Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 5 Dec 2025

Nguồn Internet

Chương 20

Nhớ Thầy Thuốc Ngỡi Ở Sa Đéc

Hôm nay ler septembre 1993, là ngày Báo hiếu của lễ Vu Lan PL. 2537, và

vừa rồi, tôi có đọc bài nói về Bác sĩ Phạm Văn Ngỡi, của anh bạn kèo dù già Thái Bạch, T.B. nói cuộc đời của thầy thuốc Ngỡi từ năm 1945 cho đến 1970 (năm tạ thế) vậy tôi xin viết tiếp lời T.B. và nhắc lại những gì tôi đã viết về quãng trước tức kể từ 1928 đến 1945. Tóm tắt lại, thầy thuốc Ngỡi, khi tôi biết, chưa gọi với chức “bác sĩ”, vì ông học trường thuốc ở Hà Nội, thi đậu ra trường với chức “médecin auxiliaire” phiên âm là “lương y phụ tá” và phận sự là giúp tay đỡ việc cho quan thầy thuốc tây, mới gọi “docteur en médecine”, chức “thầy thuốc” theo tôi hiểu, là danh từ do bác tôi là Dr Trần Ngọc Án, tự Diên Hương đã chọn và tự xưng và đề trên bảng gắn trước cửa nhà góc đường Nguyễn Du và Thủ Khoa Huân, là “Thầy thuốc Án” và sau nầy, khi Cách Mạng năm 1945 lật đổ chánh phủ thuộc địa Pháp, mới có danh từ “bác sĩ” trong khi từ lâu ngoài Bắc đã có sẵn từ “quan đốc” (docteur) và xin nói luôn nay gọi “y tá” thì trước đây trong Nam, chức infirmier auxiliaire “vẫn gọi nôm na là “phạm nhe” và khi nào tâng bốc để rửa ghét ít đau, v.v .. , khi ấy mới tặng từ “thầy điều dưỡng”.

Nhắc lại năm 1928, thì thầy thuốc Ngỡi đã có mặt tại châu thành Sa Đéc, ông có hai căn phố lầu một từng tại đường Vĩnh Phước, hai bên lầu ông có xây mỗi bên là bốn căn phố trệt, và mé hữu ông có dọn riêng hai căn làm phòng coi mạch và trị bịnh nhỏ và gấp rút, đặc biệt là ông có sáng kiến, dọn hai căn phòng thuốc y hệt nhau, nhưng một căn là dành cho người ưng trả tiền 2 đồng bạc (2$00) mỗi lần coi mạch và căn kế bên là chừa cho người không có tiền trả công coi mạch, tôi không dám gọi đó là người nghèo, còn từ “bình dân” hoặc “lao động” lúc ấy chưa có. Lối tháng Juillet (tháng 7 dương lịch) năm ấy, tôi từ Sài Gòn, tách rời trường Máy của ông quan Năm Rosel, đổi về tùng sự nơi tòa bố (dinh hành chánh) tỉnh lị Sa Đéc, với trên tay một gói áo quần nhục nhục và một bộ đồ y phục Tây, bỏ lại đất Sài Gòn nợ lút đầu lút cổ, nếu ở lại Sài Gòn là chờ ngày ngồi khám: kể sơ ba tháng tiền mướn phố chưa trả, nợ mua chịu một xe hơi hiệu FIAT của hãng Laurent Gay, giá 2.700$00, nhưng mua chịu, vừa trả được hai ba tháng và còn thiếu hơn hai ngàn bạc, phố và xe là tôi đứng tên, nhưng xe ấy ông nhạc bà nhạc sử dụng để đêm đêm đi đánh bạc và hai đứa tôi khi được ngồi xe là để đi mời tay bài về chứa lấy xâu, ngoài ra tôi chưa kể số nợ hỏi tiền góp và vay bạc chà sét ty trên số muôn … bữa tôi đến trình diện nơi phòng thuốc, tôi cung kính chào và thưa tôi là con rể của bà Kính, mẹ vợ tôi tên Dương Thị Thìn, vốn thân thuộc với Dì Tư Ngỡi, ông Ngỡi chưa nghe tôi dứt lời đã gọi tôi bằng cháu và mời cứ dọn đồ lại ở, Dượng cho tôi một căn phòng có giường sắt nệm bông mùng tàn ong trắng phếu, vài ngày sau vợ tôi là cô Tư Tuyết từ Sài Gòn xuống, hai đứa ở nhà Dượng Ngỡi mà ngỡ ngàng muốn rút lui nhưng đã trễ, cơm dọn trưa cơm ta chiều cơm Tây, ba bồi (boy) phục dịch, tôi còn nhớ tên hai người là Cư và Ngân, hai người nầy tuy dọn ăn mặc quần áo bà ba, nhưng sạch trắng, ủi là sắc lém, còn vợ tôi thì y phục lòn xòn ngồi vào bàn không xứng, riêng tôi thì mặc bộ đồ Tây bèo nhèo cả tuần nhựt mới thay một lần và tôi quên nói, khách  ôi là khách, cứ đôi ba bữa là có ông Tây nầy hoặc vợ chồng ông Phó chủ tỉnh đến dự tiệc và hai đứa tôi không phương từ chối và Dượng tôi cứ ép có mặt mỗi khi có khách dự tiệc, để cho rậm đám và bữa tiệc thêm vui, trong khi tôi tủi thầm và nát ngướu tim can … Dì và Dượng quá tử tế, nhưng tôi thì nhột nhạt, vài tháng sau tôi kiếm được phố trống gần và cùng một dãy nhưng con ma nghèo chưa dứt khoát, ở Sài Gòn tôi lãnh 80 lương mỗi tháng thêm 60 bạc tiền dạy tiếng ta cho quan Tây, nay về Sa Đéc lương còn 65 bạc mất 15$ tiền phụ cấp đắt đỏ, tiền dạy Tây cũng mất luôn, thêm hãng xe hơi gởi thơ đòi tiền thiếu, thơ gởi ngay cho chủ tỉnh nhưng ông nầy độ lượng, dạy tôi điều đình sao xong cũng được vì là việc đời tư, cứ tháng nào tôi cũng hụt tiền chợ mấy ngày cuối tháng, tôi đến tìm Dượng Tư Ngỡi tại phòng mạch, hỏi khi mười khi năm đồng Dượng đầu kéo ngăn tủ trao số bạc và khi lãnh lương tôi đến xin trả, Dượng Tư vẫn cười tít toét và mắng yêu: “Bộ giàu lắm hả? Nhớ đừng cho Dì hay”. Ôi? lòng rộng như mặt nước Sông Tiền, nay Dượng đã khuất mà ơn kia vẫn nặng.

Thầy thuốc Ngỡi mất đã lâu, Thái Bạch kể sự tích thấy cử chỉ có nhiều bê bối, nhưng phải nhìn nhận Đảng rất là rộng lượng, còn dân chúng đất Sa Đéc, những người kỳ cựu còn nhắc và khen thầy thuốc Ngỡi: “tay bằng miệng và miệng bằng tay”, nghề tuy chẳng hơn ai, nhưng ông có được tánh dễ dãi, lạc quan, không có bịnh nhơn nào làm cho ông chạy và với bịnh nào ông cũng coi là nhẹ và nhờ ông vui tánh mà bịnh nhơn tin theo mà lành mạnh không hay. Ông lại có tánh mau biết lòng người, mỗi lần thấy tôi buồn buồn là biết tôi cạn tiền, ông thường bày chước dạy tôi dọn bàn dọn bài và tối lại, ông cùng ba ông bạn già kéo đến nhà, chà bài thiên cửu, đánh tới sáng hôm sau là tôi có đủ tiền xâu đắp đổi qua tiền chợ tiền cơm. Khi có người rước về nhà trị bịnh, khi ông gặp người kéo xe đi quá chậm, ông bèn biểu hạ gọng, và ông cho tiền hậu hỷ rồi nhảy qua xe khác chạy mau chạy lẹ hơn, vì ông nói: “cứu bịnh như cứu lửa?”. Nhưng ông có tật ham vui bài bạc, ông thường dùng xe nhà, xe đua hiệu Bugatti sáu máy, mỗi trưa ngày thứ bảy, ông năng lên Sài Gòn đánh bạc, xe của ông khi chạy gần tới bến đò Mỹ Thuận, ông ra hiệu kèn thì đò máy dầu sắp mở đỏi, cũng nán lại chờ rước xe ông vì tiền thưởng dồi dào, năm chót trước khi tôi rời tỉnh Sa Đéc, nhớ vào dịp Tết năm nọ tôi đến từ giã ông để về Sốc Trăng thăm Ba tôi, và tôi hay tin ông kẹt tiền tôi vụt mời ông hãy nhận một số bạc lớn (độ  7.000$00) tôi sẽ lấy bạc tủ Nhà Nước để ông mượn dùng đỡ, khi tôi ở Sốc Trăng trở lên, hết Tết, nhà băng mở cửa làm việc, ông sẽ hoàn số tiền nọ, ban đầu ông khứng chịu, nhưng khi tôi mang tiền đến thì ông từ chối không nhận với câu: “Tiền của Nhà Nước, khó lòng và lôi thôi lắm. Hãy trả vô tủ lại đi!”. Mấy lời chí thiết nầy, tôi nhắc lại đây để cho thấy tấm lòng ông Ngỡi, và nhờ vậy mà tôi khỏi mất chức khỏi ngồi tù. Ông Ngỡi thường dùng ngôn ngữ Pháp và chơi thân với Tây, không phải nịnh bợ, nhưng theo ông, chơi với quan Tây cho ăn và đãi tiệc, thường là để mua lòng, khi nào có người cậy ông, ông vào quan và can thiệp thì quan nhượng và bỏ qua ngay … sau rốt, ông mắc nợ lớn, chủ nợ lúc đó, có tục bắt giam thân cho vào tù chờ trả nợ, ông Ngỡi vào khám Vĩnh Long, ngày mãn hạn, xe ô tô nườm nượp kéo từ Sa Đéc qua Văng mừng và rước ông Ngỡi như lễ thỉnh sắc thần. Tây tà đều ngán … Một khi ông hay quan thầy cũ, đốc tờ Le Roy des Barres từ Hà Nội về xứ, ông mời des Barres và quan thống đốc Blanchard de la Brosse, xuống Sa Đéc cho ông tiễn hành.

Ông bày hội chợ “kermesse” tại sân túc cầu, chủ tỉnh Bartoli đọc diễn văn lập cập còn ông ứng khẩu nói dòn tiếng Tây nổ như bắp rang, người nào không biết thì sẽ chê ông ưa bợ đỡ, nhưng khi biết tánh người Miền Nam thì phần đông đều như vậy, ở với bọn thuộc địa, ngôn ngữ như chúng thì chúng phải kiêng. Sở dĩ thầy thuốc Ngỡi như đốc tờ Nguyễn Văn Thinh, và như bác sĩ Trần Văn Đôn, vào Hội đồng Tư Vấn, v.v .. là bị Tây gạt mớp, khi biết được thì việc đã lỡ, đèn nhà ai nấy sáng, xin khoan lên án và sau nầy sẽ hay. Đời ông Ngỡi kết cuộc rất bi quan. Ông mắc bịnh nước tiểu có đường, ngày tôi đến thăm, gặp ông ngồi ăn canh hẹ tào hủ, ông chan cơm lua vài đũa rồi buông đũa ngó tôi lưng tròng. Tôi là thằng ở bạc, ngày đưa đám tôi không hay để tiễn Dượng tôi. Khi ông ở Hà Tiên, ông đặt tên con Hà và Tiên (nay còn bà quả phụ Tiên) và về Sa Đéc, con là Sa và Đéc, nay Sa vẫn còn nhưng đã trên bảy mươi và vẫn không được dồi dào sức khỏe. Tôi viết bài nầy nếu có sơ sót là ngoài ý muốn và còn một chi tiết nhỏ, tôi không  đảm bảo là đúng sự thật nhưng vẫn thuật lại đây và không làm bớt uy tín Dượng Tư Ngỡi được, là có người thuật lại rằng Ngỡi trước tiên là y tá ở dưỡng đường Chợ Rẫy, một đêm Ngỡi gác trại sanh, một phụ nữ sanh cảnh đẻ ngược, chạy đi tìm bác sĩ Tây thì không gặp, lên tìm ông An Nam thì cũng vắng mặt, tự Ngỡi đảm đương, sáng ngày hai bác sĩ thấy “mẹ lành con vuông”, bác sĩ Tây phấn khởi quá, đề nghị cho y tá nầy vượt bực được khỏi có đít lôm, ra Hà Nội học nghề thuốc, gặp thí nghiệm quan thầy Tây dạy sinh viên chỉ chỗ của đầu đứa trẻ trong bụng mẹ, các sinh viên kia đều kẻ trật người trúng, riêng y tá nầy khi nắm chắc đầu đứa bé trong thai thì tay nắm cứng, miệng hô: “Voici la tête”, bác sĩ Tây cười, và khen trí lanh y tá nầy.

Giấy còn thừa, xin kiếu lỗi vì viết quá dài, nay viết thêm: “Sở dĩ trong Nam, khi nói “Ngỡi”, Phạm Văn Ngỡi, khi lại nói Ngãi, như Vàm Đại Ngãi ở Sốc Trăng, như Quảng Ngãi, ở Miền Trung, và tránh và ít khi dùng và hát chữ “Nghĩa” (trừ Thủ Khoa Nghĩa là bài khác) và chuyện nầy là do người bạn quá cố Năm Sa Đéc truyền cho biết, như câu Lữ Bố với nàng Điêu: “ … đây mong kết ngỡi, đó đành vong ân!” vẫn hát Ngỡi, kéo dài nghe êm, chớ nghĩ … ỉa (nghĩa) thì thối lắm.

(1-9-1993, V.H.S.)

Tội nghiệp cho Phạm Đăng Hưng, nhân vật lớn đất Gò Công.

Gọi ông bằng gì cũng khó. Ông là cực phẩm trọng thần đời vua Gia Long, nhưng nay mộ lăng không được ấm cúng, nên tôi hạ hai chữ tội nghiệp. Đó là hỗn. Nhưng viết làm sao? Có người đã khuyên tôi sống dai biết khá, hãy kể nhơn vật xưa đất nầy nghe chơi. Tôi cũng muốn lắm. Nhưng bứt mây động rừng. Có nhiều ông bự, trước làm nhiều việc không hay, tỷ như Trần Bá Lộc, nhưng nay kể việc ông làm, cũng không xong. Biết đâu chừng, dòng họ ông dầu nay thay danh đổi tánh, nhưng nay mình nói động, họ thù họ ghét, viết không ăn được mấy đồng, mà cái hại to lớn như bồ lúa. Một ngày nào họ quăng cho gãy giò, đáng kiếp, tiền viết lách không đủ chạy thuốc. Bằng như viết để bêu thơm, cũng khó. Người đọc bài sẽ chê viết nịnh bợ. Nói ba hoa rồi cũng phải viết, cho đỡ buồn. Lấy sự tích nầy làm gương.

Phạm Đăng Hưng

Sanh tại giồng Sơn Qui (đất nổi cao như mu rùa) cũng gọi là giồng Khổng Tước, vì xưa có chim công đến làm tổ nơi đó. Lớn lên theo đánh giặc, người nào theo Tây Sơn thì nay được tôn, người như Hưng, theo Gia Long, khi về già, vua hấp hối, gọi lại và cho làm người tin cậy, giữ lời trối. Rốt lại, người nhận trối được dân tôn làm thần và đó là đức Tả quân (Bà Chiểu), còn  Hưng, về làng nhau rún, xây mộ, lại bị mấy lần phá phách: lần nhứt, bia đá có chữ của Phan Thanh Giản, khi bia chở về tới cửa biển trong nầy, gặp lúc Tây đánh bên mình giết đại úy Capitaine Barbet của chúng, chúng đoạt thuyền cướp bia, lấy bia chạm lên ba chữ Tây “ci git capitaine Barbet” v.v .. rồi dựng bia nầy nơi mả Barbet ở nghĩa địa Sài Gòn, tôi từng thấy bia nầy tận mắt, rồi nghĩa địa Tây bị ta phá bình địa, tấm bia đá ấy xiêu lạc hà phang? Vua Tự Đức sai làm bia khác cho ông ngoại, bia đem về Gò Công và có được dựng lên hay không, tôi làm sao biết, duy mới rồi, mua tờ tuần báo Văn Nghệ số 110 (7/10-10-93), nhìn kỹ nơi trang 8, thấy mập mờ lăng họ Phạm, nơi phía lưng có dạng cao và bị che khuất, có phải đó là bia thứ 2 của đời vua Tự Đức sót lại hay không?

Trong bài ấy, ông Nguyễn Hoài Nhơn thuật rằng lăng mộ bị phá phách, mấy con sư tử đá rất khéo, di tích kỳ công thợ Huế thế kỷ XIX nay hư hao đã nhiều, hóa ra dân ta còn khờ quá, không có lòng tôn trọng mỹ thuật cổ, dầu của đời nào, đời Tây Sơn hay đời triều Nguyễn Phước cũng là cổ vật nên để dành và tại sao làng xã Gò Công để cho chăn trâu chăn bò phá đi. Ai ghét cộng cho bằng dân Anh, nhưng họ đâu có dại và Ăng lê vẫn tu bổ mộ phần của Karl Max để dụ ngoại dân đến làm giàu.

(viết ngày 3-12-1993 cho số Xuân báo Lao Động)


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment