Chuyến đi cuối cùng

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 16 May 2026

Sáng hôm đó tôi đứng tầng trên phía sau lái tàu tập phất tay và phất được hai trăm cái thì thấy trên sông sương mù nhiều quá. Lòng chợt nhiên chùng xuống nên tôi ngưng tập và đứng ngó ra dòng sông như tìm một thứ gì mà chính tôi cũng hổng biết? Ánh sáng li ti của những bóng đèn viền theo những sợi dây cáp căng thẳng hai bên thành của chiếc cầu bắc ngang từ bên bờ này Lisbon qua bên kia bờ sông Tagus, vì bị mù sương cản tầm mắt nên chỉ thấy khoảng giữa chiếc cầu lờ mờ như lơ lửng trong mây. Nhìn lên bến cảng, những containers chất chồng và chiếc cần trơi cũng bị sương phủ mờ. Musli đi tới sau lưng tôi hồi nào không biết, tới khi nó lên tiếng chào, tôi mới day ngang chào lại. Nó liền nói:

– Hồi sớm sương mù nhiều quá, công nhân bến cảng không làm việc được.

Tôi cười dí dỏm, nói:

– Oh! Như vậy mới thấy được sức mạnh của sương mù.

Có lẽ Musli vội quá nên không hiểu kịp ẩn ý trong câu tôi nói nên nó vừa day lưng đi vừa đáp:

–  Còn có mười tám containers, cất lên xong tàu sẽ khởi hành.

Nhìn thằng nhỏ bận bộ đồ thủy thủ bước ra boong làm tôi nhớ lại, hồi hôm nó ngồi với tôi trong một quán bar ngoài bến cảng, uống chưa hết ly bia thì có một cô gái trẻ tới gạ gẫm hỏi nó có chịu đi với cô ta không. Nó nhận lời và day qua hỏi tôi:

– Chú chờ một lát được không?

– Dĩ nhiên.

Musli bưng ly ngước cổ ực hết phần bia còn lại rồi đứng lên đi với cô gái. Tôi ngồi chờ cả giờ nó mới nhắn tin xin lỗi và dặn tôi khỏi chờ nó nữa. Tôi đứng lên đi lại quày tính tiền rồi bước ra ngoài. Trên đường về tàu tôi cười thầm trong bụng, mới mấy ngày trước nó với Frans chơi cả đêm ở Vigo, bây giờ chơi nữa, tuổi trẻ sức khoẻ dồi dào, chơi cho đã về già khỏi hối tiếc. Nhớ lại hồi còn trẻ tôi cũng như Musli bây giờ, mỗi lần tàu tới một bến lạ, chiều về lên phòng thay áo, quần bảnh bao rồi vội vã lên bờ chơi suốt đêm, sáng xuống tàu vẫn còn đủ sức làm việc cho tới chiều.

Bao nhiêu quá khứ của hơn bốn mươi năm trước chợt ùa về, mặc dù ở Việt Nam tôi là một ngư phủ đánh cá xa bờ, mang tiếng là đánh khơi nhưng cũng chỉ quanh quẩn trong vùng vịnh Thái, lần đầu tiên tôi lên tàu buôn quốc tế, tôi rất tò mò và lo lắng như thế nào. Lúc đó tôi nghĩ không biết mình có thể vượt qua những tháng ngày dài lênh đênh trên biển mà không gặp bất kỳ rắc rối nào với những thứ mới mẻ mà tôi chưa từng biết qua và làm sao để liên hệ với thủy thủ đoàn toàn người xa lạ, lạ màu da và lạ cả lời ăn tiếng nói. Những cảm xúc lẫn lộn với môi trường mới làm tôi lo sợ, nhưng tánh hiếu kỳ thúc đẩy tôi mạnh dạn bước tới. Lầu đầu bước lên chiếc Elisabeth trên cảng Rotterdam, con tàu không lớn lắm, nhưng vẫn lớn hơn chiếc tàu đánh cá dài hơn hai mươi thước của tôi ở quê nhà, vừa ngơ ngác vừa rộn rã trong lòng vì tôi được đứng trên con tàu buôn quốc tế và đậu trên hải cảng Rotterdam; hải cảng lớn nhứt thế giới nhờ đông đảo tàu bè các nước vô ra. Trong lòng tôi rất lo trước khi trình giấy tờ cho viên thuyền trưởng, nhưng khi ông bắt tay chào với vẻ mặt cười hiền thì tôi cảm thấy nhẹ lòng. Thuyền trưởng lấy giấy tờ của tôi xong, ông giao tôi cho viên thuyền phó, thuyền phó dẫn tôi xuống nhận phòng. Phòng ngủ có một tủ đựng quần áo, một chiếc giường và một bàn viết. Tàu buôn thời đó chưa có tiện nghi như những con tàu hiện đại của thời nay, trong phòng thủy thủ không có toilet và phòng tắm riêng, nhưng đối với tôi có phòng ngủ riêng và giường, nệm đàng hoàng thì quá đầy đủ rồi.

Những bất an lo lắng lúc ban đầu tan biến khi thuyền phó dẫn tôi xuống phòng ăn giới thiệu tôi cho thủy thủ đoàn, thủy thủ toàn là người In Đô, khi biết tôi là người Việt tị nạn thì người nào cũng vui vẻ bắt tay, ân cần chào đón. Giới thiệu mọi người xong, thuyền phó giao tôi cho người phụ lái, anh ta dẫn tôi đi từ sau lái ra trước mũi và xuống hầm máy để cho tôi làm quen với con tàu. Sáng hôm sau, trước khi tàu khởi hành qua Phi châu, thuyền phó đưa tôi một khăn tắm và bộ đồ bảo hộ. Tôi trở về phòng cất khăn và thay đồ, may là cùng cỡ với người In Đô nên bộ bảo hộ tôi bận rất vừa vặn, chỉ có ống quần hơi dài, nhưng không sao, tôi xắn nó lên làm khi xong việc tôi tự cắt cũng được, hồi ở Việt Nam bận đồ cũ đi đánh cá, qua đây bận đồ bảo hộ, làm thủy thủ tôi cảm thấy hảnh diện vô cùng. Khi ra boong Mujono, thủy thủ người In Đô, thấy tôi mang giày bata, anh mới vô lấy cho tôi đôi giày làm việc cũ và kêu tôi vô phòng thay xong rồi ra trước mũi với anh. Như vậy là tàu khởi hành tôi với Mujono và thuyền phó chịu trách nhiệm cuốn dây và khoanh dây trước mũi, đó là bài học đầu tiên của tôi trong đời thủy thủ. Khi tàu tách bến tôi theo thủy thủ người In Đô xịt nước rửa tàu và dọn dẹp xong cũng hết một ngày.

Qua ngày thứ ba tàu đã ra khơi, biển im và nắng ấm, người phụ lái giao cho tôi một cặp bao tay, một cây búa gõ sét và một bàn chải sắt, anh dẫn tôi ra boong nhập bọn cùng với bốn thủy thủ người In Đô, nhiệm vụ chúng tôi hôm đó là gõ, đục, cạo sét và sơn phía sau tàu. Biển đối với tôi phải nói là quen lắm, nhưng lúc tàu ra vùng nước xanh đậm của  Đại Tây Dương, tôi vẫn bị hoang mang. Khi ánh sáng chói chang của mặt trời phản chiếu trên làn nước màu xanh đậm, lúc bây giờ tôi mới cảm nhận được sự khác biệt của biển và đại đương. Có lẽ khi lớn lên tôi gắn bó với biển, cho nên hải hành vài tháng tôi đã quen với cuộc sống trên tàu. Nhờ cái nhãn hiệu thuyền nhân, tị nạn cộng sản nên đồng nghiệp trên tàu ai cũng thương và tận tình giúp đỡ.

Vài ấn tượng đầu tiên của tôi khi tàu tiến xa về vùng Phi châu. Tôi còn nhớ về đêm khung trời đó trong lắm, mặt trăng gần xích đạo trông rất thấp và rất sáng, ánh trăng soi trắng mặt nước biển và thấy rõ đường cong của chưn trời. Lần đầu ghé bến Phi châu, tôi thấy người da đen đông như vậy và tiếp xúc với họ tôi mới biết tuy da người Phi châu đen như tràm cháy nhưng hai hàm răng họ thì trắng như bông gòn… Còn công việc của tôi cũng không có gì khó khăn, nhờ lúc đó tôi còn trẻ làm việc có mệt và đổ mồ hôi nhưng chỉ sau một đêm tôi đã lấy lại sức. Đó cũng là sự trải nghiệm bước đầu làm thủy thủ của tôi với cây búa gõ sét, bàn chải sắt và làm những chuyện lặt vặt trên tàu trong vùng nắng nóng của Phi châu.Tiếng máy tàu nổ cùng tiếng hoạt động của máy cuốn dây sau lái, dấu hiệu cho tàu rời bến, đưa tôi trở về hiện tại. Frans, Eddy và một sinh viên thực tập phụ trách sau lái. Frans điều khiển cần cẩu câu chiếc thang, đường lên, xuống sau lái, hai người kia thì chờ chiếc thang lên tới thì vịn kềm cho ngay vị trí của chiếc thang, xong rồi bắt móc gài chiếc thang lại cho chắc. Nhìn đồng hồ cũng đã gần tới giờ tôi làm việc. Đi vô phòng đánh răng, rửa mặt thay đồ xong thì nghe tiếng máy tàu rú ga mạnh hơn thì biết tàu đã rời bến.

Tàu ra khỏi vàm sông Tagus thì nắng cũng đã lên, trên tàu có Musli và Iwam, hai đứa dọn dẹp và lau chùi trong tàu, thuyền trưởng trực trên phòng lái và tôi là đầu bếp đang soạn cho bữa ăn trưa. Những thủy thủ hồi hôm làm ca đêm được ngủ tới mười hai giờ trưa. Mười giờ tôi pha một bình cà phê và lấy hộp bánh ngọt để lên bàn, tôi Iwan và Musli ngồi uống. Tôi hỏi Musli:

 – Hồi hôm chơi cả đêm giờ không mệt và buồn ngủ sao?

Musli cười nói tỉnh bơ:

– Hồi hôm con cũng có ngủ mà.

Rồi nó khoe với tôi là nó có số điện thoại của cô gái, cô ta rất tốt và hứa kỳ sau trở lại nó sẽ gọi hẹn gặp cô ta. Tôi hỏi:

– Con thích cô nhỏ đó sao?

– Dĩ nhiên.

Theo tôi biết phần đông những người In Đô theo đạo Hồi có đi uống bia, chơi gái thì lén lút và dặn tôi xuống tàu đừng nói lại với ai và nói chuyện chơi bời thì không tự nhiên như những người theo đạo Thiên Chúa. Iwan chen vô nói:

– Tàu đi tuyến này một năm thì Musli có vợ Bồ Đào Nha.

Nói xong Iwan giả giọng dê kêu, cười he he. Tôi day qua nói với Musli:

– Thủy thủ mà vướng tình cảm trên đất liền thì mệt lắm đó.

Musli hỏi:

– Sao vậy chú?

Tôi chưa kịp trả lời thì Iwan chen vô nói:

– Thì sạch túi chớ sao.

Thêm một tràng cười. Musli day qua Iwan nói:

– Tiền không thành vấn đề, vui vẻ là được.

Nó day qua hỏi tôi:

– Phải không chú?

Tôi đáp:

– Phải nhưng lúc con còn độc thân, chớ khi có vợ, có con rồi thì tiền cũng là vấn đề. Chú muốn lưu ý con chuyện tình cảm thôi, thủy thủ như tụi mình mà vướng vào chuyện yêu đương, thương nhớ, đợi chờ mệt lắm đó.

– Chuyện này con học hỏi chú đây.

– Thiệt ra thì trong cuộc sống thì không ai dạy ai và cũng không ai học hỏi ai hết, chuyện gì thì cũng cần trải qua rồi mới biết.

– Oh, chú nói thử con nghe.

– Thủy thủ phải trải qua nhiều con tàu và nhiều khía cạnh khác nhau, không chỉ có chuyện cột dây, gõ sét, sơn tàu, làm chuyện lặt vặt hoặc ghé một vài địa danh và quen biết một vài người là đủ. Là một thủy thủ sẽ đi với những con tàu khác nhau và làm việc trong môi trường cũng khác, ví như đối mặt với những lúc thời tiết không thể đoán trước. Con thấy đó, con mới xuống chưa được hai tháng mà từ  Địa Trung Hải ra Đại Tây Dương, thời tiết khác nhau như thế nào rồi.

Musli hào hứng nói:

– Đúng, chú nói đúng rồi, trong Địa Trung Hải thì nóng còn Đại Tây Dương mát mẻ hơn.

Iwan như sợ tôi nói hết những kinh nghiệm của nó đã trải qua, nên nó cũng háo hức chen vào góp chuyện:

– Nhưng hổng phải lúc nào biển cũng im ru và những cơn gió êm dịu, thổi hiu hiu, dễ chịu giống như hôm nay đâu.

Iwan day qua tôi nói:

– Chú còn nhớ hồi con với chú làm việc bên chiếc Elsa không?

– Nhớ chớ.

– Lúc đó từ Houston qua Nam Mỹ gặp bão, sóng cao trên mười thước, đánh ập vô thành tàu khiến thân tàu lăn lộn dữ dội làm cho thủy thủ đoàn ói mửa quá trời luôn.

– Tại vì lần đó đám thủy thủ toàn là gà chết, gặp sóng to, gió lớn thì ói mửa tùm lum nên con còn ấn tượng đó thôi. Cũng có nhiều lần bị bão trên vùng bắc Đại Tây Dương, sóng cao tới mười bốn thước, thiệt ra thì không có hiện tượng thời tiết nào mà thủy thủ không đương đầu, có những ngày mùa đông trên vùng Bắc cực, nhiệt độ giảm xuống dưới độ không, băng và tuyết phủ từ dưới mặt biển lên tới trên tàu trắng xoá. Cũng có lần trên chiếc Elsa, vượt sông Amazon lên vùng cao nguyên, gần xích đạo, nắng nóng mà máy điều hoà bị hư, nhiệt độ bên ngoài lên tới bốn mươi độ C, trong tàu nóng như trong phòng tắm hơi, còn dưới hầm máy thì giống như là hoả ngục.

Iwan chen vào:

– Con nhớ rồi, kỳ đó chú lấy nước để vô can đem đông đá rồi để can nước đá trước máy quạt trong phòng ngủ cho mát, cả tàu ai cũng bắt chước chú làm theo nên trong phòng đông giữ lương thực lúc nào cũng đầy nhóc can nước.

Musli dùng mình một cái:

– Nghe nói thấy cũng hơi lo nhưng cũng tò mò.

– Yên trí còn đi thì còn gặp.

Tôi chỉ tay lên chiếc đồng hồ treo trên vách, kim đồng hồ chỉ hơn mười giờ rưỡi:

– Lố giờ rồi, con làm việc cho hết lo.

Thấy hai đứa đứng lên cầm tách định đem vô bếp, tôi chặn tại:

– Chỗ này để chú, tụi con làm việc của tụi con đi.

Iwan và Musli tiếp tục lau chùi trong tàu. Tôi lấy bình cà phê và đem mấy cái tách đi rửa. Xong tôi bắt đầu nấu cho bữa ăn trưa. 

Giờ ăn của phụ lái là mười một giờ rưỡi, có lẽ hồi khuya phụ lái mới xuống thay cho phụ lái cũ, nó còn mệt nên ngủ trễ. Gần mười hai giờ mới thấy phụ lái ló đầu xuống, nó bắt tay chào và nói:

– Tuần tới trở lại Bilbao ông về.

–  Bộ mầy xuống báo tin cho tao thôi hả?

Nó cười, chợt nhớ ra:

– Oh, ông có gì cho tôi ăn không?

Nhìn dáng người nhỏ thó nước da ngâm ngâm và tóc đen, tôi đoán nó không phải là người Hoà Lan. Tôi chỉ tay ra bàn ăn và từ tốn nói:

– Dĩ nhiên là có, ra bàn kia ngồi đi.

– Không, trễ giờ rồi, ông cho tôi một đĩa, tôi bưng lên phòng lái ăn.

– Vậy chờ một lát.

Tôi lấy rau, thịt và khoai tây để vào dĩa, định lấy tô múc súp.

Thằng nhỏ ngăn lại:

– Bao nhiêu đủ rồi.

Tôi lấy dao và nĩa và bưng dĩa thức ăn đưa cho nó. Nó liền bưng dĩa đồ ăn quay đi, chợt nhớ quên chén trái cây, tôi kêu nó và nói:

– Còn chén trái dâu nè.

Nó day lại nói:

– Ông để đó, chiều tôi xuống ăn.

Phụ lái đi rồi thì Musli đi vô hỏi:

– Con dọn bàn nghe chú?

– Ô kê.

Musli tới chỗ để dĩa lấy chồng dĩa và kéo học tủ lấy dao, muỗng, nĩa đem ra bàn. Từ lúc Musli quen việc trên tàu tới nay nó thường vô bếp phụ tôi dọn bàn trước khi ăn và phụ tôi dọn dẹp mỗi buổi chiều. Thấy nó gọn gàng, sạch sẽ và thích làm nên tôi để nó tự nhiên. Lúc đó thủy thủ đoàn cũng vô phòng ăn, thủy thủ ăn mười hai giờ mười lăm và đám officers thì ăn mười hai giờ rưỡi. Musli dọn bàn xong vô hỏi tôi:

– Bưng đồ ăn ra được chưa chú?

Tôi ngước mặt lên nhìn đồng hồ, còn năm phút nữa mới tới giờ ăn, nhưng thấy thủy thủ đã vô bàn ngồi chờ tôi mới nói:

– Cũng được.

Thấy tôi mở tủ lạnh lấy tô sà lách ra, Musli trầm trồ:

– Oh, hôm nay có rau tươi.

Tôi nói:

– Mới mua thêm hôm ở Lisbon.

– Trước khi xuống tàu, con nghe nói thức ăn trên tàu cũng không có gì đặc biệt và hay bị thiếu. Nhưng hồi xuống tàu tới giờ ngày nào cũng thấy ăn uống linh đình.

– Chú hổng biết mấy công ty khác ra sao, nhưng công ty này thì chú biết. Thiệt ra trước kia thức ăn rất là phong phú, từ ngày người Nga và Ukraina xuống đây làm việc thì thực phẩm bị cắt giảm gần phân nửa.

– Vậy hả chú?

– Con xuống chiếc Tina này nhờ thuyền trưởng là người Hoà Lan nên hai tuần được mua thêm trái cây, rau cải tươi, thịt, cá dậm thêm. Nếu thuyền trưởng không phải là người Hoà Lan thì thức ăn một tháng lấy một lần và họ đưa gì ăn nấy, có thiếu thì cũng ráng mà chịu.

– Có sự phân biệt sao chú?

– Chú thấy là vậy.

Tôi vừa nói vừa đọn thức ăn để hết ra bàn rồi nói:

– Trên tàu toàn là dân tứ xứ nên hay xảy ra chuyện chướng tai gai mắt, nhưng không đụng tới mình thì thôi, con để ý làm gì. Con bưng đồ ăn ra rồi cùng anh em ăn đi, bàn của officers chú lo được rồi. Giờ làm việc của thủy thủ kết thúc lúc năm giờ chiều. Còn đầu bếp thì lo cho thủy thủ đoàn ăn, uống và dọn dẹp xong thì mặt trời cũng bắt đầu lặn.

Tôi ngồi tầng trên phía sau lái tàu, ngắm hoàng hôn trên đại đương. Phía trời Tây, mặt trời giống như một chiếc mâm sắt nung đỏ, từ từ chìm xuống viền nước, toả lên ánh hồng nhuộm đỏ phía chưn trời. Không bao lâu ánh nắng cuối ngày tắt hẳn, nhường chỗ cho bóng đêm thay vào, không khí lúc này mát mẻ dễ chịu hơn. Musli cầm hai chai bia, đi lên chỗ tôi đứng, có lẽ leo lên hai bậc thang nó bị mệt nên vừa đưa chai bia cho tôi vừa thở hổn hển, nói:

– Hồi nãy con gõ cửa phòng hổng nghe chú trả lời, ra phía sau boong cũng không thấy, thì ra chú đứng trên đây.

Thiệt ra tôi không muốn gặp ai nên mới lên đứng trên này. Tôi cầm chai bia đưa lên cụng, ngước cổ uống một hơi và chỉ tay lên mặt trăng nói:

– Coi kìa, trăng khuyết và trời rất trong.

Musli cũng hớp xong hớp bia, nó ngó quanh rồi nói.

– Đẹp quá hả chú, nhưng trăng mọc sớm quá.

Tôi ừ hử và mặt vẫn hướng về phía mặt trăng. Musli im lặng hồi sau nó mới lên tiếng:

 – Con nghe Frans nói mai tàu tới Casablanca, nhưng không lên bờ chơi được hả chú?

– Lên thì được, nhưng thủ tục rắc rối lắm và lên bờ cũng gặp nhiều phiền phức, vì vậy thuyền trưởng không cho lên đó thôi.

– Vậy, tới Bilbao chú về rồi, chỉ còn có Frans đi chơi với con thôi.

– Có Frans cũng tốt, trên đường đi có người bạn đồng hành hợp nhau cũng đủ rồi.

– Con thích đi với chú.

– Chú già rồi đi với tụi con chỉ có vướng bận.

– Nhưng học hỏi ở chú được nhiều thứ.

– Những chuyện chú nói nó đã qua hết rồi, tương lai con sẽ biết được những thứ mới mẻ hơn. Con không thấy sao, chú đi với các con lúc nào cũng giữa chừng, không bao giờ chơi cho tàn cuộc.

– Tại chú không muốn thôi, chớ con thấy nhiều người lớn tuổi hơn chú cũng còn ăn chơi mà.

– Chú cũng ăn chơi vậy, đi chung với con hoài.

– Chú chỉ xem thành phố, tìm ăn đặc sản và uống bia, rượu.

– Như vậy đối với chú cũng đầy đủ lắm rồi.

– Bộ chú hổng còn thích đàn bà nữa sao?

Đưa bia lên uống, chợt nghe thằng nhỏ hỏi, tôi cười làm cổ họng bị sặc bia, tằng hắng cho qua cơn, tôi nói:

– Thích chớ con, nhưng thích theo kiểu già.

– Là sao?

– Chuyện hổng đáng để thắc mắc đâu, khi nào con lớn tuổi như chú thì con tự biết.

Tôi với Musli uống hết chai bia, đem chai bỏ vô thùng rác, tôi hỏi:

– Con uống nữa không?

– Không, khuya nay con trực. Nghe nói tàu trở lại Bilbao chú về nên muốn gặp chú nói chuyện chơi.

– Vậy con đi ngủ đi.

Musli đi rồi tôi mới day nhìn ra khơi, chưa tới mười giờ mà trăng đã sáng soi trên mặt biển, nhiều ngôi sao cũng đã mọc, trăng tuy khuyết nhưng ánh vẫn toả sáng làm những ngôi sao không được rực rỡ như những đêm tối trời. Thiệt là hấp dẫn khi ánh trăng chiếu sáng xuống mặt biển như đèn pha, đột nhiên đám mây kéo ngang che mặt trăng, trời tối sầm lại làm con tàu nằm trong bóng mờ, mặt nước không còn lấp lánh và đường chưn trời cũng biến mất. Một lát sau mây bay qua, ánh sáng mở rộng ra bốn hướng. Hơn bốn mươi năm qua, không biết bao nhiêu lần, tôi đứng hàng giờ chỉ nhìn chằm chằm vào sự thay đổi của vầng trăng, nhứt là ánh sáng lung linh khi trăng sắp lặn xuống biển, lúc đó nước và trời liền nhau và không còn thấy đường chưn trời nữa. Trăng trong tôi mỗi nơi mỗi khác, biến dạng cũng khác nhau lúc nào cũng đẹp… nó vượt quá khả năng của con người để giải thích cái đẹp và yên bình như thế nào. Không gì thay đổi được quan điểm vô giá khi đứng nhìn và cảm thấy cuộc sống hoà hợp với thiên nhiên hơn bao giờ hết.

Nhưng đêm nay tôi nhìn trời, trăng, mây nước với một tâm trạng bâng khuâng khó tả, khi nhận biết, một cách rõ ràng, là đời thủy thủ của tôi sắp chấm dứt. Tôi sẽ chia tay với biển, với đất trời bao la, với những tối êm đềm trăng sáng. Một sự ngẫu nhiên hay là sự sắp đặt của tạo hoá? Hơn bốn mươi năm trước, chuyến hải hành đầu tiên trong đời qua Phi châu, hôm nay chuyến cuối cùng cũng trên đường qua Phi châu. Sợi dây liên lạc với những người từ khắp bốn phương kéo dài hết một đời rồi. Biết rằng tôi sắp bỏ biển nhưng tôi chỉ thoáng buồn, vì cả đời với kiếp lữ hành vui có, buồn có, nhưng tất cả đều đem tới lưu luyến, nên tôi không muốn nói với mấy bạn trẻ của tôi đây là chuyến cuối cùng. Rồi đây những cái tên Musli, Edy, Iwan, Frans, Mujno, Mohamet… chạy qua trong đầu tôi. Rồi một buổi chiều nào trên một thành phố lạ, chúng nó ngồi nhậu với nhau và nhắc lại: hồi đó có uncle Tan, chú đầu bếp già Việt Nam đã cùng đi với chúng trên một chuyến tàu…

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 16 May 2026

Mùa tựu trường. Thuận và tôi trở lại Nha Trang. Chúng tôi cùng một người bạn tên Kỳ, quê Phú Yên, thuê gian nhà nhỏ phía sau căn nhà lớn của một người đàn bà, Gian nhà nhỏ này, thật ra là nhà bếp và phòng ăn, bà dọn sạch sẽ cho thuê. Bà ở nhà trên với hai đứa con nhỏ. Chồng bà là quân nhân, trấn đóng đâu đó, trên cao  nguyên, Lâu lâu ông về, hay ngồi tán gẫu với chúng tôi. Qua câu chuyện, tôi mường tượng ra một vùng đất đỏ, núi rừng heo hút hoang vu. Thuận và tội học đệ tam. Kỳ lớn hơn tôi ba tuổi, học đệ nhị. Anh học rất chăm, chứ không cà lơ phất phơ như Thuận. Ngay trong lối sống, anh cũng tỏ ra đường hoàng chững chạc. Ban đêm, anh làm cho một lò sản xuất bánh mì. Anh thường đem về những ổ bánh dạt ra vì quá lửa, hoặc không nở đều.

Có khi chúng tôi ăn bánh mì trừ cơm. Anh bảo tôi, mua chiếc xe đạp làm chân, anh sẽ giới thiệu nơi dạy kèm tại tư gia. Số tiền có được trong mấy tháng xịt thuốc Diệt Trừ Sốt Rét, tôi dốc ra một phần mua chiếc xe đạp cũ. Tôi dạy kèm hai nơi, đủ sống và đóng học phí.

Cuối tuần, tôi về nhà bác Huế ăn cơm. Đồng thời cũng hướng dẫn thêm bài vỡ cho hai con bé. Bác Huế nói, chỉ sau mấy tháng hè mà trông con lớn hẳn ra, đen sạm rắn chắc. Bác cho rằng, tôi thi rớt là tại Phương Nghi hớp hồn. Phương Nghi bị hàm oan! Tôi ở riêng, bác Huế lo lắng, sợ tôi thiếu thốn về vật chất. Nhà có món gì ăn ngon, bác sai bé Đông mang dến cho tôi. Tôi cảm động trước tấm lòng trời biển của hác. Nhiều lần tôi nói, con ăn chung với bạn, bác đừng lo cho con nữa. Nhưng bác bảo, một lũ con trai ăn uống hốt trớt, sức mô mà học?

Phương Nghi biết mỗi cuối tuần tôi về nhà bác Huế. Nó đến nhằm lúc có mặt bác. Chúng tôi dè dặt không dám chuyện trò. Nó về. Bác Huế nói, Phuong Nghi là con hồ ly, đàn ông con trai sẽ chết vì nó. Tôi nói, tụi con đã vãn rồi. Bác nói, nó không muốn vãn, răng con vãn được? Nó còn bẹo hình bẹo dạng với con, bác sẽ mách cho mẹ nó. Tôi hoảng, xin bác đừng làm xấu hổ Phương Nghi, tội lắm. Bác bảo, sợ tội con nớ, thì con phải gắng học. Năm ni mà không đậu là không được.

Đến nhà bác Huế bất tiện, Phương Nghi nhờ bé Đông dẫn tới chổ ở của tôi. Lại nhằm lúc tôi đi vắng. Khi tôi về, nghc nói nó ngồi chờ cả tiếng đồng hồ. Thuận phê bình, con nhỏ này dám đi tìm trai, trước sau gì cũng hư hỏng. Anh Kỳ nhận xét, Phương Nghi con nhà giầu lại đẹp. Nó thích mày chỉ vì trông cái mả bề ngoài hiền từ. Nhưng khi lấy chồng, bọn con gái thực tế lắm. Nó sẽ chọn thằng có địa vị danh giá, ngồi không cũng được làm bà. Lẩy thằng khố rách như mày. Để biến thành cái mụ lam lũ chân tay à? Hãy thức tỉnh sớm đi. Dành thì giờ lo học. Tui mình nhà nghèo, cần cái bằng cấp lắm. Nhận xét của anh như dao đâm vào ngực. Tôi ôm đầu khổ sở. Thuận đưa quyển Kinh Thánh, Chúa sẽ an ủi mày. Tôi bỏ ra ba ngày nằm đọc. Gặp câu đắc ý trong chương Diệu Ca, tôi dọc kinh: “Ái tnh ngon hơn rượu.”

Anh Kỳ ứng khẩu: “Mày tưởng thật. Không ngờ, chỉ là men vị đắng.”

Tôi đọc câu khác: “Tình yêu mạnh như tử thần.”

Anh Kỳ lại ứng khẩu: “Nên xa nhau, hằng đêm mày buông mình vật vã.”

Thấy hay hay, tôi góp ý hai câu Diệu Ca, với những lời của anh Kỳ thành bài thơ nhỏ:

ái tình ngơn hơn rượu

tôi tường thật, không ngở

chỉ là men vị đắng.

tình yêu như sự chết

nên xa nhau, hàng đêm

tôi buông mình vật vả.

Tôi dán bài thơ lên tường.

Thuận xé toạc vất đi, chế nhạo: “Mày làm trò cải lương. Trước khi chết, còn ngóc đầu lên ca sáu câu vọng cổ.” Một hôm, tôi dạp xe trên đường phố, nghe tiếng ai kêu tên mình. Tôi quay nhìn. Phương Nghi vẫy gọi. Tôi làm ngơ đi luôn, lòng đau như cắt. Về nhà, tôi nằm thổn thức.

Anh Kỳ nói: “Hành động đứt khoát này, xứng đáng được đãi ăn một tô hủ tiếu”

“Tôi nuốt không vô.”

Anh nói: “Đổng tiền tao làm cực khổ. Tao thưởng cho cái quyết tâm của mày, chứ không phải nổi hứng dẫn tụi mày di ăn đâu.”

Thuận vực tôi dậy: “Dịp may hiếm có. Chần chừ, ảnh sẽ đổi ý. Mau lên!”

Cuối tuần đó, tôi lại nhà bác Huế. Bé Đông lén trao thư của Phương Nghi. Tôi giấu trong áo. Khi về, tôi mở thư.

Anh Kỳ hỏi: “Thư ai?”

Tôi nói: “Phương Nghi.”

Anh giật lấy, ném vào lò lửa.

Tôi sừng sờ: “Sao đốt thư của tôi?”

Anh bảo: “Hiên ơi, quan trọng là cái ở trong đầu của mày, chứ không phải dứt khoát ở ngoài. Đọc thư tình, nó sẽ ám ành hoài. Còn tâm trí đâu mà học?”*

“Nhưng phải cho tôi coi nó viết những gì chứ?”

“Những gi cũng mặc. Không tơ vương rắc rối. Mày không nhìn thấy sự chênh lệch à? Nó có bằng trung học đệ nhất cấp. Mày không có tờ giấy lận lưng. Chuyện này rồi cũng chẳng đến đâu. Dứt sớm đỡ khổ. Kéo dài nhì nhằng đến chừng nó bò rơi, mày chỉ còn nước tự tử.”

Tôi học hành vất vả. Gắng công ôn luyện lại chương trình đệ tứ. Anh Kỳ chỉ dạy thêm những diều tôi còn khúc mắc. Nhiều khi nhìn trang sách, mà tâm trí tận dâu đâu. Trong tôi vẫn không phai nhòa hình bóng Phương Nghi. Năm ấy. Thuân và tôi cùng vào phòng thi trung học đệ nhất cấp.

Chúng tôi thi xong, anh Kỳ hỏi: “Thế nào?”

Thuận nói: “Có lẽ đi tàu suốt.”

Tôi nói: “Bài làm được. Chỉ sợ giảm khảo chấm bài ngủ gục, trông gà hóa cuốc thì bỏ mẹ.”

Ngày niêm yết kết quả. Tôi đậu bình thứ. Thuận rớt. Hắn đọc thơ Tú Xương: “Cải học ngày nay đã hỏng rồi.

Mười người đi học, chín người thôi.”

Thuận bỏ học luôn từ đó. Hắn đăng tên vào lính Không Quân. Sau này, có gặp nhau mấy lần, nhưng không còn thân thiết nữa. Quá khử chỉ còn kỷ niệm. Hắn phong trần dày dạn. Dưới mắt hắn, tôi là một thư sinh yếu đuối, chưa biếi đời là gì.

Bác Huế làm cái tiệc nhỏ, mừng tôi thi đậu. Cả nhà vui vẽ.

Bé Đông nói: “Em bao tin cho chi Phương Nghi.”

Bác Huế trừng mắt, Bé Đông cụt hứng, mặt mày tiu nghỉu. Nhưng chỉ một lúc sau, nó lại vui.

Nó nởi: “Anh Hiên nì, năm ni em lên đệ lục. Đừng gọi em là bé nữa”

“Chứ gọi bằng gì”

“Bằng gì cũng được, nhưng cấm gọi bé.”

“Gọi bằng o, được không?”

Nó cười.

Tôi bĩu môi:”Miệng còn hôi sữa, đã muốn làm người lớn”

Nó chu mỏ: “Nói rứa cũng nói được.”

Lật bật rồi cũng đến ngày thi của anh Kỳ. Anh đâu tú tài. Trông anh vẫn điềm nhiên như không có gì thay đổi. Niềm vui anh giấu ở trong lòng. Tôi lãnh tiền kèm trẻ tại gia, muốn dãi anh một chầu nem nướng Ninh Hòa, Khi vui, tôi kêu thêm mỗi người một chai bia. Ăn xong, anh giành phần trả tiền, Tôi áy náy không yên. Anh nói, bữa ăn hôm nay giá tiền bằng một phần tư tháng lương kèm trẻ của tôi. Hãy để anh trả. Chúng tôi đạp xc ra bãi biển, ngồi nhìn nước, Bóng chiều ngã dài trên hàng dừa, dọc theo bờ cát. Anh tâm sự, cha anh tập kết ra Bắc, biệt tăm không biết sống chết lẽ nào. Nhà anh nghèo lắm. Mẹ anh không đủ khả năng nuôi hai dứa em. Anh không thể tiếp tục học nữa. Phải về Phú Yên để giúp gia đình. Tôi cảm động và buồn muốn khóc. Thuận đi rổi, anh cũng đi. Một mình tôi ở lại với nỗi buồn trống vắng quạnh hiu, Tôi nghì đến thời gian tới. Làm sao tôi đủ sức thuê gian nhà? Anh nói, trước khi đi, anh đã chuẩn bị một dời sống cho tôi xong rồi. Đầu tiên, anh dẫn tôi đến nhà một người đàn bà tu tại gia, Bà ở một mình, không thấy con cái chi cả. Anh giới thiệu và xin cho tôi ở trọ vào niên học tới. Rồi anh lại giới thiệu một người đân ông cùng quê của anh, làm ở ty công chánh. Người này nhận tôi vào làm phu lục lộ với đồng lương công nhật, trong mấy tháng hè. Tôi mua tặng anh Kỳ cái vé xe dò về Phú Yên. Anh tăng tôi chiếc áo còn tốt. Tôi nói, anh nên để lại mà mặc. Anh bảo, về quê anh sắm cải khác, còn tôi cần những chiếc áo thay đổi cho mùa sau đi học.

Ngày anh dọn đồ về quê, tôi bùi ngùi ứa nước mắt. Anh nói, lòng tôi mềm quá, suốt đời sẽ khổ vì dàn bà. Lời anh như một tiên tri. Tôi đưa anh lên bến xe, vào một sáng trời đầy mây. Anh siết nhẹ vai tôi, tụi mình sẽ khó gặp lại nhau, Chỉ mong, nếu có gặp lại không ở thể đối đầu. Anh lên xe. Tôi đứng trông theo. Không có ngọn gió nào cuốn bụi, mà mắt tôi cay. Câu nói lần cuối của anh Kỳ làm tôi nghĩ mãi. Sau này mới hiểu ra. Con lốc thời cuộc dã xô anh và tôi về hai hướng khác.

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 16 May 2026

Công dân cao niên nhận lãnh một lần số tiền $30,000 nếu đồng ý trở về sinh sống tại quốc gia nguyên thuỷ của họ. Để giảm bớt gánh nặng trợ cấp cho người già trên đất Mỹ và trước tình trạng ngân sách thiếu hụt của quốc gia này, cuối cùng vào ngày 1 tháng 4 năm nay, Lưỡng Viện Quốc Hội Mỹ đã thông qua đạo luật chấp thuận cho những người cao niên trên 65 tuổi, không sinh ra tại Mỹ, được lãnh một số tiền quy định đồng đều là $30,000 nếu đồng ý trở về sinh sống tại quốc gia nguyên thuỷ của họ. Đạo luật này sẽ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 4 năm 2012, nhưng chỉ dành cho những người tự ý chấp thuận, không có tính cách bắt buộc hay kỳ thị và công dân cao niên phải làm đơn trong vòng 90 ngày từ ngày đạo luật có hiệu lực tại các cơ quan xã hội quận hạt nơi mình cư ngụ. Cao niên hiện nay ở tại Mỹ, được lãnh đủ số tiền này, một người già sống chung với chồng hay vợ phải mất thời gian gần 42 tháng (nếu tính theo số tiền được quy định từ tháng 3-2011 trở về trước là $703.00 cho một người sống chung với hôn phu hay hôn thê. Nay với số tiền này ($30,000) được lãnh trọn, người trở về nước của họ sẽ có một số vốn làm ăn hay an hưởng Cao niên và câu chuyện cá tháng 4 … tuổi già mà không cần phải ở lại Mỹ để được hưởng hàng tháng số trợ cấp do chính phủ quy định. Đạo luật nay đã được nghiên cứu và cứu xét trong  nhiều năm kể từ tháng 5-1990, theo các bản phúc trình có giá trị, thì những người cao niên như sắc dân Châu Á, mỗi năm đã dành số tiền trợ cấp mười một tháng để đem tiêu xài hết trong một tháng trở về đất nước của họ. Mặt khác số tiền trợ cấp đã thay đổi tùy theo nấc thang thời giá được ấn định lại hằng năm, nhưng  đối với mức sống thấp của những người di dân đến Mỹ, họ còn có khả năng gởi về đất nước của họ hằng tỷ đô-la mỗi năm. Theo con số của Ủy Ban Người Nước Ngoài Việt Nam, mỗi năm Việt Nam nhận 8 tỷ dollars do các di dân gửi về trong đó có 65% số tiền xuất phát từ Mỹ.

Nếu số cao niên Châu Á hay từ các quốc gia sau chiến tranh có sự tham dự của Mỹ đồng ý chọn giải pháp nhận số tiền trợ cấp của đạo luật 1/1/12, như đã ghi trên, nước Mỹ sẽ tiết kiệm được những chi phí sau đây

– Tiền trợ cấp y tế, (thuốc men, bệnh viện, săn sóc tại gia, các chi phí cho dịch vụ cấp cứu): 78 tỷ mỗi năm.

– Tiền day-care cho các cụ (đến ăn trưa, tập thể dục, chơi bài, đấm bóp, xem TV, vào internet): 892 triệu mỗi năm.

– Chi phí về housing: 3 tỷ 2 mỗi năm Hiện nay, theo sự thăm dò của cơ quan Orange County Senior Research (OCSR) cùng một số thiện nguyện viên quan tâm đến vấn đề này, đã tiếp xúc với với các vị cao niên tại các nơi sinh hoạt tôn giáo như  chùa, nhà thờ, tại các dịch vụ day-care, chỗ đông người như chợ, siêu thị, trên các chuyến xe bus hằng ngày chở đi các casino, các quán cà phê có hay không có bàn cờ tướng, các phòng massage. Kết quả tạm ghi nhận được:

– Nhóm thứ nhất- 65% chấp nhận lãnh số tiền trợ cấp một lần $30,000 để trở về nguyên quán không trở lại, (trong số này có:- 21% bệnh tật lâu năm, khó chữa muốn về chết trên quê hương,- 17% hiện có bất động sản đã mua hay của con cái, gia đình làm ăn khá giả, nên muốn về ở luôn, có thể mở tiệm phở, hớt tóc, massage, cà phê đủ loại, – 8% xem Việt Nam ngày nay có tiến bộ, giàu có, có tự do sống thoải mái, – 7% đã mua sẵn đất chôn, mỗi năm đều về Việt Nam và đã có ý định về ở luôn, – 23% bị con cái bạc đãi, không chăm sóc, buồn phiền, trầm uất,- 8% không thích hợp với đời sống, văn hoá Mỹ, không có nhiều bạn bè lui tới, 7% sắp qua đời, muốn về chết ở việt Nam. – 9% đời sống ở Mỹ bó buộc, không có tự do (xử dụng rượu, thuốc lá) phương tiện di chuyển đắt, khó khăn, sẽ làm đơn, nhưng không cho biết ý kiến, sợ đụng chạm.

-Nhóm thứ hai- 10% đang cứu xét và thăm dò, chưa có quyết định.

-Nhóm thứ ba-18% không chấp nhận, dù vì hoàn cảnh khó khăn của nước Mỹ, trợ cấp bị cắt giảm (đã nhận nơi này làm quê hương), không muốn về Việt Nam dù với điều kiện nào.

-Nhóm thứ tư- 7% không có ý kiến.

Chưa bao giờ nước Mỹ thâm thủng và nghèo mạt như hiện nay. Một tiểu bang của Mỹ giàu có đứng vào hàng thứ năm của thế giới đã nghèo hơn bao giờ hết. Theo nguồn tin mới nhất từ thủ phủ Sacramento của California, ngân sách tiểu bang thâm thủng 42 tỷ đô la. Thống đốc Brown của tiểu bang vừa loan báo sự cắt giảm ngân sách giáo dục lên đến 1,200 triệu Mỹ Kim, trong đó, tài khoản của hệ thống CSU (California State University System) sẽ còn dưới 500 triệu Mỹ Kim, hệ thống CU (University of California) sẽ bớt đi 500 triệu cho và 200 triệu ít hơn cho các cơ quan nghiên cứu. Thống đốc cho biết đây là “trong điều kiện thuận lợi nhất và nếu trong kỳ trưng cầu dân ý vào tháng 6 năm 2011 nếu dân chúng không chấp nhận cho gia hạn thuế khoá như hiện nay thì tình hình cắt giảm sẽ nặng nề hơn nữa”.

Không còn giải pháp nào khác có thể cứu vãn tình hình ngân sách thâm thủng. Ở cấp tiểu học và trung học, học khu Westminster đã bớt đi 10 ngày học và học khu Garden Grove giảm 5 ngày. Trong tổng số hơn 200 ngày giảng huấn mỗi năm, sự giáo dục sẽ có những kết quả tai hại nếu trong tương lai số ngày nghỉ học phải tăng lên vì không đủ ngân sách tài trợ từ tiểu bang. Nói chung, giờ học của con em chúng ta ở California chỉ còn 175 ngày, trong khi con số trung bình toàn quốc hiện nay là 180 ngày. Niên học sẽ rút ngắn đi ít nhất là 6 tuần lễ, nghĩa là học sinh, nghỉ hè sau lễ Phục Sinh vào tháng 4, chứ không còn như thường lệ kéo dài đến giữa tháng 6 nữa. Một thành phố của California là Anaheim vừa đi đến một quyết định theo đó tất cả công chức thành phố không sử dụng trong trường hợp khẩn cấp sẽ giảm 5% lương, đồng thời bớt 10% số giờ làm việc và tiền lương của hơn 1,100 công chức thành phố, kể cả ban quản trị sở cứu hỏa, sở cảnh sát và các nhà quản trị khác, sẽ bị cắt lương 5%, giúp tiết kiệm cho thành phố khoảng $3.4 triệu.

Xa hơn nữa, Neward của New Jersey, trong một cố gắng tuyệt vọng để làm giảm mức thâm thủng của thành phố lên tới 70 triệu đô la trong năm 2010, Thị Trưởng của Newark đã cho cắt luôn khoản tiền mua giấy vệ sinh cho các cầu xí của nhân viên, cắt bớt 4 ngày làm việc cho các nhân viên không chính thức, dẹp bỏ các biểu ngữ trang trí lễ lạc, đóng cửa các hồ bơi công cộng và bất cứ hợp đồng nào không cần cho an ninh đường phố, phòng cháy cũng sẽ bị cắt. Các biện pháp này sẽ tiết kiệm từ 10 triệu đến 15 triệu đô là mức thâm thủng của thành phố. Nước Mỹ của chúng ta không còn là một anh chàng công tử nhà giàu nữa, mà là một anh chàng nghèo kiết xác đang giật gấu vá vai để qua hồi suy thoái kinh tế. Nửa phần bài tạp ghi hôm nay, viết vào những ngày đầu tháng tư theo truyền thống “Cá Tháng Tư” (April Fools’ – Poisson d’Avril), hy vọng không ai mừng hụt và cũng không hy vọng đạo luật này sẽ thành hình.

Nửa phần cuối của bài này là chuyện nước Mỹ đang nghèo, con cháu chúng ta phải chịu dốt hơn vì ngân sách giáo dục bị cắt, giờ học bị bớt, lớp học bị dồn lại, ngay cả vòi nước uống, sân chơi cho các em cũng không có tiền tu bổ. Xin quý vị cao niên, nhịn bớt tiêu xài, phá phách, đừng đem tiền ra khỏi nước Mỹ nữa, xin hãy sống với nước Mỹ và yêu nước Mỹ hơn, xin đừng xem đây là nhà trọ, là nơi “share” phòng nữa!

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 16 May 2026

Có những người chết để cho chúng ta sống.

thương tật để chúng ta được lành lặn,

ở lại để cho chứng ta có cơ hội ra đi.

Vào tháng 9 năm 1866, dưới thời Vụa Tự Đức, việc xây dựng lăng tại Vạn Niên, dưới sự cai quan của Thống Chế Nguyễn Văn Xa và Biện Lý Nguyễn Văn Chất quá hà khắc, khiến quân dân làm việc tại công trường bất mãn, ta thán. Lợi dụng việc này, hai anh em Đoàn Trưng và Đoàn Trực lãnh đạo cuộc nổi dậy, gọi là “loạn Chày Vôi,” bắt người chỉ huy công trường, nhờ có nội ứng, kéo nhau về kinh thành, xông vào Đại Nội và Cấm Thành, định bắt giết Vua Tự Đức, Lúc bấy giờ quan Chưởng Vệ Hồ Qại, đang chỉ huy quân tức vệ, tả xung hữu đột để cứu giá. Vua Tự Đức thoát nạn trong gang tấc và cuộc nổi loạn bị dẹp tan, những người lãnh đạo đều bị bắt và xử trảm, Trong lúc cầm gươm bảo vệ nhà Vua, Chưởng Vệ Hồ Oai đã bị Đoàn Trực chém đứt một lỗ tai tay phải. Sau dó ông dược Vua Tự Đức phong chức Đô Thống, phong tước Nghĩa Dũng Từ và cấp thưởng nhiều quý vật, trong dó theo truyền thuyết ở Huế, ông được Vua Tự Dức ban thưởng một lỗ tai giả dúc bằng vàng ròng.

Chưởng Vệ Hồ Oai cẩm gươm bào vệ cho nhà Vua, tránh được một cuộc binh biến cho dất nước, được ân thưởng tượng trưng một cái lỗ tai bằng vàng. Ngày nay anh em thương binh chúng ta. vì tận trung, bảo quốc, mất nhiều thứ trên thân thể, quan trọng hơn cái lỗ tai nhiều như đôi mắt, tứ chi mà chỉ may ra được một cải nạng. Vì sao? Vua Tự Đức còn tại vị và biết chuyện đền ơn đáp nghĩa. Sau tháng 4-1975, vua quan chúng ta không còn tại vị nhưng đã đi ra nước ngoài, còn cả cây kim sợi chỉ, nhưng chỉ tiếc là những người này không có tấm lòng thương xót cho những người đã đổ máu xả thân bảo vệ cho chức tước, địa vị, gia đình, tài sản của họ, được an toàn ra đi, đã bò anh em lại, mà không cần biết hay nhớ đến những người này là ai. Vào những giờ phút cuối cùng khi anh em vẫn còn trên trận tuyến, Tổng Thống đã ra khỏi đất nước, như vị thuyền trưởng tránh trách nhiệm dể khỏi chết theo con tàu. Thủ Tướng cũng ra di. Đại Tướng cũng ra đi. Chi còn lại những con người liêm sĩ chon cái chết dể khỏi sống ô nhục và h àng trăm nghìn thanh niên đã hứng chịu cành tàn khốc củanhững người bị thất trận, nhất là những người với thân thể không còn nguyên vẹn, người cụt chân, kẻ mù mắt. Phải chi anh em được chết trên trận mạc, thân thể dược phủ ngọn cờ ngày trước, cho khỏi khổ đến gia đình vợ con phải hứng chịu những ngày cơ cực khi đất nớc không còn, quân đội không còn, đơn vị không còn.

Giữa bao nhiêu “vạn cốt khô” dã được để lại sau chiến tranh, ba mươi lăm năm nay, chưa hề thấy “tướng công thành” nào hy sinh của cải, thời gian để làm một nghĩa cử mang ơn, chia sẻ với những người lính đã tận tuy một đời, hy sinh một đời để bây giờ phải sống những ngày tàn tạ trên quê hương mình như những kẻ lạc loài, xa lạ. Nếu ngày nay họ được cưu mang phần nào, gọi là chút an ủi cuối đời bằng những món quà nhà nhỏ thì dó chinh là tấm lòng của những đồng đội ngày xưa đã qua thời gian cay đắng tù tội, những đồng bào hậu phương ngày trước đã mang ơn họ.

Có thể dây là một cộng nhân hưu tri, chia món tiền nhỏ nhoi vào mỗi cuối tháng, có thể là những vị cao niên, chắt chiu những dồng tiền trợ cấp, mà không quên những người lính năm xưa, những người trẻ tuổi mới lớn lên khi nghe nói về quả khứ hào hùng của đất nước, xót xa cho thế hệ của cha ông. Động lực nào đã thúc đẩy bao nhiêu người hy sinh thời gian, công sức để vận động những phong trảo đền ơn đáp nghĩa thương binh, gần suốt hơn hai mươi năm nạy, dù sự giúp đỡ như giọt nước trong ngày nắng hạn, như hạt muối bỏ biển hay như ngọn gió thổi vào căn nhà hoang trống trải. Những người có lòng này không phải là những người làm thương mai thành công, cũng không phải là những người ôm được tài sản lớn lúc chạy ra được nước ngoài, cũng không phải là những người đã từng sống trên xương máu của đồng đội. Họ chỉ là những người lính bình thường, những người dân đã chứng kiến những thăng trầm cùa lịch sử, biết ai là người mình phải mang ơn, biết ai là người dã mất mát để cho mình được có cái hôm nay. Nhưng đó chính là ngọn lửa của niềm tin thắp lên trong những dêm dài tuyệt vọng của những người thương binh đã mất một phần thân thể cho tổ quốc, phải sống trong những hoàn cảnh ghẻ lạnh dưới chế độ mới, từ hàng mươi năm nay, đang là một gánh nặng cho gia đình, con cái. Mỗi năm chúng ta có bao nhiêu lần làm lễ vinh danh cho những người tiếng tăm, nơi này và nơi khác, chỉ cho một người, mà vinh quang của họ được xây đáp bằng công trận của hàng vạn người tử sĩ và thương binh vô danh ngày trước. Những người sau này, chết thì mồ mả xiêu lạc, sống thì lây lất qua thời gian đầu đường xó chợ. Những người này bay giờ không còn cần đến một vòng hoa chiến thắng. Ngậm ngủi vì khi biết mình là kẻ chiến bại, hay muốn nghe những bài hát ca tụng họ là anh hùng, vì chính họ thực sự là anh hùng, nhưng đã là anh hùng cùng đường, mạt vận. Bây giờ có thể họ ràn rụa nước mắt, cầm trong tay món tiền nhỏ từ hài ngoại gừi về, từ đám dông những người họ chưa hề quen biết, chưa hề là bạn bè, cấp chi huy hay là tướng lãnh của họ. Một bữa cơm tươm tất chiều nay hay một tấm tôn lợp nhà trong mùa mưa bảo, những mơ ước thật tầm thường mà những người hạnh phúc, no đù nhiều khi không thể nào tưởng tượng ra nổi. Đúng hai mươi năm sau biến cố đổi đời, năm 1995, khi những người linh vừa ra tù, đặt chân dến Mỹ. ngồi lại với nhau để tìm cách gây quỹ giúp cho những người thương binh bất hạnh còn ở lại, anh em dã nhận được $100 đỏ la từ người tổng tư lệnh ngày trước, người đã bò anh em trước khi chiến xa địch vào dến Saigon và dã có những căn nhà trị giá bạc triệu ở từ Anh Quốc đến Hoa Kỳ. Đây không phải là cách biện minh “của ít. lòng nhiều” mà là như hạt muối xát vào vết thương đang còn rỉ máu. Nhưng thôi thì đây cũng là lộc của nhà Vua, anh cm hòa thuận như trong truyện Quốc Văn Giáo Khoa Thư thì mang quả lê bỏ vào nồi “ba mươi” nấu nhừ nát thành nước rổi moi người húp một thìa cho qua cơn hạn khát.

Khi những dòng chữ này đến bạn đọc, thì mới hôm qua dây, tại San José- Bắc California, hải ngoại đã tổ chức một buổi ca nhạc ngoài trời để gây quỹ giúp cho anh em thương binh đang sống cuộc đời khốn khổ ở quê nhà. Mà không phải là lần đầu, trải dài trong mười năm người ta đã làm công việc này lần thứ bảy. Tiền gây quỹ, có năm nhiều năm ít, nhưng tấm lòng của người hải ngoại thì không bao giờ suy chuyển. Sáng kiến được nảy ra từ tấm lòng vị tha, họ ngồi lại với nhau trong khi đang khó khăn làm lại cuộc đời trên mảnh đất mới. Từ đó đã rất nhiều người nhập cuộc biết chia xẻ sự no đủ và hạnh phúc cho những người bất hạnh bơn mình.

Khi chúng ta không có đủ tiền, chúng ta có công sức và tấm lòng. Nhiều nhạc sĩ, ca sĩ, nghệ sĩ, nhiều người cựu chiến binh, thuyền nhân đi tìm tự do và đồng bảo hải ngoại, trẻ già, đã đến dây để cùng chung một tiếng nói, gửi một lời cám ơn đến những người thương binh của chúng ta ở quê nhà.

Xin những người có lòng ở hải ngoại hoan hỷ gửi một chút quà cho những người đã hy sinh cả tuổi thanh xuân vả hôm nay không có cả tuổi già hạnh phúc!

Chuyện đêm giao thừa

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 15 May 2026

Chiều ngày ba mươi mốt tháng Chạp dương lịch. Cơn mưa tuyết kéo về trút xuống thành phố Hamburg, làm đường xá nhầy nhụa ướt át và trời đất thì lạnh căm.

Những cơ sở thương mại và văn phòng hành chánh hai bên đường Reeperbahn đóng cửa im lìm. Còn lại vài tiệm bán sách báo, phim ảnh khiêu dâm mở cửa nhưng vắng khách ra vào. Các cô gái ngồi trong buồng kín với thân hinh trần trụi và chị em bán dâm trong các phòng kiếng hoặc tập trung vô một chung cư, có lẽ đã về nhà đón tết nên không còn đông đúc, xôn xao như những ngày thường. Mỗi đợt xe bus đổ khách xuống ào ạt, trong chốc lát người ta biến hết vô những quán bar, nhà hàng hoặc casino. Ðể lại đường phố thưa thớt bóng người.    

Khi phố xá hực hở nhiều màu sắc, cũng là lúc anh tà tà từ đầu phố đi về cuối phố và từ cuối phố đi ngược lại. Mới hơn mười giờ mà anh đi tới, đi lui không biết bao nhiêu bận rồi. Nghe người thấm lạnh, anh quẹo vào một quán rượu  của Phi Luật Tân. Tony đứng sau quày rót rượu, thấy anh vô nó vẫy tay chào:

–   Hi, tàu mầy mới ghé phải không?

–   Không, ghé hồi sáng.

–   Sao giờ nầy mới trường mặt lên?

–   Tao lên từ hồi chiều, nhưng đi rảo ngoài đường.

–   Ở ngoài giờ nầy đâu có khỉ gì. Mầy uống gì?

–   Cho tao cái cognac.

Tony rót rượu đưa anh:

–   Ly nầy tao đãi mầy.

–   Cám ơn.

Tony day ngang tiếp người khách mới vô. Thường thì anh leo lên chiếc ghế trước quầy ngồi chờ Tony rảnh rang trò chuyện. Ðêm nay Tony bận rót bia, rót rượu túi bụi, cứ cái mửng nầy tiếp tục cho tới khuya chắc gì nó được rảnh tay. Anh bưng ly rượu lại ngồi bên chiếc bàn trống. Ai đó đã bỏ quên cuốn sách khiêu dâm trên bàn, vậy khỏi tốn gói đậu phộng làm mồi, anh móc thuốc châm, hít một hơi dài, phà ra ngụm khói lớn góp phần vào khối hôi hám đầy đặc trong  không khí. Anh tiếp tục lật quyển sách vừa xem hình vừa nhâm nhi congac.

–   Chào ông anh.

      Lẫn trong âm thanh ồn ào tiếng ngoại quốc tự nhiên anh nghe tiếng Việt thanh thao của một người con gái. Cái gì đây? Anh ngó lên, chưa kịp hỏi thì cô ả tiếp:

–   Ông anh còn nhớ em không?     

A, thì ra cái cô người Việt mà anh đã gặp trước đây trong một quán bia ôm ở Bremerhaven, cô “làm ăn” chung với đám phụ nữ Phi Luật Tân. Hôm đó cô tiếp anh, hai người vui vẻ chuyện trò với nhau bằng tiếng Anh, cô có vẻ hơi rụt rè giữ kẽ khi tiếp chuyện, nhưng tiếng Anh cô nói rất lưu loát. Ngồi chơi với anh được một lát, cô giới thiệu cô là người Việt. Vui quá, anh liền hô lên bằng tiếng Việt:

–   Tui cũng là người Việt chánh hiệu con rồng vàng đây.    

Tưởng nói vậy cô ta sẽ mừng rỡ biết bao. Nhưng không, cô biểu lộ tình đồng hương bằng cách xịu mặt xuống, bẽn lẽn đứng dậy mượn cớ đi toilet, rồi cô chuồn đâu mất. Bỗng dưng đêm nay cô xuất hiện trong chiếc áo lông dầy, màu đỏ chói, dài tới đầu gối, vai mang bóp da với phong cách gái giang hồ thứ thiệt.

–   Làm sao quên được.

–   Anh cho em ngồi với nhé.

Anh chỉ chiếc ghế trước mặt nói như ra lịnh:

Cô ngồi xuống đi, nhưng hổng được đi toilet.

–   Ông anh nầy.

–   Anh là anh, ông là ông gọi lộn xộn nghe kì cục thấy mồ. Cô uống gì?

Cô ta dợm ngồi xuống. Nghe anh hỏi cô liền đứng dậy:

–   Để em đi lấy. Anh uống thêm ?

Anh bưng ly ngước cổ nốc hết phần rượu trong ly, giơ ly qua cho cô và kèm theo tờ Đức mác. Cô ta cầm chiếc ly nhưng không lấy tiền.

–   Anh cất tiền đi. 

 Ðúng là tết với nhứt. Ngồi chưa nóng ghế đã được hai ly cognac miễn phí. Hổng biết một lát còn cái gì miễn nữa không? Anh gấp cuốn sách lại, vói tay để qua chiếc bàn bên cạnh. Người vô quán mỗi lúc một đông. Các cô gái Phi Luật Tân đi tới đi lui, lăng xăng chào đón khách, chưa tới giao thừa mà các cô đã chúy choé:    

– Happy new year…

Có hai người đàn ông bao hai cô gái, bày tiệc bàn ở bàn cuối quán. Trong ánh sáng lờ mờ, mỗi anh ôm chặt một cô, tay thọt vô váy mò mẩm và cũng chính bàn tay đó khi cần rút ra bưng bia uống và bốc đậu phộng rang muối bỏ vô miệng nhai rau ráu, sau đó thọt tay dính đầy muối trở lại chỗ cũ. Hai cô gái cứ thản nhiên ngồi dạng chân, uống champagne, miệng phì phà thuốc lá. Trò chơi cứ tiếp tục tới giao thừa thì phần giữa háng của hai cô gái chắc cũng vừa đủ mặn.

     Cô gái bưng rượu để lên bàn, cô uống rượu pha màu trắng đục, anh không biết rượu gì. Thấy anh ngồi trầm ngâm ngó mặt vô góc quán, cô yên lặng cởi áo lạnh vắt lên thành ghế và kéo ghế đối diện ngồi xuống. Anh bưng ly nói lời cám ơn, hít hơi thuốc cuối cùng và dụi tàn vô chiếc gạt.

–   Anh tên Tân phải hông? Cô gái hỏi.

–   Hổng phải, tui tên Đủ.

–   Nhưng sao Tony kêu anh là Tân.

-A, thì ra vậy. Tui tên là Nguyễn Tấn Đủ, nhưng người ngoại quốc phát âm chữ đủ nghe kì cục quá nên tôi mới lấy chữ lót làm tên cho họ dễ kêu.

–   Vậy em phải kêu anh tên nào.

–   Tùy cô, thấy tên nào tiện cứ kêu. Anh Đủ nhé, cho có vẻ miệt “dzườn”.

– Cô người miệt dzườn?

-Tỉnh lẻ chớ dzườn chiếu gì đâu.

-Cô có tên Việt hông, hay vẫn còn mang cái tên ngoại lai nào đó mà tui đã quên mất tiêu rồi?

Em tên Bích và tên ngoại lai thì nhiều lắm, hồi đó giới thiệu với anh tên nào em còn hổng nhớ nữa nói chi anh.

Anh nâng ly:

–   Mời Bích.

Cụng ly nhấp một hớp, để ly xuống, Anh rút thuốc đưa  qua mời.

Bích rút thuốc gắn lên môi. Anh bật lửa châm.

–   Ở đây có còn cô nào người Việt nữa hông?

–   Hông anh.

Người vô quán mỗi lúc một đông, toàn là dân tứ phương, đông nhứt là ngưòi Phi Luật Tân. Tiếng nhạc hoà cùng tiếng người cao giọng ồn ào. Anh và và Bích muốn nói chuyện phải hả họng lớn và kề sát mặt nhau mới nghe được.

–   Nghe Tony nói anh ở Hoà Lan.

–   Thì đã sao?

     Ngồi đây nói chuyện có hơi phiền, mặc dầu cuộc sống của Bích không cần phải che đậy, kể cả thân thể của cô, nhưng đàn bà mà há họng lớn nói to trước đám đông cũng khó coi lắm. Anh chồm qua hỏi lớn:

–   Đêm nay cô có khách hông?

Bích nhíu mày một cái rồi kề miệng sát vô tai anh, nói:

–   Hông, đêm nay anh là khách của em?

–   Chấm mút được gì đâu?

–   Liếm láp chút ít cũng được.

–   Nói chuyện hay quá vậy.

-Nghe Tony nói anh là người đàng hoàng, sao nói chuyện nghe phát  ợm.

–   Ngồi đây hít vô ba cái ám khí, nói ra sao được thơm tho.

Bích nhếch mép cười chua chát. Anh không đùa cợt nữa:

–   Nếu muốn nói chuyện hổng lợm thì cô đi với tôi ra ngoài kia?

–   Đi đâu?

–   Kiếm chỗ sạch sẽ ngồi nói chuyện chơi. Chịu không?

–   Chịu.

   Hai người uống hết rượu, đứng dậy sửa lại khăn cổ, choàng áo lạnh và đi ra khỏi quán. Nhiệt độ xuống thấp, đường dán băng trơn nhớt, pháo nổ xa, gần. Bích nép sát người anh:

–   Em nghe nói bêm Amsterdam cũng có khu như vầy.

–  Bên Amsterdam các cô gái ngồi trong lồng kiếng day mặt ra lộ, cô nào cô nấy gần như trần trụi. Còn ở đây các cô tập trung vô một chung cư, mỗi cô ngồi mỗi phòng, có những ngõ hẻm dành cho các cô ngồi lồng kiếng, người ta ngăn bít hai đầu. Nhờ vậy con đường ngoài thanh lịch hơn và những người chưa quen sinh hoạt ở đây, đi ngang cũng không thấy khó chịu.

      Hai người đi bên nhau nói chuyện trời trăng mây gió một lát thì tới giao thừa. Sớm tới giờ anh cứ nghĩ ngày Tết  ai ai cũng quây quần bên nhau trong căn nhà ấm cúng cho nên ngoài đường phố vắng tanh. Chỉ có những người vô gia cư như anh mới lang thang giữa trời đông giá lạnh. Dè đâu đúng giờ giao thừa trên trời hực sáng, tua tủa pháo bông, dưới đất pháo nổ đùng đùng như trận đánh Mậu Thân. Người ở trong các quán bar, nhà hàng tràn ra đường như ong vỡ tổ. Trong khói pháo mịt mù, người ta vừa đốt pháo vừa uống bia, rượu và hò reo vang dội.

    Anh và Bích đứng bên góc phố coi người ta đón Tết. Anh thấy có một gã con trai đầu trọc lóc, bận áo dầy xanh màu cứt ngựa, vai mang bọc pháo đủ loại, tay cầm súng chỉa lên trời bắn đùng đùng, trông gã hào hùng giống như viên chỉ huy ngoài mặt trận ra lịnh cho lính tấn công. Đợi gã ngưng bắn, anh tới hỏi  chia hai cây pháo cầm tay. Gã lẹ làng móc nắm pháo chìa ra còn kèm theo hai lon bia và nói chúc mừng năm mới. Anh móc tiền trả, gã khoát tay không lấy tiền rồi day qua nạp pháo vô súng tiếp tục bắn. Anh đưa cho Bích nắm pháo, và móc hộp quẹt bật lửa châm. Bích cầm cây pháo bông cháy tua tủa quơ qua quơ lại, cười thích thú. Hết nắm pháo, anh khui bia đưa Bích một lon và giơ lên nói lời chúc mừng. Bích cũng giơ bia lên nói chúc mừng và hai người ôm nhau hôn trong mùi bia nồng nặc.

     Hai người tiếp tục vừa đi vừa uống bia, khi cạn bia họ liệng lon vô thùng rác. Ánh đèn khu phố nhợt nhạt chiếu xuống, hai bên đường phố người ta đông nghẹt. Pháo nổ rời rạc như muốn kéo giờ giao thừa trở lại. Gương mặt Bích thoáng chút u buồn. Cô nắm chặt tay anh thỏ thẻ:

–   Đêm nay  không có anh chắc em… không biết ra sao.

     Anh nghĩ tới mấy cô gái ngồi tiếp khách trong  căn phòng thiếu ánh sáng ban nãy. Anh định nói: thì em cũng như các bạn em đương làm ăn như mọi năm, nhưng thấy tàn nhẫn quá, dù sao cô cũng chịu thiệt  thòi một đêm đi chơi với anh. Anh ân hận nói sang chuyện khác:

–   Không có tui giao thừa cũng qua.

–   Khinh bạc vậy à.

–   Cuộc sống nầy có gì trân trọng.

Bích thở hắt một cái như ra chiều thất vọng. Anh đoán chừng cô ta muốn tâm sự. Anh nói:

–   Mình vô quán ngồi cho ấm.

-Được, nhưng đừng trở lại quán Tony ngột ngạt hơi người em ớn lắm.

-Như vậy ngày mai, ngày mốt, bữa kia nữa thì sao? Chuyện ngày mai để ngày mai tính.Vậy thì đừng thắc mắc, nghĩ ngợi gì hết, đi chơi vui vẻ cho hết đêm nay.   

     Quán không tên, hiệu quán vẻn vẹn hai con số. Bên trong đầy đủ ánh sáng, bàn, ghế sạch sẽ, không khí thoải mái. Đàn ông, đàn bà ngồi dọc theo chiều dài của quày rượu. Người Âu ăn ra ăn, nhậu ra ra nhậu. Ồn ào nhưng không cao giọng, đông đúc nhưng không xô bồ xô bộn như người Á. Anh mua một chai champagne và một dĩa ô-liu. Ôm hết mọi thứ và hai cái ly đi lại để trên chiếc bàn cuối quán, anh day qua phụ Bích cởi áo lạnh máng lên chiếc móc sau lưng. Cô ngồi xuống, kéo tay anh ngồi cạnh bên. Anh cầm chai rượu định mở nút cho nổ lớn. Bích chận tay anh:

-Ðừng anh.

-Tại sao?

-Em hổng muốn thiên hạ ngó chúng mình.

Cô lấy chai rượu vặn nút cho xì hơi và nhè nhẹ mở ra, cô rót đầy hai ly, bưng một ly đưa qua anh:

–    Uống đi anh.

Anh cụng ly với Bich, hai người hớp một hớp đầy, để ly xuống anh mở gói thuốc, còn một điếu. Anh đứng dậy đi qua chiếc thùng bán thuốc tự động, bỏ tiền vô rút ra một gói. Đi lại châm thuốc giơ qua cho Bích và rút điếu thuốc khác ra, ngồi xuống châm rít một hơi phà khói. Anh nhìn qua Bích:

–    Cô giống như người tình.

–    Anh muốn “chim”  em hả?

–    Thấy sao nói vậy chim chóc gì.

Gương mặt rạng rỡ môi điểm môt một nụ cười, Bích nói:

-Trước kia em cũng gặp nhiều người Việt nhưng chưa thấy ai giống như anh.

-Khác chỗ nào?

Khác chỗ đi chơi bời mà làm như con nhà tử tế lắm, người lên giọng đạo đức khuyên nhủ dạy dỗ, kẻ bươi móc đời tư, soi rọi từ lông tơ kẽ tóc, ngồi nói chuyện em nghe như bị mắng vô mặt. Em bán bar mà họ làm như em bán cả bốn ngàn năm văn hiến của họ vậy. Cho nên năm trước gặp anh em bỏ trốn. Từ đó về sau mỗi lần anh đến em đều không ra mặt và dặn mấy nhỏ bạn đừng cho anh biết là có em.

–    Như vậy mỗi lần tui tới cô hổng “mần ăn” gì được hết.

Cô gái nghẽo đầu cười. Anh hỏi tiếp:

–    Sao hôm nay cô hổng trốn nữa?

-Nghe mấy đứa bạn nói anh keo lắm, còn Tony thì khen anh là người đàng hoàng.

–    Keo kiệt mà đàng hoàng sao?

-Mấy bạn em nói hổng khi nào uống của anh một ly cho đáng tiền.

-Tony thì nói anh không bao giờ bậy bạ.

-Nghĩa là sao?

-Nghĩa là anh gần bùn nhưng hổng dính bùn.

-Ðược cao quý như vậy à?

–    Hông biết, nhưng ít ra đi với anh em yên tâm trò chuyện. Vậy thì trò chuyện đi.

Bích nhéo anh một cái:

-Thì em đương trò chuyện với anh đây.

      Một bà già ôm bó bông chìa ra trước mặt hai người và mời mua bằng câu chúc mừng năm mới. Anh rút một cọng bông hồng gói trong giấy kiếng, móc túi đưa cho bà tờ Đức mác, anh khoát tay kêu bà lão đi đi khỏi thối tiền. Anh đưa cọng bông cho Bích:

–    Tặng cô đó.

Bích đưa tay đón nhánh bông, nói:

–    Ðẹp quá.

     Cô day qua hôn anh và cúi xuống hôn bông hồng. Anh nhìn người con gái, đôi mắt lơ là, đôi môi son mỏng, mũi cao, vẻ đẹp của một thời vẫn còn rỏ nét trên gương mặt dạn dày sương gió.

–    Gần sáng rồi, uống hết rượu mình chia tay.

Cô gái giựt mình bấu cánh tay anh.

–    Anh hổng dìa với em sao?

-Tui sợ lâu ngày lênh đênh trên biển, khi gần đàn bà những dồn nén trong người nó cứ trực trào ra.

Cô gái nghiêng đầu tựa vai và tay vuốt vuốt lên ngực anh:

–    Thì anh cứ trút hết sự dồn nén của anh qua em.

–    Để làm gì?

–    Hy vọng có một đứa con cuộc sống em sẽ thay đổi.

–    Muốn thay đổi cuộc sống sao cô không kiếm chồng?

–    Hổng biết còn ai lấy em hông?

–    Tìm sẽ gặp, xin sẽ được.

–    Vậy thì em xin anh một đứa con.

 -Xin gì mà kỳ cục vậy?

 -Lớn tuổi sống mình ên em thấy hụt hẩng.

     Anh cốc nhè nhẹ lên đầu cô gái:

-Đàn bà ngu ngốc, muốn thì đòi chớ khổng biết đo lường hậu quả, cho nên đi tới đâu cũng nghe các bà than khổ.

Bích buông tay anh ra, ngồi chống tay lên càm nhìn thẳng mặt anh, vui vẻ nói:

–    Em hiểu anh nói gì rồi.

–    Cô cũng không đến đỗi đần độn lắm, vậy thì bỏ qua chuyện con cái đi.

Anh mỏ bóp moi ra xắp tiền giấy và trút hết tiền cắc đưa cho Bích:

Ngày mai đổi tiền Euro, tui hông có thời giờ lên nhà băng, nhờ cô đổi dùm.

–    Chừng nào anh trở lợi?

–    Mau thì vài tuần, lâu thì vài tháng cũng có khi vài năm.

–    Có gặp em hông?

–    Nếu cô còn ở đây thì thế nào cũng sẽ gặp.

–    Nếu hông gặp lại số tiền nầy em làm sao đưa cho anh?

–    Thì cô cứ xài.

–    Ðâu được.

-Hổng ấy cô tìm mua một món quà nào đó, coi như tui tặng cô làm kỷ niệm.

–    Anh muốn tặng em cái gì?

–    Tùy cô.

–    Hông, anh chọn cho em.

-Vậy thì như vầy, một cái xú chiêng và một cái quần xì líp loại tốt. Được hông ?  Được, nhưng ý nghĩa gì?

Trên đời nầy hông chuyện nào có nghĩa hết, ý nghĩa do người ta bày đặt ra đó thôi, như chuyện cô đi chơi với tôi nãy giờ cũng chẳng ý nghĩa gì ráo.

–    Nhưng em thấy vui.

-Lát nữa cô sẽ buồn, mai kia mốt nọ cô sẽ quên, mọi chuyện cứ tuần tự đâu vào đó. Vậy tùy cô, cô cho chuyện nầy ý nghĩa gì cũng được.

–    Em có rồi.

–    Gì?

–    Kỷ niệm.

–    Vậy thì cất cái cái kỷ niệm lại đi.

Như vậy cô ta mới chịu bỏ tiền vô bóp.

–    Uống hết rượu anh đưa em về nhà nhé.

–    Tới bến tắc xi thôi.

-Ừ, cũng được.

Tắc xi đậu một hàng dọc nhưng chiếc nào cũng đầy người. Hơn ba giờ sáng, ai cũng muốn về với căn nhà để ngã lưng trên chiếc giường ấm áp của mình. Nhưng Bích thì không chú ý chuyện đón xe, cô đứng ôm anh cứng ngắc, mặt áp sát vào vai anh tìm hơi ấm. Anh đưa hai tay mân mê khuôn mặt từng trải và mệt mỏi của người đàn bà tuổi đã ngoài ba mươi mà lòng anh tràn ngập nỗi buồn. Biết làm sao bây giờ, một mình một thân anh lê đi cùng khắp, đôi khi còn thấy nặng nề thì làm sao anh dám nghĩ tới chuyện ra tay nghĩa hiệp như anh hùng Từ Hải ngày xưa. Hai người đứng như bức tượng đồng giữa đám người loi nhoi lóc nhóc. Một chiếc tắc xi trống ghé lại, Bích thở hắt một cái, hôn anh nồng nàn và vội vàng chui tọt vô xe. Xe rộng quá nên trông Bích nhỏ xíu và chiếc bông hồng trên tay không đủ lấp khoảng không gian lạnh lùng phí băng sau. Anh nhìn lên bầu trời trắng đục. Anh chép miệng: “Chật! Hy vọng mọi chuyện sẽ trôi qua khi trời trở sáng.”

***

Sau sáu tháng hải hành đó đây trên miền nắng nóng Châu Phi. Hôm nay anh trở lại thì trời đất sáng ngời, ngày dài ra và đêm thì ngắn lại. Ðường đi khô ráo, cây xanh lá, bông nở đủ màu. Chiều nay anh ghé vào quán rượu quen thuộc, Tony ngồi chông ngóc sau bar, vừa thấy anh nó chào một cái rồi đi vô trong. Một lát sau trở ra nó không hỏi anh uống gì như thường lệ. Tony bắt đầu câu chuyện bằng cách đưa anh một bao thư.

–  Bích gởi cho mầy đó.

–  Cái gì đây?

-Mở ra thì biết.

Anh mở thư, bên trong có hai tờ Euro mới toan.

Bích đâu?

–  Nó nghỉ làm ở đây rồi.

–  Nghỉ đây rồi cô ta đi đâu?

-Ai biết, nhưng nó có nhắn tao nói với mầy, đây là số tiền mầy nhờ đổi dùm, nó chỉ lấy đủ mua món quà mà mầy tặng cho nó.  

 Anh để bao thư xuống mặt bàn và leo lên chiếc ghế cao cẳng ngồi. Anh móc thuốc đưa qua mời Tony và kêu rượu. Tony vừa rót rượu vừa nói: 

-Con nhỏ cũng ngộ, trước kia thấy người Việt là nó tránh mặt, nhưng không hiểu sao từ khi gặp mầy nó như người mất hồn, cứ hỏi tao một chuyến đi của mầy là bao lâu. Nhứt là thời gian gần nghỉ việc, nó có ý chờ đợi mầy.

–   Chờ tao chi vậy?

–   Mầy hổng biết làm sao tao biết.

–   Đàn bà!      

Hớp rượu và đưa thuốc lên môi hút, anh đảo mắt nhìn chung quanh, ánh sáng trong quán tờ mờ trông lạnh lẽo quá. Hai cô gái Phi Luật Tân, một cô lau sàn nhà, một cô chùi bàn ghế. Nhìn hai cô gái anh chợt nghĩ tới truyện Kiều. Có thật không một nàng Kiều? Ðã mấy trăm năm trôi qua mà thiên hạ vẫn còn nhắc nhở chỉ vì Kiều bán thân, trôi dạt hết mười lăm năm. Ngày nay khắp thế giới nầy có biết bao nhiêu mảnh đời vô định. Như anh với Tony gần hết một đời luân lạc, cho tới bây giờ vẫn chưa trở lại quê hương. Và hai cô gái lui cui đằng kia, bắt đầu cuộc sống tha hương bằng nghề ngày thì quét dọn, lau chùi, đêm về trần truồng tiếp khách. Lòng anh bỗng nhiên chùng xuống. Anh nhớ thương Bích vô cùng, rồi đây dòng đời sẽ đưa cô về đâu trong cái thế giới càng ngày càng xô bồ xô bộn.

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 15 May 2026

Tôi chuẩn bị trước, đâu vào dó xong rồi. Ngày niêm yết kết quả kỳ thi, tôi báo tin cho hai bác Huế Quảng rằng tội đã hỏng. Đồng thời, tôi cũng xin rời khỏi nhà bác. Bác Quảng an ủi, khuyên tôi đừng nản. Hãy cố gắng tiếp tục cho mùa thi năm sau. Bác Huế muốn tôi ở lại. Nhưng tôi đã quyết, Bác lo lắng cho những ngày sắp tới của tôi, không biết sẽ ra sao. Tôi nói, có người hứa giúp con việc làm trong mùa hè. Xin hai bác yên tâm. Khi tôi xếp đồ đạc vào thùng carton, hai em Đông, Hà quanh quẩn quyến luyến. Bé Đông thường ngày vui như chim ríu rít trên cành. Hôm nay, nó đứng dựa vách lặng nhin tôi. Mắt nó buồn. Tôi bổng thấy nó lớn hon trong nỗi buồn ấy. Tôi hứa, thỉnh thoảng sẽ quay về thăm. Nó cắn môi làm thinh.

Tôi theo Thuận về nhà. Hắn là người bạn cùng lớp, Trọ học ở Nha Trang. Nhà hắn ở Trường Lạc, quận Diên Khánh. Tôi đã đến chơi vài lần. Sau nhà có con suối, nước xanh trong vắt, nhìn thấy cát sạn dưới đáy. Hai bên bờ suối, cây cối mọc um tùm, tre trúc nghiêng mình ra dòng nước. Cảnh vườn quê tươi mát. Thiên nhiên rợp bóng màu xanh. Tôi thường ngâm mình dưới suối cả buổi, Tâm hồn như tẩy sạch hết những bụi bặm phiền não lo toan.

Bố mẹ của Thuận là người Bắc di cư. Ông làm trong ban Diệt Trừ Sốt Rét. Tính xuề xòa. Thích ăn thịt chó, với vài ba cốc rượu. Ông hay nói, chúng mày học là để có chút chữ nghĩa cho đời đừng khinh bạc. Chứ thời này, muốn làm cha thiên hạ, khó lắm. Lần khác, ông lại nói, học hành đỗ đạt cũng tốt. Không đỗ cũng chẳng sao. Con người sống được, cốt ở hai bàn tay. Những năm mất mùa đói kém, thì bằng cấp cũng vất di. Ông chủ trương tay làm hàm nhai. Sống một đời giản dị, chẳng bon chen với ai. Thằng Thuận giống bố ở tính tình chân chất. Mẹ của Thuận rất cần cù lam lũ, Ngoài việc chăm sóc mảnh vườn liếp rau, bà còn lãnh quần do từ những tiệm giặt ủi đem về làm thêm phụ giúp gia dình. Ở với chồng lâu năm bà cũng ảnh hưởng tính chồng. An phận và làm ngơ trước những nổi bất bình. Chẳng bao giờ nghe bà than phiền ai điều gì.

Thuận và tôi thi rớt, Bố hắn cười hì hì, đỗ cũng thế, hỏng cũng vậy thôi. Ông đưa chúng tôi vào ban Diệt Trừ Sốt Rét. Mới đầu cũng gặp khó khăn, vì tôi chưa đúng tuổi lao động. Nhưng ông tròng tréo thế nào, rồi cũng xong. Mỗi sáng, tôi đội chiếc mủ nhựa màu vàng, ngồi trên xe với những thùng thuốc DDT và bình xịt, đến những vùng thân dã hẻo lánh xa xôi. Mang cái bình xịt nặng nề, nhưng cầm cái vòi xịt quơ qua quơ lại thì như một trò chơi thích thú. Xóm nghèo làng quê cũng giống quê tôi. Thanh bình và cực nhọc. Các cụ già bình dị thương yêu, Những nông dân chất phác. Những cô gai quê mùa mộc mạc. Tất cả đều hòa mình với thiên nhiên, sống hiền từ cùng đất đại cây cỏ. Giờ nghỉ trưa. Tôi hay ngồi nhìn những chùm rong xanh lục dập dềnh dưới dòng nước chẩy, hoặc những con bướm nhỏ nhịp đôi cánh màu vàng bên những bông hoa dại. Tôi nghĩ, nếu được cùng Phương Nghi ngồi ngắm cái cảnh bình yên thơ mộng thế này, thì hạnh phúc biết bao. Bất cứ lúc nào không bận công việc, tôi cũng nhớ nó. Nhớ tiếng nói, nụ cười. Nhớ đôi mất, làn môi. Nhớ bàn tay, vầng trán, Nhớ mùi thịt da, hơi thở trong lần nó cúi sát mặt tôi, tóc nó đồ xuống một vùng bóng tối âm u. Không hiểu sao tâm trí lội không thể dứt rời hình bóng nó. Thật là một điều kỳ lạ không ngờ. Buổi trưa gặp nhau. Buổi tối bắt đầu mơ tưởng. Trưa ngày hôm sau đã cầm tay âu yếm. Có tình yêu nào nhanh đến thế không? Hay chỉ là một thứ tình cảm bồng bột nhất thời? Tôi từng nghe nói tiếng sét ái tình. Lẽ nào mới mười bảy tuổi, tôi đã chạm phải tiếng sét? Tôi tâm sự với Thuận. Hắn gạt ngang, chúng mày chỉ vớ vẫn, chả ra làm sao cả! Cái thằng cục mịch lầm lỳ như con tê giác, không an ủi tôi được một lời. Mỗi cuối tuần, mẹ của Thuận lãnh đồ giặt nhiều hơn. Thuận và tôi mang ra con suối sau nhà, vừa giặt vừa tắm. Bố của Thuận giăng thêm những sợi dây phơi đồ. Quần áo phơi đầy cả khu vườn sau, như một rừng cờ đủ màu phất phới. Bà ủi đến mấy ngày mới xong.

Trưa Chủ Nhật, nếu không kiếm được thịt chó, thế nào bà cũng làm cho chồng một dĩa tiết canh, kèm theo đĩa lòng heo. Ông trải tấm chiếu giữa nhà, gọi chúng tôi cùng ngồi lại, Sau vài ba ly, ông bảo, rượu làm người ta cởi mở tấm lòng, dễ tha thứ cho nhau những lỗi lầm. Lúc hơi men ấm mặt. ông lại bảo, đời này toàn là những thứ chó đẻ. Tao bỏ bao nhiêu của cải, đất đai ruộng vườn chạy vào đây. Nếu không nhanh chân, chắc đã bị đem ra đấu tố địa chủ rồi. Nói quanh co một hồi, hóa ra ông chỉ có mấy sào ruộng con, không đủ để cắm dùi.

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 15 May 2026

Từ ngày Trung Cộng chiếm cứ Hoàng Sa, phong toả biển Đông, tỏ thái độ ngạo mạn đối với Việt Nam, bắn giết bắt bớ ngư dân chúng ta ngay trên vùng biển của quê hương, tôi bỗng dưng nhớ đến những người lính Địa Phương Quân Quảng Nam trên đảo Hoàng Sa ngày trước đã chiến đấu và sống chết với đảo nhà. Từ ngày chính quyền Cộng Sản Việt Nam đàn áp thanh niên trong nước khi đụng đến chủ quyền Hoàng Sa và xem hai chữ Hoàng Sa như tiếng húy ky phải kiêng dè mà truyền thông trong nước không có quyền nói đến, chúng ta không khỏi nghĩ tới người lính Hải Quân VNCH một thời đã dám đương đầu với một thế lực mà ngày nay Hà Nội đang cúi đầu chịu nhục.

Trời thì quá cao, đất thì quá rộng, kẻ cầm quyền thì mắt mù tai điếc, chẳng biết xót xa cho nỗi đau của “nhân dân” người được đề cao trên miệng lưỡi thời cướp chính quyền, nhưng thân phận không khác hơn con vật thời chiến thắng. Trong tình nghĩa đồng bào, chúng ta làm sao khỏi xót xa khi nhìn thấy hình ảnh xác những ngư dân bị giết được ướp nước đá đang được đưa về đất liền, hay những người sống đang co ro như những kẻ tội phạm ngồi trên thuyền của mình, trong vùng biển của quê hương trước mũi súng của lính biển Trung Cộng. Người lính miền Nam ngày trước đã bày tỏ thái độ biết bảo vệ tổ quốc, người lính Cộng Sản ngày nay chỉ biết bảo vệ đảng hơn là bảo vệ tổ quốc.

Cựu Đề Đốc Trần Văn Chơn, nguyên Tư lệnh HQ trong thời điểm trận Hoàng Sa xẩy ra, đã nói rằng “hải quân của chúng ta là hải quân một nước nhỏ, không dự trù phải đánh nhau với hải quân các nước lớn như Trung Cộng chẳng hạn, nhưng khi chúng ngang ngược xâm phạm vùng biển của chúng ta thì bắt buộc chúng ta phải nổ súng.” Đó phải chắc chắn là một thái độ anh hùng. Qua thất trận, tù đày, mất mát, chia ly và chịu bao nhiêu điều đắng cay của người lính phải buông súng bất đắc dĩ, tôi cho rằng chưa lúc nào hình ảnh người lính miền Nam hiển hách và sáng chói trong lòng dân tộc như hôm nay, dù thời gian ba mươi lăm năm quá dài, tưởng chừng như đã làm lu mờ mọi vết tích, mọi câu chuyện, đôi khi tưởng như thần kỳ của một thời đã qua. Những người chết, hình hài, xương cốt đang bị bỏ quên hoang lạnh trong nghĩa trang, trên vùng núi đồi, sông rạch của quê hương, dưới những hầm chôn tập thể sau ngày thất trận, hay thất lạc trong những vùng đất tù đày khổ nhục. Những người sống mang nỗi hận xót xa trọn đời, lưu lạc xứ người hay lạc loài, lạ lẫm trên quê hương. Những ai đã quên và những ai còn nhớ?

Tướng Douglas MacArthur có nói “người lính không chết, người lính chỉ phai nhạt dần” nhưng hôm nay chúng ta có bao nhiêu người lính đã nằm xuống, mà sao hình ảnh họ vẫn còn như hiển hiện trước mắt chúng ta. Trước mệnh nước, bao nhiêu tướng lãnh của chúng ta như người hạm trưởng phải là người rời con tàu cuối cùng, nên đã đành chọn cái chết để rửa mối nhục của kẻ mất thành. Với phong cách như thế, Hạm trưởng Ngụy Văn Thà đã chết theo con tàu Nhật Tảo, thân xác ông cùng với thủy thủ đoàn đã chìm sâu xuống biển Đông, nơi thủy mộ, cho chúng tôi những kẻ đời sau được ngưỡng mộ và mang ơn.

Những người lính của chế độ CSVN hôm nay chỉ biết đàn áp những người yêu tổ quốc thay vì bảo vệ tổ quốc, vì bây giờ chống Tàu Cộng là có tội, nói như nhà thơ Trần Mạnh Hào: “Tôi yêu Tổ quốc tôi mà tôi bị bắt.”

Cũng nhà thơ này, người đã mang tội chống đảng và ly khai đảng, đã viết những dòng về một người lính miền Nam, một người yêu tổ quốc, “Người Anh Hùng Họ Ngụy” tức là Hạm trưởng Ngụy Văn Thà của chúng ta:

“Người yêu nước không thể nào là ngụy

Người chết vì nước như anh không thể nào là ngụy

Nhưng anh:

Là Ngụy Văn Thà

Anh- hạm trưởng chiến hạm Nhật Tảo

Lao thẳng vào tàu giặc cướp

Tên anh còn mãi với Hoàng Sa

Biển vật mình thét đại bác

Giặc bủa vây chiến dịch biển người

Lửa dựng trời dìm tàu giặc

Máu anh cùng đồng đội ngời ngời

Ôm chặt tàu

Ôm chặt đảo

Anh, người lính Miền Nam …

Anh hóa thành tổ quốc giữa trùng khơi

Gió mùa đông bắc gào khóc

Ngụy Văn Thà

Mãi mãi neo tàu vào quần đảo

Tổ Quốc ngoài Hoàng Sa

Trận chiến ba mươi phút

Tượng đài anh là phong ba

Đỉnh sóng khói hương nghi ngút

Biển để tang anh bằng sóng bạc đầu

Quần đảo nhấp nhô mộ phần liệt sĩ

Linh hồn anh hú gọi đất liền

Ngụy Văn Thà

Tên anh không phải bài ca

Tên anh là lời thề độc:

– Phải giành lại Hoàng Sa

Sóng vẫn vồ lấy đảo …

***

Anh, Người Lính Miền Nam, chúng tôi mang ơn và hãnh diện vì Anh.

Phút đầu tiên

Hoàng Thi Thơ

Anh từ đồng quê đến.

Tôi từ miền cát lên.

Đôi ta chừ mà gặp nhau đây.

Tuy ban đầu mà tình e sâu.

Gặp nhau sau mùa chinh chiến.

Gặp nhau phút đầu lưu luyến.

Vui giữa trời đất nước thân yêu.

Anh mời tôi điếu thuốc.

Tôi kể chuyện đắng cay.

Đôi ta chừ mà gặp nhau đây.

Say tâm tình cầm chặt đôi tay.

Ngồi trông sao trời lóng lánh.

Trời thanh trăng vàng óng ánh.

Hai đứa nhìn đôi nét cau xanh.

Anh ơi! Phút đầu tiên ấy nay đâu?

Anh ơi! Khi tình sông núi ăn sâu.

Lòng trai thế hệ trao nhau.

Xin cho duyên tình tìm kiếm tim ta.

Trao qua duyên tình non nước bao la.

Lòng trai chan hoà yêu thương.

Trên nẻo đường đất nước.

Ta từng giờ ước mong.

Chân quay về dù gặp long đong.

Tin nhau dù biển đời mênh mông.

Lòng tuôn đong đầy trang giấy.

Vì nhớ phút đầu tiên ấy.

Đôi đứa mình khi mới quen nhau.

Ôi phút đầu tiên ấy!

Ôi phút đầu tiên ấy!

Xin ôm vào trong giếng tim ta.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 15 May 2026

Có những người chết để cho chúng ta sống.

thương tật để chúng ta được lành lặn,

ở lại để cho chứng ta có cơ hội ra đi.

Vào tháng 9 năm 1866, dưới thời Vụa Tự Đức, việc xây dựng lăng tại Vạn Niên, dưới sự cai quan của Thống Chế Nguyễn Văn Xa và Biện Lý Nguyễn Văn Chất quá hà khắc, khiến quân dân làm việc tại công trường bất mãn, ta thán. Lợi dụng việc này, hai anh em Đoàn Trưng và Đoàn Trực lãnh đạo cuộc nổi dậy, gọi là “loạn Chày Vôi,” bắt người chỉ huy công trường, nhờ có nội ứng, kéo nhau về kinh thành, xông vào Đại Nội và Cấm Thành, định bắt giết Vua Tự Đức, Lúc bấy giờ quan Chưởng Vệ Hồ Qại, đang chỉ huy quân tức vệ, tả xung hữu đột để cứu giá. Vua Tự Đức thoát nạn trong gang tấc và cuộc nổi loạn bị dẹp tan, những người lãnh đạo đều bị bắt và xử trảm, Trong lúc cầm gươm bảo vệ nhà Vua, Chưởng Vệ Hồ Oai đã bị Đoàn Trực chém đứt một lỗ tai tay phải. Sau dó ông dược Vua Tự Đức phong chức Đô Thống, phong tước Nghĩa Dũng Từ và cấp thưởng nhiều quý vật, trong dó theo truyền thuyết ở Huế, ông được Vua Tự Dức ban thưởng một lỗ tai giả dúc bằng vàng ròng.

Chưởng Vệ Hồ Oai cẩm gươm bào vệ cho nhà Vua, tránh được một cuộc binh biến cho dất nước, được ân thưởng tượng trưng một cái lỗ tai bằng vàng. Ngày nay anh em thương binh chúng ta. vì tận trung, bảo quốc, mất nhiều thứ trên thân thể, quan trọng hơn cái lỗ tai nhiều như đôi mắt, tứ chi mà chỉ may ra được một cải nạng. Vì sao? Vua Tự Đức còn tại vị và biết chuyện đền ơn đáp nghĩa. Sau tháng 4-1975, vua quan chúng ta không còn tại vị nhưng đã đi ra nước ngoài, còn cả cây kim sợi chỉ, nhưng chỉ tiếc là những người này không có tấm lòng thương xót cho những người đã đổ máu xả thân bảo vệ cho chức tước, địa vị, gia đình, tài sản của họ, được an toàn ra đi, đã bò anh em lại, mà không cần biết hay nhớ đến những người này là ai. Vào những giờ phút cuối cùng khi anh em vẫn còn trên trận tuyến, Tổng Thống đã ra khỏi đất nước, như vị thuyền trưởng tránh trách nhiệm dể khỏi chết theo con tàu. Thủ Tướng cũng ra di. Đại Tướng cũng ra đi. Chi còn lại những con người liêm sĩ chon cái chết dể khỏi sống ô nhục và h àng trăm nghìn thanh niên đã hứng chịu cành tàn khốc củanhững người bị thất trận, nhất là những người với thân thể không còn nguyên vẹn, người cụt chân, kẻ mù mắt. Phải chi anh em được chết trên trận mạc, thân thể dược phủ ngọn cờ ngày trước, cho khỏi khổ đến gia đình vợ con phải hứng chịu những ngày cơ cực khi đất nớc không còn, quân đội không còn, đơn vị không còn.

Tổng Y Viện Cộng Hòa 4/1975

Giữa bao nhiêu “vạn cốt khô” dã được để lại sau chiến tranh, ba mươi lăm năm nay, chưa hề thấy “tướng công thành” nào hy sinh của cải, thời gian để làm một nghĩa cử mang ơn, chia sẻ với những người lính đã tận tuy một đời, hy sinh một đời để bây giờ phải sống những ngày tàn tạ trên quê hương mình như những kẻ lạc loài, xa lạ. Nếu ngày nay họ được cưu mang phần nào, gọi là chút an ủi cuối đời bằng những món quà nhà nhỏ thì dó chính là tấm lòng của những đồng đội ngày xưa đã qua thời gian cay đắng tù tội, những đồng bào hậu phương ngày trước đã mang ơn họ.

Có thể dây là một cộng nhân hưu tri, chia món tiền nhỏ nhoi vào mỗi cuối tháng, có thể là những vị cao niên, chắt chiu những dồng tiền trợ cấp, mà không quên những người lính năm xưa, những người trẻ tuổi mới lớn lên khi nghe nói về quả khứ hào hùng của đất nước, xót xa cho thế hệ của cha ông. Động lực nào đã thúc đẩy bao nhiêu người hy sinh thời gian, công sức để vận động những phong trảo đền ơn đáp nghĩa thương binh, gần suốt hơn hai mươi năm nạy, dù sự giúp đỡ như giọt nước trong ngày nắng hạn, như hạt muối bỏ biển hay như ngọn gió thổi vào căn nhà hoang trống trải. Những người có lòng này không phải là những người làm thương mai thành công, cũng không phải là những người ôm được tài sản lớn lúc chạy ra được nước ngoài, cũng không phải là những người đã từng sống trên xương máu của đồng đội. Họ chỉ là những người lính bình thường, những người dân đã chứng kiến những thăng trầm cùa lịch sử, biết ai là người mình phải mang ơn, biết ai là người dã mất mát để cho mình được có cái hôm nay. Nhưng đó chính là ngọn lửa của niềm tin thắp lên trong những dêm dài tuyệt vọng của những người thương binh đã mất một phần thân thể cho tổ quốc, phải sống trong những hoàn cảnh ghẻ lạnh dưới chế độ mới, từ hàng mươi năm nay, đang là một gánh nặng cho gia đình, con cái. Mỗi năm chúng ta có bao nhiêu lần làm lễ vinh danh cho những người tiếng tăm, nơi này và nơi khác, chỉ cho một người, mà vinh quang của họ được xây đáp bằng công trận của hàng vạn người tử sĩ và thương binh vô danh ngày trước. Những người sau này, chết thì mồ mả xiêu lạc, sống thì lây lất qua thời gian đầu đường xó chợ. Những người này bây giờ không còn cần đến một vòng hoa chiến thắng. Ngậm ngủi vì khi biết mình là kẻ chiến bại, hay muốn nghe những bài hát ca tụng họ là anh hùng, vì chính họ thực sự là anh hùng, nhưng đã là anh hùng cùng đường, mạt vận. Bây giờ có thể họ ràn rụa nước mắt, cầm trong tay món tiền nhỏ từ hài ngoại gừi về, từ đám đông những người họ chưa hề quen biết, chưa hề là bạn bè, cấp chi huy hay là tướng lãnh của họ. Một bữa cơm tươm tất chiều nay hay một tấm tôn lợp nhà trong mùa mưa bảo, những mơ ước thật tầm thường mà những người hạnh phúc, no đủ nhiều khi không thể nào tưởng tượng ra nổi. Đúng hai mươi năm sau biến cố đổi đời, năm 1995, khi những người linh vừa ra tù, đặt chân dến Mỹ. ngồi lại với nhau để tìm cách gây quỹ giúp cho những người thương binh bất hạnh còn ở lại, anh em dã nhận được $100 đỏ la từ người tổng tư lệnh ngày trước, người đã bò anh em trước khi chiến xa địch vào dến Saigon và dã có những căn nhà trị giá bạc triệu ở từ Anh Quốc đến Hoa Kỳ. Đây không phải là cách biện minh “của ít. lòng nhiều” mà là như hạt muối xát vào vết thương đang còn rỉ máu. Nhưng thôi thì đây cũng là lộc của nhà Vua, anh cm hòa thuận như trong truyện Quốc Văn Giáo Khoa Thư thì mang quả lê bỏ vào nồi “ba mươi” nấu nhừ nát thành nước rổi moi người húp một thìa cho qua cơn hạn khát.

Khi những dòng chữ này đến bạn đọc, thì mới hôm qua dây, tại San José- Bắc California, hải ngoại đã tổ chức một buổi ca nhạc ngoài trời để gây quỹ giúp cho anh em thương binh đang sống cuộc đời khốn khổ ở quê nhà. Mà không phải là lần đầu, trải dài trong mười năm người ta đã làm công việc này lần thứ bảy. Tiền gây quỹ, có năm nhiều năm ít, nhưng tấm lòng của người hải ngoại thì không bao giờ suy chuyển. Sáng kiến được nảy ra từ tấm lòng vị tha, họ ngồi lại với nhau trong khi đang khó khăn làm lại cuộc đời trên mảnh đất mới. Từ đó đã rất nhiều người nhập cuộc biết chia xẻ sự no đủ và hạnh phúc cho những người bất hạnh hơn mình.

Khi chúng ta không có đủ tiền, chúng ta có công sức và tấm lòng. Nhiều nhạc sĩ, ca sĩ, nghệ sĩ, nhiều người cựu chiến binh, thuyền nhân đi tìm tự do và đồng bảo hải ngoại, trẻ già, đã đến dây để cùng chung một tiếng nói, gửi một lời cám ơn đến những người thương binh của chúng ta ở quê nhà.

Xin những người có lòng ở hải ngoại hoan hỷ gửi một chút quà cho những người đã hy sinh cả tuổi thanh xuân vả hôm nay không có cả tuổi già hạnh phúc!

Bạch Quỷ

vietbao.com

Hồ Đình Nghiêm

24/01/2020

Post by Sơn râu 14 May 2026

Nếu một ngày có hai mươi bốn giờ thì trong cơ thể em cũng nhốt đủ hai mươi bốn cái xương sườn. Một ngày kia, có thể gọi là giờ thứ hai mươi lăm, em gặp phải tai nạn làm gãy mất một cái xương sườn. Vào bệnh viện, chụp quang tuyến X và người ta ra tay giải phẫu, thò tay vào chỗ hóc hiểm để bắt tạm cho em một con vít bằng kim loại, hy vọng đôi ba tháng sau em thôi ca cẩm hát hò bản nhạc “chuyện một chiếc cầu đã gãy”. 

Gọi giờ thứ 25 là vì nó đi ra ngoài dự kiến, nó đột ngột hiện tới gây ra bao thảm cảnh nằm mộng cũng chẳng ngờ. Cái iPhone của em văng ra khỏi hiện trường đến bốn thước, va vào lề đường trầy trụa, mặt kính rạn nứt, tuy vậy cảm ứng bén nhạy có ở màn hình chưa mất đi. Một người tốt bụng đã nhặt lên, có thể bà dùng nó để thử bấm số 911 trước tiên. Đang trong sở làm, anh buộc phải ngừng tay để trả lời một cuộc gọi thất thường xuất phát từ phía em nhưng vang bên tai là một giọng nói lạ, ngập ngừng, bối rối. Anh nhìn đồng hồ, còn hơn tiếng nữa mới khép một ngày cày bừa, tuy nhiên anh đã đến gặp thằng cai: Việc bất khả kháng, tao đành phải dông thôi. Ừ, có ở lại cũng đâu còn lòng dạ mà tập trung với công việc, hy vọng bạn ấy không đến nỗi nào, chúc may mắn.

Bà Lucie, người loan tin thất thường có nhắn gửi lời cuối: Tôi bấm số cầu may trong một loạt số vừa hiện lên, sẽ hoàn trả lại chiếc điện thoại này vào tay khổ chủ. Ambulance đang tới, có thể họ chở cô ấy vào bệnh viện Jean Talon. Anh nghe nhói đau một bên hông, anh nhớ câu chuyện thần thoại từng đặt điều “đàn bà được cấu thành từ một cái xương sườn của đàn ông”. Em bị nạn và anh chịu chung một nỗi đau lây lan.

Vì gần hiện trường xẩy ra tai nạn, xe cấp cứu tiện đường mang em vào nhà thương, nơi mà anh phải nương nhờ Google hiện lên bản đồ chỉ lối. Nói cho đúng thì khoảng sáu năm trước anh từng ngại ngùng đặt chân vào lãnh địa đó một lần, nơi treo cái dấu cộng màu đỏ thật to. Anh vào thăm một người bạn mang bệnh hiểm nghèo mà bác sĩ đã không dối lòng: Ông Nguyen còn ở chơi với trần thế này thêm đôi ba tuần nữa. Hôm đó anh mọc lên một ý nghĩ rồ dại, lý ra nhà thương nên dùng dấu trừ làm “logo”. Cộng là gộp thêm niềm đau? Trừ là soán đoạt lấy bớt niềm vui. Không ai đi vào chốn này mà mặt tươi mày tỉnh cả, kể luôn tới thằng đàn ông vừa nghe tin vợ tròn con vuông. Trước mắt hắn hiện đầy bao toan tính, rồi một hôm trái gió trở trời hắn sẽ nghe vợ hiền than: Ông trời bất công, sao chẳng cho đàn ông mang trước ngực một cặp vú đầy sữa!

Mất chừng mười phút, anh tìm ra nơi em nằm. Vạn bất đắc dĩ, sự bất khả kháng mới vậy chứ bình thường đó là thế giới riêng tư mà một người con gái luôn tìm cách che đậy, có thể dán tấm giấy trước cửa phòng: “Vô phận sự, miễn vào”. Chỉ duy nhất một đứa có phận sự: Thằng chồng. Anh muôn đời chẳng phải là chồng em. Và ông trời có công bằng khi tạo ra hai đứa thương yêu nhau mà chả đoái hoài gì tới sợi dây trói thân: Vợ chồng? Đó chỉ là danh xưng ở mặt pháp lý, chưa chắc những gì được hợp thức hoá, ghi vào sổ sách làm bằng chứng đều thơ mộng đáng quý cả. Giấy trắng mực đen, bút sa gà chết vẫn luôn kéo theo bao điều phiền toái nằm ngoài dự tưởng.

Em nằm trên giường, phòng có hai giường và hai tấm màn che chắn thế bình phong. Hiện tại “dậu mồng tơi” kia không định ra biên giới bảo bọc, cửa sổ cũng thế, mở toang cho nắng gió vào hoán đổi môi sinh. Hai cô y tá có phận sự chăm nom, anh nhìn qua gã hàng xóm của em, một chân bó bột và khúc thạch cao trắng được treo lên như con mực ống bị phơi khô, một ngày kia hắn ta sẽ biểu những đứa vào thăm mang bút ra để ghi lên đó ít nhiều cảm nhận về sự què quặt hắn phải hứng chịu. Đèn bắt trên trần rất sáng, mặt em xanh và anh rất muốn chải gỡ giúp em những cụm tóc rối. Hình như y tá vừa cho em uống thuốc giảm đau. Chăn mỏng đắp ngang bụng, chiếc áo rộng kỳ cục của bệnh viện khiến em rất gầy, anh đồ rằng người ta biểu em chớ nên mặc áo nịt vú hoặc chính họ đã cởi ra giúp em, vú thoi thóp chẳng tượng hình dưới tấm chăn có in tên nhà thương. Anh ngồi xuống chiếc ghế đặt bên giường, mắt em nhắm và anh ngại lay em ra khỏi cái hiệu ứng do thuốc thang vừa tác động. Trên đầu giường có ghim miếng giấy bọc nhựa: “Mỗi cái bàn phím đều thu giữ nhiều vi trùng, yêu cầu bạn rửa sạch tay trước khi tiếp xúc với bệnh nhân”. Lời nhắc nhở kia chắc chỉ dành riêng cho y tá, bác sĩ. Anh nhớ tới đoản văn vẫn còn dở dang đã ba hôm chưa tìm được thông lộ, anh ngó xuống bàn phím bày từng hàng mẫu tự q w e r t y u i o p… nó có là nơi cho vi trùng ẩn náu? Chưa khi nào anh rửa tay sau khi đóng gập cái laptop lại. Tay anh đút túi quần khi đi tới chỗ hẹn hò em vừa cho hay địa chỉ, thường là một hàng quán cà phê. Anh vẫn tin rằng, ngồi cả giờ bên em, chia tay xong, khi trở về sẽ tìm ra lối thoát cho những con chữ đang bị dồn vào cul de sac.

Anh tôn trọng em nhưng bà y tá thì không, bà sẵn lòng đánh thức cũng như độ lượng trao cho bệnh nhân vài viên thuốc ngủ. Không ai có quyền hờn oán đến “mẹ hiền” cả, đơn giản vì họ tận tuỵ và quan ngại đến sự an nguy của bạn. Phải cảm ơn họ mới đúng. Em không cảm ơn thì anh sẽ nói merci. Em mở mắt ra. Bà y tá nói khi lôi một cánh tay em ra khỏi tấm chăn: Tôi đo huyết áp, chừng mười phút nữa cô sẽ có buổi ăn tối. Thấy bớt đau chưa? Tốt lắm. Bà ghi những con số vào tờ giấy kẹp dưới chân giường. Và em nhìn thấy anh. Tròng mắt em loáng ướt như trong mơ em vừa đi băng qua một độc đạo ngập mưa lũ. Một đôi mắt anh chưa từng thấy nó rơi lệ, gần em là đón nhận toàn những điều vui thú. Em có vẻ cứng rắn kể cả lúc người ta buộc phải mềm lòng. Em xa nhà từ nhỏ, từ vùng cô quạnh đi xe đò băng đồng vượt suối tới thành phố này kiếm việc làm, tự lực cánh sinh. Một kẻ như vậy, thứ hành trang cần trang bị trước tiên là sự can đảm. Can đảm đánh rơi những uỷ mị. Anh giống em chỉ một nửa, ở cái khoảng làm đứa xa nhà, ở đậu. Nửa khác biệt với em là anh chưa học được chút cứng rắn nào cả. Nếu chai lỳ anh đã không tìm tới với chữ nghĩa, với văn chương, với những trang viết đa phần xiêu đổ nhiều than thân trách phận. Anh phân bua cùng em mà em nào tin: Chúng ta giống nhau để hiểu nhau và khác nhau để bù đắp cho nhau. Câu nói đó của một văn sĩ anh quên tên mà khi đón nghe em hiểu duy một điều: Khác giống giữa đực, cái, nam, nữ. Một tháng, em dành ra hai bữa để làm tình cùng anh.

Em thấy sao? Thấy người nhẹ như mặt đất thôi còn sức hút. Thuốc tê vẫn chưa tan và morphin vẫn còn ngăn chận cơn đau. Khi anh về, hãy tạt qua chỗ em lấy giúp ít áo quần lót để thay, vài đôi vớ, bàn chải đánh răng… sớm mai mang vào cho em, có được không? Chìa khoá nằm trong xách tay, hình như họ cất vào cái tủ sắt ấy. Mấy giờ rồi anh? Sáu giờ rưỡi. Anh mở cánh cửa tủ có đánh số, dành cho chủ nhân nằm giường 725A. Áo quần và vật dụng cá nhân đều dồn vào một cái túi ny-lông có ghi tên Debbie bên ngoài. Anh mó tay vào lục lọi, anh ngửi mùi hương quen thuộc từ đó xông lên.

Một người mặc trang phục của bệnh viện, đầu tóc tóm gọn trong cái nón ny-lông xanh đẩy chiếc xe chứa từng khay thức ăn dừng lại trước cửa. Khuôn mặt không phấn son cố làm bộ tươi tỉnh khi mang buổi cơm chiều vào. Bà dùng một tay điều chỉnh cái bàn ăn sao cho thật đúng vị trí rồi đặt khay nhựa xuống đó, xong thì dùng chân để điều khiển chiếc giường thay đổi vị trí, nâng người em lên, gập lưng cho vừa tầm. Bà ngó anh như thông báo, chỉ có vậy, phần còn lại mày hãy giúp cô ấy tìm được sự thoải mái khi nuốt trôi thực phẩm nhiều sinh tố, chóng tiêu hoá.

Anh mở nắp nhựa úp trên dĩa: Khoai tây nghiền đứng kề một hòn thịt băm chen cài với bốn năm cọng đậu đũa luộc nhừ. Trên khay có chén súp còn bốc khói, bánh croissant nhỏ và một cốc nước trái táo. Chưa bao giờ, đây là lần đầu tiên trong đời anh đút thức ăn cho một kẻ khác. Ơn đền oán trả? Dù chẳng tiết ra sữa, Debbie từng cho anh ngậm lấy vú. Khi đó anh nhớ tới mẹ mình, anh bất hiếu ở chỗ là đã khuấy quên hình dáng cái bầu sữa mẹ già. Có no tròn? Có hồng hào? Có thơm mát? Có sự khác biệt nào giữa cấu trúc ta và tây?

Rất khéo tay, anh chu toàn công việc êm ru bà rù. Tên hàng xóm bị treo giò bên kia giường nhìn anh với tia mắt đong đầy sự ganh tị, hờn ghen các thứ, hoặc tủi thân do đang cô quạnh mình ên. Cô y tá mang thuốc vào cho em, một cốc nước, một ly giấy đựng bốn viên xanh đỏ trắng vàng. Cô giải thích, cái này chống nhiễm trùng, cái này giảm đau, cái này chống táo bón, cái này giúp bạn ngủ yên. Có thấy buồn tiểu không? Cô khom lưng lấy từ dưới giường ra cái thau hình dáng lạ thường rồi vén chăn đút nó dưới mông em. Anh nhìn thấy một vùng da thịt trắng muốt, ở đâu đó phía bên kia hẳn là nơi đang bưng bít vết mổ dài 15 phân được đậy đệm bằng bông băng. Em nói, thôi anh về đi.

Anh nghe lời. Anh về “con đường xưa anh đi vàng lên mái tóc Debbie ngõ hồn không tái tê”. Trước, anh nhấn chuông, anh gõ cửa. Nay, anh ung dung với chiếc chìa khoá, tuỳ nghi mở đóng. Sylvie, cô bạn chia tiền phòng góp gạo nấu ăn chung đang lui cui cùng bếp núc lấy làm ngạc nhiên khi thấy anh bước vô. Sylvie chỉ mặc quần lót với lại xú-chiên, cô hơi hoảng nhưng kịp trấn tĩnh vì cái nồi đang bị lửa táp gần bỏng khét. Mùi thơm quá. Anh phát biểu cảm tưởng, tính nấu spaghetti hả? Ừa, con Deb đâu? Deb bất cẩn bị xe đụng hiện nằm nhà thương, giao chìa khoá cho tôi về tìm vài món bới xách cho bạn ấy. Tôi thế Deb có được không? Mon Dieu, nó bị nặng lắm không? Ờ, ở lại ăn cùng tôi cho đỡ buồn. Gãy xương, bệnh viện đã tìm cách chắp nối lại, dự tính phải nằm trong đó cả tuần lễ. Tội nghiệp. Nằm bệnh viện nào? Dắt tôi vào thăm với nhé. Phải luôn xáo tay kẻo nó cháy dưới đít, coi giúp để tôi mặc lại áo quần ngó cho tử tế. Vậy là tử tế rồi, có đâu như Debbie giờ này chỉ có chiếc áo choàng kỳ cục che không kín người. Sylvie cười, không dám đâu, hổ ngươi lắm, thà mà bạn gái với nhau.

Không cất công mở youtube ra học hỏi gia chánh, chỉ mua nguyên vật liệu có sẵn bán đầy chợ, tôi chỉ thêm chút thịt xay, thêm chút hành tỏi, chút muối đường, sợi thì vừa trụng xong. Thích ăn cùng lát mì có trét bơ không? Tương đối thôi, chẳng có lắm thời giờ. Hồi nào quởn bày tôi cách nấu phở đi. Ngày mai chứ hồi nào nữa, vào thăm Debbie xong chúng ta cùng đi chợ Á đông, bạn phải đứng sát tôi, nhất nhất cử động đều phải nhìn ngó, nhập tâm. Thực sự thì chẳng có gì nhiêu khê đâu, Debbie từng đùa là nếu có tiền chúng tôi sẽ mở một quán bán phở.

Hai đứa ngồi vào bàn, thưởng thức món ăn Ý, truyền thống hay không thì chẳng rõ. Ăn cho có, ăn để sống chứ không phải sống để mà ăn. Đã sống thở thì đời bày ra chán khối việc để lo toan, để đối đầu, để giải quyết dù bụng đang đói meo. Có thực mới vực được đạo lại là chuyện khác. Ăn no bò cỡi cũng vậy. Nói cho cùng tận thì ăn là động từ khẩn thiết, chiến tranh xẩy ra cũng vì miếng ăn. Ăn cũng là một thứ triết lý chẳng bao giờ già cỗi, lạc hậu. Miếng ăn là miếng tồi tàn. Ô kê, đừng tranh cãi thêm cho nhọc sức. Anh ngồi vào chiếc ghế lệ thường có Debbie đặt đít, cách vuông bàn hẹp anh thấy rõ những nhịp tim rung động trên ngực mát mẻ của Sylvie. Vòng một của cô ấy lớn hơn Debbie, điều này khẳng định được là nếu sinh con đẻ cái, mấy baby nọ hẳn phải bụ bẫm lắm. Kinh nghiệm cá nhân? Mẹ anh gầy nhom nên anh khẳng khiu cả xương chẳng mấy có thịt, đi đến trường học bạn bè đặt cho danh hiệu: Thằng ni đại diện cho hãng sản xuất tăm tre xỉa răng. Anh bú sữa bình nhãn hiệu Hột Xoàn, xong đổi qua măm sữa Con Chim. Rồi chơi sữa Ông Thọ, cứ cầu âu vậy mà thân thể chẳng tráng kiện một mảy may. Mẹ anh nói “bị cái tạng nó vậy” chứ sức nó ăn thì khiếp lắm, mỗi bữa ba bốn chén cơm vung cũng chưa nhằm nhò. Nói tội trời, mấy đứa mập mạp dễ sinh bệnh hơn là mấy thằng rọm rơ như hắn. Đặt lưng xuống là ngủ quên trời quên đất.

Thời còn bé cơ, dạo còn ngây thơ cơ. Chứ giờ này nương nhờ vào “bơ thừa sữa cặn” phương này thì trông cũng có da có thịt như người ta. Người ta thông thoáng thì hắn cũng biết nghía, biết thèm thuồng, biết háu ăn, biết săm soi một cách kín đáo, biết đè nén và trấn nước nỗi dục vọng thầm kín, chết chìm. Hắn từng đọc ở đâu đó một lề luật chẳng in thành văn bản: Chơi với bạn mà tơ tưởng đến bạn của bạn là một tội trạng khó tha thứ. Vắng chủ nhà gà mọc niêu tôm? Con cá từng bắt đang nằm ngáp, vậy có nên bắt thêm con cá đang bẹo hình bẹo dạng bơi lội thoải mái kia?

Là người tử tế, ăn xong anh dành phần rửa chén dĩa. Anh mở những ngăn tủ, chỉ thấy lọ cà phê hoà tan, chỉ thấy trà đóng gói, những thứ mà với anh có chết khát cũng không uống. Đã vậy còn chú thích hàng chữ bên ngoài “caffeine free”. Chẳng có gì kỳ cục bằng đi nhậu, đi phá mồi mà lựa toàn mấy món giả chay. Đã thò chân xuống sông để lội qua bờ kia mà vẫn ngại bùn vấy bẩn?

Anh vào phòng Debbie. Rõ là người ta chẳng thể nào biết trước những gì đang chờ chực ở thì tương lai để hiện tại nên bỏ công tập vén khéo. Bừa bộn, bầy hầy, vung vãi, xộc xệch mọi thứ. Một người con gái sống đơn thân thì không việc gì phải tập ngăn nắp, thứ lớp? Vậy chứ người con gái đó trước khi đi ngủ vẫn tiêu tốn chút thời gian để rửa mặt rửa mày, thoa kem, chải tóc. Chi vậy? Để nhỡ có gặp ai trong mơ, họ nhìn ra dung mạo mình không đến nỗi tệ! Trong mơ, anh từng bắt gặp Debbie nhưng cô chỉ phát quang từ ngực trở xuống, anh thức giấc trên giường với bao hối tiếc về giấc mộng đã chẳng đi hết đường. Không phải ác mộng, nhưng luôn luôn nó y như một câu chuyện chẳng có hậu.

Anh máng những gì vương vãi dưới sàn lên thành ghế, mớ áo xống hỗn độn trên giường thì dồn chúng vào trong cái rá nhựa; xong thì vật mình xuống tấm nệm. Đã hai năm, chừng như nệm vẫn chung tình ở sự đàn hồi đáp trả khi hứng chịu sức nặng của người nằm đè. Anh và Debbie đã đi vào cửa hàng Ikea của Thuỵ Điển để lựa mua, họ quảng cáo tuổi thọ của nệm là mười năm, bạn sẽ hài lòng vì kẻ nằm bên có vặn vẹo trăn trở cách gì thì nó chẳng lây lan độ rung sang chỗ bạn đặt lưng, êm ru bà rù, mộng đẹp là cái chắc!

Ngọn đèn nhỏ trên đầu nằm đủ soi tỏ những tấm ảnh Debbie dán tuỳ tiện ở vách, đa số đều chụp lấy thứ quang cảnh ở quê cũ, một thành phố biển chẳng lấy gì làm sầm uất nhiệt náo dẫu là vào hè, mùa đông nó biến thành những cánh đồng tuyết ngập giá băng. Tám tuổi đứng bên mẹ. Mười hai tuổi quàng vai bá cổ với người bạn trung học. Mười sáu tuổi mặc đồ tắm nghịch nước với cậu bạn trai đầu đời… Những tấm ảnh đã ố vàng, những chặng đời lớn lên được ghi nhận đi kèm với tàn phai. Đã xẩy ra điều gì không vui khiến Debbie quyết định từ bỏ nó, cô lên phố rậm rật này tìm cách sống và cô từng hỏi về quá khứ anh: Làm sao bạn sống qua với những ngày đầy khói lửa của chiến tranh? Rồi hoà bình, sự bạc ác nào buộc bạn phải làm đứa vô tổ quốc? Anh thua thiệt, so với Debbie, ngay cả thứ nhỏ nhặt nhất là anh chẳng có lấy một tấm ảnh ghi nhận về thời bể dâu. Anh trắng tay, trắng tận cùng của chữ trắng. Sạch bong, lạnh giá như màu tuyết.

Buồng phổi anh đang điều hoà với không gian nhốt ngập hương mùi riêng biệt của Debbie. Hình như Sylvie đang chiếm ngự phòng tắm, tiếng nước chảy như cơn mưa rơi ở tận phương xa len lỏi đổ xuống giấc ngủ khó cưỡng chống, anh ngó tới cái MacBook Air của Debbie đặt trên bàn nhưng anh chẳng biết password để vọc tay vào lục soạn. Anh nhìn cái nịt vú móc ngang thành ghế và rồi mắt anh từ tốn đóng lại.

Nhà có ma. Anh nghe tiếng Sylvie thoảng nhẹ bên tai. Đồ đạc bọn tôi thỉnh thoảng bị xáo trộn dời đổi. Và rồi hôm nay thì Debbie bị xe đụng. Hồi nãy đứng tắm, sống lưng tôi nghe lạnh như kiểu có ai nhìn trộm. Có thấy người tôi đang run lên không? Tôi vừa khoá cửa lại, đêm nay tôi sẽ ngủ chung với anh trong phòng này, anh tin chuyện ma không? Sylvie choàng tay qua ôm siết lấy thân anh, da thịt cô có thể đang nổi ốc, mát lạnh như một cây kem đang tan vữa. Anh nhớ khúc phim về người Eskimo sống trong hầm nước đá, để chống lạnh họ cởi trần để ôm cứng lấy nhau, bu như sam. Có thể anh chưa bị lôi ra khỏi cơn mê, anh tự cởi áo quần mình trong vô thức. Anh ôm lấy Sylvie, nín thở để phát hiện thân nhiệt hai đứa vừa giao hoà nhau, vây bọc lấy nhau, ấm dần ấm dần cho tới nóng lên. Nóng đến độ cơ thể phải chảy nước. Sylvie nói: Em la lên nghe, biểu tỏ cái sướng để xua đuổi tà ma. May mà tối nay có anh, em không quen sống cu ki một mình trong căn nhà lạnh.

Anh thức dậy, mặt trời thập thò sau màn cửa sổ. Ngọn đèn trên đầu nằm chẳng có ai mó tay, chừng như nó thức suốt đêm. Cơ thể và tứ chi nghe rã rời cơ hồ năm canh đã bơi qua mặt sông rộng. Chăn nệm nhăn nhàu, con ma trong nhà đã bỏ đi, hết ôm hết bấu víu hết mè nheo lấy anh. Thường thì ma không dại để hiện hình giữa thiên thanh bạch nhật? Anh vào phòng tắm làm vệ sinh qua loa, chùi rửa thật kỹ một cái bàn chải đánh răng để đút vào mồm cọ xát cho bọt kem đầy tràn, suýt nhợn ói. Hôm nay thứ mấy? Có thể Sylvie đã đi làm. Sự lặng yên trong căn nhà khiến anh hồi hộp, gây thứ cảm giác khó chịu. Anh dồn những vật dụng cá nhân mà Debbie căn dặn vào trong cái túi xách có in thương hiệu một siêu thị chuyên bán sản phẩm Organic. Bạn hãy chọn ăn lấy những thứ không bị ngâm tẩm hoá chất độc hại, bạn sẽ trường thọ ngoại trừ bạn ra đường không may bị xe đụng, ngoài ý muốn. Những đứa thập tử nhất sinh, nằm lặt lìa trên giường bệnh, hắn có mọc lên sự hối tiếc: Biết vậy tao đã ăn chơi không sợ mưa rơi, tao trả thù đời cho bõ kiếp người mãi cơ cực ép mình nghe theo bao điều răn vô bổ.

Chỉ qua một đêm, khuôn mặt Debbie xuống sắc thấy rõ. Em không ngủ được, một phần vì đèn sáng loà, vì nhiều tiếng động vang dội suốt hành lang. Em nghĩ tới chỗ nằm này, đã có biết bao cơ thể rời đi để biến thành hồn ma? Ngôi giáo đường ở phố cổ cũng có ma huống hồ là bệnh viện, phải không? Anh thò tay vào chăn để nắm lấy năm ngón lạnh, anh bóp nhẹ: Chỗ em thuê có ma thành ra em cứ ám ảnh tới thế giới vô hình nọ. Debbie nhăn mặt: Ai nói cái apt. ấy có ma? Bệnh nhân nằm giường kề cận ngóc đầu lên, hắn ngó anh với khuôn mặt thiếu máu. Cho dù là rơi vào tình huống tồi tệ nào chăng nữa, chuyện ma vẫn luôn thu cất sự hấp dẫn, lôi cuốn, muốn được đón nghe; và theo bình bầu chung thì ma quỷ phương Đông rùng rợn khốc liệt dữ dằn hơn quỷ ma phương Tây.

Debbie vọc tay vào cái túi xách kiểm soát xem những vật cần thiết nhờ anh mang tới có sơ sót hoặc thừa thãi. Cái gì đây? Anh lấy từ đâu ra? Nội y này là của con Sylvie mà. Đêm qua hai người đã làm gì nhau? Đầu gã “hàng xóm” càng lúc càng ngóc lên cao. Một đôi lúc chuyện ma cũng tầm thường thôi, không sánh được bằng chuyện ghen tuông mờ ám tình tiền tù tội. Đêm qua anh bị ma đè, anh nói đằng chỗ em thuê có ma là vì vậy. Con ma kia chỉ muốn trêu chọc hai ta, và cách duy nhất để chống chọi lại nó là khẩu quyết “đoàn kết thì sống, chia rẽ là chết”. Chưa gì mà anh đã thế, mai này tôi chống gậy tật nguyền cà nhắc thì anh tha hồ lộng hành tác yêu tác quái!

Y tá đi vào trong lúc bệnh nhân bà chăm sóc đang trùm chăn lên tận đầu. Bệnh nhân run rẩy tuồng như đổ lệ tủi hờn mãi ấm ức. Y tá nói nhỏ với riêng anh: Ông nên đi về thì hay hơn, khi người ta bị chấn thương ở thể xác, tinh thần theo đó cũng yếu đuối đi. Trong thời gian tĩnh dưỡng này, khóc lóc là điều cần tránh, đêm qua anh John nằm giường bên có kể chuyện và cô Deb đã hưởng ứng bằng những nụ cười, theo tôi đó là phương thuốc chớ nên gián đoạn. Hiểu ở mặt nào đó, Deb và cá nhân tôi vô tình đã mang ơn anh John.

Anh bước ra khỏi bệnh viện, nhớ là đã hơn hai mươi bốn giờ qua miệng lưỡi chưa được thưởng thức một cốc cà phê. Anh tìm tới Starbucks, kêu một cốc đen đậm, nặng nhất mà cửa hiệu có bán. Nhấp môi hai bận thì chuông điện thoại đổ dồn trong túi áo. Tôi đây, đang ở đâu? Có nhớ không, là bọn mình  cùng đi chợ Á đông mua nguyên vật liệu xong thì về nhà chung tay ninh hầm món phở? Ô kê, tôi đang ngồi ở Starbucks, chỗ gần bệnh viện đấy. Ô kê, mười phút nữa tôi lại, see you. Nhớ đấy, quán chẳng có ai, sợ ma chết khiếp!

Trong điện thoại thông minh, sóng dồn đẩy âm lượng tiếng cười trong vắt của Sylvie, nghe sướng lỗ tai. Chỉ có ma nữ mới tạo được giọng cười áp đảo thần hồn như vậy. Anh từng ngồi xếp bằng dưới gốc cây bồ đề, mắt mở thao láo canh me bóng dáng ma nữ đầy phép thuật diễu hành qua. Giữa cuộc đời điên đảo này đây, chỉ có ma nữ mới cứu chuộc ta ra khỏi cảnh địa ngục. Debbie, e rằng em cũng tin điều anh trải lòng là cả một sự thật!

Hồ Đình Nghiêm

11 tháng 9, 2019

Bài học Kangaroo

Đoàn Xuân Thu
Post by Sơn râu 14 May 2026

Ðại dịch suốt 18 tháng nay đã và đang làm thay đổi không riêng gì nước Úc mà cả toàn thế giới. Thay đổi đủ thứ. Rõ ràng dễ thấy nhứt là cách hành xử lúc ra đường.

Mới bước ra cửa, gặp vợ của thằng cha hàng xóm người Úc, tui xáp tới định ôm. Tính má tựa vai kề, biểu lộ tình thương mến thương như mọi khi. Nhưng em lắc đầu nguầy nguậy nói: No way.

Gặp thằng chả, tui tính đưa tay ra bắt. (dẫu là Mít đặc, nhưng sống ở xứ Úc văn minh, mình phải “cọp dê”; cái gì cũng giả bộ quên tiếng Việt rồi nên chỉ OK! OK!). Ai dè nó khuỳnh tay lại. Tui né qua một bên vì sợ nó giựt cùi chỏ vô cái bản mặt của mình vì nghi tui tính ôm con vợ nó. Ai dè nó khuỳnh tay lại, chạm vào cùi chỏ của tui để thay cho cái bắt tay ngày cũ.

Rồi hồi xưa, vô ngân hàng mà đeo khẩu trang như Ninja Nhựt Bổn là bị chúng kêu lính còng đầu; vì nghĩ mình đi ăn cướp. Bây giờ, vô ngân hàng mà không đeo khẩu trang cũng bị chúng kêu lính bắt; vì tội cố tình phát tán biến thể Delta của con COVID-19 cho quần chúng nhân dân.

Thú thiệt với bà con, tui khờ câm hè, đâu biết đeo khẩu trang ra làm sao cho đúng cách. Nên tui đi hỏi ông bác sĩ gia đình. Ông chỉ tui là: “Cái gì có lỗ thì che lại! Ở nhà với vợ, nhớ che luôn hai cái lỗ tai; kẻo bị nhức đầu”.

o O o

Ðó là chuyện giao tiếp ngoài xã hội. Còn chuyện đi làm không nhứt thiết phải vô sở như xưa nữa, nếu có thể làm việc ở nhà. Giờ cao điểm vắng hoe, con đường xưa anh đi không còn nhộn nhịp. Không phải dậy sớm, vội đi làm kẻo trễ.

Vợ bữa nào cũng cho ăn bacon và trứng rán. Thiệt là chán vì ngán! Lại làm tui nhớ bàn tay u nu, ú núc của con nhỏ Úc gốc Ý mắt xanh, mỏ đỏ và mũi lõ. Nhớ cái mặt tàn nhang của em cười chúm chím pha cho tui ly cappuccino ngạt ngào hương cà phê Brazil trong sương sớm.

o O o

Hiện giờ có hơn phân nửa dân Úc, 12 triệu người ở NSW và VIC và South Australia bị giới nghiêm, bị bế quan toả cảng, bị nội bất xuất, ngoại bất nhập.

Tiểu bang NSW bị nặng nhứt! Cả trăm ca nhiễm mỗi ngày. Nhứt là vùng Tây Nam Sydney như: Fairfield, Bankstown… nơi có đông bà con người Việt mình sinh sống.

So với các tiểu bang khác, Victoria cũng có nhiều cái nhứt. Số ngày dân bị cô lập, bị nhốt dài nhứt. Một năm rưỡi bị dịch vật là bị nhốt tới nửa năm. Số người chết nhiều nhứt, tới 820 trong số 935 người Úc. Và một ông Thủ hiến đổ thừa cho thiên hạ cũng nhiều nhứt.

Mông-xừ Daniel Andrews, Thủ hiến tiểu bang Victoria, đổ thừa bà đầm Gladys Berejiklian, Thủ hiến tiểu bang New South Wales, chậm lụt như con rùa lật ngửa. Dịch bùng lên ở vùng ngoại ô phía Ðông Sydney mà mãi tới 9 ngày sau, bả mới chịu ra lịnh cô lập. Hành động lề mề, chậm trễ nầy làm dịch lây lan tới Victoria.

Ngay cả một ông ở vùng quê Mildura, tiểu bang Victoria tới sân vận động MCG trong thủ phủ Melbourne xem trận đấu bóng bầu dục kiểu Úc giữa hai đội Carlton và Geelong rồi trở về nhà. Kết quả xét nghiệm của ông là dương tính. Vậy là cả một vùng quê nháo nhào đi xếp hàng chờ xét nghiệm coi có bị thằng chả lây hay không?

Hậu quả là tiểu bang Victoria bị đóng cửa lần thứ 5, kể từ khi đại dịch Coronavirus bắt đầu từ năm ngoái. Dân Victoria cực kỳ thất vọng khi bị đẩy trở lại tình trạng cô lập, chưa đầy một tháng, sau đợt cô lập suốt hai tuần gần đây nhứt!

Cảnh sát Victoria phải đến ga Flinders Street, trung tâm thành phố, lúc 7 giờ tối khi một đám đông giận dữ, cầm biểu ngữ có ghi những hàng chữ như: “Một đại dịch không cần quảng cáo. Vũ khí là một ống chích! Hãy đuổi cổ Thủ hiến Dan Andrews cho về vườn chăn vịt!”.

Họ vừa đi, vừa đốt pháo sáng, la lối om sòm tiến về Tòa nhà Quốc hội. La làng cho đỡ tức vậy thôi chớ cũng phải về nhà trước giờ giới nghiêm vì Thủ hiến Daniel Andrews loan báo là: “Quý vị sẽ bị nhốt bắt đầu từ 11 giờ 59 phút đêm nay cho tới hết ngày 27 tháng 7”.

o O o

Người thì ì ì đi biểu tình phản đối chánh phủ tiểu bang làm công việc mần ăn trì trệ khiến cho mình mậu lúi. Nhưng cũng có ông, 39 tuổi, không lo ăn mà lo yêu.

Từ Brisbane, ông bay qua Tây Úc định thăm một em (ngoài luồng) cho vơi nỗi nhớ thương thời đại dịch. Ai dè ổng bị nhốt. Ông bèn lấy ra trải giường tết làm dây. Từ lầu bốn, ông tuột tòn ten khỏi khách sạn cách ly nhưng bị lính bắt lại.

Dẫu xét nghiệm âm tính; nhưng phú lít tiểu bang Tây Úc vẫn đưa đi gặp ông Tòa. Ông Tòa phán: “Áp giải nó ra máy bay, đuổi nó về với con vợ nó ở tiểu bang nắng ấm Sunshine State, Queensland trong 48 giờ sắp tới cho ta”.

o O o

Tiểu bang Victoria bị cô lập như vậy mới thấy cái tình của người Úc với nhau trong cơn hoạn nạn. Nhà hàng Maria’s Pasta vùng Fitzroy North thăm nuôi cho ai đang bị nhốt: mì Ý, nước sauce và nước soup không tính cắc nào. Chỉ cần xách lại cái tô.

Chơi ngon vậy mà có một cha xấu miệng nói: “Bị nhốt thêm vài tuần nữa thì mấy thứ này sẽ quá date phải bỏ nên nó mới cho”. (Còn cái công nấu của người ta đâu cha nội?).

Rồi thằng chả bĩu môi chê cái nhà hàng Úc gốc Ý nầy không dám chơi sộp như đám quan chức CS trong nước. Tàu cao tốc, phi cơ Boeing 787, tụi nó dám dẹp ghế ngồi hết ráo. Lấy chỗ để chở rau, chở củ, khoai lang, khoai mì, khoai môn, khoai mỡ, khoai từ vô Sài Gòn cho dân đang bị cô lập vì đại dịch ăn độn thay cơm.

“Nói thiệt, nói chơi, hay nói xỏ vậy cha nội? Dân Sài Gòn gần 9 triệu. Mấy chiếc tàu, mấy chiếc máy bay nầy chở được bao nhiêu ký? Rồi tiền xăng dầu gấp mấy lần tiền mua tại chỗ. Chỉ có thằng khùng mới làm ngu như thế!”.

o O o

Nói nào ngay, lúc con Corona virus từ Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc bên Tàu tràn ra, thì Úc đã đóng cửa ngay biên giới quốc tế nghe cái rầm! Cùng lúc, Úc lập một hệ thống kiểm tra và truy tìm nguồn lây COVID-19 một cách hiệu quả. Số người Úc chết vì COVID-19 so với các nước khác ít hơn nhiều. Ðó là một thành công khiến nhiều nước khác phải ganh tị. Tuy nhiên giờ đây con biến thể Delta (Ðeo-ta) lây lan dữ quá, cứ “đeo ta” hoài. Làm kiểu cũ không còn ăn nữa!

Tham gia vào dàn đồng ca của giới truyền thông quốc tế chỉ trích Thủ tướng Úc Scott Morrison về cách đối phó với COVID-19, tờ Financial Times của Anh đã thẳng thừng bác bỏ lời khẳng định khét tiếng của Morrison rằng việc khai triển vaccine không phải là một cuộc “chạy đua”. Nói vậy là sai!

Tờ Financial Times cho rằng phương pháp phòng dịch bằng pháo đài không thể thành công nếu không có chương trình chích ngừa hiệu quả.

Bài báo so sánh Morrison với Boris Johnson, Thủ tướng Anh. Với khoảng 50% dân được chích ngừa đầy đủ, nước Anh đã dỡ bỏ gần như tất cả các hạn chế vào ngày 19 tháng 7.

Trong khi dân Úc: 25,693,059 người, chỉ chích ngừa đầy đủ: 2,669,571 chiếm 10.39%. Hậu quả là các thủ phủ tiểu bang như Sydney, Melbourne, Adelaide đang bị hoàn toàn cô lập khiến toàn thế giới phải sửng sốt.

Tờ báo hàng đầu của Pháp Le Monde đánh giá các biện pháp cô lập của Úc đang áp dụng là “hà khắc”. CNN thẳng thừng đặt câu hỏi: “Úc có thể tiếp tục làm như thế này trong bao lâu nữa?”.

Con Kangaroo được chọn làm quốc huy biểu tượng cho nước Úc vì nó không biết đi lui. Nó chỉ biết nhảy tới về phía trước. Năm ngoái, Úc kiểm soát được, không cho dịch bùng phát. Nhưng đất nước Kangaroo nầy lại ngủ gục trên vòng nguyệt quế. Nó không nhảy về phía trước như mong đợi; mà lại nhảy vòng vòng. Rồi lạc luôn không tìm được lối ra.

Australia đã “phung phí” chiến thắng ban đầu của mình trước virus. Ðất nước Kangaroo từ một mô hình cho thế giới noi theo thì giờ đây lại là một lời cảnh báo u ám cho các quốc gia khác biết để né!