vietmessenger.com
Morris L. West
Bản dịch của Chu Việt
Post by Sơn râu 5 Dec 2025

Ghi chú của tác giả:
Đây là một cuốn tieu thuyết. Phương pháp xây dựng đã xử dụng là đem những nhân vật giả tưởng đặt vào một khung cảnh lịch sử có thật.
Bởi vậy, nếu đem những diễn viện trong cốt truyện này mà đồng hóa với những nhân vật có thật ở ngoài đời, mặc dù đã chết hay còn sống, thì thật là sai lầm. Nhưng nếu chấp nhận sự giả tưởng của tiều thuyết, ta sẽ thấy tác phẩm này trung thực với khung cảnh riêng của nó. Tôi hy vọng như vậy.
M. L.W.
Ghi chú của người dịch:
Tất cả những phụ chú trong bản Việt-văn này đều là của người dịch.
C. V.
Chương 1.
Tôi là một nhà ngoại giao có sự nghiệp khả quan. Trong bức thư tiễn biệt, Tổng thống đã nói rằng «đó là một sự nghiệp lừng lẫy và đáng ngợi khen mà sự phục vụ từ đầu chí cuối đã đem lại cho Hoa Kỳ những thắng lợi lớn lao. » Tôi không khỏi đón nhận lời khen tặng ấy với đôi chút mỉa mai nhưng tôi tin rằng ít nhất thì tôi cũng đã xứng đáng.
Tôi đã phục vụ Bộ Ngoại-giao ba mươi lăm năm và đã giữ chức vụ Đại-sứ trong mười năm. Các nhiệm sở khó khăn, tôi đã từng trải qua cho đủ lượt và tôi cũng đã gặp đủ loại vấn đề hóc búa. Ngay đến những kẻ thù của tôi cũng phải công nhận rằng những thất bại của tôi cũng không đến nỗi rầm rộ lắm và tôi cũng đã đạt được một vài thành công lừng lẫy.
Một vài bạn hữu nói với tôi rằng cái quyết định rời bỏ ngành Ngoại-giao giữa lúc nửa chừng sự nghiệp của tôi là một hành động khôn Ngoan nhất. Một mặt thì Tổng-thống vẫn mến chuộng tôi nên lúc nào muốn cũng có thể kêu tôi ra tái phục vụ với tư cách đặc-sứ và mặt khác tôi được tự do theo đuổi các tham vọng chính trị của riêng tôi. Dĩ nhiên các bạn hữu tôi đều cho rằng tôi có tham vọng chính trị và lòng tự ái tôi bị thương tổn khi thấy họ gán cho tôi sự toan tính đến mực ấy. Và dầu có vậy, tại sao tôi bị thương tổn nhỉ? Từ lâu, thiên hạ đều biết tôi là một nhà thương thuyết vững như bàn thạch và sự nổi tiếng về tàn nhẫn của tôi chắc hẳu phải có một giá trị ngoại giao nào đó. Nếu tôi thay đổi, chắc các bạn tôi đâu có thì giờ hay cơ hội nhận biết được. Làm sao mà họ có thể biết được lương tri riêng tư của Maxwell Gordon Amberley khi chinh hắn đến tuổi này mới tự nhận biết được? Cho đến đây, tôi đã tuân theo tất cả những quy-ước của ngành Ngoại- giao và tôi đã dàn xếp cuộc rút lui của tôi với sự khả kính mô phạm. Sau cái chết của Phùng-văn- Cung, tôi đã nán đợi đủ mười hai tháng tại chức -thừa đủ để tránh cho chính quyền cái mặc cảm phạm tội về cái chết của òng và trách nhiệm về những hậu quả của cái chết đó. Sau đó tôi làm một cuộc viếng thăm thường lệ tại Hoa Thịnh Đốn để hôn tay các bà và thảo luận về việc đề cử vị đại-sứ thay thế. Rồi tôi vào một bệnh viện ở Nữu-ước để khám bệnh và ba tuần lễ sau tôi đã có thể tuyên bố hồi hưu vì lý do sức khỏe yếu kẻm.
Còn lý do thật sự? Đó là điều mà tôi đến đây để tìm kiếm, tại đền Zen Tenryu-ji cổ kính này, đền Thiên-long gần Kyoto, bên Nhật. Bây giờ vào mùa thu và các cây trường-khế cổ quý ở cổng đã đỏ ối như lửa trên nền tối xẫm của các cây thông cao vút. Trời mịn như da một hạt ngọc trai và các lá cây rụng nằm yên trên mặt hồ, trên các lối đi trải cát phẳng phiu, trên các phiến đá và trên nền xanh tươi của các thảm rêu. Đôi khi tôi bách bộ trong vườn và xem các nhà sư chăm bón cây một cách kiên nhẫn, đặc biệt « biến mỗi ngọn cỏ thành một Kim Phật ».
Có đòi lúc tôi ngồi trong am thất của Muso So- seki, chân xếp bằng tròn trên chiếu rơm, uống trà mà nhà sư đã pha mời tôi một cách trịnh trọng nghi-thức và cùng òng theo đuổi cái phương pháp đối thoại tham thiền gọi là Mondo …
« Tại sao ông đến chốn này? »
« Để tìm sự soi sáng. »
« Tại sao ông chưa tìm thấy? »
« Bởi vì tôi tìm kiếm nó. »
« Làm cách nào ông sẽ tìm thấy nó? »
« Bảng cách không đi tìm. »
« Nơi nào ông sẽ tìm thấy nó? »
« Không nơi nào cả. »
« Khi nào ông sẽ tìm thấy nó? »
« Không khi nào cả. »
Bố cục của cuộc đối thoại cũng giống như bố cục của ngôi đền, cái am thất và khu vườn. Mọi vật đều thanh đạm, gợi ý, có trật tự và kéo dài đến vô-tận, giống như cái chiếu mà chúng tôi đang ngồi hình như chẩy ra ngoài và biến nhập với cát trên những lối đi và những làn sóng gợn do cá chép đớp trong các hồ trong khu vườn.
Muso Soseki là một nhà sư thuộc phái Zen. Ông cũng là một thi sĩ, một bậc thầy trong môn viết đại-tự và thủ-ấn-họa nữa. Các đại-tự của tên ông có nghĩa là « cửa-sổ-nhìn-vào-một-giấc-mộng ». Ông bẩy mươi nhăm tuổi, người gân guốc, da bánh mật và giải dầu sương gió như một tảng đá lâu đời. Gương mặt ông bình thản một vẻ phúc hậu và tươi sáng, sảng khoái. Ông đã vui lòng thu nhận tôi làm môn đệ và sử dụng những phương pháp của đạo Zen để dẫn giắt tôi đến giây phút trực giác và soi sáng gọi là satori bằng cách kích thích cảm xúc của tôi.
Tôi rất cần được sự soi sáng. Chỉ ân hận rằng tôi đã không chịu nán chờ để tìm thấy sự soi sáng ấy cách đây ba năm khi George Groton dẫn tôi đến đây lần đầu sau khi nhà tôi qua đời. Khi ấy tôi làm Đại-sứ – một nhân vật sơn son thiếp vàng trên sân khấu ngoại giao Tokyo. Qui vị cứ nhìn lên bản đồ, vạch những véc-tơ về lực chính trị tại Á-châu thì đủ hiểu ảnh hưởng của tôi thực sự ra sao và có tầm rộng lớn đến đâu. Tôi nghĩ rằng tôi đã thành công trong chức vụ. Tôi có năng khiếu về ngòn ngữ, ưa thích phong tục lạ và biết thưởng thức nhạc đoản cung. Đó là những sở đắc có giá trị trong một nền văn minh lọc lựa. Còn các điều khác mà tôi đã có thì thực sự không phải do bản chất của tôi mà chính là do Gabrielle đã tặng cho tôi.
Nàng duyên dáng, lịch thiệp, vui tươi và có một vẻ hòa điệu sáng ngời tràn ngập từ đời sống của nàng vào đời sống của tôi. Khi nàng chết đi, sự hòa điệu ấy biến thành một nghịch điệu chói tai. Tất cả mọi vết rạn nứt cũng như khuyết điểm ở nơi tôi dường như mở rộng ra ngay sau đó.
Trước đó tôi chưa hề có một tin tưởng vững. chắc nào thuộc loại tâm linh và dưới phúc lành sâu đậm của một người đàn bà yêu đương, tôi không bao giờ cảm thấy cần phải có những tin tưởng ấy. Tôi vẫn có tình cảm tôn giáo, tôi không thù ghét việc đi lể nhà thờ và đôi khi còn lấy làm thích thú là đẳng khác nếu công vụ đòi hỏi sự có mặt của tôi. Ngoài ra, tôi rất hài lòng với sự ấm cúng của các đấng tối cao trong gia đình tôi và của vị nữ tu sĩ đã thờ phụng họ và tôi. Giờ đây nàng đã khuất đi, tôi cảm thấy như thể tất cả các đền đài của tôi cũng sụp đổ luôn một lúc và tôi phải chôn chặt chúng xuống đất, xa khỏi vùng ánh sáng. Tôi khước từ mọi thiện cảm. Tôi trở nên thô bạo, hăng hải và khó tỉnh. Nhân viên dưới quyền tôi khòng chịu nổi tôi và các bạn đồng liêu đều giận tôi. Duy chỉ có người Nhật, một dân tộc đau bệnh thần kinh đã dường như sẳn sảng chấp nhận cải nhu cầu của tôi phải có một thời kỳ đièn khùng để chữa bệnh.
Trong số người Mỹ, chỉ có George Groton, vị đệ tam tham vụ kém thâm niên nhất, là đủ khòn ngoan để thấy rõ điều gì đã xẩy ra đến với tôi. Tôi giận dữ cũng khòng làm hắn khó chịu, tôi xấc sược, hắn cũng không mếch lòng. Hắn làm việc rất hăng, tinh tình vui vẻ và không biết sợ hãi. Người hắn gầy và cao lênh khênh, mắt đeo kính cận, đòi vai rủ xuôi với mái tóc dầy rậm mầu cát. Tuy vậy trong những lúc lòng lắng dịu, tôi thầm ước có một đứa con trai như George Groton.
Có một đèm trực, hắn phải đánh thức tôi dậy vì mấy cái điện văn giờ chót. Trước khi ngũ tôi đã uống quá nhiều rượu nên tôi đâm ra cáu kỉnh và sử sự với hắn một cách thô bạo không tha thứ nổi. Hắn hít một hơi thở dài, đứng ngang nhiên trước mặt tôi và nói:
« Thưa ông Đại-sứ, ông đang tự hủy diệt mình và hủy diệt cái hòa khí của Tòa Đại-sứ. Nếu ông không chịu để bọn tôi giúp đỡ ông thì ít nhất cũng
xin ông để yên cho bọn tôi làm việc cho xuông sẻ! »
Tôi há hốc miệng nhìn hắn, không nói nổi điều gì. Đoạn hắn nhún vai và cười làm lành:
« Ông có thể đuổi tòi về nước, nếu ông muốn – nhưng phải có một người nào nói ra điều ấy.»
« Tại sao lại là anh, Groton? »
« Bà Amberley vẫn thường đối xử với tôi rất tốt. Trước khi chết, bà bắt tôi hứa sẽ săn sóc cho ông. »
Tôi xấu hỗ với chính tôi nên không nói được gì. Tôi cầm mớ điện văn vào phòng đóng chặt cửa lại và khóc như một đứa trẻ con. Sáng hôm sau
tôi viết cho Groton vài lời xin lỗi và cám ơn. Một tuần lề sau, hắn mời tôi tham dự một phái đoàn nhân viên đi Kurama xem hội đốt lửa hàng năm.
Bởi vì Kurama không xa Kyoto mấy, nên tự nhiên là chúng tôi phải đi thăm đền Thiên-long và thăm Muso Soseki.
Nếu Groton còn sống hắn sẽ là một nhà ngoại giao đại tài. Hắn là một người giản dị, thường đi thẳng đến cội rễ của vấn đề một cách mau lẹ, tuy vậy hắn cũng đủ tế nhị và vui tính để thích ứng với các đường lối suy luận quanh co của người khác. Khi tôi nhìn thấy hắn chết một cách hung bạo ở Saigon, tôi lại khóc một lần nữa. Và từ đó trở đi, tôi không hề nhỏ một giọt lệ vì một người nào nữa, dù đàn ông hay đàn bà.
Muso Soseki tiếp đãi tôi với sự lịch thiệp tự nhiên của một người hòa đồng với chính mình, với cuộc đời và thế giới của mình. Ông đưa tôi tản bộ quanh khuê viên của ngôi đền và dẫn giải cho tôi nghe về vẻ đẹp của khuê viên theo lối Zen, nghĩa là không phải như một sự liên-tụ ngẫu nhiên của các vẻ đẹp nhưng là một nơi đã được sắp đặt tế nhị, có những sự liên-tụ hòa hợp và những sự tương phản có ý nghĩa – tóm lại, một khung cảnh được chủ ý tạo ra cho những sự mặc khải về tâm linh, một khí cụ của sự soi sáng, hiệu nghiệm hơn cả sách vở hay lý lẽ. Về những vấn đề ấy, nhà sư không trịnh trọng thuyết trình mà chỉ nói chuyện như một người nói về cuộc sống thầm kín của mình một cách luyến ái và nặng lòng ưu tư. Khi nói về Satori, ông đã khổ công làm cho tôi hiểu rõ khái niệm ấy.
Tôi còn nhớ hai câu một cách rõ ràng:
« Căn nguyên nỗi thống khổ của nhân loại, thưa ông Amberley, là một cảm giác tha hóa đối với trật tự thièn nhiên của vũ-trụ. Tác dụng của Satori là sự soi sáng tâm tri, cốt sao cho bản chất của chính mình và vũ trụ sau rốt trở nên rõ ràng và tái lập lại được cảm giác của sự tương quan đích thực, hay đồng nhất tính. »
Nỗi thống khổ của riêng tôi vứa xẩy ra gần đây và hãy còn mãnh liệt quá nên tôi chụp ngay lấy lời ông nói và cầu khẩn òng giải thích thêm.
Nhưng ông từ chối và mỉm cười bảo tôi:
« Xin ông để bận sau. Chúng ta sẽ uống trà và nói chuyện trong sự yên
tĩnh. »
Tôi trở về Tokyo như một người đi trong cái khoái cảm của một giấc mộng êm lặng nhưng huyền diệu. Tôi viết thư cho Muso Soseki, cảm ơn ông về sự tiếp đãi tử tế và xin được gặp lại. Mười ngày sau tôi được thư trả lời của ông, một tác phẩm nhỏ của khoa đại-tự tuyệt đẹp thực hiện trên giấy chế tạo bằng tay. Nhà sư già dâng hiến tôi ngôi nhà, tình bằng hữu của ông và cái mà ông gọi là « những công quả nhỏ nhoì và không xứng đáng của vụ gặt lúa mùa đông » Ông mời tôi tới thăm ông bất cứ lúc nào và sống với òng như một vị khách. Tôi cổ gắng xuống ở với Muso luôn luôn, khi đi một mình khi đi với Groton. Groton cũng đã có một mối liên hệ tương tự với một nhà sư khác. Nhưng hắn thâm cứu hơn tôi, có lẽ vì hắn trẻ tuổi hơn, cũng có lẽ vì bản chất hắn nhũn nhặn hơn, mềm dẻo hơn và hợp với những kỹ luật của phương pháp Zen hơn.
Có điều lạ là khi ấy tôi không hề có ý niệm nào về sự hành giáo của mình, theo nghĩa thông thường. Theo Muso đa trình bày cho tôi thì sự thực hành đạo Zen thuộc về một trật tự thiên-nhiên thuần túy và thật ra là một sự chuẩn bị cơ thể con người cho một tình trạng cảnh giác cao hơn.
Vì hiểu như thế nên tòi đã chấp nhận hành đạo mà không tự ái chút nào. Tôi lại còn có thể hy vọng nhờ đó mà tìm ra một phương giải cứu cho những nhược điểm mà sự đau đớn và mất người thân yêu đã làm bộc lộ ra nơi cá tính tôi. Thế mới biết Groton khôn ngoan đến thế nào. Mặc dầu hắn đã dẫn tôi đến vị sư thầy của tôi, hắn vẫn khăng khăng không chịu cùng tôi thảo luận về sự dấn thân của nhau. Hắn chỉ nói rằng ở Tokyo thì nghi thức trong ngành làm cho chúng tôi ngăn cách, còn ở Kyoto thì chính sự riêng tư của một kinh nghiệm không thể truyền cảm đã ngăn cách chủng tôi. Khi tôi ngỏ ý biết ơn hắn vì đã giúp tôi thì hắn chỉ cười chấp nhận với một câu nói đặc biệt Zen:
« Khi im lặng chúng ta là một. Khì nói lên chúng ta là hai người. »
Điều này cũng làm tôi phải nhớ mãi về sau này, khi chúng tôi tranh luận một cách cay đắng. về đường lối hành động mà tự tôi đã dấn thân vào ở Saigon. Về phần tôi, tôi hài lòng được sống yên tịnh và cách biệt một vài ngày, xa hẳn bảo chí và sự phức tạp của công việc ngoại giao. Tôi thích cái khuê viên và những lời nói của vị sư già tuôn ra như giòng suối bạc. Tôi cũng nghĩ rằng nhờ vậy mà công việc tôi làm khả quan hơn. Tôi đã hiểu rõ hơn cái tư tưởng gạn lọc và hóc hiểm của người Nhật, cái bóng dáng tình cảm thường đeo riết mỗi lời nói trực tiếp nhất. Tôi bắt đầu hiểu rằng cái đường lối tìm đến sự soi sáng tâm linh bằng trực giác này khòng nhất thiết là một sự phủ nhận lý trí nhưng là một sự thăm dò những tiến trình bí hiểm nhất của lý trí ở bình diện vô-thức.
Về phần Muso Soseki, nhà sư không ép tôi vào một khuôn khổ kỷ luật nào. Đôi khi chúng tôi thường chỉ uống trà và đàm đạo như một đôi bạn ở bất cứ nơi nào. Có khi nhà sư hướng tôi qua một cuộc đối thoại Mondo. Có khi nhà sư đặt ra cho tôi một tiền đề thoạt nghe tưởng là vô nghĩa, gọi là Koan làm đề tài tham thiền. Cái tiền đề mà nhà sư đã đưa ra cho tòi và luôn luôn hướng tôi quay về nó một cách nhất quyết nhẹ nhàng là như thế này :
«Òng sẽ hành động ra sao khi họ yêu cầu ông giết con chím cu? »
Câu trả lời đầu tiên của tôi là thách thức ngược lại Muso định nghĩa những danh từ của tiền đề, thí dụ, họ là ai, con chim cu là gì, và tại sao họ lại yêu cầu tòi giết nó?
Muso mỉm cười và khước từ sự thách đố đó. «Chính ông, òng Amberley, ông phải cho tôi biết tôi muốn nói gì».
Mặc dầu không muốn, câu hỏi đó bắt đầu ám ảnh tôi, làm tôi bứt rứt không yên và quên lãng mất cái luận-lý hình thức và đôi khi dễ sợ của nền ngoại giao thực tiễn. Câu hỏi đó làm tôi bối rối: như một bức tranh siêu thực mà mỗi một hình tượng thật là rõ ràng dễ hiểu nhưng cái toàn thể của nó vẫn là một thứ tiếng chim chích, chỉ hiểu nổi khi có người dẫn giải.
Dầu vậy, dần dà tôi bắt đầu hiểu bằng cách nào tôi đã được hướng dẫn đi vào một trạng thái ngờ vực chính mình, bất mẫn với cái hiển nhiên, một địa hạt truyền cảm không lời nói. Nhưng mặc dầu hiểu vậy, tôi cũng biết rằng con đường đi tới kết quả còn xa lắm.
Rồi đùng một cái, tất cả cái tiến trìuh tái giáo huấn đó bị cắt ngang và tôi bị đẩy trở lại không phương chạy thoát vào những thực tại – hay là những ảo tưởng? – của ngành. Festhammer đáp phi cơ từ Hoa-Thịnh-đốn tới mang theo một lời yêu cầu hợp thức của ông Bộ-trưởng Ngoại-giao có ý kiến thuận của Tổng-thống kèm theo trong một văn thư lời lẽ thân mật. Liệu tôi có chịu rời bỏ nhiệm sở Tokyo mà nhận trách vụ đặc biệt làm Đại-sứ tại miền Nam Việt Namkhông?
Raoul Festhammer thật chẳng giống một tín đồ Zen chút nào. Hắn là con người thực tiễn hoàn toàn. Một sự kiện nắm trong tay hắn cũng đáng sợ như một thanh trường kiếm. Có vài người gọi hắn là tên hoạt đầu chính cống nhưng vốn có lòng kính mến đối với hắn nhiều, tôi không thể rủa hắn một cách nhẹ dạ như vày. Hắn nhận dịnh tình hình rất vững. Các bản tóm lược tình hình của hắn là một bài tập mẫu về lý luận chiến thuật.
Hắn uống rượu rất ít, khòng hút thuốc lá và thèm khát đàn bà đẹp một cách điên cuồng. Hắn là một người bạn bất định, một kẻ thù nguy hiểm, nhưng chính xác trong công việc như một chuyên gia ngân hàng. Trong đời tư, tòi khòng chịu hắn lắm nhưng trên phương diện nghề nghiệp tôi dám đánh cá sự nghiệp của tòi vào một trong những bản phúc trình của hắn – mà chính là điều hắn đang yèu cầu tôi làm.
« … Bê bối. Một sự bê bối đẫm máu và tàn bạo. Chúng ta gọi nó là một cuộc chiến tranh khuynh đảo nhưng xét cho cùng, nó cũng là một cuộc nội chiến nữa. Con chống bố, gia đình chống gia đình. Chúng ta nhập cuộc là bởi vì chúng ta muốn duy trì mot căn cứ quàn sự tại miền Đông- Nam-Á và ngăn chặn Trung-cộng khỏi tràn xuống các vựa lúa ở phia Nam và khòng xử dụng được các đường biển đi Phi-chàu. Nếu miền Nam Việt Nam mất, Thái-Lan sẽ bị hở sườn và Tân-gia-ba sẽ bị đe dọa. Chúng ta đã đưa vào ba chục ngàn người và không biết bao nhiều là triệu đô-la nữa mà vẫn chỉ là « cố vấn » không có quyền quyết định trong việc điều khiển các cuộc hành quân.
« Chúng ta ủng hộ Phùng-văn-Cung và gia đình ông bởi vì họ là những nhà cai trị giỏi nhất và mạnh nhất cho đến nay, nhưng họ đã mất khả năng kiểm soát. Họ không còn biết nghe lời phải trái nữa. Họ hành động như những người có đường giây lièn lạc riêng với Thượng-đế. Họ là một thiểu số tín đồ Ki-tô giáo trong một xứ của Phật-giáo. Thay vì kết thân với Phật-giáo, họ lại đi làm áp lực với đám người này ở mọi điềm. Họ đang bắt giữ sinh viên – cả nam lẫn nữ – và giam họ vào những trại khổ sai. Họ đã làm cho thủ-đô trở nên thù nghịch và họ đã mất quyền kiểm soát các vùng quê. Bộ Tư-lệnh quân sự thì bị chia rẽ và mặc dầu có mười ngàn làng chiến đấu và một ưu thế rộng rãi về khí giới và chiến cụ, Việt-cộng hiện vẫn đang thắng thế … Mc Nally đã làm trọn phận sự Đại-sử nhưng chúng ta đã không chỉ thị đúng cho òng làm. Chúng ta chỉ thị cho ông kết thân với Phùng-văn-Cung, chỉ thị cho òng hành động bằng khuyến dụ và huyền hoặc, nhưng giờ đây những sự huyền dụ đó hết hiệu nghiệm rồi.
« Chủng ta không thể làm như vày được nữa. Chúng ta phải hành động thô bạo, cứng rắn và làm cho chính quyền vào khuôn phép với những sự trừng phạt bằng tài chánh. Có một tập tài liệu tôi muốn anh đọc, anh Max và sau đó anh sẽ hiểu tại sao chúng ta cần một người hùng tại nhiệm sở này. Chẳng có ăn cải giải gì đâu. Thắng, bại, hay hòa, vẫn là một sự bê bối đẫm máu và công trạng của anh chỉ là một sự đau đầu mà thôi … ở nước nhà, ai cũng muốn anh nhận nhiệm sở này. »
Tôi bỏ ra bốn mươi tám tiếng đồng hồ đọc cho hết mớ tài liệu hắn đã đưa cho tôi và sau đó tôi nhận lời. Sau này, khi thử kết toán những lầm lỗi mà tôi phải nhận lãnh, tòi tự hỏi bao nhiêu lầm lỗi đã thuộc vào chính lúc này.
Sự kiêu hãnh đã dự phần và ai chẳng kiêu hãnh để nói. « Tôi đến đây nhân danh một đại đân tộc. Tôi được chọn lựa bởi vì tôi khôn ngoan, tôi hùng mạnh, trêu vào tôi rất là nguy hiểm. » Dưới sự kiêu hãnh là một mối lo sợ – bởi vì cái chết của Gabrielle đã cho tôi thấy tôi chẳng có sức mạnh là bao và Muso Soseki cũng đã bắt đầu thách đố trí thông minh của tôi cũng như George Groton đã làm tòi hổ thẹn vì những cơn giận dữ của tôi. Và dưới sự kiêu hãnh và mối lo sợ còn một điều khác nữa – một đột hứng tạm bỏ sự suy tưỏng để hành động, để trì hoãn một quyết định về chính tôi bằng cách đảm đương quyền quyết định cho hàng triệu kẻ vô danh khác.
Dầu sao thì tôi cũng đã tuyên thệ phục vụ, cả cuộc đời tôi đã dâng hiến cho ngành này. Tôi đã được triệu dụng do một lời kêu gọi đặc biệt của Tổng-thống. Tôi không có quyền đem những vấn đề riêng tư của tôi xen vào việc còng ích. Tôi phải hiểu rằng tôi là hai bản ngã trong một cơ thể. Hai bản ngã đó rièng biệt và dị biệt. Cái bản ngã mà tòi đã biết trong khuê viên Tenryu-ij khác hẳn cái bản ngã đã chơi trò mưu lược quyền bính một cách đầy tự tín. Thế nên, dường như luôn luôn tôi phải chấp nhận sống trên hai mực sống, và phải gạt bỏ mọi động lực đem mực sống này đồng hóa với mức sống kia.
Dẫu vậy tôi vẫn ý thức được nỗi băn khoăn và sự linh cảm thấy điều không hay. Ai có thể nói chắc được cái thế quân bình mỏng manh của hai bản ngã kia có thể tồn tại được bao lâu khi đụng phải một môi trường thù nghịch? Mụso Soseki đã giúp tôi tìm thấy sự kính trọng đối với bản ngã bí ẩn của tôi nhưng đâu còn Gabrielle nữa để yêu tôi và giữ cho tổi sống hòa điệu với thế giới bên trong Jẫn bên ngoài? “
Vì vậy tôi nhờ đến Geoge Groton. Tôi yêu cầu hắn đi Saigon làm phụ tá đặc biệt cho tôi. Hắn mỉm cười theo lối trẻ con của hắn, cám ơn tơi đã tin cậy và nhận lời. Rồi, một cách khá thực thà, hắn hỏi tôi có dự tính đến thăm
Muso Soseki trước khi rời khỏi Nhật-bản hay không. Trong sự sôi nổi của những cuộc thảo luận với Festhammer và trong sự tràn ngập của những cú điện thoại với Hoa-thịnh-đốn, tôi đã không nghĩ gì đến vấn đề ấy. Groton trình bầy cho tôi hay đó là vấn đề xã giao đặc biệt – sự tôn kính của môn đệ đối với sư phụ, cũng giống như sự tôn kính của con đối với cha. Một lần nữa tôi lại cảm thấy hổ thẹn vì chính tôi kém cư xử và tôi hứa rằng ngay sau khi các cuộc tiễn biệt ngoại giao xong xuôi, tôi sẽ đến thăm Muso Soseki một ngày chót tại đền Thiên-long.
Sự giá buốt của mùa Đông đã phảng phất trên không. Lửa đỏ đã tàn lụi nơi các cây trường khế tại công đền. Lá cây rải rác đó đây, các phiến đá trông ảm đạm và nước hồ xám xịt ghê tởm. Muso Soseki tiếp tôi trong am thất riêng và đóng chặt các cửa sáo làm cho chúng tôi ngồi cách biệt hẳn thế giới bên ngoài trên một hải đảo đầy ánh sáng và ấm áp. Khi tôi nói cho nhà sư biết sự thuyên chuyển của tôi, ông gật gù một cách nghiêm trang và nói:
« Mỗi người đi một đôi giầy khác nhau. Người ta phải đi theo bước đôi giầy của mình. Tuy nhiên tôi nghĩ rằng ở vào tuổi ông mà nhận một trách nhiệm như vậy thật là một sự nguy hiểm lớn lao ».
Tôi cười cười lớn và bảo nhà sư rang sự nguy hiểm là thường đối với nghề ngoại giao. Ông cau đôi mày và lắc đầu.
«Tôi không nghĩ đến sự nghiệp của òng mà chỉ nghĩ đến bản thân của ông. Ông đã biết ý thức được sự bất thiện toàn của cuộc đời ông. Có thể cám dỗ sẽ dẫn ông tới việc cố gắng cưỡng đặt một sự toàn thiện không thể có vào cái hoàn cảnh mà ông phải đương đầu. Òng đến nơi đó vì mục đích tạo kết quả. Ông hy vọng tạo nên được những kết quả gì? Chấm dứt chủ nghĩa Cộng-sản tại miền Nam Việt Nam? Chấm dứt chế độ? » Òng dơ một bàn tay nhỏ gầy guộc để chặn câu trả lời của tôi. «Đừng, đừng trả lời! Trong đường lối soi sáng tâm linh ông là môn đệ của tôi. Ngoài đời ông là ông Đại sứ Hoa-kỳ. Ông không được bàn cãi các vấn đề quốc sự với tôi … Nhưng vấn đề chính trị chỉ là vấn đề cá-nhân nhân lên nhiều lần và chúng ta hãy thử giải quyết nó bẳng đường lối cá nhân: bằng cách tự đề ra cho chúng ta một mục đích giới hạn mà nếu đạt tởi sẽ có nghĩa là « thành công ».
Vậy nên có một ông tướng thường nói rằng: « Nếu tôi thắng cuộc chiến tranh tôi sẽ có – và sẽ là! – sự thành công. » Ông ta quên mất sự kiện chiến tranh là một sự bạo động hủy diệt không có giới hạn và sau đó cần phải có một hành vi sáng tạo mới để đem lại trật tự trong hỗn loạn và đem lại tiếng cười trong tiếng khóc. Ông bạn của tôi, ông biết tôi muốn nói gì chứ? »
« Tôi biết rõ lắm nhưng nó không soi sáng được điều gì cả. Tôi rất biết rõ hoàn cảnh của tôi trong tư cách một nhà ngoại giao chuyên nghiệp.
Tôi không được tự do đề ra mục tiêu của những hành động của tôi – tôi chỉ biết hành động cách nào tốt nhất để hoàn tất được những mục đích đã được đề ra cho tôi».
Muso Soseki mỉm cười và lắc đầu. «Chỉ đúng phần nào thôi. Người ta nhờ cậy òng khuyến nghị và cố vấn, thế nên, thật ra ông cũng có thể góp phần vào việc đề ra các mục đích sau này được vạch ra cho ông chứ».
«Đúng. Nhưng tôi khuyến nghị dưới áp lực của các biến cố xẩy ra hàng ngày: thiên tai, đói rét, chiến tranh và sự lên xuống của thị trường chứng khoán. Tôi phải nhắc nhở chính tôi và tất cả các người thương lượng với tôi là một sự thay đổi không nhất thiết là một sự tiến bộ. Nếu tôi không thể làm cho họ tin tôi, có thể tôi sẽ được chỉ thị đưa ra một cuộc đổi thay mà tôi không tin tưởng. Mặt khác, sự thay đổi mà tôi tin tưởng có thể chỉ đẻ ra những thiên tai khác và những chiến tranh khác».
«Và ông hài lòng với hoàn cảnh ấy, mà thật ra chính là toàn thể cuộc đời chuyên nghiệp của ông? »
«Tôi chấp nhận nó như một sự kiện-một sự kiện cần thiết của cuộc sống. Theo nghĩa ấy, tôi buộc phải hài lòng với nó».
«Có thật nó cần thiết bởi nó là cần thiết – hay chỉ vì ông muốn nó là cần thiết? »
«Ước mong tôi biết được câu trả lời».
«Mong ước chưa đủ. Ta phải đặt ta vào trạng thái đi tìm câu trả lời mới được»
Tôi biết rằng tôi đã thua lý. Tôi phải chấp nhận sự thua lý ấy bởi vì người này là ông thầy và tôi là học trò. Nhưng thật khó mà nuốt trôi bởi vì trên một bình diện khác, tôi là một vĩ nhân được Tổng-thống một đại cường quốc vời đến để thay đổi dòng lịch sử, nếu làm được. Sự kiêu hãnh nơi tôi gào lên đòi cởi bỏ sự ràng buộc với ông đạo sĩ cao niên này. Một giọng nói khác kêu. « Hãy nán lại, nếu không mày sẽ tự hủy diệt tan tành vì không có ông ấy giúp đỡ».
Muso Soseki im lặng một hồi lâu. Đôi mắt ông hướng thẳng về khu vườn không nhìn đâu thấy. Khuôn mặt đầy đường nét của ông thản nhiên trong sự suy tưởng. Tôi cũng tự thấy mình ngả dần về những trạng thái thể chất vả tinh thần của sự trầm tư. Sự chú ý của tôi hướng về luồng không khí nóng ấm cuồn cuộn bốc lên từ đám than chảy đỏ hồng. Tâm trí tôi tự tách rời khỏi cái lý luận của cuộc đối thoại trước đây và bắt đầu dạo chuyển tự do bởi động lực liên tưởng. Rồi bỗng nhiên nhà sư già lại cất tiếng nói:
«Tôi rất lấy làm tiếc thấy ông vẫn chưa trả lời cái câu hỏi về con chim cu.»
«Tôi đã suy nghĩ nhiều nhưng vẫn chưa hiểu- thấu câu đó! »
«Ngay cả bây giờ ông vẫn không hiểu? »
«Ngay cả bây giờ. »
«Vậy chúng ta hãy tìm câu giải đáp lần nữa.
Này ông, tại sao ông đến thăm tôi? »
«Để nghe sự yên lặug. »
«Ông đã nghe thấy sự im lặng chưa? »
«Đôi khi. »
«Ông đã nghe thấy tiếng con chim cu chưa? »
«Sao mà nghe thấy được. Con chim cu im lặng khi mùa Đông đến.»
«Nhưng ông đến đây để nghe sự im lặng. Tại sao ông không nghe thấy sự im lặng của con chim cu? »
«Tôi chưa có cơ hội hỏi nó. »
«Nhưng ông đã đợi cả năm để nghe tiếng nó gáy?
«Vâng. »
«Và khi ông nghe tiếng nó, ông biết là mùa Xuân đã về? »
«Vâng.».
«Vậy ông đã hiểu con chim cu? »
«Vâng. »
«Ông có sợ nó không hiểu ông không? »
«Tòi biết rằng nó sẽ không hiểu tôi. »
«Ông biết rõ hay ông kbòng muốn tìm hiểu? »
«Tôi không muốn tìm hiểu. »
«Tại sao? »
«Bởi vì tôi chưa hề tin con chim cu.»
«Òng có cho rằng con chim cu sẽ tha thứ cho ông không? »
«Tôi hy vọng nó có thể tha thứ. »
«Như vày ông sẽ làm gì khi họ yêu cầu ông giết con chim cu? »
«Tại sao lại có người yêu cầu tôi giết con chim cu? »
«Bởi vì nó không chịu gáy về mùa Đông. »
Và thế là đâu lại hoàn đấy, tôi vẫn chỉ là một tín đồ mới nhập đạo, lại trở về với cái cổng mà tôi đã bước vào. Người sư già nhận thấy rõ sự khó chịu của tôi bởi vì òng bỏ giọng trịnh trọng của đối thoại mondo và nhắc nhủ tôi một cách dịu dàng:
«Òng nên nhớ rằng điều ông đi tìm là một sự, hướng nội. Nó sẽ không cho ông một giải đáp chính xác nào về sự hướng ngoại mà ông dấn thân vào hiện nay. Nó sẽ không chỉ cho ông cách nào để thành công trong chức vụ Đại-sứ hay để giải quyết một vấn đề bằng cách biến nó thành một vấn đề khác. Điều nó sẽ chỉ cho ông là cái bí quyết của cuộc sống, sự mưu sinh và tiến bộ là do ở cá nhân chứ khỏng phải quần chúng. Thế nên, hễ làm điều gì để tiến bộ trong còng việc làm của ông hay của bất cứ ai, điều ấy phải được thực hiện bởi và qua sự hướug nội của cá nhân … » Ông ngừng nói một cách đột ngột và nở một nụ cười hiếm hoi với tôi. «Làm rối ren trí óc ông thật là không phải. Tri thông minh bao giờ cũng nở như một đóa hoa khi ta không nhìn thấy. Ông hãy viết thư cho tôi. Tôi sẽ lưu tâm vì ông, và khi ông quay trở về, òng sẽ đến thăm tôi. »
«Tôi sẽ lại thăm thầy-và xin cảm ơn thầy. »
Câu hỏi cho đến nay vẫn chưa được giải đáp. Vẫn không thấy sự soi sáng đâu cả, chỉ thấy một cảm giác bất mãn và linh cảm thấy sự không hay sâu sắc hơn. Nhưng có một điều tòi đã thấu triệt: đó là sự liên hệ giữa tôi và Muso Soseki đã rất thực; và ông là bậc thầy, đã quan tâm sâu xa đến cuộc sống của tôi cũng như tôi quan tâm đến cuộc sống của ông vậy. Từ đây trở đi ông sẽ tự cho ông trách nhiệm phần nào về hạnh phúc và hạnh kiểm của tôi. Và tôi phải suy tôn ông, quan tâm đến sức khỏe và sự an khang của ông, quan tâm đến việc ma chay tử tế cho ông.
Nhiều nước-và nhiều máu-đã chảy dưới cầu kể từ lần đàm đạo với Muso Soseki mùa Đông năm ấy. Giờ đây tôi trở lại khuê viên Tenryu-ji, cố gắng để tìm hiểu ý nghĩa các sự đắc thắng ngoài đời và các sự khám phá riêng tư của tôi. Điều lạ đối với tôi bây giờ là tại sao trước kia tôi đã quá bận tâm về một câu hỏi đầy tưởng tượng về con chim cu và không mấy phiền lòng về lời nói cuối cùng của Festhammer trước khi tôi khởi hành đi Saigon.
«Anh Max, bất thần ngày nào từ nay trở đi, sẽ có kẻ lật đổ Phùng-văn-Cung và gia đình ông để lập một chính phủ mới. Trước khi ra tay, họ sẽ hỏi ý kiến anh ra sao và anh sẵn lòng ưng thuận đến mức nào nhân danh Hoa-kỳ … và
khía cạnh khó khăn của vấn đề là anh phải trả lời họ – và sau đó biện minh câu trả lời đó với Bộ Ngoại-giao và Tổng-thống … Chúc anh may mắn và thượng lộ bình an! »
Cách bờ biển Việt-nam một trăm dặm một phi tuần hộ tống chiến đấu cơ phóng pháo đến đón chúng tôi và bay thành đội hình chặt chẽ với chúng
tỏi cho đến hết cuộc hành trình. Cảnh đất liền đầu tiên chúng tôi nhìn thấy là vùng châu thổ bao la của sông Cửu-long, trải rộng ra một trăm đặm những ruộng lúa và vườn cây nhiệt đới, làng mạc, đê bờ, rạch kinh đến vùng nước phẳng phiu và nông sờ của bờ biển Thái-bình-dương.
Họ đã đưa tôi qua ngả này để tôi quan sát lần đầu tiên tình hình chiến sự. Vùng đồng quê châu thổ là chiến trường của vài trận đánh khốc liệt nhất trong cuộc chiến tranh. Sông Cửu-long là con đường tiếp tế để chở vũ khí và chiến cụ về suôi cho bọn du kích qua ngả Lào và Căm-bốt. Những vũ khí và chiến cụ đó được dấu kín dưới các bao gạo và các buồng chuối. Từ bièn giới trở đi, ghe xuồng được đàn bà, trẻ con, ông già và bọn thổ chở đi.
Bọn du kích đi lại cũng do ngả ấy qua sông, rạch và đầm. Bọn chúng tự do như loài vật sống trong thiên nhiên-vì có ai dò được lòng dạ của người dân quê nhỏ thó nước da bánh mật đang cấy lúa, đan lá gồi hay bán mía trong chợ làng?
Trong đời sống gia đình chặt chẽ của các làng mạc mái tranh vách đất, ta có thể nhìn thấy tấn bi kịch đắng cay của cuộc nội chiến qua những hậu quả đơn giản nhất và tàn nhẫn nhất của nó. Đêm đến dân làng rút về sau hàng cọc dậu tre cùng với trâu bò. Mỗi gia đình treo một ngọn đèn để soi sáng các vách tường và đặt một người canh gác để đề phòng bọn Việt-cộng xâm nhập bằng cách bò qua các ruộng lúa và bụi tre để tấn công. Nhưng người đứng canh bên vách và người bò trong đám sình lầy bên dưới là anh em, họ mạc với nhau. Vì thế nên đôi khi ngọn đèn phụt tắt và một cánh tay đưa qua bờ rào để đỡ người du kích vào nhà. Có khi họ đưa cho nhau gạo hay thuốc men giúp người bị thương. Có khi là một cuộc án binh bất động để cho bọn du kích có thể nghỉ ngơi dưỡng sức trong vườn chuối trong khi dân làng ngủ yèn lành trong vòng rào. Đối với bộ Tư-lệnh quàn sự thì đó là một cơn ác mộng. Đối với dân cư nơi thôn ấp thì đó là sự thích ứng tự nhiên với hoàn cảnh – bởi vì người dân quê miền châu thổ còn có gì nếu cái cơ cấu gia đình từ ngàn xưa bị hủy diệt?
Ở độ cao an toàn là năm ngàn thước máy bay, chúng tôi vòng vòng trên giải đất đầy sinh lực. Một Thiếu tá không quân chỉ cho tôi thấy một tỉnh nhỏ mà ông gọi là Trà Vinh. Ông chỉ tôi xem những trực thăng bay quần trên thành phố như những con chim vụng về. Chúng tôi vụt thấy những lằn sẹt của rốc-kết, những tia chớp nhỏ của súng bắn và những cụm khói tỏa ra bốc lên từ những lùm cây nhỏ. Nhưng chúng tôi không thấy người đâu cả, chỉ thấy những đàn kiến nhỏ. Chúng tôi không nghe thấy âm thanh nào ngoài tiếng vo vo cao vút của các phản lực cơ bạn. Chúng tôi là những thần nhân trên trời nhìn xuống cảnh hỗn loạn vô vị của thù nghịch giữa đám người hạ thế, và ngày mai đây sẽ được con sông lờ đờ cuốn trôi sạch hay chìm lắng xuống đồng lúa ngập nước hay bị rừng già nuốt đi mất. Chúng tôi đợi chừng mười phút rồi quay về hướng Bắc và bắt đầu hạ thấp từ từ về phía Saigon.
Khi chúng đi về phía phi trường, các phi cơ hộ tống rời khỏi chúng tôi và phi cơ chúng tôi bỗng đâm bổ xuống phi đạo để hạ cánh. Ông Thiếu tá không quân giải thích một cách lệch lạc rằng bọn Việt-cộng hoạt động cả ở ngoại ô thành phố và thỉnh thoảng lại có một phi cơ bị súng dưới đất bắn lên trong khi đáp xuống. Khi phi cơ ngừng bánh và cửa mở, chúng tôi thấy mình đang ở giữa một trại quân. Trực thăng và chiến đấu cơ phóng pháo đậu quanh vòng chu vi của phi trường. Có một toán lính chào danh dự của Hoa-kỳ và một đơn vị nhẩy dù Việt Nam nghiêm trang trong những chiến phục ngụy trang và mũ nồi. Ông Bộ-trưởng Ngoại-giao đứng giữa các tướng lãnh mặc đại lề. Các viên chức của Tòa Đại sứ đứng cùng với một toán quân nhân do Đại- tướng Tổng-tư-lệnh Tolliver hướng dẫn.
George Groton thì thào một lời nhận định bên tai tôi khi chúng tôi bước xuống sân bay.
«Họ đã tiếp đón ông như một tướng lãnh quân sự chứ không phải như một vị Đại sứ. Không biết ai đạo diễn vở tuồng này đây».
Tòi đoán chừng là Raóul Festbammer vì hắn vốn vẫn có tài về kịch trường ngoại giao. Nhưng tôi không có thì giờ đào sâu vấn đề. Ông Giám đốc Nghi lễ đi sát bên tôi và hướng dẫn tôi qua các nghi thức chào hỏi một cách mau lẹ. Nghi thức thi khá thân mật, nhưng cả buổi lễ quá ngắn ngủi, đến độ gần như cộc lốc. Tôi cảm thấy một sự căng thẳng, một ý muốn đem tôi ra khỏi phi trường và đưa tôi về Tòa Đại sứ một cách an toàn, càng sớm càng tốt, nhưng không ai nói ra. Tôi đi tới đâu cũng có một người võ trang che trước mặt. Đại tướng Tolliver ngồi cạnh tôi trong xe và khi chúng tôi rời khỏi phi trường vào con đường rộng rãi đi về thành phố, trước, sau và hai bên tôi đều có xe võ trang hộ tống.
Sau cuộc sống lễ nghi dè dặt bên Nhật, đối với tôi quả là một sự xúc phạm thô bạo và tôi tự cảm thấy tôi phản ứng lại một cách bất ngờ. Sự kích thích xâm chiếm tôi – một sự kích thích lạ kỳ, gần như tính dục, như thể sự phô trương vũ khí và cái không khí nguy hiểm và đe dọa vật thể này là một sự thách đố đối với nam tính của tôi. Tôi hài lòng được tiếp đón như một quân nhân chứ không phải với những sự tôn kính về chính trị. Tòi đến đây để hành động, để thúc đẩy những lực lượng và điều động những lực lượng ấy vào một mục đích thuận lợi. Tôi phải nêu gương tự tín, can đảm cho mọi người và để họ xem chức vụ của tôi nhự một chứng thư quyền lực. Đó là một giây phút say sưa, kiêu hãnh. Quân lính của Tolliver vây kín quanh tôi, như một nhân vật thiêng liêng, nhưng tôi muốn đứng dậy và để cho dân chúng nhìn thấy tôi như một người được đề cử đến để cởi mở xiềng xích cho họ.
Rồi tôi đưa mắt nhìn dân chúng và tức thời tôi như bị nước dội lên đầu làm cho tỉnh người. Dân chúng đâu có để ý nhìn tôi hay nhìn đoàn xe nham hiểm của tôi. Họ cũng không tụ tập từng nhóm để phất cờ và hoan hô vị tân cứu thế. Họ chỉ nhìn qua một lần rồi đưa mắt nhìn chỗ khác. Những gương mặt nhỏ và thông minh của họ trông chẳng khác như tạc bằng gỗ trắc.
Bọn người gánh vác nhún nhẩy đi qua với những thúng mủng treo dưới đòn gánh vắt ngang đôi vai gầy guộc. Một nhà sư đầu cạo nhẳn trong áo cà sa vàng nghệ chìa ra cái bát khất thực và một bà nội trợ đặt vào đó nắm xôi, miếng trái cây. Một vú em người Tầu già nua bước vội trên vỉa hè tay giắt những đứa trẻ sạch sẽ và đẹp như búp bê. Nhân viên cảnh sát gác tại các ngã tư đều có vẻ thản nhiên và làm việc hữu hiệu. Các cô thiếu nữ, tươi như hoa trong những váy, quần lụa ngồi sau lưng các cậu sinh viên trên các xe mô-tô. Các bà nội trợ ngồi trên xe xích-lô trông như những bà công chúa đài các và cổ kính, vẻ mặt bình thản, gần như khinh khỉnh, dưới nón lá.
Họ không phải là thù nghịch. Họ chỉ thận trọng, đứng ngoài cuộc, dửng dưng với những kẻ không thể làm gì thay đổi được nhiều nếp sống căn bản của họ. Đã có quá nhiều tiểu chúa đến rồi lại đi trong ký ức lịch sử của họ – bọn Tầu, bọn Mòng-cổ, bọn Bồ-đào-nha, bọn Hòa-lan, bọn Anh, bọn Pháp, bọn Nhật và sau chót là bọn Mỹ …và dầu vậy cũng chưa phải là sau chót, bởi vì Á- châu làm gì có sự kết cuộc. Địa thế bao la và phức tạp của lục địa này không thể có sự kết cuộc được. Các dòng giống bộ lạc luôn luôn xê dịch do sự thúc đẩy của những lớp núi chắn, sự khiếp hãi nhữug sa mạc tiêu điều, sự hấp dẫn của những vùng châu thổ đầy lúa gạo, sự thông thương của các sông ngòi dũng mãnh, sự ve vẫn của những hải đảo đầy hương liệu và những bờ biển sáng ngời châu báu.
Ở Á-châu bao giờ cũng có một ngày mai bởi vì đàn ông thì hãnh diện vì sức mạnh sinh lý và đàn bà thì được kính nể vì mắn con, và mặc dầu đói kém, dịch tả, kiết ly, đậu mùa, các bộ lạc vẫn cứ sinh sôi nẩy nở và Trung-quốc thì bao giờ cũng phình ra ở khắp biên giới và vươn dài các vòi hút háu đói đến các rưộng lúa và các con đường dẫn đến vùng biển của các hải đảo miền Nam. Trong hình bóng của những ngày mai đó, thành phố Saigon với những đại lộ đầy bóng mát, những biệt thự ấm cúng, với cái vẻ thanh lịch chán chường gô-loa, bỗng nhiên có vẻ phù du và xa lạ như chính tôi vậy.
Mắt tôi chợt bắt gặp một ánh mầu lóe lên và sự nhộn nhịp. Trước mắt tôi chừng năm mươi thước tôi nhìn thấy những viên ngói mầu xanh sáng ngời, những góc mái cong và những chạm trổ thiếp vàng của một ngôi chùa. Từ cổng chùa bước ra ba nhà sư, hai người trẻ tuổi đỡ một người đã già lắm. Họ cùng bước đến ven lối người qua lại, nơi đó họ trải một tấm thảm nhỏ xuống và đỡ nhà sư già ngồi lên trên. Một trong hai người trẻ đặt một lọ sành xuống cạnh bên. Họ cung kính ngả người lễ và rút vào trong chùa thành thử ra chỉ còn vị sư già ngồi đấy đơn độc như pho tượng quan sát bọn tôi đi đến.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.