This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Chuyện xưa kể có chàng Trương Chi dung nhan xấu xí nhưng có tiếng hát tuyệt vời, mỗi lần chèo thuyền qua khúc sông trước cung điện nhà Vua, tiếng hát của chàng đã làm xao xuyến con tim của Công Chúa. Yêu tiếng hát, nàng tương tư luôn cả người hát và lâm trọng bệnh. Vua cho đòi chàng Trương Chi đến bên giường bệnh cho Công Chúa gặp, nhưng khi thấy khuôn mặt xấu xí của chàng, Công Chúa tỉnh mộng và lành hẳn bệnh.
Chuyện xưa, mộng bao giờ cũng đẹp hơn sự thật. Chuyện ngày nay, sự thật phũ phàng làm tan giấc mộng đẹp. Một ông chồng lập gia đình đã lâu, cho đến tuổi già ông vẫn còn vướng bận hình ảnh người xưa của mối tình đầu, hiện nay đang còn sống ở Việt Nam. Người vợ làm cho ông vỡ mộng bằng cách cuối đời tạo cơ hội cho ông tìm về chốn xưa để gặp lại người cũ. Người xưa trong trí nhớ của ông, là người thiếu nữ đẹp dịu dàng, mái tóc đen dài chảy xuống bờ vai, khuôn mặt thanh tú, làn da mịn màng, hai hàng mi cong, hàm răng đều đặn trắng muốt. Người mà ông gặp lại hôm nay là một bà cụ già lục tuần, da nhăn, mắt mờ, tóc rụng, hàm răng móm mém, nhìn ông hấp háy qua cặp kính trễ xuống sống mũi, mà hỏi ông: “Ai đây?” Ông như nàng Công Chúa trong tích xưa, giọt nước mắt của ông nhỏ xuống đã làm vỡ tan chén ngọc mang hình ảnh của người xưa trong mộng. Ôi cố nhân!
Vậy mà ông Phan Khôi “hai mươi bốn năm sau, tình cờ đất khách gặp nhau” mà còn có thể “liếc đưa nhau đi rồi! con mắt còn có đuôi!” kể cũng lạ. Vậy thì câu hỏi “làm sao để giết người trong mộng, để trả thù cho kiếp phụ phàng?”hẳn đã có câu trả lời. Chúng ta đã đi một đoạn đường dài, trải qua những thăng trầm, ngoảnh nhìn lại, có khi đã nửa thế kỷ, mà vẫn tưởng như mới ngày hôm qua. Vẫn tưởng như trái me, trái sấu của ấu thời còn vị chua, vẫn tưởng như ly chanh đường nơi sân trường còn vị ngọt. Nhiều người bạn than phiền sao ngày nay trở lại quê hương, ăn những món ăn thời thơ ấu không còn thấy ngon. Ly chè đậu trong ngôi nhà của người phu trường, chiếc bánh khọt ngoài ngôi chợ nhỏ, nắm bắp rang một hôm trời mưa bão, tô phở một sáng thành phố trời trở lạnh, còn mang trong trí nhớ cho đến khi tóc đã bạc, chân đã yếu, con cháu đầy đàn và tấm thân đã lưu lạc ở xứ người. Dư vị của những món ăn ngày tháng cũ như đã phai nhạt không còn gì cho hôm nay, ngày trở về, thế mà chúng ta vẫn cất công đi tìm lại. Không còn gì nữa. Khung cảnh ngày xưa đã không còn, người xưa đã vắng bóng, bạn bè ly tán, vật đã đổi, sao đã dời. đi tìm lại. Hương vị xưa không còn nữa, sao chúng ta còn muốn. Rồi những thành phố của một thời ấu thơ, những thành phố trong kỷ niệm, bây giờ chỉ còn trong trí nhớ. Dù là Hà Nội, là Huế hay Saigon, dù là Nha Trang, là Đà Lạt hay Cần Thơ. Dù là lá bàng vàng mùa thu, phượng đỏ mùa hè, dù là rừng thông hay bờ dương liễu. Có khi đó chỉ là nền của một ngôi nhà cũ, có khi là một bờ thành đã rêu phong, làm sao tìm lại được dấu chân kỷ niệm của những ngày đã xa.
Hoàng Anh Tuấn xa Hà Nội từ những ngày hoa niên, mang theo mùa thu với gió heo may, nhớ tấm khăn san dịu dàng. Ông mang theo hình ảnh Hà Nội ngày ấy, cuộc hành trình dài hơn nửa thế kỷ, cho đến lúc giã từ cuộc đời, vẫn chưa một lần trở lại Hà Nội. Hà nội ngày ấy vẫn còn như y nguyên trong trí nhớ cho đến lúc ông ra đi:
“Hà Nội yêu, anh vẫn yêu muốn khóc
Mấy chục năm, xa đến mấy nghìn năm
Giã từ em, mười bảy tuổi một lần
Thu rất mỏng, mưa hững hờ đẫm lá
Hà Nội yêu, áo lụa ngà óng ả
Thoáng khăn san nũng nịu với heo may”.
Thôi thà như thế, Hà Nội như cố nhân, gặp gỡ lại làm gì cho tan nát cõi lòng. Và Huế hôm nay đâu phải là Huế của ngày xưa. Có lẽ không bao giờ tôi trở lại Huế nữa. “Huế bây giờ không còn là Huế của ngày xưa. Huế không còn người cũ, chỉ là cảnh xưa xót xa hoang tàn và vô hồn. Chúng ta khó tìm lại những gì của Huế trong thời thơ ấu của chúng ta, như không thể “tắm hai lần trong một dòng sông,” như không thể tìm lại mùi vị của một món ăn ngày trước, hương thơm dịu dàng của một đêm trăng sáng trong vườn xưa, và một mối tình xa xôi đã mờ nhạt.”(Huế Của Một Thời)
Đối với tôi, Huế bây giờ cũng chỉ là cố nhân, một hình bóng “đi xa để mà nhớ!”.
Saigon, với những dòng thơ Nguyên Sa
“Nắng Saigon, em đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông”.
Ngày nay cũng chỉ là một thành phố cũ trong kỷ niệm của những người đã bỏ quê hương ra đi, với nỗi ngậm ngùi. Ngày nay, Saigon đối với chúng ta cũngchỉ là cố nhân. Đà Lạt bây giờ có còn là Đà Lạt của Hoàng Nguyên ngày trước:”Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi .. ” Ngày nay Hồ đã cạn nước, Đà Lạt đâu còn thướt tha, thanh lịch để thương để nhớ cho ai. Ta ngậm ngùi nhớ lại những hình ảnh cũ, nhớ lại người xưa. Thương cho cố nhân phong trần, tiều tuy, xác xơ. Ai còn nhớ đến Cần Thơ với những bến sông đầy tôm cá, với những khu vườn thơm ngọt trái cây Hậu Giang còn trong trí nhớ, để xót xa với cảnh đời hôm nay:
“Chiều chiều trước bến Ninh Kiều.
Dưới chân tượng Bác, đĩ nhiều hơn dân.”
Có những thành phố không bao giờ chúng ta còn trở lại. Có những bến sông chúng ta không còn có dịp trở về. Có những con người chúng ta không còn gặp lại. Mà thôi, thà như thế.
“Xây bao nhiêu mộng thế mà,
Đến nay phải gọi em là … cố nhân!” (Nguyễn Bính)
Xin đừng bao giờ hy vọng kéo lại ngày tháng đã qua, xin đừng hy vọng tìm lại những hình ảnh cũ.
Thôi, “Nhắc chi ngày xưa đó đến se buồn lòng ta.” (Thiên Thai- Văn Cao)
Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben
Dịch giả: Cô Liêu
Post by Sơn râu 22 May 2026
Đến sáng thì cảnh vật đã thay đổi. Giữa một biển hơi man mác nổi lên từng cái đảo lấm tấm sáng. Graber ngồi gần cửa sổ, dán mắt vào cửa kính. Y nhìn không chán mắt đồng ruộng với luống cày đều đặn hiện ra từng rạch đen giữa làn tuyết trắng, đồng cỏ bắt đầu mọc cỏ xanh dờn xen lẫn với từng đốm tuyết như bông nõn. Không có hầm hố do bom đạn đào lên, không có dấu vết tàn phá đổ nát. Một cánh đồng phẳng phiu nhẵn nhụi. Không có hầm núp, không có công sự pháo đài, chỉ có miền thôn dã xinh tươi.
Làng thứ nhất xuất hiện. Nhà thờ với con gà thếp vàng trên nóc, trường học với cái chong chóng chầm chậm xoay. Một quán ăn với mấy nông dân, những căn nhà cửa mở, cô gái quê cầm chổi quét lá vàng, tia nắng thứ nhất rọi vào hàng ngàn cửa sổ kính còn nguyên vẹn, trại ấp sơn phết choang chóe như đồ chơi con nít, cây cối nguyên vẹn không dấu vết bom đạn, phố xá đầy học sinh. Đã từ bao lâu Graber không hề trông thấy một đứa trẻ con. Y thở nhẹ nhàng, lòng ấm lạ.
Y đang chờ đợi những cảnh tượng như thế những cái mà y muốn thấy lại, giản dị, yên lành, bền vững.
Một sĩ quan ngồi phía cửa sổ bên kia cũng bảo y:
– Ở đây cái gì cũng khác, phải không anh?
Graber cảm động trả lời:
– Vâng khác lắm.
Dần dần sương mù tỏa khắp. Chân trời xuất hiện từng khu rừng. Mắt có thể nhìn ra những khoảng rộng xa hơn. Đường dây thép vẫn chạy theo con tầu ở hai bên đường sắt. Từng chùm dây cất bổng lên trời rồi bất thần một cột thép hiện ra, chùm dây hạ xuống một cách phũ phàng – bản ký ghi âm một khúc hợp tấu yên lặng vô biên. Đàn chim tung cánh bay vù đi rồi tụ lại trên dây thép ở một nơi khác xa hơn một chút. Đồng quê yên tĩnh. Tiếng súng gầm ngoài măt trận đã yên. Không thấy bóng dáng một chiếc phi cơ nào. Graber có cảm tưởng như mình ra đi cả mấy tuần nay. Những khuôn mặt bạn bè bắt đầu mờ dần trong trí nhớ.
– Hôm nay là thứ mấy nhỉ?
– Thứ tư
– Ừ nhỉ, hôm qua là thứ ba. Không biết chúng ta có được uống cà phê không?
– Sao lại không? Ở đây đời sống vẫn như xưa.
Một vài người lấy bánh ra ăn. Graber vẫn đợi, y muốn dùng với cà phê. Y nghĩ đến những bữa ăn sáng thời bình, bà mẹ bày trên bàn phủ khăn tinh tươm nào là mật ong, bánh, sữa nóng, chung quanh bình cà phê. Ngoài hiên chim yến hót líu lo, mặt trời vuốt ve bỗng hương diệp dưới cửa sổ. Y thường lấy ngón tay vò nát mấy chiếc lá dày dặn màu xanh đậm để mùi thơm kỳ lạ gợi lên cảm tưởng những xứ xa lạ. Trong mấy năm gần đây, y đi không thiếu gì cảnh lạ xứ xa, nhưng trong hoàn cảnh khác hẳn điều mong ước. Y trở lại gần cửa sổ toa tầu, bây giờ y tin tưởng hơn trước. Thợ thuyền đang làm việc, ngẩng đầu lên nhìn xe hỏa đi qua. Trong chỗ vài người đàn bà đầu bịt khăn sặc sỡ. Viên hạ sĩ hạ cửa kính xuống giơ tay vẫy. Không ai trả lời. Y ngượng ngập lẩm bẩm: “Đồ ngốc! Thay kệ các người”.
Vài phút sau, họ đi qua một cánh đồng có một toán vừa đàn ông lẫn đàn bà đang làm việc. Anh hạ sĩ vươn người ra vẫy tay lia lịa. Họ thản nhiên mặc kệ. Anh ta chua chát mà rằng: “Mình hy sinh xương máu ngoài mặt trận cho những người như thế đó”.
– Có lẽ họ là tù binh hay công nhân ngoại quốc.
– Trong bọn có nhiều đàn bà, ít ra họ cũng trả lời mình chứ.
– Có lẽ họ là đàn bà Nga hay Ba Lan.
– Trông bề ngoài không phải người ngoại quốc. Vả chăng, thế nào cũng có người Đức.
– Chuyến tầu này chỉ chở thương binh. Đáng ra người ta phải xúc động khi thấy thương binh chớ!
– Họ là những người ngu si, chân lấm tay bùn chỉ biết chăn vịt nuôi heo.
Anh ta kéo cửa kính kêu “sầm”.
Anh thợ sửa khóa nói:
– Ở miền Cologne chúng tôi, người ta không tệ bạc đến thế.
***
Con tầu vẫn đi miết. Đến một đường hầm tầu dừng lại hai giờ. Trong toa không có đèn, mọi người chịu cảnh tối như đêm dày. Mặc dù đã quen ở dưới hầm tối, họ cũng thấy lòng nao núng bồi hồi, ai nấy im lặng. Trong tối lập lòe đóm đỏ thuốc lá.
“Hẳn là máy có gì trục trặc”.
Mọi người lắng tai nghe nhưng không có tiếng máy bay mà cũng không có tiếng nổ.
Anh thợ khóa hỏi Graber:
– Anh đã đến Rothenbourg chưa?
– Hình như đó là một tỉnh già nua lắm.
– Anh ta đến thăm rồi à?
– Chưa. Thế còn anh?
– Chưa. Mà tôi đến đây làm gì?
Anh mặt chuột xen vào :
– Giá anh xin phép đi Bá Linh thì hơn, ít khi được phép nghỉ. Đến Bá Linh chơi thú vị hơn đi chỗ khác.
– Tôi không muốn đi chơi, mà khách sạn đắt đỏ lắm. Tôi muốn về thăm nhà.
Tầu chuyển bánh.
“À, có thế chứ! Tôi tưởng chúng mình bị chôn sống ở đây!”
Trong tối đã hiện ra vài vết sáng. Sáng thêm. Rồi thình lình cảnh vật hiện ra, xinh tươi hơn cách đây hai giờ. Mọi người chạy xô về phía cửa sổ. Họ theo bản năng đưa mắt tìm vết tích bom đạn. Không có gì dấu vết tàn phá. Buổi sáng tinh sương làm họ say sưa như rượu êm nồng.
Vài giờ sau tầu dừng lại ở một ga. Anh lùn bước xuống, kế theo là anh hạ sĩ và hai người khác. Trời tối sầm lại. Mây xanh từ hướng tây nổi lên. Lần thứ nhất Graber nhận thấy địa hạt này quen thuộc với mình. Y không nhận ra một cái nhà, một ngọn đồi hay một cái làng nào quen thuộc, nhưng toàn thể phong cảnh này đối với y không có gì xa lạ. Kỷ niệm từ xa xưa tràn đến với vẻ quyến luyến mãnh liệt. Cảnh vật hiện ra với những nét mờ tỏ, trí nhớ hiện lên với những nét mông lung, hầu như y mơ màng lúc trở về chứ không sống lúc trở về, nhưng chính cái vũ trụ thấy lại ấy, chính những hình ảnh không thực ấy vấn vít cõi lòng với sức mạnh hơn bao giờ. Dần dần tên các ga trở nên quen thuộc. Y thấy lại những thị trấn trước kia đã qua chơi. Trí nhớ làm cho khí trời trong sáng, ngát hương rừng sim, rừng thông, rừng cỏ. Tỉnh nhà không còn xa, Graber khóa chặt ba-lô và đợi những căn nhà đầu tiên xuất hiện.
Tầu dừng lại. Nhiều người bước xuống. Graber nhìn xuống sân ga. Người ta hô tên tỉnh nhà.
Anh thợ khóa bảo y:
– Thôi về nhà chơi thỏa thích nhé!
– Chưa đến nơi mà, ga ở trung tâm thành phố cơ!
– Có lẽ mới dời ra đây. Anh thử hỏi xem.
Nhiều quân nhân đã leo lên, ba-lô làm nghẽn cả lối. Bấy giờ y nghe tiếng một nhân viên hỏa xa nói :
– Hành khách đi Werden, xin mời xuống!
Y vội ném ba-lô lên vai, chen qua đám đông đến hỏi:
– Tầu không đi xa hơn nữa sao?
Người ấy ra vẻ mỏi mệt ngước mắt nhìn y:
– Ông đi Werden à?
– Vâng.
– Ông đi về phía trái qua đường rầy xe buýt.
Graber đi quanh xe lửa sang bên kia thì thấy một căn nhà gỗ mới sơn dầu hắc trước đây chưa trông thấy. Xe buýt đậu ở phía sau. Y đến gần người tài xế.
– Xe đi Werden à?
– Vâng.
– Tầu không vào tỉnh nữa à?
– Không
– Sao vậy?
– Vì không vào tỉnh nữa.
Graber nhìn người tài xế, và hiểu rằng hỏi nữa cũng vô ích, không biết gì hơn. Y thong thả leo lên xe ngồi vào một góc. Trời tối xuống, cặp đường rây còn có vẻ mới, nom sáng bóng lượn vòng sang phía đông thành phố Werden. Tầu chuyển bánh, Graber ngồi nép vào một góc xe. Y nghĩ thầm tuy không tin hẳn: “Có lẽ người ta cẩn thận sửa lại cho đường rây chạy ra ngã khác”.
Đến lượt xe buýt bắt đầu nổ máy. Chiếc xe đã cũ lắm sửa đi sửa lại nhiều lần. Nhiều xe Mercedes vượt qua. Xe chở các sĩ quan Bộ Tham mưu và sĩ quan Mật vụ. Hành khách yên lặng nhìn họ. Không ai nói một câu nào, chỉ có tiếng la hét vui vẻ của gái nhỏ chạy giữa hai hàng ghế. Con bé tóc vàng, đeo một cái nơ lam. Nó chừng hai tuổi.
Bắt đầu trông thấy phố xá, nhà cửa còn nguyên vẹn không bị hư hại. Graber thở nhẹ nhàng. Chiếc xe lắc lư đi độ một trăm thước nữa thì dừng lại.
– Xuống đi.
– Đây là đâu? – Graber hỏi người bên cạnh.
– Đường Bramsche.
– Đến đây thôi à?
– Đến đây thôi.
Mọi người xuống, Graber nói:
– Tôi về nghỉ phép. Đã hai năm, giờ tôi mới về đây.
– Ông ở đâu?
– 18, đường Haken.
– Ở bên phố cũ à?
– Phải. Đường Louise, gần nhà thờ Thánh Catherine.
– À!
Người ấy ngẩng mặt lên nhìn trời tối
– Ông biết đường chứ?
– Dĩ nhiên. Ai mà quên đường về.
– Ừ phải. Thôi chúc ông may mắn.
– Cảm ơn!
Graber bước vào đường Bramsche. Y nhìn nhà cửa, lòng e ngại. Không cái nào bị hư hại. Y nhìn cửa sổ. Tối thui. Y nghĩ thầm: Phòng không thụ động. Y thất vọng, nhưng vội cho là mình ngu muội, vì vẫn yên chí là trở về sẽ thấy thành phố sáng trưng như ngày trước. Y rảo bước đi, qua một tiệm bánh không thấy dấu vết một chiếc bánh mì nào. Khách qua đường nhìn vào tủ kính chỉ thấy một bình hoa giấy. Rồi đến một tiệm tạp hóa chỉ có những hộp với thùng rỗng không.
Xa xa, y nhận ra là liệm đồ da. Lúc còn bé y tấm tắc khen ngợi con ngựa nhồi rơm thắng một bộ yên cương màu hung. Lại gần tủ kính coi thì thấy con ngựa vẫn đấy nhưng bộ yên cương đã biến mất. Y cũng thấy con chó lớn nằm yên ngậm một tiếng sủa yên lặng, thuở nhỏ, mươi năm về trước đã có lần y nổi “máu anh hùng” dám vuốt ve nó. Như vậy là không có gì thay đổi cả, thành phố vẫn nguyên vẹn như lúc ra đi. Gặp một người qua đường y chào một tiếng vui vẻ. Mãi sau mới có tiếng trả lời:
– Chào ông!
Giầy móng sắt đập vang trên hè. Trong vài phút nữa y sẽ xỏ chân vào đôi dép trong nhà, để tắm nước nóng, xức nước hoa, rồi mặc sơ-mi sạch sẽ. Y rảo bước đi mau hơn, đường phố như một tấm thảm thần.
Bây giờ y mới ngửi thấy mùi khói, làm y đứng dừng lại. Không phải mùi khói quen thuộc củi gỗ hay lò sưởi. Mùi khói một đám cháy. Nhìn xung quanh thì thấy những căn nhà đen thui, mái còn nguyên, đứng sững trong trời tối.
Hết con đường ấy là một công trường nhỏ trồng nhiều cầy to. Mùi khói hắc càng thêm mạnh, mùi khói hình như bám vào cành cây. Y định tìm xem ở đâu ra. Hình như nó bám ở khắp cả mọi nơi, khác nào trời mưa than tro xuống thành phố.
Ở một góc phố hiện ra căn nhà bị tàn phá thứ nhất. Y xúc động mạnh mẽ. Đã hai năm nay y sống giữa những cảnh đổ nát đã nhiều, nhưng lúc này y chăm chú nhìn đống gạch vụn như lần đầu trông thấy một căn nhà trúng bom.
Y thầm nghĩ: chỉ có một căn. Một căn nhà lẻ loi. Các nhà khác không sao. Đi qua một căn nhà đổ y thở mấy hơi dài. Mùi khói dai dẳng hẳn là ở căn nhà này, nom có vẻ đã đổ hư từ lâu. Có lẽ bị trúng bom lạc, như thỉnh thoảng vẫn xảy ra khi oanh tạc cơ đi ném bom về.
Y tìm tên đường phố: đường Brême. À, nếu vậy thì đường Haken hãy còn xa. Còn đi ít ra chừng nửa giờ nữa. Người đi lại thưa dần. Dưới một cái cổng, bóng đen nhuộm xanh chiếu ra thứ ánh sáng bệnh hoạn âm thầm.
Sau cùng y bước vào một khu bị phá hủy hoàn toàn. Nhà cửa chỉ còn là những mảnh tường nhám đen hình răng cưa đứng trơ trọi giữa trời. Đà sắt lòi ra ngoài tường đá, cong queo như những con rắn đen. Gạch vụn chất từng đống. Dấu vết đổ nát cũng đã lâu ngày. Trong tối, bóng người mờ mờ đi trên đống gạch như những con bọ hung.
“Có ai đấy không?”
Có tiếng gạch đá xô xuống, rồi tiếng chân người chạy xa dần. Những bóng người biến mất. Y chợt nghe thấy tiếng thở dốc. Lắng tai nghe kỹ thì ra là tiếng thở của mình.
Bây giờ thì y chạy chứ không đi nữa. Mùi khói khét thêm ngột ngạt. Hết khu tàn phá này đến khu tàn phá khác. Sau cùng y đến khu phố này đẹp đẽ vì những căn nhà cổ, mái nhọn, đầu hơi thò ra ngoài, trước nhà bảng hiệu trưng đèn sáng rực. Nhà cửa nay đã cháy rụi như que diêm. Bây giờ chỉ còn là một đống đá ám đen, gạch ngói nát vụn còn bốc khói che lấp cả đường đi. Trên không lơ lửng làn khói trắng mờ.
Graber vẫn chạy miết. Sự hồi hộp hành hạ y như một cực hình. Y vừa nhận ra một xưởng đúc nhỏ gần nhà cha mẹ. Có lẽ cái xưởng ấy là mục tiêu của những sự oanh tạc. Y trèo lên những đống gạch còn khói lên ngùn ngụt, vấp ngã túi bụi, va vào khách qua đường làm họ quái dị, đưa mắt nhìn theo. Bất thần y dừng lại, không biết mình ở đâu nữa. Tất cả khu phố đầy kỷ niệm tuổi thơ nay đã bị tàn phá đảo lộn lung tung, y không còn nhận ra nữa. Y hỏi một người đàn bà đi qua:
– Bà chỉ dùm đường Haken.
– Cái gì?
Ba ta kinh hoảng vì đang mặc chiếc áo rách hở thịt, vội vàng lấy tay che ngực.
– Đường Haken?
– Đằng kia, phía tay mặt.
Graber chạy vội về phía ấy. Hai bên rìa đường hàng cây xác xơ vươn những cành trụi lá như giơ tay van lơn. Y tìm cách định hướng. Ngày xưa y vẫn nhìn mặt tiền các dãy nhà để định hướng, bây giờ không còn nhà cửa nữa. Đứng đây có thể thấy nhà thờ, nhưng nhà thờ có lẽ sụp đổ rồi, chỉ thấy trống không. Y không dám hỏi ai cả. Ở giữa một đường phố, cáng xếp thành từng hàng dài. Một toán người dùng cuốc đào bới đống gạch vụn, một toán lính cứu hỏa đang chữa cháy. Nước vòi rồng bốc hơi trước khi tưới xuống lửa. Căn nhà bị cháy là xưởng đúc đồng. Khi nhận ra xưởng đúc, y tìm ra được đường Haken.
Tàu ghé bến St. Petersburg lúc giữa khuya. Gepson cùng với mấy thủy thủ đồng hương của nó lên bờ chơi, khi chúng kéo nhau về tàu thì đã tới giờ điểm tâm. Mấy đứa khác thân thể bèo nhèo như tấm giẻ rách, mặt mày chù ụ, không chào hỏi ai hết, gầm mặt đi thẳng vô phòng ăn. Riêng Gepson thì áo quần thẳng nếp, râu ria nhẵn nhụi, mặt mày tươi rói, dừng lại phòng bếp chào tôi một cái rồi mới đi vô phòng ăn. Nó không ăn gì hết, chỉ rót tách cà phê ngồi nhâm nhi. Chờ mọi người ăn, uống xong nó đứng dậy đi vô bếp phụ tôi dọn dẹp. Sau khi sắp xếp muỗng nĩa ly tách vô máy rửa, nó khoe với tôi:
– Hồi hôm tui ngủ với Ilona.
– Xạo đi.
– Tui nói thiệt, chú hổng tin sao.
– Mầy thường tuyên bố rằng tới nước nào thì mầy chơi con gái nước đó, tự nhiên đổi món tao thấy làm lạ.
– Tội nghiệp chị ta.
Gepson nhìn đồng hồ tay thấy đã tới giờ làm việc, nó quay lưng đi xuống phòng thay đồ, tới cầu thang chợt nhớ ra chuyện gì, nó quay lại nói với tôi:
– Ilona nhắn chú tối nay lên hội quán cho chị ta gặp mặt.
– Nói sao nghe giống người sắp chết quá mậy?
Nó cười:
– Chắc chị ta cũng sắp chết thiệt rồi, tối nay chú không lên thì sau nầy sẽ không có dịp gặp chị ấy nữa đâu.
Từ khi đám thủy thủ In Đô biết Ilona là phụ nữ Việt Nam, hễ tên nào ngủ được với cô ả thì vui mừng như được ngủ với người mẫu, hay hoa hậu không bằng, sáng xuống tàu thế nào cũng hí hửng tìm tôi để khoe. Trước đây Gepson chê ngực, mông của Ilona lép xẹp, thân hình thì ốm nhom ốm nhách giống y bộ xương trong các phòng thí nghiệm, thà nó bỏ gấp đôi tiền để bao một cô gái Nga trẻ đẹp, chớ cỡ như Ilona cho nó thêm tiền nó cũng không thèm, nhưng không hiểu vì sao hồi hôm nó lại hứng tình ngủ với con nhỏ. Không biết Ilona có chuyện gì mà nó úp úp mở mở làm tôi có hơi lo.
Tính ra tôi quen với Ilona cũng lâu lắm rồi, có chừng hơn năm năm, tàu đi đi lại lại bến St. Petersburg có mấy chục bận. Tôi còn nhớ vào mùa đông năm ấy tuyết đổ ngập trời và trắng đầy mặt đất. Tôi cùng với mấy thằng bạn đạp tuyết lên hội quán thủy thủ, hội quán ở St. Petersburg trang trí đèn hồng mờ, sàn nhảy rộng và một phần sân khấu thiết bị cho các vũ nữ nhảy sexy không thua những hộp đêm kiểu Mỹ. Các bà, các cô ăn bận sang trọng và mặt mày lúc nào cũng tươi như hoa. Ngồi chơi cho tới giữa khuya thì mấy thằng bạn mỗi người dẫn một cô đi du dương đâu đó. Còn lại mình ên ngồi bên chiếc bàn lớn quá, sợ các bà, các cô tới rủ rê mời mọc, tôi bèn đứng dậy đi tới quày ba leo lên chiếc ghế cao cẳng ngồi, kêu một ly bia nhâm nhi và coi người ta nhảy nhót. Bỗng từ trong góc tối một phụ nữ vóc dáng Á Châu, mình dây mặt mày tô son vẽ phấn trông già dặn, chừng trên ba mươi tuổi, đi lại đứng bên cạnh khều khều sau lưng tôi nói hê-lô. Tôi không có ý tiếp chuyện nên lơ là ngó lại chào một cái rồi day qua tiếp tục uống bia. Cô hỏi tôi có phải là người Phi Luật Tân không. Vẫn không nhìn lại tôi nói:
– Không.
– Vậy ông là người gì?
– Người Việt.
– Ồ, tui cũng là người Việt.
Ngay trong lúc nầy dù có thần nữ Rạng Đông phương Bắc (Aurora borealis) xuất hiện tôi cũng không lấy làm ngạc nhiên, huống hồ chi một phụ nữ Việt Nam làm gái bán hoa trên đất Nga nầy. Tôi lơ là quay qua cười gượng gạo hỏi một câu bằng tiếng Việt. Cô ta lắc đầu giải thích bằng thứ tiếng Anh nửa nạc nửa mỡ, đại ý là cô qua Nga hồi còn nhỏ nên không nói được tiếng Việt. Tôi nghĩ đây chỉ là mánh khoé của những cô gái giang hồ, các cô thường hay tưởng tượng ra những câu chuyện vui cười hoặc chuyện thương tâm làm cảm động lòng người để dễ dàng câu khách, lời nói của cô ai tin cho được, nhưng vì phép lịch sự tôi hỏi lại:
– Cô biết Việt Nam?
Một tay cầm diện thoại di động một tay đưa ra làm dấu bóp cò súng cô nói.
– Tui biết, ở Việt Nam có chiến tranh, bắn nhau bang bang…
Tôi khoa tay một vòng lên khoảng không:
– Chiến tranh Việt Nam cả thế giới ai cũng biết nhưng đã qua lâu rồi.
Cô gái để điện thoại lên mặt quầy rồi leo lên chiếc ghế trống bên cạnh ngồi, day ngang hỏi tôi:
– Ông không mời tui uống gì sao?
– Các cô chê bia là loại rẻ tiền không chịu uống, còn tui thì không đủ tiền trả cho một chai Champagne.
– Không sao, tui uống bia với ông.
– Ô kê.
Tôi gọi bia và day ngang nói:
– Tui chỉ đủ trả tiền bia cho cô uống tới say, nếu muốn ngồi với tui thì cô không được đòi hỏi thêm gì khác.
Thường những cô gái khác nghe những lời tôi vừa nói thì thế nào cũng mắng thẳng vô mặt và chưởi tôi là một tên bần tiện trước khi các cô khinh khỉnh bỏ đi. Nhưng cô gái nầy lại cười vui vẻ:
– Ông có gì để tôi đòi.
– Bởi vậy tôi mới dặn trước.
Người đứng trong quày đưa bia ra cho cô gái. Tôi bưng ly lên mời. Cô gái bưng bia lên uống rồi để ly xuống, cô hỏi tên tôi và tự giới thiệu tên cô là Ilona. Từ đó trở đi mỗi lần tôi tới, lúc nào có khách thì Ilona ngồi với khách, còn không thì tới ngồi uống bia, trò chuyện với tôi.
Một hôm Ilona đem cho tôi xem tấm hình người đàn ông chụp chung với một người đàn bà, cả hai bận đồ chánh quy, đầu đội nón cối, nhìn qua biết ngay là bộ đội miền Bắc Việt Nam. Ảnh vàng ố, cũ mèm, cô cho biết đó là tấm hình duy nhứt của cha, mẹ mà cô còn giữ được. Tuy trao đổi với tôi bằng thứ tiếng Anh ba rọi nhưng lâu dần tôi cũng hiểu được hoàn cảnh của cô. Đại khái ba, má cô chết trong thời chiến tranh, sau đó người ta đem cô cho một gia đình người Nga. Thời Xã Hội Chủ Nghĩa cô sống với ba má nuôi, sau khi nước Nga thay đổi, ba má nuôi về hưu, lương hưu không đủ nuôi cả nhà nên cô bỏ ra đây làm cái nghề nầy… Thú thật tôi nghe chuyện của cô có bị xúc động cũng giống như xem phim truyện về một bi kịch để rồi sau đó quên luôn. Nhờ quen với Ilona tôi mới biết, dù trong một xã hội khắt khe, tồi tệ cách mấy vẫn có những con người giống như ba, má nuôi của Ilona, sống vị tha và giàu lòng nhân ái…
Mỗi lần ngồi với nhau, Ilona hay nói chuyện về Việt Nam, những hiểu biết của cô có thể lượm lặt qua báo, đài và xem trong phim truyện, cô hay lầm lẫn Campuchia là Việt Nam, như xem phim Cánh Đồng Chết (Killing Field) cô cho là chuyện xảy ra ở Việt Nam. Nghe cô kể chuyện quê hương Việt Nam mà tôi thấy giống như chuyện của mấy nước nghèo đói nào đó ở Châu Phi. Có lẽ thấy tôi không mặn mà về những chuyện kể nên có lần cô thắc mắc hỏi tôi:
– Ông không nhớ Việt Nam sao?
– Nhớ rồi làm gì? Hổng nhớ rồi làm sao?
Ilona móc thuốc ra châm hút, ngẫm nghĩ một lát, cô nói:
– Khi nào có được nhiều tiền tui sẽ về Việt Nam giúp đỡ mấy người nghèo bên đó.
Tôi đương hớp ngụm bia, nghe cô ta nói tôi cười làm bia tràn lên mũi muốn sặc ra, nhưng tôi kịp ém hơi và khặc nhẹ một cái. Tôi nuốt nước miếng rồi hít vô một hơi dài, thở ra một hơi mạnh và nói:
– Dân chúng nước Nga sống cũng đâu khá hơn dân chúng Việt Nam bao nhiêu.
Ilona vân vê cái điện thoại cầm tay:
– Tui thấy dân Việt Nam sang Nga đi làm việc rồi trốn ở lại, không nhà cửa, ngủ ngoài đường.
Tôi hất hàm hỏi:
– Cô không thấy những người Việt giàu có ở Nga sao?
Ilona lắc đầu:
– Không.
– Ở Việt Nam cũng như ở nước Nga vậy, có rất nhiều tỉ phú và cũng có nhiều ăn mày ngủ bờ ngủ bụi. Tui đã thấy nhiều người Nga lang thang ngoài đường giữa mùa đông đầy tuyết, họ lục lạo thùng rác kiếm ăn và ngủ trước bến xe điện hoặc trong các hóc hẻm tối tăm, trông họ ăn bận dơ dáy hơn ăn mày ở Việt Nam và mùa đông nào cũng có ông già, bà lão chết vì đói lạnh…
Thấy Ilona ngồi trầm ngâm nghĩ ngợi, tôi nói tiếp:
– Cô nên sống với hiện tại và vui hưởng những gì mình có, nếu thấy có cái xấu xa thì cố gắng sửa lại cho tốt lành, còn chuyện quê hương đất nước hay cái gốc rễ cội nguồn gì gì đó chỉ là ảo ảnh thôi, cô quên phứt đi cho khoẻ.
– Nhưng tui chưa biết nước Việt Nam.
–Vậy thì dành dụm tiền đi chơi cho biết. Mà nè, nếu cô muốn cứu giúp người thì nên tự cứu giúp bản thân cô trước đã.
– Tui đâu có gì.
Từ ngày nước Nga đổi sang kinh tế thị trường, các cô gái bán hoa cũng tăng giá cho đúng theo tiêu chuẩn quốc tế. Phải công nhận con gái mới lớn ở Nga đẹp tuyệt vời, giá những cô gái nầy, tính luôn tiền phòng, trên một trăm euro cho một giờ. Còn xồn xồn như Ilona hoặc mập quá ký, ốm quá cỡ thì trên dưới năm chục euro, tùy theo mặc cả trao đổi giữa người mua kẻ bán, giá nầy vừa túi tiền thủy thủ, nhờ vậy mà Ilona vẫn còn làm ăn được. Ở đây các cô sẵn sàng phục vụ thủy thủ đủ kiểu, đủ cách và bất cứ ở đâu. Nếu tàu sắp khởi hành, anh nào muốn xả xú-báp mà không có thời gian thì cứ bỏ tiền ra rủ một em cùng chui vô nhà cầu đánh nhanh, rút gọn… Mỗi khi có anh nào rủ “đánh nhanh” thì Ilona kêu các bạn đồng nghiệp khác làm, cô chê nhà cầu dơ dáy không bao giờ vô đó làm cái chuyện “ấy”. Nhìn người phụ nữ quá thời, giống như bó hoa úa héo hạ giá đem rao bán giữa chợ chiều, tôi đâm ái náy cho cái tấm lòng từ bi của cô, muốn vạch cho cô thấy những cái “có gì” của cô…
Nhưng nghĩ lại, tôi đương ở giữa một nơi người ta dùng bia, rượu thay cho nước, tiền đô xem như giấy báo. Một tên keo kiệt như tôi không dám bỏ tiền ra mua một chai rượu thết đãi thì lấy tư cách gì lên lớp dạy dỗ ai. Về sau có những lúc ngồi với nhau, khi nào Ilona hỏi tôi mới trả lời hoặc có chuyện vui góp vài câu, bằng không thì ngồi nghe cô tha hồ thao thao bất tuyệt về một quê hương mà cô chưa từng biết…
Đầu mùa xuân năm nay, Ilona báo cho tôi biết, cô sẽ sang Tiệp Khắc làm ăn và không trở lại đây nữa. Không hiểu sao, sau thời Cộng Sản ở mấy nước ở Đông Âu, đi tới đâu cũng thấy đầy dẫy gái bán dâm. Định hỏi cô sang đó làm gì, nhưng nghĩ lại có biết chuyện thì tôi cũng chẳng giúp được gì cho cô, hơn nữa nếu cô đổi nghề thì thế nào cũng khoe với tôi rồi, cần gì phải đợi tôi hỏi. Hôm tàu sắp rời bến, tôi dẫn Ilona đi ăn nhà hàng Tàu và sau đó chúng tôi đi dạo bên bờ sông Neva cho tới khuya mới chia tay. Ilona bịn rịn ôm hôn tôi và khóc thiệt nhiều. Tôi khuyên cô một vài câu gì đó mà giờ đây tôi không còn nhớ nữa và tôi cũng có cho tiền nhưng cô không lấy. Thật ra thì từ ngày tôi biết Ilona cho tới ngày chia tay có chuyện vui mừng cô ôm tôi và có chúng tôi cũng có những đụng chạm nhau lúc ra sàn nhảy nhót, nhưng tôi chưa bao giờ để cảm xúc mình hướng về thân thể của cô. Thiết nghĩ tôi với Ilona bất quá chỉ là hai lữ khách tình cờ gặp nhau trên một đoạn đường rồi đi chung một hướng, bây giờ đã tới ngã rẽ mỗi người phải về một nơi, âu cũng là chuyện bèo bọt thường tình nên tôi không cảm thấy xúc động chút nào trong lúc chia tay. Vậy mà từ hôm đó tới nay cũng gần năm tháng rồi, không hiểu sao cô ả vẫn còn lẩn quẩn ở đây?
Chiều nay thấy bức rức trong lòng, tôi mở cánh cửa sổ rộng ra cho thoáng gió. Suốt ngày nay đầu óc tôi cứ nghĩ đến Ilona, khi bất chợt nghe gió lành lạnh thổi vào phòng, tôi có cảm giác như gió báo hiệu mùa thu đến. Tôi đứng dậy, đi tới đóng cánh cửa lại, nhìn xuyên qua cửa kiếng. Từ lúc nào không biết, những lá trên cây đã ngả màu vàng và rơi lả tả bay vòng vèo trên bến cảng. Bỗng dưng tôi cảm thấy một nỗi xót xa tràn ngập trong lòng. Tôi nghĩ đến cuộc đời hèn, sang, vinh, nhục… sống như thế nào đi nữa rồi cũng xong một kiếp người… Tự dưng tôi nghe lòng mình thấp thỏm, một cảm giác thèm thuồng không rõ rệt… tôi muốn gặp lại Ilona ngay trong đêm nay và gặp cô để làm gì tôi cũng chưa biết…
Tôi ghé hội quán vào giữa đêm, giờ nầy là giờ hội quán ồn ào sôi động nhờ các màn vũ sexy, hấp dẫn nhứt vẫn là màn vũ bàn. Bàn nào có vũ nữ chiếu cố, các anh reo hò mừng rỡ, chào đón bằng cách khui champagne nổ đôm đốp, bọt rượu xịt trắng như vòi rồng. Hai ba anh bợ cô gái để lên giữa bàn, trong lúc cô gái uốn éo mặc cho các anh chồm lên vạch quần lót, áo nịt ngực xem bên trong trước khi nhét tiền vô đó. Bàn nào các cô chưa kịp tới thì đã nghe tiếng huýt sáo, hò hét rân trời và những bàn tay cầm tiền xoè như xoè quạt giơ lên vẫy vẫy…
Tôi đi hết một vòng, ngó quanh ngó quất mà không thấy Ilona đâu hết, định đi lại quầy mua bia uống, chợt nghe mắc tiểu, bèn quay người đi thẳng về phía nhà cầu. Dãy bồn dành cho đàn ông đứng tiểu không còn trống và lối ra ngoài có năm sáu người đứng sắp hàng chờ. Tôi đứng phía sau chót, dựa lưng vô vách cạnh máy bán condoms. Có ba bốn gã đàn ông lần lượt bỏ tiền vô máy rút ra mỗi người mấy vỉ, tới gã cuối cùng hắn tưởng tôi cũng chờ mua nên có ý nhường tôi mua trước, tôi lắc đầu khoát tay nói không và cười thầm trong bụng. Ngoài kia thì rượu bia được tuôn như nước phông tên, còn trong chỗ khuất nào đó tinh trùng tuôn ra được người ta cho vô bọc. Quả thật, loài người là giống cực kỳ ác độc và vô cùng dã man, không biết mỗi đêm người ta sử dụng hết bao nhiêu condoms và biết bao mầm sống phải chịu chết ngộp trong những bao cao su đó… Tôi dòm qua dãy cầu tiêu, thấy một phòng không khoá, bèn bước tới mở cánh cửa, chợt giựt mình đánh độp khi thấy người đàn ông đứng bên trong, quần tuột xuống tới bắp chưn đưa cái mông to tổ bố và trắng nhách. Một người con gái nhỏ thó, tóc đen tém gọn, quần áo hở hang đương quỳ gối ôm chưn gã đàn ông, mặt cô ngước lên, miệng táp táp giống như bê con đương bú vú bò mẹ… Nghe tiếng cửa mở ông ta hơi sững người day lại, miệng hừ hừ như chó gặm xương và cô gái cũng giựt mình ú ớ trong cổ họng và đưa bàn tay lên lắc lắc… Ở nơi nầy chuyện xảy ra như vầy cũng thường thôi, nhưng tôi có hơi ngỡ ngàng vì chợt thấy mặt người con gái quá quen, tôi nói một hơi mấy câu xin lỗi bằng tiếng Anh lẫn tiếng Nga và vội vàng đẩy ập cánh cửa lại…
Tôi đi tuốt ra ngoài, đi như ma đuổi, và cảm thấy không còn mắc tiểu nữa. Tự dưng tôi thấy xấu hổ trong lòng nhưng không biết xấu hổ về chuyện gì, đầu óc cứ lởn vởn hình ảnh người con gái trong nhà cầu, không biết có bịnh đau gì không, so với mấy tháng trước cô ta ốm nhiều và thân hình rút lại nhỏ xíu… Tuy chỉ thấy thoáng qua, nhưng tôi không thể nào lầm lẫn được, cô ta chính là Ilona, người con gái Nga gốc Việt.
Bởi tôi học cua, nên không có chứng chì đệ nhị. Kỷ sư kiều lộ Nguyễn Văn Hoa, trưởng ty Hỏa Xa Nha Trang, là người cấp giấy chứng nhân trình độ tương đương cho tôi nộp đơn thi tú tài. Tôi vào văn phòng của anh, tự giới thiệu và trình bày lý do. Anh vui vẻ nhận lời, đi cùng tôi ra xã thị thực chữ ký. Xong việc, anh nói, muốn thử trình độ học vấn của tôi, Qua hai dêm sát hạch, anh nói, khả năng tôi còn yếu lắm. Anh đề nghị, mỗi tối tôi đến nhà anh sớm hơn, anh sẽ bỏ thì giờ dạy kèm cho tôi. Tôi nói, tội không thể đến sớm, vì còn phải đi kèm trẻ kiếm sống. Tôi cũng nói sơ qua về tình cảnh hiện tại. Anh thco tôi về căn nhà lá, sau một chiều nghỉ việc. Giống như con bé Đông mỗi lần đến đây, anh đi quanh bên ngoài một vòng. Nhìn vẻ bệ rạc tàn tạ của căn nhà. Rồi đứng trầm ngâm nhìn ra nghĩa dịa. Không ai thích nằm ở đó, nhưng lại hay hướng mắt về cái nơi chốn cùng tận của đời người. Chiều xuống âm u. Từ những nấm mồ, bốc lên một làn sương mỏng. Chẳng biết anh nghĩ gì mà nhìn lâu thế. Mắt anh đăm đấm mông lung. Khi buớc vào nhà, anh kêu lên: “Ăn ở thế này thì học hành sao được? Đèn đuốc tù mù sẽ bị hư mắt.” Anh ngước lên mái nhà quan sát, “Trời mưa sẽ dột. Vợ dại, nợ đòi, nhà dột. Người xưa cho đó là ba cái khổ của đàn ông.”
Anh hỏi tôi về sự ăn uống.
Tôi nói: “Có gì ăn nấy.”
“Cũng phai mua chứ?”
“Vâng. Phải mua.”
“Tiền đâu?”
“Kèm trẻ.”
Anh lắc đầu: “Thì giờ không còn nhiều nữa. Bận rộn lo toan đủ thứ việc. Tâm tri đâu mà học?”
Tôi im lặng.
Anh bảo: “Nghỉ kèm tre. Dành thì giờ cho sự học.”
Tôi lập lại lời Kinh Thánh: “Chim chóc bay trên trời, không làm gì vẫn có thức ăn. Hoa cỏ ngoài đồng nội, không làm gì vẫn có áo đẹp. Các con là con của Chúa, lại sợ đói hay sao? Dẫu Chúa nói thể, nhưng nếu em không kèm trẻ, thì đói thật đấy.”
Anh Hòa nói: “Bảo em nghỉ kèm trẻ là đã có cách giải quyết. Em ở nhà anh, khỏi lo chuyên tiền bạc ăn uống. Anh rãnh lúc nào, sẽ dạy thêm cho em những môn còn yếu, gấp rút cho kịp kỳ thi.”
Hôm sau, tôi dọn lại nhà anh Hòa. Thằng Ẩn trách, tham phú phụ bần. Tôi nói, tùy cơ ứng hiến.
Anh Hòa ở trong cái biệt thự của chính phủ. Nhà rộng, có nhiều phòng trống. Trên tường nơi phòng khách, treo cái bản đổ thiết lộ ghi các trạm phụ và nhà ga ở mỗi địa phương. Tôi thường đứng nhìn bản đồ, mơ ước một chuyến viễn du qua những địa danh xa lạ, những nơi đèo heo hút gió. Bữa trước, đọc ké quyển xách anh Hòa để trên bàn, Tự Do Đầu Tiên Và Cuối Cùng của Krishnamuiti. Tôi nhớ câu, “Đi là sống. Dừng là chết nguy trong đời sống hiện tại”. Ý tác giả nói đến sự thăng hoa trong tư tưởng, nhưng tôi vẫn muốn hiểu thco cái nghĩa den cuộc đời. Không biết tự lúc nào, trong tâm hồn sâu thẳm của tôi có tiếng thì thầm rén gọi ra di. Không dự dịnh sẽ tới nơi nào, mà vẫn muốn ra đi. Ở đâu, lòng tôi cũng nhấp nhồm khong muốn ở lâu. Chính cái tâm trạng này làm tôi bứt rứt không yên. Anh Hòa sống một mình. Hàng ngày, có một bà giúp việc mang thức ăn đến, gom quần áo đi giặt, và quét dọn trong ngoài biệt thự. Xong việc, bà về nhà của bà. Tôi không biết chính xác tuổi của anh, chỉ đoán chừng ngoài ba mươi. Nhìn anh, người ta dễ liên tưởng một nông dân chất phác, thuần hậu. Mỗi chiều, sau khi cơm xong, anh hay rủ tôi ra ngồi hóng gió trên hãi biển, nói là để thư giãn tinh thần. Có lần, tôi hỏi anh về chuyện gia đình. Anh bảo, còn độc thân. Tôi thắc mắc, vì số tuổi đời của anh, sao chưa lấy vợ? Anh nói, người minh muốn lấy, họ không chịu lấy mình. Lý lịch của anh, tôi chỉ biết có thế. Không nghe anh nhắc đến đàn bà con gái. Mẹ anh Hoa từ Long Xuyên ra thăm. Bà nhắc nhờ anh từ miếng ăn giấc ngủ, dạy bảo anh nhiều điều về đời sống đạo đức, làm như anh còn là đứa trẻ con. Ban đêm, tôi thấy bà lần chuỗi hạt. Bà ngồi im lặng trong vùng ánh sáng mờ mờ. Người bà như thu nhỏ lại khi đang hướng tâm về một thế giới huyền ảo. Tôi nghĩ, thế gian có quá nhiều người tu, sao xã hội vẫn tràn đầy những bất công đau khổ?
Thỉnh thoảng cũng có những người đến chơi nhà anh Hòa. Nhà sư Thích Trí Tâm. Thi sĩ Quách Tấn. Giáo sư Nguyễn Văn Xung. Ông Xung là người dạy Việt Văn năm tôi học đệ tam, tôi gọi bằng thầy. Ngoài ba người ấy, tôi chẳng thấy có ai. Sư Trí Tâm hỏi tôi theo đạo gì? Tôi nói, lúc đói có vào chùa ăn cơm chuy. Đêm Giáng Sinh, có vào nhà thờ cầu nguyện. Đôi khi cũng theo người quen vào quỳ trong hội thánh Tin Lành. Thuộc kinh Cao Đài, Hiểu giáo lý Hòa Hảo. Không làm thiện, cũng không làm ác. Sư cười, như thế là hòa đồng tôn giảo. Anh Hòa kính cần gọi sư bằng thầy. Sư nhận tôi làm cháu nuôi. Tôi gọi sư bằng chú. Nhờ làm cháu nuôi của su, nên mỗi khi tôi đến chùa, sư bảo xin trái cây trên bàn thờ Phật, đem xuống mà ăn. Sư có chiếc xe hơi hiệu Renaul, thường chở tôi chạy tà tà dạo mát dọc bờ biển. Tôi ngồi phía sau. Nhìn nữ sinh tản bộ, thích cái đáng cặp đùi sau vạt áo dài quyện gió. Tôi đưa tay vẫy vẫy, trêu ghẹo. Nữ sinh chửi, thẩy chùa mắc dịch. Sư tưởng vô cớ bị chửi. Sư nói, mình chẵng làm gì, vẫn bị nguyền rủa. Khẩu nghiệp của người thế gian năng nề lắm. Tôi cảm cái tâm lành của sư. Những lúc sầu đời, cũng muốn vào chùa quy y niệm Phật. Ý nghĩ ấy chỉ phớt qua. Cái mùi tục lụy đối với tội, dẫu sao cũng còn nhiều hấp dẫn.
Thầy Nguyễn Văn Xung và thi sĩ Quách Tấn hay đi chung đến nhà anh Hòa. Anh Hòa đưa tiền, bảo tôi ra chợ mua thức ăn làm cơm đãi khách. Tôi mua cá, phổi bò. Rau muống, Bữa cơm có hai món: cá kho và phổi bò xào rau muống. Anh Hòa xin lỗi khách, vì bà giúp việc đi vắng, nên bữa ăn chỉ có thế. Thi sĩ Quách Tấn gắp miếng phổi bò, nhai mãi. Miếng phổi qua dai, ông muốn nhả nhưng không biết nhả vào đâu. Đành nuốt. Miếng phổi nhợn ngang cổ, làm nước mất ông trào ra. Anh Hòa lại xin lỗi, vì đồ ăn được chế biến bởi tay đầu bếp bất đắc dĩ.
Thái dương bên trái của thi sĩ Quách Tấn có cái sẹo tròn to bằng đồng xu. láng bóng. Ông kể rằng, nhà thơ Hàn Mặc Tử khó chịu vì cái sẹo này, yêu cầu mỗi lần gặp nhau, ông nên ngồi xoay qua vị thế khác để nhà thơ đừng nhìn thấy cái sẹo. Ông nói, chính vì tâm hồn dể xúc động, nên Hàn Mặc Tử làm đuợc những bài thơ truyền cảm đặc biệt. Tôi thích nghe những giai thoại về các văn nhân thi sĩ, Ông bảo, sa vào cái nghiệp thơ van là luy cả cuộc đời. Ông cho biết, hồi còn trẻ ông bị ám ảnh bởi tiếng kêu thảm thiết của con quạ. Tiếng kêu khoắc khoải điều gì như tuyệt vong. Mãi dến hai mươi năm sau, ông thể hiện được điều ấy qua hài “Đêm Thu Nghe Qua Kêu”, Tôi ngạc nhiên về thời gian thai nghén một tứ thơ.
Ông ngâm bằng cái giọng đặc sệt Bình Định:
Từ Ô y hạng rủ rê sang
Bóng lần đêm thâu tiếng rộn ràng
Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng
Thu sống Xích Bích nguyệt mơ màng
Bồn chồn thương kẻ nương song bạc.
Lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng
Tiếng dội lưng mây đồng vọng mãi
Tình hoang mang gợi tứ hoang mang.
Thầy Xung, và anh Hòa nghe xong, ngồi trầm ngâm. Tôi phải thu thật rằng, tôi chỉ hiểu từng câu rời rạc, nhưng ghép lại toàn bài thì không hiểu gì cả. Thầy Xung bảo, yếu tính của thơ là truyền cảm. Tôi nói, tôi cũng không cảm, nếu không có cái tựa để thì không ai biết vì nghe tiếng quạ mà ông liên tường đến những địa danh đâu đâu ở tận bên Trung Quốc. Thi sĩ Quách Tấn cười, không nói gì. Anh Hòa liếc mắt nhìn tôi như ngẩm bảo, tôi chưa đủ tư cách để nói về bài thơ của một thi sĩ đã thành danh.
Thầy Xung tuối ngưài bốn mươi, vẫn sống độc thân. Hờ hững với đàn bà. Ông nói, đàn bà vốn nông nổi, nên tính họ bạc. Có lẽ, trên đường đời, ông từng bị phụ nữ từ khước và đá văng vào nổi ê chề đau khổ, nên mang nặng thành kiến. Nhiều lần nghe thi sĩ Quách Tấn và thầy Xung đàm luận văn chương, tôi hiểu ra rằng tâm địa con người biểu hiện qua chữ nghĩa. Trong văn chương ẩn chứa biết bao điều cao cả. cũng không thiếu những tư tưởng thấp hèn. Người có tư cách, hành văn cần thận, chắc bóp từng chữ, gạn lọc từng câu. Kẻ tiểu nhân, khi hành văn thì chữ nghĩa như chó chay rong trên đường, cắn bậy. Tội thử viết bài văn xuôi, nhờ thầy Xung bình phẩm. Đọc xong, thấy không nói gì. Mấy ngày sau, thầy vẫn ngơ luôn.
Tôi hỏi: “Xin thầy cho nhận xét về bài văn của em?
Thầy nói: “Văn em là văn bửa củi.”
“Sao gọi là văn bửa củi?”
“Hành văn nhát gừng, lổn nhổn những đá sạn thô nhám.
Loại văn này chỉ thích hợp cho đề tài chửi lộn, hoặc đòi nợ.”
“Em chưa hiểu ý thầy?”
“Nói đến thế mà vẫn chưa hiểu. Em không phải là người của văn chương.”
Nhận xét của thầy, làm tôi thất vọng.
“Xin thầy chỉ dần cho cm.”
Thầy cười: “Học hành, lấy vợ đẻ con.”
Anh Hòa bảo: “Hãy chờ sau mùa thi, tập làm văn sĩ cũng chưa muộn.
Việt Cộng xem những người trình diễn văn nghệ như những người thợ không hơn không kém. Thợ hát, thợ đàn, thợ múa tập họp thành những toán văn công, được điều động làm việc theo chỉ thị và đường lối của đảng, để hoặc là tuyên vận, hoặc để giải trí cho đám đông. Vì vậy chúng ta cũng quen gọi những người này là văn công. Văn công phải được huấn luyện tư tưởng chính trị, có lý lịch, có lập trường, được nuôi dưỡng và nhận công tác theo nhu cầu của từng chiến dịch. Ngày nay văn công được đưa ra nước ngoài trình diễn dưới visa du lịch, dù là dưới hình thức kiếm ăn riêng của cá nhân, do nhu cầu hay được sự cho phép của các cơ quan trách nhiệm trong nước, do đường lối của đảng đều có lợi cho chế độ. Dù những ca sĩ này không hát những bài ca tụng bác hay đảng như hồi chiến tranh “chống Mỹ” hay lúc mới vào Saigon, nhưng những khuôn mặt này vẫn tượng trưng một đám ca hát đang được trọng dụng của chế độ hiện nay ở Saigon.
Chúng ta cũng không thể xem những khuôn mặt này chỉ là cá nhân, “đồng bào” ruột thịt không liên quan gì với chế độ Cộng Sản, nên sẵn sàng giang tay đón nhận. Việc cấm cửa những thể thao gia, nghệ sĩ của một quốc gia khác đến trình diễn là một sự cấm vận, trừng phạt kinh tế đối với một quốc gia thù nghịch. Ca sĩ trong nước không sang Mỹ, Úc hay Canada để trình diễn cho dân bản xứ các nước này xem, mà là cho những người Việt Nam di dân, trong nước “dốt chữ” gọi là Việt Kiều, đa số là những người tỵ nạn Cộng Sản đã bỏ nước ra đi vì chế độ Cộng Sản. Vậy chuyện “trừng phạt” này không phải là không hợp lý. Chúng ta không có chính phủ hay đường lối để đối phó, mặc nhiên chấp nhận sự tự do hỗn tạp, tuỳ tiện, mở cửa cho những “văn công” được gởi đi từ trong nước. Câu hỏi của chúng ta là có phải tất cả ca nhạc sĩ hiện nay của chúng ta tại hải ngoại đều có cơ hội đồng đều để về trình diễn ở Việt Nam không, hay phải qua những giai đoạn sát hạch về đường lối chính trị, và mỉa mai thay, cả tài năng trước một ban giám khảo như theo tiết lộ của một vài ca sĩ đã xin về nước trình diễn trước đây? Những nghệ sĩ này trước đây đã được cộng đồng hải ngoại nuôi sống từ khi đặt chân đến Mỹ, nay về nước gặp gỡ giới báo chí, trở thành những kẻ cơ hội, ca tụng chế độ đương thời, nói xấu hải ngoại coi mình như “con không cha”, nay về nhận bố đẻ Cộng Sản ở Saigon, khi trở lại đây vẫn được khan giả đồng bào chấp nhận. Bây giờ chúng lại đứng trên sân khấu hải ngoại, cười khẩy vào mặt chúng ta. Nghệ sĩ trong nước ra trình diễn trước hết là cạnh tranh với ca sĩ hải ngoại, vì mỗi nghệ sĩ đều có sân chơi riêng của mình. Xin dành cho những ca sĩ đã cùng hoàn cảnh sống chết với chúng ta chứ không phải tất cả đều “cá mè một lứa”. Cách đây vài năm những ca sĩ trong nước ra hải ngoại trình diễn đều gặp nhiều sự phản đối, dai dẳng nhất là trường hợp Bằng Kiều, cho đến lúc Bằng Kiều “xin nhận nơi này làm quê hương”. Không phải những giới chức trách nhiệm về vấn để đưa ca sĩ ra nước ngoài lưu diễn không biết đến việc này, nên họ dùng kế hoạch “tằm ăn dâu” hay “vết dầu loang”. Trước tiên “những ông bầu” cho thử nghiệm bằng cách chỉ để các ca sĩ này chỉ hát thuần tuý ở những sòng bài, xen lẫn với những ca sĩ hải ngoại. Khi thấy không có sự phản đối của người nước ngoài, trái lại còn được báo chí, truyền thông quảng cáo, phỏng vấn, các ca sĩ này bắt đầu hiện diện trong những show hát tại các thành phố lớn có nhiều người Việt, bước tiếp theo là tổ chức những buổi trình diễn toàn là những ca sĩ từ trong nước ra. Vì hải ngoại vẫn mua vé đi xem, một số người muốn đổi món ăn, thiếu ý thức chính trị, nên có lúc báo chí trong nước đã loan tin con số thù lao của một hai ca sĩ ra hải ngoại đã lên đến con số $10,000.00 đô la, số tiền mà ca sĩ hạng nhất ở đây cũng không bao giờ với đến. Trong chủ trương đem văn hoá thâm nhập cộng đồng người Việt ở hải ngoại, trước đây, Cộng Sản đã tổ chức những chuyến lưu diễn “Duyên Dáng Việt Nam” quy mô và tốn kém, nhưng không có kết quả vì sự chống đối của đồng bào hải ngoại, Cộng Sản xoay qua chiến thuật đánh du kích bằng cách gởi đi những ca sĩ được nuôi dưỡng và ưu đãi từ trong nước, với tính cách cá nhân đi du lịch ra nước ngoài để tránh danh nghĩa là do các cơ quan trong nước tổ chức. Một nguồn tin từ cơ quan thuế vụ Hoa Kỳ cho biết các nghệ sĩ ngoại quốc đến trình diễn tại Hoa Kỳ phải thông báo cho cơ quan IRS ít nhất là 30 ngày trước khi lưu diễn và ký thoả thuận CWA (central withholding agreement) để tránh lỗi lầm không đóng thuế. Sở thuế Hoa Kỳ hiện nay để ý rất kỹ về các cuộc lưu diễn của các nghệ sĩ ngoại quốc, nhất là ở đây lại dưới visa du lịch, vì nhiều năm qua Hoa Kỳ đã thất thu trong các trường hợp này. Các ca sĩ Việt Nam ra kiếm ăn ở ngoại quốc rồi đây sẽ sợ sự thăm hỏi của sở thuế hơn là sợ bị biểu tình phản đối. Hiện nay có nhiều tổ chức chính trị tại hải ngoại đã hô hào biểu tình “chống văn công”, nghĩa là chống những ca sĩ “con cưng” của chế độ trong nước ra trình diễn. Những cuộc biểu tình này nhiều lúc cũng khiến cho buổi trình diễn phải dẹp bỏ, nhưng cũng đôi lúc, “trong vỗ tay, ngoài la hét”, ai mua vé đi xem thì cứ việc đi xem, ai biểu tình phản đối thì cứ biểu tình, vì người biểu tình không được vào rạp để bị kết tội phá rối và ông bà bầu, ca nhạc sĩ thì được nhân viên an ninh hoặc cảnh sát bảo vệ chặt chẽ. Cũng có những cuộc biểu tình nhắm sai mục đích hay thiếu cơ sở không được nhiều người hưởng ứng như cuộc biểu tình chỉ vì một cái khuy nịt có hình ngôi sao trắng chỉ thấy in trên poster, cuộc biểu tình chống một trung tâm ca nhạc chỉ vì ngày trình diễn có xa gần với ngày sinh của Hồ chí Minh (thì đã sao?) Chúng ta đã từng phung phí, tiêu hao quá nhiều năng lực không đúng chỗ, đúng lúc.
Chúng ta buồn vì cứ nghĩ có khi con trẻ ngồi xem trong rạp mà cha mẹ già đứng ở ngoài biểu tình. Các bậc cha mẹ đã giáo dục được con trẻ chưa? Các đoàn thể đã giáo dục được quần chúng chưa? Cộng đồng hải ngoại đã đoàn kết chưa? Lại còn những con cái của những cựu tù nhân chính trị, quên quá khứ của cha ông, chấp nhận ca hát bên các ca sĩ do Cộng Sản đưa ra nước ngoài, chỉ vì mùi thơm của đồng đô la, thật đáng xấu hổ. Nhiều ca sĩ hải ngoại đã có lập trường trước đây, không muốn hay không được về Việt Nam trình diễn, nay trước luật đào thải và thị hiếu của quần chúng cũng đành đứng chung sân khấu với những “văn công”, mà không hề thấy hổ thẹn. Ba mươi lăm năm rồi, Cộng Sản chưa thao túng hay chưa có khả năng khống chế sân chơi hải ngoại vì chúng ta tuy không có chính phủ, không có quân đội, không có công an trấn áp, không có một tổ chức đại diện duy nhất, nhưng còn giữ vững được tinh thần của những người đã bỏ đất nước ra đi vì chế độ Cộng Sản đương thời. Nhờ tinh thần đó, mà hôm nay, Cộng Sản Việt Nam mặc dầu có toà Đại Sứ, Lãnh Sự trên đất Mỹ nhưng chưa treo nỗi một lá cờ trong khu phố của cộng đồng người Việt hải ngoại. Tuy vậy trên mặt trận văn hoá, sản phẩm băng nhạc, báo chí, phim ảnh và nhất là ca sĩ trong nước ồ ạt tuôn ra nước ngoài, đến những địa điểm từng hãnh diện mang danh là thủ đô chính trị, thủ đô tỵ nạn … Lý do là vì cộng đồng người Việt của chúng ta chưa đoàn kết đúng mức, chưa một lòng, chưa nhìn rõ lại mình, nên mãi vẫn còn có cảnh “trống đánh xuôi kèn thổi ngược.”
Muốn loại bỏ ảnh hưởng nghị quyết 36 của Cộng Sản trong công tác văn hóá tư tưởng, hải ngoại có một kho vũ khí tuyệt đối, khá lớn mà không chịu xử dụng. Vũ khí đó là đồng đô la. Trong nước đang cần đô la, chúng ta lại tiếp tế đô la cho trong nước. Các ca sĩ trong nước ra hải ngoại cần đô la chúng ta lại xếp hàng mua vé đi xem. Hải ngoại phải biết nói không và quyết định “không”: đó là không mua vé các buổi trình diễn có văn công, đại lý nhà buôn không nhận bán vé, báo chí truyền hình không chạy quảng cáo thì ca sĩ trong nước không còn đất dụng võ. Khi hải ngoại chúng ta đồng tình nói được chữ “không”, trong rạp hát vắng người xem thì ngoài rạp không cần phải giăng cờ treo biểu ngữ, hay chịu mưa, giang nắng đi biểu tình nữa.
Chưa có một dân tộc nào mà sự chia rẽ, phân hóa đã nằm ngay trong khởi thủy, từ lúc mới tạo lập, thành hình. Đó phải chăng là chuyện trăm trứng của Lạc Long Quân và bà Âu Cơ ngày xửa ngày xưa! Trăm trứng ấy nỡ thành trăm người con. Đang ăn yên ở yên, hòa thuận một nhà thì một ngày kia, bổng Lạc Long Quân “trở chứng” nói với Âu Cơ rằng: “Ta là giống Rồng, mình là giống Tiên, thủy hỏa khắc nhau, không ở cùng nhau được”. Thế là hai người bèn chia con, kéo nhau đi mỗi người mỗi ngã, năm chục người theo mẹ về núi, năm chục người theo cha xuống biến. Truyền thuyết này không giải thích anh em khắc nhau như thế nào đến nổi khỏng ở với nhau được mà phải ruột thịt cắt đứt, thân ái chia lìa?
Từ đó, cùng là giòng giõi Rồng Tiên, nhưng họ khinh ghét nhau, xem nhau như thù địch. Mảnh đất miền Trung chật hẹp lại hiểm trở, núi non lại gần biển cá, được cắt ra nhiều mảnh bằng những con sông. người Việt trong lịch sử đã nhiều lần dùng những con sông này, để cắt đất, dựng lên biên giới cho sự thù nghịch, không đội trời chung. Con sông chia cắt Nam- Bắc đầu tiên trong lịch sử là Sông Gianh, còn được gọi là Linh Giang, nằm về phía Bắc tỉnh Quảng Bình là ranh giới thời Trịnh-Nguyễn phân tranh (1570-1786) với xung đột vũ trang gần nữa thế kỷ (1627-1672). Đất nước chia cắt, bên kia sông là Bắc Hà, bên này sông là Nam Hả, bên ấy là Đàng Ngoài, bên này là Đàng Trong.
Trong thời Pháp thuộc, Việt Nam bị chia ra làm ba kỳ: Nam Kỳ (Cochinchine) đặt dưới quyền cai trị của Pháp, Trung Kỳ (Annam) và Bắc Kỳ (Tonkin) thuộc chế độ bảo hộ. Hầu hết người bình dân Việt Nam vẫn nghĩ đây là ba nước riêng biệt. Người Nam vẫn coi mình là người Việt (Diệt), còn Huế và Hà Nội là nước Huế, nước Bắc. Nhiều người cho đây là chính sách “chia để trị” của Đế Quốc Pháp, nhưng người Việt Nam, khi không ai “chia để trị” cũng tự mình chia năm, xẻ bảy. Sau hơn mười năm, cuộc chiến tranh Quốc-Cộng dằng dai, làm tan nát đất nước, ngày 20 tháng 7-1954, kết thúc bằng hội nghị Geneve (Thuy Sĩ), đã chia cắt Việt Nam ra hai miền Nam- Bắc, lấy con sông Bến Hải thuộc tỉnh Quảng Trị, gần với vĩ tuyến 17 làm đường ranh giời, Sau gần 21 năm, đất Việt Nam “gọi lả thống nhất” nhưng thực sự lại càng chia rõ sâu xa về nhân tâm, chính kiến khó hàn gắn được. Cái chế độ quái đản phát xuất từ Liên Xô đã làm nhiều quốc gia tan nát, chia rẽ trầm trọng. Nước Đức đã sớm thức tỉnh vì dân trí cao, thống nhất trở thành một đất nước không Cộng Sản, nhưng Bắc Hàn còn mê ngủ với chế độ bưng bít, phong kiến, so với Nam Hản còn cách biệt quá xa về kinh tế. văn hóa, khó lòng cho người dân được mở mắt mở lòng, tự do đến với loài người văn minh. Cuộc đấu tranh giai cấp của chế độ Cộng Sàn đã xô đẩy đất nước và con người Việt Nam vào chỗ chia rẽ hết sức khốn nạn. Dù trong thời Pháp thuộc, ở Việt Nam, nông nghiệp lả chủ yếu, dù có là phú nông, trung nông nhưng không hề có chế dộ nông nô, người có của, kẻ có công, đã tạo nên sự no ấm và thái bình cho xóm làng. Sau khi chiếm được miền Bắc, dưới chỉ đạo của đàn anh Trung Cộng, Bắc Việt đã cho phát động chiến dịch cải cách ruộng đất. Đội Cải Cách Ruộng Đất ra mắt làng xã, chiến dịch này chủ trương tất cả các gia đình trong xã làng phải được phân loại thành 5 thành phần: địa chủ. phú nông, bần nông, cố nông. Gia đình có hai con lợn đã có thể gọi là phú nông. Thành phần địa chủ còn được đội cải cách phân loại thêm một lần nữa thành: địa chù gian ác, địa chủ thường, địa chủ có ủng hộ kháng chiến. Chia rẽ nông dân, để giảm sức chống đối, đó là đưởng lối của chiến dịch. Khẩu hiệu của chiến thuật lả: “dựa vào bần cố nông, tranh thủ trung nông, cô lập phú nông, tập trung mũi nhọn vào địa chủ.” Đó là chiến thuật “bẻ đũa thì bẻ từng chiếc”. Ai gây chia rẽ thâm độc bằng bọn Cộng Sản. Theo con số của nhiều nhà nghiên cứu. 15,000 người đã bị xử tử công khai hay bị bỏ đói cho đến chết. Theo báo Nhân Dân thi chiến dịch sửa sai cũng gây thêm chết chóc khi những người được phục hồi trả thù những người đã đấu tố họ oan ức, hoặc chưa kịp trả thù thì đã bị thủ tiêu.
Cộng Sản luộn luôn hô to khẩu hiệu “Đoàn Kết, Đoàn Kết, Đại Đoàn Kết,” nhưng thực tế Cộng Sản là chế dộ tìm cách phân loại nhân dân trầm trọng, chia rẽ dân tộc. Sau khi chiếm miền Nam, chế độ phân chia thành phần nhân dân thực hiện gay gắt, ai là “có công với cách mạng,” ai là “có nợ máu với nhân dân” rạch ròi, minh bạch. Chế độ tuyển sinh vào dại học cũng phân chia ra 13 thành phần. trong đó con cái “Nguy” dược xếp “ưu tiên” vào hạng chót. Chúng kêu gọi đoàn kết “để xây dựng đất nước.”nhưng dung “hồng” thay “chuyên” nên hao nhiêu trí thức đã phải bỏ nước ra đi, chết sông chết biển, nay chúng lại nhọc công mở chiến dịch kêu gọi nhân tài về “phục vụ đất nước!”
Đổi với ngay trong hàng ngũ cán bộ, ăn ở cũng chia thành phần “đại táo” “tiều táo”, chết cũng phân biệt chỗ chôn, như nghĩa trang Mai Dịch là một nghĩa trang liệt sĩ ở Hà Nội, chỉ dành cho những nhân vật có “đóng góp” cho đảng như các thứ trưởng, bộ trườởng, các ủy viên trung ương đảng trở lên; các nhà khoa học, nhà văn hóa, nhà văn, nhà thơ dược giải thưởng Hồ Chí Minh; các tướng lĩnh xuất sắc; anh hùng lực lượng vũ trang v.v .. trong khi ở miền Nam, tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, Đại Tướng Lê Văn Tỵ cũng có thể nằm gần một người dân thường. Không có một chế độ nào chia cách phân biệt bằng chế độ Cộng Sàn. Hà Nội đã có câu ca dao sau dây dể chỉ nơi tiêu thụ, mua bán hàng hóa:
“Hàng Bải là chợ Vua Quan. (bộ Chính Trị)
Nhà thờ là chợ trung gian nịnh thần (bộ trưởng vả đảng viên cao cấp)
Đồng Xuân là chợ thương nhân.
Vĩa hè là chợ nhân dân, anh hùng!”
Dưới mắt người miền Nam thì sau năm 1975, người miền Bắc được chia làm ba loại: Bắc Kỳ Cũ (mộ phu vào những năm 41-42 bay di dân vào Nam sinh sống,) Bắc Kỳ 54 và Bắc Kỳ 75.
Có lẽ trong các loại chia rẽ, kỳ thị, đối với người Việt Nam, Nam Bắc có lẽ là vấn đề nhậy cảm nhất. Vì miền Nam khí hậu tốt, đất đai màu mỡ, nên sau năm 1975, cộng sản đã chủ trương đưa hàng triệu người Bắc vào Nam, chiếm cứ dất đai, nhất là vùng cao nguyên, vừa là để đồng hóa miền Nam vừa để giãn dân miền Bắc, Tuy vậy, miền Nam ngày nay vẫn mang mặc cảm Bắc thuộc.
Trờ lại với bản tính dân tộc, người Việt dược xem là một dân tộc thông minh, cần cù, chăm chỉ nhưng đại … chia rẽ. Một người Việt Nam là tuyệt hảo, nhưng ba người Việt ngồi lại là … sinh chuyện, vì không ai phục ai, không ai nhường ai. Cổ nhân nói “tam nhân đồng hành tất hữu ngã sự- trong ba người cùng đi, tất phải có một người là thầy ta!” nhưg chúng ta phải nói lại: “trong ba người Việt cùng đi, ai cũng cho mình là thầy cả, chẳng ai nhận là học trò của ai.”
Trøng hoàn cành phải bỏ nước ra di, dựa vào sự chết để tìm sự sống, đáng lẽ người Việt hải ngoại phải đoàn kết hết lòng dể tìm ra sinh lộ, nhưng ở đâu chúng ta cũng thấy phơi bày sự chia rẽ, bất phục lẫn nhau. Tình trạng các hội đoàn, cộng đồng ở hải ngoại không nói riêng gì nước Mỹ, đã có nhiều nơi chia rẽ, phân hóa trầm trọng, dùng mọi cách để bêu xấu, công kích nhau, Nhiều hội đoàn tuy cùng một màu áo, cùng một mục đích đấu tranh, nhưng lại không thể ngồi chung với nhau. mà chia thành hai ba hội đoàn, làm mất đi sức mạnh đoàn kết. Ngay trong một dịa phương, một cộng đồng đại diện người Việt dã được tổ chức bầu bán, nhưng cũng còn một cộng đồng khác, khi ẩn khi hiện, nay ra tuyên cáo này, mai có thông cáo khác, để chứng tỏ sự có mặt của mình, cũng như để cho những ý kiến cộng dồng kia đưa ra là sai. Tình trạng tôn giảo ở nhiều địa phưong cũng vậy! Trên internet mỗi ngày, người đọc gặp phải những bài viết chữi bới, với loại văn phong hạ cấp, không phái dành cho kẻ thù đã khiến cho anh phải bò nước ra đi, mà chính cho bạn bè, đồng hương, đồng ngũ của anh hay là những người chỉ vì không … đồng ý với anh. Vậy mà chúng ta luôn luôn cho mình là người yêu nước, kêu gào, đòi hỏi “giải thể” chế độ, đòi hỏi những chuyện long trời lỡ đất, trong khi chính cá nhân nhỏ bé, ích kỷ của mình chưa bước qua nổi cái tôi, cái danh, cái ích kỷ đang đè nặng trong lòng, thì mơng gì chúng ta làm nổi được chuyện lớn,
Bản chất của cộng sản là chia rẽ, nhưng cũng dùng chinh sách “chia để trị” nhất là trong chính sách đối với người Việt hải ngoại. Nhưng bản chất chia rẽ trong máu huyết của những con người gọi là “con Rồng, cháu Tiên,” dã có từ nguồn gốc, từ thời khai thiên, lập địa, chắc ngày một ngày hai, khó lòng mà gột rửa.
“Gió mưa là bệnh của Trời
Chia rẽ là tât của người Việt Nam!”
“Bệnh” hy vọng chữa lành, còn “tật” phải còn xem lại.
Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben
Dịch giả: Cô Liêu
Tầu dừng lại trước ga chói chang ánh sáng. Nhà ga được ngụy trang để tránh công kích. Mấy căn nhà xung quanh chỉ còn trơ đống đá cháy đen; người ta đã cất tạm những căn nhà gỗ, tường và nóc quét sơn xanh và nâu. Vài tù binh Nga đang gỡ mấy toa hàng hóa dừng trên đường ray. Chỗ này là một đường xe lửa nhỏ tiếp vào một đường lớn. Thương binh được đưa vào một trong những căn nhà gỗ ấy. Những người còn đi được đến ngồi trên ghế gỗ mộc mạc. Một vài người về phép đi theo họ. Họ tụ tập lại với nhau, tránh mắt soi mói sợ lỡ ra bị giữ lại đưa ra mặt trận. Trời xám xịt tỏa xuống một thứ ánh sáng mệt mỏi héo hắt, đất phủ tuyết lầy lội dơ dáy. Xa xa tiếng máy bay ầm ì. Tiếng kêu không phải ở phía trên trời, hẳn là phải có một sân bay gần đây. Rồi một đoàn phi cơ bay qua nhà ga, vọt lên cao trông giống một đàn chim sơn ca. Graber thấy mình buồn ngủ mềm người, “Chim sơn ca. Điềm hòa bình”.
Hai người cảnh sát sấn sổ bước vào.
– Cho coi giấy tờ!
Họ có cái vẻ sung sức, tự chủ của những người không biết tới nguy hiểm. Đồng phục của họ tươm tất, súng ống sáng lộn. Ít ra họ nặng hơn những anh nghỉ phép nặng cân nhất đến mười kí-lô.
Mấy người quân nhân lặng lẽ xuất trình giấy phép. Họ xem xét cẩn thận trước khi trả lại. Họ cũng đòi coi sổ quân bạ.
Người già nhất nói:
– Các anh đến lãnh thực phẩm tại trại ba. Mà rửa ráy cho sạch sẽ một chút. Gớm ăn với mặc! Mang y phục ấy về nhà để nhát ai?
Mấy người tiến đến trại ba. Một anh lính râu ria rậm rạp lẩm bẩm:
– Đồ bẩn thỉu! Chỉ nói hoẹt! Nó cho mình là đồ trộm cướp chắc!
– Ở Stalingrad đấy à?
– Nếu tôi ở đấy thì tôi đã chẳng còn ở đây. Đã vào cái hỏa ngục ấy thì đừng có hòng ra thoát.
Một anh hạ sĩ quan tóc đã hoa râm bảo hắn ta:
– Này chú nhỏ, ở ngoài mặt trận chú muốn nói gì thì nói, nhưng ở đây có mồm thì cắp có nắp thì đậy kẻo mà uổng mạng.
Họ đứng nối đuôi nhau tay cầm ga-men. Phải đợi đến hơn một giờ. Ai nấy rét cầm cập, nhưng không ai than thở, họ quen rồi. Sau cùng mỗi người được lãnh một bát canh trong đó có một miếng thịt, một ít rau và vài mảnh khoai tây.
Người nói rằng chưa từng đến Stalingrad cẩn thận nhìn quanh mình rồi mới nói:
– Hẳn là cảnh sát mật vụ họ không ăn như mình đâu.
Một người hạ sĩ quan nhún vai nói :
– Không biết họ nhúng mũi vào đây để làm gì?
Graber ăn canh ngon lành, y nghĩ thầm: “Ít ra canh cũng nóng!”. Thôi về nhà ăn bù lại vậy. Mẹ y nấu nướng rất khéo. Y sẽ bảo mẹ làm cho ăn xúc-xích khoai và hành sốt thật ngon. Mẹ cũng có thể kiếm cách làm cho con món bánh dâu thả kem.
***
Còn phải đợi đến chiều tối. Lúc nào cũng có thương binh đổ đến. Mỗi đoàn xe đến là những người nghỉ phép thêm lo ngại. Mỗi lúc họ thêm sợ rằng với sự khó khăn chuyên chở này, họ có thể bị đẩy trở lại mặt trận. Nhưng rồi đến nửa đêm cũng có chuyến xe. Hàng ngàn ngôi sao lấp lánh trong đêm; mọi người đều nguyền rủa ông trời, sao trời lại tạo ra điều kiện lý tưởng cho cuộc oanh tạc? Đã từ lâu thiên nhiên không còn ý nghĩa gì khác đối với họ ngoài ý nghĩa liên hệ tới chiến tranh, ý nghĩa đe dọa hay che chở họ.
Thương binh được đưa lên tàu. Ba người được trả ngay về trại vì họ chết rồi. Cáng để đầy sân ga và chung quanh nhà ga. Cáng nào không có mền đắp là biết ngay nạn nhân đã chết. Tối âm tối thầm vì cấm ngặt không được có chút ánh lửa.
Rồi đến lượt những thương binh còn đi được. Họ bị kiểm soát gắt gao. Graber tự nghĩ: “Nhiều người quá, có lẽ không có chỗ cho người nghỉ phép”. Y ngẩng mặt nhìn trời, tim đập dồn dập. Trên đầu, tiếng máy bay ầm ầm nhưng mắt nhìn không thấy. Y biết rằng đó là máy bay Đức nhưng y vẫn sợ. Y còn sợ hơn ở ngoài mặt trận. Rồi sau họ gọi đến những người nghỉ phép.
Vài người chạy lại nhưng bị cảnh sát ngăn cản. Phải xuất trình giấy kiểm soát đã cấp cho họ từ trước. Xong việc mới được lên tầu; đã có một vài người bị thương nhẹ ở đấy trước rồi. Tranh giành nhau, văng tục. Cảnh sát bắt họ xuống xếp hàng. Người ta dẫn tới một toa khác đã có vài người bị thương nhẹ nhưng còn chỗ cho người mới đến. Graber kiếm chỗ ngồi giữa toa. Y biết rằng trong trường hợp bị oanh tạc thì ở gần cửa và các góc toa tầu nguy hiểm hơn cả.
Tầu không chạy. Trong toa tối om. Mọi người chờ đợi. Ở ngoài đã yên tiếng ồn ào. Một người lính đi qua, có hai cảnh binh kèm hai bên rồi đến một nhóm tù binh Nga vác những thùng đạn dược, sau đến vài người mật vụ cười nói bô bô. Tầu vẫn không chạy. Thương binh bắt đầu nguyền rủa. Họ đã thành những người chẳng cần gì cả, chẳng sợ gì nữa.
Graber ngồi thu hình trên ghế, cố sức ngủ một chút cho đến lúc tầu chạy. Nhưng dẫu sao y cũng để ý nghe động tĩnh. Trong tối y nhìn mắt chúng bạn phản chiếu lờ mờ ánh tuyết và ánh sao. Trời tối quá không ai nhìn rõ mặt ai. Trong toa tầu chỉ có bóng tối và những con mắt lo ngại. Băng bó vết thương của thương binh điểm những đốm trắng trong chỗ tối đen.
Tầu chuyển bánh rồi lại dừng. Một vài tiếng gọi vang lên. Lát sau, cửa mở, hai cái cáng được khiêng xuống sân ga. Graber nghĩ thầm: lại thêm hai người nữa chết, có thêm hai chỗ cho người sống. Miễn là đến lúc cuối cùng đừng có thêm một đoàn xe thương binh khác khiến cho người nghỉ phép phải nhường chỗ.
Tầu lại chuyển bánh. Ngoài cửa sổ, sân ga lùi dần về phía sau. Cảnh binh, tù binh, lính mật vụ, từng đống thùng và két, rồi bất thần xuất hiện cánh đồng tuyết phủ mênh mông. Mọi người quay ra phía cửa. Không lẽ tầu lại dừng lần nữa. Không, toa tầu bị lôi miết đi nhanh hơn, những tiếng động lần lần thu gọn lại thành từng chuỗi nhịp nhàng. Xe tăng, trọng pháo, lướt qua ngoài cửa, từng đơn vị binh sĩ ngước mắt nhìn xe hỏa đi qua. Bất thần Graber thấy mệt lả: “Về nhà, về nhà. Ta về nhà. Trời ơi sự vui sướng làm mình phát sợ…”
***
Đến lúc mặt trời mọc thì tuyết giáng. Đến một ga, tầu dừng lại để uống chút cà-phê. Tỉnh nhỏ này bị tàn phá gần hết, người ta trông thấy từng đống gạch vụn phía sau ga. Người ta bỏ lại một vài xác người mới chết trên tầu. Graber lãnh chén đồ uống rồi hấp tấp trở lại chỗ ngồi không kịp đi lãnh bánh mì.
Cảnh binh lên từng toa lục soát những người bị thương nhẹ để cho nằm nhà thương tỉnh này. Tin ấy truyền đi khắp chuyến xe. Người ta tranh nhau trốn vào cầu tiêu. Có người kêu:
– Họ tới nơi kìa!
Sau một hồi xô đẩy nhau, cửa cầu tiêu đóng lại, hai anh may mắn chiếm được chỗ. Một thương binh len vào giữa đám đông ấy bây giờ đứng nhìn cánh tay cột dây treo lên cổ: trên miếng băng bó dơ bẩn đã hiện ra một vết máu tươi mỗi lúc một lan rộng. Một anh khác nghĩ ra mưu kế, anh ta mở cửa lén ra ngoài rồi đóng cửa lại, đứng nép vào thành toa tầu ở bên goài. Ai thò đầu ra ngoài một chút có thể nom thấy mặt anh ta tái nhợt giữa đám tuyết bay mù mịt.
Có người nói:
– Đừng nhìn ra thế, họ sinh nghi thì hắn bị bắt mất!
Người thương binh bị vết thương chảy máu nói:
– Tôi thì tôi muốn về nhà, đã hai lần họ tông tôi vào một nhà thương tồi tệ ở nhà quê. Vừa mới khỏi đã bị đưa ra mặt trận không được phép nghỉ dưỡng sức. Dù sao tôi cũng đáng được về nhà ít bữa chớ!
Anh ta nhìn những người nghỉ phép với con mắt hằn học. Không ai trả lời. Còn phải đợi lâu người kiểm soát mới đến nơi. Hai người xét các toa tàu. Hai người nữa đứng dưới sân ga coi những thương binh phải ở lại. Một trong hai người ấy là một y tá trẻ tuổi. Anh ta đưa mắt nhìn qua chứng chỉ của thương binh rồi ra lệnh :
– Đi xuống
Nói xong anh ta thản nhiên soát đến người khác.
Một thương binh bé nhỏ, tóc đã hoa râm vẫn ngồi yên trên ghế. Viên cảnh binh đi theo người y tá nói xẵng:
– Đi xuống! Ông nội! Không nghe thấy à!
Anh thương binh vẫn không nhúc nhích. Anh ta bị thương ở vai. Viên cảnh binh nhắc lại:
– Đi xuống!
Anh ta không hề nao núng. Anh ta mín môi lại nhìn, thẳng ra trước mặt làm như không nghe tiếng. Viên cảnh binh đứng phưỡn người ra giữa toa tầu, dang hai cẳng, nắm hai tay đặt lên háng.
– Có lẽ phải gửi trát viết vào giấy tín chỉ đến thôi thúc chắc! Đứng dậy!
Anh ta vẫn giả điếc. Viên cảnh binh gầm lên:
– Đi ra, anh không biết rằng người trên ra lệnh cho anh à?
Người y tá vội can thiệp:
– Thôi anh! Để rồi y xuống.
Người y tá có cái mặt hồng hào, mắt không có lông mi.
Y bảo người thương binh:
– Vết thương của anh chảy máu, anh phải xuống để người ta thay băng cho chứ.
Người thương binh khẽ mở miệng:
– Tôi…
Nhưng một người cảnh sát nữa đã tiến tới. Họ ôm lấy anh thương binh nhấc bổng lên như một gói đồ. Anh thương binh kêu to lên nhưng nét mặt vẫn không thay đổi. Họ vác anh ta đi không đến nỗi phũ phàng lắm, họ làm một công việc vô nhân tính, hầu như không can dự gì đến họ và người thương binh. Chẳng bao lâu bóng người thương binh bé nhỏ lẫn vào đám đông thương binh khác đứng ngoài sân ga.
Người y tá hỏi một người khác:
– Thế nào? Anh muốn gì?
– Băng bó rồi tôi có thể ra đi được không xếp!
Để rồi xem, trong khi chờ đợi phải xuống đây đã.
Người thương binh đứng dậy, mặt buồn bã. Y đã gọi người y tá bằng xếp nhưng cũng chẳng được may mắn hơn. Người cảnh binh đập mạnh cửa cầu tiêu và nói với giọng khinh bỉ:
– Lần nào cũng giở trò này. Sao mà người nào cũng nghĩ ra kế trốn vào cầu tiêu thế? Mở cửa!
Cửa mở, một anh lính thò ra.
– A! Bây giờ chơi trò ú tim hả?
– Tôi bị tào tháo đuổi. Có phải cầu tiêu để đi tiêu không?
– Sao mà anh chọn đúng lúc này để đi tiêu thế! Anh tưởng như thế là đắc sách rồi hả.
Người lính xoay mũ lại để lộ một cái huy chương hạng nhất. Viên cảnh binh không có huy chương. Người lính có điệu bộ láo xược lặng lẽ trả lời viên cảnh binh:
– Phải, thiết tưởng sẽ đắc sách lắm!
Người cảnh binh đỏ mặt. Người y tá vội nói:
– Thôi đi xuống!
Anh ta cũng chẳng buồn nhìn người thương binh.
– Anh chưa xem vết thương của tôi thế nào!
– Nhìn băng bó cũng biết rồi. Thôi anh cảm phiền đi xuống giùm.
Người thương binh ráng mỉm cười:
– Vâng được, thì xuống!
Người cảnh binh nóng ruột hỏi:
– Đã xong chưa?
– Xong rồi.
Người cảnh binh liếc mắt một lần cuối cùng nhìn mấy người nghỉ phép cầm giấy tờ trên tay rồi theo viên y tá đi xuống. Cửa cầu tiêu mở ra không một tiếng động. Một viên trung sĩ nấp trong ấy suốt thời gian khám xét len lén bước ra ngoài. Mặt y vã mồ hôi. Y ngã xuống ghế. Một lát sau y mới nói được:
– Họ đi rồi chứ?
– Chắc là đi rồi.
Y ngồi yên lặng, nom rõ ra người y đã kiệt lực. Một lát sau y mới lẩm bẩm:
– Tôi cầu nguyện cho hắn.
– Ai? Anh muốn nói thằng cảnh binh khốn nạn đây à?
– Không phải. Tôi cầu nguyện cho thằng bạn cùng nấp trong cầu tiêu. Y bảo tôi ở lại để y ra, y đã có cách đối phó. Bây giờ y đâu rồi?
– Ngoài kia, họ lôi đi rồi. Y làm cho thằng cha cảnh binh tức hộc máu đến nỗi quên không nhìn vào trong cầu tiêu.
– Tôi sẽ cầu nguyện cho y. Tôi cần phải về nhà. Vì vào nằm nhà thương ở thôn quê này thì không được nghỉ phép. Tôi phải trở về Đức. Vợ tôi bị ung thư. Năm nay mới có 30 tuổi. Nó nằm liệt gường đã bốn tháng nay rồi.
Y đưa hai con mắt thú bị người ta săn đuổi nhìn mọi người. Chẳng ai buồn trả lời y.
***
Một giờ sau tàu mới chạy. Người trốn ra ngoài đường rây không thấy trở vào. Graber nghĩ thầm “Có lẽ hắn bị bắt rồi”. Đến trưa một hạ sĩ quan thò mặt vào:
– Có ai muốn cắt tóc không?
– Hả?
– Tôi là thợ cắt tóc. Có xà-bông tốt, xà-bông Pháp đây.
– Tầu chạy thế này mà cắt tóc được à?
– Được chứ. Tôi vừa cắt ở bên toa sĩ quan.
– Bao nhiêu tiền?
– Nửa bảng thôi, giá rẻ mà, công phu lắm, trước hết còn phải lấy kéo cắt râu.
– Được rồi.
Một anh lính nghỉ phép rút bóp ra:
– Nhưng nếu anh làm đứt da mặt thì tôi đòi tiền lại.
Người sĩ quan đặt một chén nước đầy lên chiếc bàn và lấy trong bao ra một cái lược và một cái kéo. Y mang theo một cái bao giấy để đựng tóc. Sau cùng y lấy xà-bông bôi lên mặt. Bột xà-bông trắng toát tưởng như y lấy tuyết để cạo mặt. Y rất khéo tay. Có ba người cắt tóc. Mấy thương binh không muốn cắt. Người thứ ba là Graber. Y nhìn mấy người cắt tóc xong mà ngạc nhiên. Cái mặt ửng đỏ và sạm sỡ lên, phía dưới lộ ra cái cằm trắng và nhẵn. Y có cảm tưởng ấm lòng khi lưỡi dao cạo đưa lên da mặt. Đây là sự tiếp xúc đầu tiên với đời sống dân sự. Nhất là người thợ cạo mặt cho y lại là người ở cấp bậc trên.
Đến quá trưa xe hỏa lại dừng lần nữa. Xe thực phẩm chờ sẵn ở ga. Mọi người bảo nhau mang ga-men ra, chỉ có một người ở lại trong toa. Miệng y mấp máy nói không ra tiếng. Bàn tay mặt còn cử động được để lên bàn tay kia quấn khăn kín mít. Họ được ăn những miếng cải sốt nóng.
***
Lúc qua biên giới thì trời tối. Mọi người phải xuống hết. Lính nghỉ phép được đưa vào trại tẩy uế. Họ cởi hết quần áo cho người giữ việc tẩy uế và để trần truồng như thế ngồi đợi. Căn phòng ấm áp, nước nóng, xà-bông có mùi lưu huỳnh. Từ nhiều tháng nay, đây là lần thứ nhất Graber ở trong một căn phòng sưởi ấm thật sự. Phía trong cùng có hai cái lò sưởi, nhưng chỉ có những phía người quay vào lửa để được ấm mà thôi. Ở đây người ta khoan khoái mà thấy mình ở trong bầu không khí ấm áp, thấy người được giãn xương giãn cốt.
Họ bắt chấy để vào móng tay bóp kêu tanh tách. Graber không có chấy, rận ở người không ăn lên da đầu, người lính biết rõ luật thiên nhiên ấy. Chấy và rận biết tôn trọng lãnh thổ của nhau, chúng không có chiến tranh bao giờ.
Khí ấm áp làm cho y buồn ngủ. Y nhìn thân thể chúng bạn: da thì trắng, chân thì nứt nẻ, sẹo thì đỏ hon hỏn. Đồng phục của họ đem treo vào phòng tẩy uế. Bây giờ họ chỉ còn là những người trần truồng, ngồi bình thản bắt chấy rận, chỉ có thế cũng đủ làm cho câu chuyện đổi chiều hướng. Không còn là chuyện chiến tranh nữa, họ nói đến ăn uống và đàn bà.
– Nhà tôi đã sinh đứa con. – Tiếng nói của một anh lính ngồi cạnh Graber, anh ta đang lấy gương soi để bắt chấy trên lông mày.
– Tôi vắng nhà đã hai năm và đứa bé được bốn tháng. Vợ tôi nó nói con được mười bốn tháng và tôi là cha đứa bé. Nhưng mẹ tôi bảo rằng nó là con một thằng lính Nga. Vả chăng vợ tôi nó mới nói đến đứa bé độ mười tháng nay. Trước kia nó có nói gì đến con với cái. Các anh nghĩ thế nào?
Một anh hói trán trả lời tự nhiên:
– Chuyện đó xảy ra nhiều. Thiếu gì con những tù binh ngoại quốc ở trong nước.
– Ừ! Thế thì như anh, anh xử trí thế nào?
– Tôi thì tôi đuổi người mẹ ra khỏi cửa. Giống heo giống chó chớ không phải người.
– Heo chó gì? Tại sao lại heo chó?
Anh hói trán lắc đầu:
– Thời buổi chiến tranh cái gì cũng khác. Mình phải hiểu như thế mới được. Trai hay gái?
– Trai, nó nói giống tôi lắm.
– Nếu con trai thì anh cứ nuôi, ở quê nhà con trai được việc lắm.
– Nhưng nó lai Nga.
– Rồi sao nữa? Người Nga cũng là giống Aryens. Tổ quốc đang cần lính.
– Đâu có giản dị như thế. Anh nói vậy được vì anh có phải là người trong cảnh ngộ đâu.
– Vậy anh muốn trai nước Đức thuần chủng có chứng chỉ đàng hoàng làm cho vợ anh có con à?
– Đâu có được!
– Thế thì việc gì phải ca thán!
Anh lính ngồi cạnh Graber nói khẽ :
– Ít ra vợ nó cũng phải đợi mình về chứ!
Anh trán hói nhún vai:
– Có người đợi được, có người không đợi được. Khi người ta vắng nhà hàng mấy năm trời thì cũng đừng nên đòi hỏi quá.
– Anh có vợ không?
– Không, thế cũng may!
Một người mảnh khảnh, mặt chuột, miệng dúm, bỗng xen vào một câu làm ai nấy dồn mắt về phía y :
– Người Nga không phải là giống Aryens.
Anh trán hói vội nói:
– Anh lầm. Họ là người Aryens. Chứng cớ là đã có hồi chúng ta đồng minh với họ.
– Họ là giống người hèn kém, giống Bolchevik chứ không phải giống Aryens.
– Anh lầm. Người Ba Lan, người Tiệp Khắc, người Pháp là giống người hạ đẳng. Nhưng người Nga là giống Aryens, chúng ta đến giải phóng họ khỏi ách cộng sản. Hẳn là không phải Aryens thượng đẳng như chúng ta, họ chỉ là Aryens bậc dưới. Mình đánh họ nhưng không tiêu diệt họ.
Anh mặt chuột bỗng trở nên gây gổ:
– Gọi là giống người hạ đẳng. Đúng chủ thuyết là như vậy.
– Phải rồi, nhưng đã thay đổi từ lâu rồi. Cũng như người Nhật ấy. Từ khi chúng ta đồng minh với họ thì họ là Aryens. Người Aryens da vàng chứ còn gì nữa.
– Như vậy thì phải xử trí thế nào với đứa con ấy?
– Giết chết nó đi. Làm cho nó chết mau và không đau đớn. Không có cách nào khác.
– Thế còn người mẹ?
– Nhà nước phải lo. Phải đem cạo đầu. Nung sắt đỏ làm dấu rồi tống vào trại tập trung hay đem treo cổ cho giản dị.
– Nhà chức trách không làm gì cả.
– Hẳn là người ta chưa biết.
– Người ta biết chứ. Mẹ tôi đã nói cho họ biết rồi.
– Như vậy thì nhà chức trách đã ăn hối lộ mà làm lơ. Phải đưa họ đi trại tập trung hay đem xử giảo.
Anh hói trán nói:
– Chẳng thà người Pháp. Theo nghiên cứu mới nhất thì người Pháp cũng có chút máu Aryens.
– Dân Pháp là giống người thoái hóa.
Graber hình như nhận thấy người nói câu ấy có vẻ mỉm cười. Một người khác sốt ruột đi lại trong phòng, hai cẳng anh ta rõ ra vòng kiềng. Anh ta dừng lại phồng bộ ngực gà trống.
– Chúng ta là giống người thượng đẳng, còn các dân tộc khác là giống người nô lệ. Nhưng không biết người thường thôi thì họ thế nào?
Anh hói trán ra vẻ suy nghĩ rồi nói:
– Người Thụy Sĩ hay người Thụy Điển.
– Giống người dã man ấy.
– Giống da trắng làm gì còn người dã man.
– Anh tưởng thế chứ!
Graber thấy buồn ngủ. Y nghe lơ mơ thấy họ nói đến chuyện đàn bà. Những thuyết nhân chủng của nước Đức không phù hợp với quan niệm của y về tình yêu. Y không muốn cho vấn đề tình yêu dính dáng gì đến sự đào thải giả tạo, dòng giống, huyết thống, thụ thai. Vả chăng đời lính chỉ cho y ôm ấp những cô gái điếm ở những nơi xuất trận. Mấy cô gái này cũng không đến nỗi thực tế hơn mấy bà có chân trong hội Phụ nữ Đức quốc: ít ra họ còn được dung thứ vì họ phải làm một nghề không được tự do lựa chọn.
***
Họ lấy lại áo quần để mặc. Bây giờ họ lại trở thành lính, hạ sĩ, trung sĩ, thượng sĩ… Người có đứa con dòng giống Nga trở thành một hạ sĩ. Anh lùn cũng vậy. Anh mặt chuột là binh nhì. Anh ta bèn hạ giọng khi thấy những người khác là hạ sĩ quan. Graber nhìn chiếc áo mình. Chiếc áo còn nóng hổi, xông lên mùi lưu hoàng. Dưới ve áo cả một làng rận đã chết ngạt. Y lấy móng tay cạo cẩn thận.
Người ta đưa họ vào một căn nhà gỗ nhỏ nghe một sĩ quan chánh trị giảng thuyết. Ông này đứng trên một cái bục, phía trên là hình Quốc trưởng, cắt nghĩa cho mọi người biết rằng khi trở lại quê hương xứ sở họ có trách nhiệm nặng nề. Họ không được nói gì về những điều tai nghe mắt thấy ngoài mặt trận. Vị trí của quân đội, sự điều động binh sĩ, những nơi chiếm đóng phải giữ bí mật hoàn toàn. Tai mắt kẻ thù ở bất cứ chỗ nào. Phải giữ yên lặng hoàn toàn. Người nào nói ra sẽ bị trừng phạt nặng. Kháng biện không phải lúc cũng là tội phản quốc. Quốc trưởng đích thân chỉ huy các trận chiến, ông hiểu rõ công việc ông làm. Vả chăng tình hình rất khả quan: quân Nga đã hấp hối, kiệt quệ vì tổn thất nặng nề: ta đang sửa soạn một cuộc phản công tất thắng; binh lính được tiếp tế đầy đủ, tinh thần quân đội rất cao. Như vậy, bất cứ sự tiết lộ nào về tình hình mặt trận cũng là tội phản quốc, chỉ trích cũng vậy. Mật vụ vẫn hoạt động, ở đâu cũng có mật vụ, không ai tránh khỏi lưới mật vụ.
Viên sĩ quan ngừng lại một chút, rồi tiếp tục nói một cách thản nhiên. Tuy hai vai gánh nặng quốc gia nhưng Quốc trưởng vẫn đích thân săn sóc anh em binh sĩ. Ông đã quyết định tặng anh em mỗi người một món quà để mang về biếu nhà, như thế để chứng minh rằng ở mặt trận binh sĩ được tiếp tế đầy đủ, họ dư giả để mang về cho dân chúng. Dọc đường ai mà mở gói quà ra sẽ bị trừng phạt nặng. Khi đến ga sẽ có cơ quan kiểm soát lại. Hitler muôn mặt!
Mọi người đều đứng nghiêm. Graber chờ đợi ca bài quốc ca; Đệ tam Đế quốc của nước Đức không hà tiện những bản ca ái quốc. Nhưng không hề có quốc ca, trái lại mới có một mệnh lệnh bất ngờ :
– Những người về nghỉ phép ở Rhénanie bước ra khỏi hàng!
Một vài người bước ra.
Viên sĩ quan nói tiếp:
– Đã bãi bỏ những chuyến xe nghỉ phép đi Rhénanie.
Ông ta hỏi người gần đấy:
– Anh về đâu?
– Cologne.
– Tôi đã nói rằng không được phép về nghỉ ở Rhénanie. Anh lựa nơi khác mà nghỉ.
Anh lính thất vọng vội kêu:
– Quê tôi ở Cologne.
– Tôi nhắc cho anh hay, không được về Cologne, anh có hiểu tiếng Đức không? Anh muốn đến tỉnh nào khác?
– Tôi không muốn đi đâu cả. Vợ con tôi ở cả Cologne. Tôi làm thợ ống khóa ở đây. Giấy phép của tôi cho về Cologne.
– Tôi thấy rồi. Nhưng không được về Cologne! Phải nói bao nhiêu lần nữa anh mới hiểu được là bây giờ tạm thời cấm về Cologne.
– Cấm à? Tại sao lại cấm?
– Anh mất trí rồi à? Ở đây ai là người có quyền hỏi vặn? Anh hay xếp của anh?
Một vị đại úy đến gần viên sĩ quan nói nhỏ mấy tiếng. Viên sĩ quan gật đầu.
– Những người về Hambourg và Alsace nghỉ phép, bước ra khỏi hàng.
Không ai nhúc nhích.
– Những người về Rhénanie đứng lại đây.
Những người khác bước sang bên trái. Tiến, tiến! Lãnh tặng phẩm!.
***
Tất cả đều tụ lại ở sân ga. Những người về nghỉ phép ở Rhénanie cũng trở lại đây sau vài phút.
Anh lùn vội hỏi:
– Có chuyện gì thế?
– Mày nghe rõ cả rồi đấy.
– Mày không được về Cologne, bây giờ mày muốn đi đâu?
– Đi Rothenbourg. Tao có người chị ở đó. Nhưng tao không biết đến Rothebourg để làm gì. Vợ tao ở Cologne. Không biết Cologne làm sao mà cấm không cho ai đến.
Một người trông thấy hai anh mật vụ SS nện gót giày cồm cộp vội kêu lên:
– Coi chừng.
– Tao đếch cần tụi nó! Tao đến Rothenbourg làm khỉ khô gì? Nhà tao ở Cologne cơ mà.
– Có lẽ gia đình mày đã dọn đến Bothebuorg.
– Hẳn là không. Không có chỗ. Vả chăng chị tao và vợ tao hai người không chịu đựng được nhau. Không biết ở Cologne có chuyện gì thế?
Anh thợ khóa nhìn chúng bạn với đôi mắt thất vọng. Mắt anh ta rưng rưng lệ, hai môi dày run run.
– Tại sao ai nấy đều được về thăm nhà mà tôi không được về. Mấy năm trời xa cách. Không biết vợ con ra sao. Thằng con lớn năm nay mười một tuổi rồi!
– Này anh! Anh không làm gì được đâu. Tốt hơn hết là gửi điện tín bảo chị ấy đến gặp anh ở Rothenbourg, không thì khó lòng lắm.
– Thế thì ai chịu tiền tầu? Mà đến đấy thì ăn ở vào đâu?
Anh mặt chuột nói:
– Nếu anh không được phép đến Cologne thì vợ anh cũng không được phép ra khỏi Cologne. Hẳn là phải có lệnh cấm.
Anh thợ khóa mở miệng ra nhưng không nói gì. Sau một phút lặng yên y chỉ nói:
– Có lẽ.
Y quay lại nhìn lần lượt mọi người.
– Không lẽ chỗ nào cũng bị tàn phá cả.
Anh lùn nói:
– Anh nên nghĩ rằng không bị xua trở lại mặt trận cũng là may rồi. Không có gì là lạ hết.
Graber ngồi yên nghe không nói gì cả. Người y run rẩy. Cái lạnh run không phải từ ngoài thấm vào. Sự đe dọa vô hình lẩn quất từ lâu bây giờ lại đè nặng xuống người y. Y cảm thấy nó lại gần, lùi xa rồi trở lại một cách nham hiểm. Nó nhìn y với cả ngàn khuôn mặt mà không có khuôn mặt nào là đích thực. Y đưa mắt nhìn đường rầy chạy biến vào chân trời. Phía chân trời kia là căn nhà ấm cúng, là gia đình sum họp, là yên ổn, là tất cả cái gì còn là vững chắc. Nhưng nhìn về phía tây thì hình như sự đe dọa lại đến với hàng đường rầy thẳng tắp biến vào chân trời. Có lẽ sự đe dọa ẩn náu ở chân trời kia, kinh khủng còn hơn ở tiền tuyến.
Anh thợ khóa than thở:
– Nghỉ phép! Bây giờ còn làm gì được với cái giấy nghỉ phép này!
Mấy người khác nhìn y không nói gì. Có thể nói rằng y mới mắc một bịnh bí hiểm. Hẳn là y không đắc tội, nhưng y đã bị ma trêu quỷ ám, mọi người theo bản năng tìm cách xa lánh. Mọi người mừng rằng không bị tai ách oan trái, nhưng họ cũng cảm thấy bị đe dọa. Tai họa rất hay lây.
Con tàu đi từ từ dưới sân che rồi dừng lại. Thình lình mọi người bị chìm trong chỗ tối mờ, không khác nào người ta vừa kéo màn đen che kín sân ga.
Tôi vẫn đi kèm trẻ tư gia, Áo cơm hèn mọn, nhưng lại là mấu chốt vô cùng quan trọng của đời sống. Tôi sợ bị mất việc. Lúc đó, không biết phải làm sao với những bữa cơm hàng ngày. Thời gian lê thê kéo dài buồn nản. Cùng thời gian ấy, tôi lại cảm thấy quá ngắn để chuẩn bị cho một kỳ thi. Tâm hồn lúc nào cũng muốn bay bổng, mà những thứ vặt vãnh cứ níu trì vướng víu. Tôi như con chim không bay được bằng đôi cánh của mình, lại lung tung với đôi chân què quặt. Làm việc này một chút. Mó tay việc kia một ít. Thì giờ bị chia ra nhiều mảnh vụn. Không đi chơi long nhong vô tích sự với mấy thằng bạn như dạo còn ở nhà bà Ba, nhưng cũng chẳng làm được điều gì hoàn hảo. Phần lớn là dở dang. Dỡ dang từ trong tâm tưởng. Tuần nào tôi cũng đến nhà bác Huế, hướng dẫn bài vỡ cho hai con bé. Bé Hà đã lên lớp nhất. Đôi mắt nó rập khuôn mắt mẹ. Phàng phất nét buồn ngay cả những lúc vui. Không biet phong thổ cảnh sắc đất thần kinh ra sao, mà nó vận vào tiếng nói trầm trầm của con người, không lên giọng nổi. Đội mắt bác Huế và bé Hà, là đôi mắt của hoài cổ nhớ thương một thời xa vắng. Có lần tôi hỏi, bác Huế có chuyện chi buồn dai dẳng? Bác nói, không. Tôi nói, sao con thấy mắt bác buồn quá, Bác ngạc nhiên, rứa à? Tôi nghĩ, có lẽ từ thưở khai sinh, nỗi buồn đã có sẵn trong căn cơ huyết tộc của bác. Còn bé Đông, không giống mẹ, cũng chẳng giống bác Quảng. Mắt sáng long lanh, có pha chút cười cười như chế nhạo. Tính hay hờn dỗi. Nói điều gì động chạm. nó sẽ bỏ ăn. Tôi bảo, khi nào chấm dứt tuyệt thực, phải tuyn bố cho moi người biết. Vài tiếng đồng hồ sau, bé Hà mách nhỏ, chị Đông mang chuối và bánh ngọt vào phòng ăn lén. Tôi cuời nhạo, tuyệt thực kiểu đó thi cả năm cũng không ngất xiu. Nó lại đổi cách khác. Không nói chuyện với tôi, Như thể lại khoe. Để trả lời những câu hỏi rắc rối. Sự học của tôi bị mắc nghẹn. Ban đêm, dù có thức khuya, cũng chẳng thu thập được gì nhiều. Mỗi khi kèm trẻ về, mở cửa vào căn nhà tối thui, nghe rờn rợn, Nếu có một bàn tay bất ngờ vỗ vai, có thể tôi giật mình chết giấc, Trước khi đi, tôi muốn thắp ngọn đèn dầu nhỏ, để khi về có ánh sáng. Nhưng lại ngại chuột làm ngã, cháy nhà. Trong nhà chẳng có góc kẹt nào dể chuột trú ẩn. Chúng chui từ đâu không thấy. Về đêm, nghe kêu rúc rích chổ này, chạy rúc rích chổ kia. Có lẽ, chúng vào từ nghĩa địa. Tôi vốn đã sợ ma, càng sợ thêm. Những tiếng động nhỏ trong bóng tối, tôi tường tượng ra đủ thứ hình dạng của hồn ma bóng quế. Lúc ngồi học bài với ngọn đèn dầu tỏa sáng yếu ớt, luôn luôn tôi cảm giác như có ai đó, im lặng đứng sau lưng nhìn tôi. Tôi lạnh gáy từng hồi. Khốn nạn! Cái cảm giác rờn rợn không xua đi được. Tôi như có con mắt thứ ba, thấy cả ở phía sau lưng, Tưởng tượng, có một khuôn mặt người lạ, lúc nghiêm, lúc cười, lúc chế giễu. Tôi cố tin rằng, con người chết đi là hết. Không có một đời sống bí mật nào ở phía bên kia cửa tử. Không ai thấy người chết còn trở lại dương thế dưới hình bóng một con ma. Nhưng đó là suy nghĩ đánh lừa. Trong thâm căn cổ đế, tôi vẫn tin có chuyện ma quỷ. Niềm tin không thể lý giải. Người đời vẫn tin vào sự tồn tại linh hồn của các giao chủ đã chết mấy ngàn năm rồi. Bao thế hệ ông bà tôi tin thế. Làm sao tôi nghĩ khác? Dù lý luận trấn an thế nào, tôi vẫn sợ ma. Ở gần nghĩa địa, tôi thường thấy những người đi viếng m ộ. Có khi họ ở đến chạng vạng mới về. Trưức khi về, họ đốt nén nhang mới, cắm lên mộ. Trong đêm, những đốm lửa như những con mắt đỏ ma trơi nhìn tôi. Gió thổi, đóm lửa nhấp nháy lập lòe. Tôi không dám nhìn lâu. Nhiều đêm sợ quá, tôi đi qua đi lại, gõ nhịp vào bất cứ vật gì trong nhà, và hát lớn những bài hùng ca nào nhớ được. Tiếng hát, tiếng gõ xua tan bầu không khí ớn lạnh. Nhưng rồi, đâu lại vào dó. Tôi vẫn sợ. Gió rít ban đêm lùa qua khe vách, cũng làm tôi rợn người nổi gai ốc. Tôi năn ni thằng Ấn đến ngủ với tôi. Cách vài đêm, nó đem bài dến học. Nó học cho nó thì ít, dạy cho tôi nhiều hơn. Mươi bữa, Đăng và Tường cũng đến nhập bọn. Hai thằng bạn này học đệ nhị như tôi. Chúng hay nói chuyện bá láp, học là phụ. Dẫu sao, tội cũng cần sự có mặt của ban, Có tụi nó, tôi đỡ sợ ma. Những đêm khuya, chúng tôi hay nấu cháo ăn thêm. Ngoi húp cháo sì xup với bạn thân tình. tôi thấy không khí trong nhà bớt lạnh. Gần đến ngày thi, tôi học chăm như thời còn ở chung với anh Kỳ. Nghĩ đến anh, tôi lại nhớ kỷ niệm cũ. Anh gắng học đến nỗi, khi buồn ngủ anh ngâm chân vào nước đá cho tỉnh ugười. Tôi kể chuyện này với Ẩn. Nó chê, học thế là học nhồi sọ, đầu óc sẽ mụ đi. Tôi nói, chúng tôi cần cái bằng cấp để câu cơm. Nó bảo, muốn câu cơm thì kiếm việc làm, dễ hơn học. Mỗi thằng một cách lý luận, cãi nhau ỏm tỏi. Tôi bênh vực cho hành động ngâm chân vào nước đá của anh Kỳ. Trọng lòng tôi, anh chiếm một tình cảm quý mến đặc biệt. Dù chú tâm vào việc học, thỉnh thoảng tôi cũng ngồi thừ ra, hất động. Đó là lúc Phương Nghi che mờ chữ nghĩa. Nó như sương khói êm đềm lãng đãng, không nắm bắt được. Nó là niềm tuyệt vọng đớn đau. Tôi thương tuởng nó vô cùng. Chẳng biết nó có hiểu điều này không? Hết Phương Nghi ám ảnh thì dến chị Triều, với thân thể ngùn ngụt lửa tình, làm sống dậy những đêm yêu mê cuồng nhiệt. Bây giờ, chị ở đâu, làm gì? Đôi khi, tôi tiếc đã không theo chị về Sài Gòn, Trên đường đời, nếu một ngày vô tình gặp lại, thấy chị hạnh phúc đi hên người đàn ông khác, chắc tôi sẽ rất đau lòng. Tôi muốn lúc nào chị cũng ở một mình. Và bao giờ, chị cũng là của tôi. Như thế là ích kỷ. Có phải tình yêu luôn luôn kèm theo sự ích kỷ? Tôi có yêu chị không, hay chỉ là đam mê xác thịt? Có thể nào cùng một lúc, yêu cả hai người, chị Triều và Phương Nghi? Tôi lùng bùng trong mớ tình cảm hỗn độn. Không biết lòng mình ra sao.
Bạn đâu có thể tưởng tượng rằng, 36 năm sau khi Cộng Sản Bắc Việt chiếm miền Nam, bao nhiêu xác đồng bào đã dìm sâu xuống đáy biển trong những chuyến vượt biển ra đi tìm tự do, mà bây giờ, trong một bản tin mới toanh, báo chí vừa đưa tin có 64 thuyền nhân Việt Nam mới đến Úc xin tị nạn. Ngày 10 tháng 5-2011 được chính phủ Úc chở những thuyền nhân này đến trại tạm cư Flying Fish Cove trên đảo Christmas Island để chờ làm thủ tục điều tra, phỏng vấn.
Từ 2001 đến nay có khoảng 2,000 người Thượng đã từ Tây Nguyên vượt biên sang Cam Bốt. Báo Nhân Dân, cơ quan của đảng Cộng sản Việt Nam, không thừa nhận lúc họ ra đi, nhưng tường thuật rõ ràng lúc họ trở về: “Huyện Đức Cơ, Gia Lai, tiếp nhận 35 người “vượt biên trái phép” sang Kampuchea trở về quê hương!” Khổ nỗi, không vượt biên qua được Mỹ, Úc, Pháp … mà phải băng đồi lội suối qua Kampuchea, thì cũng biết tình trạng truy bức, đàn áp đã xẩy ra khốn nạn như thế nào! Cũng như hàng trăm nghìn đồng bào từ năm 1975, không chấp nhận sự hiện hữu của chế độ Cộng Sản đã bỏ nước ra đi, cũng không nghe đảng nêu cao thành tích, thống kê về việc trấn lột, bắn giết, bỏ tù, nhưng chắc chắn là đảng có biết, có biết nên đã làm áp lực chính phủ Indonesia phải đục bỏ tấm bia kỷ niệm thuyền nhân ở Galang. Nhưng bây giờ nhân vài ba cái đại lễ, đảng lại bày trò vinh danh đón tiếp bà con kiều bào (còn gọi là đồng bào ta!) đang sinh sống, làm việc, học tập (chỉ thiếu mấy chữ “theo gương bác Hồ”) ở nước ngoài về, “trong không khí trang trọng, ấm tình quê hương.” Tóm tắt định nghĩa của Liên Hiệp Quốc về người tị nạn như sau: “Đó là người có đủ lý do để sợ rằng bị bách hại vì lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, nay không thể trở về quốc gia đó, hay không muốn trở về quốc gia đó”. Tại các trại tị nạn Đông Nam Á vào những ngày sau năm 2001, chống lại việc cưỡng bách hồi hương, nhiều người đã tự mổ bụng hay tự thiêu, kêu gào, vùng vẫy, la khóc khi bị cảnh sát khiêng lên máy bay. Vậy mà có bao nhiêu người bỏ nước ra đi, sau khi được cứu xét, thanh lọc và nhận vào một nước khác dưới danh nghĩa tị nạn, lúc đã có chút tiền bạc, cơ ngơi, lại khơi khơi trở lại du lịch hay ùn ùn “quy cố hương” mà theo thông báo của nhà nước Việt Cộng, hàng năm có khoảng 500.000 “Việt kiều” về quê ăn Tết, chắc chắn dù có thêm hay bớt, con số này cũng không chênh lệch bao nhiêu. Giờ này những tiếng vượt biển, tị nạn nghe như một điều mỉa mai, cay đắng.
Hợp pháp hay bất hợp pháp thì trong lòng, đảng cũng muốn cho “chúng bay” vượt biển, vượt biên ra đi càng nhiều càng tốt. Đảng khoe, xuất khẩu lao động của VN tăng nhanh từ năm 2001, chủ yếu sang các nước Đông Á, nhất là Malaysia, Đài Loan và Hàn Quốc. Gần đây, thị trường xuất khẩu lao động mở rộng sang Trung Đông, Tây Âu và Mỹ, bình quân mỗi năm có 70.000 lao động được đưa đi ra nước ngoài. Hiện nay có hơn 400.000 lao động VN làm việc tại 40 nước và lãnh thổ, trong đó riêng tại Malaysia có hơn 100.000 người.
Về chuyện xuất khẩu cô dâu, tính đến năm 2008, đã có hơn 272.000 phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài. Đó là con số mà Bộ Công an đưa ra tại Hội nghị toàn quốc bàn về hôn nhân và gia đình liên hệ đến ngoại quốc, diễn ra ở Cần Thơ ngày 22.4.08, mà không phải do ai phịa ra. Tuy vậy chưa thấy đảng khoe đã xuất khẩu được bao nhiêu phụ nữ đi ở đợ cho quốc tế. Khoe có người nhà đi ở đợ chỉ thêm xấu mặt, đâu có vinh dự gì! Nhưng đảng vẫn âm thầm cho đi. Đặc biệt trong hình ảnh và câu chuyện 64 thuyền nhân mới đến Úc, khác với những chuyến ra đi tơi tả ngày trước, chỉ có một phụ nữ và một trẻ em, đây là những thanh niên mạnh khỏe, tươi tỉnh, ăn mặc tươm tất như những hình ảnh xuất khẩu lao động mà chúng ta thường thấy. Phải chăng có một chiến dịch mới của Việt Nam đưa người xâm nhập vào các quốc gia tương đối dễ dàng và lỏng lẻo trong việc cho người nhập cư, vừa để gài người xâm nhập vào cộng đồng người Việt hải ngoại, vừa thu lợi cho việc ra đi hay việc gửi ngoại tệ về đất nước sau này. Vì vậy không hề nghe báo đảng kể chuyện những chuyến xe hàng chở đầy người Việt bị bắt tại Anh hay đang dở sống dở chết trong những khu rừng nước Pháp dưới trời lạnh giá vì đã vượt biên hợp pháp qua những dịch vụ đưa người đi nước ngoài được nhà nước bao che. Nếu không được bao che, thì với lưới công an ngày nay, một con ruồi cũng khó lọt. Chuyện đảng cho tổ chức vượt biên để lấy tiền bãi, chận bắt để trấn lột, rồi nhốt vào tù để đòi tiền chuộc, bây giờ ai cũng biết. Đánh tư sản, xua đuổi người Hoa để chiếm nhà, tịch thu tài sản, rồi đóng tàu bán người ra khơi gọi là “bán chính thức”, đảng đã làm giàu trên bao nhiêu nỗi chết chóc, khốn cùng của dân tộc. Sau bao nhiêu năm trồng cây có quả, ngày nay, đảng giăng đèn kết hoa, “thu hoạch” lợi tức trên chiêu bài và khẩu hiệu “quê hương”, đón người đi xa về, nồng ấm biết mấy mùi vị của đồng “đô la”. Bây giờ chuyện vượt biển tị nạn hình như không còn ai nói tới. Các trại tị nạn ở Đông Nam Á đóng cửa từ lâu, các quốc gia trên thế giới không còn ai vớt người trên biển Đông, hằng năm đã có hàng trăm nghìn người trở lại nơi, mà từ đó, họ đã chấp nhận đổi mạng sống để ra đi. Vậy thì chính thức “xuất khẩu” người hay cho người vượt biển cũng là một lối buôn người có lợi. Theo định nghĩa tị nạn thì không có chuyện tị nạn vì đói khổ như sau này, người ta thường nói đến mấy chữ “tị nạn kinh tế”. Mà dù người dân có bỏ nước ra đi vì lý do nào đi nữa thì chính phủ và quốc gia đó đều có trách nhiệm, hoặc là hà khắc thiếu tự do, hoặc là bất tài không lo đủ cơm no áo ấm cho dân.
Tôi không hiểu 64 “thuyền nhân” người Việt vừa mới đến xin tị nạn tại Úc quê quán ở đâu, ra đi từ nơi nào và lý do ra đi của họ. Hàng năm có nửa triệu người, trong đó ít nhất có 3/4 người tị nạn trở về ăn Tết thì áp bức, bất công ở đâu? Việt Nam bây giờ là nước sản xuất gạo đứng vào hạng nhì thế giới, năm 2010, lượng “kiều hối” của VN đã vượt 8 tỷ USD, cán bộ trung ương đảng bạc tỷ trong tay, sao dân không có cơm ăn mà phải bỏ nước ra đi? Chuyện vượt biên, vượt biển đang là chuyện khó hiểu!
Mỗi năm cứ đến Giáng Sinh thì thương xá mọi nơi đầy ắp người mua sắm. Trẻ em phấn khởi chờ dợi những món quà sắp nhận, người lớn tất bật với những ngày cuối tuần, bận rộn nhưng háo hức, coi việc đi sắm quà và tặng quà cho những người thân yêu là một niềm vui. Khộng phải đợi đến bây giờ mà từ Black Friday tháng trước, có người đã thức khuya hay dậy sớm, đợi chờ dưới trời lạnh để mua cho được một món quà vừa ý, lẽ cố nhiên không phải cho mình mà dế trao đến một người khác. Vì sao nói đến Giảng Sinh là phải nói dến những món quà đầy màu sắc vui tươi, để dưới cây thông, cạnh lò sưởi, trong những chiếc vớ de đầu giuờng tre em hay do người phát thư mang đến trưa nay. Giáng sinh cảng ngày càng mờ rộng lừ ý nghĩa của một ngày lễ Ki Tô giáo trợng dại, đi xa hơn, gần gũi hơn với đời sống con người, nghĩ đến nhau và gần lại với nhau bơn nữa.
Và vì sao món quả cho nhau ý nghĩa phải là món quả vào dịp lễ Giáng Sinh mà không phải là một thời điểm nào khác, và vào ngày trọng đại này, vi như thiếu một món quả cho ai đó, lòng chúng ta cảm thấy không vui vù cám thấy thiểu thốn một điều gi. Không phải chi nghĩ đến những người thân yêu trong gia dình, cỏ khi chúng ta cũng nghĩ đến cô giáo của lũ trẻ, người phát thư đến với chung ta mỗi ngày, người dọn vườn, đổ rác … Người san sẽ có thể thấy được niềm vui hơn là người nhận.
Câu chuyện “Món Quà Giáng Sinh” của C’Hlenry viết từ cuối thể kỳ XIX vẫn là một câu chuyện tuyệt đẹp về tình yêu; “Đôi vợ chồng Jim & Della quá nghèo đến nối Giáng Sinh năm nay, họ chang có dược một món tiền nhỏ dề mua cho nhau một món qua. Từ lâu Jìm vẫn mong có tiền để mua cho vợ mua cái lược thật dẹp cho xứng dáng với mớ tóc óng à của nàng, còn Della, từ lâu ao ước mua cho Jim một món quà, một cái dây đồng hồ gia trị cho cái đồng hồ vàng, của gia bảo dể lại từ thời Ông Nội của Jim, nhưng họ quá nghèo. Della dành dụm cho đến ngày Giang Sinh chỉ có $1.87, còn Jim thì cũng với cái áo khoác cũ kỹ và không mua nổi một đội găng tay vào mùa Đông giá lạnh.
Giáng Sinh đã gần kề, Della nhác thấy hinh ảnh mình với mái tóc dài trong chiếc gương lớn, nghĩ dến món quà Giáng Sinh cho chồng, mắt nàng sáng lên. Della xuống phố tìm đến cửa hàng chuyên mua tóc, bằng lòng bán mớ tớc của nàng, sau đó dến một tiệm nữ trang và mua một cái giây dồng hồ hằng bạch kim cho cái đồng hồ gia bảo của Jim, món quà mà từ lâu nàng vẫn ấp ủ, mơ ước mua được để tặng chàng. Tổi nay, Della ngồi ở chiếc ghế cạnh lối mà Jim sẽ trở về, tay cầm sợi giây đồng hồ, hồi hộp nghe tieng chân chồng, chưa bao giờ Jim về trễ như hôm nay. Jim hiện ra trên bậc cửa, sững sờ nhìn hồi lâu, với mái tóc ngắn bất thường, không nói lấy được một lời. Cuối cùng thì Jim tiến lại ôm hôn vợ, mắt rưng lệ, từ từ lấy trong túi áo ra một gói quả chàng đã mua để tặng nàng, sau khi bán chiếc đồng hồ của chàng, đó là bộ trâm cài tóc xinh xắn rất hợp với mái tóc vàng óng à của nàng, Vậy mà giờ đây bộ tóc của nàng không còn nữa! Della cũng trao cho Jim, sợi giây đeo đồng bổ bằng bạch kim mà nàng đã đổi bằng mớ tóc của nàng, nhưng chiếc đồng hồ của Jim cũng đang nằm trong tiệm cầm đồ. Họ cùng nghĩ đến nhau vào ngày Giáng Sinh, và đã đem đổi “gia tài” của họ đề mang về một món quà, không dùng được cho ngày Giáng Sinh năm nay. Nhưng người đọc hy vọng rằng, với thời gian, mái tóc của Della sẽ dài lại và nhoờ dành dụm, Jim sẽ có cơ may chuộc lại được cái đồng hồ của chàng. Họ cùng hạnh phúc vì cả hai cùng nghĩ đến nhau.”
Trong một câu chuyện khác, một thanh niên đến một tiệm bán hoa để mua một giỏ hoa Giáng Sinh tặng mẹ đang ở một thành phố khác, cách xa đó. Tại đây anh gặp một cô bé đang đứng tần ngần vì không đủ tiền để, chì mua một đóa hoa hồng nói là để tặng cho mẹ em. Sau khi được chàng thanh niên giúp tiền mua đủ đóa hoa, cô bé muốn nhớ anh đưa dến nơi mẹ ở. Chàng thanh niên ngạc nhiên khi nhận ra “nơi mẹ cô bé ở” là một ngôi mộ mới đắp trong nghĩa trang gần đó. Chàng thanh niên sau khi dẫn em bé về lại chỗ cũ, đã thôi nhờ tiệm hoa gửi quả cho mẹ, chàng mang bó hoa đó và ngay trong đêm, lái xc vượt một dặm đường 200 dặm để về thăm mẹ trước đêm Giáng Sinh. Không người mẹ nào cần quà, bà cần và muốn ôm những đứa con vào lòng như thuờ con bà cón ấu thơ.
Gần dây thôi, anh Lawrence DePrimo 25 tuổi là một nhân viên cảnh sát tuần tra ở New York City, hai tuần trước trong khi đi tuần ở khu Time Square trong một đêm giá lạnh, anh dã nhìn thấy một người đàn ông vô gia cư không có giầy đang ngồi co ro bên hè phố, đôi chân bị sưng vù. Động lòng trắc ẩn, DePrimo, chạy tới tiêm bán giầy Skeichers gần đóó dể mua cho người không nhà nay một đôi giầy ủng, không biết số giầy là bao nhiệu cho nên anh lại phải chạy ra chổ người vô gia cư một lần nữa. Chính ông tiệm giầy Jose Cano khi nhận ra điều nảy. đã giúp giảm giá đôi giầy để anh DePrimo chỉ phải trả giá một nữa. Nhưng hành động của anh DePrimo không khỏi lọt vào ống kính của bà Jennifer Foster, ở thành phố Florence, tiểu bang Arizona đang du ljch New York. Chỉ trong mấy ngày tấm hình và bức thư của bà Foster lên trang nhà trong Facebook đã được nửa triệu người trên thể giới vào xem để cùng đồng ý với nhau rằng “lỏng nhân ái của con người vẫn chưa bị mất.”
Nhưng điều ám ảnh tôi trong những câu chuyện mùa Đông, vẫn là câu chuyện “Co Bé Bán Diêm” của nhà văn Đan Mạch Hns Christian Andersen đã gây xúc động cho lòng tôi từ thuờ thơ ấu. “Một cô bé không tên, chỉ gọi là Cô Bé Bán Diêm, đầu trần, chân đất một chiều mùa Đông thật lạnh và tuyết rơi dày đặc, lang thang trên con phố vắng để bán những bao diêm cuối củng, nhưng đường xá vắng ngắt, mọi người ai cũng sum họp trong những gian nhà ấm cúng. Em không dám về nhà với một người cha giận dữ khi em không bán được những bao diêm, căn nhà trống hoác, lạnh lẽo và trên bếp, không có gi đề ăn chiều nay. Trong các gian nhà quanh phố đã sáng đèn và mùi ngỗng quay thơm lừng tỏa ra. Em bật những que diêm để it ra cũng có thể sưởi ấm những ngón tay lạnh buốt. Em bật que diêm đầu tiên lên, một lò sười trang hoàng rực rỡ, ấm áp hiện ra. Em bật que diêm thứ hai, bức tường trước mặt bỗng trở nên biến mất, một bàn ăn phù khan trắng như tuyết với con ngỗng quay nhồi táo và mận khô đang bốc hơi nghi ngút hiện ra. Bé bật một que diêm nữa và thấy mình đang ngồi dưới cây thông Giáng Sinh trang hoàng đầy nến và những món quà xinh xắn. Nhưng những ảo giác đó thoáng qua rất nhanh, mỗi khi que diêm phụt tắt, chẳng còn gì ngoải bức tường dầy tối tăm, ẩm ướt và lạnh lẽo ngay trước mặt. Cộ bẻ bật que diem thử tư, như giữa vầng hào quang, bà ngoại em đang đứng đó, mỉm cười hiền hậu nhìn cô bé. “Bà ơi!”, em khóc nấc lên, “Bà mang cháu đi cùng nhé! Khi que diêm này tắt, bà sẽ bỏ cháu và biến mất như chiếc lò sưỡi ẩm áp kia, như cây thông rực rỡ kia và cả những món ăn trên bàn tiệc. Cô bé vội vàng cho cả gói diêm vào ngọn lửa, ánh sảng bùng lên và bà ôm em trong vòng tay rồi cả hai cùng bay lên, trong ánh sáng và niềm hân hoan, xa dần mãi mặt đất đen tối, đến một nơi không còn đói khát và nỗi khổ đau nữa.
Sáng hôm sau, khách qua đường, thấy em đã chết cóng, tay vẫn nắm chặt những que diêm, nghĩ rằng những que diêm này đã được đốt lên để sưỡi ấm cho em, nhưng không ai biết những que diêm đó đã đem lại cho em nhung điều mơ ước cuối cùng, thực sự không có cho em trên đời này. Em đã đi về một nơi tốt đẹp hơn, mà chúng ta hy vọng đó làThiên Đường.”
Cũng bây giờ, tại một thành phố nhỏ mang tên Newtown thuộc tiều bang Connecticut, rất nhiều gia đình đang trải qua một mùa Giáng Sinh buồn thảm. Những đứa trẻ xinh xắn, ngây thơ, đáng lẽ phải được quây quần bên những cây thông trong ngày Chúa Giáng Sinh đầm ấm năm nay, giờ đang nắm trong huyệt lạnh bởi một thế giới lạnh lùng và điên đảo.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.