vietmessenger.com
Huy Phương
Post by Sơn râu 24 May 2026



… Người ta đã bán Huế của tôi với những đồng tiền rẻ mạt. Buổi sáng nay, giữa chút không khí giá lạnh còn sót lại của mùa Xuân, tôi không khỏi nhớ lại chốn quê nhà. Đó là Huế của tôi, quê hương nghèo đói khó khăn, nằm trên cái đòn gánh èo uột, yếu đuối giữa hai miền Nam Bắc, nơi đã gánh chịu thời tiết khắc nghiệt, bão lụt triền miên và tai ương của số kiếp. Tôi đã bỏ nơi ấy ra đi, không phải mãi đến năm 1975 khi mà những gì biểu tượng cho sắt máu, tang tóc và hãi hùng phủ lên quê hương của tôi, mà từ khi khôn lớn, tôi hiểu được thế nào là sự nghèo đói, đơn điệu và buồn bã của xứ sở mưa buồn mà tôi phải đành lìa bỏ, không một mảy may ngậm ngùi thương tiếc. Có ai cắt nghĩa được vì sao, bây giờ xa cách nghìn dặm, mỗi lần nghe làn điệu ca cổ của những mảnh đất đã được đổi bằng sự hy sinh của một nàng công chúa đời Trần mang tên Huyền Trân, hay những bài tân nhạc chất chứa chút hơi hám dân ca trĩu nặng lời tả oán mất nước của dân Chiêm, lòng tôi lại buồn phiền thương nhớ đến ứa lệ. Có phải chăng, vì nơi đó tôi đã để lại những nỗi vui buồn của một thời trẻ dại, để lại quê hương nghèo đói, để lại nắm mộ của ông bà, tổ tiên hay những thành quách cung điện đã rêu phong của tiền nhân để ra đi biền biệt. Câu nói “Huế bây giờ không phải là Huế của ngày xưa”, câu nói sáo mòn đó không những là cảm nghĩ của riêng tôi mà cũng là ý nghĩ của những người đã nặng lòng vì Huế. Sự tàn phá của thời gian và tai họa của đất trời, nếu có, cũng không thay đổi được một mảnh đất bằng sự thay đổi của một chế độ cầm quyền, nó muốn biến một thành phố thành một món quà biểu diễn lập trường, tô vẽ nơi đó thành một món hàng có thể kiếm chút lợi nhuận, hay muốn chứng tỏ chút quyền uy cục bộ bằng một mảng vôi mới quét hay một nét vẽ vụng về trên những di tích của cha ông.
Sau tám năm trời lưu đày trên chính quê hương của mình, tôi trở lại Huế với tấm lòng xót xa của một người không giữ được Huế. Tôi thấy Huế nghèo hơn, xót xa hơn, lạnh lùng và nghi kỵ hơn. Tôi đi trên những con đường cũ, qua những con phố cũ, ngang những ngôi nhà cũ nhưng thấy mình lạc lõng và cô đơn. Tôi ít gặp người quen, hay những người quen với những đôi mắt xa lạ. Con đường ngang qua cửa Ngọ Môn mà ngày xưa, trên đường đến trường học, ngày hai buổi tôi vẫn thong dong qua lại, ngày nay phơi bày những nét tàn phai, đổ nát. Cổng thành cũ đã trở nên những phòng chiếu những cuốn phim đen trắng đã theo ngọn gió chủ nghĩa đến từ những xứ Bắc Âu hay Liên Xô xa xôi. Những khẩu hiệu thấy nghe đến nhàm chán, sặc màu đỏ giăng mắc đó đây cùng những chiếc loa khuếch âm vang lên những âm thanh chua lè, dọa nạt. Đàn Nam Giao, nơi ngày xưa các vị Vua triều Nguyễn dùng làm nơi tế Trời Đất thì thấy sừng sững một đài “Tổ Quốc Ghi Công” những xác chết đã rải rác từ Bắc chí Nam trong vòng ba mươi năm để “hồ hởi” cống hiến cho đất nước cái ngày buồn thảm hôm nay. Ngày nay vào thời mở cửa, thì cũng nơi ấy, cờ xí rợp trời, chiêng trống vang lừng, người ta đang dựng lại hoạt cảnh tế Nam Giao để làm thỏa lòng du khách. Ngày xưa thuyền Rồng chỉ dành cho các bậc Vua Chúa, đâu có tới phần dân gian, bởi vậy mới có câu:
“Một đêm nằm tựa thuyền rồng
Cũng bằng muôn kiếp nằm trong thuyền chài.”
Bây giờ trên sông Hương, đâu cũng thấy thuyền Rồng, mà sang trọng gì cho cam, đó chỉ là hai miếng gỗ được sơn vẽ đầu rồng sơ sài, kẹp hai bên đầu thuyền. Phải đi xa hơn mới tìm lại được một chiếc thuyền chài để lòng vương một chút u hoài:
“thuyền ai thấp thoáng bên sông,
đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non”.
Những Huế Festival được dựng lên với ánh đèn màu, nhung lụa và nhan sắc xem chừng quá xa lạ với cảnh nghèo nàn nghìn năm của những người dân cố đô. Trên sân khấu đã đổi thay nhiều lần, mới lạ, đẹp đẽ sang trọng hơn, nhưng dưới sân khấu, trên bãi cỏ kia, người xem vẫn là những bà con đói nghèo, hốc hác và lam lũ của tôi ngày nào. Và những linh hồn oan khuất của Huế chưa được một nén hương an ủi hay một ngày giỗ chung. Có một điều gì đó mỉa mai, cay đắng giữa những thú vui chơi, trình diễn với những đau đớn, cam chịu của một kiếp người. Huế có tô son điểm phấn, cài hoa thì cũng loại sân khấu diễn tuồng về làng nghèo quận nhỏ hay một loại đám cưới chạy tang. Ngày hội qua mau, xiêm y, nhạc nhã như một giấc mộng thần tiên lướt đi, hình như nó không liên quan, gắn bó gì với người và cảnh đời héo hon. Những anh “bộ đội” mặt búng ra sữa sau những ngày chiếm Huế năm 1975 có thể vui đùa hí hửng ngồi trên ngai vàng trong điện Thái Hòa, nhưng những người đã một lần bỏ nước ra đi, những tay khoa bảng hay những kẻ có chút học thức, xu hào rủng rỉnh, không thể đòi đóng vai Hoàng Đế, Hoàng Hậu với những xiêm y, trang sức, phong cảnh của phường chèo, trông nhếch nhác vô văn hóa tới mức độ làm cho người ta phải đau lòng, nhăn mặt. Người ta đã bán Huế của tôi với những đồng tiền rẻ mạt. Người ta đã xây lại Huế của tôi bằng những màu sắc của chất phẩm đỏ xanh trong những phiên chợ Tết ngày nào với những con vật nắn bằng bột gạo sơn phẩm màu bày trên cái mẹt rách của những bà mẹ quê nghèo đói. Người ta đã có dự án xây một khách sạn trên đồi Vọng Cảnh (Belvédère), nơi mà từ đó có thể nhìn toàn cảnh sông nước của kinh đô Huế mà không xót xa gì đến vẽ mỹ quan cũng như những di tích lịch sử mà từ nghìn đời nay, những người có văn hóa, có liêm sỉ không ai dám làm. Bây giờ ông Bộ Trưởng Văn Hóa CSVN lại hoan nghênh, cổ vũ cho ý kiến mua xây một cái khách sạn trong Hoàng Cung nữa thì không còn gì để nói. Phải chăng di tích lịch sử, văn hóa dân tộc đều là những thứ mà quốc gia nào cũng lấy đó để tự hào, hãnh diện thì đối với những người Cộng Sản người ta có thể đem bán công khai, miễn kiếm được đồng đô la béo bở. Chế độ này đã bán tất cả từ sông núi của cha ông, từ trinh tiết của gái vị thành niên, cơ bắp của người dân lao động, danh dự, nhân cách của con người, sá gì là Huế của tôi. Những ấn tượng về lửa cháy ngày thất thủ kinh đô năm xưa, về những ngày Mậu Thân tanh mùi máu, về oan khuất của những ngày lui binh trên cửa biển Thuận An làm cho những con dân Huế càng xót xa, thương cảm cho mảnh đất này hơn bao giờ hết. Tôi thương Huế từ trong máu tim của mình. Tuổi trẻ tôi đã nghe được mùi của nước sông, đã nghe mùi rơm rạ nấu bữa cơm chiều, mùi củi cháy trong gian bếp nhỏ, mùi khói ai đốt cỏ trên cánh đồng. Tôi còn nghe được mùi mưa những chiều đông rét mướt trên đường đi học về. Trong ấu thơ của chiến tranh nghèo đói, tôi còn nghe được mùi nắng khét của da con trâu mà tôi đang ngồi trên đó. Rồi mùi của mớ bắp rang đang nổ rộn ràng trên bếp lửa, mùi cơm gạo mới, mùi nồi cá kho mới bày ra trên mâm buổi cơm chiều. Đó là tất cả những gì thuộc về quê hương, một quê hương xa tắp, chẳng được gần mà cũng mờ nhạt cùng năm tháng. Huế để lại trong lòng tôi những ngày hè áo trắng và màu phượng đỏ, Huế cho tôi những chiều trên chuyến đò ngang, những đêm trăng ướt sương trên sáu nhịp cầu Trường Tiền, Huế cho tôi những câu hát điệu hò gần như những tiếng ai oán của một thời vong quốc, ngày xưa là Đồ Bàn di hận, ngày nay là cuộc đời lưu lạc tha phương.
Có lẽ không bao giờ tôi trở lại Huế nữa. Huế bây giờ không còn là Huế của ngày xưa. Đền đài rêu phong, thành quách đổ nát. Huế không còn người cũ, chỉ là cảnh xưa xót xa hoang tàn và vô hồn. Huế ơi!

Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.