Một thời để yêu & Một thời để chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Post by Sơn râu 19 May 2026

Suốt đêm, tiếng súng thêm mạnh mẽ ở phía chân trời. Trời đỏ ối, lửa sáng, bom đạn nổ đã trông thấy rõ hơn. Đội quân đã rời mặt trận được mười ngày, bây giờ đang lúc nghỉ ngơi. Nhưng quân Nga vẫn tiến. Mỗi ngày phòng tuyến lại đổi khác. Không còn ranh giới hỏa lực nhất định. Quân Nga tấn công. Họ tấn công từ mấy tháng nay và đội quân cũng rút lui từ mấy tháng nay. Graber tỉnh giấc. Y lắng tai nghe tiếng súng xa xa một lát rồi ráng ngủ lại. Nhưng không ngủ được, y trở dậy, mang giầy và bước ra ngoài. Đêm nay sáng nhưng không lạnh. Tiếng súng nổ hình như ở một khu rừng đứng ngăn như bức tường dầy đặc ở phía tay mặt. Trái sáng tạo ra những hình khum khum trong suốt trong suốt trên nền trời đen, xa xa, ở hậu phương, tia đèn rọi quệt từng vệt sáng.

Y dừng lại, ngửng đầu lên. Trời không trăng, cao vằng vặc lấp lánh trong đêm trường. Graber không trông thấy sao, y chỉ nhận thấy trời rất thuận lợi cho hoạt động không kích.

Có người đứng sau cất tiếng nói :

– Trời này mà nghỉ phép thì tuyệt!

Người ấy là Immermann đang giờ gác. Đơn vị không hoạt động, nhưng ở hậu phương này nhiều quân du kích cho nên phải đặt lính canh xung quanh đồn. Immermann bảo Graber :

– Mầy dậy sớm quá, còn một giờ rưỡi nữa mới đến phiên mày. Trở vào ngủ đi, tao sẽ gọi. Tuổi trẻ như mầy dễ ngủ mà. Năm nay bao nhiêu tuổi rồi? Hăm ba chưa?

– Hăm ba.

– Sao không đi ngủ.

– Ngủ không được.

– Mày nóng ruột về nghỉ phép chứ gì. Chà! Nghỉ phép! Khoái quá ta!

– Nhưng tao vẫn ở đây. Rồi sẽ thấy, đến lúc cuối cùng lại hủy bỏ hết nghỉ phép cho mà coi. Tao đã bị ba lần như thế rôi.

– Rất có thể. Đáng ra phải được nghỉ từ bao lâu rồi?

– Sáu tháng. Lần nào cũng bị hủy bỏ. Lần cuối cùng thì bị một vết thương nhẹ không đáng cho thuyên chuyển về hậu phương.

– Không may. Nhưng ít ra người ta cũng kể đến lượt mày, còn tao thì không bao giờ đến lượt! Tao bị tình nghi chính trị. Người ta để cho tao vừa đủ may mắn để chết làm anh hùng mặt trận.

Graber lo ngại nhìn quanh mình. Immermann cười:

– Mày sợ tai mắt của Bá Linh à? Đừng lo! Steinbrener cũng ngủ như người khác rồi.

– Không, tao không sợ.

Graber bực tức mà trả lời như vậy, nhưng thực ra y sợ.

Y đã qua nhiều phút xao xuyến như vậy, thỉnh thoảng lòng người tự dưng xao xuyến không có duyên cớ rõ rệt. Trong một thế giới hỗn loạn, đã từ bao lâu con người không thấy còn gì đáng tin cậy nữa thì lòng người trắc ẩn cũng không có gì là lạ.

Graber đứng dậy. Tại sao y lại ra đây? Y ra ngoài không phải để tán chuyện, mà để được yên thân một mình. Giá mình được nghỉ phép thì hay biết mấy! Rồi y chỉ nghĩ đến sự nghỉ phép. Y muốn sống biệt tích một nơi ở xa chiến địa trong vài tuần lễ, để được yên ổn mà suy nghĩ về cuộc đời mình, thế thôi.

– Đã đến giờ đổi phiên gác rồi. Tao trở vào lấy đồ đạc và gọi Saure.

***

Tiếng súng đạn vẫn vang lên trong đêm trường. Tiếng nổ và tia sáng làm rung động chân trời. Graber nhìn ra vùng khói lửa xa xa. Mùa thu năm 1941, Quốc trưởng tuyên bố là quân Nga đã bị đánh bại hẳn, bề ngoài thì có vẻ đúng. Mùa thu năm 1942, ông nhắc lại lời chiến thắng, lại một lần nữa, mọi việc đều có vẻ chứng thực lời nói của ông. Bây giờ mới bắt đầu xảy ra vụ Mạc Tư Khoa và Stalingrad khó hiểu. Mọi việc đều không trôi chảy nữa, đã có bàn tay quỷ nhúng vào đây! Một ngày kia quân Nga lại dùng trọng pháo. Một tiếng súng vang trời che lấp cả tiếng nói của Quốc trưởng, rồi từ đấy tiếng súng không ngừng. Quân Đức bắt đầu thoái lui, hàng ngũ xáo trộn. Không ai hiểu gì cả, hết lời đồn đại nọ đến lời đồn đại kia, hình như cả từng sư đoàn bị bao vây và cầm tù. Rồi chẳng bao lâu ai cũng biết rằng cuộc tiến quân biến thành sự tan rã. Bên Phi châu cũng vậy, giữa lúc trông thấy kinh đô Ai Cập thì hàng ngũ rối loạn và thoái lui. Graber đi vào con đường mòn chạy quanh làng. Dưới ánh sáng sao, mắt nhìn không đích. Ánh sao phản chiếu xuống tuyết làm cho mắt người ước lượng sai hết. Nom nhà cửa như xa hơn và khu rừng như gần hơn. Bầu không khí nặng nề, nguy hiểm và quái dị.

Mùa hè năm 1940 tại nước Pháp là cuộc tiến quân vào thành phố Ba Lê, chiến xa hét vang xông vào thành phố không người. Dọc đường ngổn ngang dân cư tị nạn và từng đám tàn quân. Trời trong tháng sáu, đồng ruộng rừng rú, cuộc tiến quân qua những làng mạc không dấu vết tàn phá, rồi đến thành phố sáng trưng ánh đèn, hàng quán, nhà cửa bỏ trống không có một tiếng súng chống cự. Tiến quân dễ dàng như vậy y có cần suy nghĩ gì không? Y có một chút nghi ngờ nào không? Không, tất cả đều thuận lợi cho quân Đức. Y cũng không nghĩ đến sự mâu thuẫn sau đây: chả nhẽ địch lại không sửa soạn khi chấp nhận cuộc chiến để đến nổi chóng thua như vậy?

Rồi đến lượt Phi châu, qua những giai đoạn tiến quân, chiến xa rầm rộ trong những đêm oi bức, y có kịp suy nghĩ gì không? Không. Đến lúc bắt đầu lui binh y cũng không kịp suy nghĩ. Nước Đức còn xa, còn cách Phi châu, biển và nước Pháp địch không thể làm gì được, vả chăng một vài cây số sa mạc hẻo lánh này thì có làm gì, để cho địch chiếm cũng không sao.

Nhưng giờ của nước Nga đã điểm. Đến lượt Đức thua chạy, bây giờ thì biển cũng không che chở được Đức nữa; tất cả quân đội đều kéo về.

Bây giờ Graber mới sáng mắt ra cũng như người khác. Bây giờ thì ai cũng có thể nghĩ đến sự thảm bại được. Trong khi đang thắng hết trận nọ đến trận kia thì cái gì cũng thuận lợi để người ta tin tưởng ở sự đắc thắng. Đành rằng cũng có những điểm đen tối giữa bức tranh vàng son nhưng người ta không cần để ý tới, người ta cho rằng cứu cánh đã huy hoàng thì dầu phương tiện có khi kém cỏi cũng không đáng kể. Nhưng nói cho cùng thì đâu là cứu cánh? Phải chăng bao giờ cứu cánh cũng có hai mặt, mà một mặt đẫm máu, vô nhân đạo? Không biết sao y lại không nghĩ đến mặt trái vô nhân đạo ấy? Hay là đã hơn một lần y bị nao núng bởi ngờ vực và chán nản?

Graber thấy Sauer ho, y đi vòng qua một dãy nhà đã đổ nát để tìm bạn, Sauer đưa tay chỉ phía Bắc. Một đám cháy lớn đỏ rực chân trời. Có tiếng nổ, từng ngọn lửa vọt lên trời.

– Quân Nga chắc?

Sauer lắc đầu:

– Không phải. Công binh của ta. Họ phá các chiến lũy.

– Như thế nghĩa là vẫn tiếp tục rút lui.

– Chắc thế.

Sauer vẫn nhìn những ngọn lửa lan rộng trong đêm:

– Nhiều khi mình cứ nghĩ đến những sứ phá hoại xảy ra cho nước Nga, mình cũng thấy rùng mình. Nếu quân Nga vào được nước Đức, họ sẽ trả thù mình thế nào? Mày có nghĩ đến điều ấy không?

– Không.

– Tao thì tao nghĩ đến. Tao có nhà đất ở Đông Phổ. Tao còn nhớ năm 1914 đã chạy giặc Nga. Bấy giờ tao mới có mười tuổi. Nếu quân ta cứ lùi mãi về biên giới thì đành phải ký hòa ước.

– Sao vậy?

– Để địch không tràn sang phá nhà mình như mình đã phá nhà họ.

– Nhưng ngộ họ không muốn giải hòa thì sao?

– Họ là ai vậy?

– Quân Nga chứ còn ai nữa.

Sauer hoảng sợ nhìn Graber.

– Họ phải nhận giải hòa chứ. Hết chiến tranh chúng ta sẽ thoát nạn.

– Họ chỉ chấp thuận nếu chúng ta đầu hàng vô điều kiện. Họ sẽ chiếm cả nước Đức. Nhà đất của mày cũng không còn. Hẳn mày không muốn mất nhà.

Sauer ra vẻ ngờ vực:

– Hẳn rồi. Nhưng nếu giải hòa rồi thì họ không thể làm gì được mình, họ không có quyền tàn phá nữa.

Bất thần y nheo mắt lại. Nom y rõ ra người dân quê :

– Thế thì quê tao không bị tàn phá. Kẻ khác bị tàn phá chứ mình khỏi! Nói thật cho mày biết: như vậy là chúng ta vẫn thắng trận, mặc dù ta thua.

Graber không trả lời. Y nghĩ: “Tại sao ta lại còn đi nói chuyện với họ! Lời nói bây giờ chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Đã nhiều năm nay trong nước Đức người ta không biết bao nhiêu là lời. Bây giờ có còn lại gì không? Bây giờ còn nói nữa, chỉ có hại chứ không có lợi gì cả. Tương lai kia cứ yên lặng mà sừng sững đi tới, tương lai như cái bóng mờ mịt đe dọa, ở ngoài tầm ngôn ngữ của loài người”.

Sauer nhìn bốn nấm mồ người Nga bị xử bắn:

– Những người này ít ra họ cũng có quyền được một cái huyệt chôn.

– Thì họ đã tự đào hố chôn của họ đó.

Sauer nhổ nước miếng:

– Nói cho cùng tao cũng không hiểu được mấy người khốn nạn này, chúng ta xâm lăng nước của họ…

Graber nhìn Sauer. Ban đêm người ta có những ý nghĩ mà lúc ban ngày người ta không nghĩ đến. Tuy nhiên Sauer là một tên lính già không bận tâm đến vấn đề tình cảm. Graber hỏi:

– Sao mày lại nói thế? Vì chúng ta rút lui à?

– Dĩ nhiên, vì chúng ta rút lui, mày thử tưởng tượng ra xem, nếu họ đến nước ta họ cũng tàn phá như ta đã tàn phá nước họ.

Ciraber lặng yên một lát. Y tự nghĩ: “Mình cũng không hơn gì hắn. Mình cũng vẫn ráng sức không nghĩ đến những điều ấy”. Y nói:

– Lạ thật! Người ta chỉ nghĩ đến cảnh ngộ người khác khi nào người ta bị ngập tới cổ. Những lúc chơn lông đỏ da nào ai nghĩ đến!

– Dĩ nhiên! Ai mà nghĩ đến.

– Ừ! Nhưng cái đó không vinh dự gì cho ta cả.

– Chiến tranh thì còn ai nghĩ đến danh dự.

Sauer nhìn Graber vừa ngạc nhiên vừa bực tức và nói:

– Tụi học thức chúng mày, chúng mày nghĩ ra đủ mọi chuyện. Dù sao thì cũng không phải tụi mình quyết định chiến tranh. Tụi mình chỉ thi hành bổn phận. Mệnh lệnh là mệnh lệnh, ai dám trái?

– Phải rồi! – Graber uể oải trả lời.  

Cuối năm trên biển Bắc

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 19 May 2026

Google image

 Người xưa có nói: “Miếng ăn là miếng tồi tàn, mất ăn một miếng lộn gan lên đầu.”. Trước kia tôi cũng nghĩ vậy, nên có thành kiến với những người hay có tánh xấu trong bữa ăn hoặc mỗi khi ăn hay đòi thêm này thêm nọ. Nhứt là những năm sau này, thủy thủ đến từ nhiều nước, có khi trên tàu chỉ có hơn chục người mà tới năm, sáu quốc tịch khác nhau. Đi chung chuyến tàu của Hoà Lan, dĩ nhiên phải ăn uống theo thực đơn của Hoà Lan. Theo luật trên tàu thì đầu bếp nấu món nào thì thủy thủ đoàn phải ăn món đó, hổng được ọ ẹ phàn nàn, nhưng nếu đầu bếp không sáng tạo và chỉ nấu hoài một loại thức ăn thì sẽ làm nhiều người ăn hổng được, thức ăn dư ra đổ bỏ uổng lắm. Nghĩ vậy nên tôi tìm học vài món ngon tiêu biểu của những vùng, miền nào mà nhiều người biết tiếng. Ban đầu tôi sợ lãng phí thức ăn nên cố công học hỏi những thực đơn cho nhiều người ăn được, cũng nhờ vậy tôi khám phá ra, ngoài chuyện ăn ngon miệng, món ăn có thể gây phiền phức cho người ham ăn, nhưng cũng có thể hoá giải được những xích mích và làm cho người với người gần gũi nhau hơn.

Không biết tôi có thói quen từ hồi nào, cứ mỗi năm vào tháng Mười Hai dương lịch là tôi thích nấu những món ăn đặc biệt của vùng miền nào mà tàu chúng tôi đang đi ngang. Tôi chọn món ăn sao cho hợp với thời tiết và khẩu vị của nhiều người. Hôm nay là trung tuần tháng Mười Hai, tàu tôi hiện hải hành vùng Bắc Đại Tây Dương, mùa này nơi đây trời lạnh lắm, nên tôi chọn nấu món súp khá thịnh hành của vùng Baltic. Tôi đang đứng xắc rau, củ để ra dĩa, chợt nghe sau lưng có tiếng hô với giọng vui mừng:

– Oh, borsch!

Tôi ngước lên thấy Liubomir đứng cạnh bên, nó xoa hai bàn tay vào nhau và hỏi:

– Ông cũng biết nấu soup borsch?

Tôi ngước nhìn nó cười, hất mặt ra vẻ kiêu hãnh và hỏi lại:

– Sao không?

– Món này đặc biệt của nước Nga.

Chuyện của con người, dù là người Á Châu hay người Âu Châu gì cũng vậy. Từ lãnh thổ, thiên nhiên, cây cối, lá hoa, con người cho tới thức ăn, thứ gì có vẻ đặc biệt, nổi tiếng mà ở cạnh bên thì dành cho là của mình. Như cái món rendang, người In Đô thì nói xuất xứ từ In Đô, người Mã Lai nói của Mã Lai rồi tranh cải om xòm trên báo. Món soup borsch cũng vậy. Tôi sắp phần củ dền tím vừa xắc xong để vô chiếc dĩa bầu dục cùng với những loại rau khác, trắng, xanh, cam, vàng, tím trông cũng bắt mắt. Tôi bưng dĩa rau lên, day qua đưa trước mặt Liubomir, cười nói:

– Đẹp hông?

– Oh, đẹp tuyệt.

Tôi nói:

 – Chẳng những tao biết nấu borsch mà tao còn biết lai lịch của borsch nữa. Mày người Nga thì nói borsch của Nga, nếu là người Ukraine thì nói borsch của Ukraine. Tao là người Việt Nam thì tao nói Borsch là một món súp rau, củ bắt nguồn từ các bộ lạc xa xưa nằm về miền bắc Phần Lan và Nga. Nhưng ngày nay borsch rất thịnh hành trong vùng Baltic, nhứt là trong các nước lân cận Đông Bắc Âu Châu.

Liubomir gật gật đầu, nói:

– Ông nói đúng.

Nó lân la đứng lại khoe cái kiến thức nấu ăn của nó:

– Có những nơi thích nước súp loãng, trong và màu tím lợt, có những nơi thích nước súp màu tím đậm đặc hơn. Nhưng quan trọng là nước dùng.

Trước khi tiếp câu chuyện, tôi xin kể lại cái nguyên nhân tôi quen với Liubomir. Cách đây cũng hơn hai năm rồi, lần đầu tôi đi chung với nó trên chiếc Tina. Trưa hôm đó tôi làm món khoai tây chiên bột có tên là derung. Mọi người ăn xong và ra khỏi phòng ăn hết rồi, nó vô trễ nhưng tôi cũng có chừa phần cho nó, tôi sắp khoai thịt và rau vô dĩa đưa ra. Nó lấy dĩa thức ăn để lên bàn mà chưa chịu ăn, hổng biết mắc chứng gì mà mặt mày nó nhăn nhó giống như giẻ rách, nó nhào vô bếp lục tủ lạnh. Thấy chướng mắt, tôi hỏi:

– Mày tìm cái gì?

Nó day qua hỏi:

– Ông có kem chua hông?

– Hông.

– Sao ông hổng đặt.

Tôi bực mình chỉ tay ra cửa, ý kêu nó đi ra ngoài:

– Hổng có là hổng có, mày ra ăn với mayonaise, hổng ăn thì thôi.

Với giọng kẻ bề trên, nó nói:

– Tui cũng là đầu bếp, tui có nhà hàng, nếu có gì hổng biết thì ông hỏi, tui dạy cho.

Bình thường chắc tôi cho qua, nhưng nó dùng câu “I teach you.” làm tôi hơi khó chịu. Tôi hất mặt hỏi lại:

– Dạy cái gì?

– Thì… nấu…

Tôi đổi sắc mặt, nhìn nó cười khẩy và nói:

– Oh. Tưởng chuyện chế thuốc độc hoặc bom hạt nhân, bom nguyên tử, xe tăng, súng, đạn… những thứ giết chết người của nước Nga mày thì tao hổng biết, chớ còn thực đơn để nuôi sống con người thì nước Nga của mày có con c. gì mà dạy tao.

Có lẽ thấy mặt mày và giọng nói khó chịu của tôi nên nó ngán, nó hầm hầm cái bản mặt thịt và miệng sịt một cái rồi bỏ ra bàn ăn.

Trước buổi ăn chiều hôm đó, thuyền trưởng người Hoà Lan, xuống hỏi tôi:

– Ông nói gì mà thuyền phó nói ông châm biếm nó vậy?

Có chút chuyện mà nó cũng lên mét thuyền trưởng. Tôi biết thuyền trưởng người Hoà Lan cũng không ưa gì người Nga. Nhưng tôi hổng có tánh a dua, dựa vào đó mà nói xấu thuyền phó. Nhưng nó đã mét với thuyền trưởng rồi thì tôi cũng phải phân trần cho ông rõ. Tôi nói:

– Thiệt ra vì tánh cao ngạo của thuyền phó, cũng như cách sống của nhiều người Nga khác, tự nó đã là châm biếm rồi. Tui chỉ nói sự thật cho nó biết thôi.

– Nhưng chuyện gì?

Tôi kể với thuyền trưởng chuyện xảy ra hồi sáng xong và tôi nói:

– Có món Hamburger mà Nga cũng làm hổng được, dân Nga phải chờ gần một thế kỷ mới được ăn. Vậy mà nó đòi dạy tui nấu ăn.

– Thiệt hả?

– Thiệt, ngày đầu McDonald’s khai trương ở St. Petersburg dân Nga đứng sắp hàng dài cả cây số chờ mua ăn.

Thuyền trưởng cười ha hả rồi bỏ đi. Ông lên nói gì với nó hổng biết mà sáng hôm sau nó xuống mặt mày vui vẻ đứng trước phòng bếp ló đầu vô, nói:

– Ông là người Hoà Lan.

Tôi đáp:

– Không, tao là người Việt.

– Tui tưởng ông người In Đô.

– In Đô thì đã sao?

Nó đưa ngón tay lên giữa miệng làm giấu bí mật và nói.

– Người In Đô ngu lắm, bếp In Đô nấu ăn hổng được.

Trơ trẽn như vậy là cùng, tôi có hơi khó chịu, nhưng muốn lên lớp cho nó biết chút ít về chuyện làm người, nên tôi dịu giọng, nói:

– Mày lầm rồi, mầy đừng tưởng là mầy thuyền phó và người Nga là thông minh. Thật tình thì bếp In Đô nào cũng có bằng cấp nấu ăn hết, tại mày hổng quen ăn thức ăn In Đô thôi, còn thủy thủ In Đô nhiều người có bằng đại học, nhưng vì ở bên nước nó hổng có việc làm thích hợp và lương bổng hổng bao nhiêu nên mới qua đây làm thủy thủ.

Hình như nó dè dặt trước những gì tôi nói, nên nó mới đổi sang chuyện khác:

– Ông viết sách hả?

– Hobby của tao. Có vấn đề sao?

– Ông viết về chuyện gì?

– Thì chuyện của tao với mày đương nói nè. – Oh. Có lẽ nó ngại trò chuyện với một tên già dặn và có tánh móc lò như tôi nên nó chào tôi và bỏ đi ra ngoài. Đúng là tư cách của người Cộng Sản, trước khi muốn cư sử với người nào phải tra lý lịch người đó. Nhưng đỡ cái là từ đó trở đi, thái độ hống hách tự cao tự đại của nó không còn và hổng dám léo hánh vô bếp hỏi này hỏi nọ nữa.

Sau chuyến đó, cũng hơn hai năm rồi, tôi không gặp lại nó. Chuyến này gặp lại tôi, nó bắt tay mừng rỡ, làm như là bạn bè thân nhau lâu lắm vậy. Nó khoe với tôi, nó đi du lịch Việt Nam mới về, đi tour và có ăn phở. Tôi nói:

– Phở là món rẻ tiền, bộ tụi Nga mày hổng có tiền ăn món nào đắt giá hơn sao mà thằng nào đi du lịch qua đó trở về tao cũng nghe ăn chỉ có phở.

Nó cười hì hì:

– Phở ngon mà.

Kỳ này trên tàu thuyền trưởng và phụ máy là người Ukraine, chỉ có phụ thuyền phó là người Hoà Lan và tôi người Hoà Lan gốc Việt.

Tôi trở lại câu chuyện. Day qua nói với Liubomir:

– Dĩ nhiên nước dùng là nền tảng của các loại súp, nhưng sự kết hợp củ dền tím, bắp cải trắng, cà rốt, cọng cần và khoai tây nấu chung với nước dùng xương bò làm cho súp ngọt và thanh, hương vị và màu sắc củ dền làm cho borsch có màu tím và mùi thơm đặc biệt.

– Người Nga và người Ukraine thường trang trí nguyên cọng thìa là, kem chua hoặc maiyones và ăn với loại bánh nướng bột gạo nhân thịt, tiếng Nga gọi là pirozhki.

– Nhưng trên tàu chỉ có maiyones và bánh mì thôi.

– Ờ, trời lạnh ăn Borsch rất ngon.

Tôi nói:

– Soup borscht nấu đặc thích hợp cho mùa lạnh, mùa nóng nấu loãng một chút, mùa nào ăn soup borsch cũng được và ăn nóng hay nguội gì cũng ngon. Nhưng theo tao biết thì cách ăn borsch cũng khá quan trọng.

– Oh, vậy sao?

Tôi cười dí dỏm:

– Theo truyền thống cổ xưa, ăn soup borscht với cái tô bằng đất nung và muỗng gỗ. Thực khách phải trần truồng, ngoài tấm khăn che phía dưới ra, đàn ông, đàn bà, con nít hổng bận áo, quần gì hết.

– Thiệt hả?

– Thiệt, mày hổng tin thì tìm hiểu lịch sử borsch biết liền.

– Nhưng borsch cũng là một trong những món ăn truyền thống Giáng Sinh của nước Nga.

– Ờ, đúng rồi. Theo lịch chính thống của nước Nga, lễ Giáng Sinh ở Nga vào ngày bảy tháng Giêng.

– Nhiều người Nga vào những ngày đầu tháng Giêng, trước Giáng sinh đã tổ chức ăn uống rồi. Nhưng hổng phải người Nga nào cũng tổ chức Giáng Sinh vào ngày đầu tháng Giêng.

– Vậy hả?

– Nhiều người tổ chức Giáng Sinh bắt đầu ngày hai mươi lăm tháng Mười Hai. Trong thời gian này, tất cả cây cối trồng những nơi công cộng cũng trang trí đèn màu, giống như cây thông Noel, đó cũng là biểu tượng cho năm mới.

– Vậy là nước Nga có hai ông Jêsu.

– Ha ha.

– Cười gì, hổng lẽ hai ngày sanh mà chỉ có một Jêsu? Nhưng…

– Gì?

Tôi cười, nói:

– Hai chúa Jêsu dùng một Thánh Kinh nên xã hội nước Nga lộn xộn thấy mẹ.

Liubomir lại cười ha hả:

– Vậy đạo Phật có mấy ông Phật?

Tôi hô:

– Oh, a lot of Budha’s! (vô số Phật).

– Vậy nước Việt Nam có lộn xộn hông?

– Có chớ, đạo Phật ở nước tao lộn xộn quá xá luôn.

– Ông đạo Phật mà.

– Cũng vì tao theo đạo Phật nên mới thấy nước Việt Nam tao nhiều Phật và lộn xộn giống như một đống phế thải. Mày đi khắp nước Việt Nam, nếu để ý thì thấy chỗ nào cũng có Phật và lủ khủ thầy chùa.

– Đúng rồi, tui tới Bình Định thấy tượng Phật trên núi lớn lắm.

– Tao biết, tượng Phật ở Bình Định lớn nhứt Đông Nam Á. Tuy đạo Phật nước tao có lộn xộn nhưng dù sao cũng đỡ hơn nước Nga mày.

– Sao vậy?

– Bên Nga có hai ông Jêsu mà chơi hổng lại ông Lenin, để ông ta biến nước Nga thành một quốc gia vô thần, hổng tôn giáo gì hết. Trong thế kỷ hai mươi, Người Nga hổng được mừng Giáng Sinh công khai, thời gian đó cũng có nhiều người Nga tự nhận mình là con cháu của bác Lenin, hổng thần, hổng Phật, hổng Chúa, hay Allah gì ráo. Chuyện tín ngưỡng bị dẹp qua, nhiều người cũng chẳng biết Giáng Sinh là gì, chỉ ăn mừng ngày Giáng Sinh của ông Lenin thôi.

– Nhưng bây giờ hết rồi.

– Từ ngày chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, người Nga mới được phục hồi tín ngưỡng, chủ yếu là tôn giáo chính thống của Nga. Cả nước Nga, nhứt là tần lớp trung lưu trở lên, nô nức ăn mừng Giáng Sinh, tiệc tùng rất long trọng. Cũng có một số người theo Kitô giáo chính thống, bắt chước những truyền thống Giáng sinh ở các nước Đông Âu. Ví dụ, biểu tượng khăn trải bàn màu trắng và rải cỏ khô lên mặt bàn để nhắc nhớ đêm chúa Giáng sinh nằm trong máng cỏ. Ngày hai mươi bốn tháng mười hai, họ chuẩn bị một bữa ăn hổng có thịt và cả gia đình ra sân ngồi ngước mặt lên trời, chờ cho tới khi nào thấy ngôi sao đầu tiên xuất hiện của trên bầu trời, lúc đó mới ôm nhau chúc mừng và sau đó mới vào bàn nhập tiệc.

– Ha ha… Ông nói chuyện mắc cười quá.

– Bộ hổng đúng sao?

– Đúng, nhưng làm gì có chuyện cả gia đình ra sân ngồi ngước mặt lên trời.

– Nếu hổng ra sân nhìn cho kỹ thì làm sao biết được ngôi sao nào mọc trước.

– Tui cũng hổng biết, nước Nga hổng có phong tục này, hình như đó là phong tục của Ukraine.

– Ô kê. Phong tục nước Ukraine. Tao có nghe nói đên Giáng Sinh những nhà thờ chính thống Nga hành lễ rất long trọng và Tổng thống Nga cũng tham dự lễ này trong nhà thờ lớn ở Moscow.

Nó ngước mặt hãnh diện:

– Dĩ nhiên, nhưng Svyatki và Christmastide của Nga, sau những lễ lạc tiệc tùng Giáng sinh người Nga vẫn còn ăn nhậu cho đến ngày mười chín tháng Giêng.

Như chợt nhớ ra nó nói luôn:

– À, vậy là hai ông Jêsu thắng rồi.

– Đúng đúng, chuyện này mày đúng, cái tốt luôn lúc nào cũng thắng cái xấu, nhưng…

– Gì nữa ông?

– Mất hết một thế kỷ, cũng hơi lâu.

Tôi tiếp luôn:

– Nhưng lâu còn hơn không?

Chúng tôi cùng nhau cười thành tiếng. Liubomir là thuyền phó, khi tàu hải hành, nó trực lái từ bốn giờ tới tám giờ sáng, nên nó ăn sáng trễ hơn thủy thủ đoàn.

Hổng muốn lôi thôi mất thì giờ nữa, tôi nói:

– Mày ra ăn đi.

Bây giờ Liubomir mới chợt nhớ ra là giờ ăn của nó:

– À, ông luộc cho tôi hai trứng được hông?

– Dĩ nhiên, mày muốn luộc chín hay nửa chín nửa sống?

– Ông luộc chín phân nửa được rồi:

– Ok, chờ tao năm phút.

Luộc trứng cho Ivan xong, tôi sắp xếp lại mọi thứ và bắt đầu nấu soup borsch.

Tới bữa ăn trưa, mọi người trầm trồ vui vẻ với cái món soup borsch tuyệt vời do tôi nấu. Liubomir kể với mọi người chuyện hồi sáng, cả bàn cười rộ lên. Rồi nó day qua tôi nói:

– Ông nghe đó, tui kêu mọi người trước khi ăn soup borsch phải cởi áo quần rồi lấy giấy lau miệng che phía dưới lại nhưng hổng ai chịu hết. Cả bàn cười rộ lên. Tui cũng cười theo và nói:

– Nhưng phải có muỗng gỗ và tô đất nung nữa mới được. Dĩa sành, muỗng i-nốc thì bận đồ ăn cũng ngon…

Bắc Đại Tây Dương 25 -11- 2018

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 19 May 2026

Đêm giao thừa. Lòng tôi rộn rã. Tôi cùng mấy thằng bạn đạp xe đi lòng vòng thành phố, nghe thiên hạ đốt pháo vui tai. Rồi kéo nhau ra bãi biển ngồi cười giỡn, tán đóc. Thằng Đăng đọc thơ.

Trời den như mực tối ba mươi

Em trốn nhà sang để gặp tôi

Hai dứa cùng ngồi trên đệm rạ.

Lắng nghe nồi bánh rộn ràng sôi

Dần dần em xít lại gần tôi

Nắm lấy tay tôi khẽ thở dài

Anh ạ, bao giờ thì bánh được?

Thưa anh, em lấy một chồng thôi!

Tôi hỏi: “Thơ của ai mà dễ thương vậy?”

Đăng nói: “Không biết.”

Bài thơ làm tôi nhớ Phương Nghi. Hơn nửa năm không nhìn thấy bóng dáng nó, vết thương gần thành sẹo. Đêm nay, cơ hồ lại rướm máu. Từ ngày chung đụng với chị Triều, tôi thường nghĩ về thân thể chị, nhòa dần hình bóng Phương Nghì. Chị Triều dến với tôi như cơn lốc cuồng điên dữ dội,

Phương Nghi là ngọn gió êm à dịu dàng. Đôi khi tôi cũng so sánh hơi hướm chị Triều với Phương Nghi. Cái mùi đàn bà nồng nàn thoảng chút nước hoa của chị, có sức thu hút mãnh liệt. Mùi con gái của Phương Nghi nhẹ nhâng goi cảm thương yêu. Tâm sự này, bạn tôi không hề biết. Những thằng quỷ sứ mà biết, tụi nó cười chết bỏ. Không phải tụi nó còn trẻ con. Tất cả đều biết thưong thức cái vẽ yêu kiều của loài động vật mà người ta gọi là phái yếu. Chúng tôi thường rủ nhau đi ngắm con gái tan trường. Nhưng trước sau, chắng thằng nào quen được con nhỏ nào. Bọn con gái thấy những cái mặt mốc và cáp mất hau háu của chúng tội, nó lãng xa như tránh hủi.

Có thằng nói, tao mà chinh phục được con nào. sẽ cho nó biết tay. Thằng khác hỏi, biết tay thế nào? Trả lời, tao sẽ phá tan nát đời hoa của nó, rồi bỏ rơi để trả thủ cái tội làm kiêu. Ngoài mặt tôi cũng tán đồng, nhưng thâm tâm nghĩ khác. Nếu gặp người như Phưng Nghi thì cớ gì thù hận? Dẫu có muốn trả thù, chắc gì nó dã chịu? Có thể mình chưa kịp làm khổ nó, dã bị nó làm khổ mình rồi. Chia tay với tụi bạn, tôi về lúc hai giờ khuya. Rón rén thò tay vào phía trong rút chốt cửa. Tôi chưa mở, cánh cửa bật mở. Bà Ba đứng đấy như đã chờ sẵn.

“Con nên di luôn. Bà không muốn chứa con nữa.”

Bà nói rất nhỏ, bao giờ cũng thế. Kẻ tu hành đã dập tắt ngọn lửa tham sân si. Dầu có điều gì không ưng ý, bà cũng không tỏ thái độ nổi giận. Tôi biết bà đã quyết định, năn nỉ vô ích. Tôi nói: “Vâng. Con di ngay, nhưng còn đồ đạc xin cho sau Tết con đến lấy.”

“Con dọn luôn đi. Đầu năm mới đừng bước chân vào nhà bà xui xẻo.”

“Bà quyết định đột ngột. Đêm giao thừa, con biết gởi đồ cho ai?”

“Gởi ai tùy con, nhưng không được gởi nhà bà.”

Tôi thu dọn mấy bộ quần áo, sách vỡ vào hai thùng carton. Chất cả lên xe đạp. Trước khi đi, tôi nói; “Con cảm ơn bà cho con ở đậu thời gian qua. Chúc bà năm mới sức khỏe và may mắn.”

Bà lạnh lùng: “Được rồi.” Và thản nhiên đóng cửa. Tôi đạp xc về nhà bác Huế. Trong cơn cùng quẩn, còn biết cậy nhờ ai nữa? Bác Huế thương tôi. Và tôi cũng tự coi đây là điểm thối lui mỗi lần hoạn nạn. Có lần bác nói, bác biết tính con không chịu đuợc sự kềm thúc của ai cả. Con ở mô thì ở, nhưng phải gắng học. Chừng nào bí lối thì quay về đây. Đừng lây lất bên ngoài, làm bác mất công lo lắng. Tôi cảm động, ôm vai bác trìu mến như mẹ ruột của mình. Nhà bác Huế đã tắt đèn, Đêm khuya im lặng. Tôi để hai thùng đồ ngoài cửa sau, kèm theo lá thư. Đại ý nói, bà Ba đuổi đi trong đêm Giao Thừa. Gởi tạm đồ đạc ở đây. Tôi lên bến xe Nguyễn Hoàng, ngồi dựa cột đèn chờ sảng. Gục đầu tủi thân, Năm giờ sáng ngày mồng một, tôi đáp xe đi Cam Ranh.

Thấy mặt tôi, chị Triều reo lên: “Trời ơi, tưởng em quên chị rồi chứ.”

Tôi cười. Nghĩ thầm, mình là thằng khốn nạn. Nếu không bị đuổi, thì Tết này mình đâu về thăm chị.

Chị quan sát: “Em sống thế nào, mà mặt xanh xao gầy rac?

Tôi làm bộ buồn buồn: “Em khổ lắm.”

Lại nghĩ thầm, mình là đứa vô liêm sỉ. Lúc nào cũng làm ra vẽ thống khổ gợi lòng thương cảm.

Chị mắng yêu: “Khổ hả? Đáng đời em! Ai bảo không nghe lời chị.”

Tôi vừa ngồi xuống, chị bảo: “Coi kia, ngày Tếl mà áo quần nhàu nát, tớc tai bờm xờm. Đi tắm ngay đi.”

Tôi tắm xong. Chị Triểu đưa ba cái phong bao màu đỏ: “Cầm lấy. Đi qua nhà ông Rạng tài xế. Chúc Tết vợ chồng ổng, lì xì cho ba đứa nhỏ. Luôn tiện, nói chị mời ông bà sang ăn cơm ngày mồng hai.”

“Sao chị không mời?”

“Em thiệt là ngáo. Chuyển lời của chị là để có chuyện mà nói. Chẳng lẽ chúc Tết xong, rồi ngồi trơ ra đó à?” Chị xuống giong. “Muốn có chứng minh cho mọi người biết sự có mặt của em ở dây, là vì tình chị em quang minh chính đại. Chứ không phải lén lén lút lút, để làm người ta nghĩ bậy.” Nói xong, chị gõ đầu tôi.

Tôi gật đầu mấy cái: “Em hiểu rồi.”

Chị Rạng đi vắng. Anh Rạng ở nhà với con. Tôi chúc Tết bằng những sáo ngữ quen thuộc mà người đời giả dối thường cho nhau. Những đứa con anh, nhận Iì xì mững rỡ.

Anh Rạng mời tôi ăn bánh, mứt, thèo lèo.

“Dạo này, mày làm gì?”

“Đì học.”

“Trông mày ốm nhách, giống thằng hút á phiện đói cơm.”

“Chắc do thức đêm. Bài vỡ nhiều quá, học không xuể.”

Lại nói láo. Từ lúc chen chân vào xã hội, tôi hay nói láo như một cần thiết trong giao tế.

Anh Rạng nói: “Hoàn cảnh khó khăn. Học làm đéo gì cho khổ. Mây về đây, tao xin mày làm phụ xế cho tao.”

“Chuyện này quan trọng. Anh dể tôi nghĩ lại.”

Nếu không phụ xế thì làm việc khác. Con Triều rất tốt, Nó biết thương người. Thay hòan cảnh của mày. nó muốn giúp. Tao nói thật, nhiều thằng có máu mặt mê nó. Nó nhờ vã một tiếng là xong ngay.”

Tôi giả vờ ái ngại: “Vì tôi, mà chị Triều phải luồn cúi người ta. Phiền lắm.”

Phiền chi Những thằng mê lồn, chỉ mong được con Triều nhờ vã.”

Anh Rạng vẫn thuờng ăn nói mạnh bạo như thế. Tôi ngượng. Những thằng có máu mặt thì mê, tôi tái mặt cũng mệ. Hóa ra, tất cả cùng mê một thứ,

Chị Triều rất thương con, Dạy nó gọi tôi bằng cậu. Tôi cũng thương nó, gọi bằng em, xưng anh, Chị Triều không chịu lối xưng hô này. Chị nói, gọi thế là tréo cẳng ngỗng. Đêm nằm thủ thì, tôi gối đầu lên tay chị Triều như nép mình dưới sự hao dung che chở của chị. Cánh tay như loài bạch tuộc cuốn hút tôi vào nỗi đam mĉ. Tôi kể về đời sống, và ăn uống kham khổ. Không nhắc chi đến những thằng bạn quỷ sứ đã cùng tôi rong chơi lêu bêu ngoài phố, do đó, bị bà Ba đuổi ra khỏi nhà, Chi Triều xót cho tôi. Chị trách kè tu hành nhẫn tâm xố tội vào thế khó. Bà Ba bi trách oan. Nếu tôi lên tiếng bào chữa, là lự nhận mình có lỗi. Tôi ngu, nhưng không ngu đến mức làm giảm lòng thương xót của chị Triều.

Chị nói: “Chị sẽ trở lại Sài Gòn. Nếu cm đi cùng, chị sẽ nuôi cm ăn học.”

Tôi nằm nín thinh.

Chị so sánh: “Năm nay em vừa mười chín, chị đã ba mươi tuổi rồi. Chị già lắm phải không?”

Tôi ôm chị, không trả lời. Xác nhận một sự thực, sẽ đau lòng. Chị chưa già, nhưng chênh lệch với tôi. Tôi mê chị Triều, không muốn nghĩ điều gì xa hơn. Chị tâm sự, quê ở Biên Hòa, học trường Gia Long, Sài Gòn. Chị sa ngã vì mội người đàn ông và bỏ học. Mối tình sớm tan, khi biết người ấy có vợ. Mọi chuyên đã lở, chị không thể quay về. Từ đó, chị sang qua tay nhiều đàn ông. Thằng Muôn, con chị là kết quả những ngày đi hoang. Chị Trieu nói như than thở với chính mình: “Chị hư quá, cm ơi. Đời chị gặp ai cũng là vụng trôm. Với em, chị cũng vụng trộm.”

Tôi nghe tiếng nấc của chị. Thương cuộc đời chị. Chị Triều đẹp. Chính vì nhan sắc quyến rũ mà ong bướm dập dìu làm chị nổi trôi.

Chị hỏi: “Em nghĩ sao về chị!”

Tôi nói: “Em thương chị. Chị nhớ câu thơ này không?

Lạ gì bì sắc tư phong.

Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.”

Chị bảo: “Chị ở vào giai đoạn nàng Kiều gặp Thúc Sinh.”

“Giai đoạn nào chị gặp em?”

“Ông Nguyễn Du không viết hậu truyện Kiều. Chị em mình tự viết.”

Tôi cảm dộng, rúc đầu vào nách chị. Đêm đó, khi chị Triều vào giấc ngủ, tôi trở dậy chong đèn, Viết bài thơ không niêm luật vần điệu, tặng chị.

chị đâu phải Kiều nương

mà nói chuyện giang hồ lưu lạc?

mười năm bỏ trường đi

đời xô giạt

gót son đà lấm bụi

mười năm

nhan sắc trêu ngươi phường kẻ chợ

chị đâu phải tiểu thư lầu son khuê các

mà gieo cầu chọn ý trung nhân

chị đâu phải cành vàng lá ngợc

còn niêm phong kín cổng cao tường

chuyện trăng gió mù sương lả tả

bông hoa xưa chị lụy vì tình

em phất phơ đi giữa cõi người

túi rỗng không đời cũng nhẹ tênh

cánh hạc buồn muốn tếch lên mây

mà cơm áo giữ chân người ở lại

buổi gặp chị đầu tiên em choáng váng

chuyện tình cờ mà khốn đốn trăm năm

ai chiếu hoa trải đường chị đi?

ai lót tay nhung gấm lụa là?

em chỉ có bài thơ

rút ra từ xương tủy

cuộc trẩm luận mấy ai ngờ được

chốn bồng lai xa quá là xa

chị và em dắt tay vào địa ngục.

Sáng ra, tôi trao chị bài thơ. Đọc lần đầu, chị rơm rớm nước mắt. Lần thứ hai, chị khóc thực sự. Tôi không biết nói lời gì an ủi. Chị ngồi rũ, trông như canh hoa huệ lã xuống một chiều xuân.

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 19 May 2026

Những cuộc hôn nhân không dựa trên yếu tố hiểu biết, tình yêu và có sự kết hợp của gia đình hai bên, đều là những việc mua bán người như chuyện mua tì thiếp, nàng hầu ngày xưa và chuyện mua vợ ngày nay. Vào mùa hè năm nay, tại Trung Cộng, trên nhiều trang “net”, chuyện mua vợ Việt Nam lại được đem ra bàn thảo, cho rằng trong khi đàn ông Trung Cộng thiếu đàn bà, thì con gái Việt lại nghèo khó, hiền lành, ngoan ngoãn và họ rất mong lấy được một tấm chồng … Tàu. Một bài viết đăng trên trang tin điện tử nngo.com, ca tụng người đàn bà Việt Nam là “hoàn hảo” và khuyến khích đàn ông Trung Cộng nên lên đường sang Việt Nam tìm người vợ: “Chỉ cần 35.000 nguyên (nhân dân tệ- khoảng 5,000 đô la) bạn có thể trở thành một người đàn ông tự hào đứng bên cạnh một cô gái trẻ, xinh đẹp và nhu mì.” Miền đất có nhiều cô vợ tương lai mỹ miều ấy chính là Việt Nam và chuyện đi mua vợ Việt trở thành một đề tài nóng bỏng trên rất nhiều trang web phổ biến ở Trung Cộng.

Chuyện các anh Tàu Cộng sang kiếm vợ Việt Nam không là chuyện mới lạ gì từ nhiều năm nay, nhưng qua chiến dịch này, truyền thông Trung Cộng mô tả con gái Việt như là những người của một đất nước nghèo khó, nơi mà những cô gái xinh đẹp mong muốn được sống và làm vợ Trung Cộng, thậm chí lại nói rằng: “Đàn bà Việt Nam bây giờ muốn lấy chồng Trung Cộng không khác gì đàn bà xứ này thích lấy chồng … Mỹ.”

Một thuy thủ đã nói như vậy. “Tôi đã đến Việt Nam nhiều lần. Đất nước này quá nghèo và phụ nữ Việt Nam muốn lấy chồng Trung Cộng.”

Cũng dẫn chứng cho chuyện này, một bài viết trên trang Xici Hutong mô tả việc các cô gái Việt Nam tìm cách lấy chồng ở nước ngoài để thoát khỏi cảnh nghèo khó, và đã nói rằng: “Trong một lần tôi tới Việt Nam, một cô gái Việt Nam 26 tuổi, là hướng dẫn viên du lịch của chúng tôi nói với tôi rằng mơ ước của cô ấy là lấy được một người chồng Trung Cộng.” Một anh chàng Trung Cộng tên Đới nào đó đã viết trong câu chuyện “3 vạn rưỡi, 15 ngày, lấy được cô vợ Việt”, đã khen ngợi hết lời người vợ mới mua được của anh ta: “Không tham, không lười, không tùy tiện, không kiêu kì, không mê tiền, trẻ trung xinh đẹp, chăm chỉ hiền thục, quan trọng là biết nghe lời … “. Đã thế, anh chàng Đới này còn đem một cô vợ Việt ra so sánh với một cô vợ Thượng Hải: “Vợ Việt Nam ngoại hình 75 điểm giá chỉ 3.5 vạn, trong khi lấy vợ Thượng Hải phải chi ít nhất cũng 2 triệu; vợ Việt Nam làm hết việc nhà, không cần mua nhà, không thu lương của chồng; lấy vợ Việt Nam có cảm giác được làm ông chủ; con cái có thể mang quốc tịch Việt Nam, vợ có thể sinh nhiều con, không chịu ảnh hưởng của kế hoạch hóa gia đình; có thể lấy nhiều vợ, công khai có bồ”.

Chuyện khen đàn bà Việt là một cách nói, vì nhu cầu thiếu đàn bà Trung Cộng đã đến hồi gay cấn. Mặc dù chính sách mỗi gia đình một con đã coi như chấm dứt, nhưng hiện nay, qua các cuộc khảo sát, vì chuyện kinh tế, nuôi con tốn kém và khó có nhà ở, 50% dân Trung Cộng không muốn có đứa con thứ hai. Vì số con phải hạn chế, mà dân tộc Trung Hoa lại có thói tục trọng Nam khinh nữ “nhất nam viết hữu, tam nữ viết vô”, ngày xưa sinh ra con gái thì bóp mũi, thả sông, nhưng ngày nay nhờ khoa học tiến bộ 90% phụ nữ nhờ “ultrasonic scanning” có thể biết trước mình sinh con trái hay con gái để phá thai trước khi quá muộn.

Chính sách bạo tàn “kế hoạch hoá gia đình” hay nói nôm na là “cai đẻ” dưới chế độ Trung Cộng đã đưa đến tấn thảm kịch cho nhiều gia đình. Chỉ mới năm 1998 mới đây thôi, một thiếu phụ ở quận Huangmei thuộc tỉnh Hubei, đã có hai con gái và rất ao ước sinh được một mụn con trai. Chị phải lên thành phố Wuhan làm việc, khi có thai chị đã dấu kín vì hy vọng nó là con trai. Uỷ Ban Xã sau khi biết được việc này đã chỉ định cho ba cán bộ xã lên Wuhan lôi chị về, bắt chị phá thai, mặc dầu lúc đó cái thai đã được 8 tháng. Nó là con trai. Nếu gia đình chị có đủ $2,400 đô la để nộp phạt cho chính quyền, chị đã có thêm một cháu trai.

Những chiến dịch kiểm soát sinh nở rất gắt gao ở Trung Cộng. Cũng tại ở quận Huangmei này, một thiếu phụ phải đi làm ăn xa trong thời gian ở xã có cuộc kiểm soát thai nghén, họ bắt bà phải về quê để kiểm tra, nhưng vì ông chủ hãng không cho bà nghỉ việc. Khi bà về không kịp ngày ấn định, xã đã bắt gia đình bà nộp số tiền phạt $36 quan và khiêng cái TV duy nhất của nhà bà đi mất. Khi bà về trình diện để đặt vòng ngừa thai, xã mới trả lại cái TV, nhưng số tiền phạt gia đình bà đã đóng không bao giờ được trả lại.

Chỉ trong vòng 5 năm từ năm 1979 đến 1984, tước quyền dân chúng có hơn một con, Trung Cộng đã giết 250.000 bé gái. Chính hậu quả của những vụ phá thai để chọn giới tính cũng như việc giết hàng loạt trẻ gái sơ sinh đã gây nên tình trạng mất cân bằng giới tính càng ngày càng gia tăng ở Trung Cộng. Trên thế giới hiện nay tỷ lệ sinh trai là 105 hay 106 so với 100 bé gái, nhưng ở Trung Cộng trong vài lứa tuổi, có 122 trai/100 bé gái. Rõ ràng là không phải đợi hai mươi năm nữa, mà từ lâu, Trung Cộng đang cần thêm khoảng 25% đàn bà nữa, nếu không có kế hoạch quân bình được sự chênh lệch này, 1/5 đàn ông Trung Quốc sẽ không tìm ra ai để làm vợ, không lẽ ai cũng làm đơn xin Chủ Tịch Nước lấy một con bò cái như anh chàng nông dân vùng Kemerovo, Serbia đã xin với thủ tướng Putin nước Nga trước đây. “Quang côn” là cành cây trụi lá, danh từ dùng để nói đến những anh chàng độc thân không kiếm được vợ. Con số đáng sợ là hiện nay Trung Quốc có đến 40 triệu “quang côn”. Vậy chuyện đàn ông Trung Cộng nhắm vào Việt Nam để kiếm vợ là chuyện đương nhiên, vì lý do địa lý, chủng tộc không có cách trở bao nhiêu, số tiền tốn phí để mua một người vợ lại quá rẻ. Ngày nay đàn ông Tàu phải tính toán con đường chọn phương Nam để mua vợ. Tuy nhiên, “vơ đũa cả nắm”, để nói rằng đàn bà Việt Nam, ai cũng muốn lấy chồng Trung Cộng như đàn bà Trung Cộng thích lấy chồng Mỹ là một suy nghĩ chủ quan khá lố bịch. Nhận định này chỉ đúng cho một số phụ nữ nông thôn, nghèo khó, thất học, không kiếm ra công ăn việc làm và nhất là không biết an phận trong hoàn cảnh hiện tại. Nếu nại ra lý do nghèo, vì sao trong chế độ trước năm 1975, trước ngày phụ nữ Việt Nam được “giải phóng”, đàn bà lấy chồng ngoại quốc vẫn bị xã hội kỳ thị. Đàn bà Việt Nam quả là tội nghiệp, mang danh là thích lấy chồng Trung Cộng vì lớn lên trong một chế độ tệ hại như chế độ Cộng sản ngày nay, không hề có chút tương lai, phải “bán thân” như nàng Kiều thuở trước, “cũng đành nhắm mắt đưa chân/ thử xem con Tạo xoay vần nơi nao?” Hiện nay rõ ràng Trung Cộng đang thiếu đàn bà, đang có nhu “cầu” thì Việt Nam có “cung”, cũng là thuận lẽ, nhưng người phụ nữ không phải là món hàng sản xuất như tôm cá đông lạnh hay quần áo vải vóc. Phải đi xa, lấy chồng xứ lạ, ngôn ngữ bất đồng “Má ơi đừng gả con xa/Chim kêu mà vượn hú biết nhà má đâu?”chẳng qua vì đồng tiền phải “bán thân” cho đúng với vế “mua vợ” của ngoại bang, xót xa biết là ngần nào. Từ năm 1999, Giang Trạch Dân đã hô hào 16 chữ vàng “Mục lân hữu hảo – Toàn diện hợp tác – Trường kỳ ổn định – Diện hướng vi lai “, được dịch ra là: “Láng giềng hữu nghị – Hợp tác toàn diện – Ôn định lâu dài – Hướng tới tương lai “. Việc mua vợ của trai Tàu Cộng và bán thân của gái Việt đúng là hữu nghị, toàn diện, lâu dài, và tương lai. Trung Cộng đã viện trợ súng đạn, lương khô, nón cối, dép râu cho Việt Cộng thôn tính miền Nam, đền đáp phần nào khuyết điểm của người anh em, đâu có là chuyện lớn.

Chúng ta chưa có con số tỷ lệ gái/trai ở Việt Nam, tuy vậy việc các cô ồ ạt ra đi lấy chồng Đài Loan, Trung Cộng, rồi Đại Hàn chứng tỏ con số đàn bà Việt Nam thặng dự đủ cung cho bọn buôn người. Hàng hoá lưu giữ thì có kho, đụn, vựa .. Đau lòng cho thân phận Việt Nam, nếu Trung Cộng coi đây là cái “vựa” gái, đủ cung cấp bốn mùa cho bọn đàn ông “láng giềng hữu nghị” đang có nhu cầu đi “mua vợ”, nhưng liệu phụ nữ Việt Nam ngày nay có đủ số cho hiểm hoạ 40 triệu “quang côn”, từ phương Bắc tràn xuống hay không?

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 19 May 2026

“Trước khi trở thành linh mục,tôi là một người Việt Nam!”

LM. Nguyễn Hữu Lễ

Thú thật với quý vị. từ khi khôn lớn tôi không có cơ hội hay có ý muốn quen biết một ông Sư hay một ông Cha nào, trong lòng cũng chẳng mấy lảm thích được gần gũi với Quý Ngài và luôn luôn muốn giữ một khoảng cách, nều cổ “kính” đi nữa thi cũng “nhi viễn chi.” Mặc dầu đạo Phật cho rằng “trọng Phật Kính Tăng,” Thiên Chúa Giáo thì Linh Mục là “Linh Hướng,” là “Chủ Chăn,” nhưng chúng tôi vẫn thường trông thẩy cái khoảng cách giữa Linh Mục đối với Con Chiên. Hòa Thượng đối với Phật Tử khá xa, mỗi khi thường ngày, thấy tín đổ khúm núm kính cẩn quá đáng đối với những vị Linh Mục, Mục Sư hay Hòa Thượng, Thượng Toạ, Vậy mà lần đầu gặp Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ cách đây hơn mười năm, tôi có cảm tường như gặp gỡ một người bạn cũ, một người lính cùng đơn vị hơn là một ông Cha đứng trên toà giãng, Thẳng thắng, bộc trực và cời mở ngay từ cái bắt tay chặt chẽ đầu tiên, nhất là khi biết ông đã mang thân phận một người tủ tập trung dười chế độ Cộng sản 13 năm, không vì chức vụ của ông là Tuyên Uý trong quân đội mà vì “tội chống chế dộ.” làm sao không thấy cảm tình và quý mến ông được.

Lễ phép, tôi kính trọng gọi ông bằng danh từ “Linh Mục,” cố tránh né cái tiếng “Cha,” mà tôi vẫn muốn dành riêng cho bố đẻ của tôi. Nhưng quả là ngạc nhiên và ngỡ ngàng hơn nữa, chuyện mà tôi chưa bao giờ thấy xẩy ra cho một ông Cha, ông Sư nào, khi nghe ông bằng lòng nhận tiếng gọi “Cậu Bày” khá thân mật từ bạn bè của tôi, những cựu tù nhân của chế dộ Cộng Sản từ Việt Bắc trở về. trong khi anh cm cựu học sinh Nguyễn Trường Tộ, Vĩnh Long ngày xưa học trên ông vài lớp, còn hạ vai vế ông xuống, bằng cách kêu ông là “Chú Út!” Điều đó có sai với giáo điều tổ chức của các tôn giáo lớn không? Tôi nghĩ là không, vì đây là không gian ngoài vị tri của nhà thờ và những người quen biết, bạn bè ông không hề ràng buộc bởi bất cứ điều gì hay danh xưng nào của tôn giảo. Cũng cho đến nay chưa ai gọi ông Nguyễn Hữu Lễ bằng hai tiếng “nhà văn,” nhưng cuốn hồi ký “Tôi Phải Sống” của ông, trong vòng 2 năm 2003-2004, với tình trạng số người đọc hạn chế ở hải ngoại, với 17.000 cuốn đã bán sạch, ông đã có khả năng vượt qua số lượng sách bán được của những nhà văn nối tiếng nhất Việt Nam, kể cả các tác phẩm trong nước, mà nơi đó, dận số gấp 40 lần ở hài ngoại.

“Tôi Phải Sống” là một cuốn hồi ký về trại lù Thanh Cầm, nơi mà LM, Nguyễn Hữu Lễ, đã trải qua nhiều năm đoạ đày, nạn nhân sống sót sau những trận đòn điên cuồng. khát máu của Bùi Đình Thi, một cựu sĩ quan, lảm “thi đua” cho trại tù đã lạm dụng quyền hành để tra tấn và đánh chết cựu Dân Biểu Đặng Văn Tiếp và bỏ đói dến chết ông Lâm Thành Văn. Câu chuyện đã đưa đến kết quả là Bùi Đình Thi bị cơ quan toà án di trú San Pedro, California. Vào tháng 4-2014, công bố lệnh truc xuất về Việt Nam. Trong khi chờ đợi thỏa hiệp nhận và trao giữa hai chính phủ Việt Nam và Hoa Kỳ, ông Thi đã được giam giữ tại Quần Đảo Marshall (Republic of Marshall Islands) và đã qua đời tại đây khoảng hai năm sau đó.

Bản ản của Bùi Đình Thi đem đến hai nguồn dư luận trái ngược, một bên cho Thi xứng đáng để lãnh bản án trục xuất, một bên chê trách LM. Nguyễn Hữu Lễ đã không đủ bác ái để tha thứ cho Thi. Tuy nhiên bác ái cũng cần có công bằng và LM Nguyễn Hữu Lễ không phải là nguyên đơn để đưa Bùi Đình Thi ra tòa mà người đứng kiện là Boat People SOS. LM Nguyễn Hữu Lễ có thể tha thứ cho Bùi Đinh Thi là chuyện giữa hai con người, nhưng còn gia đình những người dã bị bách hại, những người đã chết như Đặng Văn Tiếp, Lâm Thành Văn và những người còn sống như Trịnh Tiếu, Nguyễn Sĩ Thuyên, còn lại là lẽ công bằng cũng như pháp luật của nước Mỹ. Trong tận cùng của nổi đau đớn tuyệt vọng, trên bệ đá của trại kiên giam, trong khi hai cổ tay còn bị củm, người tu khốn khổ Nguyễn hữu Lễ đã phẩn nộ hét lên: “Tôi Phải Sống!” Câu nói này đã được đem dùng làm nhan đề cuốn sách thuộc loại best-seller của ông.

Sự sống phải mang nhiệm vụ của nó, chắc chắn khó khăn hơn cải chết. Người sống mang nghĩa vụ của những người chết dã giao phó, vì sống không có nghĩa là chết mòn. L.M. Nguyễn Hữu Lễ dã sống còn và trôi giạt đến Tân Tây Lan năm 1990. Chỉ hai năm sau, LM Nguyễn Hữu Lễ dã tham gia sinh hoạt với Nghị Hội Toàn Quốc Người Việt tại Hoa Kỳ, Hội Đồng Việt Nam Tự Dọ. Năm 1994, ông thành lập Ủy Ban Nhân quyền và Tự Do Tôn Giáo cho Việt Nam, ông đã đi thuyết trình tại các cộng đồng người Việt ở 9 quốc gia Âu Châu, 15 tiều bang tại Hoa Ký và tại Canada, Úc, Thái 1.an.

Năm 2006, LM. Nguyễn Hữu Lễ thành lập “Phong Trào Đòi Trả Tên Saigon.” Năm 2008, Phong trảo này phát hành DVD tài liệu “Sự Thật về Hồ Chí Minh.” Năm 2010, ông kết hợp với Tổ Chức Phuc Hưng Việt Nam, Tập Họp Đong Tâm Úc Châu thành lập Lực Lượng Dân Tộc Cứu Quốc (gọi tắt là Lực lượng Cứu Quốc.)

Năm 2011, Lực Lượng này tổ chức Đài Phát Thanh “Đáp Lời Sông Núi” phát thanh về Việt Nam mà LM. Nguyễn Hữu Lễ là Chủ Tịch Hội Đồng Cố Vấn & Yểm Trợ. Khai sinh ra chương trinh “Đáp Lời Sông Núi” là dễ nhưng duy tri để tiếng nói này sống còn là một điều khó, ông Nguyễn Hữu Lễ nay như người mẹ chạy ăn cho con từng bữa. LM. Nguyễn Hữu Lễ là linh muc người Việt duy nhất tại New Zealand từ trước đến nay và từ năm 2007. Ông không còn giữ chức vụ nào tại các giáo xứ của nước này, và hiện chỉ còn giữ chức Tuyên Uý Cộng Đồng Công Giáo VN tại đây, Thời gian ông đi, ở và hoạt dộng ở nước ngoài, những nơi có cộng đồng người Việt ty nạn có lẽ cũng tương đương với thời gian ông làm việc ở Tân Tây Lan. LM. Nguyễn Hữu Lễ đã đi nhiều nơi trên thế giới, gặp gỡ các cộng đồng người Việt ty nạn, đem ngọn lữa đấu tranh, chuyển dến cho mọi người để nhắm đến mục dich đòi hỏi tự do nhân quyền cho Việt Nam. Cũng vì vậy, ông không tránh khỏi sự lăng mạ, chỉ trích của một số người không đồng ý với ông khi ông đi làm chính trị trong lúc mặc áo giòng, nhất là sau khi DVD tài liệu “Sự Thật về Hồ Chỉ Minh” phát hành và qua internet được chuyển về trong nước. Để trả lời dứt khoát, câu nói xác định của LM. Nguyễn Hữu Lễ đã được nhắc lại nhiều lần là: “Trước khi trở thành linh mục, tôi là một người Việt Nam!”

Nói đến chuyện chia rẽ tôn giáo tại hài ngoại vào mỗi cuối năm. LM. Nguyễn Hữu Lễ đã cho rằng: Những ai dùng tôn giáo để chia rẽ dân tộc, đều có tội với tổ quốc!” Trên dường hoạt động, mỗi lần ghé qua Little Saigon. “Cha” Nguyễn Hữu Lễ thường ghé thăm các giáo dân ngày trước ở Vĩnh Long của ông, trong đó có ông Nguyễn Nhi, xã trưởng, trước khi đến Mỹ theo diện HQ. đã bị đi tủ 7 năm. “Cậu Bảy” thì không quên các bạn tù Thanh Cẩm, trung dó có cựu Đại Uy Thiết Giáp Lê Sơn, sau này đã kết thông gia với gia đình họ Nguyễn của ông. “Chú Út,” cựu học sinh trung học Nguyễn Trường Tộ năm xưa thì lúc ghé về đây không quên các bạn học cũ hơn 50 năm về trước và ông Thầy duy nhất trên dất Mỹ còn lại là thầy Nguyễn Đức Hạnh, nguyên giáo sư Anh Ngữ nay đã 84 tuổi.

Ông Nguyễn Hữu Lễ quả là một linh mục binh thường. nhưng là một người Việt Nam tị nạn xuất sắc. Ông gần gũi và đi bên cạnh những con người bị bứt rời khỏi quê hương, côn thiết tha với đất nước hôm nay. Câu nói của ông, tôi còn nhớ, ngày ông tái bản cuốn hồi ký “Tôi Phải Sống” để lấy tiền trang trãi cho việc điều hành tiếng nói “Đáp Lời Sông Núi.”- “Nếu không nói chuyến đất nước thì còn chuyện gi để nói? Không lẽ đem chuyện ăn ngon mặc đẹp, cơn cái thành công và những chuyến du hí ra để nói với nhau!”

Hình ảnh và những lời nói của ông làm cho chúng tôi nhớ dến LM. Nguyễn Văn Lý đang bị cầm tù ở Việt Nam và I.M. Nguyễn Văn Nghị ra pháp trường cát sau vụ án Nhà Thờ Vinh Sơn năm 1975. Phải chăng họ cũng như “Cậu Bảy:”- Trước khi trở thành linh mục, họ là một người Việt Nam!

Một thời để yêu & Một thời để chết.

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Post by Sơn râu 18 May 2026

Cái chết ở đất Nga khác mùi cái chết ở Phi châu. Ở Phi châu trọng pháo của quân Anh cũng giết người như rạ, xác chết nằm phơi giữa hai phòng tuyến, nhưng ở đây trời nóng làm cho chóng tiêu hết. Thây người chết rã ra, hơi bốc lên, ban đêm gió đưa lại một mùi hôi thối nồng nặc buồn nôn mửa, hơi đó làm trương phình xác chết, dưới ánh sao người ta trưởng như thây ma nhỏm dậy đánh một trận cuối cùng vô vọng nữa, nhưng ngày hôm sau thây ma lại xẹp đi, teo lại, dán chặt xuống đất lồi lõm như đã mệt nhoài, như muốn tự động chui xuống dưới đất. Khi đến lượm đi người ta thấy có cái thây nhẹ bổng, khô đét, nếu để lâu độ vài tuần, thây chỉ còn là bộ xương bọc da, khô dòn, kêu rắc rắc như củi khô dưới những bộ nhung phục rộng quá. Cát, mặt trời và gió làm cho xác chết ở đây khô ráo sạch sẽ, còn xác chết ở bên Nga trương sình thối kinh hồn.

Trời đã mưa từ mấy hôm nay. Tuyết tan thành bùn lầy. Một tháng trước tuyết còn dày đến một thước. Làng bị tàn phá mới đầu chỉ còn sót lại một vài nóc nhà cháy đen, mỗi đêm hiện rõ ra thêm một chút trên bãi tuyết đang tan. Phía trên cửa sổ hiện ra trước, vài đêm sau trông thấy vòng cung cửa ra vào, rồi đến thềm nhà xuất hiện dần từng bậc một giữa đống tuyết trắng hôi hám. Tuyết vẫn tan, bây giờ đến lượt những xác chết xuất hiện.

Đây là những xác chết từ những trận đánh trước. Làng đã lần lượt bị phe này hay phe kia chiếm đóng nhiều lần, vào tháng một, tháng chạp, tháng giêng, mới đây vào tháng tư. Quân chiếm đóng, rồi bỏ đi, rồi trở lại chiếm đóng, tuyết rơi từng đợt kế tiếp nhau lấp kín xác chết, nhiều khi lớp tuyết dày quá, lính cứu thương không biết mà đem chôn. Mỗi ngày lại thêm một lớp tuyết trắng phủ lên cảnh đổ nát, khác nào một cô khán hộ phủ một tấm vải trắng tinh lên một cái giường vấy máu và nhơ nhớp bùn.

Thây người chết hồi tháng giêng, hiện ra trước nhất. Những xác này nằm ở lớp trên, ngày tuyết tan vào đầu tháng tư đã làm xuất lộ. Khí lạnh đã làm cho xác cứng lại, mặt như tạc bằng sáp. Người ta khiêng đi coi như những hình nộm bằng gỗ. Trên một gò cao phía sau làng, lớp tuyết phủ không dày như những nơi khác, người ta hốt sạch tuyết, định đào huyệt chôn. Công việc lâu lắc và khó khăn, vì thế người ta định chỉ chôn những xác chết người Đức mà thôi. Xác người Nga chất đống lại chất đống lại trong một cái chuồng bò trống ngoài trời. Khi bớt lạnh, hơi hám xông lên quá, lại phải lấy tuyết phủ đi. Người ta không muốn chôn vì người ta biết rằng chẳng còn chiếm được làng này trong bao lâu. Quân ta đang rút lui, quân Nga đang tiến, để họ chôn lấy người của họ.

Súng của người chết vào tháng giêng lún dần xuống chỗ người chết trước vào tháng chạp nằm ở dưới. Súng và lựu đạn chìm xuống sâu hơn xác người, thỉnh thoảng mũ chiến cũng vậy.

Nước làm cho áo quần mềm nhũn ra, rất dễ cắt phanh quần áo để xem dấu vết thi hài người chết. Miệng họ đầy tuyết đã tan ra nước, nom họ như chết đuối vậy. Có khi chân tay tan tuyết trước thân mình, có khi khiêng xác đi, một cái tay hay một cái cẳng đong đưa lủng lẳng với điệu bộ thản nhiên ghê tởm, gần như bỉ ổi. Khi có tia nắng chiếu vào thì hai mắt rã tuyết trước nhất, mắt không còn sắc trong vắt của người chết, con ngươi trở thành keo. Những giọt nước mắt đặc quánh ứa dần ra.

>Bất thần trở lại rét trong vài ngày. Trên mặt tuyết đóng một lớp băng, và tuyết ngưng lại không sụt xuống nữa. Nhưng chẳng bao lâu gió nồm lại thổi.

Mới đầu chỉ thấy một chấm xám trên mặt tuyết trắng lem nhem bẩn. Chỉ một giờ sau, một bàn tay co quắp hiện ra.

– Lại một cái nữa.

– Đâu?

– Ngoài kia, trước nhà thờ. Thử moi ra xem sao.

– Không cần, gió này chẳng mấy chốc lòi ra hết. Ít ra cũng còn một hay hai thước tuyết. Cái làng khốn nạn này ở một chỗ đất thấp. Nếu mày muốn múc lấy mười lít nước vào mỗi chiếc giầy thì cứ ra mà đào.

– Thế thì tao chịu thôi!

Sauer nhìn xe lương thực.

– Mày có biết hôm nay có gì ăn không? – Lời Immermann.

– Củ cải. Củ cải nấu thịt heo, khoai tây và nước lã. Xin đính chánh: không có thịt heo.

– Lại củ cải? Tuần này ăn đến lần thứ ba rồi đó!

Sauer mở cúc quần để đi tiểu tiện: “Mới một năm trước tao còn đái vọt xa, đấy mới là đái của lính chính hiệu con nai. Đi thì nhất rồi, một ngày đi không biết bao nhiêu là cây số, tao những tưởng là sắp được giải ngũ rồi. Bây giờ thì xò rồi, đái yếu không còn là đái lính nữa”.

Immermann thọc tay vào trong áo, gãi, khoan khoái hiện ra mặt.

– Tao chẳng cần biết mình đái lính hay đái thường dân, tao chỉ cần sống đời dân sự.

– Tao cũng vậy. Nhưng điệu này thì mình đi lính mãn đời mất!

– Đi lính thì anh hùng thật, nhưng anh hùng để mà chết mất xáp. Chỉ có những thằng mật vụ SS đái xa được mà thôi.

Sauer cài nút quần:

– Họ thì họ làm được. Những thằng khác khó nhọc để cho chúng nó hưởng. Người ta chiến đấu trong hai ba tuần lễ để chiếm lấy một tỉnh rốt cuộc tụi mật vụ SS thổi kèn đánh trống kéo vào đấy làm chủ. Mày có biết tụi nó được ưu đãi như thế nào không? Mũ, giầy, thịt, cá, cái gì tốt nhất là tụi nó hưởng.

Immermann bỗng cười sằng sặc:

– Bây giờ thì tụi nó cũng chẳng kèn trống om sòm tiến vào đâu cả. Tụi nó cũng chạy dài như tụi mình.

Sauer cầm lấy ga men mà rằng:

– Đi ăn, mau lên, đến chậm chỉ còn nước rửa bát.

Một bàn tay dưới tuyết nhô dần lên. Người ta không có cảm tưởng rằng tuyết hạ xuống mà có cảm tưởng rằng bàn tay nhô lên như một cái nấm xám xịt đáng sợ, như là một tiếng kêu cứu giá băng.

Đại úy chỉ huy trưởng Rahe trông thấy lại hỏi:

– Cái gì thế này?

– Có lẽ một cái xác lính Nga, đại úy à.

Rahe mở to mắt. Ông ta trông thấy một chút tay áo màu bạc phếch.

– Không phải lính Nga đâu.

Rồi ông ta về bản doanh trong khi trung sĩ Mucke gọi mọi người lại.

– Lại tất cả đây! Graber! Sauer! Immermann! Steinbrenner! Hirschland! Beming! Mấy người trông thấy cái bàn tay ngoài kia không! Đào lên mà chôn cất tử tế nếu là xác người Đức! Nhưng tôi cá với các người rằng đó là xác lính Nga.

Steinbrenner mới có mười chín tuổi, mặt tròn như mặt một thiên thần trung cổ. Trước y ở trgng hàng ngũ SS và đã có huy chương vàng Thanh niên Hitler. Y được sung vào đội quân này, nhưng ai cũng biết y làm thám tử cho mật vụ.

Mucke lấy trong túi ra một hộp thuốc lá bằng gỗ anh đào chạm trổ rất đẹp.

– Hút một điếu?

– Còn gì bằng!

Immermann nói lướt qua:

– Steinbrenner! Quốc trưởng đâu có hút thuốc?

– Câm mồm mầy!

– Mầy cũng câm mồm đi!

– Chà, cha này coi bộ sống đúng phép tu dưỡng ghê!

Dưới hàng lông mi hung hung, Steinbrenner liếc mắt ngang nhìn người đối thoại :

– Sao trí nhớ của mày ngắn thế!

Immermann cười:

– Ngắn thì ngắn nhưng cũng đủ để hiểu mày rồi. Mày chớ nên quên điều này: Quốc trưởng không hút thuốc. Tao chỉ cần nhắc mày có điều ấy. Tao có bốn nhân chứng. Ai cũng biết rằng Quốc trưởng không hút thuốc.

Họ đã lấy ván để đi tới chỗ xác chết và bới tuyết để lộ ra cánh tay và bán thân người. Đã nom thấy bộ nhung phục ướt sũng nước đồng phục lính Đức.

Mucke ì ạch tiến tới, ghé mắt nhìn xuống hố đang dềnh nước lên.

– Tao không biết vì sao lại còn xác lính Đức. Có lẽ đấy là xác chết đã lâu, hồi tháng chạp, chúng ta đang tiến quân, xác ở lớp tuyết ở dưới cùng.

– Chúng ta đã tiến được hàng trăm cây số rồi kia mà.

– Bây giờ chúng ta lại ở chỗ cũ.

Graber xen vào :

– Vậy là chúng ta rút lui phải không?

Immermann vội lấy khuỷu tay hích Graber nhưng Graber vẫn hỏi Steinbrenner:

– Hay là chúng ta tiến?

Immermann giải thích trong khi nhìn Steinbrenner gay gắt :

– Chúng ta rút ngắn những trục giao thông. Đã một năm nay chúng ta theo chiến lược ấy, chẳng còn bao lâu nữa sẽ thắng trận. Ai cũng biết thế.

Lát sau Immermann rỉ tai Graber rằng :

– Liệu hồn mày, nếu không thằng đểu giả ấy sẽ làm mày mất nghỉ phép. Nó sẽ tố cáo mày chủ bại. Nó chỉ đợi có thế.

Vài phút sau cái thây được lôi lên để trên miệng lỗ. Trong một túi áo còn nguyên cái bóp và giấy tờ. Chữ đã lem nhem nhưng còn đọc được để biết người chết là ai. Đó là trung úy Reike chỉ huy một đại đội quân Đức vào mùa thu năm trước.

Mucke tiến đến căn nhà ở của đại úy Rahe. Làng này chỉ có một căn nhà duy nhất ấy là ở được. Có lẽ trước ngày Cách mạng nhà này là nhà của giáo trưởng giáo hội. Đại úy Rahe ngồi trong phòng lớn. Mucke nhìn lửa cháy trong cái lò sưởi Nga với con mắt thèm thuồng khinh bỉ. Con chó bẹc-dê của Rahe ngủ trên chiếc ghế gỗ dài. Mucke phúc trình rồi cùng đại úy ra.

Rahe đứng một phút yên lặng trước thi hài rồi quay lại nhìn ngôi nhà thờ đã bị phá hết một nửa :

– Khiêng lại kia đợi. Còn cái hòm nào không?

– Những hòm đặc biệt cất riêng đều bị lính Nga chiếm mất cả. Mong rằng họ sẽ có dịp dùng đến.

Immermann bật cười. Đại úy Rahe không cười.

– Không thể làm được một cái à?

– Làm thì lâu lắm – Graber nói – Cái xác đã rữa rồi. Vả chăng trong làng này khó lòng mà tìm được thứ gỗ dùng được.

Rahe đành nghe theo họ.

– Lấy miếng vải tăng mà bọc vậy. Thôi chôn thế cũng được. Đắp đất mồ rồi làm một cây thập tự.

***

>Bốn người du kích Nga bị bắt, Rahe quyết định đem ra xử bắn.

– Đã sâu chưa? – Lão già đang đào huyệt để chôn mình ngừng lại hỏi.

Lão độ bảy mươi tuổi. Bộ râu bạc dơ bẩn, hai mắt thật là xanh. Lão nói được tiếng Đức.

Steinbrenner trả lời lão:

– Câm mồm đi, có ai hỏi mới được nói.

Steinbrenner rất vui vẻ. Hai mắt y không rời khỏi người đàn bà Nga đi theo ba người tù binh kia. Chị ta mạnh khỏe và còn trẻ lắm.

Graber cùng đứng coi tù binh với Steinbrenner và Sauer cũng nói:

– Cứ đào đi.

Lão già lại hỏi :

– Để chôn chúng tôi hả?

Steinbrenner nhảy đến nơi tát lão một cái mạnh như trời giáng.

– Đã bảo câm miệng mà, ông nội! Ông không biết ông ở đâu à? Ở đám hội chắc?

Y mỉm cười quay trở lại. Trên mặt không có vẻ gì độc ác, chỉ có cái thích thú của đứa trẻ ngồi vặt chân con ruồi để chơi.

Graber nói:

– Không, không phải hố chôn ông đâu.

Lão già Nga không nhúc nhích; lão yên lặng nhìn Steinbrenner, Steinbrenner cũng nhìn lão. Mặt y bỗng biến sắc, y chú trọng đến lão già hơn. Y nghĩ rằng lão sắp đánh lại và chỉ đợi lão cử động là đập chết liền. Giết chết lão tại chỗ có sao? Lão bị kết án tử hình, vả chăng cũng chẳng ai buồn để ý đến trường hợp Steinbrenner có thật là trường hợp tự vệ hay không. Nhưng đối với Steinbrenner thì vấn đề hầu như có tầm quan trọng của nó. Steinbrenner tự hỏi không biết y làm lão già phẫn uất đến mất trí chỉ để tiêu khiển hay là y còn muốn làm cho mỗi vụ sát nhân có một cớ khả dĩ chấp nhận được để ra vẻ hợp pháp. Hẳn là cả hai sự kiện ấy đều có và Graber nhận thấy đây không phải là lần thứ nhất mà mình gặp những trường hợp tương tự.

Lão già Nga vẫn đứng yên. Một giọt máu từ mũi chảy xuống bộ râu, Graber tự hỏi không biết mình ở địa vị lão sẽ xử trí ra sao: nhảy đến chỗ Steinbrenner để giết hắn chết ngay lập tức không kịp đụng đến người hắn hay nén giận đi để sống thêm một đêm cuối cùng? Graber cũng không biết trả lời sao.

Lão già thong thả cúi xuống nhặt cuốc rồi giơ cuốc cao lên. Steinbrenner lùi lại một bước, sẵn sàng nổ súng. Nhưng lão không ngẩng đầu lên, lão ngoan ngoãn cuốc đất, Steinbrenner cười gằn:

– Nằm xuống đấy. Y ra lệnh.

Lão đặt cuốc, bước xuống đáy huyệt nằm dài ra đó, không cựa quậy. Khi Steinbrenner đến gần miệng hố, y thấy mấy nắm tuyết rơi xuống người lão già.

– Dài như vậy được chưa? – Y hỏi Graber.

– Được rồi, trung úy Reicke người cũng không lớn con.

Lão già nhìn trời, trời xanh hình như phản chiếu trong mắt xanh của lão. Chỉ có vài sợi râu chung quanh miệng khẽ rung động theo hơi thở. Steinbrenner để lão nằm dưới hố một lúc, sau y mới bảo:

– Đi ra.

Lão bật dậy chạy đến với ba người kia. Đất ẩm dính bết vào quần áo.

Steinbrenner nhìn người đàn bà và nói:

– Bây giờ mấy người tự đào hố để chôn các người, không cần sâu lắm. Đến mùa hạ này cáo có đến ăn cũng thây kệ các người.

***

>Mặt trời mọc. Ánh hồng nhạt ửng chân trời. Tuyết sin sít dưới gót giầy, hồi đêm tuyết lại xuống. Huyệt mới đào coi đen thui.

Sauer chửi thề:

– Mẹ khiếp! Không còn cái gì là tụi nó không bắt mình làm! Tại sao lại đùn cho mình! Tụi S.D. Phải làm chứ, họ thu dọn chiến trường mà.

Graber đong đưa khẩu súng trên tay, thấy thép buốt lạnh y bèn đeo găng tay vào. Y nói:

– Tụi S.D. hoạt động ở hậu cần.

– Dĩ nhiên, họ chẳng dại gì mà ra tuyền tuyến.

– Có phải thằng Steinbrenner trước cũng là S.D. không?

– Trước nó là trưởng khối trong một trại tập trung, hay là cái gì như thế.

Mấy người khác kéo lại. Chỉ có Steinbrenner là tươi tỉnh. Trời rét làm ửng đỏ hai má như trẻ con mới lớn. Hắn nói:

– Con đàn bà để cho tao nghe, tụi mày!

– Mày muốn làm gì nó. Bây giờ thì còn kịp làm gì nữa? Sao mày không làm từ trước?

– Thì nó đã thử rồi đó. – Lời Immermann.

Steinbrenner nổi giận quay lại:

– Sao mày biết, Hội Liên hiệp Quốc tế Lao động cho mày biết phải không?

– Thì nó đã vỡ mũi vì con mẹ đó. – Lời Sauer.

– Mày ra bộ lém lỉnh lắm. Nhưng tao nói cho mày biết, nếu tao muốn nó thì tao làm kỳ được.

– Cái đó cũng còn tùy.

Trời tối sầm xuống. Một người nhìn đồng hồ.

Steinbrenner bảo y:

– Mày nên mừng rằng được chỉ định ra đây. Mày sẽ hết ý nghĩ đen tối. Xử bắn! Đối với tụi này xử bắn thì phí phạm quá. Phí mấy viên đạn thật là uổng. Nên treo cổ chúng thì hơn. Người ta vẫn treo cổ du kích.

– Treo cổ ở đâu? Mày có trông thấy một cái cây nào không? Hay là lại phải làm một cái cột để xử giảo? Mà lấy đâu ra gỗ?

Graber vội la lên:

– Họ đã đến kia.

***

Mucke dẫn bốn người Nga lại. Bốn quân nhân vây lấy họ. Lão già đi đầu, theo sau là người đàn bà rồi đến hai thanh niên. Họ tự ý đến xếp hàng trước miệng hố. Người đàn bà liếc mắt nhìn hố trước khi đứng ra trước mặt lính Đức. Mụ mặc cái váy len đỏ.

Trung úy Muller ở nhà đại úy Rahe bước ra. Y thay mặt Rahe trong những vụ hành quyết. Nghĩ cũng tức cười người ta cũng còn cố giữ hình thức hợp lệ. Ai cũng biết mấy người Nga này không phải là quân du kích, nhưng họ vẫn bị tra vấn và kết án theo đúng thủ tục, họ không chút hy vọng thoát chết. Trên lý thuyết thì họ bị bắt trong khi cầm khí giới. Thế thì sao còn bày đặt ra nhiều chuyện thế này? Họ sẽ bị bắn trước sự hiện diện của một sĩ quan, đúng như luật nhà binh. Chẳng ai ra vẻ cảm động vì cái hân hạnh ấy.

Viên trung úy mới hai mươi mốt tuổi và mới bổ vào đội quân này. Y nhìn tội nhân một lát rồi bắt đầu đọc bản án.

Steinbrenner khẽ nói:

– Để phần tao con đàn bà.

Graber nhìn người đàn bà. Mụ bình thản đứng đợi trước hố. Coi mụ trẻ và khỏe, một người có sức để sinh con và nuôi con. Mụ không biết Mulier đọc gì nhưng mụ biết là bản án tử hình. Mụ biết rằng trong giây lát nữa sinh lực dồi dào trong huyết quản sẽ tiêu tan vĩnh viễn, tuy nhiên mụ chờ đợi một cách bình thản và không run rẩy vì khí lạnh lúc sáng sớm.

Mucke bước tới, ra lệnh cho lão già:

– Bảo người kia cởi giày ra. – Y vừa nói vừa chỉ một trong hai người tù binh.

Ông già nói nhỏ vài tiếng, giọng như hát. Người kia là một thanh niên xanh xao gầy ốm, y ra vẻ không hiểu, Mucke gắt:

– Tháo giầy ra!

Ông già nhắc lại. Người thanh niên bấy giờ mới hiểu, y vội vàng làm ngay như để sửa chữa một lỗi lầm không thể dung thứ được. Y lảo đảo đứng một chân, tay lôi chiếc giầy ở chân kia. Graber tự hỏi: “Tại sao y vội vàng thế? Để chết sớm hơn một phút chăng?” Người tù binh tiến lại chỗ Mucke đưa đôi giầy ra. Đôi giầy còn mới. Mucke nhăn mặt chỉ một chỗ cạnh đấy. Y đem giầy lại rồi về chỗ cũ. Hai chân quấn giẻ nhơ nhớp lún xuống tuyết, ngón chân vàng ệch quắp lại vì lạnh.

Mucke lục soát mấy người Nga khác. Người đàn bà có đôi găng tay, y bắt mang lại để cạnh đôi giầy. Y dừng lại một chút cạnh cái váy đỏ. Vải tốt mà chưa rách. Steinbrenner bụm miệng cười, Mucke đành thôi không bắt mụ cởi váy, có lẽ y sợ đại úy Rahe đứng cửa sổ nom thấy, có lẽ y cho rằng quần áo đàn bà không dùng được. Y lùi lại.

Người đàn bà lẩm bẩm nói vài tiếng Nga. Trung úy Muller ra lệnh:

– Hỏi xem chị ta muốn gì?

Người Muller tái nhợt. Đây là lần đầu y dự cuộc hành quyết.

Mucke nhắc lại câu nói cho lão già nghe. Lão trả lời:

– Nó không muốn gì cả. Nó chửi các người.

Mucke không hiểu quát to:

– Cái gì?

– Nó chửi các người, các người và tất cả quân Đức dày xéo trên đất Nga! Nó chửi các con người! Nó đợi con nó lớn sẽ bắn chết con các người như các người đã bắn nó.

– Đồ hỗn xược!

Mucke sợ hãi nhìn người đàn bà. Lão già lại nói:

– Nó có hai con, tôi cũng có ba đứa!

Muller vội ra lệnh:

– Thôi! Mucke! Chúng ta không phải người đi giảng đạo ở đây. Nghiêm!

Mấy người lính đứng nghiêm. Graber đã bỏ găng tay, thép lạnh làm tê buốt bàn tay và ngón tay. Y định bắn người ở đầu phía trái. Lần đần tiên được cử đi bắn tù nhân y đã bắn lên không. Chẳng bao lâu y bỏ cách ấy vì chẳng giúp ích gì cho tội nhân. Vì những người khác cũng nghĩ như y cho nên loạt súng thứ nhứt không trúng người nào. Phải bắn lần nữa tội nhân bị hành quyết hai lần. Một hôm y dụng ý bắn không trúng một người đàn bà, chị ta chạy đến ôm chân y vừa khóc mếu vừa cảm ơn y đã có lòng từ thiện cho sống thêm một phút. Graber không muốn nghĩ đến người đàn bà ấy nữa. Từ đấy y không muốn để xảy ra chuyện như thế.

– Súng lên vai!

Graber thấy lão già hiện lên trên đường ngắm, lão già mắt xanh, râu lem luốc. Y hạ tầm súng xuống để khỏi bắn vào mặt. Đã có một lần y bắn nát hàm dưới một tù nhân. Ngắm ngực mà bắn thì đích xác hơn. Y chợt nhận thấy một người để tầm súng cao quá đạn sẽ đi ở trên đầu phạm nhân.

Y vội bảo:

– Mucke trông thấy mầy đó. Ngắm thấp xuống nữa! Ngắm thấp xuống nữa! Ngắm vào ngực ấy!

Mucke ra hiệu bắn.

Người phạm nhân chồm lại phía Graber. Toàn thân hắn cong về đằng trước, như đứng trước cái gương lõm làm lệch bóng người. Người hắn vặn đi rồi ngã ra sau.

Lão già té ngay xuống hố, trông chỉ còn thấy hai chân. Những người kia ngã xuống ngay chỗ đứng. Người mất đôi giầy đưa hai tay lên mặt như muốn chống đỡ. Một bàn tay nát bấy còn cái gân dính tòng teng. Không ai nghĩ đến việc bịt mắt trói tay phạm nhân.

Người đàn bà ngã về phía trước. Chị ta chống hai tay ngẩng mặt lên nhìn bọn Graber. Steinbrenner ra bộ hớn hở. Chỉ có mình y bắn vào người đàn bà. Đạn trúng bụng, tuy rằng y là tay thiện xạ.

Hai chân lão già giẫy giụa một lần nữa rồi ngưng lại. Chỉ có người đàn bà còn sống, chị ta vẫn chống hai tay, ngẩng mặt nhìn mấy người lính Đức. Chị ta rít lên từng cơn, nói những tiếng chẳng ai hiểu cả. Người ngồi chồm hổm như một con ếch đỏ lòm bị thương chí tử, miệng lẩm bẩm chửi bới. Không còn ai thông ngôn. Chị ta không chịu quay đi khi Mucke lại gần lấy súng lục ra. Chị vẫn nói không ngớt. Đến lúc cuối cùng chị ta mới trông thấy khẩu súng. Bỗng dưng chị ta vùng dậy lấy răng cắn bàn tay Muller. Muller văng tục và giáng một quả đấm xuống mặt. Chị ta phải buông, y dí súng bắn vào gáy chị ta.

Trung úy Muller tức giận la lên:

– Các anh không biết bắn nữa à? Làm ăn như chó mửa!

Graber nói:

– Thằng Hirschland đấy!

– Im miệng. Ai hỏi mầy mà mầy nói?

Mucke mắng Graber rồi quay lại nhìn Muller, Muller đứng yên lặng, người tái nhợt. Mucke cúi xuống nhìn xác hai người Nga. Y dí súng vào tai người trẻ nhất bóp cò, cái đầu bật lên rất mạnh rồi ngay đơ. Mucke cất súng và nhìn bàn tay rồi lấy khăn tay ra băng lại.

– Đi kiếm chút canh-ti-dốt bôi vào. Trại cứu thương ở đâu?

– Căn nhà thứ ba tay mặt đó, trung úy.

– Đi ngay đi.

Mucke đi khỏi. Muller nhìn mấy cái xác chết. Người đàn bà nằm úp mặt xuống đất.

Muller bảo mấy người:

– Bỏ xuống huyệt lấp đất đi.

Bất thần y run lên vì tức giận, không hiểu tại sao.

Một thời để yêu & Một thời để chết.

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Post by Sơn râu 18 May 2026

Yêu và chết của một người trên mặt đất, nhất là trên mặt đất đầy lửa và máu, hoài vọng và thất vọng cay đắng. Một thời yêu và một thời chết, chỉ một thời thôi đời sống của con người kéo dài trong tiếng rạn nức của diêm sinh bắn lửa trên đầu que diêm. Một thời để yêu và một thời để chết, một quyển tiểu thuyết dầy trên năm trăm trang, làm máy động lên những vùng tóc tơ của tình yêu và những tiếng kêu chiều của sự chết. Một người đàn ông mang tên X, gặp cô gái mang tên Y, gặp nhau tình cờ trong bối cảnh, mang tên Z.

Tên X ấy có thể là Ernst Graber và cũng có thể là Xuân, Minh, Vinh hay Tâm; tên Y ấy có thể là Elisabeth Kruse và cũng có thể là Vi, Thủy, Ngọc hay Lan, tên Z kia có thể là một thành phố Đức giữa thời đại chiến mà cũng có thể là một thành phố nào đó. Tình yêu giữa thời chiến, đây là câu chuyện muôn đời xảy ra muôn lần trên lịch sử muôn năm của muôn triệu con người, nhưng đọc một thời để yêu và một thời để chết của Erich Maria Remarque, chúng ta mới thấy rằng có một thời tình yêu và chiến tranh lại trở thành những đề tài sáo cũ và lỗi thời, mà cũng có một thời tình yêu và chiến tranh lại trở lại thành những tiếng gọi thầm thì và những tiếng thống thiết đồng vọng lên hơi thở không ngừng của trái tim. Remarque đưa mình vào một buổi chiều phiêu lãng có mây nhẹ bay qua trên đống gạch vụn điêu tàn của một nền văn minh giẫy chết. Remarque không làm văn chương; chất thơ phớt nhẹ vào quyển tiểu thuyết ông như một chút nước mát từ đồi cao rưới xuống mặt đất cháy đen của thời chinh chiến.

Lối văn giản dị, không tô đậm những thông điệp của một sứ giả hay một tiên tri từ vùng trời lý tưởng trở về thế gian hữu hạn để cất tiếng nói lên kêu gọi một cái gì đó. Không, Remarque không phức tạp như một André Malraux không chua xót hận thù như Malaparte, không lạnh lùng tàn nhẫn như Norman Mailer, không thất vọng bơ vơ như Hemingway. Người về từ chiến tranh. Trong tiểu thuyết của Remarque, không về trong sự lạc loài thờ ơ của Faulkner, mà trở về với hoài tưởng tới những con chim sơn ca ở đầu làng, về trong tình yêu và ra đi trong sự chết, dó là một chút khói thuốc mà Remarque gởi tặng cho chúng ta, vì như một nhân vật trong một cuốn tiểu thuyết khác của Remarque “người ta chỉ có thể tìm được thanh bình trong khói thuốc”. Sự trở về kêu gọi quê hương, tình yêu, thanh bình; sự ra đi kêu gọi sự chết chiến tranh, hận thù, ngộ nhận, hư vô. Đó là một cội cây anh đào trổ bông mà Remarque đem về tặng cho mỗi người trong chúng ta, những người đang sống qua kẽ nứt của mái nhà tranh quê mẹ. Trong một quyển tiểu quyết khác của Remarque, mang tên là Mặt trận miền Tây đều yên lặng, một nhân vật nào đó không ngừng ám ảnh trí nhớ của mình, đó là một anh tân binh quân dịch, một hôm, khi ngoài cửa sổ trại lính anh bỗng nhìn thấy cây anh đào trổ bông bừng lên cả khung cửa, suốt đêm đó, anh trằn trọc ngủ không được, anh nhớ đến cây anh đào ở quê nghèo, và sáng hôm sau, người ta không còn tìm ra hành tung anh nữa. Anh đã trở về.

Ra đi và trở về. Ra đi trong trầm uất và trở về trong liều lĩnh rạo rực. Sống rạo rực và chết như khói bay lên trời. Mộ thời để yêu và một thời để chết. Yêu một lần và chết một lần. Chỉ một lần. Remarque trao tặng chúng ta một thời để yêu và một thời để chết. Từ mặt trận ở Nga, Graber trở về nghỉ phép ở quê hương, chàng đã chờ dợi hai năm rồi mới được dịp may bất ngờ này. Về tới quê nhà, chàng không còn thấy, không còn nhìn ra mái nhà xưa nữa, bom đạn đã làm tan nát tất cả: cha mẹ chàng mất tích, chàng bơ phờ tìm kiếm hành tung của cha mẹ, nhưng rồi tình cờ gặp cô Elisabeth Kruse, họ yêu nhau, yêu nhau đến độ cao cuối cùng của phong vũ biểu, vì họ chỉ biết rằng mọi sự đều chỉ đến có một lần thôi. “Thực là lạ, anh nhỉ, Elisabeth nói, có lẽ là mùa xuân đang tới, em có cảm giác là đâu đây thoảng thoảng mùi hoa đồng thảo…”.

Và thỉnh thoảng Graber còn nghe được tiếng chim họa mi vô hình kêu hót, dù bao nhiêu sự việc đã trôi qua từ bao giờ. Nhưng giữa cánh đập của con én liệng ở lầu chuông, Graber cũng thể quên hẳn kỷ luật quân đội và chàng phải trở ra trận, để rồi sau cùng bị bắn chết, lúc chàng mở cửa tù cho tội nhân trốn thoát. Lòng nhân đạo của chàng đã bắn chàng chết: chàng muốn giải tỏa tù nhân và chính tù nhân được trả tự do đã quay ngược lại chĩa súng bắn vào chàng. Câu chuyện chấm dứt bằng một câu đơn giản: “và đôi mắt chàng đóng khép lại”, thế mà chúng ta có cảm tưởng rằng câu nói ấy về sự đóng khép của một vũ trụ nào đó, một vũ trụ mà: “một cụm mây bay chậm qua bầu trời. Những con chim kêu ríu rít trong rìhững cội phong già. Một con bướm xanh lơ lảo đảo từ đóa hoa này đến đóa hoa khác và bay lượn trên những hô lạc đận. Một chặp sau đó, một con bướm khác bay tiếp theo với con bướm xanh kia. Hai con bướm vui đùa với nhau và săn đuổi nhau. Tiếng ì ầm ngoài mặt trận vang động lớn dần. Hai con bướm giao cấu nhau và bay cao lên chậm chạp trong không khí ấm và sáng. Graber nằm ngủ”.

Erich Maria Remarque, nhà văn Đức sinh năm 1898, bị thương năm lần tại mặt trận, sống ở Mỹ quốc trong thời đại chiến 1939-1945, đồng thời sống ở Pháp và Thụy Sĩ. Ông là một tiểu thuyết gia nổi danh của văn học Đức hiện đại, nhiều quyển tiểu thuyết của ông bán chạy nhất thời hậu chiến. Những quyển tiểu thuyết của ông đều nói lên sự tàn phá của nền văn minh Tây phương, của chiến tranh và hận thù. Tình yêu và tình thương vẫn là đề tài muôn thuở mà ông không bao giờ viết lên với những tiết nhịp dễ dãi của thứ văn chương lãng mạn hời hợt. Tính cách lãng mạn trữ tình của Remarque là một đóa hoa mọc lên từ máu và bùn. Đọc Remarque, chúng ta cảm thấy niềm tin vào cuộc đời vẫn còn đó rạng rỡ như một cơn lửa chiều. Chúng ta khó quên một đoạn trong một thời để yêu và một thời để chết:

– Không nên bao giờ cứu vớt những giấc mộng.

– Nên chứ, nếu không cứu vớt những giấc mộng thì cứu vớt gì bây giờ?

– Cứu vớt Niềm tin. Còn những giấc mộng thì tự chúng sẽ hồi sinh lại.

Giấc mộng này đi qua, nhưng giấc mộng khác sẽ đến và sống lại. Chỉ có Niềm tin là đáng nuôi dưỡng khi bóng tối vây phủ trên giấc mộng loài người.

Con chim bay lạc

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 18 May 2026

Tiếng động bên ngoài cửa sổ làm tôi giựt mình thức giấc. Hồi chiều làm việc mệt quá, tắm xong lên giường đánh một giấc thẳng cẳng, lúc ngủ tôi quên kéo màn cửa và quên tắt đèn nên khi mở mắt ra thấy ánh sáng tràn ngập căn phòng. Tuy mắt nhắm mắt mở nhưng tôi cũng thấy bóng của con chim đập cánh phành phạch bên ngoài khung kiếng. Tốc mền ngồi dậy, tôi bước xuống giường, đi nhanh ra ngoài. Không kịp bận đồ ấm nên vừa mở cửa bước ra boong, khí lạnh tạt vào người làm nổi da gà, gồng mình chịu lạnh, tôi bước nhanh ra phía ngoài cửa sổ để cứu mạng con chim. Tới nơi tôi thấy con chim vẫn còn vẫy cánh phành phạch như muốn tông bể cửa kiếng để chui vào trong, tôi bèn đưa hai bàn tay hốt lấy con chim. Khi tôi day trở lại, vô ý vấp phải cái nắp hầm té nhào. Vẫn cầm chặt con chim trong hai lòng bàn tay, tôi chống cùi chỏ, lồm cồm đứng dậy và đi nhanh trở vô trong phòng.  Một tay cầm con chim, một tay vuốt bộ lông mướt rượt của nó, thấy nó còn khoẻ mạnh, tôi buông nó ra, nó liền bay đậu trên kệ sách. Cho nó đậu nghỉ mệt, tôi xem lại mình mẩy của mình, cùi chỏ bị trầy một chút nhưng không bị thương tích gì hết, chỉ có áo quần bị ướt và lấm lem, tôi đi lại mở hộc tủ lấy áo quần sạch ra thay. Thay đồ xong tôi đi tới kệ sách đưa tay định bắt con chim, nhưng nó né ngang và quạt cánh một cái, bay phóng xuống đậu trong góc phòng. Tôi nghĩ, chắc tại nó còn sợ nên hốt hoảng, tôi không đụng tới nó nữa. Tôi ngồi chồm hổm quan sát con chim, trông nó mập mạp, đuôi dài xoè ra, lông màu xám trông cũng khá đẹp. Nhìn hai bàn chưn tôi biết nó không phải là loài chim sống trên biển, những loài chim sống trên biển thường có bàn chưn da liền ngón, giống như chưn con vịt. Nhưng bàn chưn chim này giống chưn gà, đôi chưn khẳng khiu, hơi dài và thân hình nó lớn hơn con chim sẻ. Có lẽ đây là chim nhại, loài chim có biệt tài bắt chước tiếng hót của những loài chim khác rất hay, không phá hoại, không hận thù chỉ biết tập trung nhiều tiếng hót bằng cả tấm lòng thành những khúc nhạc cho người ta thưởng thức… Để nó ở đó, tôi đứng dậy, tắt đèn, leo lên giường nằm. Biết chim không thể nào hót được trong lúc này, nhưng tôi hy vọng nghe tiếng của nó. Chờ một hồi tôi ngủ thiếp đi hồi nào và bao lâu hổng biết. Tới khi con chim làm gì mà phát ra tiếng ực ực ực ực… cứ liên tiếp làm tôi chợt thức và không sao ngủ lại được. Tôi ngồi dậy mở đèn, cúi xuống nhìn con chim, không nghe tiếng ực ực nữa, trông nó có vẻ rụt rè sợ sệt, nhưng không có vẻ bịnh đau gì hết. Tôi bận quần dài và choàng áo ấm, đi xuống kho chứa đồ tìm lấy thùng giấy đem lên và bắt con chim nhốt lại. Tôi bưng thùng chim ra để sau lái tàu, chỗ khuất gió, chờ trời sáng thả nó đi.  Tôi đứng lên nhìn ra biển, không biết mấy giờ mà mặt biển tối đen, bầu trời đầy sao. Hồi sớm thấy trăng lưỡi liềm, nhưng bây giờ trăng lặn đâu mất. Mới qua tết tây hơn một tuần, năm nay tết ta nhằm cuối tháng một tây, vậy là hết con trăng này thì tới tết Nguyên Đán rồi.   Xa xa về phía đất liền, đèn của làng xóm thì tỏa ra chòm sáng yếu ớt, đèn của thành phố lớn thì tỏa ánh sáng rực rỡ hơn và dải đất liền thì còn ẩn trong bóng tối. Biển lặng im phăng phắc, không khí lạnh của mùa đông ven bờ biển nước Ý không quá khắc nghiệt như trong vùng Baltic. Lạ thiệt, không hiểu sao đêm nay không thấy bóng đèn của tàu buôn nào và luôn cả những ghe đánh cá cũng biến đâu mất hết, làm cho biển vắng vẻ trầm buồn càng buồn thêm. Lâu lắm rồi tôi không có cảm giác nhớ nhung, nhưng đêm nay, có lẽ vì con chim và sự quạnh hiu của biển đã gợi trong tôi niềm nhớ. Nhớ mấy năm trước tôi có về Việt Nam, cũng vào những ngày này, nghĩa là trước Tết ta vài tuần. Tôi ở nhà thằng cháu họ, nhà nó ở miệt vườn miền Tây Nam phần. Nó là một Phật tử nhưng không ăn chay trường, cuộc sống giống như một cư sĩ, hay giúp đỡ người khốn khó, nhưng ai gọi nó là người tu hành nó hổng chịu. Nó không bao giờ vào những ngôi chùa nào có tổ chức lễ phóng sanh, nó nói: – Phóng sanh gì chú ơi, sát sanh thì có. Chú tới những ngôi chùa có lệ phóng sanh nhằm ngày rằm, ngày lễ lớn, chú sẽ thấy từ trong sân chùa ra tới ngoài cổng chùa cá nước, chim trời nằm chết ngổn ngang. Những ngày thường nó thấy ai bán chim là nó mua đem về thả. Những ngày lễ lớn, nó cũng bỏ ra một số tiền, mua những con chim người ta bán để phóng sanh đem về thả ra sau vườn, con nào còn khoẻ mạnh thì cho bay đi, con nào bị người ta nhổ lông cánh thì nó cho bay nhảy sau vườn, nó để thóc gạo cho ăn, khi nào lông mọc lại đầy đủ và khoẻ mạnh thì cứ tự nhiên bay đi đâu thì bay. Nó nói: – Những con chim bị người ta cắt cánh hổng bay được xa, để người ta thả ra và dễ dàng bắt lại.  – Phóng sanh rồi bắt lại, đạo lý gì ở đây?  – Đạo gì chú ơi, toàn là rác rến của Tàu đem qua nước mình đổ đó thôi. Câu nói của thằng cháu làm cho tôi nghĩ tới sự mê tín dị đoan tràn lan trên đất nước quê hương này…  Vườn nhà của thằng cháu có rất nhiều chim, ngoài những con chim bị người ta cắt lông cánh bay không được xa ra, có lẽ những con chim khác nó thả không chịu bay đi vì còn lưu luyến mảnh đất lành, “Đất lành chim đậu.” là lẽ đương nhiên. Những ngày mới về mỗi sáng, mỗi chiều tôi nghe tiếng chim kêu om xòm trời đất làm tôi có hơi bực bội, nhưng ở vài tuần thì nghe quen, cảm thấy vui tai, tâm trí rất thoải mái và rất bình an. Những tháng ngày đi xa, mỗi khi nhớ quê, cũng như đêm nay, tôi lại nhớ tiếng chim kêu rộn rã vào buổi sáng và buổi chiều nơi miền quê ấy.  Lại nhớ miên man tới những cái am trên trên đỉnh núi, những ngôi chùa ngoài hải đảo xa xôi. Tôi rất thích những ngôi chùa nép mình bên đồi núi, thấp thoáng trong rừng cây, có mây mù bao phủ. Nơi đó có những người tu hành áo lam, áo nâu bạc màu, sờn vai cũ kỹ. Suốt ngày lam lũ, cuốc đất trồng khoai, tỉa hành, tỉa rau, tưới đậu và sống cuộc đời đạm bạc. Ăn cơm rau rừng, uống nước mưa, tắm nước suối, trông rất hiền từ, không toan tính nọ kia. Nơi núi rừng đó chim muôn, chuột, thỏ, gà rừng sống rất yên bình. Chúng không sợ những tên đồ tể, đầu trọc lóc, đội mão quốc sư, tay cầm tích trượng, bận áo cà sa, ăn, uống cho cố, tên nào tên nấy mập như heo, có gái đẹp đi theo hầu hạ. Đã vậy còn bày vẽ tùm lum, biến chùa chiền thành nơi buôn bán thú vật, thành lò sát sanh. Nghĩ tới đây, tôi phát rùng mình, nổi da gà. Tôi ngó vô bờ, trong kia là dải đất liền của nước Ý, dân Ý theo đạo Thiên Chúa, đạo Chúa không cấm ăn thịt thú vật, không bắt buộc tín đồ ăn chay. Nhưng chim chóc nơi đây có đời sống bảo đảm và rất an toàn.  Nghe thấm lạnh, tôi day lưng định đi vô, chợt nghe tiếng con chim vùng vẫy rột rẹt trong thùng. Hổng được! Chợt nhớ ra, tôi đã từng chứng kiến nhiều con chim chết trên thành cửa sổ cũng vì lao vào ánh sáng đụng phải cửa kiếng hoặc bị nhốt trong chỗ chật hẹp, chúng đập cánh tìm cách thoát thân, vật vã đến khi mệt mỏi rồi chết. Tôi day lại, cúi xuống mở thùng ra, nhè nhẹ bắt con chim trong hai lòng bàn tay. Tôi đứng lên đưa thẳng hai tay về phía đất liền và nói với con chim: – Mày bay vô đất liền đi, những nhà thờ ở trong đó hổng có lệ phóng sanh, dù sao trong đó cũng an toàn hơn, đừng bay ra biển, biển hổng phải là môi trường sống cho loài chim như mày, nguy hiểm lắm. Buông con chim ra: – Gút bay chim nhé. Chim liền vụt bay lao vào bóng tối, mãi tới giờ tôi mới nghe tiếng nó kêu. Tiếng kêu rộn ràng âm vang giữa bóng đêm. Tôi có cảm tưởng như con chim vui mừng lắm và làm tôi cũng vui lây.     
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 18 May 2026

Tôi ở đậu nhà bà Ba. Nhà có hai gian, cất theo kiểu nhà ngang. Gian bên trái, làm nơi thờ Phật. Phía trong, có căn phòng nhỏ là chổ ngủ của bà, Cửa trước, luôn luôn đóng kín. Ngọn đèn dầ nhỏ trên bàn thờ Phật, soi một thứ ánh sáng mù mờ huyền ảo. Mọi sự ra vô đều dùng cánh cửa ăn thông qua gian bên trái. Gian bên trái là nơi sinh hoạt, cũng là chổ ngũ và bàn học của tôi.

Bà Ba là nhân vật lạ. Tuổi sáu mươi tư. Thân hình đẫy đà cao ráo. Tôi hình dung, lúc xuân thời bà là một giai nhân. Tôi không thấy chồng con. họ hàng thân thuộc, cũng chẳng khi nào nghe bà nhắc tới. Bà sống rất thảnh thơi. Ngoài chuyện đi chùa, và tụng kinh hằng đêm, bà không làm gì cả. Đôi lần nghc nói, bà có nhiều ruộng đất ở Lương Sơn. Bà bán tất. Có lẽ, số tiền đủ để bà thong dong suốt quãng đời còn lại. Nhiều người đàn bà năng đi chùa, trong đó có bác Huế, quen biết bà Ba. Nhưng không ai ghé nhà bà, dù một lần cũng không. Bà sống rất cô độc. fi nói đến độ dị thường. Tôi là người duy nhất gần gũi với bà. Dù thế, cũng chỉ trao đổi những câu cần thiết. Bác Huế nói, nghe đâu thời trẻ bà Ba đã từng làm cho nhiều đàn ông tan nhà nát cửa, Bây giờ, bả chịu tu rồi. Bà Ba cho tôi ở đậu với điều kiện, tôi phải ăn chay trường như bà. Tôi nghĩ, thế cũng tốt. Ăn chay là thể hiện tinh thần bác ái với muôn loài. Tránh dược cai họa sát sinh, có dịp làm lành lánh dữ, Phật sẽ gia hộ độ trì cho tôi được may mắn trên đường đời. Tôi chịu tiền ăn cơm chung với bà. Quanh năm suốt tháng, chỉ một món ăn. Cải bẹ xanh luộc, chấm với nước tương. Thỉnh thoảng, bà luộc thêm những bông hoa huệ trắng lấy xuống từ bàn thờ Phật. Mỗi tuần, bà uống thêm một thang thuốc Bắc tẩm bổ, sắc từ chiếc ấm đất. Ăn uống như thế, bà vẫn mạnh khỏe phây phây. Tôi ăn như thế, nhưng không uống như thế. Người cứ trơ xương, mất máu dần. Mỗi tháng lãnh tiền kèm trẻ, trước khi vào tiệm phờ, tôi khấn thầm, xin phép Phật cho con nửa giờ ăn mặn. Tôi gọi tái chín gân sách gầu nạm nước béo hành trần đủ thứ, đớp một bụng nó nê. Vừa về nhà, bà Ba biết ngay rằng tôi vừa “phá giới”. Mặt bà lạnh đi. Bà nói, kẻ ăn mặn không được bước chân lên bậc thềm nhà bà. Tôi năn nì, bà Ba ơi, trước khi ăn mặn con đã xin phép Phật rồi. Bà hỏi, Phật nín thinh, phải không? Tôi thưa, đúng vậy, im lặng là bằng lòng. Bà nói, trong thinh lặng có biết bao nhiêu lời vô ngôn Phật dạy bảo. Con đừng lý luận theo kiểu phàm phu. Những lần sau lén ăn mặn, tôi đánh răng súc miệng thật kỹ, nhưng bà cũng biết. Bà nói, thân thể của người ăn mặn toát ra mùi tanh, làm bà buồn nôn không chịu được.

Mỗi tối. Bà Ba gọi tôi lên nhà thờ Phật, ngồi gõ mõ cho bà tụng kinh. Đó là lý do duy nhất, tôi được lên gian nhà này. Bình thường bà cấm, vì nơi thờ phụng không thể ra vô làm khuấy động chốn trang nghiêm. Mới đầu, tôi ngồi bán già, gõ không đều, lúc chậm lúc mau. Bà Ba dạy mãi, tôi cũng ngồi được kiết già, gõ đúng theo ý bà. Lúc bà tụng, tôi gõ cốc cốc cốc … , nhẹ, đều. Khi nghe chuông ngân một tiếng boong, có nghĩa là vừa dứt một đoạn, tôi gõ cốc cốc cốc … , mạnh hơn. Đêm nào bà cũng lặp lại, tuần tự đúng theo một nghi thức.

Tịnh khẩu nghiệp chân ngôn. Tịnh thân nghiệp chân ngôn. Tịnh tâm nghiệp chân ngôn. Sau đó, bà bắt đầu khai kinh, đọc chú. Tôi vừa gõ mõ, vừa ngủ gục. Nghe bà lên giọng, bại xà ra báng ni phấn, hủ hàm tô rồ ung phấn, sa bà ha, tôi biết thời tụng sắp xong. Chỉ ráng vài phút nữa thôi. Đến khi, nga đằng giữ chúng sinh, giai cộng thành Phật đạo và ba tiếng chuông boong boong boong, là xong hoàn toàn. Tôi ưỡn mình, hít một hơi dài thoải mái. Đứng dậy cung kính xá Phật ba xá, trở về bàn học. Khi mở quyển sách ra. tôi bắt đầu ngáp. Chữ nghĩa nhập nhòa, Đầu óc lơ mơ. Đồng hồ chỉ đúng mười môt giờ khuya.

Tương truyền, thời gian chín năm tổ Dạt Ma diện bích, mỗi khi buồn ngủ, ngài đưa tay lên mắt rút “con buồn ngủ” ném ra ngoài, Lâu ngày chầy tháng, trước hiên thiền phòng mọc lên một loại cây lạ, Người ta hái lá cây này, nấu nước uống, có công dụng làm tỉnh táo, xua tan cơn buồn ngủ. Từ đó, đặt tên là cây trà, Thấy tôi dật dờ, bà Ba bảo nên uống nước trà. Lúc đầu uống tra làm tôi tỉnh ngủ, nhưng cái đầu mệt mỏi, học chẳng nhớ được gì. Những lần sau, tôi uống trà, vẫn ngủ. Bà Ba nói tôi bị lờn trà, giống như người ta lờn thuốc vậy.

Tôi học hành ra sao, bà Ba không quan tâm, Bà cho rằng học là lo chuyện thế gian. mà đời người ngắn lắm. Tôi nghĩ, với số tuổi sáu mươi tư của bà thì đời còn lại ngắn thật. Nhưng tôi mười tám, đời còn đài. Bà khnyên, nên mau tu hành keo muộn. Tôi nghĩ, còn những đứa con gái như Phương Nghi lao xao trên cõi đời, làm sao tôi tu được? Nhất là khi tôi khám phá ra thân thể kỳ diệu của đàn bà qua chị Triều, thì lên Niết Bàn chắc gì đã sung sướng hơn sở hữu một nữ nhân?

Bà Ba thương tôi, lo cho kiếp sau tôi trầm luân trong bể khổ. Còn kiếp này? Bà nói, như chiếc áo mặc tạm, xấu đẹp không cần.

Học phí năm đệ nhị khá cao. Tôi không đủ khả năng đóng tiền trường, chỉ ghi đanh học cua toán lý hóa. Tất cả các môn khác, tội mua sách về tự học. Thời gian này, tôi quen với thằng bạn tên Ẩn. Nó học cao hơn tội một bậc, đang chuẩn bị cho chương trình đệ nhất, thi tú tài toàn phần. Nhà nó ở Xóm Bóng, rất nghèo. Ngoài những giờ học cua, nó không đến trường nào cả. Thằng này thông minh dễ sợ. Ít thấy nó để mắt vào quyển sách, nhưng hỏi điều gì nó cũng thông suốt. Nó là thằng hướng dẫn thêm bài vỡ cho tôi. Và cũng là thằng hay rủ rê toi đạp xe long nhong trên đường Duy Tân, dọc theo bờ biển. Nó bảo, phải đi chơi cho đầu óc thanh thản. Gầm đầu hoài vô sách vở như tôi, chỉ có nước ăn cám heo. Nó nói đúng. Nhiều khi tôi học bài như đọc thần chú, chẳng hiểu nghĩa lý ra sao.

Ấn có thằng bạn tên Đăng, Đăng có thằng bạn tên Tưởng. Hai thằng này là con nhà giàu. Chúng tôi quen dây chuyển thành bộ bốn. Bà Ba cấm tuyệt, không thằng bạn nào của tôi được dến nhà bà. Mỗi lần muốn rũ tôi di chơi, một thằng chạy xe dạp ngang nhà, huýt gió tò tí te … to tò tò te … Tôi đáp lại tò tí te … tò tò tờ te … , và xách xe đạp ra đi. Bà Ba là người tụ hành yên tịnh, không chịu nổi sự phóng đãng của tôi, nhưng không hề năng lời phiền trách.

Bà nói: “Con tu không ra tu, học không ra học. gõ mõ thì ngủ gục. Bà tụng kinh trì chú cho con nghe, mơng kinh chú thấm nhuần tâm con. Vậy mà tâm con không chuyển.”

Tôi nói: “Kinh bằng tiếng Hán, chú là ngôn ngữ của Phật. Cả hai, con đều không hiểu.”

“Tu hành cốt ở niềm tin. Chúa Giê Su cũng phán, phúc cho ai không thấy mà tin. Bất cứ tôn giáo nào cũng đặt niềm tin lên yếu tố hàng đầu.”

“Đức Phật không chủ trương cuồng tín. Ngài bảo, đừng vội tin những gì ta nói, mà hãy suy nghiệm xem có đúng hay không” Đại nghi ắt đại ngộ là thế.”

“Con ơi, những lời con vừa nêu là để dành cho bậc thiền đức. Bà với con nghiệp dày phận mỏng sơ cơ, làm sao thấu đáo lời Phật day? Đọc sách thánh hiền nhằm hiểu ý chứ không nắm lời. Phật bảo, kẻ nào theo sát từng lời từng chữ của ta là phỉ báng ta.”

Tôi tiếp theo liền: “Nhưng Phật cũng lại bảo, kẻ nào xa rời một chữ của ta là phá hoại Phật pháp ta. Như thế, con phải hiểu theo nghĩa nào đây?

Bà nói: “Bà cũng là người đang mò mẫm trên đường đi. Điều gì biết thì nói, không biết mà tự ý giải nghĩa sai, mắc tội đọa địa ngục. Con hỏi khó làm gì?”

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Tôi không biết ai là tác giả câu nói “nếu biết đi, cái cột đèn cũng đã ra đi”, nhưng lời nói này đã mô tả thảm trạng khốn nạn, khổ đau của dân tộc chúng ta sau ngày 30 tháng 4-1975. Kể từ ngày miền Nam rơi vào tay Cộng Sản, hàng triệu người đã tìm cách bỏ nước ra đi, chấp nhận chết chóc, tù đày để tìm tự do. Các nguồn tin đều phỏng định có hằng trăm người vượt biển ra đi, cứ một người đến đất liền thì có một người chết trên biển cả. Bao gồm cả những thuyền nhân vượt biển, các đợt “bán chính thức” khi chính phủ Cộng Sản công khai đẩy Hoa Kiều ra khỏi nước, khiến cho ngày nay, ở chân trời góc biển nào cũng có người Việt Nam lưu vong. Đến nước Mỹ thì có chương trình con lai “tìm về đất cha”, chương trình định cư của những người tù “cải tạo”, chương trình “Ra Đi Có Trật Tự”, và chương trình bảo lãnh thân nhân của gia đình định cư tại Mỹ. Vì vậy cho đến ngày nay, nước Mỹ là nơi có đông người Việt định cư nhất trên thế giới, con số đó là một triệu, sáu trăm bốn mươi hai nghìn, chín trăm năm mươi người (1,642,950), chỉ mới tính đến năm 2007. Thời gian nào được xem như thời gian chấm dứt cuộc trốn chạy chế độ Cộng Sản được xem như là dài nhất trong lịch sử loài người. Phải chăng là cho đến lúc Cộng Sản tuyên bố giai đoạn “mở cửa” và những người ra đi vội chóng quên đã trở về vui vẻ trong ngày lễ hội mới trên nền đất xưa, vốn một thời đã đầy dẫy xương máu, thù hận, xót xa của một thời chưa lấy gì làm xa lắm. Nhưng về, mà không ở lại, làm một người du khách mang hộ chiếu ngoại quốc thì dễ, nhưng làm một công dân bình thường trong chế độ Cộng Sản mới là khó. Ngày nay đã không còn những cuộc vượt biển trong bóng đêm. lén lút, nguy hiểm đến tính mạng cho người đi, nhưng không phải là những cuộc ra đi từ bỏ đất nước, hay nói cho đúng đắn hơn, chạy trốn chế độ Cộng Sản đã chấm dứt. Không một nơi nào dọc trên con “đường chết” từ Việt Nam đến Mỹ ngày nay chấp nhận cứu vớt bạn trên những con thuyền mỏng manh nữa và nước Mỹ cũng ngưng tiếp nhận người Việt vào đất liền, nếu bạn không đi qua ngã Đại Sứ Quán Mỹ ở Việt Nam. Cuộc ra đi ngày nay không phải lội sông, qua biển, chịu đói khát mà trái lại một cuộc ra đi có đón đưa, có tràng hoa mừng người mới đến. Và dù nói thế nào đi nữa, nước Mỹ vẫn là nơi người ta mơ ước được đặt chân tới, dù được ở lại thăm viếng một thời gian hay phải trở về. Có người vui vẻ đến Mỹ và được sinh sống mãn đời ở đây và cũng có người chỉ mong được vui chơi trong một thời gian ngắn, vì nước Mỹ không chấp nhận cho họ ở lại.

Có sinh viên, học sinh nào ở Việt Nam mà không muốn được đi du học tại Mỹ không? Có cán bộ “nhà nước” nào mà không mong con mình được xuất ngoại đến Mỹ, có thương gia nào mà không muốn gởi con vào các trường Đại học Mỹ? Đó là giấc mơ của tuổi trẻ và các bậc cha mẹ tại Việt Nam, nhưng không phải dễ thành sự thật, vì chi phí cho một du học sinh đến Mỹ quá cao: $25,000.00 học phí cho một năm chưa kể các chi phí ăn ở, y tế, phương tiện di chuyển, vui chơi giải trí, thủ tục xuất, nhập cảnh.

Vào niên khoá 2007-2008, số du học sinh từ Việt Nam đến Mỹ, xếp hạng thứ tự trên số du sinh toàn thế giới đang đứng hạng thứ 20 lên đến hạng thứ 13, nhờ chế độ qua thời “bao cấp” và bước vào thời “mở cửa”, nhờ ăn nên làm ra, nên cán bộ nhà nước và những người có “máu mặt” phải nghĩ đến việc gởi con ra ngoại quốc và chính phủ Mỹ cũng muốn tăng con số du học sinh Việt Nam đến Mỹ. Niên khoá 2009-2010, số sinh viên Việt đến Mỹ tăng 20% so với năm 2008 và 45% so với năm 2007. Theo con số được ghi nhận ngày 15 tháng 11-2010, hiện nay số sinh viên Việt Nam du học ở Mỹ là 13,112. Phải công nhận rằng, ngày nay không phải tất cả du sinh Việt Nam tại Mỹ đều là con cái đảng viên, nói nôm na là “con ông cháu cha”, mà những ai phất lên trong cuộc “đổi đời” hiện nay tại Việt Nam, trong đó có cả những người của chế độ miền Nam trước đây đều cố gắng “hy sinh đời bố, củng cố đời con”, tìm cách cho con cái đi học ở nước ngoài, đương nhiên đi Mỹ là ưu tiên. Chúng ta nên lấy làm mừng trước phong trào du học sinh Việt đến Mỹ càng ngày càng đông, nhưng chúng ta lấy lý do gì để nói đây là một cuộc bỏ nước ra đi thầm lặng, không khác gì những cuộc vượt biên ngày trước. Bạn thử làm một cuộc nghiên cứu về tâm lý sinh viên Việt Nam ở Mỹ, phỏng vấn hàng nghìn phụ huynh có con em là du học sinh, để có thể có một kết luận không xa thực tế mấy là xem như hầu hết sinh viên sau khi tốt nghiệp, hay chưa tốt nghiệp cũng chắng sao, tìm cách ở lại nước Mỹ hợp pháp. Cha mẹ nào cũng trông mong con cái được lập gia đình, kết hôn với công dân Mỹ để có quyền ở lại Mỹ, gây được cơ sở làm ăn và đặt một nhịp cầu cho việc di dân của họ mai sau. Một số sinh viên sau thời gian du học, phải trở về để quản lý tài sản của cha mẹ, điều hành cơ sở thương mãi của giòng giõi, nhưng không về cũng chẳng sao, vì bây giờ là lúc chuyển tài sản, tiền bạc sang nước Mỹ không còn là chuyện gì khó khăn. Có lẽ nước Mỹ cũng trông mong và khuyến khích việc này, chỉ mong đồng đô la mà người Việt tỵ nạn đã có quyền tự do, phung phí tiếp máu cho chế độ trong nước, có dịp trở lại nằm trong các trương mục ngân hàng của Mỹ.

Ai không có điều kiện được thân nhân bảo lãnh, hay xuất ngoại du học thì có chút tiền cũng tìm cách du lịch sang Mỹ một lần cho biết mặt “tên sen đầm quốc tế” ra sao. Bây giờ là thời đại bốn biển một nhà, ở Việt Nam, bây giờ người ta đi Hồng Kông, Trung Cộng, Thái Lan, Kampuchea, Singapore, Nam Dương, Nam Hàn, Mã Lai … dễ dàng như đi chợ, còn anh Tàu Cộng thì vào ra đất nước ta đêm hôm thế nào cũng được, vì “nhà nước ta” đã gỡ phên dậu, bỏ hàng rào cho người anh em hàng xóm “môi hở răng lạnh”, lúc nào muốn sang thì cứ sang. Nhưng quái lạ, là nước Mỹ vẫn giữ giá cao, vào ra nước Mỹ còn phải qua bao nhiêu thủ tục nhiêu khê, dù là đi chơi vài ba tháng cũng phải qua một cuộc phỏng vấn, tuy không khó khăn chỉ tóm gọn trong vài ba phút với một câu hỏi, nhưng cũng không phải là chuyện dễ dàng như lấy đồ trong túi.

Hiện nay có bốn thành phần vào nước Mỹ qua ngã Đại Sứ Quán Mỹ: – Du Học,- Du Lịch,- Công Tác,- Di Dân. Tại Toà Tổng Lãnh Sự Mỹ ở số 4 trên đường Lê Duẫn (đại lộ Thống Nhất cũ), năm ngày trong tuần, mỗi ngày ba đợt, mỗi đợt các viên chức Mỹ phỏng vấn khoảng 150 người, dù rớt dù đậu, mỗi người phải đóng lệ phí $140.00 (đô la Mỹ). Tòa Lãnh Sự Mỹ ở Saigon đã có được số thu hàng tháng phỏng định:

$140.00 X 600 người X 3 đợt mỗi ngày X 20 ngày = $4,400,000.00 (4 triệu, 400 nghìn đô la). Số người qua các cuộc phỏng vấn của các viên chức Bộ Ngoại Giao Mỹ tại Saigon chỉ có 20% được cấp visa, có nghĩa là 80% “tái đăng ký” phỏng vấn vì còn nuôi hy vọng vào Mỹ. Nếu một ngày nọ, lệ phí phỏng vấn tăng lên gấp đôi hay gấp ba, số người muốn ra đi cũng không hề thuyên giảm.

Ngày xưa nước Mỹ chấp nhận người ty nạn nên phải lo mọi thủ tục, nuôi ăn nuôi ở, cho huấn nghiệp, phiếu y tế, tiền trợ cấp … Ngày nay nước Mỹ mở cửa cho người Việt tự nguyện đem đồng đô la vào. Thành phần di dân chắc chắn sẽ sinh con đẻ cháu trên đất Hiệp Chủng Quốc này, thành phần du học muốn lập nghiệp ở Mỹ, không muốn trở về, du lịch và diện công tác không thể ở lại đất Mỹ. Nhưng cứ nhìn cái cảnh nhộn nhịp mỗi ngày trước cổng toà nhà số 4 Lê Duẫn Saigon mới thấy cơn sốt “Mỹ du” đang lên cao. Bà Dương Quỳnh Khanh, đã ghi lại những ý tưởng của bà trên “net” sau một chuyến du lịch ba tháng đến Mỹ do con gái bà bảo lãnh. Bà cho rằng “không phải ai cũng dễ dàng đặt chân đến vì đó là một nơi xa xôi, người dân bình thường, không họ hàng, không ai bảo lãnh, có tiền cũng khó đến được”. Nhận xét về người Việt đang sinh sống tại đây, bà Khanh đã nói: “Hiện nay, người Việt tại Mỹ ăn nên làm ra, thành đạt được sống trong tự do nhân quyền, họ đã khẳng định nước Mỹ là quê hương thứ hai, không thấp thỏm lo âu bị ai tước đoạt tài sản, không lo sợ bị khống chế tự do, nhân quyền, do đó họ sống thật bình yên.” Bà có kết luận: “Tôi chưa thấy bóng dáng thiên đường trên cao, nhưng đất nước nào giàu có, dân sống sung sướng lạc quan, không sợ hãi, không lo âu thì đó là thiên đường.” Còn phần bạn, hiện nay đang sinh sống trên đất Mỹ, bạn có cảm thấy hạnh phúc hơn bao nhiêu người khác? Và bạn có biết bây giờ ở Việt Nam đang có một cuộc vượt biên lặng lẽ đang bùng phát không?