Người lính cuối cùng ngày 30 tháng Tư 1975

Chú thich của Văn Hóa: Nếu quí thân hữu lấy kính lúp soi tấm ảnh to ra, quí thân hữu có thể thấy trên ve áo người lính có 2 hoa mai đen thêu, tức cấp bậc Trung úy. Nhìn kỹ ảnh, viên sĩ quan này vẫn còn mặc quân phục. đeo lon, quần áo trận, giầy trận vẫn y nguyên như ngoài chiến trường; Trung úy trẻ măng quả là danh thơm cho Sĩ quan Quân lực VNCH.

Thưa quý vị.

Ngày 30-4-75, khi bộ đội VC đã xâm nhập vào Thủ Đô, ký giả chiến trường Nguyễn Đạt còn chụp được tấm hình một người lính VNCH cuối cùng đi trên đường phố Sài Gòn, hai tay cầm 2 khẩu súng, mặt bình thản không lộ vẻ gì sợ hãi.

Theo tôi thì tấm hình nầy không phải để xem chơi cho vui mắt. Mà là một tấm hình có hồn, nói lên sự can trường của người chiến sĩ VNCH. Tấm hình nầy đáng được lưu vào quân sử VNCH cùng với những tấm hình của các vị Tướng, Tá tuẫn tiết ngày 30-4-75.

Cảm hứng, tôi sáng tác bài thơ “Người Lính Cuối Cùng”, để có đôi lời vinh danh người chiến sĩ vô danh can trường trong hình và hàng trăm ngàn gười lính vô danh khác.

Nhân Ngày Quân Lực VNCH, ngày 19, Tháng 6 hằng năm sắp đến, tôi xin thân tặng quý vị cựu chiến sĩ VNCH bài thơ và tấm hình nói trên để cùng nhau hãnh diện là , Người Chiến sĩ VNCH dù chiến bại vẫn can trường, như Đô Đốc Hải Quân Hồ Văn Kỳ Thoại đã viết trong quyển sách “Can Trường Trong Chiến Bại” của ông ấy.

Trần Gò Công/ Lão Mã Sơn.
 
            NGƯỜI LÍNH CUỐI CÙNG 
         (Chiến sĩ VNCH can trường trong chiến bại)

 Hỡi anh lính cuối cùng trên đường phố.
         Nước đã mất rồi, anh sẽ về đâu?
         Đơn vị anh tan rã đã từ lâu.
         Một mình anh, hai tay hai khẩu súng
 
         Anh là chiến sĩ can trường, anh dũng
         Chống quân thù đến giờ phút cuối cùng
         Đáng được vinh danh là một người hùng
         Dù chiến bại, địch kiên oai nể mặt.
 
         Bổn phận người trai, đôi vai gánh nặng
         Nợ quốc gia, và nợ với gia đình
         Với tổ quốc, Anh đã trọn phận mình
         Nhưng còn nợ Mẹ già ơn dưỡng dục.
 
         Chiến hữu lưu vong chúng tôi cầu chúc
         Anh yên lành để trở lại quê nhà
         Hãy tạm quên đi nỗi buồn thua cuộc
         Để chăm lo cho vợ yếu, Mẹ già.


         Nếu Anh vẫn còn yêu nước, thương nhà
         Hãy chờ đợi, sẽ có ngày phục quốc
         Nước Việt Nam chỉ tạm thời bị mất
         Lá cờ vàng sẽ trở lại Quốc gia.

                            Arlington, Virginia, Tháng Tư đen
                                   Trần Gò Công/Lão Mã Sơn

Thơ Hoàng Xuân Thảo

NGƯỜI LÍNH CUỐI CÙNG

Cảm đề tấm hình “Người Lính Cuối Cùng” của Nguyễn Đạt

Không! Quyết không giã từ võ khí!

Cộng quân dù lớp lớp bao vây

Tướng tá dù ùn ùn bỏ chạy

Ngang nhiên ghì hai súng hai tay.

Không! Quyết không giã từ võ khí!

Sài Gòn dù lửa khói tan hoang

Chiến hữu dù tan hàng tứ tán

Vẫn ngẩng đầu cất bước hiên ngang.

Đêm nao nhớ lại nghe truyền hịch

Theo việc kiếm cung, xếp bút nghiên

Anh ngạo nghễ lên đường nhập ngũ

Cánh chim bằng thoả chí bình sinh

Anh đánh đẹp thay trận cuối cùng!

Vòng đai Xuân Lộc vững như đồng

Lệnh trên bỗng xuống kêu buông súng

Đồng đội ôm nhau lệ tủi hờn.

Đã lắm đêm anh ôm súng ngủ

Đường trường chinh rong ruổi, xông pha

Anh với súng không rời nửa bước

Tình càng nồng mặn lúc sa cơ.

Tháng Tư lúc nhúc quân cờ đỏ

Lưả bốc, đạn bay, cảnh hãi hùng

Ghìm súng thản nhiên đi giữa phố

Với tôi anh đúng một anh hùng.

Này hỡi anh! Người lính cuối cùng

Vẫn đi trong nhịp bước kiêu hùng

Vận nước dù gặp cơn bĩ cực

Còn ngời chiếu sáng tấm lòng son.

Xin cám ơn người lính cuối cùng

Nêu gương khí phách giống Tiên Rồng

Cho tôi tin tưởng rồi mai mốt

Cờ Tự Do phần phật cố hương.

Hoàng Xuân Thảo

Chuyến xe tang về quê chồng

Giao Chỉ-San Jose

(Lời kể lại của Lệ Hà)

Cố Trung Úy Dù QUÁCH VĂN SỞ
Khóa 24 Trường VBQGVN
San Jose ngày 29 tháng 04 năm 2009.

Em là Trần Thị Lệ Hà, quê Cần Thơ, hiện cư ngụ tại San Jose, xin kể lại cho bác Lộc và các bác niên trưởng trong quân đội câu chuyện năm 1975. Nếu miền Nam và Saigon gọi ngày 30 tháng Tư 75 là ngày tang của đất nước thì ngày tang của Trần Thị Lệ Hà đến sớm hơn một ngày. Đó là ngày 29 tháng 4 năm 1975. Đêm 28 tháng 4 cách đây 34 năm trung úy Quách Văn Sở, võ bị Đà Lạt khóa 24, từ giã vợ con vào trại Hoàng Hoa Thám sinh hoạt với tân binh nhảy dù. Trung úy mũ đỏ Quách Văn Sở rất có tinh thần trách nhiệm, đã có giấy lên đại úy nhưng còn chờ lễ đeo lon. Quá nửa đêm 28 qua sáng 29 thì Việt cộng pháo kích vào Tân Sơn Nhất và trại Hoàng Hoa Thám. Sáng sớm 29 tháng 4 lính dù chạy về báo tin anh Sở, chồng của Lệ Hà đã chết. Cùng một lúc khu trại gia binh nhảy dù phải di tản. Em lúc đó 25 tuổi, con trai đầu lòng được 7 tháng. Chẳng có ai thân thuộc. Mẹ con ôm nhau chạy qua nhà ông cậu bên thành Lê Văn Duyệt. Chồng chết ra sao cũng không biết. Đường xá kẹt hết. Chuyện chiến tranh, trận mạc nhà binh từ khi lấy nhau tất cả đều do anh Sở quyết định. Nay bỗng nhiên trời xập, ôm đứa con dại, em ngồi khóc một mình. Không biết xác chồng nằm ở nơi đâu. Chung quanh Sài Gòn náo loạn, ai mà lưu tâm đến người vợ trẻ mất chồng vào cuối tháng 4. Phải mà anh Sở chết sớm hơn một tháng thì truyền thống lính dù đã đưa xác về tận nhà. Tang lễ uy nghi, có đơn vị trưởng chứng kiến lễ gấp cờ, như em đã thấy tại sân Hoàng Hoa Thám. Nhưng sao anh Sở lại chết vào cuối tháng tư, giờ thứ 25 của cuộc chiến.
Trải qua một đêm dài thảm kịch. Thằng bé Quách Vĩnh Hưng ôm mẹ nằm trên đất lạ. Cả mẹ con đều không thấy tương lai

Xác anh, giờ ở phương nào?

Sáng hôm sau, nhờ cậu em họ dẫn đường vào trại Hoàng Hoa Thám để tìm xác anh Quách Văn Sở. Doanh trại đã di tản. Ở một vài nơi quân ta còn kháng cự và quân địch chưa tiến vào. Khu bị pháo kích chỉ còn di tích đổ nát, thương binh tử sĩ nhảy dù chẳng còn thấy nữa. Nghe nói các chiến binh mũ đỏ đã tản thương anh em vào đêm 29 và đưa xác tử sĩ lên nghĩa trang Biên Hòa.
Trên trời máy bay trực thăng ồn ào chở người di tản suốt ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Sáng 1 tháng 5 năm 1975, Saigon đổi chủ, em chẳng hề quan tâm. Nhờ người gởi con một nơi, lấy xe máy lên tìm chồng tại nghĩa trang Biên Hòa. Đây là lần đầu tiên em tìm về nơi chôn cất tử sĩ miền Nam. Khu đơn vị chung sự Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn đầy xác chết và quan tài đủ loại. Có người phe ta còn làm việc nhưng mặc đồ dân sự. Lính cộng sản xuất hiện nhưng xem chừng còn ngại ngùng không kiểm soát. Phe ta mạnh ai nấy tìm xác người thân và than khóc. Tử sĩ miền Nam vẫn còn đầy đủ quân phục, danh tính cấp bậc. Trên quan tài vẫn còn đèn nến và vàng hương. Thân nhân ngồi khóc bên các tử sĩ từ các nơi chở về. Sau cùng em tìm được xác anh Quách Văn Sở, đã được tẩm liệm và cho vào quan tài. Một bác mặc đồ dân sự nói rằng chị yên tâm, tôi sẽ ghi dấu quan tài của ông Trung úy nhảy dù. Tôi cũng là lính Việt Nam Cộng Hòa. Đã hơn 30 năm rồi, em vẫn còn nhớ hình dáng của người lính bên ta lo việc mai táng vào lúc mà toàn quân cùng với quốc gia không còn nữa. Sau khi thấy rõ tên tuổi di tích của anh Sở nằm đó, em trở về Saigon bắt đầu tìm xe thuê chở xác chồng về quê. Năm xưa, vợ chồng từ Hậu Giang lên Sài Gòn, bây giờ anh đã vĩnh viễn nằm xuống, em nhất định phải chở anh về với gia đình, về nơi anh đã ra đời.
Quê em ở Cần Thơ, quê chồng ở Rạch Giá. Giờ này mẹ và các anh em họ hàng bên anh Sở vẫn chưa biết là anh đã hy sinh. Suốt mấy ngày đầu tháng 5, em tìm mọi cách để thuê xe chở quan tài. Trong những ngày giờ đó, chẳng quen biết ai, làm sao mà thuyết phục được chủ xe chở xác sĩ quan dù về tận Rạch Giá. Sau cùng khi tìm được lại phải cùng với chủ xe đi mua xăng. Tiền bạc không đủ, phải trả cả bằng nữ trang và nhẫn cưới đầy kỷ niệm.


Chuyến xe tang về quê chồng

Đưa xe tải về nhà, dọn những gì có thể đem đi được, từ giã cư xá gia binh, chấm dứt đời vợ lính. Mẹ ôm con lên xe trở lại nghĩa trang. Đó là ngày 3 tháng 5 năm 1975. Nghĩa trang đã thay đổi. Tất cả các xác chết đã bị Việt cộng bắt chôn tập thể. Nhưng may thay những quan tài có người nhận từ hôm trước vẫn còn. Vàng hương và tên tuổi cấp bậc thì vứt đống dưới đất. Người lính chung sự Việt Nam Cộng Hòa mặc đồ dân sự vẫn còn đó. Ông nói rằng quan tài này của trung úy dù tôi vẫn ghi dấu là đã có thân nhân đến nhận. Xin thưa với bác là em cũng chẳng biết tên ông lính đó là ai, nhưng ơn nghĩa tử sinh thì em ghi nhớ suốt đời. Nếu không có ông này, chắc xác anh Sở cũng phải nằm chung trong mồ tập thể. Rồi nhờ mỗi người một tay, quan tài anh Quách Văn Sở được khiêng lên xe hàng. Mẹ con ôm nhau ngồi bên xác anh suốt quãng đường dài. Đó là chuyến xe tang về quê chồng tháng 5 năm 1975.
Bác hỏi em quang cảnh bên đường ra sao. Bác ơi, vợ lính 25 tuổi, ôm thằng bé chưa được một tuổi. Lòng dạ nào mà nhìn thấy hai bên đường. Mắt em mở nhưng chỉ thấy toàn kỷ niệm quá khứ. Em là nữ sinh Đoàn Thị Điểm, Cần Thơ.
Anh Sở là sinh viên đại học Cần Thơ. Gặp nhau, hẹn hò, yêu đương. Từ đại học Cần Thơ anh vào võ bị khóa 24 học suốt 4 năm. Em ra trường làm công chức, đổi từ Cần Thơ lên Saigon. Bốn năm Đà Lạt, Sài Gòn tình yêu thơ mộng biết chừng nào. Ra trường anh đi lính nhảy dù đóng tại trại mũ đỏ Hoàng Hoa Thám, em làm công chức tại văn phòng phủ thủ tướng. Đâu có quen biết ông lớn nào đâu. Sở công vụ cho đi đâu thì làm đó. Chiến tranh ở đâu thì không biết nhưng Saigon, Cần Thơ và Rạch Giá là những miền đất đầy hạnh phúc của một gia đình trẻ với đứa con trai.
Từ đầu tháng tư mẹ em ở Cần Thơ rất lo sợ cho con rể, con gái và cháu ngoại. Mẹ anh Sở ở Rạch Giá cũng đang cầu nguyện cho con trai, con dâu và cháu nội.
Chuyến xe đau thương của em ghé Cần Thơ. Mẹ thấy con gái về bèn ôm cháu ngoại hỏi rằng còn thằng Sở đâu. Con gái mẹ kêu khóc mà nói rằng: anh Sở chết rồi. Con đưa xác về đây. Mẹ đi với con qua Rạch Giá. Mẹ già tất tả vừa khóc vừa gói quần áo theo con gái lên xe. Cả xóm tuôn ra nhìn theo, chiếc xe tang về quê chồng lại lên đường. Xe tải chở theo bà xui Cần Thơ đi theo con gái. Nước mắt góa phụ trẻ bây giờ thêm nước mắt mẹ già. Thằng rể quí của bà đi lính nhảy dù mấy năm không chết mà đến ngày cuối cùng lại tử trận.

Người lính mũ đỏ đất Kiên Giang
Năm 1971 có anh sĩ quan nhảy dù xuất thân võ bị làm đám cưới ở bến Ninh Kiều, Cần Thơ, tiệc bên nhà gái xong là rước dâu về Rạch Giá. Đoàn xe hoa cũng đi theo con đường này. Qua đến năm 1975, xe hàng chở quan tài người lính chiến về lại quê xưa, cũng có bà xui đại diện cho nhà gái trong chuyến đi cuối cùng. Xe về đến Rạch Giá, cả nhà họ Quách ra đón mừng, thấy quan tài con trai út bà mẹ té dài ngay trên bậc cửa.
Mẹ của anh lính dù có hai người con trai. Mấy năm trước người anh tên là Quách Hải đã tử trận. Còn cậu út nhất định đi võ bị rồi theo nhảy dù, bà tưởng rằng gởi gấm được ông tướng Dư Quốc Đống vốn là thân quyến thì cũng đỡ nạn binh đao. Ai ngờ anh sỹ quan nhảy dù chết ngay tại trại Hoàng Hoa Thám vào giờ phút sau cùng của cuộc chiến.
Mặc dù lúc đó cộng sản 30 tháng 4 tại Kiên Giang đã làm khó dễ nhưng người góa phụ trẻ hoàn toàn không có kinh nghiệm trong cuộc sống đã một mình đơn độc đem xác chồng về chôn tại quê nhà. Câu chuyện làm xúc động bà con lối xóm nên đám tang rất đông người dự để tiễn đưa người lính dù cuối cùng của đất Kiên Giang trở về quê mẹ.

Nước non ngàn dặm ra đi
Sau đó em trốn tránh quanh quẩn tại Hậu Giang vì muốn giấu lý lịch vợ lính dù, lại làm công chức phủ thủ tướng. Qua năm 1979 trở về Cần Thơ vượt biên với má và thằng con trai. Nhờ anh Sở phù hộ, tàu qua Mã Lai bị kéo ra biển nhưng rồi cố lết qua được Indo. Ở bên Nam Dương một năm thì vào Mỹ, đến ngay San Jose. Mấy năm sau, em gặp ông xã sau này, hai bên lập gia đình và có thêm hai cháu.
Thưa với bác Lộc rõ, em có duyên số với Võ bị và Rạch Giá. Ông xã hiên nay của em cũng là người quê Rạch Giá, cùng vượt biên năm 1979 trong một chuyến khác. Qua đây mới gặp nhau. Ông ấy ngày xưa cũng dạy trường võ bị Đà Lạt. Con cái của gia đình em, nói để các bác mừng cho, tất cả đều thành đạt và hạnh phúc. Các cháu cũng đã lập gia đình và có thêm các cháu nội ngoại.
Ông xã em bây giờ hết sức tế nhị và thông cảm. Chính ông đã làm một bàn thờ tại gia để ghi nhớ hình ảnh của trung úy nhảy dù Quách Văn Sở ba của cháu Quách Vĩnh Hưng. Năm nay cháu 35 tuổi                                                        

Chút di sản muộn màng, gửi tương lai vĩnh cửu
Đã 34 năm qua, em còn lưu giữ hồ sơ của anh Sở. Một tờ khai gia đình của khu gia binh sư đoàn nhảy dù, căn cứ Hoàng Hòa Thám. Có chữ ký của thượng sỹ Trần Văn Linh, trưởng trại gia binh. Kiến thị bởi trung tá Nguyễn Văn Tư chỉ huy trưởng căn cứ và chữ ký của gia trưởng trung úy Quách Văn Sở. Ngoài ra còn giấy chứng nhận bằng nhảy dù, thẻ căn cước dân sự, thẻ căn cước quân nhân, chứng chỉ tại ngũ. Trên các thẻ căn cước, chỗ nào cũng có tên mẹ của anh Sở là Dư Thị Kim Thoa, bà là vai cô của tướng Dư Quốc Đống. Trung úy Sở còn tờ giấy nghỉ phép 5 ngày từ 26 tháng 4 đến 30 tháng 4 năm 1975. Cầm giấy phép, nhưng anh Sở không đi phép. Vì lo tân binh Nhẩy dù mất tinh thần nên tối 28 tháng 4 năm 1975 anh vào trại. Trận pháo kích sau cùng đã làm thay đổi vận mệnh của cả gia đình. Người thanh niên Kiên Giang, trải qua 4 năm sinh viên võ bị Đà Lạt, 5 năm sỹ quan nhẩy dù, từ giã cuộc đời năm 30 tuổi. Anh để lại tấm thẻ bài hai mảnh. Gia đình còn giữ suốt 34 năm qua. Nay đã đến lúc chia tay đôi ngả. Một tấm đi theo quân bạ vào viện bảo tàng. Còn một mảnh xin giữ làm kỷ niệm cho con cháu họ Quách đời sau. Với đầy đủ tên họ, số quân và loại máu.

Tâm nguyện cho tương lai
Thưa bác, kể xong chuyện ma chay cho người chồng chiến binh 34 năm về trước, trao được các di vật cho viện bảo tàng Việt Nam tại San Jose, em rất yên tâm. Xin cảm ơn nhà em ngày nay, nguyên là giáo sư võ bị ngày xưa đã thông cảm, sẽ thông cảm thêm. Con trai của anh Sở nay đã 35 tuổi, sẽ hiểu biết thêm chuyện gia đình và chiến tranh. Những đứa con sau này ra đời tại San Jose bây giờ mới biết ngày xưa mẹ sống trong trại lính Dù có tên là Hoàng Hoa Thám. Anh em Đà Lạt khóa 24 biết thêm về người con gái miền Tây làm dâu võ bị hai lần. Người Rạch Giá cũng biết thêm về cô gái Cần Thơ hai lần lấy chồng xứ Kiên Giang.
Và em tạ ơn trời đất còn có ngày nay. Trước sau em cũng chỉ là người vợ lính đã từng sống trong trại gia binh.
Em cám ơn các bác đã nghe hết câu chuyện 29 tháng 4 của em 34 năm về trước.

Bới đất tìm xương

Trần Ðình Thế

Chiếc đồng hồ đeo tay tìm thấy trong nấm mồ tập thể.

Từ một mẫu tin nhắn


Những ngày này Saigon, một buổi trưa hè nóng bức, tôi lang thang vào Internet một cách bất định thì vô tình đọc được một tin nhắn tìm người thân: “Gia đình muốn tìm tin tức về người anh của chúng tôi Lê Văn Tài, số quân 74/70/428, thuộc Tiểu Ðội 1, Tiểu Ðoàn 38, Liên Ðoàn 32 Biệt Ðộng Quân. Trong lúc rút quân từ Tây Ninh về thì mất tich….”

Tôi dừng lại suy nghĩ một hồi rồi quyết định sẽ liên lạc với người thân của gia đình chú Tài – vì bố tôi chính là Cố Thiếu Tá Trần Ðình Tự, tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 38, Liên Ðoàn 32 Biệt Ðộng Quân với mong ước nhỏ nhoi là cung cấp thông tin một cách khách quan nhất. Thông tin từ Mẹ tôi về thời điểm bà nhận xác Bố tôi vào ngày 3 tháng 5, 1975 là tại trường tiểu học Trung Lập Hạ, xã Trung Lập Hạ, huyện Củ Chi. Tôi liền liên lạc với cô Hương là người nhà của chú Tài….

 Ngày thứ nhất:


Cái cảm xúc trở lại nơi chiến trường xưa làm lòng tôi xao động, lúc trên đường đầu óc cứ ngẩn ngơ hình dung ra khoảnh khắc đau buồn nhưng kiêu hùng, nơi đây vào giờ thứ 25 của cuộc chiến, Bố tôi và các chiến hữu đã đánh một trận để đời và đã anh dũng nằm xuống cho quê hương, thỏa ước lòng kiêu hãnh, không bao giờ đầu hàng – họ những chiến sĩ BÐQ oai hùng đã chiến đấu đến những viên đạn cuối cùng.


Quãng đường khoảng 50 km đưa tôi đến trường tiểu học Trung Lập Hạ, xã Trung Lập Hạ, huyện Củ Chi. Tôi đứng trước cổng trường mà lòng đau thắt từng cơn, hình dung cảnh các chiến sĩ BÐQ trói tại sân trường, bị nhục mạ, hành hạ… trước khi đem ra cái mương gần đó để tàn sát bằng những họng súng của bọn du kích tại địa phương, sao mà não lòng. Một cơn gió mạnh mẽ, cùng với cái nắng gay gắt mang cát bụi bất chợt đi ngang qua làm tôi chợt bừng tỉnh… Ghé vào quán nước nhà tranh vách đất ven đường ngồi trấn tỉnh lại, tôi hỏi thăm chủ quán nước và họ cho biết tin; có một hố chôn tập thể cách chỗ tôi ngồi khoảng 1km, trên bờ ruộng của ông Mười Nghe, chính xác là 12 người lính của BÐQ bị tàn sát sau khi đã chiến đấu đến cùng và không chịu đầu hàng, họ bị bắt tại Hương lộ 2… tôi gần như mất hồn… thầm nghĩ như vậy là đúng rồi. Bỗng nhiên có một người được gọi là cô Sáu ở đâu xuất hiện như một định mệnh, Cô tự nhiên kéo ghế lại sát bàn của tôi đang ngồi và nói như đang lên đồng: cái hố chôn tập thể là của lính Ông Cọp trên vai trái, mà hình như người ta gọi là Biệt Ðộng Quân, nghe đâu rút quân từ Tây Ninh về đến đây bị phục kích” tôi buộc miệng reo lên: như vậy là đúng rồi…

Tiếp đó cô Sáu nói, ngoài BÐQ rút từ Tây Ninh về đánh trận sau cùng, không có trận đụng độ nào hết… chỉ có là sau ngày 30 tháng 4 bọn du kích đi lùng sục các dân địa phương mà đi lính VNCH, chúng cũng mang ra mà tử hình hết… Cô còn nói với tôi là phải gặp chủ của cái ruộng đó là ông Mười sẽ biết được thêm tin tức, nói xong cô đứng lên đi về như một làn gió mà tôi quá bối rối chưa kịp để cám ơn…


Sau đó tôi xin phép đứng lên và ra ngay bờ ruộng nơi tử hình 12 quân nhân BÐQ, nó trước đây là những cái hào được đào để chống chiến xa… Người chủ quán nước hướng dẫn ra tận nơi đó là cái mô đất chôn 12 người, bọn du kích tập trung các quân nhân BÐQ đứng trên mép của cái mương rồi xả một loạt đạn AK, các thi thể ngã rộp như cây chuối bị đốn, sau đó chúng bỏ đi, người dân xung quanh thấy tội nên đã đắp vội nắm đất cho những anh hùng vô danh này…


Cảm giác lúc đó khó diễn tả, tôi cứ nhắm nghiền mắt và rơi lệ, giọt nước mắt của sự tiếc thương, đau đớn, giọt nước mắt của lòng căm phẫn… để lắng nghe cũng như để hình dung ra thời khắc đó, chiều ngày 30 tháng 4 của 36 năm về trước… tôi như dại người nhưng vẫn có giữ bình tĩnh nhằm để tìm hiểu thông tin một cách chính xác nhằm xác định bốc hài cốt cho chú Tài – là người lính truyền tin ở lại sau cùng với Bố tôi.

Ngày thứ hai:
Những dòng chữ tìm người thân tưởng chừng như vô cảm trên Internet, nhưng chan chứa khát vọng muốn tìm được tông tích của người thân, làm cho tôi có nhiều động lực đễ phải cố gắng tìm được nơi diễn ra trận đánh và những cái chết đầy anh hùng của các quân nhân BÐQ đã oai dũng chiến đấu đến phúc cuối cùng cùng với Bố tôi.


Tiếp tục lên đường chạy qua nhà chú Mười, ông là chủ ruộng nơi có cái hố chôn tập thể, như một sự sắp đặt ngẫu nhiên hay có sự trợ giúp của một sự huyền bí nào đó, ngày tôi nói chuyện cũng là ngày ông vừa từ Saigon về sau thời gian nằm bệnh viện. Chú hỏi ngay vào vấn đề: tôi có giúp được gì cho mấy chú? Tôi bắt đầu câu chuyện: cháu là người thân của một trong mười hai người nằm ở cái hố chôn tập thể đó, giờ chú có thể kể lại chi tiết chính xác về cái hố chôn này không?


Chú Mười vội pha ấm trà và châm điếu thuốc hút, ông kể: lúc thời điểm đó thì tôi không chứng kiến việc này, nhưng sau ngày 30 tháng 4 người dân ở đây ai cũng biết là cái hố chôn 12 người lính là nằm chính trên bờ ruộng của tôi, tôi trồng lúa nhưng không dám trồng trên phần mộ đó, đến dịp Rằm hay Tết tôi đều mua đồ cúng cho mấy ổng và cầu mong là người thân sẽ tìm đến và mang họ về. Tiếp theo ông nói, chính xác theo lời kể thì là 12 quân nhân của BÐQ nghe nói rút quân từ Tây Ninh, khu vực ấp chợ Rầy, Khiêm Hanh, Bầu Ðồn về đến đây thì bị phục kích cũng được chôn ở cái hố đó. Tôi tiếp lời, như vậy chú có biết ai là du kích hay những người tham gia trận đánh đó không?


Ông rít một hơi thuốc thật sâu và nói: hiện nay chỉ còn một người có thể biết chính xác là ông Út – trước đây là du kích ở địa phương này, may ra ông có thể xác định cho các chú, tôi như vừa nhặt được vàng, vừa mừng, hồi hộp và lo lắng… không biết là họ có thể tận tình giúp đỡ hay không, cho dù cuộc chiến đã xãy ra 36 năm… tôi chợt rùng mình…


Sau lời cám ơn và không quên tạm biệt chú Mười, tôi nói: cháu xin đại diện gia đình kính mong Chú tạo điều kiện để bốc mộ của 12 người cho họ về chùa để siêu thoát… Chú ấy trả lời ngay: Tôi sẽ tạo mọi điều kiện cần thiết đễ các chú bốc mộ, giống như tôi làm công đức, ông nở một nụ cười nhân hậu và hạnh phúc.


Ðường từ Củ Chi về Saigon trời bỗng mưa nặng hạt, những cơn gió xào xạc mang theo những giọt mưa rơi làm tôi cay mắt… nhưng không tôi đã bật khóc vì bao nhiêu kỷ niệm tràn về… khóc và buồn cho cái bản tính ích kỷ của mình vì trước đây tôi luôn luôn nghĩ rằng chỉ có Bố tôi là anh hùng nhưng sau khi thực hiện cuộc đi tìm mộ này tôi mới nhận biết một điều thiêng liêng cao cả là, họ những người đã cùng chung lý tưởng với Bố tôi cũng quá xứng đáng là những anh hùng vị Quốc vong thân, và dù có muộn màng họ sẽ nằm trong nơi trân trọng và đáng quí nhất trong trái tim và tâm hồn của mọi người. Họ thật sự đúng là những “người chiến sĩ vô danh.”

Ngày thứ ba:


Trằn trọc thao thức cả đêm không tài nào chợp mắt được, đầu óc tôi có quá nhiều suy tư và trắc ẩn… cảm giác vừa mừng vừa lo, vừa hạnh phúc vừa đau khổ… cầu mong trời mau sáng để tôi lên đường đi Củ Chi để gặp lại nhân chứng sống và duy nhất còn lại đó là chú Út – người du kích năm xưa. Có thể hiểu được nỗi lo trăm mối của tôi vào thời điểm đó: có thật sự là cái hố chôn mà chính tay Mẹ tôi 36 năm về trước đi tìm xác Bố tôi đã đào lên và lắp lại, có thật, sự là cái hố của 36 năm về trước và có chú Tài không? Mà nếu có chú Tài thì lấy gì chứng minh nếu không có thẻ bài, thẻ căn cước, hoặc các loại giấy tờ khác…


Ðường về Củ Chi dường như ngắn lại, tôi đến ngay ngã tư Tỉnh lộ 2 và Hương lộ 7 là nơi TÐ 38 rút quân từ Tây Ninh về cố gắng đến Ðồng Dù –=- nhưng trên thực tế Ðồng Dù đã thất thủ vào ngày 29 tháng 4, 1975 mất rồi. Tôi đứng yên lặng một hồi lâu, đốt vội điếu thuốc, đứng tựa vào thành cầu Sạn nơi đã diễn ra trận đánh nhằm hồi tưởng lại thời khắc của 36 năm về trước.


Tiếng xe chạy qua lại làm tôi không thể nào tập trung được, tôi quyết định tiếp tục rong rủi lên đường, chạy thêm một đoạn đường nữa là đến nhà chú Út, nhà ông nằm sâu trong một con hẻm nhỏ sình lầy lội, nhà ông bán quán nước và cơm trưa cho các công nhân của một xí nghiệp gần nhà.


Tôi dừng xe lại như một người khách bình thường, kêu một ly café đá tôi hỏi người phục vụ: có phải đây là nhà của chú Út không? Người con gái liền trả lời: Ba đang ngủ, anh tìm Ba có việc gì không? Tôi liền đáp: em vui lòng gọi Ba dậy, anh ở Saigon xuống có việc cần hỏi Ba… Tôi nín lặng và hồi họp trong khi chờ ông thức dậy, 10 phút trôi qua mà tưởng chừng như dài vô tận.


Và ông đã bước ra, dáng vóc còn mệt mỏi và ngái ngủ. Tôi mời ông ngồi và bắt đầu câu chuyện:


“Cháu từ Sài Gòn xuống, vì cháu có người quen nhờ đi tìm cái hố chôn tập thể ở ngoài tỉnh lộ 7,” chú Út liền nói: “Ðúng rồi, ở đó có cái hố chôn nhưng tôi không còn nhớ gì hết?” Tôi giống như từ trên mây rơi xuống mặt đất, cố kiềm nén cảm xúc, tôi mời ông uống nước và tiếp tục câu chuyện. Tôi kể ông nghe toàn bộ câu chuyện đã nói với chú Mười và cô Sáu…. Ông liền đột ngột thay đổi cách nói chuyện: ông kể là lúc đó khoảng 11h00 đến 12h00 trưa thì người dân về báo là có một nhóm lính được trang bị đầy đủ súng, máy truyền tin… đang tiến về hướng căn cứ Ðồng Dù có bắt theo vài du kích để dẫn đường và dường như họ không đến địa điểm tập trung để đầu hàng.


Du kích xã tất cả ở đây rất đông vì thời điểm này xã Trung Lập Hạ đã là vùng giải phóng vào ngày 29 tháng 4, ngày mà căn cứ Ðồng Dù thất thủ. Tôi nói tiếp: cháu là người được người nhà nhờ đi tìm cái hố chôn vì họ có thông tin là người nhà họ bị chết tại khu vực này sau khi rút quân từ Khiêm Hanh, Bầu Ðồn, Tây Ninh về. Chú Út chợt reo lên đúng rồi, tôi nhớ ra rồi dẫn cánh quân đó về có ông thiếu tá rất đẹp trai, lúc đó du kích của tất cả khu vực đều tập trung để đánh chặn TÐ đó, tôi như đứng tim vì câu nói vô tình của chú Út về Bố tôi – nhưng vẫn cố giữ bình tĩnh: cháu có liên hệ được với vợ của ông thiếu tá đó vì cô ấy là người chỉ cái hố chôn này. Chính cô ấy là người lúc đi nhận xác đã tự tay bới cái hố đó lên khi đi nhận xác chồng, cái hố chôn rất cạn vào thời đểm đó, cô ấy kể chỉ cần cào nhẹ lớp đất là phát hiện ra xác người liền….


Chú Út ngắt lời và nói tiếp về trận đánh, lúc du kích đã dàn quân ra phục kích xong thì TÐ đó về đến khoảng 40 người và lọt vào vòng vây của toàn bộ du kích ở đây. Phía du kích phóng loa kêu gọi đầu hàng, đáp lại là tiếng súng nổ từ TÐ 38, như vậy là họ quyết đánh rồi, cuộc giao tranh du kích và TÐ 38 đánh nhau khoảng được 30 phút. Rồi bỗng nhiên tiếng súng im bặt, không khí nặng nề mùi thuốc súng, cảnh tượng người chết của hai bên nằm la liệt… tiếp đó phía du kích tiếp tục kêu gọi đầu hàng và thông báo căn cứ Ðồng Dù đã thất thủ nếu không đầu hàng sẽ có xe tăng đếm yểm trợ và tiêu diệt… vẫn không có lời đáp trả từ TÐ38… nhưng sau đó vài phút thì họ phát hiện TÐ 38 gần như kiệt quệ và hoàn toàn hết đạn từ lâu… tất cả còn lại 12 người bao gồm TÐT, người mang máy truyền tin, một sĩ quan thiếu úy đầu bạc, và 9 người lính còn lại… họ đang ngồi bên nhau cùng hút những điếu thuốc quân vụ cuối cùng, tất cả đã hết đạn và bị dẫn về trường tiểu học và trói tất cả tại đó…


Tôi gần như chết lặng, sự thật đây rồi… vì từ đầu tiếp xúc với tất cả mọi người tôi đã che giấu thân phận của mình để nhằm tìm kiếm và có một thông tin khách quan nhất về cuộc tìm mộ đầy gian nan vất vả này nhưng đầy bất ngờ, nhiều cảm xúc, vì tôi đã được nghe kể về trận đánh oai hùng của Bố tôi và các chiến hữu, và cũng quan trọng không kém là sự thật về cái chết của Bố tôi. Tôi quyết định tạm dừng tại đây và xin phép ra về vì tôi bắt đầu muốn khóc nhưng cố kìm nén lại. Sau khi từ giã tôi nói, hôm nay cháu đến đây là để tìm hiểu có phải là cái hố đó chôn các lính rút từ Tây Ninh về, chú Út tuyên bố chắc nịch, chính xác rồi đó, chính chú là người canh chừng khi họ bị trói trong trường học nên chú nhớ rõ từng khuôn mặt từng người. Ðể hôm khác lên nếu chú còn nhớ gì thì sẽ kể tiếp.


Ngày thứ tư:


Về đến nhà thì trời đã tối hẳn, cơm nước xong là tôi lên net để thông tin cho người nhà của Chú Tài, là người lính truyền tin của Bố tôi. Sau một vài phút thấy nickname của cô Hương đang online thì tôi mừng khôn xiết và tôi đã truyền tải những thông tin mà tôi có được mong mỏi là gia đình có thêm tin tức về chú Tài… Cô Hương nói ngay như vậy là đúng rồi, chắc cô sẽ về Việt Nam cùng tôi thực hiện việc tìm hố chôn và cải táng, tôi hơi bất ngờ về việc này vì tôi nghĩ rằng gia đình của chú Tài sẽ đi cùng tôi chứ không phải là cô Hương và cô ấy chỉ là người yểm trợ. Cô nói rất cương quyết rằng cô sẽ về VN một chuyến… Tôi nói tiếp cháu cũng nhiều cảm xúc quá nên nghĩ ngơi vài ngày, sau đó cháu sẽ tiếp tục lên đó thêm lần nữa để nghe chú Út kể tiếp may ra có thêm tin tức gì mới… và cô Hương đồng ý.


Tôi liền liên lạc với Mẹ để kể về cuộc tìm kiếm của tôi, biết là Bà sẽ rất buồn nhưng biết làm sao được vì Mẹ tôi có thể may ra nhớ thêm điều gì. Bà nói, con cố gắng làm hết sức mình để giúp họ vì lúc đó gia đình chỉ mong là tìm được xác của Bố chứ đâu có khả năng và thời gian làm cho những người còn lại, đó là trăn trở của Mẹ suốt bao nhiêu năm qua, tôi nói Mẹ yên tâm đây là trách nhiệm và bổn phận con phải làm, chứ con không hề nghĩ đây là một việc làm từ thiện hay công đức, tôi biết Mẹ tôi rất hài lòng về cách suy nghĩ của tôi.


Vài ngày trôi qua, đầu óc tôi cứ quay cuồng với bao suy nghĩ chẳng tập trung được vào việc gì nhưng tôi mừng thầm vì đã có thêm nhiều tình tiết là người ở lại cuối cùng sau trận giao tranh giờ thứ 25 có một người lính truyền tin của Bố tôi, sau cuộc đụng độ vẫn con mang máy truyền tin cho TÐT…


Rồi cô Hương cũng đã về đến Việt Nam, chúng tôi ngồi bàn bạc cách làm sao cho nhẹ nhàng và nhanh chóng vì có lẽ chẳng ai muốn về lại nơi đau thương đó. Tôi và cô quyết định sẽ xuống nơi hố chôn tập thể với mong muốn là thông báo cho các Chú là khai quật và đem các chú về nơi an lành nơi không có tiếng súng, sự tàn ác, dã man mà chỉ có tiếng kinh hàng ngày.


Vài ngày sau đó, tôi, cô Hương, chú Nguyên (người em của chú Tài) lên đường về Củ Chi, trên đường đi chẳng ai nói với ai lời nào, ai cũng mong muốn là mau đến nơi nhưng dường như tôi thấy đoạn đường sao mà xa vời vợi, cái cảm giác cứ ảm ảnh tôi trong suốt quãng đường, khi ngôi trường hiện ra trước mặt cũng là lúc mọi người đã thấm mệt.


Tôi đã hướng dẫn và đã kể cho mọi người nghe về câu chuyện mà tôi đã được chú Út kể cho tôi nghe, ai cũng không cầm được nước mắt. Khi đến nhà chú Út thì có một việc không ai ngờ đến là khi vừa thấy chú Nguyên thì chú Út buộc miệng kêu lên: giống lắm, chú này giống cái ông lính truyền tin mang máy cho ông thiếu tá… mọi người ai cũng giật bắn người vì câu chuyện bất ngờ này… Sau vài câu nói chuyện chúng tôi cùng mang một số đồ cúng mang theo ra cái hố chôn…

Như vậy đấy mọi người ơi, dù 36 năm về trước họ có thể là kẻ thù của nhau, nhưng giờ đây nhìn hình ảnh này tôi không thể cầm được nước mắt, khóc nhiều rồi tôi cũng chẳng biết khóc vì cái gì nữa… nhưng cái hình ảnh này đã làm tôi thật sự cảm động.

Những khúc xương chân được tìm thấy đầu tiên

Sau các nghi thức cúng kiến xong, chúng tôi quay lại nhà chú Út để bàn về việc tiến hành khai quật, chú Út là người đã thật sự giúp đỡ rất nhiều, ông làm vì tình người, sự cảm thông, hay sự hối hận???… Nhưng tôi hy vọng đó là những việc làm xuất phát từ

tình người, những cử chỉ và hành động của ông phần nào làm xoa dịu mọi người khi nghĩ về cái chết thương tâm và uất nghẹn của các quân nhân BÐQ. Ông là người đã giúp chúng tôi liên hệ với bên công nhân khai quật, chuẩn bị đồ cúng, liên hệ với ủy ban xã v.v…


Chúng tôi dùng cơm tại nhà ông và ngồi cùng nhau để bàn bạc việc bốc hài cốt đã được cô Hương ấn định là ngày 16 tháng 9, 2011. Ðường từ Củ Chi về trời mưa nặng hạt, như khóc thương thân phận đất nước Việt Nam điêu linh trong chiến tranh, bao cảnh lầm than, nhiều gia đình tan vỡ…

Ngày thứ năm:


Lại một đêm mất ngủ và thao thức, trằn trọc để mong trời sáng… và rồi buổi sáng đến thật mau, tôi chuẩn bị ra khỏi nhà không quên thắp vài nén nhang cho Bố tôi và cầu mong ông sẽ phù hộ cho chúng tôi khai quật một cách nhanh chóng và chính xác. Khi tôi đến nhà cô Hương thì mọi người đã tề tựu đông đủ, chúng tôi vội vàng lên đường vì ai cũng mong mỏi là sẽ mau chóng đến nơi, trên đoạn đường đi tôi thấy dường như ai cũng căng thẳng và lo âu, riêng tôi như đã đề cập ở phần đầu, cảm giác bấc an, lo lắng, những câu hỏi vẫn chưa có lời đáp, có lẽ không ngoa khi có thể nói rằng, chính tôi là người mong muốn đến thật nhanh tại hiện trường.


Các địa danh như căn cứ Ðồng Dù, cầu Sạn (nơi diễn ra trận đánh), trường học (nơi giam giữ và trói các quân nhân BÐQ)… đều nằm lại sau lưng và chúng tôi cuối cùng cũng đến nơi cái hố chôn đó. Bên bộ phận bốc mộ họ đã đến thật sớm làm các thao tác cần thiết như chuẩn bị đồ nghề và đồ cúng, chú Út cũng đến đó từ bao giờ, tôi thấy ông trầm ngâm và rất suy tư. Sau các nghi thức cúng kiến và thắp nhang cầu nguyện, Sư Cô quyết định là đã đến giờ bắt đầu khai quật, mọi người đã chờ đợi giây phút này rất lâu, đối với gia đình chú Tài thì chắc là đã 36 năm rồi họ chờ đợi giây phút này. Nhà ngoại cảm cầm tay người em của chú Tài và bắt đầu xác định vị trí khai quật…. ai cũng nín thở chờ đợi…


Bên bộ phận khai quật bắt đầu cào lớp cỏ khô ra nhằm xác định vị trí cho chính xác, mỗi nhát cuốc là mỗi lần tim tôi nhói lên vì hồi hộp, người tôi lạnh toát mặc dù đứng giữa cánh đồng trời đang chói chang nắng… sau chừng khoảng vài cuốc, nước từ dưới hố bắt đầu trồi lên làm việc khai quật bị chậm lại vì họ phải cuốc đất đấp thành những cái đê nhỏ nhằm chặn không cho nước tràn vào lại các chỗ đã được đào. Dũng là người chỉ huy các công nhân đào mộ nói với tôi rằng: đúng rồi em có cảm nhận sắp đến chỗ có xương rồi vì theo kinh nghiệm của em chổ nào có xương người thì đó đất sẽ rất mềm…


Vừa nói chuyện với tôi Dũng vừa lấy bàn tay thọc xâu vào lớp đất bì bõm nước, bỗng nhiên Dũng kêu to lên: có xương rồi, xương này to lắm, chắc là xương ống chân…. Tôi như trút được gánh nặng một phần vì đây đúng là hố chôn rồi, nhưng để xác định là có hài cốt chú Tài hay hài cốt của các quân nhân BÐQ là một quá trình rất dài và phải có kỷ vật gì để chứng minh. Dũng nhoẻn miệng cười và hỏi: anh có muốn xem không, không một giây để suy nghĩ tôi trả lời: tất nhiên và tôi là người đầu tiên nhìn thấy cái xương chân đó. Dũng làm một vài động tác và cầm lên một ống xương chân dài, còn nguyên chiếc vớ đã ngả màu bao bọc lại, bất ngờ tiếp theo là còn cả sợi dây trói bằng chỉ cước xanh to bằng ngón tay cái….nước mắt tôi đã rơi vì có lẽ đây là khoảnh khắc đã làm tôi xúc động và sẽ ám ảnh tôi mỗi khi nghĩ về nó, tôi bỗng nhiên hình dung ra thời khắc đó: khi bọn du kích dẫn các quân nhân BÐQ anh hùng ra tàn sát tập thể, họ vẫn bị trói chặt tay hoặc chân, tôi cố dằn cơn xúc động nhưng nước mắt cứ tuôn rơi, lòng tôi gầm thét như bị ai làm tổn thương… tôi tự hỏi tại sao lại có dây nịt, có lẽ lúc khi bị tàn sát họ vẫn mặc đồ quân phục kiêu hãnh của Biệt Ðộng Quân…


Cảm giác đau xót như ai xát muối vào vết thương, nhưng đây là vết thương lòng làm sao mà lành lại được… bỗng nhiên chú Út đứng sau lưng tôi từ khi nào, ông vỗ vai tôi nhè nhẹ như an ủi, làm tôi thức tỉnh nếu tôi quá xúc động sẽ để lộ ra tung tích của mình, đốt vội điếu thuốc lá và cố giữ bình tỉnh, tôi quay sang hỏi chú Út: vậy khi du kích bắn những người này thì họ đang mặc quần áo gì hả chú, ông suy nghĩ vài phút rồi nói: lúc đó đông ngươì lắm, nên chú chỉ nhớ là có người mặc chỉ cái quần cụt, người thì còn mặc quần dài của lính, người thì mặc áo, người thì cởi trần… lâu rồi chú chỉ nhớ có vậy. Tôi ra hiệu cho mọi người nghỉ ngơi một chút vì chính xác là đây rồi với lại tôi muốn có thêm thời gian để suy nghĩ. Tôi quay lưng lại thì hỡi ơi có cả hơn 40 người hiếu kỳ đang đứng xem từ khi nào mà tôi không biết họ đến từ đâu và từ khi nào, họ bắt đầu bàn tán: xót thương có, chửi rủa có, thông cảm có, mắng nhiếc có, cảm thông có và có người đã khóc… họ còn kể chính xác là thời điểm tàn sát vào xế chiều vào khoảng 4h00 hay 5h00 gì đó. Sau vài phút nghĩ ngơi và nói chuyện, bên công nhân khai quật tiếp tục công việc của mình, thời khắc quan trọng đã đến một cái thẻ bài đã được Dũng mang lên từ cái hố chừng nửa mét sâu: tôi như đứng tim và cầm ngay cái thẻ bài đến cái bờ ruộng có nước sạch rửa để xem và hy vọng đó là thẻ bài của chú Tài nhưng một thoáng thất vọng đã xuất hiện trên khuôn mặt của tôi, thẻ bài không phải của chú Tài mà là của:


Ly A Sam

Số quân: 70/131238

Loại máu: A+

Và một thẻ quân nhân cũng là của Chú Sam: tên đầy đủ là:


Lý A Sầm

Sinh ngày: 19/5/1950

Cha: Lý Man Soi

Mẹ: Hồ Thị Minh

Lúc này thời tiết càng nóng gay gắt cũng như lòng người cũng gay gắt nóng hy vọng tìm được thêm kỷ vật.


Và tiếp theo là một thẻ căn cước với nội dung:

Trịnh Ngọc Thuần

Sinh ngày: 3/03/1957 tại Saigon

Cha: Trịnh Hữu Hiền

Mẹ: Hứa Thị Là

Ðịa chỉ: 15/1 Ngô Quyền, Saigon

Như vậy thời điểm chú Sầm bị tử hình ông vừa tròn 25 tuổi và chú Thuần thì chỉ vừa 18 tuổi và 01 tháng. Tôi tự hỏi tại sao chiến tranh kết thúc, các anh là người thắng cuộc tại sao lại phải đối xử và tàn sát những người như vậy và giờ những người đã thi hành việc tử hình năm xưa đang ở đâu, họ có đứng trong vài chục người đang đứng kề cận bên tôi, và họ nếu có và chứng kiến thì họ đang nghĩ gì trong lúc này…. càng quanh quẩn với các câu hỏi tôi càng cảm phục và hãnh diện về các quân nhân BÐQ dưới quyền của Bố tôi, những anh hùng vô danh, vì lý tưởng họ đã chiến đâu đến hơi thở và viên đạn cuối cùng, họ còn quá trẻ để phải chết, nhưng họ đã quyết định chọn cái chết một cách đau đớn nhất nhưng vô cùng kiêu hãnh và đáng để thế hệ sau lấy đó làm niềm tự hào, trong những nổi đau thương luôn có những niềm kiêu hãnh.


Lúc này tinh thần mọi người bắt đầu bớt căng thẳng vì đã có những kỷ vật và ai cũng hy vọng sẽ có bất cứ kỷ vật gì là của chú Tài, có lẽ chú Sầm là người cẩn thận nên hầu như các giấy tờ đều còn. Tôi miên man với bao suy nghĩ và cầu nguyện thì Dũng lại moi từ lòng đất một cái túi nylon đã ngả màu theo thời gian, tôi lập tức cầm lấy và mở ra, thì trời ạ… một chai dầu gió hiệu “song thập,” một bàn chải đánh răng, một cây viết, một cái bóp cá nhân có hình một người mặc đồ lính chụp hình chung với một cô gái – nhưng rất mờ và rất khó để nhận diện khuôn mặt… tiếp theo trái tim tôi có lẽ ngừng đập trong thời khắc này: đó là một cái đồng hồ đeo tay sợi dây đồng hồ bằng da màu đen, còn nguyên vẹn, tôi vội vàng lẻn ra khỏi nơi đang quá đông người và ồn ào: cái đồng hồ đã bị gỉ sét theo thời gian nhưng hai kim đồng hồ thì còn nguyên vẹn…

Kim đồng hồ chỉ 4h14 phút ngày 31 – như vậy có 02 giả thuyết chúng ta có thể suy luận:

1. Các quân nhân bị tàn sát vào lúc 4h14 phút, ngày 30 tháng 4, 1975 vì đồng hồ đeo tay thời đó thường là đồng hồ lên giây nên chỉ chạy đúng 24 giờ sau đó lên giây thì mới tiếp tục vận hành, khi chủ nhân của chiếc đồng hồ này bị tàn sát thì nó vẫn tiếp tục chạy đúng 24 giờ (tức là ngày 31 tháng 4, 1975) nữa rồi mới ngừng hẳn 36 năm qua trong lòng đất.


2. Là chủ nhân chiếc đồng hồ đó bị tàn sát, vào lúc thời điểm đồng hổ chỉ lúc: 4h14 phút, khi nằm xuống đã gặp nước và hư hỏng ngay.

Tôi như điên như dại, ôm cái đồng hồ vào lòng và bật khóc tôi muốn hét thật to vào không gian yên tĩnh nơi tôi đang đứng một mình. Có một sự huyền bí nào hay chỉ là sự trùng hợp khó tin là các chú đã để lại một dấu hiệu cho mọi người và gia đình biết chính xác ngày và thời gian họ đã nằm xuống cho quê hương, đất nước.


Cuộc đào hố chôn vẫn tiếp tục, thoáng thất vọng đã hiện rõ lên khuôn mặt của cô Hương và gia đình chú Tài là vẫn chưa tìm được bất cứ vật gì để chứng minh là có chú Tài. Nhưng tôi thì hơi khác vì tôi nghĩ rằng trước tiên phải có bất cứ kỷ vật gì để chứng minh đây là TÐ 38, và tôi tiếp tục cầu nguyện, gào thét tên Bố tôi trong tâm khảm là hãy phù hộ cho tôi và mọi người. Và đây rồi thêm một cái bóp cá nhân được Dũng đưa tận tay tôi, tôi lập tức mở ra:

Tôi lập tức đọc kỹ danh sách các quân nhân có tên và trong đó đã có tên của chú Sầm, như vậy như tôi đã nói ở trên chú Sầm là người cẩn thận….được điều động về TÐ 38, Liên Ðoàn 5, Biệt Ðộng Quân, phía sau có chữ ký ông Trung Tá Nguyễn Văn Ðương, liên đoàn trưởng LÐ 5 ký năm 1969, như vậy so với số quân của chú Sầm thì ông về TÐ 38 từ năm 1969 và đã vĩnh viễn không được thuyên chuyển sang các binh chủng khác.

Và một giấy có ghi phía sau là: Tiểu Ðoàn Trưởng TÐ 38, Biệt Ðộng Quân, ông Nguyễn Thanh Tiến hay Tiền… năm 1965.

Em gái chú Tài cùng sư cô và gia đinh sửa soạn làm lễ khai quật.

Lúc này trời đã về chiều, ai cũng mệt mỏi và gần như không còn hy vọng gì là sẽ tìm kiếm được nữa vì cái hố đã được đào quá rộng rồi, với diện tích là 3m x 6m…

Sau khi hội ý với nhà ngoại cảm thì ông quyết định là tất cả đã đầy đủ và không nên tiếp tục đào nữa… tôi không thể giải thích được hiện tượng này chỉ biết là ông cứ đi quanh trên cái hố đã được đào, nhắm nghiền mắt và nói chuyện một mình.
Sau đó gia đình hội ý thật nhanh và làm các công tác nhận diện hài cốt của chú Tài bằng hình thức nhà ngoại cảm nói chuyện với các vong linh (lý do tôi không tường thuật việc này vì gia đình chú Tài đã bàn bạc với nhà ngoại cảm). Tiếp theo đó mọi người quyết định sẽ hỏa táng chú Tài và các quần áo, dây nịt, dây trói…. tại cánh đồng lúa nơi chú và các chiến hữu đã nằm lạnh lẽo suốt bao năm qua.
Số hài cốt còn lại tạm thời được để vào trong một cái “khạp” để hy vọng gia đình sẽ liên lạc và mang người nhà của mình về.
Lúc này gia đình và mọi người ngồi cách rất xa, tôi và các bạn đi cùng tiến hành việc hỏa táng… cảm giác như kẻ không hồn… buồn vui trộn lẫn… nghĩ về cảm giác nơi này 36 năm về trước khi chiến tranh chấm dứt đã có một cuộc tàn sát diễn ra giữa những người Việt Nam với nhau cùng chung giòng máu Lạc Hồng, cùng huyết thống… cuộc tàn sát này đã có thể không xảy ra nếu lúc đó…


Phần hỏa táng:
Tôi và cô Hương rong ruổi mang cái “khạp” gửi vào nhà thờ mong ước để xin gửi trong vòng 2 tháng để đăng tin tìm người thân và cũng để vận động sự giúp đỡ vì tất cả các chi phí đều do tiền túi của cô Hương bỏ ra… giờ thì cô ấy đã thật sự hết khả năng mất rồi.
Về nước được 2 tuần tôi vui mừng được cô Hương thông báo là đã đủ số tiền để hỏa táng và gửi vào nhà thờ, tôi hạnh phúc đến dâng trào vì mọi việc gần như đã hoàn tất, mang cái ‘khạp” đi hỏa táng về xong thì tôi liền chạy ngay về nhà thờ đễ làm các thủ tục cần thiết nhằm để các chú an nghỉ…Cảm giác phấn khởi tôi bước vào thì được bộ phận hài cốt cho biết hoàn toàn họ chưa nhận bất cứ tiền của ai để lo cho cái “khạp” này, tôi như chết đứng và vô cùng tức giận, tôi liên lạc với cô Hương thì được Cô cho biết là người đã trực tiếp gửi tiền về cho nhà thờ là ông Ð.T.H – một cựu quân nhân BÐQ, cô Hương cho tôi số phone của người đó để tôi liên lạc và tôi hy vọng chắc họ đã gửi tiền về…. Qua những khó khăn và sự hiểu lầm mà tôi cho rằng có thể tránh được nếu họ – những người đã vận động có một sự tin tưởng và thấu hiểu được các khó khăn mà chúng tôi gặp phải trong suốt quá trình tìm hố chôn – và đây chính là hạn sạn nhỏ trong sự thành công của việc khai quật và hỏa táng mang về nhà thờ đúng như ước nguyện của gia đình.


Ðôi dòng tâm sự:


Về đến nhà tôi thẩn thờ và ngồi bệt trên ghế giống như vừa trở về từ cõi chết, cảm giác như các chú cứ quanh quẩn đâu đây… thầm nghĩ đã nhiều năm nằm hiu quạnh, lạnh lẽo nơi hiu hắt và cô đơn, giờ các chú đã được giải thoát… Hãy thực hiện các ước nguyện của nghiệp trai chưa tròn, về thăm gia đình và bạn bè những người thân đã lo lắng trong suốt thời gian qua các chú nhé!!!


Tôi liên tưởng lại các câu chuyện và lời kể của vài nhân chứng và chính thức tôi xác nhận rằng: Tiểu Ðoàn 38, LÐ 32, Biệt Ðộng Quân là đơn vị BÐQ cuối cùng đã chiến đấu vào giờ 25 của cuộc chiến, họ đã chiến đấu một trận cuối cùng của đời lính vinh quang nhưng đầy cay đắng, họ và chính họ đã chọn cái chết đau đớn nhưng oai hùng sẽ được mọi người nhắc đến…


Theo lời kể của chú Út thì sau khi TÐ 38 hết đạn, người du kích tên là Cò Ráng – đã có những giây phút thóa mạ và mắng nhiếc TÐ 38 và Bố tôi đã to tiếng với người này, sau khi vào trong hội ý chúng đã dẫn Bố tôi ra cái đồng ớt gần đó và tử hình nhằm áp đảo tinh thần anh em còn lại, về nội dung cuộc tranh cãi của Bố tôi thì không ai còn nhớ đến nội dung – kể cả chú Út vì theo ông lúc đó rất đông người, kẻ thóa mạ, dùng những từ khó nghe…. nhưng ai cũng có thể thấy việc tàn sát là chủ đích cá nhân của một nhóm du kích có lẽ lúc đụng độ bên du kích cũng đã bị thiệt hại rất nhiều…

Dự đoán mãi mãi là dự đoán nhưng chúng ta cần tôn trọng sự thật, và vinh danh họ: Thiếu Tá Trần Ðình Tự – và các quân nhân TÐ 38 chính là đơn vị BÐQ cuối cùng chiến đấu và cái chết của họ phải được trân trọng như những giá trị lịch sử của QLVNCH.

Bố tôi và họ cũng đã có thể có cách khác để an toàn về với gia đình nhưng tôi hiểu Bố tôi qua nhiều thông tin tôi có được, Ông không bao giờ thỏa hiệp chứ đừng nói đến đầu hàng. Họ đã chiến đấu vì lý tưởng, vì danh dự… Họ không cần vinh danh, không cần chức tước, họ chỉ cần trả lại sự thật cho sự hy sinh của họ, họ chỉ biết chiến đấu với lời nguyện ước với non sông:

Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm

Và sau cùng họ chỉ mong những người còn lại, nhớ đến họ, thắp cho họ một nén hương lòng mỗi khi 30 tháng 4 lại về để họ yên lòng nơi cõi trời cao rộng.

Kính Bố: con đã thực hiện xong trăn trở của Mẹ, trách nhiệm và bổn phận của con một người lính VNCH, đâu đó trong cõi tạm trần gian này con mong Bố đã thấy và hài lòng về những gì con làm cho những người đồng đội đã cùng lý tưởng với Bố và đã vĩnh viễn nằm xuống cho quê hương. Hãy thanh thản nơi cõi trời cao rộng – Bố và các chú sẽ không bao giờ cô đơn, sẽ không bao giờ bị quên lãng.

Troubled Odyssey of Vietnamese fishermen

By Harvey Arden

National Geographic Senior Staff

Photographs by Steve Wall.

Câu chuyện tiếp tục thay đổi ngay cả khi tôi viết, làm mờ đi các biểu đồ của tôi như một đám khói. Nhưng hãy để tôi kể cho bạn nghe những gì tôi đã học được, cho đến thời điểm này, về nhóm người sống sót phi thường mà tôi gọi là những người lang thang từ người dân Vũng Tàu với sở trường đặc biệt là luôn cưỡi con sóng cuối cùng để đến với tự do. Sáng tác nhưng một sợi chỉ duy nhất trong tấm thảm rộng lớn của nhân loại chảy ra khỏi Đông Nam Á trong sáu năm qua, nhóm ngư dân Việt Nam gắn bó thân thiết này và gia đình của họ có lẽ là 1.300 người_ đã làm cho gia đình đoàn kết trở thành công cụ sống còn của họ.

Ban đầu từ miền Bắc Việt Nam, nhóm đặc biệt này đã chạy trốn vào miền Nam Việt Nam sau khi Cộng sản tiếp quản năm 1954, định cư một thời gian quanh khu nghỉ mát và thị trấn đánh cá Vũng Tàu, sau đó lại chạy trốn khi miền Nam Việt Nam sụp đổ vào năm 1975_ thời điểm này đã nửa vòng trái đất (bản đồ, trang 380)

Bây giờ họ đang tập trung lại ở Biloxi Mississipi với tư cách là một trong một số nhóm ngư dân Việt Nam sống rải rác dọc theo bờ biển Vịnh từ Florida đến Texas. Nhưng mọi rắc rối của họ không ở phía sau. Như một trong những dân giang hồ đến từ Vũng Tàu bày tỏ: “Cả đời chúng tôi tham gia chiến tranh, không biết gì ngoài chiến tranh. Đầu tiên là ở Việt Nam. Bây giờ nó đang ở đây ở Mỹ_ một cuộc chiến tranh để người dân của chúng tôi được chấp nhận. ”

Biểu tượng sâu sắc về cuộc di cư của họ hình thành trong một bến cảng giữa các cơ sở trao đổi tôm và nhà máy sản xuất thức ăn cho mèo ở bờ sông Biloxi’s Back bay. Lẫn mình khỏi làn sương mù trắng đục trôi dạt ngoài khơi Vịnh Mexico, chiếc tàu đánh cá đã hoàn thiện với vỏ gỗ thô ráp của một chiếc thuyền đánh cá đã hoàn thiện nổi lên như một sự hiện ra. Trong đường cong của bong và đường quét của nó có một sự kết hợp nổi bật của thiết kế thuyền phương Đông và Mỹ.

Trên bong có bóng những công nhân đang di chuyển. Tiếng ồn ào của cưa, búa, rìu và máy khoan điện vang lên trong không khí tháng Giêng chói tai đối nghịch với tiếng nói chuyện phiếm của những người thợ.

Cầu nối qua thư từ ở Mississippi giữ cho người tị nạn Chac Van Nguyen giữ liên lạc chặt chẽ với những người thân ở phương xa. Sau khi chạy trốn khỏi sự tiếp quản của Cộng sản miền Nam Việt Nam năm 1975, ông và những ngư dân của mình giờ đây đã dồn nguồn lực của mình để đoàn tụ đại gia đình của họ tại một vùng đất mới, nơi vừa thân thiện, vừa thù địch và hoang mang.

LƯU Ý CỦA NGƯỜI BIÊN SOẠN:

Do khả năng bị trả thù đối với người thân của họ vẫn còn sống ở Việt Nam, và do một số vụ tấn công gần đây tại các cộng đồng người Việt trên bờ Vịnh, tên của một số cá nhân nêu trong bài viết này đã được thay đổi hoặc bỏ qua theo yêu cầu.

Trong khi những chiếc thuyền của chính họ đã cứu họ, những chiếc thuyền đầu tiên mà họ mua ở Hoa Kỳ đã dẫn đến rắc rối. Một người đánh tôm Việt Nam (ở trên) vượt qua các đối tác Mỹ lớn hơn ở Empire, Louisiana. Nhưng sự yên bình là lừa bịp cho sự đối kháng của địa phương buộc hầu hết ngư dân Việt Nam phải rời khỏi nơi cư trú của họ. Sau đó, nhóm người Vũng Tàu đã hy vọng đến Biloxi, Mississippi gần đó, nơi một số người đã sống với cuộc sống cũ là ngư dân, nhận bất kỳ công việc cũ nào có sẵn.

Một số ít may mắn làm ăn phát đạt, giờ có cả xưởng đóng tàu và cơ sở thu mua tôm của người Mỹ gốc Việt. Nhưng hàng chục nghìn người Việt Nam vượt ngục vẫn sa lầy trong các trại tị nạn bị đổ nát trên khắp Đông Nam Á. Một số sẽ được tái định cư ở Hoa Kỳ, nhưng hầu hết sẽ đợi vài tháng, thậm chí vài năm, trước khi có thể tìm được quốc gia sở tại.

Chỉ tính riêng trong tháng 5 năm 1981, 14.300 người Việt Nam đã trốn khỏi đất nước của họ bằng thuyền, một sự gia tăng có thể một phần là do sự cảnh giác của chính phủ được nới lỏng, vì nhiều quân đội Việt Nam bị kẹt ở biên giới với China và ở Kampuchea (Campuchia) và Lào. Người tị nạn Việt Nam mới đến Hoa Kỳ nhận viện trợ từ các cá nhân và từ các cơ quan tư nhân và chính phủ. Họ có xu hướng nhanh chóng tự hỗ trợ và trong vòng 5 năm tỷ lệ việc làm của họ bằng với mức trung bình của tất cả người Mỹ. Người tị nạn Đông Dương (khoảng 491.000 người, 70% trong số họ là người Việt Nam) có xu hướng định cư tại nơi gia đình hoặc đồng hương của họ được thành lập; California có số lượng lớn nhất cho đến nay.

Băng qua một bến tàu rải sỏi với hàu nghiền nát và vỏ barnacle, tôi lên tàu Vessel có vẽ như ma quái qua một ngôi nhà tham tang. Với Ba Van Nguyen, đồng chủ sở hữu và là thuyền trưởng của chiếc tàu đang chế tạo này, tôi mở cuộn bản đồ Đông Nam Á ra.

Mắt Ba sáng lên vì nhận ra. Anh ta đặt một ngón tay run rẫy đến một điểm trên bản đồ ngay phía đông nam của một thành phố từng được gọi là Sài Gòn bên bờ đất nước một thời gọi là miền Nam Việt Nam.

“Đó” anh thốt lên “Vũng Tàu”

Ba nhìn vào bản đồ như thể nhìn thấy đúng thông qua mực và giấy để mắt vào thế giới đã mất của những bải biển cát trắng, rừng, những ngọn núi ven biển bao phủ, những rặng tre và biển xanh đầy ắp cá, tôm và tôm hùm đã sẳn sàng để bắt. Anh ấy cảm động nhưng không hiểu tại sao người lạ muốn biết chuyện riêng tư của anh? Bởi vì Ba chỉ nói với vốn liếng tiếng Anh ít ỏi qua tôi người thông dịch lại Hung Van Nguyen, một kình ngư trẻ Việt Nam biệt danh “Sonny” giúp anh diễn giải:

Chúng tôi luôn là những ngư dân, trở lại ký ức từ đầu, rất lâu trước khi chúng tôi đến Vũng Tàu. Chúng tôi sống ở miền Bắc, gần Hải Phòng. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc. Chúng tôi đánh bắt cá ở biển và biển nuôi sống chúng tôi. Sau đó là những người Cộng Sản. Ba hồi tưởng lại năm 1954 khi Cộng Sản chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp.

Dân chúng tôi không thích người Pháp, với những người Cộng Sản thậm chí còn ít hơn. Họ bắt chúng tôi làm việc như nô lệ. Khi Pháp rời đi chúng tôi ra ngoài biển khơi nơi những con tàu lớn của Mỹ đã chờ đợi chúng tôi. Nhưng chúng tôi đã để cơ hội của chúng tôi theo sóng trôi đi mất. Đó là thời điểm buồn nhất, phụ nữ đã khóc. Đó là thuyền số một…

Tàu Mỹ đưa ngư dân bỏ trốn đến miền Nam Việt Nam, tái định cư ở ven biển các thị trấn, chủ yếu chung quanh Phan Thiết. Ở đó chúng tôi đóng thuyền số hai. Sau đó năm 1968, Cộng Sản đã đưa chiến tranh đến Phan Thiết, vì vậy chúng tôi đi thuyền về phía Nam, lần này đến Vũng Tàu. Ở đó chúng tôi sống và đánh bắt cá cho đến năm 1975. Khi Cộng Sản chiếm toàn bộ đất nước,. Một lần nửa chúng tôi đi ra biển và các tàu Mỹ đã chờ sẳn. Thuyền số hai theo sóng trôi đi, đưa chúng tôi đến bến bờ tự do. Hầu hết các gia đình được đưa đến đảo Guam. Sau đó, cuối cùng, đến Hoa Kỳ ở rãi rác khắp nước Mỹ.

Đánh bắt cá, cân và đếm, thuyền viên Việt Nam Sinh Van Nguyen nói chuyện với Lary Jones, người mua tôm Biloxi. Một số người mua sẽ không giao dịch với người Việt Nam và một số ngư dân đại phương không muốn họ “săn trộm trong vùng biển của chúng tôi”  Những người khác tôn trọng họ vì họ làm việc chăm chỉ và tự túc. Có thể hiểu được một số xích mích, vì người Việt Nam bắt đầu làm việc ở những vùng biển đã bị đánh bắt quá mức và thoạt tiên, những người đánh bắt tôm địa phương đã vướng phải do thiếu hiểu biết về các quy định và phong tục đánh bắt.

Một số gia đình dọn đến Minesota, một số đến Pennsyvania, một số đến Oklahoma. Người Mỹ không hiểu rằng chúng tôi muốn sống quay quần cùng nhau. Chúng tôi không thích thời tiết lạnh giá. Chúng tôi đến Louisana nơi ấm áp hơn. Nhưng các ngư dân Louisana không nồng nhiệt chào mừng sự hiện diện của chúng tôi cho lắm. Họ nói rằng nơi đây không có đủ tôm cá cho mọi người. Họ không cần chúng tôi có mặt nơi bến tàu. Họ bắn thuyền của chúng tôi, đe doạ và đuổi chúng tôi đi. Nhưng chúng tôi có thể đi đâu?

Sau chúng tôi tìm ra đó là Biloxi, người dân ở đó không bận tâm lắm nếu chúng tôi đến. Chúng tôi làm việc chăm chỉ, tiết kiệm tiền, vì vậy chúng tôi bắt đầu mua các thuyền đánh cá nhỏ. Bắt đầu xây dựng những cái mới..

Ba nỉm cười, vỗ vào thành ván của tàu mới của mình. “Cái này, anh ấy nói: Đây là thuyền số ba!” Trong quá trình di truyền thế hệ của họ . Những người di dân từ Vũng Tàu luôn cố gắng sống quay quần như một đại gia đình với nhau. Đại gia đình. Quan niệm của họ khác với chúng tôi. Người Tây phương củng có đơn vị gia đình hạt nhân và sự kết nối của đại gia đình. Nhưng với người Việt Nam gia đình mở rộng là tối quan trọng là nền tảng cho gia đình hạt nhân.

Mỗi đơn vị gia đình nhỏ đều tiết kiệm được với gia đình lớn hơn. Do đó cho phép gia đình dẫn đến việc tài trợ cho các dự án lớn như mua một ngôi nhà hay việc trợ giúp một đứa trẻ trên đường đến đại học, đóng một chiếc tàu.

Richard Gollot không có ý định dây dưa vào những vấn đề như lịch sử hay di dân. Anh ta chỉ muốn thuê thêm một số thợ bắt hàu. Đó là vào đầu năm 1977, anh nhớ lại, tại bàn làm việc của mình trong một văn phòng nhỏ ở mũi Gollot Seafood tại Vịnh Biloxi. Đó là khoảng thời gian tồi tệ. Chúng tôi có hai tàu cào nhưng không ai muốn bắt hàu nửa. Mọi chuyện quá lộn xộn và nó chỉ đơn giản trở lại khi ngồi cả ngày làm cùng một công việc giờ này qua giờ khác.

Dù sao tôi củng đã nghe về những người Việt Nam những người tị nạn đang định cư ở New Orleans. Chúng tôi đã lái một xe tải tới đó, lấy khoảng mười người, đem họ trở lại đây làm việc trong ngày. Tôi không bao giờ thấy người ta háo hức để làm việc!  Họ sẽ không làm việc vì tiền lương muốn được trả bởi số lượng công việc họ đã làm. Họ đã học thực tế nhanh chóng và chẳng bao lâu nửa rất nhiều người trong số họ đã kiếm được sáu hay bảy đô la một giờ. Điều gì hơn thế nửa, họ thành thật, bạn luôn có thể để những dụng cụ làm việc chung quanh và chúng sẽ luôn nằm ở đó không bao giờ mất.

Chỉ với bản vẽ và thước đo, một ngư dân và một người phụ giúp đo đạc tính toán cho một chiếc thuyền mới ở trên. Mỗi thành viên trong gia đình đều tình nguyện làm việc trong nhiều tháng chủ yếu với các dụng cụ cầm tay và cưa xích để hoàn tất một chiếc thuyền đánh cá cho mùa tôm bắt đầu.

Nhưng việc lái xe đến và đi rất tốn kém cho khu vực New Orleans mỗi ngày. Vì vậy chúng tôi có hai gia đình Việt Nam đến và sinh sống ở đây. Rất nhanh sau đó những người khác đã làm theo. Trước khi bạn biết điều đó, chúng tôi có cả một cộng đồng người Việt tị nạn đang phát triển ngay tại Biloxi.

Bước vào là cha Thắng, người chủ chăn của ngư dân. Một thời gian ngắn sau khi gia đình ngư dân đầu tiên định cư ở Biloxi, người giáo sĩ của cộng đồng Việt Nam nhỏ bé củng là dân tị nạn, đã xuất hiện tại văn phòng Biloxi của Giám Mục Công giám La Mã Josephp Lawson Howze. Ông ấy muốn trở thành Mục Sư của Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam, ông cho biết như thế. Đức Cha hướng dẫn ông đến Đức Ông Gregory Johnson của nhà thờ Thánh Michael trên bờ sông. Những ngư dân này là người Công giáo, bạn biết rồi. Đức ông Johnson giải thích. Họ là những người rất, rất sùng đạo và cha Thắng hay cha James như chúng ta thường gọi ông, đã trở thành người chăn cừu của họ ở đây giống như ông ấy đã trở lại Việt Nam.

Cha lánh nạn Cộng Sản từ Bắc vào Nam Việt Nam năm 1954, sau đó học Linh Mục tại Sài Gòn khi đang làm tài xế Taxi. Sau đó ông xuất gia năm 1956, đến Vũng Tàu và thành lập một nhà thờ ở làng chài của tỉnh Phước Tỉnh lân cận. Ở đó cha đã tập họp bầy chiên cuả mình và giữ họ lại với nhau.

“Ông củng đang làm như vậy ở đây, dưới những gì chúng tôi gọi là một người chăm sóc việc tông đồ, lễ rửa tội, hôn nhân, dịch vụ, tất cả những nhu cầu về tinh thần của họ. Ông củng làm việc để hàn gắn các gia đình đã tách rời nhau ra trước đây, sắp xếp để mang họ xuống đây đến Biloxi”.

Một dàn hợp xướng cuả thiên thần và ngọt ngào không thể tả và giọng nói đã thu hút tôi đến St Michael vào một sáng thứ Bảy. Cha Thắng đã chủ toạ làm lễ cưới cho một cặp đôi Việt Nam, cả hai đều đến từ Vũng Tàu. Vị linh mục mặc áo đen giơ tay lên trong lời chúc phúc cho cặp vợ chồng trẻ, cô dâu xinh xắn Nhung Thi Nguyen trong chiếc áo choàng trắng và chú rễ Lam Thuy Nguyen trong bộ lễ phục màu vàng nhã nhặn. Mặt trời chiếu qua khung cửa sổ kính màu của nhà thờ,  trong đó mô tả các vị thánh Tông Đồ đang giữ một mạng lưới lớn. Nó có vẽ thích hợp đặc biệt: các vị thánh Tông Đồ và cha Thắng đều là người đánh cá của đàn ông.

Tôi gặp cha Thắng sau buổi lễ chúc mừng cha vì việc cha làm: mang các gia đình ngư dân Vũng Tàu lại với nhau. Ông nhún vai. “Tôi chỉ làm những gì tôi phải làm. Mọi người đến đây, tôi củng đến đây. Tôi đến đây và mọi người đến đây, tương tự giống như nhau. Chúng tôi sống cùng nhau. “Nhưng, xin vui lòng, hãy bỏ lỗi cho tôi” ông nói “ Tôi cần…” Và ông đi làm một việc khác củng về tâm linh cho những giáo dân của ông.

Nhưng có sự trục trặc, những di dân trôi dạt từ Vũng Tàu muốn làm điều gì lớn hơn là chỉ đánh bắt hải sản. Họ muốn tiếp tục cuộc sống của họ như những ngư dân trước đây. Kể cả trước khi họ đến Biloxi, mọi gia đình chung quanh New Orleans. Những thứ có thể kiếm được tiền, bắt đâu mua những thuyền đánh cá nhỏ, nhiều chiếc rỉ sét và rò rỉ. Trong một thời gian, nhiều gia đình đã sống trên những chiếc tàu hư hỏng này. Một số bắt đầu cặp bến Empire, Louisana, cách New Orleans một giờ lái xe.

“Tôi đã đánh bắt cá ở đây cả đời” một ngư dân trong Empire nói với tôi. Chủ yếu là tôi muốn xác định rõ ràng lãnh thổ của chúng tôi. Sau đó, đột nhiên những người Việt Nam xuất hiện, thoạt tiên là 35 đến 40 chiếc tàu sau đó nhiều hơn và còn nhiều hơn nửa. Sản lượng đánh bắt cá của tôi đã giảm 1/3 trong năm qua. Tôi không muốn họ ăn trộm của tôi. Chúng tôi có một thời gian đủ khó để kết thúc như nó vốn có.”

Những ngư dân trôi dạt từ Vũng tàu nhanh chóng hiểu rằng họ không được ưu ái đón chào. Đã có những biển báo: Không muốn có mặt người Việt Nam. Các đặc quyền cho người Việt Nam bị hạn chế tối đa. Họ thấy rất khó bán hải sản đánh bắt của họ cho ngư trường địa phương. Thậm chí có những xúc phạm về thể xác và đe  doạ bằng lời nói, mặc dù không có thương vong.

Nhưng tại Seadrift, Texas cách đó 450 cây số bạo lực gia tăng. Một ngư dân Mỹ đã bị bắn và giết bởi một thành viên Việt Nam của nhóm ngư dân Vũng Tàu. Vụ án ra trước Toà. Phán quyết: giết người để tự vệ bởi sức ép của sự quấy rối không thể chịu đựng được. Nhưng điều này hầu như không mang lại tình cảm êm đẹp cho hai bên.

Trên vùng biển đánh bắt tôm ở Mississipi một số ngư dân dùng thuyền cũ của họ đã sửa sang lại để có phòng lái lớn rộng rãi hơn và có chổ nấu ăn.

Bảng số xe và khẩu hiệu gắn phía sau với thông điệp sặc mùi kỳ thị chủng tộc nhìn thấy phía sau một chiếc xe tải. trong khi rắc rối chỉ âm ỉ ở Biloxi, thì ở Texas có vẽ sôi sục hơn, nơi bắn nhau dã xảy ra và đảng KKK đã cáo buộc ngư dân Việt Nam là “Cộng Sản xâm nhập”.

Đó là công việc và những trở ngại ở Biloxi cho cộng đồng Việt Nam. Thuy Le 17 tuổi nhận hướng dẫn tử chủ nhân, James Moore tại một nhà hang bán thức ăn nhanh. Một phần tiền lương của cô sẽ được đưa cho cha mẹ để góp vào với các thành viên khác trong gia đình để cùng chi tiêu.

Tập trung chung quanh bàn làm việc tại một bến dỡ hàng tôm ở Biloxi các cô gái Việt nam và phụ nữ đang chuẩn bị cho lô hàng mới đánh bắt được.

Ngoài vịnh, Bill Seaborn trung sĩ về hưu đang điều khiển con tàu của mình trong khi Hia vợ ông người phụ nữ Việt cưới cách đây 13 năm đang làm cá với sự giúp đỡ của anh Le Van Loi.

Những ngư dân Vũng Tàu hy vọng sẽ kết hợp những mãnh đời vụn vỡ của họ lại với nhau tại Biloxi. Ho gần như quay trở lại từ đây. Chủ nhân của một vựa tôm nói với tôi như thế. “ Có những mối đe doạ, một số phá hoại thuyền và lưới của họ, chuyện đó bình thường. Nhưng đó chỉ là vài trường hợp cá biệt.

“Ngành đánh bắt tôm trở nên tồi tệ trong vài năm qua, ảnh hưởng đến nhiều ngư dân. Sau đó có những trận mưa lớn vào tháng 4 năm 1980 điều đó đã làm hỏng quá trình sinh sản cá tôm. Một số dân đại phương đổ lỗi cho ngư dân Việt Nam làm cho việc đánh bắt bị sụt giảm. Nhưng làm thế nào bạn có thể đổ lỗi cho họ về điều đó?

Sự thật là nếu chúng ta có nhiều tôm, những tàu đánh cá lớn bên ngoài sẽ đến và đánh bắt ở đây. Nếu bạn hỏi tôi, người Việt củng không khác nhau mấy. Họ đang đánh bắt rất nhiều tôm không ngoài ai khác. Họ không màng sẽ làm việc nhiều giờ, trong những phương tiện thiếu thốn. Rất nhiều nơi chung quanh đây sẽ không mua hải sản đánh bắt từ họ, nhưng với tôi và một vài người khác. Đây là nước Mỹ phải thế không? Họ là những người chăm chỉ, thật thà. Ngư dân giỏi và kinh doanh giỏi. Họ là những người đáng tin cậy.

Tôi thường cố gắng làm người hoà giải khi họ gặp rắc rối với những người khác ở đây, Biloxi. Ngôn ngữ có thể giải quyết vấn đề thực sự. Người Việt thường cảm thấy luật lệ đánh bắt và phong tục thường nhầm lẫn với nhau.

Ví dụ, họ muốn tôm từ Bắc vào Nam như họ đã làm ở Việt Nam, trong khi xung quanh đây những chiếc thuyền theo truyền thống di chuyển từ đông sang tây. Trừ khi tất cả mọi người đều cùng di chuyển giống nhau, lưới cào và lưới kéo vướng vào nhau rối nùi. Và họ không hiểu những dấu đèn báo hiệu, thủ tục cập cảng, tất cả những luật lệ về đánh bắt cá, tôm. Điều này gây ra sự va chạm với dân địa phương. Nhưng họ đã hiểu ra nhanh chóng. Một số người vẫn không thích họ. Nhưng chúng ta phải sống và hãy sống”.

Tôi dừng lại trong cửa hàng tạp hoá của Thua trên đường East First. Nhạc Việt Nam phát ra từ một máy cassette. Các món hàng tạp hoá chất đầy trên kệ. Gần quầy tính tiền một phụ nữ cúi mình trước một hộp các tông lớn với đầy hàng hoá bên trong.

“Cô ta gửi đồ về cho gia đình còn kẹt lại ở Việt Nam” Thua nói với tôi như thế. Đồ gởi về gồm các thứ: Vãi, kem đánh răng, thuốc Aspirin và các loại thuốc khác. Bột ngọt, dầu thơm, mỹ phẩm, ruột xe đạp, quần áo mới các loại vài cái quần Jeans. Đa phần là đồ để bán ra chợ đen” Thua nói thế. Hiện nay gia đình Việt Nam có thể sống được vài tuần nhờ vào tiền bán vài cái quần Jeans. Nếu gởi về một chiếc xe đạp, gia đình có thể sống được vài tháng. Chính quyền Việt Nam đánh thuế rất cao, dĩ nhiên rồi. Đồ gởi về thường bị mất, nhưng đồ vẫn lọt qua được.

Một ngư dân lớn tuổi chỉ cho tôi xem tấm hình của gia đình ông, các thành viên của gia đình vẫn đang cố gắng đào thoát khỏi Việt Nam. Ông chỉ cho tôi cái danh sách có tên thành viên gia đình mà ông đã gởi cho văn phòng Công Giáo Di Cư và Dịch Vụ Tị Nạn. Nó bao gồm vợ mình, hai con trai, ba con gái, con rễ và cháu nội ngoại tất cả chừng một chục.

“Chúng là lẽ sống của tôi, ông nói thế. Tôi điền biết bao nhiêu đơn, nhưng không có nơi nào cho biết khi nào họ sẽ đến được Mỹ. Tôi chỉ biết chờ đợi năm này qua năm khác. Có thể một ngày nào đó chuông điện thoại reo…

Nhà là nơi giữ gìn truyền thông, với những cách cũ được yêu mến. Ở đó cuộc sống rất ít thay đổi cho gia đình Chac Van Nguyen ăn tôm và gạo với rau cải trồng trong vườn sau nhà.

Theo thoả thuận được thương lượng bởi Liên Hiệp Quốc năm 1979, chính quyền Việt Nam đã đồng ý cho chương trình ra đi có trật tự hàng ngàn công dân đoàn tụ với những người có thân nhân ở hoa Kỳ. Nhưng không có cho biết ai sẽ là người được ra đi trong số họ. Có những phương cách ra đi khác.

“Đưa một thành viên gia đình cụ thể ra ngoài, có thể lấy số vàng trị giá tới $3,000 đô la. Thua nói với tôi.

Chúng tôi gởi tiền qua một đại lý ở Paris, họ sẽ chuyển về Việt Nam và chính phủ Việt Nam sẽ để cho họ đi, nhưng chỉ sau khi lấy tất cả những gì họ sở hữu.

Tất nhiên, đây là những thuyền nhân. Làn sóng ban đầu của những ngư dân từ Vũng Tàu đã bỏ lỡ những điều kinh dị này. Họ có tàu riêng, mang theo được tiền và của cải dành dụm và thoát khỏi sự tàn bạo thường xuyên của những tên cướp biển đã làm khổ những người chạy trốn sau.

“Chúng tôi có 350 người trên một chiếc tàu một ngư dân hồi tưởng lại khi anh tới Biloxi cuối năm 1980. Chỉ mất hai ngày rưỡi để tới Malaysia, nhưng hải tặc đã tấn công và cướp tàu của chúng tôi năm lần. Chúng lấy vàng bạc, quần áo. Chúng tấn công phụ nữ. Chúng thảy gạo và nước uống của chúng tôi xuống biển. Hai lần chúng toan nhận chìm tàu của chúng tôi. Nhưng bất ngờ có hai tàu lớn xuất hiện cứu giúp và chúng tôi đến được Malaysia…”

Mê sảng? Hay điều kỳ diệu gì đây? Nhiều lần, tôi nghe những câu chuyện tương tự, có những con cá voi hay những sự cứu giúp người kỳ diệu trên biển. Cá voi, tôi khám phá ra rằng chính là cứu tinh cho dân đánh cá.

“Có một lần, tôi đã toan tính bắn một con cá voi đến gần tàu của tôi.” Con trai tôi la lớn “Ba hãy dừng lại. Đừng bao giờ bắn cá voi. Chúng mang lại điều may mắn cho người đi biển.”

Ngư dân Vũng tàu chia sẽ việc xử dụng điện thờ Đức Mẹ di động (sự nghiêm khắc) mà họ mang theo một cách tôn kính từ nhà này sang nhà khác. Thành viên gia đình tham gia trong cộng đồng thường xuyên cầu nguyện đoàn tụ với những người thân vẫn còn ở Việt Nam.

Sự êm ái của chiếc võng Việt Nam và làn gió êm mát của nước Mỹ.

Bên ngoài Vũng Tàu, nơi đây xảy ra hiện tượng bộ xương cá voi bị tẩy trắng bảo vệ lối vào thị trấn. Ai có thể nói biểu tượng kết thúc và điều kỳ diệu bắt đầu ở đâu?

“Khi bạn nhận ra những gì mà trẻ con đã nhìn thấy với đâi mắt đáng yêu của chúng” khám phá bởi Susan Hunt, Hiệu Trưởng trường Tiểu Học Biloxi Gorenflo Elementary School khi chúng tôi đi thăm một vài lớp học trong vài giờ trong tuần.

Học sinh ở đây học rất giỏi. Chúng xuất sắc trong toán học và nghệ thuật và hầu hết chúng đều chọn đúng việc nâng cao tiếng Anh. Chúng nói tiếng Anh giỏi hơn cả cha mẹ. Ở nhà chúng là những người trả lời điện thoại, đọc thư từ và nói chuyện với khách tới thăm. Nhưng nó gây ra một số vấn đề trong gia đình. Với người Việt Nam, theo truyền thống trẻ con chỉ để nhìn thôi, không có nghe. Nhưng ở đây vì sự hiểu biết của chúng hơn cả cha mẹ. Điều đó làm cho phụ huynh cảm thấy mình thua sút con cái và con cái đôi khi còn trả lời lại với cha mẹ, theo lẽ là không được phép.

“Nhưng mà bộ chúng không xinh đẹp sao?” Susan hỏi, khi chúng tôi ngồi xuống bàn ăn ở quán cà phê để chia sẽ ăn trưa với một nhóm trẻ em Việt Nam. Đôi mắt long lanh hút hồn của một cô bé nhìn tôi. Cô bé trông có lẽ khoảng tám tuổi, nhưng Susan nói với tôi rằng cô bé đã mười bốn tuổi, đủ lớn để biết về chiến tranh, hải tặc và chuyện vượt biên.

“Thỉnh thoảng trong số trẻ con, một vài người châm chọc chúng tôi, cô gái nói. Họ gọi chúng tôi là Việt Cộng. Họ cố tình làm như vậy”. Đôi mắt cô ấy ánh lên vẻ thách thức đen tối. “Nhưng chúng tôi không bỏ chạy” cô nói. “Chúng tôi không sợ hãi…”

Tôi đang học thêm tiếng Anh ở lớp đêm như một sinh ngữ phụ ở trường Trung học Biloxi. Được tài trợ bởi tiểu bang Mississipi và chính quyền liên bang. Các lớp học được tổ chức bởi điều hợp viên Jane O’Brian của Cộng Đồng công Giáo Xã Hội ở Biloxi. Jane ngồi bên tôi như một phần của nhóm thanh niên trẻ Việt Nam đang đối đầu với sự phức tạp của tiếng Anh.

“Đó là một ngôn ngữ rất khó cho họ”. Jane giải thích. “Ví dụ người Miên học tiếng Anh dễ dàng hơn người Việt. Tiếng Anh phát âm có rất nhiều phần không giống như tiếng Việt và ngược lại. Ngay cả khi họ nghĩ rằng họ nói đúng, nhưng vẫn khó cho người Mỹ có thể hiểu được họ.

“Chúng tôi dạy các lớp học hoàn toàn bằng tiếng Anh ở đây. Và những gì chúng tôi dạy bạn có thể gọi là sự sống còn, làm thế nào để đọc các biển báo hiệu, hiểu quảng cáo tạp hoá, lên xe bus. Không có lợi gì khi cố gắng dạy văn phạm hay cách đặt câu cho người không biết đọc và hiểu dấu hiệu Thoát Hiểm khi có hoả hoạn.

Cô chỉ ra một vài điều khác “Bạn có chú ý” cô ấy hỏi “ Làm thế nào để so sánh người trẻ với người lớn tuổi? Giống như người Mỹ với cái nhìn bao quát thay vì chú ý vào vấn đề nhỏ nhặt, thay vào những điều đã học cũ xưa ở việt Nam. Và họ không ngồi xổm trên lưng của họ theo cách những người lớn tuổi hơn làm. Họ ngày càng trở nên Mỹ hoá nhiều hơn”.

Tháng sau, trong khi viết bài này, câu chuyện trở lại Washington D.C. tôi thấy trên Tivi một nhóm Ku Klux Klan ở Texas đã đốt và chế giễu một hình nộm tàu đánh cá Việt Nam ngay trước khi mùa đánh bắt mùa Xuân. Hình ảnh của đám người kỳ thị Klansmen với ngọn đuôc và những chiếc mũ trùm đầu trắng ghi vào tâm trí tôi như một dấu ấn sâu đậm. Những ngư dân trôi giạt từ Vũng Tàu nghĩ gì khi họ xem tin tức buổi tối ở Biloxi? Nhưng sau đó, khủng bố không có gì mới lạ đối với họ. Họ hiếm khi sống không có nó.

Tôi nghĩ về cô bé Việt Nam ở trường Tiểu học Gorenflo . Lời cô ấy nói vang lên trong tai tôi “Chúng tôi không sợ hãi…”

Tôi cũng nhớ, chiếc thuyền số 3 của Ba Van Nguyen ngoài kia trên biển Biloxi, nổi lên như ma từ trong sương mù với các đường nét duyên dáng của nó như cánh chim hải âu đang bay.

Và tôi tự hỏi… Tôi ước như tôi đã không nhưng tôi đã làm…cuôc di cư của những ngư dân trôi giạt từ Vũng tàu đã kết thúc chưa?

Đong đưa giữa hai thế giới, cậu bé Christopher nhận được sự thúc đẩy từ cha mình Hung Van Nguyen, được biết đến với cái tên Sonny được đẩy về phía mẹ của mình Veronica trong sân vườn nhà ở Biloxi. “Cha tôi vẫn chưa chấp nhận Veronica” Sonny nói “ nhưng ông nói Christopher sẽ là người nối dõi truyền thống ngư dân!”

Kỷ vật cho người ở lại

Diễm Vy

Posted by Longhai  November 05, 2019  

Chuyện xảy ra gần 20 năm trước, khi tôi còn làm Y tá của một Bệnh viện trong một thành phố nhỏ ở Tiểu bang Arizona. Tối hôm đó, bệnh viện của tôi nhận một nhóm nạn nhân của một tai nạn xe hơi thảm khốc. Trên xe là bốn em học sinh đều ở lứa tuổi 17-18, cùng đi về với nhau sau sau bữa tiệc. Người lái xe 18 tuổi, say rượu và chạy xe quá tốc độ, lạc tay lái tông vào một chiếc xe tải đang đậu bên lề đường. Nhờ có thắt dây an toàn, người lái và em ngồi cạnh tuy bị thương nặng nhưng không nguy hiểm tính mạng. Riêng hai em ngồi sau, 1 nam 1 nữ bị thương rất nặng vì không thắt dây an toàn. Em trai bị chấn thương sọ não và chết ngay sau khi xe chở đến bệnh viện. Em gái hôn mê bất tỉnh phải mổ gấp, không biết có cứu được hay không?
Thật đáng buồn, em trai tử vong là một em Việt Nam, 17 tuổi, vừa tốt nghiệp trung học và đang sắp rời nhà để vào một trường đại học danh tiếng. Các em còn lại đều người ngoại quốc.
Lúc đó tôi đang làm tại khu ICU (Intensive Care Unit). Bệnh nhân tôi được giao đêm đó là em gái 17 tuổi của tai nạn vừa kể trên. Một cô bé người ngoại quốc, đẹp hay không thì tôi không biết vì cả khuôn mặt lẫn cái đầu tóc vàng của em đều tím bầm, sưng to như trái dưa hấu vì những cú va chạm kinh khiếp. Em đang được mổ não khẩn cấp trong phòng mổ.

Tôi được (hay bị) kêu vào phòng họp gấp để nhận một nhiệm vụ quan trọng. Sau khi được biết nhiệm vụ của mình là gì, tôi nhăn nhó phản đối, “Tại sao lại là tôi? Đây là nhiệm vụ của bác sĩ mà!”

“Tôi biết, nhưng người nhà của bệnh nhân không biết tiếng Mỹ rành lắm, cô đi theo thông dịch cho bác sĩ, và ráng van xin họ giúp chúng tôi,” bà y tá trưởng năn nỉ.

Sau một hồi bàn qua tính lại, tôi lê bước đi theo ông bác sĩ đến phòng chứa xác của em trai Việt Nam mới tử nạn, với nhiệm vụ là cùng bác sĩ, năn nỉ gia đình người chết hiến tặng những bộ phận còn tốt trong cơ thể của em cho bệnh viện.

Một em trai 17 tuổi đang khỏe mạnh nhưng chết vì tai nạn, là một ứng cử viên tuyệt vời để làm người hiến tặng, vì hầu hết các bộ phận trong cơ thể em còn rất khỏe, rất trẻ, rất thích hợp để cứu sống các bệnh nhân đang chờ đợi để được thay các bộ phận trong người. Đó là lý do bệnh viện hết sức cầu xin gia đình.

Thời gian đó, đối với người Việt mình, khái niệm hiến tặng bộ phận cơ thể còn rất mới mẻ. Nếu không là cho người thân trong gia đình, hầu như rất ít ai hiến tặng cho những người không quen biết. Huống hồ gì, chuyện cha mẹ đồng ý hiến tặng các bộ phận trong cơ thể của con thì hình như chưa hề xảy ra. Có cha mẹ nào mà nỡ lòng nào làm như thế? Mất con đã đau đớn lắm rồi…

Chúng tôi gặp cha mẹ nạn nhân trong phòng đợi, trong khi người con đang được chờ quyết định để rút tất cả ống support bên trong, tôi bắt đầu trình bày lý do. Quả như tôi lường trước, cho dù có van xin, nài nỉ, giải thích cách mấy, bác sĩ và tôi chỉ nhận được những cái lắc đầu quầy quậy, ánh mắt oán ghét, và những lời xua đuổi… Tôi lắp bắp xin lỗi rồi bước nhanh như chạy ra khỏi phòng.

Phòng ICU rất vắng lặng vì ở đây toàn những ca rất nặng. Những y tá cùng trực với tôi đêm đó ai cũng bận rộn với bệnh nhân của mình nên chỉ có một mình tôi ngồi tại nurse station. Thường thì ở ICU, mỗi y tá lãnh hai bệnh nhân trong một ca. Nhưng đêm nay tôi chỉ có một, vì một bệnh nhân mới chuyển sang phòng thường. Bệnh nhân còn lại là cô gái đang trong phòng mổ, nên tôi cũng khá rảnh rỗi, cho đến khi ca mổ xong. Bỗng nhiên tôi thấy hơi nhức đầu nên cúi gục vào lòng bàn tay một chút cho đỡ mỏi mắt. Khi tôi ngẩng đầu lên thì vụt một cái, thoáng có một bóng người mặc áo trắng lướt thật nhanh qua mặt.

Tôi đảo mắt nhìn quanh. Không có ai cả !

Tôi vẫn thường thấy lao đao như vậy lắm, có lẽ vì tôi bị chứng bịnh thiếu máu kinh niên. Tôi dụi mắt nhìn kỹ lại một lần nữa, lần này thì thật sự có một bóng áo trắng đang từ từ tiến lại gần tôi.

Tôi dợm đứng dậy để nhìn cho rõ thì thấy có một cậu thanh niên Á Châu rất trẻ, gương mặt xanh xao mệt mỏi đang đi lại phía tôi ngồi. Cậu đi nhẹ nhàng như lướt trên không vậy, xuất hiện trước mặt tôi mà không gây nên một tiếng động. Cậu nhìn tôi, đôi mắt nâu hiền và ngây thơ đến nao lòng. Có vẻ như cậu đang bị lạc đường. Chắc là cậu đi nuôi người nhà bệnh và lạc từ khoa khác sang.

Thấy cậu đứng yên lặng không nói gì, tôi hỏi bằng tiếng Mỹ, “Em cần gì, tôi có giúp được gì cho em không?”

Lạ thay, cậu trả lời bằng tiếng Việt, “Em đi kiếm đồ!”

Giọng của cậu nhỏ và thanh, nghe văng vẳng như từ một nơi xa xôi nào đó vọng về.

“Em bị mất cái gì à?”

“Em làm rớt cái ví trong xe. Trong đó có một món đồ rất quan trọng. Chị kiếm dùm em nghe chị. Nhớ nghe chị…”

Không đợi tôi trả lời, cậu quay lưng đi thật nhanh và khuất bóng sau góc quẹo…

Tự nhiên tôi cảm thấy lạnh buốt, cái lạnh từ trong xương lạnh ra. Tôi rùng mình. Lạ thật, Tháng Sáu Mùa Hè ở cái xứ sa mạc này nóng cả trăm độ. Cho dù máy lạnh có mở cũng chỉ vừa đủ. Chưa bao giờ tôi cảm thấy lạnh cóng bằng cái lạnh của hiện tại.

Đầu óc tôi quay cuồng và tiếp tục nhức. Chắc mình sắp bịnh rồi, tôi tự nhủ. Sao tự nhiên lại cảm thấy lạnh và nhức đầu quá. Tôi đứng lên định đi theo cậu bé nhưng rồi lại choáng váng ngồi phịch xuống một chiếc ghế.

Vừa lúc đó, một cô bạn đồng nghiệp từ đâu đi tới. Nhìn thấy sắc mặt tôi, cô la lên, “Oh my God! Trời ơi sao cái mặt cô xanh lè xanh lét thấy ghê quá. Are you OK?”

“Tôi thấy lạnh quá, cô lấy dùm tôi một cái áo lạnh được không?”

Cô bạn nhanh chóng đi lấy cho tôi một cái áo labcoat mới được giặt ủi và hấp nóng. Tôi mặc áo vào, ngồi co ro mà thấy vẫn còn lạnh, mồ hôi rịn ra hai bên thái dương.

Tôi uống thêm hai viên Tylenol. Một lúc sau, tôi thấy từ từ dễ chịu, và lại nghĩ đến cậu bé hồi nãy. Cậu ta là ai, làm sao biết cậu ở đâu, đi kiếm cái xe gì, và cái ví gì nữa chứ?

Cả khu ICU này có 6 phòng. Hiện giờ đang có năm bệnh nhân, mỗi người nằm một phòng. Tôi coi lại danh sách bệnh nhân viết trên bảng treo trên tường. Không có bệnh nhân nào người Việt. Vậy cậu từ khoa nào đi sang đây?

Tôi đi lòng vòng với hy vọng gặp lại cậu bé, nhưng hỏi thăm những nhân viên quanh đó xem có ai gặp một cậu bé người Á châu không, ai cũng lắc đầu không biết.

Thất vọng, tôi trở về khoa đúng lúc bệnh nhân của tôi đã được giải phẫu xong và chuyển về phòng ICU. Bác sĩ bảo em được cứu sống nhưng đôi mắt sẽ bị mù vĩnh viễn vì chấn thương quá nặng. Chỉ có một hy vọng duy nhất là được thay đôi mắt khác em mới có thể thấy lại ánh sáng.

Ba mẹ em ngồi bên giường trong khi em vẫn đang nằm thiêm thiếp. Ông bà yên lặng chắp tay cầu nguyện. Tôi không biết làm gì hơn là ngồi xuống bên cạnh và góp lời cầu nguyện trong lòng.

Người mẹ buồn rầu nói, “Tội nghiệp chúng quá. Rồi đây Jane sẽ ra sao khi tỉnh dậy và biết là người yêu của nó đã chết?”

“Người yêu của Jane là anh Việt Nam ngồi chung xe hả bà?” tôi hỏi.

“Đúng vậy, chúng nó yêu nhau lắm. High school sweethearts mà. Hai đứa đều học giỏi và có tương lai. Thế mà, chỉ qua một đêm, một đứa ra đi vĩnh viễn, một đứa trở nên mù lòa.” Bà sụt sịt khóc.

Tôi ngập ngừng, “Bác sĩ nói con bà còn có hy vọng thấy lại ánh sáng, nếu…”

“Vâng tôi biết! Nhưng ở đâu ra có cặp mắt để thay kia chứ? Nếu đó là cặp mắt của một người còn sống cho con tôi, tôi biết chắc chắn nó sẽ không chịu nhận. Nó là cô gái rất tốt, không bao giờ muốn làm khổ ai.”

“Nhưng nếu đó là cặp mắt của một người vừa mới mất thì hoàn toàn có thể dùng được, chỉ có điều…” tôi bỏ dở câu nói vì tôi biết chuyện đó sẽ không bao giờ xảy ra. Đừng bao giờ nên hỏi cha mẹ cậu bé Việt Nam thêm một lần nữa.

Như đọc được ý nghĩ của tôi, bà mẹ thở dài, “Cô y tá ạ, tôi biết nỗi đau của người mẹ mất con nó khủng khiếp như thế nào. Tôi không dám đòi hỏi gì thêm. Số phận con gái tôi bị mù thì tôi sẽ hết lòng chăm sóc cho nó. Con gái tôi có nghị lực lắm, tôi tin nó sẽ vượt qua…”

Xót xa nhưng cũng rất xúc động trước những lời nói của bà, tôi nhẹ nắm lấy tay bà. Vừa lúc đó, một ông cảnh sát đang rảo bước tới, trên tay cầm một bọc giấy. Ông hỏi tôi, “Người ta chỉ cho tôi là có một cô y tá người Việt ở đây. Cô nói được tiếng Việt chứ?”

“Dạ được. Ông cần gì không?”

“Tôi muốn nhờ cô đi với tôi đến gặp gia đình người tử nạn trong tai nạn xe chiều nay. Chiếc xe bị total lost. Trước khi xe tow kéo xe đi, chúng tôi kiểm tra trong xe và tìm thấy chiếc ví này rớt trong xe. Nó thuộc về người đã chết. Tôi muốn giao lại kỷ vật này cho thân nhân của cậu.”

Ví, xe, người tử nạn… những mảnh rời rạc của chiếc hình puzzle tự nhiên ráp nối lại với nhau một cách có trật tự. Tim tôi đập thình thịch và cổ họng tự dưng tắc nghẽn. Chân tôi bắt đầu run lập cập và tay thì nổi da gà. Sao giống y hệt những điều cậu bé kia vừa nói?

Không lẽ mình vừa gặp ma sao?

Tôi lắp bắp hỏi ông Cảnh sát, “Ông có thể cho tôi xem qua chiếc ví được không?”

Ông ngần ngừ một chút rồi nói, “Cũng được, nhưng trong ví không có gì quý giá hết, chỉ có tấm bằng lái xe và một ít tiền mặt vậy thôi!”

Tôi tần ngần mở chiếc ví ra. Thật vậy, trong ví ngoài một ít tiền nhỏ chỉ có tấm bằng lái xe. Tôi tò mò nhìn vào tấm bằng lái và hoảng sợ làm rơi chiếc ví xuống đất. Trên tấm bằng là hình của cậu bé vừa đến gặp tôi ít phút trước đây. Với gương mặt gầy và cặp mắt nâu trong vắt thơ ngây như đang nhìn xoáy vào tôi, như muốn nói một điều gì.

Vậy ra cậu chính là người đã chết đó sao?

Một luồng khí lạnh chạy dọc theo sống lưng của tôi. Tôi thầm thì, nhắc lại lời của cậu bé khi nãy: “Trong ví này có một vật rất quan trọng…”

“Cô nói gì?”

Tôi lượm chiếc ví lên, mở ra xem lại và lật tới lật lui. Quả thật không có gì khác ngoài vài tờ giấy $10 và $5, cùng tấm bằng lái.

Tai tôi văng vẳng nghe tiếng của cậu bé, “chị nhớ giúp em nghe chị, nhớ nghe chị…”

Tấm bằng lái!

Tôi nhìn kỹ lại tấm bằng lái lần nữa. Đây rồi, vật quan trọng mà tôi cần tìm chính là tấm bằng lái này đây.

Trên bằng lái có tên, tuổi và hình chụp của cậu bé. Còn nữa, nằm ngay ngắn ở góc phải của tấm bằng là cái sticker nhỏ màu hồng, trên có dòng chữ “DONOR” màu đen in đậm nét.

Tim tôi đập thình thịch. Như vậy là, chính cậu đã run rủi cho sở cảnh sát tìm thấy chiếc ví rơi trong gầm xe trước khi xe bị kéo đi; chính cậu đã tìm đến tôi, và đưa đẩy cho ông cảnh sát gặp tôi để mọi người có thể biết được ý nguyện của cậu. Thì ra ngay từ khi mới có bằng lái, cậu đã quyết định là nếu có điều gì xảy ra cho mình, cậu sẽ sẵn sàng hiến tặng những bộ phận còn tốt trong người cho tất cả ai đang cần chúng nên đã tình nguyện ghi tên làm người DONOR. Có phải cậu đến tìm tôi vì biết tôi là người chăm sóc cho người bạn gái thương yêu của cậu đêm nay và muốn nhờ tôi tìm cách để trao tặng cho cô gái đôi mắt của cậu như một kỷ vật cuối cùng?

Tôi chỉ vào chữ “DONOR” và nhờ vị cảnh sát xác minh lại với DMV. Sau khi xác nhận là cậu bé Việt Nam chính thực đã ghi danh làm người “DONOR”, nhưng đồng thời vị cảnh sát cũng thông báo rằng theo luật pháp, vì cậu bé mất khi cậu chưa đủ 18 tuổi, nên quyết định cuối cùng, cho hay không, cũng vẫn là quyết định của cha mẹ.

Phái đoàn gồm các bác sĩ, cảnh sát cùng với tôi sau khi đưa chiếc ví lại cho cha mẹ cậu và thông báo về tất cả những sự việc trên cho họ. Trong khi chờ gia đình cậu bé bàn thảo với nhau, chúng tôi đều lui ra ngoài đứng chờ.

5 phút, 10 phút trôi qua. Một bầu không khí yên lặng đến nghẹt thở.

Rồi cha mẹ cậu bé cũng bước ra. Người mẹ ôm mặt khóc, trong khi người cha nghẹn ngào nói với chúng tôi: “Thôi thì con tôi nó đã muốn như vậy, chúng tôi xin nghe theo ý nguyện của cháu. Xin bệnh viện giúp cháu làm tròn tâm nguyện, hãy giúp đỡ tất cả những ai đang chờ được giúp.”

Tôi bật khóc vì quá xúc động. Tất cả những người có mặt lúc đó đều khóc và cảm ơn cha mẹ cậu bé đã làm quyết định đau đớn và khó khăn nhưng rất cao cả này. Cảm ơn ông bà, tôi thầm thì. Trên cao kia, tôi biết cậu bé đang nhìn xuống và mỉm cười.

Những ngày sau đó, có ít nhất là cả chục bệnh nhân đang chờ thay thận, gan, tim, v.v… đã được cứu sống nhờ được ghép những bộ phận trong cơ thể cậu bé. Cô bạn gái cũng đã nhận được cặp mắt của cậu. Trên gương mặt trắng bóc và mái tóc vàng hoe, đôi mắt nâu trong veo luôn tỏa những tia sáng ấm áp dịu dàng. Đôi mắt như biết nói những lời yêu thương đến mọi người. Cậu bé đã ra đi mãi mãi, nhưng tình yêu quảng đại của em vẫn tiếp tục tồn tại.

***

Ngay sau cái đêm “gặp ma” trong bệnh viện đó, tôi đã suy nghĩ rất nhiều. Tôi về bàn với chồng, và vợ chồng tôi đã cùng đi đến quyết định là ra DMV để ghi tên tình nguyện làm người “DONOR.”

Nếu một mai có người nào phải ra đi trước, chúng tôi không muốn người thân mình ở lại phải suy nghĩ để làm những quyết định đau lòng thế cho mình…

Cát bụi rồi sẽ trở về với cát bụi. Thế thì tiếc làm chi các xác thân tạm bợ này! Nếu sau khi mình ra đi mà vẫn còn có ích cho người khác thì đó chính là một niềm an ủi và hạnh phúc vô biên cho mọi người chúng ta rồi.

Ốc vòi voi 10 triệu/con, khách nhìn ngượng ‘chín mặt’ nhưng vẫn vung tiền mua

09/04/2019    13:31 GMT+7

Giadinh Net

Loài hải sản đắt đỏ có hình dáng bề ngoài giống biểu tượng nam tính của đàn ông này được cho là “ông ăn bà khen hay”, do đó nhiều người vẫn vung tiền mua không tiếc tay.

Với thị trường hải sản nhập nhèm như hiện nay, đặc biệt là hải sản xuất xứ từ Trung Quốc đang tràn ngập chợ Việt thì các bà nội trợ ngày càng có xu hướng tìm đến các loại hải sản nhập khẩu từ các nước phương Tây. Ốc vòi voi hay còn gọi là tu hài Canada là một trong số loại hải sản được chị em “săn” mua.

Loài hải sản đắt đỏ của Canada thường có giá từ 2-2,5 triệu/kg, nhưng vào lúc trái vụ như thế này mỗi con giá có thể lên đến 5 triệu/kg, cân nặng trung bình mỗi con tầm 1,5-2kg. Đắt đỏ là vậy nhưng loài ốc vòi voi này vẫn được chị em không tiếc tiền mua về tẩm bổ cho ông xã.

Tuy ốc vòi voi được coi là một món ăn ngon trên khắp thế giới, tuy nhiên hình thù nhạy cảm, giống hệt “của quý” đàn ông của chúng vẫn khiến cho những người lần đầu tiên nhìn thấy chúng phải ngượng chín mặt.

Ốc vòi voi hay còn gọi là tu hài hay con thụt thò, tên khoa học là Panopea generosa, thuộc họ Triadacnidae, là một loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ, sinh sống trong vùng nước mặn hoặc các vùng bãi bùn cửa sông nước lợ. Có nguồn gốc từ Bắc Mỹ, tên của loài ốc này xuất phát từ một cụm từ của người Mỹ bản địa có nghĩa là “thâm sâu”.

Trọng lượng thường gặp của ốc vòi voi khoảng 1,5-2,5kg nhưng cá biệt có con nặng tới 4-5kg.

Trong quá trình đánh bắt, người ta phải tuyệt đối cẩn thận tránh nắm phải vòi tu hài bởi làm như vậy sẽ dễ khiến tu hài bị chết. Sau khi lấy tu hài khỏi tổ, người ta chuyển ngay chúng lên tàu và đưa vào bảo quản trong bể lọc nước sạch có nhiệt độ luôn giữ ở khoảng 10 độ C.

Rời tàu đánh bắt, tu hài tiếp tục được vận chuyển theo đường hàng không đến mọi nơi trên thế giới. Trong suốt quá trình vận chuyển cho tới tận khi đến với thực khách, để giữ tu hài luôn tươi sống thì các điều kiện bảo quản tu hài phải luôn được đảm bảo một cách nghiêm ngặt, từ độ sạch của nước cho tới nhiệt độ tiêu chuẩn.

Đây là loài nhuyễn thể sống lâu và lớn nhất trong hang cát, nó có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao. Thịt của loài ốc giống của quý này có hương vị đặc biệt, tác dụng rất tốt đối với sức khỏe phái nam. Vì vậy mà nhiều bà nội trợ rất sẵn lòng mua về tẩm bổ cho chồng, cũng như cho con cái, người thân thưởng thức.

Theo một chủ nhà hàng hải sản ở Nguyễn Chí Thanh (Hà Nội), những món ăn từ ốc vòi voi như nướng mỡ hành, hấp tỏi kim ngân và ngon nhất phải kể đến món sashimi ốc voi Canada rất ngon nên được nhiều người Việt ưa chuộng.

“Có nhiều khách chịu chơi, mua hẳn mấy con nặng hơn 2kg về làm tiệc, vị chi vào khoảng 5 triệu đồng/con, ước chừng 1 bữa ăn của họ có giá vào khoảng gần 20 triệu đồng”, chủ nhà hàng này cho biết.

Thông thường để mua ốc voi Canada, khách phải đặt trước. Nếu muốn ăn những món cầu kỳ, khách có thể nhờ luôn đầu bếp của nhà hàng chế biến, về chỉ việc bày ra đĩa ăn. Còn khi chế biến những món khác, khách cũng thường nhờ họ sơ chế qua rồi mới đem về nấu.

Anh Ngô Chí, chủ một cửa hàng hải sản ở Đống Đa (Hà Nội) cho biết: “Giá ốc vòi voi Canada thì siêu đắt đỏ. Một cân ốc voi loại khủng của Việt Nam chỉ tầm 550.000 đồng, nhưng giá ốc voi Canada đắt gấp 5 lần. Song, khách đặt mua loại 1-2 kg/con vẫn rất nhiều”.

“Thường thì với ốc voi loại khủng chỉ các đại gia, giới nhà giàu lắm tiền nhiều của mới đặt mua bởi mỗi con cũng trên dưới 10 triệu đồng. Nhưng mỗi tuần cũng có cả chục đơn hàng đặt loại vip này chứ không ít”, anh Chí chia sẻ thêm.

Món ngon từ ốc vòi voi có vẻ ngoài kỳ dị

08/11/2020    08:56 GMT+7

VietnamNet

Ốc vòi voi là một trong những loài nhuyễn thể có kích thước khổng lồ. Thịt ốc được đánh giá dày, đặc hơn sò huyết, mát ngọt tương tự bào ngư. Ốc vòi voi, còn được biết đến với tên gọi tu hài, là món hải sản gây ấn tượng thực khách nhờ hình dạng độc đáo và hương vị hấp dẫn. Kích thước ốc vòi voi Việt Nam thường nhỏ nhưng nhiều vùng biển khác, đặc biệt ở Canada, loài động vật có thể dài 1m và nặng tới 4-5 kg. Ảnh: Serious Eats.

Ốc có tuổi thọ khoảng 140 năm, thường sinh sản vào mùa xuân. Giữa 2 mảnh vỏ là phần thân hình trụ tròn giống vòi voi, dài gấp 8-10 lần độ dài vỏ. Trên thế giới, ốc được bán với giá cao, hơn 200 USD/kg nhờ hàm lượng dinh dưỡng. Ở thị trường Việt Nam, các loại ốc vòi voi nhập khẩu có giá khoảng 1 triệu đồng/kg. Ảnh: Pinterest.

Vùng nước mặn, nước lợ, những nơi cát ngầm có bùn hoặc thềm san hô là môi trường sống yêu thích của loài này. Cồn cát nơi ốc sinh sống nằm dưới mặt biển, thường chỉ lộ ra vào một số thời điểm trong tháng. Ốc lại nằm ở độ sâu khoảng 1m dưới mặt cát. Vì vậy, ngư dân phải dùng dụng cụ hỗ trợ mới khai thác được. Ảnh: Reddit.

Để bắt ốc, đầu tiên, bạn phải mất thời gian xác định vị trí của chúng thông qua các lỗ nhỏ trên mặt đất. Mỗi vùng có một cách đánh bắt khác nhau. Ở Canada, ngư dân thường dùng ống nước áp suất lớn thổi vào vị trí đánh dấu. Sau đó, họ đưa tay xuống theo đường ống và bắt ốc lên. Ảnh: Element Seafood.

Thịt ốc vòi voi dày và đặc hơn sò huyết, mát ngọt tương tự bào ngư. Món ăn có thể được chế biến theo nhiều cách như luộc, nướng, nấu cháo, ăn sống… Ảnh: Thesatiatedpig.

Công đoạn sơ chế ốc mất khá nhiều thời gian. Đầu bếp dùng cạo hoặc bàn chải chà sạch phần vỏ, sau đó di chuyển mũi dao tách thịt ra. Ốc vòi voi có kích thước lớn, vỏ bám chặt đòi hỏi đầu bếp có kỹ thuật và khéo léo. Để lột bỏ phần da mỏng bên ngoài thân ốc, bạn phải chần sơ qua nước ở nhiệt độ khoảng 80 độ C. Ảnh: Stocksy United.

Để giữ món ăn tươi ngon và chuẩn vị nhất, nhiều người thích thưởng thức ốc theo kiểu sashimi. Sau khi sơ chế ốc, đầu bếp cắt lát thịt mỏng, thưởng thức kèm wasabi. Ảnh: Street Food Central.

Mò Sò

Nguyễn Viết Tân

February 6, 2021 

Cách đây hơn bốn năm, tôi đến San Jose để làm việc một tháng. Bây giờ “Đến Hẹn Lại Lên” vì ở đây tôi đang rảnh, thế mà cũng chỉ một tháng là vội trốn về.

San Jose với đường sá mở rộng thêm nhiều, nhưng xe cộ vẫn kẹt cứng. Những khu kỹ nghệ to lớn với parking đậu đầy xe loại mắc tiền; Ánh đèn ở những khu thương mại chói chang, xứng danh là thung lũng điện tử nổi danh trên toàn thế giới. Ấy vậy mà bên cạnh những cao ốc, vẫn còn rất nhiều đất để hoang, có hoa vàng nở rộ và hai bên xa lộ, đôi khi ta còn bắt gặp vài chú nai đi ngơ ngác, nhất là đi lên hướng Saratoga, highway 9. Cảnh trí nơi này không khác gì Đà lạt, với núi đèo, thác suối. Tiếng lá reo hòa với tiếng suối róc rách, làm cho ta ngỡ rằng đã lạc vào chốn thiên thai.

Có lẽ vì không một ai than phiền với sở Animal Control, nên tuy là một thành phố lớn, nhưng nửa đêm về sáng, người ta vẫn nghe thấy tiếng gà eo óc gáy. Tôi phần thì nhớ nhà, phần thì bị bệnh mất ngủ, lại càng không ngủ được. Cảnh thổ ở bên quê nhà cứ lởn vởn trong trí, với bờ ao ruộng lúa. Mỗi lần nghe tiếng gà gáy, tôi lại nhớ bài thơ Nắng Mới của Lưu Trọng Lư :

Mỗi lần nắng mới hắt ven song
Xao xác gà trưa gáy não nùng
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng
Chập chờn sống lại những ngày không
Tôi nhớ mẹ tôi thuở thiếu thời
Lúc người còn sống tôi lên mười
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội
Áo đỏ người đưa trước dậu phơi
Hình bóng mẹ tôi chửa xóa mờ
Vẫn còn mường tượng lúc vào ra
Nụ cười đen nhánh sau tay áo
Trong nắng trưa hè trước dậu thưa.


Mẹ tôi còn sống, mà mỗi lần đọc bài thơ này là tôi muốn sa nước mắt, tôi thương cảm giùm những người mất mẹ. Rất may cho tôi là lần này lên làm việc đúng vào dịp hãng có vài công việc được trả tiền theo đầu người, nghĩa là làm việc tà tà, không chuyên môn cũng được (Những công nhân này được gọi là Cà Đơ).
Dân Cà Đơ không lái được xe Heavy equipment, không biết chạy dây điện, cũng được trả ba bốn chục đồng một giờ. Tôi cũng thuộc diện Cà Đơ, nhưng may quá, được trả tới năm chục, nên khi cầm tấm check, nặng trĩu cả hai tay. Lần này, tôi cũng có dịp đi làm chung với nhạc sĩ Trần Chí Phúc. Không biết nhạc của anh ta hay tới đâu, nhưng giọng ngâm thơ của anh vang lên, lẫn trong tiếng suối nơi Highway 9, đã làm ruột gan tim phổi tôi lộn tùng phèo:

Vú em như cái chũm cau
Cho anh bóp cái, có đau anh đền.

Nơi đây, phiá Tây Bắc San Jose, giữa rừng thông cao vút, có con đường nhỏ dẫn vào một trang trại trồng nho, mà những gốc nho già gần hai trăm tuổi, lớn bằng bắp vế, có cơ sở làm rượu Savanah Winery và tasting room. Lúc chúng tôi vào phòng nếm rượu, đã có dăm ba người Mỹ đang uống rượu trong những ly chân cao. Người phụ nữ rót rượu tươi cười giải thích từng màu sắc của từng ly rượu và nói rằng mỗi người khách phải trả bảy đô la. Chúng tôi đồng ý và sau khi uống đến ly thứ ba là đã thấy chếnh choáng. Rượu vang tuy coi vậy, nhưng độ rượu cũng mạnh ra gì.

Không biết là tại vì thấy chúng tôi mặc áo màu vàng trông hem hễ quá, hay tại nhìn thấy ông Chí Phúc và tôi đẹp trai quá, mà cô bán rượu, sau cùng không tính tiền. (Vì đi chung với ông Chí Phúc, nên bạn bè gọi tôi là Chí Phèo). Số tiền rượu không phải trả, nếu đem mua bia, thì cả bọn uống cả tuần không hết.

Một hôm ủi đất kế bên mương nước, tôi bị giật mình vì con vịt trời vụt bay lên, khi nhìn trong đám cỏ có ổ trứng 12 cái. Tôi cũng chẳng muốn lấy trứng làm gì, nhưng nếu không dẹp ổ vịt qua một bên, thì không có chỗ mà làm. Hai con vịt cứ bơi qua, lội lại trên mương nước nên chúng tôi bảo nhau:

– Nếu không sợ bị phạt 500 đô, tụi mình vơ hai con vịt này về thì tối nay có tiết canh.

Ngồi nhìn hai con vịt, tôi lại nhớ tới ngày còn nhỏ (tôi có cái tật hay nhớ như vậy), ngồi làm vịt ở cầu ao, lúc làm bộ lòng, vì tính hay lơ đãng nên đàn cá lòng tong bu lại rỉa gần hết tôi mới nhớ ra, tức nổi xung lên, tôi cằm con dao phay chặt đại xuống mặt nước mấy phát, cả chục con cá đứt đôi nổi phều lên mặt nước. Cho đáng đời, ai biểu mày rỉa!

Hồi còn ở Orange County, có những cuối tuần tôi không biết đi đâu, làm gì cho qua ngày, nhưng những cuối tuần ở San Jose lại qua mau quá. Có lần, tôi được rủ đi đào ốc vòi voi ngoài cồn cát ở vùng vịnh San Francisco. Sáng thứ bảy, đoàn xe ba bốn chiếc nối đuôi nhau chạy lên hướng bắc. Tôi đi chiếc Ford F150 có kéo theo chiếc canô. Từ San Jose đến San Francisco cũng hơn một tiếng đồng hồ. Xe rời freeway để theo đường nhỏ ngoằn ngoèo qua những nông trại nuôi trừu. Những trảng cỏ non bên sườn núi xanh như ruộng mạ, có vài ba con nai đứng ngơ ngác hiền lành. Đến bờ biển, những người trong bọn chúng tôi chưa có license câu cá thì phải mua, tốn hơn mười đồng cho hai ngày. Khi cho tàu xuống bến rồi, chúng tôi phải chia ra làm ba toán để ra đảo cát mới đủ chỗ, vì tàu nhỏ.
Chiếc tàu chạy nhanh quá, nó phóng như bay trên mặt nước, chỉ 15 phút đã ra đến nơi. Anh trưởng đoàn giải thích:

– Ốc vòi voi, còn gọi là hến, là sò. Tiếng Mỹ gọi là Horse neck clam, mỗi con nặng hơn hai pound, có vòi lớn bằng nửa cổ tay và dài gần một gang. Nó nằm sâu dưới cát khoảng gần một thước Tây, cứ chỗ nào có cái lỗ cỡ bằng ngón tay, phọt nước ra, thì chắc chắn dưới đó có con hến… (Có tiếng cười khúc khích). Mỗi người được bắt mười con một ngày, nhưng chúng ta mà bắt được năm con là đã khá lắm rồi, vì mỗi con ngoài chợ bán cũng gần hai mươi đô la. Chúng tôi tản ra theo bốn toán, mỗi toán có một cái ống nhựa cứng, đường kính khoảng hai gang tay, và dài gần một thước, có hai dây quai để dễ kéo lên, trang bị thêm hai chiếc xẻng cán dài và mấy chiếc thùng đựng. Mỗi lần có bước chân động trên mặt cát, là những vòi nước lại phụt lên, lỗ hến đầy dẫy không thể đếm xuể.

Cồn cát này chìm dưới mặt nước cả năm, chỉ trong mấy tháng hè mới lộ ra vào những ngày con nước nhỏ, mà cũng chỉ trong mấy giờ mà thôi. Lúc nước triều lên, có nhiều người vì mải mê với sò, với hến, vô bờ không kịp nên suýt chết vì nước. (Nhưng không được gọi là hy sinh vì tổ quốc).

Đào sò là cả một nghệ thuật: Nhắm ngay cái lỗ, đào chừng vài ba xẻng cát, để cái ống vào rồi nhảy lên trên miệng ống mà nhún nhảy, để cho ống cắm sâu xuống cát. Tại sao lại phải dùng ống như vậy? Bởi vì nước với cát sẽ tràn lấp ngay sau khi ta nhấc xẻng lên, có cố gắng lắm cũng không thể đào sâu đến nửa thước. Vì có ống, nên khi móc cát phía bên trong ống, chúng ta chỉ cần ít phút là đã có thể sờ thấy vòi con hến rồi. Người không kinh nghiệm sẽ nắm lấy cái vòi mà kéo, nó thường đứt luôn, để laị nguyên con sò, mà con này rồi cũng sẽ chết vì cái vòi là bộ phận nó dùng để hút đồ ăn là phiêu sinh vật trong nước biển. Người đào cát phải biết khi nào nương tay, kẻo xẻng sẽ xén đứt luôn cái vòi voi của con sò, mà vòi này là chỗ ngon nhất.

Người đào đương nhiên mệt lắm, nhưng người “mò sò” còn mệt hơn, phải nằm dài xuống mặt cát, tay thọc sâu để rờ rẫm xem cái vòi nằm nơi đâu. Khi bàn tay đã nắm được cái vòi, ngón tay trỏ phải nong cát chung quanh vỏ sò ra cho rộng, rồi vừa kéo, vừa lắc mà rút ra. Có nhiều khi con sò ở sâu qúa, người mò sò chui cả đầu vào ống, chỉ còn hai chân loi choi trên mặt cát, nên không có thế để lên, phải la toáng lên thì đồng bạn mới biết mà kéo ra khỏi ống. Lúc anh mò sò thoát ra khỏi miệng ống, mặt mũi lấm lem, tay nắm chặt con sò, thế mà trên môi lại còn nở nụ cười tình, mặt tươi rói như ông dại sứ.

Có anh bạn trong bọn chúng tôi, đi tìm những chỗ có hai lỗ ở bên nhau mà đào, thành thử anh ta cứ bắt được mỗi lần một đôi tình nhân sò hến. Mới xế trưa, mà gió biển thổi mạnh qúa, những người ướt quần áo thì bắt đầu run vì lạnh. Chúng tôi đành ra về vì có lẽ mỗi người đã được cả chục con. Tôi đã từng nhìn thấy con hến vòi voi nhiều lần được bày bán trong siêu thị, nhưng nhìn nó tôi hơi nhờn nhợn nên chưa ăn thử bao giờ.

Buổi tối hôm ấy, là lần đầu tiên tôi ăn, mà laị ăn sống theo kiểu Sushi, tôi mơí thấy vị ngon ngọt của nó. Hèn chi người Tàu, người Nhật đi đào đông quá, nhưng họ được ít lắm, mỗi lần bắt được một con, cả bọn hò reo như đào được mỏ vàng. Còn bọn chúng tôi, nếu thả sức cho đào, có lẽ mỗi người sẽ được vài ba chục con, vì chúng tôi là chuyên viên đào mương, đào lỗ ngoài freeway của công ty Amland. Một công ty do người VN làm chủ lớn nhất (nói theo kiểu quảng cáo của những cơ sở thương mại VN), không những riêng ở Cali, mà còn trên toàn cõi Hoa Kỳ. Mà vì là công ty độc nhất, nên không có ai đứng hạng nhì. Sorry.

The mesmerizing beauty of Vietnam by Nguyen Vu Phuoc

Boredpanda

BuckBenn / 2016
Community member

Nguyễn Vũ Phước là một trong những nhiếp ảnh gia được nhiều người biết đến và yêu mến tại Việt Nam, là người đã giành được vô số giải thưởng tại quê hương và trên toàn cầu. Anh ấy vừa sung mãn vừa độc đáo, tác phẩm của anh ấy thuộc nhiều thể loại từ phim tài liệu đến du lịch đến nghệ thuật mỹ thuật, và tất cả mọi thứ ở giữa.

Nếu bạn thích những gì bạn thấy, xin lưu ý rằng bạn có thể tham gia Phước yêu thương vui vẻ, cùng với tay súng du lịch nổi tiếng David Lazar, cho một hội thảo du lịch ảnh Việt Nam độc quyền vào tháng 6 tới. Hiện tại, anh ấy rất vui và tự hào khi chia sẻ cái nhìn thoáng qua về phong cách và tầm nhìn của mình với Bored Pandas trên toàn thế giới!

Double Vision Fishing’

Umbrella Leaf – Red Dao Children

Nung Lady Rice Farmers in Hoang Su Phi

Quintessential

Cham Girl by Candlelight

The Good Sister – Saigon

Cham Pottery Maker

Champa Kids on the Dunes

Nung Ladies at Harvest Time

Rice Terraces in Legendary Ha Giang Province

Ao Dai Confidential

High School Girl in Mekong Taxi

Rice Farmer Tilling

Circle of Dreams

Lo Lo Family Walking – Northern Vietnam

Visions of Vietnam

The Salt Harvesters of Khanh Hoa Province

Dầu khuynh diệp bác sĩ Tín

Trang Nguyên

November 28th, 2020

Ngày nay dầu khuynh diệp bác sĩ Tín không còn nữa nhưng người dân miền Nam tuổi trung niên trở lên ai cũng nhớ đến cái mùi đặc trưng của loại dầu gió thông dụng này. Dầu trị nhiều chứng bệnh, cảm mạo, sổ mũi, đau nhức cơ bắp, ho, đau bụng, đau răng, trầy chảy máu, ngừa gió, ngừa ban cho trẻ em… Người thường dùng nhất là các bà già, phụ nữ sinh đẻ nên dầu khuynh diệp còn được gọi là “dầu bà đẻ”.

Bác sĩ Tín người đã tạo ra dầu khuynh diệp (Ảnh: Internet)  

Tôi chỉ mới biết “dầu bà đẻ” khi đem chuyện dầu gió ngày xưa ra trò chuyện với mấy ông bạn già. Những câu chuyện góp nhặt đây đó đánh thức ký ức của tôi thời còn bé. Nhớ lại, có lần ba tôi dẫn tôi đến Nhà bảo sanh Hoà Hưng thăm má tôi sanh thằng em út. Vừa bước vào cửa chính đã ngửi thấy nồng nực mùi dầu. Mùi khuynh diệp càng lúc càng nồng khi đi ngang qua các buồng sản phụ dọc theo hai bên. Hồi đó, tôi không để ý lắm cái mùi dầu khuynh diệp vì tủ thuốc trong nhà lúc nào cũng có vài ba chai dầu Nhị Thiên Ðường, dầu khuynh diệp bác sĩ Tín và hũ cù là Mac-Phsu phòng dùng khi cần thiết. Nhưng sau này, khi tôi có dịp ngửi lại mùi dầu khuynh diệp OPC hiệu mẹ bồng con (“hậu duệ” của dầu khuynh diệp bác sĩ Tín). Mùi không đậm bằng dầu gió ngày xưa nhưng tôi vẫn cảm thấy cái mùi thật thân thương và gần gũi!

Ba loại dầu gió này rất thông dụng trong từng gia đình. Mặc dù vậy, dầu khuynh diệp vẫn là loại dầu gió phổ biến nhất bởi công dụng của dầu trị nhiều thứ, kể cả nhức răng. Có lần tôi xúi thằng bạn hàng xóm có cái răng hàm bị sâu khoét một lỗ, nó cứ lấy tay bịt miệng, mặt mày nhăn nhó. Tôi bảo lấy cục bông gòn nhỏ se tròn lại nhúng vào dầu khuynh diệp nhét vào lỗ răng sâu. Nó làm theo đúng là hết thật. Té ra, dầu khuynh diệp hiệu nghiệm thiệt! Hồi đó, nhãn hiệu trên chai dầu khuynh diệp bác sĩ Tín không có ghi cách dùng nào nhưng sau này các loại dầu gió đều phải ghi trên nhãn hiệu “dùng ngoài da”.

Bác sĩ Tín, người sáng chế ra dầu khuynh diệp, tên thật là Bùi Thứ, sinh quán tại Quảng Nam. Ông kết hôn sớm với bà Nguyễn Thị Hoà, người cùng quê. Hồi đi học ông tham gia phong trào bãi khoá tại trường Quốc Học và tham gia lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh cũng như thường lui tới chùa Từ Ðàm, nơi giam lỏng nhà cách mạng Phan Bội Châu nên ông bị sở mật thám Pháp theo dõi ghi tên vào sổ đen. Kết quả là ông bị đuổi học. Sau khi rời Quốc Học, ông ra Hà Nội theo học tại trường Albert Sarraut và đổi tên thành Bùi Kiến Tín.

Ðỗ Tú tài Pháp, ông vào học tại Ðại học Luật khoa Hà Nội nhưng được học bổng sang Pháp học ngành Y. Tốt nghiệp bác sĩ, ông về nước cùng với những người bạn học là bác sĩ Trương Ðình Ngô, dược sĩ Trương Xuân Nam lập một cơ sở nghiên cứu bào chế Âu dược tại Quy Nhơn. Ông làm các loại thuốc ho, bổ huyết, thuốc trị táo bón. Bà Hòa tích cực tham gia cùng chồng ngay từ những ngày này. Bác sĩ Tín nói cần một cái nồi đồng thật lớn để nấu thuốc, bà liền nhận nhiệm vụ đi kiếm cho ra cái nồi như thế. Bà về quê, ngay lúc đám giỗ ở một nhà thuộc tộc Bùi thì gặp ông Bùi Thuyên, cha ruột nhà thơ Bùi Giáng. Nghe chuyện, ông Bùi Thuyên bèn cho mượn cái nồi khá to!

Lọ dầu khuynh diệp bác sĩ Tín luôn có mặt trong nhà của người miền Nam (Ảnh: Internet)

Bác sĩ Tín lại có duyên nợ với ngành Ðông Y nên khi cơ sở sản xuất thuốc dời vào Sài Gòn vào năm 1944, bác sĩ Tín đưa cả gia đình từ Quảng Nam vào lập nghiệp tại Sài Gòn và lập ra viện bào chế đông dược miền Nam tại Phú Lâm, gọi là nhà thuốc Bác Sĩ Tín. Và từ đó tạo lập nên thương hiệu “Dầu khuynh diệp bác sĩ Tín”. Dầu gió được bác sĩ Tín bào chế có công thức đặc biệt bao gồm các loại dầu tràm, dầu bạc hà, dầu hương nhu… và không thể thiếu tinh dầu khuynh diệp. Ðây là loại tinh dầu có mùi rất đặc trưng.

Ðể có được nguyên liệu tốt, năm 1954 ông mua một miếng đất rộng 30ha nằm dọc theo xa lộ Biên Hòa, bên tay phải từ Suối Tiên về Biên Hòa (đối diện Nghĩa Trang Quân Ðội) trồng cây khuynh diệp. Năm 1960, lứa khuynh diệp đầu tiên từ Pháp đưa về được trồng ngay tại đây. Rồi sau đó, ông dùng hạt giống của cây khuynh diệp đã trồng, ươm cây con để trồng trên hai trang trại mới mua rộng 40ha tại xã Lộc Châu, huyện Bảo Lộc, tỉnh Lâm Ðồng.

Tiến sĩ kinh tế Bùi Kiến Thành, trưởng nam của bác sĩ Tín, nói về tâm tư của cha mình khi dầu khuynh diệp bác sĩ Tín đã gần như chiếm lĩnh thị trường miền Nam vào thuở thập niên 1960. Trong luận án tốt nghiệp bác sĩ, ông đã nêu tinh thần dân tộc và mong muốn góp phần xây dựng một đất nước Việt Nam hùng mạnh. Ông ước ao làm sao 20 triệu dân hiện tại có sức khỏe tốt để nâng dân số lên 50 triệu cho đúng với tầm cỡ lãnh thổ? Dân Việt Nam lúc đó không có đủ tiền để mua thuốc Tây. Còn Ðông dược rất tốt nhưng sản xuất chưa đúng với phương pháp khoa học nên kém hiệu quả. Và ông muốn thay đổi thực tế này. Do đó bác sĩ Tín cho làm logo hình ảnh một anh lực sĩ nâng cả đất nước Việt Nam lên, bên dưới hình ảnh có ghi ba chữ “Ðại Cường Việt”. Logo này được in trên các nhãn hiệu sản phẩm dầu gió, dầu xoa bóp, dầu cù là.

“Với papa tôi, làm giàu không chỉ cho cá nhân ông mà còn là làm giàu cho đất nước, cho ích nước lợi dân. Thí dụ, khi papa tôi làm thuốc ho Bác sĩ Tín, ông đã có ý thức về chủ quyền với câu khẩu hiệu ‘uống thuốc ho Bác sĩ Tín thở không khí tự do’. Bán thuốc không chỉ để dân khỏe ra mà ông còn muốn xây dựng nhận thức, ý thức chủ quyền cho dân”.

Tiến sĩ Bùi Kiến Thành thời trẻ, trưởng nam của bác sĩ Tín cùng cha quản lý nhiều công ty tại Sài Gòn và các tỉnh (Ảnh: Internet)

Ông Thành nhớ lại: “Papa tôi đã mua một chiếc xe tải lớn, dài 7-8 mét nhưng không đóng thùng mà để lên đó một chiếc xe hơi Austin mới cáu cạnh. Gắn kèm chiếc xe là cái bảng to ghi: Giải thưởng Bác sĩ Tín. Ai mua dầu của BS Tín cũng được cho một con số kèm theo. Ði cùng với chiếc xe là đoàn múa lân đánh trống tùng tùng xèng. Xe chạy từ Nghệ An, Hà Tĩnh suốt cho tới Cà Mau. Một chiếc xe quá lạ lùng và tưng bừng như vậy bảo sao dừng ở bãi chợ nào, trẻ em, người lớn đều không xúm coi rần rần? Xổ số trúng thưởng sau đó được tổ chức rất nghiêm túc, ngoài xe hơi Austin còn có mấy chục giải phụ là xe đạp. Ðó là chiêu mà ông nghĩ ra để từ Nam chí Bắc, ai ai cũng biết đến dầu khuynh diệp bác sĩ Tín. Papa tôi đã mua mấy chục chiếc xe tải để đi khắp nơi quảng bá và bán tận tay tới người dân. Mỗi năm có khoảng 20 triệu chai dầu khuynh diệp được bán ra”.

Trong một bài viết tưởng nhớ bác sĩ Tín đăng trên facebook của Ban Tu chính phổ hệ Bùi Kiến Tiến – Bùi Kiến Quang rằng, bác sĩ Tín tham gia nội các của Thủ tướng Ngô Ðình Diệm hồi năm 1954. Ông giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Thông tin. Nhưng sau khi Ðệ Nhất Cộng Hoà được thiết lập, ông từ bỏ tham chính và được phục vụ trong quân đội với cấp bậc Y sĩ Trung tá làm việc tại Huế và Cà Mau một thời gian. Sau đó ông được giữ chức Y sĩ Trưởng Phủ Tổng thống và Lữ đoàn Liên binh phòng vệ Phủ Tổng thống (1960). Năm 1969, ông ra tranh cử Dân biểu Quốc hội nhưng thua phiếu Luật sư Trần Văn Tuyên. Kể từ đó ông chú tâm vào việc kinh doanh, công tác xã hội và tôn giáo.

Thành công trong lĩnh vực đông y dược, bác sĩ Tín lấn sân sang các ngành nghề kinh doanh khác như kỹ nghệ, tài chánh và xây dựng. Ông cùng với trưởng nam Bùi Kiến Thành đồng sáng lập Công ty sản xuất bình điện Prestolite của thương hiệu ắc-quy Autolite thuộc hãng xe Ford của Mỹ nhượng quyền; thành lập Ðông Phương Ngân hàng và Việt Nam Công Thương Ngân hàng tại Sài Gòn; thành lập Công ty địa ốc Tân Ba, khai thác cát tinh bán cho Nhật, sản xuất muối Cà Ná; mở Công ty Nông nghiệp Khánh Hoà thu mua cơm dừa bán cho các cơ sở làm xà bông. Ông cùng các con lập ra Viện Bào chế Tiandi ở Chợ Lớn và Viện bào chế Hana tại đường Trương Minh Ký, Phú Nhuận. Không những dừng lại đó, ông còn có ý tưởng xây dựng khu Disney Land tại Biên Hoà giống như bên Mỹ, rộng 290ha. Tiếc rằng ý tưởng của ông phải dừng lại vào năm 1975 khi Sài Gòn thất thủ. Ông cùng gia đình di tản sang Pháp.

Ông mất vào năm 1994, thọ 83 tuổi. Tuy thế, dư âm của dầu khuynh diệp bác sĩ Tín đến nay vẫn còn sống mãi trong ký ức người dân Sài Gòn.