Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 22 May 2026

Bởi tôi học cua, nên không có chứng chì đệ nhị. Kỷ sư kiều lộ Nguyễn Văn Hoa, trưởng ty Hỏa Xa Nha Trang, là người cấp giấy chứng nhân trình độ tương đương cho tôi nộp đơn thi tú tài. Tôi vào văn phòng của anh, tự giới thiệu và trình bày lý do. Anh vui vẻ nhận lời, đi cùng tôi ra xã thị thực chữ ký. Xong việc, anh nói, muốn thử trình độ học vấn của tôi, Qua hai dêm sát hạch, anh nói, khả năng tôi còn yếu lắm. Anh đề nghị, mỗi tối tôi đến nhà anh sớm hơn, anh sẽ bỏ thì giờ dạy kèm cho tôi. Tôi nói, tội không thể đến sớm, vì còn phải đi kèm trẻ kiếm sống. Tôi cũng nói sơ qua về tình cảnh hiện tại. Anh thco tôi về căn nhà lá, sau một chiều nghỉ việc. Giống như con bé Đông mỗi lần đến đây, anh đi quanh bên ngoài một vòng. Nhìn vẻ bệ rạc tàn tạ của căn nhà. Rồi đứng trầm ngâm nhìn ra nghĩa dịa. Không ai thích nằm ở đó, nhưng lại hay hướng mắt về cái nơi chốn cùng tận của đời người. Chiều xuống âm u. Từ những nấm mồ, bốc lên một làn sương mỏng. Chẳng biết anh nghĩ gì mà nhìn lâu thế. Mắt anh đăm đấm mông lung. Khi buớc vào nhà, anh kêu lên: “Ăn ở thế này thì học hành sao được? Đèn đuốc tù mù sẽ bị hư mắt.” Anh ngước lên mái nhà quan sát, “Trời mưa sẽ dột. Vợ dại, nợ đòi, nhà dột. Người xưa cho đó là ba cái khổ của đàn ông.”

Anh hỏi tôi về sự ăn uống.

Tôi nói: “Có gì ăn nấy.”

“Cũng phai mua chứ?”

“Vâng. Phải mua.”

“Tiền đâu?”

“Kèm trẻ.”

Anh lắc đầu: “Thì giờ không còn nhiều nữa. Bận rộn lo toan đủ thứ việc. Tâm tri đâu mà học?”

Tôi im lặng.

Anh bảo: “Nghỉ kèm tre. Dành thì giờ cho sự học.”

Tôi lập lại lời Kinh Thánh: “Chim chóc bay trên trời, không làm gì vẫn có thức ăn. Hoa cỏ ngoài đồng nội, không làm gì vẫn có áo đẹp. Các con là con của Chúa, lại sợ đói hay sao? Dẫu Chúa nói thể, nhưng nếu em không kèm trẻ, thì đói thật đấy.”

Anh Hòa nói: “Bảo em nghỉ kèm trẻ là đã có cách giải quyết. Em ở nhà anh, khỏi lo chuyên tiền bạc ăn uống. Anh rãnh lúc nào, sẽ dạy thêm cho em những môn còn yếu, gấp rút cho kịp kỳ thi.”

Hôm sau, tôi dọn lại nhà anh Hòa. Thằng Ẩn trách, tham phú phụ bần. Tôi nói, tùy cơ ứng hiến.

Anh Hòa ở trong cái biệt thự của chính phủ. Nhà rộng, có nhiều phòng trống. Trên tường nơi phòng khách, treo cái bản đổ thiết lộ ghi các trạm phụ và nhà ga ở mỗi địa phương. Tôi thường đứng nhìn bản đồ, mơ ước một chuyến viễn du qua những địa danh xa lạ, những nơi đèo heo hút gió. Bữa trước, đọc ké quyển xách anh Hòa để trên bàn, Tự Do Đầu Tiên Và Cuối Cùng của Krishnamuiti. Tôi nhớ câu, “Đi là sống. Dừng là chết nguy trong đời sống hiện tại”. Ý tác giả nói đến sự thăng hoa trong tư tưởng, nhưng tôi vẫn muốn hiểu thco cái nghĩa den cuộc đời. Không biết tự lúc nào, trong tâm hồn sâu thẳm của tôi có tiếng thì thầm rén gọi ra di. Không dự dịnh sẽ tới nơi nào, mà vẫn muốn ra đi. Ở đâu, lòng tôi cũng nhấp nhồm khong muốn ở lâu. Chính cái tâm trạng này làm tôi bứt rứt không yên. Anh Hòa sống một mình. Hàng ngày, có một bà giúp việc mang thức ăn đến, gom quần áo đi giặt, và quét dọn trong ngoài biệt thự. Xong việc, bà về nhà của bà. Tôi không biết chính xác tuổi của anh, chỉ đoán chừng ngoài ba mươi. Nhìn anh, người ta dễ liên tưởng một nông dân chất phác, thuần hậu. Mỗi chiều, sau khi cơm xong, anh hay rủ tôi ra ngồi hóng gió trên hãi biển, nói là để thư giãn tinh thần. Có lần, tôi hỏi anh về chuyện gia đình. Anh bảo, còn độc thân. Tôi thắc mắc, vì số tuổi đời của anh, sao chưa lấy vợ? Anh nói, người minh muốn lấy, họ không chịu lấy mình. Lý lịch của anh, tôi chỉ biết có thế. Không nghe anh nhắc đến đàn bà con gái. Mẹ anh Hoa từ Long Xuyên ra thăm. Bà nhắc nhờ anh từ miếng ăn giấc ngủ, dạy bảo anh nhiều điều về đời sống đạo đức, làm như anh còn là đứa trẻ con. Ban đêm, tôi thấy bà lần chuỗi hạt. Bà ngồi im lặng trong vùng ánh sáng mờ mờ. Người bà như thu nhỏ lại khi đang hướng tâm về một thế giới huyền ảo. Tôi nghĩ, thế gian có quá nhiều người tu, sao xã hội vẫn tràn đầy những bất công đau khổ?

Thỉnh thoảng cũng có những người đến chơi nhà anh Hòa. Nhà sư Thích Trí Tâm. Thi sĩ Quách Tấn. Giáo sư Nguyễn Văn Xung. Ông Xung là người dạy Việt Văn năm tôi học đệ tam, tôi gọi bằng thầy. Ngoài ba người ấy, tôi chẳng thấy có ai. Sư Trí Tâm hỏi tôi theo đạo gì? Tôi nói, lúc đói có vào chùa ăn cơm chuy. Đêm Giáng Sinh, có vào nhà thờ cầu nguyện. Đôi khi cũng theo người quen vào quỳ trong hội thánh Tin Lành. Thuộc kinh Cao Đài, Hiểu giáo lý Hòa Hảo. Không làm thiện, cũng không làm ác. Sư cười, như thế là hòa đồng tôn giảo. Anh Hòa kính cần gọi sư bằng thầy. Sư nhận tôi làm cháu nuôi. Tôi gọi sư bằng chú. Nhờ làm cháu nuôi của su, nên mỗi khi tôi đến chùa, sư bảo xin trái cây trên bàn thờ Phật, đem xuống mà ăn. Sư có chiếc xe hơi hiệu Renaul, thường chở tôi chạy tà tà dạo mát dọc bờ biển. Tôi ngồi phía sau. Nhìn nữ sinh tản bộ, thích cái đáng cặp đùi sau vạt áo dài quyện gió. Tôi đưa tay vẫy vẫy, trêu ghẹo. Nữ sinh chửi, thẩy chùa mắc dịch. Sư tưởng vô cớ bị chửi. Sư nói, mình chẵng làm gì, vẫn bị nguyền rủa. Khẩu nghiệp của người thế gian năng nề lắm. Tôi cảm cái tâm lành của sư. Những lúc sầu đời, cũng muốn vào chùa quy y niệm Phật. Ý nghĩ ấy chỉ phớt qua. Cái mùi tục lụy đối với tội, dẫu sao cũng còn nhiều hấp dẫn.

Thầy Nguyễn Văn Xung và thi sĩ Quách Tấn hay đi chung đến nhà anh Hòa. Anh Hòa đưa tiền, bảo tôi ra chợ mua thức ăn làm cơm đãi khách. Tôi mua cá, phổi bò. Rau muống, Bữa cơm có hai món: cá kho và phổi bò xào rau muống. Anh Hòa xin lỗi khách, vì bà giúp việc đi vắng, nên bữa ăn chỉ có thế. Thi sĩ Quách Tấn gắp miếng phổi bò, nhai mãi. Miếng phổi qua dai, ông muốn nhả nhưng không biết nhả vào đâu. Đành nuốt. Miếng phổi nhợn ngang cổ, làm nước mất ông trào ra. Anh Hòa lại xin lỗi, vì đồ ăn được chế biến bởi tay đầu bếp bất đắc dĩ.

Thái dương bên trái của thi sĩ Quách Tấn có cái sẹo tròn to bằng đồng xu. láng bóng. Ông kể rằng, nhà thơ Hàn Mặc Tử khó chịu vì cái sẹo này, yêu cầu mỗi lần gặp nhau, ông nên ngồi xoay qua vị thế khác để nhà thơ đừng nhìn thấy cái sẹo. Ông nói, chính vì tâm hồn dể xúc động, nên Hàn Mặc Tử làm đuợc những bài thơ truyền cảm đặc biệt. Tôi thích nghe những giai thoại về các văn nhân thi sĩ, Ông bảo, sa vào cái nghiệp thơ van là luy cả cuộc đời. Ông cho biết, hồi còn trẻ ông bị ám ảnh bởi tiếng kêu thảm thiết của con quạ. Tiếng kêu khoắc khoải điều gì như tuyệt vong. Mãi dến hai mươi năm sau, ông thể hiện được điều ấy qua hài “Đêm Thu Nghe Qua Kêu”, Tôi ngạc nhiên về thời gian thai nghén một tứ thơ.

Ông ngâm bằng cái giọng đặc sệt Bình Định:

Từ Ô y hạng rủ rê sang

Bóng lần đêm thâu tiếng rộn ràng

Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng

Thu sống Xích Bích nguyệt mơ màng

Bồn chồn thương kẻ nương song bạc.

Lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng

Tiếng dội lưng mây đồng vọng mãi

Tình hoang mang gợi tứ hoang mang.

Thầy Xung, và anh Hòa nghe xong, ngồi trầm ngâm. Tôi phải thu thật rằng, tôi chỉ hiểu từng câu rời rạc, nhưng ghép lại toàn bài thì không hiểu gì cả. Thầy Xung bảo, yếu tính của thơ là truyền cảm. Tôi nói, tôi cũng không cảm, nếu không có cái tựa để thì không ai biết vì nghe tiếng quạ mà ông liên tường đến những địa danh đâu đâu ở tận bên Trung Quốc. Thi sĩ Quách Tấn cười, không nói gì. Anh Hòa liếc mắt nhìn tôi như ngẩm bảo, tôi chưa đủ tư cách để nói về bài thơ của một thi sĩ đã thành danh.

Thầy Xung tuối ngưài bốn mươi, vẫn sống độc thân. Hờ hững với đàn bà. Ông nói, đàn bà vốn nông nổi, nên tính họ bạc. Có lẽ, trên đường đời, ông từng bị phụ nữ từ khước và đá văng vào nổi ê chề đau khổ, nên mang nặng thành kiến. Nhiều lần nghe thi sĩ Quách Tấn và thầy Xung đàm luận văn chương, tôi hiểu ra rằng tâm địa con người biểu hiện qua chữ nghĩa. Trong văn chương ẩn chứa biết bao điều cao cả. cũng không thiếu những tư tưởng thấp hèn. Người có tư cách, hành văn cần thận, chắc bóp từng chữ, gạn lọc từng câu. Kẻ tiểu nhân, khi hành văn thì chữ nghĩa như chó chay rong trên đường, cắn bậy. Tội thử viết bài văn xuôi, nhờ thầy Xung bình phẩm. Đọc xong, thấy không nói gì. Mấy ngày sau, thầy vẫn ngơ luôn.

Tôi hỏi: “Xin thầy cho nhận xét về bài văn của em?

Thầy nói: “Văn em là văn bửa củi.”

“Sao gọi là văn bửa củi?”

“Hành văn nhát gừng, lổn nhổn những đá sạn thô nhám.

Loại văn này chỉ thích hợp cho đề tài chửi lộn, hoặc đòi nợ.”

“Em chưa hiểu ý thầy?”

“Nói đến thế mà vẫn chưa hiểu. Em không phải là người của văn chương.”

Nhận xét của thầy, làm tôi thất vọng.

“Xin thầy chỉ dần cho cm.”

Thầy cười: “Học hành, lấy vợ đẻ con.”

Anh Hòa bảo: “Hãy chờ sau mùa thi, tập làm văn sĩ cũng chưa muộn.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment