This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Tác giả 61 tuổi, cựu sĩ quan, cựu tù nhân cải tạo, sang Mỹ năm 1992, diện HO. Hiện cư ngụ tại Santa Ana, nghề nghiệp: lao động hãng điện tử tại Costa Mesa, CA.
Sau 30-4-1975, như tất cả các Sĩ Quan QLVNCH còn ở lại miền Nam, bản thân tôi đã phải chịu hơn 6 năm tù cải tạo. Trước khi có dịp định cư tại Hoa Kỳ, tôi đã nghe nhiều chuyện “dở khóc, dở cười” tại cái quê hương hợp chủng này, nên tôi luôn cẩn thận, chuẩn bị tinh thần để sẵn sàng đối diện với thực tế.
Đặt chân đến Mỹ vừa tròn 3 tháng, thì gia đình tôi đã phải ứng phó với sự “kỳ thị” của “cô con dâu”!
Từ quê hương đau khổ, nghèo nàn, được sang một đất nước giàu mạnh, văn minh tột đỉnh, dân chủ thật sự, tự do nhất thế giới… thật là một phúc đức lớn lao! Nhưng niềm vui chưa trọn, thì chuyện buồn lại đến liên miên…
Vì con trai tôi sponsor, nên bước đầu gia đình tôi phải về ở chung tại San José. Tôi cũng đã sòng phẳng “trả tiền phòng” hàng tháng coi như “share phòng” hầu tránh phiền muộn về sau. Thế nhưng càng ngày tôi thấy “cô con dâu” càng tỏ ra “kỳ thị” với 3 đứa em chồng và thường sửa sai, gây gổ luôn cả chồng. Bà vợ tôi phải lo đi chợ nấu ăn cho cả nhà nên bận rộn suốt ngày! Thế mà chẳng được ơn mà còn bị oán.
Bạn hữu của cô con dâu thấy chuyện bất bình, đã lén gọi điện thoại lại báo cho chúng tôi. Cô ta nói với bạn, “Phải gắt gao với họ (chúng tôi) để chồng không dám giúp đỡ họ… và đoan chắc rằng họ chẳng bao giờ dám xa rời hoặc bỏ đi, vì lý do duy nhất là họ mới qua Mỹ, chưa có xe. Không tiền thì phải chấp nhận đau thương thôi!”
Chịu đựng đau khổ được 3 tháng, vợ chồng tôi bàn nhau tìm đường “di tản”!
May mắn làm sao, chỉ vài hôm sau, một người bạn thân từ Dallas gọi sang và rủ chúng tôi qua. Thế là chúng tôi quyết định “move” sang Garlant (Dallas) thuộc tiểu bang Texas.
Chúng tôi ra đi vì hạnh phúc của con trai tôi, tôi không muốn cái hạnh phúc của con bị sứt mẻ vì sự hiện diện của chúng tôi, và cũng để cho chúng tôi được an thân.
Thượng đế cũng thương nên qua Garland tôi tìm được việc làm tại hãng Mervyn. Làm “Machine Operator” được 3 tháng, thì nhận được “giấy” đi khám sức khỏe để vào permanent, nhưng vì vết thương chiến tranh còn để lại “nơi cột sống” nên tôi phải nghỉ việc.
Một lần nữa, gia đình tôi phải “move” đi tìm việc làm. Cuộc phiêu lưu vì “đô la” bắt đầu.
Chúng tôi di chuyển xuống Houston, một thành phố khá lớn, nằm phía Nam của Texas. Tại thành phố nghèo việc làm này, tôi cũng may mắn tìm được một job: lái xe đưa rước những gia đình H.O mới sang Mỹ đi học Anh ngữ ESL. Nhờ vậy, tôi đã được tiếp xúc với rất nhiều bạn bè thuộc mọi giới trong xã hội để được tìm hiểu, học hỏi thêm kinh nghiệm.
Mỗi người một số phận, mỗi gia đình một hoàn cảnh, tuy nhiên đa số đều giống na ná nhau: khó khăn về ngôn ngữ phong tục tập quán, trong gia đình thì vấn đề con cái đã trở nên nghịch lý.
Tôi chỉ biết lấy kinh nghiệm của người đến Mỹ trước, an ủi tất cả anh em để họ có đủ niềm tin và an tâm, hầu vượt qua được bước “khởi đầu nan”! Và tôi đã đi thấy nghe, hoặc chứng kiến, nhiều chuyện “cười ra nước mắt”!
Tháng 5/95 tôi có dịp giúp đưa một người bạn là chị H. đến “viện dưỡng lão” để thăm “bà cô chồng”.
Bà cô trong “Viện Dưỡng Lão” là một bà cụ đã 89 tuổi nhưng vẫn còn nét đẹp lão quí phái. Tóc trắng cả mái đầu, mắt vẫn còn long lanh, trong sáng. Bà đọc báo không cần mang kính lão. Bà chỉ có một khuyết tật nhỏ là hơi lãng tai. Khi tiếp xúc với Bà chỉ viết trên giấy để bà đọc, và bà trả lời rất rõ ràng.
Lần đầu đi với chị H, và sau khi chị H trở về Cali, chúng tôi vẫn đến thăm bà ta những khi rảnh rỗi và rồi được bà kể là bà lập gia đình năm 19 tuổi, đến năm 24 tuổi thì ông nhà mất, để lại 3 đứa con, mà đứa con gái út chỉ mới lên 2 tuổi!
Góa chồng ở lứa tuổi 24, tuy vẫn còn trong độ thanh xuân, nét mỹ miều còn làm bao thanh niên trong Quận theo đuổi, nhưng vì thương con, thương chồng, bà quyết ở vậy nuôi ba đứa con đến ngày khôn lớn.
Bà tần tảo mua bán, lập nghiệp từ một ít vốn của ông chồng để lại. Sau đó bà làm chủ 2 tiệm vàng tại quận TB thuộc tỉnh Tây Ninh.
Ngày 30/4/75 miền Nam thất thủ. Thời thế đổi thay. Bà cùng 2 con gái di tản sang Hoa Kỳ. Dù tuổi đời bà đã 69 tuổi. Quyết định bỏ cả ruộng vườn nhà cửa và chỉ mang theo 3 bao cát vàng.
Đến cuối năm 1975, bà ta và 2 con được phép định cư tại Texas.
Qua năm 76, dù mới định cư chưa được 1 năm nhưng với số vàng sẵn có trong tay, bà quyết định mua một ngôi nhà để cho con gái út (còn gọi là Út Thơm) và chồng cùng các cháu an cư rồi sẽ lập nghiệp, và các cháu được an tâm học hành.
Sau 9 năm, hai cháu ngoại đã tốt nghiệp Đại Học. Một là Bác Sĩ, một là Dược Sĩ…
Khi thấy cháu ngoại dự trù mở phòng mạch mà không có tiền, bà đã không do dự, mà còn khuyến khích, hỗ trợ bằng cách trao lại cho Út Thơm tất cả tài sản còn lại của Bà để Út Thơm lo cho cậu con bác sĩ có được phòng mạch…
Theo bà nghĩ sở dĩ trước đây bà giữ số vàng mang theo là vì sợ con, cháu ỷ lại, tiêu pha hết. Không còn để phòng thân khi hữu sự. Nay, các cháu đã thành tài. Bà không cần lo nữa và an tâm sang luôn tên nhà, giao hết của cải cho Út Thơm.
Một tuần lễ sau đó, Út Thơm cùng chồng và 2 con tổ chức đãi mừng Ngoại 79 tuổi và Út Thơm cùng chồng ngỏ ý đưa Bà đi nghỉ mát vùng xa… đổi gió. Bà ngập ngừng suy nghĩ nhưng vì 2 cháu năn nỉ thêm, nên miễn cưỡng bằng lòng cho gia đình được vui!
Sáng thứ bảy, cả nhà dậy sớm lo cho Bà ăn sáng, quần áo và vật dụng thường dùng. Hai cháu ngoại dìu Bà ra xe để lên đường. Ngồi trên xe khoảng 30 phút, xe dừng trước một tòa nhà lớn lao, sang trọng.
Tại đây, Bà được Bác Sĩ Mỹ khám bệnh trước khi đi chơi xa. Khám xong, Út Thơm vui vẻ bảo với Bà bác sĩ nói sức khỏe Mẹ rất tốt, ngoại trừ chỉ bị hơi lãng tai thôi! Sau đó Út Thơm dìu Bà lên phòng khách ngồi, mang cho Bà lon trà ướp lạnh, rồi bảo: “Mẹ uống nước chờ con vào trong thanh toán tiền cho Bác Sĩ, xong con trở ra chở Mẹ đi.”
Ngồi chờ suốt mấy tiếng đồng hồ, Bà sốt ruột nên đi tìm. Chẳng thấy cô Út ở đâu! Bà bắt đầu lo sợ…thì xuất hiện cô y tá người Mỹ đến nói gì Bà chẵng hiểu và dẫn Bà vào phòng ăn. Đến nơi nhưng Bà không ăn, nhìn quanh toàn là những bà Mỹ già, chẳng có người VN và cũng chẳng có ai quen.
Bà gọi tên Út Thơm… nhưng vô vọng! Bà chạy ra ngoài nhưng nhân viên trực không cho Bà đi. Bà la, khóc và nói thật nhiều nhưng chẳng ai hiểu Bà, vì Bà chưa hề biết tiếng Mỹ.
Bắt đầu từ đây, Bà phải sống với bao nhiêu cực hình mà đám y tá Mỹ trắng, Mỹ đen rất bạc đãi, đôi khi còn xô đẩy Bà nữa!
Khi tôi đến thăm thì Bà đã ở đây được 9 năm, tuổi đã 88 tuổi. Suốt 9 năm dài, Út Thơm, con gái Bà không bao giờ trở lại thăm mẹ. Con cháu Bà, tuy phòng mạch ở downtown cách nơi đây chỉ 20 phút lái xe, cũng chẳng hề thăm viếng!
Gặp chúng tôi Bà vẫn còn sáng suốt. Bà yêu cầu chúng tôi giúp cứu Bà ra khỏi trại Dưỡng Lão này, liên lạc giùm với em trai của Bà, hy vọng sẽ đưa Bà trở về quê hương. Nhưng, than ôi, chúng tôi cũng như em trai Bà tất cả phải bó tay. Vì luật của Hoa Kỳ là ai gởi Bà vào thì chính người đó mới có quyền lãnh ra. Em trai Bà là cậu ruột của Út Thơm, đã có lần đến gặp Út Thơm để yêu cầu cô lãnh Bà ra giao cho gia đình Ông nuôi. Chẳng những bị Út Thơm xua đuổi, ông cụ còn bị gia đình Út Thơm hăm gọi cảnh sát vì chen vào nội bộ gia đình cô!
Từ lúc hiểu được hoàn cảnh của Bà, chúng tôi thường dành thì giờ đến thăm Bà. Mang quà bánh biếu, Bà không ăn. Biếu tiền, Bà không nhận. Bà nói Bà tuyệt thực và cầu nguyện ơn trên cho Bà chết sớm. Từ hơn 2 năm rồi, Bác Sĩ ra lịnh bắt Bà ngồi xe lăn, nên đến nay Bà không đi đứng được nữa.
Giữa năm 1995, vì tôi bị thất nghiệp nên phải move đi tiểu bang khác. Mãi đến năm 1998, chúng tôi trở về Houston thăm Bà ta…nhưng, tiếc thay Bà đã vĩnh viễn lìa bỏ cái “địa ngục xa lạ” này, ra đi trong cô quạnh. Hết một kiếp người!
Hình ảnh bà cụ bị con cháu bỏ rơi trong viện dưỡng lão làm tôi trăn trở mãi. Mỹ quốc là một siêu cường quốc, có nền văn minh và phát triển cao nhứt thế giới, nơi có đủ thứ luật lệ bảo vệ con người. Một xứ xở tốt đẹp như thế, tại sao đạo lý lại không được quan tâm” Phải chăng đây là nơi suy tàn của đạo lý gia đình Việt Nam”
Công Cha như núi bỏ hoang!
Nghĩa Mẹ như nước lụt tràn lối đi!
Nhớ bà cụ đã mất. Thương chính thân thế gia đình mình, tôi không muốn tin điều ấy là có thực. Đành chỉ còn biết cầu mong cho các thế hệ tương lai không còn thảm cảnh này.
Tôi đã chứng kiến một vụ tử đạo và kinh nghiệm ấy không làm tôi thích thú gì. Cái cảnh tượng một thân thể con người bị lửa thiêu chết thật là khủng khiếp. Trong cái hỗn Ioạn chung quanh nơi ấy, có một sự kích thích quái gở, và trong sự hôn mê của nhà sư đang làm chủ ý chí của mình để thắng những đường gân thớ thịt, có một vẻ siêu phàm thoát tục lạ thường.
Bỗng nhiên tôi thấy lợm giọng vì chợt hiểu rằng vụ tự-sát rùm beng này đã được dàn cảnh cho tôi xem. Và người ta đã biến tôi thành một kẻ đồng loã, vì lý do bất cẩn, ngu dốt hay tính toán chính trị. Tôi đến xứ này chưa được một tiếng đồng hồ. Cả đến Tòa Đại-sứ của tôi, tôi cũng chưa hề đặt chân vào nữa. Thế mà tôi đã dnh líu vào sự tranh chấp tòn giáo của miền Nam Việt-nam một cách công khai và vĩnh viễn. Như vậy trước khi tôi có thể trình ủy-nhiệm-thư tại Phủ Tổng-thống, thì báo chí thế giới đã có thể thách thức tôi tuyên bố về một vụ tử đạo Phật-giáo và một chinh phủ Thiên-Chúa giáo. Về một phương diện khác, tôi cũng đang có một sự thách đố. Tôi vốn là một người nghiên cứu đạo Phật, tuy chưa phải là Phật tử. Tôi đã chấp nhận một đường lối học đạo theo phái Zen cho nên tôi rất bỡ ngỡ trước những thái độ sơ khai hơn của phái Đại thừa Việt-nam. Muso Soseki đã chỉ bảo cho tôi biết rằng muốn đến cõi phúc thì tinh thần hướng nội phải chịu chết dần chết mòn. Nhưng còn việc hủy hoại ngay thân thể để nhập cõi ấy thì đối với tôi thật quả là một sự xúc động tàn nhẫn. Vì bị xúc động nên tôi tức giận và dùng lời lẽ khiếm nhã nói với Đại-tướng Tolliver.
«Này ông Đại-tướng, kẻ khốn nạn nào đã bầy đặt cho tôi vụ này? Ai chịu trách nhiệm về an-ninh ở đây?
Đại-tướng Tolliver cũng cộc cằn và bực tức không kém tôi.
«Tòa Đại-sử, C. I. A. và Phủ Tông-thống chứ còn ai. Tôi có nhiệm vụ cung cấp đoàn xe và lính hộ-vệ đoàn xe. An-ninh thì do người Việt phụ trách phối hợp với C.I.A. Kế hoạch của họ đã được C. I. A. chấp thuận. »
« Thế ông không biết Phật-giáo đã đe dọa xuống đường cả mấy tuần nay rồi sao? Báo chí đều đăng tin đầy đủ. Công văn do Tòa Đại sứ gửi đi cũng nói vậy. Tôi chắc đã có kẻ nào mách nước cho họ chọn ngày hôm nay để khai diễn đây. »
Đại-tướng Tolliver nói một cách cay đắng. «Thiên hạ đều được mách, nước cả. Nào là báo chí, nào là Phủ Tổng-Thống, nào C. I. A. ai cũng biết trước hết. Họ đã thảo luận công khai ở buổi họp báo cuối. Nhưng Harry Yaffa nói hắn sẽ đảm bảo. Xếp sòng C. I. A. thì còn ai cãi được? Vả lại tôi còn trận giặc riêng của tôi – tôi đã dấn thân vào quá nhiều mặt trận rồi. »
« Nhưng đặc biệt ai muốn dính líu vào vụ tự thiêu này? ». «Ai cũng muốn hết». Đại Tướng Tolliver đáp cộc cẳn. «Phật-giáo muốn là vì họ muốn dàn cảnh cho quần chúng xem thảm cảnh của những nỗi thống khổ mã họ phải chịu. Phủ Tổng-Thống cũng muốn vì hy vọng ông sẽ ghê tởm sự cuồng tín dã man này. Báo chí muốn là vì họ đã bị kết án là cứ ngồi ở quầy rượu Caravelle mà bi thảm hóa cuộc chiến tranh. Dĩ nhiên họ sẽ biết khai thác một chuyện có thật như vậy. Còn C.I.A vì họ muốn thay đổi chính phủ và để làm cho ông chịu, chỉ có cách ấy là hay nhất».
«Còn quân đội thì sao, Đại Tướng? Tôi muốn nói quân đội của Đại Tướng theo lập trường nào ?»
Tướng Tolliver bỗng nhiên thao thao «Lập trường của tôi là đứng ngập trong sình lầy vùng châu thổ đến đầu gối. Một cuộc chiến tranh chúng tôi
không thể thắng được và cũng không dám thua. Bọn tôi đâu có quyền chỉ huy. Nhiệm vụ của chúng tôi ở đây là cố vấn và coi kho. Trên lý thuyết, chúng tôi chẳng có quyền bắn một viên đạn nếu mạng sống không bị trực tiếp đe dọa. Nếu nắm quyền chỉ huy bọn tôi lại biến thành thực dân tư bản như tụi Pháp. Nếu tấn công ồ ạt vào Bắc Việt, chiến tranh sẽ leo thang và có thể sẽ phải đương đầu với Trung-hoa. Nếu chúng tôi thắng trên bình diện quân sự, chúng ta lại trở nên những kẻ chiến thắng trong một sự trống rỗng về chính trị và xã hội. Nếu chúng tôi rút lui và bỏ mặc người Việt đánh nhau, chúng ta sẽ mất mặt, mất chỗ đứng và tất cả những bán đảo miền Nam Á châu … Vâng, Phật giáo đối với tôi rất quan trọng vì nó tượng trưng cho sự chia rễ và bất mẫn trong hàng ngũ chúng ta. Nhưng tôi đâu có dàn cảnh ra vụ tự thiêu này. Phía bọn tôi cũng đã có quá nhiều người tử đạo … »
Tôi xin lỗi Đại-tướng Tolliver và ông nhận với một cái nhún vai và một nụ cười mệt mỏi.
« Ai cũng muốn kéo sự thật về phía mình. Nhưng nếu ông muốn biết tất cả sự thật, ông phải tìm nó ở các bãi sinh. Và thời gian này, các nơi đó cũng khá bùn lầy.»
« Và cũng đẫm máu nữa. tôi nghe họ nói vậy».
« Dạ vâng, cũng đẫm máu nữa. Tôi hy vọng ông sẽ có thời giờ đích thân đến quan sát. »
Sau đó chúng tôi rẽ vấo Tòa Đại-sứ, nơi mà tôi sẽ trú ngụ như một tiểu bạo chúa sau hàng lưỡi lê của lính gác.
George Groton đã giản lược cuộc đón tiếp tôi vào một câu nói lối : « …. Một bọn phu tống tang đo áo khâm liệm cho một khách hàng mới ». Tôi cũng cảm thấy một sự ớn lạnh của chết chóc, nhưng tôi sẵn sàng đón nhận hơn là Groton. Trong ngành ngoại-giao, ai cũng nghi ngờ những nhà cải cách và những người chuyên giải quyết các vụ rắc rối, lại càng nghi ngờ hơn nếu được bổ nhiệm một cách dễ dàng và trọng vọng. Vả lại, Mc Nally, vị Đại-sứ trước tôi vốn là một người dễ thương, được nhân viên yêu mến. Còn tôi vẫn có tiếng là một người chỉ huy lạnh lùng và gần đây họ còn cho tôi là hay đòi hỏi nữa Bởi vậy tự nhiên là họ phải thận trọng đối với tôi.
Nhưng còn nhiều điều khác nữa cần phải thắc mắc hơn là tính tình vui vẻ hay cau có của một vị Đại-sứ. Đây là một nhiệm sở khó khăn – một nơi bất an, hàng ngày nguy hiểm cho dân của tôi và gia đình con cái họ. Ngoài phố biểu tình nổi loạn. Bom nỗ trong các quán rượu, rạp chiếu bóng và chợ. Một cái xe đạp dựng cạnh công rất có thể chứa toàn plastic. Xe buýt chở trẻ con đi học phải có lộ trình vạch sẵn và có nhân viên võ-trang hộ vệ. Đêm đến là cổng ngõ khóa chặt và người chủ gia-đình đi ngủ với khẩu súng lục nhét dưới gối. Chủ-nhật lái xe dạo chơi ngoài thành phố độ dăm bẩy cây số là có thể gặp Việt-cộng phục kích. Một người bán quà rong có thể là kẻ tiếp tế súng đạn hay liên lạc viên của du kích quân. Bởi thế nên phải coi chừng bất cứ kẻ mới mặt nào muốn thay đổi cục diện Á-châu với một hành vi táo bạo và với một chính sách ôn hòa mới đem từ Hoa-thịnh-đốn sang.
Khi một chính sách đã thất bại thì toàn thể nhân viên tham mưu đều chịu gánh lỗi, nhưng họ phải chấp nhận những hậu quả của một chính sách
mới cũng như họ đã mang đến những hiểm họa của chính sách cũ. Bởi vậy họ có quyền xử xét tôi và tôi cũng phải tự biện minh với họ trước khi có thể sai khiến lòng trung thành của họ. Tôi cảm thấy trần truồng một cách lạ lùng khi kéo ghế ngồi ở đầu bàn hội nghị và đợi các cộng sự viên của tôi yên vị. Họ là những người đã chiến đấu ngoài trận tuyến trong lúc tôi ngồi trầm tư trong khuê viên của Muso Soseki. Tôi có thể dùng giọng của Tổng-thống mà nói với họ, nhưng làm như vậy họ vẫn có thể phê phán rằng giọng nói đó xuất phát từ miệng một kẻ làm tàng.
Trong lúc vội vã chuẩn bị, vào phút chót, George Groton đưa cho tôi một mảnh giấy viết bằng chữ Kanji «Harry Yaffa. C.I.A là người hùng. Có sự cọ sát giữa hắn và Mel Adams, đệ nhất tham vụ. Kỳ dư, ý kiến không thống nhất». Tôi vò mảnh giấy và đút vào túi.
Melville Adams ngồi bên tay phải tôi. Hắn là một nhà tri thức, người gầy, vẻ mặt không vui, tuổi gần năm mươi. Hắn ở trong ngành ngoại giao đã lâu và được mọi người kính nể vì có thái độ vô tư thận trong và can đảm theo chủ trương của mình đến độ bướng bỉnh. Có nhiều người cho rằng hắn là một kẻ quá khô khan nên không thể được bổ nhiệm ở những chức vụ hàng đầu, nhưng đã được thấy hắn làm việc ở Helsinki và Argentine, tôi vẫn luôn luôn kính nể hắn.
Ngồi khoảng giữa bàn là Harry Yaffa, trông có vẻ một bác sĩ ăn khách hơn là Trưởng Cơ quan Tình báo Trung ương phụ trách miền Nam Việt-nam, Lào và Căm-bốt. Người lùn, mập, có vẻ hoạt động và tốt, hai bàn tay mềm và được giữ gìn đẹp đẽ, hắn mặc một chiếc sơ-mi lụa cắt thật đẹp với một chữ thêu chỉ xanh dưới ngực bên trái. Giọng nói dịu dàng, cử chỉ đầy vẻ duyên dáng và chống đối, nhưng hắn ta nổi tiếng là lưu manh, tàn nhẫn và bất chấp đạo đức. Nếu muốn chỉ huy được, tôi cần phải biết hắn nhiều hơn là bây giờ, nhưng tôi e rằng tôi không thích biết hắn một cách gần gũi hơn.
Tôi nhìn về phía cử tọa còn lại. Tất cả đều nhìn chăm chú một cách kiên nhẫn vào những bản phúc trình đánh máy trước mặt hộ. Đã đến lúc tôi phải bắt đầu đi nước cờ thí.
« … Thưa qui vị, tôi muốn chúng ta dẹp hết những nghi thức … quí vị làm việc nơi đây đã lâu. Tôi sẽ trông cậy rất nhiều vào những tin tức, khuyến cáo và sự giúp đỡ của quí vị. Tôi hy vọng quí vị sẽ nói thẳng với tôi cũng như tôi sẽ nói thẳng với quí vị … »
Mắt họ trông đều hùm hụp, vẻ mặt thản nhiên. Họ là một bọn đã lăn lóc trong nghề. Đấy chỉ là lối nói giáo đầu và họ không tin tưởng một lời tôi nói nào. Họ đang đợi để nghe bản văn chính cống của những chỉ thị từ Hoa-
thịnh-đốn. Tôi nói một cách vắn tắt và khô khan.
«Tôi đến đây với tư cách công cụ của một chính sách đã được duyệt lại đối với chế độ miền Nam Việt-nam. Tôi được chỉ thị của Bộ Ngoại giao phải đưa ra những yêu sách rõ rệt sau đây: sự đàn áp Phật giáo và những biện pháp khống chế đối với sinh viên phải chấm dứt ngay. Phùng văn Cung phải nhượng bộ ở những điểm nào cần thiết để tái lập sự thống nhất chính trị và
quân sự trong chính phủ của ông ta. Ông Cung và các nhân viên chính phủ phải tử bỏ những chỉ trích công khai về chính sách của Hoa-kỳ từ đây về sau. Nếu ông ta không chịu làm như vậy, tôi có tham quyền đưa ra những trừng phạt ngay tức khắc: ngưng viện trợ và rút dần nhân viên quân sự của chúng ta, »
Quanh bàn hội nghị, mọi người bỗng xôn xao chú ý. Đại-tưóng Tolliver hỏi một câu cộc lốc:
« Nếu Cung không làm theo lời chúng ta bảo, các trừng phạt có được áp dụng khôug? »
« Đại-tướng có thể tin ở tôi rằng có. Trong vài ngày nữa. Đại tướng sẽ nhận được chỉ thị chi tiết của Ngũ-giác-đài về phương pháp áp dụng cho bất cứ cuộc rút lui nhân viên quân sự nào. »
Tolliver cám ơn tôi rồi ngồi im lặng. Là một quân nhân cẩn thận hắn đâu có chơi chính trị được với các tay nhà nghề. Hắn đã nói xong một phần của mình. Phần còn lại hãy để đó cho đến khi tôi thấy cần tới các quân nhân. Câu hỏi thứ hai của Mel Adams.
« Thưa ông Đại sứ, các yêu sách đó có được phổ biến công khai không? »
« Cái đó còn tùy kết quả cuộc hội kiến đầu tiên giữa tôi và Phùng văn Cung vào sáng mai. »
« Trong khi đó thì cho báo chí tin tức ra sao? »
« Hãy khoan cho họ tin tức cho đến khi tôi trình ủy-nhiệm-thư tại Phủ Tổng-thống. Ông đã dự trù tổ chức họp báo vào năm giờ chiều nay thì
phải. Tôi muốn hủy bỏ cuộc họp báo đó đi. »
« Như vậy chúng ta có cần phải giải thích không? »
« Có chứ. Ông cho họ biết rõ rằng đó là vì lý do ngoại giao. Tôi sẽ tiếp họ trong một cuộc họp báo đại qui mô vào hai giờ chiều mai. »
« … Nhân tiện nói về báo chí chắc rằng trước hết họ sẽ yêu cầu tôi bình luận về vụ nhà sư tự thiêu sáng nay. Trong lúc này tôi cũng chưa biết bình luận công khai ra sao. Tuy nhiên riêng đối với quí vị, tôi muốn nói một đôi lời. Tôi nghĩ rằng vụ này chứng tỏ các sự sắp đặt an ninh của chúng ta đã bị thất bại một cách thảm hại. Tôi muốn biết trách nhiệm về phần ai.»
Sau một im lặng ngắn ngủi, khó thở, Harry Yaffa trả lời tôi, mền như bún:
« Thưa ông Đại sứ, tôi đã điều tra về vụ này. Theo ý kiến tôi trách nhiệm hoàn toàn do phía người Việt phải chịu. Chúng tôi đã biết trước một việc như vậy sẽ xảy tới. Trong hai tuần qua, họ đều đồn ầm lên trong thành phố.
Chúng tôi đã thảo luận tỉ mỉ về sự sắp đặt an ninh với Phủ Tổng-thống, theo đó họ sẽ đặt một toán canh gác bốn người ở công chùa. Tôi có hai nhân viên ở phía bên kia đường … Năm phút trước khi xe ông tới, toán gác đã bị di chuyển đi chỗ khác. Một nhân viên của tôi tức khắc đi tìm người chỉ huy toán và trong khi họ còn đang cãi cọ với nhau thì nhà sư đã được đem ra ngoài … Sau đó đành chịu bó tay vì mọi việc xẩy ra nhanh qná».
«Thế còn nhân viên kia của ông đâu, ông Yaffa? »
«Hắn chỉ là an ninh chìm, không có thẩm quyền gì đối với cảnh sát và quân đội. Nếu hắn can thiệp, có thể gây ra rắc rối tệ hơn … »
«Bởi vậy nên vị Đại-sứ đã mất mặt ngay buồi sáng ngày ông đáo nhiệm sở và Phủ Tông thống cũng đã xác nhận thái độ cóc cần đối với Phật giáo. Như vậy có đúng không? »
Yaffa có vẻ hơi mỉm cười về sự giản lược của tôi. «Thưa ông Đại-sứ, sự thật thì rắc roi hơn thế. Phạt-giáo đã ghi được một thắng lợi cho riêng họ». Hắn lục tìm trong tập hồ sơ và rút ra một tài liệu đánh máy rồi chuyển từ tay nọ qua tay kia đến tôi. «Đây là bản dịch lá thư cuối cùng do nhà sư đã viết. Thư này được lưu hành trong các chùa chiền và Phật tử. »
Tôi đọc bản văn đánh máy trong im lặng trong khi cử tọa ngồi chờ. Đó là một tài liệu đáng lưu ý trong bất cứ hoàn cảnh nào: lời trối trăng cuối cùng của một người trước ngày tự nguyện từ giã cõi đời. Nó gợi cho tôi một nhà tu khổ hạnh cao niên, mỉm cười và trầm lặng, không chút cử động ngay cả khi lửa đang thiêu đốt. Mặc dù không muốn, tôi vẫn thấy cảm động vì sự nhiệt thành đơn giản của những lời nói cuối … «Trước khi nhắm mắt về cõi Phật, tôi kính dâng những lời nói cuối cùng này của tôi lên Tổng thống, xin ngài mở lòng nhân từ và hỉ xả cho đám dân của ngài và xin ngài thật lòng ban cho họ bình đẳng tôn giáo … »
Tôi đặt tờ giấy xuống bàn và lại đối diện với Yaffa: «Òng Yaffa, tài liệu này như dầu sôi lửa bỏng».
«Tôi xin đồng ý với ông», giọng hắn nghe trịnh trọng, cân nhắc, nhưng vẫn che dấu một nhạo báng. «Đồng thời nó cũng nêu lên một vấn đề mà người ta sớm muộn sẽ phải hỏi ông trong cuộc họp báo. Không biết Hoa-thịnh-đốn đã toan tính những hậu quả của việc đưa tối hậu thư cho Tổng thống Cung đến mức nào? »
Thế là vấn đề đã được đặt ra, trần truồng như một lưỡi dao trèn mặt bàn: một thách đố mà tôi cần phải chống trả. Không lẽ cái tên nhỏ thó lùn mập này lại là kẻ duy nhất dám có can đảm hay toan tính để đặt nó ra. Hay là đã có những bạn đồng sự nào của tôi âm mưu đưa hắn ra làm đại diện phát ngôn? Hay là hắn cũng đang thách đố cả họ nữa. dựa trên một quyền lực bí mật nào đó? Tôi cảm thấy mình như một người đang đứng trên mặt đất khô ráo bỗng dưng bị ai lôi kéo xuống một nơi sình lầy. Tôi bèn quyết định nhượng bộ một hai bước rồi xông vào trận chiến ngay trên phần đất của tôi.
«Ông Yaffa, Hoa-thịnh-đốn đã tính toán kỹ. Tuy nhiên, ông Bộ trưởng Ngoại giao có yêu cầu tôi đem ra trắc nghiệm với ý kiến của những vị ở tại chỗ. Bởi vậy, tôi xin lần lượt hỏi từng người một câu: quí vị cho rằng việc gì sẽ xy ra khi tôi đưa những yêu sách ra cho Phủ Tổng thống? »
Khi buổi họp chấm dứt, bỗng dưng tôi cảm thấy bị cô lập và bất lực. Đó là một cảm giác sợ hãi kỳ lạ, như thể chỉ mới một độ, tôi đã đi tới giới hạn cuối của những khả năng tinh thần cũng như thể chất của tôi. Tôi thấy mệt mỏi và già nua, óc phán đoán mờ mịt như mây che, ý chí yếu ớt. Tôi trách Raoul Festhammer đã đẩy tôi một cách quá dễ dàng vào ghế quan tòa. Tôi trách tôi đã nhớ đến nhà sư Muso Soseki và lời ông cảnh cáo tôi về sự thiếu sót riêng của tôi. Tòi trách các cộng sự viên của tôi, chỉ biết khoái trá vì những chia rẽ giữa người Việt nhưng chính họ lại chẳng đoàn kết gì với nhau. Tôi chẳng muốn gì hơn là từ bỏ mọi trách nhiệm và rút lui khỏi cái nơi đầy căng thẳng và nghịch cảnh này.
Sau phút kích thích mau lẹ và đầy nam tính của tôi khi nhập cuộc, giờ đây khác chi như sự ủ rũ sau hành động yêu đương. Thật đúng mà cũng chưa đúng hẳn, bởi vì dưới sự ủ rũ, tôi cảm thấy một nỗi kinh hoàng và nguy hiểm – một nỗi tuyệt vọng có thể một ngày kia đẩy tôi vào hành động để chấm dứt tấn hài kịch buồn thảm và bắt đầu lại. Mặc dù nhìn thấy rõ hình dạng của sự nguy hiểm, tôi phải xua đuổi nó đi bởi vì tôi còn phải cười và cám ơn các cộng sự viên của tôi để bế mạc buổi họp với sự lịch thiệp và với một bộ mặt tự tín. Chỉ còn thiếu hai tiếng đồng hồ nữa là tới bữa cơm tối, nên tôi bảo xe đưa tôi về ngay nhà. Groton sẽ đợi ở tòa Đại sứ cho đến khi đánh máy xong biện bản buổi họp, sau đó hắn sẽ mang đến cho tòi ngay. Mel Adams sẽ ăn cơm với chúng tôi và trình bầy cho tôi biết về hoạt động của tòa Đại sứ.
Lúc đó Yaffa bưởc tới và yêu cầu gặp riêng. tôi trong hai phút. Hắn có món quà tặng tôi: một khẩu súng lục tự động trong một bao da đeo vai mầu đen. Hắn yêu cầu tôi đeo khẩu súng ấy mỗi khi tối đi đâu, ban ngày cất nó trong ngăn kéo bàn giấy và khi ngủ cũng đeo nó theo dưới gối. Hắn cũng có lời khuyên nhủ tôi nữa: nào là không nên đứng gần các cửa sổ bỏ ngỏ, nào là đi đâu cũng phải có tên cận vệ mà hắn sẽ cung cấp. Tôi để ý nhìn vẻ mặt hắn xem có chút diều cợt nào không nhưng tuyệt nhiên không thấy. Những lời
cuối cùng của hắn thật lương thiện và cung kính:
« Thưa ông Đại sứ, về chuyện này, ông phải tin tôi. An ninh là nhiệm vụ của tòi. Sự an toàn của ông là trách nhiệm của tôi. Đây là một thành phố của
những kẻ sát nhân. Tôi xin ông làm theo lời tôi. »
Tôi cám ơn hắn và hứa sẽ làm theo. Đoạn hắn xin phép đi xe cùng với tôi đến nhà tôi để cho tôi biết một vài biện pháp cẩn mật mà hắn đã đặt ra để cho tôi được an toàn. Tôi chẳng lẽ chối từ, như vậy có vẻ bất lịch sự, vả lại tôi cũng thắc mắc vì sự thay đổi cá tính mau lẹ của hắn. Ở bàn hội nghị hắn đã bỡn cợt và quá khích một cách tế nhị, đúng là một kẻ chuyên gây mâu thuẫn. Mình hắn với tôi, hắn lại trở nên lịch thiệp và cung kính. Bộ tịch của hắn rơi mất như một mặt nạ và tòi đã thấy như Groton cũng đã từng thấy: một người hùng cho ta có những cảm giác kính nể hay bất tin cẩn … Trên đường về nhà trong buổi chiều nóng bức, uể oải, tòi đã được nghe một bản thuyết trình ngắn nhưng sâu sắc của Yaffa về thành phố Saigon.
« Trông cũng có một vẻ duyên dáng đấy chứ! Một sân khấu tỉnh lẻ Pháp với những kịch sĩ đóng trò người Á-đông, Nhưng tấm thảm kịch thì hoàn toàn Á-đông. Cứ trông bề ngoài thì chẳng bao giờ biết sự thật cả. Hãy xem đường này. Có ba cảnh-sát viên và bốn anh dân vệ, nhưng đã hết đâu. Cái tên đang đẩy kia là một nhân viên an ninh của ông Cung. Còn một tên nữa ở góc đẳng kia. Con mụ đàn bà đứng ở cửa sổ trên kia làm việc cho tôi …
Cái thành phố này bị kiểm soát chặt chẽ đến nỗi ông muốn đi ăn hay đi uống cũng không tránh đụng phải một tên cảnh sát mật vụ. Bề ngoài trông yên lặng như tờ, nhưng bên trong thì sôi sùng sục.
Cái thẳng đi xe đạp kia có thể là người của Việt cộng. Người tài xế taxi kia có thể đang dấu một trái lựu đạn dưới thùng ghế … Bằng cách này cách nọ, những đám người này đã liên tục sống với chiến tranh từ gần hai ngàn năm
nay. Họ là một giống ngưoi rất ranh mãnh và cũng rất cứng rắn nữa. Thật
đúng tre Việt với nước sơn mài Trung-hoa … và bên ngoài lại có thêm một lớp quang dầu Pháp nữa. Phía đằng kia là Chợ-lớn. thành phố Chệt.
Họ buôn bán, họ chăn nuôi, họ cho vay tiền để rồi chăn nuôi thêm nữa và âm thầm đợi ngày được chôn cất mồ mả tổ tiên. Họ có một người mà ông nên gặp một ngày nào đó công dân Trung quốc số một. Hắn là một người nổi tiếng nhưng ít khi có ai được gặp và không ai nói đến tên hắn. Hắn biết bảo đám dân của hắn im lặng, kiên nhẫn và nghe ngóng chiều gió.» Không chút đổi giọng, Yaffa nói thêm. «Đó là điều tôi mong ông Đại sứ làm. Ông hãy nghe ngóng chiều gió trong ít lâu. Nó có một thứ ngôn ngữ khác hẳn thứ ngôn ngữ ông đã nghe ở bàn hội nghị.» Trước khi tôi có thì giờ để trả lời thì hắn lại tiếp tục, «Vụ Phật giáo tự thiêu chỉ là bắt đầu. Có một chuyện quan trọng đang nẫy mầm, tôi cũng không biết chắc là chuyện gì. Nó có thể xẩy ra đêm nay. Nếu không đêm nay thì trong vòng vài ngày nữa. Tôi sẽ biết trước nửa giờ và báo cho ông hay».
Khi tôi nài ép hắn cho thêm chi tiết thì hắn lại nói mơ hồ. Tôi hơi bực mình và hắn cũng biết rõ điều ấy. Hắn nói một cách cương quyết:
«Thưa ông Đại sứ, chúng ta nên thẳng thắn đối với nhau. Chúng ta nên hiểu rõ nhiệm vụ của chúng ta. Ông là vị đại diện chính thức của Hoa kỳ. Còn tôi thì phải phục vụ theo một đường lối khác, như một kẻ đầu cơ chánh trị. Có những chuyện tôi phải làm mà chắc chắn ông Đại sứ không bao giờ có thể chấp thuận, bởi vậy tốt hơn là ông không nên biết tới. Tôi phải giết đàn ông
và mua chuộc đàn bà. Tôi phải gây mầm âm mưu này để bảo đảm cho sự thành công của âm mưu nọ. Tôi đề phòng sự thành công của ông cũng như sự kiện ông có thể thất bại. Nếu ông muốn cứu rỗi lương tâm của ông bằng cách bắt tôi nói dối tôi cũng có thể làm như vậy được. Tôi nói dối rất giỏi nhưng nếu không cần thì tôi không muốn nói dối. Tôi hy vọng là ông Đại sứ hiểu rõ tôi. »
«Rất rõ, trừ một điểm đặc biệt là lương tâm của anh nghĩ sao? »
«Đó là một việc xa xỉ, thưa ông. Đã từ lâu tôi biết tôi không thể có lương tâm được.»
Và câu chuyện riêng của chúng tôi dĩ nhiên chấm dứt ở đó. Chúng tôi đã về tới nhà, một biệt thự rộng lớn chung quanh có tường cao, trên tường có giây kẽm gai và những mảnh kinh vụn. Hai người lính Thủy quân lục chiến đứng gác ở ngoài cổng sắt. Phía trong lại có hai người nữa tuần tiễu. Bên trong cổng là một điếm canh nhỏ. Khi người tài xế bóp còi thì có một người lính Thủy quân lục chiến khác ra mở cổng và lính gác đứng nghiêm chào trong khi xe tiến vào nhà. Căn nhà trông rực rỡ mầu xứ nóng và nặng mùi hương hoa đại, nhưng so với sự ngăn nắp giản dị và có tính toán của cái khuê viên Nhật-bản mà tôi đã sống qua thì nơi này có vẻ kệch cỡm và mệt mỏi như một người đàn bà đẹp đã hết thời xuân sắc. Tòi không thấy căn nhà này muốn đón tiếp tôi, không có cả sự nghỉ ngơi cho mắt nhìn hay cho tinh thần nữa. Ở đây, tôi luôn luòn chỉ là một người khách qua đường. Chẳng có cái gì bắt tòi phải sống với cái bản ngã bí ẩn xâu xa nhất, cũng là của cải đích thực còn sót lại của tôi. Trong khi ấy thì Yaffa đã lên tiếng tóm tắt một lần cuối : «Nửa số gia nhân của ông Đại-sứ là người Mỹ – Cô Anne Beldon là thư ký rièng, ông Humphrey là quản gia – người tiểu bang Virginia thân thuộc và rất thạo việc. Còn bà Brendan coi việc nội trợ. Phần còn lại ông sẽ gặp mặt sau. Tất cả nhân viên nhà bếp, quét dọn và làm vườn đều là người Việt. Họ đều thuộc ba gia đình ở trong căn nhà phía sau biệt thự. Như vậy chúng ta có thể canh chừng họ và ngăn ngừa không cho ai đe dọa hay cám dỗ họ. Các buồng riêng của ông Đại-sứ đều nhìn xuống mé sông. Từ nơi đó chúng tôi đã kiểm soát xạ trường và việc chúng có thể bắn lén ông rất khó xẩy ra. Nhưng tôi xin ông Đại-sứ nhớ cho rằng bao giờ cơ hội đó cũng có thể xảy đến. Toàn thể tòa nhà này đều cỏ hệ thống báo động phòng gian và lính gác đã được tập dượt kỹ về an-ninh nhưng tôi không muốn phiền ông về chuyện ấy. Người cận vệ của ông là Bill Slavich, Hắn ta bắn rất giỏi và thạo võ Judo. Hắn ở ngay tại đây. Và bây giờ xin mời ông Đại sứ vào xem…)
Hắn bình thản dẫn tôi qna các nghi thức chào mừng và tôi hài lòng nhận thấy rằng Beldon tròng có vẻ đẹp và vui tính còn người cận vệ của tòi trông giống một sĩ quan tốt nghiệp WestPoint chư không phải một tên đô-vật mà tôi đã sợ gặp phải. Trong những vấn đề này, có lẽ tôi hơi kiếu cách nhưng tòi không ưa những kẻ làm chướng mắt thiên hạ và tự ái của tòi sẽ bị đụng chạm nếu tôi được hộ vệ bởi một người trông như tên anh chị.
Sau hết chỉ còn mình tôi trong căn phòng ngủ rộng rãi và thoáng khí, từ đó nhìn qua con song có thể thấy cánh đồng bằng xanh tươi của vùng châu thổ trải rộng ra trong ánh nắng cuối của buổi chiều, cánh đồng trông có vẻ yên lặng và đẹp một cách kỳ lạ mà cũng có vẻ không thực, như tấm phông vẽ hậu trường của một sân khấu vũ vậy. Thật khó mà tin rằng chỉ mới tuần trước cách đây có mười lăm cây số trong tầm mắt tôi hiện giờ, một trận đánh ác liệt đã xẩy ra, một trận đánh có cả gần ngàn người: Việt cộng, binh sĩ trong quân đội của Tông-thống Cung và nhân viên quân lực Hoa kỳ chúng ta nữa: Càng khó tin hơn vì chính ngay đêm nay khi bóng tối mau lẹ miền nhiệt đới rủ xuống thì Việt-cộng lại vẫn tung hoành, cướp bóc làng này hay làng nọ bên ven kinh, bắt dân chúng đóng góp gạo, gà vịt hay đạn dược và đe dọa gia đình này nọ phải theo chúng. Họ đã kể tôi nghe chuyện một sĩ quan Mỹ bị chúng nhốt vào cũi như con vật và mang đi từ làng này sang làng khác, mình trần như nhộng và mắt bịt kín để cho dân chúng chế riễu phỉ báng. Sáng ra, trên con kinh đào, ta có thể thấy xác một anh nông dân bướng bỉnh nổi lều bều, cuống họng bị cắt đứt hay một anh khác vắt vẻo trên hàng. cọc dậu tre, mồm nhét chặt dẻ và đang rên rỉ. Và trước khi mặt trời lên cao, trước khi máy bay trực thăng đến, Việt-cộng đã rút đi ẩn náu trong các ven rừng hay trà trộn với người đang mua bán ở chợ đầu làng.
Tôi lặng ngắm cảnh vật trong khi đêm xuống và một vài ánh sao yếu ớt lấp ló qua những khoảng trời trống mây, Đó là thời khắc buồn bã đối với tôi, thời khắc trì trệ, ngờ vực bất tín và sợ hãi đêm cô đơn sắp đến. Tôi xin thú nhận thẳng thắn rằng tôi là một người luôn luôn cần sống bên đàn bà và cho đến nay, nếu cuộc sống của tôi có vẻ đều đặn và có trật tự là chính vì tôi rất ý hợp tâm đầu với Gabrielle, vợ tôi. Sau khi nàng chết, tôi sống noi một thời gian là nhờ sự kiêu hãnh đã có một người vợ như nàng và nhờ sự kiêu ngạo khó tính làm cho tôi không lao mình vào những cuộc tình duyên bẩn thỉu và tạm bợ. Đến nay tôi thấy rõ rằng những thành trì đó đang dần dà tiêu tan và tôi thật sự lo âu không biết rằng mình tôi có thể chống đỡ nổi những sự nhọc nhằn nặng nề của chức vụ mới hay không.
Đã có hồi tôi tạm thấy vững mạnh trong kỷ luật khắc khổ của nhà sư Muso Soseki nhưng ngay đến sự an ủi ấy cũng không còn nữa. Giờ đây tôi không còn có thể tản bộ trong khu vườn Tenryuji huyền bí nữa mà phải bước vào những con đường nguy hiểm, chán chường với những đam mê của chính tôi cũng như chán chường sự mưu phản hay viên đạn của tên sát nhân.
Trong lúc cởi quần áo và tắm, tôi suy nghĩ về buổi họp ban chiều và cố gắng tìm trong mớ giày hổn độn của thảo luận một đầu mối có thể dẫn lối cho tôi trong lạc đồ trận để tìm đến con quái vật — nếu quả có con quái vật – nằm ở chính giữa. Nhưng mỗi đầu mối đều đưa tôi đến ngõ cụt rồi đứt quãng khiến tôi phải tìm lại lối bước đị và bắt đầu lại.
Đại-tướng Tolliver chẳng hạn, đã nhìn tình hình Việt Nam một cách đơn giản và chính xác. Đây là một cuộc chiến tranh ông phải đương đầu nhưng không thể thắng. Xong nhiệm vụ, ông sẽ được gắn thêm một ngôi sao và trao lại chính phủ Mỷ một đoàn cựu quân nhân có kinh nghiệm máu lửa. Tổn thất về phía Hoa-kỳ rất ít, có thể đánh đổi lấy kinh nghiệm chiến trường được, cũng hòa. Đối với Tolliver thì người Việt là một gánh nặng quân sự. Bộ Tổng-tư-lệnh của họ bị chia rẽ bởi những âm mưu chính trị. Sĩ quan cấp úy thì kém huấn luyện, binh sĩ chiến đấu thì thối chí và mất tinh thần. Tất cả chiến cuộc là một sự phí phạm đau thương về quân cụ, nhân lực và tinh thần chiến đấu. Mel Adams cũng bi quan không kém. Tình hình chính trị nát bấy như tương. Chính phủ Cung là một chính quyền độc tài đỗ nát, xây dựng trên đạo đức quan liêu, âm mưu sứ quân, mật vụ và Thièn Chúa giáo kiểu thời Pháp cổ. Chính Cung là một chính trị gia có khả năng, song ông đã để mất cảm tình của dân thành thị và thiếu cá tính để tập họp dân chúng thôn quê. Ông đã tự cô lập hóa và dùng bọn tay chân nịnh thần biện minh cho sự điên rồ quá lố của mình. Là một tín đồ Thiên Chúa giáo, chỉ biết có đấng Kitô, ông đã sử sự sai lầm đối với Phật tử, nhưng không thể nhận lỗi, vì sợ mất mặt. Cho nên ông đã áp dụng một đường lối đàn áp nguy hiểm và chiến thuật chia để trị. Tối hậu thư của tôi sẽ làm ông bất mãn. Nếu được ông tin cậy, tôi có thể góp phần nào để làm ông thay đổi. Bằng không, thì thây kệ, ông sẽ bị truất phế và thay thế.
Và chờ sẵn ngoài hành lang kia là Harry Yaffa với khí cụ thay thế đã làm sẵn. Các tướng lãnh đã chín mùi để nổi loạn. Họ chỉ đợi một dấu hiệu ưng thuận chắc chắn của Hoa-kỳ là sẽ quật ngã Cung nội trong một đêm. Chung lưng cộng sự với nhau, các tướng lãnh có thể đưa ra một chính quyền vững vàng có quân lực làm hậu thuẫn … Bởi vậy nên tối hậu thư của tôi cần phải được công bố ngay khi đưa ra cho Tổng thống. Lời lẽ phải được lựa sao cho các tướng lãnh hiểu ngầm là dấu hiệu ưng thuận kế hoạch của họ …
Nghĩ cho cùng thì ra có con quái vật đã nằm sẵn giữa trận đồ. Tên nó là Cung và để tập họp đất nước này, để thắng cuộc chiến tranh, tôi chỉ có
mỗi việc phải làm là để các tướng lãnh chặt đầu nó đi. Thật là vừa đơn giản vừa hấp dẫn một cách oai hùng như truyện thần tiên. Cũng như truyện
thần tiên, truyện đó cũng tạo ra vẻ sống thật của nó. Nhưng còn sự thật? Tolliver đã bảo tôi đi kiếm ở vùng sình lầy châu thổ. Muso Soseki đã
thôi thúc tôi đi tìm trong nội cảnh của sự vật. Nhà sư đã hỏi tôi: «Ông sẽ làm gì? Phải, ông sẽ làm gì khi họ yêu cầu ông giết con chim cu? »
Ý nghĩa câu hỏi đó nay tôi đã rõ nhưng còn cách trả lời thế nào thật còn mờ mịt. Tôi tắt đèn. bước đến cạnh cửa sổ và nhìn ra ngoài về phía những đồng ruộng tối xẫm của vùng châu thổ. Đó là nơi sẽ phán quyết những hành dộng của tôi, nơi có những lều tranh và trại trú quân giữa rừng. Sự vật đều có hai mặt: bề ngoài đơn giản và bên trong phức tạp. Ở nơi đó, người chủ làng là
ông hoàng, là vị tổng giám mục địa phận, là quan tòa tối thẩm Ở nơi đó người trưởng tộc duy trì sự thờ phụng và giữ gìn bàn thờ sạch sẽ. Ông trông nom mồ mả, viết gia phả và coi sóc tài sản bất khả xâm phạm của giòng họ. Ở nơi đó gia đình đã sinh sống qua ba đời dưới một mái nhà và mọi người đều chung sức kiếm ra tiền, gạo. Họ sống tập đoàn với nhau và ràng buộc với đất bởi một rễ chung như cây tre, và cũng như cây tre, họ đu đưa. họ uốn mình nhưng vẫn qua khỏi những trận bão ghê gớm nhất.
Họ là một dân tộc hiếu khách, nô lệ vì sự cung kính cổ xưa. Dù là thầy tu, sư sãi, nhà nho hay thầy cúng, họ vẫn cứ nghe, cứ đọc và mời dùng bữa. Và sau đó họ lại rút vào thế giới tâm linh, với những âm hồn lẫn quất, những ông thần giữ cây, giữ đá, giữ ao rau muống. Với họ, chẳng có con quái vật nào nằm giữa trận đồ cả, chỉ có một ông quan sống trong một dinh thự xa xôi trên Saigon, chỉ có những lời tuyên cáo in trên giấy phân phát để cho họ nhận một cách cung kính và cũng cung kính quên luôn trước khi mặt trời xế bóng. Hoặc giả có lẽ chúng tôi là những con quái vật cũng không chừng,
những quân man rợ da trắng cao lớn – mũi lõ, mắt xanh, không biết chút gì về ma quỷ nhưng chỉ biết bán rao thuốc bột, thuốc nước để tẩy giun sán
và súng ống để giết bà con họ. Có tiếng gõ cửa và George Groton bước vào
với tập biên bản buổi họp. Mặt hắn đỏ ửng và dáng điệu bối rối như cậu học trò. Sau phút đơn độc buồn thảm, nghe hắn sốt sắng nói thật vơi cả lòng.
« Thật như những chuyện giật gân họ vẫn thường viết nhưng nay không dám viết nữa vì chẳng ai tin họ cả. Trong khi chờ đợi đánh tập biên bản, tôi đã đến Caravelle uống ly rượu. Gần tưởng chắc sẽ gặp bố già Hemingway vắt vẻo trên ghế cao trong bộ chiến phục. Các phóng viên xì xào với nhau trong các góc phòng và gọi những cú điện thoại bí hiểm bằng tiếng Tây bồi. Có người lỡ tay đánh rơi chai Soda ngoài hành lang và hai người Việt ngồi trong góc vội móc súng ra. Rồi mọi người đều cười lên hô hố, vẽ mặt bẽn lẽn như cừu non … Hình như có chuyện gì quan trọng. đang nẩy mầm trong thành phố nhưng không. có ai muốn nói ra là cái gì. Bồ ruột của Harry Yaffa cũng đến sau tôi và hắn cố ép tôi nói về ông và ý kiến của ông. Tôi bảo hắn tôi chỉ là liên lạc viên. À, tôi mới gặp cô bí thư của ông. ở dưới nhà. Cô trông thật xinh đẹp». Hắn đỏ mặt và trông có vẽ thẹn thùng. «Xin lỗi ông. Có lẽ tôi hơi quá lời. Nhưng ảnh hưởng nơi này là như vậy. Chẳng khác gì tiêm thuốc kích thích.»
Rồi chúng tôi cùng cười và tôi hỏi hắn: «Thế người của Harry Yaffa có đưa cho anh cây súng. nữa không? »
« Thưa ông không. Nhưng hắn cho tôi biết những quán rượu khá nhất ở đây và hắn nói nếu muốn ngũ với gái điếm địa phương, tôi phải mặc áo giáp ngăn đạn.»
«Thẳng cha thật là thóng minh».
«Hắn giải thích rõ ràng lắm. Chúng mình đều là những cây chổi mới. Họ trông đợi mình quétsạch sự bê bối cũ và dọn một nơi sạch sẽ tươm tất
cho mọi người ». Groton nói một cách khô khan. «Nếu ông Đại-sứ chịu choi với C.I.A … thì mọi khó khăn của chúng ta sẽ hết ngay … Tôi quên, Mel Adams cũng nhờ tôi chuyển lời cho ông. Hắn muốn mời một quan khách dùng cơm Đức Khâm Mạng Tòa Thánh. Vị này được triệu tập về La-mã
để báo cáo tình hình cho bộ Ngoại giao Tòa Thánh và sẽ rời Saigon sáng mai. Adams cho rằng tiếp chuyện ông ta có thể giúp ông chuẩn bị chu đáo
cho cuộc gặp gỡ với Cung … Adams dễ thương thật. Hắn đã thoát khỏi và không bị dấu vết gì. Dường như hắn là người không dễ cuồng trí».
Chúng tôi nói chuyện với nhau gióng một như vậy trong lúc tôi mặc quần áo. Một lần nữa, sự tương phản giữa cái nhiệt thành của tuổi trẻ và cái trực giác mau lẹ, sắc bén nơi Groton làm tôi mến phục. Hắn cũng có một ý thức tự nhiên về tôn ty trật tự nữa. Hắn không hề đi qua trớn trong những cuộc trao đổi tình tự thân mật với tôi và khi có người khác, hắn bao giờ cũng xử sự một cách nhũn nhặn và có lễ độ. Tôi hy vọng đề trả ơn hắn, tôi sẽ đem lại cho hắn cả cái tài sản kinh nghiệm trong ngành. Khi chúng tôi xuống nhà dùng cơm thì thấy Mel Adams và một người Ý nhỏ nhắn mặt nhẵn bóng trong bộ áo thầy tu.
Adams giới thiệu ông ta là ngài Tổng Giám Mục Angelo Visconti, Khâm Mạng Tòa Thánh tại Việt Nam Cộng Hòa. Ông quả là một vị khách lý tưởng, khôn ngoan và nói tiếng Anh bóng bẩy một cách khác lạ. Một nhà ngoại giao thập toàn của đạo giáo, biết chắc chắn rằng hấp tấp chẳng giải quyết gì được những vấn đề khẩn cấp và cuộc hội đàm khôn ngoan nhất bao giờ cũng là những bữa ăn. Ông ta có rất nhiều mẫu chuyện lý thú của các nước và đã diễn cho chúng tôi một vở hài kịch lịch lãm. Thật là nhẹ nhõm sau những căng thẳng trong ngày. Sau đó ông chờ đợi những câu hỏi của tôi. Tôi hỏi những câu sỗ sàng nhưng ông đều trả lời với sự chính xác thần học. Tôi có ghi lại cuộc đối thoại của chúng tôi trong nhật ký chép trong thời kỳ ấy:
«Thưa ngài, Giáo hội Thiên Chúa giáo miền Nam Việt Nam phải chịu trách nhiệm đến mức nào về những hành vi đàn áp và hung bạo chống những Phật tử gồm tám mươi phầm trăm dân chúng?
«Đức Tổng Giám-Mục địa phận Huế và Tổng Thống, hai anh em thân thuộc nhau phải trực tiếp trách nhiệm. Ngài Tổng Giảm Mục đã có hành vi điên rồ không tin nổi là đã buộc chính phủ cấm treo cờ trong ngày Phật đản. Thế là
những cuộc nổi loạn xẩy ra. Chín người bị cảnh sát giết hại. Cả hai vị, ngài Tổng Giám Mục cũng như Tổng Thống đều giữ thái độ ngoan cố. Lại thêm rối loạn, lại thêm bắt bớ. Và giờ đây, đã có những người Phật tử tử đạo; tuy nhiên, Tòa Thánh Vaticản và Giáo-hội Thiên Chúa giáo miền Nam Việt nam rõ ràng là không dính dáng gì đến những biện pháp đàn áp ấy. Sự tách biệt đó đã được công bố bằng một bức thư luân lưu của Đức Tổng Giám mục Saigon và cũng trong một bức thư nữa, do Đức Giáo hoàng Paul Đệ Lục trực tiếp viết gửi đi. Bỏ ra ngoài một vài thái độ địa phương tính trong một vài tỉnh của đám chức mục hàng dưới ở miền quê, tôi có thể nói rõ rằng đại đa số tin đồ Thiên Chúa giáo đều bất mãn và chống đối những biện pháp đàn áp của chế độ. Tuy vậy, ông tiếp lời mau lẹ, «Phật tử cũng chẳng phải toàn là thánh thiện. Nơi họ có một nguồn bạo lực ngầm có thể dẫn tới rắc rối nhiều hơn về sau này».
«Xin ngài cho biết về tình trạng giáo hội Thiên Chúa giảo ở miền Nam Việt-Nam? »
«Trong giáo dân, có một đức tin sàu xa và sống động. Tuy nhiên việc giáo dục trong hàng giáo phẩm thì lại yếu kém và cần phải cải cách. Giáo quyền đã bị lung lay do thái độ ngoan cố của Đức Tổng Giám-mục Huế đối với Tòa thánh».
«Thế nhưng Tổng thống Cung vẫn cho mình là một giáo dân tốt và các chính sách của òng đều được dựa trên cái gọi là chủ nghĩa Nhân vị. Mà chủ nghĩa này về mặt thực hành vốn đả kích tận nền tảng của tự do cá nhân trong khi vẫn chủ trương khai triển tự do đó theo đường lối Ki tô giáo».
Nghe tôi nói vày, ngài Tổng Giám-mục cả cười và phác họa một cử chỉ chịu thua theo kiểu người dàn La-mã.
«Cái khẩu hiệu đẹp đẽ nhất của người Pháp đã đưa ra là «Tự do, bình đẳng, huynh đệ». Thật là một lời nói dối vẻ vang! Nhưng còn việc muốn thống nhất đất nước bằng một chủ đề triết học mà lại là một chủ đề khó hiểu nữa thì quả là chuyện tào lao. Trong phúc trình mới đây, tôi đã chơi chữ, ví ông Cung như «Khang, Siêu và chủ nghĩa quan liêu» (1), e rằng ngài Bộ-trưởng Ngoại giao không hiểu tôi nói gì. Sự thật thì Tổng-thống Cung là một tín đồ Ki-tô của thời Trung cổ. Thái độ của ông là thái độ một ông quan cai trị dân một cách độc tài và độc đoán. Về bản chất ông ta Mác-xít trăm phần trăm. Cứ theo cách tổ chức hiện giờ đất nước này có thể trở nên Mác-xit nội trong một đêm. Chỉ việc thay cờ là xong.»
«Làm sao mà nước này trở thành Mác-xít chóng vậy? »
«Bởi vì tất cả guồng máy kiểm soát chính trị độc tài đã có sẳn. Chẳng hạn như ấp chiến lược, được tổ chức ở thôn quê hiện nay thì nhẳm mục tiêu quân sự, nhưng cũng nhằm cả mục tiêu chính trị. Mọi người trong gia đình của mỗi ấp được kiểm tra tên tuổi, nghề nghiệp và nhân dạng. Toàn thể
——————————————————————————————-
(1) Nguyên văn: Mritain and Mandarinism!
đất nước, đặc biệt trừ các đô thị, đều được công an mật vụ kiểm soát thường xuyèn. Tổ chức này cũng giống như Gau của Phát-xít hay hệ thống «tổ» của Mác-xit. Ngài muốn xử dụng nó theo chiều hướng nào tùy ý».
Câu trả lời nay khiến tôi nhớ ngay đến Harry Yaffa, con người cơ hội chủ nghĩa đã tự thú ra miệng. Cả hắn nữa, cũng có thể xử dụng bất cứ hệ thống tổ chức hay thời cơ nào vào những mục đích mâu thuẫn khác nhau. Tôi cảm thấy không tiện bình luận về tổ chức ấp theo lối tiểu tổ vì người Mỹ chúng tôi cũng đã dự phần vào đó, nên tôi hỏi một câu ít chính trị hơn.
«Theo ý ngài thì hiểm họa lớn nhất đối với Kitô giáo ở đất nước này là cái
gì?»
«Tôi thấy mối nguy cơ đang bành trướng cho tất cà dân chúng, cả tín đồ Thiên Chúa lẫn Phật tử. Trước hết có sự căm hờn nơi những người sống dười áp chế mà không được tự do nói lên nỗi thống khổ của mình. Bởi vậy họ trở nên bất mẫn một cách tiêu cực. Rốt cuộc có thể chính họ bị xô đẩy vào một tình trạng tiến thối lưỡng nan tuyệt vọng vì họ cho rằng không còn quyền lựa chọn giữa một chế độ cực hữu và một chế độ cực tả nữa».
«Vậy Giáo hội tính giải quyết tình trạng ấy ra sao? »
«Chúng tôi đang bắt đầu mở một chiến dịch đào sâu sinh hoạt tinh thần của giáo dân, cải tiến giáo dục chức phẩm và tách rời Giáo hội khỏi chính trị bè phái. Trong khi đó cá nhân vẫn được tự do lựa chọn làm chính trị một cách chính đáng. Bổn phận chúng tôi là phát cho giáo dân phương tiện để tồn tại như một thực thể tinh thần, mặc dù những biến cố chính trị hay quân sự».
Mặc dầu hiểu rõ quan điểm của ông, nhưng dẫu sao, là kẻ không có một niềm tin nhất định, tôi cứ có khuynh hướng xem quan điểm ấy với một chút nghi ky hỗn sược. Tôi không tin tưởng rằng những nhóm thiểu số giáo dân Ki-tô có thể sống nổi ở vùng Đông Nam Á này dưới một chế độ thù nghịch, cũng như họ không thể sống nổi được ở Trung Hoa. Tuy vậy, tôi vẫn nóng lòng chờ xem một người dân La Mã biết nhìn xa trông rộng sẽ phê phán các lý lẽ ấy ra sao.
«Ngài có đủ thì giờ thi hành các sự cải cách Giáo-hội và đào sâu cuộc sinh hoạt tinh thần của giáo dân như ngài mong muốn không? Thực ra thì ngài có thể duy trì được chỗ đứng cuối cùng này của Giáo hội ở miền Đông Nam Á không?»
«Đứng trên quan điểm nhân loại, thật khó mà nói. Đây là Á-châu chứ không phải Âu-châu. Ở đây là còn nhiều ngu si, dốt nát và mê tín nhàm nhí. Giáo-dục là đặc quyền của một thiểu số và họ đôi khi xử dụng giáo-dục một cách sai lầm.
Rốt cuộc chúng tôi chỉ còn tin vào Phúc âm và phép mầu của Đức Chúa Trời».
Vẻ mặt ông sa xuống và ông nói tiếp một cách buồn rầu.
«Tôi dã bị thất vọng, điều tôi không muốn dấu, Nhưng gần đây tòi đã thấy bắt đầu nhen nhúm một phép lạ dường như lại xây đến với Giáo-hội: ấy là sự tồn tại của một niềm tin sáng suốt và sống động nơi đám dân tầm thường, vượt qua khỏi những lỗi lầm của những kẻ cai trị họ. »
Ý ông muốn nói rằng những phép lạ như vậy đôi khi chỉ là những ảo tưởng được tạo ra để an ủi những kẻ tuyệt vọng. Mặt khác, Angel Visconti tin tưởng vững chắc vào siêu nhiên, điều mà tôi vẫn mong đợi. Nhưng tôi là cái thá gì mà lại đi nói nghịch lại điều mà tôi không thể chứng minh ngược lại được? Có lẽ chở xem niềm tin của ông được chuyển sang hành động ra sao có phần hữu ích hơn nên tôi hỏi lại:
«Vậy Giáo hội có đang xúc tiến việc gì để tái lập và phát triển liên lạc với Phật giáo trong tinh thần bác ái Kitô và Phong trào Còng đồng không? »
«Chúng tôi có một vài vị linh mục trong lúc này đang duy trì liên lạc với Phật-giáo và cố gắng thực hiện điều mà ngài vừa ngỏ ý … Ngài nên hiểu
rằng mặc dầu hành động của một vài cá nhân trong Giáo hội có thể đôi khi làm tổn thương danh dự của Giáo hội, nhưng Giáo hội tự nó và bản chất của nó không hề mất danh dự. Sự khẳng định tối hậu của chúng tôi bao giờ cũng là một sự khẳng quyết của tình huynh đệ và lòng bác ái Kitô. »
Câu hỏi tiếp theo của tôi có lẽ hơi khiếm nhã nhưng quan trọng đối với tôi vì tôi muốn biết vị Tổng Thống Thiên Chúa giáo nghĩ sao về sự khẳng quyết của niềm tin ấy.
« Có nhiều tin đồn trong thành phố là một số sinh viên bị bỏ tù và cả nam lẫn nữ đều bị tra tấn, Ngài có tin những lời đồn ấy không? »
«Thật bất hạnh cho tôi buộc phải tin rằng một vài tin đồn ấy đúng với sự thật. Tôi tin rằng gần đây sẽ còn nhiều vụ bắt bớ nữa».
«Ngài có tường trình với Phủ Tổng Thống về việc này không? »
«Tòi đã tường trình nhiều lần nhưng không thể thay đổi được tư tưởng họ » và ông bổng ngừng lại ở điểm này, tôi còn nhớ rõ. Ông cầm ly rượu nhấm nháp và có vẻ cân nhắc những lời lẽ sắp nói một cách thật thận trọng. Đoạn ông mỉm cười và phác họa một cử chỉ phản đối:
«Điều tôi sắp phải nói ra đây có vẻ mâu thuẫn với tất cả những gì tôi vừa nói với ngài nhưng ngài nên biết vì nó rất quan trọng. Nếu công bằng đối với Tổng-thống Cung, thì tôi phải nói rằng, nếu ai yêu cầu tôi phê phán ông theo lương tri riêng của ông ta thì tôi phải công nhận ông có lẽ là người có niềm tin tốt. Vâng phải, người ta quả có mù quáng. Vâng, ông ta bướng bỉnh và bị khuyến cáo sai lầm. Nhưng ông ta đã nổi bật là một vị cứu tinh của đất nước này trong lúc đang chìm đắm trong sự chán chường và thối nát. Tôi nghĩ rẳng lúc này ông đang biện minh những lỗi lầm hiện tại bằng những vinh quang trong quá khứ. Nhưng đó là một sự nhầm lẫn mà chúng ta ai cũng có thể mắc phải và đôi khi còn tin tưởng mãnh liệt là khác nữa. Có lẽ là một trạng thái kỳ lạ nhưng dẫu cũng là sự thật theo ý tôi. Và tôi cũng muốn nói thêm điều này nữa … »
Tôi không bao giờ nghe được điều ông muốn nói thêm đó vì lúc ấy có người kêu tôi ra điện thoại. Harry Yaffa có tin tức muốn cho tôi biết.
«Thưa ông Đại sứ. việc đã xẩy ra rồi. Quân đội ông Cung đã tiến đến tấn công các chùa chiền. Xin ông đến ngay tòa Đại sứ».
Tôi nhìn đồng hồ tay. Lúc đó là mười hai giờ mười lăm phút. Và khi tôi đặt ống nghe xuống, tôi nghe thấy từ xa xôi nhưng rõ ràng tiếng cồng vang dội.
Tôi đã gác bút ngót tháng nay, tự xét mình viết không lại các cha mới, vừa trẻ, sung sức, còn mình viết, theo lối xưa, đã cũ rồi, không ai thêm đọc của mình, vả lại khi trong túi có chút ít tờ dày dày, thà mua báo bạn trẻ viết, đọc sướng hơn … vừa nghĩ như vậy bỗng có đứa cháu thuộc theo nghề viết lách, hỏi bài cho số Xuân LAO ĐỘNG, dịp Tết Giáp Tuất 1994, hễ máu tham nghe có hơi đồng thì mê, tôi lại hứa sẽ viết, độ một tuần nhựt sẽ có bài. Đứa cháu ra về, nghĩ lại cười thầm. Ba tôi là ông nội của thằng cháu, vốn làm nghề thợ bạc và Ba tôi rất ghét việc đàn bà trong tỉnh, các ỷ vợ Chệc và các cô thông, thím ký, ngày thường, không đến đặt làm vòng vàng cho mình có đủ thì giờ làm đẹp và kỹ và nhè cứ chờ gần dịp đầu xuân, Tết tới bên đít, chừng ấy mới đến đặt và hối làm vòng, cà rá, khâu vàng để đeo kịp Tết và vì vậy đẻ ra danh từ: “Đồ chạm Tết” tức vòng bằng vàng đặt làm vào dịp Tết.
Mà cũng ngộ, mỗi đời mỗi khác, tỷ như Ba tôi chuyên làm kiềng cổ, neo đeo tay, các vật ấy vẫn làm bằng vàng, nhưng người thợ thuở đó lại gọi là “thợ bạc”, còn ngày nay, vàng đã quí hiếm và cao giá, vòng đeo tay ít có, chỉ có lặt vặt sợi dây chuyền hay chiếc nhẫn, vẫn làm bằng kim khí như bạc, thau, đồng, v.v .. nhưng người thợ lại đổi gọi “thợ kim hoàn” và các danh từ xưa xưa tỷ như “Sáu Giũa” (vì anh ta chuyên dùng một cây giũa thép và chuyên giũa chiếc cà rá để nhận hạt kim cương hoặc hạt xoàn mới (tức ngọc sản xuất ở Pai linh trên đất Khờ me đỏ (khmer cahom) đất Campuchia v.v .. , tiếng “Sáu giũa” nay cũng ít nghe dùng vì nghề giũa nhẫn xoàn đã bị máy móc thay thế, trong lúc như vậy, thằng cháu lại đặt tôi viết bài cho kịp đăng báo xuân Giáp Tuất tới bên đít nầy.
Tôi đã cạn đề tài, bỗng nhớ lại, viết cho báo Lao Động và hiện nay hãng Ba Son được đề cao, gương ông Tôn Đức Thắng là thợ đầu tiên của Ba Son, mà danh từ Ba Son, mỗi người cắt nghĩa theo một lối và phân phân bất nhứt, chi bằng vậy, mình thử đưa hai chữ Ba Son theo như mình hiểu riêng ra đây, thử cô bác bình luận và xin lấy công tâm xét xem từ Ba Son như viết dưới đây, có đứng vững được không.
Và theo như tôi biết, khi Tây qua đây, đường lộ có rất ít, chính tôi lên đất Sài Gòn vào năm 1919, thì năm ấy còn dùng xe bò kéo nước đi tưới đường cho bớt bụi, và còn nhiều nhà dân chưa có đèn điện và vẫn còn nhiều xóm thắp đèn dầu lửa. Những bước đầu tiên ấy, kể tỷ như từ 1867, khi Tây chiếm ba tỉnh Miền Tầy, dĩ chí những năm lối 1945, tôi biết có ba tiếng Tây ba rọi thông dụng là:
1. Je vais au Cap, nói nguyên câu là “Je vais au cap Saint- Jacques”, và đó là: “tôi đi ra Cấp”, tức đi cap Saint-Jacques và đó là đi Vũng Tàu.
Và muốn đi ra Vũng Tàu đời đó, xin nhớ là chưa có đường bộ, và phải đi đường thủy, có tàu đón ở bến Nguyễn Văn Kiệu tàu chạy bằng hơi nước nấu bằng nồi súp de và chạy cà rịch cà tang ngót bốn giờ ngoài mới tới bến nơi bãi trước. Và đó là gọi tắt, đi tắm biển Vũng Tàu, đa số khách là Tây, là đi Cấp.
2. Một thú tiêu khiển khác của ông Tây bà Đầm đời đó là đi câu cá và cá ở đất Sài Gòn thuở đó thật là nhiều và vùng an ninh nhứt của họ là đi câu nơi gọi tắt là je vais aux mares” (tôi đi nơi có vũng, ao, (mares) nhiều) và đó là
vùng thời Tây chí thời Diệm Thiệu là vùng “ô ma” trại lính tập (cam des tirailleurs) sau đổi làm vùng trường sư phạm, trại công an và xưa kia là vùng có miếu Hiển Trung Từ đời Gia Long, có chùa Kim Chưởng (Kim Chung nói trại) và có miếu cô hồn đời ông Trương Vĩnh Ký còn nhắc, khu “Ô Ma” nầy cũng gọi đường Nước Nhĩ đời Đàng Cựu, tức đường Cống Quỳnh (tên mới tôi chưa biết). Khu nầy thuở đó đất thấp, ao vũng còn nhiều, đi câu thì có cá.
3. Và cái khu quan trọng nhứt là khu Ba Son, nguyên chữ của Tây là “je vais aux Mares à poisson” tôi đi câu nơi ao có cá (mares aux poissons), là Ba Son. Ngày nay đề cao danh từ Ba Son, và đưa bao nhiêu công đào tạo người thợ lành nghề là “thợ Ba Son” nhưng đã quên phứt chỗ đào tạo ra người thợ lành nghề lao động ấy, không phải do hãng Ba Son đào tạo ra mà vốn thật là do nơi trường Máy gọi Ecoles des méaniciens asiatiques (trường dạy máy cho người Á Đông) nay là trường Huỳnh Thúc Kháng Trung học cơ khí. Người mở trường tên Emmanuel Rosel, nay bị lãng quên lu mờ, chớ đó là thầy dạy nghề cho Tôn Đức Thắng và Rosel xuất thân là kỹ sư sở Ba Son, xin tách ra lập trường dạy về nghề coi máy tàu, lái xe ô tô, v.v ..
Tôi cũng được đào tạo nơi trường nầy từ năm 1923 đến năm 1928, tôi còn nhớ buổi xin vào làm thơ ký nơi nầy, chơn ướt chơn ráo, ngày đầu, 27 aout 1923 tôi được tuổi 19, nhờ thầy Thạnh, đầu sở, dắt vô chào ông Rosel, cho hay được bổ nhiệm làm thơ ký tập sự (secrétaire stagiaire) nơi trường, vừa thấy mặt tôi non nhớt, trong bộ y phục phẹt mê (paletot fermé có sáu nút), vừa thấy mặt tôi, chưa hỏi tôi lời nào, ông Rosel vụt quay máy điện thoại và mắng vốn lên phòng Nhơn ty (bureau du persollen) trên dinh Thống đốc Cognacq, rằng trường cần dùng một thơ ký thạo việc mà dinh Thống đốc gởi một bạch diện thơ sanh, còn trẻ hơn học trò của trường và như vậy là tốn cơm trường vô ích. Cũng may trên dinh Thống đốc trả lời rằng thơ ký già thạo việc vẫn không có và hãy tạm dùng, tuy tôi tuổi thơ, nhưng đậu số 3, có thể dùng được và chưa có người theo ý ông Rosel muốn. Tôi buồn
nghiến, vì đầu tiên bị chê bị đuổi, té ra tôi ở trường máy nầy ngót sáu năm mới rõ trường đã đào tạo bao nhiêu thợ lành nghề cho hãng Ba Son, và nơi trường vẫn nhắc tên mấy học trò cũ, trong số có tên Tôn Đức Thắng là đứng vào số học trò khóa mới lập. Và thợ máy về sau lãnh lương rất cao, là cũng nhờ công ông Rosel, bởi ông có công sửa máy xe ô tô cho thống đốc, khi thống đốc hỏi ý kiến Rosel để định lương cho thợ máy, ông Rosel đề nghị lấy số lương của thơ ký soái phủ (tức dinh Thống đốc) làm mẫu, rằng phải cho lương cao thì ông mới dụ và tuyển học trò trường các tỉnh chịu học về máy, vả lại nghề lành giỏi máy và không dịp ăn hối lộ là nên khuyến khích. Cố nhiên thống đốc y lời ông Rosel và những thợ dạy nghề của trường, Rosel đều cấp có nhà để ở (dãy bọc theo đường Pasteur) và khi những thợ máy ấy về hưu, Rosel vẫn vận động cho làm xếp coi máy hoặc hãnh lò đường Đức Hòa, hoặc coi máy tàu các tỉnh miền Tây, Cà Mau, Năm Căn, nhàn hạ. Tôi làm thơ ký nơi trường, dựa hơi Rosel làm chuồng nuôi gà giống cho thống đốc Congacq nuôi gà giống, chuồng lợp bằng thiếc thì chính tôi đi mua và làm còm măng (commande) mua sắt cọt nhe, mua thiếc, tôi không đòi hối lộ và chủ tôi ông Rosel kể công làm cho tôi thăng cấp rất mau, các bạn tôi làm nơi chỗ có tiền phải hai hay ba năm mới thăng một cấp còn tôi vẫn mười tám tháng vẫn được thăng, ỷ công làm chuồng gà mà ai nào biết. Về sau, khi tôi rời trường máy đổi về tòa bố (hành chánh tỉnh Sa Đéc) thì ông Rosel cũng đến tuổi về hưu. Nhà Nước Tây ghi công có đặt một tượng bán thân của Rosel nơi một căn phòng trên lầu của trường, văn phòng và nhà lầu nầy về sau bị thay bằng kiến trúc mới cho trường trung học Huỳnh Thúc Kháng ngày nay, tượng bán thân của ông Rosel còn hay mất, tôi không được biết, duy công của Rosel đối với nghề máy tàu, máy xe, tưởng không nên quên và lẽ đáng nên ghi cho ông ít nữa một bảng đồng tri ân hay một tượng đồng khiêm tốn hay một tên cho một vuông phòng của trường hiện thời mới phải.
Trần Đoàn sinh năm 1937 Vỹ Dạ, Huế. Trung Học Quốc Học Huế. Cầu thủ đội bóng tròn Quốc Học. Viết báo Sinh viên Y khoa Tình Thương, nối tiếng với loạt bài “Thằng Cu hay Cái Bướm”. Tốt nghiệp Y Khoa Sài Gòn 1965. Sinh viên Quân Y Hiện Dịch Khóa 12, gia nhập binh chủng Nhảy Dù, Y sĩ trưởng TĐ2QYND, Y sĩ điều trị Bệnh viện Đỗ Vinh tới 1971. Quân Y viện Nguyễn Huệ Nha Trang. Cấp bậc cuối cùng Thiếu Tá. Sau 1975, tù Cộng sản, vượt biển tìm tự do, định cư ở Mỹ và hành nghề Y khoa tại Virginia. Pháp danh Nguyên Tu, mất ngày 1 tháng 6, 2017 thọ 80 tuổi.
Mũ Đỏ Trần Đoàn Y Sĩ Trưởng Tiểu Đoàn 2 Nhảy Dù Viết Về Nghiêm Sỹ Tuấn
50 năm, một nửa thế kỷ của cuộc đời đã trôi qua từ khi tôi về đảm nhận chức vụ Y sĩ Trưởng TĐ2/ND. Trí nhớ cũng phôi pha theo thời gian. Thế nhưng một chặng đường gần 6 năm đội chiếc mũ đỏ vẫn là một dấu ấn khó quên, vì đó là một giai đoạn của tuổi thanh niên đầy nhựa sống, tích cực hăng hái đóng góp bàn tay bảo vệ Tự do cho Quê hương, vừa gian lao vừa hãnh diện. Chiến tranh Quốc gia / Cộng sản từ năm 1965 bắt đầu sôi động dữ dội. Rối loạn chính trị miền Nam tạo cơ hội thuận tiện cho quân chính quy Bắc Việt dễ dàng xâm nhập khắp thôn ấp và các vùng ven đô thị. Sau 7 năm dùi mài kinh sử, chúng tôi là Sinh viên Quân Y hay Dân y trưng tập đều được phân phối về các đơn vị chiến đấu hay các Bệnh viện dã chiến để băng bó các vết thương của bom đạn. Làm sao tránh khỏi lo âu và xúc động khi chỉ nội trong năm 1964- 65 mà đã có 7 Y sĩ hy sinh tại chiến trường. BS Đoàn Mạnh Hoạch ngã gục trước lằn đạn địch ở Quảng Ngãi 1964. BS Trương Bá Hân / TQLC tử trận ở Bình Giả 1964.
Các đàn anh chỉ hơn tôi có một lớp, mới ngày nào cùng nhau thực tập trong Bệnh viện Chợ Rẫy, Bình Dân, v.v … có anh là nội trú xuất sắc, xứng đáng là bậc thầy trong Y nghiệp, hứa hẹn một tương lai xán lạn, thế mà cũng bị hy sinh tại trận địa mấy tháng sau khi đáo nhận đơn vị. Sinh viên Quân Y vào năm cuối được liên tục luân phiên gác xác các đàn anh tử trận trong năm 1965:
– BS Phạm Bá Lương ngã gục ở Bầu Bàng.
– BS Nguyễn Văn Nhứt tử thương khi đoàn xe di chuyển bị phục kích ở rừng cao su Dầu Tiếng.
– BS Trần Thái hy sinh tại Bà Rịa.
– BS Trần Ngọc Minh, Y sĩ Trưởng TĐ5/ TQLC bị đâm vào ngực trong một trận xáp lá cà với Việt cộng tại Thăng Bình.
– BS Đỗ Vinh, Y sĩ Trưởng TĐ5/ND bị mảnh pháo trúng ngay vào đầu khi đang săn sóc thương binh. Ngày đưa tang, Thiếu tá TĐT/TĐ5ND Ngô Quang Trưởng và Quân nhân các cấp, các đơn vị bạn ngậm ngùi thương tiếc tiễn anh ra mộ huyệt. Tôi vẫy tay chào anh, từ bỏ anh em quá sớm. Chiếc áo Hoa rừng và Mũ đỏ của binh chủng hào hùng thiện chiến vẫn có một mãnh lực hấp dẫn máu giang hồ, điếc không sợ súng của chúng tôi, ba thằng bạn xuất thân từ xứ Huế, học cùng lớp, ăn cùng mâm, ở cùng phòng trong trường Quân Y Chợ Lớn. Lê Văn Châu, con của Tướng Lê Văn Nghiêm, tức là nhà văn Trang Châu, còn có biệt danh là “Châu cá ngựa” vì anh có mặt tại trường đua Phú Thọ hằng tuần. Đoàn Văn Bá, tục gọi là “Bá điên” còn được gọi là “l’homme des situations difficiles” vì anh bạo ăn bạo nói, chỗ nào gặp khó khăn với cấp trên là có anh. Anh bị kẹt lại trận Mậu Thân ở Huế trong chuyến nghỉ phép về thăm nhà, được quân đội Mỹ giải cứu trong gang tấc, đưa anh về căn cứ MAC-V, giúp giải phẫu cứu mạng rất nhiều quân nhân Mỹ bị trọng thương và được tuyên dương tưởng thưởng huy chương Bronze Star Hoa Kỳ.
Còn tôi, được các bạn gán cho biệt danh “Đoàn cái bướm” vì tôi viết bài “Thằng Cu hay Cái Bướm” đăng nhiều kỳ trong Đặc san Tình Thương của sinh viên Y Khoa thời ấy.
Một trang báo “Thằng Cu hay Cái Bướm” của Trần Đoàn và Phan Nhơn (tên của Chị Trần Đoàn) bắt đầu khởi đăng trên Nguyệt san Tình Thương từ số 5, tháng 5, 1964 đến số 7, tháng 7, 1964 Bảng hiệu “Bệnh Xá Đỗ Vinh” (1) nền trắng chữ đỏ mới toanh, còn ướt màu sơn treo trên khu nhà bằng gạch hai tầng của Bệnh xá Nhảy Dù 50 giường không làm chúng tôi sợ sệt mà còn cảm thấy một cái gì vinh quang khi trình diện thụ huấn khóa 68 Nhảy Dù vào tháng 8/1965. Ba thằng bạn thân, không ai dám rủ ai vào nơi nguy hiểm, đều có mặt. Cổng trại Hoàng Hoa Thám thẳng tắp con đường tráng nhựa rợp bóng mát của hai hàng cây đưa đến các dãy doanh trại xây bằng gạch vững chắc sơn màu vàng, ngay ngắn sạch sẽ là con đường quen thuộc, thân thương của chúng tôi từ dạo ấy.
Bóng dáng các đàn anh đeo bằng “Nhảy Dù điều khiển” như BS Văn Văn Của, BS Trần Tấn Phát … kích thích lòng tự ái liều lĩnh của chúng tôi trong niềm cảm phục kính nể. Chiếc Mũ Đỏ được đội lên đầu sau 3 tuần huấn luyện ướt đẫm mồ hôi, bò lết, hít đất, nhảy chuồng cu và 6 sauts nhảy dù ở Hóc Môn – Củ Chi. Cánh hoa dù T10 xẹt mở rộng lộng gió tung bay mát rượi trong bầu trời trong xanh ôm trọn một phần của vũ trụ bao la là những giây phút thần tiên ngắn ngủi của người lính Mũ Đỏ. Sau đó thì nguy hiểm bắt đầu rình rập. Saut đêm bị hủy bỏ vào phút chót vì tình hình an ninh bãi nhảy không cho phép, có người lính nhảy xuống bị mất tích không tìm ra dấu vết. “NHẢY DÙ – CỐ GẮNG” là một khẩu hiệu có mãnh lực xô chúng tôi phóng ra cửa máy bay sau tiếng hét “Go” của Huấn luyện viên, và là châm ngôn giúp chúng tôi vượt qua chặng đường hành quân vất vả, cực nhọc. “Nhảy Dù – Cố Gắng” gắn bó theo giúp chúng tôi suốt cả cuộc đời, nào là khi bị hành hạ xài xể trong trại tù cộng sản, nào là khi gặp sóng gió, bão tố, ói mửa trong chiếc ghe nhỏ trên đường vượt biển tìm tự do, khi lao động chân tay để có tiền mua sách học lấy lại mảnh bằng hành nghề, khi đau ốm bệnh hoạn và cả khi tu tập chuyển hóa tâm linh.
Sĩ quan Y Nha Dược Tiểu đoàn Quân Y Dù (Hình chụp trước bệnh viện Đỗ Vinh), từ trái, hàng đầu: BS Hoàng Cơ Lân, BS Hoàng Ngọc Giao, BS Vũ Văn Quynh, BS Đoàn Văn Bá, BS Trần Đoàn, BS Trần Đức Tường; hàng sau: BS Cố vấn Smith, BS Trần Đông A, BS Lê Văn Châu, Nha sĩ Nguyễn Văn Y, BS Vũ Khắc Niệm, BS Đinh Hà, Dược sĩ Nguyễn Mậu Trinh. [Ghi chú của Trang Châu, tư liệu BS Trần Tấn Phát]
BS Lê Trọng Tín biệt phái về làm Y sĩ Trưởng TĐ1/ND – Lê Văn Châu TĐ6/ND – Đoàn Văn Bá về TĐ7/ND – Trần Trọng Nghị về TĐ9/ND và tôi về TĐ2/ND. TĐ2/ ND là một Tiểu đoàn tân lập đóng ở Bà Quẹo, sát nách phi trường Tân Sơn Nhất, không xa cổng trại Hoàng Hoa Thám. Thế là tôi may mắn được ở ngay Sài Gòn, sớm tối được về chăm sóc vợ đang mang bầu. Vợ tôi còn là sinh viên trường Dược. Lương Y sĩ Nhảy Dù phải gói ghém lắm mới đủ sống.
Lần xuất quân thử thách đầu tiên của tôi vào cuối năm 1965 lại là với chức vụ Y sĩ Trưởng/TĐ3ND thay thế BS Nguyễn Đức Liên đi phép về hậu cứ. Trời Sài Gòn 4 giờ sáng còn mờ sương, chiếc C123 rù máy xé tan bầu không khí tĩnh lặng, lạnh lùng cất cánh rồi đáp xuống phi trường Quy Nhơn sau hơn một giờ bay. Phi cơ há miệng đằng đuôi nhả ra hơn trăm binh sĩ súng đạn đầy mình sẵn sàng ra bổ sung cho chiến trường Tam Quan, Bồng Sơn. Phi đội Trực thăng tiếp tới gắp chúng tôi đưa thẳng vào chiến địa còn hôi tanh mùi máu và thuốc súng, bay sà sát rừng dừa xơ xác ngả nghiêng cháy xám.
Y sĩ Trưởng Thiếu tá Hoàng Cơ Lân dẫn tôi vào chào Tướng Tư Lệnh Dư Quốc Đống trong một căn lều. Ông đang ở trần, mặc quần xà lỏn, đen đui đủi, vây quanh bởi các sĩ quan của Bộ Chỉ huy, mồ hôi nhễ nhại. BS Liên đón tôi về trạm cứu thương TĐ3/ ND tạm trú dưới một mái nhà tôn đầy dấu đạn. Các Y tá còn bận rộn thu dọn y cụ vì công việc tản thương vừa mới được hoàn tất tối hôm qua. Thiếu tá Hưng TĐT, nước da rám nắng có vẻ âu lo. Đại úy TĐP Trần Quốc Lịch người cao to, đầu trọc lóc trông rất “ngầu”, sau này ông lên đến cấp Tướng chỉ huy Sư đoàn. Hằng ngày tôi làm dân sự vụ, khám bệnh, phát thuốc, chăm sóc ngay cả các bà đang có bầu mà tác giả không ai khác là những du kích địa phương. Lòng nhân đạo của người Y sĩ không phân biệt bạn hay thù. Tôi thương người dân, tôi thương những trẻ em lớn lên ở vùng đất mất an ninh này, không biết đâu mà lựa chọn. Tôi thông cảm nỗi khổ của họ khi sinh sống trong vùng xôi đậu.
Đồi 10, một ngọn đồi nổi tiếng khó tiến chiếm vì Cộng quân đào hầm địa đạo từ chân đồi lên đến đỉnh đồi và đặt thượng liên nhắm bắn vào trực thăng bao vùng xạ kích yểm trợ – Một ngọn đồi đẫm máu đã được ghi vào chiến sử. Chuẩn úy Lê Hồng, xuất thân từ Hạ sĩ quan, là Sĩ quan Ban 3 tiểu đoàn sau khi thụ huấn xong khóa sĩ quan đặc biệt về. Người anh nhỏ con nhưng giọng nói Quảng Bình rõ ràng chắc nịch qua máy truyền tin vang to suốt cả ngày đêm để điều động các Đại đội đang lục soát quanh vùng. Là người lính chăm chỉ, gan dạ và khuôn phép, anh leo dần lên đến chức vụ TĐT/TĐ1ND rồi Trung tá Lữ đoàn phó khi tàn cuộc chiến. Tôi cảm phục sự nhẫn nhục của anh khi thấy anh bất chấp nặng nhọc lao động khuân vác trong một tiệm tạp hóa vùng Arlington, VA để sinh sống và nuôi ý chí cương quyết về giải phóng quê hương thoát khỏi gông cùm cộng sản. Ước nguyện không thành, anh bỏ xác tại vùng biên giới Thái-Lào trong niềm thương tiếc khôn cùng. Trạm Y tế TĐ2/ND nằm trong một gian nhà tiền chế của doanh trại, mái tôn nền đất. Y tá Trưởng, thượng sĩ “Hưng mù”, đeo kính cận dầy cộm, có nhiều kinh nghiệm từ hồi còn là Y tá trong quân đội Pháp, tháo vát và khéo xã giao, giúp tôi và đội Y tá trên dưới 20 người dọn dẹp phòng ốc, sắp đặt dụng cụ thuốc men. Vài ba anh lính trẻ khai bệnh lậu đái ra mủ vì không được hướng dẫn dùng bao cao su khi giao hợp với “chị em ta” phân trần: “Đời lính xa nhà mà bác sĩ”. Tôi làm quen dần với các sĩ quan bộ chỉ huy và các đại đội. Chuẩn úy Võ Văn Thu, nguyên là Y tá TĐ5/ND vừa thụ huấn khóa sĩ quan Thủ Đức trở về nắm giữ chức vụ sĩ quan Hậu cứ, thường lui tới thăm hỏi và giúp đỡ trạm Y tế. Anh được ông TĐT, cũng xuất thân từ TĐ5/ND, tin cậy thương mến và nâng đỡ vì tinh thần phục vụ đắc lực của anh. Chức vụ cuối cùng của anh là TĐT/TĐYT/SĐND với cấp bậc Trung tá. Nghe nói ngày di tản qua Mỹ, sống ở Washington State, giữa xứ lạ quê người, tinh thần anh bị suy giảm. Anh cạo gió cho con anh khi nó bị ho cảm. Mấy lằn vết đỏ sau lưng và trước ngực làm cho cô giáo nghi anh đánh đập ngược đãi trẻ con. Anh phản kháng khi cảnh sát đến còng tay anh. Vì quá uất ức, anh treo cổ tự tử trong tù. Đại úy Lê Quang Lưỡng, vừa mới được thăng chức Thiếu tá mấy tháng trước, nắm chức vụ TĐT/TĐ2ND. Ông là người chiến binh mang nhiều thương tích và chiến tích, vào sinh ra tử biết bao nhiêu lần với những chiến công như An Lộc, Mậu Thân, Hạ Lào, v.v … oanh liệt vẻ vang. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu gắn cấp bậc Chuẩn tướng và bổ nhiệm ông nắm chức vụ Tư Lệnh/SĐND vào năm 1973 (?).
Ngày đoàn quân xa trên 30 chiếc chở Tiểu đoàn tân lập về Trung tâm huấn luyện Vạn Kiếp Bà Rịa để thụ huấn, chưa kịp ra tới đầu xa lộ Biên Hòa thì xui xẻo gặp lúc cộng sản pháo kích vào thành phố Sài Gòn. Vài ba quả nổ tung tóe rớt ngay trên đường Phan Thanh Giản giữa lúc dân chúng tấp nập đi làm buổi sáng.
Cảnh tượng hỗn độn và hoảng hốt vì mọi người hối hả chạy tìm chỗ ẩn núp sau mấy gốc cây. Đoàn xe bị khựng lại, mãi hơn giờ sau mới tiếp tục lộ trình về đến nơi đến chốn an toàn. Sau 3 tháng huấn luyện, Tiểu đoàn được chuyển về đóng quân ở vòng đai Sài Gòn, vùng Tân Quý, Hóc Môn, Bà Điểm. Tiểu đoàn phó, Đại úy Trần Kim Thạch, nhỏ con, bị thương ở háng nên khó khăn khi ngồi vệ sinh. Ông xuất thân từ Hạ sĩ quan của Nhảy Dù Pháp, vui tính, lanh lẹ và can đảm. Một buổi chiều, trời chạng vạng tối, tôi thấy ông hối hả cười vang chạy bộ thình thịch về bộ chỉ huy với hai người lính cận vệ, trên vai mỗi người còn mang thêm một khẩu AK. Tiểu đoàn phó mà chịu chơi nằm lại phục kích bên bờ lau sậy sau khi cả Tiểu đoàn tảo thanh lùng địch đã rút trở về. Hai năm sau ông nắm chức vụ TĐT/ TĐ2ND ghi thêm nhiều chiến công oanh liệt cho Tiểu đoàn. TĐ2/ND đã đủ lớn mạnh để chuyển vận ra vùng địa đầu giới tuyến. Ngày quân xa chở Tiểu đoàn từ Huế ra Quảng Trị, một đoạn đường dài hơn cả cây số khi gần đến làng Mỹ Chánh, bị cày nát và còn nóng hổi vết tích bom đạn đầy mảnh vụn của xe bị cháy đen hòa với máu đỏ. Ruộng lúa hai bên xơ xác tơi bời ngả nghiêng, dấu vết của TĐ2/TQLC bị phục kích mới ngày hôm qua. Thiếu tá TĐT/TĐ2 Trâu Điên Lê Hằng Minh hy sinh ngay từ phút đầu. Đoàn quân xa dè dặt, thận trọng chậm rãi di chuyển trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Không khí ngột ngạt. Đến thành phố Quảng Trị, tôi bị choáng váng, ngộp thở vì ngọn gió Lào độc địa thổi về. Hôm sau, trực thăng vận thả Tiểu đoàn xuống các ngọn đồi trống vùng Cùa, những ngọn đồi mọc đầy những bụi hoa sim tím. Những cánh hoa còn ướt sương mai long lanh trong nắng sớm. Tôi ngắt hoa ép vào quyển nhật ký hành quân và thầm đọc bài thơ “Những đồi hoa sim tím” của thi sĩ Hữu Loan, mong rằng ngày tôi về vẫn còn gặp nàng …
Toán Tiền sát báo cáo bắt được một cán binh Việt cộng đang ngơ ngác cầm bản đồ và ống nhòm quan sát trận địa. Khai thác cho biết Tiểu đoàn Cộng sản đang trên đường xâm nhập. Chiều về, Tiểu đoàn di chuyển ra khỏi làng và đóng quân trên dãy đồi cao thấp nối tiếp thoai thoải. Chập tối, Ban 3 Tiểu đoàn báo cáo mất liên lạc với Tiểu đội nằm lại phục kích trong làng. Tôi duỗi chân nằm thẳng trên cỏ, đếm sao lấp lánh trên trời và thiếp đi, rã rời chân tay. Thình lình nửa khuya, địch nổ súng ồ ạt la hét: “Hàng sống, chống chết” bò lên tấn công. Giao tranh cận chiến ác liệt. May thay cây thượng liên của chúng đặt trên đồi cao hướng về bộ chỉ huy và toán Quân Y kế cận chưa kịp khai hỏa thì bị binh sĩ Nhảy Dù tiêu diệt. Phi cơ phản lực liên tiếp thả bom Napalm vào khu rừng dưới đồi. Xác địch banh thây cách chỗ tôi nằm không quá 50 thước. Băng bó, tản thương không ngừng tay. Ngay tối hôm đó, đài cộng sản oang oang nêu thành tích là đã giết được 15 lính ngụy Dù, một con số chính xác mà Ban 3 Tiểu đoàn vừa mới báo cáo thiệt hại về Sư Đoàn buổi sáng sớm. Phải chăng có nội tuyến nằm ngay trong BTL/ SĐND, tôi đắn đo suy nghĩ. Về trạm dưỡng quân ở Đông Hà, tôi gặp BS Vũ Khắc Niệm, Y sĩ trưởng TĐ8/ND. Hai anh em rủ nhau đi uống bia cho đỡ them khát dưới cái nắng nóng gay gắt của miền Trung. Một chai bia cao hiệu con cọp ướp lạnh giá 50 đồng. Tôi lục lọi mãi hết trong các túi bộ đồ trận lôi ra đếm được 49 đồng. BS Niệm cho tôi thêm 1 đồng. Tiếng nổ của cây súng AK nghe có phần chát chúa và khiếp đảm hơn cây súng Carbine M1, M2 cổ lỗ sĩ hay bị kẹt đạn. Trung Cộng và Liên Xô âm thầm trang bị cho Bắc Việt vũ khí ngày càng tối tân hơn. Đến cuối năm 1966, khi đóng quân ở làng An Hòa ngoài thành phố Huế, TĐ2/ND mới được Ngũ Giác Đài phê chuẩn viện trợ súng AR-15, AR-16 thay thế.
Hạnh phúc của người lính trận lội bộ dài ngày khi được về dưỡng quân vùng khá an ninh rất đơn giản là tháo được đôi giày trận và đôi vớ hâm hẩm hôi thối, chùi được các ngón chân mốc meo, rửa được bộ sinh dục bầy nhầy và lắm khi là móc được cục phân cứng như đá ra khỏi hậu môn vì ăn thiếu rau, uống thiếu nước, không có thì giờ đi đại tiện. Lính Nhảy Dù bị bệnh trĩ nhiều là vì nguyên do như thế. Bộ đồ trận tanh tanh mồ hôi và dơ bẩn giặt phơi chưa kịp ráo thì có lệnh di chuyển. Một tuần phát lương khô gạo sấy chất vào ba-lô. Tình báo cho biết địch vượt sông Bến Hải xâm nhập vào phía nam vùng phi quân sự. Tiểu đoàn lại được trực thăng vận đổ quân xuống sát hàng rào McNamara. Xa xa về phía Tây, bụi khói bay ngút trời do B52 rải bom ầm ầm nghe ghê rợn. Cả tiểu đoàn di chuyển đội hình hàng một xuyên rừng rậm đầy gai góc theo bước chân của khinh binh đi trước phát quang. Chim chóc và côn trùng vắng tiếng hót. Cái im lặng khá rùng rợn khi dừng chân ngủ đêm. Thằng Y tá tên Dân thân cận của tôi sửa soạn đào hầm cá nhân cho “ông thầy”. Một nhát xẻng nhấn xuống là một ánh lửa tóe lên vì chạm vào đất đầy sỏi đá. Tôi không đành thấy nó hì hục cực nhọc nên ngăn nó dừng tay, chấp nhận số mạng rủi ro. Chiếc võng treo thấp đu đưa ru tôi vào giấc ngủ đầy mộng mị chết chóc. Vào khoảng 2 giờ sáng, địch pháo kích hàng loạt súng cối, tung tóe sấm sét vào vùng đóng quân. Một quả 60 ly chớp nổ cách chiếc võng khoảng 10 thước, hất tôi lăn ngã xuống đất. Tôi cảm thấy đau
rát nơi hai mông, đưa tay sờ vào thì đỏ ướt máu. Tôi đã bị thương nhưng biết mình còn sống. Giọng ông TĐT vang lớn giữa những tiếng pháo kích còn nổ vang:
– “Bác sĩ, bác sĩ, tôi bị thương”. Tôi do dự định chạy đến nhưng anh Y tá cận vệ thấy nguy hiểm níu tôi lại và trả lời lớn:
– Thưa Thiếu tá, “BS cũng bị thương”. Đại đội Trưởng Thạch Văn Thịnh xui xẻo bị một quả rơi đúng chỗ ông nằm. Doanh trại từ đó mang tên của người Đại đội Trưởng đầu tiên của TĐ2/ND bị tử trận. Trung đội Trưởng Trần Công Hạnh dẫn Trung đội ngang bộ chỉ huy và tiến về phía địch, nơi đặt pháo. Chiến đoàn Trưởng Đào Trọng Hùng la hét điều quân. Ông nổi tiếng là người chỉ huy can đảm không bao giờ khom lưng tránh né đạn khi lâm trận mà đạn biết tránh né ông. Chiếc khăn đỏ quấn quanh cổ được xem như là bùa hộ mạng. Một bên lưng đeo khẩu súng lục chỉ huy, một bên kia đeo một bi-đông rượu đế, đường đường một đấng. Bác sĩ Hà tục gọi là “Hà chảy”, người ông dong dỏng cao, Y sĩ trưởng TĐ8/ND vừa đi vừa ôm bàn tay bị thương vừa chửi thề: “Địt mẹ, tao có muốn về Nhảy Dù đâu mà bị thương như thế này”. BS “Hà chảy” là dân y trưng tập, học cùng lớp với tôi, chưa kịp bổ đi đơn vị nào khi ra trường thì lại miễn cưỡng bị trưng dụng tạm thời vì Nhảy Dù thiếu Y sĩ. Y tá xuôi ngược chăm sóc thương binh, trực thăng liên tiếp đáp xuống tản thương. Mỗi lần hành quân 2-3 tháng về hậu cứ là quân số Tiểu đoàn hao hụt hơn phân nửa. Tiểu đoàn Vương Mộng Hồng – Khối Bổ Sung phân phối về Tiểu đoàn nhiều tân binh chưa kịp hoàn tất xong khóa nhảy dù;
Vùng I, vùng giới tuyến sùng sục dầu sôi lửa bỏng. Hành quân bấy giờ không còn là cấp Tiểu đoàn lẻ tẻ mà là Chiến đoàn gồm 2-3 Tiểu đoàn che chở yểm trợ cho nhau. Hành quân với thiết vận xa của Việt Nam Cộng Hòa hay với chiến xa lội nước của Hạm Đội 7 Hoa Kỳ tăng cường thường dễ dàng hơn khi tiến chiếm mục tiêu và ít bị thiệt hại.
BS Trần Đoàn đang khám bệnh tại Bệnh viện QYND Đỗ Vinh
[tư liệu BS Trần Tấn Phát]
Cuộc hành quân “nhảy dù trận” của TĐ2/ND xuống đồng bằng sông Cửu Long vào giữa năm 1966 có lẽ là saut nhảy xuống trận địa cuối cùng của binh chủng Nhảy Dù vì sau đó trực thăng là phương tiện đổ quân nhanh chóng và ít nguy hiểm. Cả một rừng chiếc “nấm” úp xuống khoảng ruộng nước bao la. Tôi xếp dù an toàn gom vào một chỗ với Đại đội 20 rồi tiếp tục bì bõm tiến theo đoàn quân. Vì bất ngờ nên địch quân không kịp bắn lên trong lúc chúng tôi còn lơ lửng trên trời trong buổi sáng sớm như trong phim “The Longest Day” khi quân đồng minh nhảy dù xuống Normandie. Chạm súng lẻ tẻ với du kích, địch tránh né rút vào rừng tràm. Vũng nước nào cũng có tôm có cá giúp cho chúng tôi có thêm thực phẩm tươi phụ trội.
Tổ chức SĐ Nhảy Dù từ năm 1966 đã nâng cấp số từ Liên đoàn thành Sư đoàn. Đại đội Quân Y Nhảy Dù thành Tiểu đoàn Quân Y Nhảy Dù. Bệnh xá Đỗ Vinh 50 giường thành Bệnh viện Đỗ Vinh 100 giường. Pháo binh, Truyền tin … nâng quân số từ Đại đội lên Tiểu đoàn. Chiến đoàn đổi thành Lữ Đoàn gồm 3 tiểu đoàn khi hành quân cho kịp với chiến tranh leo thang ngày càng khốc liệt. Lữ đoàn 3 ND của Trung tá Nguyễn Khoa Nam đóng gần bộ chỉ huy TĐ2/ND ở vùng Tân Quý. Các Đại đội phân chia đóng ở các thôn ấp chung quanh. Tình báo cho hay Tiểu đoàn đặc công cộng sản mò về sát vòng đai Sài Gòn, thuộc xã Vĩnh Hạnh, Vĩnh Lộc.
Lệnh hành quân lục soát ban ra. Trung đội tiền phong do Trung đội Trưởng Trần Công Thọ vừa ra trường khóa 20 Võ Bị Đà Lạt chạm súng. Cả Tiểu đoàn tiến lên tốc chiến tốc thắng đẩy địch bỏ chạy rút vào vùng kinh lạch Đức Hòa, Đức Huệ để lại gần 100 xác và súng ống đủ loại. Thiếu úy Trần Công Thọ bị ngay một viên đạn giữa đỉnh trán, chết ngọt lịm không kịp trăn trối, nằm cách chỗ tôi không quá 20 thước. Tôi đưa tay vuốt mắt anh, không thấy chảy máu, mặt anh còn tươi tắn như thiên thần ngủ quên. Nhạc phẩm “Tạ Từ Trong Đêm” của Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh viết lên để riêng tặng anh, BS Bùi Thế Cầu, nguyên Thiếu tá Y sĩ trưởng TĐ5/ND đang nắm giữ chức vụ Tỉnh trưởng tỉnh Gia Định cùng giới chức hành chánh dân sự cao cấp và báo chí tháp tùng thực thăng xuống ngay trận địa để chứng kiến tận mắt và tán dương. Danh tiếng TĐ2/ND nổi như cồn trên trang đầu các tờ báo Sài Gòn. Đại đội 23 tập hợp nhiều Trung đội trưởng họ “TRÂN” trẻ trung, gan dạ, thương mến nhau như anh em ruột thịt. Một Trần Công Thọ đã rơi rụng. Một Trần Duy Phước cũng rụng rơi năm sau đó, còn lại Trần Công Hạnh leo dần đến chức vụ Tiểu đoàn trưởng TĐ2/ND. Đại đội trưởng Trần Công Danh rời Tiểu đoàn chuyển hoán về đơn vị khác – Đại đội trưởng Phạm Kim Bằng bị thương hư một mắt – Đại đội trưởng Trần Như Tăng bị thương gãy chân – Đại đội trưởng Nguyễn Văn Được giã từ vũ khí ở vòng đai Sài Gòn. Ngày tiễn anh ra mộ huyệt có 3 bà mặc áo quần đen dài chít khăn tang trắng sụt sùi sau quan tài – Đại đội trưởng Lê Văn Mạnh Đại đội 20 lên cầm chỉ huy TĐ2/ND một thời gian. Toán Y tá của tôi gần 2 năm trời không ai bị hy sinh trừ một vài bị thương nhẹ. Tôi khâm phục tinh thần gan dạ của Y tá Nhảy Dù, luôn luôn xông vào tuyến đầu ngay dưới lằn đạn địch để băng bó vết thương cho đồng đội. Y tá trưởng Thượng sĩ Hưng “Mù” được Y tá trưởng Trung sĩ nhất Be về thay thế. Anh Y tá trưởng mới này cũng thuộc loại “chì” không kém.
Hành quân vùng Củ Chi – Hậu Nghĩa thường bị mìn bẫy nguy hiểm. Một chiếc Chinook chở gần cả đại đội bay sà sà sát mặt đất để tránh khỏi bị bắn tỉa khi đổ quân. Thế mà xui thay, viên Đại úy Cố vấn Mỹ mới về Tiểu đoàn, ngồi cạnh ông Tiểu đoàn Trưởng là người duy nhất bị trúng một viên đạn bắn lên xuyên qua, chết ngay tại chỗ. Vùng I chiến thuật lại khẩn điện về Bộ Tổng Tham Mưu cầu viện các binh chủng tổng trừ bị như Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến. Dân chúng vùng Huế, Quảng Trị, Đông Hà an tâm khi có sự hiện diện của các binh chủng này. Tổng trừ bị gì mà ăn dầm ở dề tháng này qua tháng nọ giống như là Địa Phương Quân.
TĐ2/ND trở lại Huế, hành quân lần này có Trung đội Thiết giáp M113 yểm trợ. Những “con cua khổng lồ” dàn hàng ngang dậm chân trước một địa thế nghi ngờ. Trung đội khinh binh tiến sát vào hàng rào tre cao vút dày đặc của làng Đông Xuyên – Mỹ Xá, quận Quảng Điền. Im lặng đến ngộp thở. Chưa thấy động tĩnh thế nào cả. Bộ chỉ huy Tiểu đoàn dè dặt từng bước. Đợi đến khi thấy các cần câu của máy truyền tin PRC25 của Bộ Chỉ huy gần kề thì địch khai hỏa. Thiết Giáp đã dàn hàng ngang rồi ầm ầm nhào tới khạc đạn đại liên xối xả vào mục tiêu. Lính Nhảy Dù xung phong như sóng vỡ bờ. Lựu đạn thi nhau ném vào các hầm hố mới thanh toán được các ổ thượng liên mà xạ thủ bị còng chân tử thủ với nhau. Lựa đến khi trời tối địch nương theo kinh rạch để mà chém vè, rút sâu vào làng. Nhiều xác địch và vết máu để lại trên đường tháo chạy. Các binh sĩ mang máy theo bộ chỉ huy bị thiệt hại tính mạng khá nặng. Ông Tiểu đoàn trưởng vẫn bình tĩnh điều quân. Thiết giáp không bị hư hại chiếc nào cả. Trực thăng rọi đèn tải thương trong đêm tối. Mồ mả quanh bờ làng là nơi che chở cho chúng tôi gối đầu qua đêm. BS Trần Lâm Cao tháp tùng các Sĩ quan Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 theo trực thăng tản thương từ Quân Y viện Nguyễn Tri Phương đáp xuống trận địa khi chiến trường đã thu dọn xong buổi sáng. Một chiến thắng quân địch sát nách thành phố Huế làm chấn động người dân thị thành. Chiến thắng nào mà không đổi lại bằng xương máu. Viết đến đây lòng tôi bỗng chùng vì xúc động. Những khuôn mặt người lính thân thương đó hiện rõ trong ký ức của tôi. Họ nằm xuống vì vết đạn vào đầu, vào tim, vào phổi nằm la liệt trước mặt tôi. Người Y sĩ Tiểu đoàn hoàn toàn bất lực trước những vết thương không có phương tiện cứu chữa. Tôi xin cầu nguyện cho các anh an giấc ngàn thu và không hận thù. Chúng ta đều chia sẻ một đau thương chung của vận nước nổi trôi.
Tôi bàn giao toán Y tá cho BS Trần Lâm Cao làm tân Y sĩ trưởng TĐ2/ND vì đáo hạn nhiệm kỳ 2 năm phục vụ Tiểu đoàn. Tôi được thăng cấp Đại úy và nhận nhiệm vụ mới là Y sĩ trưởng Đại đội 3/QYND, thường đóng chung với bộ chỉ huy Lữ đoàn 3 ND của Trung tá Nguyễn Khoa Nam khi đi hành quân. Sau này ông là Tướng Tư lệnh vùng 4 và tuẫn tiết không chịu đầu hàng địch. Danh thơm của ông ấy còn vang mãi trong hậu thế.
Tin dữ từ mặt trận đưa về. BS Nghiêm Sỹ Tuấn học cùng lớp, là BS dân y trưng tập, tình nguyện về TĐ6/ND, cũng chỉ còn một tháng nữa là mãn nhiệm kỳ phục vụ cấp Tiểu đoàn bị tử trận tại Khe Sanh khi đang săn sóc thương binh. Anh đã 2 lần bị thương, một ở Dakto, một ở Cao Lãnh. BS Lê Hữu Sanh, bạn cùng khóa, người thường được chọn cầm cờ đi hàng đầu trong các cuộc diễn hành của trường Quân Y vì dáng anh cao lớn, tử trận khi anh đang làm Y sĩ trưởng một Tiểu đoàn TQLC. Cuối năm 1970, tôi giữ chức vụ Y sĩ trưởng Bệnh viện Đỗ Vinh/ SĐND và được thăng cấp Thiếu tá. Khoảng tháng 3/1971, tôi đang thụ huấn tại Bệnh viện Brooks Hospital, thành phố San Antonio, Texas thì nhận được tin nhiều Y tá TĐ2/ND hy sinh tại mặt trận Hạ Lào. Lòng tôi quặn thắt. Tôi rời binh chủng Nhảy Dù về phục vụ tại Quân Y viện Nha Trang để được gần gia đình. Chiếc Mũ đỏ và bộ hoa dù vẫn còn quyến luyến cho đến khi tôi giải ngũ vì đắc cử Nghị viên Thành phố Nha Trang năm 1974. Viết những dòng kỷ niệm của nửa thế kỷ trước không sao tránh khỏi thiếu sót và nhầm lẫn, rất mong các bạn đọc đính chính và thông cảm.
Tôi xin nghiêng mình tưởng niệm những Quân nhân Binh chủng Nhảy Dù đã nằm xuống, những người lính chỉ biết tiến không lùi dù trước hỏa lực mạnh của địch quân. Tôi xin cảm phục và tưởng niệm người lính chiến sĩ vô danh của Nhảy Dù bắn súng vào họng tự sát khi miệng còn nhai cơm sáng 30 tháng 4 tại hẻm tôi ở 147/8 Trần Quốc Toản, một hình ảnh hào hùng không thể quên. Tiếp nối làm Y sĩ trưởng TĐ2/ND là BS Vương Bình Dzương, BS Bùi Văn Đạt, BS Tôn Thất Sơn, BS Lê Minh Tâm, BS Nguyễn Đức Mạnh, BS Nguyễn Kiêm, các anh hứng pháo Cộng sản sau này còn dữ dội hơn tôi nhiều.
Trước tôi, BS Võ Đạm là một trong ba sĩ quan thuộc Bộ chỉ huy TĐ7/ND còn sống sót trong trận Đồng Xoài.
Sau tôi, BS Tô Phạm Liệu, ông BS cầm súng như dân tác chiến, cũng là một trong ba sĩ quan thuộc Bộ chỉ huy còn sống sót ở ngọn đồi Charlie, ngọn đồi đẫm máu chôn xác TĐT/TĐ11ND Nguyễn Đình Bảo
BS Đường Thiện Đồng sống sót trận Hạ Lào, hốc hác lội bộ về thấu tiền trạm. BS Vũ Văn Quynh, BS Nguyễn Văn Thường, v.v … trốn tù cải tạo bị xử bắn, và còn, còn rất nhiều nữa mà người Y sĩ Nhảy Dù đã chia sẻ.
Tôi xin thán phục tinh thần Nhảy Dù bền bỉ của các BS Mũ đỏ Trần Văn Tính, Phạm Gia Cổn, Lê Quang Tiến … nắm giữ chức vụ Chủ tịch BCH/TƯ/GĐMĐVN Hải Ngoại để nối vòng tay lớn, tương thân, tương trợ.
Tôi không thấy ngượng ngùng khi BS Mũ Xanh Trần Xuân Dũng ca tụng các Y sĩ Nhảy Dù, Y sĩ TQLC là “những Hiệp sĩ của thời đại, những Đường Sơn Đại Huynh trên tiền tuyến lửa”.
Tôi không quên cám ơn các Chi Hội trưởng GĐMĐ vùng Hoa Thịnh Đốn như anh Nguyễn Văn Mùi, Lý Thanh Phi … thường nhắc tôi tham dự buổi cơm cuối năm của Gia đình Mũ Đỏ tổ chức để góp chút tình gửi về cho Thương Phế Binh Nhảy Dù còn ở quê nhà. Tôi cũng không thể nào quên nhắc đến tên các đàn anh như
Y sĩ Đại tá Hoàng Cơ Lân, người anh cả nghiêm minh và vui tươi, Y sĩ Đại tá Bùi Thiều, con người tài hoa và là người điều hành xây dựng Bệnh viện địa đạo ngay trong căn cứ Khe Sanh mà báo chí Mỹ khen phục.
Bốn chữ “Giữ Đời Cho Nhau” của BS Lê Quang Tiến nhắn trong Đặc San 70 để thực hiện số báo đặc biệt về QYND/SĐND làm sống dậy trong tôi những năm tháng đùa với tử thần. Có nếm mùi cực khổ, tù đày rồi mới thấy Độc lập – Tự Do là quý. Có lâm vào cảnh đói rách, nguy hiểm rồi mới thấy tình Huynh Đệ Chi binh là quý.
Xin nói thêm vài lời nữa là nếu không đọc quyển “Y Sĩ Tiền Tuyến” của Trang Châu, không đọc bài viết của Phan Nhật Nam, của Trương Đăng Sỹ trong Đặc San Mũ Đỏ số 70 thì e cũng khó ngồi mài miệt cả tuần để viết nên những trang giấy này.
Mũ Đỏ Bác Sĩ TRẦN ĐOÀN, Y sĩ Trưởng TĐ2ND
[Diễn Đàn Cựu Sinh Viên Quân Y, tháng 2 năm 2015]
Khi Nhảy Dù còn ở cấp Lữ Đoàn thì Quân Y Dù ở cấp Đại Đội và phòng khám bệnh được gọi là Bệnh Xá mang tên Đỗ Vinh. Khi Dù được nâng lên thành Sư Đoàn thì Đại Đội Quân Y Dù được nâng lên cấp Tiểu Đoàn và Bệnh xá Đỗ Vinh được nâng lên hàng Bệnh Viện 100 giường với 2 y sĩ giải phẫu và 1 y sĩ gây mê.
Lê Văn Châu là y sĩ gây mê đầu tiên sau khi thụ huấn 12 tháng ở Tổng Y Viện Cộng Hòa. 2 y sĩ giải phẫu lúc đó là Đinh Hà và Trần Đông A, sau này có thêm Hoàng Bá Ước Gioanh. [Ghi chú của Trang Châu]
Đây là một cuốn tieu thuyết. Phương pháp xây dựng đã xử dụng là đem những nhân vật giả tưởng đặt vào một khung cảnh lịch sử có thật.
Bởi vậy, nếu đem những diễn viện trong cốt truyện này mà đồng hóa với những nhân vật có thật ở ngoài đời, mặc dù đã chết hay còn sống, thì thật là sai lầm. Nhưng nếu chấp nhận sự giả tưởng của tiều thuyết, ta sẽ thấy tác phẩm này trung thực với khung cảnh riêng của nó. Tôi hy vọng như vậy.
M. L.W.
Ghi chú của người dịch:
Tất cả những phụ chú trong bản Việt-văn này đều là của người dịch.
C. V.
Chương 1.
Tôi là một nhà ngoại giao có sự nghiệp khả quan. Trong bức thư tiễn biệt, Tổng thống đã nói rằng «đó là một sự nghiệp lừng lẫy và đáng ngợi khen mà sự phục vụ từ đầu chí cuối đã đem lại cho Hoa Kỳ những thắng lợi lớn lao. » Tôi không khỏi đón nhận lời khen tặng ấy với đôi chút mỉa mai nhưng tôi tin rằng ít nhất thì tôi cũng đã xứng đáng.
Tôi đã phục vụ Bộ Ngoại-giao ba mươi lăm năm và đã giữ chức vụ Đại-sứ trong mười năm. Các nhiệm sở khó khăn, tôi đã từng trải qua cho đủ lượt và tôi cũng đã gặp đủ loại vấn đề hóc búa. Ngay đến những kẻ thù của tôi cũng phải công nhận rằng những thất bại của tôi cũng không đến nỗi rầm rộ lắm và tôi cũng đã đạt được một vài thành công lừng lẫy.
Một vài bạn hữu nói với tôi rằng cái quyết định rời bỏ ngành Ngoại-giao giữa lúc nửa chừng sự nghiệp của tôi là một hành động khôn Ngoan nhất. Một mặt thì Tổng-thống vẫn mến chuộng tôi nên lúc nào muốn cũng có thể kêu tôi ra tái phục vụ với tư cách đặc-sứ và mặt khác tôi được tự do theo đuổi các tham vọng chính trị của riêng tôi. Dĩ nhiên các bạn hữu tôi đều cho rằng tôi có tham vọng chính trị và lòng tự ái tôi bị thương tổn khi thấy họ gán cho tôi sự toan tính đến mực ấy. Và dầu có vậy, tại sao tôi bị thương tổn nhỉ? Từ lâu, thiên hạ đều biết tôi là một nhà thương thuyết vững như bàn thạch và sự nổi tiếng về tàn nhẫn của tôi chắc hẳu phải có một giá trị ngoại giao nào đó. Nếu tôi thay đổi, chắc các bạn tôi đâu có thì giờ hay cơ hội nhận biết được. Làm sao mà họ có thể biết được lương tri riêng tư của Maxwell Gordon Amberley khi chinh hắn đến tuổi này mới tự nhận biết được? Cho đến đây, tôi đã tuân theo tất cả những quy-ước của ngành Ngoại- giao và tôi đã dàn xếp cuộc rút lui của tôi với sự khả kính mô phạm. Sau cái chết của Phùng-văn- Cung, tôi đã nán đợi đủ mười hai tháng tại chức -thừa đủ để tránh cho chính quyền cái mặc cảm phạm tội về cái chết của òng và trách nhiệm về những hậu quả của cái chết đó. Sau đó tôi làm một cuộc viếng thăm thường lệ tại Hoa Thịnh Đốn để hôn tay các bà và thảo luận về việc đề cử vị đại-sứ thay thế. Rồi tôi vào một bệnh viện ở Nữu-ước để khám bệnh và ba tuần lễ sau tôi đã có thể tuyên bố hồi hưu vì lý do sức khỏe yếu kẻm.
Còn lý do thật sự? Đó là điều mà tôi đến đây để tìm kiếm, tại đền Zen Tenryu-ji cổ kính này, đền Thiên-long gần Kyoto, bên Nhật. Bây giờ vào mùa thu và các cây trường-khế cổ quý ở cổng đã đỏ ối như lửa trên nền tối xẫm của các cây thông cao vút. Trời mịn như da một hạt ngọc trai và các lá cây rụng nằm yên trên mặt hồ, trên các lối đi trải cát phẳng phiu, trên các phiến đá và trên nền xanh tươi của các thảm rêu. Đôi khi tôi bách bộ trong vườn và xem các nhà sư chăm bón cây một cách kiên nhẫn, đặc biệt « biến mỗi ngọn cỏ thành một Kim Phật ».
Có đòi lúc tôi ngồi trong am thất của Muso So- seki, chân xếp bằng tròn trên chiếu rơm, uống trà mà nhà sư đã pha mời tôi một cách trịnh trọng nghi-thức và cùng òng theo đuổi cái phương pháp đối thoại tham thiền gọi là Mondo …
« Tại sao ông đến chốn này? »
« Để tìm sự soi sáng. »
« Tại sao ông chưa tìm thấy? »
« Bởi vì tôi tìm kiếm nó. »
« Làm cách nào ông sẽ tìm thấy nó? »
« Bảng cách không đi tìm. »
« Nơi nào ông sẽ tìm thấy nó? »
« Không nơi nào cả. »
« Khi nào ông sẽ tìm thấy nó? »
« Không khi nào cả. »
Bố cục của cuộc đối thoại cũng giống như bố cục của ngôi đền, cái am thất và khu vườn. Mọi vật đều thanh đạm, gợi ý, có trật tự và kéo dài đến vô-tận, giống như cái chiếu mà chúng tôi đang ngồi hình như chẩy ra ngoài và biến nhập với cát trên những lối đi và những làn sóng gợn do cá chép đớp trong các hồ trong khu vườn.
Muso Soseki là một nhà sư thuộc phái Zen. Ông cũng là một thi sĩ, một bậc thầy trong môn viết đại-tự và thủ-ấn-họa nữa. Các đại-tự của tên ông có nghĩa là « cửa-sổ-nhìn-vào-một-giấc-mộng ». Ông bẩy mươi nhăm tuổi, người gân guốc, da bánh mật và giải dầu sương gió như một tảng đá lâu đời. Gương mặt ông bình thản một vẻ phúc hậu và tươi sáng, sảng khoái. Ông đã vui lòng thu nhận tôi làm môn đệ và sử dụng những phương pháp của đạo Zen để dẫn giắt tôi đến giây phút trực giác và soi sáng gọi là satori bằng cách kích thích cảm xúc của tôi.
Tôi rất cần được sự soi sáng. Chỉ ân hận rằng tôi đã không chịu nán chờ để tìm thấy sự soi sáng ấy cách đây ba năm khi George Groton dẫn tôi đến đây lần đầu sau khi nhà tôi qua đời. Khi ấy tôi làm Đại-sứ – một nhân vật sơn son thiếp vàng trên sân khấu ngoại giao Tokyo. Qui vị cứ nhìn lên bản đồ, vạch những véc-tơ về lực chính trị tại Á-châu thì đủ hiểu ảnh hưởng của tôi thực sự ra sao và có tầm rộng lớn đến đâu. Tôi nghĩ rằng tôi đã thành công trong chức vụ. Tôi có năng khiếu về ngòn ngữ, ưa thích phong tục lạ và biết thưởng thức nhạc đoản cung. Đó là những sở đắc có giá trị trong một nền văn minh lọc lựa. Còn các điều khác mà tôi đã có thì thực sự không phải do bản chất của tôi mà chính là do Gabrielle đã tặng cho tôi.
Nàng duyên dáng, lịch thiệp, vui tươi và có một vẻ hòa điệu sáng ngời tràn ngập từ đời sống của nàng vào đời sống của tôi. Khi nàng chết đi, sự hòa điệu ấy biến thành một nghịch điệu chói tai. Tất cả mọi vết rạn nứt cũng như khuyết điểm ở nơi tôi dường như mở rộng ra ngay sau đó.
Trước đó tôi chưa hề có một tin tưởng vững. chắc nào thuộc loại tâm linh và dưới phúc lành sâu đậm của một người đàn bà yêu đương, tôi không bao giờ cảm thấy cần phải có những tin tưởng ấy. Tôi vẫn có tình cảm tôn giáo, tôi không thù ghét việc đi lể nhà thờ và đôi khi còn lấy làm thích thú là đẳng khác nếu công vụ đòi hỏi sự có mặt của tôi. Ngoài ra, tôi rất hài lòng với sự ấm cúng của các đấng tối cao trong gia đình tôi và của vị nữ tu sĩ đã thờ phụng họ và tôi. Giờ đây nàng đã khuất đi, tôi cảm thấy như thể tất cả các đền đài của tôi cũng sụp đổ luôn một lúc và tôi phải chôn chặt chúng xuống đất, xa khỏi vùng ánh sáng. Tôi khước từ mọi thiện cảm. Tôi trở nên thô bạo, hăng hải và khó tỉnh. Nhân viên dưới quyền tôi khòng chịu nổi tôi và các bạn đồng liêu đều giận tôi. Duy chỉ có người Nhật, một dân tộc đau bệnh thần kinh đã dường như sẳn sảng chấp nhận cải nhu cầu của tôi phải có một thời kỳ đièn khùng để chữa bệnh.
Trong số người Mỹ, chỉ có George Groton, vị đệ tam tham vụ kém thâm niên nhất, là đủ khòn ngoan để thấy rõ điều gì đã xẩy ra đến với tôi. Tôi giận dữ cũng khòng làm hắn khó chịu, tôi xấc sược, hắn cũng không mếch lòng. Hắn làm việc rất hăng, tinh tình vui vẻ và không biết sợ hãi. Người hắn gầy và cao lênh khênh, mắt đeo kính cận, đòi vai rủ xuôi với mái tóc dầy rậm mầu cát. Tuy vậy trong những lúc lòng lắng dịu, tôi thầm ước có một đứa con trai như George Groton.
Có một đèm trực, hắn phải đánh thức tôi dậy vì mấy cái điện văn giờ chót. Trước khi ngũ tôi đã uống quá nhiều rượu nên tôi đâm ra cáu kỉnh và sử sự với hắn một cách thô bạo không tha thứ nổi. Hắn hít một hơi thở dài, đứng ngang nhiên trước mặt tôi và nói:
« Thưa ông Đại-sứ, ông đang tự hủy diệt mình và hủy diệt cái hòa khí của Tòa Đại-sứ. Nếu ông không chịu để bọn tôi giúp đỡ ông thì ít nhất cũng
xin ông để yên cho bọn tôi làm việc cho xuông sẻ! »
Tôi há hốc miệng nhìn hắn, không nói nổi điều gì. Đoạn hắn nhún vai và cười làm lành:
« Ông có thể đuổi tòi về nước, nếu ông muốn – nhưng phải có một người nào nói ra điều ấy.»
« Tại sao lại là anh, Groton? »
« Bà Amberley vẫn thường đối xử với tôi rất tốt. Trước khi chết, bà bắt tôi hứa sẽ săn sóc cho ông. »
Tôi xấu hỗ với chính tôi nên không nói được gì. Tôi cầm mớ điện văn vào phòng đóng chặt cửa lại và khóc như một đứa trẻ con. Sáng hôm sau
tôi viết cho Groton vài lời xin lỗi và cám ơn. Một tuần lề sau, hắn mời tôi tham dự một phái đoàn nhân viên đi Kurama xem hội đốt lửa hàng năm.
Bởi vì Kurama không xa Kyoto mấy, nên tự nhiên là chúng tôi phải đi thăm đền Thiên-long và thăm Muso Soseki.
Nếu Groton còn sống hắn sẽ là một nhà ngoại giao đại tài. Hắn là một người giản dị, thường đi thẳng đến cội rễ của vấn đề một cách mau lẹ, tuy vậy hắn cũng đủ tế nhị và vui tính để thích ứng với các đường lối suy luận quanh co của người khác. Khi tôi nhìn thấy hắn chết một cách hung bạo ở Saigon, tôi lại khóc một lần nữa. Và từ đó trở đi, tôi không hề nhỏ một giọt lệ vì một người nào nữa, dù đàn ông hay đàn bà.
Muso Soseki tiếp đãi tôi với sự lịch thiệp tự nhiên của một người hòa đồng với chính mình, với cuộc đời và thế giới của mình. Ông đưa tôi tản bộ quanh khuê viên của ngôi đền và dẫn giải cho tôi nghe về vẻ đẹp của khuê viên theo lối Zen, nghĩa là không phải như một sự liên-tụ ngẫu nhiên của các vẻ đẹp nhưng là một nơi đã được sắp đặt tế nhị, có những sự liên-tụ hòa hợp và những sự tương phản có ý nghĩa – tóm lại, một khung cảnh được chủ ý tạo ra cho những sự mặc khải về tâm linh, một khí cụ của sự soi sáng, hiệu nghiệm hơn cả sách vở hay lý lẽ. Về những vấn đề ấy, nhà sư không trịnh trọng thuyết trình mà chỉ nói chuyện như một người nói về cuộc sống thầm kín của mình một cách luyến ái và nặng lòng ưu tư. Khi nói về Satori, ông đã khổ công làm cho tôi hiểu rõ khái niệm ấy.
Tôi còn nhớ hai câu một cách rõ ràng:
« Căn nguyên nỗi thống khổ của nhân loại, thưa ông Amberley, là một cảm giác tha hóa đối với trật tự thièn nhiên của vũ-trụ. Tác dụng của Satori là sự soi sáng tâm tri, cốt sao cho bản chất của chính mình và vũ trụ sau rốt trở nên rõ ràng và tái lập lại được cảm giác của sự tương quan đích thực, hay đồng nhất tính. »
Nỗi thống khổ của riêng tôi vứa xẩy ra gần đây và hãy còn mãnh liệt quá nên tôi chụp ngay lấy lời ông nói và cầu khẩn òng giải thích thêm.
Nhưng ông từ chối và mỉm cười bảo tôi:
« Xin ông để bận sau. Chúng ta sẽ uống trà và nói chuyện trong sự yên
tĩnh. »
Tôi trở về Tokyo như một người đi trong cái khoái cảm của một giấc mộng êm lặng nhưng huyền diệu. Tôi viết thư cho Muso Soseki, cảm ơn ông về sự tiếp đãi tử tế và xin được gặp lại. Mười ngày sau tôi được thư trả lời của ông, một tác phẩm nhỏ của khoa đại-tự tuyệt đẹp thực hiện trên giấy chế tạo bằng tay. Nhà sư già dâng hiến tôi ngôi nhà, tình bằng hữu của ông và cái mà ông gọi là « những công quả nhỏ nhoì và không xứng đáng của vụ gặt lúa mùa đông » Ông mời tôi tới thăm ông bất cứ lúc nào và sống với òng như một vị khách. Tôi cổ gắng xuống ở với Muso luôn luôn, khi đi một mình khi đi với Groton. Groton cũng đã có một mối liên hệ tương tự với một nhà sư khác. Nhưng hắn thâm cứu hơn tôi, có lẽ vì hắn trẻ tuổi hơn, cũng có lẽ vì bản chất hắn nhũn nhặn hơn, mềm dẻo hơn và hợp với những kỹ luật của phương pháp Zen hơn.
Có điều lạ là khi ấy tôi không hề có ý niệm nào về sự hành giáo của mình, theo nghĩa thông thường. Theo Muso đa trình bày cho tôi thì sự thực hành đạo Zen thuộc về một trật tự thiên-nhiên thuần túy và thật ra là một sự chuẩn bị cơ thể con người cho một tình trạng cảnh giác cao hơn.
Vì hiểu như thế nên tòi đã chấp nhận hành đạo mà không tự ái chút nào. Tôi lại còn có thể hy vọng nhờ đó mà tìm ra một phương giải cứu cho những nhược điểm mà sự đau đớn và mất người thân yêu đã làm bộc lộ ra nơi cá tính tôi. Thế mới biết Groton khôn ngoan đến thế nào. Mặc dầu hắn đã dẫn tôi đến vị sư thầy của tôi, hắn vẫn khăng khăng không chịu cùng tôi thảo luận về sự dấn thân của nhau. Hắn chỉ nói rằng ở Tokyo thì nghi thức trong ngành làm cho chúng tôi ngăn cách, còn ở Kyoto thì chính sự riêng tư của một kinh nghiệm không thể truyền cảm đã ngăn cách chủng tôi. Khi tôi ngỏ ý biết ơn hắn vì đã giúp tôi thì hắn chỉ cười chấp nhận với một câu nói đặc biệt Zen:
« Khi im lặng chúng ta là một. Khì nói lên chúng ta là hai người. »
Điều này cũng làm tôi phải nhớ mãi về sau này, khi chúng tôi tranh luận một cách cay đắng. về đường lối hành động mà tự tôi đã dấn thân vào ở Saigon. Về phần tôi, tôi hài lòng được sống yên tịnh và cách biệt một vài ngày, xa hẳn bảo chí và sự phức tạp của công việc ngoại giao. Tôi thích cái khuê viên và những lời nói của vị sư già tuôn ra như giòng suối bạc. Tôi cũng nghĩ rằng nhờ vậy mà công việc tôi làm khả quan hơn. Tôi đã hiểu rõ hơn cái tư tưởng gạn lọc và hóc hiểm của người Nhật, cái bóng dáng tình cảm thường đeo riết mỗi lời nói trực tiếp nhất. Tôi bắt đầu hiểu rằng cái đường lối tìm đến sự soi sáng tâm linh bằng trực giác này khòng nhất thiết là một sự phủ nhận lý trí nhưng là một sự thăm dò những tiến trình bí hiểm nhất của lý trí ở bình diện vô-thức.
Về phần Muso Soseki, nhà sư không ép tôi vào một khuôn khổ kỷ luật nào. Đôi khi chúng tôi thường chỉ uống trà và đàm đạo như một đôi bạn ở bất cứ nơi nào. Có khi nhà sư hướng tôi qua một cuộc đối thoại Mondo. Có khi nhà sư đặt ra cho tôi một tiền đề thoạt nghe tưởng là vô nghĩa, gọi là Koan làm đề tài tham thiền. Cái tiền đề mà nhà sư đã đưa ra cho tòi và luôn luôn hướng tôi quay về nó một cách nhất quyết nhẹ nhàng là như thế này :
«Òng sẽ hành động ra sao khi họ yêu cầu ông giết con chím cu? »
Câu trả lời đầu tiên của tôi là thách thức ngược lại Muso định nghĩa những danh từ của tiền đề, thí dụ, họ là ai, con chim cu là gì, và tại sao họ lại yêu cầu tòi giết nó?
Muso mỉm cười và khước từ sự thách đố đó. «Chính ông, òng Amberley, ông phải cho tôi biết tôi muốn nói gì».
Mặc dầu không muốn, câu hỏi đó bắt đầu ám ảnh tôi, làm tôi bứt rứt không yên và quên lãng mất cái luận-lý hình thức và đôi khi dễ sợ của nền ngoại giao thực tiễn. Câu hỏi đó làm tôi bối rối: như một bức tranh siêu thực mà mỗi một hình tượng thật là rõ ràng dễ hiểu nhưng cái toàn thể của nó vẫn là một thứ tiếng chim chích, chỉ hiểu nổi khi có người dẫn giải.
Dầu vậy, dần dà tôi bắt đầu hiểu bằng cách nào tôi đã được hướng dẫn đi vào một trạng thái ngờ vực chính mình, bất mẫn với cái hiển nhiên, một địa hạt truyền cảm không lời nói. Nhưng mặc dầu hiểu vậy, tôi cũng biết rằng con đường đi tới kết quả còn xa lắm.
Rồi đùng một cái, tất cả cái tiến trìuh tái giáo huấn đó bị cắt ngang và tôi bị đẩy trở lại không phương chạy thoát vào những thực tại – hay là những ảo tưởng? – của ngành. Festhammer đáp phi cơ từ Hoa-Thịnh-đốn tới mang theo một lời yêu cầu hợp thức của ông Bộ-trưởng Ngoại-giao có ý kiến thuận của Tổng-thống kèm theo trong một văn thư lời lẽ thân mật. Liệu tôi có chịu rời bỏ nhiệm sở Tokyo mà nhận trách vụ đặc biệt làm Đại-sứ tại miền Nam Việt Namkhông?
Raoul Festhammer thật chẳng giống một tín đồ Zen chút nào. Hắn là con người thực tiễn hoàn toàn. Một sự kiện nắm trong tay hắn cũng đáng sợ như một thanh trường kiếm. Có vài người gọi hắn là tên hoạt đầu chính cống nhưng vốn có lòng kính mến đối với hắn nhiều, tôi không thể rủa hắn một cách nhẹ dạ như vày. Hắn nhận dịnh tình hình rất vững. Các bản tóm lược tình hình của hắn là một bài tập mẫu về lý luận chiến thuật.
Hắn uống rượu rất ít, khòng hút thuốc lá và thèm khát đàn bà đẹp một cách điên cuồng. Hắn là một người bạn bất định, một kẻ thù nguy hiểm, nhưng chính xác trong công việc như một chuyên gia ngân hàng. Trong đời tư, tòi khòng chịu hắn lắm nhưng trên phương diện nghề nghiệp tôi dám đánh cá sự nghiệp của tòi vào một trong những bản phúc trình của hắn – mà chính là điều hắn đang yèu cầu tôi làm.
« … Bê bối. Một sự bê bối đẫm máu và tàn bạo. Chúng ta gọi nó là một cuộc chiến tranh khuynh đảo nhưng xét cho cùng, nó cũng là một cuộc nội chiến nữa. Con chống bố, gia đình chống gia đình. Chúng ta nhập cuộc là bởi vì chúng ta muốn duy trì mot căn cứ quàn sự tại miền Đông- Nam-Á và ngăn chặn Trung-cộng khỏi tràn xuống các vựa lúa ở phia Nam và khòng xử dụng được các đường biển đi Phi-chàu. Nếu miền Nam Việt Nam mất, Thái-Lan sẽ bị hở sườn và Tân-gia-ba sẽ bị đe dọa. Chúng ta đã đưa vào ba chục ngàn người và không biết bao nhiều là triệu đô-la nữa mà vẫn chỉ là « cố vấn » không có quyền quyết định trong việc điều khiển các cuộc hành quân.
« Chúng ta ủng hộ Phùng-văn-Cung và gia đình ông bởi vì họ là những nhà cai trị giỏi nhất và mạnh nhất cho đến nay, nhưng họ đã mất khả năng kiểm soát. Họ không còn biết nghe lời phải trái nữa. Họ hành động như những người có đường giây lièn lạc riêng với Thượng-đế. Họ là một thiểu số tín đồ Ki-tô giáo trong một xứ của Phật-giáo. Thay vì kết thân với Phật-giáo, họ lại đi làm áp lực với đám người này ở mọi điềm. Họ đang bắt giữ sinh viên – cả nam lẫn nữ – và giam họ vào những trại khổ sai. Họ đã làm cho thủ-đô trở nên thù nghịch và họ đã mất quyền kiểm soát các vùng quê. Bộ Tư-lệnh quân sự thì bị chia rẽ và mặc dầu có mười ngàn làng chiến đấu và một ưu thế rộng rãi về khí giới và chiến cụ, Việt-cộng hiện vẫn đang thắng thế … Mc Nally đã làm trọn phận sự Đại-sử nhưng chúng ta đã không chỉ thị đúng cho òng làm. Chúng ta chỉ thị cho ông kết thân với Phùng-văn-Cung, chỉ thị cho òng hành động bằng khuyến dụ và huyền hoặc, nhưng giờ đây những sự huyền dụ đó hết hiệu nghiệm rồi.
« Chủng ta không thể làm như vày được nữa. Chúng ta phải hành động thô bạo, cứng rắn và làm cho chính quyền vào khuôn phép với những sự trừng phạt bằng tài chánh. Có một tập tài liệu tôi muốn anh đọc, anh Max và sau đó anh sẽ hiểu tại sao chúng ta cần một người hùng tại nhiệm sở này. Chẳng có ăn cải giải gì đâu. Thắng, bại, hay hòa, vẫn là một sự bê bối đẫm máu và công trạng của anh chỉ là một sự đau đầu mà thôi … ở nước nhà, ai cũng muốn anh nhận nhiệm sở này. »
Tôi bỏ ra bốn mươi tám tiếng đồng hồ đọc cho hết mớ tài liệu hắn đã đưa cho tôi và sau đó tôi nhận lời. Sau này, khi thử kết toán những lầm lỗi mà tôi phải nhận lãnh, tòi tự hỏi bao nhiêu lầm lỗi đã thuộc vào chính lúc này.
Sự kiêu hãnh đã dự phần và ai chẳng kiêu hãnh để nói. « Tôi đến đây nhân danh một đại đân tộc. Tôi được chọn lựa bởi vì tôi khôn ngoan, tôi hùng mạnh, trêu vào tôi rất là nguy hiểm. » Dưới sự kiêu hãnh là một mối lo sợ – bởi vì cái chết của Gabrielle đã cho tôi thấy tôi chẳng có sức mạnh là bao và Muso Soseki cũng đã bắt đầu thách đố trí thông minh của tôi cũng như George Groton đã làm tòi hổ thẹn vì những cơn giận dữ của tôi. Và dưới sự kiêu hãnh và mối lo sợ còn một điều khác nữa – một đột hứng tạm bỏ sự suy tưỏng để hành động, để trì hoãn một quyết định về chính tôi bằng cách đảm đương quyền quyết định cho hàng triệu kẻ vô danh khác.
Dầu sao thì tôi cũng đã tuyên thệ phục vụ, cả cuộc đời tôi đã dâng hiến cho ngành này. Tôi đã được triệu dụng do một lời kêu gọi đặc biệt của Tổng-thống. Tôi không có quyền đem những vấn đề riêng tư của tôi xen vào việc còng ích. Tôi phải hiểu rằng tôi là hai bản ngã trong một cơ thể. Hai bản ngã đó rièng biệt và dị biệt. Cái bản ngã mà tòi đã biết trong khuê viên Tenryu-ij khác hẳn cái bản ngã đã chơi trò mưu lược quyền bính một cách đầy tự tín. Thế nên, dường như luôn luôn tôi phải chấp nhận sống trên hai mực sống, và phải gạt bỏ mọi động lực đem mực sống này đồng hóa với mức sống kia.
Dẫu vậy tôi vẫn ý thức được nỗi băn khoăn và sự linh cảm thấy điều không hay. Ai có thể nói chắc được cái thế quân bình mỏng manh của hai bản ngã kia có thể tồn tại được bao lâu khi đụng phải một môi trường thù nghịch? Mụso Soseki đã giúp tôi tìm thấy sự kính trọng đối với bản ngã bí ẩn của tôi nhưng đâu còn Gabrielle nữa để yêu tôi và giữ cho tổi sống hòa điệu với thế giới bên trong Jẫn bên ngoài? “
Vì vậy tôi nhờ đến Geoge Groton. Tôi yêu cầu hắn đi Saigon làm phụ tá đặc biệt cho tôi. Hắn mỉm cười theo lối trẻ con của hắn, cám ơn tơi đã tin cậy và nhận lời. Rồi, một cách khá thực thà, hắn hỏi tôi có dự tính đến thăm
Muso Soseki trước khi rời khỏi Nhật-bản hay không. Trong sự sôi nổi của những cuộc thảo luận với Festhammer và trong sự tràn ngập của những cú điện thoại với Hoa-thịnh-đốn, tôi đã không nghĩ gì đến vấn đề ấy. Groton trình bầy cho tôi hay đó là vấn đề xã giao đặc biệt – sự tôn kính của môn đệ đối với sư phụ, cũng giống như sự tôn kính của con đối với cha. Một lần nữa tôi lại cảm thấy hổ thẹn vì chính tôi kém cư xử và tôi hứa rằng ngay sau khi các cuộc tiễn biệt ngoại giao xong xuôi, tôi sẽ đến thăm Muso Soseki một ngày chót tại đền Thiên-long.
Sự giá buốt của mùa Đông đã phảng phất trên không. Lửa đỏ đã tàn lụi nơi các cây trường khế tại công đền. Lá cây rải rác đó đây, các phiến đá trông ảm đạm và nước hồ xám xịt ghê tởm. Muso Soseki tiếp tôi trong am thất riêng và đóng chặt các cửa sáo làm cho chúng tôi ngồi cách biệt hẳn thế giới bên ngoài trên một hải đảo đầy ánh sáng và ấm áp. Khi tôi nói cho nhà sư biết sự thuyên chuyển của tôi, ông gật gù một cách nghiêm trang và nói:
« Mỗi người đi một đôi giầy khác nhau. Người ta phải đi theo bước đôi giầy của mình. Tuy nhiên tôi nghĩ rằng ở vào tuổi ông mà nhận một trách nhiệm như vậy thật là một sự nguy hiểm lớn lao ».
Tôi cười cười lớn và bảo nhà sư rang sự nguy hiểm là thường đối với nghề ngoại giao. Ông cau đôi mày và lắc đầu.
«Tôi không nghĩ đến sự nghiệp của òng mà chỉ nghĩ đến bản thân của ông. Ông đã biết ý thức được sự bất thiện toàn của cuộc đời ông. Có thể cám dỗ sẽ dẫn ông tới việc cố gắng cưỡng đặt một sự toàn thiện không thể có vào cái hoàn cảnh mà ông phải đương đầu. Òng đến nơi đó vì mục đích tạo kết quả. Ông hy vọng tạo nên được những kết quả gì? Chấm dứt chủ nghĩa Cộng-sản tại miền Nam Việt Nam? Chấm dứt chế độ? » Òng dơ một bàn tay nhỏ gầy guộc để chặn câu trả lời của tôi. «Đừng, đừng trả lời! Trong đường lối soi sáng tâm linh ông là môn đệ của tôi. Ngoài đời ông là ông Đại sứ Hoa-kỳ. Ông không được bàn cãi các vấn đề quốc sự với tôi … Nhưng vấn đề chính trị chỉ là vấn đề cá-nhân nhân lên nhiều lần và chúng ta hãy thử giải quyết nó bẳng đường lối cá nhân: bằng cách tự đề ra cho chúng ta một mục đích giới hạn mà nếu đạt tởi sẽ có nghĩa là « thành công ».
Vậy nên có một ông tướng thường nói rằng: « Nếu tôi thắng cuộc chiến tranh tôi sẽ có – và sẽ là! – sự thành công. » Ông ta quên mất sự kiện chiến tranh là một sự bạo động hủy diệt không có giới hạn và sau đó cần phải có một hành vi sáng tạo mới để đem lại trật tự trong hỗn loạn và đem lại tiếng cười trong tiếng khóc. Ông bạn của tôi, ông biết tôi muốn nói gì chứ? »
« Tôi biết rõ lắm nhưng nó không soi sáng được điều gì cả. Tôi rất biết rõ hoàn cảnh của tôi trong tư cách một nhà ngoại giao chuyên nghiệp.
Tôi không được tự do đề ra mục tiêu của những hành động của tôi – tôi chỉ biết hành động cách nào tốt nhất để hoàn tất được những mục đích đã được đề ra cho tôi».
Muso Soseki mỉm cười và lắc đầu. «Chỉ đúng phần nào thôi. Người ta nhờ cậy òng khuyến nghị và cố vấn, thế nên, thật ra ông cũng có thể góp phần vào việc đề ra các mục đích sau này được vạch ra cho ông chứ».
«Đúng. Nhưng tôi khuyến nghị dưới áp lực của các biến cố xẩy ra hàng ngày: thiên tai, đói rét, chiến tranh và sự lên xuống của thị trường chứng khoán. Tôi phải nhắc nhở chính tôi và tất cả các người thương lượng với tôi là một sự thay đổi không nhất thiết là một sự tiến bộ. Nếu tôi không thể làm cho họ tin tôi, có thể tôi sẽ được chỉ thị đưa ra một cuộc đổi thay mà tôi không tin tưởng. Mặt khác, sự thay đổi mà tôi tin tưởng có thể chỉ đẻ ra những thiên tai khác và những chiến tranh khác».
«Và ông hài lòng với hoàn cảnh ấy, mà thật ra chính là toàn thể cuộc đời chuyên nghiệp của ông? »
«Tôi chấp nhận nó như một sự kiện-một sự kiện cần thiết của cuộc sống. Theo nghĩa ấy, tôi buộc phải hài lòng với nó».
«Có thật nó cần thiết bởi nó là cần thiết – hay chỉ vì ông muốn nó là cần thiết? »
«Ước mong tôi biết được câu trả lời».
«Mong ước chưa đủ. Ta phải đặt ta vào trạng thái đi tìm câu trả lời mới được»
Tôi biết rằng tôi đã thua lý. Tôi phải chấp nhận sự thua lý ấy bởi vì người này là ông thầy và tôi là học trò. Nhưng thật khó mà nuốt trôi bởi vì trên một bình diện khác, tôi là một vĩ nhân được Tổng-thống một đại cường quốc vời đến để thay đổi dòng lịch sử, nếu làm được. Sự kiêu hãnh nơi tôi gào lên đòi cởi bỏ sự ràng buộc với ông đạo sĩ cao niên này. Một giọng nói khác kêu. « Hãy nán lại, nếu không mày sẽ tự hủy diệt tan tành vì không có ông ấy giúp đỡ».
Muso Soseki im lặng một hồi lâu. Đôi mắt ông hướng thẳng về khu vườn không nhìn đâu thấy. Khuôn mặt đầy đường nét của ông thản nhiên trong sự suy tưởng. Tôi cũng tự thấy mình ngả dần về những trạng thái thể chất vả tinh thần của sự trầm tư. Sự chú ý của tôi hướng về luồng không khí nóng ấm cuồn cuộn bốc lên từ đám than chảy đỏ hồng. Tâm trí tôi tự tách rời khỏi cái lý luận của cuộc đối thoại trước đây và bắt đầu dạo chuyển tự do bởi động lực liên tưởng. Rồi bỗng nhiên nhà sư già lại cất tiếng nói:
«Tôi rất lấy làm tiếc thấy ông vẫn chưa trả lời cái câu hỏi về con chim cu.»
«Tôi đã suy nghĩ nhiều nhưng vẫn chưa hiểu- thấu câu đó! »
«Ngay cả bây giờ ông vẫn không hiểu? »
«Ngay cả bây giờ. »
«Vậy chúng ta hãy tìm câu giải đáp lần nữa.
Này ông, tại sao ông đến thăm tôi? »
«Để nghe sự yên lặug. »
«Ông đã nghe thấy sự im lặng chưa? »
«Đôi khi. »
«Ông đã nghe thấy tiếng con chim cu chưa? »
«Sao mà nghe thấy được. Con chim cu im lặng khi mùa Đông đến.»
«Nhưng ông đến đây để nghe sự im lặng. Tại sao ông không nghe thấy sự im lặng của con chim cu? »
«Tôi chưa có cơ hội hỏi nó. »
«Nhưng ông đã đợi cả năm để nghe tiếng nó gáy?
«Vâng. »
«Và khi ông nghe tiếng nó, ông biết là mùa Xuân đã về? »
«Vâng.».
«Vậy ông đã hiểu con chim cu? »
«Vâng. »
«Ông có sợ nó không hiểu ông không? »
«Tòi biết rằng nó sẽ không hiểu tôi. »
«Ông biết rõ hay ông kbòng muốn tìm hiểu? »
«Tôi không muốn tìm hiểu. »
«Tại sao? »
«Bởi vì tôi chưa hề tin con chim cu.»
«Òng có cho rằng con chim cu sẽ tha thứ cho ông không? »
«Tôi hy vọng nó có thể tha thứ. »
«Như vày ông sẽ làm gì khi họ yêu cầu ông giết con chim cu? »
«Tại sao lại có người yêu cầu tôi giết con chim cu? »
«Bởi vì nó không chịu gáy về mùa Đông. »
Và thế là đâu lại hoàn đấy, tôi vẫn chỉ là một tín đồ mới nhập đạo, lại trở về với cái cổng mà tôi đã bước vào. Người sư già nhận thấy rõ sự khó chịu của tôi bởi vì òng bỏ giọng trịnh trọng của đối thoại mondo và nhắc nhủ tôi một cách dịu dàng:
«Òng nên nhớ rằng điều ông đi tìm là một sự, hướng nội. Nó sẽ không cho ông một giải đáp chính xác nào về sự hướng ngoại mà ông dấn thân vào hiện nay. Nó sẽ không chỉ cho ông cách nào để thành công trong chức vụ Đại-sứ hay để giải quyết một vấn đề bằng cách biến nó thành một vấn đề khác. Điều nó sẽ chỉ cho ông là cái bí quyết của cuộc sống, sự mưu sinh và tiến bộ là do ở cá nhân chứ khỏng phải quần chúng. Thế nên, hễ làm điều gì để tiến bộ trong còng việc làm của ông hay của bất cứ ai, điều ấy phải được thực hiện bởi và qua sự hướug nội của cá nhân … » Ông ngừng nói một cách đột ngột và nở một nụ cười hiếm hoi với tôi. «Làm rối ren trí óc ông thật là không phải. Tri thông minh bao giờ cũng nở như một đóa hoa khi ta không nhìn thấy. Ông hãy viết thư cho tôi. Tôi sẽ lưu tâm vì ông, và khi ông quay trở về, òng sẽ đến thăm tôi. »
«Tôi sẽ lại thăm thầy-và xin cảm ơn thầy. »
Câu hỏi cho đến nay vẫn chưa được giải đáp. Vẫn không thấy sự soi sáng đâu cả, chỉ thấy một cảm giác bất mãn và linh cảm thấy sự không hay sâu sắc hơn. Nhưng có một điều tòi đã thấu triệt: đó là sự liên hệ giữa tôi và Muso Soseki đã rất thực; và ông là bậc thầy, đã quan tâm sâu xa đến cuộc sống của tôi cũng như tôi quan tâm đến cuộc sống của ông vậy. Từ đây trở đi ông sẽ tự cho ông trách nhiệm phần nào về hạnh phúc và hạnh kiểm của tôi. Và tôi phải suy tôn ông, quan tâm đến sức khỏe và sự an khang của ông, quan tâm đến việc ma chay tử tế cho ông.
Nhiều nước-và nhiều máu-đã chảy dưới cầu kể từ lần đàm đạo với Muso Soseki mùa Đông năm ấy. Giờ đây tôi trở lại khuê viên Tenryu-ji, cố gắng để tìm hiểu ý nghĩa các sự đắc thắng ngoài đời và các sự khám phá riêng tư của tôi. Điều lạ đối với tôi bây giờ là tại sao trước kia tôi đã quá bận tâm về một câu hỏi đầy tưởng tượng về con chim cu và không mấy phiền lòng về lời nói cuối cùng của Festhammer trước khi tôi khởi hành đi Saigon.
«Anh Max, bất thần ngày nào từ nay trở đi, sẽ có kẻ lật đổ Phùng-văn-Cung và gia đình ông để lập một chính phủ mới. Trước khi ra tay, họ sẽ hỏi ý kiến anh ra sao và anh sẵn lòng ưng thuận đến mức nào nhân danh Hoa-kỳ … và
khía cạnh khó khăn của vấn đề là anh phải trả lời họ – và sau đó biện minh câu trả lời đó với Bộ Ngoại-giao và Tổng-thống … Chúc anh may mắn và thượng lộ bình an! »
Cách bờ biển Việt-nam một trăm dặm một phi tuần hộ tống chiến đấu cơ phóng pháo đến đón chúng tôi và bay thành đội hình chặt chẽ với chúng
tỏi cho đến hết cuộc hành trình. Cảnh đất liền đầu tiên chúng tôi nhìn thấy là vùng châu thổ bao la của sông Cửu-long, trải rộng ra một trăm đặm những ruộng lúa và vườn cây nhiệt đới, làng mạc, đê bờ, rạch kinh đến vùng nước phẳng phiu và nông sờ của bờ biển Thái-bình-dương.
Họ đã đưa tôi qua ngả này để tôi quan sát lần đầu tiên tình hình chiến sự. Vùng đồng quê châu thổ là chiến trường của vài trận đánh khốc liệt nhất trong cuộc chiến tranh. Sông Cửu-long là con đường tiếp tế để chở vũ khí và chiến cụ về suôi cho bọn du kích qua ngả Lào và Căm-bốt. Những vũ khí và chiến cụ đó được dấu kín dưới các bao gạo và các buồng chuối. Từ bièn giới trở đi, ghe xuồng được đàn bà, trẻ con, ông già và bọn thổ chở đi.
Bọn du kích đi lại cũng do ngả ấy qua sông, rạch và đầm. Bọn chúng tự do như loài vật sống trong thiên nhiên-vì có ai dò được lòng dạ của người dân quê nhỏ thó nước da bánh mật đang cấy lúa, đan lá gồi hay bán mía trong chợ làng?
Trong đời sống gia đình chặt chẽ của các làng mạc mái tranh vách đất, ta có thể nhìn thấy tấn bi kịch đắng cay của cuộc nội chiến qua những hậu quả đơn giản nhất và tàn nhẫn nhất của nó. Đêm đến dân làng rút về sau hàng cọc dậu tre cùng với trâu bò. Mỗi gia đình treo một ngọn đèn để soi sáng các vách tường và đặt một người canh gác để đề phòng bọn Việt-cộng xâm nhập bằng cách bò qua các ruộng lúa và bụi tre để tấn công. Nhưng người đứng canh bên vách và người bò trong đám sình lầy bên dưới là anh em, họ mạc với nhau. Vì thế nên đôi khi ngọn đèn phụt tắt và một cánh tay đưa qua bờ rào để đỡ người du kích vào nhà. Có khi họ đưa cho nhau gạo hay thuốc men giúp người bị thương. Có khi là một cuộc án binh bất động để cho bọn du kích có thể nghỉ ngơi dưỡng sức trong vườn chuối trong khi dân làng ngủ yèn lành trong vòng rào. Đối với bộ Tư-lệnh quàn sự thì đó là một cơn ác mộng. Đối với dân cư nơi thôn ấp thì đó là sự thích ứng tự nhiên với hoàn cảnh – bởi vì người dân quê miền châu thổ còn có gì nếu cái cơ cấu gia đình từ ngàn xưa bị hủy diệt?
Ở độ cao an toàn là năm ngàn thước máy bay, chúng tôi vòng vòng trên giải đất đầy sinh lực. Một Thiếu tá không quân chỉ cho tôi thấy một tỉnh nhỏ mà ông gọi là Trà Vinh. Ông chỉ tôi xem những trực thăng bay quần trên thành phố như những con chim vụng về. Chúng tôi vụt thấy những lằn sẹt của rốc-kết, những tia chớp nhỏ của súng bắn và những cụm khói tỏa ra bốc lên từ những lùm cây nhỏ. Nhưng chúng tôi không thấy người đâu cả, chỉ thấy những đàn kiến nhỏ. Chúng tôi không nghe thấy âm thanh nào ngoài tiếng vo vo cao vút của các phản lực cơ bạn. Chúng tôi là những thần nhân trên trời nhìn xuống cảnh hỗn loạn vô vị của thù nghịch giữa đám người hạ thế, và ngày mai đây sẽ được con sông lờ đờ cuốn trôi sạch hay chìm lắng xuống đồng lúa ngập nước hay bị rừng già nuốt đi mất. Chúng tôi đợi chừng mười phút rồi quay về hướng Bắc và bắt đầu hạ thấp từ từ về phía Saigon.
Khi chúng đi về phía phi trường, các phi cơ hộ tống rời khỏi chúng tôi và phi cơ chúng tôi bỗng đâm bổ xuống phi đạo để hạ cánh. Ông Thiếu tá không quân giải thích một cách lệch lạc rằng bọn Việt-cộng hoạt động cả ở ngoại ô thành phố và thỉnh thoảng lại có một phi cơ bị súng dưới đất bắn lên trong khi đáp xuống. Khi phi cơ ngừng bánh và cửa mở, chúng tôi thấy mình đang ở giữa một trại quân. Trực thăng và chiến đấu cơ phóng pháo đậu quanh vòng chu vi của phi trường. Có một toán lính chào danh dự của Hoa-kỳ và một đơn vị nhẩy dù Việt Nam nghiêm trang trong những chiến phục ngụy trang và mũ nồi. Ông Bộ-trưởng Ngoại-giao đứng giữa các tướng lãnh mặc đại lề. Các viên chức của Tòa Đại sứ đứng cùng với một toán quân nhân do Đại- tướng Tổng-tư-lệnh Tolliver hướng dẫn.
George Groton thì thào một lời nhận định bên tai tôi khi chúng tôi bước xuống sân bay.
«Họ đã tiếp đón ông như một tướng lãnh quân sự chứ không phải như một vị Đại sứ. Không biết ai đạo diễn vở tuồng này đây».
Tòi đoán chừng là Raóul Festbammer vì hắn vốn vẫn có tài về kịch trường ngoại giao. Nhưng tôi không có thì giờ đào sâu vấn đề. Ông Giám đốc Nghi lễ đi sát bên tôi và hướng dẫn tôi qua các nghi thức chào hỏi một cách mau lẹ. Nghi thức thi khá thân mật, nhưng cả buổi lễ quá ngắn ngủi, đến độ gần như cộc lốc. Tôi cảm thấy một sự căng thẳng, một ý muốn đem tôi ra khỏi phi trường và đưa tôi về Tòa Đại sứ một cách an toàn, càng sớm càng tốt, nhưng không ai nói ra. Tôi đi tới đâu cũng có một người võ trang che trước mặt. Đại tướng Tolliver ngồi cạnh tôi trong xe và khi chúng tôi rời khỏi phi trường vào con đường rộng rãi đi về thành phố, trước, sau và hai bên tôi đều có xe võ trang hộ tống.
Sau cuộc sống lễ nghi dè dặt bên Nhật, đối với tôi quả là một sự xúc phạm thô bạo và tôi tự cảm thấy tôi phản ứng lại một cách bất ngờ. Sự kích thích xâm chiếm tôi – một sự kích thích lạ kỳ, gần như tính dục, như thể sự phô trương vũ khí và cái không khí nguy hiểm và đe dọa vật thể này là một sự thách đố đối với nam tính của tôi. Tôi hài lòng được tiếp đón như một quân nhân chứ không phải với những sự tôn kính về chính trị. Tòi đến đây để hành động, để thúc đẩy những lực lượng và điều động những lực lượng ấy vào một mục đích thuận lợi. Tôi phải nêu gương tự tín, can đảm cho mọi người và để họ xem chức vụ của tôi nhự một chứng thư quyền lực. Đó là một giây phút say sưa, kiêu hãnh. Quân lính của Tolliver vây kín quanh tôi, như một nhân vật thiêng liêng, nhưng tôi muốn đứng dậy và để cho dân chúng nhìn thấy tôi như một người được đề cử đến để cởi mở xiềng xích cho họ.
Rồi tôi đưa mắt nhìn dân chúng và tức thời tôi như bị nước dội lên đầu làm cho tỉnh người. Dân chúng đâu có để ý nhìn tôi hay nhìn đoàn xe nham hiểm của tôi. Họ cũng không tụ tập từng nhóm để phất cờ và hoan hô vị tân cứu thế. Họ chỉ nhìn qua một lần rồi đưa mắt nhìn chỗ khác. Những gương mặt nhỏ và thông minh của họ trông chẳng khác như tạc bằng gỗ trắc.
Bọn người gánh vác nhún nhẩy đi qua với những thúng mủng treo dưới đòn gánh vắt ngang đôi vai gầy guộc. Một nhà sư đầu cạo nhẳn trong áo cà sa vàng nghệ chìa ra cái bát khất thực và một bà nội trợ đặt vào đó nắm xôi, miếng trái cây. Một vú em người Tầu già nua bước vội trên vỉa hè tay giắt những đứa trẻ sạch sẽ và đẹp như búp bê. Nhân viên cảnh sát gác tại các ngã tư đều có vẻ thản nhiên và làm việc hữu hiệu. Các cô thiếu nữ, tươi như hoa trong những váy, quần lụa ngồi sau lưng các cậu sinh viên trên các xe mô-tô. Các bà nội trợ ngồi trên xe xích-lô trông như những bà công chúa đài các và cổ kính, vẻ mặt bình thản, gần như khinh khỉnh, dưới nón lá.
Họ không phải là thù nghịch. Họ chỉ thận trọng, đứng ngoài cuộc, dửng dưng với những kẻ không thể làm gì thay đổi được nhiều nếp sống căn bản của họ. Đã có quá nhiều tiểu chúa đến rồi lại đi trong ký ức lịch sử của họ – bọn Tầu, bọn Mòng-cổ, bọn Bồ-đào-nha, bọn Hòa-lan, bọn Anh, bọn Pháp, bọn Nhật và sau chót là bọn Mỹ …và dầu vậy cũng chưa phải là sau chót, bởi vì Á- châu làm gì có sự kết cuộc. Địa thế bao la và phức tạp của lục địa này không thể có sự kết cuộc được. Các dòng giống bộ lạc luôn luôn xê dịch do sự thúc đẩy của những lớp núi chắn, sự khiếp hãi nhữug sa mạc tiêu điều, sự hấp dẫn của những vùng châu thổ đầy lúa gạo, sự thông thương của các sông ngòi dũng mãnh, sự ve vẫn của những hải đảo đầy hương liệu và những bờ biển sáng ngời châu báu.
Ở Á-châu bao giờ cũng có một ngày mai bởi vì đàn ông thì hãnh diện vì sức mạnh sinh lý và đàn bà thì được kính nể vì mắn con, và mặc dầu đói kém, dịch tả, kiết ly, đậu mùa, các bộ lạc vẫn cứ sinh sôi nẩy nở và Trung-quốc thì bao giờ cũng phình ra ở khắp biên giới và vươn dài các vòi hút háu đói đến các rưộng lúa và các con đường dẫn đến vùng biển của các hải đảo miền Nam. Trong hình bóng của những ngày mai đó, thành phố Saigon với những đại lộ đầy bóng mát, những biệt thự ấm cúng, với cái vẻ thanh lịch chán chường gô-loa, bỗng nhiên có vẻ phù du và xa lạ như chính tôi vậy.
Mắt tôi chợt bắt gặp một ánh mầu lóe lên và sự nhộn nhịp. Trước mắt tôi chừng năm mươi thước tôi nhìn thấy những viên ngói mầu xanh sáng ngời, những góc mái cong và những chạm trổ thiếp vàng của một ngôi chùa. Từ cổng chùa bước ra ba nhà sư, hai người trẻ tuổi đỡ một người đã già lắm. Họ cùng bước đến ven lối người qua lại, nơi đó họ trải một tấm thảm nhỏ xuống và đỡ nhà sư già ngồi lên trên. Một trong hai người trẻ đặt một lọ sành xuống cạnh bên. Họ cung kính ngả người lễ và rút vào trong chùa thành thử ra chỉ còn vị sư già ngồi đấy đơn độc như pho tượng quan sát bọn tôi đi đến.
Hôm nay ler septembre 1993, là ngày Báo hiếu của lễ Vu Lan PL. 2537, và
vừa rồi, tôi có đọc bài nói về Bác sĩ Phạm Văn Ngỡi, của anh bạn kèo dù già Thái Bạch, T.B. nói cuộc đời của thầy thuốc Ngỡi từ năm 1945 cho đến 1970 (năm tạ thế) vậy tôi xin viết tiếp lời T.B. và nhắc lại những gì tôi đã viết về quãng trước tức kể từ 1928 đến 1945. Tóm tắt lại, thầy thuốc Ngỡi, khi tôi biết, chưa gọi với chức “bác sĩ”, vì ông học trường thuốc ở Hà Nội, thi đậu ra trường với chức “médecin auxiliaire” phiên âm là “lương y phụ tá” và phận sự là giúp tay đỡ việc cho quan thầy thuốc tây, mới gọi “docteur en médecine”, chức “thầy thuốc” theo tôi hiểu, là danh từ do bác tôi là Dr Trần Ngọc Án, tự Diên Hương đã chọn và tự xưng và đề trên bảng gắn trước cửa nhà góc đường Nguyễn Du và Thủ Khoa Huân, là “Thầy thuốc Án” và sau nầy, khi Cách Mạng năm 1945 lật đổ chánh phủ thuộc địa Pháp, mới có danh từ “bác sĩ” trong khi từ lâu ngoài Bắc đã có sẵn từ “quan đốc” (docteur) và xin nói luôn nay gọi “y tá” thì trước đây trong Nam, chức infirmier auxiliaire “vẫn gọi nôm na là “phạm nhe” và khi nào tâng bốc để rửa ghét ít đau, v.v .. , khi ấy mới tặng từ “thầy điều dưỡng”.
Nhắc lại năm 1928, thì thầy thuốc Ngỡi đã có mặt tại châu thành Sa Đéc, ông có hai căn phố lầu một từng tại đường Vĩnh Phước, hai bên lầu ông có xây mỗi bên là bốn căn phố trệt, và mé hữu ông có dọn riêng hai căn làm phòng coi mạch và trị bịnh nhỏ và gấp rút, đặc biệt là ông có sáng kiến, dọn hai căn phòng thuốc y hệt nhau, nhưng một căn là dành cho người ưng trả tiền 2 đồng bạc (2$00) mỗi lần coi mạch và căn kế bên là chừa cho người không có tiền trả công coi mạch, tôi không dám gọi đó là người nghèo, còn từ “bình dân” hoặc “lao động” lúc ấy chưa có. Lối tháng Juillet (tháng 7 dương lịch) năm ấy, tôi từ Sài Gòn, tách rời trường Máy của ông quan Năm Rosel, đổi về tùng sự nơi tòa bố (dinh hành chánh) tỉnh lị Sa Đéc, với trên tay một gói áo quần nhục nhục và một bộ đồ y phục Tây, bỏ lại đất Sài Gòn nợ lút đầu lút cổ, nếu ở lại Sài Gòn là chờ ngày ngồi khám: kể sơ ba tháng tiền mướn phố chưa trả, nợ mua chịu một xe hơi hiệu FIAT của hãng Laurent Gay, giá 2.700$00, nhưng mua chịu, vừa trả được hai ba tháng và còn thiếu hơn hai ngàn bạc, phố và xe là tôi đứng tên, nhưng xe ấy ông nhạc bà nhạc sử dụng để đêm đêm đi đánh bạc và hai đứa tôi khi được ngồi xe là để đi mời tay bài về chứa lấy xâu, ngoài ra tôi chưa kể số nợ hỏi tiền góp và vay bạc chà sét ty trên số muôn … bữa tôi đến trình diện nơi phòng thuốc, tôi cung kính chào và thưa tôi là con rể của bà Kính, mẹ vợ tôi tên Dương Thị Thìn, vốn thân thuộc với Dì Tư Ngỡi, ông Ngỡi chưa nghe tôi dứt lời đã gọi tôi bằng cháu và mời cứ dọn đồ lại ở, Dượng cho tôi một căn phòng có giường sắt nệm bông mùng tàn ong trắng phếu, vài ngày sau vợ tôi là cô Tư Tuyết từ Sài Gòn xuống, hai đứa ở nhà Dượng Ngỡi mà ngỡ ngàng muốn rút lui nhưng đã trễ, cơm dọn trưa cơm ta chiều cơm Tây, ba bồi (boy) phục dịch, tôi còn nhớ tên hai người là Cư và Ngân, hai người nầy tuy dọn ăn mặc quần áo bà ba, nhưng sạch trắng, ủi là sắc lém, còn vợ tôi thì y phục lòn xòn ngồi vào bàn không xứng, riêng tôi thì mặc bộ đồ Tây bèo nhèo cả tuần nhựt mới thay một lần và tôi quên nói, khách ôi là khách, cứ đôi ba bữa là có ông Tây nầy hoặc vợ chồng ông Phó chủ tỉnh đến dự tiệc và hai đứa tôi không phương từ chối và Dượng tôi cứ ép có mặt mỗi khi có khách dự tiệc, để cho rậm đám và bữa tiệc thêm vui, trong khi tôi tủi thầm và nát ngướu tim can … Dì và Dượng quá tử tế, nhưng tôi thì nhột nhạt, vài tháng sau tôi kiếm được phố trống gần và cùng một dãy nhưng con ma nghèo chưa dứt khoát, ở Sài Gòn tôi lãnh 80 lương mỗi tháng thêm 60 bạc tiền dạy tiếng ta cho quan Tây, nay về Sa Đéc lương còn 65 bạc mất 15$ tiền phụ cấp đắt đỏ, tiền dạy Tây cũng mất luôn, thêm hãng xe hơi gởi thơ đòi tiền thiếu, thơ gởi ngay cho chủ tỉnh nhưng ông nầy độ lượng, dạy tôi điều đình sao xong cũng được vì là việc đời tư, cứ tháng nào tôi cũng hụt tiền chợ mấy ngày cuối tháng, tôi đến tìm Dượng Tư Ngỡi tại phòng mạch, hỏi khi mười khi năm đồng Dượng đầu kéo ngăn tủ trao số bạc và khi lãnh lương tôi đến xin trả, Dượng Tư vẫn cười tít toét và mắng yêu: “Bộ giàu lắm hả? Nhớ đừng cho Dì hay”. Ôi? lòng rộng như mặt nước Sông Tiền, nay Dượng đã khuất mà ơn kia vẫn nặng.
Thầy thuốc Ngỡi mất đã lâu, Thái Bạch kể sự tích thấy cử chỉ có nhiều bê bối, nhưng phải nhìn nhận Đảng rất là rộng lượng, còn dân chúng đất Sa Đéc, những người kỳ cựu còn nhắc và khen thầy thuốc Ngỡi: “tay bằng miệng và miệng bằng tay”, nghề tuy chẳng hơn ai, nhưng ông có được tánh dễ dãi, lạc quan, không có bịnh nhơn nào làm cho ông chạy và với bịnh nào ông cũng coi là nhẹ và nhờ ông vui tánh mà bịnh nhơn tin theo mà lành mạnh không hay. Ông lại có tánh mau biết lòng người, mỗi lần thấy tôi buồn buồn là biết tôi cạn tiền, ông thường bày chước dạy tôi dọn bàn dọn bài và tối lại, ông cùng ba ông bạn già kéo đến nhà, chà bài thiên cửu, đánh tới sáng hôm sau là tôi có đủ tiền xâu đắp đổi qua tiền chợ tiền cơm. Khi có người rước về nhà trị bịnh, khi ông gặp người kéo xe đi quá chậm, ông bèn biểu hạ gọng, và ông cho tiền hậu hỷ rồi nhảy qua xe khác chạy mau chạy lẹ hơn, vì ông nói: “cứu bịnh như cứu lửa?”. Nhưng ông có tật ham vui bài bạc, ông thường dùng xe nhà, xe đua hiệu Bugatti sáu máy, mỗi trưa ngày thứ bảy, ông năng lên Sài Gòn đánh bạc, xe của ông khi chạy gần tới bến đò Mỹ Thuận, ông ra hiệu kèn thì đò máy dầu sắp mở đỏi, cũng nán lại chờ rước xe ông vì tiền thưởng dồi dào, năm chót trước khi tôi rời tỉnh Sa Đéc, nhớ vào dịp Tết năm nọ tôi đến từ giã ông để về Sốc Trăng thăm Ba tôi, và tôi hay tin ông kẹt tiền tôi vụt mời ông hãy nhận một số bạc lớn (độ 7.000$00) tôi sẽ lấy bạc tủ Nhà Nước để ông mượn dùng đỡ, khi tôi ở Sốc Trăng trở lên, hết Tết, nhà băng mở cửa làm việc, ông sẽ hoàn số tiền nọ, ban đầu ông khứng chịu, nhưng khi tôi mang tiền đến thì ông từ chối không nhận với câu: “Tiền của Nhà Nước, khó lòng và lôi thôi lắm. Hãy trả vô tủ lại đi!”. Mấy lời chí thiết nầy, tôi nhắc lại đây để cho thấy tấm lòng ông Ngỡi, và nhờ vậy mà tôi khỏi mất chức khỏi ngồi tù. Ông Ngỡi thường dùng ngôn ngữ Pháp và chơi thân với Tây, không phải nịnh bợ, nhưng theo ông, chơi với quan Tây cho ăn và đãi tiệc, thường là để mua lòng, khi nào có người cậy ông, ông vào quan và can thiệp thì quan nhượng và bỏ qua ngay … sau rốt, ông mắc nợ lớn, chủ nợ lúc đó, có tục bắt giam thân cho vào tù chờ trả nợ, ông Ngỡi vào khám Vĩnh Long, ngày mãn hạn, xe ô tô nườm nượp kéo từ Sa Đéc qua Văng mừng và rước ông Ngỡi như lễ thỉnh sắc thần. Tây tà đều ngán … Một khi ông hay quan thầy cũ, đốc tờ Le Roy des Barres từ Hà Nội về xứ, ông mời des Barres và quan thống đốc Blanchard de la Brosse, xuống Sa Đéc cho ông tiễn hành.
Ông bày hội chợ “kermesse” tại sân túc cầu, chủ tỉnh Bartoli đọc diễn văn lập cập còn ông ứng khẩu nói dòn tiếng Tây nổ như bắp rang, người nào không biết thì sẽ chê ông ưa bợ đỡ, nhưng khi biết tánh người Miền Nam thì phần đông đều như vậy, ở với bọn thuộc địa, ngôn ngữ như chúng thì chúng phải kiêng. Sở dĩ thầy thuốc Ngỡi như đốc tờ Nguyễn Văn Thinh, và như bác sĩ Trần Văn Đôn, vào Hội đồng Tư Vấn, v.v .. là bị Tây gạt mớp, khi biết được thì việc đã lỡ, đèn nhà ai nấy sáng, xin khoan lên án và sau nầy sẽ hay. Đời ông Ngỡi kết cuộc rất bi quan. Ông mắc bịnh nước tiểu có đường, ngày tôi đến thăm, gặp ông ngồi ăn canh hẹ tào hủ, ông chan cơm lua vài đũa rồi buông đũa ngó tôi lưng tròng. Tôi là thằng ở bạc, ngày đưa đám tôi không hay để tiễn Dượng tôi. Khi ông ở Hà Tiên, ông đặt tên con Hà và Tiên (nay còn bà quả phụ Tiên) và về Sa Đéc, con là Sa và Đéc, nay Sa vẫn còn nhưng đã trên bảy mươi và vẫn không được dồi dào sức khỏe. Tôi viết bài nầy nếu có sơ sót là ngoài ý muốn và còn một chi tiết nhỏ, tôi không đảm bảo là đúng sự thật nhưng vẫn thuật lại đây và không làm bớt uy tín Dượng Tư Ngỡi được, là có người thuật lại rằng Ngỡi trước tiên là y tá ở dưỡng đường Chợ Rẫy, một đêm Ngỡi gác trại sanh, một phụ nữ sanh cảnh đẻ ngược, chạy đi tìm bác sĩ Tây thì không gặp, lên tìm ông An Nam thì cũng vắng mặt, tự Ngỡi đảm đương, sáng ngày hai bác sĩ thấy “mẹ lành con vuông”, bác sĩ Tây phấn khởi quá, đề nghị cho y tá nầy vượt bực được khỏi có đít lôm, ra Hà Nội học nghề thuốc, gặp thí nghiệm quan thầy Tây dạy sinh viên chỉ chỗ của đầu đứa trẻ trong bụng mẹ, các sinh viên kia đều kẻ trật người trúng, riêng y tá nầy khi nắm chắc đầu đứa bé trong thai thì tay nắm cứng, miệng hô: “Voici la tête”, bác sĩ Tây cười, và khen trí lanh y tá nầy.
Giấy còn thừa, xin kiếu lỗi vì viết quá dài, nay viết thêm: “Sở dĩ trong Nam, khi nói “Ngỡi”, Phạm Văn Ngỡi, khi lại nói Ngãi, như Vàm Đại Ngãi ở Sốc Trăng, như Quảng Ngãi, ở Miền Trung, và tránh và ít khi dùng và hát chữ “Nghĩa” (trừ Thủ Khoa Nghĩa là bài khác) và chuyện nầy là do người bạn quá cố Năm Sa Đéc truyền cho biết, như câu Lữ Bố với nàng Điêu: “ … đây mong kết ngỡi, đó đành vong ân!” vẫn hát Ngỡi, kéo dài nghe êm, chớ nghĩ … ỉa (nghĩa) thì thối lắm.
(1-9-1993, V.H.S.)
Tội nghiệp cho Phạm Đăng Hưng, nhân vật lớn đất Gò Công.
Gọi ông bằng gì cũng khó. Ông là cực phẩm trọng thần đời vua Gia Long, nhưng nay mộ lăng không được ấm cúng, nên tôi hạ hai chữ tội nghiệp. Đó là hỗn. Nhưng viết làm sao? Có người đã khuyên tôi sống dai biết khá, hãy kể nhơn vật xưa đất nầy nghe chơi. Tôi cũng muốn lắm. Nhưng bứt mây động rừng. Có nhiều ông bự, trước làm nhiều việc không hay, tỷ như Trần Bá Lộc, nhưng nay kể việc ông làm, cũng không xong. Biết đâu chừng, dòng họ ông dầu nay thay danh đổi tánh, nhưng nay mình nói động, họ thù họ ghét, viết không ăn được mấy đồng, mà cái hại to lớn như bồ lúa. Một ngày nào họ quăng cho gãy giò, đáng kiếp, tiền viết lách không đủ chạy thuốc. Bằng như viết để bêu thơm, cũng khó. Người đọc bài sẽ chê viết nịnh bợ. Nói ba hoa rồi cũng phải viết, cho đỡ buồn. Lấy sự tích nầy làm gương.
Phạm Đăng Hưng
Sanh tại giồng Sơn Qui (đất nổi cao như mu rùa) cũng gọi là giồng Khổng Tước, vì xưa có chim công đến làm tổ nơi đó. Lớn lên theo đánh giặc, người nào theo Tây Sơn thì nay được tôn, người như Hưng, theo Gia Long, khi về già, vua hấp hối, gọi lại và cho làm người tin cậy, giữ lời trối. Rốt lại, người nhận trối được dân tôn làm thần và đó là đức Tả quân (Bà Chiểu), còn Hưng, về làng nhau rún, xây mộ, lại bị mấy lần phá phách: lần nhứt, bia đá có chữ của Phan Thanh Giản, khi bia chở về tới cửa biển trong nầy, gặp lúc Tây đánh bên mình giết đại úy Capitaine Barbet của chúng, chúng đoạt thuyền cướp bia, lấy bia chạm lên ba chữ Tây “ci git capitaine Barbet” v.v .. rồi dựng bia nầy nơi mả Barbet ở nghĩa địa Sài Gòn, tôi từng thấy bia nầy tận mắt, rồi nghĩa địa Tây bị ta phá bình địa, tấm bia đá ấy xiêu lạc hà phang? Vua Tự Đức sai làm bia khác cho ông ngoại, bia đem về Gò Công và có được dựng lên hay không, tôi làm sao biết, duy mới rồi, mua tờ tuần báo Văn Nghệ số 110 (7/10-10-93), nhìn kỹ nơi trang 8, thấy mập mờ lăng họ Phạm, nơi phía lưng có dạng cao và bị che khuất, có phải đó là bia thứ 2 của đời vua Tự Đức sót lại hay không?
Trong bài ấy, ông Nguyễn Hoài Nhơn thuật rằng lăng mộ bị phá phách, mấy con sư tử đá rất khéo, di tích kỳ công thợ Huế thế kỷ XIX nay hư hao đã nhiều, hóa ra dân ta còn khờ quá, không có lòng tôn trọng mỹ thuật cổ, dầu của đời nào, đời Tây Sơn hay đời triều Nguyễn Phước cũng là cổ vật nên để dành và tại sao làng xã Gò Công để cho chăn trâu chăn bò phá đi. Ai ghét cộng cho bằng dân Anh, nhưng họ đâu có dại và Ăng lê vẫn tu bổ mộ phần của Karl Max để dụ ngoại dân đến làm giàu.
Lê Văn Châu, bút hiệu Trang Châu, sinh năm 1938 tại Huế. trung học Yersin, Tú tài Triết 1957. Tốt nghiệp Đại Học Y Khoa Sài Gòn 1965. Sinh viên Quân Y Hiện dịch Khóa 12, gia nhập binh chủng Nhảy Dù, phục vụ tại Tiểu Đoàn Quân Y Nhảy Dù và Trường Quân Y tới 1975. Viết cho các báo: Tình Thương, Văn Học, Khởi Hành, Tiền Phong … Tác phẩm: Tình Một Thuở, thơ 1964; Y Sĩ Tiền Tuyến [giải Văn Học Nghệ Thuật 1969]; Giải Thích, thơ 1972; Thơ Trang Châu 1989, Về Biển Đông, bút ký 1995 …
Y sĩ Đại úy Lê Văn Châu
Một bài thơ cho Tuấn, Y Sĩ Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù
Tuấn ơi
Mầy không chấp nhận tầm thường
Lẻ loi mà bất khuất
Mầy lớn lao bằng im lặng
Hiên ngang trong âm thầm
Trang Châu và Nghiêm Sỹ Tuấn là bạn đồng khóa Y Khoa 1965, cùng làm báo sinh viên Tình Thương từ 1963 cho tới ngày ra trường. Trang Châu là sinh viên Quân Y hiện dịch, gia nhập binh chủng Nhảy Dù về Tiểu Đoàn 6. Nghiêm Sỹ Tuấn là y sĩ trưng tập cũng tình nguyện chọn về binh chủng Nhảy Dù – điều mà Đặng Vũ Vương trong nhóm Academic Tình Thương Vương-Tuấn-Thuần gọi đó “một chọn lựa thử thách cá nhân.” Nghiêm Sỹ Tuấn về Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù thay thế Trang Châu. Bài sau đây là trang bút ký Trang Châu viết về Nghiêm Sỹ Tuấn:
“…Tuấn là y sĩ Dù duy nhất bị thương hai lần, một lần ở Dakto, một lần ở Cao Lãnh. Ở Cao Lãnh anh bị một viên đạn ghim sâu vào đầu gối. Lối bị thương “lãng nhách” này làm Tuấn bực mình hơn là hãnh diện. Anh được gửi về Tổng y viện Cộng Hòa điều trị và tập vật lý trị liệu sau đó. Lần Tuấn bị thương ở Cao Lãnh tôi được chỉ định đi thay thế anh vì tiểu đoàn 6 Dù là đơn vị cũ của tôi. Khi trở về lại bệnh viện Đỗ Vinh, tôi nghe nói Tuấn sau khi bình phục sẽ được theo học khóa giải phẫu một năm. Thấy Tuấn nhỏ con, tôi nói đùa với bác sĩ Vũ Khắc Niệm và bác sĩ Đinh Hà:
– Thằng Tuấn mà về Đỗ Vinh thì phải đóng cho nó một cái bục để trong phòng mổ nó mới “khua đao” được.
Sau đó nghe nói Tuấn bỏ không theo khóa học giải phẫu vì đòi hỏi của Tuấn là sau khi học xong phải cho Tuấn về lại bệnh viện Đỗ Vinh, điều mà Cục Quân Y không hứa. Thế là tập xong vật lý trị liệu Tuấn lại “súng, xắc” trở về làm y sĩ trưởng Tiểu đoàn 6 Dù cho tròn chu kỳ hai năm phục vụ ở cấp tiểu đoàn.
Tòa soạn báo Tình Thương 103 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Sài Gòn. Nghiêm Sỹ Tuấn là Thư ký Tòa Soạn từ số 1 tới số 13 tới ngày Anh tốt nghiệp và gia nhập binh chủng Nhảy Dù.
Hình chụp trước Tòa soạn, từ trái: Bùi Thế Hoành, Trang Châu (trưởng ban
Thơ), Ngô Thế Vinh, Phạm Đình Vy Chủ nhiệm Tình Thương từ số 1 tới khi báo bị đình bản.
[tư liệu Ngô Thế Vinh]
Trận Khe Sanh mở màn. Đơn vị Dù hành quân cấp chiến đoàn. Khi một y sĩ mới về tiểu đoàn Quân Y Dù đúng vào lúc sư đoàn Dù đang chuẩn bị hành quân lớn, trung tá y sĩ trưởng Hoàng Cơ Lân bao giờ cũng chờ chiếm xong mục tiêu mới cho bàn giao chức vụ. Người sẽ thế bác sĩ Tuấn là bác sĩ Trần Quý Nhiếp. Trong khi chờ đáo nhậm đơn vị, bác sĩ Nhiếp ở hậu cứ sáng sáng đi nhảy bồi dưỡng. Vào thời điểm năm 1968 các sĩ quan đều bị cấm trại. Chúng tôi ăn ngủ và làm việc ở bệnh viện Đỗ Vinh. Tôi còn nhớ một hôm đang còn nằm ngủ trưa thì bác sĩ Niệm vào vỗ tay, nói lớn:
– Dậy, dậy, có tin quan trọng!
Tôi ngồi bật dậy, giọng Niệm đứt nghẹn:
– Thằng Tuấn chết rồi! Bị pháo kích! Y tá mình bị thương một lô nhưng không đứa nào chết. Chỉ có một mình Tuấn chết! Đau thật!
Nhiếp nhận lệnh cấp tốc lên đường thay thế Tuấn. Định mệnh lại oái oăm chờ chực ở ngã rẽ của đời người. Chỉ còn vài ngày nữa là Tuấn chu toàn nhiệm kỳ hai năm ở cấp tiểu đoàn. Khoảng 3 giờ chiều trung tá y sĩ trưởng cho gọi tôi tới văn phòng ông. Ông nói, giọng cố giữ bình tĩnh:
– Anh Tuấn tử trận rồi chắc anh đã biết tin. Vì anh là y sĩ cũ của Tiểu đoàn 6 Dù tôi giao anh nhiệm vụ thông báo tin buồn cho gia đình anh Tuấn, anh đi ngay và lựa lời nói cho khéo. Anh về cho tôi biết ý muốn của gia đình anh Tuấn về việc mai táng. Ngồi trên chiếc xe Jeep đưa tôi đến nhà Tuấn tôi như người vô hồn. Tôi hoang mang không biết phải mở đầu lời nói ra sao. Tôi chưa bao giờ được học tập để thi hành một công tác vừa khó khăn vừa tế nhị như đi báo tin một đồng đội vừa tử trận cho gia đình họ. Tôi không còn nhớ nhà Tuấn ở khu nào, chỉ còn nhớ là một ngôi nhà nhỏ nằm trong một khu bình dân. Ra mở cửa là một ông cụ người tầm thước, mảnh khảnh. Thấy tôi mặc quân phục Dù, đứng thẳng chào tay, ông nở nụ cười và nói:
– Mời đại úy vào nhà.
Vào nhà ông chỉ tôi một chiếc ghế mời ngồi. Ông cũng đứng trước một ghế đối diện. Tôi vẫn đứng yên, cất chiếc mũ đỏ đang đội trên đầu, cầm chặt nó trong lòng hai bàn tay, rồi run run cất tiếng:
– Thưa bác, cháu đại diện Trung Tá Y Sĩ Trưởng đến báo bác một tin buồn: Anh Tuấn đã tử trận ngày hôm qua.
Tôi vừa dứt lời ông cụ rơi người đánh phịch xuống ghế, ngồi bất động, hai mắt trừng trừng nhìn tôi, nét mặt nhợt nhạt. Tôi vẫn đứng yên không biết nói gì thêm. Giây lâu ông cụ mới hỏi:
– Bộ đánh nhau to lắm hay sao?
Lời nói ông cụ như một cái phao, tôi vội níu lấy:
– Dạ vâng, trận chiến rất ác liệt. Anh Tuấn đang săn sóc một thương binh thì bị một quả pháo của địch rơi trúng.
Tôi chia buồn với ông cụ thêm lần nữa rồi chào cáo từ sau khi biết ý muốn mai táng của gia đình.
Đám tang của Tuấn được tổ chức trọng thể theo nghi lễ quân cách. Tôi là một trong bốn sĩ quan mặc quân phục đại lễ trắng đi cạnh quan tài Tuấn. Tôi còn nhớ lúc hạ huyệt, hai người khóc nhiều nhất là bác sĩ cố vấn Smith và bác sĩ Nguyễn Thượng Vũ, một bạn cùng lớp của Tuấn.
Chúng ta đã nghe nói đến khu lăng mộ làng An Bằng trong vùng biển Thuận An, thuộc huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Đây là một ngôi làng có những khu lăng mộ tráng lệ, được nhiều người gọi là “thành phố ma” hay “vương quốc của người chết,” với những công trình xây dựng đồ sộ, công phu mà có lẽ trong nước và cả ngoại quốc khó có nơi nào sánh nổi, kể cả so với lăng tẩm triều Nguyễn tại Huế.
Trước năm 1975 An Bằng là một ngôi làng biển cách xa ánh sáng văn minh của thành phố Huế, dân cư hầu hết là ngư dân nghèo khổ, không có ruộng đồng, mùa cá năm được năm không. Những năm mất mùa dân làng phải đi ăn xin, làm thuê cho các vùng lân cận. Thời thơ ấu, tôi đã trông thấy từng đoàn người từ vùng biển Thuận An dắt díu nhau đi bộ lên Huế để đi xin. Có những thời điểm cả làng vắng hoe vì đến cả trẻ con cũng theo bố mẹ đi ăn xin, nên An Bằng đã có thời được gọi là “làng ăn xin.”
Sau năm 1975, Thuận An trở thành một địa điểm thuận lợi để vượt biển, có người sang đến Hồng Kông, có ghe được tàu buôn ngoại quốc vớt. Người An Bằng ngày nay 80% đã định cư ở nước ngoài, có gia đình có đến 13 người con ở Mỹ. Vươn lên từ quá khứ nghèo khó, khổ cực, dân An Bằng đỗ đạt hay làm thương mãi rất thành công. Cũng như tất cả những người Việt bỏ quê hương ra đi, họ dành dụm tiền bạc để gửi về giúp cha mẹ già hay thân nhân còn ở lại. Tưởng nhớ ông bà hay lo phần mộ cho cha mẹ khi qua đời, khu lăng mộ An Bằng thành hình với hằng trăm khu lăng mộ công phu hoành tráng, có ngôi mộ tốn phí lên đến $170,000. Có gia đình đã xây xong lại đập phá để xây lại cho hơn người khác. Nhiều ngôi biệt thự cũng đã xây lên vì sĩ diện cho hơn hẳn láng giềng mà không cần có người ở. Tuy vậy, làng An Bằng còn quá nhiều gia đình kém may mắn, sau bao lần cố gắng vượt biển đã thúc thủ chịu cảnh nghèo đói như xưa, không có cả tiền cho con đi học, chẳng đủ tiền để mua dầu đi biển, và đất đai trong làng càng ngày càng thu hẹp vì sự phát triển của mồ mả người chết. Do vậy những khu lăng mộ này không cân xứng với quang cảnh trong làng và đời sống dân cư hiện nay của An Bằng.
Người gửi tiền về với lý do báo hiếu, nhưng người làng xây dựng nên những khu lăng mộ lớn lao không kém các bậc vua chúa thời xưa, phải chăng vì mặc cảm nghèo đói trong quá khứ, bây giờ có tiền làm sao cho nở mặt nở mày với thiên hạ.
Đó là nói về những người nghèo khó vượt biển ra đi, còn những người ở lại, sống sau thời bao cấp, thời “mở cửa” có tiền bạc, cũng vì mặc cảm một thời đói rách, khó khăn, đổ tiền vào để khoe khoang. Sự phô trương ấy không phù hợp với một đất nước mà 80% người dân đang quần quật chạy theo miếng ăn mà ngay trong làng, các cơ sở y tế, giáo dục vẫn không hơn gì những vùng đất nghèo khổ khác. Thay vì trả thù quá khứ bằng cách đầu tư vào các thế hệ tiếp nối để xây dựng một tương lai sáng sủa hơn cho xóm làng, thì những vị trưởng giả này muốn được một tiếng khen ngợi, hay trầm trồ cho những công trình tốn kém, vô bổ cho hư danh.
Theo nguồn tin trong nước, cho tới nay tại Việt Nam đã có tới 29 chủ nhân của xe Rolls-Royce các loại, cả cũ và mới. Đây thực sự là con số khá đặc biệt với một thị trường nhỏ như Việt Nam bởi mỗi chiếc Rolls-Royce mới có giá sau khi đóng thuế trước bạ hơn 1 triệu đô la. Dương Thị Bạch Diệp, Lê Ân, Lê Hoàng, Nguyễn Đình Khoa là vài tên chủ nhân tiêu biểu. Nguyễn Quốc Cường với bộ sưu tập Lamborghini Gallardo SE, Lamborghini Gallardo, Ferrari 360 Spider, Ferrari F430, Ferrari F430 Spider… có giá từ $200,000 đến $500,000. Đoàn Nguyên Đức tức Bầu Đức, nay là một đại gia sở hữu một tài sản 100 tỷ đồng là chủ nhân chiếc máy bay Beechcraft King Air 350 có 12 chỗ ngồi với giá 7 triệu đô la. Chủ tập đoàn Hòa Phát Trần Đình Long cũng bỏ ra để mua máy bay riêng 5 triệu.
Các tỉ phú ở Mỹ chưa có ai chơi ngông như nhà giàu Việt Nam đặt một cỗ quan tài bằng gỗ quý, giá ít nhất cũng phải $400,000 đến $600,000. Đã từng có đại gia ở Hải Phòng lên tận Hà Nội đặt quan tài gỗ sưa, chạm khắc rồng phượng, dát vàng, tổng chi phí khoảng… $5 triệu. Nhiều đại gia sưu tập “ngọc nghiến” làm bàn ghế, chơi cây cổ hàng vài trăm tuổi, cây sanh 200 tuổi của một đại gia có giá $1.2 triệu. Ở một xứ nghèo “bắt ốc mò cua” như Nghệ Tĩnh cũng có người xây dựng một ngôi nhà gỗ giá 3 triệu đô la, xây cất từ 2,000m3 gỗ quý đinh hương, giáng hương và cẩm lai, hay tổ chức đám cưới chơi ngông cho bõ những ngày cơ cực, với thù lao mỗi ca sĩ lên đến $20,000, chưa tính chi phí hôn lễ, xe đón dâu và tiệc tùng. Để trả thù dĩ vãng thua thiệt người ta làm đám ma chó linh đình, đón dâu bằng máy bay riêng, mua du thuyền… nghĩa là bằng mọi thứ để lòe đời, trong một xã hội mới phát triển, vừa ra khỏi chiến tranh, với lối sống “y phục” chẳng “xứng kỳ đức” chút nào!
Dân làng An Bằng xây những khu lăng tẩm đồ sộ đắt tiền như ngày nay là vì mặc cảm ngày xưa ông cha đã nghèo khó, vất vả thậm chí có cuộc sống khốn cùng, nay muốn phô trương để trả thù cuộc đời, trả thù dĩ vãng. Những người có cơ hội giàu phất, nhanh lên chỉ trong vòng mươi lăm năm từ một dĩ vãng khó khăn, đói nghèo muốn hoang phí tối đa để bù đắp thua thiệt trong quá khứ. Sau tháng 4, 1975, những người từ trong rừng ra, cũng từ mặc cảm này, không còn “sáng ăn khoai” mà “khoái ăn sang” nên vào tiệm ăn sáng thì phải “thuốc có cán,” “phở đặc biệt tô lớn hai hột gà,” “cà phê sữa đá”… Trả thù những ngày sơ tán, bom đạn, tem phiếu, chờ chực suốt ngày để mua được miếng thịt ôi, con cá, mớ rau, thước vải… ngày nay không thiếu những “đại gia” chân còn dính phèn nhưng cũng vào hàng ngũ “quý tộc” trong những câu lạc bộ dân đánh golf, chơi du thuyền, quần vợt… giàu có, phú quý “sinh’ năng dâm, ăn chơi trác táng cho bõ những ngày cơ cực.
Nhận xét về lề thói chơi sang này, Tiến Sĩ Alan Phan, chủ tịch Quỹ Đầu Tư VIASA, một doanh nhân Việt ở Mỹ đã nói rằng: “Đại gia mới giàu nên thích khoe mẽ, nó bắt đầu từ tiềm thức về một quá khứ thua kém.” Để giải thích hiện tượng “chơi ngông,” “khoe mẽ” hiện nay ở Việt Nam, ông Phan nói thêm: “Doanh nhân Á Châu, phần lớn người Trung Quốc và Việt Nam gặp phải một vấn đề là sĩ diện. Có lẽ vì mặc cảm thôi. Đại gia Việt Nam đa số mới giàu, chứ thời bao cấp có ai giàu đâu. Bởi vì họ mới giàu lên nên thích khoe.” Trong câu chuyện trên báo chí Việt Nam, bà Bạch Diệp thú nhận theo cha tập kết ra miền Bắc, sau năm 1954, kể cả những khi đã có chồng, sinh con, có lúc đói phải đi mót khoai về ăn. Bầu Đức, theo báo Việt Nam, 40 năm trước là một chú bé chăn trâu ở Phù Cát, Bình Định. Ông Lê Ân lớn lên trong một gia đình nghèo đông con ở xứ Quảng, đã mưu sinh qua đủ nghề may, nấu xà bông, bỏ mối buôn thuốc tây, đi vùng kinh tế mới, tham gia vượt biên, ngồi tù.
Không nghe ai nói các đại gia ở Việt Nam làm việc từ thiện như thế nào, nếu xuất thân từ bần cùng mà ra phải thương xót hoàn cảnh người bần cùng, nhưng họ lại thích chơi ngông, để trả thù một quá khứ đã chịu thiệt thòi, thua kém người khác. Trong khi đó, tỉ phú người Mỹ Warren Buffett, 80 tuổi, đã tặng $1.78 tỉ cho nhiều tổ chức từ thiện, trong đó phần lớn được trao cho quỹ từ thiện của gia đình Bill Gates. Ông vẫn ở căn nhà mua từ 50 về trước, vẫn tự lái chiếc xe đời cũ mỗi ngày. Quỹ Bill & Melinda Gates từ năm 2007 đã chi $28 tỷ (chiếm 48% tổng tài sản $59 tỷ) để làm từ thiện. Theo công bố đăng trên trang http://www.givingpledge.org/ của tổ chức Giving Pledge, hai tỉ phú Bill Gates và Warren Buffett đã kêu gọi được 40 tỉ phú khắp nước Mỹ cống hiến phần lớn tài sản của mình, khoảng 50% số tài sản hoặc hơn, cho mục đích từ thiện.
Quan quyền, cán bộ mặc cảm về cha ông xuất thân “bần cố nông” thì dựng lăng mộ, xây nhà thờ họ rình rang, dân dã mặc cảm vì nghèo đói, đã bán thân con ra ngoại quốc, thì xây cửa nhà cho lớn, mua xe cho sang, TV màn ảnh rộng, tiêu xài huy hoắc cho bằng làng bằng xóm. Càng trả thù dĩ vãng càng làm cho người đời thấy rõ dĩ vãng của mình và trong một xã hội vốn mang khẩu hiệu tranh đấu cho giai cấp, ranh giới giàu nghèo càng ngày càng cách biệt, “người ăn không hết, kẻ làm không ra!”
Mùa nầy, tháng 8 âm lịch, bánh Trung thu đang làm quảng cáo, bánh Bắc, bánh Ba Tàu Chợ Lớn, rầm rộ bày bán, lớp có bán rao cấm bán lậu v.v.., cũng là mùa sầu riêng đang rộ bán và cũng gần hết mùa – hãy mua và nếm cho biết mùi đi, các bạn nhỏ cán bộ có tiền, trái sầu riêng tôi nói đây – không phải một loại với “Mì ăn liền”, mà cũng xin đừng lầm lộn với “Lá Sầu Riêng” của nghệ sĩ Kim Cương, không khéo tôi bị kiện trộm tuồng trộm nhãn hiệu, cũng mùa rộ như nấm, loại sách trụy lạc, kiểu “Nổi loạn” mà có thứ quay Ronéo bán lén giá năm chục ngàn và thứ in lỡ bị cấm phát hành, nhưng cũng có người lén mua cho được, vì phong trào Đời Mới, cái gì bị cấm, thì cái đó bán chạy như tôm tươi.
Vả lại, bài tôi viết đây, nửa theo khoa học, nửa viết cà rỡn giỡn chơi, cà lơ háp nắng, tánh tôi quen pha lửng, tuy tuổi đã 92, nhưng còn hơn lão tướng Huỳnh Trung trong Tam quốc chí, xơi cơm mỗi bữa một tô đầy, mặc dầu răng cỏ không còn và đã thôi gặm chí quách, chữ là “Trư Cốt”.
Không có trái cây nào như trái sầu riêng. Không ăn không biết ngon, khi biết ăn rồi vẫn nhớ và ghiền còn hơn ghiền xì ke châm chích.
Tên khoa học trong sách là “Durio Zibethinus Murray”, các bạn nhỏ cũng đừng nhớ chi danh từ nầy. Tên thông thường Pháp ngữ là “Durio”, người Miên đất Campuchia, nhại lại và gọi “Thu ren”, còn tiếng Việt ta là “sầu riêng”. Tôi không đủ tài đủ sức dịch nguyên văn bài chữ Tây của sách nghiên cứu của tác giả Alfred Petelot, bốn cuốn xuất bản năm 1952, nhan là: “les plantes médicinales du Cambodge, du Lao ét du Vietnam” (cây có vị thuốc của Miên, Lào, Việt). Những danh từ chuyên môn về thảo mộc học, tôi xin chừa cho các nhà học cao sẽ dịch lại cho đúng, riêng tôi, tôi xin tóm tắt đại lược những gì ông Petelot đã ghi: “Cây cao độ 25 mét. Lá dày cộm, lốm đốm, mỗi gai có chứa 3 hay 5 hột (hạt) li ti. Khi trái chín thì tự nứt xé ra (là lúc vừa ăn …)”.
Thường thấy trồng nhiều ở Miền Nam đất Việt và ở Cam Bu Chia. Có lẽ gốc gác của quần đảo Ấn Độ. Sầu riêng, trái lại là giống cây ăn quả được trồng nhiều nhứt ở Mã Lai Á. Cơm (thịt của trái nầy), ngoài Bắc dùng từ “cùi” để gọi mớ “thịt” ấy, tỷ như “nhãn cùi” thay vì ở Nam gọi “nhãn nhục”, trở lại về sầu riêng, thịt màu trắng như sữa, dẻo và béo gần như “cà rem” (crème), gần như sorbet thơm mát, và sầu riêng có một mùi đặc biệt, vừa như lê ghim, như hoa quả, như cà rem cây. Mùi đặc biệt khó tả của sầu riêng, không trái cây nào giống, là sầu riêng có mùi “thủm thủm” khi chưa biết ăn thì phải giựt mình tưởng đâu là mùi phân (phân của loài động vật), nhưng khi dùng quen, ăn quen rồi, quen mùi ấy rồi, thì cái mùi thủm thủm khó chịu ấy, lại là mùi riêng bắt nhớ bắt thèm!
Đặc biệt khác nữa là sầu riêng, khi chín thì từ trên cây rụng xuống cội nhưng chưa dùng được và phải chờ trái tự nứt ra, thì “thịt” mới dịu và ngon hảo hạng, bằng như tiếc để lại ngày sau, thì thịt “trở nên có rượu” lên men, nhớt và mất ngon (đoạn cuối là của tôi viết thêm).
Sầu riêng có tánh cách bổ khỏe dục tình (propriétés aphrodisiaques). Rễ và lá, ở Mã lai á, người thổ dân dùng để trị bịnh sốt rét (theo thuyết của hai ông Burkill và Haniff) Card Bull. S.S. 1930, p. 176, và lá sầu riêng nấu lấy nước để tắm thì trị được bịnh da vàng (jaunisse).
Hột (hạt) sầu riêng dùng làm thức ăn được, khi nấu hoặc chiên cho chín. Ở đảo Java (trước đây ông cha ta dịch là Chà Và), hột sầu riêng đâm hay giã nhỏ nát như bột, thì dùng trộn với đường, và làm thành bánh ngon. Một đoạn trên đây, sau mấy câu mở đầu, là tôi cố dịch thật sát những câu Pháp văn của Petelot và xin nói thêm, người âu, người Pháp, khi viết về nghiên cứu như vầy, văn vẫn khúc chiết, khó dịch cho thông, và cái tánh mình nên bắt chước là luôn luôn khi mượn theo ý kiến của ai thì vẫn nêu rõ nguyên gốc đã mượn (không như ở đây, lấy của người rồi vẫn làm như của mình!).
Phần viết thêm của tôi.
– Trong một tạp chí Pháp cũ, hình như trong Revue Indochinoise, tôi đã quên của niên số rồi, có tích người đồng bào Thượng ở Miền Trung, khi di cư đi qua vùng rừng núi khác để sinh sống, vẫn đúng ngày đúng tháng sầu
riêng nơi vùng đã lìa, khi sầu riêng ấy trái chín, thì cơm ghe bè bạn, họ kéo cả gia đình, cả lũ về để thưởng thức và không quên và bỏ sót năm nào dầu xa xôi cách mấy cũng lặn lội về … Lúc mới có sầu riêng, tôi nói đây là lúc tôi còn bé thơ, ở nhà cha mẹ tại châu thành chợ Sốc Trăng, lối những năm 1910 – 1915, ở đất nầy chưa có trồng và trái sầu riêng vẫn do từ Nam Vang (Kăm bù chia) dùng tàu Lục tỉnh chở xuống, hoặc do các thủy thủ đi Thái Lan chở qua, trái to tướng, nặng trên hai ký hoặc tới ba kí lô, giá bán đếm từ đồng bạc con đầm Xòe, (bạc con Cò trong nầy, cân 27 cờ ram) giá bán cả mấy đồng bạc, chưa hơn cinq piastres, nhưng vẫn cắn răng hít hà giành giựt tranh nhau mua ăn, thân phụ tôi nói có khi có người cầm quần bán áo để mua, lúc ấu thơ, tôi cho là nói thêm và nay tôi đã gần xuống lỗ, mới hiểu lời nói không ngoa. Nhưng cảm tưởng và kinh nghiệm riêng xin nói ra đây, các độc giả đừng cười:
– Vào năm 1932 đến 1938, tôi còn làm việc nơi tòa hành chánh cũ tỉnh Cần Thơ, nhơn tháp tùng theo chủ tỉnh Pháp là quan cai trị (administrateur tên Colas), nhơn ghé biệt thự một phó tổng giàu sụ quận Phụng Hiệp, người chủ nhà tấn ơn, lấy sầu riêng trong vườn vừa được trái chiến, Colas đặt múi sầu riêng lên dĩa bàn trắng phều, rồi dùng nĩa và muỗng, xúc, múc mà ăn (tôi xin vô lễ dùng chữ “khều”, tuy khiếm nhã nhưng đúng hơn …) tôi đã làm tôi cho Tây thì phải theo phong tục của họ, nên tôi cũng khều sơ sơ và người dọn bàn bưng dĩa đem vào trong mà tôi vẫn tiếc, và nay xin nói luôn, vì chút như vậy mà tôi xin đổi chỗ làm và xin trở về làm nơi Soái phủ ở Sài Gòn cho khỏi cảnh ăn sầu riêng theo Tây tà. Và nay xin nói ra, người đồng bào Thượng biết trở về chỗ cũ để thưởng thức sầu riêng chín muồi dưới gốc, đừng cười họ là người rừng, và theo tôi, muốn ăn sầu riêng mà biết ngon, thì phải giữ theo tục ông bà của mình thuở nay, ăn xoài, ăn mít ướt, nhứt là ăn sầu riêng, phải biết đừng gớm, đừng sợ bị cười là chưa văn minh, và phải làm như lời ông Diệp Văn Cương, người đất Hanh Thông Tây xứ Gia Định, trước ra Huế thay ông Trương Vĩnh Ký, làm thầy dạy Việt văn cho vua Đồng Khánh, sau lui về Sài Gòn giữ chức giáo sư dạy tiếng An Nam nơi trường Chasseloup-Laubat (các môn đệ của ông Cương đều ham làm đốc phủ, duy một Phan Văn Hùm nối nghiệp và học được với Cương về lối chánh tả nên Hùm được Phan Khôi khen là viết ít sai chính tả, chính ông Cương nầy đã dạy, tôi nhờ học lóm, đọc sách của ông mà biết, thì có câu: “ăn thịt chồn đèn ngon” riết, “mút hột mít ướt ngọt điên” nói huỵch tẹt ra là phải ngậm vào miệng và mút trơ mút trít sạch hột mít, (hột sầu riêng), thì mới là người biết nếm, biết thưởng thức mùi lai đặc biệt của giống trái cây (mít ướt, sầu riêng) nầy.
Tôi xin thêm lời chót tuy kém nhã là “phải biết mút tay bà mụ” thì mới là người thành thạo, và xin nói tục thêm có gì dơ hơn tay bà mụ trầu đời trước.
Trần Xuân Dũng sinh năm 1939, Hà Nam – Bắc phần, Trung học Nguyễn Trãi – Hà Nội, Chu Văn An – Sài Gòn. Tốt nghiệp Y Khoa Đại Học Sài Gòn 1965. Nguyên Tổng thư ký báo Tình Thương. Y sĩ trưởng Tiểu đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến 1966. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Quân Y, kiêm Y sĩ trưởng Sư Đoàn 2 Bộ Binh 1969. Trưởng Phòng Huấn Luyện Trường Quân Y 1971. Cấp bậc cuối cùng Thiếu Tá. Sau 30-4-1975 bị Việt cộng nhốt trong các trại tập trung Long Giao, Suối Máu, Bù Gia Mập. Vượt biển 1978, định cư ở Úc, hành nghề Y khoa tại Footscray, Victoria. Tác phẩm xuất bản: Như Sóng Thần Lên 1990, Chiến sử Thủy Quân Lục Chiến 1997 & 2007, Nhị Thập Bát Tú 2015, Sống Chẳng Còn Quê 2018.
Ysĩ Thiếu tá Trần Xuân Dũng
Hồi Sinh Đợi Ngày
[4 chữ trong câu thơ chót của Nghiêm Sỹ Tuấn]
TRẦN XUÂN DŨNG
Sau khi đậu kỳ thi tuyển vào trường trung học Nguyễn Trãi Hà Nội năm 1951, tôi được vào học lớp đệ thất. Nhà trường có hai dẫy nhà. Dẫy chính cao, rộng và đẹp. Dẫy phụ, mới hơn, có hai tầng, nhưng không uy nghi bằng. Bước lên vừa hết cầu thang, rẽ sang tay phải là những phòng học dành riêng cho các lớp đệ thất. Phòng đầu tiên là của lớp Đệ Thất B1. Kế đó là lớp của tôi, Đệ Thất B2.
Tôi vốn là dân học gạo. Sau kỳ thi đệ nhất lục cá nguyệt, tôi được xếp thứ nhất ở trong lớp. Do sự tò mò, tôi cũng muốn để ý xem ở những lớp bên cạnh, ai là người đứng đầu trong số 60 học sinh của mỗi lớp.
Những học sinh lớp Đệ Thất B4 chỉ cho tôi người đứng đầu lớp họ. Tôi bước tới gần anh ta, tự xưng tên họ, rồi cũng hỏi ngược lại. Anh đáp: Nghiêm Sỹ Tuấn.
Tôi chợt nghĩ: cũng may, anh chàng có khuôn mặt gần như chữ điền, nước da trắng trẻo, với vẻ khôi ngô tuấn tú như thế này, mà học cùng lớp với mình, thì chưa chắc mình đã được xếp thứ nhất.
Chúng tôi trao đổi vài câu xã giao theo đúng như cách mà những người mới quen nhau thường dùng. Những ngày sau đó, tôi biết thêm được Hà Ngọc Thuần. Thuần vui tính, hay ngoác miệng ra cười lớn, trong khi Tuấn tuy cười rất tươi nhưng âm thanh không lớn. Ở những lớp trung học, có nhiều môn học. Thuần và Tuấn đều là hai người giỏi. Khi người này đứng thứ nhất, khi người kia. Sau 20-7-1954, chúng tôi đều di cư vào Nam. Và cũng cùng học tại trường Chu Văn An. Cùng đỗ tú tài một năm, rồi PCB một lượt, và cùng được vào năm thứ nhất Y Khoa với nhau. Ở trường Y khoa, khuôn mặt của Tuấn dần dần biến đổi. Cái vẻ khôi ngô tuấn tú hồi mới vào trung học đã nhường chỗ cho những nét đăm chiêu. Những nụ cười cũng trở thành có chừng mực.
Rồi tiến đến một giai đoạn khuôn mặt hiện lên nhiều vẻ của một kẻ khổ tu.
Tôi không tiện hỏi. Có thể rằng, hồi ở ngoài Bắc gia đình Tuấn khá giả. Phải bỏ miền Bắc mà đi, trong một luồng di cư của cả 1.000.000 người, vào tới trong Nam, chắc thế nào cũng khốn quẫn hơn. Tuy thế, chúng tôi vẫn đậu những kỳ thi cuối mỗi năm, để lần lượt lên học lớp cao hơn ở Y khoa Đại học đường Sài Gòn.
Có người sẽ hỏi, vậy Tuấn có cá tính gì? Tôi để ý, chưa bao giờ tôi thấy Tuấn nổi giận cả. Trong những câu chuyện thuở trung học hay thời đại học, tất nhiên có nhiều điều Tuấn không hài lòng và cũng lắm chuyện không đồng ý. Nhưng dù bất đồng ý kiến với ai hay bị người nào chỉ trích, Tuấn cũng chưa bao giờ có vẻ mặt hầm hầm cả. Nói thế không có nghĩa rằng Tuấn hiền như cục đất. Và cũng không có ý bảo rằng Tuấn không để ý đến ai hay là sống tách biệt, không thích tụ năm tụm ba. Tuấn vẫn tham dự mọi hoạt động của lớp học, mọi sinh hoạt của bạn bè. Chỉ có điều rằng, khi thấy ai bị chỉ trích châm biếm, Tuấn cũng không về hùa với kẻ nói, để làm cho người bị chỉ trích thêm bực mình, mà cũng chẳng hề xúi kẻ đang hằng nói đưa thêm, đưa ra những câu không thích hợp để nghe cho sướng tai. Mặc dầu vậy, Tuấn không hề có tính ba phải. Đúng với sai, đối với Tuấn, là hai điều rõ rệt. Trong rất nhiều năm, tôi chưa thấy Tuấn văng tục, dùng chữ Đ* … t mẹ (tiếng Bắc) hay Đ *… má (tiếng Nam) bao giờ. Cả chữ “L … ”, cái tên cúng cơm của bộ phận sinh dục phái nữ, cũng không được dùng tới.
Vài tuần sau khi cuộc cách mạng 1-11-1963 thành công, anh Trần Xuân Ninh, lúc đó vừa học hết năm thứ 6 Y Khoa, nẩy ra ý kiến, cần phải xuất bản một tờ báo cho Sinh viên Y Khoa. Anh bèn tự đánh máy trên giấy stencil một giấy mời rồi đem đi in ronéo, và phổ biến tại trường và các bệnh viện, thỉnh cầu anh em sinh viên tới họp để bàn vấn đề này. Tới ngày giờ ấn định, gần 50 sinh viên có mặt. Trần Xuân Ninh mở đầu cuộc họp, trình bày những lý do tại sao Sinh viên Y Khoa cần phải có một diễn đàn của chính mình, một cơ quan ngôn luận riêng. Sau hơn 3 giờ bàn luận, mọi người đều đồng ý là phải xuất bản một tờ báo. Toàn thể anh em đề nghị Trần Xuân Ninh làm Chủ nhiệm. Anh Ninh từ chối, lý do là chỉ còn 3 tháng nữa anh sẽ phải lên đường nhập ngũ. Anh em đang chọn người khác thì một câu hỏi được nêu lên khiến mọi người khựng lại: “Báo sẽ quay ronéo, hay in?”
Bàn đi tính lại, quyết định chung là báo sẽ phải được in đàng hoàng, chứ không thể dùng máy quay ronéo được. Vừa quyết định xong, tất cả đều lo. Lấy đâu ra tiền để thuê in báo mỗi tháng? Nếu là quay ronéo, thì anh em còn có thể cùng nhau xoay trần ra đánh máy, quay máy, đóng tập rồi phát hành – còn in, không thể nào có tiền được. Bỗng anh Phạm Đình Vy, vừa sắp sửa lên năm thứ 4, phát biểu: “Nhất định là phải in. Tôi quen một ông Tướng có tham dự vào cuộc đảo chánh. Tôi sẽ đến xin ông “viện trợ” cho một số tiền để in vài số đầu. Anh em hoan hô, phòng họp ồn cả lên.
Ban Điều Hành Tòa Soạn được đề cử gồm:
– Chủ nhiệm: Phạm Đình Vy
– Chủ bút: Nguyễn Vĩnh Đức (Sinh viên Quân Y)
– Tổng Thư ký: Trần Xuân Dũng
– Thư ký: Nghiêm Sỹ Tuấn.
Cả 3 anh Đức, Dũng, Tuấn đều sắp sửa lên năm thứ 5 Y Khoa. Đa số sinh viên dự họp ngày hôm đó đều đồng ý vào ban biên tập. Sau đó vấn đề đặt tên tờ báo được nêu lên. Một số tên liên quan đến chính trị và văn hóa được đề nghị. Phạm Đình Vy đề nghị tên “Tình Thương”. Đa số cho rằng đặt tên như vậy thì ủy mị quá. Nhưng tranh luận xong, mọi người đồng ý với Vy, vì dù sao hai chữ đó cũng hợp với nghề nghiệp của mình.
Thỉnh thoảng, rất thỉnh thoảng, Tuấn làm một vài bài thơ, thể Nhị Thập Bát Tú do Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương khởi xướng. Cũng có khi Tuấn không làm thành hẳn một bài, mà chỉ một dòng thôi. Trong khung cảnh của phòng sanh bệnh viện Từ Dũ, Tuấn đã đọc một câu:
Đầu ối vỡ toang, vào bể dâu.
1.1964
Vì công việc làm cho báo, cho nên tôi thường phải đến nhà Tuấn, ở vùng Tân Định. Đó là một căn nhà hẹp, bề ngang khoảngba thước rưỡi. Ngay sau cánh cửa ra vào là một cái bàn học. Sát ngay bên cạnh là một tủ sách mà tới hai phần ba toàn là sách chữ Hán: Sử Ký của Tư Mã Thiên, Nam Hoa Kinh của Trang Tử, Thơ của Đỗ Phủ, Luận Ngữ, Mạnh Tử … đủ hết. Tôi còn nhìn thấy cả quyển truyện rất lãng mạn, trữ tình, Tây Sương Ký nữa. Tôi vốn biết Tuấn rất giỏi chữ Hán. Nhưng tôi chưa bao giờ ngờ là Tuấn có thể đọc được những tác phẩm này, bằng nguyên bản chữ Hán. Có lần, Tuấn còn khoe với tôi rằng anh đọc quyển triết học của Hồ Thích, rất lấy làm thích thú. Tuy số thơ Nhị Thập Bát Tú Nghiêm Sỹ Tuấn sáng tác không nhiều, nhưng mỗi bài đều hoặc là chứa đựng nỗi ẩn ức của quê hương, khả năng nhỏ bé của con người, hoặc là nói đến sự tàn khốc đến ngu đần của súng đạn.
Mặc dầu Tuấn sáng tác những vần thơ này trong lúc còn đang học những năm chót ở trường Y khoa, nhưng mỗi khi đọc, tôi lại cảm thấy dường như anh đã linh cảm xấu. Không hẳn là một nỗi bi quan thống thiết, nhưng có vẻ tiên đoán về sự yểu mệnh nói chung của các chàng trai thời chiến. Tôi đọc chỉ thấy vậy. Và tự hỏi, sao Nghiêm Sỹ Tuấn lại viết ra theo cái cách mà các bậc trưởng thượng thường khuyên nên tránh, vì sợ nó vận vào người. Trong bài thơ “Quê hương”, ta thấy được cảnh vốn thanh bình của làng xóm. Một sự thanh bình đã được mô tả trong phần đầu của bản nhạc “Làng tôi” của nhạc sĩ Chung Quân.
Nhưng ở đây Tuấn viết cô đọng lại:
Rộn ràng chim hót rừng thưa
Lắng tai quen thuộc vườn xưa ngỡ ngàng.
Để rồi bỗng nhiên sự tan hoang xảy đến:
Đồi xa súng đạn ầm vang
Cành khô bặt tiếng giấc vàng tan mau
(Quê Hương)
Rồi khi chiến tranh lan rộng, không còn chỉ ở trên đồi núi xa xăm nữa, mà đã tiến dần về thành phố:
Đêm mở cửa, hỏa châu rơi,
Ngu đần la mãi bên trời sắt kêu.
(Bạn cũ)
Bom Đạn là những vật vô tri. Những kẻ xâm lăng đem sử dụng, hay những người cần tự vệ phải dùng tới, thì bom đạn cũng vẫn phát ra tiếng nổ. Không cần biết phải trái. Nói vắn tắt: kêu lên một cách ngu đần.
Con người đạo mạo Nghiêm Sỹ Tuấn, tuy không hề đề cập tới bộ phận sinh dục của phái nữ, bằng cái tên cúng cơm của nó, nhưng điều này không có nghĩa rằng Tuấn là một người ghét đàn bà (misogynist). Tuấn cũng có những mơ mộng, tuy ít khi tâm sự với ai về chuyện này. Thế nhưng, trải được ý ra trên trang giấy:
Sóng ngân gợi nhớ xưa chìm
Hoa bay thấp thoáng tưởng em nét cười.
(Người yêu)
Trong cuốn Thơ Đường của Giáo sư Trần Trọng San, có đoạn viết dưới đây:
“Trong thời Khai Nguyên, vua Đường Minh Hoàng cùng Dương Quý Phi ra chơi vườn thượng uyển, có cho vời Lý Bạch, sai làm những khúc ca mới để cho nhạc đội ca hát. Thi sĩ soạn xong ba bài thanh bình điệu trong khi đương say.”
Lý Bạch mở đầu Thanh Bình Điệu với câu:
Vân tưởng y thường, hoa tưởng dung.
(Trông đám mây tưởng là xiêm áo nàng.
Trông đóa hoa tưởng là vẻ mặt nàng.)
Thật là một câu tuyệt tác.
Nghiêm Sỹ Tuấn không cần chuếnh choáng say, đặt bút xuống, cũng vẽ lại được vẻ thanh thoát, tươi vui của giai nhân:
Hoa bay thấp thoáng tưởng em nét cười.
Có một thời, khoảng gần cuối năm thứ sáu Y khoa, Tuấn đi thực tập tại khu nội khoa Bệnh viện Nhi đồng. Tuấn để ý tới một nữ y tá. Nàng có vẻ cũng có cảm tình với Tuấn. Gần hết năm âm lịch, một bữa tiệc tất niên được tổ chức cho các Bác sĩ, Sinh viên, Y tá đang làm việc tại đây. Đã thu xếp từ trước, Tuấn đến nhà nàng chở nàng đi dự tiệc trên một chiếc xe mobylette. Có lẽ đây là lần đầu tiên Tuấn có hân hạnh được cùng với một người con gái đi dự tiệc. Lẽ dĩ nhiên, tiệc tùng vui vẻ cho tất cả mọi người …
Tôi không biết rõ người nữ y tá này cớ phải là người trong bài thơ trên đây hay câu thơ của Tuấn đã tả vẻ duyên dáng của một thiếu nữ khác.
Thơ của Tuấn thường bí hiểm, xa xôi. Khi đọc xong một bài thơ khác Tuấn viết, đặt tên là “Đất lạnh”, tôi suy nghĩ: Sao Tuấn lại có thể dùng hai chữ này để đặt tên cho bài thơ. Có vẻ như là nói gở. Miền Nam đang bị cộng sản miền Bắc gia tăng việc xâm lăng. Chỉ còn ít hôm nữa chúng tôi sẽ ra trường và sẽ được trưng tập để trở thành y sĩ trong quân đội. Sau khi học xong năm thứ sáu, tất cả nam sinh viên đều phải trình diện nhập ngũ. Tới đúng ngày giờ ấn định, đám nam Bác sĩ vừa mới ra trường chúng tôi, gồm 73 người tập họp tại một địa điểm ở vườn Tao Đàn. Ba chiếc xe GMC chở chúng tôi lên trung tâm huấn luyện Quang Trung. Đến hết chiều có mấy chiếc xe GMC tới, chở chúng tôi lên trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Thời gian chúng tôi phải học ở Thủ Đức là chín tuần lễ. Sau khi mãn khóa tại Thủ Đức chúng tôi còn phải học thêm bốn tuần về Hành Chánh Quân Y tại trường Quân Y. Trường này nằm tại Sài Gòn. Khóa chúng tôi không phải ở lại trong trường.
Ngày hai buổi đi học. Sau cả hai thời kỳ huấn luyện, đến lễ mãn khóa chúng tôi được đeo lon Y sĩ Trung úy.
Ngày chọn đơn vị đi phục vụ là một ngày quan trọng. Người nào đậu cao nhất, do điểm ở Thủ Đức lẫn Quân Y cộng lại, sẽ được gọi tên chọn chỗ trước nhất. Được chọn đầu tiên có nghĩa sẽ được chỗ tốt nhất theo ý mình. Đại khái, những đơn vị Quân Y tĩnh tại, được sắp vào loại tốt. Tốt ở đây, không liên quan gì tới việc nổi tiếng hay không. Chẳng do cơ sở lớn hay nhỏ. Cũng không vì trang bị tối tân hay thô sơ. Chỗ tốt trong trường hợp này, là nơi nào an toàn nhất. Khi những chỗ trong các đơn vị Quân Y tĩnh tại (Tổng Y viện, Quân Y viện hay bệnh viện dã chiến) đã được chọn hết, những người còn lại sẽ phải chọn những chỗ thuộc Quân Y binh đoàn. Những chỗ nguy hiểm nhất trong nhóm này, thuộc về các lực lượng tổng trừ bị.
Quân lực Việt Nam Cộng Hòa có hai lực lượng tổng trừ bị là Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến. Tỷ lệ tử vong trong hai binh chủng này rất cao. Ở nơi nào chiến trường khốc liệt nhất, nơi đó Nhảy Dù hoặc Thủy Quân Lục Chiến sẽ được gửi tới. Có khi cả hai. Trong mỗi tiểu đoàn tác chiến của hai binh chủng này đều có một bác sĩ đi theo. Các y sĩ phục vụ tại đây cũng sẽ trải qua những sự nguy hiểm như các chiến sĩ khác của tiểu đoàn. Còn trong các sư đoàn bộ binh, phải cấp trung đoàn mới có một bác sĩ.
Trung bình mỗi năm sẽ có khoảng 6 chỗ cho sư đoàn Nhảy Dù và 6 chỗ cho Thủy Quân Lục Chiến.
Bắt đầu buổi chọn chỗ, một vị sĩ quan đọc lên thứ tự những người cao thấp trong bảng xếp hạng. Tôi đứng thứ 71, trên tổng số 73 người. Nhìn lên trên bảng liệt kê những đơn vị sẽ được chọn trong khóa này, tôi nhẩm tính qua, biết rằng tới lượt mình, không vào Nhảy Dù, ắt cũng đi Thủy Quân Lục Chiến.
Trước giờ chọn chỗ, một điều được thông báo rõ ràng cho tất cả mọi người rõ: “Rằng ai muốn chọn về Nhảy Dù hoặc Thủy Quân Lục Chiến, chỉ cần giơ tay lên mà không cần phải đợi đến lượt tên mình được gọi. Thí dụ người đậu thứ 73, bất cứ giờ phút nào muốn chọn về đó, chỉ cần giơ tay lên, sẽ được chấp thuận ngay”.
Nghe xong, có tiếng xì xào, bàn tán. Người đậu thứ 72 là Nghiêm Sỹ Tuấn, liền giơ tay lên. Vị sĩ quan hỏi: “Anh chọn gì?”
Tuấn đáp: “Nhảy Dù”.
Sau khi ký giấy tờ Tuấn bước ra khỏi phòng. Không cần để ý đến ai sẽ đi đâu, và bao giờ buổi này mới chấm dứt. Khi thấy Tuấn chọn xong, tôi hiểu ngay Tuấn đã thực hiện cái ý đã diễn ra trong một bài thơ làm từ trước:
Cung Dâu dựng nhắm phương nào
Ngập ngừng tên cỏ ngày cao chất chồng
Mai sau đó gửi về không
Bóng vươn tinh đẩu mơ vùng núi cao
(Tuổi đứng)
Sau khi trình diện Quân Y Nhảy Dù, Tuấn được làm Y sĩ trưởng tiểu đoàn 6 Nhảy Dù. Trong tất cả các đơn vị của lực lượng Tổng Trừ Bị, chỉ có hai tiểu đoàn có hậu cứ tại Vũng Tàu. Đó là Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù (đơn vị của Tuấn) và Tiểu đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến (là đơn vị của tôi). Trại tiểu đoàn 6 Nhảy Dù nằm gần Bãi Sau. Kể từ khi đáo nhậm đơn vị tôi và Tuấn không có dịp gặp lại nhau nữa.
Tuy cả hai hậu cứ đều ở Vũng Tàu, nhưng trên thực tế phải 2, 3 tháng đơn vị mới được về nghỉ khoảng một, hai tuần lễ. Do đó Tuấn và tôi, mỗi người chỉ có việc theo đơn vị mình đi hành quân mà không có dịp nào gặp nhau cả. Khoảng một, hai tháng sau Tết Mậu Thân, tôi đang làm việc tại Bệnh xá Thủy Quân Lục Chiến trong trại Cửu Long, Thị Nghè, thì được tin Tuấn tử trận. Tôi bàng hoàng cả người, mặc dầu vẫn biết rằng, một cái tin như vậy, là chuyện thường ngày đến với những gia đình có con, em, hoặc thân nhân phục vụ trong lực lượng Tổng Trừ Bị.
Xác Tuấn được đưa về Sài Gòn.
Lê Sỹ Quang và tôi bước vào nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Đi dọc theo con đường, thẳng từ cổng vào, tôi ngó sang phía bên tay phải nhìn vào hai ngôi mộ của Tổng thống Ngô Đình Diệm và người em là Ngô Đình Nhu, bị sát hại trong cuộc đảo chính 1-11- 1963.
Tôi đi thêm vài chục thước nữa, rồi rẽ sang phía tay trái tới gần cuối, góc phía sau của nghĩa trang. Thân nhân của Tuấn đang sụt sùi. Cạnh đó là một cái huyệt mới được đào xong. Chiếc áo quan chưa được đặt vào trong huyệt. Tôi nhìn quanh. Số người dự đám tang không nhiều lắm. Các bạn cùng lớp, thì mỗi người đang ở một đơn vị xa, trải dài từ Bến Hải xuống đến Cà Mau, nên không về được. Một vài đồng nghiệp đang được làm việc tại Sài Gòn có đến dự. Lê Sỹ Quang ở Liên đoàn 5 Công Binh Kiến Tạo Hóc Môn, nên đương nhiên cũng kể như ở Sài Gòn. Ngoài ra còn có vài người thuộc Quân Y Nhảy Dù. Khi áo quan đã hạ huyệt, vài người bạn học cũ tại trường trung học Chu Văn An, hay bạn đồng nghiệp của Tuấn tỏ lời tiếc nhớ bạn xưa. Anh Trần Xuân Ninh đang làm tại Bệnh viện Nhi đồng cũng có mặt, vừa khóc vừa nói lời vĩnh biệt.
Không có một người nào long trọng đọc một bản điếu văn như trong những đám tang khác. Những người hiện diện hôm nay tiễn đưa Tuấn, tuy số lượng ít nhưng tất cả, lòng thương xót bạn lại vô bờ bến.
Độ một tuần sau, tôi có việc phải trở lại Vũng Tàu một ngày. Tôi đến thăm Giáo Sư Nguyễn Văn Quyên, cũng là một bạn của Tuấn. Chúng tôi buồn, ngồi nghĩ đến bạn. Quyên hỏi tôi: “Tối nay ngủ ở đâu?”
Tôi đáp: “Vào trại Thủy Quân Lục Chiến.”
Quyên cản lại: “Thôi, ngồi lại đây đến khuya, anh em mình nói chuyện với nhau. Rồi sau đó hoặc là ngủ trong nhà này hoặc là vào phòng của Tuấn cũng trong cư xá này cách đây 50 thước. Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù, có vài căn phòng trong cư xá này, dành cho sĩ quan của đơn vị. Mọi lần, trước khi đi hành quân, Tuấn đều giao chìa khóa phòng cho tôi.”
Tôi trả lời Quyên: “Ừ được, tôi sẽ ở phòng Tuấn.”
Khuya đến. Quyên đưa tôi chìa khóa.
Tôi bước hết một đoạn đường nhỏ. Tôi tra chìa khóa vào ổ. Phải xoay 2, 3 lần mới mở được cửa. Trong phòng tối om. Tôi đưa tay bật đèn. Một cái giường xếp, trống không. Một cái bàn nhỏ với một cái ghế. Ở vai ghế, có vắt một cái áo rằn ri của binh chủng. Trên túi áo ngực bên tay phải có thêu tên Tuấn và trên chữ này có một cánh dù. Tôi ngó lên tường, không thấy treo một bức hình nào cả.
…
Tôi đặt mình trên chiếc giường xếp mà mỗi lần Tiểu đoàn 6 hành quân xong, được về Vũng Tàu nghỉ, Tuấn đã nằm. Tôi nhớ tới bài thơ của anh trước đây tôi đọc và đã cảm thấy sao như có vẻ nói gở:
Đất lạnh
Hồ Trường một dốc chưa say
Lưng đau cát sỏi ai thay xương mình
Điểm trang khô mắt đăng trình
Nghiêng thêm băng giá hồi sinh đợi ngày.
Nghiêm Sỹ Tuấn
Trong hai năm 2013-2014, Úc châu có một chương trình thu thập những sự kiện lịch sử bằng cách phỏng vấn mấy chục cựu quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Người phụ trách cuộc phỏng vấn này là Giáo Sư Natalie Huỳnh Châu Nguyễn, đại học Monash tỉnh Melbourne.
Tôi cũng là một trong những người được phỏng vấn. Cuộc phỏng vấn bằng tiếng Anh, kéo dài ba tiếng đồng hồ, có ghi âm. Trong lúc kể lại việc nhập ngũ và rồi phục vụ trong lực lượng Tổng trừ bị, tôi chợt nhớ đến Nghiêm Sỹ Tuấn. Tôi nghĩ bụng, trong cuộc chiến Việt Nam, biết bao thanh niên miền Nam đã trở thành những anh hùng vô danh. Nghiêm Sỹ Tuấn là một trong những người đó. Tôi tự bảo, “những băng hay đĩa ghi âm này sẽ được lưu trữ trong Thư viện quốc gia Úc. Mình phải nhắc đến Tuấn.”
Năm 2016, một phần tài liệu trong những cuộc phỏng vấn đã được vị giáo sư này in ra thành sách với nhan đề South Vietnamese Soldiers, bởi nhà xuất bản Praeger, Hoa Kỳ. Sau khi nhìn thấy tên Bác sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn được in lên trong một đoạn do tôi đã trình bày trong cuộc phỏng vấn, tôi cảm thấy như mình đã thắp được một nén hương trước bàn thờ anh.
Only two general reserve forces had doctors at battalion level, and those were the Marines and the Airborne Division. The doctor would take care of 600 fighters. General reserve meant jumping in wherever the fightingwas hardest. The Marines and the Airborne Division had the highest casualty rates for doctors. Number 72 in my class was a doctor named Nghiem Sy Tuan. He entered the Airborne Division and about a year later, he was killed at Khe Sanh Base. He was twenty-six years old.
Hình chụp một đoạn do tôi trình bày, được in trên trang 74 trong cuốn sách South Vienamese Soldiers của Giáo Sư Nathalie Huynh Chau Nguyen, nhà xuất bản Praeger, 2016, Hoa Kỳ.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.