Một thời để Yêu & Một thời để Chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Post by Sơn râu 24 May 2026

Graber dừng lại trước một căn nhà. Trời tối cho nên không nom rõ số nhà. Một người đứng gần cửa vào hỏi:

– Ông hỏi gì?

– Đây có phải là số nhà 22 đường Marie?

– Phải. Ông hỏi ai?

– Bác sĩ Kruse.

– Kruse? Ông muốn hỏi gì bác sĩ?

Graber nhận ra trong tối đôi giầy ủng và y phục Mật vụ. Y nghĩ thầm: “À ra thế! Một nhân viên Mật vụ ranh mãnh!”

Y vừa đẩy cửa vừa nói:

– Để tôi sẽ nói thẳng với bác sĩ.

Y thấy mệt mỏi, mỏi mệt sâu xa hơn sự mỏi mệt ghi dấu vết vào hai mắt trũng sâu và các khớp xương lỏng lẻo. Suốt ngày hôm nay y đã tìm kiếm, thám người này người khác nhưng không biết được gì cả. Cha mẹ y không có họ hàng ở tỉnh này, láng giềng quen biết đều mất tích. Bottcher nói có lý: sự đảo lộn thật là sâu xa. Mọi người ngậm miệng vì sợ Mật vụ, họ chỉ cho biết những tin tức mờ mịt rồi bảo mình đi hỏi những người cũng không hay biết gì mấy.

Lên hết cầu thang thì thấy một hành lang tối. Bác sĩ Kruse ở tầng lầu nhất. Y vẫn chữa bệnh cho mẹ mình. Có lẽ ông ta biết địa chỉ mới của cha mẹ.

Một người đàn bà vẻ mặt thản nhiên, không biết bao nhiêu tuổi ra mở cửa:

– Ông muốn hỏi bác sĩ Kruse?

– Vâng.

Bà ta lẳng lặng ngó Graber, không dẹp chỗ cho y bước vào. Graber nóng ruột:

– Ông ta có nhà không?

Người đà bà không trả lời. Hình như bà ta đợi một tiếng động gì ở nhà dưới.

– Ông đến thăm bệnh à?

– Không, tôi có việc riêng.

– Việc riêng à?

– Vâng, tôi có việc riêng. Thưa bà là bà Kruse?

– May mà không phải.

Graber ngó kỹ con người kỳ dị. Suốt ngày hôm nay, sợ hãi, căm thù và dối trá hiện ra trước mắt y dưới đủ mọi hình tướng, nhưng kết cục người đàn bà này quả là cái gì mới mẻ.

– Thưa bà tôi không biết ở đây có chuyện gì, tôi cũng không muốn biết. Tôi chỉ muốn hỏi bác sĩ Kruse, thế thôi!

– Bác sĩ Kruse không còn ở đây nữa.

Người đàn bà nói câu ấy với giọng căm thù, gắt gỏng đột ngột.

– Tên bác sĩ còn ở ngoài cửa kia.

Graber chỉ biển đồng ghi giờ thăm bệnh.

– Đáng ra cái biển đồng này phải tháo đi lâu rồi.

– Nhưng biển vẫn còn đấy. Trong nhà còn ai là thân quyến của bác sĩ không?

Người đàn bà lặng yên, Graber muốn mắng cho mụ ta một câu rồi bỏ đi thì trong nhà có tiếng cửa mở. Một luồng sáng soi rõ hành lang. Có tiếng người hỏi:

– Ai hỏi tôi đấy?

– Có. Tôi muốn hỏi thăm ai biết bác sĩ Kruse. Nhưng sao mà khó khăn thế.

– Tôi là Elisabeth Kruse.

Graber quay lại nhìn người đàn bà trước mặt. Bà ta vội vàng lui vào, vừa đi vừa la:

– Thắp đèn sáng quá. Cấm xài nhiều điện như thế.

Graber đứng đợi. Một người con gái chừng hai mươi tuổi hiện ra dưới vùng sáng. Y thoáng nhìn thấy đuôi lông mày cong như vòng cung, cặp mắt tối và đợt tóc nâu mềm mại rũ xuống vai. Rồi người con gái đến gần y trong bóng tối hành lang.

– Ba tôi không làm việc nữa.

– Tôi không đến thăm bệnh, chỉ đến hỏi một việc riêng.

Mặt người con gái bỗng biến sắc. Nàng liếc nhìn xem người đàn bà đã đi hẳn chưa, rồi mở mau cửa:

– Ông vào mau đi.

Nàng theo sau vào căn phòng có ánh sáng. Nàng quay lại ngó y thay cho câu hỏi. Hai mắt không còn tối nữa, hai mắt sáng long lanh.

– Hình như tôi có quen ông. Ông có học trường trung học ở đây không?

– Có. Tôi tên là Graber.

Graber cũng nhớ ra. Một cô học sinh gầy ốm, tóc nhiều quá và mắt lớn quá. Mẹ nàng chết từ lúc nàng còn nhỏ. Nàng đến ở với họ hàng tại một tỉnh khác.

– Cô Elisabeth, nom cô khác ngày xưa quá, tôi không nhận ra.

– Lần cuối cùng gặp anh ở nhà trường đã sáu bảy năm rồi. Coi anh cũng khác nhiều.

– Không nhiều như cô.

Hai người nhìn nhau không nói gì.

– Ở đây có chuyện gì vậy? Người canh chừng cô như gác dinh đại tướng.

Elisabeth mỉm cười chua chát:

– Không phải như đại tướng mà như tù binh.

– Tại sao? Tại sao vậy? Thưa cô…

Nàng vội giơ tay bảo im:

– Đợi một chút.

Nàng đi quanh bàn đến bên cái máy hát. Một điệu nhạc quân hành vang lên.

– Bây giờ thì có thể nói chuyện được.

Graber nhìn nàng, không hiểu. Có lẽ Bottcher nói có lý. Trong tỉnh này mọi người đều hóa điên hết.

– Thế này là nghĩa lý gì? Thôi làm ơn làm phước dẹp thứ nhạc quân hành đi, tôi đã ngán quá rồi. Tốt hơn hết là cho tôi biết đã xảy ra chuyện gì ở đây. Tại sao người ta canh chừng cô?

Elisabeth tiến lại gần :

– Người đàn bà rình nghe trộm. Nó do thám. Vì thế phải để âm nhạc che lấp tiếng nói.

Elisabeth đưa mặt bối rôi nhìn lên Graber. Bất thần nàng nghẹn ngào.

– Ba tôi làm sao? Anh biết tin gì mới à?

– Không. Tôi muốn hỏi ba cô có một việc. Ba cô đâu rồi?

– Anh không biết à?

– Không. Tôi muốn hỏi xem ba cô có biết địa chỉ của cha mẹ tôi không. Cha mẹ tôi đã mất tích.

– Thế thôi à?

Graber mở to mắt nhìn Elisabeth.

– Tôi chỉ muốn biết thế thôi.

Người thiếu nữ trở lại bình tĩnh.

– Anh nói đúng. Tôi cứ tưởng anh đem tin của ba tôi.

– Ông nhà ở đâu?

– Ở trại tập trung. Từ bốn tháng nay. Có người tố cáo. Khi anh nói anh đến hỏi ba tôi, tôi tưởng anh có tin tức gì.

– Nếu có tôi đã nói ngay.

Elisabeth lắc đầu:

– Đừng có nói trước mặt con mụ già ấy. Phải cẩn thẩn mới được.

Graber nghĩ thầm: “Cẩn thận! Mình nghe thấy người ta nói đến cẩn thận với đủ các giọng”! Bài nhạc quân hành xoang xoảng như binh khí đụng nhau vang khắp phòng.

– Bỏ đĩa hát đi được không?

– Được, nhưng anh nên đi về thì hơn, anh cũng biết sẽ nguy hiểm cho anh.

– Tôi không phải là chó săn. Người đàn bà ấy là ai. Nó tố cáo ba cô phải không?

Elisabeth đưa tay nhấc kim máy hát nhưng vẫn để cho đĩa quay. Căn phòng yên lặng, rồi bỗng nổi lên tiếng còi hụ rên rỉ.

– Báo động! Lại báo động!

Có người gõ vào cửa kính

– Tắt đèn đi. Suốt ngày thắp đèn! Lúc nào cũng để đèn sáng quá! Biết mà! Có gì lạ lạ!

Graber mở cửa ra hỏi:

– Lạ lạ cái gì?

Người đàn bà đã chạy ra đầu đằng kia hành lang. Ba ta lắp bắp mấy tiếng không nghe rõ rồi biến mất.

Elisabeth đẩy Graber ra một bên và đóng cửa lại

– Nó là gì mà nó hống hách thế? Ai cho nó lại ở đây?

– Ủy ban Gia cư. Tôi được giữ lại căn phòng nay cũng là may rồi.

Ngoài phố ồn ào. Có tiếng trẻ con kêu, đàn bà gọi. Còi báo động Elisabeth cầm lấy cái áo mưa choàng lên vai.

– Phải xuống hầm núp.

– Còn đủ thì giờ mà. Tại sao cô còn ở đây? Sống với con mẹ chó săn ấy khác nào sống trong địa ngục!

Ngoài cửa lại có tiếng thét: “Tắt đèn đi!”

Elisabeth tắt đèn rồi đến gần cửa sổ:

– Tại sao tôi ở lại đây? Vì tôi không muốn đi trốn.

Nàng mở cửa. Tiến còi hụ tràn vào inh tai. Thân hình nàng nổi bật trên nền trời mờ trong khi nàng lấy đinh đóng chặt cánh cửa sổ.

Như vậy bom nổ đỡ làm vỡ kính. Rồi nàng trở lại bên Graber. Hầu như tiếng kêu đẩy nàng đi như một đợt sóng vô hình. Nàng nói qua tiếng còi vang động:

– Tôi không muốn đi trốn! Anh hiểu không?

Graber trông rõ mắt nàng. Mắt nàng lại trở lại tối sầm như lúc trước trong hành lang. Khóe nhìn kia âm ỉ một sức mạnh vô bờ của nghị lực, của say mê. Y cảm thấy hình như mình phải chống lại tất cả, sóng đời gay cấn hằn thù, khuôn mặt với hai mắt quyến rũ kia, tiếng còi hụ nhức nhối nọ, cảnh đảo lộn kinh khủng diễn ra dưới cửa sổ.

– Trời! Tôi không hiểu, ở lại đây chỉ làm cô điêu đứng mà không ích gì. Không chịu đựng nổi thì phải bỏ đi. Tôi học được điều đó ở ngoài mặt trận.

Nàng vẫn ngó y chăm chú

– Thế thì bỏ đi. Bỏ đi, để cho tôi yên thân.

Nàng muốn đẩy y ra để bước ra phía cửa. Y nắm lấy tay nàng. Nàng vùng mình giằng ra. Y không ngờ nàng khỏe đến thế.

– Đợi tôi với. Đợi tôi đi với cô.

Tiếng còi vây bọc lấy họ như một trận bão vô hình. Cả căn nhà rung chuyển, phòng ốc, hành lang, cầu thang, tiếng kêu đập vào tường rồi dội lại, tuôn đi ào ào khắp phía, không ai thoát được tay nó; nó chui qua lỗ tai, qua làn da, thấu vào trong người làm sôi máu sùng sục, làm giật gân phừng phừng, nó bít chặt lấy óc không cho suy nghĩ gì nữa.

– Cái còi ở chỗ nào vậy? Nó làm hóa điên mất!

Cửa đóng lại với một tiếng động. Tiếng còi nhỏ đi.

– Còi ở ngay góc phố. Mình phải xuống hầm công cộng. Hầm nhà không chịu nổi bom.

Từng chiếc bóng đen mang theo ba-lô với va-li hấp tấp xuống cầu thang. Một chiếc đèn bấm bật sáng soi rõ mặt Elisabeth trong giây lát. Một tiếng nói vọng đến: “Đến đây với chúng tôi nếu cô có một mình”.

– Cám ơn! Tôi không đi một mình.

Cửa lại mở, những bóng đen chạy xô vào cửa. Người ở trong nhà chạy túa ra ngoài như đứa trẻ đổ trong hộp đồ chơi ra một đống con chì. Trưởng xóm ra lệnh. Một người đàn bà mặc chiếc áo trong nhà bằng lụa đỏ chót tất tả chạy qua, tóc tung bay trước gió lộng. Những ông bà già rảo bước đi men bờ tường, vừa đi vừa nói, nhưng cảm tưởng như những cái miệng héo hon lặng lẽ nhai những lời nói đã tắt ngúm.

Hai người đến công trường, trước cửa hầm núp đông nghẹt người ồn ào. Trưởng xóm chạy tới chạy lui như những con chó chăn cừu, cố gắng lập trật tự.

Elisabeth có vẻ như ung dung không vội vàng. Graber đề nghị:

– Ta thử đi luồn phí bên cạnh lối vào.

Nàng lắc đầu :

– Đứng ở đây.

Đám đồng chảy cuồn cuộn như thác xuống hầm. Graber nhìn Elisabeth. Hầu như tất cả sự vật này không liên hệ gì đến nàng nữa.

– Cô can đảm thật!

Nàng đưa mắt nhìn Graber:

– Không, tôi sợ. Tôi sợ cái hầm.

Một người trưởng xóm la:

– Sao còn đứng đây! Chờ được giấy mời chánh thức mới xuống à?

Hầm rộng lắm, thấp và tối, có nhiều cột chống cho thêm chắc, có nhiều lối ra vào, lại có đèn sáng. Trong hầm có ghế dài, nhưng người ta mang theo nệm, mền, ghế xếp văn hóa… dần dần việc tổ chức cũng đem lại trật tự. Graber nhìn quanh với con mắt hiếu kỳ. Đây là lần thứ nhất y ở dưới hầm với dân chúng, lần thứ nhất y gần gũi với đàn bà con nít ở ngay tại nước Đức.

Ánh sáng xanh lơ làm mặt người nhợt nhạt, nom như một tốp người chết đuối. Người đàn bà mặc áo đỏ ngồi cách y không xa, áo đỏ ngả ra màu tím và tóc có ánh xanh xanh. Y nhìn Elisabeth. Mặt Elisabeth cũng hóa ra xám xịt, ngơ ngác, hai mắt sâu hoắm dưới hai cái hố tối đen, mớ tóc mất cả tươi sáng và trở nên mờ nhạt. Y thầm nghĩ: “Những người chết đuối, chết đuối vì dối trá và sợ sệt, họ bị xua đuổi xuống dưới lòng đất, họ trở nên thù ghét ánh sáng, thù ghét sự thật quang minh chính đại”.

Một người đàn bà ngồi thu hình trước mặt Graber với hai đứa con, hai đứa con nép vào lòng bà ta. Khuôn mặt hai đứa trẻ mất hết thần sắc, chỉ có hai mắt còn chút sinh khí. Trong ánh sáng mờ, những cặp mắt mở lớn quay ra phía cửa khi đợt súng cao xạ hoạt động ráo riết, trở lại đưa quanh trần nhà thấp, bờ tường bê-tông, rồi lại quay ra phía cửa. Hai đứa trẻ cứ theo tiếng nổ mà tìm chỗ đặt mắt nhìn. Đó là cặp mắt những con vật bị tê liệt hay bị sa bẫy, những cặp mắt vừa đưa nhanh vừa ngơ ngác phản chiếu đóm sáng ngọn đèn mờ. Hai đứa không nhìn thấy Graber, cả người mẹ với hai đứa con ngồi cạnh y cũng thế, chúng không còn sức lực để nhận ra ai, nói điều gì; trong người chúng vẫn có một sự chăm chú nghĩ đến cái nguy hiểm vô hình mà chúng không ý thức được, cái nguy hiểm đó có thể là một tiếng nổ dữ dội đem lại cái chết trong nháy mắt. Những đứa trẻ đã lớn rồi, chúng không thể không biết đến sự nguy hiểm, cũng không thể giả bộ can đảm vô ích, chúng sáng suốt nhưng chúng không có phương thế tự vệ…

Graber cũng nhận thấy thái độ đành chịu buông xuôi trong khi vẫn sáng suốt như thế không phải chỉ là thái độ của trẻ con; phần lớn những người thuộc thành phần dân sự ở trong hầm này đều để lộ thái độ ấy. Cặp mắt họ cũng thế. Khuôn mặt và thân thể họ ngay đơ ra. Họ lắng nghe bằng cả hai tai, bằng cái lưng khom, bằng hai đầu gối chụm lại, bằng hai bàn tay nắm chặt lấy nhau. Họ nghe ngóng, người ngay đơ không chút cử động, chỉ có hai mắt theo dõi tiếng nổ lúc dồn dập lúc thưa thớt như những mệnh lệnh ghê sợ.

Bây giờ Graber cũng bắt đầu lo sợ như họ.

Không biết có cái gì làm thay đổi luồng không khí nặng nề. Bề ngoài vẫn nổ ầm ầm nhưng trong có luồng không khí mát không biết từ đâu đưa lại. Những khuôn mặt đông cóng bắt đầu có chút sinh khí. Hầm núp không còn là viện bảo tàng trưng bày những hình sáp, bây giờ là những người trở lại cuộc sống và hy vọng. Mỗi cái mặt nạ dần dần trở lại mặt người, cặp mắt nọ gặp cặp mắt kia. Một ông già ngồi gần Elisabeth nói :

– Họ đi xa rồi.

– Họ có thể trở lại lắm. Đã có lần thế rồi. Bất thần họ trở lại vào lúc kéo còi hết báo động.

Hai đứa trẻ bắt đầu đứng lên ngồi xuống. Một người ngáp dài. Một con chó không biết ở đâu ra chạy quanh hầm dò dẫm. Thỉnh thoảng có người đã mở khăn gói lấy thức ăn ra. Một người đàn bà to lớn bỗng la lớn:

– Chết rồi! Quên tắt hơi bếp lò! Đồ ăn cháy thành than mất còn gì. Có thế mà anh cũng không nhớ!

– Bà đừng lo. Có còi báo động là người ta khóa hơi.

– Cũng không hơn gì, khi có hơi thì hơi lại xông ra khắp nhà. Còn khổ hơn.

– Không phải cứ báo động là khóa hơi, chỉ khi ném bom mới khóa hơi.

Elisabeth lấy trong bóp ra gương lược và chải lại mớ tóc. Cái lược nom như thỏi mực khô dưới ánh sáng xanh mờ, nhưng mớ tóc lượn sóng dưới bàn tay Elisabeth.

– Làm sao ra ngoài mau mau đi, ngồi đây như nghẹt thở!

Phải đợi chờ nửa giờ nữa. Rồi cửa hầm mở. Họ đứng dậy kiếm lối ra. Vài ngọn đèn bọc kín soi sáng mội cửa ra vào. Bên ngoài ánh trăng rọi xuống thềm. Bước đi mỗi bước, Elisabeth có cảm tưởng như mình hồi sinh. Quầng đen dưới hai con mắt biến mất, nàng không còn nước da chì, tóc nàng ánh lên tia sáng ấm nước da trở lại tươi tắn. Hầu như trời trả lại cho nàng cái xác phàm, mạnh mẽ hơn, rắn chắc hơn trước. Nàng hít một hơi dài, không khí trời đêm, như để vội hưởng chút an nghỉ trời dành cho.

***

Họ dừng lại trước cửa hầm. Elisabeth có cử chỉ rũ đầu phủi vai nhưcon vật bị nhốt lâu ngày vừa được thoát thân.

– Gớm! Sao mà tôi ghét những cái hố chung thế!

Nàng lắc đầu hất mớ tóc trên vai.

– Ngồi trong hầm như cái hang làm người ta nghẹt thở. Chẳng thà ở giữa đống đá vụn lại hơn, ít ra người ta còn thấy trời ở trên đầu!

Graber nhìn nàng mà phải khen thầm. Ra khỏi cái hầm bê-tông như lối vào âm ti, nàng có một vẻ mạnh bạo và man rợ khác thường.

– Có về nhà không?

– Thì hẳn rồi, biết đi đâu bây giờ? Đi thơ thẩn trong các phố tối tăm à? Tôi làm thế đã nhiều rồi.

Họ đi qua công trường Karl. Gió lộng quanh người như con vật quen thuộc.

– Cô không thể đi ở chỗ khác được thật à?

– Đi đâu được. Anh biết đâu có phòng không?

– Không.

– Tôi cũng vậy. Trong tỉnh này có hàng ngàn người không nhà. Tôi không biết đi đâu bây giờ.

– Hẳn rồi. Bây giờ đã muộn rồi.

Elisabeth đứng lại:

– Vả chăng tôi cũng không muốn đi chỗ khác, tôi có cảm tưởng như bỏ liều cha tôi.

Hai người lại bước đi, Graber đã bắt đầu khó chịu với cô gái cứng cổ và không quen này. Y nhọc mệt và xao xuyến, bất thần y cảm thấy như cha mình đang ở khu Haken chờ đợi mình đến.

– Thôi, xin từ biệt cô, tôi có hẹn với người ta giờ đã trễ rồi. Chào cô.

– Chào anh Graber.

Y nhìn theo nàng đi khuất vào trong tối. Y nghĩ thầm: “Đáng lẽ mình đưa cô ta về nhà thì phải”. Nhưng điều đó không quan trọng. Y nhớ lại hồi nhỏ y ác cảm với Elisabeth.

Y quay lại đi về hướng Haken. Phố xá vắng vẻ không một bóng người. Chỉ có ánh sáng trăng và sự yên lặng lạnh lùng của những nơi mới đổ nát. cảnh đổ nát đứng sững ngoài trời như vang âm của một tiếng kêu câm lặng. Sự yên lặng của nhưng cảnh điêu tàn cổ xưa thì lại khác.

***

Bottcher đã đứng trước thềm tòa thị sảnh. Trên đầu y, đầu một máng nước mưa hình con vật nhăn nhó dưới ánh sáng trăng.

– Anh có tin tức gì không?

– Không. Thế anh?

– Tôi cũng không. Chắc chắn là không có ở bệnh viện. Tôi đã đi gần hết các bệnh viện. Trời! Thật là thê thảm. Đàn bà, con nít, khác hẳn ở trại lính. Đi đâu uống chút la de đi.

Hai người đi qua công trường Hitler. Tiếng giầy vang trên hè phố.

– Lại mất toi thêm một ngày nữa. Chẳng còn bao lâu sẽ hết phép mà vợ vẫn không thấy.

Bottcher đẩy cửa một cái quán và kéo Graber vào một bàn gần cửa sổ. Màn cửa buông kín cẩn thận. Bottcher có vẻ quen biết quán này từ lâu. Người nữ chiêu đãi đem hai chai rượu ra, không đợi gọi. Y nom theo hút, cô gái to đồ sộ, mỗi bước đi người núng na núng nính.

– Thế là mình vẫn ngồi đây một mình, lúc này vợ mình cũng ngồi một mình ở một xó nào đấy, ít ra tôi cũng hy vọng còn được như thế. Như vậy có đáng hóa điên không?

– Tôi không biết. Nếu biết rằng cha mẹ tôi sống mà ngồi uống bia ở một nơi nào đó thì tôi cũng đủ sung sướng rồi.

– Thì đã hẳn. Cha mẹ khác vợ chồng. Cha mẹ thì chỉ cần biết còn mạnh khỏe là đủ, nhưng vợ thì còn phải…

Họ gọi hai ly khác và lấy thức ăn ra. Cô nữ chiêu đãi lượn quanh bàn dòm ngó xúc xích và thịt mỡ của họ. Bottcher uống một hớp lớn và nói giọng chua chát:

– Như anh cũng còn là may, anh chỉ việc ăn no rồi đi kiếm một cô gái điếm mà quên việc đời…

– Anh làm thế không được sao?

Bottcher lắc đầu. Graber nhìn y mà ngạc nhiên, y không ngờ anh lính già này trung thành với vợ như thế.

– Họ gầy gò quá. Cái khổ là tôi chỉ thích những người mập mạp. Tôi chẳng thiết nhưng người gầy gò, mình có cảm tưởng như ngủ với cái cán chổi vậy. Phải mũm mĩm mới được. Nếu không tôi chẳng thiết gì cả.

– Thế thì cô kia kìa. – Graber ra hiệu cho y ngó thấy cô nữ chiêu đãi.

– Lầm rồi, anh! Mập mạp cũng có năm bảy đường mập mạp! Đấy là miếng thịt đông núng na núng nính. Tôi không nói đến chuyện đẹp xấu vội. Cô này nom như cái gối nhồi chứ không như vợ tôi, một cái giường lò xo chắc chắn! Úi chà! Khi mà mụ ta nổi tam bành thì cả nhà rung chuyển như một cái quán lò rèn. Khung ảnh treo tường rung rinh! Một người như thế không phải cứ ra đầu phố là có ngay.

Y ngừng nói, ngồi mơ màng. Bỗng dưng Graber ngửi thấy mùi hoa tím thoang thoảng. Y tìm quanh thì thấy một chậu hoa để trên bờ cửa sổ. Hương hoa ngào ngạt tỏa ra từng đợt gợi lại mộng mơ, tuổi trẻ, kỷ niệm êm đềm xa xưa. Mỗi làn hương thơm lại làm y ủy mị và mệt nhọc như vừa đeo ba-lô trên lưng đi một quãng đường dài trên tuyết. Y đứng dậy:

– Anh đi đâu?

– Tôi cũng không biết nữa, cứ đi xem đến đâu thì đến.

– Anh đã đến trung tâm chưa?

– Rồi. Đã xin được chỗ ở trong trại.

– Được rồi, cố xin ở phòng 18.

– Đồng ý.

Mắt Bottcher dõi theo người nữ chiêu đãi mà không vui thích lắm.

– Tôi còn ngồi đây chút nữa. Cho ly nữa cô!

Graber thủng thẳng về trại, về đêm hơi lạnh, ở một góc phố, đường rây xe điện cong lên vì một hố bom. Mặt trăng tỏa ánh sáng trong xanh xuống cửa vào và cửa sổ những căn nhà đổ. Y nghe rõ tiếng vang bước đi của mình như có người đi sau. Cái gì cũng trống rỗng, lạnh lùng và sáng lấp lóe.

Trại ở một chỗ đất cao ven thành phố, còn nguyên vẹn, không có vết tích bom đạn. Cái sân trắng xóa dưới ánh trăng nom như phủ tuyết, Graber bước vào cổng. Y có cảm tưởng như đã hết phép rồi. Quá khứ như tan biến mất và bây giờ như trở ra mặt trận. Nhưng đây là một mặt trận khác hẳn, không có súng có bom, nhưng không kém phần nguy hiểm.

Hải hành mùa đại dịch

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 24 May 2026

Tôi có thói quen mỗi sáng tôi thường hay thức sớm, mở laptop gõ chữ ghi lại những chuyện xảy ra trong cuộc sống, nhưng từ đầu mùa dịch cho tới nay cái laptop cũng bị tôi cho “cách ly” nên tôi không gõ được chữ nào vô đó hết. Hôm đi làm lại, công ty định cho xuống chiếc tàu bên Tây Ban Nha nhưng không có chuyến bay qua Tây Ban Nha, công ty cho qua chuyến tàu bên Bỉ, hổng có xe lửa qua Bỉ, cho xuống chiếc ở Rotterdam, có xe lửa tới Rotterdam nhưng hổng có tắc xi xuống tàu, cuối cùng giám đốc lấy xe công ty chạy tới bến xe lửa chở tôi xuống tàu. Biết rằng ai cũng phải tuân thủ lệnh phòng dịch, nhưng có lẽ tại tôi suy nghĩ nhiều quá cho nên đầu óc khi thì trống rỗng, lúc thì nghĩ ngợi lung tung…

Tôi xuống tàu vào buổi trưa giữa tháng ba, thì ngay buổi chiều hôm đó tàu khởi hành. Chuyển một chuyến containers từ cảng Rotterdam, Hoà Lan, qua St. Petersburg, nước Nga. Thành phố có một thời rất đẹp và rất văn minh, nhưng bị suy tàn trong thời Cộng Sản và sau khi chủ nghĩa Cộng Sản Liên Xô xụp đổ đất nước này phục hồi lại cũng khá mau. Lâu rồi tôi chưa trở lại St. Petersburg, lần này trở lại, tôi dự định sẽ đổ bộ tham quan thành phố cổ kính của vài thế kỷ trước và muốn coi nó đã phát triển tới đâu rồi. Nhưng nhằm mùa dịch làm cho mọi sinh hoạt thay đổi hết, tàu vừa ghé cảng thì hải quan và công an xuống tàu, theo thủ tục trước kia, khi nhập cảnh nước Nga thì mỗi thủy thủ phải đứng sắp hàng cho công an nhìn mặt để đối chiếu với sổ thông hành. Nhưng lần này vừa xuống tàu họ phát cho mỗi người một khẩu trang, kêu mọi người mang vô, xong rồi mới đứng sắp hàng giữ khoảng cách đúng theo tiêu chuẩn phòng dịch. Khi bắt đầu làm thủ tục, một bà nhân viên cầm cái máy giống như cây súng ngắn cầm tay, nhắm thẳng vô trán từng người bấm thử nhiệt độ, sau đó mỗi người trình sổ thông hành và kéo khẩu trang xuống cho công an xem mặt, xong rồi kéo khẩu trang lên đậy miệng lại. Chuyến này họ xem giấy tờ rồi thôi, không cấp giấy thông hành cho thủy thủ như mấy lần trước nữa và dặn thuyền trưởng thông báo cho thuỷ thủ biết là không ai được phép lên bờ, kể cả thủy thủ người Nga.

Lên xuống hàng cảng St. Petersburg mất hai ngày, sau đó tàu quay trở về Rotterdam thì hợp đồng qua Nga cũng chấm dứt. Không còn hàng chở nữa, tàu phải chạy lại bến đậu chờ. Công ty có mười chiếc tàu mà đậu lại hết bốn chiếc, mỗi bến cặp nhau hai chiếc. Tuy tàu đậu chung một bến nhưng thuyền trưởng ra lịnh, thủy thủ tàu nào thì ở tàu nấy, không được qua lại với nhau và thủy thủ nào muốn lên bờ thì phải hỏi ông. Riêng tôi thì buổi sáng, buổi chiều hay đi dạo nên tôi nói cho ông biết trước để khỏi phải mỗi lần đi mỗi lần hỏi. Tàu đậu chờ nên công việc cũng ít bận rộn hơn, thủy thủ ngoài boong ngày nào cũng đục sét, sơn và rửa tàu, thợ máy thì lau chùi máy và hầm máy. Thuyền trưởng, thuyền phó chắc không có chuyện gì làm hay sao mà bày trò cho thủy thủ thực tập mỗi tuần hai, ba lần, hôm nay phòng cháy, chữa cháy, ngày mai tàu chìm, cứu người, ngày kia đề phòng cướp biển, ngày nọ khủng bố, tàu chở hàng mà làm như hải quân, ông bắt thực tập tìm chỗ đặt bom mìn và tháo gỡ bom mìn….

Chiều mùa xuân mát mẻ, mặt trời ngã xuống phương Tây, ánh hồng xuyên qua hàng cây dọc con đường bến cảng và toả chiếu lấp lánh mặt sông. Mặt nước dòng sông Nieuw Maas thật êm ả, bầy chim nhàn bay theo sau lái những chiếc tàu buôn ra vô hải cảng Rotterdam, có vài con chim no mồi bay lượn qua lượn lại giữa không gian thanh bình. Gió mơn man nhè nhẹ làm lòng tôi dâng lên niềm thương nhớ và cảm giác buồn buồn nhưng không rõ vì sao. Cái cảm giác mà lâu lắm rồi mới có lại trong tôi, có lẽ sự buồn bã không tên ấy là nguồn cảm hứng kéo tôi ngồi vào ghế và gõ vô phím chữ để bắt đầu ghi lại chuyến hải hành giữa mùa đại dịch đang bùng phát khắp địa cầu này.

Theo thuyền trưởng thì trên tàu phải vui vẻ, khoẻ mạnh để chống lại viruscorona, ông đề nghị đầu bếp mỗi Chủ Nhật phải làm tiệc thịt nướng (BBQ), thừa dịp Covid 19 và tàu đậu lại nên ông đề nghị cho có ngày nhất định, chớ thật ra những lúc tàu chạy, nhằm tháng biển im, trời đẹp thì tuần nào ông cũng đòi (BBQ). Lúc mới nghe chuyện tiệc tùng, ăn nhậu để chống viruscorona, người nào cũng vui vẻ hân hoan, thợ máy thì hì hục đục thùng phi ra làm lò nướng mới thay cho chiếc lò đã cũ, thủy thủ thì đập mấy cái pallet cưa ván thông thành cục nhỏ thay cho than. Tôi là đầu bếp lo chọn thịt ướp, sợ ăn hoài một thứ mọi người ớn, tôi luôn thay đổi cách ướp thịt, tuần này ướp kiểu Tây thì tuần sau ướp kiểu Tàu, kiểu Mỹ, kể cả ướp sả ớt theo kiểu Việt Nam, kiểu nào thì nước chấm đó và rau sống trộn sà lách. Thực đơn ngày nào cũng có bao nhiêu thứ thịt, cá, thịt dồi mà toàn là loại rẻ tiền, thịt bò, thịt cừu, dai nhách, thịt gà nhão nhoẹt. Đã vậy mà chiều nào sau khi xong việc cũng bia, rượu lai rai và cuối tuần ăn nhậu riết rồi ngoài thuyền trưởng ra không ai còn háo hức BBQ nữa. Thằng Edy đại diện cho thủy thủ In Đô vô nói với tôi:

– Chú đừng làm BBQ nữa.

Tôi nói:

– Thuyền trưởng đề nghị mà.

– Nhưng chú hổng làm cũng đâu sao.

– Có sao nhiều lắm chớ.

Tôi không muốn lôi thôi vì ba cái chuyện ăn uống nên hổng giải thích thêm, tôi nói:

– Ờ, để chú nói lại với thuyền trưởng coi sao.

Tôi đem chuyện nói lại với thuyền trưởng, tưởng nghe vậy ông cho ngưng món thịt nướng cuối tuần. Ai dè trong giờ ăn, khi thủy thủ tập trung đầy đủ trong phòng ăn, ông đi qua hỏi tụi nó coi có còn thích món thịt nướng nữa không? Thủy thủ In Đô không dám trái ý ông, nên đứa nào cũng nói thích. Chỉ có viên thuyền phó và thợ máy người Nga không đồng ý và lời qua tiếng lại sao đó mà mặt mài ông hầm hì đi vô bếp nói với tôi:

– Thủy thủ đứa nào cũng thích BBQ, chỉ có mấy thằng Cộng Sản Nga khùng, tụi nó không thích thì cho tụi nó nhịn.

Ông đưa tay làm dấu ngón cái và ngón trỏ ra chữ o, đưa lên môi chu cái mỏ hun cái chụt, ông nói:

– Bếp ướp thịt nướng ngon lắm, tôi rất thích món sốt chua, ngọt và thiệt cay.

Khi ông đi rồi tôi mới qua nói với đám thủy thủ:

– Tụi mày than với tao là ăn nhậu riết rồi ớn, tao mới nói lại với thuyền trưởng, nhưng khi thuyền trưởng hỏi thì tụi mày nói thích lắm. Vậy là sao?

Mấy đứa mặt mày bí xị, nói:

– Xin lỗi chú!

Thằng Edy lên tiếng:

– Thuyền trưởng hỏi vậy, tụi con cũng đâu biết nói gì khác chú.

Không muốn làm mấy đứa buồn lòng. Tôi cười nói:

– Nói chơi thôi, thuyền phó, thợ máy tụi nó nói còn hổng ăn thua gì nữa, nói chi lính lác như tụi mình. Đúng ra ngày Chủ Nhựt tao ra menu đơn giản, dành thời giờ nghỉ ngơi, nhưng tao làm suốt mà không thấy phiền, tụi bây chỉ có ăn nhậu thôi mà còn phàn nàn!

– Tại chú hổng ăn thịt, chú nói vậy.

– Vậy thì tụi mày đừng ăn thịt nữa, ăn rau trộn với mì xào hoặc cơm chiên cũng ngon mà.

Nói qua cãi lại vậy thôi, thật ra Chủ Nhật tuần nào từ thuyền trưởng cho tới thủy thủ đoàn, hổng thiếu mặt nào hết. Họ tụ tập xung quanh lò nướng bốc khói thông mù mịt, đầu bếp bỏ công ướp thịt và trang trí mâm thịt rất đẹp mắt, nhưng các người đem nướng khói thông làm thịt đen thui như da người Phi Châu. Vậy mà cả chục ký thịt sống, dồi tươi, rau trộn xà lách và một chảo hổng mì xào thì cũng cơm chiên, cả đám ăn một hơi sạch bách.

Dĩ nhiên tánh tình thuyền trưởng mỗi ông mỗi khác, nhưng viên thuyền trưởng nầy có phần đặc biệt, phải nói là kì cục. Hình như trong đầu ông ngoài chuyện lái tàu, giao tiếp với nhân viên hải quan nước này nước kia ra, phần còn lại chỉ có ăn, ngủ, còn chuyện làm tình thì hổng biết ông còn chấm mút được gì không? Vậy mà hể mở miệng ra là nói tục. Ông đã trên sáu mươi lăm tuổi rồi chớ còn trẻ trung gì đâu, ông ăn rau rất ít và bắp cải đỏ không bao giờ ông rớ tới. Còn thịt, cá thì loại nào ông cũng đớp láng, một ngày ông có thể ăn cả ký lô thịt và gà đúc lò ông nít hết cả con. Ít khi ông ăn sáng, nhưng mỗi lần ăn ông đòi ăn bốn năm cái trứng gà ốp la với thịt ba chỉ hun khói. Chiều ăn, uống xong ông lên phòng đóng cửa ngủ, thủy thủ muốn lên bờ đi dạo cũng không dám đánh thức ông dậy để hỏi.

Thường thì trên tàu muốn làm BBQ thì thuyền trưởng đưa tiền cho thủy thủ, đầu bếp hoặc đích thân thuyền trưởng lên tiệm mua than và mua thêm những thứ cần dùng mà trên tàu không có. Nhưng ông thì không chịu bỏ tiền ra mua gì hết, trên tàu có gì thì làm cái đó, ông bắt thủy thủ cưa mấy cái pallet bằng ván thông ra từng cục rồi đốt lấy than nướng thịt. Lần đầu tôi thấy ghê ghê nên tôi mới nói với ông:

– Cây thông đốt khói nhiều lắm, nướng ra thịt đen thui, ông ăn hổng sợ bị ung thư sao?

Ông day qua đưa ngón tay trỏ lên ra dấu tục, gặt một cái rồi cười khằng khặc và đưa cánh tay ra khoe cơ bắp, nói:

– Cả đời tui, tui ăn như vậy hoài mà có bịnh hoạn gì đâu, tui còn khoẻ hơn ông nữa, ông Bếp à!

Thật vậy tướng người ông không mập cũng không ốm, chiều cao cũng vừa phải, trông ông còn rất khoẻ và ăn uống còn mạnh lắm. Ăn xong buổi trưa thì vô bếp hỏi:

– Bếp, buổi chiều ăn gì?

Ăn xong buổi chiều thì ông lại ló đầu vô bếp hỏi:

Bếp, trưa mai ăn gì?

Đã vậy mà sáng vừa bảnh mắt thì từ trong phòng ông gọi điện xuống bếp chào buổi sáng và tiếp theo câu hỏi:

–  Bếp, buổi trưa ăn món gì?

Biết tánh tình ông như vậy nên sau mỗi bữa ăn, vừa thấy ông ló mặt vô cửa phòng bếp, không chờ ông hỏi, tôi nói ngay cho ông biết bữa ăn kế sẽ là món gì.

Đúng ra thuyền trưởng không nên làm như vậy, vì trên tàu bốn tuần lấy thực phẩm một lần với số lượng vừa phải, nhưng ăn uống như ông chỉ có ba tuần là thịt ngon hết sạch, một tuần còn lại thì ăn thịt vụn, rau đông đá và cá đóng hộp. Nhưng ông cũng biết vậy nên tuần cuối cùng đưa ra cái gì ông ăn cái đó, luôn cả cá kho khô, cá đóng hộp, mì gói ông cũng đốp hết và còn khen ngon. Thật tình mà nói, giữa mùa dịch trên thế giới nhiều nơi bị thiếu lương thực và nhiều người thiếu ăn, mà trên tàu ăn uống phung phí như vầy, xem ra có cái gì đó không đúng.

***

Dịch Vũ Hán có tên là Covid 19, cái tên nghe trẻ trung và đẹp đẽ nhưng lợi hại vô cùng! Mới đó mà đại dịch hoành hành hơn ba tháng rồi, làm cho khắp nơi trên thế giới này đảo lộn  hết. Ngày nào nghe tin tức cũng có hàng ngàn người chết vì mắc dịch. Mấy người quen trên Facebook thường cập nhật thì xem và biết họ còn khoẻ mạnh. Chớ những bạn bè khác thì đành chịu thôi, chẳng lẽ lâu lâu gởi email hỏi thăm hết một loạt, không khéo họ nghĩ mình trù ẻo thì phiền lắm. Xem ra cái mòi này thì con người ta khắp nơi trên thế giới còn lâu mới được Covid 19 buông tha.

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 24 May 2026

Dạo này, tôi thuờng về nhà bác Huế tán gẫu với bé Đông. Bé Hà chuẩn bị thi vào đệ thất. Tôi không phải dạy kèm cho nó. Chuyện ấy đã có bé Đông lo. Năm nay, bé Đông bắt đầu đảm trách công việc nấu ăn cho cả nhà. Nó nấu ăn ra vẽ thành thạo. Tôi xuống bếp cho nó sai vặt như lặt rau, thái thịt và sau cùng là thợ nếm. Vì gần lửa bếp, má nó hồng lên, hai bên cánh mũi tươm mồ hội và đôi môi mỏng mọng quyến rũ lạ lùng. Tôi nghĩ đến nụ hoa vừa hé nhụy trong làn sương đêm. Nó lườm tôi: “Nhìn chi dữ na? Mặt em dính nhọ hả?”

“Không.”

“Rứa sao nhìn?”

O đến tuổi cập kê rồi. Mai mốt anh giới thiệu cho o môt thằng bồ.”

Nó cú thùm thụp vào lưng tôi: “Anh nì nói nhảm!”

Tôi vui với vẽ hồn nhiên của nó. Đời sống bác Quảng rất chừng mực. Nhiều khi tôi có cảm tưởng chuyện gì bác cũng làm thco đúng thời khóa biểu, Cứ vài tuần, bác bảo tôi dẫn hai em đi chơi. Không phải con bác còn bé đến mức tỏi phải đìu dắt. Ý bác muốn có tôi bên cạnh cơi chừng kiểm soát bé Đông. Bác biết con bác bây giờ là mục tiêu dòm ngó của bọn con trai. Trong rạp, tôi và bé Hà ngồi phòng thủ hai bên bé Đông.

Bé Hà nói: “Ai thò tay qua chị Đông, em véo sứt da.”

Nghe thế, bé Đông cười. Nó biết nó đẹp. Chuyện phim là một mối tình trái ngang đầy nước mắt. Có những cảnh trai gái quyện vào nhau hôn đắm đuối. Lòng tôi rạo rực. Tôi lần tay tìm bàn tay bé Đông, vuốt ve. Nó để yên. Ban tay mềm và ấm. Trong ánh sáng mờ mờ hắt xuống từ màn ảnh, tôi thấy nó nghiêng đầu nhìn về phía tôi. Tôi nghĩ đến bàn tay Phương Nghi …

Trên đường về, nó hỏi: “Anh còn nhớ chị Phương Nghi không?”

Tôi nói: “Còn.”

Nó quay đầu hất mái tóc bùng tạt qua, che một bên má. Nó ngó hướng khác.

Tôi hỏi: “Phương Nghì có nhắc gì về anh?”

Nó vùng vằng: “Không biết!”

Tôi kên; “Ơ … cái o này lạ chưa?”

Bé Hà đòi di ăn kem. Tôi dẫn hai đứa vào tiệm Tuyết Viên. Nó ngồi nhìn ly kem, không ăn. Giận dỗi điều gì. Tôi và bé Hà chia nhau, ăn luôn phần của nó. Ngày rằm, bác Huế dẫn tôi và Đông, Hà đi chùa. Bác quỳ truớc bàn thờ Phật, cầu nguyện rất lâu. Đông, Hà vào chánh điện ngắm Phật một lúc, rồi bỏ ra ngoài đi vơ vẫn. Tôi đi tìm sư Trí Tâm. Sư vừa làm lễ xong, đang dứng hóng gió sau chùa.

Tôi đến sau lưng sư: “Chào chú.”

Sư quay lại: “Con đi một mình hay với ai”

“Với mẹ con bác Huế.”

Lúc dó, hai con bé cũng vừa tới, chắp tay lễ phép chào.

Sư hiển từ nhìn bé Hà; “Con học tớp mấy?”

Bé Hà thưa: “Con học lớp nhất.”

Quay qua bé Dông, sư hỏi: “Còn con?”

“Bạch thầy, tựu trường năm ni con lên đệ ngũ.”

Sư bảo: “Ngoan lắm. Hai chị em vào nhà trai ăn trái cây

Hai đứa đì về hướng nhà trai.

Sư nhìn theơ: “Đứa chị lớn rồi, Con phải giữ gìn.”

Tôi nói: “Con vẫn dòm ngó, không để nó sa ngã vào đường tình với ai.”

“Chú muốn nói, con phải giữ gìn ý tứ của con.”

“Ý tứ của con? Lúc nào con cũng coi tụi nó như em,”

Sư ngước nhìn trời cao, im lặng. Tôi dứng sát vào sư, cảm thấy bình yên. Sư có cái phong thái thanh cao. Gần sư, lòng tôi hướng thượng. Một lúc sau, sư nói bâng quơ như không phải nói với tôi:

“Con trai thì nhiều phiêu lưu, trong khi con gái mang nhiều ảo tưởng,”

Khi chúng tôi sắp về, trời nổi cơn giông. Gió thốc vào chánh điện. Cơn mưa bất chợt như chực sẵn từ lâu lắm. Trời nhá nhem bóng tối. Bác Huế nói: “Cũng phải về thôi. Mưa trái mùa như ri, không dể tạnh.”

Tôi ra đường gọi xích lô. Bác Huế và bé Đông ngồi chung một chiếc. Tôi với bé Hà ngồi chung một chiếc. Phía trước xich lô căng tấm bạt che mưa, kín bít bùng

Bé Hà thích thú: “Xe chay tròng trành như như đi ghe trên sông.”

Toi đoán xich lô chạy rất nhanh. Bỗng xe thắng gấp, ngừng lại. Người phu mở tẩm bạt. Đây là ngã sáu, Nhà thờ Núi chênh vênh trên đổi. Mưa vẫn không ngớt. Dưới ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn đường, tôi thấy bác Huế và bé Đông lóp ngóp bò ra khỏi chiếc xích lô lật nghiêng. Tôi chạy lại đỡ bác Huế. Bé Đông vịn vào tôi, đứng lên nhăn mặt. Gió thổi mạnh. Quần áo nó đính sát vào người. Thân thể lộ những đường cong dậy thì. Nhớ lời sư Trí Tâm, đứa chị lớn rồi …

Người phu của chiếc xích lô bị lật, nói: “May là không sao cả.”

Bác Huế nói: “Cái chân của tôi đau lắm, mà nói không sao à?”

Hai chiếc xích lô tiếp tục khoảng đường còn lại. Tôi dìu bác Huế vào nhà. Bác bị trặc nơi mắt cá chân trái, không di được. Toi thoa bóp dầu nóng chổ đau cho bác nằm nghỉ. Bé Đông ngồi ôm chân, rên rỉ. Bác Quảng vén ống quần nó lên. Đầu gối rướm máu, do trượt xuống mặt dường. Bác sát trùng bằng cồn và thoa thuốc đỏ. Nó giẫy tê tê. Chân nó thon dài trắng mịn. Cái chân ngọc ngà gợi cảm, làm nổi lên những dục vọng thấp hèn trong lòng người khác. Tôi quay đi, giã vờ không để ý. Bác Huế nằm trên chiếc băng dài, nhìn tôi. Hình như trên môi bác thoáng nụ cười chế giễu Có phài bác bắt gặp trong mắt tôi. một chút tà tâm vừa dấy?

Sinh nhật bé Đông, tôi mời anh Hòa đến chơi nhà hai bác Huế Quảng. Hai bác đã nghe tôi nói về anh, nhưng chưa biết. Đây là dịp để tôi giới thiệu. Sau những lời xã giao với hai bác, anh Hòa chúc bé Đông mọi điều tốt đẹp. Anh mừng tuổi nó bằng cặp viết Parker. No mừng ra mặt. Trong nỗi mừng vui, nó hồn nhiên như một đửa trẻ. Tôi tặng bé Đông xân chuỗi xinh đẹp làm bằng những con ốc nhỏ. Mọi người đang ăn bánh sinh nhât, và tán gẫu. Bé Đông nói: “Em có món quà tặng anh Hiên.”

Tôi hỏi: “Món gì?”

Nó không trà lời, làm ra vẽ bí mật, đi lên tầng gác. Tôi lên theo. Nó mở chiec cặp, lấy ra hai chiếc khăn tay. Khăn màu trắng viền chỉ hồng. Nơi góc chéo có thêu một bông hoa nhỏ.

“Khăn ni em thêu trong giờ nữ công.” Nó nói.

Tôi cầm chiếc khăn giơ lên: “Anh chẳng bao giờ dùng khăn tay.”

Nó ngỡ ngàng.

Tôi hiết lỡ lời, vội bào chữa: “Anh muốn nói tính anh lơ đãng … “

“Thôi, không cho nữa.” Nó giật lai chiếc khăn trên tay tôi.

Giận hả?” Tôi đặt bàn tay lên vai nó.

Nó hất ra: “Không dược chạm vào người tôi!”

“Coi kia, cặp mắt lườm lườm thấy mà ghê !”

Nó mim môi, ngoảnh mặt.

Tôi đi xuống nhà.

Bác Huế hỏi: “Anh em to tiếng chi rứa?”

Tôi nói: “Nó giận con.”

Bác bảo: “Tính con nở vẫn rứa.”

Anh Hoà và tôi về lúc mười giờ tối.

Anh hỏi: “Hiên nghĩ thế nào về Đông?”

Tôi nói: “Nó như dứa em hay dỗi.”

“Đơn giản thế à?”

“Chứ còn gì nữa?

Bao giờ tôi cũng coi bé Đông như người em ruột thịt. Với tất cả mọi người, tôi cũng khẳng định diều đó. Anh Hòa nhún vai, nghi ngờ. Sau lần cầm tay bé Đông trong rạp ciné, sau lần nhìn thấy cái chân thon dài trắng muốt, hình ảnh nó chen vào giấc ngủ tôi. Trong mơ, không thể kiểm soát được hành động của mình. Tôi thấy tôi hôn nó trên tầng gác nhà bác Huế, nhưng khi nó ngẫng lên thì hóa ra là khuon mặt Phưong Nghi. Giấc mơ chấp nối kỳ quặc vô lý. Thình thoảng, tôi cũng mơ thấy ăn nằm với chị Triều. Lần nào cũng bi xuất tinh. Theo y lý Đông Phương, đây cũng là một thứ bệnh kín của đàn ông. Mộng tinh như thùng đầy mà tràn, hượt tinh như thùng nghiêng mà đổ, di tinh như thùng lủng mà chảy, Tôi xấu hổ không dám tỏ cùng ai. Soi gương, thấy mặt tại tái như màu đất sét khô, đôi mắt lờ đờ bệnh hoạn. Tuy thế, tôi vẫn âm thầm muốn lập lại giấc mơ nhục cảm với chị Triều.

Anh Hòa thấy tôi xuống sức, bảo đừng thức khuya quá, có hại sức khỏc. Anh đâu biết những đợt sóng ngầm trong da thịt, trong tâm hồn tôi ngày đêm xói lở.

Huế ơi!

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 24 May 2026

… Người ta đã bán Huế của tôi với những đồng tiền rẻ mạt. Buổi sáng nay, giữa chút không khí giá lạnh còn sót lại của mùa Xuân, tôi không khỏi nhớ lại chốn quê nhà. Đó là Huế của tôi, quê hương nghèo đói khó khăn, nằm trên cái đòn gánh èo uột, yếu đuối giữa hai miền Nam Bắc, nơi đã gánh chịu thời tiết khắc nghiệt, bão lụt triền miên và tai ương của số kiếp. Tôi đã bỏ nơi ấy ra đi, không phải mãi đến năm 1975 khi mà những gì biểu tượng cho sắt máu, tang tóc và hãi hùng phủ lên quê hương của tôi, mà từ khi khôn lớn, tôi hiểu được thế nào là sự nghèo đói, đơn điệu và buồn bã của xứ sở mưa buồn mà tôi phải đành lìa bỏ, không một mảy may ngậm ngùi thương tiếc. Có ai cắt nghĩa được vì sao, bây giờ xa cách nghìn dặm, mỗi lần nghe làn điệu ca cổ của những mảnh đất đã được đổi bằng sự hy sinh của một nàng công chúa đời Trần mang tên Huyền Trân, hay những bài tân nhạc chất chứa chút hơi hám dân ca trĩu nặng lời tả oán mất nước của dân Chiêm, lòng tôi lại buồn phiền thương nhớ đến ứa lệ. Có phải chăng, vì nơi đó tôi đã để lại những nỗi vui buồn của một thời trẻ dại, để lại quê hương nghèo đói, để lại nắm mộ của ông bà, tổ tiên hay những thành quách cung điện đã rêu phong của tiền nhân để ra đi biền biệt. Câu nói “Huế bây giờ không phải là Huế của ngày xưa”, câu nói sáo mòn đó không những là cảm nghĩ của riêng tôi mà cũng là ý nghĩ của những người đã nặng lòng vì Huế. Sự tàn phá của thời gian và tai họa của đất trời, nếu có, cũng không thay đổi được một mảnh đất bằng sự thay đổi của một chế độ cầm quyền, nó muốn biến một thành phố thành một món quà biểu diễn lập trường, tô vẽ nơi đó thành một món hàng có thể kiếm chút lợi nhuận, hay muốn chứng tỏ chút quyền uy cục bộ bằng một mảng vôi mới quét hay một nét vẽ vụng về trên những di tích của cha ông.

Sau tám năm trời lưu đày trên chính quê hương của mình, tôi trở lại Huế với tấm lòng xót xa của một người không giữ được Huế. Tôi thấy Huế nghèo hơn, xót xa hơn, lạnh lùng và nghi kỵ hơn. Tôi đi trên những con đường cũ, qua những con phố cũ, ngang những ngôi nhà cũ nhưng thấy mình lạc lõng và cô đơn. Tôi ít gặp người quen, hay những người quen với những đôi mắt xa lạ. Con đường ngang qua cửa Ngọ Môn mà ngày xưa, trên đường đến trường học, ngày hai buổi tôi vẫn thong dong qua lại, ngày nay phơi bày những nét tàn phai, đổ nát. Cổng thành cũ đã trở nên những phòng chiếu những cuốn phim đen trắng đã theo ngọn gió chủ nghĩa đến từ những xứ Bắc Âu hay Liên Xô xa xôi. Những khẩu hiệu thấy nghe đến nhàm chán, sặc màu đỏ giăng mắc đó đây cùng những chiếc loa khuếch âm vang lên những âm thanh chua lè, dọa nạt. Đàn Nam Giao, nơi ngày xưa các vị Vua triều Nguyễn dùng làm nơi tế Trời Đất thì thấy sừng sững một đài “Tổ Quốc Ghi Công” những xác chết đã rải rác từ Bắc chí Nam trong vòng ba mươi năm để “hồ hởi” cống hiến cho đất nước cái ngày buồn thảm hôm nay. Ngày nay vào thời mở cửa, thì cũng nơi ấy, cờ xí rợp trời, chiêng trống vang lừng, người ta đang dựng lại hoạt cảnh tế Nam Giao để làm thỏa lòng du khách. Ngày xưa thuyền Rồng chỉ dành cho các bậc Vua Chúa, đâu có tới phần dân gian, bởi vậy mới có câu:

“Một đêm nằm tựa thuyền rồng

Cũng bằng muôn kiếp nằm trong thuyền chài.”

Bây giờ trên sông Hương, đâu cũng thấy thuyền Rồng, mà sang trọng gì cho cam, đó chỉ là hai miếng gỗ được sơn vẽ đầu rồng sơ sài, kẹp hai bên đầu thuyền. Phải đi xa hơn mới tìm lại được một chiếc thuyền chài để lòng vương một chút u hoài:

“thuyền ai thấp thoáng bên sông,

đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non”.

Những Huế Festival được dựng lên với ánh đèn màu, nhung lụa và nhan sắc xem chừng quá xa lạ với cảnh nghèo nàn nghìn năm của những người dân cố đô. Trên sân khấu đã đổi thay nhiều lần, mới lạ, đẹp đẽ sang trọng hơn, nhưng dưới sân khấu, trên bãi cỏ kia, người xem vẫn là những bà con đói nghèo, hốc hác và lam lũ của tôi ngày nào. Và những linh hồn oan khuất của Huế chưa được một nén hương an ủi hay một ngày giỗ chung. Có một điều gì đó mỉa mai, cay đắng giữa những thú vui chơi, trình diễn với những đau đớn, cam chịu của một kiếp người. Huế có tô son điểm phấn, cài hoa thì cũng loại sân khấu diễn tuồng về làng nghèo quận nhỏ hay một loại đám cưới chạy tang. Ngày hội qua mau, xiêm y, nhạc nhã như một giấc mộng thần tiên lướt đi, hình như nó không liên quan, gắn bó gì với người và cảnh đời héo hon. Những anh “bộ đội” mặt búng ra sữa sau những ngày chiếm Huế năm 1975 có thể vui đùa hí hửng ngồi trên ngai vàng trong điện Thái Hòa, nhưng những người đã một lần bỏ nước ra đi, những tay khoa bảng hay những kẻ có chút học thức, xu hào rủng rỉnh, không thể đòi đóng vai Hoàng Đế, Hoàng Hậu với những xiêm y, trang sức, phong cảnh của phường chèo, trông nhếch nhác vô văn hóa tới mức độ làm cho người ta phải đau lòng, nhăn mặt. Người ta đã bán Huế của tôi với những đồng tiền rẻ mạt. Người ta đã xây lại Huế của tôi bằng những màu sắc của chất phẩm đỏ xanh trong những phiên chợ Tết ngày nào với những con vật nắn bằng bột gạo sơn phẩm màu bày trên cái mẹt rách của những bà mẹ quê nghèo đói. Người ta đã có dự án xây một khách sạn trên đồi Vọng Cảnh (Belvédère), nơi mà từ đó có thể nhìn toàn cảnh sông nước của kinh đô Huế mà không xót xa gì đến vẽ mỹ quan cũng như những di tích lịch sử mà từ nghìn đời nay, những người có văn hóa, có liêm sỉ không ai dám làm. Bây giờ ông Bộ Trưởng Văn Hóa CSVN lại hoan nghênh, cổ vũ cho ý kiến mua xây một cái khách sạn trong Hoàng Cung nữa thì không còn gì để nói. Phải chăng di tích lịch sử, văn hóa dân tộc đều là những thứ mà quốc gia nào cũng lấy đó để tự hào, hãnh diện thì đối với những người Cộng Sản người ta có thể đem bán công khai, miễn kiếm được đồng đô la béo bở. Chế độ này đã bán tất cả từ sông núi của cha ông, từ trinh tiết của gái vị thành niên, cơ bắp của người dân lao động, danh dự, nhân cách của con người, sá gì là Huế của tôi. Những ấn tượng về lửa cháy ngày thất thủ kinh đô năm xưa, về những ngày Mậu Thân tanh mùi máu, về oan khuất của những ngày lui binh trên cửa biển Thuận An làm cho những con dân Huế càng xót xa, thương cảm cho mảnh đất này hơn bao giờ hết. Tôi thương Huế từ trong máu tim của mình. Tuổi trẻ tôi đã nghe được mùi của nước sông, đã nghe mùi rơm rạ nấu bữa cơm chiều, mùi củi cháy trong gian bếp nhỏ, mùi khói ai đốt cỏ trên cánh đồng. Tôi còn nghe được mùi mưa những chiều đông rét mướt trên đường đi học về. Trong ấu thơ của chiến tranh nghèo đói, tôi còn nghe được mùi nắng khét của da con trâu mà tôi đang ngồi trên đó. Rồi mùi của mớ bắp rang đang nổ rộn ràng trên bếp lửa, mùi cơm gạo mới, mùi nồi cá kho mới bày ra trên mâm buổi cơm chiều. Đó là tất cả những gì thuộc về quê hương, một quê hương xa tắp, chẳng được gần mà cũng mờ nhạt cùng năm tháng. Huế để lại trong lòng tôi những ngày hè áo trắng và màu phượng đỏ, Huế cho tôi những chiều trên chuyến đò ngang, những đêm trăng ướt sương trên sáu nhịp cầu Trường Tiền, Huế cho tôi những câu hát điệu hò gần như những tiếng ai oán của một thời vong quốc, ngày xưa là Đồ Bàn di hận, ngày nay là cuộc đời lưu lạc tha phương.

Có lẽ không bao giờ tôi trở lại Huế nữa. Huế bây giờ không còn là Huế của ngày xưa. Đền đài rêu phong, thành quách đổ nát. Huế không còn người cũ, chỉ là cảnh xưa xót xa hoang tàn và vô hồn. Huế ơi!

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 24 May 2026

Những ai đã đọc Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng đều không quên được nhân vật bà Phó Đoan, một người đản bà lấy chồng Tây, đã hai đời chồng và cực kỳ dâm đãng nhưng lúc nào cũng tỏ ra là một quả phụ gương mẫu. Xuân Tóc Đỏ đã biết cách che đậy tội lỗi cho bà Phó Đoan, sau khi hiếp dâm y thị, đã biết cách vận dộng nước Xiêm La để xin cho Phó Đoan một cái bằng “Tiết Hạnh Khả Phong” để che mắt thiên hạ. Câu chuyện này mia mai không khác gì việc Cộng Sản Việt Nam, một quốc gia tàn bạo trong việc tước đoạt quyền làm người của dân chúng, đản áp dã man, bắt bớ tù đày những tiếng nói bày tỏ bất đồng chính kiến mới được vào Hội Đồng Nhân Quyền LHQ.

Tin từ New York, ngày 12 tháng 11-2013, Việt Nam đã đắc cử vào Hội Dồng Nhân Quyền LHQ với số phiếu cao nhất trong số 14 nước thành viên của Hội Đồng, Bản tin từ VNexpress cho rằng “đây là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế về việc bảo đàm quyền con người được thực hiện càng ngày càng tốt hơn tại Việt Nam.”

Có thật như vậy không? Trước đây, theo lời ông Ruperl Abott của Hội Ân Xá Quốc Tế, Việt Nam đang có nhiều cơ hội để vào Hội Đồng Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc (United Nations Human Rights Council.) Đây là một tổ chức trực thuộc Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc chịu trách nhiệm giám sát việc thực hiện các công ước về nhân quyền của các nước thành viên, Việc thành lập Hội đồng Nhân quyền là một trong những hành động nhằm cải tổ Liên Hiệp Quốc và các tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc; khi Ủy ban Nhân quyền (CHR) giải tán từ năm 2005, bị nhiều chỉ trích rằng đã để những quốc gia có nhiều hành động phi nhân quyền làm thành viên và thao túng Ủy Ban. Ông Rupert Abou cũng nói rằng, như Việt Nam, trước đây cũng có những quốc gia “không tử tế với nhân quyền” cũng vào được tổ chức này. Không phải bây giờ mà từ những năm về trước. Nhân Quyền LHQ đã mang tai tiếng vì những quốc gia đàn áp nhân quyền nhất trên thế giới lại có ghế trong tổ chức này. Một bải xã luận của tờ New York Times ngày 26/02/2006 cũng đã gọi Ủy ban Nhân Quyền là “một nổi nhục của Liên Hiệp Quốc,” vì năm 2003, Libya dưới quyền cai trị sắt máu của Đại tá Gaddafi, người được Tổng Thống Mỹ Reagan gọi là “con chó điên của Trung Đông,” đã được bầu làm Chủ tịch Ủy Ban. Ngày nay, Ủy Ban Nhân Quyền LHQ đã duợc gia tăng quyền lực để trở thành Hội Đồng Nhân Quyền, năm nay lại thêm sự hiện diện của Việt Nam, một khuôn mặt đàn áp nhân quyền có hạng. Chuyên gia cùa Amnesty International này cho rằng:

“Việt Nam dã nhanh chóng biến thành một trong những nhà tù lớn nhất thế giới tại Đông Nam Á, giam cầm những người bảo vệ nhân quyền và những nhà tranh dấu khác.” Trang lúc đó Human Rights Watch cũng kêu gọi Việt Nam tỏ ra xứng đáng với chiếc ghế của Hội Đồng Nhân Quyền, bằng cách phóng thích 10 tù nhân chính trị.Ông Võ Văn Ái dã phát biểu tại khóa họp lần thứ 42 của Hội Đồng Nhân Quyền đã nhắc lại chuyện sau khi Trương Tần Sang đi gặp Tổng thống Obama về thì tình hình nhân quyền bước sang một giai đoạn mới, cộng an không từ bất cứ hành động côn đồ nào để đàn áp tinh thần của những nhà bất đồng chính kiến và các nhà hoạt động nhân quyền. CSVN đã ra thông báo về Nghị Định 72 hạn chế quyền tự do thông tin trên internet, đi ngược lại cam kết của họ với quốc tế .. Họ cũng đã bắt bớ giam cầm 49 bloggers để khóa miệng tự do, ngôn luận. Hồi tháng 6 -2013. Dân hiểu Anlhony Bymc lên tiếng tại quốc hội Úc về tệ nạn nhân quyền tại VN, ông đòi hòi “các sinh viên trẻ phài có quyền phàn đối mà không bị cầm tù, đánh đập, không thể bị bắt bở vô cớ. Những điều nay đang tiếp diễn tại Việt Nam. Chinh quyền Úc không thể cứ bàn thảo đối thoại với Việt Nam mà không tiếp tục nêu lên những vấn nạn trên.” Có thể nào một quốc gia thành viên của Hội đồng Nhân Quyền LHQ lại đàn áp người dân của họ phổ biến bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền của LHQ?

Nếu Việt Nam vào dược Hội Đồng Nhân Quyền LHQ thì chẳng khác gì chuyện “Sáu Búa” Lê Đức Thọ, một tên tội phạm chiến tranh lại được giải Nobel Hoà Bình năm 1973 sau khi dưa quân vào cưỡng chiếm miền Nam, đem 200.000 quân Bắc Việt vào chiếm đóng Kampuchia 10 năm, đánh qua cả đất Thái Lan, giết cả Trường Chinh và cô lập Hồ Chí Minh, đến nỗi Tồn Đức Thắng cũng phải thốt lên:

“ĐM! Tao cũng sợ nó!”

Trước dây. Trần Quốc Hoàn, tên Bộ trưởng Công an đầu tiên xuất thân là một tên tù hình sự, được Trường Chinh nâng đỡ với vai trò trùm công an đã cùng Phạm Hùng, Võ Văn Kiệt, Đỗ Mười, Lê Duẫn, sau năm 1975, thực hiện chính sách cuớp doạt tài sản của nhân dân miền Nam bằng chiến dịch đánh tư sản, đẩy dân chúng miền Nam đi kinh tế mới, đổi tiền, xua người ra biển cả, thì lại được đảng Cộng sản tuyên dương thành tích năm 1978 như sau: “Đồng chí Trần Quốc Hoàn là một tấm gương xuất sắc trong việc thúc đẩy ổn định kinh tế chính trị, xã hội sau năm 1975. Chính đồng chí trực tiếp lãnh đạo thành công việc “sắp xếp ốn định an ninh trật tự trong việc di dân đi kinh tế mới và cải tạo công thương” thông qua chiến dịch XI và X2 … “

Bản tuyên dương này cũng mang máng như một lời khen ngợi “tiết hạnh khả phong” của bà Phó Đoan ngày nào, chẳng khác chi Ủy Ban Nobel Na Uy trao giải Hòa Bình cho Lê Đức Thọ và chẳng mẩy chốc Cộng sán Việt Nam, như Libya ngày trước sẽ nắm chức Chủ Tịch, ngày nay không còn la Ủy Ban, mà là Hội Đồng Nhân Quyền LHQ.

Nhiệm vụ của Hội Đồng Nhân Quyền là chịu trách nhiệm giám sát việc thực hiện các công ước về nhân quyền của các nước thành viên. Trong trường hợp này, liệu trọng tài có thối còi khi cầu thủ vi phạm luật chơi và một người có thể nhận cả hai vai trò, vừa là kẻ móc túi, vừa đóng vai cảnh sát trị gian hay không?

Việt Nam! Tại sao?

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 23 May 2026

Phan Nhật Nam

Lời Người Viết:

Vào buổi “ngoại cuộc” (không phải trong nghĩa chính trị “Bên Thắng/Bên Thua Cuộc”) thanh thản cuối đời, nhân đọc Thơ Haiku của Nhật (bản dịch tiếng Mỹ) thấy điều thú vị nên chấp bút bài viết phiếm đàm giữa thơ Haiku của Nhật và Lục Bát Việt Nam. Nhưng lần hồi, nhận ra tiếp, vấn đề không chỉ là chuyện văn chương, thi ca mà có tầm quan trọng, tổng quát hơn, liên hệ đến Sinh Mệnh/đúng ra là Vận Mệnh của Dân Tộc Việt. Vấn đề lớn quá, người viết biết rõ bản thân chỉ là một Người Lính Già (rất già) của một quân đội thất trận từ 51 năm trước, và hiện là một thứ dân hạng thấp nhất của xã hội Mỹ xét về tiêu chí sinh lợi. Nhưng dẫu gì, cũng là một “Con Người/Người Việt Nam” nên cố gắng tìm cho ra lẻ (đối với bản thân), chứ không ai khác. Người Đọc có thể không đồng ý về những điều sẽ trình bày nhưng chắc phải nhận ra điều THẬT – Cũng bởi Sự Thật chỉ có Một.    

Dẫn Nhập:

Hình như người Tây Phương (điễn hình, cụ thể người Mỹ) trước đây có phần “khớp” đối với người Nhật (như hiện nay, Thế Kỷ 21 (Trước thời kỳ Donald Trump) đối với Tàu cộng). Theo nhận định (từ chủ quan cá nhân), có lẽ do “mặc cảm có tội” về vụ hai quả bom nguyên tử thả xuống Nagasaki và Hiroshima trong tháng 8/1945; nhưng đồng thời cũng “ngán” người Nhật từ vụ tấn công Trân Châu Cảng (7/12/1941); lần kỹ nghệ, khoa học, tài chánh Nhật bộc phát vượt trội trong thập niên 1960’s. Riêng về lãnh vực văn hóa-nghệ thuật thì loạt phim ảnh với “chủ đề” như Rashomon; Bảy Người Hiệp Sĩ… rõ ràng hơn hẳn loại phim xanh đỏ màu mè của đào kép Hollywood, Paris trong thập niên 50, 60 của thế kỷ trước. Cuối cùng, điện ảnh Âu Mỹ (xin lỗi) phải dựng nên loại “người hùng” kiểu OSS 117; 007, Superman, Người Dơi, Người Nhện… chỉ với một cây súng ngắn đánh tan kẻ thù đông đúc có xe tăng, máy bay, hỏa tiễn yểm trợ từ bàn rượu ở New York, sòng bài Monaco đến Bắc Cực mà chiếc sơ-mi trắng không vết dơ, lại luôn có một cô gái sexy bên cạnh! Chiến sĩ Rambo một mình với hai tay hai súng đại liên đánh tan một tiểu đoàn Vi-xi! Cộng sản Hà Nội, Lộc Ninh không chết vì sặc cười kể cũng lạ. Chuyện tư bản Âu Mỹ với tài phiệt Nhật, cộng sản Tàu không nằm trong nội dung câu chuyện muốn trình bày.

Trở lại ý chính của bài viết, người viết (lại) thấy ra: Văn học-Nghệ thuật Người Việt thật ra không kém cỏi so với thế giới. Tất nhiên, VN không (thể) có được Tứ Thư, Ngũ Kinh; Đại tác phẩm như Tam Quốc, Thủy Hữ… của văn hóa Hán Tộc 5000 năm; VN cũng không (thể) có Chiến Tranh và Hòa Bình, Anh Em Nhà Karamozov… của Đế Quốc Nga rộng lớn (nhất địa cầu). Nhưng với văn chương bình dân, đại chúng thì Người Mẹ trong thơ Lưu Trọng Lư, văn Thanh Tịnh trước 1945; nhạc Phạm Duy, Y Vân, Duy Khánh sau 1954 ở Miền Nam… không kém kịch tính, cảm xúc so với bất kỳ Người Mẹ nào của văn học-nghệ thuật thế giới. Không kể loại “Mẹ cách mạng giải phóng với lựu đạn dấu trong lưng quần” của đám văn công Việt cộng trong chiến tranh gọi là “chống Mỹ cứu nước (1960-1975); hoặc “mẹ ngồi dưới hầm sâu” tại Phú Nhuận, Tân Định, Sàigòn trong “Đại thắng mùa Xuân 1975” của nhạc Trịnh!

Tóm lại, có thể nói Người Mẹ Nga của Gorky không “Đau” hơn Người Mẹ Gio Linh của Phạm Duy cho dù chung chịu cảnh cùng khổ thương tâm. Người Mẹ VN cũng tìm thấy rất nhiều trong lần trong Mậu Thân, Huế 1968, trên Đại Lộ Kinh Hoàng, Quảng Trị, nơi Trường Trung Học Bình Long, An Lộc, 1972; trên đường di tản từ Cao Nguyên Trung Phần sau lần Ban Mê Thuộc bị quân cộng sản Bắc Việt đánh chiếm (10/3/1975)… Mẹ Việt Nam còn thấy trôi lềnh Biển Đông, xác rãi dài đường bộ vượt biên sau 30/4/1975. Nỗi Đau không của riêng Ai! Ở miền Bắc, trong mật khu “giải phóng” miền Nam không thiếu Mẹ có sáu đứa con, ảnh năm con xếp hàng trên bàn thờ, thằng út quá nhỏ nên “cách mạng” chưa kịp xung vào bộ đội. Tôi lại đi quá xa về phía “phản chiến/chống cộng”. Trở lại vấn nạn Việt Nam – Tại sao?!  

Một.

Từ “Đêm qua ra đứng bờ ao”

Một ngày cuối năm 1950, thằng bé bảy tuổi vô cớ không muốn vào chơi nhà Bác Thoại thợ điện,  cùng xóm Kiệt 1 Trung Bộ, gia đình có bốn con trai, hai người anh hơn nó mấy tuổi, hai thằng em, bằng buổi luôn bày những trò chơi hấp dẫn. Nhỏ đi ra đường Gia Hội, rẻ trái xuống phía rạp hát đang xây cất, mới xong mặt trước với bảng hiệu Gia Hội Hí Viện. Qua tiệm thuốc Bắc có hàng Mụ Ta bán những đồ ăn (chơi) đựng trong những mẹt nhỏ đặt trên hàng hiên tiêm thuốc. Mệ bán cho con một đồng khoai ngào. Mi có tiền không? Dạ có một đồng. Món quà gồm những lát khoai ngào đường đen đúa, vụn nhỏ được gói trong tờ giấy tập vỡ đã viết đầy chữ mực tím. Thằng bé có ý nghĩ “mình mua lương thực để đi (chơi) xa” Nó đi theo hông tường hí viện, đến bờ sông, leo qua đống rơm, ngồi lên đống gạch ngói của ngôi miếu nhỏ bị phá dở. Thằng bé nhìn ra sông đang trôi chảy giòng lũ của trận lụt vừa qua. Trên mặt nước có con chuồn chuồn Ớt màu đỏ bay chập chờn, nước chảy im lặng hắt nắng vàng long lanh. Bên kia kia sông, Cồn Hến có ngôi nhà thờ sơn màu trắng, và phía xa cầu Trường Tiền sáng màu bạc… Thằng bé có ao ước “Khi lớn sẽ lội qua Cồn Hến và đi lên Cầu Trường Tiền”. Nhưng nó tránh liếc về chỗ Bến Ôn Bồi (tên người em ôn nội) vì ở đó ba bồng mình lội xuống nước! Ba đi Việt Minh rồi! Thằng bé thấy năng nặng ở ngực và mắt cay cay… Nó vất gói khoai xuống nước cho bầy cá cấn, cá mại… Cho tụi mi đó. Nhỏ trở lại nhà. Nền đất lạnh lạnh dưới chân, hắn thấy lại đầu tóc trắng của mệ nội và cái hòm màu đỏ để ở góc phòng chuẩn bị cho người sắp chết. Chỗ trũng ngực hình như năng hơn. Nó đưa tay lên nút áo trên ngực lay lay.

***

Thời gian sau, khi theo học lóp Năm của cô giáo Lạc Trường Mai Khôi, đứa nhỏ dần đọc thông tiếng Việt, mở cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư bài Đêm qua ra đứng bờ ao… Hình vẽ một người đàn ông mặc áo dài đứng nơi một bờ ao… Nơi đứa nhỏ cư trú không có ao, nhưng vẫn còn những người đàn ông mặc áo dài (phần đông màu đen, đi guốc mộc, tay cầm ô)… Nên nhỏ THẤY RA CẢNH BUỒN của một lớp người đang đi qua, dần biến mất. Hình vẽ kèm bài thơ chỉ miêu tả ước lệ, có phần thô thiển, đơn giản nhưng – Buồn Thật. Thật buồn (đúng) với nội dung…Buồn trông con nhện giăng tơ… Đêm đêm tưởng giải ngân hà… Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn… Tào khê nước chảy hãy còn trơ trơ. Không biết “giải ngân hà” là gì? “Tào khê” ở đâu? Nhưng “nước chảy hãy còn trơ trơ” thì chắc để nói về cảnh mõi mòn, chờ đợi như mẹ và hắn chờ ba về! Hóa ra, bản thân đứa nhỏ hay bao thế hệ người Việt đã thấy ra/sống với Nỗi Buồn từ rất lâu – Rất lâu với Sự Buồn – Dẫu chưa biết gọi tên.

Đoạn Trường Tân Thanh/Truyện Kiều của Nguyễn Du (1766-1820) nguyên ủy là Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (1521-1593) Đời nhà Minh Trung Hoa (1368-1644). Chuyện kể đời truân chuyên của một ca nhi (có thật) tên là Vương Thúy Kiều người vùng Lâm Tri. Chuyện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân là một loại tiểu thuyết có chương hồi chỉ là một văn phẩm hạng hai của kho tàng đồ sộ của văn học TrungHoa với nhiều yếu tố bất cập về bố cục tiểu thuyết và tâm lý nhân vật. Bối cảnh chính trị-xã hội được mô tả là “…Gia Tỉnh triều Minh bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng…” Nhưng điểm mấu chốt của bi kịch câu chuyện (của Kiều) là do cáo gian của gã bán tơ khiến Kiều phải bán mình chuộc cha – Xã hội không có pháp luật, đầy rẫy tham nhũng, hối lộ, buôn người! Từ Hải được mô tả “… Giang hồ quen thói vẫy vùng. Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài…”- Một lãnh đạo lớn của vùng Việt Đông! Nhưng do chỉ nghe lời khuyến dụ về danh lợi của một ả tình nhân (Kiều) mà mang thân “về với triều đình” để bị loạn tiễn tan thân!

Nhưng khuyết điểm (tiểu thuyết) của Thanh Tâm Tài Nhân như kể trên đã được tài nghệ trác tuyệt của Nguyễn Du Việt Hóa qua Tâm Thức Đoạn Trường khiến Thúy Kiều trở thành một mẫu mực thương tâm không phải (riêng) trong thi ca mà sống mãi cùng Nỗi Đau Dân Tộc Việt! Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang… Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây! Không phải là tiếng kêu than “tình phụ” của cô Kiều đối với tình nhân nhưng là lời thống thiết (âm thầm) của Bà Huyện Thanh Quan trước một Thăng Long hoang phế; là mối đau cắt của (toàn) họ Nguyễn (Nghi Xuân/Hà Tĩnh) triều Nhà Hậu Lê phải vào Huế chịu cảnh hàng thần lơ láo với Gia Long, Minh Mang. Và “Khi tỉnh rượu lúc tàn canh. Giật mình mình lại thương mình xót xa” chắc không thể là lời kêu đau  thương vì một mối tình (trai gái) không trọn mà chỉ là khối nguồn uất hận lần “nước mất nhà tan” – Tình cảnh của Người Miền Nam sau 30/4/1975. Nguyễn Du sống mãi với Phận Người-Vận Nước VN.

Hai. Đến “Buồn vào hồn không tên”.  (Còn tiếp)        

Một thời để yêu & Một thời để chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Biển tên phố treo vào một ngọn đèn xoắn vẹo đứng sững bên một hố bom. Graber đi quanh hố thì thấy dưới sâu còn một cái giường đã lủng ở giữa. Xa xa một căn nhà có vẻ còn nguyên vẹn nổi bật lên trên đống gạch vụn. Graber nói thầm: “Số nhà 18, cầu trời cho đây là số nhà 18”.

Nhưng trời tối làm cho người ta lầm lộn. Nom xa tưởng là nguyên vẹn nhưng thực ra đó chỉ là cái mặt tiền che khuất một đống gạch vụn phía sau. Một cái đàn dương cầm còn mắc vào những gióng sắt thò ra ở tầng lầu nhất. Nắp trên đã bật mất để trơ những phím đàn nham nhở như hàm răng con quái vật tiền sử. Cửa ngoài mở. Graber bước vào.

“Ai đây, đứng lại, ông tìm cái gì?”

Graber không trả lời. Y không biết rõ nhà mình ở chỗ nào. Trong bao năm, mỗi cửa sổ, mỗi hòn đá đã quen thuộc với y, nhưng trong đêm tối, giữa đám gạch vụn này….

Y không thể biết được rõ mình ở phía tay trái hay tay mặt đường phố.

– Coi chừng! Ông muốn cho tường đổ xuống đầu hay sao?

Nhưng Graber vẫn bước tới. Y nhận thấy bên trong có một cầu thang. Y lùi lại một chút để ước định số nhà. Người trưởng xóm chạy ra:

– Ông đến đây làm gì?

– Đây có phải số nhà 18 không?

– Số 18?

Lão trưởng xóm lấy ta ấn mũ sụp xuống gáy.

– Ông không thấy à?

– Có phải số 18 không?

– Ông muốn nói trước là số nhà 18. Trời! Nói chuyện về trước thì bố ai biết, bây giờ khác rồi.

Graber túm lấy ve áo của lão ta:

– Tôi không đùa với ông. Số nhà 18 đâu?

– Buông ra không thì tôi gọi cảnh sát! Ông đến đây làm gì, chỗ này người ta đang dọn dẹp. Không có ai ở đây cả.

– Không có ai cả?

– Không còn ai hết. Trong nửa tháng trời, sáu trận dội bom. À! Ông là lính! Ông làm gì ở mặt trận Thảo nào nom người phè phỡn béo tốt thế kia. Còn vợ con tôi ở trong đống gạch kia – Lão lấy tay chỉ đống gạch vụn – Nào có ai cất công bới gạch để lấy xác ra không. À! Chết rồi thì cần gì mà vội vàng! Người ta còn bận việc khác! Còn hồ sơ, bàn giấy, nhân viên phải cứu cấp, thì giờ đâu nghĩ đến đàn bà con nít!

Lão nhổ nước miếng rồi nói tiếp :

– Số 18! Ông dẫm chân lên nhà số 18 mà không biết, ông lính trận ngực đầy huy chương với bội tinh!

Graber quay mặt đi, bỏ lão đứng đấy: “Trời ơi! Mình giẫm chân lên nhà mình mà không biết. Thế mà mình vẫn yên chí rằng nước Đức bất khả xâm phạm, nước Đức còn nguyên vẹn!”

Tiếng cuốc bổ vào đá, tiếng gọi nhau ấm ới. Một toán người xúm xít chung quanh một căn nhà bốc khói. Một ống dẫn nước bể, nước chảy thành dòng suối nhỏ. Ánh đèn phản chiếu xuống nước thành những đóm sáng mờ. Y chạy lại chỗ một người đang chỉ huy công việc:

– Có phải số nhà 18 đây không?

– Trời? Ông đến đây làm gì?

– Để tìm cha mẹ tôi. Số 18 đâu ông?

– Làm sao tôi biết được? Tôi có là ông trời đâu? Ông đi chỗ khác. Đây chúng tôi chỉ biết dọn dẹp thôi.

– Ở đây có người chết không?

– Không thì đào làm gì. Ông tưởng đào để chơi chắc.

Hắn quay lại toán người đang làm việc:

– Dừng lại! Lặng yên! Gõ từng tiếng đều đều!

Toán người ở trong hố đi ra từng người một. Họ là những người địa vị và nghề nghiệp khác nhau, tuy người thì mặc xăng-đay, người có áo cổ cứng, người mặc quần áo xanh thợ thuyền, người mặc đồ nhà binh, nhưng người nào cũng ra vẻ mệt nhoài, quần áo lem luốc. Một người quỳ xuống cầm búa gõ từng tiếng thưa vào một cái ống gang thò đầu ra.

“Yên!” Trưởng toán ra lệnh.

Người cầm búa ghé sát tai vào ống gang nghe. Chỉ nghe thấy tiếng thở của mấy người làm việc, và tiếng vôi vữa rụng ra rơi lạo xạo. Tiếng còi xe chữa cháy và tiếng hụ xe cứu thương ở xa xa vẳng lại. Người cầm búa lại gõ ống gang rồi đứng dậy:

– Họ còn trả lời. Họ gõ nhanh hơn, có lẽ họ nghẹt thở.

Y lại gõ thêm mấy tiếng để họ người dưới đống gạch yên lòng. Trưởng toán vội ra lệnh :

– Mau lên. Giờ hốt đống gạch bên phải. Phải kiếm cách bỏ cái ông này ra để cho không khí lọt vào thêm.

Graber vẫn đứng cạnh bèn hỏi :

– Đây là hầm núp phòng không phải không?

– Dĩ nhiên là hầm núp. Ông muốn nó là cái gì? Nếu họ không ở trong hầm thì họ đã chết lâu rồi.

– Ông nghĩ, đây có phải là những người ở nhà này không? Trưởng xóm bảo tôi rằng khu này không còn ai ở nữa từ lâu rồi mà.

– Hắn đâm ra điên khùng từ chuyến ném bom mới rồi. Chúng tôi chỉ biết rằng có người mắc cạn cần phải cứu. Chúng tôi không cần biết họ ở đây hay ở đâu.

Graber bỏ đi ra :

– Để tôi giúp một tay, tôi cũng khỏe mạnh. – Y nhìn người trưởng toán – Có lẽ cha mẹ tôi cũng ở trong ấy.

– Thế thì hay. Có thêm người phụ giúp. Này! Kiếm cho thêm cái cuốc đi.

***

>Mấy cái cẳng bị nghiền nát hiện ra trước nhất, một cái cột lớn đè lên trên. Người hãy còn sống, còn tỉnh. Graber cúi xuống nhìn nhưng không biết là ai. Người ta cưa cột để mang người ra, nạn nhân không kêu một tiếng nào, nhưng hai mắt dần dần tàn lụi sinh khí.

Mở rộng miệng hầm thì thấy hai người chết vì bị đè nát. Cái đầu xẹp lại, mũi và cằm biến mất. Răng thụt vào trong lợi như hột hạnh nhân nhét vào chiếc bánh ga tô. Graber lại gần thì thấy từng nắm tóc đen bết máu. Không phải cha mẹ y, vì cha mẹ y tóc vàng. Người ta kéo xác chết ra giữa phố. Coi có vẻ như một máy ép đã ép cho xác mỏng ra.

Một thứ ánh sáng mơ hồ tỏa xuống cảnh vật hỗn độn. Mặt trăng vừa xuất hiện trên nền trời bạc phếch.

Có người đến thay phiên, y hỏi :

– Oanh tạc từ hồi nào vậy anh?

– Chiều hôm qua.

Graber nhìn hai bàn tay. Hai bàn tay đen ngòm trong thứ ánh sáng không thực. Có vết máu nạn nhân. Hai tay y để trần bốc đất bốc sỏi cả tiếng đồng hồ. Đoàn cứu thương vẫn làm việc. Hơi a xít ở các hố bom bốc lên nóng cay cả mắt. Họ chùi mắt vào tay áo nhưng nước mắt vẫn trào ra.

Có người gọi ở phía sau, y quay lại.

– Cái bị này của anh phải không?

Qua làn nước mắt nóng bỏng y thấy mờ mờ một người đang chỉ trỏ.

– Bị nào?

– Kìa kìa! Có đứa định lấy đi.

Graber lại cầm lấy cuốc.

– Nó lấy cắp mất bây giờ. Đuổi theo nó còn kịp. Lẹ lên, để tôi thay anh.

Graber mệt nhọc quá không kịp suy nghĩ, y theo người ấy làm như cái máy, nhào về phía tay chỉ. Chạy được mấy bước thì thấy một người đang leo lên đống gạch đá. Chỉ nhảy mấy bước là y theo kịp. Người ấy đã già, hắn còn cố sức giữ lấy bị. Graber lấy chân đè lên cái quai lòng thòng dưới đất. Lão ta kêu lên một tiếng lớn rồi buông tay. Miệng lão rộng và đen ngòm hai mắt sáng quắc dưới ánh trăng.

Một đội tuần tiểu đi qua, hai anh mật vụ

– Cái gì thế?

– Không có gì đâu.

Graber vừa nói vừa đưa cái bị lên vai. Lão già đứng yên lặng. Chỉ nghe tiếng lão thở hổn hển. Một anh mật vụ hỏi:

– Anh làm gì ở đây? Giấy tờ đâu?

– Tôi giúp người ta dọn dẹp chỗ kia. Cha mẹ tôi ở khu này.

– Giấy tờ đâu? – Anh mật vụ nhắc lại.

Graber nhìn hai người. Y không muốn cãi nhau với họ về chuyện mật vụ có quyền xét giấy quân nhân hay không. Cả hai người đều mang khí giới đầy mình. Y sờ túi lấy giấy phép và sổ quân bạ ra. Một anh mật vụ lấy đèn bấm ra soi sáng để đọc, tia sáng chiếu vào ngón tay hắn nom như ngón tay phát quang. Bỗng Graber thấy người run lên vì tức bực. Sau rồi họ cũng tắt đèn đưa trả giấy tờ.

– Anh ở đường Haken số 18 à?

– Phải – Y bực tức đến rùng mình – Ngay kia. Chỗ đang thu dọn. Tôi đến tìm gia đình tôi.

– Ở đâu?

– Chỗ kia, anh không thấy à?

– Kia không phải là số 18.

– Sao?

– Kia là số 22. Số 18 ở bên cạnh này.

Hắn chỉ một đống gạch vụn bên trên là rầm và xà nhà tua tủa.

– Chắc không?

– Chắc. Nhà nào bị phá bom cũng giống nhau nhưng tôi biết chắc số 18 ở cạnh này.

Graber nhìn căn nhà tan nát. Không có khói bốc ra.

– Căn nhà này bị bom từ tuần lễ trước hay hai ba tuần trước rồi.

– Anh có biết rõ người ở đây còn sống không?

– À, cái đó tôi không biết. Thường thường vẫn có người sống sót. Có lẽ ông bà già anh không ở trong nhà. Phần nhiều người trong khu đều xuống hầm núp công cộng.

– Bây giờ có thể đến đâu để hỏi thăm tin tức?

– Đêm nay thì không thể làm gì được. Tòa thị chính bị phá hủy rồi. Ngày mai đến trung tâm cứu tế mà hỏi. Anh có chuyện gì với ông già này?

– Có gì đâu. Không biết dưới đống gạch đá này còn người chết không?

– Dưới đống gạch đá nào cũng có người chết. Muốn lấy ra hết phải có gấp mười số nhân công. Quân khốn nạn nó oanh tạc bậy bạ không kiêng nể gì.

Hai người mật vụ quay đi. Graber hỏi thêm :

– Đây có phải khu cấm không?

– Sao anh hỏi thế?

– Trưởng xóm bảo thế.

– Lão trưởng xóm điên rồi. Vả chăng đây làm gì còn trưởng xóm nữa. Anh muốn ở đây đến bao giờ cũng được. Có lẽ đến trung tâm cứu thương anh có thể xin được một cái giường. Trung tâm ở gần nhà ga.

***

>Graber tìm lối vào nhà. Người ta thu dọn được một chỗ, nhưng không thấy lối vào đâu cả. Y trèo lên một mảnh tường. Một cầu thang lên lầu nhất còn dùng được, bậc thang còn nguyên nhưng phía trên không còn gì cả, tầng lầu đã bị thiêu hủy. Chỉ có mấy bức tường rạn nứt đứng sững, qua nóc nhà thủng lỗ hiện ra một khoảng trời nắng màu sữa. Trong một góc kín, chiếc ghế bành bọc nhung để ngay ngắn như có người muốn đặt vào đây để dùng. Cả bức tường sau còn nguyên một khối đổ xuống khu vườn sát bên. Một bóng người lén bước qua. Graber nghĩ đến ông già hồi nãy, nhưng nhìn kỹ thì là con mèo. Y theo bản năng nhặt một hòn đá ném. Không biết sao y không thể nào không nghĩ đến con mèo ở đây sống bằng thịt người chết. Đi vào vườn, y mới biết người lính mật vụ nói đúng, đây là nhà mình. Y nhận ra cái giàn hoa, may lạ lùng, hãy còn nguyên vẹn, bèn tới ngồi xuống một cái ghế đá dưới gốc cây bồ đề đã bị phạt mất ngọn. Ngoài vỏ cây còn vết mấy chữ mình đã khắc vào mấy năm về trước.

Bây giờ mặt trăng sáng tỏ như ban ngày, ánh trăng hư ảo chiếu xuống một cảnh tượng hư hư thực thực như trong giấc mơ. Graber quên cả cảnh tàn phá vẫn thấy dưới mắt từ bốn năm nay, y có cảm tưởng như lần đầu tiên trông thấy đổ nát điêu tàn.

Cửa ra vườn bị lấp nghẽn khó mà dở ra được. Y gõ vài tiếng vào một ống gang và chú ý nghe.

Hình như có tiếng sột soạt. Có lẽ gió thổi. Tiếng sột soạt lại nổi lên. Y nhảy ra cầu thang nghe ngóng. Y run cùng mình vì bất thần có linh cảm rằng cha mẹ mình bị chôn lấp dưới đống gạch vụn, còn sống và có lẽ đang xô gạch trong hầm tôi tìm cách ra với con.

Y đẩy một vài tảng đá, đứng nghĩ một chút rồi chạy ra tìm toán người cứu thương. Y đụng vào tảng đá, té xuống một vũng nước xước đầu gối và bàn tay, sau cùng nhận thấy mình trở lại căn nhà lúc trước đã giúp nhân viên dọn dẹp.

– Đây không phải là số nhà 18, đây là số nhà 22. Anh em sang bên kia giúp tôi một chút đi.

Viên trưởng toán ngẩng đầu lên :

– Cái gì?

– Số nhà 18 ở đằng kia, cha mẹ tôi bị chôn dưới đống gạch.

– Đâu?

– Kia, căn nhà lớn kia.

Người ấy nhìn theo ngón tay chỉ.

– Căn nhà ấy bị bom đã lâu rồi, bây giờ trễ rồi. Nên tiếp tục dọn dẹp chỗ này thì hơn.

Graber bỏ bị xuống.

– Cha mẹ tôi ở đấy. Tôi có nhiều thứ trong bị này tôi cũng có ít tiền.

Người kia quay mặt lại nhìn y bằng hai mắt đỏ ngầu.

– Đây không phải là một cớ để bỏ mặc những người nằm chờ chết dưới đống gạch này.

– Đã đành thế, nhưng…

– Ở đây họ còn sống.

– Làm xong rồi các anh sẽ trở lại đây mà.

– Xong thì mọi người mệt lả còn làm gì được.

– Tôi đã phụ tay với các anh trong hai giờ… các anh cũng có thể giúp tôi…

– Anh cũng phải biết điều một chút chứ. Đến đây mà khuân mấy hòn gạch thì vô lý hết sức! Anh cũng không biết rằng dưới đống gạch có xác chết hay không. Không có gì là điều chắc rồi. Nếu có thì mấy ngày trước đây đã nghe tiếng. Thôi anh để yên cho chúng tôi làm việc.

Nói rồi người ấy nhặt lấy cuốc làm việc. Graber đứng yên lặng. Y nhìn họ lưng cúi lom khom. Y nhìn mấy cái cáng đợi sẵn. Y nhìn mấy người y tá vừa chạy đến. Nước trong ống máng bể chảy lụt lội. Bất thần y bải hoải tâm thần, người không còn một chút sức lực nào nữa. Y muốn giúp toán người này, nhưng mệt quá rồi, đành phải lững thững trở về nơi nhà trước kia là nhà số 18, và y ngủ ở đấy.

Trời sáng, trong bị còn ít bánh mì, trong bình còn ít cà phê lạnh, y đem ra ăn uống. Bây giờ y mới nghĩ đến cơn đói, cổ họng khô và rát như đã kêu gào suốt đêm. Con mèo rón rén lại gần. Y quăng cho miếng bánh mì, mèo vồ lấy, cẩn thận chạy ra xa, vừa ăn vừa ngó lại. Mặt trời chiếu sáng những mảnh thủy tinh rải rác khắp mặt đất. Y cầm lấy bị đi xuống phố.

Đứng lại nhìn quanh mình, y không nhận ra thành phố mấy năm trước. Hầm hố đào khắp nơi nom như những cái miệng không răng. Gác chuông nhà thờ đã biến mất. Các mái nhà đầy lỗ thủng to nhỏ như có một đám sâu bọ khổng lồ kéo đến đục tan hoang. Thỉnh thoảng có căn còn nguyên vẹn. Thành phố không còn hình ảnh quen thuộc như y mong đợi. Có vẻ là một thành phố Nga.

***

>Người trưởng xóm mở cửa một căn nhà chỉ còn có mặt tiền bước ra. Một người xuất hiện từ một nơi không phải là một cái nhà nữa thật là một sự kỳ dị. Một người dân ma sống trong thành phố Âm ti… Trưởng xóm vẫy tay gọi Graber. Graber nhớ lời anh lính mật vụ bảo lão trưởng xóm này điên; tuy nhiên y cũng chạy lại. Lão ta nhăn mặt :

– Anh làm gì ở đây? Ăn cắp hả? Anh nên biết rằng ở tù chứ chẳng phải chơi.

Graber không nén nổi cơn giận.

– Này cha! Đừng có nói bậy như chiều qua nhé! Nên hòa bình với nhau thì hơn. Ông có biết cha mẹ tôi ở đâu không? Ông bà Graber ấy mà, trước ở đây.

Lão hếch mặt gầy nhom râu ria tua tủa ra mà rằng :

– À! Ông lính ngoài mặt trận. Đừng làm ồn lên thế. Ông tưởng rằng chỉ có một mình ông tìm người nhà thôi hẳn. Ông nhìn xem cái gì đây?

Lão chỉ cái cửa.

– Cái gì?

– Cái cửa này này. Ông có mắt không? Ông tưởng đây là chỗ trai gái hẹn hò chắc?

Graber không trả lời. Y vừa trông thấy ở cánh cửa ngoài dán nhiều mảnh giấy gió thổi bay phất phới như lá cờ.

Y vội chạy lại.

Đó là địa chỉ và lời nhắn thân nhân của những người bị nạn. Nhiều chữ viết ngay bằng bút chì, mực hay than vào cánh cửa gỗ, nhưng phần nhiều là những cái biển bằng bìa đóng đinh hay dán hồ như: Heinrich và Georg đến nhà chú Hermann. Irma chết. Phía dưới, viết trên nắp hộp kem đánh giầy: Yêu cầu khẩn thiết chi tin Brunhilde, Schmidt, 4 đường Thuringe. Bên cạnh đấy là một cái bưu thiếp: Otto, nhà ở tụm trường học Hate. Phía dưới những địa chỉ viết bằng chì hay mực là một chiếc khăn tay thêu hoa mầu tím ghi: Marie, bây giở em ở đâu? Không ký tên.

Graber ngẩng lên

– Thế nào? Ông có thấy ai nhắn gì không?

– Không. Cha mẹ tôi không biết tin tôi về nghỉ phép.

Lão điên phác một cái nhăn mặt có thể cho là cái cười.

– Không ai biết ai ở đâu nữa. Chỉ những người vô tội chịu thay cho bọn lưu manh. Bao giờ chúng cũng có cách thoát thân. Ngoài mặt trận anh có biết không?

– Có chứ.

– Thế thì ghi tên vào đấy đi. Rồi làm như tôi này. Ngồi đây mà đợi cho đến lúc tan thành cát bụi.

Mặt lão nom thật ảo não hầu như bất thần bị xúc động đau đớn.

Graber quay đi. Y cắm cúi nhìn xuống đất tìm cái gì để viết. Sau y trông thấy một bức hình Hitler đã gãy khung. Đằng sau là giấy trắng. Y lấy trong túi ra một cái bút chì rồi đứng suy nghĩ không biết nên viết thế nào; sau cùng y viết câu này bằng chữ in hoa: “Yêu cầu cho tin tức ông bà Graber. Ernst nghỉ phép đã về đây”.

Trưởng xóm đứng đằng sau lẩm bẩm :

– Phản quốc.

– Sao?

– Phản quốc, anh vừa bôi nhọ bức hình đức Quốc trưởng.

– Thì hình đã lem luốc rồi, mà tôi thì cần. Anh cứ mặc xác tôi, đừng nói càn!

Không tìm thấy cái gì để gài cái biển, y phải lấy bớt hai cái ghim ở một tấm biển ký tên “Người mẹ” để gài biển của mình. Làm vậy y thấy áy náy, y có cảm tưởng như ăn cắp hoa ở một cái mộ của người lạ. Nhưng không có cách nào khác, vả chăng biển kia gài hai kim cũng đủ lắm rồi.

Lão trưởng xóm vẫn theo dõi anh từng li từng tí. Để kết luận, lão hô lên :

– Hitler muôn năm! Cấm để tang! Cấm buồn rầu! Thái độ ủy mị hại cho tinh thần dân chúng. Anh phải tự hào rằng đã hy sinh cho Tổ quốc. Nếu các anh làm hết bổn phận thì nước nhà đâu đến nỗi này!

Nói rồi lão quay phắt đi, hai cẳng dài nghêu và gầy gò bước xa dần. Graber quên ngay lão, y sắp sửa bước đi thì chợt nhớ ra, y vội vàng tháo bức hình dùng làm biển xé lấy một miếng ở phía dưới và ghi lấy một địa chỉ ở cánh cửa. Đó là địa chỉ ông bà Loose, y có quen biết nên định đến hỏi thăm chỗ ở của cha mẹ. Trước khi để miếng bìa nữa chép lại mấy chữ đã ghi. Y trở lại số nhà 18 để miếng giấy bìa vào một chỗ dễ thấy trước tường đá lối vào. Hai tấm biển vẫn có hy vọng hơn một. Lúc này vì chỉ có thể làm được thế là nhiều. Y thẩn thơ một hồi lâu trước đống gạch vụn lớn, không biết rằng nơi đây có phải là mồ chôn cha mẹ mình không. Chiếc ghế bành bọc nhung xanh óng ánh dưới nắng như một viên ngọc bích. Cạnh nhà y, một cây dẽ còn nguyên vẹn, không bị bom; giữa cảnh điêu tàn này vòm lá xanh tươi của nó có một vẻ êm dịu kỳ lạ. Đàn chim lẩn khuất trong bóng lá xanh ríu rít tiếng gọi đàn.

Y nhìn đồng hồ. Đã đến giờ đi tìm trung tâm tiếp đón.

Văn phòng trung tâm đặt trong một căn nhà gỗ, vách ván mới xẻ còn hắc mùi nhựa cây. Một toán thợ đang làm thêm một gian vào căn nhà cất tạm bợ. Trong phòng đầy người thuộc thành phần dân sự ngồi đợi với vẻ mặt rầu rĩ. Hai người đàn bà và một người công chức chỉ còn một cánh tay ngồi sau cái bàn gỗ trắng.

Một người đàn bà hỏi :

– Tên ông bà cụ là gì?

Bà ta mặt to, hai gò má cao, tóc quân một sợi băng đỏ. Graber trả lời :

– Paul và Marie Graber, công chức Thuế vụ, 18 đường Haken.

Bà ta đưa tay lên áp vào tai :

– Cái gì?

Graber nói to để nhắc lại giữa tiếng búa chan chát của thợ làm nhà.

Bà ta mở một cuốn sổ lớn :

– Graber, Graber.

Ngón tay đưa xuống rồi lại đưa lên những cột tên người, bà ta dừng lại :

– Graber, Graber. Đây rồi. Tên gì?

– Paul và Marie.

– Gì?

– Paul và Marie.

Y tức giận sôi ruột. Gân cổ lên mà hét thế này mãi thì chịu sao nổi.

– Không phải. Ông này là Ernst.

– Ernst là tên tôi. Trong họ chỉ có tôi tên Ernst.

– Dĩ nhiên không phải là ông rồi. Trong sổ không có tên Graber nào khác – Bà ta mỉm cười ngẩng mặt lên nhìn y – Nếu ông muốn biết thì vài ngày nữa trở lại đây. Bây giờ chúng tôi chưa có đủ danh sách. Đến lượt người khác!

Graber chưa chịu đứng dậy.

– Bà cho biết có thể hỏi tin tức ở đâu?

– Tòa thị chánh. Đến lượt người khác!

Người thư ký sửa lại cái nơ đỏ. Graber cảm thấy có ai đẩy mình. Đó là một bà già ngón tay quăm quắm như chân chim cắt. Y đi ra.

Y vẫn lưỡng lự dừng lại văn phòng một lát, không nhất quyết đi được. Sự đau đớn sâu xa như thế không dễ mà khuây được. Người công chức cụt tay trông thấy bèn lại gần.

– Ông nên mừng rằng ông bà cụ không có tên trong sổ này.

– Tại sao vậy?

– Đây là danh sách những người chết và bị thương nặng. Nếu chưa thấy tên thì ông cứ yên chí là chỉ mất tích thôi.

– Không có danh sách những người mất tích à?

Người công chức nhìn y với sự kiên nhẫn của những người hằng ngày chứng kiến những trường hợp tương tự trong suốt tám giờ đồng hồ.

– Ông thử nghĩ xem! Đã mất tích là mất tích. Lập danh sách làm gì? Danh sách cũng không cho ông biết gì hơn. Mất tích mà đã ghi vào thì còn mất tích gì nữa!

Graber nhìn ông ta mà không hiểu. Ông ta khoan khoái vì lý luận của mình. Nhưng lý luận và giải thích khó lòng dung hòa được với đau thương và bất hạnh. Graber trả lời :

– Vâng, có lý.

Y ra tòa thị chính, chỉ có một phòng duy nhất còn nguyên vẹn, cô thư ký đeo kính ra vẻ bù đầu. Graber phải ngồi đợi khá lâu trong hành lang nồng nặc mùi khói và axít. Lúc vào thì cô thư ký gắt om :

– Tôi không biết gì hết! Không làm gì còn hồ sơ. Phần lớn cháy rụi, còn lại thì vòi rồng cứu hỏa làm nát hết. Tôi không biết làm sao được bây giờ.

Người hạ sĩ quan vào sau Graber hỏi cô ta :

– Tại sao không cất hồ sơ vào nơi an toàn?

– An toàn, an toàn! Biết ở đâu là an toàn! Ông có biết chỗ nào là an toàn không? Tôi có phải ở trong hội đồng hàng tỉnh đâu. Ông đến đấy mà khiếu nại.

Cô ta đưa tay chỉ một đống giấy má ướt sũng nước :

– Đây sổ sinh tử giá thú chỉ còn có thế thôi, bây giờ ai muốn lấy căn cước của mình thế nào cũng được.

Viên hạ sĩ quan nhổ toẹt xuống đất và kéo Graber đi

– Thôi đi anh, ở đây họ hóa điên cả rồi!

Họ trở lại công trường tòa thị chính, không còn một căn nhà nào nguyên vẹn. Tượng đồng Bismarch chỉ còn lại một đôi ủng. Một đàn chim bồ câu sợ hãi bay xung quanh gác chuông nhà thờ Thánh Mari đã đổ mất một nửa. Anh hạ sĩ quan hỏi :

– Anh tìm ai.

– Cha mẹ tôi.

– Tôi tìm vợ tôi. Tôi về bất thần, không viết thư báo trước, định dành cho nhà tôi một sự ngạc nhiên lý thú. Còn anh?

– Tôi cũng không báo trước. Vì đã bị nhiều lần đình chỉ hết nghỉ phép cho nên tôi không muốn báo trước để cha mẹ tôi khỏi thất vọng lần nữa. Vả chăng người ta ký bất ngờ cho nên tôi cũng không có thì giờ viết thư.

– Đây mới thật là chuyện ba gai. Bây giờ anh định thế nào?

Graber nhìn ra khoảng đất trước kia là cái chợ. Từ năm 1933 gọi là công trường Hitler. Sau trận đệ nhất thế chiến đã có tên là công trường Ebert. Cho đến năm 1918 vẫn có tên là công trường hoàng đế Wilhelm.

– Tôi không biết làm thế nào. Tôi vẫn hiểu. Chả nhẽ sống ở giữa nước Đức mà bị thất lạc!

– Anh tưởng thế chứ!

Anh hạ sĩ quan nhìn y với vẻ giễu cợt lẫn thương hại.

– Anh còn ngây thơ quá, anh chưa nhìn thấy hết! Tôi tìm vợ tôi đã năm ngày nay, suốt từ sáng đến tối. Không biết nó biến đâu mất như phép lạ.

– Sao lại có thể thế được? Phải có cái gì…

– Biến mất. Hàng ngàn người cũng mất tích như thế. Người thì vào trại tập trung, người thì theo người khác kéo nhau lũ lượt về các làng lân cận. Sở Bưu điện bị phá hủy, đi đâu mà hỏi thăm được!

– Về làng à? – Graber nói ra vẻ phấn khởi – không biết sao trước kia mình không nghĩ đến? – Ở trong làng được yên ổn hơn. Chắc cha mẹ tôi về nhà quê ở.

Anh hạ sĩ quan cười chua chát :

– À anh có chút may mắn rồi. Anh có biết ven tỉnh này có đến hai tá hàng xóm không? Anh đi độ nửa cây số thì giấy phép của anh hết hạn lâu rồi!

Graber biết rõ lắm, nhưng cái đó không cần. Y chỉ cần biết một điều. Cha mẹ y còn sống, còn ở đâu thì ở.

– Anh hãy nghe tôi, phải hành động cho khôn khéo, không lẽ anh cứ chạy như điên như dại khắp nơi, chỉ mất thì giờ mà mang bịnh vào người. Phải hành động cho có phương pháp. Anh định bắt đầu làm thế nào?

– Tôi cũng không biết nữa. Có lẽ thử đến hỏi những người quen biết cha mẹ tôi. Tôi đã tìm được địa chỉ một người ở cùng phố với nhà tôi và đã tản cư đi nơi khác.

– Khó lòng mà biết được điều gì. Họ sợ không dám nói. Chính tôi đã nhận thấy thế. Nhưng anh cứ thử xem. A tôi có ý kiến! Chúng ta có thể hợp tác với nhau. Anh đến đâu cũng hỏi cả tin tức vợ tôi, còn tôi cũng làm vậy. Đồng ý?

– Đồng ý.

– Thế thì hay lắm. Tên tôi là Bottcher; vợ tôi là Anna. Anh ghi lấy.

Graber ghi Anna Bottcher vào cuốn sổ rồi ghi tên cha mẹ mình vào một mảnh giấy đưa cho Bottcher. Anh này đọc cẩn thận rồi gấp mảnh giấy cất vào bóp.

– Anh ở đâu?

– Chưa biết đi đâu đây. Tôi cũng phải kiếm một chỗ ở.

– Ở trại có giường dành cho người nghỉ phép bị nạn. Anh đến xin một giấy phép cư ngụ thì được ở. Đã đi xin chưa?

– Chưa.

– Thế thì cố gắng xin ở phòng 48. Tôi cũng ở đấy. Ăn uống khá hơn ở nơi khác.

Bottcher lôi trong túi ra một mẩu thuốc lá. Y ngắm nghía một lát rồi lại cất đi.

– Ngày hôm nay tôi đến cả nhà thương tìm. Tối hôm nay có thể gặp nhau ở chỗ nào đó, may ra một người tìm được tin tức gì.

– Đồng ý. Gặp ở đâu?

– Ở đây chẳng hạn. Chín giờ nhé?

– Đồng ý.

Bottcher gật đầu và ngửng lên nhìn trời xanh.

– Này, mùa xuân đây. Đêm nay là đêm thứ năm tôi ngủ với một lũ đực rựa râu không cạo, đáng lẽ ra mình đã ngủ với vợ con mũm mĩm.

***

Hai căn nhà đầu tiên khu phố cư ngụ của gia đình Ziegler đã bị phá hủy. Không còn ai ở nữa. Căn thứ ba còn nguyên vẹn. Chỉ có mái bị cháy mà thôi. Ziegler là bạn của cha mẹ Graber.

Y bước vào cầu thang. Trước thềm cầu thang nào cũng có thùng cát và thùng nước. Tường dán đầy thông báo. Y bấm chuông, ngạc nhiên rằng chuông còn dùng được. Đợi một hồi mới có một người đàn bà dáng điệu sợ hãi ra mở cửa

– Bà Ziegler? Tôi là Graber.

Bà già ngó y ra bộ ngập ngừng :

– Vâng, mời ông vào.

Bà mở cửa cho Graber bước vào rồi khóa ngay lại.

– Ba nó ơi! Có cậu Graber, con ông Paul Graber.

Căn phòng có mùi xi mới đánh. Thảm trải nhà sáng như gương. Trên khung cửa sổ bày những cây cảnh lá lấm tấm vàng bóng như thoa bơ. Phía trên ghế trường kỷ treo bức trướng thuê hoa và một dòng chữ: Ở nhà mình, mình là vua.

Ziegler ở phòng ngủ ra. Ông ta mỉm cười, nhưng vẻ lo lắng hiện rõ trên mặt :

– Bây giờ không biết chừng được. Không biết mình đụng độ với ai. Cậu ở mặt trận về phải không?

– Vâng, cháu đi tìm cha mẹ cháu, nhà cháu bị phá hết.

– Bỏ bị ra đi. Để tôi đi pha cà phê cậu uống. Nhà còn cà phê ngon.

Graber bước sang căn kế cất bị, vừa đi vừa nói :

– Người cháu bẩn thỉu quá. Đã lâu ngày quên cả sạch sẽ ngăn nắp.

– Không sao. Cháu cứ tự nhiên, ngồi kia mà nghỉ.

Bà Ziegler đi xuống bếp. Ông Ziegler nhìn Graber ngập ngừng. Graber hỏi :

– Thưa ông có tin tức gì về cha mẹ cháu không? Cháu không có tin tức gì cả. Tòa thị chính cũng không biết, sổ sách không còn.

Ziegler lắc đầu. Bà Ziegler bỗng hiện ra giữa khung cửa :

– Lâu lắm chúng tôi không đi ra ngoài. Chúng tôi không gặp ai, không biết gì cả.

Ông bà không gặp cha mẹ cháu bao giờ à? Lần cuối cùng gặp cha mẹ cháu cách đây bao lâu rồi?

Rồi bà im bặt.

– Cha mẹ cháu thế nào?

– Mạnh khỏe, hồi ấy mạnh khỏe. Nhưng về sau…

– Vâng. Ở ngoài ấy chúng cháu cũng biết ở nhà bị bom tàn phá. Nhưng không ngờ đến nỗi tàn tệ như thế này.

Một lúc yên lặng. Mọi người cúi gầm mặt nhìn xuống đất.

– Cà phê sắp được rồi, cậu ngồi chơi uống một tách.

Bà bày bộ tách hoa lên bàn. Graber nhớ lại nhà mình cũng có bộ tách kiểu ấy, kiểu tách gọi là tách củ hành, y không hiểu sao lại gọi thế.

– Thưa ông, ông có cho rằng cha mẹ cháu đã tản cư không?

– Có lẽ ông bà nhà đã tản cư. À bà nó xem còn cái bánh ga tô nào không, đem đây mời cậu Graber. Hộp bánh của Erwin cho đó.

– À ông Erwin bây giờ thế nào?

Ông già bỗng giật bắn người lên :

– Erwin mạnh khỏe, mạnh khỏe lắm.

Bà Ziegler mang cà phê lên. Bà cũng đặt lên bàn cái hộp thiếc lớn nhãn hiệu Hòa Lan còn vài chiếc ga tô. Graber nghĩ thầm: “Đồ Hòa Lan”. Hồi mới có chiến tranh chính y cũng mua bánh từ Pháp về cho cha mẹ.

Bà Ziegler mời mọc ân cần, y cũng ăn một chút. Thứ bánh hồng hồng, ngọt đậm đã hơi có mùi mốc. Hai ông bà già không ăn gì cả. Tách vẫn để không. Ông già ngồi gõ nhịp vẩn vơ xuống bàn.

– Cậu ăn nữa đi. Bánh ngon đây. Chúng tôi không còn cái gì khác để đãi cậu.

– Vâng bánh ngon. Cháu ăn đủ rồi, cháu mới ăn sáng xong.

Y cảm thấy không thể biết được gì hơn, có lẽ họ không biết gì thật.

– Ông có thể cho cháu biết người nào để hỏi thăm được không.

– Tôi không có ý kiến gì. Chúng tôi không đi đâu, không giao thiệp với ai. Thật chúng tôi rất tiếc.

– Vâng, cháu hiểu lắm. Cám ơn ông.

Graber đi ra cửa. Bất thần ông già hỏi :

– Cậu ở đâu?

– Cháu sẽ tìm chỗ ở, nếu không thì vào trại.

Bà già liếc mắt nhìn chồng :

– Thật rất tiếc, chúng tôi không có chỗ nằm cho cậu. Hẳn quân đội cũng nghĩ đến việc tiếp đón những người nghỉ phép lỡ gặp nạn.

– Vâng, hẳn là thế.

– Hay là cậu cứ để bị ở đây, đợi lúc tìm được chỗ ở sẽ hay. Cái bị coi có vẻ nặng.

Graber nhìn bà già.

– Không sao. Cháu đeo nặng quen rồi.

Y đi ra rồi khép cửa lại, bước xuống thềm. Không khí nặng nề. Ông bà Ziegler rõ là có thái độ lo sợ. Nhưng từ năm 1933 đến giờ có biết bao nguyên nhân để lo sợ!

Gia đình ông Loose chiếm một chỗ trong phòng họp lớn thị sảnh. Phòng chật ních những giường cùng nệm. Trên tường, trang trí cờ quạt, phù hiệu chữ vạn, biểu ngữ với giọng quyết liệt, hình Quốc trưởng trong một cái khung thếp vàng. Vết tích những cuộc biểu dương lòng ái quốc ngày trước. Trong phòng đầy ắp đàn bà và trẻ con. Khoảng giữa giường nọ với giường kia chất từng đống rương với va li, nồi niêu xoong chảo, đủ mọi thứ còn sót lại.

Bà Loose ngồi trên một cái giường kê ở giữa nhà, vẻ mặt buồn thiu, tóc rối bù. Bà ta người to mập.

– Ông bà có biết cha mẹ tôi ở đâu không?

Hai mắt bà như hết thần sắc, bà như ráng sức bới tìm trong trí nhớ. Sau cùng bà nói:

– Chết rồi.

– Bà nói sao?

– Chết rồi. Cậu còn muốn biết gì nữa?

– Bà biết rõ tin này à?

Y thấy mình nghẹn lời nói không được. Y ráng sức nuốt nước miếng hỏi thêm:

– Bà có trông thấy không? Chết ở đâu?

Bà Loose từ từ lắc đầu.

– Không thể trông thấy gì được. Lửa cháy, tiếng kêu khóc inh ỏi, rồi không còn gì nữa….

Tiếng nói chỉ còn là lời ấp úng nghe không ra tiếng gì. Rồi bà ngồi yên, đặt khuỷu tay lên gối, hai mắt xa vắng; bà ngồi trầm ngâm suy nghĩ như chỉ có một mình trong phòng. Graber thất vọng.

– Xin bà nhớ lại, nhân dịp nào bà biết cha mẹ tôi đã chết?

Y cố nén lòng để khỏi nổi nóng nắm lấy vai bà mà lắc mạnh.

– Xin bà nhớ lại. Bà gặp cha mẹ tôi lần cuối cùng vào hồi nào?

Bà ta như không nghe thấy và lẩm bẩm!

– Tôi cũng không thấy mặt. Ông bà ấy không muốn để tôi lại gần. Nom bà gầy yếu lắm. Tại sao người ta gây ra cớ sự này? Cậu là quân nhân, hẳn cậu biết.

Graber đưa hai mắt ngơ ngác nhìn xung quanh.

Một người len vào giữa khe giường tiến lại. Đó là ông Loose, người gầy nhom, già sọm. Ông ta đặt nhẹ tay lên vai vợ, bà này muốn trở cơn mê sảng. Ông ta ra hiệu cho Graber :

– Graber! Nhà tôi không tỉnh trí đâu.

Người đàn bà lấy tay ra hiệu và nhìn chồng :

– Ông có hiểu gì không?

– Lena!

Bất thần bà ta nói oang oang :

– Nếu ông hiểu được tại sao người ta gây ra cớ sự này nhưng ông cũng không hơn gì tụi họ.

Ông Loose đưa mắt sợ hãi nhìn những giường bêncạnh. Không ai có thể nghe được vì con nít nô đùa ồn ào sau đống va li.

– Không hơn!

Bà Loose nhắc lại rồi nghiêng đầu đi, nom bà ta chỉ còn một đống thịt buồn rũ rượi.

Ông Loose ra hiệu cho Graber đi theo ra chỗ khác.

– Cha mẹ tôi bây giờ ở đâu? Bà nhà nói chết rồi!

Ông Loose lắc đầu :

– Nhà tôi không biết gì đâu. Nhà tôi hóa ra người rối trí. Hẳn cậu biết đấy.

Ông Loose nuốt nước bọt, cuống họng trồi lên hạ xuống trên cái cổ gầy gò :

– Nhà tôi nói những câu… Người ta đã tố cáo chúng tôi… Những người ở đây.

Bỗng dưng y có cảm tưởng như ông Loose ở xa tít, bé như con kiến trong thứ ánh sáng xám xịt. Rồi y trở về cạnh ông ta và thấy căn phòng trở nên yên lặng. Y hỏi :

– Thế cha mẹ tôi còn sống chứ?

– Tôi không thể biết đích xác được. Cậu không biết đã một năm nay tình hình tồi tệ đến thế nào. Người nọ sợ người kia, mọi người nghi kỵ nhau, không còn ai tin ai được nữa. Chắc ông bà nhà cũng được yên ổn ở một nơi nào đó.

Graber cảm thấy như bỏ được cái gì đó đè nặng xuống ngực, y hỏi :

– Thưa ông có gặp thầy mẹ tôi lần nào không?

– Có, một lần, gặp ở ngoài phố. Đã bốn năm tuần lễ nay rồi. Bấy giờ trời còn tuyết xuống, tôi nhớ rõ. Trước khi oanh tạc.

– Thầy mẹ tôi có khỏe không?

Loose không trả lời ngay, mãi sau mới trả lời :

– Có lẽ mạnh khỏe.

Bất thần Graber thấy ngượng. Y vừa chợt hiểu rằng không phải nơi mà cũng không phải lúc hỏi thăm một người mạnh khỏe cách đây đã bốn năm tuần lễ; ở đây người ta chỉ biết số người sống và số người chết chứ không biết gì hơn.

Y ngượng ngập, vội vàng :

– Xin lỗi ông.

– Không sao. Bây giờ không ai còn bụng dạ nào nghĩ đến người khác. Đau khổ quá nhiều rồi.

Graber không nhận ra khu phố nữa. Y đi qua đường vắng tanh và ảm đạm khi vào tòa thị sảnh. Bây giờ phố xá có vẻ sáng sủa, nồng ấm hương đời hơn. Y không nhìn thấy những căn nhà vỡ lở, y chỉ thấy cây đã khai nụ, chó vẫn đuổi nhau đùa giỡn, trên đầu, trời vẫn xanh. Cha mẹ y chưa chết, chỉ mất tích thôi. Một giờ trước đây, y xúc động đau đớn khi người ta cho biết tin ấy, nhưng bây giờ y được phấn khích vì tia hy vọng bí hiểm. Y biết rằng sự thể xoay ra như thế vì lúc trước y đã lâm vào cảnh tuyệt vọng. Chỉ cần một chút bám víu là nảy sinh hy vọng, hy vọng chóng bắt rễ xuống trái tim.

Giáng Sinh trắng

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 23 May 2026

Cửa kiếng phòng bếp của chiếc Tina tròn, đường kính rộng đúng sáu tất tây, chỉ đủ nhìn không gian bên ngoài biến đổi từng vùng, từng mùa. Bây giờ là mùa đông,  ngoài boong dầy lên một lớp trắng mịn, ấy vậy mà trên không tuyết cứ tuông xuống ào ào. Cái mững nầy tiếp tục cho tới ngày tàu xuống hàng mặt sức thủy thủ đoàn vừa xúc tuyết đem đổ vừa lạnh teo…

Chiếc Tina cặp bến Hamburg chiều hôm qua, tàu đậu nối đuôi chiếc Đại Dương. Hôm nay là ngày hăm bốn tháng Chạp dương lịch, vậy mà chiếc Đại Dương vẫn xuống hàng với hai cần trục và năm sáu xe vận tải chạy tới chạy lui dẫm tuyết dấy bùn nhầy nhụa. Trông công việc rấp rút chắc chắn chiếc Đại Dương sẽ khởi hành trong vài giờ sắp tới. Như vậy năm nay thủy thủ đoàn bên ấy sẽ mở tiệc Giáng Sinh trên biển và luôn cả tết tây tàu họ vẫn còn lênh đênh trên sóng nước.

     Ðúng ra nghe thông báo chiếc Tina đậu lại qua Giáng Sinh mới khởi hành, thủy thủ đoàn vui vẻ, hào hứng làm đẹp con tàu và cùng nhau sửa soạn cho bửa tiệc Giáng Sinh thêm phần sống động. Ðằng nầy mạnh thằng nào nấy rút vô phòng đóng cửa lại. Mùa đông ngoài trời tuyết rơi lạnh lẽo, ấy vậy mà không khí trong tàu còn lạnh hơn ở ngoài trời.

Mùa Giáng Sinh bên Âu châu người ta ăn uống nhiều lắm. Mặc dầu mấy ngày nầy thức ăn luôn lúc nào cũng đầy bàn,  đầy tủ lạnh. Thực đơn thường ngày cho thủy thủ tuy không sang trọng như những nhà hàng lớn nhưng phẩm chất ăn đứt những căn-tin tập thể trên đất liền và hơn hẳn bửa ăn bình thường ở nhà. Bửa ăn nào cũng năm món và một vài món tráng miệng. Ấy vậy mà có tên ngốc nghếch ngồi  ngó dáo dác bàn ăn, không biết chọn món nào. Cuối cùng đứng dậy đi vô phòng bếp hỏi:       

– Sếp! Hôm nay có món nào đặc biệt không?

Ðầu bếp hỏi lại:

– Cái gì đặc biệt?

Thì hắn ta giơ tay lên gãi gãi đầu, trơ cái bảng mặt đần độn ra, trả lời:

– Không biết.     

Làm như trong ngày Giáng Sinh không ăn được thỏ và gà tây thì sau khi chết sẽ sa vào hỏa ngục hay sao? Mỗi năm, hễ đến tháng Chạp thì có người nhắc nhở đầu bếp phải đặt mua hai loài vật nầy để sẵn trong tủ đong đá. Mấy ngày nầy gà Tây và thỏ bày bán lềnh khênh trong các siêu thị, rẻ như bèo, thịt gà thì lạt nhách, mùi tanh tanh, khô khốc như xơ dừa khô, may gặp đầu bếp khéo tay ướp gia vị đúng cách, pha nước xốt ngon còn nhấm nháp được, bằng không hai miếng thịt dưới ức coi như đồ bỏ. Thỏ nấu rượu chát trước kia còn có người ăn, ngày nay dọn ra để  ngó chơi chớ ít thấy người rớ tới.

     Hơn hai mươi năm làm đầu bếp, tuy tôi chưa từng cắt cổ, nhổ lông thú vật nhưng ngày nào tay tôi cũng dính máu, không con nầy cũng con kia. Trong những ngày cuối năm, tôi thịt ít nhứt cũng một chục ký gà tây và bốn năm con thỏ, đó là chưa kể tới thịt thà, tôm, cá mà tôi chế biến thức ăn hàng ngày và các món nhậu lai rai.  Quả thật, nếu có luân hồi, quả báo thì kiếp sau tôi khó trở lại làm người.

–  Chú, có chuyện gì phụ không?

   Tôi ngoái lại thấy Bobby đứng ngoài cửa phòng bếp. Tôi chỉ tay qua bình cà phê, nói:

–  Có, nhưng rót cà phê uống và ăn cái gì đi đã.

    Bobby là thủy thủ mới tập nghề, nó theo đạo Tin-lành và nói khá tiếng Anh, còn trẻ nên nói chuyện hay ra vẻ hiểu biết. Gặp mấy tên thủy thủ hải hành lâu năm theo đạo Hồi, nhưng không bao giờ đọc kinh Koran, ngoại ngữ đủ để cột dây tàu và gõ sét. Thấy Bobby ma mới nhưng khôn và lanh lợi hơn, mấy ông hè nhau cô lập thằng nhỏ. Bobby không biết chơi với ai nên nó mới lẽo đẽo theo tôi. Bề ngoài lúc nào tôi cũng giữ khoảng cách nhưng có cơ hội thì tôi giúp đỡ và an ủi nó. Làm đầu bếp cho một nhóm người tạp nhạp,  muốn thân thiện với người nào cũng cần phải có thời gian,  hấp tấp kết giao lỡ gặp những tên không biết điều sẻ gây rắc rối trong việc nấu nướng. Chờ Bobby ăn, uống xong tôi phân công nó lột tôm và chỉ cách đánh nước xốt làm cốc-tai. Phần tôi thì lo nướng gà và hầm thỏ.

–  Chú à.

–   Gì đó.

–   Năm nay mình có Giáng Sinh trắng.

–   Vùng nầy mùa đông nào lại không có tuyết.

–   Hồi nhỏ tới lớn lần đầu tui thấy tuyết.

–   Vậy là ở In-đô Giáng Sinh đen.

–   Ha ha…

–   Cười khỉ gì,  nếu không trắng thì đen, nhưng Giáng Sinh bên mầy có ăn gà tây và thỏ không?

Có, nhưng những gia đình theo đạo Tin-lành và Thiên Chúa thôi, chớ đạo Hồi thì không.

–   Hèn chi..

–   Gì chú.

–   Đúng ra giờ nầy thủy thủ xuống dọn dẹp và trang hoàng phòng ăn, chớ có đâu mạnh thằng nào nấy nằm trong phòng riêng lo thủ dâm.

Ha ha, để lột tôm, đánh xốt xong tôi ra trang hoàng phòng ăn cho. Hôm kia thuyền phó thấy cây thông bị sóng lắc ngã, kêu mấy ông dựng lại, mấy ông nói nói Giáng Sinh không phải lễ của đạo Hồi nên không ông nào chịu làm.

–  Chờ người ta làm sẵn nhào vô đốp. Đạo gì mà khôn quá vậy?

–  Đạo Hồi chớ đạo gì.

– Phải chi được ở bên In-đô tao cũng theo đạo Hồi cho sướng. Chiều hôm qua hội nhà thờ xuống tặng quà, ông nào ông nấy khúm núm, nhăn răng cười vui vẻ đưa tay đón nhận và cúi rạp đầu muốn đụng đất, miệng rối rít cám ơn, nhưng khi người ta đi rồi mấy ông lựa lấy quà, còn sách báo rao giảng về nước Thiên Ðàng và kinh Thánh mấy ông cầm lên, gằn giọng nói: “shit!”. Rồi đem liệng vô thùng rác. Nhưng thôi,  bỏ cái chuyện đạo Hồi qua một bên. Hôm nay Giáng Sinh mình lo chuyện đạo Chúa cái đã. Mầy cũng không cần phải trang hoàng phòng ăn làm gì. Lâu lâu đi nhằm chuyến tàu gì mà giống như chuồng thú. Thuyền trưởng thì như con lật đật không khi nào ngồi yên một chỗ, thuyền phó mặt mài râu ria như người tiền sử, phụ thuyền phó thì mỏ nhọn, răng hô nghe ra giống khỉ đột, thợ máy chánh mập như voi và ăn như heo, chỉ có thợ máy phụ còn trẻ và đep trai nói năng tử tế, phần còn lại mở miệng là chửi thề, ăn nói tục tĩu, cự nự nhau suốt ngay. Thủy thủ In-đô của mầy có bốn thằng mà cũng chia phe chia cánh, như vậy cũng đủ biết bữa tiệc hôm nay không kéo dài hơn một giờ đồng hồ đâu. Nấu cho người ăn thì phải khác hơn cho ngợm ăn,  bày biện làm chi tốn công tốn sức.

     Trong phòng ăn không căng giấy màu, cây thông dựng tuần trước bị sóng vật ngã mấy lần làm lá thông rụng sạch không còn lấy một màu xanh, những nhánh cây khẳng khiu bán vào thân cây xám xịt, mấy món đồ chơi và dây kim tuyến treo lủng lẳng làm quằn chiếc cành, vài nhành bị gãy cụp xuống, đèn điện bóng cháy bóng tắc.  Quả thật, nếu khắp nơi ai ai cũng mừng Chúa giáng sinh với cây thông thê thảm như vầy, chắc chắn ông Jêsu sẽ không bao giờ trở lại trần gian như lời ông đã hứa.

    Thuyền trưởng ôm thùng quà quà xuống, phát cho mỗi người một gói giống như người ta phát quà cứu nạn bão lụt. Không có nhạc Giáng Sinh, không nâng ly mời rượu, không chúc lành nhau. Mạnh ai nấy ăn,  nấy uống giống như dân Bắc Hàn bị nhịn đói lâu ngày…

    Đúng như đầu bếp tuyên đoán, chưa đầy một giờ đồng hồ, bàn tiệc bắt đầu rời rạc. Đám đạo Hồi In-đô xí xô xí xào kéo nhau định đứng dậy. Chợt nghe đầu bếp thông báo, buổi chiều phòng bếp đóng cửa. Mấy anh Hồi giáo như hay tin bão lụt sắp tới nơi, anh nào anh nấy hấp tấp chồm lên, buôn cả dao nĩa, trở lại truyền thống ăn bốc, vói tay bốc thức ăn bỏ đầy dĩa bưng lên phòng dự trữ.  Đám officer ngồi cầm cự một lát rồi cũng đứng dậy mạnh ai nấy về phòng. Bữa tiệc chấm dứt chưa đầy một giờ trưa.

   Coi như xong công việc sớm, đầu bếp khoẻ re. Tôi lên phòng tắm rửa sạch sẽ, thay đồ, leo lên giường đánh một giấc tới chiều.

Tôi có thói quen mùa hè bận áo mỏng, Xuân – Thu tôi khoác áo dầy vừa phải, mùa Đông tôi bận áo dầy cộm, choàng khăng cổ thảm nhiên tà tà thả bộ năm ba cây số là thường. Ðêm nay Giáng Sinh, tôi bận áo len bên ngoài áo sơ mi và đặc biệt hơn thắt lên cổ áo chiếc cà-vạt. Những ngày nầy tôi thích lang thang ngoài trời, sau đó ghé hội quán  mua chai rượu đỏ, tới chiếc bàn trong góc nơi có dựng cây thông, ngồi đây vừa nhâm nhi rượu vừa nhìn đồ chơi treo lũng lẵng trên nhánh thông, những bóng đèn màu chớp chớp đủ màu sắc, ngửi được mùi dầu thông tỏa thơm ngai ngái và nhìn được những sinh hoạt xôn xao trong hội quán.

     Khi bước lên bến, tôi thấy Bobby tay kẹp điếu thuốc đi tới đi lui trên kè đá. Ngạc nghiên tôi hỏi nó:

–   Sao mầy còn đứng đây?

Mặt rưng rưng buồn, nó nói:

–   Tôi không biết đi đâu hết chú à.

–   Sao mầy không theo xe hội quán.

Mấy người kia không cho tôi theo

Xe của hội quán chớ xe của mấy người kia sao?

Bobby lắc đầu:

–   Tôi không biết.

    Nhưng tôi biết! Đã sống chung chạ với dân In-đô ngót hai mươi năm. Tôi đâu còn lạ gì tánh tình cùa họ, mười người hết bảy tám, mới ra làm việc nước ngoài mặt thằng nào cũng ngơ ngơ ngáo ngáo như người rừng ra phố. Sau một hai năm, quen bơ, quen sữa bắt đầu hống hách nghênh ngang. Muốn chứng tỏ văn minh hơn đồng hương, không còn cách nào khác ngoài chuyện bỏ truyền thống ăn bốc và chê món ruốc khô (trassie),  món quốc hồn quốc tùy của In-đô, thúi ăn không vô. Lại thêm cái màn ma củ bắt nạt ma mới.  Mấy tháng nay Bobby bị mấy ông hiếp đáp.  Tôi biết hết nhưng đó là chuyện riêng tư của họ tôi không xía vào.  Biết đâu Bobby đi được một vài năm thì cũng cá mè một lứa.  Mặc kệ nó, tôi nhấn mạnh gót giày, quay lưng cất bước.

     Chiếc Đại Dương rời bến hồi nào không biết. Dấu nhầy nhụa như bùn của những bánh xe bốc hàng ban sáng đã được tuyết lấp không còn dấu vết nào, thay vào đó là một màu trắng tinh khôi.Trên những chiếc cần trục dọc theo bến cảng người ta kết hàng ngàn bóng đèn nhỏ thành hình ngôi sao, trái tim và hình cây thông đủ sắc màu nhấp nhau nhấp nháy. Chiếc cầu dài uốn cong nối hai bờ sông Elbe, ánh đèn rực rỡ chiếu xuống dòng sông hực sáng làm cho nền trời đã tối lại càng tối tăm. Tiết trời câm câm lạnh,  không gian im lìm nhưng tràn đầy thánh thiện. Vạn vật như thể hồi sinh câu chuyện cách đây hơn hai ngàn năm ở thành Bết-lê-hem…

     Khi chưn bước đều và tâm tư lắng đọng, chợt gương mặt dàu dàu của Bobby hiện ra làm tôi chạnh lòng. Tôi nhớ lại trong đời, tôi cũng có một đêm Giáng Sinh đầy tủi nhục. Cũng vì cái tật ưa ra vẻ hiểu biết trước những người không hiểu biết, nhưng thủ đoạn thì thâm độc vô cùng. Họ mời tôi tới dự tiệc, rồi cả đám xúm nhau vu khống, chửi rủa thậm tệ, thu vô chiếc băng nhựa, qua Giáng Sinh họ sang ra nhiêu cuốn gởi khắp bạn bè làm quà Tết.  Sau khi xối xả hết những lời lẻ bẩn thỉu, hạ cấp lên người, họ tống cổ tôi ra đường như tống một con vật dơ dáy và kèm theo lời nhân nghĩa, nếu không nghĩ tình đồng hương thì sẽ cho tôi một trận đòn hội chợ.

Khi thoát nạn, tôi run rẩy đạp tuyết bước đi nhưng trong lòng đầy oán hận. Trong lúc cô đơn và tuổi nhục đầu óc tôi toan tính chuyện trả thù. Bỗng tai tôi nghe trong không gian tiếng chuông nhà thờ reo inh ỏi. Tôi đứng lịm hồi lâu, đưa tay ra hứng từng nắm tuyết lấp lên mặt, chà tới chà lui, tỉnh táo. Tôi ngước nhình lên bầu trời trắng đục. Dường như trong tiếng chuông ngân giữa không trung lạnh lẽo toả sự ấm áp thiên liên nào đó. Chợt từ sâu trong tâm thức vọng về hai tiếng ăn năn. Bỏ qua chuyện rửa hờn, tôi đi một mạch về nhà, tắm rửa, thay đồ ngủ, tắc hết đèn phòng và đốt ngọng đèn cầy, lên giường nằm, kéo mền đắp lên tới cổ.  Ðêm nay là ngày Chúa xuống trần, những phiền não trong lòng, tôi có thể giao hết cho Ngài được rồi. Tôi hướng tâm tư tới những điều thánh thiện hơn, tôi nhớ lại những người ơn đã nâng đỡ tôi trong những ngày còn chưn ướt chưn ráo tới đây, kẽ cho áo, quần, người dạy tiếng nói, cho việc làm… Tính ra tôi đã mang ơn nhiều người quá, tới nay tôi chưa làm được điều tốt lành để đền đáp. Lòng tôi lâng lâng một niềm hy vọng và tôi thiếp đi trong giấc ngủ ngon lành. Sáng hôm sau thức dậy, mọi chuyện xảy ra trong đêm qua chỉ còn là cơn ác mộng.

    Tôi ngoái lại thấy Bobby đứng trơ như pho tượng, mặt ngó ra dòng sông Elbe. Tuyết lại đổ nữa rồi, tuyết tuôn đầy đầu, đầy cổ và trắng cả lưng mà nó vẫn không xuống tàu trốn tuyết. Có lẻ nó đương cô đơn, tủi nhục và nhớ nhà, những thứ nầy dễ làm cho con người ta sanh ra lòng thù hận. Trên bước đường lưu lạc nó không còn hy vọng trong tình đồng hương, vậy sao tôi còn hẹp hòi gì mà không chia sẻ cho nó chút tình người. Tôi chụm hai bàn tay lên miệng làm loa kêu lớn:

–   Bobby!!!

    Lâu lắm rồi tôi mới nghe tiếng kêu của mình rền vang trong không khí. Ngày còn là ngư phủ bên bờ vịnh Thái Lan, tôi đã từng quát tháo mỗi khi gặp bầy cá nổi ngoài khơi.  Âm thanh ấy đêm nay vẫn còn mãnh lực làm giựt mình cái pho tượng đứng trơ mặt ra dòng sông.  Bobby tức tốc day lại và đi nhanh về phía tôi:

–   Chuyện gì đó chú?

–   Mầy muốn đi chơi với tao hông?

     Như người đắm thuyền bá được phao, nó nói nhanh:

–    Dĩ nhiên.

–    Nhưng phải đi bộ lên hội quán.

–    Được, được chú đi đâu tôi theo đó.

–   Vậy thì mình đi.

Bobby hỏi tôi:

–   Đêm nay trên hội quán chắc vui lắm phải không chú?

Vui buồn là do lòng mình, tôi câu vai thân mật nói tiếp, đêm nay ngồi nơi yên ổn uống rượu nho, nghe nhạc Giáng Sinh, lòng ấm áp vô cùng.

Tôi khoa tay một vòng:

 –  Nếu lên hội quán mầy thấy hổng được vui thì năm nay mầy cũng có một Giáng Sinh trắng.  Phải không?.

  Gương mặt đưa đám biến mất, nó cất tiếng cười vang:

– Ha ha… đúng lắm,  đúng lắm…. nhứt định đêm nay tôi với chú uống cho say mới được.

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 23 May 2026

Dọc thẹo hai hên lề dường thành phố Nha Trang, có trồng cây làm bóng mát. Loại cây này, tôi chưa từng thấy ở nơi khác. Người dịa phương gọi là cây tra. Cũng có người bảo, ñấy là cây bàng ngoài miền Bắc. Chẳng biết có phải hay không. Lá tra to gần bằng chiếc quạt. Mùa hạ, gió cuốn lá khô chạy trên đường, Lá bay xao xác vào sân nhà, gợi cảnh thê lương buồn bã. Mỗi ngày, bà lao công quét lá gom lại góc sân, châm một mồi lừa. Mùi khói ngùi ngùi, gợi nhớ những câu luc bát trong bài bình giảng ca dao tục ngữ của thầy Nguyễn Văn Xung, năm tôi học lớp đệ tam.

Ngồi buồn đốt một đống rơm

Khói bay nghi ngút chẳng thơm chút nào

Khói bay lên tận Thiên Tào

Ngọc Hoàng phán hỏi, đứa nào đốt rơm?

Tôi nghĩ bốn câu này không phải là ca dao, thế nhưng vẫn nhớ hoài. Ngồ ngộ, khôi hài, và rất tào lao. Ca dao gì lạ vậy? Về sau, khi thầy dến chơi nhà anh Hòa, tôi có nêu lên sự nghi ngờ rằng những câu trên là do thầy sáng tác. Thầy cười, không xác nhận. Tính thầy vẫn thế, lững lơ với một nụ cười. Ai hiểu sao thì hiểu. Với tôi, mọi chuyện phải tách bạch rõ ràng trắng đen.

Tôi nói: “Nếu của thầy, thì không thể lấy làm ca dao.”

Thầy hỏi: “Ca dao là gì?”

“Là những câu đã được truyền miệng rộng rãi trong dân gian”.

“Hởi cô tát nước bên đàng. Sao có múc ánh trăng vàng đổ đi? Hai câu này của Bàng Bá Lân, nhưng ai bảo đó không phải là ca dao.

“Nhưng bốn câu của thầy, không được truyền miệng trong dân gian thì không thể gọi là ca dao.”

“Sao cm đám khẳng định là của thầy?”

“Vì em chưa nghc ai truyền miệng, ngoại trừ trong bài thầy cho em học.”

Có thể nào em đã nghe hết ca dao trong dân gian?”

Câu hòi của thầy làm tôi đuối lý, nhưng vẫn ấm ức trong lòng.

Tôi nói: “Mai sau, nếu đi dạy học cm sẽ làm thơ, bắt học trò học và bảo đây là ca dao. Đứa nào bảo không phải ca dao, em sẽ dùng lý luận của thầy, chận họng nó.”

Thầy cười: “Ừ, thì em cứ làm thế đi! Nhưng thầy nhắc cho em nhớ rằng, cuộc chơi nào cũng có cái giá phải trả.”

Lại câu nói mập mờ, lơ lửng với một nụ cười. Lá tra rơi rụng là báo hiệu mùa thi đã gần kề. Tôi mệt mỏi  nhiều vào thời gian này. Những con số và công thức toán học rối nùi trong đầu. Bài vỡ lãng đãng lúc nhớ lúc quên. Tinh thần sa sút. Thầy phê bình cách học của tôi là từ chương, không nhằm mở mang kiến thức, Tôi nói, tôi cần cái bằng cấp lận lưng lâm hành trang đi tới. Anh Hòa bảo, đừng để bị cái bằng cấp ám ảnh, lúc nào đầu óc căng thẳng nên đi chơi cho thanh thản.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 23 May 2026

Theo thông thường, chết khi trên 60 được gọi lả hưởng thọ, qua đời dưới 60 tuổi chỉ gọi là hưởng dương, nhung về chuyện trẻ và giả thật khó định nghĩa. “Cỡ bao nhiêu tuổi gọi giả, mà bao nhiêu tuổi gọi là trẻ con?” Trong bài này, tạm thời chúng ta xếp giới trẻ tuổi là đưới 40 vì trên 40 là trung niên, còn cao niên là tuổi giá mà không nghe nói đến mức tuổi (theo tự điển Hán Việt- Đào Duy Anh.) Tuy vậy, không ai trên 50 mà cho mình già, mà cũng ít người già công nhận tuổi 50 là giới trẻ. Tiếc thay ở giữa ranh giới già và trẻ không v phần đất “trái độn,” gọi tuổi “xồn xồn.”

Vậy thi trước mắt chúng ta, già và trẻ thế nào còn “tuỳ người đối diện,” Trẻ lả tuổi đã qua, và già là thời gian sắp tới, biết vậy nhưng giữa già và trẻ có rất nhiều khác biệt, không phải tương đồng mà rất nhiều tương phản. Ngay trong gia đình, con cái đã không hiểu được cha mẹ, mà cha mẹ chắc gì đã hiểu được con. Có khi, con cho cha mẹ là cổ lổ, cố chấp, còn cha mẹ thì nghĩ con là xốc nổi, mất gốc. Ở ngoài xã hội, cái hố ngăn cách giữa già và trẻ cũng thường rất sâu. Già coi trẻ như là “bọn nhóc con”, “miệng còn hôi sữa”, “hỉ mũi chưa sạch”. “chưa ráo máu đầu”, “thiếu kinh nghiệm sống,” và đương nhiên tuổi trẻ cũng có những thành kiến với lớp già, coi thường vị thế của cha ông mà nói rằng “già lẩm cầm,” “già gân,” đó là chưa kể già “xôi thịt,” “háo danh” hay “vô tích sự” …

Thực ra cũng có một số nhỏ giới già ý thức được sức mạnh của tuổi trẻ, mong mỏi có sự hợp tác giữa đôi bên. Nhưng phần lớn khi hợp tác với giới trẻ, giới già thường muốn giành ưu thế của “cha chú” coi bọn trẻ như “con cháu trong nhà.” Tuy hợp tác với nhau, nhưng tuổi trè luôn luôn được giao những nhiệm vụ “năng  động,” “đâu khó có thanh niên” như khiêng bản ghế (già sợ đau lưng), treo biểu ngữ (già sợ trèo cao té nặng), dọn rác (chuyện bần tiện), lo computer hay âm thanh ánh sáng (già không rành máy móc), v.v … chứ ít khi tuổi trẻ được tham gia một buổi họp tham mưu của tổ chức, hay từ nay đảm đương những chức vụ như cố vấn, giám sát. Giới trẻ như thế chỉ là “tay chân sai vặt.” Nếu không cũng chỉ là cây kiểng để người ngoài nhìn vào cũng thấy có đủ hoa, lá. cành. Nếu bắt phải kể ra có tuổi trả nào có khả năng lãnh đạo không, thì chắc ai cũng có thể kể được: này John F. Kennedy đắc cử Tông Thống Mỹ ở tuổi 44: Roosevelt Skerril lên Tổng Thống Cộng Hoa Dominican năm 32 tuổi; Phillip Roesler, một người Đức gốc Việt, năm 38 tuổi được bầu làm chủ tịch đảng FDP và sau đó được bổ nhiệm làm Phó Thủ Tướng Cộng hòa Liên bang Đức. Nhưng trong thâm tâm, người ta vẫn xem đó là những trường hợp hi hữu, chắc chì xảy ra bên Tây bên Tàu, chứ bên Ta và cái cộng dồng này thì tuổi trẻ, theo các cụ, vẫn còn “non nớt” lắm. Có cậu nào hơi thi thố tải năng một chút thi cũng dược xếp vào loại “chưa nóng nước đã đỏ gọng” mà thôi. Gần đây chúng ta thường nghe đến danh từ “hậu duệ” dễ nói dến một lớp trẻ trong nhiều tổ chức cộng đồng. Hậu duệ nói đến một lớp người kế thừa nối tiếp cho một dòng họ hay một công trình. Tạo diều kiện và vận động giới trẻ tham gia vào các tổ chức không phải là một ân huệ cho giới trẻ mà là một sự cần thiết. Mai đây lớp già tàn rụi đi thì ai mà đứng ra gánh vác chuyện non sông. Tre già thì măng mọc, Phi Khanh không thể sống đời mà phải trao đuốc cho thế hệ Nguyễn Trãi! Nhưng thực tình trong thâm tâm, chúng tạ đã đón tiếp và xem hậu duệ như là một thành phần cần thiết có mặt với chúng ta chưa hay chỉ là những thứ trang điểm?

Gần bốn mươi năm qua, việc trao ngọn đuốc dẫn đường cho thế hệ trẻ đưoc coi như đã quá chậm. Đấy thế mà đối với con em “hậu duệ,” các bậc “cha chú” vẫn thấy khó tìm cách cảm thông, phát triển, nâng đỡ, tận dụng vốn khả năng và tri tuệ đáng quý này. Hậu duệ nào mới mấp mé được mời ngồi vào chiếu. các ông đã rào đón, dè chừng, cản bước bằng các “biện pháp chế tài, khiển trách hay loại bỏ.”

Thể thì hỏi liệu con cháu chúng ta còn lòng dạ nào mà tham gia việc nước, tiếp sức với cha ông? Thực ra trong đầu óc, chúng ta vẫn coi thứ con cháu này như những đứa trẻ ngu ngơ trong vòng tay cha mẹ, chưa biết việc đời, phải luôn luôn ở dưới sự hướng dẫn, chỉ dạy của các bậc trưởng thành, thế hệ cha anh. Kẻ ôm riệt cái danh xưng một thời, người đi ra khói nước chậm, ở với Cộng Sản được vài năm, đã cho mình là “kinh nghiệm với CS đầy mình,” phải ra sức dạy dổ cho giới trẻ biết chống Cộng ra làm sao! Bây giờ nhìn giới trẻ từ cộng đồng hải ngoại đến trong nước, chúng ta đã thấy có những việc chúng ta làm dỡ hay không làm được, mà thể hệ sau không những chỉ làm được, mà còn làm giỏi giang, can đảm hơn bọn chúng ta nhiều. Một số người khác thì chẳng thực tâm gì với cái chuyện kế thừa và hậu duệ chống Cộng, đấu tranh dân chù, hay phục vụ cộng đồng. Có khi phải cần người bưng cờ bưng quạt, phò trợ để lấy danh trong cộng đồng. Khi vận động và khen ngợi tuổi trẻ dấn thân phục vụ thì các cụ chỉ chiêu dụ con cháu người khác chứ không phải con cháu của mình. Hỏi đến con cải của mình, thì chúng đang bận “dùi mài kinh sử” để thành bác sĩ, dược sĩ, nha sĩ, luật sư … hay dang lo làm giảu cho rạng rỡ tông môn nhà mình, rồi giải thích, chống chế, cho rằng mỗi người mỗi việc. Như vậy, vận động con chấu người khác tham gia chuyện công ích, mà không phải con cái nhà mình, chỉ là một lối “xúi trè ăn cứt gà!

Ông cha ta đã từng nói “con hơn cha là nhà có phúc”, vậy thấy giới trẻ hơn mình trong bất cứ chuyện gì thì cũng nền mừng chứ sao lại suy bì ganh ty. Lẽ thế gian thì “tre già măng phải mọc”, đó là quy luật tất yếu, không đi ngược lại được. Chúng ta chỉ còn mang được chút kinh nghiệm sống, đôi khi cũng không hoàn toàn ứng dụng được với môi trường mới, thời đại mới, đem ra tạm chia xẻ với lớp trẻ. Trẻ và già phải đối đầu với nhau trong tinh thần tương than tương kính. Đừng dể những tư duy “hương nguyện” làm trì hoãn tiến bộ của cộng đồng bên này và cho cả đất nước bên kia. Phải tin tưởng và bồi đắp cho tuổi trẻ, vì dó là niềm tin của chúng ta vào tương lai.