Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh

vietmessenger.com

Erich Maria Rematque

Bản dịch Tâm Nguyễn

Post by Sơn râu 16 May 2026

Chúng tôi không còn buồn đếm từng tuần nữa. Khi tôi ra lại mặt trận thì vào tiết đông, nên khi bom đạn nổ tung các cục đất băng giá cũng nguy hiểm không kém gì các mảnh miễng. Giờ thì cây cối lại xanh. Đời sống chúng tôi chạy đi chạy lại các nhà trọ và mặt trận. Chúng tôi hầu như đã quen với nó; chiến tranh là một  nguyên nhân chết cũng như ung thư và lao phổi, cũng như cảm cúm và kiết lị. Chỉ có chết thường hơn, biến thiên hơn và khủng khiếp hơn. Tư tưởng chúng tôi là đất sét, chúng được đóng khuôn theo các thay đồi của thời gian; khi nào nghĩ ngơi thì tư tưởng vui; khi nào dưới lửa đạn tư tưởng chết. Những cánh đồng hang hốc ở bên trong và bên ngoài. Ai thì cũng thế, chả cứ gì chúng tôi ở đây – những cái từng sống trước đây hiện giờ không còn giá trị và người ta gần như không còn biết đến chúng. Danh giá, nuôi nấng giáo dục đều thay đồi, hầu như bị xóa bỏ và hầu như không còn được thừa nhận. Đôi khi chúng đưa lại một lợi thế để có một địa vị kiếm chác; nhưng đồng thời cũng mang theo những hậu quả, ở như chỗ chúng thức tỉnh những thành kiến cần được khắc phuc. Giống như thể truớc kia chúng ta là những đồng tiền của những tỉnh khác nhau và giờ đây chúng ta bị nấu chảy và tất cả đều mang chung một dấu. Muốn tìm ra lai các giá trị xưa, chính cái kim khí phải được thử lửa. Trước hết chúng tôi là lính và sau nữa, cũng là những con người theo một cách kỳ dị và xấu hổ.

Đày là một tình huynh đệ vĩ đại, nó thêm cho một hoàn cảnh sống thoát thai từ giữa lòng nguy hiểm, từ cái căng thẳng và tuyệt vọng của sự chết, một cái gì là tình bạn chân thành của dân ca, của cái tình đoàn kết giữa các kẻ tù đầy và của cái lòng chung thủy tuyệt vọng đối với nhau của những con người bị kết án tử hình đi tìm một cách hoàn toàn lạnh lùng một sự hưởng thụ phù du những giờ theo như chúng đến. Nếu người ta muốn ca tụng nó, nó tức thì là anh hùng và tầm thường nhưng ai mà muốn ca tụng nó kia?

Chính sự hưởng thụ phù du này, chẳng hạn, đã khiến Tjaden cầm thìa xúc vội xúc vàng phần súp thịt hầm nấu đậu của mình khi có tin địch tấn công, chỉ vì nó không dám chắc rằng một giờ nữa nó có còn sống hay không. Chúng tôi từng cãi vã nhau rằng làm thế là đúng hay sai. Kat không tán thành, vì, bác nói, mình phải trù tính có thể bị thương ở bụng và trong trường hợp này, dạ dày đầy nguy hiểm hơn là dạ dày rỗng. Những cái như thế là những vấn đề thực sự, là những vấn đề nghiêm trọng đối với chúng tôi, chúng không thể nào khác. Ở đày, ở bên bờ cải chết, cái sống theo một đường hướng giản dị một cách lạ kỳ, nó giới hạn ở cái gì cần thiết nhất, tất cả những gì khác nằm vùi trong giấc ngủ mơ hồ; tính cách man dại và sự tồn tại của chúng tôi là ở đó. Nếu chúng tôi lại phân tách tế nhị hơn thì chúng tôi hẳn đã phát điên từ lâu, hẳn đã đào ngũ hoặc đã ngã gục. Cũng như trong một cuộc thám hiểm bắc cực mỗi một biểu thị sống chỉ nhắm vào sự duy trì sống, và tuyệt đối tập trung vào đấy. Tất cả những gì khác đều bị gạt bỏ vì chúng tất làm hao phí sinh lực một cách không cần thiết. Đó là phương sách duy nhất đề tự cứu mình. Vào những giờ tĩnh lặng, khi cái phản ảnh dị kỷ của ngày trước kia, như một tấm gương mờ, rọi qua tôi cái bóng dáng của tôi hiện giờ, tôi thường đối diện với chính tôi, như trước một kẻ xa lạ, và tự hỏi cái nguyên lý hoạt động không thể có tên, cái nguyên lý nó tự mệnh danh nó là sự sống đã tự thích ứng thế nào ngay cả với cái hình dáng này. Tất cả các biểu thức khác nằm trong một giấc ngủ đông, sự sống chỉ là một sự không ngừng canh chừng sự đe doạ của cái chết:- nỏ đã biến chúng tòi thành những con thú không suy tư để trao cho chúng tôi cái vũ khí bản năng — nó đã tăng cường chúng tôi bằng sự đần độn, để chúng tôi không rã rời trưởc sự khủng khiếp, cái khủng khiếp nó tất tràn ngập chúng tôi nếu chúng tôi lại có một nếp tư tưởng sáng suốt và ý thức nó đã thức tỉnh ở chúng tôi cái ý thức tình bạn, để chúug tôi thoát kbỏi cải vực thẳm cô đơn – nó đã cho chúng tôi mượn cái thờ ơ của những con dã thú nào đề bất chấp mọi sự chúng tôi lúc cũng tri giác được cái thực tế và tích trữ nó như một dự phòng trước sự tàn sát của cái không. Do đó chúng tôi sống một nếp sống kham khổ khép kín hết sức là phiến diện và môt chuyện xảy ra ít khi làm nẩy  lửa. Rồi là bất ngờ một ngọn lửa khao khát phẫn uất ghê gớm bùng cháy.

Đó là những phút nguy hiểm. Chúng cho chúng tôi thấy rằng sự xắp xếp chỉ là giả tạo. rằng sự nghĩ ngơi chẳng phải là nghỉ ngơi, mà là sự tranh đấu ác liệt nhất để tìm nghỉ ngơi, Cứ nhìn cải hình thức bề ngoài của nếp sống chúng tôi, chúng tôi không khác gì giống người man rợ; nhưng trong khi họ lúc nào cũng được là man rợ, vì cái thực chất của họ là thế, và có giỏi ra cũng chỉ phát triển hơn tí nữa bằng cách sử dụng các ma lực của họ; còn như chúng tôi thì ngược hắn lại; – các nội lực của chúng tôi đâu phải được sử dụng đề đi đến tiến hóa, mà để đi đến thoái hóa, Người man rợ vốn dĩ cổ lễ, vì bản chất họ cổ lỗ, còn như chúng tôi cổ lỗ theo một chiều hướng giả tạo và do sự cố tình triệt đề. Và đêm đến, chợt tỉnh giấc chiêm bao, hoang mang ám ảnh bởi hàng ngàn hàng vạn khuôn mặt, thằng lính cảm thấy một cách kinh hoàng rằng sự yểm trợ mới mong manh làm sao, cái giới hạn phân chia nó với tối tăm mới mong manh làm sao. Chúng tôi là những ngọn lửa nhỏ nhoi nép sau những bức vách mong manh trước cơn giòng tố của tiêu tan và điên loạn, trong đó chúng tôi chập chờn le lói và lắm khi gần như phụt tắt. Rồi cái rền rền âm ỉ của chiến trận trở thành một vòng vây bao quauh cbúng tôi, chúng tôi bò vào lên chính chúng tôi và đôi mắt thao láo nhìn chằm chẳm vào đêm tối. Sự phấn khởi duy nhất của chúng tôi là hơi thở đều đều của mấy thằng bạn đang say giấc điệp và cứ thế chúng tôi chờ ban mai đến.

***

Từng ngày từng giờ, từng quả đạn và từng cái chết một chém vào cái yểm trợ mong manh này và năm tháng làm tiêu hao chúng tôi một cách mau lẹ. Tôi thấy nó đang dần dần tan rã quanh tôi. Chuyện thẳng Detering nghe mà phát đièn được.

Nó là một thắng hết sức thận trọng. Vô phúc một hôm lại thấy một cây anh đào trong một ngôi vườn. Chúng tôi vừa ở mặt trận về, và khi rẽ vào con đường đến chỗ trọ mới, trước mặt chúng tôi một cây anh đào xuất hiện, đẹp tuyệt trần dưới ánh bình minh. Không một chiếc lá, cả một đống hoa. Tối đến Detering mất dạng. Mãi mới thấy nó về tay cầm hai nhánh anh đào. Chúng tôi đùa nó, hỏi phải chăng nó đi đám cưới. Nó không đáp, nhưng đặt hai nhánh lên giường. Đêm tôi nghe nó lục đục, hình như gói ghém. Tôi cảm có cái gì bất thường mới đi lại nó. Nó nói có gì đàu và tôi bảo hắn:

«Detering, đừng có làm trò thối nghe. »

«Chà cái gì mà thối – có cái tao đéo ngủ được .- »

«Thế chứ mày đi bẻ anh đào làm gì? »

«Tao còn muốn bẻ thêm, » nó đáp, bâng quơ và sau một lúc: «Chả ở nhà tao có cả một vườn anh đào. Khi chúng nở hoa, đứng trên đống rơm nhìn xuống như cả một tấm vải trắng xoá. Độ này là hoa nở.»

«Biết đâu mày sắp được về phép. Không chừng còn được trả về làm ruộng. »

Nó gật, nhưng óc nó để đâu. Khi hứng lên, mấy cái thằng dân quê này trông mặt thật kỳ, nửa rụt rè nửa khao khát, nửa ngây ngô nửa say sưa. Để đánh trống lãng, tôi xin nó một mẫu bánh mì. Nó lẳng lặng đưa tội. Thật đáng ngại, vì bình thường nó chó đá lắm. Nên tôi mới thức rình xem. Không gì xảy ra; sáng hôm sau nó vẫn bình thường.

Có vẻ như nó nhận thấy tôi rình nó; nhưng sáng hôm sau nó biến mất. Tôi thấy nhưng không nói gì cả, đề cho nó có thì giờ, không chừng nó đang suy nghĩ. Bạn nhiều thằng đã xâm nhập Hoà Lan. Nhưng khi điểm danh thấy vắng nó. Một tuần sau chúng tôi nghe tin nó bị hiến binh dã chiến tóm, cái tụi quân cảnh dễ ghét ấy. Nó đi về phía Đức Quốc, thật là vô phương, dĩ nhiên – và, dĩ nhiên, nó còn làm nhiều cái khác một cách xuẩn ngốc. Ai thì cũng thừa hiểu rằng hắn trốn chỉ vì nhớ nhà và trong một luc loạn thần. Nhưng làm sao một toà án quân sự ở xa mặt trận hàng mấy trăm dặm biết thế? Rồi chúng tôi biệt tăm luôn thằng Detering. Nhưng đôi khi cái nguy hiềm này còn bùng nổ bằng nhiều cách khác, những cái bị dồn ép này, như từ một nồi hơi quá nóng. Chuyện thằng Berger chết thật là thảm thương. Giờ thì các chiến hào của chúng tôi bị bắn tan tành và chúng tôi có một chiến tuyến co dần, cho nên có thể nói là không còn chiến tranh chiến hào. Khi đánh đi đánh lại liên miên, mãi rồi chỉ còn một chiến tuyến nát vụn và ác chiến giành giật nhau từng hố bom một. Chiến tuyến đã bị chọc thủng, và khắp nơi đều tự lập thành những nhóm nhỏ tiếp tục đánh nhau từ các cụm hang hốc. Chúng tôi nằm trong một hốc, quân Anh đang đánh xéo tới, chúng đi vòng hông để đánh tập hậu, Chúng tôi bị bao vây. Muốn hàng không phải dễ, sương mù và khói đạn lơ lửng trên đầu chúng tôi, không ai có thể nhận ra nổi là chúng tôi muốn đầu hàng và không chừng chúng tôi cũng chẳng muốn, những lúc như thế chính thằng lính cũng không biết rỏ ý mình. Chúng tôi nghe tiếng lựu đạn nổ đến phía chúng tôi. Khẩu đại liên chúng tôi quét thành nửa vòng trước mặt. Nước mát bốc thành hơi, chúng tôi vội vã chuyền thùng tay nhau, mỗi thẳng đái vào thùng và như thế lại có nước, súng lại tiếp tục nhả đạn. Nhưng sau lưng chúng tôi đạn nổ mỗi lúc mỗi gần.

Vài phút nữa là chúng tôi đi đời. Rồi, sát bên chúng tôi, một khẩu đại liên khác rền lên. Súng đặt trong một hốc ngang với chúng tôi, Berger đã đi mò được và giờ thì phản công từ sau, thế là chúng tôi được giải tỏa và liên lạc được với hậu quân.

Sau đó, khi nằm ẩn nấp tương đối khá an toàn rồi, một thẳng hỏa đầu vận lương thực cho biết cách đấy chừng hai trăm thước có một con chó đưa tin nằm bị thương.

«Ở đâu? » Berger hỏi. Tên kia chỉ rõ địa điểm, Berger đi một lát đưa con chó về hai là bắn nó chết. Sáu thằng trước kia chắc nó đã khòng bận tâm, nó đã biết điều hơn. Chúng tôi cản nó. Nhưng nó khăng khăng đi, chúng tôi chỉ biết nói: «Mày khùng rồi,» và đành mặc nó. Vì những vụ khùng ở mặt trận như thế này trở thành nguy hiểm nếu mình không đến thằng lính nằm xoài và ghì chặt lấy nó. Khốn nỗi Berger lại cao thước tám và là thằng khoẻ nhất đại đội. Quả tình là nó điên vì nó phải băng qua hàng rào hỏa lực; nhưng cái tiếng sét nó đập xuống đâu đấy trên đầu chúng tôi đã đập trúng nó nên nó nổi cơn điên. Nó cũng đánh trúng mấy thẳng khác nên chúng bắt đầu la hét và bỏ chạy có thẳng còn đưa tay đưa cẳng đưa răng ra cào đất đề vùi mình.

***

Muller đã chết. Một thằng đã bắn thẳng vào bụng nó với một khẩu Verey. Nó sống sót trong nửa giờ, rất tỉnh táo nhưng vô cùng đau đớn. Trước khi chết nó trao sổ tay nó cho tôi và tặng tôi đôi bốt vẫn cái đôi nó thừa hưởng được của Kemmerich. Tôi đi, vì bốt vừa như in. Sau tôi là Tjaden, tôi đã hứa để lại cho nó. Chúng tòi đã chôn cất Muller được xong xuôi, nhưng chắc gì nó nằm được yên xác. Chúng tôi đang tháo lui. Bên kia có quá nhiều quân Anh quân Mỹ. Cũng lại quá nhiều thịt bò hộp và bánh mì trắng. Quá nhiều súng mới nữa. Quá nhiều máy bay. Còn chúng tôi thì hốc hác, đói dở. Lương thực quá tệ lại thêm những thức nhân tạo làm chúng tôi thêm ốm. Các chủ nhà máy ở Đức giàu to; kiết ly tàn phá lòng ruột chúng tôi. Dãy nhà cầu lúc nào cũng đông khách; phải cho những người ở nhà thấy các bộ mặt xám xit, vàng khè, thiên não, tàn tạ ở đây, những thân hình muốn xum này mà ỉa chảy vắt ra từng giọt máu, mà đôi môi run rẩy méo xệch vì đau quặn, nhe răng bảo nhau:

«Kéo quần lên không muốn nổi mày ơi- Trọng pháo chúng tôi khạc chẳng ra, đạn quá ít, nòng đã mòn bắn chẳng đâu vào đâu, mà còn toác ra cho đạn rơi ngay lên đầu chúng tôi. Ngựa lại thiếu. Các lính mới toàn là những thẳng nhóc thiếu máu cần được nghỉ ngơi, vác không nổi ba-lô, chỉ tài biết chết. Chết hàng vạn. Chúng chẳng biết gì là chinh chiến, chỉ biết đi tới để rồi bị bắn gục. Một chiếc máy bay đánh tan hai đại đội như bỡn, chúng vừa chân ướt chân ráo xuống tàu chưa kịp nghe nói đến cái gì gọi là ẩn nấp.

«Chả mấy lúc nước Đức trống rỗng, »

Kat nói.

Chúng tôi không còn hy vọng có ngày kết thúc. Chúng tôi không bao giờ nghĩ xa đến thế. Thằng lính có thể cần một viên đạn và chết tốt, nó có thể bị thương và bệnh viện là chỗ dừng chân. Ở đấy, nếu họ không cưa chân cưa tay nó, thì không sớm thì mnộn nó cũng rơi vào tay một trong số những y sỹ giải phẫu đeo Quân công bội tinh trên ve áo bảo nó: «Ơ kìa, một chân có hơi ngắn? Nếu mày gan chút mày khỏi ra mặt trận. Thằng này số dách. Tan! »

Kat kể lai một chuyện mà suốt từ Vosges đến Flanders không ai không biết, chuyện một lão y sỹ giảo nghiệm đọc các tên trên danh sách và mỗi lần một thẳng đi đến trước lão, lão không buồn nhìn chỉ nói vỏn ven: «Số dách. Ngoài kia cần lính. » Một thẳng lê một chân gỗ đến trước lão, lão nói Số dách «Và rồi, » Kat cao giọng «thằng bia bảo lão: ‘Em đã có một cẳng gỗ rồi, nhưng khi chúng bắn mất đầu em trở lại đây, lúc đó em hẳn được lắp một cái đầu gỗ và được làm y sỹ giảo nghiệm’» Câu đáp làm chúng tôi khoái trá vô cùng.

Cũng có những bác sĩ giỏi và có chứ không phải không; nhiều là khác; nhưng thế đó, bất cứ thằng lính nào một lần nào đó trong hàng trăm lần khám nghiệm vô phúc có thể rơi vào móng vuốt của một trong số những con người thich tạo anh hùng không phải là it ấy, tự hào là mình có thề biến cải những thẳng C3 và B3 thành những A1, biến mấy cũng được. Có nhiều chuyện đại loại như thế, phần lớn còn chua chát hơn. Nhưng thế đó, và chả thấy nói gì là nổi loạn hay xúi giục nổi loạn gì. Những câu chuyện rất chân thật và từng bảo trắng bảo đen: vì trong quân đội thiếu gì chuyện giả mạo, bất công, đê tiện. Vậy chứ hết liên đoàn này đến liên đoàn liên tiếp được tung vào một cuộc chiến đấu mỗi  ngày mỗi vô vọng, hết cuộc công kích này đến cuộc công kich khác dọc theo cái chiến tuyến hao mòn, rút lui, tan nát, không là gì đáng kể sao?

Từ một sự làm trò cười các chiến xa đã trở thành một vũ khí khủng khiếp. Toàn bằng thép chúng lao đến thành những hàng dài và không gì hơn chúng lại hóa thân cho sự khủng khiếp của chiến tranh.

Chúng tôi không thấy những khẩu đại bác pháo kích chúng tôi; các hàng công kích của địch là những thằng bộ binh cũng như chúng tôi; nhưng các chiến xa này là những cái máy, bánh xích chúng chạy không biết ngừng cũng như chiến tranh, chúng là tiêu diệt, chúng lăn vô tri vô giác vào các hang hốc, rồi lại leo lên không ngừng không nghỉ cả một đoàn rầm rồ, phà khói, thép đầy mình, những con vật thép bất khả xâm phạm nghiến nhừ những kẻ chết cũng như bị thương chúng tôi rùng mình dưới lớp da mỏng manh của mình trước chúng, trước cái sức nặng khồng lồ đồ sộ của chúng vũ khí chúng tôi chỉ là những cọng rơm, và lựu đạn chỉ là lửa diêm. Bom đạn, máy hơi ngat, và các đoàn xe tang nghiền nát, đói khát chết chóc. Kiết lị, cảm cúm, thương hàn giết gióc thiêu đốt chết chóc. Chiến lũy, bệnh viện, mồ tập thể chả còn gì khác.

***

Trong một cuộc tấn công, đại đội trưởng chúng tôi, Bertinck, ngã guc. Ông là một trong những vị sĩ quan anh dũng ngoài tiền tuyến lúc nào cũng dẫn đầu vào bất cứ chỗ nào hiểm nguy nhất. Ông xông xáo với chúng tôi đã hai năm không hề bị thương, nên rút cuộc một cái gì phải đến. Chúng tôi chiếm một hố bom và bị vây.

Mùi xăng mùi dầu bốc lên với mùi khói đan. Chúng tôi thấy bai tên với một cái phun lửa, một thằng vác thùng sau lưng, một thằng cầm vòi phun lửa ra. Nếu chúng lại được gần vừa tầm thì chúng tôi đành tới số, chúng tôi chưa thể rút lui. Chúng tôi khai hỏa. Nuưng chúng vẫn lầm lì tiến tới và tình trạng coi mòi nguy kịch.

Bertinck cũng nằm trong hốc với chúng tôi. Khi thấy rằng chúng tôi không thể thoát vì dưới làn hỏa lực bắn rát chúng tôi pbải bám lấy khẩu súng trường, bò ra khỏi hốc, nằm ép người chống củi tay và nhắm. Ông bắn đồng thời một viên đạn găm vào ông, ông bị hạ. Tuy nhiên ông vẫn nằm và lại nhắm;- ông đã lảo đảo nhưng lại nhắm; và rồi súng nổ đảnh tạch, Bertinck buông súng nói «Xong» và trườn lại xuông hốc. Thằng phun lửa đi sau bị trúng đạn, hắn ugã gục, rồi lửa tuột khỏi tay thằng kia, lửa bén tứ phía và hắn bị thiêu.

Bertinck bị trúng ngực. Một lúc sau một mãnh miểng văng trúng cằm và cũng mãnh ấy còn đủ sức mạnh rạch đùi thang Leer.

Leer chống lên cánh tay rên rỉ, máu chảy như xối, không ai còn biết xoay sở cách nào đề cứu hắn. Như một cái ống lủng, chỉ vài phút sau nó lịm. Giờ thì toán tiếc còn ích gì cho nó, thẳng giỏi toán nhất trường?

***

Các tháng trôi qua. Hè 1918 là cái hè  đẫm máu nhất và khủng khiếp nhất. Các ngày đẹp như những thiên thần mặc áo vàng xanh, khó hiểu, đứng trên cái vòng tiêu diệt. Ở đày thằng nào cũng biết là mình sắp phải thua. Chả cần phải nói nhiều, chúng tôi đang tháo lui, sau trận tồng công kích này, chúng tôi không còn đủ sức tấn công nữa, không còn người, không còn đạn dược. Tuy nhiên vẫn hành quân – cái chết vẫn tiếp tục.

Hè 1918 – Chưa bao giờ cái sống dè xẻn đối với chúng tôi lại hấp dẫn như lúc này; – các hoa mào gà đỏ ngoài đồng cỏ quanh chỗ chúng tôi đóng, các con côn trùng êm ả đậu trên các lá cỏ, các buổi tối nóng nực trong các căn phòng tôi tối mát mẻ, các bóng cày đen huyền bí buổi hoàng hôn, các tinh tú cùng các giòng nước chảy trào, các giấc mơ và giấc ngủ dài – Ôi sống, sống, sống!

Hè 1918 – Chưa bao giờ chúng tôi lại âm thầm đau khổ bằng là khi lại lên đường ra mặt trận. Những tin đồn đãi rùm beng ray rứt về một cuộc đình chiến và hòa bình lởn vởn trên không, chúng nằm trong lòng chúng tôi khiến sự trở lại mặt trận càng thêm đau khổ hơn bao giờ hết.

Hè 1918 – Chưa khi nào nếp sống ngoài chiến tuyến lại chua chát hơn lại đầy khủng khiếp hơn là trong những giờ pháo kích oanh tạc, khi các bộ mặt tái xanh nằm vùi xuống đất và các bàn tay níu chặt lại cái ý nghĩ: Đừng! Đừng! Đừng bâygiờ! Đừng bây giờ vào cái phút chót này.

Hè 1918 – hơi thở hy vọng tràn ngập các cánh đồng xơ xác, sự bồn chồn nóng nảy đến điên người, bồn chồn thất vọng, bồn chồn sợ chết đến tê tái tâm can, cái câu hỏi cuồng loạn:

Tại sao? Tại sao họ không kết thúc cho rồi? Và tại sao các tin đồn đãi kết thúc kia lại cứ hay lẩn quẩn?

***

Ở đây đến lắm máy bay, và chúng tự tin đến mức còn bay săn từng thằng lính một, giống như thể săn thỏ. Vì cứ mỗi chiếc phi cơ Đức bay lên là ít nhất có năm chiếc Anh và Mỹ bay lại. Vì cứ mỗi thằng lính Đức đỏi khát, tiều tụy tiến lên thì lại có năm thằng lính địch xông lại, khoẻ mạnh dồi dào. Vì cứ một ổ bánh mì quản đội Đức lại có năm chục hộp thịt bò ở bên kia. Chúng tôi không phải đánh thua, vì là lính, chúng tôi dánh giỏi hơn, kinh nghiệm hơn; chúng tôi bị đánh tan, bị đẩy lui trước quân số đông hơn thập bội. Sau chúng tôi là những tuần mưa gió trời xám, đất cháy xám, chết xám. Bước ra là mưa thấm đẫm áo trong áo ngoài; – và ngoài tiền tuyến lúc nào chúng tỏi cũng ướt đẫm. Chúng tôi không bao giờ lại được khô ráo. Những thẳng đi bốt cao buộc bao cát quanh miệng bốt để cho bùn rớt vào chậm lại. Súng ướt, binh phục ướt, cái gì cũng chảy cũng tan, đất là một đống bầy nhầy sũng nước, trơn bóng với những vũng vàng vàng và những giòng máu đỏ chảy quanh co trong đó nằm co ro những thằng đã chết với những thằng bị thương và những thẳng sống sót,

Giông tố quất xuống chúng tôi, giữa tiếng ầm ầm bỗn độn xám vàng mảnh đạn bay rào rào xen lẫn tiếng kêu như trẻ thơ của những thằng bị thương, và trong đêm tối cái sống tan tác rên rì rụng rơi trong im lặng.

Tay chung tôi là đất, thân xác chúng tôi là đất sét và mắt chúng tôi là vũng nước mưa. Chúng tôi không rõ phải chăng chúng tôi còn sống.

Rồi là hơi nóng chìm nặng vào các hốc bom của chúng tôi như một con sứa âm ẩm làm nghẹt thở và một ngày cuối hè, khi mang thức ăn đến, Kat đã gục ngã. Chỉ có bai thẳng chúng tôi. Tôi băng vết thương cho bác; hình như bác bị dập ống chân. Đạn thấu xương và Kat rên tuyệt vọng: «Mãi rồi cũng nhè ngay cái lúc cuối.

Tôi an ủi bác. «Ai biết được nó còn kéo đến bao lâu! Giờ thế là bác được thoát-»

Vết thương bắt đầu chảy máu xối xả. Tôi không thề bỏ Kat lại một mình đề đi tìm cáng. Dù sao, tôi có biết quanh đây có trạm cáng nào. Kat không năng lắm; nên tôi vác bác lên lưng đề đi đến trạm cứu cấp.

Hai lần chúng tôi phải nghỉ. Dọc đường bác đau buốt. Chúng tôi không nói gì nhiều. Tôi đã mở cổ áo tôi và thở ì ạch, mồ hôi đầm đìa vì vác nặng. Dù sao tôi cũng giục bác phải đi tới, vì chỗ này nguy biểm.

« Ta đi uữa chứ, Kat? »

« Phải đi, Paul. »

« Thế thì đi. »

Tôi đỡ bác lên, bác đứng trên một chân còn lành và tựa mình vào một gốc cây. Tôi nâng cái chân bi thương lên rất từ từ, đoạn bác nhảy một cải và tôi ôm lấy đầu gối của chiếc chân lành dưới cánh tay mình. Đi kbó hơn. Thỉnh thoảng một quả đạn rít qua. Tôi cố đi mau hết sức mình, vì máu ở vết thương của Kat chảy giòng trên đất. Chúng tôi không thể ần nấp tránh các bom đạn; trước khi đến chỗ ẩn thì nguy cơ cũng đã qua.

Chúng tôi nằm xuống một hố đạn nhỏ để nghỉ. Tôi mở bình nước cho Kat uống ít trà. Chúng tôi hút một điếu. « Thế nào, Kat, » tôi nói buồn rầu, « mãi rồi chúng mình cũng đến sắp xa nhau.»

Bác im lặng nhìn tôi.

«Nhớ khòng, Kat, bữa hai thẳng bắt trộm ngỗng? Và cái lần bác đưa tôi ra khỏi một hàng rào hỏa lực khi tôi còn là một thẳng tân binh non choẹt và bị thương lần đầu? Lúc đó tôi khóc dữ. Kat, thế mà đã gần ba năm rồi». Bác gật.

Cái đau khổ phải cô đơn lại dâng lên trong tôi. Kat mà đi khỏi là tôi chẳng còn một thẳng bạn nào.

«Kat, dù sao chúng mình phải còn gặp lại nhau, nếu hoà bình đến, trước khi bác trở lại. »

«Liệu chú mày có cho tao sẽ lại được đánh dấu A1 với cái cẳng này không? » bác hỏi chua chát.

«Được tĩnh dưỡng rồi nó lành. Gân cốt không sao. Không chừng khập khiễng chút đỉnh. »

«Cho tao thêm điếu thuốc, » bác nói.

«Không chừng sau này chúng mình cùng làm gì với nhau, Kat? » Tôi khổ tâm hết sức, không thể nào mà Kat, – Kat bạn tôi, Kat với đôi vai khom khom và bộ râu mép lưa thưa, Kat, mà tôi biết hơn là biết bất cứ ai khác, Kat mà cùng tôi chia sẻ mọi nỗi suốt mấy năm nay – không thề nào mà không chừng tôi sẽ không bao giờ còn gặp lại Kat.

«Dù sao cũng nhớ cho tôi địa chỉ nhà nghe, Kat. Và đây là địa chỉ tôi, để tôi ghi cho»

Tôi viết địa chỉ bác vào sổ tay. Mới giờ mà tôi đã cảm thấy bơ vơ trơ trọi biết bao, mặc dầu bác vẫn còn ngồi bên tôi. Phải chi mình tự bắn mình vào chân để được cùng đi với bác?

Bỗng Kat khò khè và mặt tái hẳn. «Ta đi thôi, » bác lắp bắp.

Tôi nhảy lại, nóng lòng giúp bác, lai vác bác lên lại cổ chay và rồi bước đều đều chầm chậm, đề khỏi xóc chân bác quá nhiều. Họng tôi rát bỏng; mọi cái nhảy múa đỏ đen trước mắt tôi, tôi cố lảo đảo bước trông đến thiều não và mãi rồi cũng đến trạm cứu cấp.

Vừa đến tôi ngã quị, nhưng còn đủ sức ngã xiên về bên chân lành của Kat. Vài phút sau tỏi lại đứng lên. Chân tay run lầy bẩy. Tôi lần mài mới lấy được bình nước tu một hơi. Moi tôi run ray cố tu. Nhưng tôi mỉm cười – Kat được cứu thoát. Một lúc sau tòi mới dần dần nhận ra các giọng nói hỗn độn bên tai mình.

« Rõ anh phi sức rồi, » một anh y tá nói.

Tôi nhìn anh bàng hoàng.

Anh ta trỏ Kat. «Hắn chết cứng rồi. »

Tôi không hiểu. «Chỉ có trúng ống chân mà,» tôi nói.

Anh ta vẫn đứng yên. «Cả đây nữa. »

Tôi quay lại. Mắt tôi còn mờ, mồ hôi tôi lại toát, nó chảy trên mí tôi. Tôi đưa tay quẹt và nhìn chăm chăm vào Kat. Bác nằm bất động. «ngất, » tôi thốt.

Anh y tá huýt sẽ. «Tôi biết chứ. Hắn chết rồi. Các tiền không nào.»

Tôi lắc đầu: «Không thể thế được. Mới mười phút trước đây tôi trò chuyện với bác ấy mà. Bác ấy ngất đó thôi. »

Tay Kat còn ấm. Tôi luồn tay dưới vai bác để xoa màng tang bác với chút nước trà. Tôi cảm thấy các ngón tay tôi ươn ướt. Khi rút tay ra khỏi sau đầu bác, thấy tay dính máu. «Thấy chưa.» Anh y tá huýt một lần nữa qua hai hàm răng. Dọc đường tôi khòng dè Kat đã bị một mảnh miễng găm vào đầu. Một cái lỗ nhỏ, phải là một mảnh miễng rất nhỏ chạy lạc. Nhưng thế cũng đủ. Kat chết rồi.

Tôi chầm chậm đứng lên.

«Anh lấy sổ lương và các đồ vật của bác ấy đi chứ? anh cai hỏi tôi. Tôi gật và anh ta trao cho tôi.

Anh y tá chưng hửng. «Các anh không họ hàng chứ? »

Không, chúng tôi không họ hàng. Không, chúng tôi không họ hàng. Phải chăng tôi bước? Phải chẳng tôi còn đôi chân? Tôi ngước mắt, tôi để chúng chạy quanh và tôi quay lại với chúng, một vòng, một vòng, và tôi đứng giữa. Mọi vật đều như thường. Chỉ có anh lính Stanislans Katczinsky đã chết. Rồi tôi không biết gì nữa.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment