ELDORA

Hồ Đắc Vũ

July 2nd, 2018

* Hello! Cô bạn nhỏ Eldora.

Làm sao tôi không viết về Eldora được!

Cô rất fun.

Máu Tây Ban Nha và Mỹ trộn nhau trên khuôn mặt vuông, tóc đen, mày đen, mắt xanh, cặp môi dày, vểnh lên như sẵn sàng nhận một cái hôn tình nguyện.

Cô ta thon như gái Âu Châu, chạy jogging, tập yoga mỗi tuần.

Cô ta tốt nghiệp trường nhạc Berklee, chơi saxo không kém gì John Gilmore, Bud Shank, hát cũng cỡ Adele.

Cô ta uống bất cứ rượu gì như uống nước, và say ngất ngư, phì phèo đủ loại thuốc lá, xì gà, nhưng không ghiền.

Cô ta yêu âm nhạc, mê cái mượt mà của Chopin, cà giựt như Rapper Eminem, tỉ tê kiểu Frank Sinatra, nhóm nhạc bay cần sa Pink Floyd, ru ngủ cổ điển Sarah Brightman, metal như Katatonia của Thụy Điển hoặc loại Pop với Ed Sheeran trẻ măng.

Cô ta khoái Macbeth của Shakespeare, One day in the life of Ivan Denisovich của Alexander Solzhenitsyn và Truyện Kiều tiếng Anh của Phan Huy dịch.

Cô thích sex và các loại đồ nướng hot & spicy, bún bò Huế.

Cô yêu nhiều lần, lần mà tôi biết là bồ của Hugo, làm chung gần 10 năm ở Animation House.

Và Eldora 34 tuổi, tuổi đẹp nhất của đàn bà.

Eldora chơi saxo cho những bar nhỏ, vùng Cambridge, cặp bồ với Hugo được 3 năm, sinh đứa con trai được 5 tháng, cô thất nghiệp, thiếu tiền, thiếu rượu, mất vui, nên:

– Hugo! Em qua New York tìm việc!

Chiều thứ 6, xách ba lô vải bạt, cõng trên lưng chiếc saxo, Eldora lên đường.

Tối Chúa Nhật phone về cho Hugo.

– Hello Hugo! Em có việc ở bar Midlife, khu Manhattan, New York, chơi nhạc mỗi thứ 6, 7, $200 một show, thứ 2 về.

– Anh mừng cho em.

Eldora đủ tiền ăn xài, uống rượu, phụ Hugo mua sữa cho con.

Qua lại New York chừng 6 tháng.

Amir Ahmad, tay playboy Ả Rập, chủ bar Midlife, cười:

– Tôi có thể mời cô ăn tối thứ 6, khi xong show?

– Well! Ông tốt quá. Tôi sẽ không dám từ chối.

Chúa chết ngày thứ 6, Eldora lâm nạn ngay đêm thứ 6.

2 giờ khuya, Le Coucou nhà hàng sang ở New York.

2 chai Grand Cru, 2 chai Chivas 25 năm, 100 con sò sống, 2 miếng bò Kobe 12oz, 2 đùi thỏ Ý nướng rượu chát, 2 đĩa xà lách trộn cá Sardine Tây Ban Nha.

Eldora bay tới Nha Trang, Amir tỉnh như con sáo!

Amir:

– Khuya rồi, về nhà anh?

Rượu ngon đầy người, sò sống đầy bụng, bò Kobe, thỏ Ý rần rần, Eldora nổi máu bò cái, giờ này biểu xuống hỏa ngục cô cũng đi, huống gì là về với Amir.

– Về luôn!

Tối đó Amir mần trận sex thịnh soạn.

12 giờ trưa, đồ ăn giao tận căn phòng ngủ có hồ bơi nhỏ và bar rượu ở khu Condo deluxe west New York.

Eldora lảo đảo bước ra, bèo nhèo như con mèo ngâm nước.

Amir ôm.

– Ăn sáng em.

– Cám ơn!

Ăn xong, Eldora ngủ tới chiều. Amir cho người rước cô dùng bữa tối tại du thuyền của mình ngoài biển New Jersey với những playboy có tiếng ở New York. Tối đó rượu mạnh và bạch phiến lẫn lộn trên chiếc bàn đầy những cánh hoa lan tím khiến Eldora mọc cánh, bay tới trời xanh… Cô không còn biết gì, chỉ nhớ Amir bồng vô phòng và mẻ làm tình quá mạng.

Suốt mấy ngày trời ăn chơi tới chốn, Amir đã tóm gọn con cá vàng Eldora.

Làm sao mà cô có thể từ bỏ nơi ăn ở sang trọng, rượu mắc tiền và…

Amir đặt chiếc chìa khóa trên ngực Eldora.

– Tặng em chiếc Lexus 450, đậu dưới garage. Em ở đây với anh, coi dùm cái bar, anh chi em $5,000 tiền lương, mỗi show thêm $1,000, vậy là $10,000 một tháng nhẹ nhàng.

Eldora ôm Amir.

– Cám ơn anh!

Cuối tuần, Eldora lái chiếc Lexus về Boston.

Eldora mời Hugo ăn tối ở tiệm Ý Regina pizza, gần nhà, cô gọi một cái scampi, một thịt, salami, chai chát đỏ mắc tiền Montoya cho 2 người.

Hugo:

– Em khá?

– Đủ chi tiêu.

– … Mua xe mới!

– Ờ!.. Mượn của bạn.

Hugo cắt miếng pizza scampi bỏ vô đĩa cho Eldora, rót đầy 2 ly chát.

– Ăn em!

Anh cụng ly.

– Chúc em khỏe, làm nhiều tiền.

Eldora cười:

– Chúc anh như vậy.

Chai rượu cạn, pizza hết, Eldora nhìn Hugo, ái ngại dựa ra ghế.

Hugo đọc được ánh mắt của cô.

– Em có gì muốn nói?

– Hugo! Em muốn nói với anh…

– Em nói!

– Em nói thật lòng mình…. Em đã có việc làm tốt đẹp ở New York nên sẽ ở luôn bên đó.

Hugo đưa tay:

– Còn anh và thằng Uno thì sao?

– Anh ở lại làm việc và lo cho nó!

Eldora cúi xuống, như muốn che bớt những sai trái của mình.

– Em không thể nghèo hoài. Em không còn thì giờ đợi sung túc tới. Mấy năm qua đã không làm gì được ở đây. Những ngày tháng sống hẹp hòi với anh quá đủ. Em phải tự sắp xếp đời mình!

Hugo khoanh tay nhìn Eldora, người đã cho anh đứa con trai và sống với anh những năm qua… Không lẽ mọi chuyện thay đổi buồn bã như vậy sao?

Anh thất vọng:

– Anh biết, anh sẽ không ảnh hưởng được gì về quyết định của em. Cám ơn đã thành thật.

Hugo gọi tính tiền.

– Sẽ có một ngày em hối hận!

Anh trả tiền, ra khỏi tiệm.

– Em có thể đưa anh về!

– Anh đi bộ. Như mọi khi. Bye!

Hugo nhìn theo chiếc Lexus cho đến khi ánh đèn đỏ quẹo phải khuất dưới ngã ba đường.

Anh thở dài.

Eldora, Hugo không còn với nhau.

…

Eldora vui vẻ sống ở New York với Amir, cô vẫn gởi tiền về cho thằng con Uno.

Hugo vẫn làm việc ở hãng phim, giao pizza mỗi đêm để kiếm thêm, Visa làm việc tại Mỹ sắp hết hạn là mối lo lớn cho anh bây giờ.

Năm sau.

Amir mở thêm cái bar Midlife plus ở New Jersey.

New York bắt đầu lạnh, lá vàng, lá đỏ, mùa Thu đã tới tuần rồi.

Amir rót 2 ly đúp Scotch, đưa một cho Eldora.

– Anh đi Thượng Hải.

– Du hí?

– Tìm ban nhạc chơi khai trương bên Midlife Plus. Phải hay, lạ, câu khách ngay từ đầu.

Thứ 6 Amir bay Thượng Hải, thứ 2 về, tuần sau ban nhạc 3 người Tàu có mặt cho đêm khai trương bar Midlife Plus.

“Ban tam tấu Thượng Hải tái sinh Mozart”. Bớt giá 50% thức uống sẽ hồi sinh các bạn.=”

Xin thân mời!

Bảng quảng cáo sáng rực trước cửa, đêm khai trương Bar Midlife Plus chật cứng, thiên hạ xếp hàng cả giờ để có chỗ vui chơi, thưởng thức Mozart tái sinh.

Anh Tàu trẻ chơi cello, anh già chơi piano, cô Tàu Jinxi Cheng, mắt hí, mơn mởn trong bộ sườn xám kiểu Thượng Hải, xẻ một đường quá dài bên hông, đưa cái chân thon hồng lấm tấm lông măng như show girl và cô ta chơi cái violin rất lạ.

Amir:

– Cô ta chơi violin Tàu?

Eldora:

– Không phải violin! Violin 4 dây, chơi ngang vai, cái này 2 dây chơi trên đùi.

– Vậy là gì?

– Đàn 2 dây…Tàu. Em biết Việt Nam có đàn giống như vậy, gọi đàn cò.

– Đàn gì cũng được. Cô ta tái sinh Mozart là ngon rồi. Hốt bạc cái chắc.

Đúng là đầu Amir có não kinh doanh, cô Tàu đẹp hơ hớ, đùi dài thòng, chơi nhạc Mozart bằng đàn cò Tàu, dư điều kiện ăn khách.

Lạ, hay, là trúng!

Ha! Ăn tiền cái chỗ: Cô Tàu rất TÀU, mặt hoa da phấn, mày liễu, môi hồng chúm chím trái tim, cằm nhọn, cặp mắt như sợi chỉ nằm ngang mặt… Đầy chất Tàu nội địa, thuộc loại hàng hiếm trong thời buổi thẩm mỹ dao kéo này!

Amir trúng thì cô Tàu cũng trúng! Chơi đàn cò hay, nhưng Mozart hồi sinh nhờ màn co chân chiến lược. Cô mặc bộ sườn xám lụa mỏng trắng tinh, cái gáo đàn cứ cò cưa ngay chỗ đó, lâu lâu ở những đoạn dồn dập, cô co chân bày hàng… Chiếc sườn xám ẩn hiện… không một mảnh đồ lót!

Phải nói cô Jinxi thừa hưởng chút hơi của Võ Tắc Thiên nên chiêu này lợi hại vô cùng, bài nào khách cũng tip, Mozart hồi sinh thì ít, nhưng mấy tay playboy hồi xuân thì nhiều, nên tip vô tay Jinxi cả ngàn mỗi đêm!

“Đàn cò Tàu hồi sinh Mozart” Rung rinh giới chơi đêm Manhattan, bar Midlife phải bán vé trước cả tuần.

Amir hốt tiền, Eldora, Jinxi lượm tiền.

Xong show, Jinxi về Tàu. Mùa đông tới.

Eldora không còn chơi nhạc, cô phụ làm barman, quán xuyến trông coi mọi chuyện cho Midlife Bar, Amir lo đếm tiền và la cà gái ghiếc, Eldora cũng không bận tâm tới những lời đồn cả Manhattan về tật xấu của Amir. Nhờ có nhan sắc, vui vẻ, đêm nào cô cũng kiếm gần $300 tiền tip, được bao nhiêu bỏ bank phòng thân.

Amir làm chuyện lạ khi bay đi Honduras mướn ban nhạc Nam Mỹ gồm 3 cô gái trẻ đẹp, chơi guitar flamenco, Amir lại hốt bạc mùa đông.

Thằng barman rỉ tai Eldora:

– Tụi nó cho hay chả mần hết 3 con một lúc! Một lần!

– Ở đâu?

– Bên Long Beach.Condo sang trọng, bạn tao quản lý.

Eldora cười:

– Chả vậy! Nhưng xong thôi. Có đeo con nào đâu.

Đúng là cho tới bây giờ Amir chưa đeo cô nào.

Amir:

– Anh qua Thượng Hải mang con Jinxi về chơi jazz, sẽ trúng.

Eldora:

– Có gì đặc biệt?

– Một cô Tàu mơn mởn, chân dài, chơi đàn cò với nhạc jazz. Không đặc biệt à?

– Có lý, bay liền đi anh.

Chuyến bay Cathay Pacific CX 811, New York – Thượng Hải, thứ Năm.

Tuần sau, Jinxi có mặt tại Midlife Bar trong chương trình: Jazz & Đàn Cò.

Dân chơi, dân hồi xuân thừa tiền bu lại Jazz & Đàn Cò, uống rượu, nghe đàn cò, coi đàn cò, coi cô Cò Jinxi có cặp mắt sợi chỉ và cặp đùi dài như chân cò.

Amir trúng show, Eldora trúng khách, bar Midlife đẻ ra vàng nhờ cái con Cò.

Những cha Mỹ sồn sồn, chủ công ty, chủ nhà bank, chủ cá độ, chủ nhà đòn, chủ đường dây buôn thuốc… có bao giờ nghe tới, biết tới đàn cò Tàu, đã vậy cò Tàu chơi nhạc jazz kiểu Harlem. Như Dương Quý Phi nhảy nhạc rap! Quý hiếm, lạ đời vô cùng. Và mấy cha sướng tê người. Bỏ tiền vui chơi.

Nhưng người trúng Jackpot lại là con Cò Jinxi.

Hermit, lại cái bẩm sinh, tay đánh piano thường trực cho Bar Midlife xù xì.

– Eldora! Cha nội Amir ấy con Jinxi rồi.

– Hồi nào? Ở đâu?

– Ngoài du thuyền của chả, đêm trước khi nó về quê.

Eldora nhún vai.

– Ăn chạy như mọi khi thôi. Có sao.

Nhưng trật lất. Kỳ này Amir lậm nặng đòn Tàu.

Cuối tháng, phát tiền xong, Amir hí hửng:

– Anh qua Mông Cổ tìm ban nhạc lạ cho mùa xuân.

Eldora:

– Họ chơi gì?

– Chơi đàn môi Tsuur với kèn sừng trâu Surnai, như clarinet, anh sẽ set thành concerto của Beethoven.

– Hay!

Vậy là Amir lên đường.

Nhưng… Cha không qua Mông Cổ tìm đàn môi, kèn sừng Surnai mà quẹo xuống Thượng Hải, tìm khách sạn Sheraton, downtown, phòng 1015.

Amir nhấn chuông, em Jinxi trong bộ sườn xám lụa mỏng, không đồ lót, mắt vẫn như sợi chỉ dưới trán.

Em ôm lấy Amir, đẩy vô phòng ngủ, Amir hấp tấp rót ly Scotch trên đầu giường, làm một hơi, nằm xuống, cô Tàu Jinxi chơi màn cò cưa tới sáng.

Hai người vui suốt 3 ngày, cũng đàn môi, kèn sừng… Nhưng không phải của Mông Cổ.

Amir vòng lên vùng núi Hunan lượm 3 anh Tàu chơi nhạc dân tộc vùng núi Tây Bắc.

Eldora hỏi:

– Đàn môi với kèn sừng Mông Cổ đâu?

– Tụi nó bị cúm, không qua được. Bên đó đang có dịch.

Eldora lại bận bịu với chương trình nhạc “Sáo Mèo Tàu và Bach” đang khởi sắc cho giới thưởng ngoạn và bợm nhậu New York tại Midlife Bar.

Đêm nào khách cũng xếp hàng, Amir giao hết cho Eldora, cô bơi trong đống tiền…

3 tháng sau. Em Jinxi lại có show ở Bar Midlife, lần này không Cò cưa mà chơi “Sheng”, loại nhạc cụ cổ truyền của Trung quốc, gồm 12 ống sáo tre gộp lại, nhạc công phì phà thổi vô ống chính tạo âm.

Amir:

– Anh cho cô chơi nhạc Beethoven, thằng Hermit đánh piano, đủ cặp!

Eldora bận bịu cho show “Sheng & Beethoven”, thiên hạ lại tung tiền uống rượu nghe Beethoven qua cái Sheng của cô Jinxi, nhìn cặp đùi dài, mơn mởn lông tơ, cặp mắt hí sợi chỉ, cái miệng son đỏ mút ra mút vô ống Sheng… Mấy cha hồi xuân giàu có say ngất ngư! Tiền vô đầy túi Amir, đầy bank Eldora… Còn Jinxi thì sao?

– Nè Eldora! Không phải tui ngứa miệng…

Thằng Hermit lại cái, mắt láo liên, xầm xì:

– Chả đang cặp với con Jinxi, xong show nó ở lại, không về Tàu.

– Sao biết?

– Bà ơi! Tui là dân nhạc, đồng nghiệp, thấy bà chịu chơi, dễ thương, không muốn bà khổ… Tui khai thiệt, cha Amir trả tui $50,000 làm hôn thú với con Tàu mắt hí, cho nó lưu trú tại Mỹ, còn mướn dài hạn căn condo delux, tui và con đó ở, trên danh nghĩa vợ chồng. Chả ghé về mần ăn đều đều. Bao nhiêu đổ vô thằng này. Lại cái như tui, mần gì được… Bà đừng giận tui. Tui ham tiền, ham nhà, làm đại.

Eldora bước tới bar, khui chai Macallan 25 năm, rót 2 ly đúp, cười lạnh:

– Cheer Hermit! Rất cám ơn tình bạn.

Eldora thản nhiên như không có gì xảy ra.

Lý do công việc, Amir vắng nhà thường xuyên.

Show cuối tuần chạy đều, Hermit vẫn đánh piano cho Jinxi thổi Sheng với những tác phẩm lẫy lừng của Beethoven.

10 giờ sáng thứ Năm.

Hermit đang ngủ, chuông cửa reng, anh vừa chửi vừa mở cửa.

Eldora ào vô như cơn lốc:

– Hermit, vui lòng cho Jinxi biết, tôi muốn nói chuyện.

Hermit mặt xanh lè, bấm máy intercom, Jinxi trên lầu bước xuống, áo ngủ lụa dài, không đồ lót.

Hermit che mặt vô bếp. Eldora cười:

– Chào! Tôi muốn nói chuyện với cô.

Jinxi:

– Chuyện gì?

– Chuyện quan hệ với Amir!

– Amir?

– Chuyện cô tư tình với ông ta!

Cô Tàu Jinxi nhún vai như Mỹ:

– Chuyện đó của tôi và ông ta, cô hỏi làm gì?

Eldora tái mặt.

– Cô có thể mở mắt ra nói chuyện… Được không?

– Tôi không nhắm mắt, tôi mở mà.

– Sao giống như ngủ? Mất lịch sự!

Jinxi cười:

– Tôi sinh ra mắt như vậy… vẫn thấy hết mọi thứ. Và tôi thấy cô đang sắp văng ra khỏi hũ nếp của Amir. Tôi thì bơi trong đó.

Eldora không ngờ con Tàu mắt hí này chơi cứng, Eldora đứng dậy:

– Tôi có giấy sống chung với Amir. Tôi sẽ làm ra trò với Luật sư.

– Ha! Tôi đã hỏi luật sư và Amir, đó chỉ là giấy sống chung vô điều kiện, bỏ lúc nào cũng được. Ok!

Jinxi chống nạnh.

– Hello… Eldora! Tôi đã ở Mỹ, sẽ là công dân Mỹ. Amir và tôi sẽ bảo lãnh 20 người trong gia đình tôi qua Mỹ… Đất hứa muôn đời. Dòng họ nhà tôi thoát cái nghèo khổ trăm năm cùng cực. Không một lý do, động lực… Hoặc một ai có thể cản ngăn điều mơ ước muôn đời đó…

Jinxi chỉ vô Eldora:

-… Kể cả cô!

Cô tha thước lướt nhẹ tới bếp, áo lụa dài bay bay như Tiên Tàu.

Jinxi kéo hộc tủ, rút con dao dài.

– Đây là sự sống còn của họ nhà tôi. Muốn chơi cỡ nào?

Cô chém xuống chiếc bàn ăn.

– Phập!

Chiếc dao dài rung rinh.

– Dân Thượng Hải không sợ đổ máu!…

Jinxi thủ thế thiếu lâm.

– Xin mời!

Tự ái và khinh bỉ bỗng nổi lên trong lòng, Eldora cười nhẹ:

– Cô đã quyết như vậy. Tôi xin chào.

Eldora xoay người, khẩu Beretta nổ một phát giữa hai chân Jinxi, dân chơi Thượng Hải té cái độp, xỉu.

– Mẹ! Chưa trúng đạn đã xỉu… Dân Thượng Hải không sợ đổ máu… Mà sợ súng! Con Tàu hí!

Eldora ra khỏi nhà, Hermit lại cái núp sau cửa, mặt xanh lè.

Chiều thứ Hai, bar Midlife đóng cửa.

Eldora ở nhà. Cô làm bữa snack ngon với trứng cá hồi đen, sardine nướng, rong biển tươi, khui chai single malt Lagavulin 25, làm 2 shot.

Amir thay đồ, lấy chìa khóa xe, bước tới hôn Eldora.

– Anh đi công việc.

– Rượu nhà, snack ngon, anh làm vài shot?

Eldora rót 2 shot vô ly đá, Amir nốc cạn.

– Ngon?

Cô hỏi.

Amir:

– Tuyệt. Bye em!

Eldora bước tới ngay cửa.

– Rượu nhà vẫn ngon? Sao không uống tiếp?

– Anh có chuyện làm ăn.

Eldora cười lạnh:

– Chỉ là chuyện mần ăn! Không phải làm ăn!

Máu bò mộng bốc lên.

– Tại sao anh chơi trò khốn nạn với tôi?

Amir mở to mắt:

– Trò? Trò gì em?

Cô cười:

– Ha! Anh tưởng suốt ngày làm cu ly cho anh nên tôi không biết!

Eldora rót ly Scotch, uống một hơi, đốt thuốc.

– Ê! Không được hút trong nhà này!

Cô ngước cặp mắt sắc như dao.

– F…k! Đâu phải nhà tao! Who care!

Eldora chỉ mặt Amir:

– Nghe! Mày trả 50,000 nhờ Hermit làm hôn thú cho con Jinxi, ở lại đây, ngày nào mầy cũng về condo thuê sẵn hú hí. Tao đã gặp nó, hỏi chuyện rồi. Đồ chó!

– Nó là bồ thằng Hermit! Đâu phải của tao!

– Thằng đó gay, không lấy đàn bà. Mầy chỉ làm tuồng. Tao có thể tha thứ những màn chơi chạy của mầy trước đây. Nhưng tao không tha một thằng hèn, thằng phản bội, thằng thất hứa, biển lận tình cảm.

Amir cười:

– À thì ra cô đã biết.

– Cả New York… Cả Manhattan đều biết chuyện chó chết của mầy.

– Vậy thì… Muốn gì?

Eldora cứng như thép:

– Hợp Đồng sống chung vô điều kiện, chia tay!

Amir khoanh tay, nhìn Eldora.

– Một thằng vô liêm sỉ, không có quyền xúc phạm một người đàn bà tử tế như tao.

Amir nhún vai…

Cha sai lầm! Cái nhún vai đã đổ xăng vô cơn lửa hừng hực của Eldora, cô gái Tây Ban Nha, từng uống máu bò mộng, nên cô nổi cơn bò cái, chụp lấy cây dùi đâm đá trên quầy Bar, nhảy tới Amir.

– Phụp! Phụp! Phụp!

3 cú dùi đâm ngay vai Amir, chả té ngửa, không ngờ Eldora chơi bạo, Amir lấy phone.

– Ngừng lại! Tao gọi 911!

Eldora chụp cổ, cái dùi đá sát ngay mắt chả.

– Gọi tự nhiên! Sau khi tao đâm lòi mắt mầy.

Amir thả phone, quỳ xuống.

– Please!

– Hoặc cái này? Đồ heo Ả Rập!

Eldora đứng dậy, rút khẩu Beretta, bắn một phát gần giữa háng Amir.

– Ahhhh!

Amir ôm chim.

Cô tới quầy, rót ly rượu.

– Tao đã ngu ngốc, bỏ cuộc tình hạnh phúc theo thằng vô nhân cách! Tao sẽ xả láng với mầy bữa nay!

Eldora đổ hết chai Cognac đắt tiền xuống thảm.

– Mầy có 2 lựa chọn.

Nhắp ngụm rượu.

– Một: Ký cái check trả lương tao tháng này và 6 tháng thất nghiệp! 70 ngàn…

Eldora chĩa súng ngay mặt Amir.

– Quá rẻ cho điều ngu ngốc của tao, và sự vô liêm sỉ của mầy, tao sẽ ra đi, cho mầy theo con Tàu hí! Tao không cần bất cứ cái gì ngoài sự bồi hoàn lao động chính đáng của mình!

Eldora ném ly rượu vô tường.

– Hai: Nếu không bằng lòng, tao bắn một phát! Bùm! Nhà cháy, mày thành heo BBQ Ả Rập, về với Allah!

– Ok! Ok! Anh tặng em cái check 200,000. Coi như xong!

– Tao không cần! Trả đúng tiền lương, tao khinh bỉ mầy và tiền của mầy. Nói với con Tàu mắt hí, tao tha vì sự sống của 20 người trong gia đình nó. Nếu không tao đã đưa về với Dương Quý Phi rồi. Nói nó mở mắt ra dùm!

Amir bò tới bàn, ký cái check $70,000, run run đưa cho Eldora.

Eldora bước ra.

Tới cửa cô quay lại:

– Amir! Rồi Allah sẽ quả báo cho những điều tồi tệ của mầy!

Eldora bắn vô tấm thảm đầy rượu.

– Cho sự khốn nạn của con heo Ả Rập! Alah cắt cu mầy!

Căn phòng khách bùng cháy, Eldora chạy ra khỏi nhà, Amir nhanh tay lấy bình xịt, gọi 911, cảnh sát, chữa lửa tới…

Tay playboy Ả Rập không thành heo quay của Allah, chỉ thành thằng Amir hèn hạ…

Eldora thở dài, cô ngồi bên cửa sổ căn phòng nhỏ, mới share với bạn ở đường 64, Manhattan, dưới kia là rừng cây và hồ nước yên lặng của công viên trung tâm.

Đã khuya lắm rồi. Bài adagio của Beethoven viết cho cello từ nhà ai dưới lầu nghe buồn muốn chết…

Eldora bỗng nhớ Hugo và thằng con Uno, cô nhắm mắt.

“Mea culpa, mea culpa, mea maxima culpa”

Lỗi tại tôi! Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng!…

Cuộc vượt ngục ở Alcatraz

Hồ Đắc Vũ

August 3rd, 2019

Melrose, MA.

Nguồn.tamm ziv, history-a2z.com,

Nhà tù Alcatraz.nguồn.theclio.com

Trong lịch sử của Alcatraz, đã có 36 tù nhân cố vượt thoát nhưng không ai thành công hoặc sống sót. Thống kê dữ dằn này đã phải đột ngột thay đổi vào tháng 6 năm 1962. Ba tù nhân đã vượt ngục “Tảng đá” bằng cách nhảy xuống biển lạnh chết người của Vịnh San Francisco. Những người này cũng không bao giờ gặp lại và không ai biết số phận họ ra sao, cho tới 50 năm sau. Ðây là một cuộc vượt ngục khó có thể tin được.

Alcatraz là một nhà tù đáng sợ nhất, nơi có mức an ninh tối đa này đã được thiết kế với mục đích giữ những tội phạm nguy hiểm xa cách khỏi xã hội bình thường. Không hiểu bằng cách nào, 3 tù nhân đã tránh được những hệ thống báo động tốt nhất.

Cảnh sát và tang vật. nguồn.wordpress.com

Cuộc vượt ngục Alcatraz đã trở thành một vụ án hình sự không được giải quyết và nó nổi tiếng nhất trong lịch sử nước Mỹ. Những người có trách nhiệm thông báo cả 3 đã chết chìm trong biển lạnh, nhưng nay thì có bằng chứng cho thấy những tù nhân ấy đã thoát và còn sống.

Lá thư bí ẩn gởi tới Cảnh Sát vào Tháng 1 năm 2018, đã làm cho FBI phải mở lại cuộc điều tra.

Frank lee Morris, được biết là bộ óc đã sắp đặt hết mọi chuyện, anh ta có tay nghề cao và cực kỳ thông minh. Lúc 11 tuổi, Morris là trẻ mồ côi, bị chuyển từ nhà bảo trợ này tới bảo trợ khác, những năm ấy đã dạy cho anh tự chủ và độc lập, nhưng năm 13 tuổi, Morris bị kết án cho tội lỗi đầu tiên.

Khi trưởng thành, Frank Lee Morris tiếp tục những hoạt động tội ác của mình và đã ở tù qua nhiều Tiểu Bang, ngay cả bị nhốt tại nhà tù Liên Bang Louisiana, nơi có biệt danh “Alcatraz ở phía Nam”.

Hình trên: John, Clarence Anglin, Moris, trốn khỏi Alcatraz; hình giữa: hình nộm để trên giường khi trốn; hình cuối: phá ống thông hơi để trốn. nguồn.pinterest.se

Lúc ấy Morris đang tù 10 năm vì cướp Ngân Hàng và chuyện không tưởng xảy ra, anh hoạch định vượt ngục! Morris đã trốn tránh được cả năm, trước khi bị tóm trong một trận cướp Ngân Hàng khác. Lần này thì anh được tống vô nhà tù khét tiếng Alcatraz. Frank Morris được biết như người dàn dựng cuộc vượt ngục vĩ đại tại Alcatraz. Frank Morris đã biết rằng, vượt ngục không thể làm một mình. Anh cần một nhóm và đã tìm thấy họ khi bị giam tại “Tảng đá”, Nhóm của Morris gồm 2 anh em, John và Clarence Anglin cùng với một tù nhân khác tên là Allen West. Nhóm 4 người, ai cũng có kinh nghiệm dày dạn trong chuyện vượt ngục, họ dồn hết khả năng và kiến thức của mình vô kế hoạch vượt ngục “Tảng đá”, một nhà tù không thể đào thoát được. Kế hoạch cho cuộc vượt ngục rất đơn giản, nhưng những phương tiện để thực hiện gần như không có được. Họ cần một sự phối hợp toàn hảo của cả nhóm.

Thư của John Anglin gởi cho FBI. nguồn.vt.co

Mọi người tự làm các dụng cụ đào tường bằng những đinh ốc, muỗng ăn, dùi nhọn.

Mỗi ngày cả nhóm làm việc từ 5:30 chiều tới 9 giờ tối, cạy từng mảng tường, gỡ những tấm lưới thông gió, đục cho lớn ra để có thể chui qua. Anh em Anglin và Morris đã đục xong tường vào tháng 5-1962, cả nhóm làm áo phao và bè nhỏ bằng cách may và dán những mảnh áo mưa với nhau, họ đã dùng tới 50 áo mưa cho việc này, đây là công việc sống chết của kế hoạch, không có những thứ này, họ sẽ chết chìm trong vùng nước lạnh cóng của vịnh San Francisco. Cả nhóm đợi giờ tắt đèn, họ đặt những đầu hình nộm làm sẵn, trên giường, trốn khỏi phòng. Giờ vượt ngục đã tới, cả nhóm rất buồn vì West to con, khó chui qua lỗ tường và gây nặng nề trên bè thoát hiểm, không còn cách khác, anh phải ở lại.

Lệnh truy nã của FBI. nguồn.abcnews.com

3 người leo ống nước lên trần ngục cao 30 feet, sau đó phải chạy băng qua sân thượng dài 100 feet trên mái nhà để leo xuống bờ tường, rồi lại leo ống nước cao 50 feet dọc nhà tù xuống đất, tới khu nhà tắm, yên lặng lẻn qua trạm gác ở đó. Nhóm 3 người đã khôn khéo trốn được tất cả lính gác và chạy ra bờ biển, họ dừng lại để thổi phồng áo phao, bè và nhào xuống biển.

Sau hôm đó, không ai còn thấy Frank Lee Morris, John và Clarence Anglin nữa. Họ đã ra biển trên chiếc bè nhỏ, tự làm của mình khoảng 11:30 tối và biến khỏi mặt đất từ lúc ấy.

Hôm sau, còi báo động rung chuyển nhà tù Alcatraz, đánh thức hết tù nhân, chả người nào tin rằng ai đó dám vượt thoát “Tảng đá”. Họ đều nghĩ rằng chuyện vượt ngục Alcatraz không thể làm được, nhưng tin lan ra, đã có 3 tù nhân vượt ngục và trốn thoát. Ngày 31-12-1997, cuộc điều tra của FBI đã khóa sổ sau 17 năm cuộc vượt ngục, họ kết luận rằng những tù nhân ấy có thể bị chết chìm trong vịnh San Francisco cho dù xác không được tìm thấy. Tuy vậy, bên Hình Cảnh Mỹ vẫn tiến hành điều tra.

Sơ đồ cuộc vượt ngục. nguồn StopGame

Một phim tài liệu của History Channel phát hình năm 2015 hé mở bằng chứng mới, cho thấy anh em Anglin đã sống sót sau khi vượt ngục. Một thiệp Giáng sinh gởi tới gia đình họ, với chữ viết được phân tích khớp với chữ của 2 anh em. Rất tiếc không ai xác minh được ngày nhận Thiệp.

Gia đình Anglin đưa ra ánh sáng một bằng chứng quan trọng khác, hình của 2 anh em chụp ở Brazil năm 1975. Tấm hình được một chuyên gia pháp y lão luyện phân tích, ông ta nói rằng “quá giống” John và Clarence Anglin. Một thân nhân, Robert Anglin, ông ta trối trước khi chết, rằng có liên lạc với John, Clarence từ năm 1963 tới 1987, nhưng bặt tin sau này.

Gia đình Anglin đã không tìm kiếm 2 người bị mất tích quá lâu ở Brazil, vì cuộc vượt ngục tại “Tảng đá” vẫn được Cảnh Sát Quốc Tế điều tra, nếu tìm ra thì Cảnh Sát sẽ tóm họ, và 2 người này sẽ lãnh hậu quả nặng nề.

Anh em Anglin tại Brazil năm 1975. nguồn.nypost.com

Cuộc vượt ngục nổi tiếng ở Alcatraz đã là cái tựa ăn khách của báo chí vào tháng 1-2018, khi FBI mở lại cuộc điều tra. Vụ án nguội lạnh hàng chục năm bỗng nóng lên với những bằng chứng mới.

Một lá thư đã gởi tới Sở Cảnh Sát San Francisco năm 2013, ký tên là John Anglin, người vượt ngục Alcatraz. Nội dung là lời tự thú của John. “Tôi tên là John Anglin, đã vượt ngục Alcatraz vào tháng 6-1962 với em tôi, Clarence cùng Frank Morris. Tôi 83 tuổi, đã suy tàn và bị ung thư. Vâng tụi tôi đã thành công rất khó trong đêm ấy!” Anglin tiếp tục “Frank qua đời tháng 10-2008. Mộ của ông ở Argentina, dưới một tên khác, em tôi chết năm 2011”.

Lá thư được coi như do John Anglin viết đã tiết lộ nơi ông cư ngụ từ lúc vượt ngục Alcatraz. “Ðây là sự thật chân thành, tôi muốn nói với các ông rằng, qua 7 năm tôi ở tại Minot, Bắc Dakota và 1 năm tại Fargo cho đến 2003”, tôi đã ở Seattle “hầu hết những năm sau khi vượt ngục”.

Trong thư này, John đã tiết lộ nơi cư trú hiện tại của mình “Bây giờ ở tại Nam Cali”, thật không tin nổi rằng một kẻ chạy trốn pháp luật, kẻ tham gia cuộc vượt ngục Alcatraz, lớn nhất của mọi thời kỳ, hiện đang sống cách xa nơi đó chỉ vài giờ.

Và sau cùng đây là quảng cáo của cuốn film về cuộc vượt ngục ở Alcatraz năm 1979 do tài tử Clint Esawood đóng vai chính, film tuy cũ nhưng nếu bạn chưa coi qua cũng nên coi cho biết.

HĐV

Melrose, MA.

Nguồn.tamm ziv, history-a2z.com,

Giethoorn: the Venice of Netherlands

Unusual Places

Photo by Magda DJM

Có rất nhiều nơi lý tưởng để thư giãn, nhưng một số lại thực sự xa rời thực tế. Nằm ở Zwolle, gần Amsterdam, làng Giethoorn không chỉ là một thị trấn nhỏ. Những ai thích đi bộ xuống những con phố Venice được bao phủ bởi nước, chắc chắn sẽ cảm thấy hồi hộp khi được đặt chân đến địa điểm như trong truyện cổ tích này. Trên thực tế, Giethoorn được đặt biệt danh là “Venice của Hà Lan” – và vì lý do chính đáng! Hơn 170 cây cầu nhỏ kết nối cư dân của những hòn đảo nhỏ này. Trong suốt mùa đông, những ai đam mê trượt băng có thể thử trượt băng ở bất cứ đâu trên “đường phố”. Ngoài mùa đông, phương tiện di chuyển duy nhất là cái gọi là “những chiếc thuyền thì thầm”, có động cơ không ồn ào.

Vì vậy, không có giao thông hoặc hàng xóm ồn ào, người ta có thể nghe thấy gì ở Giethoorn?

Do thiên nhiên đã được bảo tồn rất tốt trong những năm qua, toàn bộ ngôi làng trông giống như một công viên khổng lồ – hay chính xác hơn là một vườn bách thảo. Ngoài khách du lịch, những người thường ngạc nhiên trước vẻ đẹp của nơi này, tiếng ồn duy nhất là do chim và cây cối đung đưa khi gió thổi.

Sự hoang sơ, thanh bình và thiên nhiên được bảo tồn tốt tạo cho nơi đây một vẻ ngoài siêu thực. Tuy nhiên, còn có một yếu tố ấn tượng khác: hầu hết các ngôi nhà được xây dựng trong khu vực này đều giống với kiến ​​trúc thời Trung cổ – từ cửa sổ lớn đến mái nhọn nhỏ.

Nhưng phong cách kiến ​​trúc này không phải ngẫu nhiên mà có. Những cư dân đầu tiên của nơi này xuất hiện trở lại vào năm 1230 và kể từ đó, ngôi làng là một nơi yên tĩnh cho các gia đình Hà Lan. Điều thú vị là khi thời gian trôi qua, địa điểm này ngày càng trở nên đẹp hơn.

Nhiều thế kỷ trước, người dân địa phương đã từng đào hố trên khắp con đường để tìm trầm tích than bùn. Do thời tiết khắc nghiệt, một số hồ nhỏ bắt đầu hình thành ở nơi từng có đường giao thông. Cuối cùng, toàn bộ khu vực đã trở thành nơi mà du khách nhìn thấy ngày nay. Những ai quan tâm đến lịch sử có thể ghé thăm 3 bảo tàng nằm bên các con kênh, cũng như xưởng đóng tàu Schreur, một di tích lịch sử địa phương. Ngoài ra, tất cả những gì cần có là thời gian để thư giãn và tận hưởng kỳ quan siêu thực, một phần tự nhiên, một phần nhân tạo này.

Tứ Đổ Tường

 Hồi ký của Chim Việt

Kẹo kéo là kẹo Bắc Kỳ

Có tiền bỏ túi làm chi

Hãy ra mua kẹo  Bắc Kỳ mà ăn       

Con giai ăn làm Cai Phó Tổng

Ông Tây mà lấy bà Đầm

Nghe rao kẹo kéo rầm rầm chạy ra

 Kẹo này đã ngọt lại thơm

Có hột đổ lạc có mùi si rô

Mại dô.. mại dô…

Đó là giọng chào hàng quen thuộc của ông Huế Lang đi bán kẹo kéo. Không biết ông tên gì? Miệt này nghe ai nói trọ trẹ. Thì họ cho là người Huế, cho nên người Bắc Kỳ họ củng kêu đại là người Huế. Cũng không biết tên ông là gì? nhưng họ thấy trên mặt ông có nhiều dấu lang trắng nhiều chổ; họ đặt đại cho ông là ông Huế Lang kẹo kéo. Củng không biết ông trụ hình tại Sông Đốc từ hồi nào? Tại thị trấn này chỉ có ông chuyên nghề bán kẹo kéo mà thôi.

Ông tới xóm nào thì bày cái mâm cây, có chân để lên là bắt đầu quảng cáo bằng một hơi giọng trọ trẹ như trên. Trẻ con và người lớn bu lại mua ăn và nghe ông nói trọ trẹ vui vui.

Rồi có cái ngày 30.4.75 … cái ngày đổi đời: ông hoá ra thằng, thằng lại hoá ra ông, người khôn ra dại, người dại ra khôn. Người giàu thành nghèo, người nghèo trở nên giàu! Mới có đầu hôm sớm mai, bộ mặt sông Đốc hoàn toàn đổi mới. Trẻ con và người lớn các xóm lao động không còn nghe tiếng rao kẹo kéo trọ trẹ của ông Huế Lang.

Nhà buôn hiệu Đông Phong một cửa hiệu buôn bán tạp hoá lớn nhất thị trấn Sông Đốc, chủ nhân là ông Quách Kim Thành, mà khách hang tại đây kêu là Chệt Xía. Sau ngày 30.4.75 một chiến dịch đánh tư sản mại bản, nhà buôn này củng như bao nhiêu nhà buôn khác tại thị trấn tan tành. Gia đình Chệt Xía đóng vàng xin đi tị nạn, một sự nghiệp gây dựng gần mãn đời không được hưởng đành phải ra đi. Bảng hiệu Đông Phong đã mất, bây giờ thay tấm bảng mới “Uỷ Ban Nhân Dân Thị Tứ Sông Đốc huyện Trần Văn Thời” đó là mặt tiền con lộ đi qua chợ, còn mặt hậu trở ra mé sông, thì lại có tấm bảng nhỏ hơn “Phòng Giao Tế”

Một sự ngạc nhiên cho đám trẻ con xóm lao động bây giờ đi qua dãy phố hoa lệ nhất thị trấn mà củng là Uỷ Ban Nhân Dân đó. Thấy cặp vợ chồng ông Huế Lang đó thường ngày đi bán kẹo kéo giờ ăn mặc chỉnh tề ở tại mấy căn nhà lầu này. Một sự ngạc nhiên nửa, là mỗi buổi sáng ông Huế Lang mang túi dết ra thâu hoa chi tiền cho Sông Đốc.

Từ khi chính phủ Việt Nam Cộng Hoà tiếp thu ngày 19.5.1955 đúng 7.00 giờ sáng ngày lịch sử đó, Việt Minh rút khỏi mũi Cà Mau. Thành lập Quận Ông Đốc thì chợ Sông Đốc không có ai thâu tiền chợ, từ các ghe thương hồ cho tới trên nhà lồng chợ. Bây giờ thì bị đếm từ lọn rau muống, đếm từ con gà, con heo, con vịt…Những món này nếu bày ra bán trên đất thì phải đóng góp tiền hoa chi; còn như để dưới xuồng thì được ông Huế Lang thông cảm?

Nhưng những xuồng đi buôn bán như rau muống, bồn bồn, bông súng, cá đồng này từ đâu? Đó là truớc kia kêu là vùng giải phóng? Vậy mà trước kia ra vùng Nguỵ bán thì không có bị Nguỵ góp tiền chợ. Bây giờ dân vùng giải phóng ra buôn bán vùng giải phóng thì bị đếm từ bó rau, con gà, con vịt. Mà được ông Huế Lang đếm thì không có thể lộn một bó rau!

Chung quanh thị trấn có nhiều ấp như ấp Trùm Thuật, ấp Rạch Lùm, ấp Rạch Vinh nhỏ, ấp Rạch Vinh lớn, ấp Hòn Đá Bạc, ấp Xẻo Quao… những địa danh xa thị trấn lối vài tầm súng đó, trước kia là nơi sào huyệt của Việt Công. Giờ đây là những nhà trong vùng đó, bước vô thấy không biết là bao nhiêu bằng khen chống Mỹ cứu nước! Như huyết mạch là tiền thì sự thật không ngờ. Đó là những gia đình các anh phục viên. Sau bao nhiêu năm gian lao trong rừng, tuổi đảng chồng cao, nhưng văn hoá không có làm sao ngồi tại văn phòng? Thành tích chỉ là anh du kích, nón tai bèo, đồ nylon, khăn rằn quấn cổ, bơi xuồng ba lá, lẩn lút trong rừng. Nay được hoà bình rồi thì bổn phận mấy anh đã hết , cho phục viên về nhà bị thất nghiệp , trước kia tóc xanh mắt sáng, nay thân tàn ma dại, hơn 20 năm bỏ phế chuyện gia đình, lại còn báo vợ, báo con, nay tiếp tế món này, mai tiếp tế món kia đặng đi theo bộ đội.

Nay bị người anh em sa thải bằng cách huê dạng là phục viên, chờ cho tới mùa ruộng là đi phát cỏ, cấy lúa phụ với vợ con kiếm cơm ăn cho qua ngày đoạn tháng. Trước kia còn giặc những món quà vặt như trà, bánh ngọt đều có em gái hậu phương tiếp tế thường xuyên cho các anh. Ăn quen nhịn không quen, nay muốn uống trà ăn bánh xuất tiền túi ra, nếu không tiền thì ra công đi cắt rau muống, rau dừa, bông súng cho vợ con ra chợ bán lấy tiền mua trà mua bánh.

Làm việc chí công vô tư ai ai đem hàng ra chợ thì phải đóng tiền chợ. Một xuồng rau muống nếu bán hết chỉ được 10 đồng, bị góp hết hai đồng, mà ông Huế Lang góp tiền đó cho riêng ông. Số tiền đó để xuất ra tiền hậu cần, nấu ăn cho khách vãng lai. Trước ngày 30.4.75 ông Huế Lang tối ngày mỏi chân và mỏi miệng đi hết xóm này rao hàng kẹo kéo Bắc Kỳ …Nay gặp thời Lai Phong Tống, Đằng Vương Các. Ngọn gió Bắc Kỳ thổi ông Huế Lang bán kẹo kéo Bắc Kỳ vô nhà Chệt Xía. Lại còn giữ chức hậu cần cho Phòng Giao Tế, kiêm góp tiền hoa chi! Cả hai chức vụ tân tạo này, không ai có thể kiểm soát nổi vì nó luôn bị thay đổi, chợ có bữa đống, có bữa củng không nhóm đông vì lý do gì đó? Còn khách của phòng giao tế thì vài ngày mới có, khi ẩn khi hiện đâu có giờ giấc nhất định như đám Uỷ Ban Nhân Dân? Cho nên số chi số thu thật tình không ai kiểm nổi?

Dân chúng ở Sông Đốc lấy làm lạ, tại sao những cơ quan nào mà VC tịch thu nhà nhân dân đang đặt văn phòng, đều lấy nơi thị tứ mặt tiền. Trái lại văn phòng giao tế thì chọn ngoài mé song là một chổ kín đáo? Xin thưa phòng giao tế này chính là cái phòng ngủ trá hình, nơi để cho các ông anh và bà chị từ trên tỉnh, trên huyện xuống, nơi xa nhà xa bạn là thị trấn Sông Đốc lén công tác tối mật? Ông anh thì lén bà xã, bà chị thì lén ông xã xuống đây giải quyết vấn đề chủng tộc vài đêm rồi ai về nhà nấy.

Trước kia đi công tác thì ở chung với đồng bào, đâu có chổ thuận tiện. Thấy được cái sơ nhở đó, tiền bạc chi thu không ai kiểm soát, thành ra ông Huế Lang tha hồ tham nhũng.

Trước ngày 30.4.75 tối ngày kẹo kéo, tính từ hột đổ lạc trong khúc kẹo kéo với đám trẻ con. Tạm ở căn nhà vách xiêu vẹo, nay thời cơ đưa ông vô nhà lầu Chêt Xía, chung quanh vách tường cao đẹp. Rồi ông củng theo cái đà cầu tiến đó ông đâm mê Tứ Đổ Tường. Môn Tứ Đổ Tường này thì thị trấn không thiếu một môn nào! Nhất là môn số đuôi, lấy hai con số chót lô độc đắc làm số trúng.

Trước ngày 30.4.75 mỗi tối thứ Ba được nghe giọng quái kiệt Trần Văn Trạch … “Kiến Thiết Quốc Gia giúp đồng bào ta mua lấy cửa nhà giàu sang mấy hồi.. mua số mau lên…

Nay thì mỗi tuần và mỗi ngày đều có xổ số; mỗi ngày một tính sổ. Còn xì ke ma tuý thì tại cửa khẩu Sông Đốc là nơi giao liên với xứ Miên , những cán bộ tập sự của bù nhìn Heng Samrin được VC cho qua đây huấn luyện các cấp về thương mại, chính trị. Từ cảng Kom Pong Som các ghe biển có võ trang súng đại liên hộ tống; dưới ghe có vài cây đại liên và 100 thùng đạn đi hộ tống đó, khi ra khơi thì tụi thuỷ thủ đổ hết đạn xuống biển và khi về Việt Nam thì trong thùng đạn đựng toàn là đường Thốt Nốt.

Vô cửa khẩu Sông Đốc đâu khỏi nhà tôi, thì các xuồng bu lại mua 7 đồng một thùng đạn mà trong đựng toàn đường Thốt Nốt! và cũng có á phiện, thứ này thì sáng có lái từ trên thành xuống đợi ghe từ bên Miên về tiêu thụ liền.

Trước ngày 30.4.75 thị trấn này củng có nhiều em út nhưng lẫn lộn trá hình, sau này thì thị trấn ai củng tưởng đâu đã dứt. Nhưng trái lại còn nhiều hơn 10 lần trước kia, đám nhền nhện trên lò nhang Cà Mau này xuống dđầy đủ mặt lại còn điền thêm mấy chổ khác mới đủ cung cấp cho khách hàng. Khách hang này là đám kêu hải quân, sản xuất từ ngoài Vũng Tàu, đoàn đánh cá quốc doanh chiến Thắng? Khi nó đi một vòng từ ngoài Vũng Tàu vô tới Hòn Chuối là ngay cửa Sông Đốc, có đoàn ngoại giao vô bờ, đầu tiên lại ổ nhền nhện cần dùng kỳ này mấy chục em. Chiều lại có ghe đưa các em ra đoàn ghe Chiến Thắng. Tới sáng ghe chở các em vô bờ, mỗi em được tặng cho một can dầu cặn 20 lít; phần người đưa ra hai can. Vô tới đồn công an biên phòng lấy xâu một can. Ngoài một can dầu tặng đó, lại còn tặng thêm một xâu cá biển mà ghe quốc doanh Chiến Thắng có sẳn dưới hầm đông lạnh.

Còn rượu thì chung quanh chợ Sông Đốc, không biết mấy chổ bán bia ôm. Có một anh ngư phủ người ngoài Phú Khánh, khi anh sang cửa vô Sông Đốc anh nói: “Hiện nay nước Việt Nam… chỉ còn chợ thị trấn Sông Đốc là còn những thú vui và giải trí như thời trước 30.4.75! Duy Vật phải thắng Duy Tâm?

Thật đúng như vậy, con người có đầy đủ vật chất mới cảm thấy yêu đời? Nói chung đám trong rừng mới ra thành, đầu hôm sớm mai cái gì củng khác, khi còn lăn lội trong rừng. Hớt tóc cái đầu coi củng khác, may quần áo thấy củng đẹp, ăn uống món gì củng ngon, vật chất bao trùm, không còn lớn tiếng chửi đám Nguỵ nửa, vì tụi Nguỵ có 1 mà mình tới 10? Đám cách mạng 30, từ lớn tới nhỏ đều bị mê hồn trận Tứ Đổ Tường bao vây, không có con đường nào để ra khỏi.

Bà vợ của tên Tỉnh Uỷ Minh Hải là Tống Kỳ Hiệp, khi chồng chị này về tới Cà Mau, hôi phụ nữ cứu quốc địa phương chung lại kẻ ít người nhiều mua cho chị cái quần Mỹ A mới đặng mặc lên đón chồng. Vậy mà chỉ có ba tháng sau thôi, mấy bà trong hội đó đứng trước nhà chị vợ Tống Kỳ Hiệp đòi lại cái quần Mỹ A. Là vì trong nhà có máy lạnh chạy dầu để ướp trái cây và rượu bia, tối ngày bận nghe ca tuồng cải lương “Nguỵ” bằng máy thâu băng tịch thu của “Nguỵ” Tuồng này hết kế tuồng kia đâu có thì giờ đi họp. Cho nên ông Huế Lang là tên cùng đinh, Thực bất báo, Cư bất an… Vậy mà mỗi buổi sáng ra chợ thâu tiền hoa chi, kè kè một túi bạc. Nhưng hễ bạo phát thì bạo tàn…

Chim Việt

Nhắn tin một bạn đọc TVTS ông Trần Đức Hoà Mitcham VIC

Trong TVTS số 88 nói về Sóc Trăng. Những thân nhân tôi ở Sóc Trăng trước 1975 như sau:

Ý Hai Ến tiệm cầm đồ Nam Thành chết, củ Quách Triều Thuận bị giặc Miên chặt chết ở Bố Thảo. Vợ Kỳ Thuận và đứa con trai Quách Triều Minh cựu cảnh sát viên có quán bì bún chả giò gần Thánh Thất Cao Đài Bầu Sen đường Nguyễn Hoàng Sài Gòn. Củ Quách Triều Lai có mấy đứa con du học bên Canada, vợ Củ Lai là Tư Thắm bị tai nạn xe hơi gần Mỹ tho hư con mắt.

Sau 75 thì tôi không nhận được tin tức gì nửa hết. Khi nào tôi liên lạc được với mấy đứa con Củ Lai tôi tin cho ông.

Chim Việt

Sóc Trăng

Thành phố Sóc Trăng tưng bừng khánh thành vận động trường mới nằm cạnh quốc lộ 4 đường đi xuống Bạc Liêu Cà Mau. Một vận động trường thuộc lọai tối tân nhất miền Hậu Giang. Giữa là sân đá banh chung quanh là vòng chảo để đua xe đạp. có hồ bơi có sân đánh tenis, nhiều thứ dụng cụ tập thể dục thể thao. Về hướng mặt trời lặn xây một khán đài rộng lớn mấy ngàn chổ ngồi. Ngày khánh thành mời hội tuyển Cần Thơ xuống đá giao hữu, hai hội huề 1-1, ngày sau đó với hội tuyển Bạc Liêu Sóc Trăng thắng 2-1. Những ngày kế tiếp các hội hạng B trong tỉnh như Bãi Xàu, Lịch hội Thượng, Như Gia, Bồ Thảo, Vũng Thơm, Văn Cơ, Đại Ngãi, Băng Long, Tống Cáng, Tà Sum, Trà Quít, Sà Ca Nã luân phiên tranh cúp Khánh Hưng. Sau ngày chung kết giải đá banh trên bờ, thì có cuộc đua ghe Ngo dưới sông Sóc Trăng do mấy chùa Miên tổ chức.

Tỉnh Sóc Trăng mỗi chùa đều có một chiếc ghe Ngo để đua bơi.Chiếc Ngo nguyên là môt thân cây lớn , đục cho trống ruột trước mũi sau lái họ tạc đầu con rồng , sơn phết thật lòe loẹt mỗi chùa đều sơn màu sắc khác , phía sau chùa nào củng cất một dãy nhà dài để ghe Ngo.

Tới ngày đi dự thi cuộc đua bơi các sãi tự động khiêng ghe Ngo ra tại bờ sông, không biết họ khiêng vào giờ nào nhưng sáng ngày thì thấy tất cả ghe Ngo đậu dưới bến đò Đầu Voi bên kia nhà máy xay lúa Quách Sên. Tại đó củng là điểm khởi hành.   Mỗi ghe Ngo có 20 người, người đứng coi láy bình cây chèo, hai người đánh phèn la, trước mũi có người chỉ huy ngồi xếp bằng, đầu bịt khăn đỏ, vẽ mặt tô mày thật dữ tợn cầm cây dầm bơi tượng trưng. Cây dầm dài tới nửa sãi tay, đầu sơn xanh, đầu sơn đỏ, tất cả trong ghe phải coi theo động tác của người này. Nếu người coi lái thấy đưa cây dầm lên cao… về phía tay mặt thì cho ghe quẹo mặt, về phía tay trái thì cho ghe quẹo trái, nhưng thấy màu xanh thì cho ghe quẹo từ từ , mà thấy đưa màu đỏ thì phải quẹo cho gấp. Hai người đánh phèn la thì củng coi theo từng chập của cây dầm, nó chỉ bơi trên không khí, các lực sĩ tay bơi củng nghe theo tiếng phèn la mỗi tiếng phèn la đánh lên các lự sĩ đồng bơi một lượt, bơi thật nhịp nhàng theo tiếng đánh phèn la. Giờ khởi hành tại ngã ba con sông vô cầu Bon, các ghe dự thi xếp hàng giữa sông, khi nghe ba tiếng trống lệnh của trọng tài trên bờ đánh dứt giờ tranh đua mở màn. Điểm thắng tại trên cầu tàu Nam Vang đầu vường băng Maspero, giám khảo ông chánh chủ tỉnh từ mức khởi hành tại đây khi chun qua cầu Quay có một giải thưởng của hội Huê kiều Triều Châu, khi đoàn  đua bơi bơi ngang qua. Vô tới nhà máy xay lúa Ký Kiến, thì có cây cờ đỏ giữa sông bọc vòng trở về. Đoạn đường trở về là ngoạn mục nhất, trên bờ dân chúng vỗ tay vang dậy , từ đầu cầu tàu Nam Vang ngó vô thấy đoàn ghe Ngo đua về mức củng như thấy chim đại bàng đang bay dưới mặt sông.

Chiếc ghe sơn màu vàng xanh của chùa Giồng Mã Tắc nằm giữa đường đi qua bãi Xàu thắng giải nhất chiếc vàng đỏ chùa Sacana giải nhì, chiếc đỏ đen chùa Vũng Thơm về ba. Có 4 chiếc bị chìm bỏ cuộc, ngày vui này tại thị xã Sóc trăng các công sở đều được nghỉ đi coi đua ghe Ngo. Phát động một phong trào thể thao trên toàn quốc cầm đầu phong trào này là đại tá Docoroy, ủy viên thể thao thời toàn quyền Decoux, lên thay thế cho tướng Catroux bí mật trốn đi bất hợp tác với Nhật.Thành phố Sóc Trăng khánh thành sân vận động không được bao lâu thì Nhật bổn mượn làm phi trường chiến lược quân sự. Không hiểu tại sao gần duyên hải như Cà Mau, Bạc Liêu gần bờ biển nhất mà họ không làm phi trường mà lại làm phi trường trên Sóc Trăng, phải mất gần 2 giờ mới tới biển trong vịnh Xiêm La? Ông phó tỉnh trưởng người Pháp đứng ra can thiệp bị Nhật bắn chết. Công binh Nhật san bằng những kiến trúc của người Pháp, xây dựng vận động trường, họ làm sân bay chiến lược cho tới ngày nay vẫn còn. Sân banh được dời lên trên ngã ba Ống Quần đường đi Cần Thơ, sân banh này đề tên ông phó tỉnh trưởng bị Nhật bắn chết làm kỷ niệm. Trong buổi giao thời Nhật Pháp đó tôi ở tại thị xã Sóc Trăng, một nơi có tiếng lúa đụn, bạc kho, cò bay thẳng cánh. Từ ngoài duyên hải Đại Thanh cùng xứ là tiền rừng bạc biển, vậy mà lưu lạc vô đây học nghề lập thân.Tại thị xã này tôi có người bà con họ ngoại ông Quách Mậu, người con gái lớn của ông là chế Ên, tiệm cầm đồ Nam Thành, người con thứ ba cậu Quách triều Thuận thư ký tòa hành chánh. Người con thứ tư cậu Quách Triều Lai tiệm vàng Nam Mỹ. Người con thứ năm cậu Quách Triều Hữu còn độc thân sống chung với ông tôi. Dì Hai chế Ên nói muốn làm thư ký tiệm cầm đồ thì ở với tao, muốn học thợ bạc thì có cậu Tư mày tiệm vàng Nam Mỹ, còn muốn học thợ may thì ở với dì Sáu mày , tiệm may Sài Gòn Mode đường Đại Ngãi (sau đổi lại Hai Bà Trưng). Lối 50 năm về trước trong Nam ít người làm nghề thợ may. Thợ may y phục nữ người Trung, thợ may âu phục người Bắc. Thợ bạc người Nam, trong Nam họ chê nghề thợ may làm dâu cho bá tánh. Trung tâm thị xã Sóc Trăng là con đường Đại Ngãi có lẻ lấy tên một thị trấn nhỏ nằm dọc theo con sông Hậu cách Sóc Trăng 19 cây. Thời kỳ khan hiếm hàng vãi, nhưng tiệm may Sài Gòn mode có 4 bàn máy. Khách hàng toàn là tay công tử và điền chủ, họ khỏi đi Sài Gòn may đồ có thợ từ Sài Gòn xuống.

Chung một dãy hàng xóm với tiêm may Sài Gòn mode , đầu đường là tiệm thuốc Bắc của ông Mộng Lương Đường , tiệm chạp khô chú Hỷ tiệm vàng Tiểu Kim Long, tiệm bán sách vỡ Hoa kiều, tiệm may sài Gòn mode, tiệm chụp hình Thành Xuân , tiệm bán nón, tiệm may Hồng Long Phát, tiệm vàng Thủy Xoàn, tiệm hớt tóc Bình Kiệm , tiệm vàng Kim Chung và phòng ngủ Magina. Nội khúc này có được 3 kỷ nữ, cháu ông Mộng Lương Đường, cô Sâm là vợ của Út Trà Ôn cháu tiệm vàng Kim Chung sau là bà Mai Hữu Xuân. Người dượng rễ tôi ông chủ tiêm may Sàigon mode có cái tật kỳ lạ sau khi cắt đồ giao cho thợ thì ông qua ngồi tiệm cà phê Khoái Lạc Lâm hay là lại bàn bi da Magina thì có ông tại đó .

Cắt may, may khéo, một tiệm may có hạng tại thị xã này 4 bàn máy đem lại cho ông nhiều lợi tức hằng ngày khách hàng toàn là dân công tử, điền chủ nội may đồ cho gia đình ông tỉnh trưởng Sóc Trăng củng đủ có uy tín cho các giới công chức tại đó. Nhưng ông có máu cờ bạc, có tiền bao nhiêu thua bạc bấy nhiêu! phòng ngủ Magina nơi đánh bi da ăn tiền lớn nhất tại đây. Cuối tuần, các tay chuyên môn đánh ăn tiền từ các nơi tựu lại như: Cần Thơ, Ngã Bảy, Bạc Liêu, Cà Mau luôn có cáp độ ăn tiền lớn, môn cờ bạc trá hình công khai. Ông chù phòng ngủ Magina củng có viết tấm bảng treo lên như sau: “Bida nơi so tài giải trí – Cá cược tiền bạc làm chi cho mất niềm hào khí – Xin lưu ý- Magina”

Các tay đánh ăn tiền họ đánh độ một nơi khác mới lại phòng ngủ Magina đánh bi da cho nên giăng ngoài chỉ được quăng bắt tại chổ như đá gà nòi. Tỉnh Sóc Trăng, dân số phân nửa là người Miên, còn lại là người Việt, người Trung Hoa gốc Triều Châu. Tháng ba âm lịch họ làm lễ chịu tuổi củng như mình ăn tết Nguyên Đán. Tới ngày đó các Sóc như sống dậy, thật tưng bừng ông già bà lão trai thanh gái lịch ăn mặc đồ mới, đi lạy Phật, đi thăm họ hàng, mời các bạn bè tới nhà ăn uống vui chơi nhày múa theo điệu ngũ âm, miệng hát. Người Triều Châu họ củng ăn tết như mình, nhưng tới ngày lễ Vu Lan (rằm tháng 7) người quận Bãi Xàu có tổ chức cúng cô hồn thật long trọng. Các tiệm buôn trong tỉnh mỗi tiệm đều làm một cái cộ. Mỗi cộ lớn nhỏ khác nhau, chưng lễ vật khác nhau, cộ chưng bánh in, cộ chưng bánh bía, cộ gắn đồng xu, gắn bạc cắc, gắn giấy tiền vàng bạc, hàng rượu nếp bãi Xàu một con heo quay…. Mỗi cộ đều có con số thứ tự, cất cái rạp thật lớn, làm từng bậc như nấc thang, sắp xếp cộ có hàng theo con số thứ tự. Khi lễ cúng tất đã xong là tới giờ làm lễ thí giàn. Họ cất một cái đài thật cao, trê n đó nhân viên sau khi đánh 3 hồi phèn la, họ mở mấy bao cà ron đựng thẻ, nắm từng nắm thẻ quăng xuống dưới đất. Đó là tới hồi xô đẩy vật lộn giành thẻ. Có bảng cấm không cho ai hứng thẻ bằng dù, vì có người làm cái dù lớn có cán thật dài, đựng thẻ rớt từ trên xuống. Nhưng khi hứng được cái thẻ mà thiếu người bảo vệ thì củng bị họ đè xuống giựt luôn cái thẻ. Cho nên các phe đi giựt giàn cần có đông người, đặng khi vô lãnh cộ ra nếu không có ai hộ tống thì đợi tới khi cái cộ ra khỏi rạp thì chỉ còn lá cái sườn bằng cây sậy, đám cô hồn sống áp lại gỡ hết các thứ gắn trên cộ đó.

Hàng năm bên Bãi Xàu tới kỳ cúng rằm tháng bảy, thì các chổ lân cận như Đại Ngãi, Bằng Long, Văn Cơ , Như Gia, Phú Lộc, Vũng Thơm và Sà Ca Nã. Mỗi nơi đều bao nguyên chiếc xe đò qua Bãi Xàu giựt giàn. Địa phương nào củng quyết chiếm cho được Ông Tiêu thì cho xe chạy chung quanh Sóc Trăng 3 vòng mới về xứ mình. Khi tin chiến thắng giựt được Ông Tiêu thì có người tổ chức một tiệc ở quán cà phê đãi các người đã mang được Ông Tiêu về địa phương nhà, họ trả tiền mướn xe,họ trả tiền trong tiệc mừng, đặng họ thỉnh cái lưỡi. người thì chia 10 đồng tiền điếu trong ruột Ông Tiêu về làm bùa hộ mạng cho đám con cháu họ. Họ tin là khi đứa nhỏ mang được kỷ vật đó trong mình sẽ được an toàn.

Có lẽ mấy ông già cỡ tôi dân ở Sóc Trăng, Bãi Xàu ít lắm củng có thấy một lần thí giàn bên Bãi Xàu. Cái thẻ chỉ bằng hai ngón tay vậy mà khi nó rớt trên nóc cái quán nào thì cái quán đó như bị một trái bom. Có hằng chục người áp lại phá sập cái quán đó đặng tìm cái thẻ. Tháng ba âm lịch người Miên làm lễ chịu tuổi. Tháng bảy người Triều Châu họ làm lễ cúng cô hồn, hàng tháng tới ngày mùng 2, ngày 16 họ củng cúng cô hồn, kêu là Dadi, Chập Lát rồi người An Nam mình củng bắt chước họ cúng theo hai ngày này.

Ngày rằm tháng mười một người An Nam tại thị xã Sóc trăng cúng cầu an. Xác thần để tại cộng sở làng Khánh Hưng, đường mé sông cầu Bon (nay thì con sông này đã lấp lại cho nên cây cầu Bon đầu đường Đại Ngãi củng không còn, cảnh nên thơ của thị xã Sóc Trăng nay kém hơn hồi tiền chiến). Sáng ngày rằm hội tề làng Khánh Hưng thân hào nhân sĩ, đại diện các tôn giáo, các ban trưởng đại diện các Sóc. Ban hội tề mặc áo thụng xanh, đầu đội khăn đen, đi đầu là Hương Cả, năm đó Hương Cả là ông Lý Công Quận chủ nhà in thị xã. Đoàn nghinh sát đi qua cầu Quay đình Năm Ông bên đó.

Tôi có lại hát cúng thần một chầu, rạp cất lộ thiên trước sân đình, giữa là hát bội, tay trái là gánh hát Dù Kê Tự Lập Ban, bên mặt là gánh hát Tiều thùng đen. Vì thấy gánh hát này các rương đựng đồ toàn màu đen, họ kêu thùng đen cho khỏi lôn với gánh củng rương đựng đồ thùng đỏ. Hát bội họ hát rặt tiếng An Nam. Hát Tiều họ hát rặt tiếng Tiều. Hát Dù Kê họ hát rặt tiếng Miên nhưng nhờ có anh hề thông dịch ra tiếng An Nam cho người An Nam nghe. Gánh hát bội họ hát tuồng Dự Nhượng đã long bào. Gánh Dù Kê họ hát tuồng Thạch Sanh chém chằng. Gánh Dù Kê hát tuồng Tiết Nhơn Quý chinh đông. Ba dân tộc nói tiếng khác nhau vậy mà khi trên sân khấu diễn tới lớp nào thì họ củng biết tới lớp đó. Vì họ sống hoà đồng với nhau trãi qua nhiều đời gắn bó với nhau sanh con hai giòng máu mà tiếng trong dân gian kêu họ: đầu gà, đít vịt.

Mấy cô khuê các An Nam vẽ đẹp tự nhiên, còn mấy cô lai Miên thì trong ánh mắt, trong sợi tóc, làn da tạo thành một vẽ đẹp quyến rũ lạ thường. Mấy cô nữ sinh mỗi chiều thứ Bảy thường tựu lại trước Triều Châu công sở, đường Đại Ngãi cũ củng là ngay tiệm may Sài Gòn mode đợi xe nhà ra rước về nhà nghỉ ngày Chủ Nhật ở Văn Cơ. trong đó có cô tâm gia đình thân chủ tiệm may Sài Gòn mode. Cha cô làm xã trưởng, cô có người anh họ làm thợ bạc tiệm Thuỷ Xoàn. Tụi tôi 5 đứa toàn là học công. được anh mời vô nhà anh dự đám tiệc gì đó, khi tụi tôi đi xe đạp vô tới nhà anh thật là ngạc nhiên hếr sức vì anh Tánh ra đón tụi tôi mà anh vận xà rông khi vô nhà thì em gái anh đem nước Thốt Nốt ra mời khách củng vận xà rông. Như vậy cô Tâm là người đầu gà đít vịt sao?! Hèn gì tôi mê mệt nét sắc xảo trên mái tóc quăn, tên khoé mắt và cô có làn da bánh mật. Còn nói gì mấy cô cha Tiều, mẹ An nam thì mấy cô có quyền mặc hai thứ quốc phục, áo dài mode hàng màu, quần sa tin trắng mang guốc kiểu, đeo vài sợi dây chuyền, hay là mặc áo dài Sường Xám đi giày cao gót. Quốc phục Trung Hoa luôn cả tiếng nói Tiều của cha, tiếng nói An Nam của mẹ đều hoạt bát khôn lanh hơn là còn rặt giọng một.

Từ Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau đầu câu nói xã giao thông thường khi gặp nhau để chào hỏi cho đàn ông con trai      “Đi đâu đó Hia? đàn bà con gái thì hỏi : _Đi đâu đấy Chế? gặp mấy người đàn ông thì hỏi: _Đi đâu đấy Củ? Hỏi Củ đi với ai? Nếu như đi một mình thì nói tôi đi mình ên. Đi Ên, mình Ên, làm Ên, tiếng Miên Ên là mình. Rồi người An Nam, người Tiều Châu, người Miên họ đều nói chung một tiếng đó. Trên vùng Tiền Giang nghe ai nói tiếng đó, biết họ là người ở Hậu Giang. Còn họ có đầu gà đít vịt hay không thì mình không được biết.

Tôi đã ở tại châu thành Sóc Trăng đa văn hoá đã gần ba năm mà củng không thể phân biệt được, vẫn lầm vì họ gặp Tiều nói tiếng Tiều, gặp Miên nói tiếng Miên, gặp An Nam nói tiếng An Nam.

Chiến hạm Mỹ USS John S. McCain có chỉ huy là người gốc Việt

23/02/2021

VOA Tiếng Việt

Trung tá Tín Trần (phải) và Chỉ huy tàu USS John S. McCain (DDG 56) Ryan T. Easterday tại buổi lễ trao quyền điều hành con tàu hôm 19/2/2021.

Khu trục hạm mang tên lửa dẫn đường USS John S.McCain thuộc Hạm đội 7 của Hải quân Hoa Kỳ, một con tàu đang hoạt động với hành trình dày đặc cho sứ mệnh tự do hàng hải ở Biển Đông và vùng Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, vừa có chỉ huy mới là người Mỹ gốc Việt, Trung tá Tín Trần.

Tại một lễ trên chính con tàu này khi neo ở căn cứ Yokosuka, Nhật, hôm 19/2, Trung tá Tín Trần, còn được biết với tên tiếng Việt là Trần Trung Tín, phát biểu: “Sự hiện diện trước quý vị hôm nay với tư cách là chỉ huy thứ 19 của tàu USS John S. McCain là bằng chứng cho những cơ hội vô biên mà đất nước Hoa Kỳ mang lại cho công dân của mình, dù là người bản xứ hay người nhập cư.”

“Tôi là nhân chứng cho tiềm năng vô hạn mà ngành Hải quân của chúng ta mang lại cho những chiến sĩ trẻ nam cũng như nữ, những người con cống hiến theo tiếng gọi của tổ quốc,” trang tin của Hạm đội 7 Hải quân Hoa Kỳ dẫn lời tân chỉ huy gốc Việt nói.

Trung tá Trần Trung Tín. Photo Vietnamese American Uniformed Services Association.

Cùng ngày, Đô đốc Michael Gilday, Tham mưu Trưởng Hải quân Hoa Kỳ, viết trên Twitter chúc mừng Trung tá Tín Trần.

Ông David Larter, một phóng viên của trang Defense News thuộc Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, nhận định trên Twitter về việc tàu có chỉ huy mới là người gốc Việt: “Có được một người Mỹ gốc Á ở vị trí cao như vậy là một thông điệp tuyệt vời cho khu vực.”

Vào cuối tuần qua, Hội Quân nhân Mỹ gốc Việt (VAUSA) gửi lời chúc mừng đến Trung tá Tín Trần, một thành viên của Hội, với lời chúc: “Tàu Big Bad John [tên gọi thân mật của các chiến sĩ đối với tàu USS John S. McCain] có được người quản lý chăm sóc tốt.”

Trong email gửi cho VOA, ông Vũ Q. Hiển, một thành viên của VAUSA, cho biết rằng Trung tá Hải quân Trần Trung Tín là con trai của một gia đình tị nạn từ Việt Nam.

Theo thông tin từ ông Hiển, Trung tá Trần Trung Tín gia nhập hải quân vào năm 1998, ông theo học khóa huấn luyện Recruit Training Command tại Great Lakes, Illinois và trở thành một thủy thủ phục vụ trên soái hạm USS Blue Ridge (LCC 19) thuộc Đệ thất hạm đội tại Yokosuka, Nhật Bản. Đến năm 2000, ông được tuyển chọn thụ huấn chương trình sĩ quan hải quân trù bị tại Đại học Jacksonville, Florida.

Đại tá Mỹ gốc Việt: ‘Phụng sự tổ quốc là một đặc ân’

Là một sĩ quan tác chiến, ông từng tham gia phục vụ triển khai lực lượng cùng các tàu sân bay USS Dextrous (MCM 13), USS Champion (MCM 4), USS Cape St. George (CG 71) và USS McCampbell (DDG 85).

Từ tháng 5/2019 đến tháng 12/2020, ông được bổ nhiệm làm Giám đốc điều hành, Phó chỉ huy tàu USS John S. McCain (DDG 56).

Được biết, ông Trần Trung Tín là sĩ quan gốc Việt thứ hai làm Hạm trưởng tàu khu trục hải quân Hoa Kỳ, trước ông có trung tá Lê Bá Hùng, hạm trưởng tàu khu trục USS Lassen (DDG-82), nay là đại tá phó phòng hành quân Bộ Tư lệnh Các lực lượng Hạm đội Hải quân Hoa Kỳ.

Tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường USS John S. McCain (DDG 56) thuộc lớp Arleigh Burke, đi vào hoạt động từ năm 1994 và được đặt tên theo cha của cố Thượng nghị sĩ John McCain III là ông John S. McCain, Jr. và ông nội của Thượng nghị sĩ là ông John S. McCain Senior.

Cả hai vị đều là những sĩ quan hải quân giàu thành tích, đã đảm nhiệm nhiều vai trò khác nhau ở khu vực Thái Bình Dương trong Thế chiến thứ hai. Hai người trở thành cặp cha – con đầu tiên trong lịch sử hải quân được phong hàm đô đốc. Các thủy thủ gọi con tàu là “Big Bad John” để thể hiện tinh thần chiến đấu kiên cường của những người mà con tàu được mang tên.

Kể từ khi đi vào hoạt động, tàu USS John S. McCain đã đóng vai trò tích cực trong khu vực Ấn Độ Dương – Châu Á – Thái Bình Dương. Tàu USS John S. McCain và tàu ngầm USS Frank Cable (AS 40) trở thành tàu hải quân Hoa Kỳ đầu tiên thăm cảng quốc tế Cam Ranh của Việt Nam vào tháng 10/2016.

Tháng 6/2017, tàu quay trở lại thăm cảng Cam Ranh và được Thượng Nghị sĩ John McCain III đến thăm.

Tàu USS John S. McCain, thuộc hải đội tàu khu trục (DESRON) 15, Hạm đội 7 của Hải quân Hoa Kỳ, với nhiệm vụ thực hiện tuần tra để hỗ trợ an ninh và ổn định tại khu vực Ấn Độ Dương – Châu Á – Thái Bình Dương. Gần nhất, vào đầu tháng 2/2021, tàu USS John S. McCain đã thực hiện tuần tra ở Eo biển Đài Loan và thách thức sự lấn át của Trung Quốc ở khu vực quần đảo Hoàng Sa trên Biển Đông, nơi Việt Nam tuyên bố chủ quyền.

Người Việt chơi mô tô Harley

 Hồ Đắc Vũ

April 7th, 2021

Trẻ Magazine

9 giờ sáng, nắng đầu Xuân dường như chưa đủ ấm để xóa hết lớp sương mờ trên cửa kính của những cửa tiệm nhỏ kiểu Anh thời thuộc địa, dọc phố chính Waltham, MA.

Nhóm người áo da, quần da, găng tay, nón an toàn đen, từ quán cà phê bước ra 8 chiếc mô tô Harley dựng sát lề đường, leo lên, nổ máy. Tiếng nổ trầm, rời rạc, nặng nề tức ngực, âm hiệu đặc biệt của Harley vang trên phố. Những cánh tay đưa lên, chào những người hiếu kỳ dừng lại bên đường.

8 chiếc Harley thuộc nhóm V-HOG Boston – nhóm mô tô Harley của người Việt tại Boston – bắt đầu chuyến du lịch đầu Xuân 2020 tới vùng núi White Mountain, New Hampshire, tiểu bang có 4 mùa đẹp nổi tiếng của vùng New England và Bắc Mỹ…

Nhóm mô tô V-HOG Boston, MA. Nguồn. HĐV/trẻ   

Tôi gặp Hải tại nhà Khánh, một người bắt đầu mê Harley Davidson, thành viên mới của V-HOG Boston. Hải cho biết:

–Hiện nay, nếu tính hết thì cả nhóm khoảng 15 thành viên nhưng hôm nay chỉ có 8 thành viên tham gia thôi. Trước đây, khi sưu tầm xe hơi em đã đến những thị trấn dọc bờ biển cho đến khu hồ, rừng núi New Hampshire nên rành các con đường làng. Mỗi chuyến V-HOG đi, em là người hướng dẫn cả đoàn.

Nhóm mô tô chạy về hướng Bắc, dọc bờ biển Portsmouth.

Hải trong hành trình mùa Thu 2020. Nguồn. HĐV/trẻ

Mùa Xuân mở ra với những núi đồi, rừng cây xanh kéo dài như cánh tay vươn tới bờ biển bên kia đường. Nhóm mô tô lướt đi trong gió se lạnh. Qua khỏi Portsmouth, họ bắt đầu xuyên rừng, đổi sang hướng Tây Bắc nhắm tới Laconia, vùng hồ và khu du lịch nổi tiếng của New Hampshire. Hải nói:

– Sau thời gian đam mê xe hơi thể thao Ðức, Mỹ, em bắt đầu thích Harley Davidson, lúc đó làm hai jobs nên em có điều kiện thực hiện niềm đam mê mới. Năm 2002, Harley Davidson ra đời chiếc V-rod, động cơ do hãng Porche của Ðức thiết kế đặc biệt với bộ phận giải nhiệt nằm trước máy xe và những đặc điểm khác, em mê quá nhưng vì còn mắc, mãi đến 2008 em mới mua được chiếc này (đời 2002).

Vùng Laconia với các hồ xanh nước, núi rừng trùng điệp vây quanh, đây cũng là nơi có mùa Thu vàng nổi tiếng. 8 chiếc Harley ngừng lại bên bờ, đậu một dãy dài theo con đường chia bãi cát với khu rừng bên trái ẩn hiện những căn biệt thự trắng im lìm và khu shopping nhỏ.

Bảo Toàn và John. Nguồn. HĐV/trẻ

Hải cùng các bạn dùng bữa trưa gọn gàng với bánh mì Việt Nam bày ra trên chiếc bàn gỗ. Sau hơn 1 giờ cỡi mô tô Harley, người rần rần trong gió, cộng với hương thơm núi rừng mùa Xuân đã làm 20 ổ bánh mì biến trong vài phút. Những người bạn Việt Nam ngồi tán chuyện cũ mới, chuyện Sài Gòn chuyện Boston, chuyện Harley, các mẫu xe, cho biết xe mình đã “độ” thêm bộ phận nào, chuyện hơn 230 xe mô tô Harley và vài chục chiếc xe hơi cổ đã cháy tiêu tan trong trận hỏa hoạn tại Viện Bảo tàng Top Mountain Crosspoint ở Hochgurgl bên nước Áo 2 tuần trước. Hút hơi thuốc, uống lon nước, 8 chiếc Harley lại lên đường, chạy khuất sau cánh rừng thông trước mặt.

– Em dành thời gian, tiền bạc tân trang, “độ” lại chiếc Harley Davidson V-rod thật ngon, thật đẹp, chạy một vòng về nhà, dựng chiếc xe, ngồi xuống nhìn thật kỹ, bỗng như có khoảng lặng trong lòng. Lúc đó em mới biết rằng, đây là loại xe tốc độ, thiết kế kiểu mới, không phải là phong cách Harley Davidson truyền thống mà mình mong muốn.

Tôi đọc được những suy nghĩ qua câu nói của Hải:

– Anh hiểu, em muốn một chiếc mô tô đậm chất Harley, không phải xe thể thao, không là xe đua, không là xe thời trang, một chiếc Harley thuần chất, một phương tiện mang con người lang bạt kỳ hồ khắp nơi…

Nhóm V-HOG Boston trong chuyến đi White Mountain. Nguồn. HĐV/trẻ

– Ðúng anh! Ðó là điều khiến em tìm đến mô tô Harley Davidson. Em bán đi và mua chiếc Softail kiểu Harley nguyên bản năm 2008. Từ đó em bắt đầu sưu tầm Harley Davidson. Cho đến bây giờ thì có được 8 chiếc, mỗi chiếc đều có lịch sử và em đã bỏ công tân trang với các phụ kiện đặc biệt.

Hải tiếp tục câu chuyện của mình:

– Từ năm 2002, em đã có ý định rủ rê những người chơi xe Harley tụ lại thành một nhóm, nên bất cứ lúc nào thấy người Á Châu chạy Harley là em tới làm quen, thăm hỏi, giao thiệp và bày tỏ ý muốn của mình. Dần dà cũng được ít người tham gia, và bây giờ có được 15 thành viên.

Thành viên nữ duy nhất của V-HOG Boston, Diana. Nguồn. HĐV/trẻ

Qua những cánh rừng bạt ngàn, qua xa lộ hẻo lánh, không trạm nghỉ, không phố thị, nhóm V- HOG cứ thẳng tới. Núi rừng White Mountain sừng sững trước mặt. Họ bắt đầu lên con dốc vòng chân núi. Hương Xuân, mang đầy mùi thông, mùi cỏ ngập trong gió. Trời bỗng lạnh hơn, những lớp băng mỏng lốm đốm mặt đường. Tới một đoạn vách núi mở rộng, Hải ra dấu ngừng lại:

–Vì an toàn chúng ta nên nghỉ ở đây, băng tuyết cuối Ðông vẫn còn rải rác, không nên lên cao hơn.

Những chiếc Harley được dựng bên đường, 8 thành viên bước tới ghềnh núi, nhìn xuống.

Harley Heritage Springer, sưu tầm của H. Nguồn. HĐV/trẻ

Mùa Xuân New Hampshire hùng vĩ trong bạt ngàn núi rừng xanh ngát trải dài đến cuối tầm mắt, như nằm dưới chân những người V-HOG, yêu mô tô, yêu đất trời biển núi. Hải nói với tôi:

– Anh biết không, bây giờ thì nhóm V HOG đã có nhiều thành viên, họ cũng sưu tầm các xe Harley và thích lang bạt, thích khám phá thiên nhiên với con ngựa sắt truyền thống của mình. Năm nào cũng vậy, từ Xuân cho tới cuối Thu, cả nhóm đều làm mấy chục chuyến lãng du khắp vùng New England, từ các thị trấn nhỏ nằm ven biển cho đến các vùng cheo leo của năm ngọn núi tại New Hampshire.

Chiều xuống sớm hơn ở White Mountain, ánh nắng cuối ngày trải màu vàng cam lung linh suốt núi rừng, 8 người Việt Nam bên những chiếc Harley Davidson lặng yên nhìn buổi chiều xuống dần giữa thiên nhiên hùng vĩ từ lưng chừng núi.

Chuyến đi mùa Xuân 2020. Nguồn. HĐv/trẻ

Một lát sau, họ lên xe, nổ máy. Tiếng Harley vang cả núi rừng, cái lạnh còn sót của cuối Ðông như tan mất… Những chiếc Harley Davidson xuống núi, trở về Waltham bằng các con đường làng khác, cuộc hành trình mở hàng của năm 2021 đẹp và an toàn.

Hải giới thiệu những thành viên trong nhóm của anh, với tôi:

– Hầu hết thành viên trong nhóm V HOG Boston đều có nghề nghiệp và việc làm riêng. Người bạn lớn nhất trong nhóm, ông Richard, 84 tuổi, gốc Ý, độc thân vui tính hát hay và duyên nợ với Harley Davidson trên 30 năm, đã sưu tầm được 4 chiếc, anh John, cựu sĩ quan nhảy dù, đã chơi Harley từ 25 năm trước, 75 tuổi nhưng còn gân chạy Harley. Một người đáng mến khác là anh Toàn, chủ garage, hay sinh hoạt văn nghệ và là Chủ Tịch Cộng Đồng VN vùng Boston. Thành viên thiếu nữ duy nhất là cô Diana. Thành viên mới nhất là Khánh, người tham gia đầu tiên và lâu nhất là Phú, anh Phi Thảo, người chăm lo phần media của V-HOG Boston.

Hàng đầu từ phải qua trái: Hải, Richard tóc trắng, lớn tuổi nhất. Hàng thứ nhì, từ phải: Anh Bảo Toàn, Chủ Tịch Cộng Đồng VN tại Boston và các thành viên khác. Nguồn. HĐV/trẻ

Hải nói:

– Năm ngoái có anh Timmy, V-HOG Orange county, CA đã tới đây làm một chuyến phiêu lưu. Anh ấy rất thích vùng New England, hẹn năm nay trở lại cùng với các bạn V-HOG CA.

Trong lúc nghỉ chờ ăn tối, Hải tiết lộ:

– V-HOG Boston cũng có một quỹ riêng, dùng chi phí cho các chuyến đi và dành một phần trợ giúp cho những người Việt Nam gặp hoàn cảnh khó khăn.

Qua Hải, tôi biết V-HOG Boston là nhóm người Việt Nam yêu mến mô tô Harley Davidson, thích khám phá, vui chơi cùng thiên nhiên. Những chiếc Harley Davidson đã làm một gạch nối giữa họ với đất trời, núi rừng, biển cả của vùng New England.

Thành viên Khánh và Cẩm. Nguồn. HĐV/trẻ

Cẩm, vợ của Khánh, một thành viên V-HOG từ bếp bước ra, cười nói:

– Xong! Mời mọi người dùng bữa tối.

Lẩu gà hầm sả thơm ngát, mọi người vô bàn, Khánh khui chai chát đỏ, buổi tối thật ấm cúng.

Cụng ly. Khánh cười hà hà:

– Chúc mừng V-HOG Boston! Ăn xong mời hết ra coi chiếc Harley Davidson touring Street Glide 2200cc mới lấy về chiều hôm qua.

Seadrift một bi kịch Việt-Mỹ


05/12/2019
Từ Thức

Cuối tuần, đi coi Seadrift tại Cinémathèque, Paris. Seadrift là một cuốn phim của Tim Tsai, về một cuộc đụng độ đẫm máu giữa ngư dân gốc Việt và ngư dân da trắng tại một vùng biển Texas, Hoa Kỳ.


Bích chương Seadrift
Rất thích Cinémathèque, cơ sở của Bộ Văn hoá Pháp, nơi sưu tầm, tích trữ tất cả những gì liên hệ tới nghệ thuật thứ bảy, trình chiếu phim của các điện ảnh gia độc lập, hay những tác phẩm hiếm quý, ngoài hệ thống thương mại. Sau phần chiếu phim, cũng thú vị không kém, là phần đạo diễn thảo luận với khán giả Tim Tsai, người Mỹ, gốc Đài Loan, 38 tuổi, nói những gì xảy ra ở làng đánh cá Seadrift là một trang sử của Texas, không thể để chìm vào quên lãng.
Chuyện xảy ra cách đây 40 năm, nhưng đề tài nêu ra vẫn còn là vấn đề thời sự, có lẽ nóng bỏng hơn bao giờ hết: vấn đề kỳ thị chủng tộc, vấn đề di dân, những xung đột không thể tránh, trong cuộc sống chung giữa những cộng đồng không cùng một văn hoá.

TỪ ALAMO BAY TỚI SEADRIFT
Một cảnh trong phim

Trong một cuộc đụng độ giữa các ngư dân, ở ngoài khơi Seadrift, năm 1985, một thanh niên gốc Việt bắn chết một ngư dân da trắng, Billy Joe Aplin.
Không khí Seadrift đã ngột ngạt, khó thở từ ngày dân tị nạn người Việt, càng ngày càng đông, tới hành nghề, gây khó khăn cho cho chuyện mưu sinh của dân địa phương, trở thành một cơn bão tố hận thù.
Tổ chức kỳ thị chủng tộc KKK không bỏ qua cơ hội, nhảy vào, hô hào dân địa phương nổi dậy, trừng trị và đuổi hết dân tị nạn ra khỏi nước Mỹ. Nhiều gia đình Việt, Mỹ cửa đóng then cài, không dám ra đường. Thuyền bè nhà cửa của người Việt bị đốt phá. Nhiều người phải bỏ nghề, bỏ Seadrift đi nơi khác tìm đất sống.
“Đất nước này là của chúng tôi”, câu đó người ta nghe thấy, không phải chỉ ở Seadrift, nhưng ở khắp nơi trên thế giới, từ ngày có phong trào di dân. Louis Malle, một đạo diễn hàng đầu của điện ảnh Pháp, trước đây đã thực hiện cho Hollywood cuốn phim Alamo Bay về cùng một đề tài.
Alamo Bay (1985) là một chuyện hư cấu, xây dựng trên những gì xảy ra ở Texas. Seadrift là một cuốn phim tài liệu, nhưng hấp dẫn từ đầu tới cuối, trong đó không có lời bình của người làm phim, chỉ có lời tường thuật và ý kiến của những người trong cuộc, cả hai phe Mỹ, Việt. Người làm phim chỉ ghi nhận, không bày tỏ ý kiến. Seadrift nói lên những nỗi đoạn trường của người Việt ở Texas, không quên nhắc tới thảm kịch của Boat people, và trước đó, cuộc di cư của 1954 của những người từ miền Bắc chạy vào Nam Việt Nam, lánh nạn Cộng sản


ASIAN TEXAN
Tim Tsai, bên trái và tác giả bài báo, Paris 15/11


Tim Tsai bắt đầu theo đuổi đề tài Seadrift sau khi đọc bài viết về sư kiện Seadrift của tiến sĩ Thảo Hà (hay Hà Thảo) trong cuốn “Asian Texas: our Histories and Our Life”, Irwin Tang xuất bản năm 2008.
Tim mời Thảo Hà, giáo sư Xã hội học tại MiraCosta College, Nam California, cộng tác, trở thành nhà đồng sản xuất và trong 7 năm, đã giúp Tim tìm gặp, phỏng vấn các ngư phủ Việt Nam. Cùng một ngày với Paris, cuốn phim được Thảo Hà trình chiếu ở MiraCosta College.
Tim Tsai và Thảo Hà, tại California
Tim cho hay rất khó thuyết phục ngư dân Việt nói về thảm kịch, có lẽ vì họ không muốn gợi lại những kỷ niệm đau thương, muốn quên quá khứ, để hướng về tương lai. Đó là tâm lý chung của người Việt, không muốn gợi lại những vết thương quá bi thảm của mỗi người, mỗi cá nhân.
Seadrift, chiếm giải Spotlight Award, tại VietFilmFest 2019, cũng nói lên nghị lực phi thường của người Việt tỵ nạn. Đến với hai bàn tay trắng, ngày nay đã an cư lạc nghiệp, nhiều người đã thành công.
Seadrift, qua lời kể của người Việt, là một đoạn đường chông gai. Một người nói: Tôi đã chạy Cộng sản hai lần, rất sợ phải chạy một lần nữa. Một bà nói: Họ rất ghét mình, chỉ muốn đuổi mình đi nơi khác. Nhưng cũng pha nét khôi hài. Một ngư dân nói: Tôi có bệnh say sóng, sợ biển, ghét đi thuyền, ngày nay trở thành ngư dân chuyên nghiệp, hoặc: Tôi phải bỏ Seadrift đi nơi khác kiếm ăn, cuối cùng nhớ Seadrift, phải mò về. Một người Mỹ nói: Họ phạm luật chài lưới, bị phạt, khai tên Nguyễn, cảnh sát bó tay, không biết phải gởi giấy phạt cho ai, vì cả làng họ Nguyễn.
Seadrift cũng nói lên cái lớn, cái đẹp của công lý Hoa Kỳ. Bồi thẩm đoàn, 12 người, tất cả da trắng, trong vụ xử vụ án Billy Joe Aplin, đã tha bổng thủ phạm người Việt, vì lý do tự vệ chính đáng.
Chính quyết định can đảm này của toà án, trong khi KKK gào thét chung quanh, đã đổ dầu vào lửa, gây náo loạn cả thị trấn.

NHỮNG NGỘ NHẬN CHẾT NGƯỜI
Qua cuốn phim, người ta hiểu hơn những gì đã xảy ra ở Seadrift. Trước hết là sự khó khăn trong cuộc sống chung đụng thường nhật giữa hai cộng đồng, xa lạ từ ngôn ngữ tới văn hoá, lối sống.
Các nhân chứng Mỹ trách người Việt, không hiểu từ đâu tới, càng ngày càng đông, khiến đời sống đang êm ả, thoải mái trở thành khó khăn. Họ trách người Việt bất chấp lề lối hành nghề địa phương, đánh cá vớt tôm ngày đêm, không nghỉ, công nhân nhận lương rẻ mạt, khiến nhiều người Mỹ thất nghiệp. Khán giả Pháp không khỏi nghĩ tới câu trách móc: người di dân tới “manger le pain des Francais” (ăn bánh mì của người Pháp), thường nghe thấy trong những nhóm cực hữu.
Những người Việt đầu tiên tới Seadrift theo lời gọi của một hãng sản xuất đông lạnh, với lương 40 dollars mỗi ngày, là lương không người Mỹ nào nhận làm. Với số tiền tiết kiệm, họ mua thuyền đánh cá, làm việc không ngừng nghỉ, càng ngày càng phát triển, gạt một số người bản xứ ra ngoài.
Người Việt trách người Mỹ kỳ thị, tìm mọi cách phá hoại thuyền bè, lưới, rọ bắt cá của người Việt, với một thái độ, và những hành động khiêu khích, dẫn tới những cuộc đụng độ thường xuyên, và cuối cùng là án mạng.
Cuốn phim đi tới một kết luận gần như một “happy end”. Bốn mươi năm sau, không khí đã lắng dịu. Hai bên đã hiểu nhau hơn. Một ngư dân Việt nói: có một số ít kỳ thị, bạo hành, nhưng Hoa Kỳ là đất lành, đa số người Mỹ là người tốt.
Một cựu quân nhân Mỹ, mang kỷ niệm cay đắng về chiến tranh Việt Nam, trước đây nghĩ những người Việt ở Seadrift là… Cộng sản, không hiểu tại sao phải đóng thuế để nuôi những người Cộng sản mò tận tới một xó ở Texas để gây rắc rối cho cuộc sống của họ. Khán giả ngạc nhiên, nhưng nhẹ nhõm, thấy ông ta phải mất mấy chục năm mới tìm hiểu rằng những người Việt đó đứng cùng một chiến tuyến.
Nhiều nhân chứng Mỹ trách chính quyền địa phương và trung ương không có một nỗ lực nào, thí dụ tổ chức những cuộc gặp mặt để hai bên hiểu nhau hơn.
Cô con gái của Billy Joe, người Mỹ bị bắn chết, nhìn nhận thủ phạm không có chủ ý giết người, và muốn quên chuyện cũ để sống.
Được hỏi anh có mục đích, khi thực hiện cuốn phim, tố cáo tệ nạn kỳ thị chủng tộc và tìm cách để các cộng đồng hiểu nhau hơn hay không, Tim Tsai nói chủ ý khởi đầu chỉ là muốn thuật lại một chuyện xảy ra trên nước Mỹ, nhưng dần dần, qua các nhân chứng, không thể không nghĩ tới những điều đó.
Hy vọng cuốn phim sẽ khiến những người Việt, ngày nay khắt khe với những di dân mới, nhớ về quá khứ của chính mình để có thái độ nhân bản hơn.
Cô con gái của Billy Joe nói, với thời gian, cô ta nghĩ nếu người Mỹ không tham chiến ở Việt Nam, người Việt đã không phải rời bỏ đất nước để tới sinh sống ở Seadrift. Cuốn phim của Tim Tsai, với vài đoạn ngắn về cuộc di cư 54 và thảm cảnh boat people sẽ giúp những người Mỹ như cô ta hiểu rõ hơn lý do tại sao người Việt chạy tới Seadrift, hay khắp nơi trên thế giới.
MỘT CUỐN PHIM VỀ NGƯỜI VIỆT
Đã đến lúc, muộn còn hơn không, phải có một cuốn phim giải thích, cho những người không theo dõi thời sự hiểu: nếu không có Cộng sản, người Việt Nam, vốn gắn liền với ruộng vườn, làng xóm, không bao giờ nghĩ tới chuyện bỏ làng lên tỉnh, chưa nói chuyện hy sinh tính mạng, trèo lên thuyền, vượt biển tìm đất sống, nơi xứ lạ quê người.
Chúng ta cần, khẩn cấp, một cuốn phim để nói với thế giới chúng tôi là ai, tại sao chúng tôi phải trôi giạt chân trời, góc biển. Chỉ có ngôn ngữ điện ảnh làm được chuyện đó, nhưng phải có một cuốn phim đáng gọi là một tác phẩm điện ảnh. Không phải là những phim tài liệu, tuyên truyền ngây ngô, chắp vá.
Ngày nay, lớp trẻ Việt Nam đã có nhiều người theo học nghề phim ảnh, không lẽ không có ai đủ khả năng? Và nhiều người Việt thành công, trở thành triệu phú ở nước ngoài, nên nghĩ tới chuyện tài trợ một dự án nghệ thuật có ý nghĩa, có tầm vóc, hơn là bỏ tiền làm những chuyện đồng bóng, vụn vặt, vớ vẩn.

Trâu già

Hồi ký của Chim Việt

Con trâu có một hàm răng

Ăn cỏ đất bằng uống nước bờ ao

Mày sống mày ở với tao

Mày chết tao cầm dao xẻ mày

Thịt mày tao nấu linh binh

Da mày bịt trống tụng kinh trong chùa

Sừng mày tao tiện con cờ

Cán dao, cán mác, lược dày, lược thưa.

Thú vật nhà chỉ có con trâu là ích lợi cho chủ nhà nhứt: đời sống thật giản dị chỉ ăn cỏ ngoài đồng, trong khi con heo, con gà chủ phải nuôi bằng cám, bằng lúa. Đời sống thật vất vã, tới khi chết thân thể trải dài ra cho xã hội, da bịt trống cho các sư sãi, sáng sớm đánh trống công phu, cho nhà nông biết giờ ra đồng, chiều cùng các sư sãi đánh Thu Không báo hiệu một ngày đả hết. Sừng được tiện con cờ cho các quân tử tiêu khiển “Khi chén rượu lúc cuộc cờ” và làm lược cho các tiểu thơ phòng the trang điểm.

Từ ngày thủ tướng Nguyễn Văn Tâm ban hành sắc lịnh cho tự do thành lập nghiệp đoàn, tại Sài Gòn trong bóng tối hậu trường chính trị mình đâu có hay đã có nhiều anh em âm thầm hoạt động trong nước, ngoài nước thành hình ra một cơ cấu nghiệp đoàn, nằm trong hệ thống nghiệp đoàn quốc tế.

TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO CÔNG VIỆT NAM chủ tịch củng là người sáng lập ra là anh Trần quốc Bửu một tổng liên đoàn đầu tiên tại Sài Gòn. Dấu hiệu con trâu, chủ trương cần lao, bất vụ lợi. Anh kêu gọi giới lao động trong nước mau thành lập ban quản trị lâm thời, đăng ký trong danh sách đầu tiên đặng ngày khai mạc đại hội sẽ giới thiệu cho báo chí trong và ngoài nước dưới sự chứng kiến của chính phủ.

Nhằm vào lúc củi quế gạo châu, dưới nông thôn bị Việt Minh khủng bố đem gia đình chạy nên lánh nạn trên châu thành. Các hãng xưởng chưa hoạt động trở lại đời sống kinh tế khó khăn, còn ai đâu nghĩ tới chuyện quá mới lạ Nghiệp Đoàn là gì? Không bỏ lỡ cơ hội ngàn năm một thưở tôi và anh Vi hai người đều làm chủ tiệm may. Anh chủ tiêm may Thời Trang gần Thánh Thất Cao Đài; tôi tiệm may hiệu Liên Hồ cùng một con đường Quai De La Marne (Vĩnh Hội).

Trong đô thành không có con đường nào mà không có tiệm may. Không có đường hẽm nào mà không có tiệm may. Vậy mà tôi và anh Vi đạp xe đi gần cả tháng trời mới quy tụ dược đám đồng nghiệp ra ghi danh đăng ký nghiệp đoàn thợ may.

Chủ tịch anh Nguyễn Văn Phong thợ may quân phục.

Phó chủ tịch chị Cao Thị Nhàn, thợ may đồ đầm.

Cố vấn ngành may âu phục TTL chủ tiệm may Liên Hồ.

Cố vấn ngành may y phục phụ nữ anh Hoàng Đàm tiệm may Hoa Mỹ Tân Định

Tổng thư ký anh Đinh Văn Toại thợ may.

Thủ quỹ ông Sáu Kê tiệm may Nghệ Thuật Palikao Chợ Lớn Mới.

Cố vấn Kỷ Thuật anh Nguyễn Văn Vi tiệm may Thời Trang Vĩnh Hội & trường dạy cắt may Thời Trang ngã tư Phú Nhuận.

Ngày vô ký tên đăng ký Nghiệp Đoàn thợ may tôi hỏi anh Bùi Lượng tụi tôi được đứng vào hạng mấy? Anh Lượng nói Nghiệp Đoàn thợ may đứng được hạng …15! Anh đưa danh sách cho cả bọn coi như sau:

  1. Nghiệp đoàn Ấn Loát
  2. Nghiệp đoàn bồi bếp.
  3. Nghiệp đoàn xe Lam
  4. Nghiệp đoàn xe Autobus
  5. Nghiệp đoàn hãng la de BGI
  6. Nghiệp đoàn hãng hộp quẹt cây CIFA
  7. Nghiệp đoàn Hãng Thuốc Bao Xanh J. bastos.
  8. Nghiệp đoàn Hãng Thuốc Điếu MIC
  9. Nghiệp đoàn Đồn Điền Cao Su Đất Đỏ
  10. Nghiệp đoàn Phu Khuân Vác Bến Tàu Nhà Rồng
  11. Nghiệp Đoàn Đánh Giày
  12. Nghiệp đoàn Thợ Đóng Hòm
  13. Nghiệp đoàn Thợ Mộc
  14. Nghiệp đoàn Thợ Hồ
  15. Nghiệp đoàn Thợ May.

Ra khỏi phòng Tổng thư ký cả tháng nay tôi và anh Vi đi vận động bỏ cả nghỉ trưa vậy mà nghiệp đoàn mình đứng sau nghiệp đoàn Đóng Giày và nghiệp đoàn Thợ Đóng Hòm. Hợp thức hóa xong bật đèn xanh khắp Sài

Gòn Chợ Lớn đâu củng thấy giăng biểu ngữ …CÁC BẠN THỢ MAY HÃY GIA NHẬP NGHIỆP ĐOÀN THỢ MAY. Các phân bộ Chợ Lớn, Gia Định, Xóm Chiếu, Phú Nhuận, Tân Định hàng tuần đều thu nhận nhiều đoàn viên. Trụ sở trung ương đặt tại nhà kiếng nằm trong khuôn viên Vườn Tao Đàn, nhà này trước kia là Nhà Xẹt Annamit, kế bên chuồng ngựa giống của Hội đua ngựa Sài Gòn số 14 đường Nguyễn văn Thinh (sau đổi lại Lê văn Duyệt). Trước thì đề tên Tổng Liên Đoàn Thiên Chúa Giáo, nhưng lúc đó cố Tổng Thống Ngô đình Diệm là người Công Giáo muốn được độc lập không đảng phái nên mới đổi lại Tổng Liên Đoàn Lao Công Việt Nam.

Trong danh sách 27 Nghiệp đoàn đầu tiên này chỉ có nghiệp đoàn Thợ Đóng Hòm và nghiệp đoàn Đánh Giày là được các nghiệp đoàn bạn và báo chí chú ý nhứt. Anh chủ tịch nghiệp đoàn Thợ Đóng Hòm người cao lớn vạm vỡ, ăn nói lễ độ để râu dài chuyên mặc đồ bà ba có đầu tóc nhỏ bằng trái ổi màu xá lị giữ đầu tóc bằng cái khăn nhiễu màu đỏ choàng từ sau ra trước trán.

Sau đây là cuộc mạn đàm giữa tôi và anh chủ tịch Thợ Đóng Hòm:

_Xin anh làm ơn cho biết trụ sở anh nằm tại vùng nào trong đô thành?

_Trụ sở nghiệp đoàn Thợ Đóng Hòm nằm ngoài cầu Phú Lâm, bên này là trạm kiểm soát cảnh sát.

_Hiện nay anh đang tranh chấp với chủ nhân tới đâu rồi?

__Anh em chúng tôi từ lâu cha truyền con nối nghề này, cái nghề đáng ra nó là nghề thợ mộc, củng dùng đục, búa, cưa, xẻ những thân cây ráp lại thành cái hòm, cái tủ, cái giường, hay quy mô hơn cái nhà. Nhưng nghề anh em chúng tôi chuyên đóng hòm ngoài ra không được lấn sang nghề thợ mộc. Sự mê tín của dân gian đến đổi những dụng cụ nghề nghiệp như cưa, đục, búa cuả chúng tôi họ củng không dám mượn đóng bàn ghế hay làm nhà. Như vậy đời người khi còn sống họ ở trong nhà…người thợ mộc tới khi chết thì họ mới biết tới anh thợ đóng hòm!!? Như anh đã biết trong các trại bán hòm có ba loại: loại Nhứt, loại Nhì và loại Ba tức là loại hàng ngang. Sự báo hiếu của con cháu người mình khi thân nhân ruột thịt qua đời ai củng muốn mua cái hòm quý giá bằng những cây danh mộc như loại cây Huỳnh Đàn, cây Huỳnh Tân, cây Giáng Hương, những loại cây này chôn xuống đất có gần trăm năm không hư mục.

 _Những nhà giàu có khi cần giá tiền bao nhiêu họ củng dám mua báo hiếu. Như vậy người thợ đóng loại hòm Ngang không thể đóng được loại hòm Nhứt. Gần đây mấy bịnh viện trong đô thành mấy Sư Đoàn họ kêu đấu thầu loại hòm Ngang rồi có phong trào ra đời những thợ đóng hòm không chuyên nghiệp củng cưa, đục, búa, mỗi ngày họ đóng không biết bao nhiêu cái hòm? Đầu hôm sớm mai họ vì sinh kế mà thành thợ đóng hòm. Chúng tôi thợ chuyên nghiệp bị vất vã với đám người này _Những nhà giàu có khi cần giá tiền bao nhiêu họ củng dám mua báo hiếu. Như vậy người thợ đóng loại hòm Ngang không thể đóng được loại hòm Nhứt. Gần đây mấy bịnh viện trong đô thành mấy Sư Đoàn họ kêu đấu thầu loại hòm Ngang rồi có phong trào ra đời những thợ đóng hòm không chuyên nghiệp củng cưa, đục, búa, mỗi ngày họ đóng không biết bao nhiêu cái hòm? Đầu hôm sớm mai họ vì sinh kế mà thành thợ đóng hòm.

Chúng tôi thợ chuyên nghiệp bị vất vã với đám người này nếu không tranh đấu với chủ nhơn một ngày nào đó thì bị loại ra khỏi trại hòm. Củng như nhà giàu có bao nhiêu tiền củng không tìm ra được hòm bằng cây danh mộc. Anh chủ tịch nghiệp đoàn đánh giày là cựu cảnh sát quận Nhì khi đứng gác trước rạp hát bóng Cathay đường Mac Mahon lúc vừa vãn hát xuất khuya bị Việt Minh liệng lựu đạn hư một con mắt giải ngũ, nay tự động mình ên đứng ra thành lập nghiệp đoàn Đánh Giày. Mình ên làm chủ tịch mình ên làm Tổng thư ký, mình ên làm luôn Thủ Quỹ.

Nhiều lần trò chuyện được anh mời lại thăm trụ sở. Trụ sở nghiệp doàn nằm trong đường hẻm Farinolle đường Gia Long vô củng được mà đường Nguyễn Du vô củng được. Trụ sở là nhà anh trước có tấm bảng: TRỤ SỞ NGHIỆP ĐOÀN ĐÁNH GIÀY. Trụ sở này nằm trên cái nền nhà ai đó có lối 6 gia đình cất trên này. Mở đầu câu chuyện anh chủ tịch nói:

_Trước kia anh thường thấy đám trẻ con đi đánh giày, khắp trong châu thành thường khi chúng nó đánh lộn, tranh dành bắt mối đánh giày. Để giúp đám trẻ con đầu đường xó chợ này có một đời sống trật tự vì tụi nó củng là nạn nhân chiến tranh chết cha mất mẹ sống lang thang khắp châu thành hoa lệ này.

_Hiện nay anh được bao nhiêu đoàn viên?

_Tất cả được 72 đoàn viên, sáng ngày tụi nó tựu tại đây tôi khoanh vùng cho tụi nó thùng số chẳn ngày chẳn thùng số lẻ ngày lẻ.

_Làm sao anh gom tụi nó lại đủ?

_Tất cả những thùng đánh giày phải để lại đây vì đây là trụ sở. Đứa nào không có thùng thì tôi cho mướn mỗi ngày 4 cắc tính theo giá tiền đánh hai đôi giày bao luôn Sira.

_Anh được bao nhiêu thùng cho tụi nó mướn?

_Hiện nay gần hết là của tôi vì tụi nó đánh bài thua bán trả nợ.

Anh chủ tịch kể cho tôi nghe một câu chuyện thời sự hy hữu như sau. Một buổi sáng Chủ Nhật tại nhà hàng Nguyễn Văn Đất đường Sabourai khách tới ngồi ăn điểm tâm đen nghẹt, đoàn viên của anh củng thừa dịp đó chen vô đánh giày. Mà tụi này có tật lớn khi đánh giày thì nó ngồi chèm bẹp, hai châm ôm bao trọn cái chơn ông khách đánh giày để trên thùng. Chổ buôn bán buổi sáng là giờ có đông khách tới đi ăn điểm tâm, khi anh bồi bàn bưng cái mâm có hai ly cà phê hai tô hủ tiếu vì nó ngồi dưới đất không thấy vì vậy vấp nó đổ ly cà phê.

Anh bồi bàn tức giận vì buổi sáng mấy thằng cô hồn sống chen vô lúc giờ có đông khách nên giận quá chửi thề: Đụ mẹ mấy thằng cô hồn này chen vô làm mất trật tự không cho làm ăn gì hết…

Thằng đoàn viên của anh nghe anh bồi bàn chửi thề nên đứng dậy cự nự, anh quản lý nhà hàng đứng ra xin lỗi xử huề vì anh bồi bàn có nóng giận chửi thề củng tại mấy em chen vô trong lúc nhà hàng đông khách! Vậy mà mấy thằng đoàn viên của anh không chịu vừa lòng chạy về báo cáo với anh.

Anh nghe biết lỗi tại mình, anh thường căn dặn buổi sáng không nên vô mấy nhà hàng Việt , vì nhà hàng nhỏ lại để nhiều bàn. Như nhà hàng Nguyễn văn Đắt góc đường Philippini & Sabourai , Nguyễn thị Trước đường Bonard  Phóng Viên đường Espagne…

Buổi sáng nên lại mấy nhà hàng Kim Sơn đường Bonard, Kim Biên đường Colonel trên có nhà hàng Tabarin. Hay dưới đường Catinat nhà hàng Pagode, nhà hàng Liễu Tranh, Continental Saigon Palace, tha hồ đánh giày cho khách ngoại quốc ở ngoài Majestic.

Tôi biết lỗi tại mình nhưng củng mặc đồ xách thùng đánh giày đi tới đó. Tôi vô gặp anh Quản Lý nhà hàng anh này củng nói mọi sự anh đã xử huề và anh bồi bàn tạm lánh mặt. Nhưng sự thật tôi muốn gặp anh bồi bàn có lời xin lỗi . Mũi dại, lái chịu đòn tôi nhận cái lỗi của đám đệ tử tôi. Nhưng trước cửa nhà hàng đám cô hồn sống mỗi đứa xách thùng đánh giày đi qua đi lại nhà hàng mặt mày hầm hầm dữ tợn vì lẽ gì đó … mà mỗi đứa liều mạng liệng đại một cái thùng thì đồ đạt nhà hàng bể nát, rồi chạy mất như chuột biết đâu mà bắt?

Tình hình trở nên căng thẳng như vậy, anh quản lý củng sợ mà anh bổi bàn củng sợ không dám ra mặt đối diện với tôi. May sao có xe Cảnh Sát quận Nhì tới khi có xe cảnh sát tới thì anh bồi bàn mới dám ra bắt tay tôi và xin lỗi. Bằng một nhịp cầu thông cảm tôi ra lịnh cho đám đoàn viên tôi mỗi đứa tới bắt tay anh bồi bàn.

Buổi sáng hôm đó tưởng đâu nhà hàng Nguyễn Văn Đắt đóng cửa. Trái lại được bán một bữa thật đông, vì hiếu kỳ của dân Sài Gòn. Họ chứng kiến được từ cái đẹp này qua tới cái đẹp khác. Sau đó các báo hằng ngày có tới đây, họ phỏng vấn tôi và coi cách tổ chức cách sinh hoạt hằng ngày của đám trẻ mồ côi sống đầu đường xó chợ.

Tôi hỏi anh cách thức KHOANH VÙNG:

_Ngày chẳn, ngày lẻ như thế nào?

 _Như anh thấy trong bản đồ Sài Gòn-Chợ Lớn quận Nhất và quận Nhì nằm kế bên nhau cho nên tôi lấy số chẳn là quân Nhì và số lẻ quận Nhất.

_Quận Nhất nằm từ đâu cho cái ranh duy nhứt?

_Cái ranh hai quận nằm trên đường Mac Mahon (sau đổi lại là Công Lý) Con đường này từ mé sông đầu cầu Mống nó chạy dài lên tới con đường Hồng Thập Tự, như vậy mỗi bên mỗi ngày mấy em đã có một chổ nhà hàng số chẳn là quận Nhì vùng chợ Sài Gòn số lẻ quận Nhứt vùng chợ Cũ. Dẫu cho không biết mặt nhau cho hết, nhiều khi tụi nó ngày đó không đi đánh giày vì bận công việc gì đó nó có thể cho bạn mượn thấy số trên thùng thì không thể ai lấn ranh được.

Vì vậy mà ngày nay không thấy đám này tranh dành đánh lộn đổ máu, tụi nó được sống trong tập thể Tổng Liên Đoàn biết giữ gìn kỷ luật biết chia cơm xẻ áo cho bạn đồng cảnh ngộ, mà trước kia chưa có trong đám đầu đường xó chợ này. Người cầm đầu là một quân nhân bị trở thành phế nhân vì nhiệm vụ cao cả đã hiến một phần thân thể cho tổ quốc vậy mà con người đó tình nguyện làm con trâu, trâu tơ mà củng như trâu già.

Ngày truyền thống lễ Lao Động quốc tế 1/5 trong đám rừng biểu ngữ đi diễn hành khắp trong đô thành trong đó có tấm biểu ngữ Nghiệp Đoàn Đánh Giày, kẻ đầu đường xó chợ trong Tổng Liên Đoàn Lao Công Việt Nam…

Ngày xưa quê tôi

Sách có chữ họa vô đơn chí

Củng có câu phước bất trùng lai

Ông Bộ Sét vì hay nói chữ Nho

Mà bị mất một cánh tay

Tại câu Mã Ngưu Lai Cấm Cú

Giữa tiệc rượu Sét đà sanh sự

Ăn no say nói chuyện thấp cao

Bị Năm Mẹo chém một dao

Rớt một cánh tay máu ra như suối

 Chém Sét rồi Mẹo liền thú tội

Đó là một bài vè không biết của một ai đó trong làng Thái Thuận đã đặt ra để kể lại một vụ lưu huyết xảy ra tại một buổi lễ Vu Quy thật linh đình tại nhà ông Cả Phẩm khi gả người con gái thứ tám là chị Tám Nâu.Người bị chém đứt cánh tay là ông Hương Bộ Sét, ông này có 3 bà vợ, bà lớn có trại cưa ở vàm Tân Xuân và đấu giá bến Đò Ngang qua kinh số 1, nay kêu là Rạch Gừa, còn hai bà nhỏ thì lo ở nhà phục vụ cho ông.Vì móng tay để dài cả tấc, nhà giàu học chữ Nho nên nhuốm mùi phong kiến , nếp sống theo lối quan liêu. Ở làng Phú Thọ ông làm Hương Bộ và dân làng có dịp tới nhà ông ai củng chạy mặt.

Ông Bộ Sét làm mai dong cho con trai bà Ngọc để cưới con gái ông Cả Phẩm. Bà Ngọc làm lái heo ở Rạch Gừa cách làng Thái Thuận lối 30 cây số, đi ghe chèo mà rước dâu nên phải xuống trước ở cách đêm giờ đông chợ rước dâu mới kịp. Ghe đậu trước cầu thang nhà đàng gái, ghe đám cưới người ta không cho đậu trước nhà họ, còn ghe đi đám ma thì cho. Ở nhà quê thường tin dị đoan như vậy.

 Ngày đó đàng gái nhóm họ. Ông Cả Phẩm là người giảu có trong làng , ngoài thân tộc còn mời hương chức hai làng tân cựu đông đủ. Thôn quê có đám cưới là có đàn ca cổ nhạc do đám thanh niên có máy hát cho mấy bà lão có cờ tướng cho mấy ông già và củng có vài sòng bài tứ sắc. Lễ Vu Quy cất rạp treo bảng kết hoa tối lại đặt đèn mang-sông sáng trưng, khách tới lui vui vẽ náo nhiệt. Trong khi đó dưới ghe đàng trai chổ ngồi còn chật làm sao có đủ chổ mà nằm? Đám cưới thì kiêng cử không cho ai ngủ nhờ.

Gần tới lễ xuất gia ông Cả Phẩm thông cảm hoàn cảnh đó cho nên nhờ người anh vợ là Năm Mẹo ra đầu cầu thang mời tất cả anh em lên nhà nghỉ và dùng giải lao với đàng gái. Năm Mẹo đứng trên cầu nói lớn xuống:

_Chú Bộ ơi…chú Bộ, dượng Cả xin mời tất cả anh em lên nhà nghỉ.

Ông Bộ Sét mới hỏi:

_Ai nói gì trên đó vậy?

Năm Mẹo mới lập lại:

_Dượng Cả xin mời tất cả anh em lên nhà nghỉ và dùng giải lao. Tôi là Năm Mẹo đây.

Ông Bộ hỏi vặn lại:

_ Mày đó hả Mẹo? Bộ chú Cả hết người rồi sao lại sai thứ đồ như Mã Ngưu Lai Cấm Cú!

Nói xong ông và tất cả dưới ghe lên nhà đàng trai nghe đờn ca và ăn uống vui chơi chờ sáng rước dâu. Sáng lại sau khi làm lễ rước dâu xong, đàng gái đãi tiệc. Bàn danh dự giữa nhà ngồi toàn là khách tân cựu, hương chức trong làng. Năm Mẹo mặc áo dài đi tới đi lui coi mấy đứa cháu đãi khách.

Có hơi men xoàng xoàng ông Chủ Nghị mới hỏi ông Bộ Sét:

_Chú không biết trên đời có 4 cái ngu làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu hay sao chú Bộ?

__Tôi biết chớ, biết nhiều nên mới làm mai đám này. Thấy nó xứng đôi vừa lứa lại hộ đối môn đăng. Con Tám Nâu về làm dâu cho bà Ngọc như ở nhà với mẹ. Vì bà Ngọc đi buôn bán quanh năm khỏi sợ cảnh làm dâu, củng không đợi chờ mười hai bến nước trong đục. Sẳn đây có đông đủ anh em tôi muốn hỏi chú Bộ cắt nghĩa tại sao chú nói phận gái mười hai bến nước. Trong đục thì chỉ có hai thôi sao tới mười hai? vậy mấy đứa nhỏ muốn biết tại đây chú Bộ cắt nghĩa cho biết!

Ông Bộ Sét trả lời:

_Tưởng câu gì thì khó, chớ câu đó thì dễ. Trong sách có nói mười hai bến nước như sau đây:

Đế Vương Hầu Bá

Sĩ Nông Công Thương

Ngư Tiều Canh Mục

Sách thánh hiền nói gì có đó. Đó là mười hai hạng người trên thế gian. Cùng là đàn bà mà chồng làm vua thì được làm hoàng hậu. Còn gặp chồng đi chăn bò người ta kêu là mục thú thì là gặp bến nước đục! Ông Bộ cắt nghĩa câu đó thật hay nên được một tràng pháo tay. Được khen hứng chí nên muốn gợi lại chuyện Năm Mẹo hồi hôm xuống mời đàng trai lên nhà mà không có khai rượu cố ý bắt lỗi đàng gái, ông Bộ nói:

_Hồi hôm thằng Năm Mẹo nó đứng trên cầu mà nói dọng xuống làm cho tôi mắc cỡ với tụi trên Rạch Gừa. Thiệt là thứ Mã Ngưu Lai Cấm Cú!

Ông Chủ Nghị cũng là người hay chữ Nho nên mới cười lớn lên, kêu Năm Mẹo lại nói:

_Chú Bộ nói câu đó nặng lắm nghe chú.

Năm Mẹo hỏi:

_Câu đó có nghĩa ra sao vậy chú Chủ?

Ông Chủ Nghị mới nói câu đó có nghĩa là con trâu con ngựa có miệng ăn mà không có miệng nói. Nói xong ông cười lớn lên.

 Năm Mẹo nghe ông Chủ Nghị cắt nghĩa xong thì đi thẳng ra nhà sau lấy con dao thái thịt bò mài thật bèn dắt vô tay áo dài đi lại bàn nơi Bộ Sét đang ngồi, đứng sau lưng và nói lớn lên:

_Bớ Bộ Sét, đỡ!

Bộ Sét nghe kêu tên hết hồn đưa tay mặt lên khỏi đầu thì bị Năm Mẹo chém một dao đứt lìa từ cườm tay gần tới cùi chõ. Năm Mẹo còn chém thêm một dao nhưng nhờ có người đứng gần ôm chặt Năm Mẹo lại.

Năm Mẹo hét lớn:

_Buông tôi ra, tôi đi chịu tội.            

Rồi cầm con dao đó đi thẳng vô công an Thái Thuận đánh mõ lên cho làng bắt tại công an. Ngoài kia thân nhân của Bộ Sét đem xuồng tới chở ông đi nhà thương điều trị. Đàng trai rước dâu về Rạch Gừa trong cảnh hổn độn. Năm Mẹo bị giải lên Quận An Hoá, làm biên bản đem giam khám Mỹ Tho. Tới phiên toà đại hình xử, toà hỏi Năm Mẹo lúc cầm dao chém ông Sét là say hay tỉnh?

Phải chi năm Mẹo có tỏ vẽ hối hận mà nói là say rượu nên mất bình tĩnh mới chém ông Sét thì có thể được nhẹ tội hơn. Nhưng Năm Mẹo trả lời là tỉnh vì bị Bộ Sét hạ nhục giữa đám đông nên mới chém trả thù. Toà vô nghị án và tuyên bố Năm Mẹo về tội cố sát, phạt 5 năm khổ sai đày ra Côn Đảo. Ngày 9/3/1945 Nhật Bổn đảo chánh Pháp tại Đông Dương. Đầu tiên là ra lịnh toàn xá mở cửa tất cả khám đường, tù nhân nặng nhẹ đều được họ trả tự do về với gia đình. Ông Cả Phẩm nhớ tới Năm Mẹo vì chuyện gia đình mình mà bị đày ngoài Côn Đảo nên nhờ người em rễ là ông Lái Ngọt cùng với 5 người thân trong gia đình lấy ghe nhà đem nhiều lương thực chạy ghe ra Côn Sơn rước Năm Mẹo về. Nhưng khi ghe ông Lái Ngọt ra tới Côn Sơn thì mới hay Năm Mẹo bị khổ sai có 2 năm thì chết mà gia đình đâu có hay tin tức gì vì ngày đó chưa có chế độ cho thăm nuôi ngoài đảo.

Cách đây hơn 40 năm mà có người cầm lái ghe chạy buồm từ cửa Bình Đại ra Côn Sơn trở về an toàn. Sau chuyến đi lịch sử đó dân đi biển làng Thái Thuận tôn ông làm bực thầy. Ghe chạy buồm coi lái ngồi phiá sau lái củng là chỉ huy nên kêu ông là ông lái. Bây giờ chạy bằng động cơ, đứng phiá trước kêu là tài công. tại vùng Foostcray có anh Đ. và anh H. là cháu nội ông Lái Ngọt.

Phong tục cưới hỏi tại miền Nam trong thời kỳ niên thiếu của tôi lối 40 năm về trước thật là quan trọng. Với gia đình không có được tự do kết hôn. Muốn cưới vợ phải đi nhờ thầy coi tuổi ngày giờ sinh. Coi có khắc kỵ vợ chồng không? có ăn ở tới già tới chết không? Đám cưới phải coi ngày giờ tốt để rước dâu Duyên nợ của đôi trẻ cha mẹ giao cho ông thầy Nho coi tuổi với sách in từ bên Trung Hoa. Bên Việt Nam mấy ông thầy coi thây hạp thì cưới còn kỵ thì đi chổ khác. Cha mẹ nghe lời mấy ông thầy, con nghe lời cha mẹ đặt đâu ngồi đó mới là hiếu thảo. Cho nên ở nông thôn thời xưa biết bao nhiêu cặp trai tài gái sắc bị dỡ dang duyên nợ chỉ vì mấy ông thầy coi tuổi trong đó tôi là một nạn nhân. Dư luận thật sắc bén con trai lớn mà không cưới vợ thì sợ bị làng xóm chê là không đủ tiền cưới vợ cho con để nó dắt con gái đi. Năm đó tôi mới lãnh giấy thuế thân lần đầu thì gia đình đã cho tôi là già phải kiếm vợ cho tôi và cho chọn lựa cô nào vừa ý thì đi cưới vì tôi mồ côi được bên Nội bảo trợ cho ăn học. Nay tôi 18 tuổi có giấy thuế thân là trưởng thành cưới vợ cho là xong. Giản dị như thế đó!

Tôi thú thật là thương cô Biên từ lâu xin gia đình đi cưới. Bà mai tay trong đi dọ, bên cô Biên chịu gã. Đến khi nhờ thầy coi tuổi thì hai tuổi kỵ không thể cưới được. Tôi tuổi Quý Hợi (1923) cô Biên tuổi Dần. Dần Thân Tỵ Hợi tứ hành xung, Thân Tý Thìn tam hợp???

Hung tin đố kỵ tuổi nên không thấy tuổi Dần đi chợ mà tuổi Hợi củng bỏ ăn luôn. Gần tới ngày đám giỗ lớn mấy cô chú từ xa lo tựu về làm bánh mứt, mấy cô gái lối xóm lại phụ làm bánh bông lựu, bánh men, bánh thuần. Năm nay không có bánh thuần vì tuổi Dần không lại phụ. Đám giỗ xong tối có mặt đông đủ họ hàng cô tôi nói coi tuổi con Biên không được thì trong năm nay củng phải coi con khác chớ tôi tới tuổi hung niên. Cảm động thay cho cô chú tôi đã bảo trợ cho tôi từ nhỏ cho tới tuổi trưởng thành lại còn lo cho tương lai tôi. Dầu muốn dầu không tôi củng phải chấp nhận cho vừa lòng cô bác. Đối với người cháu đích tôn họ Trần đêm nay là đêm quan trọng nhất đời tôi. Tôi nói nếu cô Biên kỵ tuổi thì mấy cô cưới cô Gấm bên Phú Thọ cho tôi. Cô tôi nghe tôi muốn cưới cô Gấm thì phản đối liền. Cô nói nếu được thì cô đã cưới cho tôi từ mấy năm nay vì họ Trần một họ với mình củng như là bà con, cưới họ cười chết???!!

Tôi nín thin ngồi xuống. Một cô kỵ tuổi một cô đồng tông. Như vậy mấy cô có quyên chọn cho tôi người vợ hiền gấp trong năm nay, năm tới cưới.Trong khi mấy cô kiếm người vợ hiền cho tôi thì tôi âm thầm trốn nhà bỏ xứ đi vô Sóc Trăng học may.

Mấy cuốn sách vô hồn đó nó làm cho ông Bộ Sét chịu tàn tật suốt đời ông Năm Mẹo bỏ thây ngoài Côn Đảo và tôi thì bỏ xứ phiêu lưu. Trái lại vợ chồng chị Tám Nâu trong làng ai củng sợ điềm xấu xảy ra trong giờ Vu Quy nhưng chẳng có gì hết. Anh chị vẫn hạnh phúc tới đầu bạc con cái đầy đàn. Năm 1982, trước khi vượt biên tôi có về Mỹ Tho gặp chị bên cù lao Thới Sơn có nhà có vườn gần người anh ruột là anh Bảy Thén.

Chim Việt

Trên Flat 120 Racecourse

Flemington

Đầu Xuân 1986