Ếch ngồi đáy giếng

Hồi ký của Chim Việt

Chỉ có 4 chữ “Ếch ngồi đáy giếng” mà khi tôi còn đi học chữ Nho, thầy tôi đã bỏ ra 3 kỳ giảng luận với các môn đệ của ông. Ông là người xứ Huế, sống lâu năm tại làng tôi (Thới Thuận) về nghề Đông Y không biết từ hồi nào, lớn lên tôi đã biết ông có vợ có con ở đây. Một nếp sống thanh đạm của một ông có Tú Tài Hán học thật trầm lặng mà lòng nhân từ của ông thân hào nhân sĩ đều kính nể. Chỉ có người đồng nghiệp đồng hương với ông là thường hay kiếm những sơ hở của một ông thầy thuốc Đông y mà dèm xiểm về cá nhân của ông.

Ông là một nhà nho học lối sống mực thước không như lối sống bừa bãi của họ như uống rượu say sưa ca hát ngoài đường và cờ bạc. Ông củng có cờ bạc nhưng mỗi năm chỉ đánh với những người từ ngoài Trung vào đây bán dây dừa đệm buồm. Mấy ông ghe bầu, thú tiêu khiển giải trí ăn tiền đó là môn Đổ Tam Hường.

Hình như người miền Trung nào củng mê môn Đổ Tam Hường? bộ Tam Hường của ông thầy Huế bằng ngà, một bộ 6 ông Trạng, mỗi trạng là 32 Hường, một mặt Tử là một Hường. 6 người ngồi chung quanh để cái tô Ông Rồng ở chính giữa. Đổ bằng 6 hột lúc lắc, mỗi người nắm trọn 6 hột đổ xuống tô nếu rớt hột ra ngoài củng không được đổ lại chờ cho tới quận khác.

Người dự chơi môn này phải biết chữ Nho và củng phải lanh mắt, hột đổ xuống tô phải lấy con mắt binh cho lẹ vì như đổ xí ngầu lắc chỉ có 3 hột, nhưng đổ Tam Hường tới 6 hột mà lại hiện ra nhiều thứ. Thú nhứt ăn trọn sòng, đổ 6 hột cùng một mặt, kêu là Lục Phú, thứ nhì đổ 5 hột giống nhau là Trạng nhưng còn một mặt làm chứng như mặt lẻ, đó là mặt Nhì thì người sau cùng đổ Trạng mặt Tam lấy lại. Nhưng mặt này ăn phân nửa Trạng là 16 Hường.

Phần Sòng 3 mặt giống nhau, xí ngầu lắc hai nhì, hai xa, hai tứ, hai ngầu, hai lắc. Sung 1,2,3,4,5,6 con Mèo, hai nhất, hai nhì, hai xa.

Tứ Hường là Trạng Non, còn trạng cáp nửa, cho nên khi đổ thì tất cả đều hồi hộp ngó vô tô kiểu, chờ cho hột ngưng thì phải biết binh cho lẹ. Người Bắc mê Tổ Tôm, người Nam mê bài Tứ Sắc, người Trung mê Tam Hường. Sống chung đụng trong một xã hội quá nhỏ hẹp như miền duyên hải này. Nhưng môn giải trí bình dân nó cách biệt ông thầy Huế với dân địa phương chỉ có mỗi một môn đổ Tam Hường, ông kể cho các môn sinh nghe câu chuyện về giai thoại trong văn chương mà trong thời đại nào củng có.

Một huyện kia mới đổi lại ông huyện có tiếng là người hay chữ, lại trấn nhậm xứ này củng là nơi sản xuất ra nhiều nhân tài. Sau khi nhậm chức một thời gian, ông tân quan huyện mới để trước nha môn hai câu liểng như sau:

“Minh nguyệt sơn đầu tiếu

  Hoàng khuyển ngoạ hoa âm”

Khi hai câu liểng đó được đưa ra đón chào dân địa phương hàng ngày qua lại nhất là đám nho sinh đi học khi đi qua trước cổng nha môn, thấy câu liểng của quan huyện có tiếng là hay chữ vậy mà viết hai câu liểng trước nha môn đó trật lất….

Trong đám nho sinh đó có tên Lục Tặc cái tên nói lên được tính tình của anh. Anh ta nhất định phải sữa lại câu liễng củng như anh tính sửa lưng ông huyện thật dốt nát này. Một bữa nọ anh lấy viết và mực ghé vô trước nha môn sửa mỗi câu một chữ:

*Câu “Minh nguyệt sơn đầu tiếu” anh sửa lại chữ “Chiếu”

*Câu “Hoàng khuyển ngoạ hoa âm” anh sửa lại “thực hoa âm”

Vì cái nghĩa câu “Minh nguyệt sơn đầu tiếu” là trăng sáng trên không rọi xuống là Chiếu, dùng chữ tiếu thì trật vì tiếu là cười. Còn câu “Hoàng khuyển ngọa hoa âm” là con chó không thể nằm trong nhuỵ hoa nên sửa lại chữ “thực hoa âm” (con chó nó ăn hoa). Anh cảm nghĩ một ông huyện nổi tiếng là hay chữ dán hai câu liểng trước cửa nha môn để chào khách địa phương mà bị một anh học trò sửa lại thì có lẽ thẹn lắm…

Anh lính lệ vào báo cho quan huyện hay có một học trò đi qua lại hàng ngày, hiện anh ta đã lấy viết mực sửa lại hai câu liễng ngoài nha môn.

Quan huyện thấy học trò mà dám sửa hai câu liễng đó thật là vô phép và ông củng viết lại hai câu liễng y như trước. Đám học trò đi qua lại thấy sao quan huyện này chỉ có một câu liễng bị sửa rồi mà không có câu nào khác hay hơn để thay thế. Rồi anh Lục Tặc lại lấy viêt mực sửa lại hai chữ như lần trước. Nhưng lần này thì anh bị lính lệ bắt cho quan huyện trị tội.

-Anh kia, anh ăn học đã tới đâu mà sao dám tự ý xóa chữ trên câu liễng trước cửa nha môn như thế?

-Ở đây ai củng đồn ngài là một người hay chữ vậy mà ngài để hai câu liễng như thế trước cổng. Ai họ củng cho là sai, đừng nói chi tới tôi củng là người có ăn học.

_Anh còn phải đi học, phải thi đậu mới được ra làm quan như tôi đây. Anh đi học mà không biết chữ Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, tội anh không thể tha thứ được vì anh không biết tới Tiên học Lễ, hậu học Văn.

Thưa quan huyện thánh nhân có chữ Nhất tự lục nghĩa, một chữ có tới sáu nghĩa làm sao chứng minh là chữ đó nó trúng theo nguyên văn, tinh thần câu liễng?

Anh học trò Lục Tặc bị đưa đi quản thúc ở một hải đảo xa nhà. Tại hải đảo đó anh không bị lao động như những phạm nhân khác, chỉ ăn rồi học, học rồi lại ăn. Nhưng anh củng nhớ nhà nơi mà từ nhỏ tới lớn chưa từng ra khỏi luỹ tre xanh. Sống nhàn nhã như vậy để giải trí anh thường đi ra ngoài đi xóm trên rời đi xóm dưới, tìm hiểu đời sống dân địa phương ở hải đảo này. Một đêm anh đi dọc ngoài đồng gần những ngọn đồi một âm thanh lạ tai hình như có nhiều tiếng cười từ xa vọng lại. Anh đi tới gần chổ phát ra tiếng cười ấy, không phải dưới đất mà là từ trên trời, anh sợ hãi vội chạy trở về nhà trọ.

Anh nói với người nhà anh vừa đi tới một nơi ngoài xa kia có nhiều ma quỉ hiện về trêu chọc khách đi đêm. Người nhà cho anh biết không phải là ma quỉ gì hết, đó là giống chim chuyên bay đi đêm, mà tiếng nó gọi đàn nghe như là tiếng cười của con người. Giống chim đó dân địa phương ở đây đặt tên là chim Minh Nguyệt. Anh thư sinh Lục Tặc khi nghe người dân địa phương cho biết cái giống chim lạ đời này tiếng kêu gọi đàn như tiếng cười của con người. Anh thư sinh nhớ lại cái câu liễng trước “Minh Nguyệt không trung tiếu”

Anh vội vã viết một lá đơn gửi về cho quan huyện thú tội ngu dốt của mình, khi ra tới đây mới biết trên thế gian này có con chim Minh Nguyệt. Nhưng anh củng chưa được lịnh ân xá cho về nhà, anh còn phải đi ở một nơi khác một nơi đồng bằng dân cư sống về nghề trồng rẫy. Tại đây củng như ngoài hải đảo vẫn ăn rồi học.

Vùng đất rẫy bao la này đa số nông dân họ trồng cây bí rợ. Các loại cây hoa màu không thứ nào được nhiều bông lai loại bông lớn. Bí rợ ăn được, bông bí ăn được, ngọn bí ăn được.

 “Mẹ mong gả thiếp về vườn.

Ăn bông bí luộc dưa hường nấu canh”

Trong ruột bông bí rợ nó có cái nhuỵ cao lên, lại tiết ra một chất nước ngọt như là mật ong khi ăn phải bẻ làm hai ngắt bỏ cái nhuỵ vì khi nấu nó có chất đắng đồng thời củng kiểm soát trong ruột bông bí đó thường có con sâu chuyên sống nhờ chất nước ngọt của bông bí rợ. Con sâu này điểm đặc biệt của nó là có 2 con mắt, 4 chân và có cái đuôi dài ra mà dân địa phương đặt tên nó là con sâu Chó Vàng. Khi anh thư sinh nghe dân địa phương nói con sâu Chó Vàng nằm trong ruột bông bí rợ. Nhớ đến câu liễng của ông quan huyện nọ: “Hoàng khuyển ngọa hoa âm” Từ nhỏ tới lớn anh chỉ lẩn quẩn trong làng rồi ngâm nga trong sách thánh hiền chưa từng đi xa vì ngoài tầm mắt anh không biết bao nhiêu là chuyện lạ: Ếch ngồi đáy giếng, thấy bao nhiêu trời?

Nếu trước kia mà quan huyện cho anh biết là vùng nào đó có con chim Minh Nguyệt và củng vùng nào đó củng có con sâu Chó Vàng thì nhất định là anh thư sinh Lục Tặc cho là quan huyện nói khoác. Vì anh đã làu thông Ngũ Thư, Tứ Kinh và Tam Tự Kinh. Cho nên anh mới dám nói nhất tự lục nghĩa, mỗi chữ có 6 nghĩa vậy mà anh không thấy câu chữ nào tối nghĩa như vậy. Nếu anh dám nói với quan huyện là Nhất tự lục nghĩa… thì quan huyện củng xài lại Mạ nhơn Giáo nhơn? cho nên  bài học mà quan huyện sở tại tặng cho anh thư sinh Lục Tặc một thời gian dài quản thúc cho hai nơi. Cho anh đụng với thực tế anh phải ghi nhớ mãi không bao giờ quên…

Đặc biệt năm rồi có Mục sư Phan thanh Bình từ Hoa Kỳ qua. Phái đoàn Hội thánh Kew (Melbourne) 15 người có 3 Mục sư. Tôi đi trong phái đoàn đó, ban thanh niên đi từ mấy ngày trước. Phái đoàn đi xe bus xuyên tiểu bang lối 7 giờ sáng tại city. Lối 10 giờ đêm thì tới Sydney tất cả hành khách đều xuốngxe bus vì xe này sẽ chở hành khách trở về Melbourne. Rồi xe bus khác lại bến chở hành khách tiếp tục đi Brisbane. Phái đoàn đi dự đại hội không có lên xe bus đó. Vô phòng giấy khiếu nại thì họ nói chiều mai mới có chuyến khác để chở phái đoàn đi Brisbane và nhân viên đóng cửa về nhà ăn lễ Giáng Sinh vì đã gần 12 giờ. Rồi tới Giáng Sinh thanh niên nam nữ Úc Đại Lợi đi cùng đường vui vẽ ca hát. Trong khi đó 15 người ngồi đứng không yên, không biết nhân viên Hội thánh lấy vé cách nào mà tới đây (Sydney) đứng coi thiên hạ đón mừng lễ Giáng Sinh mà mình thì bơ vơ lóng nhóng. May sao trong đoàn có anh Lưu Tinh có người bạn ở khu Cabramatta rồi khó khăn lắm mới đi tới 5/128 John Street vì Taxi họ củng nghỉ chạy.

Một căn phòng nhỏ mà củng đủ chứa 15 người khách tình cờ này. Rồi củng bày thức ăn đem theo ăn (Reveilion) đúng 3 giờ sáng. Một cái Giáng Sinh nhớ mãi không quên này. Theo đúng chương trình này thì ngày 25 là tới địa điểm núi Tamborine nhưng ngày đó cả đoàn bị kẹt lại khu Cabramatta Sydney.Cho nên các đại biểu đều chờ tới 12 giờ trưa mới khai mạc Hội Bối Linh mà chương trình nghi thức khai mạc Hội Đồng đúng 10 giờ. Vì khi tới Brisbane chổ địa điểm hẹn xe bus Hội thánh chờ phái đoàn Melbourne gần cả tiếng đồng hồ mới tới WEC Conference Centre.

Theo ông tài xế vui tính cho biết vùng núi non này là trước kia để huấn luyện binh sĩ Úc Đại Lợi qua tham chiến tại Việt Nam. Thật là phong cảnh núi non hùng vĩ tôi nghĩ nếu vùng này mà được dàn cảnh để quay phim chưởng thì không nơi nào bằng. Ngày 28/12/1987 lễ bế mạc đại hội Bổi Linh kỳ 3 lúc 12 giờ trưa. Ban tổ chức đại hội có tổ chức đi du ngoạn, ngắm cảnh, tắm biển. Mà địa điểm là bải Cát Vàng (Gold Coast) từ 1 giờ đến 5 giờ chiều Trong khi chờ đợi xe bus lên chở phái đoàn đi du ngoạn, bửa nay tôi mới đi khỏi nhà hội, nơi chót núi Tamborine tại đây có một trạm Rada mà củng là đường cùng từ dưới lên tới đây. Tôi tạm cho nó là chót núi Ma Thiên Lãnh.

Trong lúc thả hồn mộng trong cảnh đẹp tuyệt vời này tôi nghe có tiếng cười từ phiá trên không. Ban đầu tôi cho là các người đi dự đại hội này trèo lên cây cười. Nhưng tôi nhìn lên thì không thấy ai hết, mà chỉ thấy một bầy chim, nghe kỹ lại thì bầy chim này nó cười. Tôi liền chạy vô nhà hội kêu mấy người bạn ra đây nghe chim lạ nó cười và ông Mục sư Nguyễn Cao Lễ nói đó là con chim người Úc kêu là chim Kookaburra. Cuộc đi du ngoạn thăm thắng cảnh, đi tắm biển Bãi Cát Vàng một bờ biển đẹp nhất trong các bờ biển ở Úc châu. Vì vậy mà luôn trên biển vô số thanh niên trai thanh gái lịch có chổ để phô mông ngực, tôi củng chen lấn thay đồ để xuống Bãi vàng này nhúng nước với người ta đâu có dịp nào đi xa hơn 2 ngàn cây số để mà tắm biển và du lịch vùng nắng ấm này. Suốt buổi đi du ngoạn này trong s9ầu óc tôi không quên con chim Minh Nguyệt (tên Việt nam) Kookaburra (tên Úc). Một tiềm thức xa xưa sống lại mạnh mẽ trong tôi. Vì thưở còn đi học chữ Nho nghe ông thầy kể chuyện Minh Nguyệt không trung tiếu. Trí óc non nớt… tôi cho là một giai thoại văn chương mà thôi. Vậy mà cho tới tuổi quá Đáo Tuế mới biết câu chuyện này có thật. Khi vượt biên qua tới đảo Pulau Bidong, tôi được phái đoàn Úc Đại Lợi nhận theo diện đoàn tụ gia đình. Rời đảo bằng tàu cao Uỷ chở đoàn người tỵ nạn lồi hơn 1 giờ là tới tỉnh duyên hải Trengganu cách lối 100 cây số có trạm y tế Barang. Nghỉ đêm tại đó, sáng tinh sương điểm danh lên xe bus mỗi người được phát một phần ăn dọc đường về Sungai Bisi ngoài thủ đô Kuala Lumpur.

Xa lộ dọc theo bờ biển tay mặt là nhà nông dân Mã Lai cất dưới mấy đám dừa toàn là nhà sàn một sự lạ mắt người tỵ nạn, mình ở nhà trệt họ lại ở nhà sàn giàu nghèo gì củng như vậy. Phía tay trái là mé biển, nhiều loại cây trầm thuỷ củng như các bờ biển bên mình cây Giá, cây Đà, cây Vẹt, cây Đước, cây Mắm. Sống dọc theo mé biển các loại cây này củng bị sóng biển đánh tơi bời vậy mà củng tốt tươi từng đám chạy dài theo xa lộ.

Nam kỳ ở quận Cái Mơn có nhiều loại cây ăn trái như Chôm Chôm, Măng Cụt, Vú Sữa và Sầu Riêng. Đó là những loại cây mà trước kia của cụ Trương Vĩnh Ký khi cụ đi du học trường đạo La Mã ở Penang (Malaysia) Cụ đem những giống cây ăn trái ngon lành đó về xứ mình trồng. Đầu tiên là quận Cái Mơn tỉnh Bến Tre rồi được trồng khắp Nam Việt. Còn các laọi cây trầm thuỷ đứng dài theo bờ biển Mã Lai cùng loại với những cây đứng dài theo bờ biển bên mình. Đành rằng những hột gống cây trầm thuỷ này nó có thể trôi theo sông biển đánh đi một nơi vô tận. Tháng này không tới bờ thì tháng khác nó có thể trôi lình bình trên mặt biển lâu ngày cho tới khi nào được nằm trên mặt đất.

Theo luật hoá sanh nó sẽ đâm chồi mọc lên thành cây sinh con đẻ cháu kể như nhập tịch? Như vậy hột giống này những loại cây trầm thuỷ này nước nào có trước? nước Mã Lai hay là nước Việt Nam? Còn loại chim trời Minh Nguyệt và Kookaburra. Không thể như câu chuyện thần thoại mà nó bay ngang qua một đại dương? Câu chuyện thầy tôi kể cho các môn sinh nghe “Ếch ngồi đáy giếng” cách đây gần 50 năm mà câu chuyện về giai thoại văn chương này củng có trước lối 10 năm kể như củng tới 60 năm.

Sau năm 1975 mới có đoàn người tỵ nạn Việt Nam tới nước Úc châu. Như vậy chắc chắn là đoàn người tỵ nạn này củng không ai đem được con chim Minh Nguyệt theo.

Bút lông bút sắt

Hồi ký của Chim Việt

Xuyên qua mấy chục tờ Ti Vi Tuần san có câu chuyện “Đen như mõm chó”. Vai chính trong câu chuyện đó là ông thầy đồ. Ngoài Bắc gọi là thầy Đồ, trong Nam gọi là thầy giáo. Thầy Đồ hay thầy giáo thì khi gõ đầu trẻ tuổi củng cỡ 20 xấp lên. Với cỡ tuổi đó có người củng có vài đứa con, nếu như cha mẹ thương con lo vợ sớm đúng theo câu “Nữ thập tam, Nam thập lục” Vậy mà ông thầy đồ gì đó sao ông ta lại dốt gái quá?!!

Trường làng tôi, trường tiểu học Thới Thuận có 3 lớp: lớp Sơ Đẳng (Élémentaire) lớp Dự Bị (Réparatoire) lớp Đồng Ấu (Enfatin). Chỉ có lớp Sơ Đẳng mỗi thứ Năm học thêm chữ Nho.Trên trường tỉnh, trường quận thì có thầy dạy chữ Nho, còn dưới trường làng thì không có thầy dạy chữ Nho, cho nên môn này nhà nước không bắt buộc học sinh phải học. Nhưng tại làng Thới Thuận có một ông thầy Đông Y tình nguyện dạy. Trong đám nho sinh thân nhân tới cho làm lễ nhập môn toàn là con cháu hương chức hội tề tân cựu.

Những viên chức hội tề này họ cho là đi học chữ Quốc ngữ không quan trọng bằng đi học chữ Nho. Trong làng mỗi năm có 4 lệ cúng: cúng Cầu An, cúng Ông Nam Hải, cúng bà Chúa Xứ và cúng Tổ Hát Bội củng là ngày cúng thầy (thầy dạy môn nhạc lễ). Mỗi lễ cúng đều phải viết nhiều câu liễng đối trên giấy hồng đơn đỏ với mực Tàu đen. “Cúng mấy heo không bằng treo câu liễng” Thật vậy cúng tại nơi nào dù lớn hay nhỏ, khi nhang tàn khói tỏa mà dân chúng đi ngang qua có thấy đôi liễng dán trước mặt tiền ai củng biết là nơi dó đã xong lệ cúng hàng năm. Còn họ không thấy có đôi liễng để chứng kiến thì dầu cho có cúng mấy con heo, củng như chưa cúng. Ông thầy dạy chữ Nho cho đám con hương chức hội tề là người xứ Huế. Không biết ông vô đây khi nào nhưng khi lớn lên tụi tôi biết ông có vợ và có con tại làng này. Ông thi đậu bằng Tú Tài Hán học, nhưng tới thời kỳ chữ Nho không được dùng cho hành chánh nửa, ông trú tại làng này sanh sống bằng nghề Đông Y. Làng tôi bị ảnh hưởng nặng về Nho học, vì vậy nơi miền duyên hải xa xôi lại có thêm đám thiêu niên nam nữ nơi quê vợ ông mỗi tối thứ Năm tề tựu lại phía sau nhà ông thọ giáo. Ông tình nguyện dạy miễn phí mà tận tình. Khi làm lễ nhập môn lớp Sơ Đẳng, trong đó có 4 trò gái. Học sinh khi lên lớp Sơ Đẳng mới được để tóc dài hớt Maninh, còn lớp dưới thì thầy giáo dạy chữ Quốc ngữ cho hớt trọc (Carée), trò gái thì hớt Bom-be. mặc quần đen áo bà ba trắng. Khi đám nho sinh ngâm nga cuốn Ấu Học Tầm Nguyên và Tam Tự Kinh, mấy đưa không đi học chữ Nho này thấy dạng tụi tôi thì tụi nó la “Nhân chi sơ tinh bổn thiện, cái miệng đòi ăn..ăn..Thiên trời địa đất, thất mất tồn còn,tử con tôn cháu, lục sáu tam ba, kê gà cẩu chó…con chó ăn cứt” Đó là mấy đứa con mấy gia đình không có trách nhiệm với ban du nghệ cho nên tụi nó không cần đi học sách vỡ của thánh hiền.Mỗi tháng ông thầy đều có cho vài câu trắc nghiệm cho cả lớp. Ông thầy ngồi trên bộ ván ngựa giữa lớp, phía dưới Nho sinh ngồi hai hàng dài trên ghế thấp bàn cao. Bữa đó ông thầy lên bảng viết hai câu như sau:

Tảo bất thực quả

Dạ bất đả thê

Nét chữ thật rõ ràng bằng phấn trắng trên tấm bảng đen. Các nho sinh đều to nhỏ với nhau: gái thì thầm theo gái, trai thì to nhỏ từng cặp một. Một không khí thật là bí mật, trò nào củng muốn đứng lên, nhưng suy nghĩ sao đó rồi lại ngồi xuống. Tôi mạnh dạnh đứng lên giảng nghĩa hai câu trên bảng đó:

_Dạ thưa thầy con xin giải nghĩa.

_Các trò im lặng, có trò giải nghĩa đây.

_Dạ thưa thầy câu đầu: Tảo bất thực quả, là sách dạy mình buổi sáng không nên ăn trái cây như me, bần, ổi vì buổi sáng bụng còn đói mình ăn vô sanh bịnh.

_Đúng là câu đầu như vậy, trò giải nghĩa luôn câu sau.

_Dạ thưa thầy còn câu: Dạ bất đả thê là sách dạy buổi tối mình không nên đánh vợ, vì đánh nó thì đêm đó nó không cho mình… ngủ chung. Tôi nói vừa dứt lời thì cả lớp cười rộ lên. Mấy đứa con trai chạy ra sau chuồng heo cười lớn lên, còn mấy trò gái thì cúi mặt xuống bàn củng cười ha hả. Ông thầy củng cười làm cho tôi vững bụng. Tôi hỏi:

_Dạ thưa thầy con trả lời như vậy trúng hay trật vậy thầy?

_Trò giải nghĩa như vậy củng trúng mà củng trật.

_Dạ sao lạ vậy thầy?

_Nếu như tôi hỏi trò mà trò trả lời như vậy là trúng, nhưng tôi đã viết lên bảng mà trò trả lời như vậy là trật. Câu “Dạ bất đả thê” chữ thê ở đây không phải là chữ thê thiếp, là vợ. Chữ thê này trên đầu có bộ thảo là loài cỏ, nếu trên đầu có bộ mộc thì là loại cây. Cho nên chữ thê này là loài cỏ thi. Sách dạy mình buổi tối không nên dùng gậy đánh vô mấy bụi cỏ vì lúc tối mấy con rắn thường nằm núp trong mấy bụi cỏ. Mình lấy gậy đánh vô bụi cỏ, con rắn giựt mình phóng ra cắn vô chân mình mà mình không thấy được nó. Sự nguy hiểm là vậy đó!

Nhưng tôi được thầy cho tới 2 khuyên đỏ. Khi nghe ông thầy cho tôi được 2 khuyên đỏ, các trò đều hăng hái đoán câu đố thứ hai và ông thầy lại lên bảng viết củng hai câu như sau:  

                                             Phi nhu phi cương

                                            Phi thảo phi mộc phi như hà

Câu này thật là câu hóc búa với tụi tôi. Phi như hà. Nghĩa là định nghĩa nó ra làm sao? Cả lớp nhốn nháo bàn vô bàn ra, không đứa nào dám đứng lên trước hết vì chữ thật là dễ hiểu. Nhưng dễ hiểu là một lẽ, còn giải nghiã là một lẽ khác. Trúng thì được khuyên đỏ khuyến khích, còn trật thì bị cho khuyên đen, bị mài mực thấy mẹ, vì cục mực lớn gần bằng ngón tay cái của người lớn, mà mài trên cái nắp thố nhỏ, mài cho đủ lớp viết thì củng rã cả tay

Rồi cả lớp sửng sốt khi thấy tró Tám Nải đứng lên xin giải nghĩa. Anh tướng này vô học thường hay ngủ gục, học dở nhất lớp nên anh chọn ngồi bàn dưới chót hết. Vậy mà câu này dám đứng lên tính giựt khuyên đỏ chói? Ông thầy ra lịnh cho thật im lặng nghe trò Tám Nải giải nghĩa câu này.

_Dạ thưa thầy chữ phi nhu phi cương có nghĩa là không cứng không mềm. Cả lớp củng nói đồng thanh như vậy “Phải rồi, phải rồi”

Dạ thưa thầy còn chữ “Phi thảo phi mộc” là không phải cây mà củng không phải là loài cỏ nửa. Còn chữ “Phi như hà” là nó như con cu của em trai con, vì khi nó mắc đi tiểu thì nó cứng lên, khi tiểu xong thì nó xìu, cho nên có lúc nó cương (cứng) có lúc nó nhu (xìu)..nó không phải lọai cây hay cỏ mà nó là loại gân.

Trò Tám Nải vừa cắt nghĩa hụych tẹt ra hai câu đố, miệng anh cười chúm chím, còn tụi tôi thì bò lăn ra cười. Mấy trò gái mặt mày đỏ lơ, cúi xuống bàn miệng nói lớn “Thưa thầy trò Tám Nải nói tục trong lớp”

Sau khi cả lớp trật tự trở lại, thầy cho anh Tám Nải ngồi xuống.

Tháng này tôi cho hai câu trắc nghiệm, cả hai trò đều trả lời giống như nhau, mấy trò học câu “Nhân chi sơ tánh bổn thiện là vậy” Trò Tám Nải vừa trả lời câu chữ đó là theo sự học còn nông cạn, nên hiểu sao thì nói ra như vậy.

_Dạ thưa thầy câu đó có nghĩa ra sao thầy?

_Câu đó là ví cây tre. Nó không cứng không mềm vì mấy trò thấy những cay cao lớn mà gặp giông tố gió lớn thường bị gãy nhánh và ngã cây. Còn như cây tre giông tố gió lớn nó bị nằm xuống mà khi trời êm trở lại nó vẫn đứng lên như thường. “Phi thảo phi mộc: không phải loài cây cỏ” Câu này dùng để ví người quân tử, vậy mà trò Tám Nải ví như con cu của em trai trò là vì sự hiểu biết của trò giới hạn có bao nhiêu. Cho nên sự học cao chừng nào sẽ hiểu rộng hơn chừng nấy.Để khuyến khích trò Nải tôi củng cho trò một khuyên đỏ.Cả lớp vỗ tay mừng và kể từ ngày anh được một khuyên đỏ đó anh củng có một cái tên mới khác, đó là anh Tám Như Hà. Xóm ngoài anh ở thì còn kêu tên thật, còn khi anh vô tới xóm chợ thì tụi tôi kêu tên mới là anh Tám Như Hà. Ban đầu anh còn cự nự dữ lắm,có lúc anh xuống nước nhỏ với tụi tôi là anh sẽ đãi tụi tôi một con chó đặng tụi xóm cho bôi tên Như Hà của anh nhưng không đứa nào chịu và cho tới khi lớn lên có vợ có con nhưng khi gặp anh vui miệng củng kêu Như Hà.
Củng trong thời gian tuổi dưới mười lăm đó tôi phải luyện thêm Việt Văn để đi thi bằng Tiểu Học trên trường tỉnh Mỹ Tho. Năm đó trên quận An Hóa có phái xuống một cô giáo. Cô giáo này được phái xuống đặng dạy cho đám trò gái về môn Nữ Công. Đám trò trai thì đã có thầy giáo dạy về môn Thủ Công, nhưng môn Thủ Công này được thầy cho làm tự do, trò nào muốn làm vật gì thì làm, khi làm xong mới đem vô trường cho cả mấy thầy chấm điểm. Dân miền duyên hải thì đề tài thủ công củng là vật dùng miền duyên hải,nào là trò đan ky bằng tre để xúc cá,đan giỏ cần xé, đan sàng. Trò ra rừng cắt dây mủ về đan rế thứ dùng để nồi cơm trách cá. Trò thì lấy đất sế nắn ra con trâu, con dê, con ngựa, năm đó tôi đốn cây giá về lại chổ mấy trại đóng ghe, muợn đục cưa ra làm cái cày.

Khi thầy chấm điểm xong những môn thủ công đó được treo chung quanh lớp học, cho nên có quan khách tới thăm trường ngó lên thì biết vật dụng thông thường miền duyên hải. Cô giáo biệt phái này có giờ luyện Việt văn cho tụi tôi, trong số đã được tuyển cho đi thi Tiểu học. Dân duyên hải đứa nào đứa nấy thật cồ con.

Cô giáo này tính tình vui vẽ không quá nghiêm khắc như mấy cô giáo trước. Hôm nay trong đề tài học tiếng đôi, tiếp theo bài trước học về tiếng chiếc, cô đọc một hồi: Lý tưởng, cô đơn, lâm ly, hài lòng, hạnh phúc, ê a và trừu tượng, tưởng tượng và các trò tuần tự đứng lên giảng nghĩa từng tiếng một. Trò giải nghĩa trúng củng có mà trật củng có, nếu trật thì cô sẽ giải thích cho biết. Tới chữ trừu tượng thì tới phiên tôi phải đứng lên trả lời.

_Trò Ba cho tôi biết ý nghĩa chữ trừu tượng ra sao?

Hồi sớm mai mấy trò gái có mấy trái bần ổi thật ngon mà tôi xin nửa trái mấy trò ham ăn không cho, còn bỏ trong túi áo bà ba kè kè nên tôi lấy đề tài đó chọc tụi nó cho bỏ thói ham ăn chua.

_Dạ thưa cô chữ trừu tượng là…mình thấy vật trước mắt mà nó không được rõ lắm. Củng như hiện em trông thấy trong túi áo mấy trò gái bỏ vật gì mà nó phùng ra mà không biết nó là trái bần hay là trái ổi? Cô giáo và cả lớp cười ồ lên..còn phía bên kia con gái…thì hai ba ngón tay xỉ qua ngay tôi,miệng nói lầm thầm gì đó dịch vật anh. Xong cô giáo nói:

_Trò Ba ..hãy định nghĩa câu nửa cho rõ ràng hơn.

Cô giáo mặc áo dài đi lên rồi đi xuống. Khi cô đi ngang qua bàn tôi đang suy nghĩ coi phải chọn vật gì cụ thể tại đây. Bổng tôi thấy tà áo dài cô bay phất phơ theo chiều gió từ ngoài cửa thổi vô, phất phơ chéo áo tôi liền đứng lên nói tiếp danh từ trừu tượng mà cô giáo sẽ chấm điểm giờ Việt văn cho tôi:

_Thưa cô, trước mặt em, thấy cô hiện đương mặc cái xì-líp bên trong mà bên ngoài em chỉ thấy dạng đường gân lên cho nên em chỉ trừu tượng như vậy mà klhông biết nó là màu sắc gì?

Tôi vừa trả lời xong câu này thì dường như cả lớp đều cười khúc khích? Cô giáo thì dường như hơi mắc cỡ nên ngó tôi một giây ngắn ngủi.Cô nói: “Bộ hết chổ so sánh rồi hay sao?” và cô cho tôi được …dix bon bien! Đó là đại khái những cái tôi “sáng dạ” hơn ông thầy đồ của Thầy Chạy. Nhà có cơm có tiền cho tôi đi ăn học. Học chữ Nho rồi học chữ Quốc ngữ, hai thứ văn hóa này quá xung khắc với nhau. Chữ Nho cầm bút lông viết từ bên mặt qua bên trái. Chữ Quốc ngữ cầm ngòi bút sắt viết từ bên trái qua bên mặt. Chữ Nho mỗi cuối tháng có khuyên đỏ là được ưu hạng. Chữ Quốc ngữ mà được cái vòng tròn đỏ thì tháng đó phải sụt xuống cỡ 5 hạng sấp lên, có khi còn ngồi dưới đít mấy đứa con gái (Xin lỗi, dưới đít đây là trong sổ của thầy, còn ngồi thì đã ngồi riêng ra trai với gái). Hồi xưa lớp tôi còn nhỏ ở nông thôn cha mẹ cho con đi học là để biết đọc biết viết chữ Quốc ngữ gái trai gì củng vậy. Đó là các gia đình lao động bình dân, còn lớn lên đã có một trách nhiệm về sinh kế với gia đình nên ít người cho con đi học lấy bằng cấp đặng làm thầy. Có câu “Vác giạ lúa không ai vác giạ chữ” con đi học lấy bằng cấp đặng làm thầy. Có câu “Vác giạ lúa không ai vác giạ chữ”

Chưa đầy 20 tuổi đã lo cưới vợ, vì 21 tuổi là bị “hung niên” mấy trò gái chưa lên tới lớp Sơ đẳng mà thôi học còn để tóc ra dài đặng bới đầu là đã biết cha mẹ hứa gã cho ai rồi. Riêng cá nhân tôi được hân hạnh gia đình cho đi học hai thứ chữ, chữ Nho và chữ Quốc ngữ. Thứ chữ nào củng dạy “Tiên học lễ, hậu học văn”. Các sư phụ dạy toàn là “trung, hiếu, nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”. Họ muốn đào tạo mình trở thành một công dân tốt vậy mà tuổi mới chưa đầy mười lăm mười tám biết trả lời câu “Dạ bất đả thê” là sách dạy mình tối không nên đánh vợ. Trả lời cái nghĩa gần sát củng được, vậy mà còn thêm câu “Tối đánh vợ thì đêm đó nó không cho mình ngủ chung”. Củng như giờ Việt văn lăm le khai thác chọc ghẹo trả thù mấy trò gái hồi sáng không cho ăn bần ổi, lợi dụng chữ trừu tượng để chỉ cho cả lớp biết khi vô lớp mà còn đem theo trong mình cho tụi con gái mắc cỡ. Cô giáo biết là tôi chọc phá mấy trò gái bắt tôi phải trả lời lại hai chữ trừu tượng một lần nửa và lần này tôi củng lẹ làng và rất thực tế “trước mắt thấy cô mặc cái xì-líp” bên trong mà không biết nó màu gì. Một câu trả lời làm ngạc nhiên cô giáo An Hòa, câu này phải là câu lớn tuổi đồng trang bạn với cô để mà chọc ghẹo. Còn tôi là đứa nhỏ còn bận quần xà lỏn đi học vì vậy cô giáo cho tôi 10 điểm.

Cho nên tôi mới dám chê Ông thầy đồ trong câu chuyện “Đen như mõm chó”. Vai tuồng Ông thầy đồ đóng trong phòng the kín đáo mà gặp tôi thì câu chuyện đó nó không được dài dữ như vậy.!!

Bối

Hồi ký của Chim Việt.

Trước khi vào truyện, đây là loạt bài của Chim Việt một cộng tác viên với tuần báo Ti Vi Tuần San phát hành tại Úc Châu, tôi sưu tập được vào thập niên 80. Bài của ông viết rất hay, giá trị, giọng văn bình dị, không trau chuốt. Những bài viết của ông có tính lịch sử và những địa danh đặc biệt đáng nhớ. Rất tiếc ông đã qua đời, nếu không chúng ta sẽ còn đọc được nhiều bài viết rất ấn tượng của ông. Xin mời các bạn bước vào thế giới truyện của Chim Việt.

Nghe vẽ nghe ve

Nghe vè đi bối

Trời chưa kịp tối

Núp dựa bóng bần

Coi ghe nào gần

Lấy lá cây che phủ

Chờ cho họ ngủ

Bối lại lấy đồ

Thức dậy mà hò

Xô ra mà chạy

Bớ làng xóm.. Bối…bớ làng xóm…Bối

Nếu trên bờ thì nghề đó kêu là ăn trộm hay dân đạo tặc (bần cùng sinh đạo tặc) lại củng có có tên là đạo chích (chó người đạo chích sủa vua Nghiêu) còn dưới sông ăn trộm thì kêu là Bối. Bửu bối là vật quý của thầy tặng cho các trò tu tiên là phép khi hạ san để phòng thân ra phò vua giúp nước, đâu có cho kẻ gian trong giới giang hồ. Vậy mà trong đám thảo khấu sông hồ này lại có tên hoa mỹ như vậy?

Các ghe thương hồ thưở xưa tất cả xuôi ngược đều chèo suốt ngày có khi suốt đêm, mái chèo khuấy nước làm động cơ. Vì vậy mà khi mái chèo được gát lên be ghe, tất cả trong ghe đều mỏi mệt chìm đắm trong giấc ngủ đó là giờ thuận tiện cho đám Bối làm ăn.

Chúng sẽ lén bò qua ghe lấy đồ và vật, nhưng không có gì đáng đồng tiền thì họ lấy chèo, bánh lái..Ghe nếu không có hai thứ này thì như bị chết máy giữa đường sẽ làm trễ nải công việc bán buôn sở hụi hàng ngày bị kéo dài ra… rồi sẽ có người bơi xuồng tới họ làm môi giới cho chủ ghe đi chuộc lại vì họ thấy mấy món đồ đó nó trôi giữa sông nên họ vớt lên đem về nơi nào đó!

Khắp vùng Tiền Giang chổ nào củng có Bối, nhưng tiếng tăm nhất chỉ có đám Bối Ba Cụm. Sào huyệt đám Bối ba Cụm này nằm trong rạch tên Ba Cụm. Rạch này lối gần ngã ba Giao Hoà đầu con kinh An Hoà phía dưới làng Phú An Hoà trên con sông Cửu Long thuộc tỉnh Mỹ Tho. Nhưng các chi nhánh đặt nhiều nơi từ Vàm Bà Rãi xuống tới cù lao Ngũ Hiệp, cù lao Thới Sơn, cù lao Rồng là vùng trên. Còn vùng phía dưới từ vùng Bình Đại lên Lộc Thuận, Vang Quới, Phú Thuận, Long Phụng vàm Giao Hoà thuộc về tụ điểm Ba Cụm.

Từ đầu con kinh Kỳ Hôn vô ngã ba Ông Văn, kinh Chợ Gạo, Bình Phục Nhất, Bình Phục Nhì tới đầu kinh Nước Mặn và chợ Dinh lại thuộc về tụ điểm ngã ba Ông Văn. (chợ Dinh làng Đồng Sơn quận Cần Giuộc Chợ Lớn). Dân đi Bối có nhiều hình thức để nghi trang: xuồng đi bám vàm, xuồng đi câu tôm cá, xuồng bơi đi chợ…trong đó chỉ có xuồng đi bám vàm là nguy hiểm nhất. Đêm khuya canh vắng, một giọng hò huê tình:

Hò ơ… đèn cầu tàu ngọn xanh ngọn đỏ, đèn chợ Mỹ ngọn tỏ ngọn lu.. anh về học lấy chữ Nhu (Nho).. chín trăng em đợi..hò ơi.. mười thu em củng chờ..

Hò..ơ..Mỹ Tho nước ngọt gió hiền…tàu xuôi Nam Hải ngược miền Nam Vang…thương hồ chiếc dọc chiếc ngang ..tiếng rao lãnh lót..hò..ơ..nhịp nhàng chèo khua, cháo gà, cháo vịt, cà phê, nước ngọt, nhậu lai rai đây.

Tiếng cô thiếu nữ rao nghe thanh tao, Bối cặp theo ghe thương hồ đậu nghỉ củng không phải chỉ đi bám vàm còn chuyên nghề đấm bóp và xa hơn nửa nếu chịu xong giá cả đôi bên thoả thuận. Khi anh lái buôn tỉnh giấc Vu Sơn người bạn một đêm đâu mất và cả tiền bạc cùng những đồ đạc quý củng mất luôn! Có khi người bạn một đêm vẫn còn nằm bên cạnh mà đồ vẫn bị mất như thường, vì khi mỏi mệt cùng người đẹp trong giấc mộng chung tình chính tay người đẹp đó sẽ lén chuyển đồ vật cho đồng bọn Bối xuống gần ghe hay là bỏ đại những quần áo xuống dưới mặt nước, nước trôi xuống có người chờ đợi vớt lên về xài.

Vì ghe thương hồ nội trong mui là phòng khách, phòng ăn và luôn cả phòng ngủ của chủ ghe. Tất cả bạn trạo phu ban đêm thì ngủ ngoài rồi tự do ai muốn bắt cặp thì bỏ tiền ra bắt cặp. Mỗi xuồng vàm từ hai cô cho tới ba cô, cặp mối xong thì bò qua ghe, vì vậy mà luôn bị thế nội ứng, ngoại hiệp! Thật tụi nó tài tình như có bửu bối? Có lẽ vì vậy mà họ bỏ chữ Bửu chỉ xài một tiếng Bối để đặt tên?

Mấy anh lái buôn hảo ngọt bị mấy em đoạt mất hồ bao đều có một sách khi về tới nhà báo cáo cho vợ con, chuyến này bị Bối xông thuốc mê tụi nó bơi xuồng ngang qua ghe mình nghe tiếng ngủ ngáy đều đều thì tụi nó xông thuốc mê trong ghe không ai hay hết.

Lệ cúng Kỳ Yên làng Thới Thuận ngày 16 tháng 6 âm lịch. Đi coi hát đình tụi tôi ngán nhất ông Từ ngồi gần sân khấu còn lấn qua lấn lại dành chổ làm cho đào kép trên sân khấu hát không được, mà phía dưới khan giả coi củng không được. Vậy mà khi nghe tiếng nói ông Từ tới đó thì tất cả đám nhỏ đều ngồi xuống lặng thinh. Ông cầm cây roi tre dài, áo dài đen đội khăn đống đàng hoàng, hai vạt áo dài cột lại cho gọn, ông đi tuần tra cho nam ra nam nữ ra nữ không cho hai phái đụng gần nhau. Mấy đứa con nít con hương chức hội tề, ông có quyền bổ roi tre trên đầu nếu không chịu ngồi xuống, còn đánh lộn thì ông xách hai tay hai đứa đuổi ra khỏi đình giữ trật tự cho chầu hát.

Ngày mùng 1 đầu tháng, ngày rằm nửa tháng sau khi dứt ba hồi trống nhóm tại công sở Thới Thuận, các hương chức hội tề lần lượt vô công sở nhóm đặng bàn về việc quan, việc làng.Ông Từ củng áo dài khăn đen vô công sở lãnh nhang đèn về đình. Bà Từ mỗi buổi sáng đầu đội cái sàng hai tay bưng hai thúng đựng trầu cau vô chợ bán. Nếp sống trầm lặng của ông bà Từ trái hẳn với nếp sống đua chen của dân ngoài xóm đình này. Làng cất cho ông bà căn nhà nhỏ giữa khoản đất trong đình với làng. Ông bà chết được làng chôn cất và bài vị người tiên vãng sau hậu đình. Như vậy làng này ông bà không có ai là thân nhân hết. Khi về nhà thấy trên lư hương bàn thờ có miếng giấy màu đỏ đó là của ban khánh tiết gởi tới báo tin cho các nhạc sanh và lễ sanh tới kỳ ra tập dượt lễ nhạc ngoài đình.

Ăn cơm chiều xong đám con cháu trong ban du nghệ lần lượt ra đình dưới sự chứng kiến của Hương Lễ, Hương Nhạc, hai bô môn này phải cho hiệp nhất, phải cho ăn rập và nghiêm trang khi tế thần. Sau giờ tập xong các đám tập sanh lễ nhạc lần lượt ra về. Thường thường tôi ở lại trò chuyện với ông Từ:

_Ở đây ông có bà con với ai không ông Từ?

_Tao ở xứ lạ lại đây không có bà con với ai hết.

_Xứ ông ở đâu vậy ông Từ?

_Củng ở chung một quận An Hoà trên kia.

_Trên kia là trên nào vậy ông Từ?

_Thằng này thiệt tò mò, tao ở trên Ba Cụm.

_Phải ở chổ đó họ kêu là Bối Ba Cụm không ông Từ?

_Thì vậy chớ sao mày?

_Cái đó là cái gì mà họ kêu là Bối Ba Cụm?

_Bối là ban đêm đi ăn cắp đồ dưới ghe, củng như ăn trộm ăn cắp đồ trên bờ vậy.

_Sao không kêu ăn trộm cho dễ hiểu mà bày đặt kêu Bối?

_Thằng này hỏi riết làm tao không biết đường mà trả lời, ông cười.

_Hồi ở trên ông có đi Bối không ông Từ?

_Có chớ sao không mày, tao là dân chuyên môn mà.

_Dân chuyên môn mà sao ông lại xuống đây làm ông Từ đốt nhang cho thần?

_Thôi để bữa nào rãnh tao nói cho mày nghe, bây giờ khuya rồi.

Rồi một đêm, một già một trẻ dưới ngọn đèn leo lét, ông Từ mới bắt đầu tâm sự với tôi. Ông kể lại một thời lừng danh tại tổng hành dinh của bọn thảo khấu sông hồ Ba Cụm. Năm đó tao đi bán bí rợ trên Cầu Ông Lãnh khi buôn bán xong chờ chủ vựa trả tiền, mấy đứa bạn thì đi coi Sở thú, đứa thì vô coi Chợ Lớn Mới Bình Tây. Tao củng thả lần ra chợ Thầy Gòn coi họ buôn bán. Tao đi dài theo con đường gì đó bỗng có người trong nhà hàng ra mời tao vô nhà hàng uống cà phê chơi. Thầy đó bận đồ tây mà lạ hoắc, tao không biết là ai, nhưng tao củng vô nhà hàng theo thầy đó. Trong nhà hàng củng có hai thầy bận đồ tây bắt tay tao và mời tao ngồi.

_Anh còn nhớ tôi không?      

_Tao hết hồn tưởng đâu là gặp lính kín.

_Dạ tôi không nhớ gặp thầy ở đâu và hồi nào.

_Năm ngoái tôi gặp anh trong ngã ba Ông Văn chợ Gạo, ghe tôi đậu ngủ tại Binh Phục Nhì bị đám đệ tử anh lấy mất bánh lái, tôi đi chuộc lại đó.

_Xin lỗi, vì nhiều người quá nên tôi không nhớ hết.

_Khi ghe anh lên bán bí rợ thì đám em út của tôi ở Cầu Muối có cho hay tụi tôi đợi cho anh buôn bán xong mới đón anh làm quen và mời anh lại nhà tụi tôi chơi và bàn nhiều công chuyện làm ăn với anh.

Ai củng bận đồ tây chỉ có mình tao bận đồ bà ba xập xệ, ngôi chung trên xe chạy vòng vo tam quốc. Họ chỉ chổ này họ chỉ chổ kia tao đâu có nhớ cho hết vì mình ở dưới nhà quê lên Thầy Gòn. Xe tới nhà họ thì có mấy người đàn bà chạy ra mừng, nhà họ coi sang trọng lắm, đem rượu tây ra uống nói chuyện chơi. Khởi đầu họ nói, trên này tụi tôi danh tiếng là Bối Ba Cụm nên phục tài mấy đệ tử của anh, vậy bây giờ anh đừng sợ và nghi ngờ gì hết nhé.Tụi tôi đây củng đồng nghiệp với anh. Tao nghe họ nói tao hết hồn, mình nghèo mới đi ăn trộm, còn họ sao giàu như vậy mà củng đi ăn trộm như mình? Họ mời tao vô phòng kín cho thấy nào là mặt nạ, dao găm, củ chì thung lại có súng nửa. Như vậy là chánh ăn cướp chớ đâu phải là Bối như tao. Bây giờ họ mới nói thiệt với tao, họ muốn cùng tao hiệp lại làm ăn một chuyến lớn, kết quả còn hơn tao đi Bối ba năm. Nếu như tao bằng lòng thì họ thảo luôn kế hoạch tại đây, còn như dụ dự thì họ đưa tao về ghe dưới Cầu Ông Lãnh.

 _Rồi ông chịu hợp tác làm ăn với họ không ông Từ?

_Chịu chớ sao không, vì trong bụng tao hồ nghi đám này là đám anh hùng Hiệp Liệt trong bộ tiểu thuyết “Châu về Hiệp Phố” quá.

_Mày có coi bộ tiểu thuyết đó không?

_Dạ cháu nghe nói bộ tiểu thuyết đó hay lắm, nhưng ở nhà cấm không cho coi tiểu thuyết. Chỉ cho đọc truyện Tàu như Tam Quốc Chí, Thuyết Đường, Phong Thần, Ngũ Hồ Bình Tây, Tiết Nhân Quí Chính Đông, truyện Tây Du, thơ Phạm Công Cúc Hoa, thơ Sáu Trọng, thơ Cậu Hai Miêng.

_Mày coi mấy thứ đó nói toàn là chuyện đánh Nam dẹp Bắc, đứa nịnh hại đứa trung, người tôi trung bị hoạn nạn đã đời rồi thì đâu vô đó. Ân báo ân, oán báo oán, chuyện nào củng như vậy hết nhất là bộ truyện Phong Thần. Còn mày coi bộ truyện Tam Quốc Chí người anh hùng như Tào Tháo thì bị khi dễ, còn như Quan Công là tay điếm đàng thì lại cho hiển thánh!

_Trời ơi, ở đây họ thờ ông Quan Công nhiều lắm.

_Bởi vì họ dốt nên thấy mấy người Các chú họ thờ nên mình củng bắt chước họ mà thờ, mình người An Nam không thờ anh hùng người An Nam mà đi thờ người bên Tàu!

Mày có đọc truyện Tam Quốc mày biết tại sao trong đời chiến Tam Quốc chỉ có một cây Thanh Long Đao?

_Dạ ông thợ rèn Lữ gì đó rèn cho ông Quan Công mới có một cây rồi vì đứng gần coi ông Quan Công múa thử nên bị tai nạn rủi ro là ông Quan Công vớt một phát đứt đầu, cho nên chỉ có một cây Thanh Long Đao mà thôi.

_Mày nhớ giỏi, sự thật thì không phải bị tai nạn rủi ro mà là có ý vì Quan Công múa thử cây đao thật vừa tay quá, nếu để cho anh thợ rèn này còn sống thì trong đời Tam Quốc y rèn cho biết bao nhiêu cây đao như vậy thì hết giá trị cây đao này, chi bằng giết anh ta chết thì đâu còn ai mà rèn được cây đao thứ nhì. Rồi Quan Công chết về tay ai giết?

_Dạ ông bị phục kích chết vì không chịu đi về tiểu lộ có tin cho hay đi đại lộ về thì sẽ bị phục kích, mà người phục kích đó là Lữ Mông.

_Mày biết Lữ Mông là con ai không?

_Dạ cháu quên không biết là con ai.

_ Lữ Mông là con anh thợ rèn người rèn cây Thanh Long Đao, khi Quan Công phục chết anh thợ rèn thì vợ anh ta đang có bầu. Sauk hi mẹ nó sanh ra, nuôi nó lớn khôn và cho nó biết người đã giết cha nó là Quan Công, nên nó quyết báo thù cho cha nó.

_Còn đoạn quá ngũ quan trãm lục tướng?

_Dạ ông Quan Công hay tin anh muốn đi thăm mà mấy lần vô xin phép ông Tào Tháo đều lánh mặt nên ông phò nhị tẩu trốn đi. Vì không có lịnh tiển nên các cửa ải không cho ông ra khỏi ải vì bị cản trở nên ông đi qua 5 ải giết chết hết 6 tướng giữ ải của Tào Tháo.

_Mày coi trong truyện gì đó, có hai ông Bá Di và Thúc Tề giận không ở vào nhà Châu, lên núi Thú Dương ở không thèm ăn gạo của nhà Châu, nghĩ thẹn nên nhịn đói mà chết như vậy mới ngon. Còn Quan Công khi phò nhị tẩu, tạm trú nơi núi Thổ Sơn, thiếu thốn cực khổ quá nên mới đua điều kiện, mà về ở với Tào Tháo. Gặp tay Tào Tháo là người mến tài, tam nhật tiểu yến, thất nhật đại yến, người ta đối đãi như vậy mà khi ra đi lại còn giết hết 6 tướng?

_Rồi trận Huê Dung Đạo?

_Trận đó Tào Tháo thất trận chạy tới ngõ hẹp Huê Dung, thì bị ông Quan Công đón bắt được.

_Rồi sao nữa?

_Dạ rồi bị Tào Tháo khóc kể lể, nên bây giờ hể ai năn nỉ kể lể, thì họ nói sao thằng này lại kể lể như Tào Tháo. Cho nên ông Quan Công thấy vậy thương tha cho Tào Tháo chạy về nhà.

-Đó mày thấy không bị mang nặng án kẻ thù nên vì lẽ đó mà dám bắt giặc, tha giặc theo luật nhà binh thì bị tội tử hình. Đừng nói chi khi ra đi còn có làm tờ cam kết với Khổng Minh. Nội mày thấy bao nhiêu đó, thì cái lý lịch của Quan Công toàn là mâu thuẫn với hai câu thơ liễng thờ:

Chí tại Xuân Thu Công tại Hán

Trung đồng nhật nguyệt nghĩa đồng thiêng.

_Mày có học chữ Nho, mày thấy có trung chổ nào mà nghĩa chổ nào? Nói ra thì mất lòng sự tự do tín ngưỡng, nên ai muốn thờ ai thì thờ.

_Ông nói người An Nam thờ anh hùng người An Nam là ai?

_Thằng có ăn học mà sao ngu quá, hiện giờ tao với mày nói chuyện ở đâu đây?

_Dạ ở hậu đình chớ đâu.

_Đình là để thờ thần, ông thần này là anh hùng người An Nam, mày thấy tới lễ cúng cầu an cho bá tánh cúng con heo tuyền, tiền vãng con heo tuyền sắc 100 kg cái đầu heo đó đem kiến người thừa hưởng tiền Hiền, còn cái nọng thì đem kiến cho người thừa hưởng hậu Hiền.Người thừa hưởng tiền hậu Hiền là chú Bảy Nhỏ trong ấp Thới Lợi họ Ngô. Người thừa hưởng tiền Hiền là thân nhân họ có công lặn lội từ đây ra tới Đế kinh thỉnh được sắc thần do nơi vua ban đem về tại làng Thới Thuận. Hàng năm tới ngày giỗ là ngày 16/6 âm lịch cũng là ngày cầu an cho bá tánh. Ngày giỗ của vị anh hùng có công phò vua giúp nước đã tử trận. Mày không nghe có câu: “Sống làm tướng chí bền ngọc thạch, chết làm thần danh tạc đá vàng” là vậy đó. Còn người được hưởng Hậu Tiền là người thợ mộc chánh, đứng ra chỉ huy cất cái đình này. Mày thấy cái đình này có hơn trăm năm, mà mấy ông thợ mộc đời nay còn phải phục từ miệng kèo, miệng cột.

_Sao cháu thấy nghinh Sắc thần vô đình mà không có cúng ông thần trước mà lại cúng ông Tiền Vãng trước?

_Tiền Vãng là chết trước, những người chết trước trong ban Du Nghệ như ông cố mày, ông ngoại mày, ba mày hay ai là người trong ban khánh tiết hay hương chức hội tề. Trước sau củng vậy luôn luôn đám Hậu Tân phải nhớ ơn họ và khi có những lễ cúng tuy là người khuất mặt mà vẫn nhớ tới như họ vẫn luôn có mặt tại đây với người còn sanh tiền.

_Vậy cháu biết rồi giờ ông nói tới vụ bọn cướp Hiệp Liệt đi.

_Khi họ nghe tao chịu hợp tác làm ăn với họ, thì họ mời tao ở lại đêm, ăn cơm và đi coi hát cải lương. Họ đua cho tao một bộ đồ tây mặc vô đi coi hát. Bây giờ nhớ lại cái xe của bọn cướp là kiểu điếu xì gà màu đỏ mà hiệu Đờ La Hay. Ăn cơm xong họ chở tao ra chợ Bến Thành đường gì đó rạp gì có tên như là Modern (đường D’Espagne).Họ với tao là ba người, một người lại mua giấy thấy giá thượng hạng $1.20 hạng nhất $1.00.00 hạng nhì. $0.60 hạng ba, hạng cá kèo $0.30 đứng. Tao với người đi chung đứng ngoài, chỉ có một người lại chổ bán giấy. Anh ta đứng đó xin tấm gờ-ram coi, trong khi đó thì gần tới giờ mở màn nên khán giả chen lại mua giấy. Anh ta đứng coi một hồi thì chỉ cho họ ghi 3 cái giấy thượng hạng là $3.60. Khi người bán giấy đưa ra thì người đó biểu thối lại tiền. Người bán giấy nói:

_Thầy chưa đưa tiền mà đòi thối à?

_Tôi đưa cho anh tấm giấy con công anh coi lại trong tủ anh coi có hay không?

Người bán giấy thấy người đó mặc đồ Tây Tussoir, mang kiếng gọng vàng coi bộ dân sang quá nên đành thối lại $1.40. Tao được chứng kiến từ đầu tới cuối, đi coi hát ba vé thượng hạng đã không mất tiền mà còn thêm được $1.40 bỏ túi, tao bái phục bọn này! Ngồi trong rạp hát thấy chung quanh toàn là người ăn mặc bảnh bao, phụ nữ thì dồi phấn thoa son, xức dầu thơm nực nồng. Thanh niên thì ăn mặc đồ Tây lịch sự, ai nấy vui vẽ chuyện trò so sánh lại thấy mình thua họ xa quá!! Vì vậy trên sân khấu đào kép ca hát còn tao ngồi suy nghĩ lung tung nên không thưởng thức được đêm hát cho trọn. Coi có hai màn thì họ kêu nhỏ ra ngoài chơi và họ đưa tao ra ngoài Lăng Tô hứng gió, xe đâu môt chổ thanh vắng, bây giờ họ mới thảo kế hoạch với tao: họ đưa cho tao $100.00 với số tiền này tới ngày đó tháng đó, giờ đó phải có mặt tại núi Nứa thuộc tỉnh Bà Rịa giả làm lái buôn.

Trong ghe toàn là người trong đảng, tuyệt đối giữ bí mật không cho tụi bạn biết gì hết. Họ đưa cho tao 4 tấm giấy quánh ($20) 4 tấm giấy con công ($5) đưa tiền lẽ xài không ai nghi ngờ. Khi ra tới chợ Bà Rịa, thì đậu ở đó lên mua cá thịt tất cả thực phẩm, rượu trà bánh đều đủ rồi chèo ra núi Nứa. Ra đó coi đám dưa hấu nào đỏ rồi gánh lần lần xuống ghe, ghe đậu gần đường đi lại chợ Long Sơn. Họ căn dặn thật kỹ rồi đưa tiền và chở tao về ghe Cầu Ông Lãnh.

_Lấy tiền rồi ông có đi ra chổ nào đó ông Từ?

_Đi chớ sao không, đi cho biết đá biết vàng. Chuyến đi buôn đó vốn lời không tới $50 mà họ dám đưa tao tới $100 mà không sợ mất thì đúng là dân anh hùng rồi còn gì nửa? Khi nhận tiền tao hứa là bằng cách nào miễn sao ghe tao ra tới núi Nứa đậu ở đó đúng ngày là được. Vì từ kinh nước Mặn, tao lên quận Cần Giuộc lên tới ngả ba cây Khò ra Phú Xuân (Nhà Bè) ngang Bình Khánh ra ngã Đường Tranh vô tới Vũng Vàng đi ngang qua quận Long Điền lên đó đi chợ mua thực phẩm xuống ghe ăn rồi đi ra Hộ Bài, đi ngang qua Rừng Sát, chèo trong mấy rạch nhỏ ra núi Nứa đâu đó cho đúng ngày giờ đã hẹn.  Họ không cho tao đi lung tung trong rừng như vậy vì ngày đó họ có cho người canh tại chợ Bà Rịa coi tao nhận tiền mà có ra đó không? thành ra ghe tao đi vòng vo mới tới cầu sắt chợ Bà Rịa (sau chợ Bà Rịa dời vô ngã ba đường đi Long Thành) Khi đúng lời hẹn ghe tao đâu tại chợ Bà Rịa mua nào cá, nào thịt, nào rượu trà xong mới chèo ra núi Nứa.

Tỉnh Bà Rịa có đủ Cửu Long và Thập Phước. Cửu Long là 9 chổ có địa danh mang chữ Long: Long Hải, Long Điền, Long Kiên, Long Thành, Long Hoà, Long Hậu, Long Phú, Long Quới, Long Sơn (núi Nứa).

Thập Phước là 10 chổ có địa danh mang tên đầu là Phước: Phước Lễ, Phước Tỉnh, Phước Lý, Phước Tuy, Phước Hoà, Phước Hưng, Phước Lợi, Phước Bình, Phước Lâm và Phước Bửu (Cù My). Tại chân núi Nứa là đảo Long Sơn có một cảnh chùa mà không phải là chùa Phật. Có một tu sĩ cầm đầu đạo này kêu là ông Đạo Trần.

_Mày có nghe tiếng gì đó không?

_Dạ có tiếng tù và thổi ở xóm ngoài.

_Tiếng tù và của anh Lái Chiến mà lại có 3 cái thổi lên một lượt.

_Vậy là bửa nay ghe đáy của ông Quản Hộ trúng cá Mùa?

_Tao phải lấy cá về cúng Lệnh Ông Nam Hải, mày về bửa nào nói thêm.

_Xứ tôi, làng Thới Thuận một tục lệ được duy trì qua nhiều thế hệ của ngư dân chuyên đóng đáy hàng khơi (đáy rạo). Hàng đáy nào mà trong vùng biển đó đóng được con cá Mùa loại cá như cá Thu mà không phải là cá Thu. Loại cá này theo truyền thuyết của các bậc tiền bối ngư phủ là loại cá mà ông Nam Hải thích nhất. Nếu chỉ được vài con thì lái và bạn cúng ngoài biển cho cá lạc bầy. Còn như đóng được cả bầy lối vài chục con thì ghe phải về sớm hơn ông lái lên nhà cho chủ hay, chiều biển này mình trúng được cá Mùa.

Chủ nhà bày hương án ra giữa trời để 10 con cá Mùa lên mâm, khi nhang đèn đốt lên kế đó là thổi tù và lối xóm nghe có 3 giọng tù và khác nhau là biết ghe biển đó trúng cá Mùa, nếu trúng ít thì chỉ thổi một cái mà thôi. Cho nên ông Từ giữ phần hương khói cho làng ông Nam Hải thay mặt cho vạn lạch làng Thới Thuận khi nghe có tiếng tù và vào nửa đêm phải thân hành ra chổ trúng cá Mùa nhận 3 con đem về làng để sống như vậy cúng. Còn phần chủ ghe đáy khi cúng xong lâp tức cho gia nhân đem những con cá quý đó đi biếu những thân nhân gần nhất như sui gia chẳng hạn. Thành ra tôi chỉ nghe tới loại cá quý đó mà chưa bao giờ được ăn cả.

Tại chân núi Nứa là làng Long Sơn có môt cảnh chùa mà không phải là chùa Phật. Có một tu sĩ cầm đầu mối đạo này mà họ kêu là ông Trần. Người thì cho là ông họ Trần, người thì nói ông chỉ ở trần quanh năm không bận áo. Toàn đảo Long Sơn này đều theo đạo ông Trần, đàn ông củng để tóc và bới đầu như đàn bà ở xa thấy họ mặc quần lãnh đen áo túi trắng bới đầu tóc thì đàn ông lẫn đàn bà đều giống nhau. Mỗi năm tới kỳ đại lễ Trùng Cửu mùng 9 tháng 9 âm lịch khách thập phương đi tới cúng tấp nập, gần chợ Long Sơn có cất cái tổ đình thật lớn để cho khách thập phương tới ở tạm nơi đó. Còn dân địa phương gần tới ngày lễ lớn thì họ tự động gánh củi đem rau cải và những thức ăn chay đem tới chùa.

Các đệ tử ông đạo Trần phần nhiều là dân Sài Gòn, toàn là dân giàu có, phu nhân các bác sĩ, kỹ sư, thương gia… không biết khi họ nghe ông đạo Trần thuyết pháp như thế nào mà các đệ tử của ông đem tới dâng hiện kim hơn hiện vật?

Đúng ngày giờ hẹn họ xuống ghe đưa cho tao gói quần áo biểu mặc vô đi theo họ, đó là bộ đồ khăn đen và áo dài. Tao đi theo họ lên chùa cúng Ngọ.

Giờ này là giờ Tịnh của ông đạo Trần không ai được phép lai vãng chổ cấm phòng, trong đó chỉ có mình ông ngồi tịnh. Tao đi theo người đàn bà này tới bàn này đốt nhang, đi tới bàn kia đốt nhang lạy. Khi đi tới cánh cửa phòng cấm là phòng riêng ông đạo Trần họ gõ 4 tiếng. Cửa mở thì có hai người bạn cùng trong phòng đi ra trao cho tao môt bao và một bó nhang đốt cháy- đỡ bao đó lên vai tao vác đi, tay cầm bó nhang. Cả bọn đồng đi ra khỏi chùa, đi xuống ghe tao đậu kế đường đi, họ ra lịnh chèo mau theo hướng họ chỉ. Ghe chèo đi lẩn quẩn trong những đám cây Đước, cây Mắm cho tới khi có chiếc ca nô đậu thì họ và tao leo qua ca nô chạy đi một nơi cách đó thật xa và lủi vô bụi rậm. bấy giờ thì họ mới đổ bao đồ ra thì toàn là giấy bạc… Họ đếm thật kỹ và chia ra làm 5 phần, tao hỏi sao có 4 mà chia tới 5?

Họ nói chia dư ra làm 1 phần cho họ giữ phòng khi trong bọn có bị lính bắt thì họ lấy số tiền đó lo đi hối lộ cho mình khỏi bị ở tù. Chia phần của tao thì có bỏ chung vô cái gói căn dặn trong đó có bảng chỉ dẫn bằng chữ quốc ngữ, không được cho ai biết tới gói đồ đó. Họ đua tao lại ghe, còn họ thì lên chiếc ca nô, họ nói nhỏ với tao là vừa rồi mình ăn cướp tiền của ông đạo Trần. Phải hơn 5 tiếng đồng hồ nửa thì các đệ tử của ông mới hay, hiện ông bị trói miệng và củng bị bịt kín ngồi trong phòng riêng của ông, khi đám đệ tử của ông hay được thì họ lùng kiếm chung quanh đây mà giờ đó thì mình đã có mặt tại Sài Gòn.

_Họ chia cho ông một phần bao nhiêu vậy ông Từ?

_Một phần của tao được một ngàn sáu trăm đồng… ghê chưa? tao cho hai đứa bạn giả đó mỗi đứa một trăm nó mừng gần chết vì tụi nó chỉ thấy bạc lẽ, chưa bao giờ thấy bạc trăm.

_Còn cái gói họ đưa cho ông là cái gì mà bí mật dữ vậy?

_Khi về tới nhà được an toàn chôn cất số tiền ra nhiều chổ bí mật xong xuôi cả tháng tao mới hoàn hồn vì những thủ đoạn tổ chức đi ăn hàng của đám đó làm cho tao sống lại với bọn cướp Hiệp Liệt. Lần đầu họ diễn trước mặt tao vụ đi coi hát cải lương, mua giấy đã không trả tiền mà còn biểu thối lại. Sau này tao mới nhớ lại là khi người đó đứng gần chổ bán giấy, xin tấm “program” coi. Sự thật là đứng chờ có người mua giấy đưa vô tấm giấy 5 đồng hay là 20 đồng để trong hộc tủ. Nhưng phải ăn bận cho thật sang và tự nhiên như lúc đánh phé vậy.

Cái gói đồ là họ chấp nhận tao vô môt đảng với họ, gồm có cái áo Bành Tô, cái nón tây Singapore, sợi dây nịt da bản lớn, một quần lãnh đen lưng vận, một áo thung tơ hiệu 3 tiền điếu một đôi giày Tàu và cái ống điếu bằng ngà. Bản chỉ dẫn bằng chữ Quốc ngữ như sau: Kiểu ăn mặc như đám du côn Cầu Muối dưới mang đôi giày tàu, mặc quần lãnh đen lưng vận mà không vận vì có sợi dây nịt da lớn bản nên lưng quần phải thả lỏng bàn. Trên mặc áo thung tơ, ngoài bận áo Bành Tô nút chuối. Công dụng của cái nón Singapore là bên trong có chất cao su thật cứng, không phải như loại nón Tây làm ở Sài Gòn bằng cây mốp mềm xèo. Cho nên dân du côn thường đội nón đó khi bị dao chém. trên đầu không bị thương nặng. Sợi dây nịt da thứ lớn củng thật cứng khi bị đâm củng không tới lòi ruột. Và điểm đặc biệt này là tối quan trọng của một đảng cần biết ám hiệu. Vô sự thảnh thơi đi chơi thì mặc áo Bành Tô gài đủ 3 nút dưới. Muốn gặp mặt đại ca và nhị ca thì chỉ gài một nút vô mấy tiệm cà phê sẽ có người liên lạc cho gặp mặt đại ca muốn bàn tính việc gì. Còn cầu cứu cấp tốc thì thả luôn 6 nút như báo động vậy. Củng ăn mặc đồng phục như vậy đó mà thấy người nào hớt tóc kiểu Bum-bê vén qua hai mép tai thì mình phải chào, không chắp tay thưa mà chỉ gật đầu hay nháy mắt là đủ. Vì trong giới anh chị du côn người nào để tóc theo kiểu như Nguyễn An Ninh là thuộc về thứ dữ nên lưu ý tới kiểu hớt tóc dài vén qua hai mép tai.

_Áo Bành Tô là kiểu áo ra sao?

_Mày thấy khi ông Quận An Hoá xuống thăm làng với thầy thong dây thép, ông Chủ Sự Kiểm Lâm, mấy ông đó mặc đồ Ô Hoe, trước ngực bật ra có thắt “cà ra quách”. Còn áo Bành Tô là kiểu áo của mấy ông lính đồn, có cổ cao lên trước gài một hàng nút, kiểu đó người Pháp kêu là “fermée”, mà không biết sao mình phổ thông kêu là áo Bành Tô, tao củng không hiểu nửa.

_Mày thấy cách tổ chức của người có ăn học nó khác xa với dân nhà quê như tụi tao, mãn đời đi rình mò chờ cho người ta ngủ mới ăn cắp đồ mà đáng giá có bao nhiêu tiền, mà khi bị bắt củng bị ở tù.

-Sau này có lần nào ông gặp lại mấy người mà ông cho là đám cướp Hiệp Liệt lần nào hay không?

_Tao có gặp họ hai lần.

_Ông củng đi buôn trên Cầu Ông Lãnh mới gặp họ hay gặp họ ở đâu?

_Sau chuyến đi làm ăn với họ ngoài Bà Rịa tiền bạc có dư dã nhiều đâu còn đi buôn chi cho cực nhọc có lổ có lời. Tao bắt đầu lo tới tương lai nghĩa là muốn cải tả quy chánh. Đem tiền về cho than nhân ruột thị mua vườn, mua cây ván cất nhà đặng giải nghệ cưới vợ sống cuộc đời lương thiện làm ăn. Chuyến đi đó tao mướn hai thằng bạn thằng thì ở bên Châu Bình quận Bảo Lộc bên Bến Tre thằng đó khá có tiền thì lo cưới vợ, chỉ có dư được chuyến đi với tao ngoài ra tiền bán mỗi chuyến là 6 đồng tao tặng thêm cho nó 100 đồng. Tao dấu nó nói là chuyến đó đánh bài với mấy lái dưa trên đảo Long Sơn nhờ có đám điếm ở Sài Gòn ra nó vẫn tin như vậy. Còn thằng kia thì nó ở bên Giao Long có tiền lo đi sắm đồ đạc và đánh me của sòng me Hương Quản B bên đó. Luôn mấy cái từ dưới Bình Đại, Lộc Thuận lên trên rạch Miễu xuống cái nào củng đổ, tay em vùng này ai củng trúng làm cho phách cái về tay không, vậy mà thằng đi bán cho tao nó không ăn như người ta, nó thua. Vùng này từ nhỏ tới lớn ai củng biết mặt nó là thằng chuyên làm ruộng và đi bạn mướn. Sao tự nhiên lại có tiền sắm quần áo, lại có tiền để đi đánh me? Như vậy số tiền của nó đâu phải làm ăn lương thiện, không ăn trộm thì củng đi ăn cướp, cho nên lúc đó mà cở nhỏ như mày mà cầm tờ giấy 20 đồng thì sẽ bị lính kín bắt liền.

Cho nên một bửa cái bên chợ An Hoá qua củng bị đổ luôn tay em, ai củng trúng mà thằng bạn tao lại thua nửa nên khi móc tiền ra đặt nó nói lầm thầm: “đụ mẹ tiền ngoài Bà Rịa xui quá… tiếng chửi thề và nói tiền ngoài Bà Rịa xui quá lọt qua tai lính kín của quận Năm. Rồi thằng bạn tao sau mấy ngày liền bị bắt giam trong khám An Hoá.

Hay tin nó bị bắt giam ở An Hoá, sợ nó khai lung tung làm nguy hiểm cả chum liên hệ với nó tao mới lên Sài Gòn mặc đồ theo dân anh chị vùng Cầu Muối. Tao mặc áo Bành Tô thả luôn 6 nút. Thật quả như vậy khi tao vô tiệm cà phê ngồi kêu ly Phế nại chưa uống hết ly thì có người lại hỏi đại ca hay nhị ca?

_Đại ca hay nhị ca củng được khẩn cấp lắm huynh.

Tao với anh này lên xe kéo chạy môt hồi tới đường La Pheo. Chổ này tao có đi vài lần dân lục tỉnh lên buôn bán thì thằng nào củng phải lại đây với đám em út có phấn son theo Châu thành. Anh này dắt tao vô ngồi trên bộ salon hút thuốc chờ đợi gặp nhị ca.  Hút hết phân nửa điếu thuốc thơm thì có người mời đưa tao vô phòng. Bước vô tao thấy giữa bộ ván gõ có mâm hút á phiện và có mấy người mặc áo thun lá đang nằm hút á phiện. Thấy tao vô họ ngồi dậy hỏi liền:

_Bạn ở vùng nào?

_Dạ em ở vùng Ba Cụm

_Chuyện gì nói mau cho rõ ràng.

_Thằng đi bạn với tôi nó bị lính kín ở quận Năm An Hoá bắt.

_Bắt đã mấy ngày, hiện giam tại đâu, còn bên An Hoá hay bị giải Mỹ Tho?

_Hôm qua em hỏi thăm thì nó còn bị giam tại An Hoá nên em đi liền

_Tối nay anh nghỉ đâu, có chổ nghỉ hay không?

_Dạ em ra ga xe lửa Mỹ mướn phòng ngủ rồi sáng về sớm.

_Em cầm 5 đồng về xe, để vụ đó trên này lo, em yên chí và kể như bị bể, em nên tìm chổ lánh mặt một thời gian lâu chừng nào tốt chừng đó nghe không?

Khi về tới nhà lo chuẩn bị đi lánh mặt nhưng chờ cho thằng bạn của tao được thả rồi tao mới đi. Vài ngày sau nghe tin nó được thả về, hú hồn!

_Anh đó được thả rồi ông tính đi đâu lánh mặt?

_Từ khi mắt thấy đám này có tổ chức đàng hoàng và tử tế đúngnhư lời họ hứa (nếu ai bị bắt thì họ hối lộ cho thả ra) thiệt quả như vậy. Nghề võ thì tao đã biết nhiều nhưng dân du côn phải là có gồng, nên tao tính đi qua Trà Vinh học gồng.

Hằng năm tới ngày 16/6 âm lịch là ngày lễ Kỳ Yên làng Thái Thuận. Trong đoàn đi nghinh sắc thần theo cổ lệ trang nghiêm và trật tự chỉ có hình ảnh ông Từ là oai nghi hơn hết. Đi đầu là viên chức vác cây Đại kỳ nền đỏ có 4 chữ: Phong Đều Vũ Thuận chung quanh viền màu đen, kế đó ông Từ đầu đội nón gổ, mặc võ

phục triều đình mang gươm chân vấn xà cạp chân mang giày ba ta. Tay cầm trống lệnh, cái trống tròn bằng cái đĩa bàn, có cái cán, ông đánh tong tong tong… kế đến 3 tiếng chiên rồi đến 3 tiếng trống chầu thùng thùng thùng…Sau đó là đến 4 kép, 4 đào trang điểm như khi ra sân khấu kế đến là 3 cặp trò lễ, đầu đội mão Tú Tài áo thụng màu vân củng mang hia. Đến 4 viên chức khiêng long đỉnh sơn son phết vàng sắc thần trên đó, đến chánh bái, phó bái và Quận trưởng cai tổng Hoà Thịnh cùng các hội tề tân cựu cùng đi với than hào nhân sĩ trong làng.

Mỗi năm chỉ có một lần mà ông Từ vẫn đi rập rang theo tiếng Bác Câu. Hình ảnh người lính tiền phương tiền hô, hậu ủng. Ông Từ đốt nhang cho đình thần, làng xã họ cấp lương cho ông. Ông củng đốt nhang cho làng Ông Nam Hải, toàn ấp Thới An này chuyên sống về nghề Hạ Bạc, nghề này họ tôn ông Nam Hải làm thần hộ mạng cho nên mỗi gia đình luân phiên nhau đem tôm cá, bất kể giờ giấc biếu cho ông bà ăn lấy thảo.

Thôn quê mỗi làng đều chọn nơi thanh tịnh khu biệt lập làm Đình Thần. Đình Thần làng Thới Thuận nằm cạnh hương lộ, một đám cây dước mịt mù  mới tới mấy hàng cây dương và mấy cây me cổ thụ. Ngoài là bìa rừng rậm về đêm le lói ánh đèn, có tiếng đọc thơ, đọc truyện, đó là giờ giải trí của gia đình ông Từ, môt người mà tôi chỉ biết có phân nửa cuộc đời, khi ông còn tham gia một thời với đám Bối Ba Cụm. Không biết vì hoàn cảnh nào mà ông ở đây, nhận chức ông Từ cho đình thần. Môt cuộc đời đây ngang dọc từng theo đám đầu trộm đuôi cướp mà trong cuốn Việt Nam tự điển của ông Lê Văn Đức quyển Thượng trang 129…Bối làm ăn theo rạch Ba Cụm…?

Một quân nhân trẻ gốc Việt được thăng cấp “thượng sĩ quản nội trưởng”

Friday, May 01, 2009

Đổ Dũng/ Người Việt

Dương Quang Thắng (phải) được các thượng cấp gắn lon thượng sĩ. (Hình: Dương Quang Thắng cung cấp)


MONTEREY, California (NV) – Từ trước tới nay, các quân nhân Mỹ gốc Việt thường được chú ý khi được thăng cấp tá, hoặc nếu cấp úy thì cũng phải có gì đó đặc biệt.

Ít ai để ý những người được thăng cấp nhỏ.

Nhưng lần này người ta không thể không chú ý đến Dương Quang Thắng, 32 tuổi, vừa được thăng cấp “thượng sĩ quản nội trưởng” (Master Sergeant) hôm 23 Tháng Tư vừa qua. “Master Sergeant” là một cấp tuy nhỏ, nhưng theo truyền thống, một quân nhân phải phục vụ lâu năm trong quân ngũ mới có được, nên cũng được gọi là ‘thượng sĩ già’. Ngoài ra, trong trường hợp này, Dương Quang Thắng có thể là người trẻ nhất được thăng cấp “Master Sergeant” (MSG) trong lịch sử quân đội Hoa Kỳ.

Trong quyết định ký ngày 23 Tháng Tư, 2009, Ðại Tá Terrance J. Wickman, tham mưu phó Bộ Tư Lệnh Yểm Trợ Quân Y 807 đóng tại Salt Lake, Utah, viết: “Bộ trưởng Lục Quân Hoa Kỳ đã đặc biệt tin tưởng tinh thần yêu nước, sự dũng cảm, lòng trung thành và tính chuyên nghiệp của Dương Quang Thắng. Dựa trên những đức tính này cũng như khả năng lãnh đạo tương lai và tinh thần phục vụ đối với Lục Quân Hoa Kỳ, nay quyết định thăng cấp Dương Quang Thắng từ SFC lên MSG.”

Có tổng cộng chín cấp hạ sĩ quan trong Lục Quân Hoa Kỳ. Ðó là “E-1” (Private 1-PV 1), “E-2” (Private 2-PV 2), “E-3” (Private First Class-PFC), “E-4” (Corporal-CPL), “E-5” (Sergeant-SGT), “E-6” (Staff Sergeant-SSG), “E-7” (Sergeant First Class-SFC), “E-8” (Master Sergeant-MSG) và “E-9” (Sergeant Major-SGM).

“Tôi cảm thấy rất vinh dự khi được thăng cấp ‘Master Sergeant.’ Ðây là một sự kiện quan trọng trong đời quân ngũ của tôi vì tôi là một trong những người trẻ nhất được thăng cấp ‘Master Sergeant.’ Phải mất 12 năm tôi mới được lên tới cấp này,” Thượng Sĩ Thắng nói với nhật báo Người Việt. Thượng Sĩ Thắng giải thích: “Thông thường, từ ‘E-1’ lên đến ‘E-7’ mất 18 năm. Từ ‘E-6’ lên ‘E-8’ mất tám năm. Tổng cộng, từ ‘E-1’ đến ‘E-8’ có khi phải mất từ 20-30 năm.”

Dương Quang Thắng, lúc còn đeo lon “Sergeant First Class” tại căn cứ Fort Benning, Georgia. (Hình: Dương Quang Thắng cung cấp)

Tân thượng sĩ này cho biết sau 10 năm ông đã lên tới “E-6” (Staff Sergeant). Và chỉ sau hai năm ông được thăng cấp lên “E-8,” (Master Sergeant).

Nói về cấp bậc này, một số cựu quân nhân QLVNCH giải thích: “Mặc dù đây không phải là cấp sĩ quan, trong quân đội miền Nam Việt Nam trước đây, ‘Master Sergeant’, có thể coi như tương đương với thượng sĩ quản nội trưởng trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa trước đây nhưng cũng thường được gọi nôm na là ‘thượng sĩ già,’ ý nói là một người đầy kinh nghiệm trong quân ngũ, một ‘bố già’ của chiến trường, và được nhiều người, ngay cả sĩ quan, kính nể. Trong các quân trường, ‘Master Sergeant’ thường là huấn luyện viên của tân binh. Ngoài ra, một số trường sĩ quan cũng sử dụng ‘Master Sergeant’ làm huấn luyện viên, nhất là trong các bộ môn quân phong, quân kỷ.”

“Có thể nói, ‘Master Sergeant’ là người có nhiều kinh nghiệm và rất am hiểu quân đội,” một quân nhân giải thích tiếp.

Nhiều người bạn của tân thượng sĩ gốc Việt này đã ngạc nhiên khi biết tin và đã gởi email chúc mừng ông.

Trung Sĩ Jacob Bishop, hiện làm công tác tuyển mộ tại Phoenix, Arizona, viết: “Xin chúc mừng!!! Tôi không bao giờ nghĩ có người được thăng cấp từ ‘E-6’ lên ‘E-8’ trong hai năm. Ðiều này hết sức lạ lùng.”

“Thượng Sĩ Thắng, thật là vinh dự cho tôi giới thiệu với mọi người rằng ông từng là cộng sự trẻ của tôi mà bây giờ được thăng cấp ‘E-8.’ Tôi muốn chúc mừng ông đạt được một bước tiến quan trọng trong đời quân ngũ. Ðiều này khẳng định những gì tôi nghĩ về ông khi chúng ta đóng quân tại Wuerzburg, Ðức. Tôi tin là sự nghiệp của ông không ngừng ở đây,” trung sĩ nhất Tommy Simpson, đang đóng quân tại Camp Walker, Nam Hàn, viết cho đồng đội cũ của mình như vậy.

Một đồng đội khác của Thượng Sĩ Thắng tên Jeff Vicuna viết như sau: “Xin chúc mừng!!! Tôi nghĩ có lẽ ông là người trẻ nhất trong lịch sử Lục Quân Hoa Kỳ được thăng cấp thượng sĩ. Ông chỉ trạc tuổi tôi, 31 hoặc 32 gì đó, nhưng không hiểu sao ông được thăng cấp thượng sĩ, và rất xứng đáng. Ông nên tự hào và ông xứng đáng được công nhận là thượng sĩ trẻ nhất từ trước tới giờ. Tôi nghĩ ông phải được xuất hiện trên tạp chí Soldiers Magazine!”

Thượng Sĩ Dương Quang Thắng sinh ra tại Sài Gòn năm 1977 và đến Hoa Kỳ năm 1994. Ông gia nhập quân đội Hoa Kỳ năm 1997 tại San Diego lúc mới 20 tuổi. “Lúc đó, tôi chưa biết tương lai sẽ ra sao vì còn quá trẻ. Tôi chỉ biết luyện tập cho thật tốt để có thể sống sót ngoài chiến trường,” Thượng Sĩ Thắng nói. Hiện tại, Thượng Sĩ Dương Quang Thắng thuộc quân số đại đội quân y 185 đóng căn cứ tại Garden Grove, California, và đang công tác tại bệnh xá của căn cứ Fort Hunter Liggett, Monterey, California.

Trước đây, Thượng Sĩ Thắng từng công tác tại nhiều nơi trên thế giới như Nam Hàn (1997), Ðức (1998), Kosovo (2000) và Haiti (2001) và tại các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ như Fort Lewis, Washington (2002), Fort Bliss, Texas (2005) và Fort Benning, Georgia (2008). Những thành tích của Thượng Sĩ Thắng trong 12 năm qua bao gồm “Qualify Paratrooper/Air Assault Trooper,” “Expert Field Medical Badge,” “Good Conduct Medal” và “Army Achievement Medal.”

Thượng Sĩ Dương Quang Thắng có bằng kỹ thuật viên cấp cứu và nha và có bằng cử nhân y tế.

Ông hiện là thành viên Hội Quân Nhân Người Mỹ Gốc Việt Trong Quân Ðội Hoa Kỳ. (Ð.D.)

40 years ago – Refugees in Japan

Migrants & refugees 

 Ben sm

Marist JPIC Blog 

 Tuesday, 04 June 2019

Bản phác thảo 40 năm từ một người tị nạn Việt Nam

Cha Jim Carty người Úc, viết về những năm truyền giáo của mình tại Nhật Bản: Những năm 1978 và 1979 được nhớ đến như một mốc nước cao cho dòng thuyền nhân tị nạn chạy khỏi Việt Nam. Họ đã phải đối mặt với bão tố, bệnh tật, đói khát, chết đuối và nạn cướp bóc và hãm hiếp thực sự và thường xuyên của Hải tặc Thái Lan. Những người may mắn đã được cứu thoát khi tàu đi qua hoặc đến được bờ biển an toàn.

Theo thống kê của Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc, số người Việt Nam chết trên biển là một con số đáng kinh ngạc, khoảng hơn 200.000 người. Không có con số chính xác có sẵn.

Hàng chục nghìn người sống sót đã được lưu trú trong nhiều trại do UNHCR thành lập ở các nước Đông Nam Á – Philippines, Malaysia, Hong Kong và Indonesia.

Nhóm người tị nạn đầu tiên với đại diện Chính phủ và Giáo hội.

Nhật Bản, với một số miễn cưỡng, đã tuân thủ Luật Đại dương Quốc tế và cho phép những người tị nạn được cứu trên biển bằng tàu trên đường đến một cảng của Nhật Bản, được xuống tàu và sống ở Nhật Bản bằng thị thực tạm thời để chờ thường trú ở một nước khác.

Tuy nhiên, Chính phủ không có chương trình nào để tiếp đón những người đến và giao nó cho các nhóm của Giáo hội và các tổ chức phi chính phủ. Thủy quân lục chiến ở Nara đã đồng ý thành lập một “trại” nếu có thể tìm thấy một địa điểm thích hợp. Sau nhiều lần xoay sở, người ta đã quyết định xây dựng trại trên khu đất của Marist tại Gose – một vùng nông thôn ở cuối phía nam của Tỉnh.

Nhóm người tị nạn đầu tiên đến vào tháng 1 năm 1980 và mặc dù trại ban đầu được lên kế hoạch hoạt động trong hai năm, nhưng nó vẫn tiếp tục trong sáu năm. Trong thời gian đó, có một lượng khách đến và đi liên tục khi các con thuyền liên tục đến và các quốc gia như Úc, Mỹ, Canada và Na Uy tiếp tục tái định cư cho họ.

Tiệc chào mừng

May mắn thay, Caritas Nhật Bản đã cung cấp một thông dịch viên tiếng Việt được trả tiền. Người đầu tiên, là một chàng trai trẻ tên Quan Khuê. Anh ấy đã ở bên chúng tôi gần như cả năm và anh ấy đã chuyển về Tokyo để theo đuổi các nghiên cứu sâu hơn. Đó là vào tháng 11 năm 1980 và đó là lần cuối cùng tôi nghe nói về anh ấy – đó là cho đến khi email sau đến vào tháng trước – khoảng 38 năm sau.

Xin chào Cha Jim Carty!

Tên tôi là Quan Khue, người đã làm việc cho cha và Caritas Nhật Bản với tư cách là thông dịch viên tại Kuzu shi Nara ken Japan vào năm 1980. Hôm qua, tôi tìm thấy tên cha trên mạng và tìm thấy địa chỉ email của cha. Thật khó tin là đã 38 năm kể từ khi tôi rời trại tị nạn này và kể từ đó tôi sống ở California Hoa Kỳ, làm kỹ sư, xây dựng một gia đình hạnh phúc ở thung lũng Silicon và bây giờ tôi đã nghỉ hưu.

Khi nghĩ lại khoảng thời gian đó, tôi cảm thấy lòng biết ơn sâu sắc nhất — vì có trại Gose, ngôi nhà ấm áp và thức ăn cho người đói. Cảm ơn cha đã xây dựng trại Gose cho người Việt tị nạn. Cha đã cứu rất nhiều người trong chúng tôi, tìm cho chúng tôi những ngôi nhà mới, cuộc sống mới, nhưng quan trọng nhất, cha cho chúng tôi biết rằng chúng tôi không đơn độc. Cha là ngọn hải đăng hy vọng của chúng tôi và đảm bảo với chúng tôi rằng tất cả chúng tôi sẽ ổn cho đến khi chúng tôi chuyển đến Hoa Kỳ hoặc Úc.

Đính kèm là hình ảnh ở trại tị nạn Gose năm 1980 để cha bồi bổ trí nhớ.

Cảm ơn sự giúp đỡ của cha, Quan Khuê.

30 Incredible colour photographs that capture brutal life of Vietnamese Boat People from the late 1970s to early 1980s

March 5, 2018 Vintage Everyday 1970s, 1980s

Vintage News daily

Thuyền nhân Việt Nam dùng để chỉ những người tị nạn chạy trốn khỏi Việt Nam bằng thuyền và tàu sau Chiến tranh Việt Nam, đặc biệt là trong các năm 1978 và 1979, nhưng vẫn tiếp tục cho đến đầu những năm 1990. Thuật ngữ này cũng thường được sử dụng chung để chỉ tất cả những người Việt Nam (khoảng 2 triệu người) đã rời bỏ đất nước của họ bằng mọi cách từ năm 1975 đến 1995 (xem cuộc khủng hoảng tị nạn Đông Dương). Bài viết này sử dụng “thuyền nhân” chỉ áp dụng cho những người rời Việt Nam bằng thuyền.

Tổng số thuyền nhân rời Việt Nam và đến một quốc gia khác an toàn là gần 800.000 từ năm 1975 đến 1995. Nhiều người tị nạn đã không thể qua khỏi, đối mặt với nguy hiểm từ cướp biển, thuyền quá đông và bão. Điểm đến đầu tiên của thuyền nhân là các quốc gia Đông Nam Á như Hồng Kông thuộc Anh, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan. Ước tính khoảng 14% người tị nạn là người Hoa hoặc người Việt gốc Hoa.

Từ các trại tị nạn ở Đông Nam Á, phần lớn thuyền nhân được tái định cư ở các nước phát triển, một số ở Hoa Kỳ và phần lớn còn lại ở Úc, Canada, Pháp, Đức và Anh Quốc. Hàng chục ngàn người đã được hồi hương về Việt Nam, tự nguyện hoặc không tự nguyện. Các chương trình và cơ sở để thực hiện tái định cư bao gồm Chương trình Khởi hành có Trật tự, Trung tâm Giải quyết Người tị nạn Philippines và Kế hoạch Hành động Toàn diện.

Những người tị nạn miền Nam Việt Nam tiếp cận một tàu chiến của Hoa Kỳ để tìm nơi ẩn náu trước sự xâm lăng từ miền Bắc vào tháng 4 năm 1975 ở Biển Đông gần Sài Gòn. Sự can dự của Mỹ vào Chiến tranh Việt Nam đã kết thúc khi quân đội Cộng Sản miền Bắc Việt Nam xâm chiếm Sài Gòn, thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam.

1982: Thuyền nhân rời Việt-Nam ở Biển Đông được Médecins du Monde, Bác sĩ Thế giới cứu trên con thuyền Goelo. (Ảnh của Michel Setboum / Getty Images)

1982: Thuyền nhân rời Việt-Nam trên Biển Đông được Médecins du Monde, Bác sĩ Thế giới cứu trên con thuyền Goelo. (Ảnh của Michel Setboum / Getty Images)

1989: Thuyền nhân Việt Nam tị nạn đến Hồng Kông. Hơn 200.000 người tị nạn Việt Nam đã đến Hồng Kông bằng thuyền trong những năm cuối thập niên 70 và 80, sau khi miền Bắc Việt Nam cộng sản đánh bại quân Mỹ hậu thuẫn ở miền nam năm 1975. Chủ yếu là Cao ủy Tị nạn LHQ đã giúp tái định cư cho hơn 143.000 người trong số họ kể từ năm 1975. ở Hoa Kỳ và Úc. Số liệu về tái định cư đã giảm đều đặn trong thập kỷ qua, giảm từ 7.600 vào năm 1990 xuống chỉ còn 70 vào năm 1999. Trại Người tị nạn Việt Nam cuối cùng ở Hồng Kông đóng cửa vào ngày 31 tháng 5 năm 2000. (Ảnh của Gerhard Joren / LightRocket qua Getty Images)

1982: Thuyền nhân rời Việt-Nam ở Biển Đông được Medecins du Monde, Bác sĩ Thế giới cứu trên con thuyền Goelo. (Ảnh của Michel Setboum / Getty Images)

1982: Thuyền nhân rời Việt-Nam ở Biển Đông được Medecins du Monde, Bác sĩ Thế giới cứu trên con thuyền Goelo. (Ảnh của Michel Setboum / Getty Images)

1982: Thuyền nhân rời Việt-Nam ở Biển Đông được Medecins du Monde, Bác sĩ Thế giới cứu trên con thuyền Goelo. (Ảnh của Michel Setboum / Getty Images)

1982: Thuyền nhân rời Việt-Nam ở Biển Đông được Medecins du Monde, Bác sĩ Thế giới cứu trên con thuyền Goelo. (Ảnh của Michel Setboum / Getty Images)

1982: Thuyền nhân rời Việt-Nam ở Biển Đông được Medecins du Monde, Bác sĩ Thế giới cứu trên con thuyền Goelo. (Ảnh của Michel Setboum / Getty Images)

1982: Thuyền nhân rời Việt-Nam ở Biển Đông được Medecins du Monde, Bác sĩ Thế giới cứu trên con thuyền Goelo. (Ảnh của Michel Setboum / Getty Images)

1982: Thuyền nhân rời Việt-Nam ở Biển Đông được Medecins du Monde, Bác sĩ Thế giới cứu trên con thuyền Goelo. (Ảnh của Michel Setboum / Getty Images)

1982: Thuyền nhân rời Việt-Nam ở Biển Đông được Medecins du Monde, Bác sĩ Thế giới cứu trên con thuyền Goelo. (Ảnh của Michel Setboum / Getty Images)

1982: Thuyền nhân rời Việt-Nam ở Biển Đông được Medecins du Monde, Bác sĩ Thế giới cứu trên con thuyền Goelo. (Ảnh của Michel Setboum / Getty Images)

1982: Thuyền nhân rời Việt-Nam ở Biển Đông được Medecins du Monde, Bác sĩ Thế giới cứu trên con thuyền Goelo. (Ảnh của Michel Setboum / Getty Images)

1978: Trên tàu Hải Hồng (Ảnh của Alain De Jean/ Sygma/CORBIS)

1978: Cố gắng vận chuyển 2.500 người tị nạn Việt Nam sang Malaysia, nhưng chính quyền Malaysia từ chối họ và sau khi cung cấp thực phẩm và thuốc cho họ, họ đã bỏ trốn. (Ảnh của Alain Dejean / Sygma / Corbis

Trên tàu Hải Hồng (Photo by Alain De Jean/Sygma/CORBIS)

1978: Hai Hong cố gắng vận chuyển 2.500 người tị nạn Việt Nam sang Malaysia, nhưng chính quyền Malaysia từ chối họ và sau khi cung cấp thực phẩm và thuốc cho họ, họ đã bỏ trốn. (Ảnh của Alain DeJean / Sygma / CORBIS)

Trên tàu Hải Hồng (Photo by Alain De Jean/Sygma/CORBIS)

Năm 1979: Bãi biển Kuantan, Malaysia: Những người tị nạn trên thuyền neo đậu từ Việt Nam. (Ảnh của Bettmann / CORBIS)

Thủy thủ đoàn của tàu USS Durham (LKA-114) đưa người tị nạn Việt Nam từ một chiếc tàu nhỏ vào năm 1975. (Ảnh: Cơ quan Lưu trữ và Hồ sơ Quốc gia Hoa Kỳ)

Những người tị nạn miền Nam Việt Nam trên thuyền tiếp cận một tàu chiến của Hoa Kỳ để tìm nơi trú ẩn khỏi sự xâm lăng từ miền Bắc vào tháng 4 năm 1975 ở Biển Đông gần Sài Gòn. Sự can dự của Mỹ vào Chiến tranh Việt Nam đã kết thúc khi quân đội Cộng Sản miền Bắc Việt Nam xâm chiếm Sài Gòn, thủ đô của Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam. (Ảnh của Dirck Halstead / Getty Images)

Sự sụp đổ của Sài Gòn năm 1975: USS Midway và thuyền nhân Việt Nam

Sự sụp đổ của Sài Gòn năm 1975: USS Midway và thuyền nhân Việt Nam

Những người tị nạn miền Nam Việt Nam trên thuyền tiếp cận một tàu chiến của Hoa Kỳ để tìm nơi trú ẩn khỏi sự xâm lăng từ miền Bắc vào tháng 4 năm 1975 ở Biển Đông gần Sài Gòn. Sự can dự của Mỹ vào Chiến tranh Việt Nam đã kết thúc khi quân đội Cộng Sản miền Bắc Việt Nam chiếm đóng Sài Gòn, thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam. (Ảnh của Dirck Halstead / Getty Images)

Ngoài khơi Hong Kong, 1979 – Người tị nạn gốc Hoa chạy trốn khỏi Việt Nam trên một chiếc chuyên cơ chở hàng quá đông Người tị nạn gốc Hoa chạy trốn khỏi Việt Nam trên một chiếc chuyên cơ chở hàng quá đông.

Những người tị nạn miền Nam Việt Nam trên thuyền tiếp cận một tàu chiến của Hoa Kỳ để tìm nơi trú ẩn khỏi sự xâm lăng từ miền Bắc vào tháng 4 năm 1975 ở Biển Đông gần Sài Gòn. Sự can dự của Mỹ vào Chiến tranh Việt Nam đã kết thúc khi quân đội Cộng Sản miền Bắc Việt Nam xâm chiếm Sài Gòn, thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam. (Ảnh của Dirck Halstead / Getty Images)

1978: Một nhóm người tị nạn Việt Nam ngồi trên một chiếc thuyền chật chội khi họ đến Malaysia. (Ảnh của Bettmann / CORBIS)

1978: Tàu chở hàng có đăng ký của Panama với 2.700 người tị nạn Việt Nam từ miền Nam Việt Nam neo đậu trên Vịnh Manila sau khi chính quyền Philippines từ chối cho phép họ lên bờ. Tuy nhiên, người Việt Nam không còn có thể được tiếp nhận tại trung tâm tị nạn Fabella ở Manila, nơi có hơn 3.000 người tị nạn đã được tạm trú. (Ảnh của Bettmann / CORBIS)

1978: Tàu chở hàng có đăng ký của Panama với 2.700 người tị nạn Việt Nam từ miền Nam Việt Nam neo đậu trên Vịnh Manila sau khi chính quyền Philippines từ chối cho phép họ lên bờ. Tuy nhiên, người Việt Nam không còn có thể được tiếp nhận tại trung tâm tị nạn Fabella ở Manila, nơi có hơn 3.000 người tị nạn đã được tạm trú. (Ảnh của Bettmann / CORBIS)

The Luckiest Refugees

By Mark Corcoran, Foreign Correspondent online editor

Updated 27 January 2014 at 5:49 pm

First posted 20 June 2012 at 9:15 am

A special report by Foreign Correspondent, published on World Refugee Day 2012.

Sau khi miền Nam Việt Nam thất thủ vào tay miền Bắc vào năm 1975, hơn 1 triệu người đã chạy trốn khỏi đất nước. Lối thoát duy nhất của họ nằm trên vùng biển Đông rộng lớn. Trong thập kỷ tiếp theo, một thảm kịch to lớn đã diễn ra trong chuyển động chậm, phần lớn thế giới không nhìn thấy. Khoảng 300.000 người đã thiệt mạng, bởi sự nguy hiểm của biển cả, các cuộc tấn công dã man của cướp biển, một số sau khi bị từ chối trước họng súng từ các quốc gia láng giềng nơi họ tìm kiếm nơi trú ẩn.

Nhưng giữa sự hỗn loạn và đau buồn đã xuất hiện một số câu chuyện phi thường về sự kiên cường và sự may mắn ngoạn mục bất chấp mọi tỷ lệ. Chúng tôi cảm thấy mình là những người tị nạn may mắn nhất trong số hàng triệu người thoát khỏi chế độ. Stephen Nguyễn, trưởng nhóm MG99. Đây là câu chuyện về một cuộc chạm trán có một trong một triệu trên Biển Đông, nơi những vị cứu tinh không tưởng và những người được cứu đã trở thành bạn của nhau, tạo nên một tình bạn bền chặt cho đến ngày nay. Từ một chiếc thuyền bị chìm vào năm 1981, kết quả là một cuộc sống mới ở Úc cho nhiều người trong số những người tị nạn đó, cũng như những hậu quả thay đổi cuộc sống đối với một số người cứu hộ. Những sự kiện kịch tính thậm chí đã tạo nên một mối quan hệ cha con lâu dài giữa một trong những sĩ quan và cựu linh mục thực tập sinh trẻ tuổi mà anh ta đã giúp đưa lên từ biển.

Nearly 100 refugees scrambled aboard the HMAS Melbourne in 1981. 

(ABC News)

Tối ngày 21/6/1981, 99 người đàn ông, phụ nữ và trẻ em một chiếc thuyền nhỏ nằm chờ chết, chiếc tàu của họ đã trôi dạt vào vùng biển có bão ở Biển Đông, cách Việt Nam 250 hải lý về phía Đông. Con thuyền chở quá tải bị dột nặng, máy bị hỏng, nước sinh hoạt bị ô nhiễm. Cả Phật tử và Công giáo bắt đầu cầu nguyện rằng khi sự chết sẽ đến nhanh chóng.

Họ đã trốn khỏi Việt Nam bốn ngày trước đó dưới sự chỉ huy của Đại úy Tam Văn Nguyên. Họ nói, (nếu bạn) quay lại đó … rất dễ bị xử tử. Chết ở đây, chúng ta chết tự do.

Là một ngư dân chắc nịch và là cựu thành viên Lực lượng Thủy quân lục chiến của Hải quân Nam Việt Nam, Thuyền trưởng Tâm biết rõ từng khúc quanh của đồng bằng sông Cửu Long rộng lớn. Anh ta là thành viên của một tổ chức đã bí mật chế tạo con tàu 14 mét tại một địa điểm ẩn náu bên bờ sông Mekong. Nó giống như một chiếc thuyền đánh cá để đánh lừa nhà chức trách, nhưng được chế tạo cho một mục đích – để trốn thoát. Chín mươi chín người ra khơi trên chiếc thuyền quá tải nguy hiểm được thiết kế để chỉ chở 60. Thuyền trưởng Tam sẽ không quay lưng lại với bất kỳ ai. Tuy nhiên, những người trên tàu hầu như không biết nhau: họ đến từ khắp miền Nam Việt Nam; có các nhóm gia đình và cá nhân, giàu và nghèo, thành thị và nông thôn, Công giáo và Phật giáo, Việt Nam và dân tộc Hoa. Khi con thuyền dần tan rã dưới sức công phá của một cơn bão đang tan dần, Thuyền trưởng Tam muốn quay lại, nhưng những người lãnh đạo khác đã kiểm soát ông quá mức. Stephen Nguyễn, một trong những người tị nạn trên tàu, nhớ lại cuộc tranh luận nảy lửa giữa các nhà lãnh đạo. “Bọn họ nói, ngươi (nếu) trở về nơi đó, ngươi cùng cái hiệp hội kia (thành viên), rất dễ dàng bị xử tử. Chết ở chỗ này, chúng ta tự do chết.”

Các tàu buôn đi qua đã bỏ qua pháo sáng của thuyền. Và khi hoàng hôn buông xuống vào ngày thứ tư, nhiều người tin rằng đó sẽ là ngày cuối cùng của họ. Nhưng sau đó Đại úy Tâm phát hiện một chiếc máy bay lạ ở phía chân trời. “Đó là quả pháo sáng cuối cùng anh Tâm bắn lên đó, và (lúc đó) Tracker bay qua và anh ấy phát hiện ra chúng tôi”, Stephen Nguyễn kể lại. Tracker là một máy bay tuần tra giám sát từ tàu sân bay HMAS Melbourne của Hải quân Hoàng gia Úc; máy bay đã chuẩn bị hạ cánh sau nhiệm vụ cuối cùng trong ngày. Tàu Melbourne và tàu khu trục hộ tống HMAS Torrens của nó đã tham gia các trò chơi chiến tranh quốc tế, đồng thời theo dõi cẩn thận một con tàu thu thập thông tin tình báo của Liên Xô đã bám sát chúng trong nhiều ngày.

A Soviet intelligence trawler (foreground) tracks HMAS Melbourne (in distance), 1981. 

(Australian War Memorial)

John Ingram, nhân viên hậu cần của HMAS Melbourne, nhớ lại: “Họ là những tàu đánh cá được chuyển đổi từ Liên Xô, và trên thực tế, họ sẽ nằm khuất trong tầm mắt, bình thường. Melbourne đã có tiếng là một con tàu kém may mắn. Hai lần trong những năm 1960, tàu sân bay đã tham gia vào các vụ va chạm với tàu khu trục. Hai vụ tai nạn đã cướp đi sinh mạng của 156 người. Trong cả hai tai nạn, các tàu khu trục đã đến nhầm chỗ và sai thời điểm. Đối với nhiều thủy thủ, Melbourne đã bị ‘làm phiền’. Giờ đây, vận may của chiếc tàu chiến cũ sắp đột ngột thay đổi.

John Ingram cho biết: “Chúng tôi đang trục vớt chiếc máy bay cuối cùng của mình khi họ phát hiện ra thứ mà họ nghĩ ban đầu là một tàu đánh cá nhỏ đang bốc cháy. Stephen Nguyen cho biết ban đầu những người tị nạn lo sợ họ bị máy bay Liên Xô phát hiện. Matxcơva là đồng minh của Việt Nam. Được một con tàu của Liên Xô cứu giúp đồng nghĩa với việc phải đi về nhà bị giam cầm nhất định và có thể bị hành quyết. Nhưng chiếc máy bay lao xuống thấp trên con thuyền đã mang những dấu ấn kỳ lạ: hình ảnh một con kangaroo. Và từ tiếng Anh ‘Navy’ được khắc ở bên cạnh. Họ đã được cứu. Chẳng bao lâu, phần lớn Melbourne hiện ra từ bóng tối. “Tôi chưa bao giờ nhìn thấy một con tàu lớn như vậy. Nó rất lớn, và tôi vẫn nhớ. Chúng tôi đã được chào đón rất nồng nhiệt bởi tất cả các thủy thủ”, Stephen Nguyễn nhớ lại.

Chỉ huy John Ingram đã đi biển hơn 20 năm, và biết rõ cơ hội.

“Thật là một điều kỳ diệu khi chúng được phát hiện, được rồi. Chỉ cần có Tracker ở vị trí đó, vào cuối buổi chiều trong điều kiện ánh sáng xấu đi. Và để nhặt một ngọn lửa ở đường chân trời, ngọn lửa cuối cùng mà chúng có. Chúng đã bị bỏ qua bởi các tàu khác. Và để có một đô đốc và một thuyền trưởng (trên tàu), người đã nói, ‘điều tra’. “

John Ingram recalls the rescue of 99 Vietnamese boatpeople from the South China Sea as the highlight of his Navy career. 

(ABC News)

Trong thời đại trước khi có thông tin liên lạc toàn cầu tức thì, không có thư giới thiệu nào đến trụ sở Hải quân hoặc chính phủ Úc về việc cần làm tiếp theo. John Ingram nói: “Khái niệm quay thuyền lại, mong đợi các thủy thủ quay thuyền trở lại, và có thể đưa đàn ông, phụ nữ và trẻ em vô tội đến một nấm mồ đầy nước là hoàn toàn ghê tởm. “Chết đuối là một cách khủng khiếp, chết vì mất nước là một cách chết khủng khiếp. Và biển là một nơi rất cô đơn.” Những người tị nạn đã được giải cứu. Các nhiếp ảnh gia của tàu sân bay, những người thường ghi lại chuyển động của máy bay, đã ở đó để ghi lại hoạt động ấn tượng.

John Ingram nói: “Những con thuyền đi cùng với những người gầy gò đáng thương này. Và một số người trong số họ đã bất tỉnh; họ không biết tất cả họ đang ở đâu. Họ đang ở trong tình trạng rất đau khổ về thể chất và cảm xúc”. “Một số sẽ bắt đầu chết trong vài giờ, có thể là vào rạng sáng hôm sau.” (Nó) cực kỳ nguy hiểm, và hãy nhớ trời tối như mực. Thực tế là tất cả 99 người đều có mặt trên máy bay mà không có bất kỳ chấn thương nào là một kỳ tích đáng kinh ngạc.

John Ingram

Việc đưa tất cả mọi người lên máy bay tỏ ra khó khăn, với nhiều người quá yếu để bị máy bay trực thăng khống chế. Các thủy thủ tình nguyện khiêng họ lên mạn tàu bằng thang, từng người một, một nhiệm vụ nguy hiểm mất gần ba giờ đồng hồ. Ông Ingram nói: “Nó cao từ sáu đến bảy mét, cộng với khả năng rơi thuyền mỗi lần và tàu lăn. (Điều đó) cực kỳ nguy hiểm, và hãy nhớ rằng trời tối đen như mực,” ông Ingram nói. “Thực tế là tất cả 99 người, bao gồm cả 19 trẻ em dưới 10 tuổi này đã được lên máy bay mà không có bất kỳ thương tích nào là một chiến công đáng kinh ngạc.” Và tôi vô cùng tự hào về những người đàn ông trẻ đó và tôi tin rằng họ không được công nhận rằng họ hoàn toàn xứng đáng. Anh nói: “Đối với Stephen Nguyễn, đó là một cảm giác vô cùng nhẹ nhõm.“ Hy vọng rất mỏng manh. “Chúng tôi cảm thấy mình là những người tị nạn may mắn nhất trong số hàng triệu người thoát khỏi chế độ.”

Refugee Stephen Nguyen recalls the MG99’s perilous journey, and HMAS Melbourne’s miraculous rescue. 

(ABC News)

John Ingram được giao nhiệm vụ chăm sóc những người tị nạn.

Những người được cứu không biết điều đó, nhưng trong một lần may mắn khác, họ đã được giao cho sự chăm sóc của một người ủng hộ người tị nạn nhiệt tình và có tay nghề cao.

Căng thẳng trên tàu

Trong khi phần lớn thủy thủ đoàn của Melbourne chào đón những người tị nạn Việt Nam trên tàu, vẫn còn một số phân biệt chủng tộc và thù hận kéo dài về chiến tranh. John Ingram nói: “Chúng tôi có hơn 1.300 người trên tàu. “Và nhiều người trong số đó đã tham gia vào Chiến tranh Việt Nam và sẽ là hợp lý khi giả định rằng, ‘này, chúng tôi đang chào đón những người trên tàu là kẻ thù của chúng tôi hoặc kẻ thù tiềm năng’. Thực tế, tôi chỉ gặp hai trục trặc trong tuần đó. “

Một sĩ quan nhỏ nhen phàn nàn rằng những người tị nạn đáng lẽ phải phó mặc cho số phận của họ đã nhanh chóng bị khiển trách. Nhưng John Ingram đã bị choáng váng bởi người biểu tình khác. “Ông ấy là một trong những tuyên úy của chúng tôi và ông ấy đã đối đầu với tôi, hỏi tôi rằng liệu có lẽ thời gian của tôi có thể tốt hơn dành cho việc tập trung vào bộ phận của riêng tôi hay không”, ông Ingram nói. “Sau đó tôi có thể nói với anh ấy rằng trong số 99 người trên tàu, khoảng 1/4 là tín đồ của đức tin anh ấy và hơn thế nữa là họ muốn anh ấy có mặt (trong nhà nguyện của con tàu).”

Vị tuyên úy đã rút lại đơn khiếu nại của mình; Ông Ingram không có ác cảm. “Sự nóng nảy có xu hướng xuất hiện trước, mọi người sẽ nói những điều nóng nảy vào thời điểm này mà có thể trong những trường hợp bình thường thì không. Nhưng trong cả hai trường hợp, chúng tôi thực sự có thể khuếch tán nó mà không gặp bất kỳ rắc rối nào.” Trong những năm 1960, John Ingram đã phục vụ trên tàu HMAS Sydney, đã thực hiện một số chuyến đi đến Việt Nam để đưa đón những người lính Úc đến và rời khỏi cuộc chiến. Anh ấy nói rằng lòng trắc ẩn của anh ấy đối với những người tị nạn được thúc đẩy bởi cảm giác tội lỗi.

“Cảm giác tội lỗi rằng tôi đã góp phần vào sự đóng góp của Australia trong một cuộc chiến tranh mà ở quê nhà không được nhiều người yêu thích. Tôi có nhiều cảm xúc lẫn lộn; gia đình tôi có nhiều cảm xúc lẫn lộn với Việt Nam. Thực tế, chiến tranh Việt Nam đã chia rẽ gia đình chúng tôi khá nhiều” tệ.”

Chỉ huy Ingram đang tham gia một cuộc trao đổi tại Mỹ khi Sài Gòn thất thủ năm 1975. Ông ngay lập tức tình nguyện giúp chuyển một căn cứ quân sự bỏ hoang ở Pennsylvania thành một trung tâm tiếp nhận khẩn cấp rộng lớn cho 25.000 người Việt Nam. Hai năm sau khi làm việc tại trụ sở Hải quân ở Canberra, John Ingram và vợ Janet tham gia mạng lưới hỗ trợ người tị nạn tình nguyện. Họ dành cả đêm và cuối tuần để sửa sang lại các khu nhà ở vô chủ của chính phủ cho hàng trăm người Đông Dương đang nhanh chóng lấp đầy các trung tâm tị nạn của Úc.

Ông Ingram nói: “Kinh nghiệm của tôi là nếu chúng ta cung cấp lòng trắc ẩn ban đầu và sự hỗ trợ ban đầu đó một cách thực sự, thì những người tị nạn mới đến định cư vào đất nước nhanh hơn và tốt hơn nhiều. Năm 1981, trên một chiếc tàu sân bay trên biển, đây là 99 người tị nạn khác mà ông quyết tâm bảo vệ và hỗ trợ. Từ thời điểm đó, chúng được gọi chung là MG99, viết tắt của Melbourne Group 99. “Người dân bị mất nước kinh niên,” ông Ingram nói. “Nhiều người phải được bù nước trong khoang bệnh. Nhưng một khi họ được bù nước, tắm rửa, mặc quần áo, họ sẽ có cảm giác thèm ăn trở lại khá nhanh.”

Việc thiết lập lòng tin mất nhiều thời gian hơn. Các thủy thủ nghĩ rằng cơm sẽ là một món ăn phổ biến. Ông Ingram nói: “Chúng tôi quyết định nấu cơm lên một chút bằng cách sử dụng nghệ tây. Bối rối, anh đến gần một cô gái nói tiếng Anh. “Và tôi nói … gạo của chúng ta bị sao vậy, có phải loại gạo không đúng không, bạn thích loại gạo dài hay hạt ngắn, hay thậm chí là gạo lứt? Và cô ấy nói, không, cô ấy nói, Họ sẽ không ăn nó vì họ nghĩ rằng bạn đang cố đầu độc chúng tôi, “anh ta cười.

Ràng buộc Singapore

Melbourne đã thiết lập một khóa học cho Singapore. Đã quá đông người tị nạn, chính quyền Singapore tuyên bố nhóm MG99 chỉ có thể vào bờ nếu các quốc gia khác đồng ý tái định cư cho họ. được gửi đến Úc. Đến năm 1981, chính phủ Úc đã tiếp nhận 43.000 người tị nạn Việt Nam theo Chương trình Khởi hành Có trật tự. Phần lớn được chấp nhận sau khi được xử lý tại các trại trên toàn khu vực. Việc một tàu Hải quân yêu cầu tái định cư ngay lập tức và trực tiếp cho một nhóm lớn như vậy, cách lãnh hải Úc hàng nghìn km, là điều hết sức bất thường, nhưng chính phủ đã đồng ý.

Two women from MG99 at the gates of Hawkins Road Camp in Singapore, 1981. 

(Courtesy of MG99 group)

Ông Ingram nói: “Chúng tôi vô cùng may mắn khi biết chính phủ Úc ủng hộ. “Và vào thời điểm đó thủ tướng Fraser được hưởng sự ủng hộ hoàn toàn của phe đối lập.” Có một quy định: MG99 chỉ được theo dõi nhanh đến Úc nếu họ đồng ý đợi tại một trại tị nạn ở Singapore trong khi chúng được xử lý chính thức. Năm ngày sau cuộc giải cứu, tàu Melbourne đã đến Singapore và những người tị nạn MG99 được đưa đến trại tị nạn Hawkins Road. Ông Ingram nói: “Đường Hawkins, so với các trại tị nạn khác, tôi đoán họ có lẽ là một Hilton,” ông Ingram nói.

Stephen Nguyễn đồng tình: “Đây là lần đầu tiên chúng tôi đến một đất nước xa lạ và đó thực sự là một điều mở mang tầm mắt cho chúng tôi khi thấy được sự khác biệt giữa Singapore và Việt Nam.” Tuy nhiên, John Ingram nói rằng có 15.000 người tị nạn sống trên một vài mẫu Anh trong khu phức hợp quân sự Woodlands trước đây. Ông nói: “Những người của chúng tôi là những người đến muộn nhất đã không thực sự được chào đón bằng vòng tay rộng mở. Trại do Cao ủy Liên hợp quốc về người tị nạn điều hành. Ông Ingram kinh hoàng trước những gì ông nhìn thấy.” Họ sống dưới tấm nhựa màu xanh trên một sườn đồi giữa cỏ ướt. Và tôi hơi lo ngại vì vào một ngày nọ, tôi thực sự không thấy những người tị nạn của chúng tôi mà là những người tị nạn khác đang đun cỏ trên đống lửa trại nhỏ … để nấu súp cho chính họ ăn. ” khẩu phần ăn, nhưng nó hầu như không đủ.

Ông Ingram nói: “Có một hạn ngạch một lượng nhỏ thực phẩm được cung cấp mỗi ngày. Nhưng tôi đoán rằng một chén, nửa chén cơm mỗi ngày sẽ không đi xa lắm”. Quyết tâm không từ bỏ cáo buộc của mình, Ingram quay trở lại tàu và bỏ qua các thủ tục chính thức, ngay lập tức điều một tấn thực phẩm được chuyển đến trại, lặp lại quy trình này mỗi ngày. Tôi có một chút lo lắng vì vào một ngày nọ, tôi thực sự thấy … những người tị nạn khác đang đun sôi cỏ trên đống lửa trại nhỏ … để nấu súp cho chính họ ăn.

John Ingram

Hải quân đã ‘làm ngơ’ cho người Nelsonian trước nỗ lực viện trợ không chính thức của một người. Người quản lý trại của LHQ mô tả sự hào phóng của Ingram như một hành động ‘ổ bánh mì và cá’. Ông Ingram thừa nhận: “Một tấn thực phẩm mỗi ngày sẽ không đi quá xa với 15.000 người. Rồi đến ngày ông Ingram kinh hoàng. HMAS Melbourne được lệnh lên đường về nhà ở Sydney. Australia, Singapore và Liên Hợp Quốc đã hứa hẹn rất nhiều. John Ingram đã lo lắng rằng họ sẽ được vinh danh. “Tôi cảm thấy điều đó chỉ bằng cách thả họ ở đó, chào tạm biệt và nhìn thấy họ nằm trên giường và ướt dưới tấm nhựa màu xanh với một cái lều rất thô sơ hoặc dựa vào. Họ đã có tình bạn tốt với rất nhiều người trên tàu. Tôi cảm thấy khá bất an về nó.”

Và với lý do chính đáng. Vào thời điểm đó, hàng trăm ngàn người tị nạn Đông Dương đang sống mòn mỏi trong các trại tị nạn quá đông đúc trên khắp khu vực, tất cả đều mong muốn thoát ra khỏi cuộc sống tốt đẹp hơn. Sẽ rất dễ dàng để MG99 bị lãng quên giữa thời kỳ hỗn loạn. “Vì vậy, lời chia tay của tôi là: ‘Hẹn gặp lại Úc sau một hoặc hai tháng.”

This is Australia

John Ingram nhớ lại: “Khi nó diễn ra, chúng thực sự đã được Qantas bay (đến Sydney) và về đến nhà (về nhà). “Vì vậy, họ đã được ở tại East Hills vào cuối tháng 7. Họ thực sự, thực sự may mắn.” Stephen Nguyễn có những kỷ niệm sống động khi đặt chân đến sân bay Mascot vào một ngày tháng 7 trong trẻo, ngập tràn trong những cảm xúc lẫn lộn: chiến thắng nhưng cũng là nỗi sợ hãi sâu sắc cho những người bị bỏ lại phía sau. “Đó là vào mùa đông và lần đầu tiên chúng tôi gặp phải cái lạnh giá của mùa đông và … chúng tôi chỉ nói cảm ơn Chúa, chúng tôi thực sự đã đến vùng đất tự do và có rất nhiều người, họ đang khóc. Tôi nghĩ về tôi Cha mẹ. Họ sẽ làm gì với cha mẹ tôi khi họ nghe tin rằng chúng tôi đã trốn thoát? ” Những người tị nạn được đưa đến trung tâm di cư East Hills bằng xe buýt. Tôi nghĩ đến bố mẹ tôi. Họ sẽ làm gì với (họ) khi họ nghe tin rằng chúng tôi đã trốn thoát?

Stephen Nguyen

“Tất nhiên, không có hàng rào, không có bảo vệ, chúng tôi ở đó vui vẻ”, ông Nguyên nói. “Chúng tôi được phép làm tất cả mọi thứ, chúng tôi có thể đến thị trấn hoặc đến Sydney cho đến tối và chúng tôi tận hưởng mọi sự sắp xếp từ chính phủ để áp dụng cho những người mới đến.” Đây là khoảng thời gian đẹp với tôi, một kỷ niệm đẹp, rất ngọt ngào. “

Ông Ingram nói rằng ông và vợ đã đến thăm những người tị nạn ngay khi ông trở lại Sydney. “Đến đầu tháng 8, họ thực sự bắt đầu các lớp học tiếng Anh của mình,” anh nhớ lại. “Họ đã rất hạnh phúc, rất hạnh phúc Vegemite’s bé nhỏ, tôi có thể nói với bạn điều đó.” Sau chuyến thăm, John và Janet Ingram được đưa đến Vương quốc Anh và mất liên lạc một thời gian ngắn với những người tị nạn từ MG99. Anh ta không biết rằng cha mẹ già của anh ta, khi đó đang sống trong cuộc sống sung túc về hưu, đã ngay lập tức đồng ý nuôi dưỡng hai phụ nữ trẻ Việt Nam khi họ phát hiện ra họ đến từ MG99.

“Họ nói, ‘chúng tôi biết John Ingram’ và bố nói, ‘điều đó đủ tốt cho tôi, con trai tôi rất tự hào về những gì đã diễn ra ở Melbourne và nếu bạn đến sống với chúng tôi ở Blue Mountains, bạn có thể thực hành tiếng Anh của mình và Vậy thì bạn có thể đạt được một số bằng cấp chuyên nghiệp ở đất nước này “.” Và họ duy trì mối quan hệ đó cho đến khi Mai Lan kết hôn, và bố tôi thực sự đã cho Mai Lan đi, và cô ấy hiện sống ở San Jose, California nơi cô ấy đã nuôi dạy hai đứa con xinh xắn. Và Vanessa kết hôn ở Sydney. Cô ấy là một chuyên gia CNTT, đã nuôi dạy hai cô gái xinh xắn, một trong số họ hiện đã có bằng Thạc sĩ Y khoa tại Đại học Sydney. “

Cuộc gặp gỡ thay đổi cuộc sống trên Biển Đông

Không phải tất cả các cuộc chạm trán của người tị nạn với Hải quân Hoàng gia Úc đều có kết thúc giống như MG99. Phóng viên Mark Corcoran nhớ lại đã chứng kiến ​​một sự việc xảy ra vào năm 1983, trong đó kết quả còn mơ hồ hơn nhiều. Stephen Nguyễn chuyển ra khỏi East Hills Migrant Hostel sau sáu tháng và đến Bankstown. Tiếp theo là công việc trong các nhà máy và bưu điện, và 8 năm sau, anh hợp tác trong một tiệm bánh tây Sydney. Tham vọng lớn nhất của anh là đoàn tụ gia đình. Năm 1982, một trong những chị gái của ông, một nữ tu Công giáo, bị mất tích trên biển khi chạy trốn khỏi Việt Nam. Stephen đã viết một bài thơ đầy ám ảnh để vinh danh cô. Từ năm 1983, ba anh trai và hai chị gái của ông đã vượt ngục thành công. Tất cả chuyển đến Sydney, dành thập kỷ tiếp theo dưới sự chăm sóc của Stephen. Ông đã làm việc để đưa cả năm anh chị em vào đại học. Năm 1991, Stephen kết hôn với Maria, người mà anh đã gặp ở Úc. Bố mẹ anh được phép rời Việt Nam để dự đám cưới. Hiện họ cũng sống ở Sydney.

Stephen Nguyễn nói MG99 là duy nhất trong số những người tị nạn Việt Nam “vì không có nhóm lớn nào khác định cư ở một thành phố hay ở một quốc gia và cả nhóm ở lại với nhau”. Đại gia đình là nền tảng của xã hội Việt Nam truyền thống. Với các gia đình rải rác trên toàn cầu, nhóm MG99 đã trở thành một đại diện. Những người lớn tuổi trong nhóm cho biết họ đã tạo ra một mạng lưới hỗ trợ chặt chẽ, đặc biệt là cho các thành viên trẻ tuổi trong những năm 1990 đầy biến động khi vùng đất trái tim của người Việt Nam ở Cabramatta của Sydney bị bao trùm bởi ma túy và bạo lực băng đảng.

“Một số người khác, họ đã mất phương hướng,” ông Nguyên nói. “Họ không được cha mẹ hay anh chị em hướng dẫn nhưng tôi có thể tự hào về MG99, rằng hầu hết những người trẻ tuổi từ MG99, họ đã làm rất tốt.” Tôi đoán ban đầu chúng tôi là mỏ neo của họ nhưng có hạt giống trên đất Úc, những hạt giống đó nảy mầm và bây giờ chúng đang phát triển nhanh chóng. Và đây là đất nước của họ.

John Ingram

John Ingram đồng ý. “Tôi không biết về bất cứ ai đã không thành công, kể cả trong cuộc sống nghề nghiệp, trong cuộc sống cá nhân của họ, trước mắt luật pháp hay bất cứ điều gì. Đó là một nhóm rất gắn kết.” Ông Ingram cho rằng một phần thành công của chính sách nhập cư là từ cái mà ông gọi là thời kỳ khai sáng hơn. Anh ấy kinh hoàng trước thời đại hiện tại của các trung tâm giam giữ và dây dao cạo. “Nó làm gì họ? Phá hủy phẩm giá cá nhân của họ, nó làm cho con người bị nhốt trong lồng,” ông nói.

“Đối với tôi khái niệm lật ngược con thuyền là một sự vô lý … Việc lật người để đổi lấy một số hình thức sắp xếp đổi chác cũng ghê tởm không kém.” Trọng tâm của nhóm MG99 ngày nay là sự gắn bó giữa trưởng nhóm Stephen Nguyễn, người thanh niên tị nạn vớt được từ biển và người lính Hải quân ‘muối già’ đã cứu anh. “Cùng với John còn có rất nhiều người khác tham gia nhiệm vụ, nhưng John Ingram bằng cách nào đó, anh ấy là người luôn chạy xung quanh. John Ingram là trong trái tim của chúng tôi. Luôn luôn”, ông Nguyễn nói.

Mốc thời gian

Nhìn lại lịch sử di dân của người Việt Nam đến Úc. Dòng thời gian đầy đủ

Hiện đã nghỉ hưu ở Port Macquarie ở NSW, John và Janet Ingram thường xuyên tổ chức các cuộc viếng thăm các thành viên của ‘gia đình’ MG99 mở rộng, hiện có hơn 300 người và trải qua bốn thế hệ. Ông Ingram nói: “Đó là mối quan hệ cha con (với Stephen). “Đôi khi tôi hơi xấu hổ vì tôi cảm thấy mình không làm được nhiều việc có thể nếu sống gần Sydney hơn. “Tôi đoán ban đầu chúng tôi là mỏ neo của họ nhưng có hạt giống trên đất Úc, những hạt giống đó nảy mầm và bây giờ chúng đang phát triển nhanh chóng. Và đây là đất nước của họ.

“Bạn có thể ở trong Hải quân 25 năm. Nhưng bạn phải sống với lương tâm của mình cả đời … Cuộc giải cứu MG99 là điểm sáng trong sự nghiệp của tôi.” Ba thập kỷ sau cuộc gặp gỡ định mệnh đó ở Biển Đông, Stephen Nguyễn vẫn không thể tin được vận may của mình. “Vâng, chúng tôi là những người tị nạn may mắn nhất và ở đất nước may mắn.”

Nai một sừng

Hồ Đắc Vũ / June 4th, 2020

Mặt trời xuống, những mảng sáng chập choạng, loang lổ qua cánh rừng phong bạt ngàn.

Buổi tối tới sớm hơn ở miền núi, 4 giờ chiều, sương lạnh phủ đầy, lớp hơi nước mù mặt đất, Chavez về tới nhà, anh đẩy cổng. Bỗng cơn lạnh tràn lưng.

Chập chờn dưới bóng tối, cánh cửa chính bị phá một lỗ lớn, nghiêng qua.

Anh thụp xuống, mở đèn săn, đưa cây súng 2 nòng trước mặt, từng bước thận trọng…

Có ai đã phá nát cửa nhà anh.

Chavez chạy qua phải, áp sát cửa.

Góc trái, của cánh cửa nát do một sừng nai ghim vào, máu đông lại chảy thành mảng lớn, tanh rình.

Chavez vô nhà.

Anh kéo chiếc bàn, đè cánh cửa bể, lấy mấy tảng gỗ, bỏ vô chiếc lò gang, nổi lửa, đặt khẩu súng trên bàn, cởi chiếc áo da nhồi bông, treo trên vách, bước tới lò, đốt chiếc đèn gaz, đặt bình cà phê, lấy que sắt, khơi khúc gỗ cháy rực.

Nửa chiếc sừng nai gãy, đầy máu, cánh cửa toang hoác, điều hung dữ đã tới, con nai muốn thí mạng với mình! Ðược!

Anh kéo bao da trên nóc tủ, lôi khẩu 12 ly, một nòng, vô đạn, đặt trên bàn, ngang với khẩu 2 nòng, lấy bình rượu bắp, rót ly đầy, cắt miếng thịt nai xông khói treo trên bếp, bước tới sau tủ lôi bao khoai tây, chọn 4 củ, để lên mặt lò.

Bữa ăn của một ngày săn bắn mệt nhọc với thịt nai, khoai tây nướng, rượu bắp và 2 khẩu súng săn lên đạn, đặt ngay trên bàn và nỗi hoang mang về con nai một sừng.

Có tiếng động mạnh, như ai đang đá vô hàng rào.

Tất nhiên Chavez đã biết chuyện gì đang xảy ra, anh chụp khẩu một nòng, bước tới.

Hàng rào gỗ mù trong lớp sương dày, thấp thoáng bóng con nai một sừng đang đạp mạnh.

– Rầm! Rầm!

Chavez đưa súng lên, nó lẫn vô sương mù.

Chavez tiếp tục ăn bữa tối, lo lắng nhìn chiếc cửa gỗ, đã rớt ra từng mảnh. Xong bữa ăn, Chavez, kéo chiếc tủ, che kín cửa, chừa một khe nhỏ bằng bàn tay, đủ để quan sát bên ngoài, anh đặt 2 khẩu súng trên ghế dài, trong tầm tay.

Chavez nốc ly rượu bắp nặng độ, cay sè, nằm xuống giường, kéo tấm mền lông gấu dày.

o O o

Buổi tối miền núi lạnh, sương mù…

Sau khi giải ngũ vì hư mắt phải do mảnh lựu đạn trong cuộc phục kích của phiến loạn tại Bosnia, Chavez về tới vùng núi rừng quê hương Arano, thuộc vùng Navare, Tây Bắc Tây Ban Nha, sát nách Pháp. Với số tiền trợ cấp thương binh và căn nhà gỗ của Ba anh để lại, gồm một phòng ngủ nhỏ, bếp, phòng khách, ít vật dụng làm vườn, 2 khẩu súng săn 10 hộp đạn, phụ tùng đi săn dài ngày trên núi như túi da đựng rượu, bộ dao xẻ thịt thú, lều và đồ ngủ, ít đồ dùng trong nhà và món tiền 90,000 peseta (600 đô Mỹ), cùng với Don – con ngựa già – và 40 chú gà. Tất cả được họ Ðạo khu vực, trao lại cho Chavez sau buổi lễ cầu nguyện cho cha mình tại nhà thờ bên kia rừng.

Chừng ấy của cải, với trợ cấp thương binh và sức khỏe của một người lính rừng Tây Ban Nha, đủ cho Chavez bắt đầu cuộc đời yên ổn mới tại Arano, nơi chôn nhau cắt rún.

Mỗi tối cuối tuần, Chavez thường ghé Bar Tapas đầu làng, làm vài ly rượu bắp cay xé cổ với nai, chồn nướng, lè nhè kể về những ngày tác chiến, chừng 2 giờ sáng, khi ngà say, anh lên ngựa, về nhà lăn ra ngủ. Sáng dậy sớm, thu trứng gà, rau cải, bán cho quán tạp hóa cuối làng.

Tối nay, thứ Bảy, trăng đầy, trắng cả rừng, Bar làng đầy tiếng nói cười, tiếng đàn Guitar.

Chavez nốc ly lớn rượu bắp, cắn miếng thịt chồn nướng, nhai nhai, quẹt tay áo lau miệng, anh vừa nấc cụt, vừa kể

– Trung đội viễn thám… Híc! Của tao đang băng qua những mỏm đá chiều hôm đó thì…Híc! Gặp phục kích!

Ông già Corsi ngồi bên phải quầy, tiếp theo:

– Ðùng! Trái mìn nổ! 2 thằng tiền sát chết ngắt! Tụi tao dạt ra hai bên…

Anh chàng râu quai nón vàng hoe như râu bắp, chơi guitar bên cửa sổ, đưa tay.

– … Bắn xả láng vô những bụi cây, hốc đá chung quanh… Cây đại liên quạt mạnh, tụi nó chạy như dê núi!

Chavez, cầm ly rượu, quay lại.

– Tao nghe tiếng thằng chỉ huy léo nhéo…

– Mẹ! Rút! Nổ dữ quá!

– …Nên ra lệnh phản công…tụi tao tưới đạn, đại liên chơi từng tràng, tao rượt theo một thằng…

Anh phục vụ đặt 2 ly bia xuống bàn, nói:

– … Nó núp vào tảng đá, tung quả lựu đạn, tao mất đà, té xuống, lăn một vòng.

Chavez vung hai tay lên trời.

– Ầm! Lựu đạn nổ!

Ông rót rượu, đứng sau quầy, thở dài.

– Lạy Chúa! Chỉ một mảnh nhỏ cắt ngang mắt… Nếu mảnh lớn thì…

Ổng đẩy tuột ly rượu vừa rót trên mặt quầy gỗ, Chazez chụp lấy.

– …Thì cha nội Chavez đã không có mặt tối nay với các bạn!

Anh nâng ly.

– Ô la!

Mọi người nâng ly, cùng la Ô la! Ô la…

Tiếng Ô la thứ 3, thường lệ bỗng ngưng bặt.

Cánh cửa sồi cũ kỹ mở một khoảng nhỏ, người áo đỏ lách nhanh vô, đóng cửa.

– Chào mọi người.

Những tiếng ly để xuống bàn.

– Xin chào!

Cô gái bước tới, dưới ngọn đèn gas trên trần.

À! Một cô Du Mục, tóc xoắn, áo đỏ đốm trắng, đầm đen.

Cô ngước đôi mắt to, nói.

– Tôi là Dika, có thể múa cho các ông coi và đổi lại ít rượu, thịt?

Mọi người lặng thinh.

Mấy ông già quay chỗ khác vì keo kiệt và không còn hứng thú vụ múa.

Anh trai trẻ chơi guitar có vẻ nghèo với chiếc áo da dê và đôi bốt vẹt đế, làm bộ nhìn ra cửa sổ, vờ đi.

Chủ quán nhún vai, vì bà vợ mập ú đang trong bếp, thò đầu ra.

Chỉ còn Chavez.

Hôm nay thứ Bảy, trăng đầy, đêm của sói, đêm của đàn ông căng đầy dục tình, nên Chavez nổi máu.

Anh bước tới, đưa tay chào.

– Cô múa đi, tôi mời rượu và một con chồn nướng mới ra lò!

Cái Bar nghèo nàn, lạnh ngắt vùng núi bỗng sôi nổi hẳn lên, anh đánh guitar chơi những bài dân ca Tây Ban Nha rộn ràng. Cô Dika hát không hay, múa cũng không giỏi, nhưng uống rượu tốt và có cái mông, theo Chavez, tròn và đẹp như mông con bò rừng.

2 giờ sáng, Chavez say tới bến, ông Donez, chủ Bar xốc chả nằm lên ngựa, hỏi Dika.

– Cô về đâu?

Chavez còn cố lè nhè.

– Về nhà tao!

Vậy là Dika theo sau con ngựa chở Chavez về nhà.

4 giờ sáng.

Chavez tỉnh dậy.

Căn nhà vắng tanh.

Nghĩ tới lời đồn đại về tính trộm cắp của người du mục, anh phóng xuống giường, quấn chiếc mền lông quanh người, chạy tới cửa, rờ tay lên mái gỗ.

– À! Còn!

Số tiền dành dụm gói trong bọc da chồn vẫn còn đó, anh ra ngoài, gọi lớn.

– Dika! Dika!

Không một tiếng trả lời, nhìn qua chuồng ngựa… Dika đã biến mất với con ngựa, phương tiện di chuyển duy nhất của mình.

Chavez ôm mặt, ngồi trên giường, buồn cho cái ngu đêm qua.

Chừng vài phút, có tiếng chân ngựa trước nhà, anh mở cửa.

Dika bước vô, đặt túi da trên bàn, lôi vò rượu bắp, bình sữa, bao trứng, phần thịt nai tươi, ổ bánh mì lớn, bắp cải, cà rốt, khoai tây.

– Xin lỗi!

Cô rót ly sữa, đẩy tới Chavez, một ly cho mình.

– Em dậy sớm! Thu trứng gà, cắt 20 cái bắp cải, lấy 4 tấm da chồn đen, bán dưới làng.

– Nhưng da chồn chưa xong!

Dika nhún vai, lấy chảo nhỏ, chiên 4 trứng cho Chavez, 2 trứng cho mình, kéo anh ta ra bàn, Dika ngồi xuống.

Chavez mở miệng.

– Tại sao?

Dika cắt 2 lát bánh mì lớn, đặt vô dĩa.

– Ăn đi! Tại sao thì chút nữa biết!

Hai người ăn.

Dika cười đằm thắm.

– Chavez! Em muốn ở lại đây với anh như một gia đình…

Chavez há miệng, miếng bánh mì rớt xuống dĩa

– … Em làm vườn, nuôi thêm gà, phụ giúp anh. Sẽ không múa nữa.

Dika lượm mẩu bánh mì rớt trên dĩa, bỏ vô miệng Chavez.

Chavez ú ớ.

– Ược! Ược!

Anh nuốt trộng mẩu bánh, đứng dậy ôm Dika.

– Quá được em! Anh yêu em!

Vậy là mái ấm gia đình của Chavez và Dika ra đời ở vùng núi Arano.

Ðêm đó Chavez, Dika, khai trương cuộc sống chung bằng một bữa nhậu tận mạng với mấy người trong Bar Tapas, coi như mừng đám cưới, tối Dika hát bài du mục thật vui, dắt ngựa, chở Chavez về.

Chavez, bắn giỏi, ngày nào cũng có thú, nhất là những ngày cuối Thu, có khi anh bắn cả chục con Ngỗng trời.

Dika, trồng rau cải, nuôi đàn gà lớn, lợi tức cho hai người cuộc sống vừa đủ.

Ba tháng, trước khi gặp Dika.

Trời đổ lạnh, băng tuyết cả khu vực, mùa săn nai bỗng khó khăn.

Trưa, trời ấm, tuyết tan róc rách, Chavez, co người trong hốc đá, nhìn xuống con suối nhỏ, đóng băng, nai thường ra đập nát băng, uống nước.

Ðúng như mong đợi, chừng 10 phút, một con nai cái từ bìa rừng tung tăng chạy tới, sau đó là anh nai đực, hai đứa quay vòng, lăn ra tuyết. con đực leo lên lưng người bạn tình…

À! Tụi này đang mần tình, nhưng xin lỗi cho tình yêu, bây giờ thì tao cần sống… Anh đưa súng lên.

Nếu bắn khéo một phát, tao sẽ lượm luôn 2 con, lúc này nai khó tìm!

– Ðùng!

Con nai cái bật té, chết, con đực té theo, nhưng vùng dậy, chiếc sừng bị gãy một phần, còn lại đoạn ngắn, nó lảo đảo quanh con cái, liếm vết máu từ mắt của người tình, rồi quay lại, bước chậm tới gần hốc đá, đưa cặp mắt đỏ như sói nhìn về hướng Chavez, nơi phát súng đã giết chết người bạn tình, nó giận dữ đập hai chân, nhào vô, Chavez phóng ra khỏi hốc núi lăn tròn, siết cò.

– Ðùng!

Con nai biến mất.

Chavez không mảy may bận tâm con nai, anh kéo xác nai chết, ra lùm cây, cột trên ngựa, về nhà.

Khu rừng chập choạng tối, tới mỏm đá trên dốc núi, Chavez giật mình, ngựa khựng lại, lồng lên.

Con nai gãy sừng, đứng đó từ bao giờ, cặp mắt tóe lửa trừng trừng nhìn Chavez, anh chưa kịp phản ứng nó đã lao tới, đâm thẳng, chiếc sừng xé một đường sâu bên hông ngựa, con ngựa đau đớn té xuống, kéo theo Chavez, nhưng anh còn đủ bình tĩnh, quay súng trên vai, nổ một phát.

Chavez nhìn chung quanh, con nai gãy sừng biến mất.

Bây giờ thì chuyện đã rõ ràng, thường thì nai ít khi tấn công người, nhưng con nai gãy sừng tấn công, vì anh đã giết bạn tình của nó.

Chavez tẩm ít rượu mạnh trong chiếc khăn vải, đắp lên vết thương cho con ngựa, thận trọng về nhà.

Vài hôm sau, suốt một ngày săn vất vả, anh chứng kiến chiếc sừng nai đâm lên cánh cửa bị phá nát.

Linh tính của một người lính, của một thợ săn cho biết, con nai một sừng đã gởi đến Chavez tín hiệu của sự quyết tử: Giữa chúng ta có mối thù, tao sẽ đòi món nợ sát nhân này.

Chavez không kể chuyện này cho Dika, người vợ mới của mình.

– Khi anh không có nhà, hoặc em ra ngoài vườn, đi rừng, nhớ mang theo khẩu 12 ly.

Dika đang nhồi bột bánh mì, quay lại.

– Tại sao?

– Mùa này ít thú săn, sói thiếu mồi, hay lảng vảng gần nhà!

– Anh tưởng em là cô bé choàng khăn đỏ à?

Dika đặt chân lên bàn, trên bắp chân thon là con dao trong bao da, cột quanh đùi.

– Dao này không ăn thua với con nai đó!

– Nai nào?

– À! Mấy con sói!

Chavez bước tới ôm Dika.

– Em nhớ! Sói đi từng đàn, dao của em chỉ cắt được cái đuôi, súng vẫn tốt hơn. Em nên cẩn thận.

Bữa tối qua mau, Dika dọn dẹp, vô phòng ngủ.

Chavez xách súng, đi một vòng ngoài vườn. Anh có cảm giác, con nai một sừng vẫn quanh đây. Ðợi dịp để trả thù.

Khi đóng cửa, Chavez bỗng thấy hai đốm đỏ phía trước.

Lẫn trong màn sương mù bốc lên từ đất, con nai một sừng đứng yên như pho tượng, ngoài hàng rào.

Chavez đưa súng lên, nó biến thật nhanh.

Anh lặng lẽ vô phòng, Dika đã ngủ yên.

Tuyết rơi lất phất. Chavez dậy từ sáng sớm,

– Hôm nay anh săn chồn gần đây, không cần ngựa.Anh đeo túi, đặt cây súng 12 ly lên bàn, bước ra cửa, còn dặn Dika

– Anh để sẵn, khi em cần.

Dika làm việc nhà, chuẩn bị bột và trứng, bánh mì.

– Sinh nhật của Chavez chỉ còn vài ngày, hay mình ra tiệm mua ít rượu ngon.

Dika đeo khẩu súng trên vai, lấy ngựa, ra khỏi nhà.

Nắng heo hắt soi làn bông tuyết rơi nhẹ, con đường vô làng đã phủ lớp trắng, mấy người quen chào Dika.

– Hê Dika! Khỏe không?

– Cám ơn! Mình đi mua rượu đây.

– Tối nay hai người say?

– Không! Sinh nhật Chavez sắp tới.

– Woo! Xin chúc mừng trước!

– Cảm ơn.

– Chúc phúc hai người. Chavez và cô Du Mục tử tế!

Dika la lớn.

– Ố la!

Tới Bar Tapas, Dika lấy 2 lít rượu bắp, 4 cái xúc xích heo sấy, và không quên mua một ly rượu cho mình.

Nhưng! Dân Du mục không bao giờ uống một ly rượu!

Cho nên.

Dika lè nhè với ông rót rượu.

– Rót cho đủ một lít luôn!

Dika làm sạch cái “Cho đủ một lít luôn”, lên ngựa, về nhà.

Mới 3 giờ chiều, tuyết rơi, núi rừng âm u tối.

Dika nằm dài, ôm cổ con ngựa.

– Hic! Don! Về nhà giùm cái! Tao phê quá. Coi như mừng sinh nhật Chavez hơi sớm!

Don, con ngựa già cúi đầu, đi từng bước chậm như sợ làm thức cái lè nhè của Dika, qua khỏi mỏm đá, một đoạn rừng phong, nhà đã thấp thoáng trước mặt.

Bỗng con ngựa dừng lại, đập chân cộp cộp trên mặt đường.

– Cái gì? Don.

Dika đã bớt say, cô ngẩng đầu.

Gần cổng nhà, con nai một sừng đứng dạng hai chân trong thế tấn công, đôi mắt đỏ ngầu, trừng trừng nhìn Dika.

– Ô! Vậy là khỏi săn xa! Mồi ngay đây rồi.

Cô đưa súng lên, nhưng không kịp, con nai phóng thật nhanh tới, đâm thẳng, Don lồng lên, quay lại, tung cú đá, Dika rớt xuống, khẩu súng văng đi, nai một sừng trúng cú đá của Don ngựa già, nó giập phổi, rớt xuống, nhắm ngay hạ bộ của Don, đâm mạnh. Chiếc sừng nai duy nhất cắt một đường dài từ hạ bộ đến bụng con ngựa, máu đỏ phun có vòi trên mặt tuyết trắng, Don hí lớn dập thêm cú đá tiếp.

Dika, cố bò tới, tay chạm vô đầu khẩu súng, cô kéo mạnh.

Con nai một sừng đã nằm đó tự bao giờ, hắt hơi thở.

Dika lui lại, con nai bây giờ to lớn như con bò, chân đè trên cò súng, cặp mắt nhắm nghiền bỗng mở to, đỏ ngầu, một chân run run đưa lên…

Dika, không nghĩ rằng nó có thể bắn súng!

Nhưng!

Con nai một sừng đã đập mạnh vô cò.

Khẩu 12 ly nổ lớn!

Tiếng súng nổ làm Chavez băng rừng, chạy thục mạng về nhà.

Trước cổng, con ngựa Don chết lòi ruột trong vũng máu, con nai một sừng chết lè lưỡi, Dika bị bay mất bàn chân, ngất xỉu.

Chavez gục xuống khóc.

Con nai một sừng đã trả được mối thù cho cái chết của người bạn tình.

Máu đã trả bằng máu, nhưng không trả vô mình, mà đã vấy tới Dika, người vợ vô tội của Chavez!

o O o

Khi Dika chập chững chống nạng tập đi, cũng là lúc Chavez nhận giấy định cư Mỹ.

Ðêm đã khuya, tôi uống hết ly bia, bắt tay Chavez, cúi đầu chào Dika.

– Mọi chuyện rồi sẽ tốt đẹp hơn.

Chavez cười, chỉ Hugo.

– Cũng nhờ người cháu này.

Tôi quên nói. Hugo, bạn tôi là cháu của Chavez, người bảo lãnh ông và vợ tới Mỹ.

Tôi ra về, lái xe mà vẫn miên man về con nai một sừng.

Tình yêu của nó quá lớn!

Hong Kong Plight of the Boat People

Larry Kohl

National Geographic, February 1991

Photographs by Jodi Cobb.

Tuyệt vọng để đấn một bến bờ, một chiếc thuyền của người Việt Nam bị bắt giữ gần đảo LanTau bởi cảnh sát Hong Kong. Một trong số người tị nạn xuất trình một bức thư với hy vọng chứng minh được mối liên hệ của ông với chính quyền thuôc địa Pháp vào thập niên 1950 và các thông tin của ông như một người tị nạn chính trị với mối lo sợ rằng ông ta sẽ bị ngược đãi nếu quay trở về Việt Nam. Rất nhiều tài liệu như vậy, hầu hết đều được thuyền nhân chú ý, sau thanh lọc, như người tị nạn kinh tế, chạy trốn khỏi sự nghèo đói ở Việt Nam. Họ có thể ở trong trại tạm giam hay trở về xứ sở của họ.

Những cư dân mới này đã vượt qua hằng trăm dặm từ ngoài biển khơi của Việt Nam. Tuy nhiên, chính phủ Anh, khẳng định rằng hầu hết người tị nạn vượt biên bằng đường bộ, sang Tàu, rồi từ đó lên Tàu đến Hong Kong chẳng bao xa.

Chen chân vào bất cứ nơi nào còn chỗ trên đất Hồng Kông nghèo nàn, trung tâm giam giữ thuyền nhân tị nạn Việt Nam nằm cạnh hồ chứa High Island (ở trên). Hiện tại có 14 trại chứa khoảng 55,000 thuyền nhân đang chờ thanh lọc, hồi hương hoặc tái định cư. Bên trong những ký túc xá bằng bê tông và kim loại khổng lồ, cả gia đình ngủ cùng nhau trong những chiếc kệ như giường tầng. Dưới sự căng thẳng giữa các phe phái Việt Nam lẻ tẻ bùng phát thành bạo lực.

Bị cấm rời khỏi các trung tâm giam giữ, những người bị giam giữ ít được phép ra ngoài trời, nơi họ xếp hàng ăn trưa (bên dưới) dưới sự giám sát chặt chẽ.

Tù nhân vô tội, những trẻ em thuyền nhân phải trả giá rất đắc cho việc giam cầm của họ, ngay cả trong các trại mở. Ở Sham Sui Po, đã đóng cửa, cô gái trẻ bị xiềng chân bởi dây lòi tói từ cha mẹ để giữ cho cô khỏi đi lang thang. Không giống như những đồng hương của họ ở các trung tâm giam giữ thuyền nhân, khoản 9,000 hoặc số người tị nạn chính trị có thể tự do ra vào trại trong khi chờ đợi đi định cư. Một số người còn có việc làm ở Hong Kong.

Từ 1976 đến giữa năm 1988, khi chương trình thanh lôc bắt đầu, hơn 100,000 thuyền nhân Việt Nam đổ xô đến Hong Kong, nơi  được người Việt thường nhắm đến. Tuy nhiên, giờ đây, các quốc gia phương Tây đã thắt chặt chính sách nhập cư của họ sau một thập kỷ được đối xử dễ dàng.

Hong Kong với sự đồng ý của Cao ủy LHQ về người tị nạn, bị phản đối khi áp dụng chính sách hồi hương cho những  di dân kinh tế. Khoảng 4.500 người đã tự nguyện hồi hương. Chỉ có 51 người được hồi hương trái với ý muốn của họ – một thủ tục bị quốc tế ngăn chặn.

Nhìn xuyên qua bức tường lưới thép của căn phòng trọ của cô, một thiếu nữ Việt Nam có cha mẹ tị nạn đang chờ bước định cư với cuộc sống tự do ở phương Tây. Trong khi đó, hàng ngàn thanh niên Việt Nam khác đang sống mòn mỏi trong những trại giam cùng cha mẹ cho đến khi tình trạng của họ được giải quyết hoặc họ được hồi hương. Với một vài trường hợp ngoại lệ, người Việt Nam không được chấp nhận tái định cư tại Hồng Kông.

Người Hong Kong đặt câu hỏi tại sao lại phải như vậy, khi áp lực chính trị và dân số buộc họ phải đóng cửa với những người Trung Quốc? Cảm thấy bị mắc kẹt giữa các điều mâu thuẫn, nhiều điều trong chính sách thuộc địa đã không được chấp nhân.

Họ đã trở nên mất kiên nhẫn với gánh nặng chăm sóc cho những người Việt Nam nghèo túng vì đến thời điểm năm 1997 buộc họ phải cân nhắc liệu bản thân họ nên ở lại Hồng Kông hay di cư sang phương Tây.

Larry Kohl

Nhập thất

Thơ Lâm Chương

Khi bị nhốt trong phòng kỷ luật

Ta bỗng dưng thành một nhà tu

Tổ Đạt Ma chín năm diện bích

Còn ta ngồi đối vách âm u

Giữ trường chay khoai mì nước lã

Thân nhẹ tênh gầy guộc xương da

Đã có lúc sắp về cõi Phật

Nhập linh hồn vào chốn bao la

Ngồi tịnh khẩu một mình bóng tối

Sống cầm hơi thoi thóp từng ngày

Thời gian chậm như ngừng hẳn lại

Và cuộc đời như muốn buông tay

Sợ nhà tu bay vèo đi mất

Nên chiếc cùm khoá chặt đôi chân

Lũ rệp đói tha hồ hút máu

Lòng từ bi bố thí chúng sinh

Lớp rơm rót lâu ngày ẩm mục

Thay bồ đoàn thiền toạ công phu

Việc tiêu tiểu cho vào ống nước

Đã quen mùi đâu ngại sạch dơ

Sống đơn bạc cà sa chẳng có

Chỉ chiếc quần xà lỏn che thân

Đêm gió núi lùa qua khe hỡ

Dù khổ tu củng thấy rùng mình

Lúc đói lã ta nằm điều tức

Đếm ra vô hơi thở nhẹ nhàng

Chuyện sinh tử sáng chiều ai biết

Suy nghĩ nhiều e bị vọng tâm

Thân xác nhẹ sao lòng nặng trĩu

Kiếp phù sinh chưa hết oan cừu

Ngại khi chết khó bề siêu thoát

Hồn quẩn quanh theo ám kẻ thù.