vietmessenger.com
Morris L. West
Bản dịch của Chu Việt
Post by Sơn râu 6 Dec 2025

Chương 2.
Tôi đã chứng kiến một vụ tử đạo và kinh nghiệm ấy không làm tôi thích thú gì. Cái cảnh tượng một thân thể con người bị lửa thiêu chết thật là khủng khiếp. Trong cái hỗn Ioạn chung quanh nơi ấy, có một sự kích thích quái gở, và trong sự hôn mê của nhà sư đang làm chủ ý chí của mình để thắng những đường gân thớ thịt, có một vẻ siêu phàm thoát tục lạ thường.
Bỗng nhiên tôi thấy lợm giọng vì chợt hiểu rằng vụ tự-sát rùm beng này đã được dàn cảnh cho tôi xem. Và người ta đã biến tôi thành một kẻ đồng loã, vì lý do bất cẩn, ngu dốt hay tính toán chính trị. Tôi đến xứ này chưa được một tiếng đồng hồ. Cả đến Tòa Đại-sứ của tôi, tôi cũng chưa hề đặt chân vào nữa. Thế mà tôi đã dnh líu vào sự tranh chấp tòn giáo của miền Nam Việt-nam một cách công khai và vĩnh viễn. Như vậy trước khi tôi có thể trình ủy-nhiệm-thư tại Phủ Tổng-thống, thì báo chí thế giới đã có thể thách thức tôi tuyên bố về một vụ tử đạo Phật-giáo và một chinh phủ Thiên-Chúa giáo. Về một phương diện khác, tôi cũng đang có một sự thách đố. Tôi vốn là một người nghiên cứu đạo Phật, tuy chưa phải là Phật tử. Tôi đã chấp nhận một đường lối học đạo theo phái Zen cho nên tôi rất bỡ ngỡ trước những thái độ sơ khai hơn của phái Đại thừa Việt-nam. Muso Soseki đã chỉ bảo cho tôi biết rằng muốn đến cõi phúc thì tinh thần hướng nội phải chịu chết dần chết mòn. Nhưng còn việc hủy hoại ngay thân thể để nhập cõi ấy thì đối với tôi thật quả là một sự xúc động tàn nhẫn. Vì bị xúc động nên tôi tức giận và dùng lời lẽ khiếm nhã nói với Đại-tướng Tolliver.
«Này ông Đại-tướng, kẻ khốn nạn nào đã bầy đặt cho tôi vụ này? Ai chịu trách nhiệm về an-ninh ở đây?
Đại-tướng Tolliver cũng cộc cằn và bực tức không kém tôi.
«Tòa Đại-sử, C. I. A. và Phủ Tông-thống chứ còn ai. Tôi có nhiệm vụ cung cấp đoàn xe và lính hộ-vệ đoàn xe. An-ninh thì do người Việt phụ trách phối hợp với C.I.A. Kế hoạch của họ đã được C. I. A. chấp thuận. »
« Thế ông không biết Phật-giáo đã đe dọa xuống đường cả mấy tuần nay rồi sao? Báo chí đều đăng tin đầy đủ. Công văn do Tòa Đại sứ gửi đi cũng nói vậy. Tôi chắc đã có kẻ nào mách nước cho họ chọn ngày hôm nay để khai diễn đây. »
Đại-tướng Tolliver nói một cách cay đắng. «Thiên hạ đều được mách, nước cả. Nào là báo chí, nào là Phủ Tổng-Thống, nào C. I. A. ai cũng biết trước hết. Họ đã thảo luận công khai ở buổi họp báo cuối. Nhưng Harry Yaffa nói hắn sẽ đảm bảo. Xếp sòng C. I. A. thì còn ai cãi được? Vả lại tôi còn trận giặc riêng của tôi – tôi đã dấn thân vào quá nhiều mặt trận rồi. »
« Nhưng đặc biệt ai muốn dính líu vào vụ tự thiêu này? ». «Ai cũng muốn hết». Đại Tướng Tolliver đáp cộc cẳn. «Phật-giáo muốn là vì họ muốn dàn cảnh cho quần chúng xem thảm cảnh của những nỗi thống khổ mã họ phải chịu. Phủ Tổng-Thống cũng muốn vì hy vọng ông sẽ ghê tởm sự cuồng tín dã man này. Báo chí muốn là vì họ đã bị kết án là cứ ngồi ở quầy rượu Caravelle mà bi thảm hóa cuộc chiến tranh. Dĩ nhiên họ sẽ biết khai thác một chuyện có thật như vậy. Còn C.I.A vì họ muốn thay đổi chính phủ và để làm cho ông chịu, chỉ có cách ấy là hay nhất».
«Còn quân đội thì sao, Đại Tướng? Tôi muốn nói quân đội của Đại Tướng theo lập trường nào ?»
Tướng Tolliver bỗng nhiên thao thao «Lập trường của tôi là đứng ngập trong sình lầy vùng châu thổ đến đầu gối. Một cuộc chiến tranh chúng tôi
không thể thắng được và cũng không dám thua. Bọn tôi đâu có quyền chỉ huy. Nhiệm vụ của chúng tôi ở đây là cố vấn và coi kho. Trên lý thuyết, chúng tôi chẳng có quyền bắn một viên đạn nếu mạng sống không bị trực tiếp đe dọa. Nếu nắm quyền chỉ huy bọn tôi lại biến thành thực dân tư bản như tụi Pháp. Nếu tấn công ồ ạt vào Bắc Việt, chiến tranh sẽ leo thang và có thể sẽ phải đương đầu với Trung-hoa. Nếu chúng tôi thắng trên bình diện quân sự, chúng ta lại trở nên những kẻ chiến thắng trong một sự trống rỗng về chính trị và xã hội. Nếu chúng tôi rút lui và bỏ mặc người Việt đánh nhau, chúng ta sẽ mất mặt, mất chỗ đứng và tất cả những bán đảo miền Nam Á châu … Vâng, Phật giáo đối với tôi rất quan trọng vì nó tượng trưng cho sự chia rễ và bất mẫn trong hàng ngũ chúng ta. Nhưng tôi đâu có dàn cảnh ra vụ tự thiêu này. Phía bọn tôi cũng đã có quá nhiều người tử đạo … »
Tôi xin lỗi Đại-tướng Tolliver và ông nhận với một cái nhún vai và một nụ cười mệt mỏi.
« Ai cũng muốn kéo sự thật về phía mình. Nhưng nếu ông muốn biết tất cả sự thật, ông phải tìm nó ở các bãi sinh. Và thời gian này, các nơi đó cũng khá bùn lầy.»
« Và cũng đẫm máu nữa. tôi nghe họ nói vậy».
« Dạ vâng, cũng đẫm máu nữa. Tôi hy vọng ông sẽ có thời giờ đích thân đến quan sát. »
Sau đó chúng tôi rẽ vấo Tòa Đại-sứ, nơi mà tôi sẽ trú ngụ như một tiểu bạo chúa sau hàng lưỡi lê của lính gác.
George Groton đã giản lược cuộc đón tiếp tôi vào một câu nói lối : « …. Một bọn phu tống tang đo áo khâm liệm cho một khách hàng mới ». Tôi cũng cảm thấy một sự ớn lạnh của chết chóc, nhưng tôi sẵn sàng đón nhận hơn là Groton. Trong ngành ngoại-giao, ai cũng nghi ngờ những nhà cải cách và những người chuyên giải quyết các vụ rắc rối, lại càng nghi ngờ hơn nếu được bổ nhiệm một cách dễ dàng và trọng vọng. Vả lại, Mc Nally, vị Đại-sứ trước tôi vốn là một người dễ thương, được nhân viên yêu mến. Còn tôi vẫn có tiếng là một người chỉ huy lạnh lùng và gần đây họ còn cho tôi là hay đòi hỏi nữa Bởi vậy tự nhiên là họ phải thận trọng đối với tôi.
Nhưng còn nhiều điều khác nữa cần phải thắc mắc hơn là tính tình vui vẻ hay cau có của một vị Đại-sứ. Đây là một nhiệm sở khó khăn – một nơi bất an, hàng ngày nguy hiểm cho dân của tôi và gia đình con cái họ. Ngoài phố biểu tình nổi loạn. Bom nỗ trong các quán rượu, rạp chiếu bóng và chợ. Một cái xe đạp dựng cạnh công rất có thể chứa toàn plastic. Xe buýt chở trẻ con đi học phải có lộ trình vạch sẵn và có nhân viên võ-trang hộ vệ. Đêm đến là cổng ngõ khóa chặt và người chủ gia-đình đi ngủ với khẩu súng lục nhét dưới gối. Chủ-nhật lái xe dạo chơi ngoài thành phố độ dăm bẩy cây số là có thể gặp Việt-cộng phục kích. Một người bán quà rong có thể là kẻ tiếp tế súng đạn hay liên lạc viên của du kích quân. Bởi thế nên phải coi chừng bất cứ kẻ mới mặt nào muốn thay đổi cục diện Á-châu với một hành vi táo bạo và với một chính sách ôn hòa mới đem từ Hoa-thịnh-đốn sang.
Khi một chính sách đã thất bại thì toàn thể nhân viên tham mưu đều chịu gánh lỗi, nhưng họ phải chấp nhận những hậu quả của một chính sách
mới cũng như họ đã mang đến những hiểm họa của chính sách cũ. Bởi vậy họ có quyền xử xét tôi và tôi cũng phải tự biện minh với họ trước khi có thể sai khiến lòng trung thành của họ. Tôi cảm thấy trần truồng một cách lạ lùng khi kéo ghế ngồi ở đầu bàn hội nghị và đợi các cộng sự viên của tôi yên vị. Họ là những người đã chiến đấu ngoài trận tuyến trong lúc tôi ngồi trầm tư trong khuê viên của Muso Soseki. Tôi có thể dùng giọng của Tổng-thống mà nói với họ, nhưng làm như vậy họ vẫn có thể phê phán rằng giọng nói đó xuất phát từ miệng một kẻ làm tàng.
Trong lúc vội vã chuẩn bị, vào phút chót, George Groton đưa cho tôi một mảnh giấy viết bằng chữ Kanji «Harry Yaffa. C.I.A là người hùng. Có sự cọ sát giữa hắn và Mel Adams, đệ nhất tham vụ. Kỳ dư, ý kiến không thống nhất». Tôi vò mảnh giấy và đút vào túi.
Melville Adams ngồi bên tay phải tôi. Hắn là một nhà tri thức, người gầy, vẻ mặt không vui, tuổi gần năm mươi. Hắn ở trong ngành ngoại giao đã lâu và được mọi người kính nể vì có thái độ vô tư thận trong và can đảm theo chủ trương của mình đến độ bướng bỉnh. Có nhiều người cho rằng hắn là một kẻ quá khô khan nên không thể được bổ nhiệm ở những chức vụ hàng đầu, nhưng đã được thấy hắn làm việc ở Helsinki và Argentine, tôi vẫn luôn luôn kính nể hắn.
Ngồi khoảng giữa bàn là Harry Yaffa, trông có vẻ một bác sĩ ăn khách hơn là Trưởng Cơ quan Tình báo Trung ương phụ trách miền Nam Việt-nam, Lào và Căm-bốt. Người lùn, mập, có vẻ hoạt động và tốt, hai bàn tay mềm và được giữ gìn đẹp đẽ, hắn mặc một chiếc sơ-mi lụa cắt thật đẹp với một chữ thêu chỉ xanh dưới ngực bên trái. Giọng nói dịu dàng, cử chỉ đầy vẻ duyên dáng và chống đối, nhưng hắn ta nổi tiếng là lưu manh, tàn nhẫn và bất chấp đạo đức. Nếu muốn chỉ huy được, tôi cần phải biết hắn nhiều hơn là bây giờ, nhưng tôi e rằng tôi không thích biết hắn một cách gần gũi hơn.
Tôi nhìn về phía cử tọa còn lại. Tất cả đều nhìn chăm chú một cách kiên nhẫn vào những bản phúc trình đánh máy trước mặt hộ. Đã đến lúc tôi phải bắt đầu đi nước cờ thí.
« … Thưa qui vị, tôi muốn chúng ta dẹp hết những nghi thức … quí vị làm việc nơi đây đã lâu. Tôi sẽ trông cậy rất nhiều vào những tin tức, khuyến cáo và sự giúp đỡ của quí vị. Tôi hy vọng quí vị sẽ nói thẳng với tôi cũng như tôi sẽ nói thẳng với quí vị … »
Mắt họ trông đều hùm hụp, vẻ mặt thản nhiên. Họ là một bọn đã lăn lóc trong nghề. Đấy chỉ là lối nói giáo đầu và họ không tin tưởng một lời tôi nói nào. Họ đang đợi để nghe bản văn chính cống của những chỉ thị từ Hoa-
thịnh-đốn. Tôi nói một cách vắn tắt và khô khan.
«Tôi đến đây với tư cách công cụ của một chính sách đã được duyệt lại đối với chế độ miền Nam Việt-nam. Tôi được chỉ thị của Bộ Ngoại giao phải đưa ra những yêu sách rõ rệt sau đây: sự đàn áp Phật giáo và những biện pháp khống chế đối với sinh viên phải chấm dứt ngay. Phùng văn Cung phải nhượng bộ ở những điểm nào cần thiết để tái lập sự thống nhất chính trị và
quân sự trong chính phủ của ông ta. Ông Cung và các nhân viên chính phủ phải tử bỏ những chỉ trích công khai về chính sách của Hoa-kỳ từ đây về sau. Nếu ông ta không chịu làm như vậy, tôi có tham quyền đưa ra những trừng phạt ngay tức khắc: ngưng viện trợ và rút dần nhân viên quân sự của chúng ta, »
Quanh bàn hội nghị, mọi người bỗng xôn xao chú ý. Đại-tưóng Tolliver hỏi một câu cộc lốc:
« Nếu Cung không làm theo lời chúng ta bảo, các trừng phạt có được áp dụng khôug? »
« Đại-tướng có thể tin ở tôi rằng có. Trong vài ngày nữa. Đại tướng sẽ nhận được chỉ thị chi tiết của Ngũ-giác-đài về phương pháp áp dụng cho bất cứ cuộc rút lui nhân viên quân sự nào. »
Tolliver cám ơn tôi rồi ngồi im lặng. Là một quân nhân cẩn thận hắn đâu có chơi chính trị được với các tay nhà nghề. Hắn đã nói xong một phần của mình. Phần còn lại hãy để đó cho đến khi tôi thấy cần tới các quân nhân. Câu hỏi thứ hai của Mel Adams.
« Thưa ông Đại sứ, các yêu sách đó có được phổ biến công khai không? »
« Cái đó còn tùy kết quả cuộc hội kiến đầu tiên giữa tôi và Phùng văn Cung vào sáng mai. »
« Trong khi đó thì cho báo chí tin tức ra sao? »
« Hãy khoan cho họ tin tức cho đến khi tôi trình ủy-nhiệm-thư tại Phủ Tổng-thống. Ông đã dự trù tổ chức họp báo vào năm giờ chiều nay thì
phải. Tôi muốn hủy bỏ cuộc họp báo đó đi. »
« Như vậy chúng ta có cần phải giải thích không? »
« Có chứ. Ông cho họ biết rõ rằng đó là vì lý do ngoại giao. Tôi sẽ tiếp họ trong một cuộc họp báo đại qui mô vào hai giờ chiều mai. »
« … Nhân tiện nói về báo chí chắc rằng trước hết họ sẽ yêu cầu tôi bình luận về vụ nhà sư tự thiêu sáng nay. Trong lúc này tôi cũng chưa biết bình luận công khai ra sao. Tuy nhiên riêng đối với quí vị, tôi muốn nói một đôi lời. Tôi nghĩ rằng vụ này chứng tỏ các sự sắp đặt an ninh của chúng ta đã bị thất bại một cách thảm hại. Tôi muốn biết trách nhiệm về phần ai.»
Sau một im lặng ngắn ngủi, khó thở, Harry Yaffa trả lời tôi, mền như bún:
« Thưa ông Đại sứ, tôi đã điều tra về vụ này. Theo ý kiến tôi trách nhiệm hoàn toàn do phía người Việt phải chịu. Chúng tôi đã biết trước một việc như vậy sẽ xảy tới. Trong hai tuần qua, họ đều đồn ầm lên trong thành phố.
Chúng tôi đã thảo luận tỉ mỉ về sự sắp đặt an ninh với Phủ Tổng-thống, theo đó họ sẽ đặt một toán canh gác bốn người ở công chùa. Tôi có hai nhân viên ở phía bên kia đường … Năm phút trước khi xe ông tới, toán gác đã bị di chuyển đi chỗ khác. Một nhân viên của tôi tức khắc đi tìm người chỉ huy toán và trong khi họ còn đang cãi cọ với nhau thì nhà sư đã được đem ra ngoài … Sau đó đành chịu bó tay vì mọi việc xẩy ra nhanh qná».
«Thế còn nhân viên kia của ông đâu, ông Yaffa? »
«Hắn chỉ là an ninh chìm, không có thẩm quyền gì đối với cảnh sát và quân đội. Nếu hắn can thiệp, có thể gây ra rắc rối tệ hơn … »
«Bởi vậy nên vị Đại-sứ đã mất mặt ngay buồi sáng ngày ông đáo nhiệm sở và Phủ Tông thống cũng đã xác nhận thái độ cóc cần đối với Phật giáo. Như vậy có đúng không? »
Yaffa có vẻ hơi mỉm cười về sự giản lược của tôi. «Thưa ông Đại-sứ, sự thật thì rắc roi hơn thế. Phạt-giáo đã ghi được một thắng lợi cho riêng họ». Hắn lục tìm trong tập hồ sơ và rút ra một tài liệu đánh máy rồi chuyển từ tay nọ qua tay kia đến tôi. «Đây là bản dịch lá thư cuối cùng do nhà sư đã viết. Thư này được lưu hành trong các chùa chiền và Phật tử. »
Tôi đọc bản văn đánh máy trong im lặng trong khi cử tọa ngồi chờ. Đó là một tài liệu đáng lưu ý trong bất cứ hoàn cảnh nào: lời trối trăng cuối cùng của một người trước ngày tự nguyện từ giã cõi đời. Nó gợi cho tôi một nhà tu khổ hạnh cao niên, mỉm cười và trầm lặng, không chút cử động ngay cả khi lửa đang thiêu đốt. Mặc dù không muốn, tôi vẫn thấy cảm động vì sự nhiệt thành đơn giản của những lời nói cuối … «Trước khi nhắm mắt về cõi Phật, tôi kính dâng những lời nói cuối cùng này của tôi lên Tổng thống, xin ngài mở lòng nhân từ và hỉ xả cho đám dân của ngài và xin ngài thật lòng ban cho họ bình đẳng tôn giáo … »
Tôi đặt tờ giấy xuống bàn và lại đối diện với Yaffa: «Òng Yaffa, tài liệu này như dầu sôi lửa bỏng».
«Tôi xin đồng ý với ông», giọng hắn nghe trịnh trọng, cân nhắc, nhưng vẫn che dấu một nhạo báng. «Đồng thời nó cũng nêu lên một vấn đề mà người ta sớm muộn sẽ phải hỏi ông trong cuộc họp báo. Không biết Hoa-thịnh-đốn đã toan tính những hậu quả của việc đưa tối hậu thư cho Tổng thống Cung đến mức nào? »
Thế là vấn đề đã được đặt ra, trần truồng như một lưỡi dao trèn mặt bàn: một thách đố mà tôi cần phải chống trả. Không lẽ cái tên nhỏ thó lùn mập này lại là kẻ duy nhất dám có can đảm hay toan tính để đặt nó ra. Hay là đã có những bạn đồng sự nào của tôi âm mưu đưa hắn ra làm đại diện phát ngôn? Hay là hắn cũng đang thách đố cả họ nữa. dựa trên một quyền lực bí mật nào đó? Tôi cảm thấy mình như một người đang đứng trên mặt đất khô ráo bỗng dưng bị ai lôi kéo xuống một nơi sình lầy. Tôi bèn quyết định nhượng bộ một hai bước rồi xông vào trận chiến ngay trên phần đất của tôi.
«Ông Yaffa, Hoa-thịnh-đốn đã tính toán kỹ. Tuy nhiên, ông Bộ trưởng Ngoại giao có yêu cầu tôi đem ra trắc nghiệm với ý kiến của những vị ở tại chỗ. Bởi vậy, tôi xin lần lượt hỏi từng người một câu: quí vị cho rằng việc gì sẽ xy ra khi tôi đưa những yêu sách ra cho Phủ Tổng thống? »
Khi buổi họp chấm dứt, bỗng dưng tôi cảm thấy bị cô lập và bất lực. Đó là một cảm giác sợ hãi kỳ lạ, như thể chỉ mới một độ, tôi đã đi tới giới hạn cuối của những khả năng tinh thần cũng như thể chất của tôi. Tôi thấy mệt mỏi và già nua, óc phán đoán mờ mịt như mây che, ý chí yếu ớt. Tôi trách Raoul Festhammer đã đẩy tôi một cách quá dễ dàng vào ghế quan tòa. Tôi trách tôi đã nhớ đến nhà sư Muso Soseki và lời ông cảnh cáo tôi về sự thiếu sót riêng của tôi. Tòi trách các cộng sự viên của tôi, chỉ biết khoái trá vì những chia rẽ giữa người Việt nhưng chính họ lại chẳng đoàn kết gì với nhau. Tôi chẳng muốn gì hơn là từ bỏ mọi trách nhiệm và rút lui khỏi cái nơi đầy căng thẳng và nghịch cảnh này.
Sau phút kích thích mau lẹ và đầy nam tính của tôi khi nhập cuộc, giờ đây khác chi như sự ủ rũ sau hành động yêu đương. Thật đúng mà cũng chưa đúng hẳn, bởi vì dưới sự ủ rũ, tôi cảm thấy một nỗi kinh hoàng và nguy hiểm – một nỗi tuyệt vọng có thể một ngày kia đẩy tôi vào hành động để chấm dứt tấn hài kịch buồn thảm và bắt đầu lại. Mặc dù nhìn thấy rõ hình dạng của sự nguy hiểm, tôi phải xua đuổi nó đi bởi vì tôi còn phải cười và cám ơn các cộng sự viên của tôi để bế mạc buổi họp với sự lịch thiệp và với một bộ mặt tự tín. Chỉ còn thiếu hai tiếng đồng hồ nữa là tới bữa cơm tối, nên tôi bảo xe đưa tôi về ngay nhà. Groton sẽ đợi ở tòa Đại sứ cho đến khi đánh máy xong biện bản buổi họp, sau đó hắn sẽ mang đến cho tòi ngay. Mel Adams sẽ ăn cơm với chúng tôi và trình bầy cho tôi biết về hoạt động của tòa Đại sứ.
Lúc đó Yaffa bưởc tới và yêu cầu gặp riêng. tôi trong hai phút. Hắn có món quà tặng tôi: một khẩu súng lục tự động trong một bao da đeo vai mầu đen. Hắn yêu cầu tôi đeo khẩu súng ấy mỗi khi tối đi đâu, ban ngày cất nó trong ngăn kéo bàn giấy và khi ngủ cũng đeo nó theo dưới gối. Hắn cũng có lời khuyên nhủ tôi nữa: nào là không nên đứng gần các cửa sổ bỏ ngỏ, nào là đi đâu cũng phải có tên cận vệ mà hắn sẽ cung cấp. Tôi để ý nhìn vẻ mặt hắn xem có chút diều cợt nào không nhưng tuyệt nhiên không thấy. Những lời
cuối cùng của hắn thật lương thiện và cung kính:
« Thưa ông Đại sứ, về chuyện này, ông phải tin tôi. An ninh là nhiệm vụ của tòi. Sự an toàn của ông là trách nhiệm của tôi. Đây là một thành phố của
những kẻ sát nhân. Tôi xin ông làm theo lời tôi. »
Tôi cám ơn hắn và hứa sẽ làm theo. Đoạn hắn xin phép đi xe cùng với tôi đến nhà tôi để cho tôi biết một vài biện pháp cẩn mật mà hắn đã đặt ra để cho tôi được an toàn. Tôi chẳng lẽ chối từ, như vậy có vẻ bất lịch sự, vả lại tôi cũng thắc mắc vì sự thay đổi cá tính mau lẹ của hắn. Ở bàn hội nghị hắn đã bỡn cợt và quá khích một cách tế nhị, đúng là một kẻ chuyên gây mâu thuẫn. Mình hắn với tôi, hắn lại trở nên lịch thiệp và cung kính. Bộ tịch của hắn rơi mất như một mặt nạ và tòi đã thấy như Groton cũng đã từng thấy: một người hùng cho ta có những cảm giác kính nể hay bất tin cẩn … Trên đường về nhà trong buổi chiều nóng bức, uể oải, tòi đã được nghe một bản thuyết trình ngắn nhưng sâu sắc của Yaffa về thành phố Saigon.
« Trông cũng có một vẻ duyên dáng đấy chứ! Một sân khấu tỉnh lẻ Pháp với những kịch sĩ đóng trò người Á-đông, Nhưng tấm thảm kịch thì hoàn toàn Á-đông. Cứ trông bề ngoài thì chẳng bao giờ biết sự thật cả. Hãy xem đường này. Có ba cảnh-sát viên và bốn anh dân vệ, nhưng đã hết đâu. Cái tên đang đẩy kia là một nhân viên an ninh của ông Cung. Còn một tên nữa ở góc đẳng kia. Con mụ đàn bà đứng ở cửa sổ trên kia làm việc cho tôi …
Cái thành phố này bị kiểm soát chặt chẽ đến nỗi ông muốn đi ăn hay đi uống cũng không tránh đụng phải một tên cảnh sát mật vụ. Bề ngoài trông yên lặng như tờ, nhưng bên trong thì sôi sùng sục.
Cái thẳng đi xe đạp kia có thể là người của Việt cộng. Người tài xế taxi kia có thể đang dấu một trái lựu đạn dưới thùng ghế … Bằng cách này cách nọ, những đám người này đã liên tục sống với chiến tranh từ gần hai ngàn năm
nay. Họ là một giống ngưoi rất ranh mãnh và cũng rất cứng rắn nữa. Thật
đúng tre Việt với nước sơn mài Trung-hoa … và bên ngoài lại có thêm một lớp quang dầu Pháp nữa. Phía đằng kia là Chợ-lớn. thành phố Chệt.
Họ buôn bán, họ chăn nuôi, họ cho vay tiền để rồi chăn nuôi thêm nữa và âm thầm đợi ngày được chôn cất mồ mả tổ tiên. Họ có một người mà ông nên gặp một ngày nào đó công dân Trung quốc số một. Hắn là một người nổi tiếng nhưng ít khi có ai được gặp và không ai nói đến tên hắn. Hắn biết bảo đám dân của hắn im lặng, kiên nhẫn và nghe ngóng chiều gió.» Không chút đổi giọng, Yaffa nói thêm. «Đó là điều tôi mong ông Đại sứ làm. Ông hãy nghe ngóng chiều gió trong ít lâu. Nó có một thứ ngôn ngữ khác hẳn thứ ngôn ngữ ông đã nghe ở bàn hội nghị.» Trước khi tôi có thì giờ để trả lời thì hắn lại tiếp tục, «Vụ Phật giáo tự thiêu chỉ là bắt đầu. Có một chuyện quan trọng đang nẫy mầm, tôi cũng không biết chắc là chuyện gì. Nó có thể xẩy ra đêm nay. Nếu không đêm nay thì trong vòng vài ngày nữa. Tôi sẽ biết trước nửa giờ và báo cho ông hay».
Khi tôi nài ép hắn cho thêm chi tiết thì hắn lại nói mơ hồ. Tôi hơi bực mình và hắn cũng biết rõ điều ấy. Hắn nói một cách cương quyết:
«Thưa ông Đại sứ, chúng ta nên thẳng thắn đối với nhau. Chúng ta nên hiểu rõ nhiệm vụ của chúng ta. Ông là vị đại diện chính thức của Hoa kỳ. Còn tôi thì phải phục vụ theo một đường lối khác, như một kẻ đầu cơ chánh trị. Có những chuyện tôi phải làm mà chắc chắn ông Đại sứ không bao giờ có thể chấp thuận, bởi vậy tốt hơn là ông không nên biết tới. Tôi phải giết đàn ông
và mua chuộc đàn bà. Tôi phải gây mầm âm mưu này để bảo đảm cho sự thành công của âm mưu nọ. Tôi đề phòng sự thành công của ông cũng như sự kiện ông có thể thất bại. Nếu ông muốn cứu rỗi lương tâm của ông bằng cách bắt tôi nói dối tôi cũng có thể làm như vậy được. Tôi nói dối rất giỏi nhưng nếu không cần thì tôi không muốn nói dối. Tôi hy vọng là ông Đại sứ hiểu rõ tôi. »
«Rất rõ, trừ một điểm đặc biệt là lương tâm của anh nghĩ sao? »
«Đó là một việc xa xỉ, thưa ông. Đã từ lâu tôi biết tôi không thể có lương tâm được.»
Và câu chuyện riêng của chúng tôi dĩ nhiên chấm dứt ở đó. Chúng tôi đã về tới nhà, một biệt thự rộng lớn chung quanh có tường cao, trên tường có giây kẽm gai và những mảnh kinh vụn. Hai người lính Thủy quân lục chiến đứng gác ở ngoài cổng sắt. Phía trong lại có hai người nữa tuần tiễu. Bên trong cổng là một điếm canh nhỏ. Khi người tài xế bóp còi thì có một người lính Thủy quân lục chiến khác ra mở cổng và lính gác đứng nghiêm chào trong khi xe tiến vào nhà. Căn nhà trông rực rỡ mầu xứ nóng và nặng mùi hương hoa đại, nhưng so với sự ngăn nắp giản dị và có tính toán của cái khuê viên Nhật-bản mà tôi đã sống qua thì nơi này có vẻ kệch cỡm và mệt mỏi như một người đàn bà đẹp đã hết thời xuân sắc. Tòi không thấy căn nhà này muốn đón tiếp tôi, không có cả sự nghỉ ngơi cho mắt nhìn hay cho tinh thần nữa. Ở đây, tôi luôn luòn chỉ là một người khách qua đường. Chẳng có cái gì bắt tòi phải sống với cái bản ngã bí ẩn xâu xa nhất, cũng là của cải đích thực còn sót lại của tôi. Trong khi ấy thì Yaffa đã lên tiếng tóm tắt một lần cuối : «Nửa số gia nhân của ông Đại-sứ là người Mỹ – Cô Anne Beldon là thư ký rièng, ông Humphrey là quản gia – người tiểu bang Virginia thân thuộc và rất thạo việc. Còn bà Brendan coi việc nội trợ. Phần còn lại ông sẽ gặp mặt sau. Tất cả nhân viên nhà bếp, quét dọn và làm vườn đều là người Việt. Họ đều thuộc ba gia đình ở trong căn nhà phía sau biệt thự. Như vậy chúng ta có thể canh chừng họ và ngăn ngừa không cho ai đe dọa hay cám dỗ họ. Các buồng riêng của ông Đại-sứ đều nhìn xuống mé sông. Từ nơi đó chúng tôi đã kiểm soát xạ trường và việc chúng có thể bắn lén ông rất khó xẩy ra. Nhưng tôi xin ông Đại-sứ nhớ cho rằng bao giờ cơ hội đó cũng có thể xảy đến. Toàn thể tòa nhà này đều cỏ hệ thống báo động phòng gian và lính gác đã được tập dượt kỹ về an-ninh nhưng tôi không muốn phiền ông về chuyện ấy. Người cận vệ của ông là Bill Slavich, Hắn ta bắn rất giỏi và thạo võ Judo. Hắn ở ngay tại đây. Và bây giờ xin mời ông Đại sứ vào xem…)
Hắn bình thản dẫn tôi qna các nghi thức chào mừng và tôi hài lòng nhận thấy rằng Beldon tròng có vẻ đẹp và vui tính còn người cận vệ của tòi trông giống một sĩ quan tốt nghiệp WestPoint chư không phải một tên đô-vật mà tôi đã sợ gặp phải. Trong những vấn đề này, có lẽ tôi hơi kiếu cách nhưng tòi không ưa những kẻ làm chướng mắt thiên hạ và tự ái của tòi sẽ bị đụng chạm nếu tôi được hộ vệ bởi một người trông như tên anh chị.
Sau hết chỉ còn mình tôi trong căn phòng ngủ rộng rãi và thoáng khí, từ đó nhìn qua con song có thể thấy cánh đồng bằng xanh tươi của vùng châu thổ trải rộng ra trong ánh nắng cuối của buổi chiều, cánh đồng trông có vẻ yên lặng và đẹp một cách kỳ lạ mà cũng có vẻ không thực, như tấm phông vẽ hậu trường của một sân khấu vũ vậy. Thật khó mà tin rằng chỉ mới tuần trước cách đây có mười lăm cây số trong tầm mắt tôi hiện giờ, một trận đánh ác liệt đã xẩy ra, một trận đánh có cả gần ngàn người: Việt cộng, binh sĩ trong quân đội của Tông-thống Cung và nhân viên quân lực Hoa kỳ chúng ta nữa: Càng khó tin hơn vì chính ngay đêm nay khi bóng tối mau lẹ miền nhiệt đới rủ xuống thì Việt-cộng lại vẫn tung hoành, cướp bóc làng này hay làng nọ bên ven kinh, bắt dân chúng đóng góp gạo, gà vịt hay đạn dược và đe dọa gia đình này nọ phải theo chúng. Họ đã kể tôi nghe chuyện một sĩ quan Mỹ bị chúng nhốt vào cũi như con vật và mang đi từ làng này sang làng khác, mình trần như nhộng và mắt bịt kín để cho dân chúng chế riễu phỉ báng. Sáng ra, trên con kinh đào, ta có thể thấy xác một anh nông dân bướng bỉnh nổi lều bều, cuống họng bị cắt đứt hay một anh khác vắt vẻo trên hàng. cọc dậu tre, mồm nhét chặt dẻ và đang rên rỉ. Và trước khi mặt trời lên cao, trước khi máy bay trực thăng đến, Việt-cộng đã rút đi ẩn náu trong các ven rừng hay trà trộn với người đang mua bán ở chợ đầu làng.
Tôi lặng ngắm cảnh vật trong khi đêm xuống và một vài ánh sao yếu ớt lấp ló qua những khoảng trời trống mây, Đó là thời khắc buồn bã đối với tôi, thời khắc trì trệ, ngờ vực bất tín và sợ hãi đêm cô đơn sắp đến. Tôi xin thú nhận thẳng thắn rằng tôi là một người luôn luôn cần sống bên đàn bà và cho đến nay, nếu cuộc sống của tôi có vẻ đều đặn và có trật tự là chính vì tôi rất ý hợp tâm đầu với Gabrielle, vợ tôi. Sau khi nàng chết, tôi sống noi một thời gian là nhờ sự kiêu hãnh đã có một người vợ như nàng và nhờ sự kiêu ngạo khó tính làm cho tôi không lao mình vào những cuộc tình duyên bẩn thỉu và tạm bợ. Đến nay tôi thấy rõ rằng những thành trì đó đang dần dà tiêu tan và tôi thật sự lo âu không biết rằng mình tôi có thể chống đỡ nổi những sự nhọc nhằn nặng nề của chức vụ mới hay không.
Đã có hồi tôi tạm thấy vững mạnh trong kỷ luật khắc khổ của nhà sư Muso Soseki nhưng ngay đến sự an ủi ấy cũng không còn nữa. Giờ đây tôi không còn có thể tản bộ trong khu vườn Tenryuji huyền bí nữa mà phải bước vào những con đường nguy hiểm, chán chường với những đam mê của chính tôi cũng như chán chường sự mưu phản hay viên đạn của tên sát nhân.
Trong lúc cởi quần áo và tắm, tôi suy nghĩ về buổi họp ban chiều và cố gắng tìm trong mớ giày hổn độn của thảo luận một đầu mối có thể dẫn lối cho tôi trong lạc đồ trận để tìm đến con quái vật — nếu quả có con quái vật – nằm ở chính giữa. Nhưng mỗi đầu mối đều đưa tôi đến ngõ cụt rồi đứt quãng khiến tôi phải tìm lại lối bước đị và bắt đầu lại.
Đại-tướng Tolliver chẳng hạn, đã nhìn tình hình Việt Nam một cách đơn giản và chính xác. Đây là một cuộc chiến tranh ông phải đương đầu nhưng không thể thắng. Xong nhiệm vụ, ông sẽ được gắn thêm một ngôi sao và trao lại chính phủ Mỷ một đoàn cựu quân nhân có kinh nghiệm máu lửa. Tổn thất về phía Hoa-kỳ rất ít, có thể đánh đổi lấy kinh nghiệm chiến trường được, cũng hòa. Đối với Tolliver thì người Việt là một gánh nặng quân sự. Bộ Tổng-tư-lệnh của họ bị chia rẽ bởi những âm mưu chính trị. Sĩ quan cấp úy thì kém huấn luyện, binh sĩ chiến đấu thì thối chí và mất tinh thần. Tất cả chiến cuộc là một sự phí phạm đau thương về quân cụ, nhân lực và tinh thần chiến đấu. Mel Adams cũng bi quan không kém. Tình hình chính trị nát bấy như tương. Chính phủ Cung là một chính quyền độc tài đỗ nát, xây dựng trên đạo đức quan liêu, âm mưu sứ quân, mật vụ và Thièn Chúa giáo kiểu thời Pháp cổ. Chính Cung là một chính trị gia có khả năng, song ông đã để mất cảm tình của dân thành thị và thiếu cá tính để tập họp dân chúng thôn quê. Ông đã tự cô lập hóa và dùng bọn tay chân nịnh thần biện minh cho sự điên rồ quá lố của mình. Là một tín đồ Thiên Chúa giáo, chỉ biết có đấng Kitô, ông đã sử sự sai lầm đối với Phật tử, nhưng không thể nhận lỗi, vì sợ mất mặt. Cho nên ông đã áp dụng một đường lối đàn áp nguy hiểm và chiến thuật chia để trị. Tối hậu thư của tôi sẽ làm ông bất mãn. Nếu được ông tin cậy, tôi có thể góp phần nào để làm ông thay đổi. Bằng không, thì thây kệ, ông sẽ bị truất phế và thay thế.
Và chờ sẵn ngoài hành lang kia là Harry Yaffa với khí cụ thay thế đã làm sẵn. Các tướng lãnh đã chín mùi để nổi loạn. Họ chỉ đợi một dấu hiệu ưng thuận chắc chắn của Hoa-kỳ là sẽ quật ngã Cung nội trong một đêm. Chung lưng cộng sự với nhau, các tướng lãnh có thể đưa ra một chính quyền vững vàng có quân lực làm hậu thuẫn … Bởi vậy nên tối hậu thư của tôi cần phải được công bố ngay khi đưa ra cho Tổng thống. Lời lẽ phải được lựa sao cho các tướng lãnh hiểu ngầm là dấu hiệu ưng thuận kế hoạch của họ …
Nghĩ cho cùng thì ra có con quái vật đã nằm sẵn giữa trận đồ. Tên nó là Cung và để tập họp đất nước này, để thắng cuộc chiến tranh, tôi chỉ có
mỗi việc phải làm là để các tướng lãnh chặt đầu nó đi. Thật là vừa đơn giản vừa hấp dẫn một cách oai hùng như truyện thần tiên. Cũng như truyện
thần tiên, truyện đó cũng tạo ra vẻ sống thật của nó. Nhưng còn sự thật? Tolliver đã bảo tôi đi kiếm ở vùng sình lầy châu thổ. Muso Soseki đã
thôi thúc tôi đi tìm trong nội cảnh của sự vật. Nhà sư đã hỏi tôi: «Ông sẽ làm gì? Phải, ông sẽ làm gì khi họ yêu cầu ông giết con chim cu? »
Ý nghĩa câu hỏi đó nay tôi đã rõ nhưng còn cách trả lời thế nào thật còn mờ mịt. Tôi tắt đèn. bước đến cạnh cửa sổ và nhìn ra ngoài về phía những đồng ruộng tối xẫm của vùng châu thổ. Đó là nơi sẽ phán quyết những hành dộng của tôi, nơi có những lều tranh và trại trú quân giữa rừng. Sự vật đều có hai mặt: bề ngoài đơn giản và bên trong phức tạp. Ở nơi đó, người chủ làng là
ông hoàng, là vị tổng giám mục địa phận, là quan tòa tối thẩm Ở nơi đó người trưởng tộc duy trì sự thờ phụng và giữ gìn bàn thờ sạch sẽ. Ông trông nom mồ mả, viết gia phả và coi sóc tài sản bất khả xâm phạm của giòng họ. Ở nơi đó gia đình đã sinh sống qua ba đời dưới một mái nhà và mọi người đều chung sức kiếm ra tiền, gạo. Họ sống tập đoàn với nhau và ràng buộc với đất bởi một rễ chung như cây tre, và cũng như cây tre, họ đu đưa. họ uốn mình nhưng vẫn qua khỏi những trận bão ghê gớm nhất.
Họ là một dân tộc hiếu khách, nô lệ vì sự cung kính cổ xưa. Dù là thầy tu, sư sãi, nhà nho hay thầy cúng, họ vẫn cứ nghe, cứ đọc và mời dùng bữa. Và sau đó họ lại rút vào thế giới tâm linh, với những âm hồn lẫn quất, những ông thần giữ cây, giữ đá, giữ ao rau muống. Với họ, chẳng có con quái vật nào nằm giữa trận đồ cả, chỉ có một ông quan sống trong một dinh thự xa xôi trên Saigon, chỉ có những lời tuyên cáo in trên giấy phân phát để cho họ nhận một cách cung kính và cũng cung kính quên luôn trước khi mặt trời xế bóng. Hoặc giả có lẽ chúng tôi là những con quái vật cũng không chừng,
những quân man rợ da trắng cao lớn – mũi lõ, mắt xanh, không biết chút gì về ma quỷ nhưng chỉ biết bán rao thuốc bột, thuốc nước để tẩy giun sán
và súng ống để giết bà con họ. Có tiếng gõ cửa và George Groton bước vào
với tập biên bản buổi họp. Mặt hắn đỏ ửng và dáng điệu bối rối như cậu học trò. Sau phút đơn độc buồn thảm, nghe hắn sốt sắng nói thật vơi cả lòng.
« Thật như những chuyện giật gân họ vẫn thường viết nhưng nay không dám viết nữa vì chẳng ai tin họ cả. Trong khi chờ đợi đánh tập biên bản, tôi đã đến Caravelle uống ly rượu. Gần tưởng chắc sẽ gặp bố già Hemingway vắt vẻo trên ghế cao trong bộ chiến phục. Các phóng viên xì xào với nhau trong các góc phòng và gọi những cú điện thoại bí hiểm bằng tiếng Tây bồi. Có người lỡ tay đánh rơi chai Soda ngoài hành lang và hai người Việt ngồi trong góc vội móc súng ra. Rồi mọi người đều cười lên hô hố, vẽ mặt bẽn lẽn như cừu non … Hình như có chuyện gì quan trọng. đang nẩy mầm trong thành phố nhưng không. có ai muốn nói ra là cái gì. Bồ ruột của Harry Yaffa cũng đến sau tôi và hắn cố ép tôi nói về ông và ý kiến của ông. Tôi bảo hắn tôi chỉ là liên lạc viên. À, tôi mới gặp cô bí thư của ông. ở dưới nhà. Cô trông thật xinh đẹp». Hắn đỏ mặt và trông có vẽ thẹn thùng. «Xin lỗi ông. Có lẽ tôi hơi quá lời. Nhưng ảnh hưởng nơi này là như vậy. Chẳng khác gì tiêm thuốc kích thích.»
Rồi chúng tôi cùng cười và tôi hỏi hắn: «Thế người của Harry Yaffa có đưa cho anh cây súng. nữa không? »
« Thưa ông không. Nhưng hắn cho tôi biết những quán rượu khá nhất ở đây và hắn nói nếu muốn ngũ với gái điếm địa phương, tôi phải mặc áo giáp ngăn đạn.»
«Thẳng cha thật là thóng minh».
«Hắn giải thích rõ ràng lắm. Chúng mình đều là những cây chổi mới. Họ trông đợi mình quétsạch sự bê bối cũ và dọn một nơi sạch sẽ tươm tất
cho mọi người ». Groton nói một cách khô khan. «Nếu ông Đại-sứ chịu choi với C.I.A … thì mọi khó khăn của chúng ta sẽ hết ngay … Tôi quên, Mel Adams cũng nhờ tôi chuyển lời cho ông. Hắn muốn mời một quan khách dùng cơm Đức Khâm Mạng Tòa Thánh. Vị này được triệu tập về La-mã
để báo cáo tình hình cho bộ Ngoại giao Tòa Thánh và sẽ rời Saigon sáng mai. Adams cho rằng tiếp chuyện ông ta có thể giúp ông chuẩn bị chu đáo
cho cuộc gặp gỡ với Cung … Adams dễ thương thật. Hắn đã thoát khỏi và không bị dấu vết gì. Dường như hắn là người không dễ cuồng trí».
Chúng tôi nói chuyện với nhau gióng một như vậy trong lúc tôi mặc quần áo. Một lần nữa, sự tương phản giữa cái nhiệt thành của tuổi trẻ và cái trực giác mau lẹ, sắc bén nơi Groton làm tôi mến phục. Hắn cũng có một ý thức tự nhiên về tôn ty trật tự nữa. Hắn không hề đi qua trớn trong những cuộc trao đổi tình tự thân mật với tôi và khi có người khác, hắn bao giờ cũng xử sự một cách nhũn nhặn và có lễ độ. Tôi hy vọng đề trả ơn hắn, tôi sẽ đem lại cho hắn cả cái tài sản kinh nghiệm trong ngành. Khi chúng tôi xuống nhà dùng cơm thì thấy Mel Adams và một người Ý nhỏ nhắn mặt nhẵn bóng trong bộ áo thầy tu.
Adams giới thiệu ông ta là ngài Tổng Giám Mục Angelo Visconti, Khâm Mạng Tòa Thánh tại Việt Nam Cộng Hòa. Ông quả là một vị khách lý tưởng, khôn ngoan và nói tiếng Anh bóng bẩy một cách khác lạ. Một nhà ngoại giao thập toàn của đạo giáo, biết chắc chắn rằng hấp tấp chẳng giải quyết gì được những vấn đề khẩn cấp và cuộc hội đàm khôn ngoan nhất bao giờ cũng là những bữa ăn. Ông ta có rất nhiều mẫu chuyện lý thú của các nước và đã diễn cho chúng tôi một vở hài kịch lịch lãm. Thật là nhẹ nhõm sau những căng thẳng trong ngày. Sau đó ông chờ đợi những câu hỏi của tôi. Tôi hỏi những câu sỗ sàng nhưng ông đều trả lời với sự chính xác thần học. Tôi có ghi lại cuộc đối thoại của chúng tôi trong nhật ký chép trong thời kỳ ấy:
«Thưa ngài, Giáo hội Thiên Chúa giáo miền Nam Việt Nam phải chịu trách nhiệm đến mức nào về những hành vi đàn áp và hung bạo chống những Phật tử gồm tám mươi phầm trăm dân chúng?
«Đức Tổng Giám-Mục địa phận Huế và Tổng Thống, hai anh em thân thuộc nhau phải trực tiếp trách nhiệm. Ngài Tổng Giảm Mục đã có hành vi điên rồ không tin nổi là đã buộc chính phủ cấm treo cờ trong ngày Phật đản. Thế là
những cuộc nổi loạn xẩy ra. Chín người bị cảnh sát giết hại. Cả hai vị, ngài Tổng Giám Mục cũng như Tổng Thống đều giữ thái độ ngoan cố. Lại thêm rối loạn, lại thêm bắt bớ. Và giờ đây, đã có những người Phật tử tử đạo; tuy nhiên, Tòa Thánh Vaticản và Giáo-hội Thiên Chúa giáo miền Nam Việt nam rõ ràng là không dính dáng gì đến những biện pháp đàn áp ấy. Sự tách biệt đó đã được công bố bằng một bức thư luân lưu của Đức Tổng Giám mục Saigon và cũng trong một bức thư nữa, do Đức Giáo hoàng Paul Đệ Lục trực tiếp viết gửi đi. Bỏ ra ngoài một vài thái độ địa phương tính trong một vài tỉnh của đám chức mục hàng dưới ở miền quê, tôi có thể nói rõ rằng đại đa số tin đồ Thiên Chúa giáo đều bất mãn và chống đối những biện pháp đàn áp của chế độ. Tuy vậy, ông tiếp lời mau lẹ, «Phật tử cũng chẳng phải toàn là thánh thiện. Nơi họ có một nguồn bạo lực ngầm có thể dẫn tới rắc rối nhiều hơn về sau này».
«Xin ngài cho biết về tình trạng giáo hội Thiên Chúa giảo ở miền Nam Việt-Nam? »
«Trong giáo dân, có một đức tin sàu xa và sống động. Tuy nhiên việc giáo dục trong hàng giáo phẩm thì lại yếu kém và cần phải cải cách. Giáo quyền đã bị lung lay do thái độ ngoan cố của Đức Tổng Giám-mục Huế đối với Tòa thánh».
«Thế nhưng Tổng thống Cung vẫn cho mình là một giáo dân tốt và các chính sách của òng đều được dựa trên cái gọi là chủ nghĩa Nhân vị. Mà chủ nghĩa này về mặt thực hành vốn đả kích tận nền tảng của tự do cá nhân trong khi vẫn chủ trương khai triển tự do đó theo đường lối Ki tô giáo».
Nghe tôi nói vày, ngài Tổng Giám-mục cả cười và phác họa một cử chỉ chịu thua theo kiểu người dàn La-mã.
«Cái khẩu hiệu đẹp đẽ nhất của người Pháp đã đưa ra là «Tự do, bình đẳng, huynh đệ». Thật là một lời nói dối vẻ vang! Nhưng còn việc muốn thống nhất đất nước bằng một chủ đề triết học mà lại là một chủ đề khó hiểu nữa thì quả là chuyện tào lao. Trong phúc trình mới đây, tôi đã chơi chữ, ví ông Cung như «Khang, Siêu và chủ nghĩa quan liêu» (1), e rằng ngài Bộ-trưởng Ngoại giao không hiểu tôi nói gì. Sự thật thì Tổng-thống Cung là một tín đồ Ki-tô của thời Trung cổ. Thái độ của ông là thái độ một ông quan cai trị dân một cách độc tài và độc đoán. Về bản chất ông ta Mác-xít trăm phần trăm. Cứ theo cách tổ chức hiện giờ đất nước này có thể trở nên Mác-xit nội trong một đêm. Chỉ việc thay cờ là xong.»
«Làm sao mà nước này trở thành Mác-xít chóng vậy? »
«Bởi vì tất cả guồng máy kiểm soát chính trị độc tài đã có sẳn. Chẳng hạn như ấp chiến lược, được tổ chức ở thôn quê hiện nay thì nhẳm mục tiêu quân sự, nhưng cũng nhằm cả mục tiêu chính trị. Mọi người trong gia đình của mỗi ấp được kiểm tra tên tuổi, nghề nghiệp và nhân dạng. Toàn thể
——————————————————————————————-
(1) Nguyên văn: Mritain and Mandarinism!
đất nước, đặc biệt trừ các đô thị, đều được công an mật vụ kiểm soát thường xuyèn. Tổ chức này cũng giống như Gau của Phát-xít hay hệ thống «tổ» của Mác-xit. Ngài muốn xử dụng nó theo chiều hướng nào tùy ý».
Câu trả lời nay khiến tôi nhớ ngay đến Harry Yaffa, con người cơ hội chủ nghĩa đã tự thú ra miệng. Cả hắn nữa, cũng có thể xử dụng bất cứ hệ thống tổ chức hay thời cơ nào vào những mục đích mâu thuẫn khác nhau. Tôi cảm thấy không tiện bình luận về tổ chức ấp theo lối tiểu tổ vì người Mỹ chúng tôi cũng đã dự phần vào đó, nên tôi hỏi một câu ít chính trị hơn.
«Theo ý ngài thì hiểm họa lớn nhất đối với Kitô giáo ở đất nước này là cái
gì?»
«Tôi thấy mối nguy cơ đang bành trướng cho tất cà dân chúng, cả tín đồ Thiên Chúa lẫn Phật tử. Trước hết có sự căm hờn nơi những người sống dười áp chế mà không được tự do nói lên nỗi thống khổ của mình. Bởi vậy họ trở nên bất mẫn một cách tiêu cực. Rốt cuộc có thể chính họ bị xô đẩy vào một tình trạng tiến thối lưỡng nan tuyệt vọng vì họ cho rằng không còn quyền lựa chọn giữa một chế độ cực hữu và một chế độ cực tả nữa».
«Vậy Giáo hội tính giải quyết tình trạng ấy ra sao? »
«Chúng tôi đang bắt đầu mở một chiến dịch đào sâu sinh hoạt tinh thần của giáo dân, cải tiến giáo dục chức phẩm và tách rời Giáo hội khỏi chính trị bè phái. Trong khi đó cá nhân vẫn được tự do lựa chọn làm chính trị một cách chính đáng. Bổn phận chúng tôi là phát cho giáo dân phương tiện để tồn tại như một thực thể tinh thần, mặc dù những biến cố chính trị hay quân sự».
Mặc dầu hiểu rõ quan điểm của ông, nhưng dẫu sao, là kẻ không có một niềm tin nhất định, tôi cứ có khuynh hướng xem quan điểm ấy với một chút nghi ky hỗn sược. Tôi không tin tưởng rằng những nhóm thiểu số giáo dân Ki-tô có thể sống nổi ở vùng Đông Nam Á này dưới một chế độ thù nghịch, cũng như họ không thể sống nổi được ở Trung Hoa. Tuy vậy, tôi vẫn nóng lòng chờ xem một người dân La Mã biết nhìn xa trông rộng sẽ phê phán các lý lẽ ấy ra sao.
«Ngài có đủ thì giờ thi hành các sự cải cách Giáo-hội và đào sâu cuộc sinh hoạt tinh thần của giáo dân như ngài mong muốn không? Thực ra thì ngài có thể duy trì được chỗ đứng cuối cùng này của Giáo hội ở miền Đông Nam Á không?»
«Đứng trên quan điểm nhân loại, thật khó mà nói. Đây là Á-châu chứ không phải Âu-châu. Ở đây là còn nhiều ngu si, dốt nát và mê tín nhàm nhí. Giáo-dục là đặc quyền của một thiểu số và họ đôi khi xử dụng giáo-dục một cách sai lầm.
Rốt cuộc chúng tôi chỉ còn tin vào Phúc âm và phép mầu của Đức Chúa Trời».
Vẻ mặt ông sa xuống và ông nói tiếp một cách buồn rầu.
«Tôi dã bị thất vọng, điều tôi không muốn dấu, Nhưng gần đây tòi đã thấy bắt đầu nhen nhúm một phép lạ dường như lại xây đến với Giáo-hội: ấy là sự tồn tại của một niềm tin sáng suốt và sống động nơi đám dân tầm thường, vượt qua khỏi những lỗi lầm của những kẻ cai trị họ. »
Ý ông muốn nói rằng những phép lạ như vậy đôi khi chỉ là những ảo tưởng được tạo ra để an ủi những kẻ tuyệt vọng. Mặt khác, Angel Visconti tin tưởng vững chắc vào siêu nhiên, điều mà tôi vẫn mong đợi. Nhưng tôi là cái thá gì mà lại đi nói nghịch lại điều mà tôi không thể chứng minh ngược lại được? Có lẽ chở xem niềm tin của ông được chuyển sang hành động ra sao có phần hữu ích hơn nên tôi hỏi lại:
«Vậy Giáo hội có đang xúc tiến việc gì để tái lập và phát triển liên lạc với Phật giáo trong tinh thần bác ái Kitô và Phong trào Còng đồng không? »
«Chúng tôi có một vài vị linh mục trong lúc này đang duy trì liên lạc với Phật-giáo và cố gắng thực hiện điều mà ngài vừa ngỏ ý … Ngài nên hiểu
rằng mặc dầu hành động của một vài cá nhân trong Giáo hội có thể đôi khi làm tổn thương danh dự của Giáo hội, nhưng Giáo hội tự nó và bản chất của nó không hề mất danh dự. Sự khẳng định tối hậu của chúng tôi bao giờ cũng là một sự khẳng quyết của tình huynh đệ và lòng bác ái Kitô. »
Câu hỏi tiếp theo của tôi có lẽ hơi khiếm nhã nhưng quan trọng đối với tôi vì tôi muốn biết vị Tổng Thống Thiên Chúa giáo nghĩ sao về sự khẳng quyết của niềm tin ấy.
« Có nhiều tin đồn trong thành phố là một số sinh viên bị bỏ tù và cả nam lẫn nữ đều bị tra tấn, Ngài có tin những lời đồn ấy không? »
«Thật bất hạnh cho tôi buộc phải tin rằng một vài tin đồn ấy đúng với sự thật. Tôi tin rằng gần đây sẽ còn nhiều vụ bắt bớ nữa».
«Ngài có tường trình với Phủ Tổng Thống về việc này không? »
«Tòi đã tường trình nhiều lần nhưng không thể thay đổi được tư tưởng họ » và ông bổng ngừng lại ở điểm này, tôi còn nhớ rõ. Ông cầm ly rượu nhấm nháp và có vẻ cân nhắc những lời lẽ sắp nói một cách thật thận trọng. Đoạn ông mỉm cười và phác họa một cử chỉ phản đối:
«Điều tôi sắp phải nói ra đây có vẻ mâu thuẫn với tất cả những gì tôi vừa nói với ngài nhưng ngài nên biết vì nó rất quan trọng. Nếu công bằng đối với Tổng-thống Cung, thì tôi phải nói rằng, nếu ai yêu cầu tôi phê phán ông theo lương tri riêng của ông ta thì tôi phải công nhận ông có lẽ là người có niềm tin tốt. Vâng phải, người ta quả có mù quáng. Vâng, ông ta bướng bỉnh và bị khuyến cáo sai lầm. Nhưng ông ta đã nổi bật là một vị cứu tinh của đất nước này trong lúc đang chìm đắm trong sự chán chường và thối nát. Tôi nghĩ rẳng lúc này ông đang biện minh những lỗi lầm hiện tại bằng những vinh quang trong quá khứ. Nhưng đó là một sự nhầm lẫn mà chúng ta ai cũng có thể mắc phải và đôi khi còn tin tưởng mãnh liệt là khác nữa. Có lẽ là một trạng thái kỳ lạ nhưng dẫu cũng là sự thật theo ý tôi. Và tôi cũng muốn nói thêm điều này nữa … »
Tôi không bao giờ nghe được điều ông muốn nói thêm đó vì lúc ấy có người kêu tôi ra điện thoại. Harry Yaffa có tin tức muốn cho tôi biết.
«Thưa ông Đại sứ. việc đã xẩy ra rồi. Quân đội ông Cung đã tiến đến tấn công các chùa chiền. Xin ông đến ngay tòa Đại sứ».
Tôi nhìn đồng hồ tay. Lúc đó là mười hai giờ mười lăm phút. Và khi tôi đặt ống nghe xuống, tôi nghe thấy từ xa xôi nhưng rõ ràng tiếng cồng vang dội.

Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.