This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Ông Thầy Tử Vi không vui, nói với tôi: “Cứ như lá số này của gia đình ông, thì trong vận hạn 10 năm sắp tới của ông xem như là một vận xấu kéo khá dài. Số ông có Thái Dương hãm ư di cung, nan chiêu tổ nghiệp, ly tổ vi hung. Số ai có sao Thái Dương cư cung Thiên Di, khó bảo toàn tổ nghiệp ở quê hương, vận này rất xấu! Số cháu trai thì Vũ Phá Tỵ Hợi Di cung- Tha phương cầu thực lao tâm phất lực. Hai sao Vũ Khúc, Phá Quân ở cung Di, phải vất vả lắm mới có miếng ăn, không chừng phải bỏ xứ ra đi!”
Bấy giờ gia đình chúng tôi đang ở trong tâm trạng phấn khởi, đã khám sức khỏe xong đang chờ chuyến bay đi Mỹ, số này tất ứng vào chuyện “phải bỏ xứ ra đi,” nhưng nói tới đây, là vận 10 năm không tốt thì chắc là số tử vi này chấm sai. Trước đây đã có bao nhiêu người bỏ thân trên biển cả, chỉ mong có dịp đặt chân đến một nơi nào đó ở ngoài đất nước Việt Nam. Bây giờ có cơ hội xuất ngoại bằng máy bay, không phải chui nhủi, trốn tránh, bảo toàn được sinh mệnh, hẳn phải là gặp phước Trời, trăm người chưa được một. Vào thời buổi này, ai cũng mong có dịp xuất ngoại, hàng xóm trầm trồ, mơ ước có được hoàn cảnh của người bỏ nước ra đi, mà lá số tử vi lại cho rằng gặp vận xấu?
Nhiều gia đình ngày lên phi trường đi Mỹ, bố và con trai thì đóng vest và cà vạt, mẹ và con gái thì lên đồ đầm, cho vẻ vang, đẹp đẽ với thiên hạ, chòm xóm, đâu phải là một chuyến đi đày, phải lìa quê, ly tổ! Theo văn hóa Việt Nam hay Á Đông, phúc đức cho một đại gia đình nào được xếp vào cảnh “tứ đại đồng đường” (bốn đời sống chung dưới một mái nhà!). Có phước báu mới được sinh ra, lớn lên, và chết trong cùng một căn nhà đó, hay nói rõ là trên một cái giường, trong một căn phòng duy nhất.
Sống lưu lạc xa quê vì sinh kế, được gọi là tha phương cầu thực, với một người không biết quê quán ở đâu đến đây, được gọi bằng thành ngữ “trôi sông lạc chợ!” Không gì thê thảm bằng người bị tách ra khỏi cội nguồn, đẩy ra khỏi quê hương, ngày trước là lũy tre làng, cây đa bến cũ, con đò sông xưa. Cũng bởi vậy tâm trạng người xa quê xót xa biết bao nhiêu. Người con gái đi lấy chồng xa, với “chiều chiều ra đứng ngõ sau,” người lưu xứ buổi chiều, lòng chạnh hỏi “quê nhà biết ở nơi đâu?” Cùng với tâm sự u hoài, ưu thời mẫn thế, đêm qua trời “chớp bể với mưa nguồn,” người quân tử thức giấc với nỗi buồn triền miên, khó lòng dỗ giấc ngủ trở lại. Đó có thể là nỗi buồn của người phải tha phương vì sinh kế, mới nghe qua cũng đã thấy chạnh lòng.
Little Saigon nay đã trở thành quê hương thứ hai của người Việt tị nạn, “một Việt Nam bên ngoài Việt Nam.” (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt) Nhà văn Lưu Dân ở Úc đã từng đặt câu hỏi: “Làm người dân lưu vong, có dễ không, hả bạn?” Ông đã sống hơn nửa đời ở Úc, nơi đã cho ông cơ hội và quyền con người.
Ông xúc động mỗi lần nghe bài hát “I Still Call Australia Home” và cảm thấy ấm áp hơn mỗi lần đi xa trở về, nhưng ông đã có nửa đời trước sinh ra và lớn lên, ăn miếng cơm và uống miếng nước ở Việt Nam, nơi ông được hấp thụ nền văn hóa đẹp đẽ và tình tự quê hương ngọt ngào. Ông tỏ ý hoang mang về căn cước (identity crisis) của mình, và cho rằng mình đã vượt qua cơn khủng hoảng đó nhưng thỉnh thoảng nó vẫn nhói lên như một nhắc nhở về quê hương đã xa và mái ấm đang có. Và ông đã tự hỏi: “Bây giờ, tôi là người Úc hay Việt?” Trong tác phẩm “Sống Chẳng Còn Quê,” xuất bản ở Úc, BS.Trần Xuân Dũng đã tâm sự: “Lúc nào tôi cũng khắc khoải về nước Việt Nam đã mất.” Ông cho rằng Trần Văn Thủy, một đạo diễn miền Bắc viết trong tác phẩm của ông “Nếu Đi Hết Biển” đại khái nếu đi hết biển qua các Đại Dương, Châu Lục, đi mãi, đi mãi, thì sau cùng cũng lại trở về với quê mình, làng mình. Nhưng Trần Văn Thủy đã nhầm, người ta yêu quê hương nhưng khi quê hương ấy nằm trong tay những kẻ trời không dung, đất không tha như bọn Việt Cộng, thì thà “Sống Chẳng Còn Quê” còn hơn. Trong trang cuối cuốn sách, ái nữ của tác giả, thế hệ sau, đã viết: “Tôi coi nước Úc là nhà, nhưng tôi biết rằng bố mẹ tôi lúc nào cũng vẫn cảm thấy như ở ngoại quốc!” Nỗi lạc lõng, xót xa, ray rứt ấy bao giờ mới hết? Đài Loan là một hòn đảo lưu vong xa nguồn cội, nhưng Đài Loan ngày nay đã có tất cả những gì là quê hương. Chúng ta đem theo được một Little Saigon đến đây, nhưng là một Little Saigon với thể chế, luật pháp và ngôn ngữ của nước Mỹ.
Chúng ta lưu vong nhưng chúng ta đã trở thành người dân của một quốc gia khác, một hai thế hệ sau, hình ảnh Việt Nam sẽ còn lại rất mờ nhạt, thậm chí sẽ không còn cả tiếng nói và chữ viết.
Không phải chỉ chúng ta đang ở Mỹ, mà rồi đây nhiều thế hệ sau, ở Đài Loan, Đại Hàn, Trung Quốc, thậm chí ở cả Cambodia, Lào, Thái Lan… có những người kể chuyện cho con cháu nghe, bằng tiếng bản xứ rằng, ngày xưa thật xa, họ có một bà nội, bà ngoại, bà cố người Việt lưu lạc tới đây kết hôn với một người chồng địa phương! Sống lưu vong, Thiếu tướng Nhảy Dù Lê Quang Lưỡng, lúc chết, không muốn phủ quốc kỳ, vì thẹn đã không được “da ngựa bọc thây,” ông tâm sự rằng, lúc cuối đời, ly rượu uống vào nghe đắng cả lòng. Lưu vong là sống tạm bợ nơi nào đó không phải là quê hương, lý do vì quê hương đang có vấn nạn, lưu vong không phải là đi làm ăn xa, để mỗi cuối năm lại “về quê ăn Tết.”
Vậy thì lưu vong và ly hương hẳn đã khác nghĩa nhau. Mỗi năm đã chẳng có hàng chục nghìn người Việt ly hương hớn hở “về quê ăn Tết” đó sao?
Bài nầy tôi viết cho cháu con trong nhà nghe, và xin tóm tắt đại lược. Tỷ như vua Tự Đức, mặc dầu có vụ Hoàng Bảo bị bức tử, nhưng còn khá hơn và hơn nhiều Napoléon đệ tam, lúc bị giam trong ngục cấm cố thì mò tì con đòi, lúc lưu vong qua Ăng lê, nhờ một ả giang hồ bao thầu đủ mọi mặt, nhưng khi lên ngôi làm ông vua ở Pháp thì vong ân và cưới cho được dòng quí tộc Eugénie de Montigo để được dựa hơi cành vàng lá ngọc và gương “muốn sang bắt quàng … ” nầy vẫn là bắt chước bác là Napoléon 1er, bỏ bà de Beauharnais để cưới bà Marie Louise de Lorraine – Autriche,
việc lộn xộn các đế Tây nầy tôi còn nhớ là năm 1917, tôi thi rớt Xẹt (certificat nói tắt) vì tôi viết les (Maries-Louises, lính mộ năm 1814, Marie Louise là tên tộc nên không viết có chữ “S”), Napoléon đệ tam nầy dâm hết chỗ nói, lúc làm hoàng đế được rồi lại sanh sứa đặt làm phòng riêng để ngủ với gái, ông ăn nói lệt bệt nhưng nhờ tướng tài như Rigault de Genouilly, sai qua đánh nhà Thanh bên Tàu, đánh không xuể lại kéo binh xuống chinh phạt đánh và chiếm thành Sài Gon, rốt cuộc nước chúng tôi bị mất lục tỉnh Nam kỳ, nhưng chung qui đế Napoléon đệ tam vẫn thua nặng và mất ngôi, kéo luôn nước Pháp bồi thường nặng cho Phổ và mất hai tỉnh Alsace và Lorraine, và Phổ Bismark, muốn cho Pháp đừng nhớ trả thù, Bismark lại xúi Pháp chiếm đất chúng tôi làm thuộc địa.
Bà hậu của Napoléon đệ nhứt vẫn không chung tình với vua khi vua đã mất ngôi, sánh lại sao bì với bà Phi vua Chiêu Thống, vua thua bỏ chạy, bà cam thủ tiết và khi vua mất bà chết theo vua để lại câu “Gió đưa bụi cải về trời,
rau răm (là bà) ở lại chịu lời đắng cay”. Chuyện xưa kể làm sao cho hết, nay tôi chỉ nhớ ông Nguyễn Tri Phương, v.v ..tận kỳ trung nhưng dáo và mác thông làm sao chống nổi Mousqueton, tàu đồng … nay nói qua phe văn, bà Huyện Thanh Quan … chính như Hồ Xuân Hương cũng không như bà George Sand của Pháp. Vừa rồi, ông Lê Ngộ Châu có gởi biếu tôi một tập của Lộc Đình “Các cuộc đời ngoại hạng”, tôi đọc và thích thú, biết được, George Sand, trước học trường Nhà Kín, khi lấy chồng đêm hiệp cẩn, bà không biết làm tình, còn chồng thì cũng vẫn không biết cách ngủ đêm tân hôn phải làm thế nào, phận sự làm chồng, chung qui cũng tục người Pháp, khi đứa trẻ hỏi cha mẹ “em tôi (gái hay trai) từ đâu có? Thì cha và mẹ vẫn không nói thật và có tục lệ gói kỹ đứa hài nhi trong khăn bó kín và dối rằng “em mầy từ bụi cải bắp sanh ra!” khiến nên khi George Sand hiểu được sự “ái ân” thì sanh tánh lăng loan không thể nói ra đây được và xin cho phép tôi văng tục, trước bà cặp với thi sĩ Alfred de Musset, sau nằm với đại nhạc sư Chopin, nhưng cả hai tỏ ra không đủ sức cung cấp, nên George Sand, về viết văn, thì thật tài, nhưng về đường tình thì rõ là có tánh ham trai tơ và bà là người đàn bà gần như mở đầu cho tục “gái mặc y phục của trai” (Mạnh Lệ Quân, Sở Vân trong bộ “Anh hùng náo …” thua bà rất xa) và hảy qua Victor Hugo, thì đêm tân hôn với vợ là bà Adèle, cả hai xuất trận đến cửu phen, hơn xa vua Minh Mạng “nhứt dạ lục giao …” và khiến tôi bắt quàng nói qua André Gide, vẫn có tật “kê gian” nên có câu Pháp văn nầy của Duhamel nói với Maurice:
“Cet André Gide a su par sa dextérité passer du postérieur à la postérité” câu nầy xin độc giả cho tôi dịch phóng: “Lão André Gide, tay ngón lanh, nhờ “cửa sau” mà để danh về sau” và nói cách khác, nói chữ chút chơi: “nhờ hậu môn mà lưu danh hậu thế”.
Xuống đến Victor Hugo hoang dâm vô độ, nhân tình từ đào hát qua tôi đòi, bất dung tha mặt nào và vẫn để cho vợ cắm sừng với bạn là Sainte Beuve rồi chuyển qua Téophile Gautier, trong khi Hugo thì dan díu với Juliette Drouet qua Léonie d’Aunet, đúng là “khi ông ăn chả thì bà ăn nem” và khi vợ chết, trên mộ bia vẫn khắc vỏn vẹn hai hàng: “Adèle (hàng trên) và hàng dưới: Vợ của Victor Hugo” (trang 100 của Lộc Đình) và Lộc Đình vẫn ghi “Tolstoi và Hugo, sao mà giống nhau thế” và tôi xin độc giả hãy tìm mua mà đọc lấy, duy tôi xin thêm có sách Pháp đã viết “Napoléon và Hitler, về môn tình dục, thì bộ kín họ Hích vẫn tong teo, còn đối với anh hùng bạt tụy Nả, thì một hôm có nữ danh ca tên Mlle Mars đến, vua sai truyền lịnh “hãy chực sẵn trên long sàng” và khi đêm gần sáng, vua mắc lo việc quân sự lại ra lịnh “hãy xếp xiêm y, bãi chiến, trẫm không đủ thì giờ …”.
Xét ra nếu nói thêm chi cho khỏi phạm tội bày chuyện tồi phong bại tục, nên ngưng viết là vừa. Dĩ nhiên hôm nay tôi nhơn hứng viết và suy luận Đông Tây và “Kim cổ”, tưởng không nên so Hồi ký của Lộc Đình (thâm thúy và kỹ càng từ tác phẩm đã viết) của một trò trường phường Hà Nội nhỏ qua trường Trung học Pháp “Bưởi” vừa có thầy cử Hán cụ Thẩm Quỳnh dạy chữ Hán, qua tay bác của Lộc Đình dạy kềm thêm chữ Nho, tưởng không nên so văn của người Bắc, còn giữ được nền gốc Khổng Mạnh buổi Pháp thuộc, và tưởng đừng nên so với văn trong Nam nầy, đã bị Tây cấm học võ, sợ làm giặc và đã không cho học chữ nôm và Hán tự, rằng phải quên gốc cũ và phải học quốc ngữ để làm việc cho đô hộ Tây … và theo tôi tạm kết luận, người bạn trẻ Việt, nên biết ngoại ngữ mới mong tiến phát, nhưng không nên viết Pháp văn bất quá chỉ viết bằng họ chớ không hơn họ được, và tưởng không nên bỏ nguồn gốc Hán nho và quá viết cho giống giọng Âu Tây, “Mạ lấy xe kéo để về nhà” và như vậy vô tình người Tây học thốt câu ấy để mời bà nhạc về nhà và tạm đi xe kéo chớ không lấy thằng phu kéo xe đâu nhé.
Văn Tàu với Đường thi, với Tam quốc chí, với Thủy hử Lương Sơn Bạc, với Tây Du Đường Tam Tạng thỉnh kinh, với Hồng Lâu Mộng với Tây Sương Ký còn chúng ta, ngoài kia có truyện Kiều, trong nầy có truyện Lục Vân Tiên, theo tôi, mỗi phương mỗi có lề lối nói viết riêng biệt, nên giữ lại cho nhau, hơn là như hiện nay, cố tình ép viết giọng Bắc, “Tân Sơn Nhứt” và viết riết “Nhất” ôi là Nhất và xứ quê của tôi là tỉnh, hạt Sốc Trăng là do tiếng cũ người Miên là “Srok khléang”, Tiều đọc “Khát làng” âm chữ Sốc là Sốt Miên và xin đừng ép viết Sốc Trăng (chữ sóc, Hán, là bắt đầu, là Sóc phương, thì sai vì đúng ở phương nam, và Sốc Trăng hiểu ngay sóc vọng thì trăng nào lú, nếu cho tôi leo qua điện sử thì Sốc Trăng, thời vua Minh Mạng, còn lại địa danh Hán là “Nguyệt giang tỉnh” (tỉnh Sông Trăng) chớ vẫn không là Sóc Nguyệt.
Xin giữ lại, viết Tam Đa Quán, nhưng xin đọc “quán Ba Cụm”, tuy cái quán xưa đã không còn và tuy viết hai chữ “Tây Cống” (nhưng không phải đó là đất cống cho Tây).
(viết ngày 12-8-1993)
Thử so sánh văn nhân tướng sĩ Đông và Tây của Thế Kỷ 18 dưới trào hai Vua Tự Đức và Napoleon III
Ông vua của mình, Hán học uyên thâm, mà đánh giặc không lại vua Pháp, Napoléon III (Nã Phá Luân đệ tam) ông vua Tây nầy rất bê bối, nói chuyện không nên thân, chỉ giỏi tài nhảy cái và nhờ có tướng giỏi phò trợ mà chiếm dược đất Miền Nam (từ năm 1862) và gậm nhấm luôn Miền Bắc (từ 1884), báo hại vua ta chỉ còn một mảnh đất gọi Miền Trung và từ khi vua ta băng, nước Nam điêu linh mãi.
Kể về phe văn, xin miễn nói về người của nước ta, vì ai ai lại không biết, và xin nói sơ về mấy ông văn sĩ của Pháp và xin so sánh chút chơi như sau:
Vua Minh Mạng tự khoe “Nhứt dạ lục giao sanh ngũ tử”, theo tôi hiểu, ông sẵn sâm nhung và rượu thuốc bồi bồ, nên nội một đêm ông đạp sáu con mái mà sanh được năm con, đó là nhờ súng khá mạnh và đạn có ngòi, trong khi
ấy, đọc sách của Lộc Đình Nguyễn Hiến Lê để lại, tôi đọc “Các cuộc đời ngoại hạng” rồi hôm nay vừa nhận cuốn “Đời nghệ sĩ”, nhớ chuyện Victor Hugo, đêm đầu hiệp cẩn với vợ là Adèle Foucher, hai người xáp trận, mà “nhứt dạ cửu chiến … ” nhưng có lẽ súng tuy nhạy mà đạn là đạn mã tử, nên không nghe có sanh con nào, và tôi nói đây, xin kiểm duyệt đừng bôi và đừng bắt tội dợm nói tục, anh Nguyễn Hiến Lê viết sao tôi tin làm vậy, và riêng tôi cũng từng đọc sách Pháp, hiểu cuốn trùng điệp với những sách anh Lê đã đọc, thì bà Adèle nầy sau có cọ dĩa vừa với Sainte Beuve, vừa với Théophile Gautier, và khi Adèle mãn phần Victor Hugo vẫn đề trên bia vợ:
Adèle Vợ của Victor Hugo (sách C.C.Đ.N.H., trang 160).
Tôi xin kết luận: bên Tây, tục “ăn nem ăn chả” vẫn xem thường … và Victor Hugo khi chết, vẫn được thờ và chôn trong Panthéon, trong khi bên nước tôi, Nguyễn Tri Phương, Trương Định, luôn Phan Thanh Giản, đến nay tôi chưa nghe được tưởng niệm đích đáng như bên Pháp, ông Nguyễn Tri Phương, thì rút tháo băng để nhận chữ Trung, ông Định khi bị bắn gãy đùi thì rút gươm tự vận, quan văn thì như Phan Hiển Đạo, bị quan Phan nhiếc một câu cũng tự tử cho tròn khí tiết, còn tỷ như nhà tu Talleyrand1, sớm đầu tối đánh, trở mặt như khi tắm, tu hành không lo, nhà văn Chateaubriand, cũng vẫn cưới vợ giàu đào mỏ như ai và tánh 35 không chỗ nói, tôi đọc gấp rút không thấy Lộc Đình nhắc lại chuyện bà Récamier, vậy tôi xin sửa mũ mấn, viết nhón lại đây sự tích hồng nhan bạc mạng của bà, sơ khởi bà là con của cha – người cha nầy, thật ra vì tư tình với chính mẹ mình mà sanh ra, (Récamier lấy vợ của bạn) và khi bà lớn lên, dung nhan cá đắm nhạn sa, thì xảy ra việc trong nước có loạn, vua bị thí (bị chém đầu) … một bữa hay một hôm nọ, Récamier nói với người tình nhơn, “xin để cho mình cưới con, đứa con tư sanh tử ấy, làm vợ” – người tình nhơn ấy nghe lạ tai, vội hỏi: “sao có chuyện loạn luân, cha đòi lấy con làm vợ như vậy”, thì Récamier trả lời: “Hiện nay, luật Cách mạng dạy rằng phàm kẻ nào có sản nghiệp mà độc thân, khi chết, thì sản nghiệp sẽ bị tịch thâu cho nhà nước hưởng và vì vậy, anh đây, nếu mãn phần bất đắc kỳ tử, sẽ mất của, nên anh lo xa, thà để anh ký tờ cưới có hôn thú, thì con của chúng ta khỏi lo bị mất của và anh đây xin thề sẽ giữ bồn phận làm cha và sẽ không khi nào động chạm đến con mà phải sự loạn luân như em đã sợ và nghi ngại”, v.v .. và vv.. và cố nhiên, tại tôi viết còn lượt bượt, chưa được gãy gọn, cho nên câu chuyện đổi ngôi “lấy con đẻ làm vợ nhà” hóa ra lòng thòng lểnh thểnh – nhưng tôi có bao giờ xưng mình là nhà văn – và sự thật vẫn là sự thật và cố nhiên, hồng nhan Récamier phải chịu lâm vào cảnh ngộ “cố đấm ăn xôi, thì xôi chẳng chín” “tưởng rằng làm vợ, hóa cô đơn” và về sau, sau vài năm hay vài chục
năm nằm trơ trên giường lạnh và giường ai thì nấy ngủ … bỗng Récamier mãn kiếp hy sinh …
(viết ngày thứ tư mercredi 17 novembre 1993)
Dẫn
Tôi đang bực tức mấy bữa rày viết lục đục không ra lời, và đang lúng túng kẹt đề tài, bỗng tôi vớ được chút tư liệu tình cờ nầy, nào dè đây là mấu chốt của trang sử về “đoạn gay cấn duyên do ta mất ba tỉnh Miền Tây, và nỗi oan ức quan Phan Thanh Giản làm mất ba tỉnh ấy”, nay đã có lối giải nghĩa và hiểu được.
1.Talleyrand Perigard, theo ngưoi tự đien Petit Larousse đa ke (1754-1838)
xuất thân là một cha cả nhưng tráo trở, vô hạnh, chức là “évêque d’Autun”,
trước phò chế độ cũ vua Louis XVI, rồi lội qua trào constituante, nhảy qua
làm linh mục buổi Constituante, rồi bỏ phắt Sắc phục nhà tu, hăng hái trở
nên bộ trưởng bộ ngoại giao Directoire, Consulat, Empire và năm 1814-15
có công o Congres de Vienne giup nước Pháp, thua trận mà khoi hư hao
quốc gia đại sự.
Sự việc xảy ra và ít có sách sử nào cắt nghĩa cho rành, nhưng nay đã có lối giải bày như dưới đây, tôi cho là vận mạng nước Nam thuở 1867 ấy, chỉ tùy cử chỉ một ông vua đã có tên đặt cho đường Tôn Đức Thắng rồi đổi lại là đường Lê Duẩn như ngày nay, và tôi nói lòng dòng như vầy: một là tránh nói tên ngay e đụng chạm về vấn đề chính trị và hai là ý muốn để độc giả tự tìm và hiểu lấy.
Chung qui, nước ta ngày nay vẫn mắc mưu mãi với một nước láng giềng mà nay còn chưa ổn định và dân nước ta lên trên đó sanh nhai vẫn còn bị chưa để cho yên. Theo tôi, nước Pháp chiếm ba tỉnh Miền Tây (Vĩnh Long, Hà Tiên, An Giang) là nhờ kỳ công của người nầy. Tôi xin thuật sơ lược và viết lòng dòng như đã nói, mặc cho người nào đọc mấy trang nầy, muốn tin và hiểu thế nào cũng được. Theo tôi, trước là Bonard, kế tiếp là Rigault de Genuoilly, khi đã chiếm ba tỉnh Miền Đông (Gia Định, Biên Hòa, Định Tường) thì họ đã thỏa nguyện lắm rồi và chính Bonard chơi thân với Phan Thanh Giản, đã tỏ cho biết ý kín là khi về Pháp, sẽ tâu với vua Tây, nên cho chuộc đất để mua lòng vua Nam và cũng để cho những ai đã theo đạo Mới (Gia tô) sẽ được yên ổn làm ăn. Chính tin nơi lời hứa đó mà quan Phan nhận lãnh sứ mạng đi điều đình. Ngờ đâu có hai trở ngại xảy ra.
1) Bonard về tới xứ thì mất,
2) Bên triều đình Pháp, sanh ra hai phe, phe chiến và giữ đất đã chiếm được và phe hòa, muốn cho chuộc đất, chính trong nước Pháp vẫn thiếu hụt tài chính, đang có giặc nơi Crimée kéo dài lôi thôi … Khổ một nỗi khác là ở bên ni (nước Nam), tình hình bất yên, vẫn có khuấy rối chọc phá từ Miền Tây, lội qua Tiền Giang, đánh phá … và trong lúc ấy, bỗng ở trên kia, ông vua của xứ có Đền Đế Thiên, ông vua nầy đang bị vua nước Xiêm La áp bức và vua Chùa Tháp có lòng nửa theo Xiêm, nửa lại muốn đầu hàng Người Mới, và Người Mới đây là tôi nói trớ, đó là giặc Tây, người Pháp đang đánh chiếm Miền Dưới nước An Nam. Như đã kể, Bonard và enuoilly đang lưỡng ước.
Đang khi chưa quyết định, Genuoilly bèn sai một quan võ thủy binh đi do thám tình hình. Người ấy tên là Doudart de Lagrée, sau nầy được lấy tên đặt làm tên đường và bia tượng vẫn bị dời đi nhiều chỗ tôi sẽ nói nơi sau.
De Lagrée lên đất Chùa Tháp bằng một chiếc tàu trận tên gọi l’aviso Gia Định. Nhiệm vụ của de Lagrée thật là khó, nhưng ông tướng Tây nầy quả có chơn tài. Ông vua Chùa Tháp, xin cho tôi gọi đây theo tên Việt đã tặng cho
ông là Hoàng Lân. Ngày 3 Mars 1863, Hoàng Lân kéo binh và gia tướng lên đường trực chỉ Vọng Các (Bangkok), ông đi được nửa lộ trình, thoạt hay tin de Lagrée đã kéo cờ ba sọc lên đỉnh đền vua và đã bắn 21 tiếng súng hiệu lịnh. Khi hay được tin như vậy, vua Hoàng Lân sai dừng binh hạ trại giữa lộ trình và sau vài ngày suy nghĩ cặn kẽ, ông bèn thối bộ, kéo róc bộ hạ trở về đất Tháp và ngày 11 Aout 1863, đã ký chịu thần phục nước Pháp … và một năm sau, nước Xiêm La sai sứ đem mão ấn trả và ngày 3 Juin 1864, chính De La Grandière tự tay trao mão ấn cho vua.
Những việc kế tiếp tôi xin độc giả xem lại trong quyển Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim và tôi chỉ tóm tắt lại đây ít hàng về de Lagrée.
Nhà Nước Pháp nhớ công lớn nên thăng lên chức Capitaine de vaisseau (4 lon) và sai cùng với Francis Garnier, đi thám hiểm Biển Hồ (Tonlé Sáp) Tonlé là hồ bể, Sáp là nước ngọt, còn Mékong, tiếng Miên là Mì côn (sông mẹ của các sông nhỏ khác).
Rồi de Lagrée cùng với Francis Garnier lên Thượng Hải (Trung Quốc) năm 1868 nhưng cả hai đều chết. Francis Garnier được dựng tượng đồng nơi đầu đường Bonard, trước Nhà hát Tây, còn về de Lagrée, vẫn truân chuyên nhiều nỗi:
– Sơ khởi đô thành Tây dựng bia kỷ niệm nơi đường đại lộ Charner, nhưng năm 1890, bia được dời qua đường Bonard (chỗ Nhà hát) và bị lấy chỗ lập nhà hát, khiến nên bia de Lagrée lại dời đi nữa và dựng lên trong khu sau lưng hình đồng de Genouilly, nhưng cái số bia nầy không ở lâu được bền, vì khi chúng ta phá hình đồng de Genouilly để lấy chỗ dựng hình Đức Thánh Trần (như ngày nay đã thấy), thì cả khu bia De Lagrée và hình đồng De Genouilly cũng đã dẹp mất.
Tôi xin nói luôn, chính cái tượng đồng De Genouilly cũng có lắm tin đồn.
Vốn là trước đây, vào đời Tây còn ở đây, dân ở Xóm Thủ Thiêm ngang cái tượng tướng Tây gọi “Một Hình” nầy, dân Thủ Thiêm thường bị hỏa hoạn, và có người mê tín bịa chuyện rằng tại hình đồng de Genouilly lấy tay chỉ ngay qua xóm Thủ Thiêm nên bà Hỏa đốt nhà và tin đồn khi Tây nghe như vậy thì có sai người thổi đồng và kéo cái tay ác quái ấy chỉ xuống? Hình đồng nầy nay đã bị thủ tiêu, nhưng tôi đây xin đứng làm chứng, từ sơ khởi hình de Genouilly vẫn nặn ra với tay mặt chỉ ngay xuống đất ý nói nơi đây là nơi đỗ bến của Tây chớ hình bằng đồng dễ gì nấu chảy và nếu nấu thì hình hư chớ nào kéo lên kéo xuống như lời đồn vậy được.
Khi tôi viết, thì tôi chẳng biết ngừng và bài nầy cũng như bao nhiêu bài tôi đã viết, đều “đầu Ngô, mình Sở”, luộm thuộm và bời rời tựa như cơm nếp nát, chung qui là tại khi đang viết và tờ giấy đã không còn chỗ trống, duy có một đôi tứ mới vừa nghĩ ra, thì lúc ấy, chẳng đặng đừng, tôi vẫn lấy trang mới để ghi lại những tư tưởng vừa nghĩ ra ấy, và tỷ như bài nầy, tôi đánh số từ tr. 1 tr. 141, rồi trở lại đoạn đã viết ngày 31 Juillet rồi nối qua đoạn viết ngày 12 Aout, để rồi vá víu từ trang 142 lẩm cẩm tào lao cả ri đạnh đự như vầy, vậy xin thông cảm và bỏ qua cho. Sở dĩ tôi muốn nói thêm là để nhắc lại nơi chỗ dựng hình Đức Trần Quốc Tuấn, Hưng Đạo Đại Vương ấy, khi chúng dân hạ bệ hình de Genouilly thì vẫn dựng hình Hai Bà Trưng, nhưng không hiểu lúc đó ai kia đã nịnh mụ Xuân, vợ Ngô Đình Nhu và đã nịnh bợ thêm một lần nữa là đưa thêm con gái mụ Nhu lên đứng gần mẹ để thay Hai Bà và việc tày trời, trời bất khả dung, khiến khi lật đổ họ Ngô, dân chúng phẫn nộ và đã chém đứt đầu Xuân và đầu Lệ Thủy và lôi xuống đất và kéo bù lăn bù lóc một quãng đường thật xa thì dân mới đã nư.
Và chuyện dân bên Thủ Thiêm cho đến nay chưa phát triển gì được là tại khó xây một chiếc cầu nối liền Thủ Thiêm qua vùng thị thành, ấy chẳng qua nếu xây cầu thì làm sao cho tàu bị hư sẽ kéo lên Sở Ba Son cho được. Xét ra khu Ba Son đã có từ thời chúa Nguyễn Ánh và đó là khu gọi Tàu Ô. Cũng như trong câu hát thường và vẫn còn người truyền tụng là câu “Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm … ” thì con đò xưa ấy có phải chăng ở ngay bến phà ngày nay?
Lại nữa một địa danh khác nữa cũng trong vùng nầy là “Cột cầu Thủ Ngữ” Tây trước đây gọi “pointe des blagueurs” – tôi dịch “Mũi tán dóc”, thì đó là Bến Tắm song của vua Miên ngự tại Sài Gòn, tên Bến Ngự là do ta đặt và phiên dịch tiếng Miên Kompong-Luông (kompong là vũng nước, Luông là vua, tỷ như Luông Pra-bang trên đất Lào là Luông đức vua và Prabang “đức Phật). Tôi lại nói sa đà nữa rồi và nhắc lại năm trước lúc tôi còn làm việc nơi viện bảo tàng, một buổi sáng sớm khi đạp xe tới mé sông Sài Gòn khu gần Ba Son nầy, tôi vẫn thấy một chiếc xe nhà binh đang dùng máng lớn xúc từ dưới đất lên một mớ bình vôi loại có quai thời Tự Đức hoặc xưa hơn nữa và tôi đã không kịp xin máy ngừng và những bình vôi đó đã rớt rơi bề nát tan tành, cũng như gần đây, nhơn đào đất vùng nầy để đặt ống dẫn nước cống, thì phu đào đất vẫn còn gặp vô số bình vôi loại có quai như vậy và việc ấy chứng tỏ vùng mé sông Sài Gòn từ Cầu Mống đến Sở Ba Son, vốn là di tích của Sài Gòn đời đàng cựu vậy.
(viết ngày 16-9-1993 mồng một tháng Trung Thu Quí Dậu)
Ngô Thế Vinh sinh năm 1941, Thanh Hóa, nguyên quán Hà Nội, di cư 1954, trung học Quốc Học Huế, Chu Văn An Sài Gòn. Tốt nghiệp Y Khoa Sài Gòn 1968. Làm báo SVYK Tình Thương. Y sĩ trưởngLiên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, Y Khoa Phục Hồi Letterman General Hospital San Francisco 1972, Trường Quân Y. Tù cải tạo từ 1975 tới 1979, định cư ở Mỹ 1983, tốt nghiệp Nội Khoa các BV Đại học New York. Bác sĩ điều trị và giảng huấn tại Bệnh viện Nam California. Tác phẩm: Vòng Đai Xanh 1971, Mặt Trận ở Sài Gòn 1996, Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng 2000, Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch 2007.
Y sĩ Trung úy Ngô Thế Vinh 1969
Nghiêm Sỹ Tuấn Cánh Én Mùa Xuân
Ngô Thế Vinh
Dẫn nhập
Chiến tranh, không phải là chấp nhận hiểm nguy, không phải là chấp nhận giao tranh. Ở một thời khắc nào đó, với người chiến binh, là sự chấp nhận thuần túy và giản đơn cái chết. La guerre, ce n’est pas l’acceptation du risque, ce n’est pas l’acceptation du combat. C’est à certaines heures, pour le combattant, l’acceptation pure et simple de la mort. A. de Saint-Exupéry (Pilote de guerre)
Tiểu Sử
Nghiêm Sỹ Tuấn, bút hiệu là Yển Thử, [bút hiệu này chỉ được dùng một, hai lần cho mấy bài thơ 28 Sao trên báo Tình Thương], sinh ngày 7 tháng 2 năm 1937 tại Nam Định, Bắc phần trong một gia đình thanh bạch và đông anh em. Cắp sách tới trường muộn màng ở tuổi 14. Hoàn tất học trình Trung học và Đại học trong khoảng thời gian 14 năm. Những năm học Y khoa, Nghiêm Sỹ Tuấn là Thư ký tòa soạn báo Sinh viên Y Khoa Tình Thương từ số ra mắt tới số 13 [khoảng thời gian từ 01-1964 tới 01-1966] tới ngày Anh ra trường, là tác giả nhiều bài viết sâu sắc, mang nặng những suy tư về các vấn đề văn hóa, xã hội và vận mệnh đất nước.
Nghiêm Sỹ Tuấn tốt nghiệp Bác Sĩ Y Khoa 1965 ở tuổi 28.
Không là Quân Y hiện dịch, nhưng Nghiêm Sỹ Tuấn tình nguyện gia nhập binh chủng Nhảy Dù, là một y sĩ tiền tuyến có mặt trên nhiều trận địa khắp bốn vùng chiến thuật, hai lần bị chiến thương, nhưng Anh vẫn tình nguyện ở lại đơn vị tác chiến, anh hy sinh trên chiến trường Khe Sanh sau Tết Mậu Thân, khoảng tháng 4 năm 1968(1), ở tuổi 31 ngay giữa tuổi thanh xuân. Năm 2010, khi Tập San Y Sĩ Canada thực hiện số báo chủ đề Tình Thương, Một Thời Nhân Bản, mọi người đều cảm nhận được dấu ấn rất rõ nét của Nghiêm Sỹ Tuấn ngay trong tòa soạn và xuyên suốt trên nội dung tờ báo Tình Thương.
Tính đến nay 2019, Nghiêm Sỹ Tuấn mất cũng đã hơn nửa thế kỷ. Sau này mới được biết, sau Nghiêm Sỹ Tuấn, còn có thêm hai người em trai của Anh cũng hy sinh trên những trận địa khác. Chỉ riêng gia đình anh đã cống hiến ba người con trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam, một hy sinh và mất mát thật vô cùng lớn lao.(2)
Đi Tìm Chân Dung Nghiêm Sỹ Tuấn
Năm Nghiêm Sỹ Tuấn tử trận, cũng là năm lớp Y khoa 68 ra trường. Tính đến nay, qua hơn nửa thế kỷ, trải qua rất nhiều hoàn cảnh và những thử thách khác nhau, với bao nhiêu biến động và thăng trầm của đất nước, có thể nói các bạn của Nghiêm Sỹ Tuấn là những người sống sót, và để rồi chẳng thể ngờ rằng nay vẫn còn có dịp nhìn về một chặng đường quá khứ, tìm lại khoảng thời gian đã mất. Viết về báo Tình Thương sẽ thiếu sót nếu không viết về Nghiêm Sỹ Tuấn [NST]. NST không những đã ghi dấu ấn trên tờ báo Sinh viên Y khoa Tình Thương năm xưa mà cả ngay trong tòa soạn, trên các bạn đồng môn trong nhóm Tình Thương, và hơn thế nữa theo Đặng Vũ Vương thì NST đã gián tiếp ảnh hưởng đến hướng đi cuộc đời của nhiều người sau này. Trong bài viết cho Tập San Đại Học Quân Y, cũng chính Đặng Vũ Vương đã ví NST như là một “sao chổi” thoáng bay qua vòm trời Tình Thương, tuy ngắn ngủi nhưng đã để lại dấu tích lâu dài và sâu đậm trên bạn hữu và những ai đã một lần tiếp xúc với Tuấn.
Hành quân Tây nguyên 1970, từ trái: Trung úy Nguyễn Sơn, Liên toán trưởng Thám Sát; Trung úy Nguyễn Ích Đoan, Đại đội trưởng ĐĐ1/ LĐ81/BCD (chết trong trại tù CS Vĩnh Phú Bắc Việt 1980), Y sĩ Trung úy Ngô Thế Vinh, Trung úy Nguyễn Hiền, trưởng Ban 2/ LĐ81/ BCD.
[tư liệu Nguyễn Hiền]
Nghiêm Sỹ Tuấn giỏi chữ Hán, tiếng La Tinh, anh có năng khiếu về ngoại ngữ: tiếng Pháp, tiếng Anh, anh còn học thêm cả tiếng Đức cùng với Trần Xuân Dũng ở Goethe-Institut Saigon. Khi cùng dịch tác phẩm Dưới Mắt Thượng Đế của Hans Killian, Nguyễn Vĩnh Đức chủ yếu dịch từ bản tiếng Pháp Sous le Regard de Dieu của Max Roth, trong khi Nghiêm Sỹ Tuấn còn cẩn trọng tham khảo thêm từ bản gốc tiếng Đức Hinter Uns Steht Nur Der Herrgott. Cho dù đã vô cùng bận rộn với học trình bảy năm Y khoa, từ phòng thí nghiệm tới giảng đường cho tới các bệnh viện, Nghiêm Sỹ Tuấn vẫn dành thời gian cho các sở thích về nhiều bộ môn nghệ thuật: thơ nhạc họa và ngoài sách Y khoa, anh đọc nhiều sách Triết học. Nghiêm Sỹ Tuấn có cá tính rõ rệt, một con người tài năng và lý tưởng, Anh không xuất thân từ một danh gia vọng tộc màgốc gác bình dân như tuyệt đại đa số các gia đình Việt Nam khác, nhưng anh là hình ảnh kẻ sĩ hiếm hoi, được kết tinh từ những phẩm chất làng xã Việt Nam, với truyền thống và nề nếp giúp xã hội Việt Nam đứng vững và tồn tại qua bao ngàn năm thăng trầm của lịch sử. Nghiêm Sỹ Tuấn chính là mẫu người quân tử Đông Phương hiếm hoi thuần Việt còn vương sót lại ở hậu bán thế kỷ 20.
Nghiêm Sỹ Tuấn viết văn khi đang còn là một sinh viên, có thể là sớm hơn. Từ 1963, cùng với các bạn Y khoa làm báo Tình Thương như “một diễn đàn cho những ý tưởng nhân bản, hướng tới một xã hội lý tưởng và không mang nặng tính chủ nghĩa” [GS Trần Ngọc Ninh]. Ngay từ các bài viết xuất hiện rất sớm trên tờ báo Tình Thương, Nghiêm Sỹ Tuấn đã quan tâm tới các vấn đề cơ bản của đất nước: giáo dục, xã hội, và thời sự.
Nghiêm Sỹ Tuấn chỉ để lại vài truyện ngắn, mấy bài thơ, một cuốn nhật ký viết dở dang và có thể còn ở đâu đó là những trang bản thảo đã bị thất lạc. Chắc chắn anh còn những hẹn hò khác, nhưng Anh đã vội vã mang đi, chôn sâu dưới mảnh đất của một quê hương Việt Nam tự do mà Anh đã hết lòng yêu mến và đã đem chính sinh mệnh của Anh ra để bảo vệ. Giữa thập niên 1960s, khi đang làm báo sinh viên Tình Thương, là những năm đầy biến động của đất nước, ngoài tiền tuyến chiến tranh ngày càng ác liệt lan rộng dâng cao với rất nhiều chết chóc, trong khi hậu phương là một mặt trận khác với những cuộc biểu tình dắt dây, với vòng kẽm gai và lựu đạn cay trải dài trên khắp các đường phố … Nghiêm Sỹ Tuấn đã tỏ ra không đồng ý với mọi xáo trộn nơi hậu phương giữa cuộc chiến tranh, mà theo anh thì chỉ có lợi cho cộng sản và tuy anh không lớn tiếng phản đối nhưng bản thân anh luôn luôn đề cao tính kỷ luật và trật tự.
Không chỉ với tác phẩm tâm đắc Những người đi tìm Mùa Xuân, nhưng Para Bellum là một tác phẩm quan trọng khác, mang nặng những suy tư về chiến tranh và hòa bình của Nghiêm Sỹ Tuấn. Chính kiến của Nghiêm Sỹ Tuấn rất rõ ràng trong truyện ngắn Para Bellum / Chuẩn bị Chiến tranh:
“ … Anh đã cố gắng thoát khỏi thân riêng, tìm kiếm và tạo dựng cộng hưởng nơi người. Hiển hiện đâu đây, nét dẫn khởi đang muốn trở thành dẫn lực.
“ … Chiến tranh chỉ xấu và tàn bạo trong mắt những người đứng xa chỉ trỏ. Nên người phải ngừng hay tiếp tục nó với những lý do đẹp đẽ. Cha ông chúng ta xưa kia đã nhất định tiếp tục nó và đã chiến thắng, chắc vì hiểu rằng trật tự và kỷ luật trong sức mạnh con người là một cảnh tự nó đẹp, dễ làm cảm động, dễ làm thán phục.
“ … Hò hét, đả phá, để làm lại từ đầu? Được lắm, miễn trăm miệng cùng hò, trăm tay cùng phá. Và quan hệ nhất là trăm tay ấy còn cùng phải cất xây. Nhưng ngàn năm và trăm năm tranh đấu có lẽ hơn nhiều, chúng ta thừa hưởng dễ dàng quá, nên chóng mệt mỏi. Đến độ không dám kiến tạo …
“ … Màu xám đất mầu, đục lờ nước ruộng, áo tơi nón lá cày cuốc dưới mưa phùn mù mịt giá căm, đò đồng xộc xệch tròng trành trên mông mênh ruộng ngập, vốn là những phong cảnh lạt lẽo của quê hương. Bởi vì chúng ta đã sinh ra và sống ở đó.
“Bởi có ai mất thời giờ ngồi trong bóng tối ngắm cử chỉ tầm thường mà trang nghiêm của người nông phu gieo mạ, bóng tay vươn đến tận sao trời?”
Giữa một thế nước chông chênh, Nghiêm Sỹ Tuấn với ý thức tự do, Anh đã đi tới một chọn lựa: tự nguyện dấn thân vào một cuộc chiến tranh thảm khốc với tinh thần của Hội nghị Diên Hồng từ 700 năm trước:
“ … Làm gì có xương nào phơi vô nghĩa, càng vô nghĩa bao nhiêu càng ý nghĩa bấy nhiêu. Vả chăng xương nào thay được xương mình. Trái đậu thì hoa tàn. Hạt giống có chết cây mới nẩy mầm xanh, sao nói là vô nghĩa được … Cũng đừng buồn thấy lan nhược nở đỏ rồi rơi êm giữa rừng gai cằn cỗi. Cô đơn, đau khổ,
gắng chịu một mình. Có thế mới thấy hết vẻ đẹp thanh tao của giếng êm, trăng rạng.”
Nghiêm Sỹ Tuấn không chủ trương hay cổ động chiến tranh vì ý thức hệ, mà Anh chấp nhận nhập cuộc chỉ để phục vụ công lý, chống lại sự dối trá bất công để đạt được ổn định, công bằng xã hội và hạnh phúc cho con người. Nghiêm Sỹ Tuấn đã đột ngột ra đi trong sự thương tiếc của mọi người, luyến tiếc cho một cuộc hành trình đầy kỳ vọng và hứa hẹn. Mất Nghiêm Sỹ Tuấn chúng ta mất đi tinh hoa của một thế hệ trí thức mà nhân cách, tư tưởng là biểu hiện cao đẹp của một kẻ sĩ trong thời chiến của những năm 60. Nghiêm Sỹ Tuấn là điển hình tính nhân bản của truyền thống y khoa, của một người y sĩ sẵn sàng dấn thân để phục vụ con người khổ đau trong hoàn cảnh bất thường của đất nước. Với Nghiêm Sỹ Tuấn, văn chính là người: Anh là một nhân cách lớn do sự nhất quán giữa tác phẩm và cuộc sống qua mọi hoàn cảnh cho tới ngày Anh mất. Thác là thể phách, còn là tinh anh.
[Nguyễn Du]
Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn vượt lên trên sự vinh danh một cá nhân, với tâm hồn phóng khoáng và kiến thức cao rộng như Anh, Nghiêm Sỹ Tuấn không cần đến điều đó. Nhưng làm sao chuyển tải được “thông điệp dấn thân, hy sinh” của Nghiêm Sỹ Tuấn tới các Bạn Trẻ Việt Nam như những người tiếp bước Anh “Đi Tìm Mùa Xuân” cho đất nước, đó mới là ước vọng của Nghiêm Sỹ Tuấn. Đối tượng của cuốn sách này không phải chỉ là một thế hệ sắp qua, mà chính là các thế hệ đang tới: đó là mối ưu tư của Nghiêm Sỹ Tuấn từ hơn nửa thế kỷ trước đối với các vấn đề căn bản của con người, của đất nước mà cho đến nay vẫn còn dở dang và nguyên vẹn. Lớp Người Trẻ, như lực lượng tiên phong sẽ nhận lãnh trách nhiệm bảo vệ các hệ thống giá trị vĩnh hằng, những chuẩn mực về quyền của con người – mà bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền, vẫn mãi là một thông điệp sống động khẳng định quyền người dân được sống trong tự do với đầy đủ phẩm giá và nhân cách.
Nghiêm Sỹ Tuấn là một trí thức, một kẻ sĩ dấn thân, một quân nhân gương mẫu, Anh là hình ảnh tuyệt đẹp của phục vụ và hy sinh. Anh chết quá trẻ ở tuổi 31, thời gian của tích lũy và đi tìm vốn sống. Kiến thức và vốn sống đó chưa có thời gian để đơm hoa kết trái, những trang viết của Nghiêm Sỹ Tuấn chỉ mới là những bản nháp, anh chưa có tác phẩm lớn nhưng cuộc sống anh đã là một tác phẩm lớn cống hiến cho đời. Nguyễn Vĩnh Đức, Chủ bút đầu tiên của báo Tình Thương, đã quý mến gọi Nghiêm Sỹ Tuấn là “Người Thư Sinh Muôn Thuở”. Mang vóc dáng của một thư sinh nhưng Anh rất mạnh mẽ. Anh là một tượng đài đơn độc và cũng là một biểu tượng tuyệt đẹp trong suốt cuộc Chiến Tranh Việt Nam. Ai đã từng tiếp xúc biết tới Nghiêm Sỹ Tuấn đều mang lòng ngưỡng mộ và cả hãnh diện có được một người bạn như Anh.
Cuốn sách này ra đời muộn màng hơn nửa thế kỷ sau ngày Anh mất, không thuần chỉ là một tưởng niệm, một nén nhang tưởng nhớ người Y Sĩ Tiền Tuyến Nghiêm Sỹ Tuấn, nhưng còn là một thông điệp với tầm nhìn xa của Nghiêm Sỹ Tuấn để lại cho các thế hệ mai sau, tiếp bước Anh đi Tìm Mùa Xuân cho Dân tộc.
Từ khi có dự định biên soạn một Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn, chúng tôi đã tìm kiếm và liên lạc với mọi nguồn để có thêm thông tin về NST. Nhưng với thời gian đã qua hơn nửa thế kỷ, các tài liệu cũng như hình ảnh về NST hầu như đã bị xóa nhòa. Chúng tôi vẫn cố vận dụng mọi tư liệu còn thu thập được, qua sách và báo – đặc biệt là qua bộ báo SVYK Tình Thương, và cả qua các bạn hữu mà chúng tôi có được địa chỉ eMail, số phone nhưng vẫn không đầy đủ. Chúng tôi tạ lỗi về những thiếu sót, ngoài ý muốn ấy. Cuốn sách này không có mục đích lợi nhuận, nhưng do nhu cầu cataloging của các thư viện và phát hành sách nên vẫn cần có một số ISBN với giá bán, và lợi nhuận nếu có được sẽ gửi tặng Tập San Y Sĩ Việt Nam tại Canada, một tờ báo có thể nói duy nhất của Y giới Hải ngoại từ tiền thân là tờ Nội San Y Sĩ VN Canada với số đầu tiên từ tháng 7, 1976 cho tới nay vẫn sống bền bỉ 43 năm, khoảng thời gian tồn tại ngót nửa thế kỷ ấy đã như một thành tích kỷ lục.
NGÔ THẾ VINH
Sài Gòn 1963 – California 2019
1. Nghiêm Sỹ Tuấn hy sinh tại trận địa Khe Sanh năm 1968. Theo BS Trần Đức Tường, Y sĩ trưởng TĐ3/ ND, Nghiêm Sỹ Tuấn mất sau Tết Mậu Thân vào khoảng tháng 4, 1968 trên một ngọn đồi giữa Khe Sanh và Làng Vây, nhưng theo bài viết của Nguyễn Thanh Giản, người bạn học Chu Văn An cũ thì Nghiêm Sỹ Tuấn mất ngày 13 tháng 8 năm 1968. Thời điểm tháng 4/1968 là đúng vì BS Trần Mộng Lâm là người được Trường Quân Y cử đi gác xác anh NST nên còn nhớ, và tháng 8/1968 anh TML đã xuống đơn vị dưới Cần Thơ.
2. Cô Nghiêm Mậu là em gái Nghiêm Sỹ Tuấn, khi gặp lại DS Bùi Khiết bạn thân của NST ở San Diego khoảng năm 1998, đã kể lại là sau NST gia đình cô còn có thêm 2 người anh trai trong quân lực VNCH cũng tử trận sau Nghiêm Sỹ Tuấn.
Thuở ấy, đời lính của tôi nó kéo dài lê thê, “chuyện trăm năm” đôi lúc nó cũng lóe lên trong đêm tối như đóm sáng hỏa châu, rồi buồn tình tắt ngúm ngay sau đó. Mỗi lần về phép, bà cụ cứ càm ràm… “bộ mày muốn ở vậy suốt đời sao con!” Bà cụ nói hoài, tôi mềm lòng theo lời khuyên của Mẹ. Tôi “sang sông” khoảng tháng 7 năm 1974, không nhớ ngày nào, và sau đó, vào tù cộng sản tháng 5 năm 1975. Nếu biết có ngày oan nghiệt 30 tháng Tư 75, tôi không “sang sông” làm gì cho đau khổ cả chùm.
Sau những năm tháng trong vòng rào kẽm gai của cộng sản, ở tù về, tôi mới có thằng nhóc con ra chào đời; nó ra đời mà không coi ngày. Thằng con tôi là thằng tù con, hay thằng con tù cũng vậy, dưới trời xã hội chủ nghĩa đen thui khi nó theo cha mẹ vô tù sau chuyến vượt biển bất thành. Dường như lúc sinh ra, nó không khóc. Dường như nó chờ và cam chịu phận số theo cha nó.
Ra tù “cải tạo”, tôi hiểu là chế độ này không sống được nếu tôi muốn làm một con người, sống như một con người. Và tôi quyết định ra đi. Tôi không muốn mình bị chế độ “súc vật hóa” như điều cụ nhạc sĩ Tô Hải tiết lộ trong hồi ký của ông mới đây. Tôi ra biển hàng chục lần mà không thoát; gia tài, nhà cửa không cánh mà bay hết vào tay đảng, và tôi đã đưa vợ con, các em tôi vào tù tiếp khi thằng nhóc nhỏ con tôi mới sinh không đầy ba tháng.
Ra tù vượt biên, tôi lại đi tiếp. Tôi ở thế cùng đường không còn gì để mất, tôi bất chấp từ cái tù đến cái chết, tôi bất chấp mệnh số. Mỗi lần đi là mỗi lần thằng nhóc phải uống Phenergan, loại thuốc trị ho, dị ứng và cũng là thuốc ngủ. Nó ngủ như cọng bún trên vai tôi trong những đêm vượt rừng ra biển…
Những lần sau cùng, thằng nhóc lớn dần, 3 tuổi, nó biết làm thinh khi vượt rừng ra biển ban đêm mà không cần uống thuốc ngủ. Thế nhưng, mỗi lần đi không thoát, bầu đoàn thê tử lội rừng phờ phạc trở về, thằng bé xuống xe “lam” chạy một mạch trên con đường ruộng vào nhà ông ngoại ở Phú Lâm, cách Phan Thiết khoảng 6 cây số về hướng Sài Gòn. Có người hỏi “con đi đâu về vậy?” thì nó nói tỉnh bơ: “Dạ con đi vượt biên!” Ông ngoại và mấy dì nó lại mừng vì không mất thằng nhóc. Hàng xóm chả ai thắc mắc, chả ai báo công an vì lời nói của thằng bé…
Rồi cũng tưởng như mọi lần trước đi xuyên rừng, hôm sau lại thất thểu trở về, nhưng hôm nay cả nhà sốt ruột không thấy thằng nhóc chạy trên bờ ruộng như mấy lần trước, chờ đến chiều vẫn biệt tăm, ông ngoại và mấy bà dì tất tả mò xuống xóm biển gần BìnhTú, phía Nam phi trường Phan Thiết, dò hỏi tin tức; bà con cho biết khi hôm có mấy người dùng súng cướp ghe phóng ra biển…
Ông cụ thất thần nhìn ra biển rộng mênh mông. Biển xanh biền biệt thấp thoáng bóng chim hải âu. Ông biết thằng rễ, con gái và cháu ông đã thoát được ra biển thật. Dường như hai dòng nước mắt ông ứa ra. Con ông và thằng cháu ông thương đứt ruột đã biến mất ở cuối chân trời.
Ông lặng lẽ về nhà, buổi chiều bỏ cơm, tối nhìn xuyên đêm đen về hướng đại dương sóng vỗ… Lòng ông chùng xuống, âu lo. Ông thức với ác mộng, ông ngủ với ác mộng. Công an biên phòng săn đuổi, bão tố, hải tặc, chìm ghe… cái nào cũng có thể giết chết con cháu ông như cơn lốc lặt gọn những chiếc lá trên cành cuối thu.
Mỗi đêm, ông ra sân thắp nhang, đứng giữa trời sao lồng lộng, hướng về đại dương khấn nguyện. Ông cầu xin một chút nhiệm mầu mong manh…
Cuối cùng thì tôi cũng đem vợ con thoát được qua Pulau Bidong trên một chiếc thuyền con lớn hơn chiếc ghe câu của cụ Nguyễn Khuyến một chút, tay lái ghe là một cây đòn, chỉ cần một cơn bão nhỏ cũng đủ chôn cả đám vào lòng biển! Tôi không biết là đời mình chưa tới số, Chúa, Phật chưa kêu tên, hay nhờ lời nguyện cầu của ông cụ, hay chính đời mình đã hết cái số khốn nhục dưới trời xã hội chủ nghĩa giăng giăng mầu cờ đỏ trên khắp nước…
Vào giữa tháng 5.1980, bước chân lên đảo Pulau Bidong đầy nghẹt người tỵ nạn cộng sản đến trước, sống chen chúc ở khu C với những bà con, nhưng tôi thấy hạnh phúc cùng đất trời bao la, lồng lộng, không có hàng rào kẽm gai dưới đất, và dường như không có hàng rào kẽm gai cả trên trời như tôi vẫn thường nghĩ trong những ngày sa cơ trong cơn tù tội! Những ám ảnh hàng ngày về cơn ác mộng bị cộng sản “gom bi” bắt giam lại trong các trại tù không còn, giấc ngủ không vỡ từng đêm khi nghe tiếng chó sủa hay tiếng côn trùng im bặt vì nghe tiếng chân người vào ngõ ban đêm….
Được thở không khí tự do trên đảo tỵ nạn, tôi nhận dạy tiếng Anh vỡ lòng cho mây đứa nhỏ tại Trung Tâm Sinh Ngữ, và nhờ vậy, bỗng nhiên tôi có một lũ nhóc học trò bất đắc dĩ xa lạ lần đầu tiên trong đời… Cuộc sống tái sinh cả trong giấc ngủ.
Đang tạm vui những ngày đầu tự do trên đảo vài tháng, một hôm, bà xã nôn oẹ. Cứ tưởng vì nàng ngán thịt gà Cao Ủy mà nôn, ai ngờ những ngày chỉ ăn cá, hay nhịn ăn, nàng cũng oẹ nôn như thường. Tôi đưa vợ lên bệnh viện Jetty trên đảo khám bệnh… và tôi “tá hỏa tam tinh” khi tin bệnh viện báo “vợ ông có bầu!“
Lúc đầu thoạt nghe tin, tôi kêu lên một tiếng “Trời!“, không phải tôi sợ có con, mà vì tôi ngạc nhiên. Tôi tự hỏi vậy thì bà xã có bầu khi còn ở Việt Nam, có bầu khi tôi đang tổ chức các chuyến vượt thoát sinh tử mà ôm theo chỉ một thằng nhóc con cũng đã khổ lên khổ xuống, huống chi có thêm một nhóc thứ hai thì làm sao dám liều mạng. Thôi, tôi nghĩ ra rồi; thì ra, trong thời gian trước ngày vượt biên, tôi còn ở trại lao động tự giác Bình Tú, mỗi thứ Bẩy, khi công an cho phép vài anh em chia phiên về nhà nhận thực phẩm hay đi chợ, và họ bỏ trại về phố xem hát hôm sau mới lên trại, tôi đã lén ở lại đêm với vợ, và nhóc nhỏ lén xuất hiện lúc nào trong bụng mẹ mà tôi không biết.
May mà con tôi trong bụng mẹ đã bình an theo tôi suốt cuộc hải trình rủi may đến được Bidong. Tôi không muốn con tôi sinh ra trên cái đảo quá nhiều chuột núi, cắn cẳng, cạp giò khi đang ngủ, phương tiện y tế và sinh sống thiếu thốn, nên khi chính phủ Canada nhận, tôi đi ngay.
Tháng 9.1980, tôi đến Canada và định cư ở thành phố Nigara Falls. Ba tháng sau, một bé gái chào đời khi tuyết giăng giăng đổ đầy trời. Bé Minh Châu là cô bé của một gia đỉnh tỵ nạn đầu tiên sinh tại thành phố này, và thị trưởng Niagara Falls đã gửi tặng cho bé Minh Châu một cái gối tuyệt đẹp.
Càng lớn, cô bé càng bụ bẫm, dễ thương. Có lần trong một thoáng vô tình trong cơn ác mộng vượt thoát, tôi nghĩ sự xuất hiện của Minh Châu trong bụng mẹ hoàn toàn ngoài ý muốn, và nó xuất hiện như một “tai nạn” trong cơn khổ nạn cùng đường của cha nó, một tên tù không thể sống trên chính quê hương của mình; nhưng mỗi khi ôm con vào lòng, thay tả, tắm cho con, cho con ăn, ru con ngủ, nhìn gương mặt đẹp như thiên thần của con, tôi hối hận về những ý nghĩ ban đầu chợt thoáng qua. Không! Con không phải là tai nạn! Con là niềm hạnh phúc của ba khi liều thân ra đi và đến bờ tự do!
Và tôi nhận ra Minh Châu chính là món quà Thượng Đế âm thầm ban cho tôi trong chuyến vượt thoát sau cùng. Nêu lần này tôi không thoát, bị bắt sống giữa biển, cả nhà vô tù,Minh Châu sẽ chào đời trong tù, và ở tù như cu Nguyên anh nó, và chắc chắn đời nó sẽ khốn khổ, rủi ro, bất hạnh hơn nhiều. Hoặc giả ghe chìm trong cơn bão, đời tàn giữa trùng khơi, thì nào ai biết con tôi trong bụng mẹ đã theo mẹ cha vào lòng biển lạnh, không ai biết Minh Châu là ai trên cuộc đời này, dù là trong một phút giây phù du của sự sống.
Cu Nguyên lúc đó chỉ mới 3 tuổi, một hôm chở con đi chợ bằng chiếc xe đạp, tuyết thình lình đổ, trời lạnh bất ngờ, thằng bé ngồi sau xe té xuống tuyết vì lạnh cóng. Thằng này lì, ngày xưa vượt biển băng rừng, nó không khóc, nay tuyết lạnh tê người nó không la…
Tôi bỏ xe bên lề đường, cõng con và mang bao thức ăn chạy về nhà, hai tay cóng lại, cầm chiếc chìa khóa trong tay mà không làm sao mở khóa nhà, cuối cùng khi vô nhà được, hai cha con khui lổ “heat” thọc tay vào cho đỡ cóng. Tôi ôm con, nắm lấy hai tay nhỏ xíu của thằng bé mà muốn khóc… Tôi nói với con tôi: “Ba sẽ đưa con về vùng ấm Vancouver!” Lúc đó, tôi chưa biết mặt mũi thành phố Vancouver tròn méo ra sao, chỉ nghe thằng bạn bảo Vancouver đẹp và ấm, mùa đông không khắc nghiệt!
Mấy tháng sau, mùa Thu Niagara Falls ào đến với những chiếc lá vàng bắt đầu rụng theo những cơn gió chuyển mùa, tôi quyết định chuyển về Vancouver. Tiễn chúng tôi, bé Nguyên và bé Minh Châu tại sân ga Niagara Falls là hai vợ chồng bà S. Lowe, bà ngoại nuôi của Minh Châu, và những đứa nhỏ quấn quít Minh Châu. Xe hỏa lăn bánh, tôi thấy những giọt nước mắt của hai ông bà Lowe và mấy đứa nhỏ, tay vẫy chào tiễn biệt. Tôi ngậm ngùi nhìn lại thành phố thân yêu đã đùm bọc gia đình tôi gần một năm qua.
Minh Châu và Nguyên lớn lên tại thành phố đẹp nhất miền Tây Canada. Vancouver đã trở thành quê hương thứ hai của cha con tôi trong 30 năm, gần nửa tuổi đời của tôi. Tôi giữ cho con không mất tiếng Việt như giữ một gia tài, một nghĩa vụ đối với gia đinh và với đất nước.
Khi Minh Châu còn học bậc tiểu học, tôi sắm cho con một cái áo dài, chụp hình con gửi về cho Nội, Ngoại xem- cả làng xóm họ hàng xúm nhau xem hình cô bé, và nó trở thành niềm vui, niềm thương nhớ của hai bên Nội Ngoại. Ai cũng mong chờ một ngày gặp Minh Châu bằng xương bằng thịt khi nó có dịp về thăm quê hương của cha mẹ, một quê hương mà nó không có một hình ảnh nào trong ký ức nhưng nó vẫn thương, vẫn thấy một cái gì ràng buộc qua cha, qua mẹ, một sự ràng buộc vô hình rất lạ lùng…
Khi Minh Châu xong bậc đại học, tôi quyết định cho con tôi về thăm Nội Ngoại trước ngày ông, bà cụ quá già hay có thể bất ngờ theo ông bà mà không nhìn mặt được cháu. Trước khi lên máy bay, tôi gọi Minh Châu và bảo:
– Ba gửi cho con 100 đô la để con cho bà Nội. Gặp Nội, con phải nói là tiền của con cho Nội, và con phải cầm tay Nội hỏi Nội có khoẻ không? Con thay Ba thăm Nội. Con nói tiếng Việt giỏi, bà Nội rất là thích. Con nhớ lời ba dặn nghe!
– Dạ con nhớ! Nhưng làm sao con biết ai là bà Nội?Ai là bà Ngoại?
– Bà Ngoại mất rồi, chỉ còn bà Nội, con về với Mẹ! Mẹ sẽ bảo cho con! Nhưng con nhớ khi gặp bà Nội, con phải ôm bà Nội thay ba nghe! Ba nhớ bà Nội lắm, nhưng ba không về được! Con nhớ nghe!
– Dạ! Con nhớ!
Minh Châu và mẹ nó về thăm nhà mà không báo trước. Xe ngừng ngoài quốc lộ 1, nhà tự bên Ngoại cách lộ 2 đám ruộng. Mẹ nó chỉ:
– Con đi trước! Nhà ông ngoại ở cuối con đường ruộng này, chỗ có mấy cây dừa! Xem các Dì có nhận ra con hay không?
– Lỡ mấy Dì không nhận ra con thì sao?
– Thì Mẹ đi sau con mà!
Mấy bà Dì bên Ngoại không nhận tin báo trước, ngạc nhiên nhìn ra đường lộ, thấy một cô gái lạ đi trên bờ ruộng, dần vào sân, ngơ ngác nhìn vào căn nhà có cấu trúc xa lạ. Một cô gái lạ xinh xắn, dong dỏng cao, có nước da trắng tần ngần đứng lại trước sân nhà làm cả nhà ùa ra, định hỏi “cô là ai, tìm ai” thì đột nhiên nghe cô gái nói:
– Thưa Dì! Con là Minh Châu!
Cùng lúc thì Mẹ Minh Châu xuất hiện ở bờ ruộng. Cả nhà ngạc nhiên mừng rỡ ùa ra ôm Minh Châu và đón mẹ nó. Trong phút giây ngạc nhiên, mừng rỡ bất ngờ đó có cả nước mắt và tiếng khóc của mấy bà chị. Ngoại Minh Châu mất trước khi Minh Châu chào đời, và bà cụ không hề biết cả cu Nguyên lẫn Minh Châu.
Tin Minh Châu theo mẹ về quê Ngoại lan khắp làng, và bà con hàng xóm kéo đến nhà Ngoại Minh Châu như cái hội Tết. Đêm về, cả nhà bu quanh Minh Châu hỏi đủ thứ chuyện, mà phần lớn là muôn nghe cô bé nói tiếng Việt, đúng là tiếng Việt rất chuẩn, nhưng không có âm sắc Phan Thiết hay Sài Gòn, là lạ và dễ thương.
Sau mấy ngày ở bên quê Ngoại, Minh Châu theo mẹ về thăm quê Nội. Đêm đầu tiên ở nhà Nội, nhớ lời bố, Minh Châu cứ ngồi quấn quít cạnh bà Nội. Các cô, chú nó quay quần quanh Minh Châu trong buổi sum họp gia đình hiếm hoi vì gần 20 mươi năm bố Minh Châu vẫn không về. Minh Châu bỗng nắm lấy tay bà Nội và hỏi:
– Bà Nội khỏe không?
Nội trố mắt ngạc nhiên, chụp hai tay đứa cháu lần đầu tiên trong đời bà gặp. Cả nhà tưởng Minh Châu làm thinh vì không biết tiếng Việt, nên mấy cô chú nó nghe Minh Châu nói chuyện với Nội, cùng lúc buột miệng:
– Không ngờ Minh Châu nói tiếng Việt giỏi như vậy!
Nhưng người ngạc nhiên và hạnh phúc nhất vẫn là bà Nội. Hai tay bà vẫn nắm tay Minh Châu, bà mân mê vuốt tay cháu mà bà tưởng như trong cơn mơ. Cô bé nói tiếp:
– Con mới ra trường, chưa đi làm. Con cho Nội 100 đô la nghe Nội!
Một lần nữa, bà cụ ngạc nhiên nhìn trân trân vào mặt đứa cháu. Bà không nói một lời, bà cứ cười.. .Và Minh Châu lấy tờ 100 đô la trong túi đặt vô tay bà Nội. Bà cảm động ôm cháu vào lòng.
Tôi đã xa bà, bỏ nước ra đi tính ra, đến ngày Minh Châu thay bố về thăm bà Nội, cũng xấp xỉ 20 năm. Minh Châu là máu thịt của bà, Minh Châu là hình ảnh của tôi. Tôi không đo lường được hạnh phúc và niềm vui của Mẹ tôi ra sao khi bà ôm Minh Châu vào lòng, nhưng tôi biết bà tràn đầy niềm vui…
Sáng sớm hôm sau, khi Minh Châu còn ngủ say vì trái giờ giấc, Mẹ tôi đi khắp xóm làng, bà ghé từng nhà quen, nhà bà con, bà trò chuyện. Chuyện bà nói chỗ nào, nhà nào cũng giống nhau:
– Cháu tui là con thằng Hai, nó đẻ ở bên Mỹ, nó mới dìa thăm tui, nó cho tui 100 đô, và tụi bay biết không, nó nói tiếng Diệt rành như mấy đứa ở Sài Gòn! Tui đâu có ngờ! Tên nó là Minh Châu. Ba nó đặt tên Diệt Nam cho nó đó!
Mấy đứa em tôi phone qua cho biết Má rất vui trong mấy ngày Minh Châu ở với Nội. Trước khi vô lại Sài Gòn để về Canada, má con Minh Châu trở lại nhà Ngoại ở thêm vài hôm. Một buổi sáng, cả nhà rủ nhau đưa Minh Châu thăm Đá Ông Địa và Mũi Né. Trên đường đi, mấy bà Dì ghé chợ Phan Thiết mua nhãn bỏ theo xe ăn. Khi xuống xe, Minh Châu vẫn nắm trong tay võ và hột nhãn, không chịu bắt chước mấy đứa con bà chị vứt võ nhãn theo đường. Mấy Dì nhắc đi nhắc lại nhiều lần:
– Minh Châu! Con bỏ vỏ và hột nhãn xuống đường đi! Cầm theo tay làm chi vậy?
Cô bé vẫn làm thinh. Đi theo Mẹ và mấy bà Dì một lúc, nó thấy một thùng rác ghi trên nắp thùng bằng tiếng Việt: “thùng rác”, Minh Châu lửng thửng đạp qua đống rác vứt bừa bãi những rác đủ loại. Đến thùng rác, nó giỡ nắp thùng bỏ một nắm vỏ và hột nhãn vào, phủi tay và về chỗ mẹ nó, không nói một lời, vẫn vui vẻ trò chuyện, vui chơi. Mấy bà Dì, mấy đứa nhỏ cứ đăm đăm nhìn Minh Châu và nghĩ trong đầu … “Con nhỏ này lẩn thẩn thiệt!”
Buổi chiều về lại nhà, gia đình tiếp tục cái không khí vui vẻ như mấy hôm đầu. Mấy bà Dì khơi chuyện học hành, nghề nghiêp tương lai, và có người chợt hỏi:
– Còn mấy hôm nữa con về lại Canada, con thấy Việt Nam ra sao?
Cô bé hơi bất ngờ về câu hỏi, nó nhìn mẹ nó. Mẹ nó cũng không biết nó trả lời ra sao. Suy nghĩ vài phút, Minh Châu nói thẳng vào câu hỏi:
– Con thấy Việt Nam đẹp, Mũi Né cảnh rất là đẹp, nhưng nhìn chung thì dường như chỗ nào xứ của Mẹ cũng “disorganized”!
Mấy bà chị đồng loạt nhìn vào mẹ nó:
– Lương! Minh Châu nó nói cái gì vậy?
– Thì nó nói chỗ nào cũng mất trật tự! Tiếng Anh là như vậy, nhưng ý nó ra sao thì …. Minh Châu! Con nói rõ ý con chứ mẹ biết ý con ra sao đâu!
– Bộ mẹ không thấy hồi sáng nay con tìm thùng rác sao? Con đâu có thể vứt rác xuống đường. Hồi sáng ra Mũi Né, con thấy thùng rác, con mừng, đến gần thùng rác thì thấy rác vứt lung tung, khi giở thùng rác thì thùng rác chỉ có mấy cọng rác, trống trơn. Bên Canada đâu có chuyện này mẹ! Sao kỳ vậy? Cái này là không có vệ sinh, không có trật tự, không có tổ chức!
Cả nhà đều biết Minh Châu nói cái gì, biết nó nói đúng, nhưng hơi ngạc nhiên về cách nói thẳng và chững chạc của cô bé. Mấy bà Dì, mấy ông anh con Dì đều là thành phần giáo chức, bắt đầu nhìn Minh Châu không còn là một cô bé hời hợt từ nước ngoài mới về, không biết gì…
Chưa hết, hôm cuối cùng trước khi vô lại Sài Gòn để về Canada, sau bữa cơm chung gia đính, đủ mặt mọi người, khi thắp nhang cho ông bà Ngoại xong, một người anh con bà Dì yêu cầu Minh Châu phát biểu vài lời cùng gia đình. Cô bé nhìn mẹ, đắn đo gom một mớ tiếng Việt vào đầu sắp xếp ý tưởng để nói. Ai cũng nhìn chăm chăm vào mặt Minh Châu chờ nghe nó nói cái gì.
– Dạ, theo con thì con thấy thì mấy mươi năm trước, mẹ và anh Nguyên đã may mắn được Dad dắt ra khỏi Việt Nam. Con đã thấy Sài Gòn, con đã thấy Phan Thiết. Xứ của mẹ không sống được! Con nói thiệt!
Câu nói của Minh Châu làm cả nhà sửng sốt, mà dường như cùng lúc mấy bà chị đều có ý hỏi mẹ Minh Châu một câu giống nhau. Một bà chị hỏi:
– Lương! Bộ ở ngoải bố nó dạy Minh Châu chuyện chính trị hả?
– Trời ơi mấy bà! Mấy đứa nhỏ sinh, lớn lên và học ở nước ngoài… nó lanh và khôn lắm, tự nó quan sát, tự nó tìm hiểu, tự nó suy luận… Cái gì trong đầu nó ra sao thì nó nói như vậy! Nói thiệt ra, có lần tôi nghe ba nó nói với nó là “nếu lần đó ba dắt mẹ và anh cu Nguyên đi không thoát, có thể ba ôm anh Nguyên nhảy xuống biển chết; hay nếu ba còn sống, ba ở tù, mẹ sinh con ra ở Việt Nam, con và anh Nguyên lớn lên cơ cực, nghèo khổ, phải đi chăn bò, bán vé số hay bán khoai lang ngoài chợ… Và sau đó, có thể ba chết trong tù, bỏ con lại bơ vơ…”
Ba nó hỏi nó có hiểu ý ba nó nói hay không. Nó nói nó hiểu. “Con hiểu! Con hiểu!” Có thể từ điều đó, từ những điều ba nó nói mà nó hiểu phần nào tình trạng sống trong nước, nó hiểu vì sao ba nó bỏ nước ra đi, để rồi nó nhìn sự việc sâu đậm, cụ thể hơn trong những ngày ở Việt Nam.
Buổi sáng từ giã bà con quê Ngoại để lên xe vô Sai Gòn, cả nhà ôm Minh Châu bịn rịn không muốn rời. Sinh ở Canada chỉ có Cha, Mẹ và người anh, hôm nay cô bé chợt cảm thấy vòng tay quê Ngoại man man nồng ấm những tình cảm rất lạ trong những giây phút chia tay. Cô bé bỗng như thấy một sợi giây vô hình nào đó muốn cột cô với quê Mẹ. Câu nói của Minh Châu đêm hôm trước đã làm cho cô bé lớn hơn so với lúc mấy bà Dì gặp cô bé lần đầu … cả nhà biết Minh Châu nhìn ra thực trạng của quê hương cha mẹ, điều mà ít đứa trẻ Việt Nam nào nhận ra và dám nói thẳng thừng.
Chiếc xe đò lăn bánh hướng Sài Gòn, có những bàn tay vẫy chào từ giả, có những giọt nước mắt của người ở lại, và dường như mấy bà Dì còn văng vẳng nghe tiếng nói của Minh Châu “Xứ của Mẹ không sống được! Con nói thiệt !…”
Khi mọi người tụ lại ở nhà tự, trên gương mặt ai cũng buồn buồn sau khi chia tay má con Minh Châu, bỗng có người buột miệng như vừa khám phá ra một cái gì… “Con nhỏ này tính tình chắc giống Bố nó! Mấy mươi năm không về là không về. Nó giống Bố nó từ gương mặt tới tính tình! “
Suốt ngày hôm Minh Châu rời quê Ngoại, căn nhà tự vẫn còn đông người, nhưng một khoảng trống vắng đã để lại đâu đó trong gia đình, trong trí nhớ của mọi người. Ánh nắng chiều vàng vọt lết qua sân nhà. Nhà dọn cơm chiều trước sân như mọi hôm, và dường như bữa cơm không còn ngon miệng và vui vẻ như hôm qua…
California, 1950 – A soldier leans out of a train to kiss a woman goodbye.
We’re all familiar with photographer Alfred Eisenstaedt’s V-J Day in Times Square in which a sailor returning from a victory in Japan is dipping and passionately kissing a young woman in Times Square. While it’s a fantastic and memorable photo, indicative of the patriotic passion, pride, and relief felt by Americans welcoming their victorious troops, it’s not the only one of its kind. There have been many photographic captures of soldiers smooching women upon arrival and departure, whether sweethearts or strangers.
Photojojo, an insightful photo blog, recently shared a few images of these World War II-era military men putting in some literal lip service as they board their trains to go off to war. Though there wasn’t much info on any of the photos, a little research goes a long way. While on the hunt to discover the stories behind each of these captured moments, I came across a couple more images that are just as touching and look like they’re straight out of a movie. Normally, we’d frown upon acrobatics near a moving vehicle, but there’s something unabashedly romantic about each of these photographs that swells the heart.
London, 1935 – Soldiers departing for Egypt from Feltham Station lean out of their windows to kiss their loved ones goodbye. (Hulton-Deutsch Collection/CORBIS)
London, 1940 – A woman leans over the railing to kiss a British soldier returning from World War II.
Seattle, 1948 – A sailor kisses a woman as he boards a bus at the Seattle Bus Terminal.
New York, 1945 – Actress Marlene Dietrich is hoisted up to kiss a GI as he arrives home from World War II.
London, 1940 – A soldier kisses his sweetheart over the gates of a London railway station as he heads off to join the British Expeditionary Forces in France.
Thử so sánh lại nhân vật Đông Tây đời Vua Tự Đức và đời Vua Pháp Napoléon III
Tôi đã hứa ngày 11 vừa rồi rằng không viết nữa, nhưng nay lại sai lời hứa, và viết sơ lược so sánh vì sao đời Tự Đức, nước ta đánh thua nước Pháp.
Và nay tôi viết đây, chỉ làm việc nói lại những gì xét thấy riêng sau khi đọc lại các sách báo cũ đã có. Một việc còn nóng hổi trong nước là tượng hình Trương Vĩnh Ký, nay tượng đồng ấy vẫn còn hay đã không còn, tôi chưa biết và chỉ biết, vừa rồi một nhà cách mạng đã mạnh dạn viết sách phục hồi danh dự T.V.K. và tiếp theo đó, một nhà làm chính trị khác lại tỏ ý kiến đòi trả tên T.V.K. cho trường trung học cũ … và tôi nay vốn là một tên già được người ta tha cho được sống yên ở đây, mắc mớ gì tôi, lại ọ ẹ viết mấy hàng này. Thuở nay trong trường dạy học và ở ngoài đời, thì những Victor Hugo, những văn hào Pháp như Balzac, Flaubert, Maupassant v.v .. đều tôn như thần như thánh, V.H. được nằm trong điện Panthéon, nhưng từ ngày Pháp quốc bị Đức quốc đánh bại và chiếm rồi Pháp được phục hồi, thì nhà văn André Gide lại lớn tiếng chê đè V.H. (xin xem “Hương sắc trong vườn văn” của Nguyễn Hiến Lê, q.1, nơi tr. 29) André Gide giận và chê thơ văn V.H. là nhạt nhẽo, là giả tạo, là quá dễ dàng … là không đáng kể, và A.G. sở dĩ nói như vậy là vì mấy trận chiến tranh tiếp nối và nay vẫn còn đó đây, chiến tranh đã thay đổi hết cả, nhưng André Gide là gì mà dám chê Victor Hugo?
Và tôi đã đọc một sách khác nay không nhớ rõ tên sách để nói lại nơi đây, và nhớ mại một nhà văn khác lại chê A.G. rằng “Nó sẽ được bia danh về hậu thế nó đã từng chuyên đi cửa “hậu môn”, tôi không ghi lại được nguyên văn câu nói tiếng Tây, nhưng đi cửa hậu môn là gì, xin độc giả hiểu ngầm lấy. Riêng V.H. thì quả V.H. vẫn lem nhem dơ dáy, có vợ và bà ấy lại có gì đó với Sainte-Beuve và với Benjamin Constant hay nhà văn gì gì đó, và như vậy có xứng đáng chút nào? Nhưng nên hiểu đời Cách mạng 1789 bên Pháp, dân tâm biến đổi, đàn bà, mạng phụ giao thiệp với đàn ông, bạn thân của chồng là chuyện thường và tục người Pháp vẫn luôn luôn rộng lượng với phụ nữ, lấy câu tha thứ “sức bực tu mi nam tử mà còn sa sút, thì trách làm chi sự “phụ nữ quá lạc lòng”. Trong khi ấy bên nước ta, nhiễm tục người Tàu trong sách Khổng Mạnh, vẫn lấy chữ “Trinh” cho phái nữ và chữ “Trung” cho phái nam, làm căn bản.
Bỏ việc tranh luận và xin tóm tắt: đời Tự Đức dĩ chí đời Napoléon III, vua ta trong sạch hơn, nhưng làm sao lấy dao cùn nhụt, gậy tre bỡ rệt mà chống với súng mạnh, đạn bay xa mà mong thắng được? Mười ông khác, chính tỷ như mấy ông mạnh miệng chê bai ngày nay, cũng không chuộc đất “ba tỉnh Miền Nam” lại được, trong khi bên ta thì vua bo bo dạy Phan Thanh Giản phải than nghèo không tiền trả nợ chiến tranh, còn bên họ bên Pháp vẫn lấy khoa học và quyết tâm giành đất. Theo tôi, dùng đạo đức và võ nghệ đánh đấm mà cự với kẻ đang dụng võ thì có thuốc súng, dụng văn thì giỏi ngoại giao và như vậy phần thua là cái chắc. Kể về Trung, bên ta có thừa, kể về sức, bo bo giữ đánh giặc như “đánh lộn tay đôi” sở dĩ Phan Thanh Giản dám nhận lãnh đi sứ chuộc đất là trông cậy vào lời hứa của Bonard nhưng Bonard đã chết, còn tướng de Genouilly đánh thắng vì nhờ tàu đồng, nhờ súng mạnh, thêm nhờ tay trong hết lòng ám trợ (của đạo Mới), chỉ chọc chỗ yếu cho biết.
Tôi đọc khá nhiều sách sử, nhưng vỡ lẽ ngày nay là nhờ thấy trong một cuốn sách Pháp nọ, sở dĩ ta mất ba tỉnh Miền Tây, là tại xui khiến cho ông vua đời đó, lãnh chúa trên đất Miên, nay tôi không nói tên vua nầy ra là để tránh dính líu vào chánh trị … vua nầy ban đầu không nghe lời khuyên của tướng Pháp và nhứt định xin đầu hàng vua nước Xiêm rồi ông cất bước sang Xiêm nhưng khi ông đi được nửa khúc đường, bỗng đổi ý và trở lại và chịu đầu hàng Pháp quốc … và nếu vua nầy chịu theo về bên Xiêm vương, Xiêm quốc, thì phe Tây đâu có dịp để nuốt trọn sáu tỉnh Nam kỳ lúc ấy.
Rốt lại tôi cho là vận rủi của nước ta, chớ vua Pháp Napoléon III vẫn bê bối và thua xa về đạo đức vua mình, nhưng vẫn mạnh nhờ có tướng giỏi và người làm ngoại giao khéo. Vua Tây dâm dật, bê bối, nhưng có người tài phụ lực nên thắng. Tôi nghe Phan Thanh Giản tâu “bên nước Pháp, có thiết kiều, thạch lộ”, thì các quan trong trào chê “đi xa về nói khoác”, nước ta “phú hữu tứ hải” mà họ làm gì có cầu xây bằng sắt thép (ta không đủ thép làm gươm!) và họ làm gì có đá để lát đường, trong khi nước ta không đủ để mài gươm cho thêm sắc bén!
Phan Thanh Giản than: “Bá ban xảo kê tề thiên địa”. “Duy sự tử sanh, (vẫn thuộc) tạo hóa quyền” (câu nầy tôi nhớ thuộc lòng, không ắt đúng nguyên văn).
Còn Nguyễn Trường Tộ thì vì theo đạo Mới, nên vua không tin dùng, bao nhiêu người Pháp qua đây để dạy về kỹ thuật, mỹ nghệ, vua ta đều nghe lời các quan trong triều đề nghị xin đuổi về xứ và không dùng và chỉ bo bo trông cậy vào viện trợ của nhà Thanh mà ta tôn là thiên triều và đã không biết rằng nhà Thanh lúc ấy chỉ còn hư danh nhưng vẫn đuối sức và yếu như bún thiu, chính họ vẫn không tự giữ mình được mà trông mong gì trợ giúp.
Tôi mãi nói bắt quàng, chính tôi không dám đọc lại những hàng đã viết và sau đây tôi xin gom vào đây những trang đã viết ngày 31-7-1993 và 12- 8-1993 cùng một vấn đề “luận về nhơn vật đời hai vua Tự Đức và Napoléon III”, mặc dù những gì tôi viết đây phải cần tra cứu kỹ càng lại.
Thân Trọng An sinh năm 1947, nguyên quán Huế, trung học J.J. Rousseau, tốt nghiệp Y Khoa Sài Gòn 1972, cựu Nội Trú các Bệnh viện Sài Gòn, Khoá 15 Quân Y Trưng Tập, nguyên Y Sĩ trưởng Bệnh viện Tiểu Khu kiêm Giám Đốc Bệnh viện Phối Hợp Quân Dân Y tỉnh Bình Long (An Lộc). Ty nạn Canada 1975, Thường Trú Giải Phẫu Đại Học Laval, Quebec 1977, FRCSC và CSPQ Canada 1981. Cựu Chủ tịch Hội Y Sĩ Việt Nam Canada, QLVNCH.
Chủ bút Tập San Y Sĩ Canada, cư trú tại Montréal.
Tập San Y Sĩ Giới Thiệu
Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn
Cuối thu năm 2018, nhà văn bác sĩ Ngô Thế Vinh có nhã ý mời Tập San Y Sĩ cùng đứng tên xuất bản và phát hành TUYẾN TẬP NGHIÊM SỸ TUẤN mà anh có dự định từ lâu và ngay khi đề xướng thì được nhóm bạn Nguyệt San Tình Thương năm xưa sốt sắng hưởng ứng. Anh em trong “Tình Thương” (1963-1967), một tờ báo do sinh viên Y Khoa Sài Gòn chủ trương, về sau đều đi lính, đều thành danh và nổi tiếng trên TSYS, trên văn đàn như Lê Văn Châu, Trần Xuân Dũng, Nguyễn Thanh Bình, Trần Mộng Lâm, Nguyễn Vĩnh Đức, Hà Ngọc Thuần, Ngô Thế Vinh … Cùng chung ý tưởng dấn thân, các anh thường chọn các binh chủng “thứ dữ” như Nhảy Dù có Lê Văn Châu, Trần Đoàn, Nghiêm Sỹ Tuấn, Đường Thiện Đồng, như Thủy Quân Lục Chiến có Trần Xuân Dũng, Phạm Đình Vy … Lực Lượng Đặc Biệt có Lê Thành Ý, Ngô Thế Vinh …
Nhà văn Ngô Thế Vinh rất đa tài và quảng bác. Với cách hành văn giản dị trong sáng, các bài viết đều được trình bày một cách khoa học, mạch lạc, kèm thêm nhiều hình ảnh, với danh sách liệt kê các tài liệu tham khảo … Ngoài sở trường tranh đấu bảo vệ môi sinh, anh cũng rất nhiều tình cảm, tình nghĩa với ân sư (viết bài về các Gs Phạm Biểu Tâm, Gs Phạm Hoàng Hộ, Gs Trần Ngọc Ninh), cảm thông với văn hữu (Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật và Văn Hóa), tri kỷ với nghệ sĩ (họa sĩ Nghiêu Đề, Nguyên Khai, Đinh Cường, điêu khắc gia Lê Ngọc Huệ, Mai Chửng), tri âm với “đồng môn – đồng đội” (chủ đề Tình Thương TSYS 184, tổ chức Hội Ngộ 50 năm khóa Sài Gòn 68, Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn …)
Tập San Y Sĩ đã mời anh hai lần làm đồng chủ bút cho số 184 “Tình Thương, Một thời nhân bản” và số 201 “Giáo Sư Phạm Biểu Tâm, Biểu tượng của Y Đạo, Y Học, Y Thuật”, nay được anh “đáp lễ” mời cùng đứng tên xuất bản và phát hành Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn do anh chủ trương và cùng các Bạn chu toàn. Mà anh còn nói là nếu phát hành sách có lợi nhuận thì sẽ tặng cho TSYS để duy trì tờ báo, giống như anh Trần Xuân Dũng vẫn thường xuyên yểm trợ. Bác sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn, theo hình ảnh và bài viết trong TSYS 184, mang vẻ một thư sinh nhiều phong cách của một nho gia, điềm đạm, chừng mực, khí khái, hiếu đễ và hiếu học. Học chuyên môn đã giỏi, anh Tuấn còn biết rộng, có khiếu sinh ngữ, có đặc tài dịch thuật và chịu khó trau giồi kiến thức tổng quát nên các bài anh viết, viết chung, dịch chung (Những người đi tìm mùa xuân, Ý thức tinh thần đại học … ) trên nguyệt san Tình Thương rất được mến chuộng. Anh làm thơ cũng rất hay và thường “yếm thế” nhắc đến lửa đạn, đến những điều không may (Sáu buồn trước tử biệt sinh ly … ). Ngày Trưng Tập vào Quân Y năm 1966 anh tình nguyện gia nhập binh chủng Nhảy Dù phục vụ tại Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù, thản nhiên thi hành bổn phận trai thời chiến rất tận lực và tận tâm:
Cuối năm tốt nghiệp khoác chinh y
Bom đạn, lầm than, sá quản gì
Giữa chốn sa trường say khói súng
Thản nhiên nào nghĩ chuyện an nguy
Thân Trọng An
Vài tháng sau Tết Mậu Thân 1968 anh bị tử thương, hy sinh tại chiến trường Khe Sanh.
Hình chụp trước cổng xuống hầm Phòng Mổ của Bệnh viện Tiểu Khu Bình Long (An Lộc), cũng là kho thuốc, và nơi trú ngụ của các bác sĩ và toán y tá trực; hầm này ở sát hầm của Bộ Chỉ huy Tiểu khu. Từ phải: Y sĩ Trung úy Thân Trọng An, Nha sĩ Trung úy Trần Kim Long. [Tư liệu BS Thân Trọng An]
Tôi thiết nghĩ Nghiêm Sỹ Tuấn là biểu tượng của thế hệ thanh niên Việt Nam Cộng Hòa lớn lên trong khói lửa chiến tranh tại miền Nam, được hưởng Tự Do Dân Chủ và Công Bình Bác Ái đứng lên Đáp Lời Sông Núi làm nhiệm vụ Trai Thời Chiến để bảo vệ Đất Nước và Dân Chúng, cũng như GS Phạm Biểu Tâm là biểu tượng của Y Đạo, Y Học và Y Thuật đã được trình bày trên TSYS 201.
Vì là Quân Y Sĩ, chúng tôi biết rõ nhất về các đóng góp của giới Quân Y, nên chúng tôi mới đưa “Vị quốc vong thân Y Sĩ Trung Úy Tình Thương Nghiêm Sỹ Tuấn” như một biểu tượng. Tại Little Saigon, Westminster California, trong lời phát biểu tại buổi ra mắt sách “Đời Y Sĩ trong cuộc chiến tương tàn” tháng
10 năm 2014 của Bác Sĩ Nguyễn Duy Cung, Giáo Sư Trần Ngọc Ninh đã nói: “Cuộc đời tiêu biểu của một Bác Sĩ Quân Y trong thời đại loạn, không những chiến tranh nội chiến, chiến tranh toàn diện mà người dân, người lính phải chịu đựng trong cuộc chiến tương tàn, người Y Sĩ Quân Y còn phải chữa cho những bệnhnhân không phải là bạn … “ Ông kết luận: “cuộc đời của một Bác Sĩ Quân Y càng khổ bao nhiêu thì càng vinh dự bấy nhiêu … ” như thi hào Corneille trong Le Cid đã viết “A vaincre sans péril on triomphe sans gloire / Chiến đấu không gian nan, Chiến thắng không vinh quang.”
Xin nghiêng mình trước anh linh của biết bao anh hùng các binh chủng khác đã đóng góp xương máu, riêng ngành Quân Y, chúng ta cũng đã từng thương tiếc các Y Sĩ Trung Úy Đoàn Mạnh Hoạch, Trương Bá Hân, Đỗ Vinh, Trần Ngọc Minh, Phạm Bá Lương, Nguyễn Văn Nhứt, Trần Thái, Lê Hữu Sanh, Nghiêm Sỹ Tuấn, Phạm Đình Bách …
Đọc Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn mọi người sẽ sống lại thời xuân trẻ của mình. Tuy đời sống cá nhân có vài khác biệt, nhưng ta sẽ tìm thấy ở đó những kỷ niệm chung về thời thế, về cuộc sống tuy bị lâm cảnh chiến tranh nhưng vẫn có tự do dân chủ, vẫn đáng sống và cả sung túc tương đối so với bây giờ. Chúng ta sẽ nhớ lại những tình cảm thân thương hài hòa, những người bạn cũ hay họ hàng thân thiết đã từng cùng nhau chung hưởng tự do và xây dựng xã hội miền Nam. Chúng ta cũng sẽ cảm nhận lại những ngậm ngùi khi đưa tiễn người thân về miền miên viễn. Dẫu sao cũng là “một thời để yêu, một thời để chết” của chúng ta trong những “ngày xưa yêu dấu” tiềm ẩn trong ký ức được khơi lên mãnh liệt trong khoảnh khắc.
Đối với thế hệ trẻ hơn, quyển sách này sẽ đưa các bạn sống vào thời hào hùng của cha anh, không dối trá, không cường điệu, không bẻ cong lịch sử để các bạn chia sẻ như một tài liệu chân thực khi tìm đọc lịch sử Việt Nam cận đại, hay là nghiên cứu lối sống của người dân trong xã hội thời Việt Nam Cộng Hòa.
Mong rằng Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn sẽ được mọi người đón nhận và ủng hộ thật nồng nhiệt.
Ở đời, không có chi là tồn tại, rốt rồi ai ai cũng chết. Duy lúc sống, biết cư xử thì tiếng thơm còn lại, bằng như tung hoành làm cho đã nư, sau rốt vẫn phải trả và còn lại tiếng xấu là khác.
– Hạng Võ, sức mạnh, Hàn Tín, dùng trí, đều chết với số tuổi cao hơn 30 chưa tới bốn chục.
– Lấy việc gần đây mà xét, Trần Bá Lộc, chém và giết đồng bào và tàn sát dân trong Nam, để dâng sáu tỉnh Nam kỳ cho Tây làm chủ, được thưởng mề đay của Tây mà nay chỉ còn tiếng “phản quốc, làm mọi cho Tây”, ích gì? Con cháu ngày nay, không nghe ai nói, hoặc đã đổi danh diệt tánh từ lâu rồi.
– Trong Nam nầy, ngày xưa có ai giàu hơn hội đồng Trạch ở tỉnh Bạc Liêu? À há! Nay xét lại mới biết, Trạch sanh con đặt tên “Cậu Hai Đinh” (con cua đinh), “cậu Ba Huy” (không phải Huy là sáng, là huy hoàng đâu), đích thị là Qui (con rùa) và con trai nhỏ út xưng “Cậu Tám Bò”, không cần tìm hiểu.
Nhưng gẫm lại hội đồng Trần Trinh Trạch trong Nam, làm sao giàu và bì kịp nhà giàu đất Bắc, Bạch Thái Bưởi, chẳng là có tàu đi biển và có nhà in đồ sộ.
– Người biết chơi đồ xưa trong Nam, tôi chỉ biết:
1) bà Hà Minh Phải, quen gọi bà đốc phủ Phải, thì tôi vẫn nghe mà không biết có quả như vậy hay không và nên điều tra lại, thì mộ bà nầy, an táng tại vùng Chí Hòa, vẫn đã bị kẻ trộm đào mả lấy luôn đầu lâu, vì chúng khi đào, mò trong mồm, không tìm được hột kim cương bà ngậm trong miệng và chúng đã rinh sọ bà rồi.
– Một người thứ 2 tôi nghe danh mà không biết mặt là Lê Văn Nuôi, nhà giàu lớn đất Vĩnh Long, ông Phán Nuôi nầy, quả có tàu hỏa chạy đường Sài Gòn lên Nam Vang xuống miền Nam và gọi “tàu lục tỉnh” tiếng đồn để lại ông ra Hà Nội, mua đồ xưa và mua luôn trọn nhà một quan tổng đốc, mua trọn trụm cả thập vật từ khí trong nhà, quan tổng đốc chỉ nhận tiền và xách va li tế nhuyễn và ông Phán Nuôi giao cho người đi theo, lo tom góp chở về đất Văng cho ông, còn ông Nuôi vẫn trở về Nam bằng tàu máy hãng Tây và hãng Tây cố tình không lấy tiền quá giang chỉ tính tiền chuyên chở cổ ngoạn của ông mua là đủ. Nhưng rốt cuộc, khi ông Nuôi nằm xuống, sự nghiệp, người kế nghiệp bán trọn cho một thương gia Tàu, độ bốn hay năm triệu đồng, bạc đời giao liên (période de transition) lối 1960 (4 million ou 5.000.000) và tỷ như nếu không bán lúc đó và để cho đến năm ni 1993, số bạc ấy tính theo nay, ắt hơn 4 hay 5 tỷ (1 tỷ là 1.000 triệu) thì phải là rất uổng.
Xét lại cho kỹ, chơi đồ xưa, theo ý riêng của tôi, tôi không bàn đến lối chơi của người dất Bắc, thường khoe “biết chơi đã hơn ngàn năm, do ông bà tổ tiên đã biết chơi như vậy rồi) và cũng không dám nói đến người Miền Trung, đất có vua, mà theo tôi, người đất Huế cũng chỉ ham sắc để tiến dâng cho vua, tức chưa lâu lắc gì và như tôi hiểu và xét theo sự kinh nghiệm đã dạy, thì xin hỏi: ở Bắc, bà Bé Tý, cô Tư Hồng, nay có ai là kế nghiệp nối dòng? ở Miền Trung, những Nguyễn Thân, những Trương Như Cương, có ai nối nghiệp đồ cổ?
Chính trong Nam nầy, không ai giàu được với câu “truyền tử lưu tôn”, chung qui từ Bắc qua Trung, chí Nam, người nước ta chỉ lập nghiệp và an hưởng chỉ một hay hai đời là cùng và đã điêu tàn không nối đến thế hệ thứ 3 được. Sở dĩ tôi dám nói như vậy, vì theo tôi chiêm nghiệm, người mình có tật lớn là sợ ma và đồ xưa, đồ cổ, theo quan niệm xưa là vật có ám ảnh, của ma để lại và chính mắt tôi đã thấy trong nhiều gia đình vọng tộc trong nầy, khi có người trong nhà quá vãng, thì bao nhiêu vật, y phục, giày dép, đều gởi vào nhà mồ, tức để lộ thiên nơi nhà quàn, tha hồ cho bọn trẻ chăn trâu bò, mặc tình lôi trộm, hoặc bán rẻ cho bọn ve chai, hoặc lấy chơi, phá phách không tiếc và đã mất. Theo tôi, người trong Nam, dĩ chí gần đây, chỉ học và biết chơi và sưu tập đồ cổ ngoạn, không vì mỹ thuật mà chỉ vì nay bán được nhiều tiền, và cái mốt (mode) làm collectionneur (người sưu tập đồ cổ để tiêu khiển) bước qua trước sưu tầm, sau bán cho được nhiều hơn số vốn đã xuất, bọn nầy tôi gọi “con buôn đồ cổ” và không có danh từ gì khác để gọi cho xuôi tai và bọn buôn đồ cổ nầy, thường hay bị “sanh nghề tử nghiệp”, một lúc làm giàu thơ thới, rồi bỗng suy tàn, tán gia bại sản, vì bán lỡ một cổ vật ra nước ngoài, bao nhiêu của cải làm ra, đều bị mất, bị tịch, hóa ra hám lợi nhỏ mà mất hết những vật tích trữ bấy lâu.
Tóm lại, có ích gì mà đeo đuổi cái gọi là “thú chơi cổ ngoạn”? Và theo tôi, cần thiết là nên biết tự túc, chơi một vài món là đủ và mua sắm nhiều chỉ mua sự lo buồn lúc các vật ấy còn tại nhà, và khi sạch sành sanh bị mất trọn, thì nên an ủi lấy mình với câu “Đồ xưa có ma” và như vậy không nên than trời trách đất. Tôi nói như vậy, không phải tôi triết lý đâu và chính tôi cũng lọt trong vòng luẩn quẩn ấy. Bao nhiêu Gubalkian và các tay tổ Mỹ, Anh cũng thế!!
Câu truyền tụng “Đồ xưa có ma” là thậm phải. Bao nhiêu người danh giá thời thuộc Pháp, ngoài kia như các tổng đốc họ Hoàng, họ Trần, họ Vi, v.v. bao nhiêu kẻ đánh giặc mướn làm mọi cho Tây, Nguyễn Thân ở Trung, Bá Lộc, Bá Thọ ở Nam, chú Hỏa (Húi Bon Hoa), Quách Đàm, họ Huỳnh Đình, họ Quách, Phủ hàm Khiêm ở Gò Công, bao nhiêu công thần triều Nguyễn Phước, như Phạm Đăng (Gò Công), họ Nguyễn ở Sa Đéc, rốt lại cũng không lâu bền như ý muốn. Lăng ông Nhân ở Sa Đéc, may thời lăng mộ nhờ cháu con khéo giữ gìn nên còn, trái lại họ Huỳnh ở Gò Công, lên như diều gặp gió, có Huỳnh Tấn bắn Trương Định, nhưng Trương Định ngày nay có tên đặt tên đường ở Sài Gòn để lưu niệm danh trung, và trái lại, Huỳnh Tấn, tên lót chữ công à công nọ đâu còn và chỉ còn bị bêu ríu danh ô đầu giặc.
Cái gương sáng suốt, theo tôi là gương các nhà cầm bút, tỷ như:
– Trương Vĩnh Ký đứng đầu, chí khí như họ Từ đời Tam quốc, sống đất Tây mà lòng vẫn hiên ngang, không theo phò tá mà vẫn một lòng cố quốc, nước nhà, tuy tượng đồng bị hạ bệ mà nghe đâu sẽ có ngày xây dựng lại như cũ;
– Như Huỳnh Tịnh Của, có người đã chê ông nầy chức là đốc phủ sứ có chưn trong hội đồng cố vấn của Pháp, nhưng theo tôi hiểu và xin cải chính, ông Đốc phủ Của làm đốc phủ để có tiền xuất bản bộ tự vị nhắc danh để đời, thì Của nầy rất có công với văn hóa và nào có tội?
– Một ông Của nữa, là ông Nguyễn Văn Của, sanh được một Nguyễn Văn Xuân, 16 tuổi đậu tú tài Pháp, rất có công trong ngành xuất bản in và bình sanh giúp ích cho nhiều người và không làm hại ai, như vậy Của và Xuân, nào có tội với nước nhà?
– Một bác sĩ Nguyễn Văn Thinh, theo tôi, tưởng nên xét lại.
– Một Hồ Văn Ngà, một Nguyễn Văn Sâm, một Trần Văn Thạch, thảy đều nên điều chỉnh và xá tội oan làm tay sai cho địch.
Chỉ tiếc người trong Nam, những người đi trước, học giỏi, đậu cao, làm chức lớn chỉ biết vinh thân phì gia, và đáng tiếc. Khi ra Bắc, bày ra ca hát cải lương, ăn chơi cho thỏa thích nhưng đều rất tầm thường, và chung qui đều thua người ngoài ấy: Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Dương Quảng Hàm, v.v .. , học nhiều biết nhiều, nhưng xin nhớ người Nam mất nước từ 1867, còn người Bắc năm 1884 mới bị chinh phục, khiến nên chữ nho chữ Hán, người Bắc, người Trung hiểu nhiều còn chúng tôi trong nầy, xin đừng sớm trách chúng tôi và chúng tôi vẫn không lòng vong quốc, nhưng thật sự đã bị Tây cấm học Hán tự và cấm học võ nghệ từ 1867 kia mà.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.