Phan Nhật Nam
Post by Sơn râu 23 May 2026

Phan Nhật Nam
Lời Người Viết:
Vào buổi “ngoại cuộc” (không phải trong nghĩa chính trị “Bên Thắng/Bên Thua Cuộc”) thanh thản cuối đời, nhân đọc Thơ Haiku của Nhật (bản dịch tiếng Mỹ) thấy điều thú vị nên chấp bút bài viết phiếm đàm giữa thơ Haiku của Nhật và Lục Bát Việt Nam. Nhưng lần hồi, nhận ra tiếp, vấn đề không chỉ là chuyện văn chương, thi ca mà có tầm quan trọng, tổng quát hơn, liên hệ đến Sinh Mệnh/đúng ra là Vận Mệnh của Dân Tộc Việt. Vấn đề lớn quá, người viết biết rõ bản thân chỉ là một Người Lính Già (rất già) của một quân đội thất trận từ 51 năm trước, và hiện là một thứ dân hạng thấp nhất của xã hội Mỹ xét về tiêu chí sinh lợi. Nhưng dẫu gì, cũng là một “Con Người/Người Việt Nam” nên cố gắng tìm cho ra lẻ (đối với bản thân), chứ không ai khác. Người Đọc có thể không đồng ý về những điều sẽ trình bày nhưng chắc phải nhận ra điều THẬT – Cũng bởi Sự Thật chỉ có Một.
Dẫn Nhập:
Hình như người Tây Phương (điễn hình, cụ thể người Mỹ) trước đây có phần “khớp” đối với người Nhật (như hiện nay, Thế Kỷ 21 (Trước thời kỳ Donald Trump) đối với Tàu cộng). Theo nhận định (từ chủ quan cá nhân), có lẽ do “mặc cảm có tội” về vụ hai quả bom nguyên tử thả xuống Nagasaki và Hiroshima trong tháng 8/1945; nhưng đồng thời cũng “ngán” người Nhật từ vụ tấn công Trân Châu Cảng (7/12/1941); lần kỹ nghệ, khoa học, tài chánh Nhật bộc phát vượt trội trong thập niên 1960’s. Riêng về lãnh vực văn hóa-nghệ thuật thì loạt phim ảnh với “chủ đề” như Rashomon; Bảy Người Hiệp Sĩ… rõ ràng hơn hẳn loại phim xanh đỏ màu mè của đào kép Hollywood, Paris trong thập niên 50, 60 của thế kỷ trước. Cuối cùng, điện ảnh Âu Mỹ (xin lỗi) phải dựng nên loại “người hùng” kiểu OSS 117; 007, Superman, Người Dơi, Người Nhện… chỉ với một cây súng ngắn đánh tan kẻ thù đông đúc có xe tăng, máy bay, hỏa tiễn yểm trợ từ bàn rượu ở New York, sòng bài Monaco đến Bắc Cực mà chiếc sơ-mi trắng không vết dơ, lại luôn có một cô gái sexy bên cạnh! Chiến sĩ Rambo một mình với hai tay hai súng đại liên đánh tan một tiểu đoàn Vi-xi! Cộng sản Hà Nội, Lộc Ninh không chết vì sặc cười kể cũng lạ. Chuyện tư bản Âu Mỹ với tài phiệt Nhật, cộng sản Tàu không nằm trong nội dung câu chuyện muốn trình bày.
Trở lại ý chính của bài viết, người viết (lại) thấy ra: Văn học-Nghệ thuật Người Việt thật ra không kém cỏi so với thế giới. Tất nhiên, VN không (thể) có được Tứ Thư, Ngũ Kinh; Đại tác phẩm như Tam Quốc, Thủy Hữ… của văn hóa Hán Tộc 5000 năm; VN cũng không (thể) có Chiến Tranh và Hòa Bình, Anh Em Nhà Karamozov… của Đế Quốc Nga rộng lớn (nhất địa cầu). Nhưng với văn chương bình dân, đại chúng thì Người Mẹ trong thơ Lưu Trọng Lư, văn Thanh Tịnh trước 1945; nhạc Phạm Duy, Y Vân, Duy Khánh sau 1954 ở Miền Nam… không kém kịch tính, cảm xúc so với bất kỳ Người Mẹ nào của văn học-nghệ thuật thế giới. Không kể loại “Mẹ cách mạng giải phóng với lựu đạn dấu trong lưng quần” của đám văn công Việt cộng trong chiến tranh gọi là “chống Mỹ cứu nước (1960-1975); hoặc “mẹ ngồi dưới hầm sâu” tại Phú Nhuận, Tân Định, Sàigòn trong “Đại thắng mùa Xuân 1975” của nhạc Trịnh!
Tóm lại, có thể nói Người Mẹ Nga của Gorky không “Đau” hơn Người Mẹ Gio Linh của Phạm Duy cho dù chung chịu cảnh cùng khổ thương tâm. Người Mẹ VN cũng tìm thấy rất nhiều trong lần trong Mậu Thân, Huế 1968, trên Đại Lộ Kinh Hoàng, Quảng Trị, nơi Trường Trung Học Bình Long, An Lộc, 1972; trên đường di tản từ Cao Nguyên Trung Phần sau lần Ban Mê Thuộc bị quân cộng sản Bắc Việt đánh chiếm (10/3/1975)… Mẹ Việt Nam còn thấy trôi lềnh Biển Đông, xác rãi dài đường bộ vượt biên sau 30/4/1975. Nỗi Đau không của riêng Ai! Ở miền Bắc, trong mật khu “giải phóng” miền Nam không thiếu Mẹ có sáu đứa con, ảnh năm con xếp hàng trên bàn thờ, thằng út quá nhỏ nên “cách mạng” chưa kịp xung vào bộ đội. Tôi lại đi quá xa về phía “phản chiến/chống cộng”. Trở lại vấn nạn Việt Nam – Tại sao?!
Một.
Từ “Đêm qua ra đứng bờ ao”
Một ngày cuối năm 1950, thằng bé bảy tuổi vô cớ không muốn vào chơi nhà Bác Thoại thợ điện, cùng xóm Kiệt 1 Trung Bộ, gia đình có bốn con trai, hai người anh hơn nó mấy tuổi, hai thằng em, bằng buổi luôn bày những trò chơi hấp dẫn. Nhỏ đi ra đường Gia Hội, rẻ trái xuống phía rạp hát đang xây cất, mới xong mặt trước với bảng hiệu Gia Hội Hí Viện. Qua tiệm thuốc Bắc có hàng Mụ Ta bán những đồ ăn (chơi) đựng trong những mẹt nhỏ đặt trên hàng hiên tiêm thuốc. Mệ bán cho con một đồng khoai ngào. Mi có tiền không? Dạ có một đồng. Món quà gồm những lát khoai ngào đường đen đúa, vụn nhỏ được gói trong tờ giấy tập vỡ đã viết đầy chữ mực tím. Thằng bé có ý nghĩ “mình mua lương thực để đi (chơi) xa” Nó đi theo hông tường hí viện, đến bờ sông, leo qua đống rơm, ngồi lên đống gạch ngói của ngôi miếu nhỏ bị phá dở. Thằng bé nhìn ra sông đang trôi chảy giòng lũ của trận lụt vừa qua. Trên mặt nước có con chuồn chuồn Ớt màu đỏ bay chập chờn, nước chảy im lặng hắt nắng vàng long lanh. Bên kia kia sông, Cồn Hến có ngôi nhà thờ sơn màu trắng, và phía xa cầu Trường Tiền sáng màu bạc… Thằng bé có ao ước “Khi lớn sẽ lội qua Cồn Hến và đi lên Cầu Trường Tiền”. Nhưng nó tránh liếc về chỗ Bến Ôn Bồi (tên người em ôn nội) vì ở đó ba bồng mình lội xuống nước! Ba đi Việt Minh rồi! Thằng bé thấy năng nặng ở ngực và mắt cay cay… Nó vất gói khoai xuống nước cho bầy cá cấn, cá mại… Cho tụi mi đó. Nhỏ trở lại nhà. Nền đất lạnh lạnh dưới chân, hắn thấy lại đầu tóc trắng của mệ nội và cái hòm màu đỏ để ở góc phòng chuẩn bị cho người sắp chết. Chỗ trũng ngực hình như năng hơn. Nó đưa tay lên nút áo trên ngực lay lay.
***
Thời gian sau, khi theo học lóp Năm của cô giáo Lạc Trường Mai Khôi, đứa nhỏ dần đọc thông tiếng Việt, mở cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư bài Đêm qua ra đứng bờ ao… Hình vẽ một người đàn ông mặc áo dài đứng nơi một bờ ao… Nơi đứa nhỏ cư trú không có ao, nhưng vẫn còn những người đàn ông mặc áo dài (phần đông màu đen, đi guốc mộc, tay cầm ô)… Nên nhỏ THẤY RA CẢNH BUỒN của một lớp người đang đi qua, dần biến mất. Hình vẽ kèm bài thơ chỉ miêu tả ước lệ, có phần thô thiển, đơn giản nhưng – Buồn Thật. Thật buồn (đúng) với nội dung…Buồn trông con nhện giăng tơ… Đêm đêm tưởng giải ngân hà… Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn… Tào khê nước chảy hãy còn trơ trơ. Không biết “giải ngân hà” là gì? “Tào khê” ở đâu? Nhưng “nước chảy hãy còn trơ trơ” thì chắc để nói về cảnh mõi mòn, chờ đợi như mẹ và hắn chờ ba về! Hóa ra, bản thân đứa nhỏ hay bao thế hệ người Việt đã thấy ra/sống với Nỗi Buồn từ rất lâu – Rất lâu với Sự Buồn – Dẫu chưa biết gọi tên.
Đoạn Trường Tân Thanh/Truyện Kiều của Nguyễn Du (1766-1820) nguyên ủy là Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (1521-1593) Đời nhà Minh Trung Hoa (1368-1644). Chuyện kể đời truân chuyên của một ca nhi (có thật) tên là Vương Thúy Kiều người vùng Lâm Tri. Chuyện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân là một loại tiểu thuyết có chương hồi chỉ là một văn phẩm hạng hai của kho tàng đồ sộ của văn học TrungHoa với nhiều yếu tố bất cập về bố cục tiểu thuyết và tâm lý nhân vật. Bối cảnh chính trị-xã hội được mô tả là “…Gia Tỉnh triều Minh bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng…” Nhưng điểm mấu chốt của bi kịch câu chuyện (của Kiều) là do cáo gian của gã bán tơ khiến Kiều phải bán mình chuộc cha – Xã hội không có pháp luật, đầy rẫy tham nhũng, hối lộ, buôn người! Từ Hải được mô tả “… Giang hồ quen thói vẫy vùng. Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài…”- Một lãnh đạo lớn của vùng Việt Đông! Nhưng do chỉ nghe lời khuyến dụ về danh lợi của một ả tình nhân (Kiều) mà mang thân “về với triều đình” để bị loạn tiễn tan thân!
Nhưng khuyết điểm (tiểu thuyết) của Thanh Tâm Tài Nhân như kể trên đã được tài nghệ trác tuyệt của Nguyễn Du Việt Hóa qua Tâm Thức Đoạn Trường khiến Thúy Kiều trở thành một mẫu mực thương tâm không phải (riêng) trong thi ca mà sống mãi cùng Nỗi Đau Dân Tộc Việt! Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang… Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây! Không phải là tiếng kêu than “tình phụ” của cô Kiều đối với tình nhân nhưng là lời thống thiết (âm thầm) của Bà Huyện Thanh Quan trước một Thăng Long hoang phế; là mối đau cắt của (toàn) họ Nguyễn (Nghi Xuân/Hà Tĩnh) triều Nhà Hậu Lê phải vào Huế chịu cảnh hàng thần lơ láo với Gia Long, Minh Mang. Và “Khi tỉnh rượu lúc tàn canh. Giật mình mình lại thương mình xót xa” chắc không thể là lời kêu đau thương vì một mối tình (trai gái) không trọn mà chỉ là khối nguồn uất hận lần “nước mất nhà tan” – Tình cảnh của Người Miền Nam sau 30/4/1975. Nguyễn Du sống mãi với Phận Người-Vận Nước VN.
Hai. Đến “Buồn vào hồn không tên”. (Còn tiếp)
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.