This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Nếu anh có một gia đình êm ấm, đồng lương ổn dịnh, sức khỏe tốt, không có tham vọng thay đổi cuộc sống để lảm giàu, cũng không có điều gì lo sợ, tôi nghĩ anh không bao giờ cần phải xin một cái hẹn với nhà tướng số hay gõ cửa nhà một bà bói bài tây hay bài Taro. Con người ta thưởng yếu đuối không tin ở mình hay không tin số mệnh đã dành cho mình, phải tựa vai bà bói bài hay đưa tay cho ông chấm tử vi dẫn dường mới chịu yên tâm. Có những thầy bói ngồi ở gốc cây đa, bến đò, cồng chùa nhưng cũng có những nhà tướng số tiếp khách trong những ngôi nhà lộng lẫy. Tuỳ theo vị trí của thầy, khách xem có thể là anh chàng cùng đinh, mà cũng co thể là một viên tướng lãnh hay ông đầu tỉnh. Ngày xưa, dân gian đã mỉa mai nghề bói toán qua những câu ca dao:
“Số cô không giàu thì nghèo
Ngày ba mươi Tết thịt treo trong nhà.
Số có có mẹ có cha,
Mẹ cô đàn bà, cha cô đàn ông.
Số có có vợ có chồng
Sinh cơn đầu lòng không gái thì trai.”
Tuy vậy, Việt Nam trong vòng nửa thế kỷ nay đầy rẫy những tai ương, chết chóc, chia lìa, tù dày, phiêu bạt, đôi khi đêm nay ngủ không biết số phận ngày mai của mình ra sao, nên con người yếu đuối phải nhờ đến một nhà tiên tri đọc được những vì sao trên trởi hay những con bài quái dị, những con bích, chuồn, rô, cơ … số phậnđời mình. Nếu nói rằng miền Nam trước tháng 4-1975 là vùng đất có nhiều thầy bói nhất thì cũng không sai. Sau thời gian này, dù nghề bói toán không thể công khai, nhưng còn phát triển gấp bội. vì nghề này đã có thêm nhiều thân chủ mới. Khi anh chi có đôi dép râu, cái nón cối, cái xắc cột, miếng vải dù, cái chén nhôm và đôi đũa, thì chẳng cần coi bói lảm gì, vì quá khứ, vị lai thi cũng ngần chừng dó. Nhưng khi anh cướp được chính quyền, có nhà đất, có của cải, địa vị, cần thăng quan tiến chức, cần mưu đồ chuyện tương lai, thì phái nhờ đến những vị cố vấn dường phố xem đến tử vi, bàn tay, thậm chí đến mồ mã của ông cha anh.
Tháng 4 năm 1975, sau khi cộng sản vào Saigon, không gia đình nào ở miền Nam không chịu cảnh ly tán, tù đày, mất mát. Gần như một trăm bà vợ có chồng đi tù thì có đến chín mươi chín bả đi gặp thầy bói toán, hoặc là ông thầy mù xủ quẻ dịch, boặc là cô xem chỉ tay, hay bà bói bải, với duy nhất một câu hói: “Bao giờ thì chồng tôi được về hả thầy?
Nếu thầy hiểu bài bản của nhà tù tập trung của cộng sản và trả lời theo bải học tập lên lớp, thì câu trả lời là:
“Bao giờ ông nhà học tập tốt, lao động tốt thì sẽ được Cách Mạng khoan hồng cho về sum họp với gia đình!”
Nhưng dủ thầy có học hành đôi chút, hay bà bói bài mù chữ ở cạnh Lăng Ông, chưa hề một ngày sống với cộng sản, chẳng hiếu cộng sản là gì, thì câu trả lời ăn tiền chung chung để cho người xem nuôi hy vong, vẫn là mùa Xuân. mùa Hạ, Thu nảy, Đông tới … hay đến trăng tròn, trăng khuyết. Nếu thầy thật giỏi, nói như dóng đinh vảo cột là “mười bảy năm nữa, may ra ông nhà mới có ngày ra tù … ” thì Thầy sẽ không có tiền mua gạo, mà mang thêm tội khi người vợ tù tuyệt vọng đi tìm cái chết, Làm sao một người đàn bà yếu đuối có thể vượt qua sự sợ hãi, khi nghĩ đến tương lai mở mịt, phải nuôi bầy con dại, trong một xã hội bất an, cướp bóc, nghèo đói, kỳ thị như thế để chờ chồng mười bảy năm dài. Nếu ngày ra tù, anh còn được gặp vợ con, gia đình nguyen vẹn, thì anh cũng nên cám ơn ông thầy bói, không có thầy sò mu rùa, phán là anh sẽ về trong cuối năm nay, làm sao chị còn hy vọng mà sống. Cuối năm anh không về, chị lại tim một bà thầy khác gieo quẻ bảo mùa Hạ sang năm, Tỉnh cờ anh ra tù đúng lời thẩy thì cũng tốt, không thì cũng chẳng sao. Cơm áo cũng cần, nhưng hy vọng lại cần hơn. Tuyệt vong làm cho con người ta héo hon, đau khổ.
Sau năm 1975, khi “cái cột đèn có chân cũng vượt biên,” thì gia đình nào có chút tiền cũng muốn tìm cách ra đi. Nhưng biết tin ai bây giờ trước một quyết định một sống, hai chết. Chuyến này, tuổi này, thời gian này đi có an toàn không? Đó là câu hỏi được mọi người lén lút nhờ thầy. sau khi tinh toán, gieo quẻ, mở lời khuyên giúp. Ông chủ ghe, dù đã tính toán, mua bãi, đút lót công an, đã chọn một đêm tối trời cũng không quyết định được thắng bại, huống chi ông thầy bá vơ, mà thời gian tranh tối tranh sáng này, đua nhau mở cửa hàng bói toán. Chuyến đi thành công tốt đẹp, năm mười ngày sau có “mật mã” đem về thì nhất định thầy được thường mà tiềng đồn cũng lan xa, nhưng nếu chẳng may chuyến đi bị bể, tiền mất tật mang, phải vảo nhà tủ, thi không có lẽ đi “níu áo” bắt dền ông thầy.
Vào thời gian chuyện vuợt biên lên cao điểm, tôi biết một người thanh niên trẻ tuổi không có tiền nhưng muốn tìm đường vượt biển, anh ta bèn chuyển nghề coi bói, mà là sở trường coi bói chuyện vượt biên. Một ông chủ ghe đến tìm thầy, nghe thầy tán tụng tuổi và vận hạn của mình, tháng năm, địa điểm xuất phát dều hanh thông, có “quý nhơn phò trợ” thì mừng rơn, giữ cho thầy một chổ ra đi khỏi mất tiền. Tôi thực không biết giờ này thầy ở đâu, chết hay sống? Đánh đúng tâm lý người đời, hy vọng giờ này, còn sống ở đâu đó trên dất người, ông thấy bói trẻ tuổi năm xưa cũng đã có một đời sống tươm tất. Thầy càng giỏi khoa tâm lý chừng nào, càng đông than chủ từng đó. Thầy biết khai thác như khai thác tin tức tình báo, mới vào đầu câu chuyện, khách dã bày tỏ hết chuyện mình, thì lời khuyên hay câu giải đáp của thầy không còn là chuyện khó khăn.
Đưa chồng con ra biển rồi thì lo lắng, pha lẫn niềm hy vọng chờ tin vui. Thời gian kéo dài thêm nữa thì bồn chồn, lo sợ, đành gỏ cữa nhờ thầy. Trăm thầy bà coi bói, không có ông bà nào dám nói chuyện xui xèo, cho là người ra đi gặp nạn, mà dùng những đáp số chung chung, người ngoài cuộc thì cho là vô lý, nhưng người trong cuộc, vì sống nhờ hy vọng, nên vẫn tin lời thầy. Đó là “gian nan nhưng đến nơi dến chốn, chậm vì trở ngại nhưng sẽ có tin về. ” Bản thận người viết bải này, sau khi con ra đi, ngoài việc cầu nguyện, còn tìm đến quý ông bà xem từ vi, bói bài, gieo quẻ, coi chỉ tay … nhớ lại mình đã gỏ cửa không dưới mười lăm người, nhưng chưa hề nghe ai nói đúng một câu. Những người nhận đuợc mật mã của thân nhân chắc chắn sẽ có quà hậu hỹ cho thầy, nhưng những gia dình có người mất tích, tháng ngày biền biệt, tuyệt vọng, đâu cỏn bụng dạ nào trở lại nhà thầy để nói một đôi câu trách móc.
Trở lại câu chuyện ngày xưa, cũng vì chuyện thích “coi bói” của dân chúng, quan chức miền Nam, nên chắc chắn là cộng sản đã đào tạo một đội ngũ tình báo qua mạng lưới thầy bói, từ vi thâm nhập, tiếp cận ngay cả những viên chức cao cấp trong chinh quyền. Có những ông thầy bói dược trực thăng chờ từ Đà Lạt về “dinh.” Không ít những ông tư lệnh cầm quân, trước khi đi đánh trận, hỏi thẩy đi hướng nào tốt, ngày lành tháng tốt ra sao. Ở cấp chỉ huy nhò hơn, cấp quận, tỉnh cũng thường xuyên lui tới lấy lời cố vấn của thầy, đổi lại là số mạng của bao nhiêu binh sĩ! Không biết sau này, trong đám bói toán này, có ai được đảng phong tặng danh hiệu “Thầy Bói Anh Hùng” hay “Thầy Bói Nhân Dân” chưa, những lực lượng thầy bói này đã góp công vào việc tan rã của miền Nam không phải là ít. Nhiều người có cá tính mạnh mẽ, tự tin nhưng cũng có người yếu duối, không nghị lực cần nương tựa vào người khác, mà thẩy bói toán là một ưrong những người họ muốn tìm đến. Tôi thường không thích và không hề tin chuyện bói toán, nhưng đã nhiều lần gỏ cửa họ, không phải vì mình mà vì lo cho người khác hay đi tìm sự yên tâm cho gia đình. Lũ trẻ ngày nay, nhất là những em lớn lên trên đất Mỹ, chắc không hề biểt đến chuyện bói toán mà cũng chẳng bao giờ cần đến chuyện này. Đất nước chúng ta đã khổ vì chuyện bói toán quá nhiều rồi! Trong các chuyện bói toán, bói Kiều là chuyện bói khá tao nhã, mà các cụ văn nhân ngày xưa, khi gặp gỡ nhau, nhân chuyện thắc mắc, khó xử vẫn cầu dến “Vua Từ Hải, Vãi Giác Duyên, Tiên Thuý Kiều,.” cố vấn. Trong nghịch cảnh của gia đình Vương Viên Ngoại, tiếp đến cuộc đời mười năm lưu lạc của nàng Kiều, trong 3,254 câu thơ của Nguyễn Du đã mô tả biết bao nhiêu thăng trầm, hoạn nạn rồi vinh quang, chia ly rồi kết hợp, câu nào trong chuyện Kiểu cũng có thể đúng với hoàn cảnh riêng biệt của chúng ta, nên người bói Kiều rất dễ tin tưởng.
Ngày xưa thời ở Trung học, lo lắng trước kỳ thi. bắt chước bạn bẻ, tôi lấy tập Kiều của hai ông Bùi Ký và Trần Trọng Kim (hiệu đính) ra, bằng hai tay, trân trọng nâng cuốn Kiều lên ngang chân mày, lâm râm khẩn vái, mở cuốn Kiều ra đặt một ngón tay vào giữa trang sách. Hai câu thơ cô Kiều “ban” cho tôi là:
Sài Gòn thất thủ ngày 30 tháng 4 năm 1975, khiến nhiều người Việt Nam phần đông là Quân, Cán, Chính Việt Nam Cộng Hoà phải rời khỏi Việt Nam và đã được chính phủ Hoa Kỳ giúp di tản, sau đó họ được tái định cư tại Hoa Kỳ. Tiếp theo là những đợt thuyền nhân tị nạn vượt biên thoát khỏi Việt Nam bằng đường biển, từ đó đến nay có trên 2,2 triêu người Việt sinh sống tại khắp các tiểu bang và lãnh thổ Hoa Kỳ. Từ những Cộng đồng người Việt lớn mạnh và phát triễn, nhiều nam nữ thanh niên người Việt đã gia nhập và phục vụ trong Quân đội Hoa Kỳ, tuy chưa có thống kê chính thức, nhưng ước đoán có thể có trên 10000 quân nhân gốc Việt đang phục vụ và chiến đấu trong Quân đội hiện đại và hùng mạnh hàng đầu thế giới, họ mang cấp bậc từ Binh sĩ, Hạ sĩ quan, Sĩ quan lên đến cấp Tướng.
Riêng Quân nhân gốc Việt phục vụ trong Hải quân Hoa Kỳ có thể lên đến vài ngàn, tương đương với số Quân nhân gốc Việt phục vụ trong Quân chủng Không quân, nhưng ít hơn một chút so với Quân chủng Lục quân. Họ mang cấp bậc từ Thuỷ thủ lên đến Phó Đề đốc phục vụ các ngành tác chiến, yểm trợ và chuyên môn trong Quân chủng Hải quân Hoa Kỳ. Riêng ngành tàu ngầm, Sĩ quan gốc Việt phục vụ trong Lực lượng tàu ngầm, Hạm đội Đại Tây Dương (COMSUBLANT) và Lực lượng tàu ngầm, Hạm đội Thái Bình Dương (COMSUBPAC) được ghi nhận qua các tài liệu tổng hợp sau đây:
HQ Trung tá Henry Tran (hình của linkedin.com).
HQ Trung tá Henry Tran, nguyên là Sĩ quan tàu ngầm chiến lược hạt nhân USS PENNSYLVANIA SSBN-735 Blue, từ tháng 5 năm 2009 đến tháng 4 năm 2012. Ông hiện là Giám đốc Chương trình trừ bị (RPD) của Liên đoàn 9 và Liên đoàn 10 tàu ngầm (SUBGRU 9/10). Ông giữ vai trò là Sĩ quan liên lạc chính, cung cấp Sĩ quan chỉ huy, lập kế hoạch chiến lược và hỗ trợ hoạt động cho các đơn vị Hải quân trừ bị cho cả hai Bộ chỉ huy Liên đoàn 9 và 10 tàu ngầm.
***
HQ Đại uý Chris Huynh (hình của .linkedin.com).
HQ Đại uý Chris Huynh, Sĩ quan tàu ngầm tấn công hạt nhân USS ANNAPOLIS (SSN-760) từ tháng 1 năm 2018 đến tháng 5 năm 2020. Hiện là Sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ phục vụ tại Washington.
*
Tuan Phan, Sĩ quan* tàu ngầm từ năm 2014 đến năm 2017. Nay là Sĩ quan tuyển mộ Hải quân tại Los Angeles
*
Nguyen Pham (hình của linkedin.com).
Nguyen Pham, Sĩ quan* tàu ngầm (kế hoạch hành quân) từ năm 2004 đến năm 2014. Hiện là Chỉ huy phó Feb 2023 – Trung tâm huấn luyện chiến đấu viễn chinh – Tiểu đoàn Bravo.
*
HQ Đại uý Ben Đang (hình của linkedin.com).
HQ Đại uý Ben Đang, Sĩ quan tàu ngầm tấn công hạt nhân USS Santa Fe (SSN 763).
*
HQ Trung uý Clifford Vuong (hình của linkedin.com).
HQ Trung uý Clifford Vuong, Sĩ quan tau ngầm chiến lượt hạt nhân USS NEVADA GOLD (SSBN 733)
HQ Đại uý Nguyen Nguyen (hình của linkedin.com).
HQ Đại uý Nguyen Nguyen, Sĩ quan tàu ngầm hạt nhân.
*
HQ Đại uý Huy Nguyen (hình của linkedin.com).
HQ Đại uý Huy Nguyen, Sĩ quan tau ngầm USS NEBRASKA. Hiện là Sĩ quan tác chiến tại Hải đội Aggressor, Trung tâm phát triển tác chiến dưới nước. Thực hiện chương trình huấn luyện nâng cao với mô phỏng đối phương thực tế cho Thủy thủ đoàn tàu ngầm nhằm nâng cao khả năng tiêu diệt mục tiêu và khả năng sống sót. Phát triển và trình bày các tường trình và bài thuyết trình dựa trên thông tin tình báo cho các hội nghị huấn luyện toàn căn cứ.
HQ Trung uý Matt Nguyen, Sĩ quan tàu ngầm tấn công hạt nhân lớp Virginia (Virginia-class submarine).
*
HQ Trung uý Keith Tran (hình của linkedin.com).
HQ Trung uý Keith Tran, Sĩ quan phụ tá vũ khí tàu ngầm hạt nhân, Tốt nghiệp Học viện Hải quân Hoa Kỳ năm 2022.
HQ Trung úy Daniel T Duong (hình của facebook.com/JohnDawsonFOX26).
HQ Trung úy Daniel T Duong, Sĩ quan tàu ngầm chiến lược hạt nhân USS West Virginia (SSBN 736).
***
HQ Thiếu uý Dan Huynh được trao tặng giải thưởng Liên đoàn tàu ngầm Hải quân trong bưởi lễ tốt nghiệp khóa huấn luyện Sĩ quan tàu ngầm của Trường Tàu ngầm Hải quân Hoa Kỳ ngày 7 tháng 2 năm 2025 (hình của facebook.com/navalsubmarineschool).
HQ Thiếu uý Dan Huynh, Sĩ quan tàu ngầm tấn công USS Illinois (SSN-786).
*
HQ Trung uý Donny Nguyen, Sĩ quan tàu ngầm hạt nhân.
*
HQ Thiếu uý William Nguyen (hình của linkedin.com).
HQ Thiếu uý William Nguyen, Sĩ quan tàu ngầm hạt nhân.
*
HQ Đại uý Faith N. Huynh (hình của linkedin.com).
Nữ Hải quân Đại uý Faith N. Huynh, Sĩ quan huấn luyện kỹ thuật tàu ngầm hạt nhân.
*
Hải quân Đại uý Lillian Ngo Usad được Đô đốc Tư lệnh Hải quân gắn huy hiệu Sĩ quan tàu ngầm (hình của linkedin.com).
Nữ HQ Đại uý Lillian Ngo Usadi, Sĩ quan tác chiến tàu ngầm hạt nhân.
*
HQ Đại uý Sarah Nguyen, Sĩ quan ngành tàu ngầm (hình khi còn mang cấp Trung uý của scontent.fmel16-1.fna.fbcdn.net).
Nữ HQ Đại uý Sarah Nguyen, Sĩ quan tàu ngầm hạt nhân.
HQ Đại Uý Phung Duong (hình của dvidshub.net)
Nữ HQ Đại Uý Phung Duong, Sĩ quan tiếp liệu tàu ngầm (SRS-32),
*
HQ Trung uý Y Quan (hình của linkedin.com).
Nữ HQ Trung uý Y Quan, Sĩ quan tàu ngầm hạt nhân.
*
Ông Bo Pham, Công chức cao cấp ngành nguyên tử lực Hoa Kỳ, cựu Sĩ quan tàu ngầm hạt nhân.
Ông Richard Nguyen, cựu Sĩ quan tàu ngầm tấn công USS Alexandria (SSN 757).
Cựu HQ Đại uý Ryan Nguyen, Sĩ quan tàu ngầm chiến tấn công USS Columbia (SSN 771).
Tony Pham, cựu Sĩ quan tàu ngầm hat nhân từ năm 1988 đến năm 1996.
Cựu HQ Đại uý Richard Nguyen, Sĩ quan tàu ngầm hạt nhân.
Hoang Nguyen, cựu Sĩ quan tau ngầm hạt nhân từ năm 2019 đến năm 2024. Và còn một số Sĩ quạn gốc Việt khác phục vụ trong Lực lượng tàu ngầm Hải quân Hoa Kỳ đang được cập nhật.
Tóm lượt về Lực lượng tàu ngầm Hải quân Hoa Kỳ (SUBFOR), tính đến tháng 5 năm 2026. Hải quân Hoa Kỳ vận hành Lực lượng tàu ngầm hoàn toàn chạy bằng năng lượng hạt nhân, bao gồm khoảng 68 chiếc đang hoạt động được phân loại thành 14 chiếc lớp Ohio mang hoả tiễn đạn đạo (SSBN), dùng để răn đe hạt nhân; 4 chiếc tàu ngầm mang tên lửa dẫn đường (SSGN) dùng để tấn công và 48 tàu ngầm tấn công (SSN), dùng cho các nhiệm vụ chiến thuật. Các lớp tàu chủ lực bao gồm lớp Virginia hiện đại, lớp Seawolf chuyên dụng và lớp Los Angeles mạnh mẽ. Phó Đô đốc Richard E. “Rick” Seif lả Tư lệnh Lực lượng tàu ngầm (COMSUBFOR), ông được chỉ định làm Tư lệnh Lực lượng tàu ngầm Hạm đội Đại Tây Dương (COMSUBLANT) và kiêm luôn chức Tư lệnh, Bộ Tư lệnh tàu ngầm đồng minh từ tháng 2 năm 2026. Ông chịu trách nhiệm về chiến lược, huấn luyện và bảo trì tất cả các tàu ngầm Hoa Kỳ đóng tại vùng biển Đại Tây Dương. Đề đốc Christopher Cavanaugh, Tư lệnh Lực lượng tàu ngầm, Hạm đội Thái Bình Dương (COMSUBPAC), ông cũng là Tư lệnh phó Lực lượng tàu ngầm Hải quân Hoa Kỳ (COMNAVSUBFOR). Nhiệm vụ của Lực lượng tàu ngầm Hạm đội Thái Bình Dương là cung cấp huấn luyện, kế hoạch tiếp liệu, nhân lực và kế hoạch hoạt động cũng như hỗ trợ và phát triển chiến thuật cần thiết để duy trì khả năng của Lực lượng đáp ứng cả nhu cầu thời bình và thời chiến. Hai Bộ Tư lệnh Lực lượng tàu ngầm Hạm đội Đại Tây Dương và Thái Bình Dương cung cấp các loại tàu ngầm tấn công, tàu ngầm mang hoả tiễn đạn đạo và tàu ngầm mang hoả tiễn dẫn đường cho các Bộ Tư lệnh tác chiến thống nhất (Unified combatant command) bao gồm: Bộ Tư lệnh miền Bắc Hoa Kỳ (United States Northern Command), Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ (United States Indo-Pacific Command); Bộ Tư lệnh Châu Âu của Hoa Kỳ (United States European Command); United States Southern Command (United States Southern Command); Bộ Tư lệnh Trung ương Hoa Kỳ (United States Central Command) và Bộ Tư lệnh Châu Phi của Hoa Kỳ (United States Africa Command); Bảo đảm năng lực răn đe chiến lược và năng lực tác chiến bí mật.
Chú thích: *Sĩ quan Hải quân, nhưng không thể xác định được cấp bậc.
Bài viết không sao tránh khỏi những thiếu sót ngoài ý muốn, Nguyễn Quân thành thật xin lỗi.
Nguồn: mynavyhr.navy.mil; sublant.usff.navy.mil; csp.navy.mi; linkedin.com; en.wikipedia.org; Naval Submarine School; bienxua-Hải Quân Trung tá Henry Tran (gốc Việt), Chỉ huy trưởng Chương trình trừ bị Liên đoàn 9 tàu ngầm hạt nhân (COMSUBGRU NINE) Hải Quân Hoa Kỳ.
Giờ là sang thu. Lính cũ chẳng còn mấy tay. Tôi là thằng cuối cùng trong số bảy thằng cùng một lớp. Ai cũng bàn tán hoà bình với đình chiến. Tất cả đều chờ đợi. Nếu lại là một ảo ảnh, thì chắc họ sẽ tuyệt vọng; hy vọng dâng cao, không thể làm mất mà không có một cuộc hỗn loạn. Nếu không có hoà bình thì phải có cách mạng.
Tôi được nghỉ phép hai tuần, vì nuốt phải it hơi độc; trong một ngôi vườn nhỏ tôi ngồi suốt ngày dưới nắng. Đình chiến sắp đến, giờ đây đến tôi cũng tin. Thế là chúng tôi sẽ được về. Đến đây thì ý nghĩ tôi dừng lại và không muốn đi xa hơn nữa. Tất cả những gì gặp tôi, tất cả những gì trào lên tôi chỉ là những cảm xúc – ham sống, yêu nhà, cái khát khao của máu, cái làm độc của giải thoát. Nhưng không mục đích. Phải chi chúng tôi về năm 1916, với cái đau khổ cái sức mạnh của kinh nghiệm của mình chúng tôi không chừng đã khơi ra một cơn giông tố. Còn bây giờ có trở về chúng tôi cũng đã mệt mỏi tan nát, thiêu rụi, bật rễ, và vô vọng. Chúng tôi chẳng còn biết đường nào mà lần. Và thiên hạ cũng lại chẳng hiểu chúng tôi – vì cải thế hệ lớn trước chúng tôi, mặc dầu cùng trải qua các năm này với chúng tôi ở đây, cũng đã có gia đình có nghề nghiệp; giờ thì họ sẽ trở về với các công việc trước kia của họ, và rồi chiến tranh sẽ được quên lãng – còn cái thế bệ lớn lên sau chúng tôi sẽ xa lạ với chúng tôi và gạt bỏ chúng tôi. Chúng tôi sẽ là những kẻ thừa ngay cả đối với chinh mình, có thẳng hẳn sẽ chỉ cầm đầu quy thuận, còn phần lớn chúng tôi sẽ lạc lõng bơ vơ; – năm tháng trôi qua và rút cuộc chúng tôi sẽ rơi vào tàn tạ. Nhưng có lẽ tất cả những gì tôi nghĩ đây chỉ là đau buồn và chán nản, rồi nó sẽ bay đi như gió bụi, khi tôi lại đứng lại dưới rặng bạch dương nghe tiếng lá xạc xào. Không thể bảo là nó đã đi, cái khát khao nó làm máu chúng tôi bồn chồn, những cái mình không biết, những cái làm mình hoang mang, những cái sắp đến, hàng ngàn bộ mặt của tương lai, các điện du dương trong mơ mộng trong sách vở, các thù thỉ và đùa đoán của đàn bà, không thể bảo rằng tất cả những cái này đã biến tan thành pháo kích, thành tuyệt vọng, thành các ổ điếm. Ở đây cây cối tốt tươi vàng rực, các chùm thanh lương đỏ ối giữa lá, các con đường quê trăng trắng chạy đến tận chân trời và các quản rượu rì rầm như tổ ong với những tin đồn hòa bình.
Tôi đứng lên. Tôi rất bình tĩnh. Mặc cho năm tháng trôi đi, chúng chả mang lại cho tôi được gì, chúng chả mang lại cho tôi được gì thêm. Tôi cô đơn quá đi, lại quá vô vọng đề có thể đương đầu với chúng mà không sợ sệt. Cái sống nó đã mang tòi suốt mấy năm nay vẫn còn trong tay tôi trong mắt tôi. Phải chăng tôi đã chinh phục được nó, tôi cũng chẳng biết. Nhưng ngày nào nó còn có đấy nó sẽ tự tìm đường thoát ra, bất chấp cái ý chí ở trong tôi.
Hắn gục vào tháng Mười, 1918 vào một ngày đến là êm ả và yên tĩnh trên khắp mặt trận, khiến bản tin quân đội chỉ ghi vỏn vẹn có một câu: Mặt trận miền Tây hoàn toàn yên tĩnh.
Sesung, tên thủy thủ người In Đô, vì muốn học nghề bếp nên mỗi sáng nó ráng thức sớm hoặc ngoài giờ làm việc nó vô bếp phụ tôi. Sáng nay cũng vậy, nó vô bếp mở điện lò và đứng chờ. Thấy tôi xuống nó chào buổi sáng và chỉ tay ra ngoài trời lúc tuyết đương rơi trắng xóa. Nó nói: – Mùa đông tới rồi chú. Cùng lúc thuyền phó từ trên phòng lái xuống kêu Sesung ra boong chuẩn bị thang để đón hoa tiêu. Sesung day qua nói với tôi: – Lát con vô phụ chú. Nói xong nó vội vàng day lưng bước xuống phòng thay áo quần và bận thêm đồ ấm. Tàu rời cảng St. Petersburg nước Nga tối hôm qua và sáng nay sắp ghé Kotka của Phần Lan. Thuyền phó ló đầu vô bếp hỏi: – Ông chiên cho tôi trứng và thịt ba rọi được không? Tôi nhìn lên đồng hồ trên vách, thấy chưa tới giờ ăn, nhưng bếp lò đương cháy và tôi cũng không làm gì. Tôi nói: – Dĩ nhiên. Tôi chiên trứng và thịt ba chỉ đưa ra cho thuyền phó, hắn cầm lấy nhưng chần chờ một chút rồi kêu tôi: – Ông ra uống cà phê cho vui, còn sớm mà. Hắn đem dĩa trứng và thịt để lên bàn rồi lấy tách rót cà phê đưa tôi và khoe: – Hè qua tui có đi Việt Nam. – Du lịch hả? Hắn ngước mặt hãnh diện: – Dĩ nhiên. – Mày đi đâu? – Mũi Né. – Vui hông? – Vui lắm, tui có ăn phở. Tôi cười: – Cũng lại phở. Bộ Mũi Né chỉ có phở không sao? – Có nhiều thức ăn biển, nhưng tui thích phở, phở Việt Nam ngon tuyệt vời. Ông biết nấu phở không? – Dĩ nhiên. – Hôm nào ông nấu cho mọi người ăn nhe. Tôi chỉ ngón tay trỏ gõ gõ lên đầu, nói: – Bộ mày khùng hả, trên tàu lấy đâu ra gia vị phở mà nấu. Hắn cười hì hì rồi hỏi qua chuyện khác: – Hôm qua ông đi chơi vui không? Tôi cười: – Vui mẹ gì, tao với Sesung lên chờ xe bus mất một tiếng, đi bộ lên bến xe điện mất nửa tiếng, tới nơi tuyết đổ ngập đầu, trời tối thui nên trông cái gì cũng mờ mờ, khi ra tới phố thì tiệm đóng cửa hết. – Sao ông hổng đi tắc xi. Tôi trợn mắt nhìn viên thuyền phó, nói: – Tắc xi nước Nga của mày hả? Gọi cả ngày chưa thấy bóng. – Tại ông hổng biết, nếu ông ra giá trước, trả một trăm đô la thì nó tới liền. – Thiệt vậy hả? – Thiệt. – Tự nhiên tuyết đổ ào ào, ngập đầy đường, xe cộ nào chạy được. Bận về tao với Sesung phải đội tuyết đi bộ từ Abtobo xuống tàu mất cả tiếng đồng hồ. Thiệt tình thì tao muốn lang thang chơi cho vui, chớ hổng có ý đi đâu hết, nhưng Sesung muốn tao dẫn nó đi tới quảng trường Cách Mạng Tháng Mười…. Thuyền phó nhún vai. – Ở đó có gì đâu mà coi, ngoài cái tượng. – Sesung nghe quảng cáo quảng trường Cách Mạng Tháng Mười có tượng ông Lenin, nó chỉ muốn tới coi cái tượng cho biết. – Tượng Lenin thiếu gì. Ông không thích sao? – Oh! Thích khỉ gì, nước tao tượng đài tùm lum, tượng nào cũng lộng lẫy, mắc tiền. Tao thấy tượng nào cũng như tượng nấy, tạc bằng đồng đen, bằng xi măng, tiện bằng cây, lớp ngồi trong nhà, lớp đứng ngoài trời phơi nắng, giăng mưa và để làm toilet cho chim ỉa. – Haha…, nhưng ông tới St. Petersburg có nhiều lần không? – Tao tới đây từ hồi thành phố St. Petersburg còn là Leningrad. – Ông thấy thế nào? – Dĩ nhiên, bây giờ St. Petersburg rất đẹp, vừa cổ kính vừa hiện đại. – Ông có ấn tượng gì không? Tôi chưa hiểu ý nó muốn hỏi gì nên hỏi lại: – Về chuyện gì? – Chuyện ông tới Leningrad. – Ấn tượng về thời thành phố còn là Leningrad à? Thuyền phó gật đầu. Tôi nói như thuộc lòng: – Nói chung ấn tượng về Liên Bang Xô Viết nó luôn ở trong lòng tao. Hổng phải ấn tượng về một đất nước giàu đẹp, vĩ đại hoặc thiên đường, trên thế giới này nhiều quốc gia còn giàu đẹp hơn nước Nga của mày nhiều. – Dĩ nhiên rồi. Tôi day qua đổi giọng khôi hài nói với viên thuyền phó: – Tao có cảm tưởng có một thời gian thành phố không được sửa chữa nên trông cũ kỹ bèo nhèo giống như cô gái đẹp bị bọn cướp hãm hiếp tơi bời hoa lá… – Haha… Đợi nó cười xong, tôi nói: – Tao có ấn tượng sâu đậm nhứt là lần đầu tiên ghé một sạp bán bia ngoài đường. Tôi đứng dậy đi vô trong bếp lấy một keo đựng dưa chua, tôi nói tiếng Anh không tự tin lắm nên tôi hay quơ tay ra dấu hoặc lấy một cái gì đó có liên quan tới câu chuyện ra minh họa, tôi đưa keo dưa chua ra trước mặt nó, nói: – Tao nhớ lúc đó mua khoảng hai đô la Mỹ, họ rót ra đầy sáu keo như vầy nè… Thuyền phó ngắt ngang: – Bây giờ đâu có nữa. – Dĩ nhiên, nhờ mấy mươi năm đổi mới nên St. Petersburg trông sáng sủa, trẻ đẹp như phụ nữ vừa từ thẩm mỹ viện bước ra. Phố xá xôn xao, có McDonalds và có siêu thị đầy nhóc hàng hóa. Đặc biệt cái là… Nó thấy tôi ngập ngừng nó hỏi: – Cái gì? – Phần lớn đồ dùng sản xuất ở Trung Cộng. Nhưng dù sao đi nữa dân St. Petersburg cũng có đồ xài, hổng còn uống bia trong những cái keo như thời thành phố mang tên ông Lenin. Hắn cười ha ha rồi nói: – Hàng hóa Trung Cộng tràn lan khắp thế giới mà. – Ờ, tao biết. Ở Âu Châu cũng đầy nhóc đồ Trung Cộng. Con gái tao nhờ tao mua con Matryoshka sản xuất ở Nga, nhưng vô tiệm tao thấy con nào cũng Made in China nên tao hổng mua. – Tại ông hổng biết chỗ, để hôm nào tui mua tặng con gái ông một con Matryoshka Made in Russia đẹp tuyệt vời. – Cám ơn mày, nhưng tao thắc mắc. – Gì nữa? – Nước Nga của mày chế vũ khí đủ loại và bom nguyên tử, bom hạt nhân được mà sao hổng chế được ly để uống bia. Hắn cãi lại: – Ông nói vậy chớ đồ dùng nước Nga cũng có nhiều lắm, ở Việt Nam cũng xài đồ của Nga mà. – Hèn chi đồ của nước mày bán mắc bỏ mẹ. – Hì hì… Sao ông chê nước Nga hoài vậy? – Thấy sao nói vậy, chê khen khỉ gì. Sesung đón hoa tiêu xong vô bếp đứng chờ tôi. Tôi đứng lên cười và nói: – Giỡn chơi thôi, St. Petersburg và nước Nga của mày có nhiều thứ tao ngưỡng mộ, nhưng hổng có vĩ đại và thiên đường gì ráo. – Tui đâu có nói nước Nga là thiên đường là vĩ đại. – Người Nga mày tao hổng nghe nói. Nhưng các ông, các bà ở nước tao qua Nga học tập, nghiên cứu sao hổng biết, trở dìa nước hô hào om sòm, cho tới nay vẫn có người tâng bốc nước Nga là vĩ đại, là thiên dường. – Thiệt hả? – Thiệt. À, đúng ra dân Nga phải mang ơn đám học giả, nhà thơ, nhà văn Việt Nam mới phải, nhờ họ mà nước Nga trở thành great country và paradise. – Oh! – Thôi mày ăn đi, tao đi làm đây. Sesung đứng đưa hai bàn tay hơ hơ lên bếp. Thấy tôi vô nó rút tay lại và day qua nói: – Lạnh quá. Tôi nhìn ra ngoài khung cửa kiếng, tuyết rơi mù mịt, không thấy được đồi núi của hải đảo hay dải đất liền như mọi hôm. Tôi day lại cười nói với Sesung: – Nếu chúng ta di chuyển từ Nam Baltic lên phía bắc Baltic bằng máy bay, thì từ mùa thu sang mùa đông chỉ trong vòng một tiếng, còn đi tàu thì mất một ngày. – Vậy ở Nga bây giờ là mùa đông hả chú? – Mấy hôm truớc ở Hòa Lan, trời lúc mưa lúc nắng, khi qua Đức và Ba Lan trời vẫn còn không khí man mát của mùa thu, từ lúc tới Phần Lan và qua Nga thì trời lạnh và có tuyết rơi. – Vậy ở đây là mùa đông? – Nói chơi vậy thôi, theo mùa màng thì ở đây tên gọi vẫn là mùa thu. – Mùa thu gì mà lạnh quá. – Lạnh như vầy nhằm nhò gì. – Chú tới đây lần nào chưa? – Nhiều lần rồi. – Chú thấy sao? – Thấy gì? – Bất an. – Ồ, trước kia tao thấy bất an nhiều lắm, nhưng giờ thì tao hổng thấy gì hết. – Mỗi lần tới đây con lo sợ và hổng an tâm khi thấy công an dẫn chó xuống lục xét phòng. – Trong phòng mầy có rượu mạnh, thuốc lá quá lượng qui định và cần sa không? – Hìhì… làm gì có. – Vậy mầy sợ gì? – Hổng hiểu sao thấy mặt ông, bà công an dẫn chó xuống tàu thì con sợ. – Lâu lâu họ mới lục xét một lần, nói chung những chế độ còn lạc hậu, độc tài và Cộng Sản nước nào cũng vậy, chớ hổng phải chỉ có nước Nga. – Nhưng Nga khác hơn các nước khác là mỗi lần tới họ bắt thủy thủ đoàn đứng sắp hàng cho họ xem mặt rồi mới đóng dấu cho nhập cảnh. Con bực mình nhứt là lúc giữa khuya, đương ngủ bị kêu dậy, hổng kịp bận đồ, rửa mặt gì hết, chạy xuống cho mấy con mẹ công an hải quan coi mặt. – Mấy bà coi lúc mình bận đồ ngủ chắc cũng khoái mà. – Kỳ quá à chú. – Mấy bà hổng kỳ thì thôi, mầy kỳ khỉ gì, hôm nào bị đánh thức giữa khua mày chọc cho con cu của mày ngóc lên, biết đâu mấy bà thấy khoái. – Haha… Chú có vậy không? – Tao già rồi, giống củ cà rốt héo, hết hấp dẫn rồi, mấy bà đâu thèm. – Chú còn ngon lắm mà. – Ngon khỉ gì. À, mày nói sợ mà sao hôm qua còn kêu tao dẫn mày đi coi tượng ông Lenin. – Nghe quảng cáo nhiều quá, muốn xem cho biết. – Những nước Cộng Sản họ thường xây tượng đài hoành tráng của những lãnh tụ để tuyên truyền. Sesung nói: – Công ty du lịch quảng cáo những thắng cảnh của thành phố trong đó có tượng Lenin đứng trước quảng trường Cách Mạng Tháng Mười. Nghe nó phân bua tôi chợt nhớ lại những tượng đài của vài nước Cộng Sản mà tôi đã đi qua. Ở nước tôi người ta xây tượng ông Hồ Chí Minh, Cu Ba xây tượng ông Ché, Trung Cộng xây tượng ông Mao, Nga xây tượng ông Lenin…, nói chung thì nước Cộng sản nào cũng có tượng của lãnh tụ oai nghi, hoành tráng, mắc tiền, trước kia để tuyên truyền bây giờ thì dành quảng cáo cho du khách. Tôi day ngang gật đầu: – Ờ… mày có lý, nước Nga bây giờ là thời đại ông Putin, chớ hổng còn thời Lenin nữa, tượng đài lãnh tụ dành quảng cáo du lịch, dân chúng Nga cũng có lợi. Sesung gật nhè nhẹ cái đầu ngẫm nghĩ: – Ammm… – Thiệt ra thì lần đầu tao tới đây, nhứt là lúc thành phố St. Petersburg còn mang tên Leningrad tao cũng sợ cách hành xử của mấy ông, bà công an xứ này. – Bây giờ hết sợ hả chú? – Làm gì phải sợ, dù sao mình tới đây làm việc một vài ngày hoặc vài tháng thì đi rồi. Lúc đó chuông dưới hầm máy báo bị trục trặc gì đó. Thợ máy bên ngoài hấp tấp mở cửa bước vô, hắn gầm đầu, chạy thẳng xuống hầm máy, không kịp đóng cửa làm hơi lạnh ùa vào. Sesung thấy vậy đi ra đóng cửa lại rồi trở vô, càu nhàu: – Thợ máy luôn nhắc nhở mọi người đóng cửa, nhưng tự hắn thì quên hoài. – Tội nghiệp, thợ máy thằng nào cũng như thằng nấy, đầu óc lúc nào cũng lăng xăng lộn xộn. Thợ máy xuống hầm máy thì tiếng chuông im bặt, một lát sau ông trở lên phòng ăn. Sesung bưng chén trứng luộc ra để lên bàn. Một lát Sesung trở vô nói: – Ông thợ máy thấy thuyền phó ăn trứng chiên ốp la và thịt ba rọi, ông cũng muốn ăn. – Mày chiên trứng cho ông ta xong rồi vô xắt thịt, tao lột củ hành. Sesung chiên trứng bưng ra cho ông thợ máy, lát sau trở vô mặt mày nhăn nhó và chưởi thề, tôi day qua hỏi: – Gì vậy? – Thợ máy ăn hết chén trứng luộc và ăn luôn hai trứng chiên với thịt ba rọi. –Vậy thì ông ta ăn tổng cộng bốn trứng gà, cho ông tự sướng xỉu luôn. – Ha ha… – Thôi mày tháo bịch thịt ra xắt đi. Sesung lấy bịch thịt vừa tháo ra vừa càu nhàu: – Chú hiền quá, chớ gặp đầu bếp khác họ chưởi đó. – Mấy mươi năm làm đầu bếp tàu buôn, tao đã từng nghe và thấy người ta chưởi bới, đánh nhau lỗ đầu chảy máu, thậm chí giết nhau cũng vì cái trứng, miếng thịt. – Ừa, con cũng có nghe. – Nhưng chưởi bới làm gì, chuyện như hồi nãy mày chỉ cần đừng dọn trứng ra bàn trước, người nào ăn thì hỏi mới đưa, như vậy là yên rồi. – Con thấy người Nga ăn nhiều quá. – Văn hóa ăn uống mỗi nước mỗi khác, hổng phải chỉ có người Nga, người nước nào cũng thích ăn ngon và ăn nhiều. – Văn hóa người Nga là ăn nhiều hả chú? Tôi định nói người Nga cũng giống như dân In Đô nhưng sợ chạm tự ái dân tộc của nó, tôi nói: – Cũng giống như con người sống trong những nước kém văn minh, nói một đàng làm một nẻo, không biết tôn trọng ai. Nhìn cách sống, cách ăn uống của họ thì biết, lấy đồ ăn đầy dĩa, ăn hổng hết liệng bỏ. – Nước Nga bây giờ hết Cộng Sản rồi mà chú. – Vật đổi sao dời còn dễ hơn con người thay đổi. Người Cộng Sản tánh tình bừa bãi, vô kỷ luật, hổng tôn trọng giờ giấc, mày nhìn người Nga sống như thế nào thì văn hóa Cộng Sản như thế. Đây là tao nói thành phần trung lưu mà tao với mày tiếp xúc, còn dân nghèo thì khác hơn. Sesung ỡm ờ không nói. Hình như nó cũng không hiểu ý tôi và tôi cũng không muốn tiếp tục câu chuyện. Sẵn thấy miếng thịt nó xắt hơi bự, tôi chỉ miếng thịt, nói: – Mày xắt miếng nhỏ lại. – Hôm nay chú làm món gì mà lột củ hành nhiều vậy? – Hachée. – À, món hachée của Hòa Lan, con biết rồi, món này một ký củ hành, một ký thịt hầm chung với nhau. – Ừa đúng rồi, món truyền thống của Hòa Lan, lát nữa tao chỉ cách nấu mày nhớ ghi công thức lại để sau nấu cho tụi nó. – Okay, món này con ăn thấy ngon, những người In Đô ăn hơi khó. – Tại dân In Đô mày hổng chịu tập ăn, tối ngày chỉ cơm, cá, ketjap. Ở đời chuyện gì cũng phải tập, ăn uống cũng vậy. Tôi day ngang chỉ mấy củ hành đã lột xong, nói: – Trước kia tao lột củ hành thường bị cay mắt nên tao vừa lột vừa xả qua vòi nước, nhưng hông biết từ bao giờ tao hổng còn bị cay mắt khi lột củ hành nữa. – Chú nói đúng, hồi mới qua Hòa Lan con ăn hachée cũng hổng được, nhưng ăn riết rồi thấy ngon, nhứt là khoai tây luộc, bắp cải đỏ hầm với táo, chan sốt hachée lên ăn ngon bá chấy. Thiệt vậy, tất cả theo dòng thời gian thay đổi, mọi việc sẽ dịu lại thành thói quen và những cay cú cuộc đời không còn làm cho người ta khó chịu nữa. Dronten 17-3-2018
Tôi làm phu lục lộ, tu sửa quốc lộ 1, đoạn đường Ba Ngòi, Cam Ranh. Việc của tôi là gánh đá, nấu hắc ín, làm người sai vặt. Xe chở đá, xe hủ lô lăn bánh rằm rập suốt ngày. Trời nắng chang chang, nhựa dường bốc hơi rát mặt. Tôi đuối sức vì công việc năng nhọc. Mồ hôi đầm đìa trên trán. Lưng áo không lúc nào khô, Tôi hay lấy cớ đi tiểu, lủi vào bụi rậm, trốn bớt việc. Mấy chị đàn bà làm chung, hỏi mày ỉa ra cây hay sao mà lâu thế? Có người trêu, công tử thấm đòn rồi. Mọi người đều một mỏi. Ít ai nở dược nụ cười thoải mái. Sự sống cùn mằn. tâm địa cũng thu hẹp. Người ta hay nhắc về miếng ăn, tiền bạc, sự giàu sang, và chửi đổng cuộc đời.
Tôi ở đậu nhà anh tài xế xe chở đá. Anh tên Rạng, Nhà chật, lại thêm đàn con nheo nhóc, Tôi trải chiếc ghế bố nằm ngoài hàng hiên, Chị Rạng ái ngai nói, hoàn cảnh eo hẹp chẳng biết làm sao. Tôi nói, có được chổ nằm là tốt rồi, xin đừng lo cho tôi. Giấc ngũ rất cần thiết để lấy sức cho công việc ngày mai. Tôi it nghĩ ngợi mông lung. Nhưng hình bóng Phương Nghi vẫn thấp thoáng. Niềm tuyệt vọng đối với thân phận cu li thấp kém của mình. Chech phía bên bên kia nhà anh tài xế, ngăn cách một vườn dừa, có căn nhà gạch thoáng mát. Người chủ căn nhà này là bạn của chị Rạng. Hai người ban với nhau, để tôi sang bên kia ở đậu. Tôi mừng có nơi tránh được sương gió ban đêm.
Chị chủ nhà tên Triều, có dứa con sáu tuổi. Do gần gũi, tôi biết đứa con này không cha. Chưa một lần chị chính thức lấy vợ của người đàn ông nào. Hiện nay chị đang là tình nhân của một ông lớn nào đó. Mỗi tháng, đôi lần chị ăn mặc thật đẹp. đi vắng vài ngày. Tôi đoán là đi thăm ông lớn. Khi về, chị tiêu pha rộng rãi. Chị hỏi tôi về công việc đang làm. Tôi nói về sự vất vả của người phu lục lộ. Chị thương hại, muốn giúp tôi làm một chân thư ký tại Cam Ranh, Tôi cám ơn và từ chối, rằng hết mùa hè tôi phải trở lại Nha Trang tiếp tục sự học. Chị Triều thường mời tôi ăn quà vặt. Chúng tôi thích bàn về những quyển sách đã đọc, nhất là phong tục tập quán dị biệt của các dân tộc nơi bốn phương trời xa lạ. Có lần, khi đang ăn cam, chị cúi xuống nhặt những vỏ cam rơi rớt dưới sàn. Tôi nhìn thấy cặp vú trắng nõn, qua viền cổ rộng của chiếc áo cánh sát nách. Có lẽ do linh tính, chị ngước lên bắt gặp đôi mắt gian tà của tôi. Chị mim cười như vừa chế nhạo, vừa tha thứ. Tôi ngượng quá, nín thinh bỏ về chổ nằm. Đêm sau, chờ cho thàng bé vào buồng ngủ. Tôi nói, chị Triều ơi, chuyện đêm trước là em vô tình, xin chị bỏ qua. Chị nói, chị không vô tình, em nghĩ sao? Tôi nói, như vậy không phải lỗi tại em. Chị dí ngón tay vào trán tôi, thằng ngốc! Tôi nói, bây giờ thì em yên tâm, vì dù sao cũng dã có lời xin lỗi. Tôi đứng dậy, tính về chổ ngủ. Chị níu tay tôi, ngốc ơi là ngốc! Em đáng bị đuổi ra ngủ ngoài sân. Tôi chợt hiểu ý chị muốn gì, và tôi cũng chợt khởi lòng ham muốn. Chính vì chợt khởi lòng ham muốn làm tôi mất tự nhiên, không biết xử sự ra sao. Tôi bối rối đứng im. Chị xô tôi vào phòng, nói nhỏ, thằng bé bên kía chưa ngủ đâu. Tôi đồng lõa, coi chừng nó biết. Chị cù nách tôi, đồ nhát như cáy. Tôi không nhột, mà cảm thấy thích đụng chạm nbư thế. Chưa hao giờ, tôi được nằm trên giường nệm rất êm, và gối đầu lên chiếc gối trắng tinh sạch sẽ thế này. Mền gối lại có hơi hướm đàn bà, càng làm tôi thích thú. Nhưng tôi vẫn hồi hộp. Không biết tại sao lại hồi hộp. Tôi nằm nghiêng vào vách. Chị Triều choàng tay qua tôi, kéo siết. Ngực chị êm ái, ép sát lưng tôi. Cảm giác đó, suốt đời tôi không tìm lại được với ai, Chị bảo, cởi đồ ra. Tôi riu ríu vâng lời. Thân thể chị trống trải. Thân thể tôi cũng không còn gì che. Tôi mắc cỡ không dám nhìn chị. Tôi quay mặt hướng khác, nằm co quắp, hai bàn tay kẹp vào đùi. Chị vuốt bụng tôi, vuốt tóc tôi. Chị nói, suốt ngày làm ngoài trời, cái đầu, còn khét nắng. Bộ không tắm hả? Tôi nói, tắm rồi. Chị hỏi, có gội đầu bằng xà phòng không? Tôi nói, không. Chị nói, hèn gì … Rồi chị kéo tay tôi ra khỏi cặp đùi, xoay tôi lại. Chị bảo, nằm thẳng người ra, đừng ẹo như con tôm vậy. Chị sờ hạ bộ tôi. Tôi ngượng điếng người trong sướng cảm. Chị bảo, lên mình chị đi. Tôi run lẩy bẩy, lồm cồm bò lên nằm sấp trên mình chị. Thân thể chị êm, và ấm vô cùng. Sự kích thích quá độ, làm tôi rùng mình. Chưa chi tội đã tháo đổ hết cả dục tình lên bụng chị. Cả người tôi tê rần, tưởng có thể ngất đi. Chị sững một lúc rồi vỗ lưng tôi, em ơi, em làm ăn cái kiểu gì kỳ vậy? Tôi úp mặt vào cổ chị, thở hổn hển. Chị nhè nhẹ đẩy tôi xuống. Bụng chị trơn nhớt. Tôi nói, để em lau cho chị. Chị bảo, thôi. Tôi về chỗ nằm, căng mắt ra tới sảng. Hình dung ra thân thể chị Triều. Dù trong bóng tối mờ mờ, tôi không nhìn rõ, nhưng tôi tin rằng, trên đời này không có điều gì tuyệt diệu hơn thân thể đàn bà.
Sau một đêm mất ngủ, tôi làm việc một cách uể oải. Những gánh đá đè nặng trên vai dưới trời nắng như thiêu, có lúc làm tội hoa mất. Mấy chị đàn bà chê, con trai mà yếu như bún. Thường khi ngồi ăn cơm và nghỉ trưa dưới bóng cây, họ nói chuyện rất bạo. Có tôi hay không, cũng không đáng bận tâm, Một chị nói, tao bị thằng chồng mắc dịch nó quần cả đêm, chẳng ngủ nghê gì được. Chị khác nói, bọn đàn ông là thứ lợn lòi, hăng tiết lắm. Thêm một chị góp ý, thằng nào càng hăng tiết, càng hộc máu sớm, Họ cười gọi tôi, ê cậu nhỏ, nghe lời đàn chị chưa? Nhớ rút kinh nghiệm. Tôi cười, làm ra vẻ ngớ ngẩn dại khờ. Thầm nghĩ. tôi cũng là một thứ lợn lòi hăng tiết. Cuối ngày, tôi theo xe anh tài xế Rạng trở về.
Anh nói: “Trông mày có vẽ nhuốm bệnh. Mai nghỉ một ngày đi. Đừng ráng. Tao nói với trưởng ban vẫn ghi tên mầy đi làm.”
Tới nhà, tôi đuối quá, đi nằm sớm. Chị Triều hỏi: “Em sao thế, hở Hiên?”
Tôi nói: “Không sao cả.”
Buổi tối, chị Rạng đem cho tôi hai viên Aspirine. Tôi uống thuốc, nằm im. Nghe hai chị nói chuyện ở nhà sau.
Tiếng chị Rạng: “Ông xã mình nói nó bệnh. Tội nghiệp, nó không có ai.”
Tiếng chị Triểu: “Hoàn cảnh nó đáng thương. Mình muốn giúp nó công việc nhẹ nhàng hơn, nhưng nó từ chối. Nếu nó chịu ở đây luôn, mình sẽ nhận làm em nuứi.”
“Sợ ông Quảng ghen chứ?”
“Ối, ghen cái nỗi gì. Nó đáng tuổi em út. Đừng nói thế, tội!”
“Mình thấy nó hiền lành. Chỉ ngại ông Quảng mê Triều quá, rồi nghĩ bậy cho nó.”
“Dẫu nó có ba đầu sáu tay cung không dám làm hỗn với mình đâu. Lạng quạng mình tống ra khỏi nhà tức khắc. Còn ông Quảng hả? Muốn giữ mình làm của riêng, thì đuổi con vợ già của ổng đi đi. Thứ đàn ông sợ vợ, cũng bày đặt ghen tuông.”
Lời qua tiếng lại to nhỏ giữa hai người dàn bà, nghe nhức xương. Ông Quảng là ai, mà tham lam khốn nạn? Tôi là ai, mà vụng trộm đê hèn?
Tôi tung mền ngồi dậy, thay câu trả lời. Sợ chị đổi ý, tôi đi trước vào phòng.
Chị khép cửa: “Nếu còn mệt thì thôi đi. Không khéo lại phạm phòng.”
Tôi hỏi: “Phạm phòng là gì vậy?”
Chị cười ỡm ờ, không nói.
Tôi nói nhỏ: “Em say nắng thội. Nằm nghỉ chút xíu là khỏe ngay.”
Chị ôm tôi .. Tôi vùi mặt vào ngực chị, Đam mê. Háo hức.
“Em còn là trai tân phải không?”
Tôi ngúc ngoắc cái đầu.
Chị nói: “Chị gặp hên.”
“Sao hên?”:
“Gặp trai tân là hên. Mai chị mua vé số.”
Hôm sau. Tôi dậy muộn, nghỉ việc. Chị Triều dẫn con đi ăn điểm tâm buổi sáng. Chị mua về cho tôi dĩa bánh bèo. Tay chân tôi rời rã. Miệng đắng nghét, ăn không thấy ngon. Tôi bệnh thật rồi.
Từ đó, vài đêm tôi lại ăn nằm với chị Triều một lần. Tôi ghiền cải hơi hướm, và mê thân hình bốc lửa của chị. Tuy thế, nếu chị không gọi, không bao giờ tội dám tự động vào phòng.
Một hôm, trước khi đi làm.
Tôi nói: “Chị Triều ơi, cho em thơm chị.”
Chị chưa trà lời, tôi đã mở nút áo, chúi mũi vào khe ngực căng đầy của chị. Hít thở.
Chị ôm đầu tôi: “Thích chị không?”
Tôi nói: “Thích,”
“Chị cm mình dẫn nhan vô Sài gòn nhé?”
“Sao không về Nha Trang’!”
“Em khờ lắm. Nha Trang nhỏ hẹp, con chó nằm còn ló đuôi. Thằng cha Quảng sẽ tìm ra. Em là hạng tép riu. Thằng chả muốn hại em lúc nào cũng được,”
“Thằng chả là ai mà dữ vậy?”
“Em không cần biết. Nhưng thằng chả chỉ cần búng ngón tay, em không vào nghĩa địa. cũng sặc máu mủi.”
“Cái thằng cường hào ác bá lưu manh, Chị đan díu với nó làm gì?”
Chị nói: “Cuộc đời không đơn giản như em nghĩ.” Chị đẩy tôi ra, “Thôi, đi làm di. Nhớ ý tứ giữ mồm giữ miệng. Bể chuyện là mang họa đó.”
Tôi nóng tnáu: “Em không ngán thằng chả đâu. Cùng lắm là đổi mạng.”
Chị cười: “Gà con vỗ cánh gáy bình minh, chưa biết sợ chó sói.”
Mùa học mới. Tôi chuẩn bị trở lại Nha Trang, Chị Triều đặt may cho tôi bộ quần áo mới. Chị nói, quần áo của em nhăn nhíu như cái nhau meo hành khất. Tôi nói, tốt gỗ hơn tốt nước sơn. Chị nói, nhưng cũng phải mặc sao coi cho được chứ? Chị lại dặn, khi nào có dip lễ, hãy về đây thăm chị, cho chị dịa chỉ ở Nha Trang. Tại nơi, em sống lông bông chẳng có nơi nào chắc chắn. Tôi cho chị địa chỉ nhà bác Huế, nhưng dặn đừng tìm tội ở đó. Trên đường đưa tôi ra bến xe. Chị Triều nhìn tôi bằng đôi mắt đẹp hết sức đa tình. Tôi cũng bồi hồi lưu luyến. Chị nói, nếu chị mang thai, đó là con của em. Tôi nhìn bụng chị. Lòng hoang mang. Không biết chị nói thật hay nói chơi?
Trong mục Tạp Ghi tuần trước, nhân ngày 1 tháng 4, theo truyền thống trò chơi “Cá Tháng Tư” của báo chí phương Tây, chúng tôi có viết một bài báo nhan đề “Cao Niên và Câu Chuyện Tháng Tư,” “đưa tin” rằng:
“Cao niên được nhận lãnh một lần số tiền $30,000 nếu đồng ý trở về sinh sống tại quốc gia nguyên thủy của họ.” Phần thật 100% của câu chuyện là vấn đề ngân sách nước Mỹ thiếu hụt trầm trọng, ngay “Tiểu Bang Vàng” California cũng đã thâm thủng 42 tỷ đô la, trong khi đó, ngân sách giáo dục phải cắt giảm 1,200 triệu Mỹ Kim, cho nghỉ việc hàng nghìn cô thầy giáo, lớp học sẽ đông học sinh hơn, và con em chúng ta phải thu ngắn niên học. Phần “joke” giả tưởng mà chúng tôi đưa ra là theo một đạo luật mới được Quốc Hội thông qua, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1, 2012 là, cho đỡ gánh nặng của nước Mỹ, các cụ sẽ được lãnh trọn số tiền 30,000, nếu đồng ý “quy cố hương.” Ngại rằng chuyện “đùa” sẽ có người tin, chúng tôi đã mạn phép ghi rõ ràng ở cuối bài là “Nửa phần bài tạp ghi hôm nay, viết vào những ngày đầu tháng 4 theo truyền thống “Cá Tháng Tư” (April Fools’ – Poisson d’Avril), hy vọng không ai mừng hụt và cũng không hy vọng đạo luật này sẽ thành hình.” Nhưng tiếc thay, trong tuần qua, mặc dầu tác giả đã ghi chú rõ ràng như thế, mà các cụ vẫn cứ tin rằng đây là chuyện thật, dù đã được con cái giải thích rằng đây chỉ là chuyện đùa “Cá Tháng Tư” Bức thư đầu tiên là của con một vị cao niên như sau:
“Sau khi đọc xong bài tạp ghi trên, Ba cháu đã gọi điện thoại cho tất cả bạn bè ở Mỹ và Việt Nam để truyền đạt thông tin này. Cháu có giải thích đây chỉ là chuyện “Cá Tháng Tư” nhưng Ba cháu vẫn không tin cháu. Ông nói chuyện này sẽ áp dụng vào năm 2012 và tiếp tục truyền miệng tin này cho các bạn bè khác của mình.”. Chiều qua, một thanh niên, cũng đã điện thoại cho tác giả than phiền rằng, bài báo đã làm cho thân phụ anh mừng hụt, vì ông cụ đau yếu luôn, muốn đỡ gánh nặng cho con cháu, nên bây giờ với số tiền được lãnh một lần như thế, ông sẽ về Việt Nam sống luôn. Tôi hỏi vì sao em không giải thích cho ba em biết, em nói em đã giải thích cho ông cụ, nhưng vì ông không biết “Cá Tháng Tư” là gì cả!
Một ông bạn già khác thì lại gọi cho tôi: “Ông ơi! Lũ con tôi nó mới đọc bài của ông, chúng gọi tôi bảo Ba có $30,000 rồi, vậy Ba có về Việt Nam sống không? Tôi trả lời: Cho tao một triệu, biết tao đã về chưa, đừng nói 30,000!” Tôi không dám nghĩ bài báo thành công khi thả cá mà có nhiều người tin thật là thả cá thành công.
Chuyện “Cá Tháng Tư” khác với “Tin Vịt,” “Tin Vịt Cồ” là tin không có, tin bày đặt, nếu cơ quan truyền thông loan tin, phải cải chính, trái lại chuyện “Cá Tháng Tư” là chuyện đùa trong ngày đầu của tháng 4, mặc dầu theo văn hóa Âu Mỹ, nhưng không lạ gì đối với người Việt Nam. Đài BBC năm 1980, đã loan tin rằng tháp đồng hồ Big Ben ở Luân Đôn sẽ bị thay thế bằng một chiếc đồng hồ điện tử! Dân chúng Luân Đôn nhốn nháo tức giận vì vội tin. Một biểu tượng lâu đời đẹp đẽ của Luân Đôn như thế mà thay bằng một chiếc đồng hồ điện tử ư? Cũng trò chơi tương tự, năm 1986, tờ The Parisien thả cá tháng 4 cho rằng chính phủ sẽ tháo gỡ tháp Eiffel để cho công ty Disney của Mỹ xây công viên Euro Disney. Những tin mới nghe qua vô lý, nhưng cũng rất có thể vì biết đâu chính phủ Pháp lại ham tiền. Vào ngày 1 tháng 4 những năm qua, cũng có nhiều tờ báo đưa những nguồn tin ai cũng trông mong trở thành sự thật, nên dễ tin như chuyện UBND Thành Phố Hồ Chí Minh chấp thuận đổi tên thành phố lại Saigon hay Đảng CS sửa Hiến Pháp, chấp nhận đa nguyên. Ký giả Thanh Toàn của SBTN đầu tháng 4 năm nay, đã đưa tin SBTN sẽ phát hình ở Việt Nam 24 tiếng, trụ sở đài đặt tại đại lộ Thống Nhất cũ, đối diện với Tòa Đại Sứ Mỹ, Việt Dzũng và Thanh Toàn sẽ về Saigon để điều hành công việc. Mặc dầu ngay trong bản tin chiều đó, xướng ngôn viên Diệu Quyên đã nói rõ đây là tin “Cá Tháng Tư” nhưng nhiều người đã vội tin. Người thương thì cho rằng với lập trường chống Cộng của SBTN làm gì có chuyện đó, người ghét thì nghi ngờ cho rằng SBTN bắt tay làm ăn với Việt Cộng!
Về câu chuyện tạp ghi tuần rồi, chúng tôi không ước tính được câu chuyện “cao niên được lãnh $30,000 đô la nếu bằng lòng trở về sinh sống ở nguyên quán” đã chạm đến nỗi đau của một số vị cao niên trên đất Mỹ. Chúng ta đã bỏ hết nhà cửa, sự nghiệp để ra đi, sang đây, bây giờ nhất là đến tuổi già, mỗi người một cảnh. Cũng có người hạnh phúc, sung sướng, nhưng cũng có người đau khổ, bệnh tật, cô đơn. Cũng có người thề không trở về Việt Nam khi còn cộng sản ở đó, nhưng cũng có những người trong thực tâm muốn về sống những ngày cuối cùng để chết trên quê hương. Chỉ khó một nỗi về làng thì phải có áo gấm, vì sĩ diện không có lẽ quy cố hương mà chỉ có hai bàn tay trắng. Qua những phản ứng của câu chuyện “Cá Tháng Tư” vừa rồi, tôi có nhận ra một điều khá đau xót, là, không phải người ta yêu nước Mỹ đến phải chết sống cho nước Mỹ, thề không trở về sống ở Việt Nam, mà chỉ vì nước Mỹ còn giúp cho chúng ta có cuộc sống lành lặn, tử tế. Nói đến chuyện có nên về Việt Nam “dưỡng già” như có một số cụ mong muốn, thì vào cuối tháng 3 vừa rồi, có một câu chuyện, mà tôi nghĩ cũng tương tự “Cá Tháng Tư” là trang Web Vnexpress vừa đăng một bức thư, nói là của một ông “Việt Kiều” Mỹ, muốn hỏi ý kiến độc giả Việt Nam, xem ông nên về hưu ở Bến Tre, Phan Thiết, Cần thơ hay Nha Trang … Ông này cho biết ông có vợ Lào và 3 đứa con đều lớn, đã sống riêng và dự định ba năm nữa về hưu, ông sẽ về ở luôn Việt Nam. Lý do của ông đưa ra là:
– Ở Mỹ vật chất rất là đầy đủ, dư thừa nhưng thiếu tình người. Ở Việt Nam tình người đậm đà hơn ở Mỹ.
– Cần bạn bè, hàng xóm người Việt Nam (ông ít bạn Việt Nam ở Mỹ, hàng xóm người Mỹ) để hàn huyên tâm sự.
– Ông muốn chính ông sẽ giúp đỡ những người nghèo, trích trong số tiền hưu của ông. Ông này cũng nói thêm mấy lời khen ngợi cái trang web ở Việt Nam là một trong những website ông thích nhất. Một ngày, nếu ông không xem những tin tức trên trang này thì ông cảm thấy như thiếu một cái gì đó. Bức thư này vừa tung lên net đã bị bà con đả kích dữ dội. Chỉ nội việc ông này đòi bỏ bà vợ già và ba đứa con ở lại Mỹ mà về Việt Nam nghỉ hưu thì cũng thấy cái “tình người” của ông rộng lớn vĩ đại như thế nào. Khách trong net đã đưa ra nhiều ví dụ, nêu ra những lý do chúng ta không nên sống dưỡng già ở Việt Nam, nhất là cái “tình người” khốn nạn giữa mẹ con, anh em, bạn bè, tình nhân với nhau, tráo trở, lừa bịp nhau giết nhau vì đồng tiền, và cứ nghĩ lúc ông hết đô la thì có còn cái tình người đó không? Tôi đồ chừng có ông Việt Kiều nào đó đã đùa dai mà Vnexpress bị mắc lỡm, hay cũng có thể đây là một bức thư do trang báo này làm “cò mồi” đưa lên, đem cái tình người “Việt-Nam-Duyên-Dáng” ra mà quyến dụ chúng ta chăng?
Nếu bài tạp ghi tuần rồi có loan một cái tin “Cá Tháng Tư để một số vị cao niên vội tin là thật rồi sau đó thất vọng, thì tác giả xin nhận lỗi, nhưng nếu cái ý tưởng này, xét ra cũng có cơ sở, thì chúng ta sẽ vận động quý vị dân cử làm dự luật trình lên Quốc Hội. Trong tình trạng cạn kiệt, chính phủ liên bang sắp đóng cửa này, bất cứ một sáng kiến nào đưa ra nhằm cứu nước Mỹ qua cơn hoạn nạn, chắc chắn đều được tuyên dương công trạng. Mong lắm thay!
Xem những đoạn phim ngắn quay cánh các cô “bảo mẫu” đối xứ với các cháu trong bữa ăn tại nhà trẻ Phương Anh trong thành phố mang tên “Bác” vừa được đưa lên internet, không ai không khỏi giật nảy mình và sau dó không cầm được nước mắt. Giật nảy mình là vì thấy những cử chi tàn ác quá đột ngột không ai ngờ trước, như bóp mũi em bé, đút liên tục rất nhanh thức ăn vào miệng em và khi phải nói là quá đau đớn khi thấy con nhỏ “trồng người” dốc ngược đầu em bé vào thùng nước. Khốn nạn hơn nữa là con “bảo mẫu” bé kẹp đầu em bé vào chỗ kín của nó dể rảnh tay đánh tới tấp vào lưng đứa trẻ, cũng như một đứa khác lắc cm bé như lắc một con gấu nhồi bông, hay đút chỗ thức ăn trẻ vừa nôn mữa ra vào lại mồm đứa bé! Phán ứng của người xem đoạn phim trên là phải đồng loạt la lên: “Sao lại có loại người ác độc như thế?”
Danh từ Hán Việt “bảo mẫu” mà Việt Nam đang dùng có nghĩa là vú nuôi, bây giờ phải nghĩ đó chính là “ác phụ,” cũng như lối đặt chữ của người trong nước bây giờ: “Lưong Y như Hà Bá – Thầy thuốc kiêm Mẹ Mìn.” Chúng ta đặt hy vọng gì cho thế hệ tương lai. khi một đửa con gái mới 19 tuổi. trong tương lai sẽ là người sinh nở, cho con bú mớm, nuôi dạy con, đã có những lối hành xử như thế:
Nhà trẻ này lấy cớ vì đồng lương của “bảo mẫu” quá ít, cha mẹ mỗi đứa trẻ chì đóng một triệu đồng mỗi tháng, trong khi đó phải chi ra bao nhiêu thứ, tổn phí nhất là tờ giấy phép, hay chưa có phép thì phải chi cho công an, phường khóm để lảm ngơ cho nhà trẻ hoạt động. Nhưng đây chỉ là lý do đưa ra để biện minh cho sự lơ là nhiệm vụ, chứ không thể nào giải thích cho cái ác lộng hành. Một ông bố kết hợp với bà dì ghẻ, đánh một đứa trẻ mởi lên sáu gảy một cái xương sườn, xong bỏ vào bao bố, đem vứt ra nghĩa địa gần nhà, cho nó khóc la hết hơi, gọi là để răn đe. Một “lương y” làm đẹp cho phụ nữ, lỡ tay làm chết khách hàng, thản nhiên mang xác đi vứt xuông sông. Một dứa con bất hiếu đi làm về, thấy mẹ bệnh chưa nấu cơm, nổi giận đánh chết mẹ. một đứa khác đánh chết bố vì không thấy bố sửa soạn gì cho ba ngày Tết. Một bà vợ đánh chồng đến chết. con thắc mắc thì nói dối, bố uống rượu ăn tiết canh bị nôn ra, xong gói xác chồng đi chôn. Một ông sư tằng tịu với tín đồ lỡ mang thai, đem giết người tình rồi chôn sau vườn chùa. Một người chồng ném vợ bị liệt xuống sông. Rất nhiều cô gải lỡ lầm sinh con rồi ném con xuống ao hay vứt vào thùng rác! Những tên công an sẳn sảng đánh chết người vì lý do thi hành nhiệm vụ. Chúng ta kể sao cho hết những cái ác chúng ta đã nghe, thấy mỗi ngày ở Việt Nam?
Chưa lúc nào cải ác hiện hình nhan nhãn và lộng hành trong xà hội như hiện nay, vì nhìn đâu cũng thấy ác, nên con người lâu ngày trở nên chai lỳ và thấy cái ác của người khác là bình thường và sẵn sàng làm điều ác như một bản năng mà không thấy.
Ở Việt Nam, sau khi Saigon đổi tên, có một tờ báo bán chạy nhất là tử “Công An TP Hồ Chí Minh” và có ông ký giả “to lớn” nối tiếng nhất là “ký giả, nhà văn Trung Tướng Hữu Ước “người cầm đầu tờ báo này trong 17 năm. Ông này đã lừng hãnh diện tuyên bố lúc về hưu: “Nhiều báo trên thể giới đã đánh giá hệ thống truyền thông của Bộ Công an Việt Nam là mạnh nhất thế giới so với các hệ thồng truyền thông của các nước, kể cả Mỹ, Nga, Pháp, Trung Quốc. Hệ thống truyền thông của công an Việt Nam có ảnh hường xã hội, có tia ra (*) phát hành lớn nhất, kênh truyền hình cũng là một trong những kênh truyền hình có số lượng người xem nhiều nhất. Như vậy thì tôi đã hoàn thành một sứ mệnh lịch sử rất vinh quang.”
Hệ thống truyền thông cua Bộ Công An Việt Nam đã vượt xa các cường quốc văn minh như Mỹ, Nga, Pháp, Tàu … vi các cường quốc khác mãi lo chuyện “vô bổ như phỗ hiến đến quần chúng những thông tin về văn hóa, khoa học, xã hội, tôn giảo, công dân giảo dục … thì báo đài của Bộ Công An Việt Nam chuyên loan tin hiếp dâm, giết người, cướp của và nhũng hành động tàn độc nhất của con người Việt Nam, tập cho độc giả, từ đứa trẻ con đến ông già làm quen với máu me, chết chóc. Tờ “Công An TP Hồ Chí Minh” hãnh diện là tờ báo bán chạy nhất ngày nay đã thành một tờ nhật báo “không thể thiếu trong mọi gia đình” để mỗi buổi sáng thức dậy, bên ly cà phê, người dân bất đầu một ngày với những tin hiếp dâm cắt cổ, đánh mẹ chữi cha, hiếp dâm trè nhỏ.
Trong một đất nước dân trí cao, thì con người có nhu cầu tìm hiểu, học hỏi và khao khát những thông tin về nghệ thuật, văn hóa, chính trị, tôn giáo … còn dân trí như Việt Nam dưới chế độ này thì thích nghe ngóng lượm tin, bàn tán chnyện giết người, hiếp dâm, cắt cổ … qua báo Công An và bặng tần Công An, mà ông Hữu Ước khoe khoang là báo Công An có số lượng nhiều nhất và kenh truyền hình Công An có số lượng người xem nhiều nhất, điều đó có gì đâu để hãnh diện, mà phài thấy xấu hổ. Chúng ta ở Mỹ, không thấy có nhật báo Cảnh Sát, cũng chẳng thấy đài truyền thanh, truyền hình riêng của FBI và người dân mỗi buổi sáng mua tờ nhật báo phải lật xem “Tin Thế Giới” hay mục “Thể Thao” hay trang “Kinh Tế” truớc, phải chăng là một đất nước tụt hậu kém cỏi thua nước CHXHCN Việt Nam?
Ông Cao Tuần, một người trọng nước đã viết trên báo Lao Động là: “Trong khi nhiều người đua nhau thể hiện “đằng cấp” bằng hình ảnh nhà cao, xe đẹp, hàng hiệu .. thì một thông tin từ Bộ Văn hóa – Thể Thao và Du lịch đưa ra khiến dư luận không khỏi giật mình: Người Việt Nam đọc trưng bình 0.8 cuốn sách/người/năm, khá thấp so với các nước trong khu vực. Thông tìn này có thể giúp giải thích đôi điều về cái ác.”
Theo tôi, có lẽ trung bình một năm người Việt Nam không đọc được một cuốn sách nhưng dọc hết 365 tờ báo Công An. Đây là tờ báo chuyên thông tin và đồng lõa với cái ác. Nhà văn Trần Mạnh Hảo đã có lần phát biểu: “Người Cộng Sản vì theo chủ nghĩa Karl Max, một chủ nghĩa “duy Ác”, không phải “duy Tâm,” cũng không phải “duy Vật”, nên đã làm cho đất mước chúng tà lâm vào cảnh điêu tàn … “Trong lịch sử nhân loại vào thể kỷ XX, có ba tên đồ tề lớn nhất, giết hơn 100 triệu người, ngoài Phát Xít Hiller, có hai tên Cộng Sản được thần dân CSVN ca tụng hết mình là Staline giết 12 triệu người từ 1924 đến 1953. Mao Trạch Đông với 65 triệu người chết từ 1949 dến 1976, chưa kể đến tên Hồ Chí Minh và Pol-Pot trong danh sách các ác nhân của thời đại.
Phật Giáo có nói: “Đừng thấy điều thiện nhỏ mà không làm, thấy điểu ác nhỏ mà làm!”
Công giáo cũng có câu: “Đừng để điều ác thắng mình, nhưng hây tiếp tục lẩy điều thiện thắng điều ác”.(Rô-Ma 12:21.) Lẽ cố nhiên muốn đẩy lùi cái ác thì xã hội cần phải biểu dương cái thiện, nêu những tấm gương thiện để giáo dục con người về nhân cách sống. Nhưng trong khi BS. Nguyễn Thu Thủy tố cáo vụ tráo đổi thủy tinh thể ở bệnh viện Mắt Hà Nội và của chị Hoàng Thị Nguyệt tố cáo giả mạo kết quả xét nghiệm ở Bệnh viện Đa Khoa Hoài Đức bị gặp rắc rối, thì Dược Sĩ Trần Kiều Oanh đứng lên tố chuyện ăn tiền hối lộ tại phòng Giám Định Y Khoa, Sở Y tế Bình Phước bị đuổi việc.
Ai nói cái Thiện luôn luôn thắng cái Ác?
Có, nhưng không phải dưới chế độ Cộng Sản!
(*)”tia ra:” Ông Hữu Ước không để trong ngoặc kép, chữ “tirage”(tiếng Pháp) là số lượng phát hành!
Chúng tôi không còn buồn đếm từng tuần nữa. Khi tôi ra lại mặt trận thì vào tiết đông, nên khi bom đạn nổ tung các cục đất băng giá cũng nguy hiểm không kém gì các mảnh miễng. Giờ thì cây cối lại xanh. Đời sống chúng tôi chạy đi chạy lại các nhà trọ và mặt trận. Chúng tôi hầu như đã quen với nó; chiến tranh là một nguyên nhân chết cũng như ung thư và lao phổi, cũng như cảm cúm và kiết lị. Chỉ có chết thường hơn, biến thiên hơn và khủng khiếp hơn. Tư tưởng chúng tôi là đất sét, chúng được đóng khuôn theo các thay đồi của thời gian; khi nào nghĩ ngơi thì tư tưởng vui; khi nào dưới lửa đạn tư tưởng chết. Những cánh đồng hang hốc ở bên trong và bên ngoài. Ai thì cũng thế, chả cứ gì chúng tôi ở đây – những cái từng sống trước đây hiện giờ không còn giá trị và người ta gần như không còn biết đến chúng. Danh giá, nuôi nấng giáo dục đều thay đồi, hầu như bị xóa bỏ và hầu như không còn được thừa nhận. Đôi khi chúng đưa lại một lợi thế để có một địa vị kiếm chác; nhưng đồng thời cũng mang theo những hậu quả, ở như chỗ chúng thức tỉnh những thành kiến cần được khắc phuc. Giống như thể truớc kia chúng ta là những đồng tiền của những tỉnh khác nhau và giờ đây chúng ta bị nấu chảy và tất cả đều mang chung một dấu. Muốn tìm ra lai các giá trị xưa, chính cái kim khí phải được thử lửa. Trước hết chúng tôi là lính và sau nữa, cũng là những con người theo một cách kỳ dị và xấu hổ.
Đày là một tình huynh đệ vĩ đại, nó thêm cho một hoàn cảnh sống thoát thai từ giữa lòng nguy hiểm, từ cái căng thẳng và tuyệt vọng của sự chết, một cái gì là tình bạn chân thành của dân ca, của cái tình đoàn kết giữa các kẻ tù đầy và của cái lòng chung thủy tuyệt vọng đối với nhau của những con người bị kết án tử hình đi tìm một cách hoàn toàn lạnh lùng một sự hưởng thụ phù du những giờ theo như chúng đến. Nếu người ta muốn ca tụng nó, nó tức thì là anh hùng và tầm thường nhưng ai mà muốn ca tụng nó kia?
Chính sự hưởng thụ phù du này, chẳng hạn, đã khiến Tjaden cầm thìa xúc vội xúc vàng phần súp thịt hầm nấu đậu của mình khi có tin địch tấn công, chỉ vì nó không dám chắc rằng một giờ nữa nó có còn sống hay không. Chúng tôi từng cãi vã nhau rằng làm thế là đúng hay sai. Kat không tán thành, vì, bác nói, mình phải trù tính có thể bị thương ở bụng và trong trường hợp này, dạ dày đầy nguy hiểm hơn là dạ dày rỗng. Những cái như thế là những vấn đề thực sự, là những vấn đề nghiêm trọng đối với chúng tôi, chúng không thể nào khác. Ở đày, ở bên bờ cải chết, cái sống theo một đường hướng giản dị một cách lạ kỳ, nó giới hạn ở cái gì cần thiết nhất, tất cả những gì khác nằm vùi trong giấc ngủ mơ hồ; tính cách man dại và sự tồn tại của chúng tôi là ở đó. Nếu chúng tôi lại phân tách tế nhị hơn thì chúng tôi hẳn đã phát điên từ lâu, hẳn đã đào ngũ hoặc đã ngã gục. Cũng như trong một cuộc thám hiểm bắc cực mỗi một biểu thị sống chỉ nhắm vào sự duy trì sống, và tuyệt đối tập trung vào đấy. Tất cả những gì khác đều bị gạt bỏ vì chúng tất làm hao phí sinh lực một cách không cần thiết. Đó là phương sách duy nhất đề tự cứu mình. Vào những giờ tĩnh lặng, khi cái phản ảnh dị kỷ của ngày trước kia, như một tấm gương mờ, rọi qua tôi cái bóng dáng của tôi hiện giờ, tôi thường đối diện với chính tôi, như trước một kẻ xa lạ, và tự hỏi cái nguyên lý hoạt động không thể có tên, cái nguyên lý nó tự mệnh danh nó là sự sống đã tự thích ứng thế nào ngay cả với cái hình dáng này. Tất cả các biểu thức khác nằm trong một giấc ngủ đông, sự sống chỉ là một sự không ngừng canh chừng sự đe doạ của cái chết:- nỏ đã biến chúng tòi thành những con thú không suy tư để trao cho chúng tôi cái vũ khí bản năng — nó đã tăng cường chúng tôi bằng sự đần độn, để chúng tôi không rã rời trưởc sự khủng khiếp, cái khủng khiếp nó tất tràn ngập chúng tôi nếu chúng tôi lại có một nếp tư tưởng sáng suốt và ý thức nó đã thức tỉnh ở chúng tôi cái ý thức tình bạn, để chúug tôi thoát kbỏi cải vực thẳm cô đơn – nó đã cho chúng tôi mượn cái thờ ơ của những con dã thú nào đề bất chấp mọi sự chúng tôi lúc cũng tri giác được cái thực tế và tích trữ nó như một dự phòng trước sự tàn sát của cái không. Do đó chúng tôi sống một nếp sống kham khổ khép kín hết sức là phiến diện và môt chuyện xảy ra ít khi làm nẩy lửa. Rồi là bất ngờ một ngọn lửa khao khát phẫn uất ghê gớm bùng cháy.
Đó là những phút nguy hiểm. Chúng cho chúng tôi thấy rằng sự xắp xếp chỉ là giả tạo. rằng sự nghĩ ngơi chẳng phải là nghỉ ngơi, mà là sự tranh đấu ác liệt nhất để tìm nghỉ ngơi, Cứ nhìn cải hình thức bề ngoài của nếp sống chúng tôi, chúng tôi không khác gì giống người man rợ; nhưng trong khi họ lúc nào cũng được là man rợ, vì cái thực chất của họ là thế, và có giỏi ra cũng chỉ phát triển hơn tí nữa bằng cách sử dụng các ma lực của họ; còn như chúng tôi thì ngược hắn lại; – các nội lực của chúng tôi đâu phải được sử dụng đề đi đến tiến hóa, mà để đi đến thoái hóa, Người man rợ vốn dĩ cổ lễ, vì bản chất họ cổ lỗ, còn như chúng tôi cổ lỗ theo một chiều hướng giả tạo và do sự cố tình triệt đề. Và đêm đến, chợt tỉnh giấc chiêm bao, hoang mang ám ảnh bởi hàng ngàn hàng vạn khuôn mặt, thằng lính cảm thấy một cách kinh hoàng rằng sự yểm trợ mới mong manh làm sao, cái giới hạn phân chia nó với tối tăm mới mong manh làm sao. Chúng tôi là những ngọn lửa nhỏ nhoi nép sau những bức vách mong manh trước cơn giòng tố của tiêu tan và điên loạn, trong đó chúng tôi chập chờn le lói và lắm khi gần như phụt tắt. Rồi cái rền rền âm ỉ của chiến trận trở thành một vòng vây bao quauh cbúng tôi, chúng tôi bò vào lên chính chúng tôi và đôi mắt thao láo nhìn chằm chẳm vào đêm tối. Sự phấn khởi duy nhất của chúng tôi là hơi thở đều đều của mấy thằng bạn đang say giấc điệp và cứ thế chúng tôi chờ ban mai đến.
***
Từng ngày từng giờ, từng quả đạn và từng cái chết một chém vào cái yểm trợ mong manh này và năm tháng làm tiêu hao chúng tôi một cách mau lẹ. Tôi thấy nó đang dần dần tan rã quanh tôi. Chuyện thẳng Detering nghe mà phát đièn được.
Nó là một thắng hết sức thận trọng. Vô phúc một hôm lại thấy một cây anh đào trong một ngôi vườn. Chúng tôi vừa ở mặt trận về, và khi rẽ vào con đường đến chỗ trọ mới, trước mặt chúng tôi một cây anh đào xuất hiện, đẹp tuyệt trần dưới ánh bình minh. Không một chiếc lá, cả một đống hoa. Tối đến Detering mất dạng. Mãi mới thấy nó về tay cầm hai nhánh anh đào. Chúng tôi đùa nó, hỏi phải chăng nó đi đám cưới. Nó không đáp, nhưng đặt hai nhánh lên giường. Đêm tôi nghe nó lục đục, hình như gói ghém. Tôi cảm có cái gì bất thường mới đi lại nó. Nó nói có gì đàu và tôi bảo hắn:
«Detering, đừng có làm trò thối nghe. »
«Chà cái gì mà thối – có cái tao đéo ngủ được .- »
«Thế chứ mày đi bẻ anh đào làm gì? »
«Tao còn muốn bẻ thêm, » nó đáp, bâng quơ và sau một lúc: «Chả ở nhà tao có cả một vườn anh đào. Khi chúng nở hoa, đứng trên đống rơm nhìn xuống như cả một tấm vải trắng xoá. Độ này là hoa nở.»
«Biết đâu mày sắp được về phép. Không chừng còn được trả về làm ruộng. »
Nó gật, nhưng óc nó để đâu. Khi hứng lên, mấy cái thằng dân quê này trông mặt thật kỳ, nửa rụt rè nửa khao khát, nửa ngây ngô nửa say sưa. Để đánh trống lãng, tôi xin nó một mẫu bánh mì. Nó lẳng lặng đưa tội. Thật đáng ngại, vì bình thường nó chó đá lắm. Nên tôi mới thức rình xem. Không gì xảy ra; sáng hôm sau nó vẫn bình thường.
Có vẻ như nó nhận thấy tôi rình nó; nhưng sáng hôm sau nó biến mất. Tôi thấy nhưng không nói gì cả, đề cho nó có thì giờ, không chừng nó đang suy nghĩ. Bạn nhiều thằng đã xâm nhập Hoà Lan. Nhưng khi điểm danh thấy vắng nó. Một tuần sau chúng tôi nghe tin nó bị hiến binh dã chiến tóm, cái tụi quân cảnh dễ ghét ấy. Nó đi về phía Đức Quốc, thật là vô phương, dĩ nhiên – và, dĩ nhiên, nó còn làm nhiều cái khác một cách xuẩn ngốc. Ai thì cũng thừa hiểu rằng hắn trốn chỉ vì nhớ nhà và trong một luc loạn thần. Nhưng làm sao một toà án quân sự ở xa mặt trận hàng mấy trăm dặm biết thế? Rồi chúng tôi biệt tăm luôn thằng Detering. Nhưng đôi khi cái nguy hiềm này còn bùng nổ bằng nhiều cách khác, những cái bị dồn ép này, như từ một nồi hơi quá nóng. Chuyện thằng Berger chết thật là thảm thương. Giờ thì các chiến hào của chúng tôi bị bắn tan tành và chúng tôi có một chiến tuyến co dần, cho nên có thể nói là không còn chiến tranh chiến hào. Khi đánh đi đánh lại liên miên, mãi rồi chỉ còn một chiến tuyến nát vụn và ác chiến giành giật nhau từng hố bom một. Chiến tuyến đã bị chọc thủng, và khắp nơi đều tự lập thành những nhóm nhỏ tiếp tục đánh nhau từ các cụm hang hốc. Chúng tôi nằm trong một hốc, quân Anh đang đánh xéo tới, chúng đi vòng hông để đánh tập hậu, Chúng tôi bị bao vây. Muốn hàng không phải dễ, sương mù và khói đạn lơ lửng trên đầu chúng tôi, không ai có thể nhận ra nổi là chúng tôi muốn đầu hàng và không chừng chúng tôi cũng chẳng muốn, những lúc như thế chính thằng lính cũng không biết rỏ ý mình. Chúng tôi nghe tiếng lựu đạn nổ đến phía chúng tôi. Khẩu đại liên chúng tôi quét thành nửa vòng trước mặt. Nước mát bốc thành hơi, chúng tôi vội vã chuyền thùng tay nhau, mỗi thẳng đái vào thùng và như thế lại có nước, súng lại tiếp tục nhả đạn. Nhưng sau lưng chúng tôi đạn nổ mỗi lúc mỗi gần.
Vài phút nữa là chúng tôi đi đời. Rồi, sát bên chúng tôi, một khẩu đại liên khác rền lên. Súng đặt trong một hốc ngang với chúng tôi, Berger đã đi mò được và giờ thì phản công từ sau, thế là chúng tôi được giải tỏa và liên lạc được với hậu quân.
Sau đó, khi nằm ẩn nấp tương đối khá an toàn rồi, một thẳng hỏa đầu vận lương thực cho biết cách đấy chừng hai trăm thước có một con chó đưa tin nằm bị thương.
«Ở đâu? » Berger hỏi. Tên kia chỉ rõ địa điểm, Berger đi một lát đưa con chó về hai là bắn nó chết. Sáu thằng trước kia chắc nó đã khòng bận tâm, nó đã biết điều hơn. Chúng tôi cản nó. Nhưng nó khăng khăng đi, chúng tôi chỉ biết nói: «Mày khùng rồi,» và đành mặc nó. Vì những vụ khùng ở mặt trận như thế này trở thành nguy hiểm nếu mình không đến thằng lính nằm xoài và ghì chặt lấy nó. Khốn nỗi Berger lại cao thước tám và là thằng khoẻ nhất đại đội. Quả tình là nó điên vì nó phải băng qua hàng rào hỏa lực; nhưng cái tiếng sét nó đập xuống đâu đấy trên đầu chúng tôi đã đập trúng nó nên nó nổi cơn điên. Nó cũng đánh trúng mấy thẳng khác nên chúng bắt đầu la hét và bỏ chạy có thẳng còn đưa tay đưa cẳng đưa răng ra cào đất đề vùi mình.
***
Muller đã chết. Một thằng đã bắn thẳng vào bụng nó với một khẩu Verey. Nó sống sót trong nửa giờ, rất tỉnh táo nhưng vô cùng đau đớn. Trước khi chết nó trao sổ tay nó cho tôi và tặng tôi đôi bốt vẫn cái đôi nó thừa hưởng được của Kemmerich. Tôi đi, vì bốt vừa như in. Sau tôi là Tjaden, tôi đã hứa để lại cho nó. Chúng tòi đã chôn cất Muller được xong xuôi, nhưng chắc gì nó nằm được yên xác. Chúng tôi đang tháo lui. Bên kia có quá nhiều quân Anh quân Mỹ. Cũng lại quá nhiều thịt bò hộp và bánh mì trắng. Quá nhiều súng mới nữa. Quá nhiều máy bay. Còn chúng tôi thì hốc hác, đói dở. Lương thực quá tệ lại thêm những thức nhân tạo làm chúng tôi thêm ốm. Các chủ nhà máy ở Đức giàu to; kiết ly tàn phá lòng ruột chúng tôi. Dãy nhà cầu lúc nào cũng đông khách; phải cho những người ở nhà thấy các bộ mặt xám xit, vàng khè, thiên não, tàn tạ ở đây, những thân hình muốn xum này mà ỉa chảy vắt ra từng giọt máu, mà đôi môi run rẩy méo xệch vì đau quặn, nhe răng bảo nhau:
«Kéo quần lên không muốn nổi mày ơi- Trọng pháo chúng tôi khạc chẳng ra, đạn quá ít, nòng đã mòn bắn chẳng đâu vào đâu, mà còn toác ra cho đạn rơi ngay lên đầu chúng tôi. Ngựa lại thiếu. Các lính mới toàn là những thẳng nhóc thiếu máu cần được nghỉ ngơi, vác không nổi ba-lô, chỉ tài biết chết. Chết hàng vạn. Chúng chẳng biết gì là chinh chiến, chỉ biết đi tới để rồi bị bắn gục. Một chiếc máy bay đánh tan hai đại đội như bỡn, chúng vừa chân ướt chân ráo xuống tàu chưa kịp nghe nói đến cái gì gọi là ẩn nấp.
«Chả mấy lúc nước Đức trống rỗng, »
Kat nói.
Chúng tôi không còn hy vọng có ngày kết thúc. Chúng tôi không bao giờ nghĩ xa đến thế. Thằng lính có thể cần một viên đạn và chết tốt, nó có thể bị thương và bệnh viện là chỗ dừng chân. Ở đấy, nếu họ không cưa chân cưa tay nó, thì không sớm thì mnộn nó cũng rơi vào tay một trong số những y sỹ giải phẫu đeo Quân công bội tinh trên ve áo bảo nó: «Ơ kìa, một chân có hơi ngắn? Nếu mày gan chút mày khỏi ra mặt trận. Thằng này số dách. Tan! »
Kat kể lai một chuyện mà suốt từ Vosges đến Flanders không ai không biết, chuyện một lão y sỹ giảo nghiệm đọc các tên trên danh sách và mỗi lần một thẳng đi đến trước lão, lão không buồn nhìn chỉ nói vỏn ven: «Số dách. Ngoài kia cần lính. » Một thẳng lê một chân gỗ đến trước lão, lão nói Số dách «Và rồi, » Kat cao giọng «thằng bia bảo lão: ‘Em đã có một cẳng gỗ rồi, nhưng khi chúng bắn mất đầu em trở lại đây, lúc đó em hẳn được lắp một cái đầu gỗ và được làm y sỹ giảo nghiệm’» Câu đáp làm chúng tôi khoái trá vô cùng.
Cũng có những bác sĩ giỏi và có chứ không phải không; nhiều là khác; nhưng thế đó, bất cứ thằng lính nào một lần nào đó trong hàng trăm lần khám nghiệm vô phúc có thể rơi vào móng vuốt của một trong số những con người thich tạo anh hùng không phải là it ấy, tự hào là mình có thề biến cải những thẳng C3 và B3 thành những A1, biến mấy cũng được. Có nhiều chuyện đại loại như thế, phần lớn còn chua chát hơn. Nhưng thế đó, và chả thấy nói gì là nổi loạn hay xúi giục nổi loạn gì. Những câu chuyện rất chân thật và từng bảo trắng bảo đen: vì trong quân đội thiếu gì chuyện giả mạo, bất công, đê tiện. Vậy chứ hết liên đoàn này đến liên đoàn liên tiếp được tung vào một cuộc chiến đấu mỗi ngày mỗi vô vọng, hết cuộc công kích này đến cuộc công kich khác dọc theo cái chiến tuyến hao mòn, rút lui, tan nát, không là gì đáng kể sao?
Từ một sự làm trò cười các chiến xa đã trở thành một vũ khí khủng khiếp. Toàn bằng thép chúng lao đến thành những hàng dài và không gì hơn chúng lại hóa thân cho sự khủng khiếp của chiến tranh.
Chúng tôi không thấy những khẩu đại bác pháo kích chúng tôi; các hàng công kích của địch là những thằng bộ binh cũng như chúng tôi; nhưng các chiến xa này là những cái máy, bánh xích chúng chạy không biết ngừng cũng như chiến tranh, chúng là tiêu diệt, chúng lăn vô tri vô giác vào các hang hốc, rồi lại leo lên không ngừng không nghỉ cả một đoàn rầm rồ, phà khói, thép đầy mình, những con vật thép bất khả xâm phạm nghiến nhừ những kẻ chết cũng như bị thương chúng tôi rùng mình dưới lớp da mỏng manh của mình trước chúng, trước cái sức nặng khồng lồ đồ sộ của chúng vũ khí chúng tôi chỉ là những cọng rơm, và lựu đạn chỉ là lửa diêm. Bom đạn, máy hơi ngat, và các đoàn xe tang nghiền nát, đói khát chết chóc. Kiết lị, cảm cúm, thương hàn giết gióc thiêu đốt chết chóc. Chiến lũy, bệnh viện, mồ tập thể chả còn gì khác.
***
Trong một cuộc tấn công, đại đội trưởng chúng tôi, Bertinck, ngã guc. Ông là một trong những vị sĩ quan anh dũng ngoài tiền tuyến lúc nào cũng dẫn đầu vào bất cứ chỗ nào hiểm nguy nhất. Ông xông xáo với chúng tôi đã hai năm không hề bị thương, nên rút cuộc một cái gì phải đến. Chúng tôi chiếm một hố bom và bị vây.
Mùi xăng mùi dầu bốc lên với mùi khói đan. Chúng tôi thấy bai tên với một cái phun lửa, một thằng vác thùng sau lưng, một thằng cầm vòi phun lửa ra. Nếu chúng lại được gần vừa tầm thì chúng tôi đành tới số, chúng tôi chưa thể rút lui. Chúng tôi khai hỏa. Nuưng chúng vẫn lầm lì tiến tới và tình trạng coi mòi nguy kịch.
Bertinck cũng nằm trong hốc với chúng tôi. Khi thấy rằng chúng tôi không thể thoát vì dưới làn hỏa lực bắn rát chúng tôi pbải bám lấy khẩu súng trường, bò ra khỏi hốc, nằm ép người chống củi tay và nhắm. Ông bắn đồng thời một viên đạn găm vào ông, ông bị hạ. Tuy nhiên ông vẫn nằm và lại nhắm;- ông đã lảo đảo nhưng lại nhắm; và rồi súng nổ đảnh tạch, Bertinck buông súng nói «Xong» và trườn lại xuông hốc. Thằng phun lửa đi sau bị trúng đạn, hắn ugã gục, rồi lửa tuột khỏi tay thằng kia, lửa bén tứ phía và hắn bị thiêu.
Bertinck bị trúng ngực. Một lúc sau một mãnh miểng văng trúng cằm và cũng mãnh ấy còn đủ sức mạnh rạch đùi thang Leer.
Leer chống lên cánh tay rên rỉ, máu chảy như xối, không ai còn biết xoay sở cách nào đề cứu hắn. Như một cái ống lủng, chỉ vài phút sau nó lịm. Giờ thì toán tiếc còn ích gì cho nó, thẳng giỏi toán nhất trường?
***
Các tháng trôi qua. Hè 1918 là cái hè đẫm máu nhất và khủng khiếp nhất. Các ngày đẹp như những thiên thần mặc áo vàng xanh, khó hiểu, đứng trên cái vòng tiêu diệt. Ở đày thằng nào cũng biết là mình sắp phải thua. Chả cần phải nói nhiều, chúng tôi đang tháo lui, sau trận tồng công kích này, chúng tôi không còn đủ sức tấn công nữa, không còn người, không còn đạn dược. Tuy nhiên vẫn hành quân – cái chết vẫn tiếp tục.
Hè 1918 – Chưa bao giờ cái sống dè xẻn đối với chúng tôi lại hấp dẫn như lúc này; – các hoa mào gà đỏ ngoài đồng cỏ quanh chỗ chúng tôi đóng, các con côn trùng êm ả đậu trên các lá cỏ, các buổi tối nóng nực trong các căn phòng tôi tối mát mẻ, các bóng cày đen huyền bí buổi hoàng hôn, các tinh tú cùng các giòng nước chảy trào, các giấc mơ và giấc ngủ dài – Ôi sống, sống, sống!
Hè 1918 – Chưa bao giờ chúng tôi lại âm thầm đau khổ bằng là khi lại lên đường ra mặt trận. Những tin đồn đãi rùm beng ray rứt về một cuộc đình chiến và hòa bình lởn vởn trên không, chúng nằm trong lòng chúng tôi khiến sự trở lại mặt trận càng thêm đau khổ hơn bao giờ hết.
Hè 1918 – Chưa khi nào nếp sống ngoài chiến tuyến lại chua chát hơn lại đầy khủng khiếp hơn là trong những giờ pháo kích oanh tạc, khi các bộ mặt tái xanh nằm vùi xuống đất và các bàn tay níu chặt lại cái ý nghĩ: Đừng! Đừng! Đừng bâygiờ! Đừng bây giờ vào cái phút chót này.
Hè 1918 – hơi thở hy vọng tràn ngập các cánh đồng xơ xác, sự bồn chồn nóng nảy đến điên người, bồn chồn thất vọng, bồn chồn sợ chết đến tê tái tâm can, cái câu hỏi cuồng loạn:
Tại sao? Tại sao họ không kết thúc cho rồi? Và tại sao các tin đồn đãi kết thúc kia lại cứ hay lẩn quẩn?
***
Ở đây đến lắm máy bay, và chúng tự tin đến mức còn bay săn từng thằng lính một, giống như thể săn thỏ. Vì cứ mỗi chiếc phi cơ Đức bay lên là ít nhất có năm chiếc Anh và Mỹ bay lại. Vì cứ mỗi thằng lính Đức đỏi khát, tiều tụy tiến lên thì lại có năm thằng lính địch xông lại, khoẻ mạnh dồi dào. Vì cứ một ổ bánh mì quản đội Đức lại có năm chục hộp thịt bò ở bên kia. Chúng tôi không phải đánh thua, vì là lính, chúng tôi dánh giỏi hơn, kinh nghiệm hơn; chúng tôi bị đánh tan, bị đẩy lui trước quân số đông hơn thập bội. Sau chúng tôi là những tuần mưa gió trời xám, đất cháy xám, chết xám. Bước ra là mưa thấm đẫm áo trong áo ngoài; – và ngoài tiền tuyến lúc nào chúng tỏi cũng ướt đẫm. Chúng tôi không bao giờ lại được khô ráo. Những thẳng đi bốt cao buộc bao cát quanh miệng bốt để cho bùn rớt vào chậm lại. Súng ướt, binh phục ướt, cái gì cũng chảy cũng tan, đất là một đống bầy nhầy sũng nước, trơn bóng với những vũng vàng vàng và những giòng máu đỏ chảy quanh co trong đó nằm co ro những thằng đã chết với những thằng bị thương và những thẳng sống sót,
Giông tố quất xuống chúng tôi, giữa tiếng ầm ầm bỗn độn xám vàng mảnh đạn bay rào rào xen lẫn tiếng kêu như trẻ thơ của những thằng bị thương, và trong đêm tối cái sống tan tác rên rì rụng rơi trong im lặng.
Tay chung tôi là đất, thân xác chúng tôi là đất sét và mắt chúng tôi là vũng nước mưa. Chúng tôi không rõ phải chăng chúng tôi còn sống.
Rồi là hơi nóng chìm nặng vào các hốc bom của chúng tôi như một con sứa âm ẩm làm nghẹt thở và một ngày cuối hè, khi mang thức ăn đến, Kat đã gục ngã. Chỉ có bai thẳng chúng tôi. Tôi băng vết thương cho bác; hình như bác bị dập ống chân. Đạn thấu xương và Kat rên tuyệt vọng: «Mãi rồi cũng nhè ngay cái lúc cuối.
Tôi an ủi bác. «Ai biết được nó còn kéo đến bao lâu! Giờ thế là bác được thoát-»
Vết thương bắt đầu chảy máu xối xả. Tôi không thề bỏ Kat lại một mình đề đi tìm cáng. Dù sao, tôi có biết quanh đây có trạm cáng nào. Kat không năng lắm; nên tôi vác bác lên lưng đề đi đến trạm cứu cấp.
Hai lần chúng tôi phải nghỉ. Dọc đường bác đau buốt. Chúng tôi không nói gì nhiều. Tôi đã mở cổ áo tôi và thở ì ạch, mồ hôi đầm đìa vì vác nặng. Dù sao tôi cũng giục bác phải đi tới, vì chỗ này nguy biểm.
« Ta đi uữa chứ, Kat? »
« Phải đi, Paul. »
« Thế thì đi. »
Tôi đỡ bác lên, bác đứng trên một chân còn lành và tựa mình vào một gốc cây. Tôi nâng cái chân bi thương lên rất từ từ, đoạn bác nhảy một cải và tôi ôm lấy đầu gối của chiếc chân lành dưới cánh tay mình. Đi kbó hơn. Thỉnh thoảng một quả đạn rít qua. Tôi cố đi mau hết sức mình, vì máu ở vết thương của Kat chảy giòng trên đất. Chúng tôi không thể ần nấp tránh các bom đạn; trước khi đến chỗ ẩn thì nguy cơ cũng đã qua.
Chúng tôi nằm xuống một hố đạn nhỏ để nghỉ. Tôi mở bình nước cho Kat uống ít trà. Chúng tôi hút một điếu. « Thế nào, Kat, » tôi nói buồn rầu, « mãi rồi chúng mình cũng đến sắp xa nhau.»
Bác im lặng nhìn tôi.
«Nhớ khòng, Kat, bữa hai thẳng bắt trộm ngỗng? Và cái lần bác đưa tôi ra khỏi một hàng rào hỏa lực khi tôi còn là một thẳng tân binh non choẹt và bị thương lần đầu? Lúc đó tôi khóc dữ. Kat, thế mà đã gần ba năm rồi». Bác gật.
Cái đau khổ phải cô đơn lại dâng lên trong tôi. Kat mà đi khỏi là tôi chẳng còn một thẳng bạn nào.
«Kat, dù sao chúng mình phải còn gặp lại nhau, nếu hoà bình đến, trước khi bác trở lại. »
«Liệu chú mày có cho tao sẽ lại được đánh dấu A1 với cái cẳng này không? » bác hỏi chua chát.
«Được tĩnh dưỡng rồi nó lành. Gân cốt không sao. Không chừng khập khiễng chút đỉnh. »
«Cho tao thêm điếu thuốc, » bác nói.
«Không chừng sau này chúng mình cùng làm gì với nhau, Kat? » Tôi khổ tâm hết sức, không thể nào mà Kat, – Kat bạn tôi, Kat với đôi vai khom khom và bộ râu mép lưa thưa, Kat, mà tôi biết hơn là biết bất cứ ai khác, Kat mà cùng tôi chia sẻ mọi nỗi suốt mấy năm nay – không thề nào mà không chừng tôi sẽ không bao giờ còn gặp lại Kat.
«Dù sao cũng nhớ cho tôi địa chỉ nhà nghe, Kat. Và đây là địa chỉ tôi, để tôi ghi cho»
Tôi viết địa chỉ bác vào sổ tay. Mới giờ mà tôi đã cảm thấy bơ vơ trơ trọi biết bao, mặc dầu bác vẫn còn ngồi bên tôi. Phải chi mình tự bắn mình vào chân để được cùng đi với bác?
Bỗng Kat khò khè và mặt tái hẳn. «Ta đi thôi, » bác lắp bắp.
Tôi nhảy lại, nóng lòng giúp bác, lai vác bác lên lại cổ chay và rồi bước đều đều chầm chậm, đề khỏi xóc chân bác quá nhiều. Họng tôi rát bỏng; mọi cái nhảy múa đỏ đen trước mắt tôi, tôi cố lảo đảo bước trông đến thiều não và mãi rồi cũng đến trạm cứu cấp.
Vừa đến tôi ngã quị, nhưng còn đủ sức ngã xiên về bên chân lành của Kat. Vài phút sau tỏi lại đứng lên. Chân tay run lầy bẩy. Tôi lần mài mới lấy được bình nước tu một hơi. Moi tôi run ray cố tu. Nhưng tôi mỉm cười – Kat được cứu thoát. Một lúc sau tòi mới dần dần nhận ra các giọng nói hỗn độn bên tai mình.
« Rõ anh phi sức rồi, » một anh y tá nói.
Tôi nhìn anh bàng hoàng.
Anh ta trỏ Kat. «Hắn chết cứng rồi. »
Tôi không hiểu. «Chỉ có trúng ống chân mà,» tôi nói.
Anh ta vẫn đứng yên. «Cả đây nữa. »
Tôi quay lại. Mắt tôi còn mờ, mồ hôi tôi lại toát, nó chảy trên mí tôi. Tôi đưa tay quẹt và nhìn chăm chăm vào Kat. Bác nằm bất động. «ngất, » tôi thốt.
Anh y tá huýt sẽ. «Tôi biết chứ. Hắn chết rồi. Các tiền không nào.»
Tôi lắc đầu: «Không thể thế được. Mới mười phút trước đây tôi trò chuyện với bác ấy mà. Bác ấy ngất đó thôi. »
Tay Kat còn ấm. Tôi luồn tay dưới vai bác để xoa màng tang bác với chút nước trà. Tôi cảm thấy các ngón tay tôi ươn ướt. Khi rút tay ra khỏi sau đầu bác, thấy tay dính máu. «Thấy chưa.» Anh y tá huýt một lần nữa qua hai hàm răng. Dọc đường tôi khòng dè Kat đã bị một mảnh miễng găm vào đầu. Một cái lỗ nhỏ, phải là một mảnh miễng rất nhỏ chạy lạc. Nhưng thế cũng đủ. Kat chết rồi.
Tôi chầm chậm đứng lên.
«Anh lấy sổ lương và các đồ vật của bác ấy đi chứ? anh cai hỏi tôi. Tôi gật và anh ta trao cho tôi.
Anh y tá chưng hửng. «Các anh không họ hàng chứ? »
Không, chúng tôi không họ hàng. Không, chúng tôi không họ hàng. Phải chăng tôi bước? Phải chẳng tôi còn đôi chân? Tôi ngước mắt, tôi để chúng chạy quanh và tôi quay lại với chúng, một vòng, một vòng, và tôi đứng giữa. Mọi vật đều như thường. Chỉ có anh lính Stanislans Katczinsky đã chết. Rồi tôi không biết gì nữa.
Đó là con đường nhỏ nằm ở ngoại thành, bên hông cài đặt thưa thớt nhà cửa, mái ngói phủ rêu xanh ẩn mình sau những cây lưu niên luôn dày đặc bóng lá bao che, thường trực ôm giữ sự quạnh vắng. Con đường không mấy dài, đã thế nó bị cắt nhiều đoạn bằng sự hiện hữu của một vài am miếu chẳng biết thờ phượng những thần linh nào, kiến trúc cổ xưa, vách vôi bạc màu nhưng những chân nhang thì luôn mới, ít khi nguội lạnh cọng khói xám trườn thân dật dờ, xô đẩy sự doạ dẫm trong câm nín trên từng nấm mồ vô chủ rải rác đó đây. Sánh đôi với đường vắng là con sông ngoài kia tự động bẻ ngoặt chia nhánh vào, đòi vươn mình ra cửa biển, mực nước thấp vào hè và ngấp nghé bờ, dâng cao rất nhanh vào mùa đông để chẳng mấy lâu thuỷ thần giận lẫy phật lòng làm tình làm tội. Bình thường, diện mạo nó chỉ thay đổi vào bốn chữ vĩnh hằng: Nắng đục mưa trong. Ở đâu có nước ở đó có cá, ở đâu có sông ở đó có đò nổi trôi, cắm dùi. Muôn đời sông nước đều thuỷ chung nuôi cá và người, đơn giản để nghĩ vậy. Đò có gái bán hoa, khách làng chơi xuống ngủ qua đêm khám phá thêm chuyện bí mật khác: Mùa đông, những tối mưa nghiêng sợi vãi khói trắng mịt mờ đầy sông, lúc ấy con nước sao ấm lạ. Ấm như thanh củi vừa tàn cháy hết độ dài dưới đít một cái nồi nhôm chưa làm sôi tăm dung dịch đang chứa. Có thể trần truồng dạng chân ra vốc nước kỳ cọ lau mình lau mẩy vệ sinh cheo leo trên trường lưu thuỷ mang tên dòng Hương. Đã là hương thì không hẳn đều là hương thơm. Mọi vật ở đời luôn có hai mặt, sấp ngửa, thiện ác, đẹp xấu. Không rõ từ bao giờ trên con đường cô tịch dễ đi vào lãng quên ấy hiện mọc lên một võ quán chuyên về Nhu đạo, dựng bảng hiệu mang tên Suzuki. Khác với Không thủ đạo (Karaté) thuần cương, Judo là thứ nghệ thuật mượn nhu để khắc chế cương, lấy tĩnh chế động. Nhờ những môn sinh chí thú việc trau dồi võ thuật siêng giỏi chân tới võ đường, dần dà chính họ đã làm cho con lộ đìu hiu nọ có sinh khí, vơi bớt sự trầm mặc, chộn rộn thong thả ghé ngang. Võ đường Suzuki cắm đặt nhiều địa bàn mà chốn đây chỉ là một chi nhánh, trao quyền điều hành cho một sư huynh huyền đai đệ nhị đẳng coi ngó, thu nhận môn sinh, truyền đạt công phu với khẩu quyết: Trước là giúp cơ thể khoẻ mạnh, đi tới đích cuối là nguyện giúp đời, nếu có thể. Kỳ dư tuyệt chẳng ỷ mạnh hiếp yếu, đã là con nhà võ thì phải am tường công đạo, rèn luôn ý chí một sự nhịn chín sự lành. Oán thù nên cởi ra chẳng nên trói vào. Đó không phải là tinh hoa của nhu thuật sao? Tuy mang tên Lực nhưng thể trạng thằng con trai 13 tuổi trông ốm yếu, trắng da dài tóc như bị bà mụ bắt lộn. Mẹ không có ý kiến nhưng cha Lực, người hằng tin khẩu quyết “một tinh thần minh mẫn nằm trong một thân thể tráng kiện”, ốm o xo bại trói gà không chặc là điều ông luôn tuyên án. Giữa mâm cơm chiều, ông tự mình đưa ra phán quyết, ngày mai ta sẽ chở mi tới Suzuki làm lễ nhập môn, có tốn kém tiền nong bỏ ra bao nhiêu ngân lượng ta cũng vui vẻ thuận lòng chẳng lấy đó làm điều, làm trai cho đáng nên trai. Không một ai có ý kiến, anh chị em Lực thảy ngồi êm ru, nhai cơm lặng lẽ. Cha nói với mẹ: Ông Tá, đồng nghiệp trong sở làm cũng đã ghi danh cho con theo học, là con gái, lá ngọc cành vàng nết na thuỳ mị mà cũng xông xáo trui rèn thiệt vàng không sợ lửa, một trang nam tử hán há dễ phải chịu kém thua, mất mặt nai gà tôm cá bầu cua. Sau khi thoả thuận một số điều lệ căn bản, vì môn sinh còn thuộc hạng tuổi vị thành niên nên cha Lực phải tự tay ký tên vào dưới lá đơn: Nếu nhỡ vô tình bị đui què mẻ sứt trong khi tập luyện thì võ đường hoàn toàn không chịu trách nhiệm, phụ huynh chớ kiện tụng lôi thôi. Cho địa chỉ để tìm mua sắm võ phục, đắt giá khó sờn rách thì made in Japan nguyên bổn, giá cả phải chăng thì hàng nhái sản xuất ở Chợ Lớn, hoặc có thể mướn ngay vàng thau thật giả tại võ quán. Học phí đóng mỗi đầu tháng, nên nhịn ăn trước khi dùi mài võ thuật, đợi tiêu tán hết calories rồi dung nạp ăn trả bữa cũng chưa muộn. Tên Lực được ghi vào sổ, nằm sau số 16. Một dọc dài toàn cả đàn ông con trai, riêng số 13 mỹ danh có lót chữ thị. Trần Thị Trường Thi. Như vậy, cứ theo như truyện chưởng mà luận thì Lực sẽ gọi Thi bằng sư tỷ. Vị sư tỷ này chắc là con ông Tá làm chung chỗ với cha ta. Chứ gì nữa, còn ai trồng khoai đất này? Cứ theo thứ lớp màu đai thắt quanh bụng mà định rõ học vị: Mẫu giáo mầm non như Lực thì đai trắng, kế đến Vàng, Cam, Lục, Xanh, Tím, Nâu, Đen. Đẳng cấp kia Lực thấy in trên tấm poster dán ở cửa vô ra, đồng môn trong võ đường ngoài vị đại sư huynh thay mặt chưởng môn là nhị đẳng huyền đai, lố nhố trở xuống chưa thấy có ai thắt đai Tím cả, có nghĩa là 15 tên tập họp trên 8 tấm tapis ráp lại kia chưa ai đạt tới 3 phần hoả hầu, thảy đều chân ướt chân ráo mà tới hồi làm chủ được thắt lưng màu đen e đường dài kinh qua nhiều gian khó, lỗ đầu dập trán dễ như chơi, chẳng rõ tính mạng có như ngàn cân treo sợi tóc? Tập té, tập bay người, tập nắm chéo áo ghì siết, tập gạt chân, tập đòn hông, đòn vai, đòn hy sinh. Một món quan trọng không kém: Tập thở, định thần, tránh phân tâm. Có lẽ bỏ suốt cả đời vào việc tầm sư học đạo, Lực sẽ mãi phân tâm rối loạn kinh mạch khi bị kêu ra song đấu với sư tỷ Trường Thi. Vừa mới sửa võ phục cho ngay ngắn, vừa xong nghi thức cúi đầu chào nhau, thoáng cái hai tà áo của sư tỷ đâm xộc xệch hở hang. Phía trong là chiếc áo thun bó lấy hình thể đẫm ướt mồ hôi. Nội quy không cho sư tỷ mặc áo nịt vú cho nên… (thôi, chuyện đồi núi lũng khe của con gái thì ai nấy cũng đã tường, kể ra làm chi cho tốn giấy!). Lực chỉ ôn luyện môn tập té sao cho đúng cách an toàn, cứ đứng yên cho sư tỷ tha hồ sử dụng đòn hông, đòn vai, quăng, quật, đôi, ném. Lực rất thích một nhân vật trong truyện kiếm hiệp của Cổ Long dàn dựng, nó lập thệ suốt đời hành hiệp quyết không giao đấu cùng mỹ nhân, cho dù người đẹp kia là một trong tứ đại nương gian ác giết người không gớm tay, cần phải trừ khử cho giang hồ bớt cảnh gió tanh mưa máu. Đông phương bất bại là thế mà Tây phương (cực lạc) cũng lập ngôn xêm xêm: Chớ nên uýnh đàn bà dù với một cành hồng. Nhưng mà nguyện làm cái bị thịt mãi cũng không xong với đại sư huynh, ông đứng ngoài tấm thảm rộng vòng tay quan sát nãy giờ. Lực, em phải thi thố tài nghệ lâu nay tích luỹ, phải nương vào sức mạnh của đối thủ để tìm lợi thế phản đòn, cứ trơ trơ mắt thị làm phỗng đá xuôi tay cho mệ nuốt là điều tối kỵ. Cung kính không bằng phụng mạng, Lực nghe theo, thi triển cầm nã thủ, xém chút xâm hại tới nhũ hoa của sư tỷ, ra sức kéo áo đối tượng vào lòng mình, dùng đòn hông không được, lợi dụng sự trì kéo phản xạ của đối phương, Lực dùng chân gạt té sử tỷ xuống, xong cái phủ người nằm lên kẹp cổ khoá cứng toàn bộ khối thịt thơm tho mềm mại ấy. Nạn nhân vùng vằn ngang đâu ta trườn người lấp che ngang tới đó. Gái thở bấn loạn ra sao, trai hút ngay dưỡng khí ngay tắp lự, may mà Judo chẳng dạy môn Hấp Tinh Đại Pháp, chứ nếu có hẳn ta đã vui thú mà môi tìm môi dán cứng sau khi đã sông liền sông núi liền núi cô lại thành hình khối, nhập chung hai lãnh thổ từng đứng riêng biệt. Tóc bối gọn sau ót của sư tỷ bung ra, chảy rối trên tapis êm ái, mặt đỏ hồng nửa hổ thẹn nửa tức tối, tim đập hối thúc bấn loạn về hoạt cảnh có vẻ như chỉ diễn ra trong phòng the và Lực thôi bu như sam khi sư tỷ đập tay xuống mặt thảm ra dấu chịu thua. Đại sư huynh đứng ngoài đấu trường gật gù xem chừng tán thưởng thằng môn sinh sạch nước cản đã xử sự theo kiểu đường đường là danh môn chính phái. Nếu bàng môn tả đạo hẳn hắn đã vung vít ba đường quyền, điểm huyệt các thứ bậy bạ nằm ngoài sách vở cốt nước đục thả câu, mượn gió bẻ măng hoặc mượn đầu heo nấu cháo. Thân thể Trường Thi nhỡ ô uế thì chẳng biết phụ huynh có tới võ đường kiện tụng làm rách việc không? Ô uế cũng tuỳ vào từng giai đoạn sống mà tranh luận, thời nay định ra ô uế thì rùng rợn lắm chứ thời xa xưa chỉ cần nằm đè lên người nhau thì đã là một hư hao đáng phàn nàn dù y phục vẫn còn nguyên vẹn chưa sút một hạt nút, vẫn đậy che kín bưng ngọc thể. Xì, đã mang tiếng là khổ luyện công phu thì vật nhau đụi đụi gát chân chèn tay chỉ là chuyện nhỏ. Chuyện lớn là hồi nào gióng ra câu hỏi: Thằng súc sinh kia, các hạ có tơ tưởng tình ý sắt son với bổn cô nương chăng? Thích tắm rửa tẩy trần rồi cùng nhau bày nhang đèn quỳ dưới trời rộng mà lập thệ có phúc cùng hưởng có hoạ cùng gánh? Cuối tuần, học và hành vất vả hơn, thời khoá biểu có khi chấm dứt vào lúc 10 giờ. Tuy con nhà võ, tuy đã thắt đai vàng gần thi lên Cam nhưng người con gái tên Trường Thi vẫn thấy ngán nếu đi đơn thân trên độc đạo ngang qua mấy cái am miếu lập loè những con mắt đỏ của lẻ loi nhang tàn thắp khuya. Ông già của hai đứa mình là bạn đồng liêu, bồ tèo với tui là bạn đồng môn, liên hệ tuy chưa thắm thiết nhưng ngẫm ra cũng có chút gì gắn bó. Trường Thi ra khác, dài dòng văn tự y như truyện của Kim Dung mệt mề lê thê trên từng cây số. Lực nói, tui sẽ đưa Thi về cho dù mưa bão có kéo qua đây, ma quỷ thì nhằm nhò gì. Có sợ thì bấu chặt tay tui, có ú tim thì nhắm mắt lại, hồi nào tui hô xong, thì hãy mở mắt ra. Xét theo đơn trương về mục kê khai ngày sinh tháng đẻ thì ta hơn hiền đệ tới hai tuổi (gái hơn hai trai hơn một?), xét theo thời khắc nhập môn thì ta dài lâu hơn đệ những hai tháng. Ta thắt đai vàng trong khi đệ vẫn còn đai trắng. Tóm lại, theo đạo lý mà luận thì đệ phải khiêm cung gọi ta bằng sư tỷ. Mỗi khi sủ tỷ nói, tiểu đệ phải nghe theo, có đúng không nào? Lực cười: Đúng đứt đuôi con nòng nọc luôn á. Đại trượng phu thì thường tha thứ những lầm lỗi do hồng nhan gây ra. Thằng Dương Quá vì yêu Tiểu Long Nữ mà chín bỏ làm mười khi biết sự thật đau lòng rằng người sở hữu sắc đẹp chim sa cá lặn kia từng bị thằng đạo sĩ thúi phái Võ Đang trấn lột đi cái ngàn vàng vào đêm không trăng sao ở sườn đồi hoang lạnh chẳng có bóng dạ hành xớ rớ ngang qua. Cái đó người bình dân kêu bằng “quân tử Tàu”. Và văn chương kiếm kiệp bàn thêm tới quân tử: Mười năm trả thù cũng chưa muộn! Ô hô, ai tai, đã là quân tử mà sao thù dai đến thế? Mười năm tình cũ em lên xe hoa mà giờ này tim ta vẫn còn rỉ máu. May mà ta quân tử chứ không thì hẳn đã đi xăm xăm vào tiệm Tattoo mà chơi ngay hàng chữ mực xanh vào bắp tay: “Hận đời đen bạc. Thù này phải trả”. Chưa hết đâu, phải hắng giọng nữa chứ: Hừ, rượu mời không uống lại đi uống rượu phạt! Sẵn trớn, dông dài thêm: Ta những muốn tha cho các hạ, chẳng muốn động thủ xuống tay nhưng nghiệt nỗi là thanh bảo kiếm này không bằng lòng thế. Âu cũng là số trời đã định, Diêm vương ở địa ngục đang lật sổ chuẩn bị chấm bút vào bình mực để gạch tên các hạ. Còn gì để nói. Kiếm quang vung lên, trùng trùng bao ánh sao phủ chụp. Vị đại hán nọ đổ thân xuống, mắt trừng mở chẳng hiểu ra chiêu thức của thứ kiếm pháp độc tôn kia, hồn du địa phủ. Khi Lực leo lên tới đai xanh lục thì Trường Thi thích Lực đổi cách xưng hô, bỏ đi sự sáo mòn xa cách sư tỷ cổ xưa. Điền thế, xin hãy gọi cô ấy bằng muội. Lực không rõ vì sao có người kêu hột ô mai thành cục xí muội, dù cả hai thứ đều mặn đều chua giống nhau, khi lè lưỡi ra chát cả miệng màu phẩm hồng ăn bám. Ngon ở chỗ nào? Chẳng phải là con gái nên Lực “thực bất tri kỳ vị”. Tuổi ô mai kéo dài tới ngang đâu thì chấm dứt? Lực bù trất. Thể hình Trường Thi nẩy nở, có thể vì vậy mà cô bỏ ô mai để khoác thân xí muội chẳng chừng? Huynh cà chớn quá, tuồng như chưa hề đọc qua võ hiệp kỳ tình giả tưởng? Muội này là thế cho em gái và huynh cũng tựa như anh trai. Lực làm bộ gật gù tuồng đã đọc suốt một trang bí kíp, bí cấp kia coi thường sự cách biệt tưổi tác, huynh nhỏ thua muội, muội lớn hơn huynh nhị niên, xưng hô vậy có đúng với tiểu thuyết kỳ tình giả tưởng? Đứa cà chớn còn có khi mang thêm ngoại hiệu đồ cù lần nếu “huynh” không theo kịp cách bày tỏ của muội. Bực cả mình, bổn cô nương vẫn mong kết giao với huynh đài để thọ giáo, nào ngờ các hạ không thuộc danh môn chính phái! Thế thì khi chong đèn huynh gầm đầu đọc sách truyện gì mà lú lẫn thần hồn đến vậy? Thưa cô nương, tại hạ thường khi vẫn đọc Z-28. Tiểu muội cười một tràng dài nghe như lệnh vỡ, nội lực quả thâm hậu: Ừ, tuy cũng xác chết loạn giang hồ nhưng thức ấy khó mang lại sự lâm ly. Cà chớn cọng với cù lần cọng thêm phàm phu tục tử, ba thứ lăng nhăng nó quấy ta đưa được tiếng thỏ thẻ: Muốn lâm ly thì huynh ôm muội trong vòng tay mắt cận môi kề để khỏi bị mắng “người gì cà chớn quá thể, đã bỏ lỡ biết bao thời cơ, chẳng tiên hạ thủ vi cường gì trơn trọi” Xằng bậy! Muội quát, mày lá liễu nhăn, mắt phượng long lên, ơn trời là trong tay không nắm lệnh bài “Lệnh xé xác”. Lâm ly có năm bảy đường, cớ sao các hạ lại giở thói tà tâm của phường hắc bạch giang hồ? Trong các pho mang nhãn hiệu cầu chứng Z-28 ít có cảnh bắt bẻ nhau, mồm miệng lý sự lôi thôi rườm rà và dài dòng văn tự, chỉ có bàn tay karaté chém êm vào cổ, thi triển món dao găm hoặc súng ngắn vừa cài ống hãm thanh vào nòng. Kết liễu nhanh chóng, không nhổ cỏ phải nhổ tận gốc, chẳng có thời gian mà ngắm từ lỗ chiếu môn tới đỉnh đầu ruồi khẩu súng vừa lôi trong nách ra. Ạch, đụi, oái; xong cái đoằng hoặc bụp. Đêm hôm thì lẻn vào đứng sát giường, trước khi lãy cò nhớ chêm gối vào mặt con mồi. Sứ mạng hoàn thành, êm thắm. Cọng lông rơi ra từ chiếc gối chưa rớt xuống mặt nệm thì sát thủ đã biến khỏi căn biệt thự kín cổng cao tường. Như vậy, há chẳng có chút nào lâm ly gay cấn? Đôi lúc đồ cù lần nhìn ra ở Z-28 chút cà chớn nào đó bèn đổi sang thứ đẳng cấp hơn: The Godfather của Mario Puzo chẳng hạn, Bố Già do Ngọc Thứ Lang chuyển dịch tuyệt cú mèo sang tiếng Việt. Michael, con út cưng của bố nói cùng thuộc hạ: “Mày không hiểu được nỗi đớn đau của sự bội phản đâu. Phản bội chẳng bao giờ đến từ phía kẻ thù”. Một nhân vật khác: “Con cầu xin Chúa cho con được sở hữu một chiếc xe nhưng con biết điều này nằm ngoài khả năng của ngài, vì thế nên con liền đi ăn cắp xe và cầu xin sự thứ tha từ Chúa. Amen”. Trong võ đường có một sư huynh vừa thắt đai nâu, eo thon ngực nở y như kiến càng. Vị “huynh đài” này coi mòi thầm yêu trộm nhớ tới muội Trường Thi, giận cá chém thớt hay sao đó nên ảnh ưa kèm bài cho Lực, từng thi triển đòn vai đôi Lực xuống cật lực, thấy sao quay mòng, may chưa thổ huyết, thất khếu chưa trào máu. Món công phu nọ kêu bằng đòn ghen tuông, xuất chiêu nhằm dằn mặt con kỳ đà cản mũi. Là quân tử, Lực nói với Thi: Hừ, mười năm trả thù chưa muộn! Thi la lên: Trả thù bằng cách gì? Chẳng lẽ áp dụng hạ sách “nhất đẳng huyền đai không bằng dao phay chém lén”? Huynh đừng khiến muội thất vọng, muội đã bày tỏ thái độ thì ắt anh ta phải thông hiểu. Ai đời mà anh ta ngôn như vầy: Tên em là Trường Thi, thức đó thì anh chẳng ngộ được, nhưng anh biết chắc một điều, con gái mà trường túc thì bất chi lao. Sau này em lấy chồng thì hẳn là vị tình lang đó phải khéo tu ba đời, chàng có gầy rạc mặt xanh nanh vàng thì cũng lấy đó làm hạnh phúc vậy!
Ba mươi sáu kế chỉ tìm ra diệu kế là tẩu vi thượng sách. Nếu cũng thắt đai nâu cùng đẳng cấp không chừng muội sẽ kêu ảnh ra tỉ thí một phen để minh chứng chánh bao giờ cũng thắng tà. Người gì đâu phát ngôn nghe nực gà. Rồi đến lúc muội bỏ con đường xưa thường đi, như kiểu rửa tay gát kiếm lánh xa chốn giang hồ nhiều ân oán. Vị huynh đài to con thắt đai nâu kia là người buồn bã ra mặt, chận Lực lại trước cổng võ đường cốt truy tầm một lý do khả dĩ tin được, rặn hỏi mãi đành xuôi tay, chỉ ngửa mặt vào đám mây bay trách móc: Lỗi tại mi mọi đàng. Mi quả là đứa trẻ người non dạ, nếu nàng có tình ý với ta thì giờ này võ đường vẫn còn rộn tiếng oanh vàng bóng hồng thoăn thoắt vào ra. Nàng bỏ đi ta thật chẳng còn lòng dạ nào mà vung cước múa quyền. Lực ngó ra dòng sông đổi màu con nước chảy ngang, xém tí nữa làm môn đệ phái Thiếu lâm để đọc khẩu quyết: Tội lỗi! Tội lỗi! Tội lỗi thường đi với nghiệp chướng? Mới có 19 tuổi, Trường Thi phải lên xe bông. Kiểu cách kêu bằng đường đột sang sông để con sáo bất ngờ sổ lồng bay xa. Em đi sóng gợn xô bờ, bên kia nắng đổ bất ngờ cơn mưa, nghe chừng rất lạ buổi trưa, chiều về đêm trở kinh thưa lời buồn. Giữa mâm cơm cha Lực đưa ra tấm hồng thiệp không quên phụ chú: Điệu bộ thằng cha Tá như gà nuốt giây thun, như ngồi trên trách than đỏ lửa, hoá ra là cục cưng của thằng chả sẽ thành hôn với con trai ông giám đốc sở làm, mặt vênh mày váo hết ca cẩm đời là bể khổ mặc dù con lão dậm cẳng tình là giây oan! Thiệp mời có ghi “sự hiện diện của ông bà là niềm vinh dự của chúng tôi”. Bà nói bà không đi, ông mang thằng Lực theo cùng thì cũng khớp với tình hình, vì dẫu sao hắn với cô dâu là bạn đồng môn một dạo. Để khỏi lôi thôi, mẹ Lực đích thân mang bộ đồ bảnh nhất mà Lực có ra ngồi bên giếng giặt, vò, phơi, ủi. Áo trắng dài tay nhét vô quần màu xanh đậm cứ y như học trò hiền ngoan chuẩn bị bước lên bục nhận phần thưởng cuối niên học. Chỉ nhiêu thôi cũng đã tươm tất trong khi ba Lực thì quá nhiêu khê những vét tông cà vạt, tóc bóng lộn chải tém lui sau. Đỏm dáng đường bệ đèo chở lùi xùi hồn nhiên trên xe gắn máy trực chỉ nhà hàng đã hoàn tất việc trang trí mặt tiền bằng những bông hoa hồng đỏ kết nối búi xờm xờm. Lực như nghe rõ hợp âm có ai vừa cất giọng hát: Hôm nay ngày cưới em… Không có xác pháo tan tành. Nếu vọng ngân tạp âm của chuỗi tiếng nổ nào mơ hồ thì hiểu ngay ra đó là hoả tiễn 130 li, đại bác, sơn pháo, súng cối, súng phóng lựu từ hướng núi rừng tây bắc rót về vô tội vạ, chúng gửi nhanh một thông điệp sắt máu: Sẽ có xác chết loạn giang hồ và môn phái búa liềm sẽ làm bá chủ võ lâm. Cô dâu trông rất đỗi cô đơn, chừng như cô bị ép đặt vào một tình huống nan giải, tiến thoái lưỡng nan. Khó khăn như nữ Judo bị vây khổn bởi bốn nam Karaté mà theo cách tả của truyện kiếm hiệp là kẻ đứng ngoài có muốn tạt nước vào, áo cô dâu cũng không bị ướt. Nôm na là trùng vây chẳng có khe hở, con ruồi bay vào không lọt. Thế nhưng tia mắt của người mặc áo đầm trắng muốt đã tựa món Nhất dương chỉ vừa xuyên thủng tất cả mọi vật cản khi nhìn ra thằng con trai mà bạch y nữ hiệp từng xem là tiểu đệ có lúc lại đôn lên thành sư huynh. Trong sát na, cả hai như cùng thi triển khinh công ảo diệu, trong một chớp mắt Lương Sơn Bá đã dừng cước bộ sát thân Chúc Anh Đài. Mỵ Nương ngắm Trương Chi, Lan ngó chăm vào mặt Điệp. Hoàng Dung nghía Quách Tĩnh, Trường Thi nhìn Lực: Cảm ơn đã tới với muội, tuy là nhân vật chính nhưng tuyệt đối muội chẳng thấy vui chút nào. Bấy chầy huynh có gì lạ không? Lực ngó mặt hoa da phấn mà ai đã hoá trang vào dung mạo Thi, mỹ phẩm đã tàn phá nét đẹp ướt át của một người nữ vừa vận 12 thành công lực để quăng Lực xuống đất một cú tựa trời sập. Ê ẩm trong sướng sung, tối tăm mặt mũi trong hạnh phúc. Bây giờ Thi đang chuẩn bị thành bà này bà nọ, xin hãy loại bỏ chữ dùng muội huynh đi. Trước đây sợ làm Thi buồn nên chẳng nói ra, rằng những thứ đó nghe nó rất chi cải lương, sến rất mực. Bây giờ mình chúc Thi an vui, tận hưởng cuộc sống mới bên chồng thì liệu Thi có mắng mình là đồ cù lần không? Mình vẫn cà chớn khi tới giờ này có nhiều chuyện vẫn chưa ngộ thấu.
Trường Thi từ tốn cởi đôi găng trắng ra, dùng tay trần để nắm lên mười ngón khờ khạo của thằng con trai kém tới hai tuổi đời. Khi chạm tay vào nhau ở những lần song đấu cứ có ý tưởng rằng đó là một thứ tựa như Thiết sa chưởng, vô tri vô giác, nhưng giờ đây thì rõ là Nhung Lụa chưởng, Ảo diệu công phu, xúc giác đón nhận sự bồi hồi truyền lan và xúc giác muốn thu giữ một cơn sóng dịu dàng vừa tạo ra, tràn bờ. Chỉ riêng hành động tháo găng thôi cũng đủ khiến Lực lao đao. Trong đôi mắt trong veo của cô dâu vẫn nhốt giữ một gương mặt dại khờ chao đảo khổ luỵ. Thi có biết chuyện vừa xảy ra cho anh chàng thắt đai nâu trong võ đường ngày ấy vẫn thầm đeo đuổi Thi? Chuyện chi? Kể cho Thi nghe đi, ảnh đã lấy vợ? Không, mai này chẳng biết đường vợ con có êm chăng, bởi anh ta bị chấn thương nặng ở hạ bộ. Số là khi đi uống cà phê anh gây chuyện cùng người ngồi bàn kế bên, lời qua tiếng lại cuối cùng cả hai đòi ra sân dùng võ lực để giải quyết mâu thuẫn. Không quá năm phút anh ta bị đo mặt đường, khách bàng quan đưa lời bình: Hình như bên thắng cuộc là người của Thất Sơn thần quyền? Kẻ khác nói: Tui ngờ là đệ tử của Vô vi nam, Việt võ đạo. Lại có đứa át giọng: Khờ quá, võ Bình Định đó mấy cha! Rồi anh ta ra sao giờ này? Đã xuất viện, vị đại sư huynh trông coi võ đường có ghé thăm, nhận định: Nó ra tay quả có tàn độc, nó tung đòn hiểm bằng cước pháp của Taewondo. Nội lực xuất ra có thể làm bể tới hai viên gạch. Có ai ngờ được con đường tu luyện võ thuật của anh ta chấm dứt bằng một kết thúc tồi tệ đến thế! Xa lánh hết để đi lập gia đình như Thi xem ra êm ấm hơn cả! Thi hỏi điều này, Lực phải thực lòng khi trả lời, những ngày vật lộn cùng nhau, đi bên nhau trong đêm trên đường vắng… có gây cho Lực một cảm tình dành riêng cho Thi? Thi không có giác quan thứ 6? Nếu mình đổi tên họ của cô dâu thành Trần Thị Thương Thi thì chuyện gì sẽ xẩy ra? Thì cô dâu đó sẽ cho người đổi Trường thành Thương những gì mà anh ta muốn sở hữu, tự nguyện trao gửi. Trước khi mang lại cặp găng trắng vào đôi tay, Thi dùng ngón út móc nghéo vào tay Lực thế một lời hứa. Cô dâu chẳng thể đứng ở vị thế trông bất chính như vậy được lâu, cũng như thành phố không thể kéo dài thêm sự an ổn phút giây nào nữa. Người ta hốt hoảng đồng loạt bỏ trốn, bỏ của chạy lấy người, từ sông Bến hải tới tận cùng Cà Mau mọi thành phố đều bỏ trống, mặc xác. Tại sao khi bị kềm kẹp, sống với áp bức dân chủ bị chà đạp đến khi nghe tin được giải phóng sung túc tự do ấm no mà tất thảy bá tánh đều một mực chối bỏ, mặt cắt không ra giọt máu để tìm sinh lộ trong tử lộ? Chả lẽ bá tánh đều khiếp sợ không muốn bị lùa đi học môn kí kíp Tịch Tà kiếm phổ? Hoặc học ngược Cửu Âm chân kinh từ tờ cuối lần giở lui tờ đầu. Cái thế thiên hạ khi bình thường là người chuyển đổi thành đỉnh cao lông lá của vượn? Ba mẹ Lực một lần nữa, cực lòng toan tính cho đứa con từng thụ giáo môn Nhu đạo hôm xưa, nay xuất bốn lạng vàng gửi gấm theo ghe thương hồ nổi trôi để hắn có thể gia nhập môn phái Cái bang. Lực cải trang ăn mặc áo xống rách bươm có nhiều túi nửa nằm nửa ngồi trên con đò chở rong xuôi về cửa biển để lên “taxi” nhìn ngó biển rộng cho thoả chí, thôi chôn đời ao tù nước đọng. Trông lên bờ, ngang qua am miếu cỏ xác xơ đã nguội lạnh những chân nhang, ngóng lên võ đường Suzuki buổi nọ đã thấy chủ mới cắm cờ xí quang quác Tổ hợp chăn nuôi heo lợn. Tấm bảng gỗ khắc tên đứa có liên hệ với CIA đã bị lấy xuống chẻ nhỏ làm củi và con đường vốn buồn nay chừng như đắp thêm vào, ghẻ lạnh một nỗi niềm ngó thắt tim. Sóng gào trong đêm lạnh, táp mạn thuyền vỡ bọt trắng xoá, lênh đênh, chóng mặt. Lực nhớ ngón tay móc vào nhau và tiếc uổng về một lời thề chưa có dịp tôn trọng thực thi, đền bồi, trao gửi, hiến dâng. Người chung cuộc hải hành có bà lâm râm A di đà Phật cứu khổ cứu nạn, mãi miết, dài hơi, không gián đoạn. Nếu vô phúc bị hà bá gọi tên, thuỷ thần chỉ mặt, giao mạng cho cá rỉa thây, Lực vẫn thuần khiết là một đồng tử, một đứa con trai chưa từng nếm trải lạc thú ở đời đầy cám dỗ bày ra. Gái còn trinh mà chết oan, hồn ma ấy thật đáng sợ. Nam còn trinh thành ma, linh hồn nó e sẽ dật dờ tìm về bên Trường Thi nguyện phù hộ cho “muội” được hạnh phúc giữa cuộc sống bị đảo lộn giữa bể dâu. Lực co ro nói vọng ra trùng khơi đen thẳm: Trường Thi, tên em là một bài thơ dài anh mãi viết, nếu bình an đẩy xô về một phương trời chẳng toan tính. Viễn mộng nào mà không ẩn chứa lắm thương đau?
Ôi nhớ xưa! Khi miền Nam bất ngờ lọt vào tay CS Bắc Việt, bà con mình ai nấy cũng bỏ phiếu bằng chân; bằng cách vượt biên, vượt biển.Đi bằng thuyền, làm thuyền nhân, là phải có vàng cây, vàng miếng đóng cho chủ tàu! Tui bộng, một chỉ vàng lận lưng cũng không có; đành chọn cách đi bộ vậy!
Năm 1979, Lê Duẩn rượt đồng chí Pol Pot từ Nam Vang chạy tuốt ra tới tận Poipet, biên giới phía tây giáp với Thái Lan; vì đứa theo Nga cộng; đứa lại theo Tàu cộng!
Chờ chiến sự tạm lắng, tui lò mò qua Châu Đốc, tới Tịnh Biên để tìm cách vượt biên.
Hàng tuần, tui thồ hai cái bao nặng trĩu, đạp ì ạch qua biên giới, vào Takéo bên đất Campuchia.
Tên Công an của đồn biên phòng chận lại, tính kiếm chút cháo bào ngư, ra lịnh: “Xuống xe đạp ngay!” “Chở cái gì?”
“Lúa mà!” Không tin, tên CA nầy đổ tất cả từ bao cát ra xét. Quả nhiên toàn là lúa. Không phải hàng cấm, nên nó trả lại. Rồi tuần nầy, qua tuần khác đều xảy ra như thế. Tên CA nầy, sau rốt, bị về hưu non vì tội tham ô bất kể bao công lao nằm mùng chống Mỹ!
Một hôm đi nhậu trong một nhà hàng xịn ngoài thị trấn, hắn tình cờ gặp lại tui. Cầm ly rượu đến bàn, nó lè nhè hỏi: “Nè ông bạn! Hồi đang tại chức, tớ nghi cậu buôn lậu cái gì đó mà nghĩ hoài không ra? Cậu làm tớ mất ngủ nhiều đêm liền để suy nghĩ, nghĩ mãi vẫn không ra nên đầu bạc trắng như Ngũ Tử Tư hè!”
“Giờ tớ không còn chức quyền nữa; dám nào hỏi cậu hai câu. Một là: Cậu có buôn lậu không?” “Có chớ!” “Vậy cậu buôn lậu cái gì?” “Xe đạp!”
Nói cho cùng, tui cũng hơi khờ dại, rượu vô lời ra, tiết lộ cái bí mật nghề nghiệp nầy thì trước sau gì nó cũng điềm chỉ cho đồng bọn để bắt tui hè.
Nên lần cuối, tui cũng thồ hai bạo gạo; nhưng có thêm cái nồi nấu cơm treo lủng lẳng trước cái ghi đông, tui dông luôn.
Sau nầy qua đây, một thằng bạn Úc hỏi: “Sao đành bỏ quê hương; sao đành bỏ ruộng vườn, bỏ người thương… bên kia trời lận đận?”
Thì tui kể cho nó nghe một câu chuyện ngụ ngôn như vầy: Một người Úc và một người Việt từ địa ngục gọi điện thoại về trần thế để than phiền với thân nhân và bè bạn: “Cuộc sống dưới địa ngục nầy, ngày phải lao động là vinh quang, làm quần quật như ngựa, như trâu vẫn không đủ cái bỏ vào mồm. Đêm còn bị bọn quỷ sứ đến xét hộ khẩu để đòi ăn hối lộ nên dẫu làm đến kiệt sức vẫn không nghỉ ngơi gì được hết ráo hè!”
Quỷ sứ tính tiền cú gọi cho ông Úc là 100 đô. Còn ông Việt chỉ tốn có 20 xu. Nên ông Úc phàn nàn tính tiền như vậy bất công quá!
Diêm Vương cười hè hè giải thích: “Công bằng lắm đó. Gọi về Úc là điện thoại quốc tế, viễn liên.
Gọi về nước Việt, đang chìm đắm trong chủ nghĩa CS độc tài, chỉ là một cú gọi địa phương!”
***
Nói nào ngay những ngày đầu người Việt đến đây tỵ nạn, Úc nó thấy mấy em Việt Nam đẹp não nùng như Ngọc Trinh nên cứ thò lỏ hai con mắt ra mà dòm; thấy phát ghét.
Chính vì vậy người Việt Nam mình mới thân ái đặt cho Úc cái tên là Úc thòi lòi đó. (Thòi lòi là loài cá có hai con mắt to bằng hai cái tộ, thường hay đeo bập dừa dọc theo sông rạch quê mình!)
Đàn bà con gái Việt Nam là dành cho người Việt vậy mà ỷ là chủ nhà, nó tính ăn cơm hớt hay sao? “Sao tao ghét hai con mắt thòi lòi bự chảng của mầy quá!” “Thì bịt mắt chú mầy lại!”“Bịt bằng cái gì?” “Bằng sợi dây giày của tao đây nè!”
À! Thằng nầy hỗn! Nó dám chê tui mắt hí chớ! “IQ của mấy thằng ngu khoảng 40 mới biết cột dây giày. Hèn chi tao thấy mầy luôn mang dép. Thì dây giày mầy làm gì có?! Ha ha!”
Bị tui chê ngu; nó tìm cách chê lại, hỏi: “Làm thế nào chú mầy biết mấy đứa ăn trộm nầy là người Việt Nam?”
“Nhà khổ chủ lu gạo bị vét sạch không còn một hột. Chục chai nước mắm hiệu ba con cá cơm Phan Thiết cũng biến mất. Và máy thâu hình an ninh trước cửa nhà cho thấy: Bọn chúng loay hoay de xe ra khỏi lối đi; mất tới 3 tiếng đồng hồ mới được đó!”
Thành kiến và thiển cận, thằng Úc nầy nghĩ người Việt mình, ai cũng như ai, ai cũng hẩu xực thịt cầy hết ráo. (Tui đâu có thích ăn thịt người bạn tốt nhất của loài người là con chó đâu mà cũng bị vạ lây?!)
Nó đố: “Ê chú mầy! Ở Úc nầy đây, con chó vùng nào chạy nhanh nhứt?” Tui bí.
Nó cười hè hè trông rất đểu cáng rồi trả lời luôn là: “Springvale!”
(Springvale phía đông, cách thủ phủ Melbourne khoảng 30 km, nơi có rất nhiều người Việt, bà con mình sanh sống!)
Chẳng qua thằng Úc nầy đeo đuổi một em người Việt mình. Một hôm nó thành thật ngợi khen em thơm mùi nước mắm lắm! Em cho rằng nó chửi xỏ nên cấm cửa, hăm: Còn lạng quạng đến nhà, em sẽ kêu lính bắt!
Nó đành ôm mối hận lòng mà cay cú, văng miểng tới tui.
***
Tuy nhiên người Úc cũng có đứa đàng hoàng dễ thương, chơi được chớ không phải ai cũng cà chớn như thằng nầy đâu!
Đất lạ quê người, hồi mới tới, tui cũng tính tiếp tục việc học vì thời cuộc phải dở dang để có cái bằng Tiến sĩ, ‘nổ’ cho thiên hạ giựt mình chơi!
Nhưng trộm nghĩ còn vợ và hai thằng ‘cu’ đang kẹt lại ở quê nhà, nhai bo bo đến sái cổ; mình lại tìm kiếm công danh hão! Cứ hai tuần lần gạch vào cái đơn xin trợ cấp đi học của chính phủ Úc thì làm sao mà đủ?
Nên tui nộp đơn xin việc. Quản lý công ty lại là một cựu quân nhân Úc đã từng tham chiến tại Việt Nam.
Nó xem cái CV trong hồ sơ xin việc thấy tui cũng đã từng ăn cơm chảo đụn, cá mối nhà bàn của lính nên nó nhìn là đồng minh nên nhận tui vào làm ‘cu li’ cái rụp!
Chiều, nó còn mời tui đi nhậu để nhắc nhở thời chinh chiến cũ. Nó bảo: “Bồ hên lắm đó nhe! Chớ tui xuất ngũ về, rầu lắm; vì phong trào phản chiến ở Úc nầy nó theo đuôi bọn Mỹ, dè bỉu tụi mình!
Lúc mình đi lính chống CS; tụi nó phè phè ở nhà chỉ biết ăn với học nên giờ nó làm ‘boss’ của tụi mình. Thiệt là đời quá bất công!”
Tui trúng tuyển quân dịch, qua cuộc rút thăm, chánh phủ Úc gởi qua Miền Nam Việt Nam để chiến đấu chống lại bọn CS Bắc Việt xâm lược.
Bị thương tật, cấp độ tàn phế tới 50% nhưng vốn là một con người tử tế, dù phụ cấp Cựu Chiến binh cũng đủ sống nhưng ngồi nhà nhậu hoài sanh hư đốn nên tui nộp đơn xin việc.
Thằng boss của công ty hỏi: “Ở Việt Nam, ông có hành quân không?” “Sao không? Tui là lính đặc nhiệm, SASR, của Úc mà! Được hai năm, tui bị thương mới giải ngũ về đây đó chớ!”
“Nếu ông không phiền, cho tôi hỏi: Ông bị thương như thế nào? Ở đâu?”
“Thì ở Việt Nam chớ ở đâu.”
“Ý tôi muốn hỏi là ở đâu trên thân thể của mình đó mà!” “À! Tui đi tuần tra, tảo thanh VC, đạp nhầm trái lựu đạn gài, nổ làm bay mất hai cái ‘dế’ của tui”.
“OK! Đơn xin việc của ông đã thành công! ‘Congratulation’!
Mai, vô nhận việc lúc 10 giờ sáng nhe!” “Nè nè! Là thương binh, là một người lính dũng cảm; tui không muốn vin vào thương tật để nhận đặc ân của ai hết!” Mấy thằng Úc khác 7 giờ sáng đã đi làm! Sao tui lại tới 10 giờ?”
“Đâu có đặc ân gì đâu! Làm ‘cu li’ thì ai cũng như ai. Nhưng mấy thằng Úc khác đến đây lúc 7 giờ sáng, ngồi gãi ‘dế’ để suy nghĩ bữa nay sẽ làm cái gì trước, tới 10 giờ mới bắt tay vào việc!
Thế nên ông đâu cần tới sớm cả 3 tiếng để làm gì? Tới lúc 10 giờ là phải rồi!”
***
Từ độ ấy, tui làm thân với thằng ‘boss’ của tui. Vì công việc tốt không bằng có thằng ‘boss’ tốt!
Cuối tuần nghỉ làm là hai đứa bò ra Footscray để uống beer. Chuyện riêng tư của Úc nó giữ riêng cho mình trong nhựt ký. Sống để bụng chết mang theo. Nhưng với tui là chiến hữu đồng minh; nên buồn trong kỷ niệm, nó đều dốc bầu tâm sự hết ra để tìm sự cảm thông.
Một lần nhậu, mỗi đứa cạn hết gần chục lon, nó rơm rớm kể lại mối tình năm cũ.
Trước khi qua căn cứ Núi Đất, tỉnh Phước Tuy, nó cũng có người yêu bỏ lại Footscray nầy. Sợ em bỏ nó, theo thằng khác. Nó bèn làm thơ gởi về em: “Em ơi đợi anh về/ Đợi anh hoài em nhé/ Mưa có rơi dầm dề/ Ngày có buồn lê thê/ Em ơi em cứ đợi…Lòng ai dù tái tê/ Chẳng mong chi ngày về
Thì em ơi cứ đợi!/ Đợi anh hoài em nghe/ Tin rằng anh sắp về!
Trông chết cười ngạo nghễ/ Tan giặc bước đường quê/ Anh của em lại về”
Rồi một hôm nó nhận được một lượt hai bức thơ từ hậu phương gởi ra tiền tuyến. Một của em yêu. Bức thứ hai của bà nội nó. Cả hai đều kêu hãy gởi hình về để xem dung nhan đó bây giờ ra sao?
Tuy nhiên, nó chỉ có một tấm hình chụp trần truồng trên Bãi Sau ở Vũng Tàu.
Nó bèn cắt tấm hình đó ra làm hai. Phần trên gởi về em yêu dấu. Phần dưới gởi về cho bà Nội dấu yêu vui; vì tuổi già mắt mũi kèm nhèm không thấy gì đâu.
Bà Nội nó nhận được tấm hình, nhìn rồi thở dài: “Ôi tội nghiệp cho thằng cháu cưng cuả tui! Bận hành quân liên miên nên không có thời giờ để cạo mặt nên râu ria xồm xàm. Mà nó giống ông Nội nó biết là bao! Lúc nào cũng ngậm điếu xì gà trên miệng!”
Bị thương không còn ‘dế’ để gãi, em yêu của nó cũng đi xuống thuyền bông lấy chồng từ độ ấy; nên giờ nó rất cô đơn chỉ sống cùng một con chó cưng và bốn bức tường.
Nó khuyên tui là: “Cứ đi nhậu với nó, tiền bạc khỏi phải lo, mà tiếng Anh không cần tới trường cũng giỏi. Học trên bàn nhậu!” Nhậu mà không phải chi tiền! Thiệt là hiếm có!
Em yêu của tui lại không hiểu; cho rằng tui xạo để có cớ mà đi bù khú với bạn bè. Chớ Footscray nầy em đi chợ hà rầm, tiếng Việt mình là sinh ngữ một đó nhe! Cần gì phải học tiếng Anh chi cho mỏi miệng. Cho đến một hôm đứa cháu nội làm em sực tỉnh ra.
Cuối tuần ba má nó chở về thăm. Mới bước vô nhà là: “Hi ông nội!”
Em yêu của tui vội đính chánh ngay lập tức: “Đâu có con! Từ hồi về với ông Nội, dẫu biết bao nhiêu thằng khác đeo đuổi nhưng bà Nội đã thề rằng: “Dẫu ai thêu phượng vẽ rồng. Bà nội chỉ một ông chồng mà thôi!”
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.