôi, mầy đừng có nghe lời thằng Tần xúi dại mà bán lúa giống. Ở lại đây chờ với tao thêm một chút nữa coi. Hết chỗ tốt rồi nên tụi nó chọn lẹ lắm.

Quả đúng như lời Thắng nói, chẳng bao lâu đã đến tên cầm đèn lái và quay vòng lại người đậu thủ khoa. Chỉ còn một lô tàu tuần duyên PGM (Patrol Gunboat Motor) là còn nhiều chỗ trống. Thôi thì Kiến Vàng (HQ-603), Keo Ngựa (HQ-604), Kim Qui (HQ-605), Mây Rút (HQ-606), Nam Du (HQ-607)…, toàn là tên các hòn, các đảo dọc duyên hải miền Nam, chiếc nào cũng được, chọn phứt một chiếc cho xong. Chọn sớm nghỉ sớm, anh em ơi, Thắng nói thầm…

Sau cả tuần tập dợt, lễ ra trường rồi cũng tuần tự diễn ra theo đúng lịch trình. Có diễn hành, đàn anh trước đàn em sau. Có diễn văn chào mừng, nhắn nhủ của Tư lệnh Hải quân. Có tuyên thệ, tung hô, vất mũ lên trời. Một biểu tượng chung của các quân trường trong ngày vui của các sĩ quan tốt nghiệp, mãn khóa. Tất cả đều được thi hành long trọng, nhịp nhàng trước một khán đài đông nghẹt quan khách, với đầy đủ mọi thành phần quân dân cán chính và tôn giáo! Ðúng là một buổi lễ có một không hai cần phải tham dự và đáng ghi nhớ trong đời binh nghiệp.

Tuy nhiên, niềm vui buồn lẫn lộn và khó quên nhứt phải nói là những gì đã xảy ra trong giờ phút chia tay, bịn rịn kẻ ở người đi. Mà đêm dạ vũ mãn khóa là một hình ảnh khắc ghi trong tâm trí. Cũng có thể chỉ ngần ấy những người thân quen, chỉ ngần ấy bộ mặt quen thuộc, nhưng, sự đổi ngôi chắc chắn là không thể nào tránh khỏi! Nếu muốn đem so với ngày nào, trong buổi dạ vũ gắn alpha! Từ những cặp mới chạm mắt nhau lần đầu đó, bây giờ, có cặp đã thành vợ chồng hoặc giả đã đám hỏi, đính hôn. Cũng không thiếu những cặp vẫn còn giữ lằn ranh không là gì của nhau, lững lờ dan díu qua ngày. Lại có những cặp rốt cùng chỉ còn là tình bạn bâng quơ. Và cũng có những cặp đã rã bèn ngay từ ngày đầu, đã không còn muốn gặp nhau, nhìn nhau nữa!

Ðêm nay, đêm dạ vũ ra trường của gia đình Ðệ nhị Hải sư, được tổ chức trong khuôn viên phạn xá sinh viên sĩ quan. Với sự trang trí ở mức độ trung bình, gồm những hoa đèn bằng giấy màu dán mắc trên tường. Chỉ cần ánh sáng và âm thanh thôi… Hạnh, đã không thể đến dự được vì Ðức ra trường sớm hơn dự trù một hai tuần. Trong khi Hiền, Thúy và Thảo đều có mặt đông đủ, như chúng bạn đã thông báo cho Tần biết. Nhưng, đi với những partner riêng, không còn lẻ loi đơn độc như ngày nào mới quen bọn Tần, Thắng và Thành. Tần bận phụ giúp trong ban nhạc nên chàng cũng chẳng màng, trong lúc Thắng và Thành cứ chạy lạo xạo, qua lại nhiều nhóm nhỏ mới quen qua sự giới thiệu của bạn bè.

Ðêm càng về khuya, những bản nhạc tình càng thêm du dương rả rích. Nhằm phụ họa theo những lời giã từ nhớ mãi không quên. Người ra đi trên ngàn trùng sóng nước và em ở lại hậu phương. Chẳng đặng đừng, sau khi giao cặp dùi trống cho Ðường Trí Minh đánh tiếp, Tần len lỏi đi tìm Hiền… Và giờ này, tay trong tay, dìu nhau trong một bản slow ướt át theo lời ca lỡ làng duyên phận… Thôi rồi còn chi đâu em ơi. Có còn lại chăng dư âm thôi. Trong cơn thương đau men đắng môi. Yêu rồi tình yêu sao chua cay … Với hàng hàng lớp lớp kéo nhau ra đứng chật sàn nhảy. Tần gợi ý cùng Hiền:

– Lâu ngày gặp lại em, anh thấy em cũng chẳng gì khác xưa, vẫn duyên dáng như thuở nào mình mới quen nhau…

Hiền gạt ngang, hỏi lại:

– Tại sao bấy lâu nay anh không ra nhà thăm em? À, như vậy chứng tỏ là anh đã nhận được cái note của em rồi, phải không? Tại sao anh không nghĩ là em chỉ giận anh, hù anh một phát thôi?

Có chuyện như vậy sao? Tần hơi giựt mình, phân vân một hồi rồi từ tốn giãi bày:

– Anh biết em nói thiệt, Hiền ơi. Vì nếu em chỉ giận anh, hù anh một phát thôi thì có lẽ trong vòng hai hoặc lâu lắm là ba tuần sau, em sẽ phải ghé lại trường thăm anh! Anh tin chắc như vậy! Ðằng này, em đã bặt vô âm tín…

Hiền yên lặng. Tần khẽ thở dài, tiếp:

– Thân em bây giờ coi như là gái đã có chồng!

– Dầu gì đi nữa thì giữa mình với nhau cũng vẫn còn tình bạn chớ anh!

Tần nói lẫy:

– Không được, với em, anh chỉ có hoặc không có tình yêu thôi! Làm gì có cái tình bạn vớ vẩn giữa những kẻ đã từng yêu nhau, sống chết với nhau, trao thân… gởi phận cho nhau chớ!

Hiền vói tay bụm miệng Tần nhưng không kịp! Nàng nói nhỏ:

– Anh có điên chưa mà ăn nói như vậy, hả Tần? Anh không sợ mọi người nghe hết cả sao? Anh không nghĩ gì đến thân em đang sống trong cảnh cá chậu chim lồng hay sao, hả?

Tần bâng khuâng siết nhẹ Hiền vào lòng. Tiếng kèn saxo trầm bổng, vô tình như đã gieo rắc những xa vắng, réo gọi vào con tim. Tần vụt nhớ ra:

– Này Hiền, em nhớ phải viết thư cho anh nghen? Anh rất cần những dòng chữ của em trong những cơn bão bùng, mưa gió ngoài biển khơi. Ðể anh sẽ ghi cho em KBC của Hạm Ðội và số tàu, em cứ gởi về đó thì thư em sẽ tới tay anh…

Hiền giẫy nẩy:

– Không được đâu anh ơi, anh nên nhớ rằng, thân em bây giờ coi như là gái đã có chồng?

– Nữa! Em không nên đùa dai trên nỗi đau khổ của anh như vậy nghen Hiền!

– Ô hay, em chỉ lập lại những gì chính miệng anh đã thốt ra kia mà!

Nửa như trách móc, nửa như muốn hỏi Hiền lần cuối, Tần nói:

– Hiền, nói thiệt cho anh nghe đi, vì đâu mà em nỡ đoạn tình với anh chớ?

– Số phần hai đứa mình như em đã nói, chỉ có duyên mà không có nợ, thôi thì đành xin hẹn kiếp sau…

Hiền bỗng vùi đầu vào ngực Tần nức nở! Gì nữa đây? Tần bàng hoàng ôm chặt lấy Hiền trong vòng tay! Khổ quá, chàng không hiểu nổi tánh ý Hiền, chợt vui chợt buồn như đứa trẻ con. Chàng cảm thấy bối rối vô cùng và càng đâm ra bán tín bán nghi về cái trách nhiệm và bổn phận của mình đối với người tình nhỏ. Trong bất giác, chàng chợt hiểu ra, là mình đang mang một tội lỗi rất lớn đối với người yêu. Có phải chỉ vì chàng đã chưa làm hết sức mình… Bản nhạc đang đi dần vào đoạn cuối. Chàng kín đáo rút khăn tay lau nhẹ bờ mi Hiền và khẽ vuốt đường ngôi trên tóc. Âu yếm dìu Hiền lách ra khỏi đám đông, trả lại cho người đàn ông hơi đứng tuổi, đầu óc Tần bỗng quay cuồng, như điên như dại. Ôi, cái cảnh chia tay này sao mà, bỗng dưng, quá đau lòng tê tái!

Một bản tình ca với nhịp điệu khoan thai khác lại trổi lên, lời ca man mác như bài ru tình cũ. Tình ngỡ đã phôi pha, nhưng tình vẫn còn đầy. Người ngỡ đã xa xăm, nhưng người vẫn quanh đây. Những bước chân mềm mại đã đi vào đời người. Như từng viên đá cuội rớt vào lòng biển khơi … Rớt vào lòng biển khơi? Tần không còn can đảm nào để ở lại tiếp tục cuộc chơi, một mình lủi thủi trở về phòng trong cô đơn vắng lặng! Có còn ai để cho chàng trút nỗi tâm tư? Bàn tay thái cực đạo đai đen một đẳng này của chàng, cộng thêm với sự oán hờn ông tơ bà nguyệt đã gieo xuống đầu chàng, Tần bảo đảm bao nhiêu vách tủ, hộc bàn trong phòng rồi sẽ bị vỡ tan từng mảnh vụn…

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều-Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 27 Nov 2025

28. Sập cầu Cần Thơ: cứu trợ?

Những đau thương do thiên tai đổ vào Việt Nam hàng năm, nhất là miền Trung được ghi đậm trong câu hát “Trời hành cơn lụt mỗi năm…” Lũ lụt, bão tố, sóng thần, động đất… là do thiên tai. Thiên tai đè nặng lên giải đất hình cong chữ S ngay từ thuở khai thiên lập địa, từ thuở tổ tiên ta dựng nước. Và dân tộc vẫn trường tồn. Thiên tai cứ coi như là mệnh số không tránh được, nhưng còn nhân tai? Nhân tai có là mệnh số hay không mà nó đeo đẳng dân tộc ta hơn 3/4 thế kỷ nay, mà đến bay giờ cũng không biết ngày nào thoát.

Nhân tai lớn nhất trong dòng lịch sử dân tộc Việt chính là sự ra đời, và tồn tại của cộng sản Việt Nam. Đại họa của dân tộc đến từ nhân tai loại này nặng nề oan khiếp hơn thiên tai. Chẳng có cơn lũ lụt nào trong lịch sử giết nhiều người hơn trong cuộc chiến tranh phi nghĩa từ miền Bắc, mà chỉ riêng trận tổng công kích phản trắc năm Mậu Thân 68 cộng sản đã tàn sát, đã chôn sống gần 7 ngàn nhân mạng đồng bào tại cố đô Huế. Và gần đây nhất, vụ sập cầu Cần Thơ gây thương vong hàng trăm đồng bào vô tội cũng chính là do nhân tai, do con người.

Thưa vâng! Tại Việt Nam, trong các công trình xây cất quy mô, người ta hay nhắc tới các “cụm từ” “rút ruột“, “bê tông cốt tre” hay “móc ngoặc thi công“… để cuối cùng, đường nứt, đê vỡ, cầu sập, ổ gà thành ổ voi nằm…

Hiện nay, nhà nước VC đang điều tra. Điều tra vụ cầu Cần Thơ sập do lỗi tại ai, điều tra để tìm ra tội hay để chạy tội… Trời biết! Nhưng lần này, vì công trình xây cất cầu Cần Thơ có dính tới bàn tay người Nhật nên đại diện chính phủ Nhật đã ngỏ lời tạ lỗi đồng bào nạn nhân, và hứa sẽ đền bù thiệt hại về nhân mạng. Không biết số tiền bạc triệu đô này có dám “tự động không người lái” bốc hơi bớt hay không, nhưng chắc chắn lần này, nhà nước VC đang nhức đầu vì Nhật gửi một phái đoàn điều tra qua Việt Nam tìm hiểu chuyện cầu sập. Đối lập Nhật trong quốc hội càng la làng chuyện này thì ông Nguyễn Tấn Dũng, ông Nguyễn Minh Triết và ông Nông Đứt Mạnh càng cần uống Tylenol # 3 mỗi đêm là cái chắc.

Để cầu phước cho tai qua nạn khỏi, ông Nông Đứt Mạnh tháng rồi bay qua xứ đói Bắc Hàn đầy phi đạn, ôm hun hít thắm thiết Kim Dung II và phán sẽ chở qua tặng Bắc Hàn 20 ngàn tấn gạo. Hai chục ngàn tấn gạo này mà tặng cho bà con nạn nhân cầu Cần Thơ thì công đức biết chừng nào!

Mấy ông nhà nước VC không nghĩ đến chuyện đó vì cho rằng thế nào bà con hải ngoại cũng làm chuyện đó: Chuyện “cứu trợ nạn nhân cầu Cần Thơ sập“, chuyện “máu chảy, ruột mềm“, “chuyện lá rành đùm lá rách” là chuyện nên làm. Nhưng những ai “giàu lòng bác ái, đang lo tổ chức gây quỷ cứu trợ nạn nhân cầu Cần Thơ ” xin làm ơn đọc giùm cái thông báo sau đây:

“Thống nhất giao Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Thành phố Hồ Chí Minh làm đầu mối tiếp nhận các nguồn tiền – hàng do các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị, cá nhân vận động và tổ chức đoàn đi thăm hỏi, động viên, hổ trợ các gia đình bị nạn. Nghiêm cấm việc tổ chức đi thăm hỏi riêng lẻ…”

Đây là chỉ đạo của thường trực ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc hổ trợ các nạn nhân vụ sập nhịp dẫn cầu Cần Thơ.

(Trích báo trong nước October 11/2007/Yahoo/Công Lý và SựThật’s Blog)

Tin trong nước cũng cho hay công an đã có mặt gần như thường trực quanh quẩn nhà các nạn nhân để ngăn cấm theo dõi những ai thăm viếng, nhất là hỏi thăm tin tức vụ sập cầu. Vậy thì các vị đại ân nhân, từ bi, bác ái ở Paris, ở Cali, ở Houston, ở Toronto, ở Vancouver, Canada đang tổ chức gây quỹ cứu trợ nạn nhân cầu Cần Thơ và đồng bào hảo tâm, có cần nên nhắc mấy ông VC ở Sài Gòn dẹp cái thông báo trên đây hay không cho bà con hải ngoại được đem tiền về giao tận tay các gia đình nạn nhân? Chuyện này khó xẩy ra trong tình huống khó khăn của đảng ta.

Mấy năm trước đây, Thầy Quảng Độ dùng ghe thuyền đi cứu lụt ở miền Tây, VC cho xuồng máy đuổi theo như xi-nê, thu cha nó hết những gói quà vì nói là cứu trợ không có phép, không qua Mặt Trận Tổ Quốc thành Hồ… và Thầy Quảng Độ bị kết tội làm “diễn biến hòa bình“. Hoàn cảnh Thầy Thích Quảng Độ giờ bị giam lỏng khó khăn ra sao, chỉ có mấy ông khờ nhà quê mới không biết.

Những ai giàu lòng từ bi hơn Thầy Quảng Độ, cứ gom tiền, mang tiền về Việt Nam, ném cổ Mặt Trận Tổ Quốc, ném cổ công an xuống sông, rồi gõ cửa tận nhà dân cho tiền xem ông Nguyễn Tấn Dũng có làm gì không?

Tôi viết những dòng này, với tin tức đầy đủ, thiện chí đầy mình, để quý vị liệu cách mà làm chuyện từ thiện, “lá lành đùm bọc lá rách“. Chúng tôi quả không muốn quý vị về thành Hồ xong, chưa trao cho nạn nhân một đồng nào mà cuộc đời quý vị tả tơi rách nát vì vi phạm luật VC.

Hay nếu muốn an thân, quý ân nhân cứu trợ cứ quyên thật nhiều tiền, về Việt Nam giao hết cho Mặt Trận Tổ Quốc thành Hồ nhờ họ phân phối, rồi lên máy bay dzọt lẹ ra nước ngoài cho chắc ăn! Bà con nghĩ sao!

Bến Footscray

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

October 17th, 2025

Post by Sơn râu 26 Nov 2025

Bến là một nơi cuộc đời tị nạn CS trôi theo dòng đời cuồng lũ. Với tôi đó là bến Footscray.

Footscray là một cái tên bắt nguồn từ Foots Cray, một ngôi làng nhỏ nằm bên dòng sông Cray, cách London, Anh quốc không xa. Giờ đây, Footscray là một vùng ngoại ô tấp nập của thành phố Melbourne, cách trung tâm khoảng 5 cây số về phía tây. Nằm trong thành phố Maribyrnong, Footscray là một vùng đất sôi động với sự pha trộn tinh tế giữa khu dân cư, thương mại và công nghiệp.

Từ thời xa xưa, Footscray vốn là đất của hai bộ tộc thổ dân Wurundjeri Woi Wurrung và Boonwurrung thuộc quốc gia Kulin, đã sinh sống trên vùng này hơn 40,000 năm.

Người Châu Âu đầu tiên đặt chân đến đây là Charles Grimes vào năm 1803.

Sau cơn sốt vàng những năm 1850, Footscray bừng tỉnh, phát triển thành khu công nghiệp nhộn nhịp. Nhưng ngày nay, với sự đổi thay của thời gian, nơi đây đã trở thành trung tâm văn hóa đa dạng, là điểm đến cho nghệ sĩ, người sành ăn và những ai mê sự sôi động của cuộc sống đa sắc tộc.

Góc đường Barkly và Nicholson năm 1954,

Hãy thử nhớ lại những con đường mà bất cứ ai từ bà con mình đến đây đều quen mặt: Barkly Street, Droop Street, Geelong Road, Irving Street, Moreland Street, và Whitehall Street.

Năm 1954, góc đường Barkly và Nicholson là một nơi không mấy khác biệt so với hôm nay. Tuy nhiên, những con người đã đi qua đây trong tấm hình đen trắng cách nay 70 năm thì chắc chẳng còn ai hiện diện. Từ đó đến nay, vùng đất này chứng kiến sự thay đổi không ngừng của thời gian và con người.

Tuy nhiên, điều khiến tôi suy nghĩ nhiều hơn cả là câu hỏi:

“Barkly là ai mà được tên đường mang danh?

Và Sir Francis Nicholson là ai mà tên ông cũng được đặt cho đường phố nổi tiếng nơi đây?”

Sir Henry Barkly – Người kiến tạo nước Úc. Sir Henry Barkly, sinh ngày 24 tháng 2 năm 1815 tại London, là một nhà quản lý thuộc địa tài ba người Anh. Ông giữ chức Thống đốc tiểu bang Victoria từ năm 1856 đến 1863, một giai đoạn trọng đại trong sự phát triển của vùng đất này.

Trong nhiệm kỳ của mình, Barkly đã giám sát việc mở rộng hệ thống đường sắt, góp phần thúc đẩy kinh tế và giao thông, đồng thời là người sáng lập Đại học Melbourne, một trong những biểu tượng học thuật hàng đầu nước Úc hiện nay.

Sir Henry Barkly

Danh hiệu “Sir” mà ông mang là một sự tôn vinh của Hoàng gia Anh dành cho những người có đóng góp xuất sắc cho đất nước và các thuộc địa. Trước khi đến Victoria, Barkly từng làm việc ở British Guiana và Jamaica, còn sau đó ông giữ chức Thống đốc ở Mauritius và Thuộc địa Cape.

Cái tên Barkly không chỉ được ghi nhớ qua những con đường như Barkly Street mà còn lưu danh trong lịch sử thuộc địa và phát triển của Úc. Ông mất ngày 20 tháng 10 năm 1898, nhưng dấu ấn của ông vẫn còn mãi với thời gian.

Sir Francis Nicholson – Người đặt nền móng cho nước Úc mới

Sir Francis Nicholson (1753–1818) là một nhân vật không kém phần quan trọng trong lịch sử thuộc địa Úc. Ông giữ chức Phó Thống đốc New South Wales từ năm 1800 đến 1804, rồi là Thống đốc Van Diemen’s Land (Tasmania ngày nay) từ 1804 đến 1808.

Ông nổi tiếng với những nỗ lực ổn định đời sống và phát triển các thuộc địa đầu tiên của nước Úc. Nicholson đặc biệt quan tâm đến việc cải thiện nông nghiệp và quản lý tù nhân, những yếu tố quan trọng trong việc xây dựng nền tảng xã hội mới.

Tên tuổi của ông cũng được đặt cho nhiều địa danh, trong đó có Nicholson Street – một trục đường quan trọng ở Footscray, góp phần ghi nhớ công lao của ông trong công cuộc khai phá và phát triển vùng đất mới.

Sir Francis Nicholson

Riêng tôi, ít nhất một tuần một lần, ông bạn thân Chín Triệu, dân gốc Xóm Vạn Chài cuối đường Trần Quang Khải Tân Định Sài Gòn, lại xách xe, mang theo chai rượu chát (red wine) rủ rê tôi xuống nhà hàng Thanh Vinh – tọa lạc bên tay trái góc Barkly và Nicholson để lai rai, nói dóc chơi.

Đó là nơi mà bao ký ức cũ – từ năm 1954 đến hôm nay – vẫn còn vẹn nguyên như tấm hình đen trắng in dấu thời gian. Đôi khi, chúng tôi nhìn nhau mà tự hỏi, mấy ai trong số những người xưa cũ còn hiện diện giữa chốn phồn hoa này?

Tôi vẫn nhớ lời em yêu của tôi, tức bà La Sát, bà chằn lửa của tôi tức là con vợ tôi thường hay nói, mỗi khi tôi dành nhiều thời gian “tụ bè tụ đảng đi nhậu để nói dóc”.

Em rầy tôi như má rầy con vậy:

“Cơm không nấu chỉ biết ăn. Ăn xong chén không rửa. Đồ không giặt! Tối ngày cứ tụ bè tụ đảng đi nhậu để nói dóc không hà! Thiệt là đồ vô tích sự!”

Ha ha! Có lẽ trong mỗi câu chê trách ấy là cả một tình cảm thân thương, một sự quan tâm lặng thầm mà chỉ người trong cuộc đời nô lệ mới thấu hiểu.

Và cũng bởi lẽ, như tôi vẫn nói với con cái mình: không phải cứ đi học trường lớp mới là học. Học là cả một cuộc đời, học trong từng phút giây sinh hoạt, học trong những cuộc chuyện trò, học trong men rượu và trên những con phố quen thuộc.

Footscray hôm nay là minh chứng sống động cho sự giao thoa giữa lịch sử và hiện đại, giữa văn hóa bản địa và ảnh hưởng Âu Mỹ, giữa quá khứ công nghiệp nặng nhọc và tương lai đô thị hóa năng động.

Tên tuổi Sir Henry Barkly và Sir Francis Nicholson không chỉ là dòng chữ trên các bảng tên đường mà còn là những biểu tượng cho lòng kiên trì, sự phát triển và cống hiến cho vùng đất Úc xa xôi này.

Và với riêng tôi, dù có đôi khi bị gọi là “đồ vô tích sự”, thì Footscray vẫn là mái nhà, là miền ký ức, là nơi tình bạn và những câu chuyện đời thường vẫn còn vang vọng bên những con phố thân quen.

DXT

Apollo Bay

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

September 19th, 2025

Post by Sơn râu 26 Nov 2025

Khi nhắc đến “Apollo”, ai cũng nghĩ ngay tới phi thuyền Mỹ đưa Neil Armstrong bước xuống Mặt Trăng năm 1969. Hồi đó, dân Sài Gòn xem TV đen trắng, thấy ông bước xuống, thò chân lên bề mặt trăng, cả xóm reo hò: “Mỹ đã lên cung trăng, còn tao thì chưa lên được lầu Á xẩm bán hủ tiếu mì đầu hẻm!” – tưởng đùa mà thật. Thế nhưng, ít ai biết bên kia bán cầu, ở nước Úc xa xôi, cũng có một địa danh mang tên Apollo Bay – nghĩa là “Vịnh Apollo”.

“Bay” trong tiếng Anh là vịnh, một eo biển nhỏ ôm lấy mặt nước như vòng tay mẹ. Apollo Bay nằm chễm chệ trên Great Ocean Road, huyền thoại du lịch ven biển tiểu bang Victoria, cách Melbourne khoảng 187 km. Nếu lái thẳng, mất chừng ba tiếng rưỡi, còn ai thích thong thả vừa ngắm biển, vừa chụp hình cột mốc 12 Apostles thì cả ngày cũng chưa hết cảnh đẹp.

Còn “Apollo” là ai? Apollo là vị thần Hy Lạp, quản Mặt Trời, âm nhạc, tiên tri và cả bệnh dịch – vừa đáng kính vừa đáng sợ. Tên nghe oai, lãng mạn và dễ nhớ, nên người Mỹ mượn đặt cho chương trình bay lên Mặt Trăng của NASA hồi thập niên 1960. Một ông khoa học ngồi nghĩ: “Muốn đưa con người lên Mặt Trăng, phải chọn tên gì cho thật kêu?” – thế là Apollo ra đời, cưỡi cỗ xe Mặt Trời, bay ngang trời, đi vào sử sách.

Và cũng chính Apollo Bay, tên gọi mượn theo chiếc thuyền buồm Apollo từng ghé vịnh, đã trở thành thị trấn ven biển độc đáo. Ban đầu năm 1853, nơi đây gọi là Middleton. Năm 1881 đổi sang Krambruk – theo tiếng thổ dân Gadubanud nghĩa là “cửa sông”. Nhưng dân Úc thấy khó đọc quá, đến 1898 thì đổi Apollo Bay cho dễ xưng hô.

12 Apostles tại Apollo Bay 

Trước khi người Châu Âu đến, Apollo Bay là lãnh thổ bộ tộc Gadubanud. Họ sống nhờ hải sản, săn thú rừng, hái trái cây. Gadubanud tin rằng, thần Mặt Trời đi ngang vịnh mỗi sáng, soi sáng mặt nước, giúp cá tôm sinh sôi. Họ tổ chức lễ hội cầu cá, vừa múa hát vừa khấn thần Apollo (hoặc vị thần tương đương), để bữa cá hôm đó “mập lù, tươi rói”. Khi mực nước lên cao hoặc sóng lớn, họ tin “Thần Sóng tức giận”, phải nhảy múa, đánh trống cầu thần dịu lại. Ai từng đứng giữa gió biển lạnh thấu xương mới thấy “lễ hội sinh tồn” ấy không phải trò đùa. Chính sự tôn kính thiên nhiên ấy hình thành mối quan hệ mật thiết giữa con người, biển và thần thoại, nét văn hóa mà người Châu Âu đầu tiên cũng phải kính nể.

Nghịch lý thay, trong khi phi thuyền Apollo bay lên trời, ở Apollo Bay, cảnh sát lại lo giữ… một cái xà lim nhỏ dưới đất. Một bên thăm thẳm vũ trụ, một bên lụp xụp nhà gỗ giam tù, thật đối nghịch mà cũng dễ thương.

Đồn cảnh sát Krambruk mở cửa ngày 7 tháng 3 năm 1888. Ban đầu là căn nhà gỗ 7 phòng, gồm bếp, phòng ăn, phòng tắm, hành lang, văn phòng; ngoài sân có chuồng cho một con ngựa và một… xà lim nho nhỏ. Thú vị là cả đồn chỉ có một anh cảnh sát kỵ binh. Ven biển, trộm cướp ít, chủ yếu nhậu xỉn đánh nhau, một ông “phú lít”là đủ.

Người ta kể, hồi chưa có xe hơi, cảnh sát cưỡi ngựa tuần dọc bờ biển, dân địa phương còn gọi ông là “ông kỵ binh một mình một ngựa”. Vừa làm cảnh sát, vừa kiêm… bạn nhậu bất đắc dĩ, ai say cũng đưa về xà lim nghỉ một đêm. Có lần, một ông đánh cá bị nhốt mà vẫn còn say, la lên: “Thả tao ra, tao phải ra khơi, cá nó không chờ đâu!” – cảnh sát chỉ lắc đầu: “Biển thì chờ được, mày ra lúc này thì chết chìm, vợ mầy thằng khác “thịt”, đừng có giỡn ngu!”

Neil Armstrong đáp xuống mặt trăng bằng phi thuyền Apollo 11 – nguồn Britanica

Đến thập niên 1970, chính quyền xây đồn gạch 3 phòng ở số 31 đường Nelson, có nhà giam phía sau. Rồi mở rộng thêm hai lần trước khi đóng cửa năm 2005. Ngày 17 tháng 11 năm 2006, đồn cảnh sát Apollo Bay hiện đại khai trương số 35a đường Nelson, góc Cartwright, có trung sĩ chỉ huy và 5 cảnh sát viên làm việc 16 tiếng mỗi ngày. Bề thế, văn minh, nhưng cái xà lim nhỏ bé 1957 vẫn in đậm ký ức dân địa phương.

Ngày nay, Apollo Bay không chỉ có đồn cảnh sát mà còn là điểm du lịch nổi tiếng. Mùa đông, du khách nô nức ra bờ biển xem cá voi mẹ dẫn cá voi con bơi ngang vịnh. Người Úc mê món tôm hùm Apollo Bay. Cảnh sát vui vẻ: “Cái đó thì không bắt, chỉ bắt thằng nào nhậu xỉn quậy mát trời ông Địa mà thôi!”

Nhìn lại mới thấy, Apollo Bay thật kỳ lạ. Một bên giữ an ninh cho làng chài, một bên mở cánh cửa vũ trụ. Một bên giam mấy ông say xỉn, một bên đưa Neil Armstrong bước vào lịch sử nhân loại. Thế mới thấy, đời có khi tréo ngoe mà cũng vui: thần Apollo trên trời chắc cũng cười, vì cái tên vừa gắn với ánh sáng huy hoàng, vừa gắn với… xà lim miền biển Úc, lại thở cùng sóng biển, rừng già và lễ hội Gadubanud.

Cùng một chữ Apollo, từ thần thoại Hy Lạp, phi thuyền Mỹ, tới một vịnh nhỏ Úc, tạo nên một câu chuyện vừa lịch sử vừa phiếm luận. Apollo Bay – nơi thiên nhiên, văn hóa, và luật lệ hòa quyện một cách vừa nghiêm túc vừa hài hước, để người đời sau còn cười vui khi nhắc tới: ánh sáng mặt trời, cá tôm tươi rói, tôm hùm đỏ au, cá voi tung bọt trắng trời, và một xà lim nhỏ nhắn nhưng in sâu vào ký ức.

Xà lim đồn Cảnh sát Apollo Bay hồi xưa.

ĐXT

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 26 Nov 2025

Bài 45

Quán ăn và Buớm

Chúng tôi đã thu xếp xong việc này, Indara bán hết chỗ vàng chúng tôi có được. Ông bố già ngạc nhiên thấy tôi không đụng đến những mẩu vàng vụn mà ông cho con gái để hai chúng tôi cùng dùng. Ông nói:
– Tôi cho anh chị để anh chị xài. Của hai anh chị đấy, anh chị sử dụng thế nào tùy ý, không phải hỏi tôi, anh chị cứ việc làm.
Kể ra ông “bố vợ phù thủy” của tôi cũng không đến nỗi nào. Cô nàng của tôi là loại đặc biệt rồi, vừa là nhân tình, vừa là vợ, vừa là bạn. Không có chuyện cãi cọ vì tôi nói gì nàng cũng “vâng”. Nàng chỉ hơi khó chịu chút xíu khi tôi xăm vú cho các bạn đồng hương của nàng.
Thế là tôi đã trở thành chủ tiệm ăn “Thắng Lợi”, nằm trên đường Water Street đúng ngay giữa bến cảng Georgetown. Quých nấu bếp, anh thích vậy đó, đó là nghề của anh. Anh cụt đi chợ và nấu “mì hoành thánh” một thứ mì Tàu. Món đó làm như sau: lấy tinh bột mì, trộn với lòng trắng trứng rồi nhào cho nhuyễn. Đống bột được nhào khô rất lâu, rất kỹ, nhào bột rất nặng, đến nỗi anh cụt phải nhảy lên trên đống bột, đùi tựa vào một cây gậy nhẵn bóng gắn chặt ở giữa bàn. Một đùi gác lên trên cái gậy, cánh tay độc nhất nắm chắc lấy cái gậy đó, anh nhảy một chân quanh bàn để nhào bột. Làm như vậy có được một thứ bột hồ nhẹ rất ngon. Sau cùng, cho thêm chút bơ vào, vị của nó tuyệt vời. 
Quán này, chủ trước bị vỡ nợ, đã nhanh chóng nổi tiếng. Indara có một cô gái Ấn trẻ và rất xinh tên là Daya phụ giúp, đã phục vụ đông đảo khách hàng cứ xô đến tiệm chúng tôi để nếm món ăn Tàu. Tất cả dân tù vượt ngục đều tìm đến. Ai có tiền thì trả, ai không có thì mời ăn không. Quých nói “Cho người đói ăn sẽ gặp vận may”.
Chỉ có một điều phiền phức: hai cô phục vụ (trong đó có Indara) lại quá hấp dẫn. Cả hai đều phô bày đôi vú trần dưới làn áo voan mỏng. áo của hai cô lại xẻ bên hông từ đùi đến gót chân. Những khi cử động, hai cô để lộ hết chiều dài của đôi chân, lên đến tận đùi.
Lính thủy Mỹ, Anh, Thụy Điển, Canada và Na Uy có ngày đến ăn hai lần để được ngắm cảnh ấy. Các bạn tôi gọi tiệm ăn của tôi là tiệm ăn của những kẻ nhòm gái. Tôi là đại diện chủ. Đối với tất cả mọi người tôi là “ông chủ”. Không có quầy thu tiền, người chạy bàn đưa tiền cho tôi, nhận tiền xong tôi bỏ túi, khi cần tôi lấy tiền lẻ ra thối lại.
Tiệm ăn mở cửa từ tám giờ tối đến năm sáu giờ sáng hôm sau. Không cần phải kể ai cũng biết rằng vào khoảng ba giờ đêm, tất cả bọn đĩ điếm trong khu đã kiếm khá tiền trong đêm đầu kéo kép hay khách của chúng đến tiệm chúng tôi ăn món gà cà-ry hay rau xà lách với mầm đậu. Khách có uống bia nữa, nhất là bia Anh, rượu rhum mía của địa phương rất ngon, soda hay cô-ca cô-la. Vì quán là điểm hẹn của dân Pháp vượt ngục, tôi đã trở thành người giúp nơi ẩn náu, là cố vấn, là người phân xử, là bạn tâm sự của tất cả dân tù đày ở đây.
Nhưng tình trạng đó cũng làm tôi nhiều lần gặp chuyện rắc rối. Một người chuyên sưu tập bướm đã cắt nghĩa cho tôi nghe cách săn bướm trong rừng. Trước hết anh ta cắt hình một con bướm trong một miếng bìa cứng rồi dán vào đấy đôi cánh một con bướm thuộc cái giống mà anh định săn. Tấm bìa được gắn vào đầu một cây gậy dài một mét. Khi săn bướm tay anh cầm gậy và cử động làm sao cho bướm giả có vẻ như đang bay lượn. Anh phải săn ở những khoảng trống, có ánh nắng trong rừng. Anh phải biết giờ nở trứng của từng loại bướm. Có những loài chỉ sống được bốn mươi tám giờ. Và mỗi khi ánh nắng chiếu vào chỗ quang đãng, những con bướm mới nở lao vào vùng ánh sáng đó, để tìm bướm cái cho thật nhanh. Khi chúng thấy con bướm mồi, từ rất xa, chúng ập đến. Nếu con bướm mồi là bướm đực, thì bướm đực sẽ lao đến để đánh. Thế là anh cứ việc dùng cái vợt nhỏ cầm ở tay trái để bắt bướm.
Cái lưới vợt có một chỗ thắt có làm người săn bướm có thể cứ tiếp tục bắt thêm bướm mà không sợ những con đã lọt lưới bay đi mất.
Nếu con mồi làm bằng cánh của bướm cái, thì cái con đực cũng tìm đến để ấp con cái và kết quả vẫn là một.
Bướm đẹp nhất là loại bướm hay bay đêm nhưng vì chúng thường va phải các vật chướng ngại cho nên rất khó bắt được con nào còn đôi cánh nguyên vẹn. Hầu hết cánh của loại bướm này đều bị sứt nham nhở. Đối với loại bướm đêm, phải lên tận gần ngọn một cây cao, rồi giăng một tấm vải trắng to lồng trong khung, đằng sau để một cây đèn đất thật sáng. Những con bướm đêm to, sải cánh, dài từ mười lăm đến hai mươi centimét, bay dính vào tấm vải trắng. Thế là chỉ cần đè lên ngực nó thật nhanh cho nó chết ngạt. Phải làm sao nó không dẫy dụa, nếu không cánh của nó sẽ bị hư hại và kém giá trị.
Tôi có một cái tủ kính nhỏ trong đó có những bộ sưu tập bướm, ruồi, rắn nhỏ và dơi hút máu. Hàng tôi có không đủ bán cho khách cho nên giá rất cao. Một người Mỹ chỉ cho tôi thấy một con bướm phía sau cánh màu xanh biếc có ánh thép, phía trên thì màu lơ nhạt. Người đó bằng lòng trả tôi năm trăm đô-la nếu tôi có được một con bướm thuộc loại này mà lại là lưỡng tính. Tôi kể lại với người săn bướm, anh ta nói có một lần, anh đã có trong tay một con này, rất đẹp, được người ta trả năm mươi đô-la, sau nhờ một người sưu tập đứng đắn khác anh ta mới biết là một mẫu bướm như vậy trị giá đến hai ngàn đô-la.
– Thằng Mẽo ấy muốn xỏ anh đấy, anh Papillon ạ. Nó coi anh là đồ ngốc. Cứ cho là món hàng hiếm đó chỉ đáng giá một ngàn năm trăm đô-la, thì có cũng lợi dụng được sự ngớ ngẩn của anh mà lãi to.
– Cậu nói đúng, đấy là một thằng xỏ lá. Hay ta chơi lại nó một vố!
– Làm thế nào?
– Chẳng hạn như gắn vào thân một con bướm cái đôi cánh một con bướm đực hoặc ngược lại. Cái khó là làm sao gắn mà không ai nhìn ra được.
Sau nhiều lần làm thử thất bại, chúng tôi đã gắn được rất khéo, hai cánh một con đực vào thân một con cái đẹp tuyệt trần, chúng tôi đút những đầu cánh nhọn vào một đường rạch nhỏ xíu rồi gắn lại bằng nhựa balata. Nó dính rất chặt, có thể cầm đôi cánh dán nhựa mà nhấc cả con bướm lên. Dù có tinh mấy cũng không sao nhận ra được: Chúng tôi lồng kính con bướm này cùng nhiều bướm khác trong một bộ sưu tập thông thường giá hai mươi đô la, làm như tôi không quan tâm đến nó. Chúng tôi tính không trật chút nào. Chàng Mỹ vừa để ý thấy đã trơ tráo cầm hai mươi đô la trong tay để mua bộ sưu tập đó của tôi. Tôi trả lời y là tôi đã nhận bán rồi, một người Thụy Điển đã mua cả hộp, và món này là của người ấy.
Trong hai ngày, gã người Mỹ cầm cái hộp lên tay đến mười lần. Sau không chịu nổi, y nói với tôi:
– Tôi mua con bướm ở giữa hai mươi đô la, còn anh giữ lại tất cả.
– Con bướm ấy có gì khác thường vậy? – Và tôi chăm chú xem xét rất kỹ. Rồi tôi reo lên – Nhưng mà này, đây là bướm lưỡng tính mà.
– Ông nói gì vậy? ừ, đúng thật, trước tôi chưa dám chắc, người Mỹ nói. Trông qua kính, không rõ lắm. Ông cho phép nhé? Y xem xét kỹ cơn bướm, rất tỉ mỉ, rồi nói: “Ông bán bao nhiêu?”
– Có lần chẳng phải ông đã nói với tôi rằng thứ mẫu hiếm này đáng giá năm trăm đô la sao?
– Tôi đã nhắc đi nhắc lại với nhiều người săn bướm rằng tôi không muốn lợi dụng sự không hiểu biết của người đã bắt được con bướm này. 
– Nếu vậy thì giá là năm trăm đô hay là thôi.
– Tôi mua, ông cứ giữ nó cho tôi. Đây, tôi mang theo có sáu mươi đô la, tôi đặt trước coi như việc mua bán thế là xong. Ông cho tôi một tấm giấy biên nhận, mai tôi sẽ đem nốt tiền lại, ông nhớ lấy con bướm này ra khỏi hộp nhé.
– Được rồi, tôi sẽ để riêng nó ra chỗ khác. Biên nhận của ông đây.
Đúng giờ mở cửa tiệm, chàng trai giòng giống Lincoln* (*Lincoln Abraham là tên tổng thống thứ 16 của Mỹ) đã có mặt. Y lại xem xét con bướm lần này với một cái kính lúp, tôi sợ hết hồn khi y xem mặt sau con bướm. Thỏa mãn rồi, y trả tiền, đặt con bướm vào một cái hộp y mang theo, đòi tôi làm cho y một giấy biên nhận khác rồi ra đi.
Hai tháng sau tôi bị cảnh sát bắt. Đến Sở cảnh sát cảnh sát trưởng giải thích bằng tiếng Pháp cho tôi hay là tôi bị bắt vì có một người Mỹ tố cáo tôi đã lường gạt ông ta.
– Về chuyện một con bướm mà ông gắn cánh, – cảnh sát trưởng nói. – Do việc làm gian trá đó nên ông mới bán được năm trăm đô-la.
Hai giờ sau, Quých và Indara đã đến sở với một luật sư nói tiếng Pháp rất thạo. Tôi nói với luật sư là tôi không biết gì về bướm cả, tôi không phải là người chuyên săn bướm, cũng không sưu tập bướm. Tôi bán những hộp sưu tập bướm là bán giúp những người săn bướm vốn là khách hàng của cái tiệm ăn của tôi, rồi chính người Mỹ kia đòi mua và đặt giá trước là năm trăm đô-la, chứ không phải tôi nài bán cho ông ta, và nếu đấy đích thực là một con bướm thuộc loại như ông ta nói thì chính ông ta mới là người đi lừa, vì ông đã có được một vật trị giá hai ngàn đô-la.
Hai ngày sau, tôi ra trước tòa. Luật sư của tôi kiêm cả việc phiên dịch cho tôi. Tôi nhắc lại luận cứ của tôi.
Một điều lợi cho luật sư của tôi là ông có một cuốn Catalogue có kê giá bướm các loại. Một con bướm như thế được định giá trong sách là trên một ngàn năm trăm đô-la. Gã người Mỹ kia phải chịu tiền phí tổn của phiên tòa. Thêm vào đó y phải trả tiền thù lao cho luật sư của tôi cộng hai trăm đô-la nữa.
Dân anh chị và dân Ấn tập trung lại để ăn mừng tôi được thả về, bằng một chầu rượu cất lấy. Toàn bộ gia đình Indara đều đến tòa án xem xử. Mọi người đều tự hào vì trong gia đình – sau khi tôi được xử trắng án – có một siêu nhân. Bởi họ không bị bịp, họ biết thừa là chính tôi đã gắn cánh con bướm.
Cuối cùng chúng tôi phải bán tiệm ăn đi, việc ấy tất nhiên sẽ phải tới. Indara và Daya quá đẹp, và cái kiểu thoát y đó, lúc nào cũng chỉ bắt đầu hé ra rồi không đi xa hơn, lại càng làm cho các thủy thủ đầy máu nóng phát điên lên, còn hơn cả khi được thấy một cảnh trần truồng thật sự. Các cô nhận thấy là càng để nửa kín nữa hở gần mũi các thủy thủ bao nhiêu, thì càng được tiền puốc-boa nhiều bấy nhiêu, cứ nhoài người trên bàn ăn là các cô không bao giờ tính đúng được tổng số tiền, hay thối đủ được tiền lẻ. Sau thời gian trưng bày bộ ngực làm chàng lính thủy mê mẩn hoa cả mắt, các cô mới đứng thẳng lên hỏi: “Còn tiền puốc-boa nữa?”: “à, chết suýt quên”, tội nghiệp cho mấy anh chàng ấy. Họ rất hào phóng, những gã dại gái ấy, lửa tình được nhen lên nhưng không bao giờ được thỏa mãn, không còn biết trời đất gì nữa.
Một hôm xảy ra một việc mà tôi đã lường từ trước. Một thằng cha cao to tóc hung, mặt đầy tàn nhang nhìn bộ đùi hở hang chưa thỏa, vừa thoáng thấy bóng chiếc quần lót hắn đã đưa tay ra và những ngón tay thô bạo của hắn kẹp chặt cô bé Nam Dương của tôi như trong cái ê-tô. Tay đang cầm một bình nước bằng thủy tinh, cô bé phang cả bình vào đầu nó. Bị đánh như vậy nó giật mạnh cái quần lót rồi gục xuống, tôi vội chạy đến để nâng nó dậy trong khi các bạn nó lại tưởng tôi đến đánh nó, nên chưa kịp làm gì, tôi đã bị một quả đấm trời giáng đúng giữa mắt. Không biết thằng cha lính thủy kiêm bốc-xơ ấy thật sự bênh bạn hay chỉ muốn chơi một vố thật đã đời cho chồng người đẹp Ấn phải chịu trách nhiệm này! Có trời biết được! Dù sao tôi cũng nhận được một cú đấm thẳng vào mắt. Quá tin vào thắng lợi, nó đã đứng thủ thế trước mặt tôi và quát:
“Đánh nào, đánh đi, mày”. Tôi đá phốc vào hạ bộ nó, tiếp theo là một cái húc nhãn hiệu Papillon, nó đã nằm thẳng cẳng.
Trận đánh nhau trở thành một cuộc loạn đả. Anh cụt từ trong bếp xông ra cứu tôi, anh cầm cái gậy làm mì hoành thánh vụt tứ tung. Quých cầm một cái phuốc- sét dài có hai chạc đâm lia lịa vào đám đông. Một tên lưu manh dân Paris chuyên dự các buổi khiêu vũ theo nhạc trường Lappe đã về hưu dùng một ghế tựa làm vũ khí. Indara có lẽ bị bó tay vì mất xi-líp nên chẳng tham gia vào cuộc chiến.
Kết cục là năm gã người Mỹ bị thương nặng ở đầu, hai gã khách bị những vết đâm có hai lỗ do phuốc-sét của Quých gây ra ở nhiều chỗ trên thân thể, máu đổ tùm lum. Một viên cảnh sát da đen người Brazzaville chặn ở cửa không cho ai ra. Thật là may, vì vừa lúc ấy một chiếc xe jeep của Quân cảnh tới. Chân đi ghệt trắng dùi cui giơ cao, họ định dùng võ lực ào vào tiệm ăn, và trông thấy các thủy thủ của họ máu me bê bết như vậy chắc chắn là họ sẽ trả thù. Nhưng người cảnh sát da đen đã đẩy toán quân cảnh lui, tay cầm gậy chắn cửa và nói: “Đã có cảnh sát Hoàng Gia đây”.
Và khi cảnh sát Anh tới, chúng tôi mới phải lên xe chở tội phạm để về sở cảnh sát, chỉ một mình tôi mắt bị đánh sưng húp híp, còn không ai trong bọn tôi bị thương, nên không ai tin được là chúng tôi đánh nhau để tự vệ một cách chính đáng.
Sáu ngày sau, trong phiên xử quan tòa chấp nhận luận điểm của chúng tôi và cho chúng tôi được tự do trừ Quých bị ba tháng tù vì đánh người có thương tích. Cũng khó bào chữa nổi vô số những vết thương hai lỗ mà Quých đã ban phát rất rộng rãi cho các đối thủ của anh ta.
Sau đó, trong nửa tháng trời có đến sáu vụ ẩu đả, chúng tôi cảm thấy không thể nào kéo dài được nữa. Bọn lính thuỷ nhất định không chịu coi chuyện này như đã kết thúc, những khách mới lại cứ tiếp tục đến, làm sao phân biệt được ai là bạn của kẻ thù của chúng tôi, ai không phải?
Vậy là chúng tôi đã bán tiệm ăn, với giá rẻ hơn lúc mua. Quả tình tai tiếng đến như vừa rồi thì khách mua cũng chẳng được bao nhiêu.
– Anh cụt ơi, ta làm gì bây giờ?
– Trong khi chờ Quých được thả, ta cứ nghỉ ngơi đã. Cũng không thể lấy lại chiếc xe ba gác với con lừa được vì ta đã bán các thứ đó cùng các mối mua hàng rồi. Tốt nhất là không làm gì, cứ nghỉ, sau sẽ hay. 
Quých đã được về. Anh kể lại rằng họ đối xử với anh cũng tử tế. Có một điều phiền là anh ta phải ở cạnh hai tù nhân bị án tử hình. Và người Anh lại có cái thói dở là: họ báo cho tội nhân biết bốn mươi lăm ngày trước khi thi hành án là họ sẽ bị treo cổ ngày nào, giờ nào và Nữ Hoàng đã bác đơn xin ân xá của họ. Thế là cứ mỗi sáng, Quých kể hai người tử từ cứ réo lên với nhau: “Lại qua đi một ngày nữa rồi, Johnny ơi, chỉ còn từng này ngày nữa thôi”. Và người tử tù kia không ngớt chửi tòng phạm của y suốt cả buổi sáng. Ngoài chuyện đó ra, Quých được yên ổn và được trọng nể.

Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên 

Post by Sơn râu 26 Nov 2025

Chương 22 – Kết

Sau Hanovre, một chuyến xe lửa đưa chúng tôi cho đến Bỉ. Khắp nơi toàn là điêu tàn, khắp nơi toàn là đổ nát. Họ sẽ bắt đầu bằng cái gì? Đấy là câu hỏi mà mọi người đặt ra lúc nghĩ đến người Đức, khi mà các thành phố, tất cả các thành phố đều đã bị tiêu hủy ra tro. Trên khắp nẻo đường, bằng tất cả mọi phương tiện chuyển vận, từng toán tù binh và công nhân gồm đủ mọi loại chủng tộc ở Âu Châu, đổ dồn về phía các trung tâm hồi hương. Tất cả các con người ấy, mà chiến tranh đã như cơn cuồng phong, nhổ bật họ ra khỏi mảnh đất quê hương để biến thành tội tù hay nô lệ cho nền Đệ tam Cộng Hòa Đức Quốc Xã (IIIè Reich), họ sẽ tìm thấy lại được gì nơi quê hương mình? Lại cũng là vô số cảnh, điêu tàn, vô số gia đình thất tán… Tuy nhiên phần đông đều có vẻ rất hân hoan và rung động trong niềm hy vọng. Được hiện hữu trong số những người sống sót sau tất cả tội ác của bọn Quốc Xã, không phải là không có ý nghĩa gì. Nói chung, chỉ có những người Ba Lan là có vẻ lo âu nhiều nhất. Sự ngờ vực từ bản năng, đối với dân Nga gây ra bởi hàng thế kỷ đàn áp bóc lột, chưa biến mất do tình trạng chiến thắng chung. Và có nhiều người đã nghĩ đến nước Pháp là nơi mà người đồng hương của họ đã tạo thành một lực lượng quan trọng trong tập thể công nhân hầm mỏ. Vả chăng có trường hợp một người Pháp lấy một phụ nữ Ba Lan, bà nầy không muốn trở về quê hương của mình cũng không phải là hiếm. Nhưng đáng ngạc nhiên nhất đối với chúng tôi là cảnh gặp gỡ tại trung tâm Verviers, ba cặp Pháp Đức. Trong một thành phố lớn, một gia đình sẽ bị chìm vào trong đám đông nhưng đây là trường hợp của một nông dân và hai công nhân tiểu công nghệ thuộc một địa phương nhỏ bé và trở về từ một nơi tù đầy, nơi xẩy ra không biết bao nhiêu điều khiếp đảm, thì phải có một đởm lược nào đó hoặc phải là người vô ý thức mới dám đem trình diện cho gia đình, bà con, một người vợ Đức.

Và chúng tôi đã trở về. Tại Bỉ, trong miền Bắc nước Pháp, đâu các cuộc đón tiếp cũng hết sức cảm động. Tiếc thay con người không bao giờ luôn luôn dể thương và tốt bụng như trong những lúc tiếp theo các miền bất hạnh lớn lao. Người ta không thể nói đến biên giới giữa Pháp và Bỉ nữa, cả cảnh vật, lẫn ngôn ngữ lẫn phong tục tập quán, không có gì thay đổi, nhưng đối với một người ở Ba-lê, thật cảm động biết bao khi trông thấy những ngôi nhà nhỏ đầu tiên của vùng ngoại ô tiến đến gần. Nơi đây là nơi bắt đầu Tổ quốc của mỗi người. Đây không phải là một tinh thần vị kỷ hay một lời khoa trương, đây chỉ là một xúc cảm. Những hình ảnh của thời niên thiếu dồn dập diễn qua trong tâm trí; đi đạo trong rừng Boulogne, cắm trại ở Pontainebleau, quán rượu ven bờ sông Marne hay khiêu vũ ở Robison. Chúng tôi đang ở vào sáng ngày 8 tháng 5. Nhiều con tàu ở vùng quê đổ dồn vào Ba-lê, thanh thiếu niên khua trống vang lừng để chào đón chúng tôi, và hát vang những bài ca tán tụng cuộc đời và tình yêu. Nghĩ rằng hàng triệu sinh mạng tương tự đã chết trong những điều kiện kinh hồn, hình như đối với chúng tôi nay là chuyện không thể tin được. Và đây là Ba-lê. Trong đám đông đang chờ đón, có nhiều bộ mặt âu lo xen lẫn với những bộ mặt rạng rỡ của những người vừa thấy lại được một người thân thuộc, Phế giới chỉ được biết sự thật về các trại tập trung của Hitler, và tang tóc đã phủ xuống phần lớn gia đình có thân nhân bị lưu đầy.

Tại trung tâm tiếp đón đành cho chúng tôi, tôi được biết, nhờ một người sống sót tại tại Buchenwald, các chi tiết về cuộc nổi dậy đã bùng nổ tại trại nầy khi quân Mỹ đến. Vụ đó xảy ra hôm 11 tháng 4, đúng ngày chúng tôi gặp các chiến xa Mỹ, và tin tức nầy đã làm cho chúng tôi được khuây khỏa về kế hoạch mà chúng tôi đã soạn thảo ở Ellrich và hoàn cảnh đã ngăn cản không cho chúng tôi thực hiện. Trên một danh sách những người còn sống sót đang được cả một đám đông sốt ruột dò tìm, tôi đọc thấy tên Ramelin và Đại tá Ganneval. Michael và Max cũng được cứu thoát, nhưng đã trở lại quê quán: Michael về Belgrade và Max về Hambourg.

Sáng hôm sau, một danh sách mới cho chúng tôi biết Paco và những người cùng thuộc một biệt đội sống sót trong khi trại bị di chuyển, cũng đã trở về. Họ đến Ba-lê trên chuyến tàu đêm. Mười phút sau khi dựng họ dậy khỏi giường, chúng tôi tập họp trong căn phòng khách giống như đã tập họp để chờ tàu trên sân ga công trường vài tuần lễ trước. Paco kể lại cuộc phiêu lưu của chuyến tàu thứ nhất: Con tàu đến Bergen-Belsen ngày 9 tháng 4, đó là một trại tập trung vĩ đại có nhiệm vụ thanh toán tất cả tù nhân được di tản khỏi các trại tập trung khác. Với số lượng càng ngày càng gia tăng, viên chỉ huy trại, tên Kramer quyết định thi hành một cuộc thanh toán tập thể bằng cách sẽ phân phát cho mỗi người một phần bánh mì có tẩm thuốc độc lúc 17 giờ ngày 15 tháng 4. Nhưng đến 15 giờ, chiến xa của Anh đã xuất hiện trước cổng trại. Đã có một vài vụ hành quyết không xét xử, bọn cựu tù nhân thuộc thành phần “quí phái” trong trại tập trung, bọn người cho đến phút chót, vẫn lợi dụng những tù nhân tiếp tục chết; tuy nhiên, khốn nạn thay đã có số các tên phản bội thuộc đủ mọi loại quốc tịch, đã trốn thoát. Đối với con tàu thứ hai, chuyến tàu của chúng tôi, tình trạng tệ hại hơn. Chúng tôi rời bỏ nó đêm 9 tháng 4, nhưng nó vẫn tiếp tục chạy lòng dòng và sau cùng vì không thể đến được một trại tập trung nào cả, các tù nhân phải rời tàu và đi về phía Đông. Hơn một nửa sống sót cho đến lúc đó, đã ngã ra chết dọc đường hoặc bị bắn hạ bằng súng lục. Và mãi đến ngày 2 tháng năm, chỉ có vài trăm người trong số ba ngàn lúc khởi hành là được quân Nga cứu thoát. Tony và Toso, do phép lạ cũng ở trong số đó. Trên một danh sách những người sống sót khác, tôi vui vẻ đọc thấy tên Hubert mà tôi không còn biết gì thêm từ khi có cuộc gặp gỡ tình cờ lúc đi ngang qua nhà máy ngầm Dora.

Nhưng hiện tại, chúng tôi đang ở vào ngày 9 tháng 5. Tại Bá-linh, do quân Nga chiếm đóng, von Keitel 1 ký hiệp ước đầu hàng của Đại Đức Quốc, và trên các đường phố ở Ba-lê cả một dân tộc cuồng nhiệt đang chuẩn bị ăn mừng ngày chiến thắng.

Chỉ còn những người đang dò tìm một tên trong các danh sách các người sống sót mới còn có các ý nghĩ khác trong đầu, và tự nhiên là nhóm bạn chúng tôi đã gần như hãi sợ trước sự nhộn nhịp ồn ào của ngày hội mới nầy.

Paco nghĩ đến vùng Nam Mỹ và Marcel muốn trở lại Luân-đôn nơi mà anh hy vọng sẽ tìm lại được một đường dây liên lạc cũ. Bébert, cậu bé của khu Pigalle đã thích nghi ngay với hoàn cảnh mới, vì 24 giờ sau khi trở về, cậu ta thực hiện các vụ làm ăn đầu tiên xới các quân nhân Mỹ. André luôn luôn là người lý tưởng của nhóm, muốn tiếp tục:

– Chúng ta chỉ là một phần mười của số người sống sót từ các trại tập trung; còn có những tù binh chiến tranh, những nạn nhân khác… Chúng ta phải đoàn kết lại… Làm một cái gì… tổ quốc đang cần sự mới mẻ!

Tuy nhiên chúng tôi vẫn còn ít nhiều lúng túng và mỗi người trước hết đều nghĩ đến việc trở về nhà mình.

Tôi đã nghe tất cả câu chuyện ấy, mặt khác, lại vừa được biết tin Rachel đã bị đầy đến Auschwitz và đã bỏ mình trong cơn biến động. Qua bờ tường dày của căn phòng khách, mắt tôi không thể nào rời bỏ được dòng người càng ngày càng đông cuồn cuộn luân chuyển trên đường phố như một dòng nham thạch nóng chảy.

Trên tất cả những bộ mặt phản chiếu một lòng ham muốn dữ dội được sống, dường như tôi nhận thấy những tù nhân diễn hành tiến đến một quảng trường vĩ đại để được điểm danh. Trong số đó có Boucher, Roger nghệ sĩ điêu khắc, Barberon và những người khác, tất cả những người khác, tất cả mọi lứa tuổi, mọi tôn giáo, mọi quốc tịch, tất cả… tất cả mọi người, nam cũng như nữ đã chiến đấu để có ngày lễ hôm nay nhưng đã không có mặt trong ngày lễ ấy.

——————————–

1Đọc: “Những trận đạnh lịch sử của Hitler”, sách in lần thứ hai – Sông-Kiên.

Một trời một biển

vietmessnger.com

Nguyễn Tấn Hưng

Post by Sơn râu 26 Nov 2025

12. Lời nguyện cầu

Bầu trời Nha Trang sáng ngày hôm nay sao quá u buồn ảm đạm. Những cụm mây xám, thấp giăng mắc khắp mọi nơi. Một vài cánh hải âu chao đảo trong lẻ loi, sợ hãi. Gió thổi từng cơn rạt rào trên cành cây, ngọn cỏ. Lất phất bụi mưa. Cảnh trời của cô đơn, của chịu đựng như chực rơi xuống bao phủ cuộc đời Hiền. Ðể hòa nhịp cùng con tim đang mang nặng nỗi niềm tái tê, đau đớn. Tất cả đều như đã báo hiệu trước một ngày chẳng lành rồi sẽ đến với nàng, như đã ghi sẵn vào trang cuối của một thiên tình sử!

Nàng thở dài, rời vuông cửa sổ đi vào phòng riêng tìm lấy chiếc áo dài mến thương, quen thuộc mặc vội vào người. Ngắm nghía mình trong gương. Mặt mũi nàng rõ bơ phờ, hốc hác. Màu áo xanh lơ của biển mặn làm nền và những cánh hoa trắng thêu tay nhỏ to, trông bèo bọt như những đóa hoa sóng bạc màu, đang sắp sửa vỡ tan ra từng mảnh vụn, im lìm chìm đắm vào biển đêm đen. Từng đợt, từng đợt đến rồi đi. Ôi, mỗi một nụ hoa kia phải chăng là một đánh dấu, một kỷ niệm với Tần, mà bên cạnh cuộc đời này, nàng biết rằng sẽ không bao giờ phai nhạt. Cầm thêm chiếc áo mưa hai da tím vàng xếp gọn như cuốn vở học trò trong tay, nàng lẻn ra phía nhà sau, băng mình vào con hẻm vắng lặng không một bóng người.

Ði, nàng phải đi, mặc dầu nàng chưa biết mình phải đi đâu! Ði, như thể để chạy trốn cái thực tại phũ phàng đang ập đến với nàng. Bạn bè ngày một xa, tuổi trẻ ngày một qua và tương lai của nàng ngày một mịt mù không lối thoát. Có lẽ đã đến lúc nàng phải đích thân trực diện, đương đầu với chính cuộc đời mình. Không còn ai để cho nàng nương tựa, mong chờ. Chẳng còn người nào để cho nàng tâm sự, giải khuây.

Cuộc tình giữa nàng và Tần, giờ nhớ lại, như là một giấc chiêm bao. Mới đó mà đã gần hai năm trời rồi. Hai năm trời biết bao lần đón đưa thương nhớ! Bởi, có cuộc tình nào mà không có những hò hẹn, chia xa? Hai năm trời biết bao nhiêu lần giận hờn, uất nghẹn từng cơn! Vì có cuộc tình nào mà không có những dối gian, lọc lừa thử thách? Hai năm trời biết bao lần buồn đau, sầu vương khóe mắt! Vì thử hỏi, có cuộc tình nào mà không có những lao đao lận đận, ray rứt nhức nhối trong tim? Càng dang ra xa thì càng như muốn níu lại gần, càng muốn quên đi thì lại càng mộng mơ tưởng nhớ! Ôi, như bóng với hình, đuổi bắt nhau trong vòng lẩn quẩn, luân hồi!

– Như em đã biết quá rõ là bao giờ anh cũng một lòng một dạ thương em! Nhưng tốt hơn hết em hãy ráng chờ anh, tối thiểu cũng phải đợi anh cho đến khi anh đổi về bờ. Chỉ một hai năm nữa thôi chớ nào có xa xôi, lâu lắc gì đâu! Bây giờ, “cưới nhau xong rồi… đi” theo kiểu “màu tím hoa sim” thì coi bộ xưa quá, buồn quá! Vả lại, đằng này anh đi theo tàu, khác với băng rừng lội suối, dẫu anh có muốn nhảy dù về thăm em cũng không làm sao nhảy được!

Chờ anh, chờ đến bao giờ …, em đã bao lần khắc khoải vì câu hỏi đó! Tần ơi, anh có cái lý của anh, nhưng sao anh không nghĩ gì đến thân phận đàn bà, con gái của em chớ! Số phần em, dưới áp lực của gia đình nhất là của chị Diệu, không thể ngồi yên và làm ngơ trước những thí sinh đang rình rập, rắp ranh bắn sẻ lúc nào cũng chờn vờn ngoài ngõ. Anh phải làm thế nào, bằng mọi giá, phải thỉnh mẹ anh khăn gói ra đây giáp mặt với mẹ em thì họa may tình thế này mới có chút ít cơ hội đổi chiều. Anh không hiểu những gì em đã nói với anh trong đêm hôm khuya khoắt vừa rồi hay sao, hở anh? Bằng không, có lẽ duyên này xin hẹn kiếp sau! Vì không chóng thì chầy, em buộc lòng phải phụ tình anh!

Hay chỉ là vì em quá dễ dàng với anh trong buổi ban đầu mà anh đã coi thường em chăng? Em cho anh tất cả cuộc đời trong trắng, ngây thơ này chỉ vì em mến thương anh! Ngay từ giờ phút đầu tiên gặp gỡ. Em không bao giờ tiếc rẻ, hối hận nhưng em cũng mong rằng anh đừng nghĩ đó là một hành động lẳng lơ, hư hỏng mà lầm! Mà phải trả một giá rất đắt, anh ơi! Bởi, có ngày em sẽ bỏ anh cho anh sáng mắt ra! Em sẽ bỏ anh thật đó, anh không tin lời em nói hay sao? Trong tình trạng này, chuyện chúng mình không còn là chuyện đùa giỡn, đuổi bắt nhau nữa, anh có biết không? Giai đoạn thách thức, thử lòng đã qua rồi, giờ chỉ còn là quyết định, là sống chết với nhau thôi!

Khác với anh, Khiêm đến với em bằng một con người mộng tưởng, đang sống trong si mê, đắm đuối. Chỉ vì bóng sắc của em! Tội nghiệp hắn ngu muội không nhận ra thế nào là tình yêu đơn phương, một chiều. Hắn hơn anh rất nhiều ở một điểm: tiền. Lương hằng tháng của anh chỉ khoảng bảy tám ngàn thôi, trong khi đó hắn có gấp đôi, gấp ba lần số tiền đó hằng ngày. Vì hắn có cả một cửa hàng xuất nhập cảng! Chuyện yêu đương mà nói đến tiền bạc nghe sao nó quê mùa, kệch cỡm ghê anh nhỉ? Nhưng, chính vì cái giàu sang quê mùa, cái của cải kệch cỡm ấy mà gia đình đã cố tình áp đặt em! Thời buổi này làm gì có chuyện gia đình đặt đâu thì người con gái phải ngồi đó phải không anh? Tuy nhiên, chắc phải với một điều kiện đánh đổi nào nữa, Tần à! Liệu anh có hết mình sống chết với người tình của anh không? Với Hiền của anh đây không, anh hỡi? Anh phải mạnh dạn đứng lên, đem đôi tay rắn chắc của mình mang em ra khỏi cảnh gia đình ràng buộc dầu sôi lửa bỏng này! Anh ơi, Tần ơi, anh hãy nhớ cho em điều kiện tiên quyết đó, nha anh!

Những bước chân vô định rồi cũng đã đưa Hiền đến Ngã Sáu. Bâng khuâng, lần lữa một hồi nàng rẽ vào đường Lý Thánh Tôn. Nửa muốn lên chợ Ðầm thăm Thúy nửa muốn đi ra biển một mình. Phố xá vẫn đông người, xe cộ vẫn nhộn nhịp, nhưng sao trong lòng nàng bỗng trở nên trống trải quá. Nàng thở dài, lầm lũi men theo vỉa hè như một chiếc bóng không hồn. Những bụi mưa nhỏ li ti đã làm đôi vai nàng ướt lạnh. Như chợt nhớ ra, nàng mở chiếc áo hai da tím vàng, giũ giũ, mặc vào người. Thật vô tình, nàng đã chọn màu của xa cách chia ly! Rồi nàng nhủ thầm, có lẽ vì ngày xưa xa xôi em rất yêu màu tím đó anh! Nhưng cũng lạ, là từ khi yêu em, anh cũng đâm ra rất yêu màu tím …, có phải bởi qua em, anh đã bị cảm hóa, vỗ về? Từ đó, màu tím là màu chung của hai đứa mình! Màu của chia xa, ngăn cách! Ôi, mà dẫu có chia ly tang tóc đi nữa thì cũng vẫn là chuyện chung của hai đứa mình, không riêng gì em mà cả anh nữa trong giây phút cô đơn này, có phải? Tần ơi, anh đang ở đâu, Cầu Ðá hay biển khơi? Anh đang làm gì, thực tập lái tàu quanh vịnh hay hải hành xa tít trời mây? Em nhớ anh, thèm anh, và muốn cắn anh quá chừng! Nhớ hơi thở có mùi thuốc lá Cool phảng phất phả vào tóc em! Thèm vòng tay ấm áp, e ấp bên hông mình! Và cắn môi anh trong từng cái siết nhẹ vào mông vào lưng khi anh ôm em vào lòng và nụ hôn từ giã trong bóng đêm tăm tối! Em lại giận anh nữa rồi, vì có bao giờ anh thèm để ý, lắng nghe, tìm hiểu nỗi nhung nhớ, cô đơn mà em từng gánh chịu…

– Anh không thể sờ mó lên người em, ở những nơi không nên sờ mó, rồi dừng lại đó! Anh phải đi xa hơn, phải lột em ra cho em trần truồng…

Anh còn nhớ anh đã nói với em câu nói lịch sử này không? Tần à, chính vì vậy, anh không thể dựng lên cho em một bức tường rồi để đó, mà anh phải tiếp tục xây đắp cho em một lâu đài tình ái vẹn toàn! Chúng ta phải đi đến tận cùng hạnh phúc, phải không Tần? Nhưng, than ôi, có mơ ước nào mà chẳng mong manh, gió cát! Giờ, bỗng dưng em thấy ngôi lâu đài tình ái ấy như đã vuột mất khỏi tầm tay!

Hiền bỗng nhận ra mình đang lang thang, ngơ ngác trên đường Yersin. Con đường có nhiều tàn cây, bóng mát mà trước đây mỗi cuối tuần, nàng vẫn hay tay trong tay, dung dăng dung dẻ với Tần. Con đường vẫn thường đưa nàng và Tần dong ra bãi biển. Ở đó, có gió lộng trùng khơi, có con sóng dạt dào mơn man bờ cát mịn. Và có dấu chân của hai đứa sóng đôi trong lấp lánh nắng chiều rơi! Ôi, êm đềm biết mấy và nên thơ biết mấy phải không Tần? Biển cả đã là chứng nhân cho cuộc tình chúng ta, nhưng, giờ đây biển cả sẽ buốt giá tâm hồn em nếu em dẫn xác ra đó một mình, anh có hiểu? Cho dù biển mặn thân thương kia vẫn còn biết buồn lây với nỗi niềm vương vấn trong lòng em.

Ðột nhiên, Hiền dừng lại, đưa hai tay ngăn ngực và bâng khuâng tự hỏi: trời đất, chẳng lẽ mình đã lên cơn điên rồi chăng? Tại sao chân cứ bước đi mà tâm trí lại để tận đâu đâu? Không được, nàng phải biết tự kiềm chế và giữ mình! Phải biết rõ con Hiền bằng xương bằng thịt này đang nghĩ gì, làm gì chớ! Một lần nữa, nàng nghĩ rằng có lẽ nàng nên đi thẳng lên chợ Ðầm gặp Thúy cho có bạn. Biết đâu con nhỏ “cà chớn” kia lại chẳng nẩy ra một sáng kiến giúp nàng trong cơn buồn bã, khốn khổ này. Nhưng chẳng biết sao, mới vừa nghĩ tới đó thì lòng nàng đã bảo thôi! Con nhỏ Thúy đó từ dạo có thằng cha bồ dân Võ Bị đã lên mặt và “cà chớn” với nàng dữ lắm! Nàng đã quá rõ! Không thể để nó nhảy vô làm bà chị cả, đặt điều can gián khuyên lơn nàng nữa!

Ðèn nhà ai người nấy sáng, phải, nàng tự quyết với mình như vậy! Ngọn hải đăng tình yêu kia đã do tay nàng và Tần thắp lên, thì bây giờ trách nhiệm phải giữ làm sao cho nó sáng mãi hay tắt ngủm, rụi tàn cũng chỉ do chính nàng và Tần mà thôi! Tại sao em không tìm đến với anh ngay trong lúc này chớ? Ðúng rồi, em phải đến với anh, Tần ơi! Em cần vòng tay bao dung, che chở của anh! Nhưng liệu anh có cứu vớt được gì em trong cơn nguy biến này không đây? Em sợ quá! Em lo quá! Thôi thì, một liều năm bảy cũng liều, trước sau gì em cũng phải bày tỏ với anh một điều, rằng:

– Em không muốn làm một T.T.Kh. thứ hai! Em không muốn rồi đây em cũng sẽ phải thốt lên câu nói… tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời, ái ân nhạt nhẽo của chồng tôi … Vì anh có biết hôm nay là ngày đám hỏi của em, ngày đám hỏi của em với Khiêm mà em không hề thương yêu, quý mến! Anh, anh đã nghe rõ chưa? Anh đã tỉnh mộng chưa? Anh đã tin lời em nói chưa? Rồi, bây giờ, anh phải làm gì cho em đây? Nói cho em nghe đi! Nói đi!

Trong cơn mưa càng lúc càng nặng hạt, Hiền giục giã quay trở lại bến xe Lam dẫn về trường Hải quân, nằm bên góc đường Yersin và Quang Trung. Nàng cảm thấy tay chân mình như đang run rẩy buốt lạnh và con tim mình như đang nức nở sụt sùi! Trời xanh kia có lẽ cũng đã thấu hiểu nỗi lòng nàng mà đã từng cơn, rưng rưng nhỏ lệ? Dầu gì đi nữa thì cứ hễ còn nước thì nàng còn phải tát! Nàng vẫn còn hi vọng, dù mong manh thế mấy đi nữa, một… nhiệm mầu từ trên cao rồi sẽ đến với nàng, với Tần. Và xa hơn, đến với muôn loài, như một mùa xuân ban phát xuống trần gian đang chất chứa đầy bóng tối. Hiền thành tâm nguyện cầu!

Giờ này ở nhà nàng chắc hẳn bà con hai họ cũng đang tề tựu đông đủ, đang rộn rịp chuẩn bị làm lễ bái kiến gia tiên. Nàng mường tượng ra như thế trong khóe mắt lưng tròng…

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều-Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 26 Nov 2025

27. Chiếu chỉ từ Thiên triều phương Bắc

Mùa Giáng sinh nào tôi cũng nghe bài hát Giáng sinh quen thuộc, và câu “bình an dưới thế cho người thiện tâm…“. Tôi nghĩ, chỉ có sống dưới khung trời tự do mới có bình an, bất kể là người có thiện tâm hay không. Riêng ở Việt Nam dưới chế độ “CHXHCN Taliban VC công an trị” thì cho dù có mùa Giáng sinh hay không, không có bất cứ ai có được không khí bình an dưới thế. Thiện tâm chừng nào, có lòng chừng nào, lương thiện chừng nào, yêu nước chừng nào thì càng bị dồn vào tình trạng bất an, nguy hiểm… nếu chế độ thấy cái thiện tâm của họ nghịch với những suy nghĩ của ông nhà nước.

Họ có thể bị công an canh nhà, theo dõi hay vây bắt bất cứ lúc nào. Cụ Tô Hải không thiện tâm ư? Lê Thị Nhân Công không thiện tâm ư? Dân oan nghèo khổ không có mái nhà che thân không thiện tâm ư? Và những sinh viên, thanh niên yêu nước kêu gào Trường Sa! Hoàng Sa của Việt Nam không thiện tâm ư?!

Mùa Giáng sinh năm nay tại Việt Nam, với những cuôc biểu tình chống Tầu xì-dầu xâm lược từ trong ra ngoài nước nhân vụ Hoàng Sa/Trường Sa, đã tạo nên tình trạng nhức đầu cho những tên cầm quyền sinh sát muôn dân từ Bắc Kinh đến Hà Nội, Sài Gòn. Không đàn áp các cuộc biểu tình chống Tầu thì bị Bắc Kinh gõ đầu, mà đàn áp thì làm sao trả lời cho muôn dân và thế hệ trẻ Việt nam về tội cắt đất, dâng biển!?

Chưa chi mà quan thầy Bắc Kinh đã truyền lệnh:

– Mậu hẩu a! Các tồng chí phải dẹp các đám biểu tình của sinh viên ngay!

Từ Hà Nội:

– Quý đồng chí vĩ đại an tâm! Chúng nó ồn ào lẻ tẻ, nếu cần thì đảng sẽ dùng tới quân đội nhân dân anh hùng của đàn em dẹp chúng nó!

– Sau hơn 30 năm không tiếng súng, các tồng chí có bảo đảm là quân đội nhân dân của các tồng chí còn hẩu? Ngộ thấy tình hình ngày càng căng, liệu các tồng chí có dám đem xe tăng dẹp biểu tình như ngộ làm trong vụ Thiên An môn không?

– Đồng chí vĩ đại đừng lo! Mấy chiếc T54 hồi chiếm Sàigòn còn xài được, dư sức ủi bọn sinh viên phản động xuống hồ Hoàn Kiếm, xuống sông Nhà Bè. Chúng tôi đã tóm cổ tên phản động Lê Thanh Tùng ở Hà Nội, và nghiêm khắc bảo tên phản động Lê Thanh Tùng rằng chuyện Hoàng Sa, Trường Sa là chuyện do nhà nước lo, biểu tình chống Trung quốc là phản động, là làm xấu nước CHXHCNVN vĩ đại. Đồng chí vĩ đại khỏi lo, chúng tôi đã có tuyệt chiêu mới để kềm chân tụi sinh viên! Ở Luân Đôn đàn em cũng ra lệnh y chang như vậy!

– Thật vậy sao? Tồng chí nói thử xem, nếu hẩu, ngộ đem mấy thứ đó về Bắc Kinh dự phòng cho ngày khai mạc Thế Vận Bắc Kinh phòng hờ tụi phản động lộng hành!

– Bá cáo đồng chí vĩ đại, đảng CSVN quang vinh của chúng em sẽ bắt toàn thể sinh viên thi cuối chương trình vào cả hai ngày thứ Bẩy, Chúa Nhật, bắt chúng nó thi như vậy suốt năm thì bố chúng nó cũng không dám bỏ học đi biểu tình chống các đồng chí!

– Hẩu a! Hẩu a! Nhưng chưa tuyệt hẩu!

– Vậy phải làm gì nữa đồng chí vĩ đại?

– Cho chúng cắm đầu thi hộc máu ngày thứ Bẩy, Chúa Nhật chưa đủ, phải cho công an nhân dân chui vào các trường đại học bám sát, ghi tên tụi sinh viên biểu tình chông ngộ, hăm dọa, xuyên tạc, chia rẽ và cắt chúng ra từng nhóm để theo dõi… và đuổi chúng nó, cho chúng ra khỏi trường đi bán cà-rem nếu cứ biểu tình chống ngộ!

– Đồng chí vĩ đại thật sáng suốt! Hèn gì thuở Hồ chủ tịch còn sống đã chẳng bảo “tớ làm gì có tư tưởng, tất cả chỉ nhờ tư tưởng bác Mao, bác Shịt… và cứ thế mà theo!”. Ngày nay đồng chí vĩ đại cũng vĩ đại không thua Mao chủ tịch vô vàn kính yêu …

Sau khi bị thiên triều Bắc phương dũa và dạy dỗ, người ta thấy công an nhân dân của chế độ Hà Nội thực hiện y chang lời ông thầy Xì Dầu phương Bắc! Bố khỉ, trong đầu các cán bộ lãnh đạo nước ta toàn là xì-dầu, nước tương “ma-de” China!

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 25 Nov 2025

Chương 11.

Ăn năn và sám hối

Ngày nay, với tuổi gần xuống lỗ, đã 92 rồi, buổi theo ông theo bà đã hầu kề, mai chết hay nay chết đều được và như vậy mà xong hơn sống như nay, thân yếu đuối, cẳng chưn không chở nổi thân xác, đi thì muốn té, đứng thì không

vững, may thời còn cặp mắt dòm ngó và thấy người đẹp, nhưng thấy rồi thôi, chớ đâu còn sức bày binh xáp trận – tôi nói ba hoa chích chòe làm vầy để che giấu mình bất luận, nay vào đề xin thú thật, lúc còn xuân xanh thuở trước đây, tôi có tánh ngạo và khinh người, tôi ghét nhứt là “lính mã tà”, ngày nay, tuổi chết hầu kề, tôi ăn năn thì đã muộn. Xét lại “mã tà” hay “ma tà”, chỉ là danh từ buổi xưa để gọi theo tiếng Mã lai “ma ta ma ta” của họ là lính và bắt qua của mình, “mã tà” “ma tà” tức là lính, mà trong Nam nầy gọi theo Tây là “agent de la Garde Civile Locale” để đối chiếu với tiếng Pháp “tirailleur” ta gọi “lính tập” tức lính tùng ngũ theo chế độ Pháp, ở Huế là “garde  indigène”, ở ngoài kia, cũng đồng gọi một thế ấy và nay tôi hiểu rộng và phòng khinh nữa, thì chữ “indigène” cũng không có chi là nhục, đến có lúc bỏ quách không dùng nữa và nay ngày tàn bóng xế, tôi hiểu rộng rãi, thì “indigène” chỉ là “người bản xứ” và theo tôi, nói tiếng Tây chút chơi và tỉ dụ: “le Parisien est un indigène de Paris” nào có nhục gì đâu?

Tôi nay còn phân vân chưa hiểu, tại sao chức caporal, ta dịch “anh bếp, anh cai”, còn sergent, ta dịch thầy đội? Và theo tôi hiểu như nay, thì chức “bếp” phải hiểu “người coi về bếp” và đời xưa, một bếp là thủ một tốp 5 lính, có lẽ một cai thì thủ số lính trọng hơn, và tôi tạm hiểu tỉ như “một đội” gồm 10 cai hay 10 bếp, nên dịch theo tôi đội là “captaine” hoặc một lieutenant … còn chức quản là chức trị được 10 đội (commandant) và “vệ” là “général”, tôi từng nghe một tiền bối dạy tôi: “chánh vệ” là từ riêng để gọi Lê Văn Duyệt khi chưa là tổng trấn, tả quân và “phó vệ” là từ riêng của Lê Văn Khôi xưng trong tuồng San Hậu và nay tôi tiếp theo kể cho đủ chuyện, tỷ như Dương Quí Phi của vua Đường Huyền Tông, trước là dâu, sau là phi tử, lấy con rồi ngủ với cha chồng, Huyền Tông chiều chuộng nhưng tuổi già cung cấp không phỉ gái đương độ xuân thời, quá hăng lửa tình, tắm nước cho An Lộc Sơn là một phiên nô có dòng máu Thổ Nhĩ (Turc) để nơi trận Mã Sơn, quí phi bị binh Đường sát hại đền tội dâm lộng, tuy vậy theo tôi, Đông vẫn có hạnh và giữ hạnh chính chắn, không như bà George Sand, lăng loàn không biết mấy đời chồng, ham trai tơ, George Sand, từ nhà tu ra, lấy chồng là một võ phu, chỉ ham đi săn thú hơn là vui đêm với vợ đẹp, đã thất bại về hôn lễ chánh thức lại vấp đường tình với kế tiếp tám chín năm với thi sĩ Musset, chín mười năm với nhạc sĩ đa tài nhưng thiếu lực khỏe Chopin, đến khi tuổi xuân đã qua và tới chiều đông tàn George Sand, ăn mặc theo trai, bỏ xiêm y nhảy qua làm và binh vực cách mạng, gái Tây phương  dường ấy và kể lại trai phương Tây; đại kỳ tài như Victor Hugo, để vợ chung chạ với Sainte Beuve, v.v .. và mặc cho bà ăn nem, Hugo vẫn ăn chả, con đòi Blanche, nàng ái thiếp Juliette Drouhet và xiết bao mèo vụn khác, lạ nhứt là Hugo nhắm mắt để vợ kéo cột Adèle tò tí với bạn là Sainte Beuve, Hugo rõ tận mà làm thinh, để cho Juliette tận tụy và tận tình sao chép bản thảo những kiệt tác “Les Misésables” v.v .. , Adèle khi từ trần, Hugo khắc bia trên mộ vỏn vẹn hai hàng:

Adèle

Vợ của Victor Hugo

Đã không giận Adèle ngoại tình trước với Sainte-Beuve, sau với Théophile Gautier và trong lúc ấy chàng ta, Hugo kỳ tài nhưng quá dâm, làm sao kể xiết sự lần nhằn đến ba lăng nhăng … và tôi chỉ nhớ trong quyền “Các cuộc đời ngoại hạng” của Lộc Đình có câu nơi trang 27, nguyên văn: “ …Hugo chịu khó đi thăm tất cả các cổ tích của Paris, đặc biệt là giáo đường Notre Dame de Paris mà ông biết rõ từ từng phiến đá, từng tấm kính, từng bực thang, cho nên viết phần lịch sử trong truyện rất đúng, từ cảnh tới nhân vật, và ngôn ngữ, không khí. Bình dân Pháp sở dĩ biết Paris thời cổ, yêu nó, phần lớn là nhờ đọc Notre Dame de Paris, cũng như chúng ta biết được chút ít về Thăng Long thời vua Lê chúa Trịnh là nhờ học “Ngược đường trường thi”, “Bốn con yêu và ba ông đồ” của Nguyễn Triệu Luật – dĩ nhiên tài năng và công phu của Nguyễn không thể so sánh với Hugo được”.

Viết thêm trang nầy và bàn rộng chút chơi, mình nói cho trong nhà đủ nghe, có sợ gì dư luận. Có câu, nhớ mại: “đức thắng tài, giả vi quân tử” và đổi lại “Tài thắng đức, giả vi quân tử” như thường, chưa ắt là tiểu nhơn.

Alexandre Dumas cha, để lại tiểu thuyết “Les Trois Mousquetaires” soạn hình như vào năm 1844, mà nay còn người đọc và say mê dịch ra khắp nước. Người con là Alexandre fils, để lại tập lãng mạn “La Dame aux camélias” (Nguyễn Văn Vĩnh dịch là “Trà hoa nữ” đã làm cho phụ nữ khóc hết nước mắt).

Ngày nay chúng ta học và đọc các tập ấy, ít phê bình về hạnh kiểm hai vị nầy và các George Sand, Victor Hugo, luôn lão thầy tu hoàn tục Talleyrand, phản vua, phế vua, nhưng có công với nước Pháp, chúng ta bo bo chỉ lo phê bình, chỉ trích những Phan Thanh Giản, Tôn Thọ Tường, Phan Văn Trị, những Trần Bá Lộc, Huỳnh Tấn trong Nam, Hoàng Cao Khải ngoài Bắc, Nguyễn Thân nơi Miền Trung, xét ra những nhân vật ấy giàu sang một thời rồi con cháu lụn bại hoặc đã thay danh đổi tánh, tức những dòng họ ấy chưa hưởng được hai ba đời người, tuy vậy, ăn mắm thấm về lâu, nước Liên Xô thinh khổng bật thay chiều, sự trạng Phan Thanh Giản đã có người Nga khen “khéo về chính trị”, Trương Vĩnh Ký nay có người quan trọng trong đảng, viết sách kể công, tôi cho sau nầy, tôi vẫn không còn ở đây để đọc bài sẽ có người viết lại về Tôn Thọ Tường, nay chỉ còn danh ở Chợ Lớn, quán bán vịt quay ngon, còn ông Phan Văn Trị không mắc mớ gì đến tôi, nhưng tôi tự nghĩ nếu Trị “dùng được” thì quan Phan, ông Trương Định, đã dùng rồi và nếu Tôn Thọ Tường có nhơ, tại sao tôi không thấy Đồ Chiểu chê bai, và đặc biệt bởi Tường, không nhơ, nên quan Phan vẫn hòa thi trên đường sang Pháp địa. Tôi không dám viết dài, chỉ dặn cháu con: “Đừng sanh ra làm người, rủi sanh lỡ, thì cứ cơm tẻ ngày hai, lựa nghề thủ công kiếm cơm độ nhựt, nhứt là đừng theo gương tôi. Văn Tây có tiền nên mua mà đọc, văn của ở đây, nội Truyện Kiều, nội Lục Vân Tiên, vẫn chưa có bản nào tôi vừa ý, đừng nói không sai, riêng Đồ Chiểu, nào để bản thảo vì mắt đui v.v ..

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 25 Nov 2025

Bài 44

Gia đình Ấn Độ của tôi

Phương tiện đi lại được dùng nhiều nhất trong thành phố này là xe đạp. Tôi cũng mua một chiếc để đi đây đi đó cho thuận tiện. Vì thành phố và vùng lân cận ở nơi đất bằng phẳng, nên có thể đi những đoạn đường dài mà không cần mất nhiều sức. Xe đạp có hai cái đèo hàng rất khỏe, một ở đằng trước, một ở đằng sau. Cho nên, cũng như nhiều người địa phương, tôi có thể chở hai người một cách dễ dàng.
Ít nhất hai lần một tuần, chúng tôi thường dạo chơi một hai tiếng đồng hồ với các cô bạn Ấn Độ. Các cô sướng mê tơi và tôi bắt đầu nhận thấy một trong hai cô, cô trẻ, đang yêu tôi.
Tôi chưa gặp ông bố cô bao giờ, hôm qua ông đã sang tôi. Ông ở không xa nhà tôi mấy, nhưng ông không bao giờ đến thăm chúng tôi, và tôi chỉ biết các anh em trai của cô. Ông ta là một cụ già cao lớn có bộ râu rất dài, trắng như cước. Tóc ông cụ cũng bạc trắng để lộ một vầng trán thông minh và cao quý. Ông chỉ nói tiếng ấn, con gái ông dịch lại. Ông mời tôi đến nhà ông, ông bảo con gái ông, mà tôi gọi là nàng công chúa nhỏ, nói với tôi rằng đi xe đạp không xa lắm. Tôi hứa sẽ đến thăm ông một ngày gần đây.
Sau khi ăn vài chiếc bánh ga tô và uống trà, ông ra về, nhưng tôi đã kịp nhận xét là ông để ý đến từng chi tiết nhỏ trong nhà. Nàng công chúa nhỏ sung sướng thấy ông bố hài lòng về cuộc viếng thăm nàng và về chúng tôi.-
Tôi ba mươi sáu tuổi, và sức khỏe tôi rất tốt, tôi cảm thấy mình còn trẻ, và cũng được cái may là tất cả mọi người đều coi tôi là còn trẻ, tất cả các bạn tôi đều nói là trông tôi chưa tới ba mươi.
Thế mà cô này mới mười chín, cô lại có cái vẻ đẹp thanh thản của nòi giống cô cùng cách suy nghĩ cực đoan tin vào số mệnh. Đối với tôi, được cô gái lộng lẫy này yêu là món quà quý báu của trời cho.
Khi chúng tôi đi chơi cả ba, bao giờ cô cũng leo lên giá đèo hàng phía trước, cô biết rất rõ là cô cứ ngồi rất thẳng người trên xe, tôi cố dấn lên bàn đạp, hơi cúi đầu về trước là mặt tôi kề sát mặt cô. Nếu cô ngã đầu về phía sau, tôi sẽ được hưởng trọn vẹn quang cảnh đôi vú xinh đẹp để trần dưới tấm voan mỏng mà nếu vén lên chắc còn đẹp gấp bội. Đôi mắt đen của cô rực cháy mỗi lần xảy ra những sự va chạm nhỏ này và đôi môi đỏ thăm trên nền da màu lá trà, hé mở vẻ thèm khát muốn được hôn. Hàm răng trắng bóng rất đẹp tô điểm thêm cho cái miệng tuyệt vời..
Tối nay, chỉ có hai đứa chúng tôi đi xem chiếu bóng, hình như cô chị nhức đầu, một cơn nhức đầu mà tôi cho là giả tạo, cốt để hai đứa tôi được đi riêng với nhau. Cô ta mặc áo ngoài bằng mousseline trắng, dài đến tận gót chân trần, mỗi khi bước lại để lộ ba chiếc vòng bạc. Cô đi dép có quai vàng lồng vào ngón chân cái làm chân cô duyên dáng thêm. ở lỗ mũi phải, cô gắn một hạt kim cương màu vàng rất nhỏ. Tấm voan mousseline che đầu ngắn và nhẹ nhàng rủ xuống quá bờ vai một chút, một dải ru băng vàng giữ tấm voan đính trên đầu. Từ giữa trán, trên dải băng đó, rủ xuống ba sợi chỉ gắn những viên đá đủ màu. Kiểu trang điểm làm nổi bật cái chấm xanh thẫm trên trán những khi cô lúc lắc cái đầu. Cả gia đình ấn lẫn gia đình tôi, trong đó có cả Quých và anh cụt, đều mặt mày tươi tỉnh nhìn hai chúng tôi đi ra, sung sướng thấy gương mặt chúng tôi tràn trề hạnh phúc. Hình như ai nấy đều biết chắc chúng tôi xem chiếu bóng về là đã đính hôn với nhau rồi. Nàng ngồi yên vị trên nệm ghế đèo hàng rồi, tôi mới cho xe lăn bánh về phía trung tâm thành phố.
Trong khi tôi thả chiếc xe chạy một quãng dài, trên con đường rộng dưới ánh đèn lờ mờ, cô gái đẹp lộng lẫy này đã đặt lên môi tôi một cái hôn nhẹ nhàng. Cử chỉ chủ động này bất ngờ đến nỗi tôi suýt ngã xe.
Ngồi tít phía sau trong phòng chiếu bóng, tay nắm tay, tôi nói với nàng bằng mấy ngón tay và nàng cũng đáp lời tôi bằng ngôn ngữ của ngón tay. Cuộc tâm tình đầu tiên của chúng tôi trong khi xem phim – mà chúng tôi cũng chẳng biết là phim gì nữa – là một cuộc nói chuyện thầm lặng. Mấy ngón tay móng dài được chải chuốt và tô son hát lên một khúc tình ca say đấm, nói cho tôi rò mối tình đằm thắm của nàng còn minh xác hơn cả ngôn ngữ. Nàng ngả đầu vào vai tôi để tôi có thể hôn khuôn mặt thanh khiết của nàng.
Mối tình e ấp, qua nhiều thời gian mới nảy nở, nhanh chóng biến thành một niềm say đắm trọn vẹn. Trước khi nàng thuộc về tôi, tôi đã nói cho nàng biết là tôi không thể cưới nàng được, vì tôi đã có vợ ở Pháp. Điều đó cũng chẳng làm nàng phiền lòng mấy. Một đêm, nàng đã ở lại với tôi. Nàng nói với tôi rằng nàng muốn tôi về sống với nàng tại nhà bố nàng, như vậy tiện cho các anh em trai của nàng, và cho vài gia đình nhà người ấn láng giềng. Tôi nhận lời và dọn về nhà bố nàng. Ông cụ vẫn sống một mình, có một cô cháu họ xa hầu hạ ông và dọn dẹp nhà cửa. Nơi này cách nhà Quých không xa bao nhiêu, chỉ chừng năm trăm mét. Cho nên hai bạn tôi tối nào cũng sang chơi với chúng tôi hơn một giờ. Họ cũng thường sang chơi với chúng tôi.
Chúng tôi vẫn tiếp tục buôn bán rau cỏ ở bến tàu. Tôi ra đi từ sáu giờ rưỡi và gần như lúc nào nàng cũng đeo theo tôi. Một bình thủy lớn đựng trà, một bình mứt và một ổ bánh mì nướng, tất cả ở trong một túi xách to đã đợi sẵn Quých và anh cụt để chúng tôi cùng uống trà với nhau. Nàng tự tay làm các thức ăn sáng và tuân thủ tuyệt đối nghi thức: bốn người phải cùng ăn bữa đầu tiên trong ngày. Trong túi xách của nàng, có đủ mọi thứ cần thiết: một tấm chiếu nhỏ viền đăng ten, mà nàng trịnh trọng đặt xuống vỉa hè sau khi đã dùng chổi quét sạch chỗ đó, bốn bộ tách nhỏ có cả đĩa. Ngồi ở lề đường, chúng tôi ăn điểm tâm, rất nghiêm túc. Ngồi lề đường mà uống trà như ở nhà kể cũng buồn cười, nhưng cả nàng và Quých đều coi thế là tự nhiên. Họ chẳng cần để ý đến những người đi qua và thấy làm như vậy là bình thường. Tôi không muốn cản nàng. Nàng thích hầu hạ chúng tôi luôn tay phết mứt lên bánh tôi mà không ưng là nàng rất buồn.
Thứ bảy vừa qua, có một việc xảy ra đã cho tôi biết được một điều bí mật. Chúng tôi ăn ở với nhau đã được hai tháng, và nàng thỉnh thoảng lại cho tôi một ít vàng. Cũng chỉ là những mảnh tư trang gãy, vỡ, một nửa cái nhẫn vàng, một chiếc bông tai, một đoạn dây chuyền, một phần tư hay một nửa chiếc huân chương hoặc một đồng tiền. Tuy nàng bảo tôi cứ bán đi, nhưng tôi không cần đến, cứ cho tất cả vào một cái hộp. Tôi có gần bốn trăm gam vàng. Khi tôi hỏi nàng vàng ở đâu ra, thì nàng kéo tay tôi, hôn tôi rồi cười nhưng không chịu nói gì.
Hôm thứ bảy ấy, vào lúc mười giờ sáng, nàng bảo tôi lấy xe chở bố đi, tôi cũng không biết đi đâu. Nàng nói:
– Ba em sẽ chỉ đường cho anh. Em phải ở nhà để ủi đồ.
Tôi tò mò nghĩ là ông già chắc đi thăm ai ở xa, và vui vẻ nhận lời.
Ông lão ngồi lên giá đèo hàng phía trước và không nói gì, vì ông ta chỉ nói được tiếng Ấn. Tôi đi theo hướng ông ta chỉ. Đường xa, tôi đạp đã gần một giờ. Chúng tôi đến một khu phố giàu có bên bờ biển. Nhà toàn là biệt thự đẹp. Ông “bố vợ” vừa ra hiệu, tôi dừng lại ngay và tôi để ý quan sát. Ông lão lấy trong túi áo ngoài ra một viên đá tròn và trắng rồi quỳ trên bậc thềm thứ nhất của nhà đầu tiên. Ông lão vừa lăn hòn đá trên bậc thềm vừa hát. Vài phút trôi qua. Một phụ nữ mặc quần áo ấn từ trong biệt thự đi ra, lại gần ông già và lẳng lặng đưa cho ông một vật gì đấy. Ông cứ đi từ nhà nọ sang nhà kia, diễn lại cảnh ấy cho đến mười sáu giờ. Cứ thế kéo dài mà tôi vẫn không hiểu gì. Đến biệt thự cuối cùng một người đàn ông vận toàn đồ trắng ra gặp ông. Người này bảo ông đứng dậy, quàng lấy tay ông rồi dẫn ông vào nhà. Ông cụ ở đó hơn mười lăm phút rồi mới ra, vẫn có ông kia đi kèm. Trước khi chia tay nhau, ông này còn hôn trán ông già, đúng hơn là hôn mái tóc bạc của ông.
Chúng tôi đi về, tôi cố sức đạp để về cho mau vì đã hơn bốn rưỡi chiều.
Cũng may, chúng tôi về đến nhà trước khi trời tối. Indara cô gái ấn xinh đẹp của tôi, dẫn bố vào trước rồi nhảy lên ôm cổ tôi hôn hít và kéo tôi vào với gương sen để tôi tắm. Quần áo sạch sẽ chờ sẵn, sau khi tắm rửa, cạo mặt, thay quần áo, tôi mới ngồi vào bàn ăn. Nàng tự tay dọn cho tôi ăn như thường lệ. Tôi muốn hỏi nàng nhưng nàng cứ xăng xở đi lại làm ra vẻ bận rộn để lẩn tránh, kéo dài thật lâu lúc phải trả lời các câu hỏi của tôi. Tôi nóng lòng muốn biết sự việc. Nhưng tôi cũng biết là không bao giờ nên ép người Ấn hay người Tàu nói. Cần phải tôn trọng một thời gian nhất định. Lúc đó tự họ sẽ nói vì họ đoán biết rằng anh đang chờ nghe một điều tâm sự của họ: nếu anh xứng đáng, thì họ sẽ nói. Đối với Indara cũng đúng như vậy. Sau khi cùng ngủ chung với nhau, nàng mới áp cái má còn nóng hổi vào hõm vai tôi và nói mà không nhìn tôi:
– Mình đi, mình có biết rằng khi ba di kiếm vàng, ba không làm gì xấu không, trái lại kia đấy. Ba gọi các thần linh đến phù hộ căn nhà mà ba đã lăn hòn đá. Đó là một phong tục rất cổ xưa của nước Nam Dương chúng em.
Nàng công chúa của tôi kể cho tôi nghe như vậy. Nhưng một hôm một cô bạn của nàng nói chuyện với tôi ở chợ. Buổi sớm ấy, cả nàng lẫn các chú Tàu chưa ai tới. Và câu chuyện cô gái xinh đẹp Nam Dương nói cho tôi nghe lại khác:
– Sao anh lại phải đi làm, một khi anh đã sống với con gái ông phù thủy? Chị ấy bắt anh dậy sớm, cả khi trời mưa, mà không thấy xấu hổ à? Với số vàng mà ba chị ấy kiếm ra, anh chẳng cần làm gì cũng sống được. Chị ấy không yêu anh, đáng lẽ chị không nên để anh dậy sớm như thế mới phải.
– Thế bố cô ấy làm gì? Cô nói cho tôi biết đi, vì tôi chẳng hiểu gì cả.
– Ông bố chị ấy là phù thủy Nam Dương. Ông có thể gọi thần làm cho anh hay gia đình anh chết nếu ông muốn. Chỉ một cách thoát khỏi bùa phép mà ông yểm cho anh bằng hòn đá ma là đưa cho ông kha khá vàng, ông sẽ lăn hòn đá ngược với chiều ông đã lăn để gọi thần chết đến. Bấy giờ, ông sẽ gỡ hết các bùa yểm ngược lại còn làm anh và những người trong nhà được khỏe mạnh, sống lâu.
– Indara để cho tôi không phải như vậy.
Tôi tự nhủ sẽ đối chiếu xem trong hai người, người nào nói đúng. Vài ngày sau, tôi đứng cùng với ông “bố vợ” có bộ râu bạc dài bên bờ một con suối chảy ngang qua đường Penitence Rivers rồi đổ vào sông Demerara. Nét mặt các ngư dân Ấn làm tôi hiểu rõ hết. Mỗi người biếu ông một con cá rồi vội vã tránh cho xa bờ. Tôi đã hiểu. Chẳng cần phải hỏi ai nữa.
Ông bố vợ phù thủy chẳng dính dáng gì đến tôi. Ông chỉ nói tiếng Ấn Độ với tôi và cho tôi hiểu. Tôi không bao giờ biết ông định nói gì. Thế cũng có mặt hay. Cứ coi như là đã đồng ý với nhau. Dù sao ông cũng kiếm được một việc cho tôi làm, tôi xăm trán tất cả các cô bé gái từ mười ba đến mười lăm tuổi. Thỉnh thoảng, ông lại vạch ngực các cô bé gái đó ra cho tôi xăm lá hay hoa màu lá xanh ve, hồng, lơ để đầu nhũ hoa nhô lên như nhụy một bông hoa. Vì xăm rất đau, cho nên chỉ có những cô gái can đảm mới bảo tôi xăm đầu nhũ hoa bằng màu hoàng yến. Có một vài cô (số này ít lắm) lại xăm đầu vú màu vàng.
Trước cửa nhà, ông già treo một tấm biển quảng cáo bằng chữ Ấn, viết những gì đại loại là: “Nghệ sĩ – xăm người – giá phải chăng – công việc bảo đảm”. Làm việc này được trả hậu và tôi hai có hai cái khoái: ngắm bộ ngực đẹp của gái Nam Dương và kiếm ra tiền. Quých biết ở gần bến tàu có một quán ăn đang muốn bán anh hãnh diện báo tin đó cho tôi và đề nghị chúng tôi cùng mua. Giá phải chăng, có tám trăm đô-la. Bán vàng của ông phù thủy cộng với tiền tiết kiệm được của chúng tôi, đủ mua được cái quán ăn đó. Tôi đã đến xem. Nó ở một con đường nhỏ nhưng rất gần bến lúc nào cũng lúc nhúc những người là người. Một gian phòng vuông vức khá to, lát gạch đen trắng, mỗi bên để được tám bàn, ở giữa có thể kê một cái bàn tròn to bày những món ăn khai vị và trái cây. Căn bếp rộng rãi khang trang. Có hai lò đun và hai lò nấu rất to.