Quái thú Gustav

baotreonline.com

Cẩm Tú

May 13th, 2026
Post by Sơn râu 21 May 2026

Cuối thập niên 1930, tình báo Đức nhận thấy phòng tuyến Maginot (Maginot Line) của Pháp được xây bằng bê tông cốt thép cực dày, tháp pháo bọc giáp và hầm ngầm sâu, vượt quá khả năng xuyên thủng của mọi loại pháo hiện đại. Hitler mật lệnh chế tạo một loại siêu pháo có thể bắn đạn khổng lồ, xuyên tường bê tông 7 mét, từ cự ly an toàn ngoài tầm pháo binh Pháp.Khẩu siêu pháo Schwerer Gustav (còn gọi “Đại pháo Gustav”) được tốc hành thiết kế (ảnh trên). Năm 1937, hãng Krupp, nhận nhiệm vụ thực hiện. Ba năm sau, khẩu pháo khổng lồ cỡ nòng 800 mm, lớn nhất từng được chế tạo trong lịch sử pháo binh ra đời. Đạn xuyên bê tông của Gustav nặng 7 tấn, đủ sức hủy diệt boong-ke chôn sâu dưới lòng đất…

Tuy nhiên, khi Schwerer Gustav hoàn tất (1941), tình hình chiến trường đã thay đổi: trong chiến dịch đánh Pháp năm 1940, Đức không tấn công trực diện Maginot Line mà vòng qua Bỉ và Ardennes, nên Gustav được sử dụng tại Sevastopol (Crimea) năm 1942 nhằm phá các công sự kiên cố của Liên Xô, trong đó có pháo đài Maxim Gorky…

Lò sinh quái thú

Essen, mùa đông 1940

Bên trong xưởng thép khổng lồ của Krupp, không khí đặc quánh mùi kim loại và than cốc. Tiếng búa máy, tiếng rền của máy tiện, tiếng rít của hơi nước hòa thành một bản nhạc không dứt. Ở trung tâm nhà xưởng, một khối thép đỏ rực dài gần bằng tòa nhà ba tầng đang được kéo ra khỏi lò. Sức nóng bốc lên làm méo mó cả không khí, những tia lửa tóe ra như pháo hoa, bắn vào những tấm tạp dề da dày của công nhân. Các kỹ sư đứng ngay ngắn thành hàng, mắt không rời “đứa con” của họ: nòng pháo 800 mm lớn nhất mà loài người chưa bao giờ từng nghĩ đến. Từ những con số khô khan trên bản vẽ giờ biến thành khối kim loại khổng lồ, nặng hàng trăm tấn, chậm rãi được cẩu trục nâng lên và đặt vào giá tiện khổng lồ chính giữa xưởng, nơi sẽ bắt đầu khoan, doa và mài ròng rã hàng tháng trời.

Ở góc xưởng, một nhóm thợ thầm thì: “Cái này bắn xuyên được cả pháo đài Maxim Gorky ở Sevastopol…”. Người khác đáp, mắt dán vào nòng pháo giọng tự hào: “Nếu không phải chiến tranh, chắc trong đời mình không bao giờ  nhìn thấy một thứ như này…”.Bên ngoài, tuyết vẫn  nhẹ rơi đều đều trên mái nhà xưởng, nhưng bên trong, ầm ầm sức nóng và âm thanh báo hiệu một kỷ nguyên mới của pháo binh, nơi kỹ thuật và sức mạnh được đẩy đến cực hạn, và con “quái thú” Schwerer Gustav đang được sinh ra từ lửa và thép.

Hai đường ray song song để di chuyển nhằm phân tán sức nặng của khẩu pháo Gustav

Khai hỏa

Sevastopol, tháng 6 năm 1942,

Cả vùng ven biển Crimea rền vang tiếng tàu hỏa. Từng đoàn toa nặng trĩu rầm rì lăn bánh, chở những phần thân khổng lồ của Schwerer Gustav. Đoàn tàu dài đến mức khi đầu máy đã khuất bóng sau khúc cua, những toa chở bánh xe và giàn nâng vẫn chưa rời khỏi ga. Trên bãi đất trống cách tiền tuyến vài cây số, hàng trăm lính công binh và kỹ sư của Krupp khẩn cấp dựng đường ray kép dài hàng trăm mét, chạy song song và kiên cố như xương sống của một con quái vật. Mỗi thanh ray được lót dày đá nghiền, đóng chặt xuống đất để chịu nổi cú giật khủng khiếp của “quái thú” khi khai hỏa. Ba tuần liên tục, cần cẩu khổng lồ hoạt động không nghỉ: nòng pháo dài hơn 30 mét được hạ xuống giá đỡ, từng chốt thép được siết lại bằng những cờ lê to như mái chèo. Bánh răng nâng hạ nòng được tra dầu sáng loáng, hệ thống thủy lực được thử áp suất nhiều lần. Ở phía sau, một đội khác lo bệ nạp đạn, nơi những quả đạn nặng 7 tấn sẽ được đẩy vào buồng pháo. Buổi sáng ngày thứ tư, trời quang đãng. Gustav được nâng nòng lên một góc nghiêng, hướng về phía pháo đài Maxim Gorky. Lệnh bắn đanh thép vang lên. Cả một vùng đất rung chuyển khi phát pháo đầu tiên gầm nổ, để lại một cột khói trắng mịt mù. Âm thanh ì ì dội lại từ các vách đá, còn bên kia, một phần công sự dày cả mét bê tông bị xé toạc.

Mỗi lần Gustav khai hỏa là cả không gian như bị xé rách. Sóng xung kích lan đi, hất tung lớp bụi trên quần áo lính công binh, khiến những cánh cờ báo hướng gió bay phần phật. Một sĩ quan hãnh diện thốt lên: “Đây là tiếng sấm của chiến thắng!”. Cách đó vài cây số, bên trong pháo đài Maxim Gorky, mỗi tiếng nổ của Gustav như một cơn động đất. Tường rung bần bật, trần hầm rơi ào ào từng mảng vữa. Những người lính Hồng quân Nga, dù quen với bom pháo, vẫn giật thót mình bởi âm thanh dội từ xa, trầm và sâu như tiếng trống tang. Một sĩ quan Nga đã ghi vào nhật ký: “Không thấy nó, chỉ nghe tiếng nổ là đủ lạnh gáy”.

Trong các hầm trú ẩn, người dân Sevastopol bàn tán về “khẩu pháo khổng lồ” mà ai cũng nghe nhưng chưa ai tận mắt thấy. Tin đồn lan nhanh: có người nói nó dài bằng tòa nhà, có người thề đã thấy đầu đạn to như cái thuyền con. Cả hai bên đều hiểu, Gustav không chỉ phá công sự nó còn đánh thẳng vào tinh thần binh sĩ đối phương. Với quân Đức, đó là minh chứng cho sức mạnh công nghiệp quân sự. Với quân Liên Xô, đó là một đối thủ mang cả một “cỗ máy từ địa ngục” nhằm đoạt mạng họ.

Đạn pháo Gustav (so với tỉ lệ chiếc Jeep)

Vận hành quái thú

Gustav có cỡ nòng 800 mm, lớn nhất từng chế tạo trong lịch sử pháo binh. Chiều dài nòng pháo 32 mét. Trọng lượng 1,350 tấn. Viên đạn xuyên bê tông nặng 7 tấn, tầm bắn tối đa 38 cây số. Gustav được đặt trên một bệ pháo kép chạy trên hai đường ray song song dài vài km để di chuyển nhằm phân tán trọng lượng. Cần 250 binh sĩ vận hành, cộng thêm hơn 2,500 lính hỗ trợ hậu cần, bảo vệ, và tiếp liệu. Để bắn một phát đạn, mất đến 45 phút để nạp đạn và chỉnh nòng. Gustav được dùng ở Sevastopol (Liên Xô) năm 1942, phá hủy pháo đài kiên cố ven biển “Fort Maxim Gorky” và nhiều công sự bê tông khác. Tuy nhiên, sau chiến dịch, khẩu pháo trở thành gánh nặng khổng lồ: chậm chạp, dễ bị máy bay trinh sát địch quân phát hiện, và khó bảo vệ trước không quân đối phương.

Vì vậy Gustav luôn nằm sâu trong vùng quân Đức kiểm soát và được bảo vệ bởi nhiều lớp phòng không. Nơi lắp đặt được chọn ở các thung lũng hẹp hoặc có đồi núi bao quanh, để che khuất tầm quan sát từ máy bay trinh sát. Khi không sử dụng, nó được che phủ bằng lưới ngụy trang, hoặc bằng một mái che phủ tấm bạt khổng lồ. Khu vực đặt bệ pháo còn được dựng các công trình giả như nhà kho, toa tàu, nhà xưởng để đánh lừa máy bay do thám đối phương. Khi xong một chiến dịch, Gustav được tháo dỡ và di chuyển bằng tàu hỏa về hậu cứ. Đó cũng là hạn chế của Gustav, quá cồng kềnh, tốn kém, không phù hợp với chiến tranh cơ động hiện đại. Gustav giống một “con khủng long” to lớn nhưng chậm chạp giữa chiến trường tốc độ cao.

Lớp bên ngoài của phòng tuyến Maginot

Thời đó – bây giờ

Hiện nay, chế tạo một khẩu pháo như Gustav là không thực tế vì chiến tranh hiện đại đã chuyển sang hỏa tiễn tầm xa, chính xác cao,  hiệu quả hơn và không đòi hỏi một lực lượng hậu cần khổng lồ. Chưa kể quy trình chế tạo Schwerer Gustav là một chiến dịch công nghiệp quy mô lớn, gần giống một dự án đóng tàu hơn là sản xuất một khẩu pháo. Đây có thể xem là đỉnh cao của pháo binh nhưng cũng là minh chứng cho sự lỗi thời của siêu pháo trong chiến tranh hiện đại.

Vận hành “quái thú” Gustav

Kết cuộc

Mùa hè năm 1942, sau khi Sevastopol thất thủ, Gustav được tháo rời và đưa về Đức bảo dưỡng. Trên các tuyến đường sắt, đoàn tàu chở “quái thú” thu hút ánh mắt kinh ngạc của dân chúng khi tận mắt chứng kiến những toa dài ngun ngút chở nòng pháo, những dầm thép đồ sộ, bánh răng to bằng cối xay gió.

Năm 1943–1944, kế hoạch mang Gustav tới Leningrad và Warsaw bị hủy bỏ vào giờ chót vì tình hình chiến sự bất lợi. Việc vận chuyển và bảo vệ một món vũ khí nặng 1,350 tấn trên đường sắt không chỉ khó khăn mà thậm chí là mồi ngon của không quân Đồng minh.

Đầu năm 1945, khi quân Đồng minh và Hồng quân Nga tiến sát lãnh thổ Đức, Gustav được lệnh phá hủy để tránh rơi vào tay đối phương. Tại một khu rừng gần Auerbach (Bavaria), các công binh đặt thuốc nổ vào nòng và bệ pháo. Một tiếng nổ ùng oàng vang lên, Gustav tan thành những mảnh thép khổng lồ. Không còn nữa tiếng gầm của “quái thú”, chỉ còn những tấm thép lạnh lẽo nằm vương vãi giữa nền tuyết, như bộ xương khổng lồ của một con khủng long đã tuyệt chủng. Vài tháng sau, quân Mỹ tìm thấy phần xác của Gustav. Họ chụp ảnh, đo đạc, rồi đem đi nung chảy. Kết thúc một huyền thoại, một kỳ tích kỹ thuật. Rất tiếc, lúc đó do sự căng thẳng của chiến tranh, người ta muốn hủy diệt tất cả,  nếu “quái thú” Gustav được giữ lại, trưng bày như một vật tích của chiến tranh tại viện bảo tàng, chắc nơi đó sẽ bán vé không kịp thở.

Một chuyên viên vũ khí Mỹ tỉ mỉ ghi chép và đo đạc từng thông số của khẩu pháp Gustav trước khi đưa nó về lò luyện thép

CT

Bà Jennifer Wicks McNamara trở thành nữ đại sứ Mỹ đầu tiên tại Việt Nam – BBC

dongsongcu.wordpress.com

Posted on May 20, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 21 May 2026

Chụp lại hình ảnh, Bà Jennifer Wicks McNamara

Được đăng 19 tháng 5 2026

Thượng viện Mỹ sáng nay 19/5 (giờ Việt Nam) đã phê chuẩn bà Jennifer Wicks McNamara làm tân đại sứ Mỹ tại Việt Nam.

Trang web chính thức của Thượng viện Mỹ cho hay gói phê chuẩn gồm 49 đề cử nhân sự, trong đó có chức vụ đại sứ Mỹ tại Việt Nam, đã được thông qua.Hiện chưa rõ khi nào bà Jennifer Wicks McNamara sẽ đến Việt Nam nhận nhiệm vụ. Đại sứ Mỹ nhiệm kỳ gần nhất là ông Marc E. Knapper đã rời Hà Nội vào đầu năm nay.

Vào thời điểm được phê chuẩn, bà Wicks là quan chức cấp cao của chính phủ Mỹ, giữ chức giám đốc Văn phòng bổ nhiệm của Tổng thống tại Nhà Trắng.

Bà đã giữ vị trí này từ từ năm 2012, qua bốn đời tổng thống Mỹ liên tiếp.

Trong vai trò này, bà thường xuyên làm việc với các quan chức cấp cao tại Nhà Trắng và Bộ Ngoại giao Mỹ.

Trang web của Thượng viện Mỹ giới thiệu bà Wicks đã có 31 năm kinh nghiệm trong chính phủ Mỹ và kinh qua nhiều chức vụ trong Bộ Ngoại giao, bên cạnh thời gian công tác tại Lục quân Mỹ.

Bà cũng được giới thiệu là một nhà lãnh đạo có tư duy đổi mới và chiến lược, từng dẫn dắt nhiều sáng kiến liên ngành quan trọng, bao gồm hiện đại hóa chính sách chức danh ngoại giao của Bộ Ngoại giao Mỹ để phản ánh chính xác hơn môi trường ngoại giao đang thay đổi trên toàn thế giới hiện nay.

Bà còn giữ vai trò chủ chốt trong việc lập kế hoạch và triển khai quá trình chuyển giao tổng thống. Bên cạnh đó, bà cũng đảm nhiệm vai trò huấn luyện viên lãnh đạo cấp cao tại Trung tâm Đào tạo Đối ngoại Quốc gia của Mỹ.

Những kinh nghiệm nói trên cùng sự hiểu biết về chính sách và quản lý, khiến bà Wicks trở thành ứng viên phù hợp để giữ chức đại sứ Mỹ tại Việt Nam.

Bà Wicks nhận bằng thạc sĩ khoa học về chiến lược an ninh quốc gia tại trường Đại học Chiến tranh Quốc gia năm 2008 và trước đó là bằng thạc sĩ quản trị công tại Đại học Hoa Kỳ năm 2003.

Trong phiên điều trần phê chuẩn ngày 11/12/2025, bà Wicks cho biết sẽ tập trung vào việc điều chỉnh quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Mỹ – một ưu tiên cốt lõi của chính quyền Trump.

“Mối quan hệ thương mại hiện nay là mất cân bằng,” bà Wicks phát biểu trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện tháng 12/2025.

Khi đó, bà cam kết sẽ “thúc đẩy khả năng tiếp cận thị trường công bằng cho hàng hóa và dịch vụ của Mỹ, bao gồm công nghệ, năng lượng và nông sản; hỗ trợ phát triển các chuỗi cung ứng đa dạng và có khả năng chống chịu; đồng thời khuyến khích đầu tư của Việt Nam vào Mỹ.”

Trước bà Wicks, đã có 8 đời đại sứ Mỹ tại Việt Nam kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao vào năm 1995, bao gồm:

Như vậy, bà Jennifer Wicks McNamara là nữ đại sứ Mỹ đầu tiên tại quốc gia Đông Nam Á 100 triệu dân.

Nguồn: https://www.bbc.com/vietnamese/articles/c4g86vy38w1o

Hải quân Thiếu tá Victor H. Nguyen (gốc Việt), phi công trực thăng MH-60R “Seahawk”

dongsongcu.wordpress.com

Posted on February 1, 2024 by dongsongcu

Nguyễn Quân
Post by Sơn râu 21 May 2026

Minh hoạ: linkedin.com – HQ Đại uý Victor H. Nguyen, phi công trực thăng MH-60R “Seahawk”.

Hải quân Thiếu tá Victor H. Nguyen được tuyển chọn thụ huấn tại Học viện Hải quân Hoa Kỳ (United States Naval Academy ) năm 2010, và tốt nghiệp năm 2014 với Văn bằng Cử nhân khoa học kỹ thuât cơ khí. Ông là 1 trong 1060 HQ Đại uý được Hội đồng thăng cấp Hải quân chọn đề cử thăng cấp HQ Thiếu tá, và đã được Tổng thống đề cử thăng cấp ngày 6 tháng 9 năm 2023, và Uỷ ban Quân vụ Thượng viện bầu chọn ngày 30 tháng 9 năm 2023.

Sau khi tốt nghiêp Học viện Sĩ quan Hải quân, HQ Thiếu uý Victor Nguyen được tuyển chọn theo học ngành phi công Hải quân (Naval Aviator), ông đã xuyên huấn qua các loại phi cơ T-6 Texan, trực thăng TH-57 Sea Ranger và MH-60R Seahawk từ tháng 5 năm 2014 đến tháng 5 năm 2017.

Tốt nghiệp và trở thành phi công trực thăng Hải quân, Thiếu uý Victor Nguyễn được thuyên chuyển đến Phi đoàn 37 trực thăng tấn công Hải quân tại căn cứ Thuỷ quân lục chiến Kaneohe, Hawaii từ tháng 5 năm 2017 đến tháng 7 năm 2020. Trong thời gian 3 năm, 2 tháng phục vụ tại Phi đoàn 37, ông là phi công trực thăng MH-60R “Seahawk”, kiêm Sĩ quan an phi của Phi đoàn, ông được thăng cấp Trung uý và Đại uý.

Minh hoạ: linkedin.com – HQ Đại uý Victor H. Nguyen và các Sinh viên Sĩ quan khoá 2023, University of Michigan – NROTC.

Từ tháng 7 năm 2020 đến tháng 7 năm 2023, HQ Đại Victor Nguyen được bổ nhiệm chức Phụ tá Giáo sư khoa học Hải quân của chương trình huân luyện Sĩ quan Hải quân trừ bị tại Đại học Michigan (University of Michigan – NROTC). Ông chịu trách nhiệm trực tiếp giảng dạy ngành phi công Hải quân, phát triển chuyên môn và đưa 80 Sinh viên tốt nghiệp trỏ thành Sĩ quan Hải quân thực thụ cho Quân chủng Hải quân, mang lại giá trị giáo dục tổng hợp 17 triệu đô la cho trường Đại học Michigan thông qua các chương trình học bổng và tuyển dụng do Bộ Hải quân Hoa Kỳ tài trợ.

HQ Thiếu tá Victor Nguyen tốt nghiệp Văn bằng Cử nhân khoa hoc kỹ thuật cơ khí, Học viện Hải quân Hoa Kỳ; Văn bằng Cao học điều hành trường Đại học kinh doanh Fisher, Tiểu bang Ohio. Ngoài ra ông còn thụ huấn và tốt nghiệp các khoá học chuyên môn của Hải quân.

Minh hoạ: navyoutreach.blogspot.com – HQ Đại uý Victor H. Nguyen, phi công trực thăng MH-60R “Seahawk”.

Hiện nay HQ Thiếu tá Victor Nguyen là phi công, trưởng phi cơ trực thăng MH-60R, ông đã thi hành nhiệm vụ Chỉ huy 3 đợt khai triển tới vùng Đông Nam Á và Trung Đông. Ông là 1 trong số ít Sĩ quan cấp tá gốc Việt ngành phi công và phi hành đoàn Không quân của Hải quân Hoa Kỳ, các vị khác gồm có: HQ Trung tá Brian Trương, nguyên Chỉ huy trưởng Phi đoàn 14 trực thăng chiến đấu biển; HQ Trung tà Phạm ngọc Tâm, nguyên là Sĩ quan phi hành tác chiến điện tử, nay là Giáo sư trường cao đẳng hải chiến Hải quân Hoa Kỳ; HQ Thiếu tá Phong Nguyễn, Sĩ quan phi hành tác chiến điện tử; HQ Thiếu tá Terry Tran, Sĩ quan huấn luyện phi công phi cơ tuần thám duyên hải P-3 Orion; HQ Trung tá Dương Hữu Ngân (Robert), Chỉ huy trưởng Phi đoàn 116, phi cơ Radar tiền thám báo động sớm Hải quân nay đã hồi hưu, và một số Sĩ quan cấp uý phi công Hải quân gốc việt khác đang xuyên huấn và phục vụ tại các đơn vị Không quân của Hải quân Hoa Kỳ.

Theo tài liệu lưu trữ trên trang nhà Navy Personnel Command và Congress.Gov thì có trên 120 HQ Thiếu tá gốc Việt đang phục vụ các ngành trong Hải quân Hoa Kỳ (Không tính những vị đã về hưu, cũng như được thăng cấp Trung tá).

Chúc tân HQ Thiếu tá Victor Nguyen thăng tiến hải nghiệp.

Nguồn: Navy Personnel Command; congress.gov; navyoutreach.blogspot.com; linkedin.com; navyoutreach.blogspot.com; bienxua-30 Hải Quân đại úy Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Thiếu tá năm 2023

Nữ Hải Quân Đại uý Valerie Doan (gốc Viêt), Phụ tá Giáo sư khoa học Hải quân, chương trình huấn luyện Sĩ quan trừ bị Hải quân, Đại học Washington

dongsongcu.wordpress.com

Posted on May 20, 2026 by dongsongcu

Nguyễn Quân

Post by Sơn râu

HQ Đại uý Valerie Đoan (hình của linkedin.com).

Nữ Hải Quân Đại uý Valerie Doan được bổ nhiệm chức Phụ tá Giáo sư khoa học Hải quân tại Đại học Washington vào tháng 2 năm 2026, cô chịu trách nhiệm hướng dẫn các Sinh viên Sĩ quan phát triển nghề nghiệp, kỹ năng lãnh đạo chỉ huy và huấn luyện quân sự, đồng thời định hướng sự phát triển về học thuật, thể chất và nhân cách để chuẩn bị cho Sinh viên Sĩ quan này trở thành Sĩ quan phục vụ Hải quân Hoa Kỳ. Với hơn 7 năm kinh nghiệm phục vụ Hải quân, cô đã đảm nhiệm những vị trí khác nhau, bao gồm Sĩ quan trực hệ thống động lực năng lượng hạt nhân.trên Hàng không mẩu hạm USS Nimitz (CVN 68); Sĩ quan tác chiến điện tử, Khu trục hạm USS Ralph Johnson (DDG-114), là những nơi cô trau dồi khả năng lãnh đạo chỉ huy và kỹ thuật. Được thúc đẩy bởi cam kết với giáo dục và sự phát triển chuyên môn, cô hướng đến việc truyền cảm hứng tư duy đổi mới và khả năng lãnh đạo chỉ huy cho Sinh viên, đồng thời không ngừng nâng cao kiến ​​thức và chuyên môn.

Huy hiệu ngành khoa học Hải quân, Trường Đại học Washington của facebook.com/UWnavalrotc.

Trường Đại học Washington (UW), ngành khoa học Hải quân được giảng dạy thông qua chương trình huấn luyện Sĩ quan trừ bị Hải quân (NROTC). Chương trình học chuẩn bị cho Sinh viên Đại học phục vụ với tư cách là Sĩ quan Hải quân hoặc Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, cung cấp cả chương trình học phụ về Khoa học Hải quân và chương trình huấn luyện sĩ quan chuyên môn. Chương trình khoa học Hải quân yêu cầu Sinh viên phải tham gia các khóa học Khoa học Hải quân chuyên biệt bên cạnh chương trình Đại học thông thường. Chuỗi học tập được thiết kế để xây dựng kiến ​​thức nền tảng về hàng hải và quân sự. Các khóa học Khoa học Hải quân (NAV SCI): Các chủ đề bao gồm tổ chức Hải quân và Thủy quân lục chiến, lịch sử Hải quân, chì huy, hàng hải, chiến tranh đổ bộ, kỹ thuật và hệ thống vũ khí. Các buổi thực hành chỉ huy: Các buổi thực hành hàng tuần cung cấp huấn luyện chỉ huy thực tiễn, bài giảng của diễn giả khách mời và các bài tập quân sự. Huấn luyện thể chất (PT): Các thành viên tiểu đoàn tham gia huấn luyện thể chất buổi sáng hàng tuần. HQ Đại uý Valerie Doan cũng tốt nghiệp chương trình huấn luyện Sĩ quan trừ bị Hải quân từ Trường Đại học Washington năm 2020.

Valerie Doan gia nhập Thuỷ thủ Hải quân Hoa Kỳ và được thụ huấn các khóa học chuyên môn về toán cao cấp, vật lý, nhiệt động lực học, nguyên lý kỹ thuật điện, hệ thống lò phản ứng vận hành thiết bị đo lường và điều khiển hạt nhân. Sau khi hoàn tất khoá học, cô được chỉ định làm chuyên viên kỹ thuật điện tử hạt nhân phục vụ tại Goose Creek, SC, từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 8 năm 2016.

Từ tháng 8 năm 2016 đến tháng 12 năm 2018, Valerie Doan thụ huấn chương trình Sinh viên Sĩ quan thế kỷ 21 – Thuỷ thủ lên Đô của Trường Đại học Washington tại Greater Seattle Area.

Từ tháng 12 năm 2018 đến tháng 4 năm 2020, Valerie Doan được chỉ định làm Phụ tá hành chánh cho chương trình huấn luyện Sĩ quan trừ bị (NROTC) của Trường Đại học Washington tại Greater Seattle Area.

Tháng 4 năm 2020, HQ Thiếu uý Valerie Doan được chỉ đĩnh làm Sĩ quan tác chiến điện tử, trên Khu trục hạm USS Ralph Johnson (DDG-114). Cô phục vụ chiến hạm đến đến tháng 5 năm 2022.

Sau nhiệm kỳ phục vụ Khu trục hạm USS Ralph Johnson (DDG-114), HQ Trung uý Valerie Doan được chọn thụ huấn chương trình học chuyên môn về toán cao cấp, vật lý, nhiệt động lực học và hệ thống phụ trợ lò phản ứng, bao gồm cả đào tạo thực hành tập trung vào vận hành động cơ đẩy hạt nhân và ứng phó khẩn cấp thuộc Bộ chỉ huy huấn luyện điện hạt nhân Hải quân.

Tháng 8 năm 2023, HQ Đại uý Valerie Doan được bổ nhiệm làm Sĩ quan phụ trách bộ phận động cơ đẩy và cơ khí lò phản ứng trên Hàng không mẩu hạm USS Nimitz (CVN 68), cô phục vụ đến tháng 2 năm 2026.

Tháng 2 năm 2026, HQ Đại uý Valerie Doan được bổ nhiệm giữ chức Phụ tá Giáo sư khoa học Hải quân, chương trình huấn luyện Sĩ quan trừ bị Hải quân (NROTC) Đại học Washington cho đên nay.

Nữ HQ Đại uý Valerie Doan là một trong nhiều Nữ HQ Đại uý Hoa Kỳ gốc Việt đang phục vụ các ngành trong Hải quân Hoa Kỳ, một số vị là Sĩ quan tác chiến Hải quân được ghi nhân sau đây: Nữ HQ Đại uý Miahnna Nguyen, Phi công; Nữ HQ Đại uý Amy Khanh Hoang, Sĩ quan tác chiến Hải quân; Nữ HQ Đại uý Becky Doan, Sĩ quan tác chiến Hải quân; Nữ HQ Đại uý Sophia Nguyen, Sĩ quan tác chiến Hải quân; Nữ HQ Đại uý Jennifer Dianne Nguyen, Sĩ quan tác chiến Hải quân; Nữ HQ Đại uý Faith N. Huynh, Sĩ quan huấn luyện kỹ thuật tàu ngầm hạt nhân; Nữ HQ Đại uý Lillian Ngo Usadi, Sĩ quan tác chiến tàu ngầm hạt nhân; Nữ HQ Đại uý Sarah Nguyen, Sĩ quan tàu ngầm hạt nhân; Nữ HQ Đại Uý Phung Duong, Sĩ quan tiếp liệu tàu ngầm (SRS-32) và còn rất nhiều nữ HQ Đại uý gốc Việt ngành tác chiến Hải quân nổi bật khác sẽ được cập nhật.

Chúc HQ Đại uý Valerie Đoan thăng tiến hải nghiệp.

Chú thích: Họ và tên từ tài liệu, Valerie P. Doan, Họ và tên Việt Đoàn Phương.

Nguồn: mynavyhr.navy.mil; linkedin.com; washington.edu.

Một thời để yêu & Một thời để chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Post by Sơn râu 20 May 2026

Người ta đóng trại trong một cái hầm nhà. Chỉ có một cái cửa nhỏ trên trần để lên xuống, ánh sáng cũng do ngã ấy chiếu vào. Bốn người ngồi chung quanh một cái két đặt ngay phía cửa đánh bài. Trong những góc tối hình như có mấy người nằm ngủ. Sauer đang viết thư. Hầm khá lớn và tương đối kín đáo, chắc là trước kia của một nhân vật trong Đảng.

Mucke hiện ra trước cửa:

– Lại có chuyện gì thế?

Không ai buồn trả lời, y nhắc lại:

– Tôi hỏi có chuyện gì thế?

– Không có gì đâu trung sĩ ơi. Họ tán dóc…

– Máy phát thanh vừa phổ biến những tin tức cuối cùng.

Steinbrenner vội đứng dậy nhìn xung quanh. Không ai nhúc nhích cả. Chỉ có Graber ra vẻ để ý nghe. Mấy người đánh bài vẫn tiếp tục chơi, Sauer vẫn cắm cúi vào bức thư và mấy người ngủ vẫn ngáy như sấm. Mucke gắt lên:

– Điếc hay sao cả đấy. Tin tức cuối cùng. Theo luật lệ thì ai cũng phải nghe tin tức cuối cùng.

Immermann vội nói:

– Xin tuân lệnh.

Mucke nhìn anh ta ra vẻ không tin. Anh ta ra vẻ chăm chú nghe nhưng chẳng để ý gì cả. Mấy người đánh bài đặt bài xuống nhưng vẫn giữ nguyên vẹn ván bài không muốn xóa đi. Sauer nhổm dậy một chút. Steinbrenner đứng nghiêm.

Xướng ngôn viên máy phát thanh đọc rành rọt:

“Tin quan trọng! Xin loan báo để đồng bào được biết: tại Hoa Kỳ vừa xảy ra những vụ đình công lớn. Các ngành kỹ nghệ nặng đều bị tê liệt. Phần lớn các xưởng đúc súng đều ngưng làm việc. Người ta cho biết có nhiều cuộc phá hoại trong các xưởng phi cơ. Nhiều cuộc biểu tình đòi hòa bình đã xảy ra ở nhiều nơi. Chính phủ gặp nhiều khó khăn, có thể bị lật đổ bất cứ lúc nào”.

Mucke đứng yên lặng. Không nói câu nào. Mấy người ngủ tỉnh dậy, lấy tay gãi sồn sột. Một giọt nước trên nóc nhỏ mạnh xuống cái hộp thiết, Mucke lại thở đều.

“Tiềm thủy đỉnh của ta phong tỏa hết các bờ biển nước Mỹ. Hôm qua đã đánh chìm hai tầu chở binh lính và ba tầu chở khí giới. Tổng cộng số tầu bị đánh chìm đầu tuần lễ lên tới ba mươi bốn ngàn tấn. Nước Anh bị tàn phá đã lâm vào cảnh đói khát. Những đơn vị xung kích của chúng ta đã làm tê liệt thẳng đường thủy vận. Nhiều khí giới bí mật đang được chế tạo. Trong số ấy có những oanh tạc cơ vô tuyến điều khiển có thể bay qua Đại Tây Dương đã được củng cố thành bức tường vĩ đại. Nếu địch muốn đổ bộ, chúng ta sẽ đẩy lui dễ dàng như năm 1940. Hitler muôn năm”!

– Hitler muôn năm! – Một vài người nhắc lại một cách dửng dưng.

Đám bài lại cầm bài lên. Một nắm tuyết rơi vào hộp đồ ăn bắn tung vào nhiều người.

Steinbrenner đọc thuộc lòng mấy câu sau:

– Việc thu hẹp phòng tuyến đã xong xuôi. Quân Nga tổn thất nặng nề đã kiệt sức rồi. Ta đang tập hợp các lực lượng trừ bị. Cuộc phản công của ta bằng khí giới bí mật sẽ vô cùng lợi hại.

Y giơ tay lên nửa vời nhưng rồi để rơi xuống không nói “Hitler muôn năm”. Ở đất Nga này càng ngày càng khó nói Hitler muôn năm! Mọi người đều hiểu rõ tình thế rồi. Bỗng dưng Steinbrenner giống y như một cậu học trò đi thi biết mình sẽ thi rớt, y vội nói thêm:

– Dĩ nhiên còn nhiều tin tức nữa. Những tin tức quan trọng nhất phải tuyệt đối giữ bí mật, lúc này, không thể nói ra được. Nhưng điều quan trọng tuyệt đối là chúng ta sẽ đánh bại địch trước ngày cuối năm.

Steinbrenner nói rồi đi thong thả ra phía cửa, Mucke cũng đi ra.

– Đồ liếm giầy! – Một anh chàng ngái ngủ phóng ra mấy tiếng ấy rồi nằm quay vào tường.

Mấy người đánh bài lại bắt đầu sát phạt.

***

Chiều hôm ấy nhiều đoàn xe thương binh về đến nơi. Một số người được đưa ngay về hậu phương. Họ đều được chở từ miền trung nguyên Nga mênh mông về đây rồi tiêp tục đi về phía trời Tây đã chạng vạng tối. Có lẽ không bao giờ họ tìm được chỗ nghỉ ngơi, họ sẽ như những cái bóng lang thang, mờ đi trong ánh hoàng hôn. Phần nhiều người yên lặng không nói. Ai nấy đều đói lả.

Những người không đi được và không giành được chỗ trong xe cam-nhông thì được khiêng vào một trại cứu thương lập tạm trong nhà thờ. Người ta che kín những lỗ thủng trên nóc để cho một y sĩ mệt nhoài với hai người y tá làm việc. Cửa để ngỏ cho tới lúc trời tối hẳn; cáng khiêng ra khiêng vào quần quật. Bàn mổ thắp đèn sáng trưng giữa vùng tối sảnh đường. Người ta cũng không nghĩ đến việc thu gọn những bức tường gẫy vụn để ở một xó nhà. Tượng Thánh Mẫu Đồng Trinh dang hai tay đã gãy mất bàn tay ra đón thương binh. Cây thánh giá chỉ còn hình Ki-Tô đã gãy một chân. Ít khi có tiếng người đau la hét, y sĩ vẫn còn thuốc tê để dùng. Nước sôi trong một cái thùng. Chân tay cắt ra dần dần chất đầy một cái bồn tắm kẽm lấy trong nhà đại úy trưởng ra. Một con chó không biết từ đâu xuất hiện quanh những người bị thương rồi đến ngồi đằng cửa. Đuổi không chịu đi.

Con chó chân cao, lông vàng chói như lửa, cái đầu dài và xinh đẹp.

Fresenburg nói:

– Đây không phải là chó nhà quê, con chó thật là đẹp.

Y tặc lưỡi gọi. Chó dõng tai nghe. Fresenburg nói ngọt ngào với con vật.

Graber hỏi:

– Mày tưởng nó đến tìm ăn hả?

Fresenburg lắc đầu:

– Ở chỗ khác chắc không thiếu ăn. Nó đến đây vì lẽ khác. Nó thấy có nhà, có đèn sáng. Tao cho rằng nó đến tìm chỗ có người.

Hai người y tá khiêng một cái cáng ra. Họ khiêng thi hài một người chết trong khi phẫu thuật. Con chó nhảy ra một bên. Nó nhảy lẹ làng như có dây trun kéo. Rồi ngồi yên lặng nhìn Fresenburg. Anh này lại nói, rồi bước tới một bước về phía nó.

Chó lùi lại bước nữa nhưng dừng lại nhìn Fresenburg vẫy đuôi khe khẽ.

Graber nói:

– Nó sợ.

– Ừ nó sợ thật, nhưng nó ngoan.

– Và chuyên ăn xác chết.

Fresenburg quay lại:

– Thì cũng như chúng ta vậy.

– Sao thế?

– Cũng như chúng ta vậy. Chúng ta cũng như con chó này, chúng ta dẫu sao cũng vẫn cho mình là người tử tế, chúng ta tìm một chút ánh sáng, một chút ấm lòng, một chút tình bạn.

Fresenburg mỉm cười với nửa mặt còn lại. Nửa mặt kia bị một cái sẹo lớn làm tê liệt và hầu như chết rồi, người khác vẫn thấy kỳ dị khi trông thấy nụ cười của y như bị gẫy ra khi đụng phải bức thành phía mặt ấy. Điều đó không phải là sự ngẫu nhiên. Y lắc đầu và khúc khích cười làm rơi những bông tuyết xuống đôi ghệt rồi nói:

– Chúng ta mất cả ý thức về sự bình thường rồi. Đã mười năm nay người ta giam hãm chúng ta trong thái độ kiêu căng, vô nhân đạo, tội lỗi, một thái độ vô nhân đạo bốc thấu đến trời. Người ta bảo chúng ta là chủng tộc làm thầy thiên hạ, người khác phải phục tòng chúng ta như những tên nô lệ.

Y cười chua chát.

– Họ tâng bốc tụi mình để dễ bảo tụi mình nghe theo những người ngu muội, những người nói khoác! Đã đẹp mặt chưa, làm thầy thiên hạ! Dĩ nhiên chỉ những thằng vô tội là bị hạ trước tiên!

Graber nhìn y mà lấy làm kinh ngạc. Fresenburg là người bạn đồng đội duy nhất đáng cho y tin cậy thực sự. Hai người quen biết nhau từ lâu, họ cùng sinh trưởng tại một tỉnh nhà.

– Mày đã biết thế thì mày đến đây làm gì?

– Đến đây làm gì? Không đến đây thì đến trại tập trung hay bị xử bắn vì cưỡng lại pháp luật.

– Tao không muốn nói thế. Mày đã lớn tuổi sao lại bị gọi khóa 1939? Trừ khi mày tình nguyện.

– Năm 1939 tao già quá thật. Nhưng sau này đổi khác. Bây giờ người ta gọi đến những người già hơn tao nữa. Thì mình cũng cố gắng đả thông tư tưởng, mình không muốn đào ngũ trong lúc quốc gia hữu sự, mặc dù ai là kẻ trách nhiệm chiến tranh. Việc này quả thật là hèn nhát! Chúng ta đã hèn nhát ngay từ đầu, khi chúng ta bỏ thăm cho Hitler để tránh một sự khốn đốn hơn. Bao giờ mình cũng tìm được cách biện hộ cho mình. Từ trước đến sau chỉ toàn là bào chữa và hèn nhát!

Graber không muốn hiểu. Fresenburg đứng yên một lát rồi nói tiếp giọng bình tĩnh hơn :

– Mày không muốn hiểu. Mày còn trẻ quá. Mày chỉ biết có cái cuồng nhiệt bệnh hoạn tập thể, mày chỉ biết có chiến tranh. Nhưng tao, tao biết trận chiến tranh trước và tất cả thảm họa kế theo. Chúng ta thua trận rồi, ít ra mày cũng biết điều ấy chứ?

– Không.

– Không có vị tướng nào biết trách nhiệm của mình mà không ngưng chiến từ lâu rồi. Chúng ta phí xương máu vô ích.

Y nhắc lại như điên dại:

– Vô ích, vô ích! Cũng không mong đạt được điều kiện hòa ước vinh dự.

Y giơ tay về phía chân trời tối tăm :

– Người ta không buồn điều đình với chúng ta nữa. Chúng ta đã gieo rắc căm thù và sợ sệt như Attila hay Thành Cát Tư Hãn. Chúng ta đã vi phạm những cam kết của chúng ta và chúng ta đã dày xéo lên nhân nghĩa đạo đức…

– Không phải chúng ta, thủ phạm là tụi SS. – Graber thất vọng mà cải chính như vậy.

Graber muốn tìm Fresenburg để tránh mặt Immermann, Sauer, Steinbrenner. Y muốn cùng Fresenburg nhớ lại tỉnh nhà yên tĩnh bên dòng sông xanh, thời niên thiếu của hai người, ấy thế mà bây giờ y lại bị kéo về hiện tại hãi hùng, y không đợi sự giúp đỡ của ai, nếu không phải của Fresenburg, nhưng y đã mất hút Fresenburg ít lâu nay trong lúc lui binh hỗn độn. Chính Fresenburg đã nói toạt ra những sự thật mà y rất sợ nghe nhất, y chỉ muốn để lúc nghỉ phép được yên lặng tĩnh mịch mới để tâm đến.

Fresenburg tỏ vẻ khinh bỉ lính SS:

– Chúng ta đánh trận là đánh trận cho tụi SS. Đánh trận cho tụi SS, tụi mật vụ, tụi lưu manh hèn nhát, tụi sát nhân, cuồng tín và điên rồ, để cho đám cặn bã xã hội nắm quyền hành thêm một năm nữa. Chúng ta đã thua trận từ lâu.

Trời đã tối hẳn. Cửa ngõ nhà thờ đều đóng kín không để lọt ánh sáng ra ngoài. Mấy bóng người kỳ dị lăng xăng trước mấy cái cửa sổ, có người đang lấy mền phù kín. Người ta cũng che kín cả lối xuống hầm và hầm núp. Fresenburg đưa mắt nhìn cảnh quen thuộc:

– Chuột chù! Chúng ta đã trở thành chuột chù. Cả linh hồn chúng ta cũng đã trở thành linh hồn chuột chù. Chúng ta đã thoái hóa quá nhiều.

Graber hút một hơi thuốc dài và thổi khói ra thật xa. Cái vạt nhỏ đang cháy âm ỉ trong tay theo nhịp hút thở của y bây giờ là vật đem lại ấm lòng hơn cả, hơn cả bạn bè. Một cô bạn bé nhỏ xinh xinh, lặng lẽ, chỉ biết đem lại cho y sự yên ổn…

– Mầy cũng đừng bận tâm đến nữa. Từ mười năm nay tuyên truyền đã làm ta ù tai. Khó lòng mà nghe tiếng nói nào khác. Nhất là không nghe thấy tiếng nói của lương tâm và tiếng nói hoài nghi, hai thứ tiếng nói đó không có gì là om sòm. Mày có biết giáo sư Pohlmann không?

– Thầy dạy Sử ký và Tôn giáo của tao đấy.

– Chừng nào mày về, cố mà đến thăm thầy. Có lẽ thầy còn sống. Tao gởi lời về thăm thầy.

– Tại sao lại không còn sống. Thầy có bị động viên không?

– Không

– Thế thì có sao. Thầy chưa ngoài 65 mà.

Fresenburg lội trên tuyết đi về phía làng bên, nơi đồn trú bộ đội của y. Graber nhìn theo cho đến khi y đi khuất trong bóng tối rồi mới quay lại. Y nhìn thấy bóng đen con chó đứng gần tường nhà thờ. Cửa mở, một tia sáng nhỏ lòe ra trong chốc lát. Người ta đã treo những mảnh “bạt” trước cửa vào. Chút lửa sáng thoáng qua cũng đủ ấm lòng trong chốc lát vì dầu sao người ta cũng nghĩ đến một căn nhà rộng dân làng hội họp lúc tối. Graber đến gần con chó. Nó sợ hãi lánh ra xa. Hai pho tượng bây giờ vứt dưới đống tuyết cạnh cái xe đạp hoen rỉ. Người ta phải dẹp tượng ra ngoài vì cần rộng chỗ.

Graber đi về phía cái hầm làm đồn trú cho tiểu đội của y. Bốn cái xác chết xếp hàng cách xa nhà thờ một chút. Người ta lại tìm thấy ba xác chết từ tháng mười vùi dưới tuyết. Xác đã mềm và ướt sũng nước. Cạnh đấy còn nhiều thương binh mới chết hồi chiều. Coi họ xám xịt, gò người như cố sức phấn đấu trước khi chịu chôn vùi dưới đất.

Flevoland & Nỗi nhớ quê

vanchuongviet.org

Thơ Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 20 May 2026

“Flevoland & Nỗi Nhớ Quê” là một bài thơ mang tâm trạng của người Việt xa xứ sống giữa miền đất lấn biển của Hòa Lan. Từ những cánh đồng gió, những con đê hun hút và dòng kinh phẳng lặng của Flevoland, tác giả bất chợt nghe vọng về tiếng mái chèo của tuổi thơ nơi miền Tây sông nước. Hai không gian tưởng như xa lạ lại soi chiếu vào nhau, để cuối cùng nhận ra: quê hương không chỉ là một địa điểm trên bản đồ, mà là dòng chảy âm thầm trong huyết quản mỗi con người.

NT

Tôi sống giữa vùng Flevoland

Mảnh đất do tay người

Nâng lên từ đáy biển.

Cũng bàn tay ấy

Vẽ nên những dòng kinh hun hút

Nước phẳng lặng

Hòa sức gió bầu trời.

Những cánh rừng che chở cánh chim di,

Hoa lá

Cỏ

Cây

Xôn xao mùa xuân tới

Như câu chuyện chẳng bao giờ dứt.

Những turbine gió

Xoay giữa cánh đồng cuối đông

Chậm rãi, khoan thai

Như thấu hiểu nỗi niềm người viễn xứ

Đang quạt lại chút ấm lòng

Cho trái tim đôi khi lạnh giá.

Tôi đi trên những con đê dài

Gió mang mùi cỏ ẩm

Và tiếng vịt gọi bầy

Trong buổi chiều xám bạc.

Bất chợt, giữa miền đất phẳng lặng này

Tôi nghe tiếng quê nhà dội lại

Như tiếng mái chèo khua nước tuổi thơ.

Có những đêm tuyết tan chậm trên mái hiên

Tôi nhìn qua khung cửa kiếng mờ hơi thở

Thấy bóng mình trôi nổi giữa dòng kinh.

Tôi nhớ về một dòng sông khác

Nóng bỏng nắng trưa

Nơi tôi từng trần truồng bơi lội

Để mùi phù sa

Thấm đẫm tuổi thơ.

Bạn bè tôi giờ biền biệt phương trời

Chẳng như cánh chim tránh lạnh biết đường về.

Người bám ruộng đồng

Người bám bãi sông

Giờ mỗi người một ngả.

Còn tôi đứng giữa trời Âu

Mang tiếng gọi Miền Tây sông nước hữu tình

Như nhịp đập

Không bao giờ ngưng nghỉ.

Hòa Lan hiền hòa

Nhưng nỗi nhớ quê thì cao vút.

Nó dâng lên mỗi khi gió tạt cánh đồng

Mỗi khi mặt kinh loang ánh hoàng hôn

Mỗi khi bắt gặp khoảng trời xanh ngắt

Giống đến ngỡ ngàng

In bóng trời quê xưa.

Có một ngày

Tôi lại đứng bên dòng sông của chính mình

Chạm tay xuống làn nước

Dù không còn mát rượi.

Mọi món nợ ân tình

Cũng tan vào dòng chảy

Và nghe lòng mình mở ra

Như miền Flevoland lồng lộng gió.

Quê hương cũ

Dù đã lùi xa

Nhưng đi đến đâu

Ở bất cứ nơi nào

Dòng chảy ấy

Vẫn luân lưu trong huyết quản.

Dronten, 10.3.2026

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 20 May 2026

Căn nhà lá, vách phên xập xệ. Một bên là bếp lò, nồi niu ám khói. Một bên kê những tấm gỗ thông, làm giường ngủ. Kê giường ngủ là chiếc bàn, cũng bằng gỗ thông. Sát vách căng sợi dây, máng quần ẩo. Khi tôi đến, trong nhà chỉ có thế. Nói là nhà thì cũng hơi quá. Đúng hơn, đó là cái chòi của hạng cùng đinh, thuộc khu nghĩa địa, không gần với nhà nào cả.

Phía sau nhà là bãi tha ma hiu quạnh. Mộ mới mộ cũ. Mộ lớn mộ nhỏ, Những ngôi mộ gần nhau, im lặng. Ai cũng có một chỗ nằm nhất định. Không bon chen giành giật lấn đất của nhau. Thế giối của hòa bình bi thảm. Tuy nhiên, nhìn vào xã hội người chết, có thể phân biệt được kẻ giàu người nghèo. Kẻ giàu thì mộ xây xi măng đá xanh sững sững, chắc chắn. Ảnh mộ chủ gần âm vào mặt đá. Anh nào mặt cũng vô hồn ngơ ngáo, Phia dưới ghi ngày sinh, ngày tử. Phía trên gần cây thập giả, hoặc bánh xe hình chữ Vạn. Mộ người nghèo thì đơn sơ, với bộ táng bằng đá ong, đặt bốn cạnh. Có khi chỉ là gò đống nhô lên, mọc đầy cỏ dại. Thằng Ẩn nói, nhà này của một ông già bán hàng mã, giấy tiền vàng bạc và nhang đèn cho người viếng mộ. Sau, ông nhượng lại cho bà cô của Ẩn rồi bỏ đi mất. Cô của Ẩn ở một thời gian, rồi cũng khép cửa bỏ đó. Bà chyển về gần Chợ Mới, Nha Trang. Buôn bán trầu cau, bình vôi, ống ngoáy, ống nhổ, những thứ cần thiết cho người ăn trầu. Ẩn xin bà cụ cho tôi ở đây. Càng lúc tôi càng đi gần về thế giới người chết. Tôi ở Cam Ranh một tuần, trước khi về nương thân trong căn nhà hoang tàn bên nghĩa địa ..

Chị Triểu xin được việc trong một công ty xuất nhập căng ở Sài Gòn. Chị nói, lần gặp này coi như lần cuối. Chị phải làm lại cuộc đời trước khi quá muộn. Tôi đau lòng như sắp đánh mất một tình cảm lớn lao. Chị phân tích, tôi chỉ mê chị mà không yêu. Tôi nói, em yêu chị, Chị cười, yêu mà hơn năm tháng trời, không một lá thư thăm chị. Nếu không bị người ta đuổi đi, thì Tết này em đâu có mặt ở đây. Tôi vẫn nói, cm yêu chị. Đừng ngờ oan cho em. Chị nói, cái thứ tình nhục dục của em, là tình yêu địa ngục. Tôi nói, gần chị em cảm thấy ở thiên đường. Chị nói, thiên đường rất mong manh. Sẩy chân một cái là rớt ngay xuống địa ngục. Lòng chị là phong ba bảo táp. Chị dám cùng em dắt tay vào địa ngục, đạp lên trên dư luận mà di. Em dám không? Tôi ôm cổ chị, hôn tới tấp. Trên da thịt chị Triều, chổ nào hôn cũng ngon. Tôi nói, nếu chị là địa ngục thì em lao vào, chết bỏ. Chị rủ tôi vào Sài Gòn với chị. Tôi nói, chị em mình về Nha Trang sống với nhau. Chị bực, về đó thằng cha Quảng sẽ biết. Tôi cũng bực, nó là thằng nào, mà chị sợ dữ vậy? Chị nói, chị không sợ cho chị, mà sợ cho em. Tôi nói, nếu thằng khốn nạn đó đụng tới em, em sẽ thí mạng cùi, chén sành đổi chén kiểu. Chị nói, em chưa sở dược sợi lông chân của thằng chả, thì đã đi chầu Diêm Chúa. Tôi hỏi, thằng chả không cho chị lấy chống? Chị nói, lấy chồng thì được. Tôi nói, cm là chồng của chị. Nói xong, chợt thấy khôi hài. Cái mặt tôi mà làm chồng chị Triều ư? Chị khôn như trời, tôi là thằng em dưới tay. Tôi đến với chị bằng tẩm lòng cuồng mê, không hề nghĩ chuyện tương lai. Chi Triều đùa, ông chồng bé bỏng của tôi ơi … Hai chị cm cười ngất.

Ngày đưa tôi ra bến xe. Chị Triều nói, lâu nay chị sống bằng tiền của ông Quảng. Chi sẽ về Sài Gòn tự lập. Đời chị không còn nhiều thì giờ nữa. Chị cũng muốn kết hợp lâu dài với tôi. Nhưng qua vài câu thử thách, chị biết tội chỉ đam mê nhất thời. Tôi thể bán mạng, rằng tôi yêu chị. Chị nói, chị hiểu lòng tôi hơn tôi hiểu lôi. Tôi lên xc, ngồi gần cửa sổ. Chị Triều đứng hên hông xe. Mắt chị ướt. Khuôn mặt yêu kiều của chị cũng nhòa trong mắt tôi. Tôi buồn qua đỗi, chia tay là mất chị Triểu, Tôi muốn trì hoãn thời gian gần gủi, và đòi xuống xe. Chị bảo, đừng làm chị khó xử. Hãy cứng rắn với chinh mình.

Trước kia, anh Kỳ nói lòng tôi mềm quá, sẽ khổ vì đàn bà. Lời đó ám mãi vào tôi. Mất chị Triều, tinh thần tôi sa sút thảm hại, Tôi nghĩ về Phương Nghi với nhiều kỷ niệm đep, mong tìm thấy ở dó một chút ấm lòng. Nhưng Phương Nghi chỉ còn là ấn tượng của cánh chim trời khuất biệt. Tôi bơ phờ đi tìm thằng Ẩn, xin được chỗ ở kế bãi tha ma. Tôi buồn rầu nghĩ, tôi cũng là một con ma, nên càng lúc càng đi gần về cõi chết.

Tôi lại nhà bác Huế đem đồ về chỗ ở mới. Bác nói, đã gặp bà Ba và hỏi sao bất ngờ đuổi tôi đi? Bà Ba cho biết, tôi nhất định đi, bà không giữ được. Bác Huế nói với tôi, con đi, người ta tu hành, đừng gieo tiếng oan. Tôi phân trần, bác thử nghĩ coi, con dù có điên cũng không dám bỏ đi trong đêm giao thừa. Bác nói, chuyện đã qua. Tôi, bây chừ ở lại đây. Đừng đi mô nữa. Tôi nói, con đã có chổ ở mới, thích hợp cho việc học hành.

Thấy tôi đã quyết, bác Huế bảo bé Đông đạp xe theo tôi cho biết chỗ ở mới. Đồng thời, cũng mang cho tôi ít đồ ăn tạm. Chúng tôi tới căn nhà lá, lúc thàng Ẩn đang quét dọn bui bặm rác rến trong ngoài, sau một thời gian nhà không người ở. Bé Đông di một vong quanh nhà, quan sát. Gió hắt hiu thổi vào từ hướng nghĩa địa. Mặt trước, mặt sau nhà mọc đầy cỏ dại. Căn nhà càng thêm cái vẻ hoang vắng thê lương.

Bé Đông rụt vai: “Căn nhà ma.”

Tôi nói: “Anh ở với ma.”

“Gần bên cái nghĩa địa. Ghê quá.”

“O phụ giúp tôi dem đồ vào. Đừng có đứng đó mà nói này nói nọ.” Mỗi lần bực mình, tôi hay gọi nó bằng o.

Nộ vào nhà, tôi giới thiệu thằng Ẩn: “Bạn anh.” Và quay qua nó, tôi nói, “Còn đây, cô Bạch Tuyết của bảy chú Lùn.”

Nó hỏi: “Anh tên là chi?”

Ẩn nói: “Lương Sơn Bá,”

Nó cười: “Tên đẹp như trong tuồng cải lương.”

Rồi nó săm soi từng chiếc nồi, góc bếp. Tò mò, ngạc nhiên vì những đồ vật chỉ còn giá trị như những món đồ phế thải.

“Chủ nhà mô?”

“Không biết.”

“Rứa là đã ra nằm ngoài nghĩa địa.”

Tôi la: “Cái mồm tía lia, O làm ơn để tội yên.”

“Anh nì lạ. Nói chi cũng nổi cáu.”

Chợt thấy mình vô lý, tôi dịu giọng: “Anh đang mệt và có chuyện buồn,”

“Chuyện buồn chi?”

“Con nít biết gì chuyện người lớn?”

Nó đãi, ngoe nguẩy bỏ về.

Tôi dặn: “Về đừng nói với mạ, anh ở nhà ma nhé.”

Nó vênh mặt: “Em nói thật hết. Anh làm chi được cm?”

Tôi quay lưng: “Lì lợm. Bướng không không chịu nổi.”

Thằng Ẩn nhìn theo: “Con nhỏ đẹp.”

Tôi nói: “Nó còn nhỏ. Mày tán tỉnh nó, tao từ mày.”

“Dành cho mày hả?”

“Tao coi nó như em ruột.”

Ẩn đùa dai: “Chừng một năm nữa thôi. Anh trai Tây Ninh núi Bà Đen, cũng động lòng trắc ẩn vì em gái Huế sông Hương”

Tôi nạt: “Đừng nói bậy!”

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 20 May 2026

Cách đây vài năm, tại một tiệm phở quen, tôi  thường gặp một ca sĩ khá nổi tiếng thường đưa bà mẹ già của cô đến đây dùng bữa. Tôi đã nhìn thấy cảnh cô mở cửa xe, dìu mẹ đi từng bước chậm chạp, đỡ cánh cửa cho mẹ, kéo ghế ngồi cho mẹ. Nhìn cách cô chăm  sóc bà cụ một cách chu đáo trong lúc ăn, tôi bỗng nhớ đến bà mẹ tôi đã qua đời, và tôi ước ao phải chi tôi cũng còn mẹ. Nhưng phải hổ thẹn để nói thêm rằng, nếu còn mẹ, tôi có chịu khó dắt mẹ tôi, một khi đã đi đứng khó khăn, run rẩy ra ngoài, vào tiệm ăn như cô ca sĩ kia đã làm không, hay chọn cách để bà ở nhà và mang về cho bà một món ăn “to go” cũng gọi là đã quá hiếu thảo. Tôi biết bà mẹ già kia hẳn lấy làm vui được cô con gái đưa đi ra ngoài, nhìn cảnh phố xá và sinh hoạt như một người trẻ tuổi, khoẻ mạnh. Tôi chưa gặp lần nào cô đi với bạn trai hay bạn gái đến tiệm ăn này mà lúc nào cũng gặp cô đi với bà mẹ già. Mấy ai đã làm được điều đó. Chúng ta thường thấy trong các tiệm ăn, cha mẹ dắt bế con nhỏ theo, có ghế cao dành cho trẻ, choàng khăn vào cổ cho con, đút cho con từng muổng cơm hay phở, chịu cảnh đổ tháo vương vải mà vẫn vui vẻ, nhưng ai đã chịu săn sóc cha mẹ già trong tình huống như thế. Con người có hai giai đoạn yếu đuối nhất là lúc trẻ  thơ và lúc đến tuổi già. Tuổi thơ không có kinh nghiệm sống và sống theo bản năng, chưa có trí tuệ, không biết hồi tưởng. Tuổi già có kỷ niệm, có cuộc đời đã trải, thiếu thốn biết đau khổ vì có sự so sánh và cũng yếu đuối, đôi khi trở thành ngờ nghệch như đứa trẻ: “người già bằng ba con nít” và cũng thật thà: “ra đường hỏi người già, về nhà hỏi con nít.” Cả hai đều đáng cho xã hội lo âu chăm sóc, vì vậy mà chúng ta có nhà giữ trẻ, hay viện dưỡng lão. Trên xe bus, xe lửa có chỗ cho người già, các tiệm buôn giảm giá cho các vị cao niên. Cổ nhân có câu: “kính lão đắc thọ” vì tuổi già là nơi chúng ta sẽ đến, không ai tránh được, đạo lý ấy rất đáng được cho chúng ta lưu tâm. Ông Mạnh Tử thì lại có câu: “Người tóc bạc không phải đội nắng ở ngoài” (Ban bạch giả bất phụ đái ư đạo lộ hĩ). Một đứa trẻ đói, lạnh hay gặp điều bất như ý không cảm thấy khó chịu và khổ tâm bằng người già, nên người già đáng được xã hội quan tâm hơn con trẻ, và tôi thà có một tuổi ấu thơ nhọc nhằn hơn là một tuổi già vất vả, nghèo đói và khổ tâm. Chúng ta đã thấy cảnh những bà cụ gìa ở Việt Nam vào tuổi 80 còn buôn thúng bán bưng, vất vả ở vệ đường hay khuya sớm mò cua bắt ốc, tội nghiệp và xót xa biết chừng nào. Đó là hoàn cảnh những người già neo đơn trong một xã hội chưa có điều kiện hay thiếu sót sự quan tâm đối với lớp người già. Ông bà cũng phải cấy cày mữa mật ra mới có cái ăn trong bài hát của nhi đồng miền Bắc: “Cháu lên ba. Cháu vô mẫu giáo. Cô yêu cháu vì cháu không khóc nhè. Không khóc nhè để mẹ trồng cây trái, ba vào nhà máy, ông bà vui cấy cày. Là lá la la.”

Là người, ai cũng được dạy dỗ phải biết thương yêu, dạy dỗ và bảo vệ con cái, trượng trưng là con gà mẹ kiếm mồi nuôi con, xoè đôi cánh để bảo vệ sự tấn công của con diều hâu hay cảnh con chim mẹ tha mồi về tổ mớm cho con, nhưng không có thấy hình ảnh đẹp đẽ nào để nói đến con cái lo chăm sóc cho cha mẹ đã già cũng yếu đuối không thua gì trẻ thơ. Cổ nhân thường nói “nước mắt chảy xuôi” để diễn tả hoàn cảnh này. Người đời ai cũng thương yêu con, nhưng phải là người có giáo dục, văn hóa lắm mới biết hết lòng, chiều chuộng cha mẹ. Người phương Đông có đạo hiếu, nhưng người Tây phương không có chương mục nào nói đến chuyện con phải có bổn phận đối với cha mẹ.

Người phương Tây đến tuổi hưu rồi vẫn còn chịu khó đi làm việc cũng như những đứa trẻ mới qua tuổi mười tám đã muốn ra khỏi gia đình, cả hai đều có tinh thần tự lập, không muốn dựa vào ai. Con cái thì không muốn nhờ cha mẹ, ông bà già thì không muốn nhờ đến con, mà cả hai có muốn nhờ cũng không được. Cha mẹ lo cho con cái đến 18 tuổi là hết bổn phận, cũng như con cái chẳng có bổn phận gì với cha mẹ già. Vứt con dưới 18 tuổi ra đường là ở tù tức khắc, nhưng bỏ cha mẹ ra đường cũng chẳng có tội gì. Gần đây có một gia đình ở Mỹ bị truy tố về tội bỏ bê một bà mẹ già, không được tắm rửa, không được săn sóc cho ăn uống đầy đủ. Nhưng điều này có nghĩa gì đối với vấn đề đạo lý, khi chúng ta biết rằng ở xứ này, bỏ đói một con chó, làm nó gầy trơ xương, ghẻ lỡ, cũng bị đưa ra toà, đâu cần đến việc đối xử tệ bạc với một bà mẹ già! Việc này chỉ có nghĩa là gia đình ấy lãnh tiền trợ cấp của bà mẹ nhưng không dùng số tiền ấy cho việc ăn uống, sinh sống của bà. Cách đây vài năm một ông bạn vong niên có gởi cho tôi một bài thơ tiếng Anh, không có tên tác giả. Bài thơ của một bậc cha mẹ nào đó viết cho con, bằng những lời lẽ đơn giản, rất chân tình không có ý trách móc nhưng bàng bạc trong đó dấy lên một nỗi xót xa, buồn phiền không sao dấu được. Bài thơ viết với những lời mộc mạc, rất dễ hiểu, nói về ngày thơ ấu khi con thơ đang còn măng sữa, yếu đuối cha mẹ hết lòng lo cho con, nhưng khi cha mẹ gìa, trở lại với thân thể và cả trí tuệ của những đứa trẻ, thì con cái thấy đó là một gánh nặng phiền hà cho mình. Bây giờ các con thường than phiền về việc cha mẹ ăn uống đổ tháo, vụng về nhưng không nhớ thời mình ấu thơ. Bây giờ con cái than phiền cha mẹ lẩm cẩm, nói dai nhưng quên ngày còn nằm trong nôi, chúng đã bắt bà mẹ kể đi kể lại từng đêm và nhiều đêm, lặp đi lặp lại mỗi cái chuyện Tấm Cám hay Cô Bé Choàng Khăn Đỏ. Bây giờ mỗi lần phải chỉ dẫn cho cha già việc xử dụng máy móc như máy conputer, thấy cha chậm hiểu thì đâm ra gắt gỏng, khó chịu mà không nhớ ngày cha ngồi bên chúng cầm tay nắn nót từng chữ thuở ban đầu hay kiên nhẫn sửa cho con những chữ đọc sai. Bây giờ cha mẹ có khó khăn phải nhờ con, chung dưới mái nhà của con, thì xem đó là một gánh nặng, khiến cha mẹ tủi thân, mang mặc cảm chịu cảnh “ăn đậu, ở nhờ”, không nhớ ngày nào “nhà của cha mẹ là nhà của con”.

Ngay bên Tàu, ca tụng tấm lòng con đối với cha mẹ, ngoài “hai mươi bốn câu chuyện hiếu” (nhị thập tứ hiếu) còn có nhiều gương hiếu tử như của Mẫn Tử Khiêm hay chuyện thầy Tử Lộ đội gạo nuôi cha mẹ, nhưng ngày nay, nhất là qua nửa thế kỷ dưới chế độ Cộng Sản, nhân tâm ly tán, đạo đức suy đồi, người ta phải dùng đến biện pháp hành chánh để trừng phạt những đứa con bỏ bê cha mẹ.

Bây giờ ngày lễ Vu Lan, bắt chước người Nhật cài hoa cẩm chướng trong ngày Mother’s Day, mới gần nửa thế kỷ nay, chúng ta có tập tục cài hoa hồng lên áo. Ai còn mẹ thì cài bông hồng đỏ, ai mất mẹ thì mang bông hồng trắng. Nhưng còn mẹ đó, còn được mang bông hồng đỏ thì chúng ta sẽ làm gì cho mẹ vui, để khi mẹ đã qua đời, chúng ta không có điều gì phải hối hận. Hay mới ở chùa đọc nghìn câu kinh trở về nhà, thấy mẹ vụng về ra mở cửa, nói những lời không vừa ý, chúng ta đã có điều phật ý, chau mày. Bây giờ ngày lễ Vu Lan lại về, nếu ngày lễ này là ngày để cho chúng ta nghĩ đến mẹ, thì cô ca sĩ tôi nói chuyện ở đầu bài hắn nhớ đến mẹ rất nhiều, nhất là mỗi lần có dịp trở lại tiệm ăn này. Thỉnh thoảng tôi vẫn trở lại đây, nhưng đã lâu tôi không hề gặp cô. Tôi nghĩ là mẹ cô đã qua đời hay đã lúc mê lúc tỉnh trong nhà dưỡng lão.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 20 May 2026

“Ba thằng đánh một, không chột cũng què: Mười anh mà bâu vào khen, ca tụng một anh, thì anh này không thành Thánh cũng thành Kiệt Xuất, Hào Kiet, Anh Hùng, Xuất Chúng …, nếu không hóa thành khủng!” Câu ví von này chắc chắn là khập khễnh, què quặt, chẳng mấy ai ưa, nhưng sự thật đây là một sự thật phũ phảng đã xầy ra từ lâu trong cộng dồng người Việt hải ngoại của chúng ta. Lâu lâu người ta kiếm một nhân vật quen biết, vẫn xuất hiện thường hay không, như khuân một cai lư đồng trong kho ra, vào những ngày giáp Tết Nguyên Đán, kỳ cọ, chùi rửa, đánh bóng rồi đưa lên bàn thờ, đèn nến sáng choang, hì hụp khấn vái.

Thứ văn hóa mà người ta cứ gán cho văn hóa Việt Nam, mà dân miền Bắc Việt Nam ngày nay vẫn thường cử hành trong các lễ hội, như là một loại văn hóa phường chèo, là cứ cho ăn mặc cho hoa hòe vào, như kiểu mấy bà đồng cốt, y phục đủ màu xanh đò tím vàng, thêu đù loại hoa văn, có long-ly-quy-phụng rồi hô hào, hãnh diện khoe khoang, cho đây là bản sắc văn hóa Việt Nam, phong phú, đa dạng, đầy màu sắc dân tộc.

Nhớ hồi Cộng Đồng người Việt mới thành lập trên đất Bolsa, ba ông Chủ Tịch trong ba cơ chế Hội Đồng Giám Sát, Cố Vấn, Điều Hợp khi ra hội họp hay tế lễ thì mang ba cái áo màu đỏ, màu vàng, màu xanh, gọi là tượng trưng cho ba ngành quyền lực nhất, để truyền thông địa phương quay phim chụp ảnh xem đó là đặc trưng của một nền văn hóa mới du nhập vào đất Mỹ, mà không cần phải một lời giải thích.

Chúng ta cũng biết thời đệ I Cộng Hòa, Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đương kim nguyên thủ quốc gia, cũng chỉ mới khiêm nhường mặc một chiếc “áo rộng” xanh trong những ngày lễ lớn hay vào dịp về chúc thọ thân mẫu ông. Ông đã từng phục vụ với triều Nguyễn, hẳn ông dư biết nhà Vua có thể mặc hoàng bào bằng gấm thêu rồng, nhưng ông đã không làm. Vậy mà bây giờ, thời buổi này. một Chủ Tịch Cộng Đồng người Việt ở đâu đó đã có thể mặc áo vàng thêu rồng như nhà Vua ngày trước, mà không cần đếm xỉa gì dến cái gọi là văn hóa Việt Nam. Còn như một người được mời đứng ra cho trăm người khen mà không biết được tài trí của mình, không tự lượng được sức mình, thì đó là một điều xấu hổ. Luận về đức khiêm cung, Đức Khổng Tử đã nói: “Dầu mình thông minh trí tuệ hơn người cũng phải coi mình như ngu dốt vậy; dầu mình công lao đầy đủ trong thiên hạ. thì cũng phải kính nhường người; mình có sức mạnh hơn đời cũng phải coi mình như kẻ mềm yếu vậy; dầu mình giàu có bốn biển, thì cũng xem mình như người nghèo khổ vậy.”

Nói về chuyện chúc Thọ, ngày xưa sống trên 60 đã cho là thọ, dưới 60 chỉ mới dược hưởng dương. Sống đến 70 đã cho là ghê gớm lắm, người đời hiếm có (thất thập cổ lai hy.) Từ 80 tuổi trở lên là Thượng Thọ,” từ 90 tuổi trở lên “Đại Thọ,” “Vạn Thọ” hay “Trường Thọ”, để chỉ những bậc đã sống từ trăm tuổi trở lên. Nhưng Thọ có là vinh hay không, còn là điều phài xét lại. Các quốc gia châu Âu thường giữ vị tri cao trong các chỉ số phát triển con người của Liên hợp quốc, tuổi thọ trung bình của các nuớc này cũng rất cao. Tuổi thọ trung bình của các quốc gia thuộc top 10 nước có tuổi thọ trung bình cao nhất châu Âu đều hơn 80 tuổi. Nhưng ngày ngày thực phẩm đầy đủ, nền y tế tiến bộ, thuốc men đầy đủ, nhất là ở Mỹ, tuổi thọ trung bình của người Mỹ xếp hạng “thượng thọ (80).” Một người lính miền Nam, sau ngày nước mất, nhà tan, chịu cảnh ngục tủ đau đớn bao nhiêu năm, trải qua bao nhiêu phong ba của những ngày vượt biển, đến Mỹ cũng còn sống thọ đến hơn 80. Ngày nay chữ Thọ không còn là điều hiếm hoi nữa!

Nói về tải, tài năng bao nhiêu cho đù. Nói về dóng góp cho đất nước, cho dân tộc thì bao nhiêu cho vừa, và nếu có một chỉ tiêu, định mức thì cần phải cân đo với ai. Sau hết chúng ta cũng nên so sánh việc làm bàn giấy của một công chức bàn giấy với hoạt động của một con người tranh đấu cho việc cải tiến đem lại lợi ích cho xã hội và những hoạt động không có tính cách bắt buộc, làm nhiệm vụ của một viên chức chính phủ.

Nhưng khi nói về sự tương đối, thi tất cả mọi sự tương đối không đủ cho một sự vinh danh. Một người làm thơ gọi là tương đối thì không hao giờ được gọi là thi hào. Một người viết văn gọi là tạm được nhất dịnh không phải châu báu của quốc gia. Một quân nhân chỉ biết tiến lùi theo lệnh của cấp chỉ huy đâu phải là chiến sĩ! Vinh danh phải dành cho những cống hiến vượt trội, xuất chủng. Ngày xưa Quân Vương được triều đình quỷ lạy, vì đức của đấng Thiên Tử, cũng phải khiêm cung đứng dậy cho bầy tôi miễn lễ và gọi người bình thân, người khiêm nhường không thể chễm chệ ngồi trên ghế chủ tọa để cho người khác tung hô, hay nghe nhã nhạc, phát biểu lời xu nịnh, tán dương mà không biết đỏ mặt. Đối với tiền nhân, liệt sĩ có công gầy đựng đất nước, hậu thế vênh vang chút tài mọn là thiếu lễ nghĩa. Đối với lũ trẻ chưa ra đời và tuổi trẻ tài năng hôm nay đã cống hiến nhiều sự nghiệp cho đất nước, mà hãnh tiến vô lý là bất nhân.

Áo thụng vái nhau ở chỗ riêng tư, không ai biết, thì còn mình biết, trời biết! Áo thụng vái nhau ở chỗ công cộng, trăm người nghe, nghìn người thấy. coi như dưới mắt mình chẳng còn ai là người (mục hạ vô nhân,) hiu hiu tự đắc, hẳn không phải là việc làm của kẻ sĩ. Một ký mục gia nói về tỉnh trạng “hổn loạn” này đang xảy ra trong cộng đồng hải ngoại là một thái độ “tự sướng!” Thiên Chủa Giáo đã nói: “Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 18,9-14). Ông Khổng Tử lại cho rằng: “Người bác học mà biết khiêm nhượng thì kẻ tài sơ mới hết lòng mến phục, còn kẻ tài sơ mà biết khiêm nhượng, thì người bác học mới vui lòng hướng dẫn.” Còn với Lão Tử. khiêm tốn được khai quật lên thành cái “Đạo” của con người thông minh, cái đạo không thể thiếu trong xử thế. Trong bảy đức hạnh của người tu theo Phật giáo thì dức hạnh thứ năm là: “Không tự khoe khoang trong khi mình thiếu đức!”

Thật ra có một điều mà ai cũng biết, nhưng rất khó tránh: là bị người chê trách, không giận là dễ, nhưng ai khen mình mà mình tránh được “phễnh mũi” mới là khó!

Pedestrians with umbrellas walking on a wet London street in rain with Big Ben in the distance

Nước

baotreonline.com

Ngọc Diệp

November 14th, 2025

Post by Sơn râu 19 May 2026

Pedestrians with umbrellas walking on a wet London street in rain with Big Ben in the distance
London’s raining

Vào thập niên 80, ở thôn quê Việt Nam không có nước fontaine như Sài Gòn hay thị xã, (nơi mà chỉ cần mở vòi là nước chảy ồ ạt), vậy người dân quê tôi đã sinh hoạt như thế nào? Khi ao hồ, sông rạch nhiều vô số kể, con người đã tận dụng thiên nhiên ra sao? Người viết xin lượm lặt trí nhớ để kể về những nguồn nước tiêu dùng một thời ở miền quê Việt Nam.

Ao làng (do AI của Google vẽ)    

Với người dân thôn quê, mẹ thiên nhiên là nguồn sống vô tận. Họ tận dụng tối đa nước mưa, nước sông và nước ao hồ. Những khi Trời hạn hán, nắng dai dẳng, nóng oi bức, ao hồ cũng khô cạn, người dân ở thôn quê rất trông mưa. Hai câu trong bài ca dao “Gọi Mưa” sau đây đủ nói lên nỗi “khổ vì nước“:

Lạy trời mưa xuống

Lấy nước tôi uống

Kìa, Nội tôi mặc áo túi ngắn tay, quần lãnh ống xăn, ống xổ, đang ngồi trên ghế đẩu, cạnh bộ ván nhà dưới, lau mồ hôi thấm đượm trên trán bằng khăn rằn, rồi tặc lưỡi, nói từng chữ, chậm rãi sau cơn thở dài:

Tst.. tst… Trời nóng nực quá đỗi! Ông mưa đám cho mát đi Ông!

Khác xa với đời sống thành thị có nước fontaine, người dân quê tôi phải đi gánh hoặc chở nước từ giếng hay ao hồ, chắt chiu từng giọt, rất ư cơ cực! Nhà ở thôn quê phần nhiều lợp bằng lá dừa nước, nên không thể sử dụng nước mưa để uống hay nấu nướng. Thay vào đó là nước ao, hồ, cùng với nước sông để tắm, gội, giặt giũ.

Những nhà khá giả, có mái lợp tole hay ngói, thường sẽ xây hồ chứa nước. Người dân thường bỏ cơn mưa đầu mùa để  cho bụi đất trôi đi hết. Vô mùa mưa, nước của những cơn mưa lớn sau đó thường được hứng vô hồ hay lu bằng máng xối. Nhà Ngoại tôi có một hồ nước cao hơn đầu người. Vậy mà bọn trẻ chúng tôi hay leo lên đó, chơi đủ loại trò chơi dân gian như ô quan, đánh đũa. Đối diện nhà Nội tôi là nhà chú thím Sáu, có cô bạn tên Yến Oanh mà thủa nhỏ người hàng xóm hay gọi tôi với cổ là cặp bài trùng. Tuổi thơ của chúng tôi gắn liền với cái hồ nước nhà chú thím Sáu. Mỗi hồ nước có một nắp đậy ở trên và vòi vặn ở gần dưới đáy, được gắn liền vô hồ và một chỗ được xây âm dưới đất, vừa đủ để đặt một cái xô, hay thùng để lấy nước.

Nguồn: vanhoavaphattrien

Nước mưa còn được chứa trong lu. Nhà ở thôn quê không có của cải, tiền bạc chi cả nhưng lại rất giàu lu. Mỗi nhà có tới mấy hàng lu. Lu nước mưa để ở nhà bếp của Ngoại tôi dùng để uống, có một ca nhôm để trên nắp. Bọn tôi ăn cơm xong, tạt qua lu, tu thêm một bụng nước đầy, kêu ừng ực, no hai lần nên bụng căng cứng, bước đi nghe kêu óc ách. Bọn trẻ chúng tôi thì tinh nghịch, cứ hay bày nhau nhúng bánh tráng vô đó để ăn vặt. Bánh tráng bủn ra, rớt lềnh bềnh, trăng trắng trong lu, báo hại ông Ngoại tôi phải bao lần súc lu!

Uống nước lu lâu lâu gặp phải con lăng quăng loi nhoi, sẵn sàng bơi vào miệng thì thấy ơn ớn, làm người uống phải phun nước ra mà hất đổ ca nước! Mấy con muỗi hay đậu trên mặt nước trong lu, đẻ trứng vô những lu nước mưa vì là nước ngọt, chúng không thèm đếm xỉa đến những lu nước sông (nước lờ lợ) bao giờ. Hàng lu nước mưa nhà tôi chỉ để uống, nấu ăn, hay khách quý từ Sài Gòn về tiêu dùng.

Ngoài nước mưa, nguồn nước thứ hai là nước ao. Hẳn quý độc giả còn nhớ bài ca dao Hạt Mưa Hạt Móc

Tôi ở trên trời

Tôi rơi xuống đất

Tưởng rằng tôi mất

Chẳng hóa tôi không

Tôi chảy ra sông

Nuôi loài tôm cá

Qua làng qua xã

Theo máng theo mương

…

Vậy chớ khinh tôi

Hạt mưa hạt móc.

Nguồn: daohieu.com

Hạt mưa ấy hoà chảy vô mương hay ao, nuôi sống người dân quê chúng tôi. Ao của nhà ông Ba Tôn là nguồn nước chánh của cả làng trên xóm dưới, gồm xóm chợ, xóm bánh và xóm chài. Chiều chiều, nhà nhà trong xóm đi gánh hoặc chở nước về bằng xe đạp. Ao ông Ba đúng với định nghĩa ao làng trong văn thơ. Nó thật sâu, có hình tròn và một thùng câu nước nho nhỏ, cột vào dây thật dài để thả xuống.

Nước câu lên được đổ vô cặp thùng lớn, thả một ít lá bình bát vô để nước không bị tạt ra khi di chuyển, rồi gánh bằng đòn gánh hoặc chở ngoài sau ba ga xe đạp. Nước rỉ ra thành 2 lằn, in dấu xuống đường đất đỏ như làm dấu, chạy dài từ ao làng về tới nhà theo người gánh nước.

Thay vì cặp gióng, người ta sẽ làm cặp móc bằng kim loại để móc, rồi móc vô cặp quai thùng.

Có khi, người dân xóm tôi chở nước lúc trời chạng vạng tối, hay những ngày có trăng thanh, mát mẻ. Những đôi trai gái xóm tôi chắc cũng có không ít kỷ niệm hẹn hò khó quên về thời  gánh nước. Vào mùa hè, ao được tàn cây xanh dày đặc, có tàn to bao phủ, nhưng nước ao bốc hơi gần như cạn sát đáy, cùng với việc cất nước, thành thử chung quanh bờ ao tròn vành vạnh, bờ ao nứt nẻ cùng với rễ cây cằn cỗi, đâm ra lởm chởm và phần nước còn lại nằm sâu ở dưới đáy. Vào thập niên 80, quê tôi cũng có nghề gánh hay chở nước mướn. Nhà nào đơn chiếc có thể mướn họ để có nước mà sử dụng.

Nước sông cũng là một nguồn nước vô tận khác, nhưng vệ sinh hay không thì còn phải xét lại. Con sông Vàm Cỏ Tây nuôi người dân quê tôi bằng tôm cá đủ loại, ngoài ra còn cung cấp nguồn nước tiêu dùng. Tôi không hề đùa khi nói rằng “cầu tiêu cũng được làm ngay bên bờ sông”. Thưa phải! Ở xóm tôi, cầu đó được bắc ngay bên bờ sông cái, cạnh cây bần, ngó qua Đức Tân. Những lúc nước ròng sẽ chỉ nhìn thấy sình dưới đáy, nhưng khi nước lớn, con nước sẽ mang ô uế ấy đi khắp nơi, tận những con mương, con rạch, nơi nào nước đến. Cũng cùng nguồn nước đó, người dân xách lên, đổ vào lu hay chậu để lắng cặn và phèn, một thời gian sau sẽ sử dụng được. Nhà Nội tôi sát sông cái nên mỗi ngày, Nội hay sai tôi xách nước khi nước lớn để lóng rồi tắm và rửa chén. Cầu cá tra (bắc trên ao nuôi cá tra) cũng là một cách đi cầu khó quên cho những ai từng sử dụng qua mỗi khi về quê.

Sàn nước, thuyền tam bản và dừa nước (Do AI của Google vẽ)

Nhiều nhà làm sàn nước ngay tại bến sông hay bờ ao. Có lúc, khi đang rửa chén trên cầu sàn nước, tôi nhìn thấy nguyên cả bầy cá bơi tung tăng, đớp những hột cơm rơi xuống. Tôi không hề nói ngoa khi kể rằng người dân xóm tôi phóng uế xuống sông, rửa chén, giặt giũ, đãi đậu, rửa khoai, cũng tại bờ sông, rồi xách nước lên sử dụng cũng như tắm giặt, rửa ráy… Đám trẻ con thì bơi lội, lặn ngụp như rái cá trên sông. Tôi không được nhà cho lội ngoài sông cái, chỉ đứng trên bờ nhìn tụi nhỏ bơi mà thèm thuồng. Có khi, tôi được Mẹ cho đập bùm bũm bằng bập dừa ở trong rạch nhà.

Có người xóm tôi còn thấy cả “thằng chỏng”, là người chết trôi lềnh bềnh trên sông; nghe đâu đàn ông trôi úp, đàn bà trôi ngửa. Mỗi lần như thế, nhà nhà ngưng lấy nước vài ngày. Nước sông này lờ lợ vì sông đổ ra biển tại cửa Soài Rạp.

Người dân thôn quê dùng gáo múc nước  trong lu hay khạp thay cho ca nhựa như sau này. Đây là hình ảnh rất thân thương của thủa xa xưa. Gáo được làm bằng sọ dừa. Người ta gọt sọ dừa cho nhẵn nhụi, cưa bỏ đi một phần ba trên đầu, nạo sạch cơm dừa bên trong, nướng khoan sắt để khoan 2 lỗ, vừa vặn với cán, rồi khéo lắp cán vô. Nhà Ngoại tôi thì múc nước bằng gàu mo cau do bà Cố làm. Khi múc nước, ta có thể ngửi  được mùi thơm thoang thoảng của hương cau.

Sau đó không lâu, có lẽ vào cuối thập niên 80 hay đầu những năm 90. Xã tôi đào được vài giếng nước bơm tay, một ở xóm chợ và một ở gần kho lúa. Bà con xúm lại bơm rồi gánh hay chở về tiêu dùng. Nước fontaine thì mãi sau này, khi gia đình tôi đi Mỹ rồi, mới có.

Ao làng sâu lắng hồn quê đã nuôi chúng tôi lớn theo tháng ngày. Vùng đất bao la, hiền hòa này cũng đã hun đúc những người con quê chúng tôi thành chơn chất, mộc mạc; một khi bị đời bạc đãi, những người con mang đậm hồn quê này cũng tự lau nước mắt rồi đứng dậy bằng đôi chưn của chính mình, rồi ngang nhiên mà sống. Những khốn khó, cực khổ của ngày xưa mà thế hệ chúng tôi đã trải qua, những giọt nước quê hương đã nấu thành những củ khoai, hột bắp, hột cơm nuôi chúng tôi lớn, cùng với sự dưỡng dục của gia đình, và với sự cố gắng không ngừng của bản thân, chúng bạn đồng cam cộng khổ của xóm tôi ngày xưa cũng đều thành đạt cả! Tôi rất hãnh diện về chúng!  Dù chúng tôi đều sống xa quê cả nhưng tình làng nghĩa xóm bao đời nay vẫn thế. “Bà con xa không bằng láng giềng gần”. Xin trân quý từng giọt nước quê hương đã nuôi chúng tôi lớn.

Ngày nay, tôi đã có nước dồi dào nhưng vẫn thấy trân quý từng giọt nhỏ. Cũng xin biết ơn sự nể trọng của chòm xóm về cả 3, 4 thế hệ của gia đình tôi.

Gáo dừa trên khạp nước. (Internet)