Một thời để Yêu & Một thời để Chết.

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Post by Sơn râu 26 May 2026

Bãi tha ma sáng chói dưới trời nắng. Một trái bom rớt trúng cổng vào. Nhiều cây thập tự và bia đá rải rác trong lối đi và trên các mộ khác. Nhiều cây liễu bị lộn ngược lại, rễ lởm chởm đưa lên trời, cành nằm dưới đất như những cái rễ xanh. Nom giống những cây kỳ lạ ở một cái biển ngầm dưới đất, còn bám rêu và rong xanh. Xương người chết văng lên đã được thu nhặt để lại từng đống sạch sẽ. Chỉ còn những mảnh ván hòm thối nát còn vương vất khắp nơi. Không có cái sọ nào.

Gần nhà nguyện đã dựng lên một cái nhà nhỏ để dùng làm nơi làm việc cho người gác nghĩa địa và hai người phu đào huyệt. Graber xin vào thăm thì người gác ra vẻ bực dọc vì quá bận rộn.

– Không có thì giờ đâu! Sáng nay mười hai đám tang. Làm sao chúng tôi biết được người nhà ông chôn ở đâu! Có đến nước mười hai cái mộ không ghi tên gì cả. Làm sao tôi biết được!

– Ông có giữ sổ!

– Sổ sách! – Anh gác la lên và quay lại bảo hai người phu đào huyệt:

– Họ đòi sổ sách nữa, các anh nghe thấy không? Còn bao nhiêu người chết đợi ngoài cửa kia ông biết không? Ba trăm! Ông có biết sau trận bom mới đây người ta chở đến đây bao nhiêu không? Bảy trăm! Trận bom trước: năm trăm. Phải chôn hết trong bốn ngày. Làm sao chúng tôi chôn hết? Người ta không kịp tổ chức gì cả. Cuốc nào đào kịp, phải có máy đào mới xuể! Ai biết trước trận bom tới xảy ra lúc nào? Tối nay hay ngày mai? Ông còn muốn sổ với sách!

Graber không trả lời. Y lấy ra bao thuốc lá đặt lên bàn. Mấy người làm đưa mắt cho nhau. Y đợi một lúc. Rồi y thêm vào ba điếu xì gà nữa. Thuốc ấy y mang từ bên Nga về cho cha.

– À cám ơn! Thôi để liệu xem. Ông cứ ghi tên vào giấy, để một người đến văn phòng. Bây giờ ông có thể đến xem những người chết chưa vào sổ kia kìa để dọc theo tường.

Graber đến nơi. Một số người chết đã tìm ra căn cước. Có người được để vào săng, có người để trên cáng quấn trong mền. Nhiều người mặc áo ngày lễ, có người được bọc vải trắng. Y lần lượt đọc tên từng người chết, lật mền lên coi những xác chết y không biết tên tuổi rồi đến xem những xác chết chưa lập căn cước xếp hàng ở gần mé tường. Một vài người được vuốt mắt, một số khác chắp tay lên ngực, nhưng phần nhiều để nguyên vẹn như lúc chết, chỉ vuốt tay cho xuôi đặng khỏi choán nhiều chỗ. Một đám người dân sự yên lặng đi qua, cúi xuống những khuôn mặt xám xịt với hy vọng tìm ra người thân. Cách y vài bước, một người đàn bà bỗng quỳ xuống gần một xác chết ôm mặt khóc rưng rức. Những người khác tránh ra sau bà ta để tiếp tục tìm kiếm, họ có những khuôn mặt kín đáo trầm lặng không lộ chút xúc động, nhưng có lẽ chỉ là sự chờ đợi khắc khoải. Càng gần hết hàng xác chết, hy vọng càng hiện rõ trên mặt, nom họ bình tĩnh hẳn lại khi ra về.

Graber bước về chỗ cũ. Người gác hỏi:

– Ông đến nhà nguyện chưa?

– Chưa.

– Những xác nào nát bấy thì để ở đây.

Y lẳng lặng nhìn Graber. Nhưng phải cứng bóng vía mới nên vào đấy. Một anh trưởng trại tập trung hôm qua vào đây cũng phải chóng mặt, tuy rằng anh ta khỏe như con bò mộng.

Graber không trả lời. Y đã trông thấy nhiều người chết rồi mà không bồn chồn, tuy ở đây là dân sự có đàn bà con nít nhưng cũng không khác. Những sự thảm khốc y đã chứng kiến bên Nga, bên Hòa Lan, bên Pháp không kém gì ở trong nhà nguyện. Y nhận thấy những xác người nát bấy chất đống trong nhà nguyện nom không đáng sợ bằng những xác chết đóng băng đủ mọi giai đoạn thối sình đã thấy bên Nga, nhất là một toán năm mươi du kích quân chết treo, mặt xanh dờn sưng húp, mắt lòi ra ngoài, môi nứt tung, lưỡi lè ra sưng to một cách kỳ dị.

Một người phu đào huyệt nói:

– Ở văn phòng không thấy gì cả. Trong tỉnh còn có hai cái nhà xác nữa, ông đã đến chưa?

– Rồi.

– Ở đấy họ còn có nước đá. Họ may mắn hơn chúng tôi.

– Họ cũng ngập đầu ngập cổ.

– Không sao. Có nước đá thì còn tiếp nhận được. Nếu trời cứ nóng thế này mà còn vài trận bom liền thì chắc là đành phải dùng một cái hố chung.

Graber gật đầu. Nhưng y nghĩ rằng tai họa lớn không phải là tại dùng đến hố chung, mà là những lý do xa xôi làm cho phải dùng đến hố chung.

– Đây chúng tôi làm được đến đâu hay đến đấy. Ngày nào cũng lấy thêm người nhưng cũng vẫn còn ít quá. Cách làm việc này đã xưa rồi, vả chăng còn phải theo lễ nghi tôn giáo.

Y quệt tay lau mồ hôi trán:

– Chỉ có ở trại tập trung là người ta biết cải tiến việc lẳm. Ở đấy mỗi ngày chôn được hàng trăm xác chết. Người ta có những phương pháp tối tân. Chỉ có cách dùng lò lửa mà đốt thì mới chóng thế. Nhưng ở đây thỉ không thể nói đến chuyện lò đốt.

Mắt anh ta lim dim nhìn qua tường một lát. Rồi anh ta ra hiệu từ biệt Graber, mau chân trở lại làm việc tận tâm với sự chết.

Graber phải đợi vài phút. Lốỉ vào nghẽn vì có hai đám tang. Y đưa mắt nhìn quanh. Các thầy đạo cầu nguyện bên mồ, thân nhân người chết quì gối trên mặt đất, chim hót trên cây, không khí phảng phất mùi hoa tàn và mùi đất mới đào. Đám tang vẫn đi quanh tường, phu đào huyệt giơ cuốc lên trên những cái huyệt đào dở, thợ chạm lúi húi quanh cái bia mộ, thân nhân đi đưa đám theo sau người dẫn đường, Nghĩa địa trở nên nơi sầm uất nhất trong tỉnh.

***

Căn nhà trắng của Binding nấp kín dưới màn cây xanh. Một vòi nước phun róc rách trong cái bể xây giữa bãi cỏ. Bông thủy tiên, bông kim hương rắc những điểm sáng dưới bụi xoan đang mùa khai hoa. Nhành lá mềm mại vuốt ve bức tượng tố nữ bằng đá cẩm thạch.

Người quản gia ra mở cửa, một mụ đàn bà tóc đã hoa râm, người bó chặt trong chiếc khăn choàng trắng trước ngực.

– Ông có phải là ông Graber?

– Phải.

– Ông Binding không có nhà. Ông ấy đi họp Đảng, nhưng có để lại giấy cho ông.

Graber theo mụ quản gia vào hành lang. Bức họa của Rubens rực rỡ trong căn phòng mờ tối. Trên bàn, một bức thư và một chai rượu gói ghém tinh tươm đang đợi Graber. Binding nói rằng chưa có tin tức gì, nhưng chắc chắn là cha mẹ của Graber không có tên trong sổ sách những cơ quan cấp cứu trong tỉnh. Như vậy chắc chắn đã di cư hay đi theo một trong những đoàn lánh nạn. Binding dặn y mai trở lại và cố gắng quên nước Nga đi với chai rượu vốt-ca tặng kèm theo đây.

Graber nhét cả thư lẫn rượu vào bị. Mụ quản gia đứng đợi ở khe cửa.

– Ông Binding dặn tôi gửi lời thăm ông.

– Tôi cũng nhờ bà gửi lời thăm ổng và nói rằng mai tôi sẽ trở lại. Cũng cảm ơn ổng cho chai rượu. Nó sẽ giúp ích tôi nhiều.

Mụ quản gia mỉm nụ cười thân yêu như người mẹ.

– Ông Binding sẽ vui lòng lắm. Ông ấy là người tốt lắm.

Graber đi qua vườn ra ngoài. Y nghĩ: “Ông ấy tốt quá! Tốt thế mà ông ta cũng đưa thầy học của mình vào trại tập trung. Một người có thể tốt với một vài người này, nhưng lại ác nghiệt với một số người khác”.

Y sờ nắm chai rượu làm căng phồng cái bị. Chai rượu này để làm gì đây? Để uống mừng tia hy vọng mong manh sẽ tìm thấy cha mẹ chăng? Để mang ra mời anh em trong phòng 48? Hay là đem tặng Elisabeth? Có lẽ nàng cần hơn mình, vả chăng mình cũng còn chai rượu mạnh.

***

Người đàn bà mặt mày cau có ra mở cửa.

– Tôi muốn hỏi cô Elisabeth!

Graber nói rồi xông vào nhưng mụ ta cứ đứng cản đường.

– Cô Elisabeth không có đây. Ông phải biết chứ?

– Làm sao tôi biết được.

– Cô ấy không cho ông biết rằng cô ấy đi làm à?

– Tôi quên rồi, mấy giờ cô ấy về?

– Bảy giờ.

Graber không dè mình đến không phải lúc. Y thoáng nghĩ đến việc gửi chai rượu lại. Nhưng biết mụ chó săn này có nhận giùm không?

– Thôi cảm ơn, tối tôi trở lại.

Y đi vài bước trong phố. Nhìn đồng hồ thấy đã sáu giờ.

Y nghĩ đến buổi tối buồn rầu, chán ngắt. Reuter dặn y: “Đừng quên hưởng thú vui những ngày nghỉ phép” y không quên đâu, nhưng làm thế nào mà hưởng thú vui?

Chẳng bao lâu y đã ra tới công trường Karl, bèn đến ngồi trên chiếc ghế. Hầm núp xây bê-tông sừng sững như con rùa khổng lồ chỉ cách đấy vài thước. Nhiều người cẩn thận chui vào hầm ngủ đêm. Trời dần dần tối xuống. Graber chốc lại nhìn đồng hồ. Nếu có Elisabeth ở nhà y đã tặng chai rượu rồi đi, nhưng không gặp nàng y nóng ruột mong cho tới bảy giờ.

Chính Elisabeth ra mở cửa.

– Tôi không hy vọng được gặp cô, vì vẫn có người canh cửa.

– Mụ Lieser hôm nay đi họp hội phụ nữ Quốc xã.

– Đây mới thật là chỗ của mụ ta.

Graber nhìn quanh hành lang.

– Cái gì cũng khác hẳn khi không có mụ ta ở đây.

– Vì có đèn sáng. Mụ ta đi khỏi là tôi thắp đèn.

– Thế lúc mụ ta ở đây thì sao?

– Thì tằn tiện chịu tối vậy. Như thế là ái quốc, ái quần.

– Đúng thế. Họ muốn thấy chúng ta như thế.

Y lấy chai vốt-ca ra:

– Tôi mang tặng cô ít rượu vốt-ca lấy trong hầm một anh mật vụ. Một người bạn học cũ tặng tôi.

Elisabeth nhìn y:

– Anh chọn bạn kỳ khôi nhỉ.

– Thì cũng gần như cô chịu đựng người thuê nhà đó.

Nàng mỉm cười, cầm lấy chai rượu.

Graber đi theo nàng xuống bếp, y nhận thấy nàng mặc chiếc xăng đay đen và cái váy cũng đen. Tóc quấn trong một vuông lụa đỏ. Vai nàng vuông và nổi bắp thịt, háng hẹp và thon.

Nàng vừa đóng sập ngăn kéo lại vừa lẩm bẩm:

– Không thấy có cái mở nút chai. Chắc mụ la không uống rượu.

– Khỏi cần.

Y cầm lấy chai rượu đập hết xi gắn rồi đập mạnh cổ chai vào đùi. Nút chai bật ra với tiếng kêu mạnh.

– Chiến tranh mà! Có ly không, hay cứ tu cũng được.

– Trong phòng tôi có ly.

Graber theo nàng vào. Bây giờ y mừng rằng đã đến đây. Ít ra cũng tránh được một tối cô độc không biết làm gì.

Elisabeth lấy hai cái ly rượu mùi để trên kệ sách. Graber không nhận ra căn phòng trước. Trong phòng kê một cái giường, vài chiếc ghế bọc vải xanh, một chiếc bàn giấy, coi có vẻ đầy đủ tiện nghi, yên ổn. Trong trí nhớ, y chỉ giữ lại một ấn tượng hỗn độn kinh khủng, “có lẽ tại còi hụ làm y lúc ấy rối bù đầu óc”. Tiếng kêu gây ra sự tan hoang tưởng tượng. Nom Elisabeth cũng khác, nhưng nàng không có vẻ yên ổn thư thái.

Nàng quay lại:

– Đúng ra chúng ta cách mặt nhau trong bao lâu rồi?

– Một trăm năm. Bấy giờ chúng ta còn là con nít và không có chiến tranh.

– Thế bây giờ?

– Bây giờ chúng ta già rồi tuy chưa mấy tí tuổi. Già và yếm thế. Chúng ta chẳng còn tin tưởng cái gì. Chúng ta buồn nản. Nhưng không đến nỗi buồn nản lắm.

Nàng nhìn Graber:

– Không đến nỗi buồn lắm. Vậy thì sự thật thế nào? Cô thì hẳn cô biết.

Elisabeth lắc đầu:

– Còn có cái gì đáng là chân lý không?

– Khó lòng lắm. Tại sao vậy?

– Tôi không biết. Nhưng nếu không ai tìm cách bắt buộc người khác theo chân lý của riêng mình thì cũng bớt được chiến tranh.

Graber mỉm cưới. Lời nói của Elisabeth có một âm vang kỳ lạ.

– Sự rộng lượng, phải, đời này thiếu sự rộng lượng hơn cả.

Elisabeth gật đầu. Graber cầm ly rót rượu ra:

– Chúng ta nâng chén mừng cho sự rộng lượng. Anh chàng mật vụ cho tôi chai rượu này hẳn không nghĩ đến điều ấy.

Họ uống cạn ly.

– Một ly nữa?

Elisabeth lưỡng lự một chút rồi hăng hái.

– Xin tiếp anh!

Y rót hai ly rồi đặt chai xuống bàn. Rượu vốt-ca mạnh, trong và tinh khiết. Elisabeth đặt ly xuống :

– Sang đây xem bảo tàng viện rộng lượng. Mụ ta vội vàng quá, đi không khóa cửa. Đây không phải là lạm dụng. Lúc tôi đi vắng, mụ ta vẫn sang lục lạo nhà tôi…

Một góc phòng có vẻ bình thường. Nhưng trên bức tường trông ra ngoài sáng treo một bức hình Hitler in màu, xung quanh là cành thông và những vòng lá sên. Dưới bức hình là một cái bàn, trải chiếc cờ chữ vạn, trên đặt một cuốn Mein Kampf loại sách đắt tiền cạnh thếp vàng. Hai bên là hai cây đèn nến bằng với nhiều bức ảnh chụp Quốc trưởng đứng với con chó quý hay đang nhận bó hoa của một cô gái mặc đồ trắng.

Trên “bàn thờ” của mụ còn có dao găm và phù hiệu của Đảng.

Graber không lấy làm lạ. Y đã trông thấy nhiều chứ không phải là lần thứ nhất. Sự tôn thờ nhà độc tài dễ biến ra hình thức tôn thờ tôn giáo. Y hỏi:

– Chắc là mụ ta ngồi đây viết những thư tố cáo.

– Không, mụ ta ngồi kia, ở bàn giấy của ba tôi.

Graber tiến lại bàn giấy. Một chiếc bàn rất cổ nắp đóng chặt.

– Khóa rất cẩn thận. Không thể biết mụ ta để gì ở trong.

– Có phải mụ ta tố cáo ba cô không?

– Tôi không chắc lắm. Từ ngày người ta dẫn ba tôi đi tôi không biết gì cả. Bây giờ mụ ta đã ở đây với một đứa con trai, chỉ ở một phòng thôi. Khi ba tôi bị bắt rồi, mụ ta chiếm luôn hai phòng của ba tôi.

– Cô có nghĩ rằng mụ ta tố cáo ba cô bị bắt để chiếm lấy hai phòng?

– Sao lại không. Người ta còn tố cáo vì cái lợi nhỏ nhặt hơn thế nhiều.

– Nhưng cái bàn thờ kỳ cục kia hình như chứng tỏ mụ ta có chân trong một ủy ban những người cuồng tín, những người đi giầy gót dẹt.

– Graber! Anh tin rằng sự cuồng tín không thể dung hòa với tư lợi à?

– Không tin. Nghĩ cũng kỳ dị, người ta nhắc lại những câu ngây ngô nghe một hai lần không kịp suy nghĩ. Đời sống không phải chỉ có những phạm trù đã được xếp loại và định nghĩa. Loài người còn hành động theo những cái bí ẩn khác. Có lẽ con rắn độc này cũng thành thực yêu con, yêu chồng, cũng xúc động vì cao đẹp và rộng lượng. Không biết mụ ta có biết đích xác cái gì không hay bịa ra chuyện để tố cáo ba cô.

– Ba tôi tử tế nhưng thiếu thận trọng, họ nghi ngờ lâu rồi. Khó lòng mà câm miệng được khi người ta nghe những bài diễn văn chói tai của nhà cầm quyền suốt ngày.

– Ông đã nói gì?

Elisabeth so vai:

– Ba tôi không tin rằng nước Đức có thể thắng trận.

– Có nhiều người tin như thế chứ không phải một mình ông.

– Như anh chẳng hạn.

– Tôi chẳng hạn. Thôi đi ra đi. Mụ ta mà bắt được mình vào đây thì chưa biết mụ ta sẽ làm gì.

Elisabeth hơi mỉm cười.

– Bắt gặp thế nào được? Tôi đã khóa hành lang rồi.

Nàng ra hành lang mở then cửa. Graber nghĩ: “Trời! Người ta ngược đãi nàng thật nhưng nàng không đến nỗi ngờ nghệch”.

Y bảo nàng:

– Ở đây có mùi nghĩa địa. Có lẽ tại những cành cây sên héo này. Ra ngoài uống một ly đi.

Y rót đầy ly.

– Tôi biết tại sao chúng mình già như ông cụ. Chúng mình đã chứng kiến nhiều sự thối nát. Những người hơn tuổi mình đã làm ra những sự thối nát ấy, đáng ra họ phải hiểu biết hơn chứ!

– Tôi không thấy tôi già.

Y nhìn nàng. Quả vậy nàng không có vẻ già.

– Càng hay.

– Tôi thấy tôi bị cầm tù. Còn khổ hơn thấy mình già.

Graber ngồi xuống một chiếc ghế bành:

– Biết đâu mụ không tố cáo cô. Mụ ta muốn ở cả căn nhà này. Tại sao lại thúc thủ đợi người ta đến bắt mình, mà cô biết chắc rằng cô không có cách gì để tự vệ.

Nàng bỗng thất vọng:

– Vâng, tôi biết. Nhưng làm thế nào được? Bây giờ tôi đâm ra mê tín. Tôi tin rằng tôi còn ở đây thì còn may mắn ba tôi được ra. Nếu tôi ra đi, tôi có cảm tưởng như bỏ mặc ba tôi. Anh có hiểu không?

– Tôi thiết tưởng không cần hiểu. Làm là làm. Dù vô lý cũng làm.

– Vậy đó!

Nàng uống cạn ly. Ngoài có tiếng mở khóa.

– Mụ ta về đấy. Đã đến lúc tôi nên đi khỏi đây. Buổi họp có vẻ chóng quá.

Họ nghe tiếng bước đi vang trong hành lang.

Graber cúi xuống nhìn cái máy hát.

– Cô chỉ có những bài hành khúc thôi à?

– Không phải thế, nhưng hành khúc ra vẻ ồn ào hơn cả. Những lúc im lặng nặng nề phải làm ồn ào mới chịu nổi.

Graber nhìn Elisabeth:

– Chúng ta ăn nói kỳ dị thực! Ấy thế mà ở trường học người ta dạy rằng tuổi trẻ là thời kỳ mơ mộng.

Elisabeth cười. Ngoài hành lang có tiếng cái gì rớt xuống đất. Mụ Lieser thốt ra tiếng chửi thề. Một tiếng cửa đóng rầm rầm. Elisabeth lẩm bẩm: “Tôi lại để đèn sáng. Thôi ta đi ra ngoài. Nhiều khi tôi thấy mình chịu hết nổi. Thôi bây giờ nói chuyện khác”.

Ra ngoài rồi Graber hỏi:

– Bây giờ đi đâu?

– Không biết nữa. Đi đâu cũng được.

– Gần đây có phòng trà quán ăn nào không?

– Tôi chưa muốn vào đâu, hãy đi ở ngoài một chút cho khoáng đãng.

Phố xá vắng vẻ, thành phố tối tăm và yên lặng. Họ đi ngược phố Marie, qua công trường Karl, qua cầu và sang bên thành phố cũ. Quang cảnh có vẻ như không thực, hầu như đời sống ngưng lại, hầu như chỉ còn hai người sống trên đời. Họ đi qua những phố xá còn nguyên vẹn, nhưng khi ngó mắt vào cửa sổ để xem còn dấu tích quen thuộc đời sống hằng ngày hay không, thì chỉ thấy ánh trăng chiếu vào cửa kính, phía trong căn nhà màn kín hay dán giấy sơn dầu hắc đen thui. Hầu như cả tỉnh đang lúc tang tóc, trong tối đen thui, nhà đóng kín cửa ngõ như những cái hòm người chết đóng kín mít.

– Tối hôm nay có cái gì vậy, người ta đi đâu cả, vắng vẻ hơn mọi ngày.

– Vắng quá thật, ở ngoài mặt trận có thế này không?

– Cũng thế.

Họ đi vào một con đường nhà cửa phá hết. Mây từng mảnh nhỏ lững thững trôi trên trời, ném xuống đất từng vệt tối mờ. Chim ăn đêm kéo đến ở những xác nhà hoang, chúng túa ra bay hoài bay hủy trong ánh trăng suông vằng vặc. Sau cùng họ nghe tiếng bát đĩa đụng nhau gần đầu đây. “A! Dù sao cũng có người ăn uống. Đời sống còn quanh quất đâu đây!”

– Chắc là họ uống cà phê. Hôm nay có phát cà phê. Cà phê chính cống. Cà phê bom.

– Cà phê bom.

– Ừ, cà phê bom. Người ta gọi thế vì đây là món tiếp tế đặc biệt sau một vụ ném bom quan trọng. Có khi có cả đường, sô-cô-la hay một gói thuốc lá.

– Cũng như ở mặt trận. Người ta phát cho rượu mạnh và thuốc lá trước khi có cuộc xung kích. Ngẫm nghĩ cũng lố lăng thật; hai trăm gờ ram cà phê cho một giờ nguy hiểm chết người.

– Một trăm chứ đâu có hai.

Hai người tiếp tục đi. Vài phút sau Graber đứng lại:

– Elisabeth ạ, đi như thế này còn buồn hơn ở nhà. Giá mang theo chai vốt-ca thì thú hơn. Gần đây có quán cà phê nào không?

– Tôi không muốn đến quán cà phê. Người ta đóng kín mít như trong cái hầm.

– Thế thì trở về trại. Tôi còn một chai rượu, để tôi lấy ra ngoài này uống.

– Đồng ý.

Họ nghe tiếng xe vang trong đêm trường, ngựa phi nước đại chạy tới. Bóng tối thấp thoáng làm ngựa sợ nhảy lồng lên, mắt trồn xoe, mũi hếch lên. Người đánh xe ghìm mạnh dây cương, ngựa chồm lên như một con quái dị trong ánh sáng hư ảo, miệng phun ra từng đám bọt. Người qua đường phải leo lên đống gạch vụn để tránh, Elisabeth hình như không muốn tránh. Giữa lúc ngựa lướt qua người nàng, Graber có cảm tưởng như nàng sắp nhảy phóc lên lưng ngựa cho nó phi như bay. Nhưng nàng đứng lại một mình đối diện với trời hoang vắng và hỗn loạn.

– Tôi có cảm tưởng như cô muốn cưỡi ngựa đi.

– A, nếu đi được thì tôi đi thật. Nhưng biết đi đâu? Chỗ nào cũng chiến tranh..

– Chỗ nào cũng chiến tranh thật. Cả đến những nước xưa nay bình ổn, những biển phía Nam và bên Ân Độ. Không biết đi đâu.

Họ đến trại lính.

– Đợi tôi một chút, về kiếm chai rượu. Không lâu đâu.

Graber đi qua sân, leo lên thềm đưa đến phòng 48.

Nhiều người đã đi ngủ, tiếng ngáy vang trong phòng. Trên bàn còn chiếc đèn đêm. Mấy người đánh bài không ngủ. Reuter ngồi cạnh họ với quyển sách. Graber hỏi:

– Bottcher đâu?

Reuter gấp sách lại trả lời:

– Hắn dặn tôi bảo anh rằng không có tin tức gì cả. Xe đạp đụng vào tường gẫy nát, họa vô đơn chí. Ngày mai đành đi bộ. Hắn đi uống cốc cà phê giải buồn. Còn anh sao? Trông anh có vẻ khoái tỉ!

– Tôi cũng không có gì. Tôi lại đi nữa đây. Trở về lấy chút đồ thôi.

Graber lục bị. Y đã mang từ nước Nga về một chai rượu mùi và một chai vốt-ca. Ngoài ra cờn chai a-ma-nhắc của Binding cho.

– Lấy rượu mùi hay a-ma-nhắc, chai vốt-ca không còn đâu?

– Sao vậy?

– Tụi tao uống rồi. Đáng lẽ mầy phải khao tụi tao, không đợi phải hỏi. Ở Nga về đừng nên có óc tư bản, phải nghĩ đến chúng bạn một chút chứ. Vốt-ca của mày ngon lắm.

Graber lấy ra hai chai còn lại, bỏ chai a-ma-nhắc vào túi, còn chai rượu mùi đưa cho Reuter

– Anh nói có lý. Anh cầm chai này để uống cho khỏi phong thấp. Và cũng chớ có óc tư bản. Hãy nghĩ đến chúng bạn.

– Cám ơn.

Reuter lê gót lại bị của mình lấy ra một cái mở nút chai:

– Tôi nghĩ rằng anh vẫn dùng những phương pháp quyến rũ đào đã cổ lỗ. Phương pháp cần đến rượu mạnh. Nhưng chàng hay quên đồ mở nút nên phải đập cổ chai, uống thế thì rách toạc môi, mình đang trong cơn nóng sốt như thế! Khuyên anh nên có mưu mẹo một chút.

– Chỉ nói bậy! Chai rượu mở rồi.

Reuter ngửi hơi rượu mùi

– Làm cách nào kiếm được rượu mùi Hòa Lan ở bên Nga?

– Tôi mua đấy. Còn hỏi gì nữa không?

Reuter cười hóm hỉnh.

– Không. Thôi bê chai rượu đi! Không cần phải giữ ý tứ gì cả. Trường hợp của anh đáng giảm khinh. Nhưng phải làm nhanh mới được. Nghỉ phép thì ngắn mà chiến tranh thì dài.

Một người nằm trong giường bỗng nhỏm dậy:

– Có cần thuốc ngừa không? Trong bóp tôi có thuốc ngừa đấy. Tôi không cần. Ngủ ở nhà có bao giờ mắc bệnh hoa liễu.

– Không chắc. Đây là một thứ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Nhưng Graber có sức mạnh thiên nhiên. Một bản vị Aryens với mười hai ông tổ thuần chủng. Trong trường hợp của y, dùng thuốc ngừa là phản quốc.

Graber mở chai rượu uống một hớp, cất vào túi rồi nói :

– Các anh mơ mộng quá! Mình biết chuyện mình thôi, mặc kệ người khác thì hơn.

Reuter giơ tay chào.

– Thôi yên tâm mà đi con! Quên luật nhà binh đi. Bây giờ chết dễ hơn sống, nhất là các con, các con là mầm sống anh hùng, là hoa thơm của tổ quốc.

Graber mang theo một hộp thuốc lá và một cái ly. Lúc ra, y đưa mắt nhìn bàn bài, Rummel vẫn ăn. Trước mặt anh ta một đống tiền đồng và một xấp giấy bạc. Mặt anh ta vẫn lì lợm, nhưng mồ hôi mồ kê nhễ nhại.

Các cầu thang đều vắng tanh. Toán người đi tuần vừa đi khỏi. Tiếng gót giầy y trong hành lang dội trở lại. Đi qua sân ra đến cửa thì không thấy Elisabeth đâu. Y nghĩ: “Về rồi chắc!” Có thể lắm. Nàng đợi làm gì?

Người lính gác bảo Graber:

– Nàng của anh đứng đợi đằng kia. Không biết sao một anh bình nhì xác xơ như anh lại vớ được những cô bảnh thế? Để cho sĩ quan mới phải!

Graber trông thấy hút Elisabeth. Nàng đứng áp tường bên kia đường phố. Y vỗ mạnh vào anh lính gác :

– Luật lệ mới mà! Sau bốn năm ra trận, giờ cái đó thay cho mề đay. Con gái cấp tướng cả đấy chứ chơi hẳn. Sắp đến lượt anh rồi đấy. Luật cấm nói chuyện trong giờ canh gác đấy bồ!

Nói rồi y đi qua đường sang với Elisabeth.

***

Họ kiếm được cái ghế ở mô đất đằng sau trại. Họ ngồi dưới mấy cây dẻ, ngồi đây có thể trông thấy hết thành phố. Không có một đốm lửa nào. Chỉ có dòng sông ánh lên chút ánh sáng mờ giữa những dãy nhà, Graber mở nút chai rượu rót ra lưng cốc. Rượu a-ma-nhắc rung rinh hổ phách lỏng. Y đưa ly cho Elisabeth :

– Uống đi!

Elisabeth uống một hớp rồi trả lại.

– Cạn chén đi. Đây là lúc chúng ta uống, uống để quên cuộc sống thê thảm, uống mừng cho chúng ta còn sống. Chúng ta cần nó để sống trong cái thành phố chết này.

– Ừ thì uống nữa, uống cho nhiều thứ như thế.

Y rót ly khác và uống một hơi hết. Sức nóng dễ chịu lan ra khắp người, tuy nhiên y thấy trong người trống rỗng hơn bao giờ. Y ý thức được sự trống rỗng ấy trong sự sáng suốt bình thản và hy vọng, không có gì là đau đớn.

Elisabeth ngồi xổm lên ghế, cằm tựa vào đầu gối. Lá hạt dẻ dưới ánh trăng nom trắng toát, y như một đàn bướm đêm đậu vào cành cây.

Nàng chỉ tay về phía tỉnh:

– Sao mà tối thế, nom như một cái mỏ than.

– Cô nhìn phía ấy không hay, quay lại nhìn phía này coi.

Đằng sau họ, đồi thoai thoải thấp dần xuống cánh đồng, con đường mòn ánh bạc dưới trăng, hàng bạch dương cao vút mái nhà một làng nào đó san sát chung quanh ngôi nhà thờ. Xa xa, rừng núi tận chân trời.

Graber nói:

– Bình yên trên đời này là ở đó. Sống như vậy thật là giản dị, phải không?

– Giản dị, miễn là có thể quên triền đồi bên này.

– Có thể tập quên được.

– Anh biết cách ấy à?

– Dĩ nhiên, nếu không tôi đã chết lâu rồi.

– Tôi cũng muốn biết.

Y cười:

– Chính cô cũng biết rồi. Chúng ta đã học cách tạo lấy sức lực khi nào có thể tạo được. Bây giờ chúng ta đã biết không nên phí sức trong những lúc nguy hiểm, không nên nghĩ ngợi buồn phiền.

Y đưa ly cho nàng.

– Đây cũng thuộc về kỹ thuật của anh?

– Tối nay thì hẳn rồi.

Nàng uống. Y nhìn nàng.

– Tối nay không nên nói đến chiến tranh nữa.

Elisabeth nghĩ đến những năm còn bé.

– Không nên nói gì hết trọi.

– Cũng được.

Hai người lặng yên. Dần dần những tiếng động ban đêm nổi lên. Tiếng gió nhẹ như hơi thở của núi rừng, tiếng con vọ ăn đêm, tiếng ri rỉ côn trùng dưới ngọn cỏ, ánh trăng luồn qua mây khi tỏ khi mờ, tiếng thiên nhiên không làm rối sự yên lặng tĩnh mịch mà càng tăng vẻ tĩnh mịch. Cái yên lặng thêm mãnh liệt, yên lặng tỏa ra khắp nơi, bao vây lấy mình, thẩm thấu vào mình theo nhịp thở cũng thành yên lặng cái yên lặng vỗ về xóa bỏ mọi ưu tư, gỡ hết nút rối khắc khoải, sau cùng đem đến giấc ngủ.

***

Elisabeth sẽ cựa mình. Graber rùng mình ngó quanh.

– Tôi vừa thiêm thiếp ngủ. Thế là thế nào?

– Tôi cũng thế.

Nàng mở mắt ra. Ánh trăng phản chiếu vào mắt nàng làm cho đôi mắt sáng trong.

– Đã lâu tôi không ngủ dưới trăng. Bây giờ người ta ngủ dưới ánh đèn, trái tim thắt lại vì sợ tối, người ta tỉnh giấc bất thần để rồi sợ hãi.

Graber vẫn ngồi yên. Y không muốn hỏi gì nàng cả. Tính hiếu kỳ tê liệt đi khi biến cố xảy ra dồn dập. Y chỉ hơi hơi ngạc nhiên mà thấy mình bình thản như vậy, thấy mình lâng lâng trong một giấc mơ màng trong trẻo, như một tảng đá giữa vùng nước biển nhấp nhô mấy đám rong rêu. Lần thứ nhất từ khi ở Nga về, y cảm thấy bình thản thư thái.

Sự thư thái ngập khắp mình, êm đềm như nước dâng lên trong đêm trường trùm kín những khoảng khô cạn trong đời sống để biến thành một tấm gương trong sáng.

***

Hai người trở về tỉnh. Họ lại bị trả về cuộc đời trong phố phường, hơi cháy nhà còn tàn lạnh bao vây họ, cửa ngõ tối thui lại theo dõi họ với hình ảnh màu tang. Elisabeth rùng mình. “Ngày xưa phố xá nhà cửa chan hòa ánh sáng, nhưng người ta chỉ thấy rất tự nhiên, thói quen che lấp cái tuyệt diệu của sự vật. Bây giờ mình mới biết đó là một cảnh tuyệt điệu”.

Graber ngẩng mặt lên. Trời trong vắt không một sợi mây. Thật là dịp tốt cho máy bay đi oanh tạc. Nghĩ thế là người y bồn chồn. “Bên Âu châu này ở đâu cũng thế. Hình như chỉ có nước Thụy Sĩ là có đèn sáng. Họ trưng đèn để cho phi công biết họ là nước trung lập. Một người bạn làm phi công đã nói với tôi như vậy. Một hải đảo đầy ánh sáng, ánh sáng, ánh sáng và bình yên đi đôi với nhau. Những nước chiến tranh bị ám muội đen, Pháp, Đức, Ý, Ba Lan, Áo, không nước nào tránh khỏi…”

– Trời cho ta ánh sáng để chúng ta sống ra vẻ con người, nhưng chúng ta đã giết chết ánh sáng để sống làm kẻ ẩn nấp dưới hang.

“Để chúng ta là người”. Graber nghĩ thầm: Hình như tối nay Elisabeth hay nghĩ quá xa xôi. Tuy nhiên, có lẽ nàng có lý. Loài vật không biết thắp đèn sáng, không biết dùng lửa, cũng không biết làm ra bom.

Họ đi đến đường Marie. Bỗng y thấy Elisabeth khóc.

Nàng nói:

– Anh đừng nhìn mặt tôi. Đáng lẽ tôi không nên uống say. Tôi không buồn. Nhưng tôi có cảm tưởng như trong người tôi tất cả đều sụp đổ.

– Đừng chống lại cảm tưởng ấy. Để như thế lại hay. Tôi cũng vậy. Như thế chỉ tỏ ra chúng ta đã thành công.

– Thành công cái gì?

– Cái mình vừa nói đến lúc nãy: quay sang triền đồi bên kia. Tối mai ta không kéo lê gót ở đây nữa. Chúng ta đến nơi nào có ánh sáng, có nhiều ánh sáng như tất cả ánh sáng trong tỉnh này họp lại. Để tôi đi hỏi thăm.

– Tại sao vậy? Anh có thể kiếm được một nơi vui thú hơn là đi chơi với tôi?

– Tôi không muốn đến nơi vui nhộn.

– Sao lại không?

– Tôi không chịu nổi. Tôi cũng không chịu đựng được những bộ mặt thương hại tôi. Suốt ngày hôm nay đã no nê thương hại của người đời rồi. Thương hại thật tình và thương hại giả dối. Chắc cô cũng hiểu lắm chứ!

Elisabeth không khóc nữa:

– Vâng, tôi hiểu lắm.

– Đối với chúng ta, chúng ta không cần giả dối như thế cũng đã là nhiều rồi. Tối mai, chúng ta đến một tiệm cà phê có đèn sáng nhất ăn uống và cố quên trong vài giờ cuộc đời khốn nạn này.

Nàng nhìn y

– Sang bên kia đồi?

– Thì hẳn rồi. Mai cô mặc chiếc áo nào đẹp nhất.

– Vâng, đợi anh vào lúc tám giờ tối.

Bất thần y thấy tóc nàng và môi nàng phớt qua mặt như một ngọn gió nhẹ. Y chưa kịp phản ứng nàng đã biến mất. Y thẫn thờ sờ tay vào chai rượu. Chỉ còn chai không. Y đặt cái chai trước cửa nhà bên. “Lại mất toi một ngày. May mà Reuter và Feldmann không thấy mình ở đây, không thì nhức óc với họ”.

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 26 May 2026

Sau ngày thi, Đăng và Tưởng rủ nhau đi chơi Đà Lạt, không cần chờ bảng niêm yết kết quả. Tôi cũng chẳng đợi chờ gì nơi cái bảng ấy. Thằng Ẩn đang lo bài vỡ thi tú tài toàn phần. Tôi một mình đạp xe lẩn quẩn trong thành phố, chán lại ra ngồi bãi biển, có khi còn ngủ trên ghế đá công viên. Thì giờ thừa thải, chẳng biết làm gì. Cô đơn. Buồn chán. Mỗi lần trở về căn nhà lá, tôi như đối diện với sự trống rỗng trong tâm hồn. Tôi sợ sự trống rỗng. Có phải đó là hư vô? Hư vô của tôi vừa trống rỗng, vừa trắng bệch màu tang. Vi vu trong đầu nỗi chết. Tôi gặp lại thằng bạn học cũ năm dệ tứ, tên Hoàng, Hắn lớn hơn tôi ba tuổi. Tôi bám lấy hắn như một khỏa lấp khoảng trống tâm hồn. Năm ấy, hắn đi học cũng là một cách đi chơi. Nói chuyện hay chửi thể. Ngang con gái thường buông lời chọc ghẹo rất nham nhở. Bản tính lì, không ngán bất cứ thằng nào, sẵn sàng đánh lộn. Hắn bỏ học sau khi thi rớt trung học đệ nhất cấp. Hắn dẫn tôi về nhà chơi. Nhà hắn ở Rọc Rau Muống, trong con hẽm. Không khí gia đình hơi là lạ, Mặt người nào cũng lạnh trơ vô cảm. Cho đến nụ cười cũng là cười gượng. Ba má hắn làm nghề gì đó ở khu Sinh Trung, thình thoảng ghé về nhà dẫn cô con gái ra đi. Nhà hắn có ba người con gái. Hắn không giới thiệu, nhưng tôi đoán là chị hay em bà con của hắn. Cả ba đều ăn mặc diêm dúa, phấn son lòe loẹt. Tôi cũng dẫn Hoàng về chỗ ở của tôi. Sau khi biết tôi sống lông bông, hắn đề nghị coi làm nghề dẫn mối khách làng chơi. Hắn bảo, ba người con gái ở nhà hắn là gái đi khách, chứ không bà con gì cà. Nếu tôi chịu dẫn mối, ba má hắn sẽ mướn xích lộ cho tôi trá hình làm phu xích lô, gạ khách trước những khách sạn, hoặc các quán rượu. Dù tôi chết đói, cũng không nghĩ ra được một cái nghề lạ lùng như thế.

Tôi nói: “Tao thà cạp đất mà ăn cũng không làm ma cô.”

Hắn nói: “Tấi cả dều là phương tiện kiếm tiền,”

“Nhưng sĩ diện không cho phép tao làm những chuyện đê tiện,”

“Sĩ diện cái cục cứt.” Hắn mạt sất, “Mày cũng chỉ là thằng thối tha như bao nhiêu thằng khác. Mày không chiu

dẫn mối vì chê ít tiền. Nếu một lần dẫn mối được trả bằng một năm lương bộ trưởng, mày có làm không?”

Tôi nín thinh, Cảm thấy mọi giá trị đạo đức đều sup đổ trước tiền tài. Hắn chồm tới như phụn nọc độc vào mặt tôi: “Tiền bạc mua được hết mọi thứ, con ạ! Kể cả tiết hạnh của người đàn bà gọi là đoan chính, cũng có thể mua bằng tiền. Trả rẽ không bán, trả cao hơn đến một cái giá nào đó, họ sẽ bán.”

Tôi la lên: “Láo! Mày chà đạp lên nhân phẩm con người.”

“Ngu đần và ảo tưởng mới đặt vấn dề nhân phẩm lên con người. Bọn quyền thế, nhiều tiền chỉ nói đến thế quyền và tiền bạc, Có được hai thứ đó, nó khuynh loát tất cả.”

“Hoàng ơi, dù mãy nói gì thì tao cũng không làm nghề dẫn mối đâu.”

“Thôi chịu! Thuyết phuc một thằng ngu khó hơn điều khiển một con bò. Tao chẳng giúp gì được cho mày.” Hắn lắc đầu thất vọng.

Chiều hôm ấy, Hoàng thân thiện dẫn tôi đi ăn cơm Tàu ở hà hàng Đông Á.

Hắn hỏi: “Ngon không?”

Tôi nói: “Ngon.”

“Người ta bảo đồng tiền có mùi tanh. Tiền tao kiếm được là do gạ khách chơi gái. Mày có nghe mùi gì không?”

Câu hỏi làm tôi muối mặt. Tôi không trả lời, Đã lỡ ăn của hắn rồi, còn biết nói sao?

Hắn cười hì hì, trông rất đểu. Hoàng mua thêm con gà xối mở và ba chai bia đem về căn nhà lá. Hắn nói, phải tập ăn chơi cho biết mùi đời. Trước khi đi, hắn dặn đồ ăn để đấy, tối hắn trở lại. Tôi nằm trên chiếc sạp gỗ. Buổi chiều mùa hạ nóng bức. Nghĩ lại thái dộ và lời nói của hắn làm tôi ê chề. Tôi chán hắn. Nhưng sao mỗi lần gặp hắn, tôi vồ vập như bám lấy chiếc phao? Toi tự mâu thuẩn và khinh bỉ chính mình. Không có sự khinh bỉ nào cay đắng hơn tự khinh bỉ mình. Buổi tổi, Hoàng trở lại với một người con gái. Người mà trước đây tôi lầm tưởng là bà con của hắn. Hắn giới thiệu như đùa: “Tuyết Liên, con gái nuôi của má tao.” Rồi đưa tay chỉ sang tôi, “Còn đây là Hiên, bạn anh từ tiền kiếp.”

Tuyết Liên đưa tay. Tôi cầm lấy bàn tay mềm mại. Bàn tay của đứa con gai nào cũng êm đềm truyền cảm.

Cô ngó quanh một lượt trong nhà: “Anh ở một mình?”

Tôi nói: “Một mình.”

“Thích nhỉ.”

“Thích gì? Chán lắm.”

Cô nhìn tôi, quan sát: “Trông anh hiền lắm.”

Hoàng nói: “Hiền quá hóa dại.”

“Em không nói thế đâu.” Cô cải chinh.

Hoàng đặt chiếc dĩa sành lên bàn, xé con gà xối mở ra từng mảnh, tuyên bố: “Mỗi người một chai bia. Hãy giữ lấy linh hồn.”

Nhà không có ghế. Hoàng và Tuyết Liên ngồi trên sạp, tôi đứng. Ba người vây quanh chiếc bàn gỗ thông.

Tuyết Liên nói: “Em không biết uống bia.”

Hoàng nói: “Phải tập cho quen.”

Hắn ép mãi, Tuyết Liên đành uống. Cô nhăn mặt, gắng nuốt những hớp bia đắng nghét. Ngực cô rướn căng dưới làn áo mỏng, đánh thức những tế bào dục vọng trong tôi. Hoàng nói luôn mồm, chốc chốc lại choàng tay qua Tuyết Liên, suồng sã vuốt ve hôn hít. Cô không hưởng ứng. cũng không phản đối. Có chút hơi men, mắt cô dại đi, mặt cô như trái đào chín đỏ. Tôi nhìn như ngây như dại, Hoàng dốc cạn chai bia của mình, đứng lên tuyên bố:

“Đêm nay, tao gửi con gái nuôi của má tao lại cho mày. Nhớ tận tình săn sóc Tuyết Liên. Sáng mai, tao đón em về.”

Hắn bỏ ra ngoài.

Tôi chạy theo: “Hoàng, mày kỳ quá!”

“Kỳ gì? Đù má, nhìn cái mặt dại gái của mày, tao thấu suốt tim đen.” Hắn xuống giọng, ra điều quan trọng, “Cái quý nhất của đàn bà là gì, mày biết không?”

Tôi chưa hiểu ý hắn muốn nói gì.

Hắn thuyết giảng: “Cái ấy nằm ở giữa cặp đùi đàn bà. Bon ma mị giả hình hay nói về lòng cao thượng, nhưng trong bóng tối nó háo hức rúc sâu vào háng của người ta. Kẻ thực tế dám thừa nhận những điều bỉ ổi, tao cho là người lương thiện. Mày là thằng giả hình, chứ không phải lương thiện. Thôi, vào học cái bài học làm người của mày đi. Đừng giả và đóng kịch, con ạ!”

Lời hắn như những nhát búa khinh bỉ bổ vào đầu tôi. Hắn lên xe đạp, phóng đi. Tôi đứng lại một minh ngoài sân. Vừa nhục nhã đau đớn, vừa ham muốn Tuyết Liên, đúng như hắn nói, tôi là thằng giả hình, chứ không phải lương thiện. Sao đêm lấp lánh trên bầu trời trong vắt. Thời tiết oi nồng. Tôi mở phanh ngực áo. Tuyết Liên dọn dẹp đồ ăn trên bàn xong, cũng ra sân. Cô đứng nép vào tôi, âu yếm cài lại hàng nút áo. Da thịt cô toát ra cái mùi khác với mùi của chị Triều và Phương Nghi. Với tôi, mùi của người nữ nào cũng đầy quyến rũ. Tôi ôm lấy thân thể chín muồi dục vọng. Mặt tôi nóng bừng. Máu tôi rần rât.

“Mình vào nhà, anh nhé.”Cô thầm thì. Tuyết Liên nằm xuống sạp gỗ, cởi nốt mảnh vải cuối cùng trên thân thể. Trong tranh tối tranh sáng của ngọn đèn dầu, núi đồi thung lũng suối khe cỏ rối mập mờ bày tỏ hấp dẫn lạ lùng. Tôi đứng nhìn ngơ ngẫn. Giây phút sấp sửa, là giây phút đợi chờ thú vị nhất. Tuyết Liên nhoài người, níu tay tôi: “Nằm xuống đi anh. Suy nghĩ gì mà có vẽ thất thần?”

Tôi nằm đè lên Tuyết Liên. Cô co chân, dùng ngón chân kẹp quần đùi của tôi, kéo tuột xuống đầu gối.

“Anh này lớ ngở như gà mắc đẻ.” Cô cười. Tôi đam mê úp mặt vào ngực cô. Lúc nhìn lên, thấy cô khép hờ đôi mắt. Tôi cũng nhắm mắt, tưởng tượng đang ân ái với chị Triều.

Hải hành mùa đại dịch

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 26 May 2026

Mặt trời ẩn sau tầng mây xám, mây vén lên chừa một đường vàng nhạt phía trời tây. Những cánh tua bin gió đã ngừng quay, mặt nước dưới dòng sông êm ả và vài chiếc tàu vô ra thưa thớt. Trời chiều, đường vắng và nghe rõ tiếng chim kêu. Chúng tôi đi trên con đê dài hướng xuống con đường đi bộ dọc bờ sông. Ama hỏi tôi:

– Đi đâu chú?
Tôi quơ tay một vòng và chỉ ngón tay ra cột đèn bẹo ở bờ sông nói: – Mình đi dạo một lát rồi trở xuống đó. Tôi day ngang hỏi Ama:
– Con thấy bến chờ có khác hơn bến cảng không?
– Khác nhiều chú, ở đây không có cần trơi, những chiếc xe tải containers và cũng hổng có người làm việc nên không ồn ào như bến cảng.
– Còn thiếu một thứ nữa.
– Thứ gì chú?
– Bông! Mùa xuân ở Hoà Lan thường thì nơi nào cùng thấy trồng bông, ở những bến cảng người ta cũng có làm nhiều bồn trồng đủ thứ bông được thường xuyên chăm sóc. Còn ở đây chỉ có bãi cỏ, chòm cây và bông dại, trông rừng rú và còn có vẻ thiên nhiên. Ama ỡm ờ chưa nói gì thì chợt có tiếng điện thoại reo, nó đứng lại móc túi lấy điện thoại ra nghe. Ama trả lời bằng tiếng In Đô nên tôi không hiểu gì hết, nói xong cúp điện thoại, day qua tôi, nó nói:
– Chú ra bến sông trước đi, con xuống tàu có chuyện, lát nữa xong con lên liền. Tôi chỉ tay dọc theo con đường đi bộ và nói: – Chú đi bộ trên đường kia một lát chú sẽ trở lại chân cột đèn bẹo ngồi chờ con, nếu con lên hổng thấy chú thì con ngồi đó chờ chú, chú sẽ tới.
– Yes sir!
Ama day lưng đi nhanh xuống tàu, tôi quay gót tiếp tục bước. Tới con đường dọc bờ sông mới thấy có vài người đang chạy bộ, ngang qua mỗi một người tôi đều tránh một bên giữ khoảng cách. Một chiếc xe cảnh sát đang chạy tuần ngay trên con đường đi bộ, chiếc xe chiếm hết lòng đường, tôi phải lách người qua lề cỏ đứng nhường đường cho xe. Khi xe cảnh sát qua rồi, tôi tiếp tục đi, đầu óc tôi trống rổng, chưa có một ý niệm nào, chợt nghe tiếng gọi phía sau:
– Hallo Tấn !
Tôi day lại thấy bà thuyền trưởng tàu kế bên đang chạy bộ, tới ngang tôi bà dừng lại, chúng tôi tự động tránh nhau và đứng qua hai lề cỏ.  Bà vừa thở vừa chào:
– Ông khoẻ không?
– Khoẻ.
Trong số những người ngoại quốc tôi quen chỉ có vài người kêu đúng tên tôi với đầy đủ dấu giọng, còn lại đa số đều kêu Tan, Tan. Tôi quen bà thuyền trưởng từ khi bà còn là phụ tá thuyền phó. Ngày trước ba của bà cũng là thuyền trưởng, lúc tôi hải hành thì ông đã gần tới tuổi về hưu, thời gian đó thủy thủ năm mươi lăm tuổi thì được nghỉ hưu rồi, tôi làm chung với ông một hai chuyến thì ông về hưu. Tôi hỏi thăm sức khoẻ ba, má của bà. Bà nói năm nay ông già yếu lắm rồi, còn má của bà thì vừa nằm bệnh viện mới về nhà. Hỏi thăm nhau xong bà khoe với tôi, bà đặt vé tour du lịch miệt đồng bằng sông Cửu Long, sau đó qua Cambodia, nhưng vì đại dịch nên hãng du lịch đình lại. Tôi nói:
– Bà sướng thiệt, năm ngoái bà qua Việt Nam và đi một tour từ Bắc vô Nam, năm nay còn muốn qua đó nữa. Bà đưa ngón tay cái ra gặt gặt, cười nói:
– Việt Nam là một đất nước đẹp tuyệt vời, tôi đọc tạp chí du lịch thấy vùng đồng bằng sông Mê Kông đang phát triển.
Dù sao bà cũng là dân nước ngoài tới quê hương tôi du lịch, thật tình thì cảnh quan nước Việt Nam bề ngoài trông hổng tệ. Nhưng nó không giống đất nước Hoà Lan của bà, rừng cây, kinh rạch, đê điều do con người tạo ra, nhưng người Hoà Lan biết tôn trọng, gìn giữ nên còn nguyên vẹn cảnh đẹp của thiên nhiên. Bà đâu biết là trong mấy tạp chí du lịch họ viết chỉ có lời khen để câu khách, thật ra thì quê hương tôi ngoại trừ những nơi bảo tồn thiên nhiên dành cho khách du lịch ngắm chơi, phần còn lại bị tàn phá gần hết. Tôi định kể cho bà nghe chuyện những dòng sông ô nhiễm, nước biển tràn đồng và thấm vào đất vườn làm cho mùa màn thất bát. Nhưng thiết nghĩ nói ra có ích gì đâu, đúng ra tôi nên khuyến khích bà nên đi, hơn là nói cho bà nghe những chuyện không tốt về đất nước quê hương mình. Tôi ỡm ờ:
– Ờ, tôi có đọc báo và nghe tin tức.
– Ông có định về Việt Nam không? 
– Cũng định về, nhưng bị đại dịch rồi. Bà đưa bàn tay lắc lắc.
– Ờ hén, đành chờ thôi. Nói tới đây bà chào từ giã tôi rồi day lưng chạy tiếp. Đầu óc tôi mới hồi nãy còn trống rỗng, sau khi nói chuyện với bà thuyền trưởng thì tự dưng ngập tràn nỗi nhớ. Tôi nhớ quê hương tôi, nhớ cái ngày đầu mùa gió chướng năm xưa, tâm trạng cũng nao nao buồn buồn như những ngày này. Chuyện cũng đã qua hơn bốn mươi năm rồi, nhưng sao hôm nay tôi lại nhớ rõ ràng như in trong tâm trí, nhớ nhứt là những ngày cuối cùng trên vàm Sông Ông Đốc, cảnh dòng sông êm ả và thưa thớt ghe xuồng, cũng giống như dòng sông Maas hôm nay. Đó là những năm bảy mươi lăm và bảy mươi sáu vào tháng Ba, tháng Tư trong những ngày mùa gió chướng, cũng là mùa tôm bạc rại, nhưng ngư phủ không được ra biển đánh bắt cá, tôm. Cho tới bây giờ tôi vẫn chưa quên khi vừa chiếm được miền Nam, chánh quyền mới bắt dân đi đào đất, hết đắp nghĩa trang rồi sang qua làm thủy lợi, đắp đê ngăn nước mặn. Dân ngư phủ chỉ biết lái ghe ra biển đánh cá, nhằm giữa mùa tôm, cá mà mấy ông bắt người ta đi đào đất, người ta làm không nổi thì mấy ông chửi bới, hăm he. Tôi cũng là một nạn nhân trong hàng ngàn trai tráng trong thị tứ bị bắt đi đào đất đắp nghĩa trang ở Bạc Liêu trong thời gian đó. Hồi cha sanh mẹ đẻ cho tới ngày lớn khôn tôi có cầm cây dá đào đất bao giờ, nên đào chỉ có một hai ngày bàn tay phồng lên bóng lưởng và bi dập tróc da ra nước rát rạt, vì đau rát quá tôi đào không được nữa, tôi buông dá đứng khóc. Mấy chú trưởng đoàn, trước ba mươi tháng tư bảy mươi lăm, mấy chú thường tới nhà nhậu với ba tôi rất là thâm tình, nhưng sau ba mươi tháng tư bảy mươi lăm, tuy không phải là bộ đội, nhưng mấy chú cũng đội nón tai bèo, bận quần vải nylon dầu, mang dép râu, bận áo bà ba, khăn rằn quấn cổ và làm đội trưởng dẫn đám thanh niên đi đào đất. Thấy tôi đứng khóc, một chú đi tới làm mặt lạ không hỏi han gì hết, còn quát tháo chửi thề và hăm doạ: – Nếu mày làm hổng đạt chỉ tiêu tao sẽ đào lỗ chôn sống mày tại chỗ. Má tôi hay tin tôi làm không nổi và bị chửi bới, hăm he bà bèn bắt con heo duy nhất trong nhà mà bà đã nuôi cả năm trời, đem bán lấy tiền lên Bạc Liêu đưa cho mấy chú để chuộc tôi về. Đó là mấy chú còn tình nghĩa với ba tôi mới cho má tôi chuộc tôi về và cấp giấy đã hoàn thành nghĩa vụ. May là nhà tôi còn có con heo và nhờ ba, má tôi có quen “lớn” nên tôi được cho về sớm, vài người trai cùng xóm, ở nhà không có heo, không có tiền, không quen ai và làm không nổi, bị mấy chú ghép tội “chống đối” và bắt gởi vô  trại cải tạo. Khi tôi về tới Sông Đốc thì mùa tôm bạc rại đã qua rồi, chạy ghe ra biển chỉ vớt vát được tôm cá lặt vặt cuối mùa. Tôi đi dạo bên bờ sông một hồi thấy chân mỏi, tôi đi trở lại cột đèn bẹo trên sông. Vừa đi vừa nghĩ tới cảnh con người đối diện, chào nhau một tiếng rồi đi nép qua một bên bờ cỏ, làm tôi nhớ quê hương tôi sau ngày 30-4-1975, tuy chiến tranh nhưng cuộc sống nơi tôi ở cũng có thể gọi là đang yên đang lành, tình người lai láng, tuy không giàu có nhưng cũng đủ áo mặc, cơm ăn tự dưng tai hoạ ập tới làm con người ta nghi kỵ và tránh né nhau, giống y chang như trận dịch bây giờ, tôi lắc lắc đầu mấy cái cho qua chuyện ngày xửa ngày xưa và đi hướng ra chân cột đèn bẹo. Nhưng khi gần tới đường ra cột đèn, thấy nhiều người ngồi câu cá, họ ngồi cách ly theo quy định của luật phòng chống dịch. Tôi không muốn tới dưới chân cột đèn nữa, tôi ngó dọc theo bờ sông, thấy một chỗ cạnh mé nước có nhiều tảng đá sạch sẽ, bóng trơn, mặt bằng và không gian rộng rãi, tôi thấy ngồi đó rất an toàn, rất an tâm và hổng sợ corona gì ráo. Tôi tháo ba lô để xuống một tảng đá và móc túi lấy điện thoại ra rà trang youtube chọn đài phát thanh tiếng Việt, bấm nghe tin tức Việt Nam. Vì chờ Ama nên tôi chưa bày thức ăn ra, tôi kéo mở dây ba lô moi ra một lon bia, lon bia để trong túi đi đường bị xốc nên khi khui nó xịt bọt văng ra tung toé, tôi vội hớp lớp bọt trào trên miệng lon và lấy giấy chùi lon cho ráo. Mọi việc ổn định rồi mới ngồi xuống tảng đá vừa nhâm nhi bia vừa ngắm sông và nghe tin tức. Chiều nay gió nhẹ, trên dòng sông Maas thật là êm ả, con sông này thường ngày tàu buôn các nước vô ra tấp nập, nhưng bây giờ tàu vẫn vô ra nhưng không còn nhộn nhịp như trước đây vài tháng. Chợt tiếng còi của một chiếc tàu hụ vang rền cả mặt sông, làm hồn tôi lâng lâng… Như một sự tình cờ ngẫu nhiên, tin tức đài phát thanh nói sang chuyện miệt đồng bằng bị ngập mặn, nước biển tràn vào ruộng, thấm vào đất vườm làm cho lúa và hoa mầu chết hết và luôn cả người dân cũng không đủ nước ngọt dùng. Các cán bộ nông thôn kêu gọi tìm cách giải cứu đồng bằng sông Cửu Long. Tôi tự nhủ, cũng cái mửng cũ rích, hô hào kế hoạch thủy lợi, vận động dân chúng, bỏ ra biết bao nhiêu là tiền của, công sức và biết bao nhiêu mạng sống con người, từ đó tới nay đã qua nửa thế kỷ rồi, mà nước mặn càng ngày càng ngấm sâu vào đất lành, vườn tược, ruộng đồng làm hoa mầu, lúa ruộng chết hết. Dân quê lầm than nghèo khổ đành phải lìa đất nhà để tha phương cầu thực. Đương vu vơ nghĩ ngợi chuyện quê hương, đất nước và con người, chợt thấy Ama đi xuống chỗ cột đèn đứng ngó dáo dác tìm tôi. Tôi liền đứng dậy chụm hai tay lên miệng làm loa, gọi lớn:
– Ama!!!
Ama day lại thấy tôi nó liền chạy ngược lên bờ rồi đi nhanh xuống bến sông. Tới chỗ tôi ngồi nó đứng lại vừa thở vừa nói:
– Sao chú hổng ngồi dưới chân cột đèn xem người ta câu cá?
– Ở đó đông người quá.
– Nhưng ở đây một lát nước lên ướt hết chú. Tôi day ngang tắc đài phát thanh và lấy bia khui đưa qua cho nó và chỉ tay xuống một tảng đá vừa ráo nước, và mực nước còn lấp thấp dưới chăn.
Tôi nói:
– Con coi kìa, nước đang trở ròng.
– Ờ ờ… Chúng tôi đưa bia lên cụng rồi ngước cổ hớp một hớp. Ama ngồi xuống tảng đá đối diện, tôi thấy ngồi gần quá nên nói với nó:
– Con ngồi giữ khoảng cách, coi chừng bị cảnh sát phạt.
– Một thước rưỡi hả chú? Tôi cầm lon bia đưa thẳng cánh tay ra, nói:
– Đủ tầm tay cụng bia là được rồi. Chúng tôi cùng cười. Ama xích qua tảng đá xa hơn ngồi, chúng tôi đo khoảng cách bằng cách cầm bia đưa thẳng tay ra cụng. Tôi moi trong ba lô lấy ra hộp phó mát để lên tảng đá giữa hai đứa, Ama cũng móc túi lấy ra hộp đậu phộng để cạnh bên.  Ama nói:
– Hồi nãy thuyền trưởng nói ngày mốt tàu qua Hamburg lấy hàng, có thể con về ở cảng Hamburg. Nghe nói tàu chạy cũng thấy phấn khởi trong lòng, tôi đưa bia lên hô:
– Oh, tốt, tốt lắm !
Ama hớn hở đưa bia lên cụng. Để bia xuống, lấy một miếng phó mát, vừa tháo giấy nó vừa nói:
– Con gởi Nanda cho chú, thấy nó có gì hổng tốt, chú nhắc chừng dùm.
– Ok, nhưng chú nghĩ, cứ để nó tự nhiên đi, nó cũng biết cách xoay sở mà.
– Nhưng đi chung với mấy người đạo Hồi cũng khó lắm. Tôi cười:
– Chuyện nhân danh đạo này đạo kia tranh chấp với nhau là chuyện ngàn đời.
– Nhưng đạo Hồi dã man lắm chú. Rồi Ama kể tôi nghe, họ hàng nó đều theo đạo Chúa, trước kia ở trên một hòn đảo nhỏ, họ hàng ai cũng nuôi heo ăn thịt và biết uống rượu nên người đạo Hồi không ưa. Vì vậy mà một đêm kia, những người đạo Hồi tới bắt dượng của Ama đi, khi sáng ra thì thấy dượng bị chặt đầu nằm chết đưới gốc cây dừa. Chuyện này tôi cũng đã nghe ông Veman kể lâu rồi, Ama kể lại còn thiếu chi tiết là họ chặt đầu dượng của nó bằng dao golok. Nhưng gia đình giòng họ Ama quyết theo đạo Thiên Chúa, nên sau vụ đó cả họ hàng dời nhà ra Sumatra ở luôn cho tới bây giờ. Tôi nói:  
– Chuyện lâu rồi, bây giờ là thế kỷ hai mươi mốt, chắc đâu còn cảnh chặt đầu bằng dao golok dã man như thế kỷ trước.
– Còn chớ chú, vì vậy mà con thù tụi nó lắm nên con hổng muốn quay về đảo nữa. Tôi thở ra một cái, ngực như bị nghẹn. Đưa bia lên hớm một hớp, để bia xuống và nói:
– Chúng ta sống trong thời đại môi trường bị ô nhiễm, dịch bệnh, chiến tranh, tai trời ách nước, dễ bị tai nạn. Con còn mang thù hận làm gì cho mệt thân. Ama đưa bia lên cụng, hớp một hớp và nhìn tôi chăm chăm. Nó nói mà cũng như hỏi:
– Chắc chú hổng biết hận thù là gì. Tôi cười:
– Chú sống và lớn lên từ một đất nước chiến tranh và đầy thù hận thì làm sao hổng biết hận thù là gì. Ama tưởng tôi khó chịu nên nó nhẹ giọng:
– Con xin lỗi chú. Tôi cười và đưa bia lên mời, uống xong tôi nói:
– Trước ngày chú ra đi, chú nguyện với lòng mình, nếu có ngày trở lại mà chú có quyền có thế, thì chú sẽ tính sổ những người năm xưa đã cậy thế cậy quyền ăn hiếp chú. Con biết không, tới ngày chú về thì mấy người chú thù ghét năm xưa kẻ thì đã chết, người thì mang bịnh nằm liệt giường, chú thấy tội nghiệp chú còn cho tiền họ nữa. Cũng từ đó tới nay chú hổng còn biết tới hận thù là gì hết. Ama cười ha ha và đưa bia lên cụng:
– Nói chuyện với chú con thấy thoải mái vô cùng.  Thấy không khí trở nên vui vẻ tôi cao giọng ví von:
– Con người dù thông minh cỡ nào đi nữa, thì sức của một người cũng hổng làm gì được đâu. Bà phó thổng thống, ông thủ tướng, các ngài nghị sĩ, da trắng, da màu gì thì cũng bị nhiễm corona. Cho dù tài hoa, anh hùng, trí thức, lúc hắt hơi thì cũng giống như mọi người.
– Great! Uncle Tan!
– Thôi nhậu chơi cho vui đi, ngày mốt tàu chạy rồi, có sinh hoạt chắc trên tàu bớt tù túng, không khí trên tàu cũng thông thoáng hơn.  Ama ngước cổ hớp cạn bia, nó bóp lon bia cho dẹp để vô ba lô, nó lấy thêm lon mới, đưa qua tôi và nói:
– Lâu rồi chú cháu mình chưa ghé Hamburg. Nhưng lần này trở lại, tiếc quá, chú cháu mình không có cơ hội đi thăm khu St. Pauli được nữa rồi.  

Dronten 20-4-2021
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 26 May 2026

Cách đây ba mươi lăm năm, đây là những ngày  cuối cùng của miền Nam trước khi xe tăng T.54 củaLiên Xô lăn bánh vào dinh Độc Lập, cứ điểm cuối cùng tượng trưng cho chế độ VNCH. Có thật sự xe tăng Cộng Sản đã xô ngả cánh cửa sắt chính của dinh Độc Lập vào sáng 30 tháng tư không? Thật ra, vào buổi sáng hôm ấy, khi chính phủ Dương Văn Minh gởi lệnh kêu gọi buông súng trên đài phát thanh, cửa dinh đã rộng mở để mời phía “anh em” vào nhận “bàn giao”. Hôm sau, nhận thấy hình ảnh “tiến chiếm” dinh Độc Lập có vẻ dể dàng quá không có gì là tiến công mãnh liệt, giới quay phim Bắc Việt, với sự tâng công hay “góp ý” của một viên chức thuộc giới điện ảnh quân đội miền Nam, cảnh đột phá cánh cửa sắt đã được dàn cảnh lại cho hào hùng với những bộ đội miền Bắc tùng thiết và thế giới đã xem được những thước phim quay từ trước mũi súng của xe tăng như đứng từ trong dinh Độc Lập quay ra. Ngày nay người phóng viên điện ảnh nói với tôi câu chuyện này đã qua đời tại Pháp và ông sĩ quan tâng công với VC cũng đã chết tại Saigon. Tôi hy vọng sự kiện lịch sử nếu có người biết rõ, xin lên tiếng.

Sau ngày 1 tháng 5-1975, nhiều văn nghệ sĩ miền Nam, trong đó có nhiều nhà báo, nhà văn, nhà thơ, kể cả những người trong chính quyền hay quân đội xếp hàng tại “Hội Nhà Văn Yêu Nước”, tạm thời đặt tại toà Đại Sứ Đại Hàn đường Nguyễn Du để xin ghi tên vào hội- tôi xin nhắc lại, là -Hội Nhà Văn yêu Nước. Một thi sĩ đã nhanh chân mở ngay một quán cóc cà phê ngay trước cửa tòa nhà này để vận động và có chỗ cho anh em nghỉ chân, chờ đợi. Một nhiếp ảnh gia nổi tiếng tại Saigon đã cống hiến cho Việt Cộng một tác phẩm mô tả một loạt phù hiệu các quân binh chủng để dưới đất, bị một bàn chân mang dép râu chà đạp, người chụp ảnh này đã dùng kỹ thuật tốc độ chậm để mô tả bàn chân “cách mạng” đang di chuyển, chà đi xát lại trên những phù hiệu tượng trưng cho quân đội VNCH. Chúng ta đã thấy nhiều minh tinh, tài tử miền Nam cầm cờ Mặt Trận GPMN chào mừng “giải phóng” trước đường Thống Nhất. Vào giờ phút đó, thi thể các anh hùng tuẩn tiết chưa được chôn cất. Vậy thì đâu có gì lạ, nếu mãi hai mươi năm sau có người trở về “đầu hàng” Cộng Sản, sau khi đã ngốn bao nhiêu rượu thịt của hải ngoại. Người ta nói muốn hiểu được Cộng sản phải bị Cộng Sản đè đầu. Nỗi buồn đầu tiên của một người lính là bỗng nhiên một buổi sáng thấy mình thất trận, buộc phải đầu hàng và sau đó tự nguyện xếp hàng ghi danh để được tập trung vào nhà tù. Nhìn quanh bạn bè chiến hữu, người đã vượt thoát, người đã hy sinh và một số  đông bỏ mình trên đường lui binh, nằm lại trên tỉnh lộ 7B, chôn mình trên các bãi biển Thuận An, Mỹ Khê … dưới làn pháo giặc.

Câu tự vấn là nếu thật sự khi các viên chức miền Nam vào tù mà đồng bào ở ngoài no ấm, hạnh phúc hơn ngày trước thì họ cũng đáng bị ở tù. Nhưng sự thật không phải như thế. Quả là không có một cuộc tắm máu, nhưng đã có thật một chính sách trả thù ghê gớm. Nhiều viên chức xã ấp, đảng phái, cảnh sát đặc biệt nghe lời kêu gọi ra trình diện, thay vì được tập trung để “cải tạo” đã bị đưa đi thủ tiêu. Nhiều toán biệt kích dù ra trình diện bị bắn và vứt vào giếng cạn. Nhiều viên chức miền Nam bị bắn ngay tại chỗ hay bị hành hạ bằng nhiều cách trong các nhà tù dương danh “trại cải tạo,” cầm tù hàng vạn viên chức miền Nam không hề xét xử, gây nên bao nhiêu cái chết oan uổng, làm cho bao nhiêu gia đình ly tán. Cộng Sản Bắc Việt trả thù dân miền Nam bằng cách dồn dân đi “kinh tế mới” giết lần mòn thể xác, ý chí và bần cùng hoá con người để “nông thôn hoá” thành thị, đem Saigon xuống ngang với Hà Nội. Hai lần đổi tiền kiểu “cướp cạn” đã làm cho dân miền Nam kiệt quệ. Chính quyền Cộng Sản xô đẩy hằng trăm nghìn người ra biển khơi bằng nhiều cách “bán chính thức”, tổ chức cho ra đi để lấy vàng hay thúc ép người dân tìm con đường sống trong cõi chết.

Nhìn lại 35 năm, cộng đồng người Việt tỵ nạn ra hải ngoại đã thành hình. Từ những người di tản đầu tiên vào cuối tháng tư, đến các đợt thuyền nhân, đợt con lai tìm về đất cha, các cựu tù nhân chính trị đến Mỹ theo chương trình nhân đạo gọi là H.O, những  người được thân nhân bảo lãnh theo diện di dân đã tạo thành một khối người di dân vĩ đại trên thế giới, dù là ở Mỹ, Canada, Âu hay Úc châu đều những con người đã chối bỏ chế độ Cộng Sản, bỏ quê hương, mồ mả ông cha ra đi. Tuy vậy, ngày nay chúng ta có đủ khoa bảng, tiền bạc và sức người nhưng không có hai điều: lãnh đạo và đoàn kết. Không có lãnh đạo là không có kế hoạch chung, nếu còn muốn trở về Việt Nam. Thiếu đoàn kết là giết, phá nhau cuối cùng là tan hoang. Chỉ còn những đám người làm ăn lẻ, vì lợi lộc và danh vọng, không cần dư luận dù muối mặt, chỉ cần vin vào sự tự do ở xứ người để hành động. Được gọi là cộng đồng tỵ nạn Cộng Sản trên thế giới, mỗi năm chúng tá “tiếp máu” cho Việt Nam khoảng 8 tỷ đồng, và có 100 hội đoàn thiện nguyện quyên góp giúp cho Việt Nam đủ mọi mặt từ xã hội,

giáo dục, y tế. Theo các chuyên gia kinh tế tài chánh, với trên ba trăm nghìn hoặc có thể gần năm trăm nghìn người hải ngoại du lịch Việt Nam mỗi năm, mang số hiện kim bằng Đô la, Euro, hay Bảng Anh về đã góp thêm sức mạnh cho Cộng Sản Việt Nam không phải là con số nhỏ. Biết điều thì được ca tụng yêu quê hương, xoá bỏ hận thù, có ý kiến sửa đổi, đòi cải tổ chính trị thì bị lên án chống phá tổ quốc. Cuối cùng đất nước nghèo mà nhà cầm quyền giàu sụ, hố ngăn cách giữa dân và lãnh đạo càng ngày càng sâu, hận thù giữa người cũ, người mới vẫn còn tồn tại. Đảng Cộng Sản rêu rao điều nhân nghĩa nhưng chưa làm được điều gì để ăn năn những lỗi lầm làm cho hàng triệu sinh linh oan khuất, gây cho đất nước phân hoá, quê hương lạc loài, chia cách.

Hai triệu người sinh Bắc tử Nam, xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, dân miền Bắc chịu đói chịu khổ trong bao nhiêu năm không phải để “vỗ béo” cho bọn cầm quyền hôm nay. Cũng như chúng ta, cộng đồng tị nạn, đã có bao nhiêu người chết sông chết biển, bao nhiêu người hy sinh chết trong tù ngục để ngày naylàm hậu cứ hùng hậu tiếp vận cho chế độ Cộng Sản Việt Nam. Không phải chúng ta đổi mạng sống của bao người, của con cháu, cha anh trên biển Đông để hôm nay, được tìm về đất nước như một du khách, cách biệt với người dân đói khổ. Không phải anh em đã trải qua những năm tháng tù đày, hối hả được rời khỏi đất nước tai ương, được những giấc ngủ yên lành trên đất khách, nay đã lẫn mộng với thực. Không phải chúng ta kêu gọi “tử thủ” hôm nay, ngày mai bỏ nước ra đi, để rồi ngày kia trở lại nâng ly trơ trẽn chúc tụng kẻ thù, dửng dưng trên xương máu và oan cừu của đồng đội.

Chuyện xưa đã buồn, chuyện xa nghĩ thêm buồn, mà chuyện gần với một cộng đồng lúc hiểm nguy là đồng hội, đồng thuyền, lúc an bình lại phân hoá, chia rẽ nhau đến cùng, khiến ai biết suy nghĩ cũng đau lòng xót xa. Trong một vùng đất nhỏ mà hiện nay người viết bài này cư ngụ, có đến ba tổ chức cơ chế cộng đồng tồn tại, vào cuối tháng tư buồn này, có hai tổ chức tưởng niệm ngày 30 tháng 4 tại cùng một địa điểm, có hai đơn vị giỗ tổ Hùng Vương trước sau một tuần và hai tổ chức Phật Giáo cử hành hai lễ Phật Đản Sinh cách nhau một tháng. Vậy nên vui hay buồn? Tháng tư lại về, không có gia đình Việt Nam nào mà không có một khoảng tang tóc. Tháng tư lại về, ngậm ngùi nhớ đến những thay đổi, mất mát và những ước mơ chưa toại nguyện. Làm sao có thể quên được nỗi buồn. Tích xưa kể chuyện công chúa con Vua Viêm Đế, ngày trước vượt biển chết chìm, hóa ra con chim nhỏ Tinh Vệ, cứ ngậm đá ở núi Tây về lấp biển Đông cho thoả lòng. Chúng ta có hàng nghìn linh hồn oan khuất trên biển Đông làm loài chim nhỏ như thế. Biển Đông mãi chưa lấp cạn như nỗi buồn tháng Tư.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 26 May 2026

Trong tháng 12-2012 tôi có dến một nhà quàn lrong vùng Liltle Saigon để phụ giúp tổ chức tang lễ cho một người có họ. Ngày đầu làm lễ phục tang, tôi nhận thấy có một vị trung niên lân la ở chỗ tiếp khách, ông mặc một bộ dồng phục và đội một cái nón kết, giống như những người trong ban nhạc hay trong toán phục vụ khiêng quan tài ở Việt Nam.

Tỏi nghĩ đây là nhân viên của nhà quàn, hoặc giả là một người bà con xa bên phía chồng cô tôi mà tôi chưa được biết. Khi có một đồi vợ chồng từ giã chúng tôi ra về, ông này nói bâng quơ:

“Sao ông bà không ở lại chút nữa!”

Nghe giọng nói tôi biết ông là một người sinh trưởng ở miền Bắc, mnột giọng nói mà sau tháng 4-1975 không lầm vào dâu được.

Nhìn vào số quan khách viếng tang tôi thấy người này ghi dòng chữ, dưới danh tánh là tên một ban nhạc đám ma. Sau đó ít lâu tôi có việc phải ra về và không còn nhớ đến người đàn ông đội nón kết kia nữa. Sáng hôm sau, lúc trở lại nhà quàn, vừa đổ xe ở parking, tôi dã nghe tiếng trống kèn inh ỏi của một ban nhạc, đang chơi bài “Lòng Mẹ” của Y Vân tại phòng quàn của bà cô tôi. Bước vào cứa, tôi thấy tang gia và bà con đều đứng dồn ra ngoài cửa. vì không ai chịu nổi tiếng nhạc ồn ào, lớn tiếng như vậy. Nhin lên phía để quan tài tôi thấy ba nhạc công mặc đồng phục đang chơi nhạc hết cỡ, cạnh bàn thờ cô tôi thì vắng vẽ, không ai dám đứng gần vi tiếng nhạc quá lớn.

Chot nhớ ra sự hiện diện của người đàn ông lạ mặt hôm qua, tôi biết kết quả là nhà tang đang bị tra tấn bởi một ban nhạc đám ma kiểu Việt Nam hôm nay bắt đầu xâm nhập ra hải ngoại.

Tổi hói người con của cô tôi:

– “Ai mời ban nhạc chơi vậy anh?”

– “Em! (Anh thường xưng em vi thấy tôi lớn luổi) Hôm qua khi anh về rồi, họ có đến hỏi em và xăn chơi hai buổi, giá là 5600. Em trả $500.00 họ đồng ý và họ đã bắt đầu chơi nhạc từ chiều hôm qua.”

Rồi anh nói thêm:

– “Anh cũng biết hồi xưa, mẹ em rất thích nhạc!”

Tôi bình tĩnh giải thích với anh:

– “Cô thích nhạc không có nghĩa là thích nhạc … đám ma! Ở nước Mỹ này, tại các nhà quản, tử xưa dến nay chưa bao giờ xuất hiện loại nhạc đám ma kiểu Việt Nam này. Ở dây khi cử hành tang lễ, dù tôn giáo nào, ai cũng cần sự yên lặng dể cầu nguyện, người ta tránh cả nói lớn tiếng, kể cả tiếng ho hay nói qua điện thoại cẩm tay. Bảy giờ cả ba ông nhạc công đánh trống, thổi kèn ầm ĩ như thế, anh thấy bà con đều đứng giạt ra cả ngoài cửa, mà còn ảnh hưởng đến những gia đình các phòng quàn bên cạnh nữa, họ có thể khiếu nại mình gây ồn ào!”

Một cách ngay thẳng, chắc cũng có chút ý là mình lớn tuổi, tôi nói với người anh họ, một cách dứt khoát:

– “Anh lên cám ơn họ và nói họ chơi như vậy là đủ. Vì Thầy cũng sắp đến để tụng kinh trước khi di quan rồi”.

Mấy phút sau khi tiếng nhạc ngưng, tôi mới mời tất cả tang gia và bà con vào ngồi với cô tôi một lát, vì cuộc chia tay cũng đã gần kề. Sau dó là nghi thức tụng niệm để chờ đưa cỏ tôi vào nhà hỏa thiêu. Tôi biết hiện nay có nhiều người Việt Nam bằng diện này hay diện khác đã đến định cư ở Hoa kỳ, trong dó có nhiều người trước kia ở trong những ban nhạc đám ma, nên muốn kiểm việc làm, bằng cách dề nghị với gia đình người chết để cho họ chơi nhạc loại này. Ông anh họ tôi nặng lòng vì chữ hiếu và cũng vì ở xa về Cali nên không biết “phong tục” ở đây!

Ở Việt Nam quan tài được quàn tại nhà, lễ nghi kéo dài hai ba ngày. Ngày xưa những đám ma khá giả người ta mời ban cổ nhạc gọi là “phường bát âm” để trình diễn những ca khúc ai oán, thê lương làm mủi lòng người nhưng không hề có tính cách ồn ào. Ở phía Bắc thì có chuyện thương vay khóc mướn, trong Nam thì che rạp, giăng đèn, tổ chức ăn nhậu thâu đêm ngay cạnh quan tài người chết. Để mua vui cho người dến viếng tang cũng như hàng xóm làng giếng, tang gia thường mời ban nhạc tổ chức các chương trình ca nhạc, nhày múa còn rình rang và nhộn nhịp hơn …đám cưới, Thổi kèn đam ma cũng có thứ tự, lớp lang. Chuẩn bị di quan thì chơi bản “Lòng mẹ”,” Tình cha, “-Ơn nghĩa sinh thành.” Sau dó là “Cảt bụi”, “Một cõi đi về” theo bước quan tài ma xe tang, Ngày nay có lẽ đã lỗi thời, nên ban nhạc thường chơi nhạc ngoại quốc, hay nhạc trẻ để “đổi mới tư duy” hơn. Hiện nay nhiều dám tang dã thuê các nữ công “đổi giới tính,” một lối chơi “thời thượng” của Saigon bây giờ, ăn mặc hở hang đến để múa sexy mua vui. Theo lời báo chí trong nước, một số tang gia mời người “đổi giới tính” biểu diễn chỉ để theo phong trào và “thể hiện đẳng cấp” không thua kém dám tang nhà khác! Nhiều đám còn tổ chức múa bụng, múa lửa … để tạo sự hấp dẫn và dễ “hơn thua” với lối xóm.

Thiên hạ cười cợt trong khi trẻ con lối xóm bu lại xem, lớp trong lớp ngoài. Thường chương trình ca nhạc bắt đầu từ 10 giờ dêm, cảng về khuya càng rộn rã, có nhiều cảnh tượng hỗn tạp xảy ra như khách sở vào thân thể vũ công, sau đó cho tiền “tip” hậu hĩ giữa tiếng hoan hô của khan giả, cho đây là một lối “văn hóa đa dạng, đã trở thành một nét văn hóa không thể thiếu trong đời sống cộng đồng!”

Chúng ta dã may mắn được định cư tại Hoa Kỳ, được sống trong một môi trưởng trong sạch lành mạnh. Mà dù theo tôn giáo nào thì khi người đã qua đời thì gia đình cũng phải giữ sự trang nghiêm, tôn trọng sự đau buồn của người trong gia đình. Khách đến viếng cũng tôn trọng sự yên tĩnh, tại nhà quàn, không dám cười cợt, đùa giỡn, để giữ không khí thanh tịnh của đám tang. Bây giờ một số người từ Việt Nam mới sang định cự tại Mỹ, vì nghề nghiệp cũ muốn đưa loại “văn hóa đám ma” từ trong nước du nhập vào cộng đồng người Việt tại Mỹ. Các nhà quàn ở Mỹ nếu không chấm dứt chuyện để cho các bạn nhạc này rao bán dịch vụ trong khuôn viên của mình sẽ bị xem như là đã “ăn chịu” với các ban nhạc đám ma. Đây cũng không thể xem là tôn trọng tự do riêng tư của mỗi gia đình, vì sự ồn ào của đám tang này sẽ ảnh hưởng đến sự yên tĩnh của tang gia khác ở phòng bên cạnh. Theo ý tôi, một cách dứt khoát, không nên để cái lối văn hóa “kèn trống đám ma” này xâm nhập vảo cộng đồng người Việt chúng ta ở Mỹ.

Một thời để Yêu & Một thời để Chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu
Post by Sơn râu 25 May 2026

Ba ngày sau. Trong phòng 48, bốn người ngồi đánh bài xung quanh một cái bàn. Họ chơi đã hai ngày liền, chỉ ngừng lại để ăn và ngủ. Ba người đã nhường chân cho người khác, nhưng người thứ tư vẫn ngồi lỳ. Tên y là Rummel, y nghĩ phép về từ ba ngày trước, về đến nơi vừa kịp chôn vợ và con gái. Y nhận ra vợ vì một vết sẹo ở háng, vợ chỉ còn là cái xác không đầu. Y không nói với ai lời nào. Y ngồi yên lặng, gan lì, nhúng mũi vào đám bài. Y đánh bài như thế liên miên.

Graber ngồi gần cửa sổ. Bên cạnh là một binh nhất, chân băng bó đặt trên chiếc ghế đẩu, tay cầm chai bia. Y là người ở phòng này lâu nhất, y mắc bệnh phong thấp. Phòng 48 vừa là nơi chứa lính nghỉ phép ngộ nạn, vừa dùng làm phòng chữa trị cho người bị thương nhẹ. Ở một góc nhà, một trung sĩ nằm ngáy, y muốn ngủ suốt ba tuần lễ nghỉ phép cho đã để bù lại ba năm thức ở mặt trận. Y chỉ thức dậy ăn cơm rồi lại ngủ. Graber hỏi:

– Bottcher đâu rồi? Chưa về à?

– Nó đi về làng, nó mượn được cái xe đạp. Mỗi ngày có thể đi khắp hai làng, còn nghỉ mười hai ngày nữa. Còn những trại cứu tế cách xa nhau hàng trăm cây số có đoàn xe lui tới. Không biết nó có đến đó không?

– Tôi có viết thư đến bốn trung tâm cứu tế hỏi tin vợ hắn và cha mẹ tôi.

– Anh tưởng người ta sẽ trả lời anh à?

– Không chắc. Nhưng mình viết thì cứ viết.

– Anh đưa thư cho ai?

– Văn phòng trung tâm, từ đấy sẽ chuyển đến tay người nhận thư.

Graber lôi trong túi ra một xấp thư:

– Đây tôi mang thẳng ra bưu điện.

– Hôm nay anh đi đâu?

– Đến trường học và sân thể thao gần nhà thờ. Tôi cũng đến hỏi trung tâm đưa tin cho dân tị nạn nhưng không thấy gì cả.

Một người đánh bài nhường chân cho người khác đến ngồi cạnh, bảo Graber:

– Tôi không hiểu sao được nghỉ phép lại còn đến ở trại lính. Như tôi thì tôi tránh xa cái gì có hơi hướng quân đội, càng xa càng hay. Tôi sẽ thuê một căn phòng, ăn mặc đồ dân sự, trở lại làm người trong mười lăm ngày.

– Anh tưởng rằng cứ ăn mặc dân sự là trở lại cuộc sống bình thường à?

– Hẳn rồi. Cần phải cái gì nữa?

– Anh có hiểu không? Đời sống giản dị nếu người ta chỉ nghĩ đến những cái giản dị. Anh có quần áo dân sự không?

– Không. Đồ đạc của tôi ở cả dưới đống gạch đường Haken.

– Để tôi cho anh mượn.

Graber nhìn qua cửa sổ qua sân trại. Lính mới đang tập đi, tập chào, tập cầm súng. Y nói:

– Nghĩ cũng kỳ. Ở ngoài mặt trận thì tôi nôn nóng về nhà là cởi ngay bộ đồ nhà binh ra trở về làm dân sự; nhưng bây giờ thì tôi chẳng thiết nữa.

– Như thế nghĩa là anh sẽ mòn đời làm hạ sĩ quan. Anh chàng đánh bài vừa ăn từng miẹng xúc xích lớn vừa nói: Anh nghỉ phép mà cũng chẳng biết làm gì. Những người được nghỉ phép toàn là những người như anh cả.

Nói rồi anh ta quay lại với ván bài. Anh ta vừa thua bốn bảng cho Rummel. Sáng nay thầy thuốc vừa cho anh ta biết có đủ sức khỏe để ra trận. Sự không may đó làm cho anh ta chua chát.

Graber đứng dậy.

– Anh đi đâu thế?

– Ra phố, bỏ thư và tiếp tục tìm kiếm.

– Dù sao thì cũng chớ nên quên rằng anh đang nghỉ phép và phép chỉ có hạn.

– Không sao. Graber nói vậy nhưng không vui lắm.

Reuter, người hạ sĩ bó chân, nhẩc cẳng lên đặt xuống đất mà rằng :

– Anh nên nghe tôi. Rán mà tìm ông bà cụ đi nhưng cũng đừng quên nên vui chơi một chút. Còn lâu mới đến ngày nghỉ phép sau.

– Tôi biết, tôi biết. Từ đây đến ngày ấy không thiếu cơ hội để treo giò vĩnh viễn.

– Ừ, anh biết rõ thế thì hay rồi.

Graber đi ra phía cửa. Đám đánh bài nhao nhao lên vì Rummel lại vơ cả làng. Y còn nghe thấy họ kêu :

– Thật là uổng. Nó ăn hết thế mà chẳng thấy nó vui sướng tí nào!

***

– Graber

Y quay lại. Một người mập lùn đồng phục mật vụ nhìn y mỉm cười. Y phải cố gắng nhớ lại xem anh chàng má bánh đúc hồng hào, mắt mầu hạt dẻ, miệng cười hềnh hệch này là ai.

– Binding! Alfons Binding!

– Gặp anh thật là may!

Binding tiến lại đưa tay ra:

– Trời ơi! Đến hàng thế kỷ nay không thấy mặt đâu cả. Anh ở đâu về đây.

– Bên Nga

– Nghỉ phép hả? À phải ăn mừng mới được. Đến tôi đi tôi ở gần đây. Rượu “cô-nhắc” của tôi tuyệt hảo. Mấy khi có người bạn học ở mặt trận về! Tôi sẽ giữ anh ở với tôi không cho đi đâu cả.

Graber nhìn bạn, Binding đã học cùng với y trong nhiều năm, nhưng y quên bẵng đi. Một hôm y ngẫu nhiên biết tin Binding đăng vào lính mật vụ. Bây giờ Binding đứng trước mặt y, y phục mới tinh, giầy bóng lộn, người vui vẻ nhẹ nhõm.

– Anh quyết định đi, đến nhà tôi cho vui.

Graber lắc đầu :

– Tôi không có thời giờ.

– Gì thì cũng bớt được chút ít thì giờ đến uống vài ly với bạn cũ chứ.

Bạn cũ! Graber ngắm bộ đồng phục và phù hiệu mật vụ. Quả là Binding đã biết dùng thời giờ của mình để làm được cái gì! Nhưng nghĩ lại, y có thể nhờ Binding tìm giúp tin tức cha mẹ. Có lẽ anh ta biết những nơi chỉ có người trong Đảng mới biết.

– Vâng thì đi, tiếc rằng chỉ đủ thời giờ uống một ly “cô-nhắc”.

– Thôi đi, đi ngay!

***

Binding ở xa hơn chỗ anh ta nói. Anh ta ở ngoại ô, trong một căn nhà quét vôi trắng ở giữa một mảnh vườn yên tĩnh sau một hàng cây. Chuồng chim, đặt trên các cành cây, xa xa vẳng tiếng róc rách một dòng suối.

Binding đi trước, y vào nhà. Ngoài hành lang bày biện sừng hươu, da lợn lòi, đầu gấu. Graber ngạc nhiên:

– Tôi không ngờ anh là tay thiện xạ!

Binding cười lớn:

– Anh tưởng thế chứ! Tôi có sờ đến khẩu súng bao giờ đâu! Đây chỉ là đồ trang trí thôi. Coi cũng đẹp chứ anh! Có ra vẻ Nhật Nhĩ Man không?

Y kéo Graber vào một căn phòng căng thảm khắp nhà. Trên tường treo những khung ảnh thiếp vàng. Ghế bành bọc da để xung quanh một cái bàn thấp.

Binding ra vẻ tự đắc mà rằng:

– Anh thấy thế nào? Có vẻ thân mật ấm cúng không?

Graber gật đầu. Đảng cũng nghĩ đến người có công lắm chứ. Binding là con một người bán sữa. Cha mẹ cực nhọc mới chạy được tiền cho con học.

– Anh ngồi xuống đây. Bức họa của Rubens này anh thấy thế nào?

– Cái gì?

Thanh Rubens. Khúc dăm bông hồng trên cái dương cầm kia kìa.

Bức họa vẽ một người đàn bà khỏa thân mũm mỉm đứng ở bờ ao. Mớ tóc óng ánh vàng, mặt trời chiếu ánh lửa trên cái mông vĩ đại. Y nghĩ thầm: “Thằng Bottcher phải được con mụ này mới vừa lòng”.

– Đẹp lắm.

– Đẹp lắm à? – Binding không giấu nổi sự thất vọng – Anh biết không? Một tác phẩm siêu tuyệt đó! Một người bán tranh cho các ông lớn đã để lại cho tôi. Nhờ có người giới thiệu tôi mua được rẻ. Anh không thích lắm à?

– Thích chứ, nhưng tôi không hiểu nghệ thuật mấy. Tôi biết có người sẽ trở nên ốm đau nếu trông thấy bức tranh này của anh.

– Tôi thật ư? Một người sưu tập tranh à?

– Không phải, nhưng y chuyên về Ruhens.

Binding vui sướng.

– Thật là hân hạnh cho tôi. Thật tôi cũng không ngờ rằng mình lại có ngày trở thành nhà sưu tập họa phẩm. Nhưng bây giờ anh hãy nói cho tôi biết anh thế nào, anh làm gì, tôi có thể giúp anh cái gì. Tôi có những chỗ quen biết của tôi.

Y cười đắc ý.

Dẫu sao Graber cũng cảm động vì tình thân hữu của bạn. Lần thứ nhất từ lúc về đây y gặp một người đề nghị giúp mình cách thẳng thắn:

– Anh giúp tôi tìm kiếm cha mẹ. Cha mẹ tôi đã mất tích. Có lẽ đã đi với một đoàn công voa nào bây giờ ở quanh vùng. Bây giờ làm thế nào tìm được?

Binding ngồi phưỡn ra trên ghế bành gần chiệc bàn nhỏ. Đôi giày láng bóng lắc lư.

– Nếu không còn ở trong tỉnh thì cũng khó. Tôi sẽ ráng đi hỏi thăm tin tức. Cũng mất vài ngày hay hơn nữa. Cái đó còn tùy ông bà cụ ở nơi nào, anh cũng biết bây giờ cái gì cũng đảo lộn lung tung.

– Tôi cũng biết thế.

Binding đến một căn tủ lấy ra một chai rượu và hai cái ly.

– Làm một ly đã. Đây là “a-ma-nhắc” chính cống, tôi thích hơn “cô-nhắc”. Nào cụng ly!

– Mừng anh.

Binding rót rượu lần thứ hai.

– Bây giờ anh ở đâu? Ở nhà họ hàng?

– Tôi không có ai thân thích trong tỉnh. Tôi ở trại.

Binding vội đặt ly xuống.

– Ở trại à? Có mà điên! Nghỉ phép mà lại ở trại? Đến đây ở với tôi. Đây có chỗ cho cả hai người. Buồng ngủ, buồng tắm, đầy đủ tiện nghi.

– Vậy ra anh ở một mình!

– Thì một mình! Anh tưởng tôi lấy vợ rồi hẳn? Đâu đến nỗi ngu muội như thế. Đã có địa vị như tôi thì không thiếu gì “đàn bà”.

Y nháy mắt chỉ cái ghế bọc da ở trong cùng.

– Cái đi-văng kia đã chứng kiến những gì? Xin nói cho anh biết có cô quỳ xuống mà cầu khẩn tôi.

– Sao lại có thể thế được?

– Quỳ gối thực sự! Mới hôm qua, một bà thượng lưu trí thức, tóc bạch kim, ngực như trái núi, áo lông thú, đến đây lạy van tôi xin cho chồng ra khỏi trại tập trung. Bà ta có thể làm bất cứ cái gì.

Graber mở to mắt:

– Anh có thể làm thế được à?

– Tôi có thể đưa người vào đấy được. Nhưng đưa ra lại là một việc khác. Nhưng dĩ nhiên tôi không nói cho ai biết? Thế sao? Anh có đến ở với tôi không? Anh thấy đấy, tôi không thớ lợ khách sáo gì?

– Cám ơn anh, nhưng tôi không thể bỏ trại bây giờ được. Tôi đã gửi địa chỉ ấy đi khắp mọi nơi rồi, sợ nếu có tin tức gì của cha mẹ tôi. Tôi phải đợi thư trả lời.

– Được rồi. Hẳn việc của anh thì anh phải biết hơn tôi. Nhưng chớ quên rằng ở đây vẫn có căn phòng ngày đêm đợi anh. Cơm nước thì đàng hoàng quá rồi còn phải nói.

– Vâng, cám ơn Binding.

– Không có gì. Chúng ta là bạn cũ phải sát cánh với nhau. Anh vẫn cho tôi chép bài mà. À anh có nhớ thầy Burmeister không?

– Giáo sư toán?

– Chính thị! Lão chó má đã đuổi tôi năm học đệ nhất vì chuyện với con Lucie Edler. Anh nhớ không?

– Nhớ chứ.

Graber nói vậy chớ chẳng nhớ gì hết.

– Tôi đã lạy van lão đừng tố giác tôi. Nhưng lão ta nghiệt quá chừng, lão nói đến bổn phận với đạo đức, tôi không còn nhớ gì nữa! Ba tôi đánh tôi suýt chết vì chuyện ấy.

Binding nhắc lại tên Burmeister một cách khoan khoái.

– Tôi đã bắt lão ta phải trả nợ thật nặng. Sáu tháng tập trung. Trời! Nom thấy lúc lão ta ra mới ớn! Thấy tôi đàng xa đã đứng nghiêm chào, sợ tôi đến vãi cứt té đái. Lão đưa tôi lên, tôi hạ xuống. Công thức này kể cũng kỳ!

– Kỳ thật.

Binding cười hoài.

– Anh thấy không, chuyện này làm tôi ấm lòng. Vào Đảng có cái hay là có thể chơi được những cú thích thú như vậy.

Graber đứng dậy.

– Đã đi rồi à?

– Phải đi chứ sao. Không ngồi đâu được yên!

Binding cho là y nói phải. Bất thần Binding trầm ngâm.

– Tôi hiểu. Tôi rất buồn vì những chuyện ấy. Anh có tin tôi không?

– Tôi tin anh. Tôi là bạn anh.

Graber còn chút thì giờ nên muốn dùng cho được việc.

– Vài ngày nữa thì tôi đi.

– Vậy thì chiều mai nhé, hay tối mai. Thôi cứ cho là khoảng năm giờ rưỡi chiều.

– Vâng, năm rưỡi. Anh cho rằng có thể biết được gì không?

– Có lẽ biết, để xem. Nhưng dẫu sao cũng có dịp uống với nhau một ly. À anh đã đến các bệnh viện chưa?

– Rồi.

Binding gật đầu.

– Dĩ nhiên, đây tôi nói một thể thức không tránh được, anh đã đến nghĩa địa xem chưa?

– Chưa

– Vậy thì phải đi, mình cứ cẩn thận đi khắp nơi xem, biết bao nhiêu người chết chưa khai tử.

– Mai tôi đi.

– Được rồi. Ngày mai trở lại đây lâu hơn một chút nghe! Bạn cũ, mình phải sát cánh với nhau. Anh không thể biết được sống ở vị trí tôi thật là cô đơn. Người ta đến thăm mình chỉ để cầu cạnh xin xỏ.

– Thì tôi cũng vậy, tôi đến để nhờ vả.

– Anh thì khác. Tôi muốn làm vui lòng bạn.

Binding cầm lấy chai rượu, đâm mạnh cho thụt nút xuống rồi đưa cho Graber

– Anh mang nó theo đi, có lúc cần đến nó.

Anh ta mở cửa gọi :

– Bà Kleinert, cho tôi mảnh giấy!

Graber cầm chai rượu, nhưng còn lưỡng lự.

– Tôi thấy không cần.

Binding vội nói:

– Cần chứ. Trong hầm nhà tôi còn cả đống.

Anh ta đón lấy tờ giấy gói cái chai.

– Thôi, chúc anh may mắn và chớ nãn chí! Đến chiều mai.

***

Graber trở về đường Haken. Chuyến gặp gỡ làm y hơi bất bình. “Một anh mật vụ. Người thứ nhứt tỏ ra hết lòng với mình, cho ta ăn uống tử tế lại là một anh mật vụ!”. Y nhét chai rươu vào bị.

Trời. Bắt đầu tối xuống. Trên màn phòng sáng xà cừ ấy hình thù cây cối hiện ra từng lốt đen đen lấm tấm châm kim. Hoàng hôn phớt xanh lơ dần dần phủ nhẹ lên những đống gạch đá điêu tàn.

Graber dừng lại trước cái cửa đặt nhưng biển ghi tin tức. Biển của y đã biến mất. Trước y cho rằng gió đã cuốn đi; nhưng nếu gió cuốn đi thì đinh ghim phải còn lại. Đằng này đinh ghim cũng mất luôn, chắc phải có người tháo ra.

Tim y đập dồn dập. Y vội vàng đọc các biển ghi lời nhắn, hy vọng tìm ra câu gửi cho mình. Không có gì cả. Y chạy đến nhà mình. Bản tin thứ hai của y vẫn còn đó. Không có ai đụng đến, không có tin nào gởi cho mình.

Y kinh ngạc đứng lên. Bấy giờ y mới nhận thấy cái gì trăng trắng gió thổi bay xuống thềm ở dưới thấp. cầm lấy xem thì là bức thư của mình. Hẳn là có người bóc ra. Bên lề thấy ghi chữ “ăn cắp” thật lớn.

Mới đầu y không hiểu. Nhưng rồi y nhận ra rằng hai cái đinh ghim lấy ở bức thư cạnh đấy lại được ghim vào chỗ cũ. Vậy ra tác giả bức thư ấy đã thu hồi gia sản của mình và cho y một bài học. Lúc đau khổ, con người hết cả rộng lượng.

Y tìm hai hòn đá đẹp. Chặn bức thư của mình trên thềm cửa, rồi trở vào nhà cha mẹ.

Đến trước đống gạch đá, y nhận thấy có một vài sự thay đổi. Cái ghế bành bọc nhung đã biến mất. Hẳn là có người mang đi. Ở chỗ y đứng, có vài tờ nhật trình lẫn vào đống gạch vụn. Y leo lên lấy ra xém. Đó là những tờ nhật báo ra buổi chiều đã rách, giấy đã ố vàng. Trên trang nhất, những hàng tít lớn phô trương các cuộc chiến thắng. Y quăng đi rồi tìm nữa, bỗng thấy một cuốn sách bị kẹt xuống dưới hai cái rầm nhà. Y nhận ra là cuốn sách của mình hồi nhỏ, ngoài trang đầu có viết tên mình đã lem nhem. Y nhớ lại đã viết mấy chữ này hồi mới mười hai mười ba tuổi.

Đó là cuốn sách thánh giáo yếu lý dạy trong những giờ học tôn giáo. Cuốn sách sưu tầm một số lớn câu hỏi có giải đáp cẩn thận. Trang nào cũng ghi chép, y còn nhận ra nhiều điều chính tay mình đã ghi vào lề. Kỷ niệm tuổi thơ xô nhau ào đến. Tất cả đểu bị rung chuyển đến nền móng, y không thể nói rõ sự đảo lộn ấy là thành phố bị tàn phá nằm trơ trụi dưới trời hoàng hôn này hay là quyển sách nhỏ kia với lời giải thích những vấn đề đặt ra cho nhân loại, giải thích một cách giản dị, nhưng chân lý hiện ra một cách hiển nhiên.

Y đặt quyển sách xuống và tìm kiếm thêm. Không thấy gì khác, không thấy một đồ vật nào của cha mẹ y dùng. Không có gì lạ, nhà y ở lầu hai đồ đạc chắc vùi sâu dưới gạch vụn. Chắc là quyển sách kia bị tung lên trời trong lúc bom nổ, sau đấy mới là là bay xuống, “như một con bồ câu trắng”, con bồ câu trắng cô đơn, con chim hòa bình và đáng tin cậy giữa một cảnh tối đêm khói lửa, cửa nhà tan, máu sông xương núi.

Y dừng lại một lúc lâu, lật vài trang giấy như có một mãnh lực vô hình biết đọc những trang sách đó.

“Thượng đế có uy quyền tuyệt đối, lòng nhân từ và tình thương vô biên, sáng tạo và làm chúa tể vạn vật…”

Đêm đã xuống. Không có một ánh lửa nào. Graber đi qua công trường Kali. Đi quanh một cái hầm núp, xuýt nữa thì đụng vào một người đi qua. Một sĩ quan trẻ ra vẻ vội vàng. Người… này tức giận gầm lên :

– Không có mắt à?

Graber nhìn người lạ:

– Xin lỗi anh Luwig, lần sau tôi sẽ cẩn thận.

Viên sĩ quan ngó và nở một nụ cười:

– Graber! Anh ở đây! Làm gì ở đây? Nghỉ phép à?

– Nghỉ phép. Còn anh?

– Tôi hết phép rồi. Tối nay phải đi đây, vì thế nên vội vàng.

– May mắn, tốt đẹp?

– Nhì nhằng… Anh hiểu tôi chứ. Nhưng đến lần sau tôi sẽ khác. Tôi chẳng cho ai biết, tôi sẽ đến một nơi biệt tích. Thà cái gì thì cái còn hơn về nhà.

– Sao vậy!

Ludwig nhăn mặt:

– Ông bà già tôi! Cha mẹ tôi già rồi, gàn quá đi mất! Làm uổng cả mấy ngày phép. Anh ở đây bao lâu rồi?

– Bốn ngày.

– Cứ đợi xem rồi biết.

Ludwig quẹt điêm định đốt thuốc. Gió thổi tắt. Graber đưa cái bật lửa. Ngọn lửa soi sáng khuôn mặt gầy guộc và cương nghị của Ludwig.

– Các cụ cứ cho mình là con nít. Đi đâu một tối về hôm sau nom mặt bà già mà rùng mình. Cứ phải ở nhà suốt ngày đêm với các cụ thì mới yên thân. Đối với mẹ tôi thì tôi vẫn mới có mười ba mười bốn tuổi. Tuần đầu mẹ tôi khóc hoài vì mừng tôi trở về, tuần sau bà khóc ròng vì tôi sắp ra đi. Thật là khổ!

– Còn ba anh? Ông cũng có ra trận hồi đệ Nhất Thế chiến mà!

– Có, nhưng ổng quên rồi. Đối với ba tôi thì tôi là người hùng, ổng muốn đem tôi đi khoe khắp mọi nơi. Ổng là người của thế hệ trước. Nhưng ổng không hiểu thế cho. Anh liệu mà đừng để mấy ngày phép của anh cùng chung số phận với tôi.

Graber ra bộ tán đồng. Ludwig lại hỏi:

– Ông bà già thì vẫn hết lòng với con cái đấy. Thôi thì chăm nom săn sóc từng ly từng tý, ấy thế mới chết người ta chứ! Mình chỉ có một cửa chỉ chống lại thôi cũng thấy mình đắc tội, thấy mình bất hiếu rồi.

Ludwig đưa mắt dõi theo một người đàn bà đi qua, đôi bít tất trắng lồ lộ trong chỗ tối mờ.

– Thế mấy ngày phép tiêu tan. Chỉ còn được một cái là van lạy mãi ông bà mới không kèm mình ra ga. Mà cũng chưa chắc gì, biết đâu đến nơi lại không thấy hai cụ ở đấy rồi.

Y cười: “Khôn hồn thì anh tính trước cho đâu vào đó đi đã. Ít ra cũng giành lấy buổi tối là của mình. Bịa ra chuyện gì đi, đi có việc, bất cứ cớ gì cũng được nếu không thì lại như cảnh tôi. Mình vẫn là học trò Đệ Thất”.

– Tôi tưởng địa vị tôi khác không giống thế.

Ludwig bắt tay y.

– Anh mong thế à! Mong rằng anh sẽ may mắn hơn tôi! Mà anh đã về nhà chưa?

– Chưa.

– Đừng về. Tôi đã tính sai. Thật là chán ngấy. Họ đã ngưng chức ông thầy đứng đắn duy nhất của mình rồi. Thầy dạy về Tôn giáo đó, ông Pohlmann, anh nhớ không?

– Nhớ chứ! Tôi muốn đến thăm thầy.

– Đừng đến. Thầy có tên trong sổ đen. Quên đi là hơn, đừng trở lại quá khứ! Đời sống ngắn ngủn.

– Phải đó, đời sống vinh quang, ăn ngủ, ở, tắm, giặt, xuất ngoại và chôn cất với tiền của Nhà nước.

– Sự bẩn thỉu đẹp đẽ! Biết có gặp nhau nữa không?

Ludwig cười rồi biến vào trong tối.

Graber tiếp tục đi. Y không biết làm gì bây giờ. Thành phố đen thui. Không thể tìm kiếm gì được nữa. Y nhận thấy mình phải võ trang bằng sự kiên nhẫn. Y nghĩ đến buổi tối dài dằng dặc mà ngại. Còn sớm quá, về trại làm gì; y không muốn đến nhà những người quen biết. Họ chăm nom hỏi han là y khó chịu. Mỗi lần đi khỏi y cảm thấy họ nhẹ người đi khỏi ngồi tiếp mình.

Y nhìn những mái nhà thủng lỗ, nghiền nát. Về đây y đợi gì? Một chỗ yên tịnh xa chiến trường, một mái nhà ấm cúng, một sự ấm lòng, một chốn an toàn? Có lẽ. Nhưng hòn đảo hy vọng đã chìm trong chết chóc, điêu tàn phi lý từ lâu. Chiến tranh đã lan ra khỏi mặt trận, đã lan rộng khắp nước, chiến tranh đã xâm nhập vào tư tưởng và tâm hồn con người.

Y dừng lại một rạp chiếu bóng rồi bước vào. Trong phòng đỡ tôi hơn bên ngoài. Nghĩ cho cùng thì ngồi đợi ở đây còn hơn vơ vẩn ngoài đường tối tăm hay bước vào một quán rượu.

Hải hành mùa đại dịch

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 25 May 2026

Hôm tôi xuống tàu, khi xe đậu lại bến, Ama đang đứng trực trên đầu cầu thang, vừa thấy tôi từ trên boong nó chạy ào xuống làm chiếc cầu thang rung rinh và kêu lạch cạch. Nó quên luôn luật phòng chống dịch, nhào tới bắt tay mừng rỡ và ôm chầm lấy tôi:

– Biết chú xuống con chờ.

Tôi vỗ vỗ vào vai nó, nói:

– Lâu lắm rồi chú cháu mình mới gặp lại.

Nó khom xuống kéo chiếc vali nặng trịch và đầy nhóc đồ đạc của tôi vác lên vai rồi đi một mạch lên phòng, để vali xuống xong, nó nói:

–  Con còn phải trực, chú cháu mình sẽ gặp lại sau.

Ama dân In Đô thuộc giống người Ambon tóc quăn, nước da đen gần như người Phi Châu. Tôi quen ba của nó trong những ngày đầu tôi tập sự hải hành, ông tên là Verman, lớn hơn tôi bốn tuổi và gia đình theo đạo Thiên Chúa. Lúc tôi mới chân ướt chân ráo tới định cư nước Hoà Lan, xin được chân thủy thủ, những ngày sống chung nhau Verman thương và giúp đỡ tôi rất tận tình. Tới ngày tôi làm đầu bếp thì cũng là lúc Ama xuống tập sự làm thủy thủ, Verman dạy Ama kêu tôi bằng chú và dặn tôi nhắc nhở, giúp đỡ Ama trong lúc nó cần hoặc những khi ông không có mặt trên tàu. Thời gian sau Verman bệnh nặng không làm việc được nữa, lúc đó Ama đã thạo nghề và lương bổng được khá thì cũng là lúc Verman qua đời.

Sau giờ ăn trưa hôm đó, Ama dẫn tới một thanh niên trẻ, giới thiệu là con trai của nó tên Nando vừa tròn hai mươi tuổi, học xong trung học và mới xuống tàu đi chuyến đầu tiên. Tôi còn nhớ ngày đầu khi Verman dẫn Ama tới giới thiệu cho tôi, tuổi Ama cũng bằng Nando bây giờ và không khí gặp gỡ cũng giống như ngày hôm nay, khác cái là Verman dạy Ama kêu tôi bằng chú Tấn (uncle Tan), còn bây giờ Ama dạy Nando kêu tôi bằng ông Tấn (Mr. Tan.) Nước In Đô với nước Hoà Lan có hiệp ước lao động nên phần đông tàu Hoà Lan nhận người In Đô làm thủy thủ rất nhiều, cũng vì vậy nhiều thủy thủ người In Đô làm việc cho công ty hết đời cha tới đời con và bây giờ tới đời cháu rồi.

Trước đây Ama theo tôi học làm bếp, tới khi thấy nó thạo nghề tôi mới chỉ cách nó xin việc. Từ khi Ama nhận việc tôi với nó không đi chung tàu nữa, nhưng thỉnh thoảng cũng có nhắn tin thăm nhau. Nhờ vậy mà tôi biết nó làm bếp được một thời gian rồi nó gây lộn với mấy người Nga sao đó và xin trở lại làm thủy thủ. Ama thấy tôi chiều nào cũng lên bến đi dạo, nên tuần trước nó nhờ tôi hỏi thuyền trưởng cho nó đi theo. Sau giờ ăn chiều, tôi hỏi thuyền trưởng thì ông nói:

– Người nào đi thì người đó hỏi, hổng được người này hỏi dùm người kia.

Nói xong ông vô phòng đóng cửa lại. Những thủy thủ người In Đô thường ngại không dám gõ cửa phòng hoặc điện thoại cho thuyền trưởng, đúng ra tụi nó hỏi thuyền phó cũng được. Nhưng có lẽ vì sợ mắc dịch Covid 19 hoặc vì cái bản tánh ngại ngùng của dân thuộc địa trước kia còn đọng trong máu nên không dám hỏi, cũng như nhiều người Việt làm trên các xưởng ở đất liền, hể thấy sếp Tây thì rụt rè không dám đòi hỏi mặc dù biết đó là quyền lợi của mình, cũng vì vậy mà hơn tháng qua không có người In Đô nào lên bờ đi dạo hết. Chiều nay sau giờ ăn Ama vô bếp phụ tôi dọn dẹp, xong việc tôi lấy bia mời nó. Chúng tôi đứng trong bếp đưa lon lên cụng, ngước cổ uống một hớp. Chợt nhớ ra tôi hỏi:

– Con hổng muốn trở lại làm bếp nữa sao?

– Dạ, cũng muốn nhưng nhiều chuyện phiền phức, con sợ mình chịu hổng được.

– À, làm dâu trăm họ mà hổng cảm thông, nhẫn nại thì cũng phiền phức lắm.

– Sao con thấy không có người nào vô bếp đòi hỏi chú món này món kia.

– Có chớ, hồi chú mới vô nghề gặp nhiều lắm, chú chửi mấy thằng cà chớn đó hoài, thậm chí muốn lấy dao đâm cho nó lòi phèo luôn.

– À! Vậy hả chú, nhưng hồi biết chú tới giờ con thấy chú hiền khô.

– Lúc gặp con chú đã lớn tuổi rồi.

– Con thấy mấy người Nga sống vô kỷ luật, ăn uống hổng giờ giấc gì hết, mà lại kỳ thị, xấc xược đôi khi cũng bực mình.

– Trước kia chú nghĩ cũng như con vậy, sau này chú mới nhận ra, người nước nào cũng vô kỷ luật, kỳ thị, ganh tị và hay làm khó nhau.

– Sao con người hay kỳ thị nhau quá chú?

– Có lẽ từ khi có loài người trên trái đất thì chuyện phân biệt đã có rồi, là con người thì ai cũng có tánh phân biệt. Theo chú thì phân biệt là mầm mống của kỳ thị, nhưng tùy hoàn cảnh xã hội mà nó bộc phát, với lại còn cá tính của mỗi dân tộc và tùy trình độ của mỗi người mà tỏ thái độ khác nhau. Ngay người In Đô cũng vậy thôi, người Ambon không ưa người Java, ngườì Java ghét người Ambon, đạo Hồi không ưa đạo Chúa, đạo Chúa không thích đạo Hồi.

Ama nói:

– Đạo Hồi hổng thích đạo nào hết.

– Chỉ vì ba cái chuyện nhỏ nhặt vậy thôi mà con bỏ nghề.

– Dạ.

Tôi liếc qua nhìn thằng nhỏ, thấy nó chú tâm lắng nghe, tôi nói tiếp:

– Trên tàu con tức giận chửi lộn rồi bỏ nghề. Nếu con ở Mỹ mỗi khi tức giận chắc con hùa theo đám làm loạn đập phá cho đã.

– Chú nghĩ vậy sao?

– Chắc chắn luôn chớ nghĩ gì, biểu hiện của tức giận là phẫn nộ, mà phẫn nộ sanh ra phá phách.

– Con muốn bỏ tánh nóng nhưng khó quá chú.

– Ba con ngày trước hiền khô, có lần ba con thấy chú gây lộn với đồng nghiệp, ba con rầy chú và chú có kể cho ba con nghe về tánh nóng khó chừa của mình. Con biết ba con nói sao không?

– Sao chú?

– Khó nhưng không có nghĩa là hổng bỏ được, mình thay đổi người khác hổng được nhưng thay đổi chính mình thì được. Từ đó chú tập dằn cơn nóng giận khi gặp chuyện bất bình riết rồi tánh nóng biến đâu mất hồi nào không hay.

– Con thấy ngày Chủ Nhựt mà thuyền trưởng hổng cho đầu bếp nghỉ ngơi gì hết, chú vui vẻ làm, chớ những đầu bếp khác vừa làm vừa tức giận vừa chửi thề và mạnh tay với dao thớt.

– Trong số đầu bếp hổng vui vẻ đó có bếp Ama.

Chúng tôi cùng cười ha hả. Tôi hớp một hớp bia và vỗ lên vai thằng nhỏ, nhẹ giọng:

– Bỏ tánh nóng hổng phải là nhu nhược, con đừng tính toán, so đo với ai hết, sống tập thể mình nên cảm thông, chia sẻ và chịu thua thiệt một chút, có như vậy mình mới an tâm làm việc. Đầu bếp mỗi ngày làm chỉ có bao nhiêu việc, hàng hoá tự đặt, menu tự ra… Nếu biết sắp xếp công việc thì ngày nào cũng là ngày Chủ Nhựt.

– Ờ, con thấy chú nấu buổi sáng đủ ăn luôn cho buổi chiều.

– Thường là vậy, nhưng với viên thuyền trưởng này chú phải nấu thêm thịt.

– Ờ, thuyền trưởng ăn thịt nhiều quá.

– Ở nhà thiếu ăn nên xuống tàu ông ăn bù vậy thôi.

Ama tưởng tôi nói chơi nên hỏi lại:

– Oh, thiệt vậy hả chú?

– Thiệt chớ.

– Nhưng ông ta là thuyền trưởng mà thiếu ăn sao?

– Hồi trước ông cũng là chủ tàu nhưng sau đó bị phá sản, có lẽ cũng vì bất tài nên ở nhà vợ cho ăn cầm hơi, khi lên tàu được ăn miễn phí nên ông ăn cho đã.

– Trước kia con nghĩ là thuyền trưởng người nào cũng hiền, thông thái và dân ở Âu Châu hổng có người nghèo đói.

– Con nên biết rằng, trên thế giới này nơi nào có tỉ phú thì nơi đó có ăn mày, chú biết có nhiều người làm chủ công ty lớn bị phá sản đến đổi không còn nhà để ở, phải ở trong caravan. Theo chú nghĩ thì hoàng cảnh của viên thuyền trưởng này cũng tương tợ vậy thôi, hôm trước còn là chủ lớn, hôm sau trắng tay là lẽ thường tình. Còn nhân cách thì hổng phải người nào học cao cũng hiểu rộng, là người thông thái và biết cách đối nhân xử thế, con thấy trên tàu đó, có vài người học cao, có bằng cấp hẳn hoi nhưng giữa người và người họ cư xử với nhau còn thua phường vô loại nữa.

– Nhưng thuyền trưởng có một biệt thự lớn và một chiếc du thuyền buồm.

– Chú có thấy hình ảnh ông thường khoe với mọi người, nhưng biết đâu đó là hình ảnh của trước kia, hoặc nếu hiện tại ông đang sở hữu thì cũng có thể là ông làm việc để trả nợ cho những thứ ông đang có, trên tàu ông là thuyền trưởng khi về nhà ông sống ra sao ai mà biết được. Trong công ty những thuyền trưởng và những thợ máy người Hoà Lan trẻ hơn ông, họ đã nghỉ hưu hết rồi. Nếu ông là người giàu có thì tuổi này ở nhà nghỉ ngơi, hưởng thụ cuộc sống cho sướng cái thân già, chớ làm gì xuống tàu thèm ăn và kèo nài thêm từng miếng thịt, từng cái trứng gà.

– Ờ, trước khi chú xuống, có lần đầu bếp chiên cho mỗi người hai cái frikandel, ông ăn xong rồi vô bếp nói với đầu bếp là ông chưa ăn, làm đầu bếp phải chiên thêm cho ông hai cái khác.

– Chú cũng bị ông đòi ăn thêm theo kiểu đó hoài.

– Công ty biết không chú?

– Biết chớ.

– Họ hổng làm gì sao?

– Chuyện ăn uống trên tàu đâu có liên quan tới họ.

– Theo quy luật trên tàu thì không người nào được vô bếp làm phiền đầu bếp.

– Thật ra thì luật lệ dành cho những người biết sống kỷ luật thôi. Có lần chú gặp thuyền trưởng hay chèn ép chú và hay vô bếp đòi này đòi nọ, chú bực mình, lúc gặp chủ tàu chú mét. Con biết ông chủ nói sao không?

– Sao chú?

– Ông ta nói, ông là chủ trong bếp, bất cứ ai đòi này đòi kia thì mặc kệ, ông đừng làm theo.

– Rồi chú có làm theo lời chủ không?

– Có chớ, nên chú gây lộn hoài và chú cũng xin đổi tàu khác mỗi khi gặp thuyền trưởng khó khăn, nhưng qua tàu khác thì gặp chuyện bực mình khác, hổng lẽ xin đổi tàu hoài, từ đó chú thấy chuyện gì được thì chú làm, không thì chú lờ đi, nhờ vậy mà chú mới được yên thân. Cũng nhờ gặp khó khăn chú mới khám phá ra những người tham ăn, thường thì lòng dạ hẹp hòi lắm, mình làm dưới quyền họ mà, không nên cãi vã với họ làm gì. Chú nhớ có lần đi chung với viên thuyền trưởng ghiền rượu có vợ người In Đô và có một biệt thự ở Sumatra, mà lại không ưa thủy thủ In Đô. Mấy người nát rượu thường ăn nói bậy bạ lắm, có người nói bậy làm cho người ta cười, có người nói bậy làm người ta khó chịu. Ông ta lấy vợ In Đô thì hổng có tánh kỳ thị rồi, nhưng có tánh kỳ cục hễ mở miệng ra là chửi tục, cho nên nhiều thủy thủ ghét và hăm he khi về Sumatra sẽ đốt ngôi biệt thự của ông. Vậy mà đã mấy chục năm qua rồi, ông vẫn sống vui vẻ với vợ con và vẫn hổng ưa thủy thủ người In Đô, nhưng ngôi biệt thự của ông bên Sumatra vẫn chưa bị cháy.

– Ha ha…

Ama đang lớp bia, nghe tôi nói nó cười lớn bị sặc bia văng tùm lum. Tôi nói tiếp:

– Thật ra thì lâu lâu mới gặp một thuyền trưởng kỳ cục vậy thôi, chớ phần đông thì rất tốt. Mình hổng nói chuyện về  thuyền trưởng nữa, nói chung là không nên nói nói bất cứ người nào. Con xin làm bếp lại đi nhưng con đừng so đo, tính toán nữa. Mình là đầu bếp nấu cho nhiều người ăn, nên công bằng ai cũng như ai, lo làm cho tốt việc của mình và nấu cho ngon. Con làm được như vậy, chú bảo đảm hổng người nào dám vô bếp làm phiền con nữa đâu.

– Vậy mỗi sáng con vô bếp học thêm chú nhé.

– Hơn tháng rồi ngày nào con cũng vô phụ chú mà.

– Dạ, nhưng con cần học thêm kinh nghiệm.

Nói tới đây nó nhìn lên góc bếp thấy chiếc ba lô máng trên vách. Nó hỏi:

– Chú định lên bờ hả?

– Chiều nào chú cũng đi mà.

– Con muốn đi với chú nhưng mà thuyền trưởng khó quá.

– Thì con hỏi thuyền phó.

– Thuyền phó kêu hỏi thuyền trưởng.

Tôi hơi khó chịu và nhăn cái mặt, cao giọng hỏi:

– Con gọi điện hỏi thuyền trưởng hổng được sao?

– Sợ ổng ngủ.

– Giờ này mà ngủ nghê gì!

Thấy nó lưỡng lự, tôi day ngang chỗ máng điện thoại, nhấc ống nghe lên, bấm số rồi đưa ống nghe qua cho nó:

– Con hỏi đi, ổng hổng bắt con bỏ tù đâu.

Có như vậy nó mới đủ can đảm cầm ống nghe lên hỏi. Xong nó day qua tôi tươi cười nói:

– Được rồi chú, vậy chú chờ con tắm xong rồi đi.

– Khỏi, mình lên bến đi gần đây thôi, có được ra phố đâu mà làm bảnh.

– Đi liền hả chú?

Tôi chỉ qua đám dĩa đã rửa xong nói:

– Chú sắp mấy cái này lên kệ xong rồi đi.

– Để con sắp cho chú.

Tôi chưa kịp trả lời, nó liền day ngang lấy dĩa sắp lên kệ. Trong khi Ama sắp lại chồng dĩa, tôi chợt nhớ trong ba lô chỉ có hai lon bia, tôi đi lại góc phòng, vói tay lấy ba lô xuống mở ra lấy hai lon bia bỏ trở lại tủ lạnh và lấy một xâu sáu lon bia nhét vô ba lô. Ama sắp dĩa lên kệ, xong day nó qua tôi nói:

– Để con lấy bia.

Tôi nói:

– Sáu lon, một người ba lon hổng đủ sao?

– Để con lấy thêm vài lon nữa.

– Thôi khỏi.

Tôi mở tủ lấy hai lon bia hồi nãy nhét trở lại vô ba lô, day qua nói với nó:

– Mỗi người bốn lon đủ rồi.

Nó cười hì hì:

– Để con lấy hộp đậu phộng.

Trong ba lô của tôi có một hộp phó mát đầu bò, nhưng thấy thằng nhỏ nhiệt tình quá tôi cũng gật đầu.

– Cũng được.

Nó vui vẻ và liền quay lưng đi nhanh lên phòng. Tôi cũng xốc chiếc ba lô lên vai rồi ra boong đứng đợi. Buổi chiều lang thang trên bến hoặc ngồi thơ thẩn uống bia trên bờ sông Maas nhìn mặt trời lặn xuống biển, đôi khi cao hứng tôi bấm vài câu thơ vô điện thoại thông minh rồi đăng trực tiếp lên facebook, nhưng hôm nay nó lại trở thành buổi picnic ngoài trời.

Dronten 30-8-2020

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Anh Hòa nhận sự vụ lệnh thuyên chuyển ra Đà Nẵng, trước ngày tôi thi Tú Tài. Không muốn tôi bị phân tâm trong lúc thi cử, anh chờ tôi thi xong mới báo tin. Cái tin đột ngột như sợi dây đang căng thẳng bong bị đứt lìa, làm tôi quá đà té ngữa. Cũng có thể do mất tin tưởng bài thi, làm tôi chới với.

Anh Hòa coi những tờ nháp của tôi trong phòng thi, nói chỉ hy vọng được năm mươi phần trăm. Năm mươi phần trăm là đứng một chân trên bờ vực, đang phân vân giữa hai đường đậu rớt. Nếu rớt, đời tôi lâm ngõ cụt.

Trước khi rời Nha Trang, anh Hòa làm bữa cơm từ giã. Mời sư Trí Tâm, thì sĩ Quách Tấn. giáo sư Nguyễn Văn Xung. Các món ăn do nhà hàng mang tới. Có món chay riêng cho sư Trí Tâm. Mọi người vừa ăn vừa nói chuyện bình thường, như chẳng có vấn đề sắp dời đổi chia ly. Bữa cơm thịnh soạn, nhung không khí tẻ nhạt. Tất cả đều là giao tế trong đời sống vốn dĩ mang nhiều nỗi bèo mây tan hợp. Ăn xong, tôi bỏ ra ngồi ngoài thềm hiên. Nhìn qua bên kia đường, sân nhà ai có trồng cây phượng. Bông nở từng chùm đỏ ối trong cái nắng hanh hè chói chang nhức mắt.

Sư Tri Tâm ra về, ngang chỗ tôi ngồi.

Sư hồi: “Rồi con sẽ ở đâu?”

“Trở lại chỗ cũ, trưức khi con về đây.”

Sư bảo: “Vào chùa ở tạm với chú.”

“Kè trần tuc như con, sợ làm khuấy động chốn trang nghiêm.”

Sư lại bảc: “Con có thể tu luôn. Cũng là một cách để bớt cái tâm vọng động của con.”

Tu ư? Kẻ xấu xa đầy dục vong như tôi, mặc áo nhà tu sẽ thành ác tăng phá đạo. Phá đời, thành quỷ. Phá đạo, tội vào địa ngục vô gián.

“Chùa chiền không phải chổ ở của con.” Tôi nói với giọng buổn rầu,

Sư thương hại: “Thành kiến và ngộ nhận chỉ khổ than con.”

Sư đi luôn ra cổng, buồn vui không lộ mặt. Tà áo nâu sòng lất phất bên kia tàng cây phượng đỏ.

Hộm sau, anh Hòa xếp gọn đồ dạc vào hai valise lớn. Vật dụng còn lại trong nhà là của chính phủ, Anh về Nam thăm gia đình, từ đó di luôn ra Đà Nẳng nhận nhiệm sở mới. Anh cho tôi số tiền bằng hai tháng lương kèm trẻ tư gia. Tôi nói những lời cám ơn, dù biết chỉ bằng thừa. Anh rất tốt với tôi, nhưng giữa anh và tôi khó mà hòa hợp trọn vẹn. Anh đạo mao trong đời sống, cẩn trọng trong cử chỉ lời nói. Còn tôi thì nông nổi bốc đồng theo cảm hứng nhất thời. Hai tinh tình quá khác biệt, nên nhiều khi tôi cảm thấy không thoải mái những lúc gần anh. Tôi xếp lại sách vỡ, quần áo cho vào thùng carton. Anh Hòa đi, tôi cũng rời khỏi nhà này, Anh lên phi trường bằng công xa. Toi tiển anh ra xe chờ sẵn trước đường, rồi quay vào. Bà lao công đang quét dọn ngôi hiệt thự. Bà lãnh lương chính phủ, anh Hòa trả tiền thêm cho bà giúp việc nấu ăn.

Bà nói: “Cậu đem ngay mấy cái thùng của cậu ra ngoài, để tôi lau chùi nhà cửa.”

“Tôi còn quên cái bàn chải đánh răng trong toillet.”

“Cái bàn chải cùn ấy à? Tôi vất rồi.”

Tôi khựng lại: “Sao vất của tôi?

“Lũ ăn mày cũng không xài bàn chải cùn đến thế.”

Mặt bà lạnh tanh. Nụ cuời thuờng ngày biến mất.

Tôi còn đang lừng khừng, bà nói tiếp: “Thấy sang bắt quàng … Người sang đi rồi, cậu dựa và ai mà chưa chịu bước xéo đi?”

Tôi sửng sốt như bất ngờ bị tạt nước vào mặt. Mới vài phút trước, bà nói rất mến tôi và bảo thỉnh thoảng tôi ghé lại thăm bà. Anh Hòa vừa đi khỏi, bà trở mặt nhanh như chớp bằng những lời thóa mạ hết sức cay độc. Tôi vừa tủi nhục, vừa kinh tởm bản chất con người thối tha hạ tiện này. Những khi tôi lên chùa, sư Trí Tâm thường nói về lòng sân hận, “một que diêm lửa giận, đã thiêu rụi cả một rừng công đức”. Lửa ngầm đang cháy trong tôi. Tôi cần ráng nhẫn nhục, ôm mấy cái thùng carton và xe đạp. Tôi đi mà ứa nước mắt. Có những sự việc trên đời, đôi khi chỉ có thể giải quyết theo luật giang hồ. Nhưng mỉa mai thay, tôi là đứa đớn hèn bị sỉ nhục mà chẳng làm gì được ai!

Tôi về lại căn nhà lá quạnh hiu bên nghĩa địa. Cỏ héo và nắng mênh mông, Có thêm vài nấm mộ mới lấp. Khu nghĩa địa dường như rộng thêm ra. Điều đó, tôi cảm thấy trong cõi lòng hoang vắng của tôi. Kéo cánh cửa liếp. Tiếng cót két dậy lên nỗi niếm chua xót. Một làn bụi mỏng phớt lên mọi vật trong nhà. Chiếc bàn gỗ thông. Cây đèn dầu nhỏ. Cái ấm nước ám khói den. Đồ đạc vô tri mà thân thiết gần gũi.

Những viên cứt chuột rơi vãi dưới chân bàn. Manh chiếu đơn vẫn còn trãi trên chiếc sạp như ngày nào. Tôi mệt mỏi buông mình nằm xuống. Thân xác rã rời, hồn tôi chìm đắm. Chập chờn trong mơ, tôi thấy tôi cẩm dao đâm chết người đàn bà lao công. Mắt bà vẫn mở trừng và cái lưỡi vẫn còn thò ra ngo ngoe ghê rợn. Tội bàng hoàng tỉnh dây khi mặt trời đổ nghiêng qua mái lá đầu hồi, chiếu một vết dài trên nền nhà. Mình mẩy tháo đầy mồ hôi. Bụng đói cồn cào. Tôi đạp xe về nhà bác Huế. Trên đường đi, phân vân không biết có nên nói với bác về chuyện anh Hòa rời khỏi Nha Trang và tôi đã trở lại căn nhà gần bên nghĩa địa?

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 25 May 2026

Hoàng Phủ Ngọc Tường, người lội trong máu mà cứ tưởng lội trong bùn vì không nghe mùi tanh của máu! Vào những ngày đầu năm Âm lịch ở Little Saigon, khi không khí những ngày Tết hải ngoại còn vướng vất đâu đây, tôi nhận được qua điện thư một đoạn phim (chưa edit) trong loạt phim 10 tập Vietnam History do một đài truyền hình Anh Quốc thực hiện năm 1982. (Roll 29 of Vietnam Project- Feb. 29, 1982- Inteview with Hoang Phu Ngoc Tuong, writer). Chúng ta cũng đừng quên rằng trong thời gian Tết Mậu Thân, Tường là Tổng Thư Ký của “Liên Minh Dân Tộc, Dân Chủ Hòa Bình” do Lê Văn Hảo làm chủ tịch.

Để trả lời câu hỏi: “Ông có thể mô tả biến cố về cuộc nổi dậy tại Huế và đặc biệt liên quan đến cuộc thảm sát từ khi ông có mặt tại đây”, Hoàng Phủ Ngọc Tường (HPNT) đã trả lời vòng vo, ấp úng trong 12 phút với một luận điệu gian dối, vụ vạ, sai sự thật một cách đáng khinh bỉ. Là một người lính có mặt ở Huế trong 21 ngày Cộng Sản chiếm cứ cố đô, sau đó, với tư cách phóng viên báo chí, đã trở lại đi theo những chuyến đào mộ tập thể, cũng như đã có dịp phỏng vấn nhiều nhân vật liên quan đến vụ thảm sát ở Huế, như ông Võ Văn Bằng, Chủ tịch Uỷ Ban Truy Tầm & Cải Táng Nạn nhân CS Mậu Thân, tôi thấy cần phải viết một vài dòng về bộ mặt và tâm địa độc ác của một “người” mang danh trí thức Cộng Sản như HPNT.

Điều phải nói trước tiên là Tường đã nói dối khi phủ nhận sự có mặt của y trong những ngày bộ đội CS vào Huế. Về sau này, trước dư luận và sự tấn công của báo chí hải ngoại, qua các nhân chứng xác nhận HPNT hiện diện tại Huế ngay trong các vụ xử án trong vùng Gia Hội, Tường đã chối rằng trong những ngày này, y đang ở trong khu an toàn trên núi. Chính câu hỏi của phóng viên đài truyền hình ờ đầu bài đã xác nhận sự thật, vì nếu Tường không có mặt ở Huế, sẽ không có cuộc phỏng vấn này cũng như nội dung câu hỏi được đăt ra ở trên. Mặt khác, sau này chính y không nhớ là mình đã thú nhận chuyện có mặt ở Huế vào phút thứ 6 của đoạn phim này, vào năm 1982, khi Tường mô tả chuyện y đang đi trong những con đường hẻm vùng Đông Ba và đã nói những câu “khi chúng tôi rút lui” hay “tôi là một chứng nhân” nghe rất rõ ràng.

Câu nói vào đề của Tường là vụ thảm sát ở Huế “do chính Mỹ gây ra” nhưng lại đổ cho tội lỗi của “cách mạng”, và xem đây như là một bửu bối để đưa ra trước cuộc hoà đàm Paris để bôi nhọ “Cách Mạng Việt Nam”.

Để nói về những người bị giết, Tường cho biết, trong số đó hiển nhiên là “có một số người” do du kích và “quân đội cách mạng” thi hành bản án tử hình tại chỗ, vì căm thù đã lâu, bị tra tấn, cả gia đình phải đi ở tù, và khi cách mạng bùng lên, họ (CS) lấy lại được thế của người mạnh, nên phải giết. Mặt khác đây là những tên ác ôn đã từng giết nhiều gia đình cách mạng, có khi cả nhà 10 người, nay “cách mạng” chỉ lấy lại mạng sống của một người, giá đó rất nhẹ và công bằng. Chính những người chỉ huy của cách mạng không thể kiểm soát nổi họ, và chính họ (cấp dưới) đã thi hành bản án đối với kẻ thù của mình. Sau khi cho rằng “khối lớn người chết đã làm nên những nấm mồ, đã được Mỹ Nguỵ quay phim và đưa ra công luận”, Tường đã lớn tiếng đặt câu hỏi: “Những xác chết nằm ở dưới đó là ai?” và tự giải thích:

1. Nhân dân đã bị bom Mỹ trong các đợt phản kích chiếm lại Huế. Tường dẫn chứng Mỹ đã thả bom một bệnh viện nhỏ ở bên phố Đông Ba (?), “đúng” 200 người vừa chết vừa bị thương. Trong đêm tối y đã đi trên những đường hẽm, lội trong một vũng lầy, mà y tưởng là bùn, nhưng khi rọi đèn pin lên thì đó toàn là máu lầy lội, và trong những ngày “chúng tôi rút ra” thì chúng nó (Mỹ hay Nguy) đã gom lại và đem đi chôn. Dân chúng Huế đã hiểu đây quả là một điều dối trá, và nhờ câu nói này chúng ta biết rằng, người Cộng Sản thường lội trong máu mà cứ tưởng lội trong bùn vì không nghe mùi tanh.

2. Hằng loạt gia đình có con em tham gia cách mạng, đi lên rừng sau Mậu Thân thì chúng (Nguy) đã bắn chết và cũng chôn vào trong những hố đó.

3. Xác của quân giải phóng mà chúng tôi không kịp mang theo thì cũng được chôn vào đó.

4. Có những đoàn thanh niên và thường dân bị lưu giữ, mà chúng tôi không hề có ý định giết nhưng vì đi thành một đám đông nên bị máy bay Mỹ cương quyết tìm cách tập kích vào để không còn ai có thể sống sót, chết nằm ở bìa rừng, kể các các cán bộ, binh sĩ hộ tống đoàn người đó cũng bị chết luôn. (Luận cứ này đã dược Bùi Tín lặp lại trong một lần trả lời báo chí năm 2007.)

5. Ba năm sau 1975, chúng tôi đi làm thuỷ lợi đã đào được những hầm gọi là “thảm sát Mậu Thân” mà trong đó đầy những người đội mũ tai bèo và mặc áo quần quân giải phóng. Để kết luận, Tường cho đây là sự ranh mãnh của thực dân mới, bắn một mũi tên được hai mục tiêu: che dấu tội ác đã làm và đổ tội tất cả cho quân giải phóng. Một cách thiếu luận cứ, Tường cho rằng “thảm sát mậu Thân” là một kế hoạch tuyên truyền rất lớn có tính cách chiến lược do Kissinger đề ra và nước Mỹ đã tốn một ngân sách rất lớn để dùng cho vấn đề gọi là Mậu Thân ở Huế.

Sau khi chối quanh, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã trở lại nói rằng đối với những người mà nhân dân đã thi hành bản án là lẽ đương nhiên vì lòng căm thù và khi đối diện với kẻ thù, trước họng súng, “nhân dân của chúng tôi phải đổi lấy máu của chúng tôi, thi hành bản án đó đối với những kẻ tử thù của dân tộc mình”. Tường cho rằng chiến dịch “Thảm Sát Mậu Thân” do chính quyền Mỹ bịa ra, dựng lên để “đổi trắng thay đen” và để “lừa bịp nhân loại”. Chúng ta, đồng bào Huế, gia đình các nạn nhân và nhất là các phóng viên báo chí quốc tế đã có mặt trong những ngày đào mộ và cải táng những nấm mồ tập thể tại Huế sau Tết Mậu Thân, và căn cứ vào danh sách nạn nhân, cách giết người, cách trói người trong các hầm tập thể, đã thấy những lời nói của HPNT là gian dối. Trong các hố chôn tập thể này chúng ta đã tìm thấy thi thể các giáo sư y khoa người Đức, các giáo sư trung học, các vị linh mục, sư huynh, tu sĩ, sinh viên, học sinh, công chức, quân nhân và cảnh sát không vũ khí, y tá, học sinh, thường dân … đầu bị bể nát hay thủng vì vết đạn, bị trói xâu chùm bằng giây điện thoại, thép gai, giây lạt tre. Phải chăng họ là những tử thù của các đồng chí của HPNT? Và trong 22 hầm chôn tập thể được khám phá không hề có một đôi dép râu, cái nón cối hay cái mũ tai bèo nào. Chúng ta nếu muốn lên án hay đổ lỗi cho Cộng Sản cũng không thể nguy tạo hay che dấu được điều gì trước sự quan sát của các phái đoàn quốc tế đến Huế. Bản chất “đổi trắng thay đen” để “lừa bịp nhân loại”, dối trá, vu vạ là những đòn chính trị lâu đời của Cộng Sản, mà những tên học trò tay mơ như HPNT không thể qua mặt được ai.

Trong phần cuối của cuốn phim, HPNT đã lên án chế độ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, mặc dù không liên quan đến vụ thảm sát Mậu Thân, chúng tôi nêu ra đây, để thấy thêm sự xảo trá, quá quắt của y.

Thứ nhất, y nói rằng “hằng năm đến ngày Tết, tất cả giáo sư đại học, trí thức, nguỵ quyền, đều phải mặc “áo xưa” (ý y muốn nói đến áo thụng) đến quỳ ở trước sân để tung hô chúc thọ, mừng tuổi cho cả gia đình họ Ngô kể cả Ngô Đình Diệm ngồi trên những cái ngai vàng.” Thứ hai, muốn loại những ảnh hưởng của cách mạng tháng 8 ngay trong thành phố này (Huế), “những gia đình có con đi tập kết ra Bắc lần lượt bị tù đày và bị tra tấn.” Thứ ba, với “những gia đình có chồng đi tập kết để lại một đứa con ở trong bụng thì chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm dẫm lên bụng và cho đến lúc cái thai phải văng ra ngoài (sic)!

Người viết bài này và HPNT đều là công chức dưới thời TT Ngô Đình Diệm (năm 1966 Tường mới ra bưng), bản thân Tường và Tường có thấy tôi đến quỳ trước sân nhà ông Ngô Đình Điệm ở Phủ Cam không?

Về chuyện gia đình tập kết, một người bạn chung mà chắc Tường không thể không biết, là Tôn Thất Lan có cha đi tập kết, sau 1975 mới về. Lan và người em trai đều tốt nghiệp Y Khoa, Tôn Thất Lan nguyên là Thiếu Tá Quân Y phục vụ tại Long An, sau 1975 ở lại tiếp tục hành nghề ở Saigon. Em của Lan vượt biên sang Mỹ hiện làm việc tại Quận Cam. Ở miền Nam ai cũng biết, ông Dương Văn Minh và ông Trần Ngọc Châu đều có em trai đi tập kết theo Cộng Sản, mà người làm đến Tổng Thống, người là Tỉnh Trưởng rồi Dân Biểu. Cụ Trần Văn Hương cuối đời, sau năm 1975, đã sống với con trai cả là Lưu Vĩnh Châu, tên thật là Trần Văn Dõi, một cán bộ của Ban Công nghiệp Trung ương, nguyên là đại úy Bắc Việt đã từng tham gia trận Điện Biên Phủ. Khốn nạn thay, vậy mà ở miền Bắc, HPNT nói điều này ra cũng có người tin, mới biết chính sách tuyên truyền của Cộng Sản điêu ngoa, chà đạp lên sự thật đến dường nào.

Điều cuối, ghê tởm nhất là Tường vu cáo những người đàn bà mang thai có chồng đi tập kết bị chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm dẫm lên bụng và cho đến lúc cái thai phải văng ra ngoài. Trước hết, sự thật, nếu HPNT dẫm lên bụng một người đàn bà mang thai, cái thai có văng ra ngoài được không? Trong thành phố Huế này, nơi mà tôi và HPNT đã lớn lên dưới thời Vua Bảo Đại, qua thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, rồi đến thời Đệ Nhị Cộng Hoà, có ai nghe, chứ chưa nói đến chuyện thấy hành động độc ác, chỉ có trong trí tưởng tượng của những con người Cộng Sản, và dùng nó để tuyên truyền cho đám dân ngu dưới chế độ CS Bắc Việt, chứ ở miền Nam, nói chuyện này, ai tin!

Người xưa gọi thái độ này của HPNT là “ngậm máu phun người” (hàm huyết phún nhân) và dân Huế có câu “nói mà không sợ cây nó mọc trong họng,” nôm na đặc sệt Huế nhất lại có thành ngữ “một lời nói là một đọi (bát) máu!” Người trí thức phải đặt sự thật lên tất cả phe phái, không uốn lưỡi vì danh lợi, phải “yêu ai thì nói rằng yêu, ghét ai thì bảo rằng ghét.” như Phùng Quán, đừng vì sợ hãi, lập công trạng mà bỏ sự thật. Muốn có một xã hội tốt đẹp không cần phải đào tạo con người theo “mô hình xã hội chủ nghĩa” mà phải đào tạo những con người chân thật, biết yêu sự ngay thẳng, ghét điều gian trá. Những con người tự nhận là nghệ sĩ, trí thức XHCN như HPNT sẽ đưa đất nước này càng ngày càng đi vào con đường tồi tệ. Những ai là người dân

Huế một thời với HPNT, những ai đã sống và biết đến tấn thảm kịch Mậu thân, sẽ phải đau lòng và cũng buồn cười trước những lời phát biểu của HPNT.

Tường ơi! Huế oan khuất, đau đớn lắm. Mi phải trả giá những gì mi đã tạo ra, nghiệp khẩu và hành động đã đưa mi đến tình cảnh ngày hôm nay. Đã đến lúc ăn năn, hối lỗi đi là vừa, những đứa con xứ Huế đem ác quỷ về giết bà con, anh em họ hàng:“lội trong máu mà cứ tưởng lội trong bùn vì không nghe mùi tanh của máu!”

(1) Muốn rõ thêm chi tiết xin vào:

http://openvault.wgbh.org/catalog/org.wgbh.mla:e67ef62e29a364dbb7faeb55837714f9163fe9ec

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 25 May 2026

“Đò lên Thạch Hãn xin chèo nhẹ

Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.”

Lê Bá Dương

Sau trận đánh Cổ Thành Quảng trị, tội là một người lính miền Nam được đọc hai câu thơ trên của một chiến binh Bắc Việt, mà lòng không khỏi bùi ngùi. Nhưng liệu cái chết của hàng triệu những người lính vô danh như trên có làm cho những người tướng lãnh cầm quân của họ. một phút nào nghĩ lại không? -“Non! Pas du tout!” Đó là câu trả lời lạnh lùng của Võ Nguyên Giáp cho bảo chí quốc tế khi người ta hỏi viên tướng này là ông có hối tiếc gi về chuyện 4 triệu người Việt chết vì chủ nghĩa Cộng Sản hay không?

Bắc Việt ghi nhận một đơn vị điển hình, trong trận đánh ở Cổ Thành Quảng Trị, Trung doàn 27-B5 với hơn 1.500 quân cố thủ trong Cổ Thành đã bị thương vong gần như toàn bộ tại trận địa, chỉ còn chưa dến 1 tiểu đội thoát ra ngoài vảo đêm 15.9.1972. Ông Tổng Tư Lệnh “Quân Đội Nhân Dân” Võ Nguyên Giáp đã chủ trương thí mười người lính dưới tay dể giết dược một quân thù. Những ngày tù trên vùng đất Hoàng Liên Sơn Bắc Việt tôi dã có dịp chứng kiến nhiều gia đình, bàn thờ và gian nhà treo đỏ cả bằng liệt sĩ, có gia đình hy sinh đến năm mười người con, xa là trận Điện Biên, gần là “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước!” mà nhà không có nổi một con trâu, trong bếp chỉ có mấy chén sành bể hay cái ca nhôm uống nước đã hoen rỉ của Trung Quốc, kỷ niệm một thời viện trợ của đàn anh.

Không phải bây giờ mà đúng ra thì Võ Nguyên Giáp thật sự đã chết từ tháng 2-1980, hay nói một cách khác “vai trò của ông Giáp trên thực tế đã kết thúc từ lâu rồi,” khi ông thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng và chỉ còn là Phó Thủ tướng phụ trách Khoa học – Kỹ thuật. Sau đó ba năm, Võ Nguyên Giáp được phân công kiêm nhiệm thêm vai trò Chù tịch “Ủy ban Quốc gia Dân số và sinh đẻ có kế hoạch,” mà dân chúng đã đàm tiếu dặt thành vè: “ngày xưa Đại Tướng cẩm quân” hay “ngày xưa Đại tướng công đồn … “

Giai nhân tự cổ như danh tướng, bất hứa nhân gian kiến bạc đầu,” nhưng “danh tướng” Võ Nguyên Giáp lại có tội sống lâu, vì nghe nói ông thường ở xa trận dịa. Ông sống thêm 23 năm nữa, nhưng như cổ nhân đã nói: “đa thọ, đa nhục!” Từ lúc nghỉ hưu năm 1991, có nguồn tin từ các tay trong bộ chính trị nói rằng Võ Nguyên Giáp là “con nuôi của mật thám Táy,” cùng với Trần Văn Trà âm mưu đảo chánh, mục đích để loại uy tín ông. Tuy thất sũng, ông cố gắng đưa ra một số lời bình luận về tình hình đất nước như vụ PMU18, và không dưới 3 lần, ông đã viết thư yêu cầu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, anh chàng khiêng cáng cứu thương ở Kiên Giang khi ông đã là Đại Tướng Bộ Trưởng Quốc Phòng, dừng dự án khai thác bô xít ở Tây Nguyên, vì lý do an ninh quốc gia và vấn đề môi trường nhưg không ai thèm đếm xia đến ý kiến của ông. Trong những ngày bị Lê Đức Thọ và Lê Duẩn lấn lướt cho dến lúc qua đời, dù là công thần của chế dộ. anh hùng ngoài mặt trận, ông cũng đã cam chịu như cảnh nhà văn “chết nhát” là Nguyễn Tuân; “Tộôi còn sống được dến ngày hôm nay là nhờ biết sợ … “

Võ Nguyên Giáp dã được ca ngợi và xếp ngang hàng với các danh tướng nhự Wellington, Ulysses S. Girant.

Douglas MacArhur và cả Alexandre Đại Đế, hay là một “Napoleon Đỏ”. Ông nổi tiếng nhờ chiến thắng trận Điện Biên Phủ đưa đến việc Pháp rút khỏi Đông Dương và các phe lâm chiến ngồi vào bàn hội nghị Geneve.

Nhưng ông ở trong thế Việt Nam hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Cộng. Trận Điện Biên Phủ do bom đạn và dường lối chủ trương của Đàng và Chính phù Trung Cộng và máu xương của người Việt Nam. Kể từ sau năm 1950 do nối thông biên giới với Trung Quốc, lại được sự viện trợ quân sự to lớn của Trung Quốc và Liên Xộ, Điện Biên Phủ được quyết định bởi đảng Cộng Sản Trung Quốc. Lã Quý Ba, Bí thư Tỉnh ủy, Chính ủy trong Quân dội giải phóng nhân dân Trung Quốc, Trần Canh, Phó tư lệnh Quân khu Tây Nam kiêm Tư lệnh Quân khu Vân Nam, Vi Quốc Thanh, Chính ủy Binh doàn số 10 kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Quân quản thành phố Phúc Châu và các thành viên đoàn cổ vấn quân sự Trung Quốc lần lượt sang Việt Nam, Mai Gia Sinh làm Phó đoàn phụ trách Tham Mưu Trưởng, Đặng Dật Phàm là Phó đoàn phụ trách Chủ nhiệm Chính trị. Kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ bao giờ Trung Cộng cũng làm to, khoe công của cố vấn và vũ khí Tàu tham chiến.

Không có Điện Biên Phủ thì sau khi thế chiến II chấm dứt, các nước đô hộ cũng đã phải trả độc lập cho các nước bị trị vì đó là xu thể chính trị thời đại, mà không phải tốn hao xương máu của nhân dân. Từ năm 1954 trở đi, khi tiến hành “giải phóng miền Nam”, Đảng Cộng Sản Việt Nam không chiỉ bị chi phối bởi Liên Xô mà còn chịu nhiều tác động từ Đảng Cộng sản Trung Quốc và nhằm phục vụ mục tiêu đưa cả thể giới cùng tiến lên Chủ nghĩa Cộng sản, như tuyên bố của ông Lê Duẩn, Tổng Bi thư Đảng Cộng sản Việt Nam: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cả nhân loại”, và trưởng kỳ kháng chiến chỉ vì chủ trương đánh cho Trung Cộng:”Tại sao chúng tôi dám trường kỳ kháng chiến? Chủ yếu là vì chúng tôi phụ thuộc vào công việc của Mao Chù tịch … Chúng tôi có thể tiếp tục chiến đầu, đó là vì Mao Chủ tịch dã nói rằng 700 triệu người Trung Quốc đang ủng hộ nhân dân Việt Nam một cách vững chắc!”

Nhà xuất bản Sự Thật của Đáng CSVN, có đăng nguyên văn nội dung lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam trả lời ông Đặng Tiểu Bình hồi năm 1966, như sau: “Sự nhiệt tình của một nước XHCN, với một nước XHCN khác là xuất phát từ tinh thần quốc tế vộ sản. Chúng tôi không bao giờ nghĩ nhiệt tâm là có hại. Nếu các dồng chí nhiệt tâm giúp đỡ thì chúng tôi có thể đỡ hy sinh 2-3 triệu người … Miền Nam chúng tôi sẽ chống Mỹ đến cùng và chúng tôi vẫn giữ vững tinh thần quốc tế vô sản”. Theo tài liệu của Trung Cộng, từ tháng 6-1965 đến tháng 8-1973 họ đã đưa sang Việt Nam tồng cộng 320.000 “quân tình nguyện” bao gồm phòng không, thợ máy, thông tin … (*)

Vậy thì người “Lính Cụ Hồ” dù có dược tô điểm với danh xưng giải phóng, dân tộc, tự do thì chẳng qua cũng chỉ là người lính đánh thuê mà thôi và Võ Nguyên Giáp đã tận tình nướng quân “mục đich biện mình cho phương tiện,” để đạt mục tiêu của hai đảng đàn anh. Con người như vậy đâu phải là một người yêu nước thương dân! Võ Nguyên Giáp thắng được quân đội Mỹ trong cuộc chiến tranh năm 1975 là do việc sẳn sàng bất chấp tổn thất thương vọng nặng nề. Về phía cộng sản, các trận đánh gần như không có thương binh, vì ở xa chiến trường và họ không có phương tiện hay không có chủ trương chuyển thương binh sau trận đánh, một số chờ chết và số lớn được “kẻ thủ” săn sốc và bị bắt trở thành tù binh. Người từng chí huy quản dội Mỹ ở Việt Nam, Tướng Westmorcland, đã nói về con số thương vong quá lớn trong các trận đánh dưới quyền Võ Nguyên Giáp: “Thái độ coi nhẹ mạng sống con người như vậy có thể khiến một người trở nên một đối thủ đáng sợ nhưng không thể làm ông ta ưở thành thiên tài quân sự được.” Theo nhà bình luận Cceil B. Currey, trong một cuốn sách viết về Tướng Giáp: “Võ Nguyễn Giáp tách rời cảm xúc với những người cấp dưới cho nên chỉ xem mạng sống của họ như những con cờ để mà xử dụng không hối tiếc!”

Nhắc dến Việt Nam, thế giới nhớ đến tên Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, đó cũng là sự hãnh diện của tập doàn CSVN. nhưng liệu hai cái tên này, sau bảy thập niên “Ngẫm từ dấy việc binh đao/- Đống xương vộ định đã cao bằng đầu,” đã đem lại những gì no ấm, độc lập, tự do, hạnh phúc cho con người Việt Nam hôm nay chưa. Đất nước dã hy sinh 4 triệu thanh niên ưu tú để ngày nay tồn tại một băng đảng trị vì. một xã hội phân hóa, băng hoại, phá sản và một tương lai đất nước mù mịt. Hoàng Phủ Ngọc Tường lúc về già đã viết những câu thơ:

“Những chiều Bến Ngự giăng mưa

Chừng như ai đó mơ hồ goi tôi

Tôi ra mờ cửa đón người

Chỉ nghe tiếng gió thổi ngoài hành lang.”

“Ai đó” phải chăng là những linh hồn oan khuất Mậu Thân. Còn “danh tướng” họ Võ, vào những ngày cuối đời, ông có nghe thấy gì không? Xin ông yên nghi, nhưng liệu những quốc gia láng giềng của chúng ta dã bỏ xa Việt Nam hằng nghìn dặm, đất nước họ có cần tới một cải tên như Võ Nguyên Giáp không?

(*) Theo phía Trung Quốc, tổng số viện trợ quản sự không hoàn lại của Trung Quốc cho Việt Nam gồm: 2,160 triệu khẩu súng cá nhân; 37.500 khẩu pháo; 12,9 tỷ viên đạn; 180 máy bay, 145 tàu; 1.500 xc tăng, thiết giáp; 16.330 xe tài: 16 vạn tấn lương thực quân đội; 22 vạn tấn nhiên liệu (Mân Lực, 10 năm Chiến tranh Trụng – Việt, Nhà Xuất bản Đại học Tử Xuyêu, 2-1994, Bản dịch của Tổng cục II, trang 129).

– Tại Singapore, Đặng Tiểu Bình nói với Lý Quang Diệu, trị giá hàng hóa mà Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam đánh Mỹ lên tới hơn 10 tỷ đô-la, cao hơn chi phí cho chiến tranh Triều Tiên (Ezra.F. Vogel, Deng Xiaoping and the Transformation of China, trang 271-272).