Hành Quân

Linh Phương

Dăm thằng đánh trận. Dăm thằng chết
Chỉ sót mình ta cứ sống nhăn
Đù má nhiều khi buồn hết biết
Lo mãi sau này cụt mất chân

Mấy tháng hành quân chưa ngơi nghỉ
Tóc tai dài thượt giống người rừng
Kinh Kha vác súng qua Dịch Thuỷ
Thề chẳng trở về với tay không

Chiến hữu ta toàn dân thứ dữ
Uống rượu say chửi đổng dài dài
Bồ bỏ. Tức mình xâm bốn chữ
Hận kẻ bạc tình trên cánh tay

Chiều qua sém chết vì viên đạn
Du kích bên sông bắn tỉa hù
Cũng may gặp phải thằng cà chớn
Thấy mặt ta ngầu bắn đéo vô

Nhớ hôm bắt được em Việt Cộng
Xinh đẹp như con gái Sài Gòn
Ta nổi máu giang hồ hảo hán
Gật đầu ra lệnh thả mỹ nhân

Mai mốt này đây nơi trận tuyến
Gặp ta em bắn chớ ngại ngùng
Cuộc chiến đâu dành cho nhân nghĩa
Đời nào đạo lý với bao dung

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn một thiên tài đồng loã với tội ác

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn một thiên tài đồng loã với tội ác

Bằng Phong Đặng Văn Âu


[Lê Tùng Châu -18-07-2010: Bài này được post lên Blog đã hơn một năm rồi, nhưng nay mới có thêm tài liệu mới liên quan đến đề tài TCS từ DCVonline (rất quý) nên xin mời bạn đọc xem thêm tin mới update ở đây: Tản Mạn Cuối Tuần – Trà My]

Nhiều năm nay, có khá đông người viết về Trịnh Công Sơn. Tôi cũng có một số ít kỷ niệm với Trịnh Công Sơn, nhưng không viết ra vì ngại bị độc giả hiểu nhầm mình muốn kiếm chút hơi hướm tên tuổi nơi một thiên tài nổi tiếng.
Mới đây họa sĩ Trịnh Cung – Nguyễn Văn Liễu – viết một bài có nhan đề “Trịnh Công Sơn và tham vọng chính trị” đăng trên trang mạng Da Màu, rồi sau đó có một số người viết “phản bác” về nội dung bài viết vừa nêu và chê bai nhân cách của tác giả Trịnh Cung, tôi bèn mạo muội tham gia để bày tỏ đôi chút cảm nghĩ cá nhân vể một thiên tài từng xem tôi là bạn.

Cuộc chiến tranh giữa Tự Do và Cộng Sản bằng súng đạn đã chấm dứt hơn 30 năm, nhưng vết thương vẫn còn rướm máu, mặc dầu bản thân đã có ý muốn chôn vùi quá khứ đau buồn để hướng tới tương lai. Những gì tôi sắp sửa trình bày dưới đây không hề có ý định làm tấy lên vết thương cũ. Vì dù sao, Trịnh Công Sơn đã trở về với Cát Bụi.

* * *


Sau khi tình hình chiến sự Tết Mậu Thân 1968 Đợt I đã lắng dịu, Đại tá Lưu Kim Cương phái phi công Nguyễn Quí Chấn bay ra Huế đón Trịnh Công Sơn vào Sài Gòn. Tôi gặp lại Sơn tại Câu lạc bộ Mây Bốn Phương trong căn cứ Tân Sơn Nhất sau hơn 5 năm xa cách.
Hồi tôi gặp Sơn lần đầu tại trường Sư phạm Quy Nhơn, Sơn chưa nổi tiếng. Thật đáng mừng cho Sơn đã may mắn thoát khỏi sự lùng kiếm của Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường. Nếu lúc bấy giờ Sơn bị sa vào tay của hai nhà cách mạng Xuân, Tường có thành tích “phủ khăn sô lên đầu dân Huế” và bị dẫn lên núi theo chân Lê Văn Hảo hoặc bỏ xác nơi Bãi Dâu, thì chắc chắn sự nghiệp sáng tác nhạc của Sơn sẽ không có “bề dày” như vào thời điểm 1975. Phải chăng Trịnh Công Sơn thoát khỏi bàn tay Việt Cộng là nhờ được hưởng phúc đức từ bà mẹ nổi tiếng thờ Phật kính Tăng mà người dân Huế nào cũng biết?

Từ sau ngày gặp lại Sơn, tôi thường lui tới chơi với Sơn tại ngôi nhà nằm trên đường Công Lý, đối diện Chùa Vĩnh Nghiêm. Sơn là người hiền lành, nói năng nhỏ nhẹ. Mặc dầu là người có tài và có tiếng tăm, nhưng Sơn khiêm tốn, chưa bao giờ tôi nghe Sơn bình phẩm hay chê bai nhạc sĩ khác. Tôi từng lái máy bay chở Sơn ra Phú Quốc uống rượu với bạn Nguyễn văn Mãng (Thiếu tá Quân Cảnh), Phạm Thọ (Trung tá Hải Quân); lên Đà Lạt thăm chị Sâm vợ anh Tốn; ra Huế nhậu với bạn hữu của anh chị Hồ Đăng Lễ. Qua Sơn, tôi giáp mặt với các nghệ sĩ khác như Trịnh Cung, Đinh Cường, Bùi Giáng, nhà báo Phùng Thị Hạnh, Trùng Dương, kiến trúc sư Nguyễn Hữu Đống, điêu khắc gia Lê Thành Nhơn, Bửu Tôn … Ngoài ra, còn có Bửu Ý từ Huế vào tá túc ở nhà Sơn để lánh nạn… đi lính!

Bạn bè nào cũng quý mến Sơn, ngay cả những người lính đang ngày đêm hy sinh mạng sống của mình để cho bọn ngụy hòa như ni sư Huỳnh Liên, thầy chùa Nhất Hạnh, giáo gian Nguyễn Ngọc Lan hoặc bà Ngô Bá Thành được quyền biểu tình, lên tiếng đòi chấm dứt chiến tranh.

Tôi kể cho Sơn nghe câu chuyện của ông anh tôi – Đặng Văn Châu, Giám đốc Đoàn hoa tiêu (pilotage) sông Sài Gòn kiêm Giám đốc trường Hàng Hải thuộc Trung tâm Kỹ thuật Phú Thọ – là người rất ái mộ Sơn, nhân chuyến đi công du Pháp quốc tình cờ gặp cô cháu gái từ Hà Nội sang tu nghiệp tại Âm Nhạc Viện Paris. Hai chú cháu mừng rỡ khôn xiết. Anh Châu tôi bèn lấy ra hai cuộn băng cassette nhạc của Sơn để tặng. Cô cháu gái liền ném ngay hai cuộn băng vào thùng rác và nói: “Thưa chú, cháu rất yêu quý chú nhưng rất ghét nhạc Trịnh Công Sơn. Ở Hà Nội chúng cháu không thèm nghe loại nhạc ủy mị than thân trách phận ấy!” Anh Châu quá bẽ bàng trước phản ứng bất ngờ của cô cháu. Nghe xong, nét mặt Sơn lộ vẻ thất vọng.
Tôi nói để như an ủi: “Sơn ạ! Những ca khúc gọi là ‘phản chiến’ của Sơn không hề làm lay chuyển hay nhụt chí những người lính như bọn moa, vì bọn moa ý thức tại sao phải cầm súng chống lại chủ nghĩa chuyên chính vô sản. Bọn moa có thể vừa nghêu ngao những câu ca thuộc loại ‘anh trở về trên đôi nạng gỗ hoặc trong cỗ quan tài cài hoa’ mà vẫn thản nhiên lao mình vào lửa đạn vì tự biết mình đang trừ gian diệt bạo, chứ không phải vì lòng hận thù. Chính vì thế mà có nhiều anh em quân nhân đánh giặc rất chì vẫn lui tới chơi với Sơn mà không hề bị cơ quan an ninh của chế độ làm khó dễ. Hà Nội không bao giờ chấp nhận Sơn gọi cuộc chiến này là Nội Chiến, vì họ rất tự hào là đội tiền phong đang thi hành nghĩa vụ quốc tế để hoàn thành cuộc cách mạng vô sản toàn thế giới. Chỉ có cán binh cộng sản mới bị Hà Nội cấm nghe nhạc của Sơn.”

Một hôm, ngồi nhậu rượu với Sơn, không hiểu nguyên do nào đưa đẩy câu chuyện liên quan đến Phong trào Nhân dân Cứu quốc do bác sĩ Lê Khắc Quyến lãnh đạo, tôi bực bội nói:
“Thú thực với Sơn, moa rất khinh miệt bọn ‘trí thức rởm’ Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Kha, Nguyễn Đắc Xuân. Ở Phương Tây, bọn trí thức khuynh tả thiên cộng vì chúng chưa từng nếm mùi cộng sản. Còn ở Việt Nam, tự nhận mình là trí thức mà không hiểu nguyên nhân vì sao hàng triệu người Miền Bắc phải lìa bỏ tài sản, mồ mả tổ tiên để vào Miền Nam hưởng một chút không khí tự do, là ngu si, đần độn.
Những nhà ái quốc, văn nghệ sĩ danh tiếng đi theo Việt Minh vì chống Thực dân Pháp, nhưng sau chiến thắng Điện Biên phủ, gông cùm cộng sản xuất hiện với chủ trương đào tận gốc trốc tận rễ thành phần thuộc trí phú địa hào thì dẫu những ai từng lập chiến công với Đảng cũng hết đường cựa quậy. Chứ bọn tranh đấu không hề biết chiến dịch Phóng tay phát động quần chúng, Cải Cách Ruộng Đất ở Miền Bắc hết sức tàn bạo dã man hay sao?
Một Trần Dần làm bài thơ “Nhất Định Thắng” có câu ‘chỉ thấy mưa sa trên nền Cờ Đỏ’ và yêu cô gái tiểu tư sản ở lại Miền Bắc là tan nát cả cuộc đời, đến nỗi phải cắt gân máu tay tự tử.
Một Phùng Quán chỉ làm hai bài thơ “Lời Mẹ Dặn” và “Chống Tham Ô Lãng Phí” là bị bầm dập.
Một Văn Cao phải ngưng sáng tác âm nhạc mà chỉ còn vẽ vời lăng nhăng để tránh bị quy cho cái tội mất lập trường giai cấp.
Một Nguyễn Hữu Đang có công dựng lễ đài ở Quảng trường Ba Đình để Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập cũng không thoát khỏi tù tội.

Phải chăng bọn trí thức chủ trương tờ báo Đứng Dậy đòi hỏi công bằng là để cho nhân dân Miền Nam này cũng phải chịu chung số phận tôi đòi như nhân dân Miền Bắc lầm than, khốn đốn thì mới hả dạ?”
“ … Bọn trí thức phương Tây có xu hướng tả khuynh là một kiểu làm dáng thời thượng không nguy hại cho nền an ninh của nước họ, vì những định chế dân chủ của các nước đó đã vững vàng. Còn nước ta đang đối diện một cuộc chiến một mất một còn chống lại kẻ xâm lăng, mà bọn trí thức bắt chước làm dáng tả khuynh là nhắm tố cáo với thế giới rằng công cuộc tự vệ của Miền Nam là phi chính nghĩa nghĩa và nhằm tiếp tay tuyên dương kẻ địch có chính nghĩa giải phóng dân tộc. Hoa Kỳ giúp Việt Nam ngăn chặn làn sóng đỏ, trí thức là “cái đầu” của Đất Nước, mà thiên về phía Cộng Sản thì nhân dân Hoa Kỳ không còn có lý do để giúp chúng ta. Vì vậy, phong trào phản chiến ở Hoa Kỳ mới có cơ phát triển dữ dội. Sơn có ý thức điều đó hay không? Sơn có biết Miền Nam sẽ trở thành trại lính hoặc nhà tù như Miền Bắc không, nếu cộng sản cai trị toàn bộ Đất Nước?”

Trịnh Công Sơn nghe tôi đặt ra những câu hỏi dồn dập, vẫn thản nhiên hút thuốc lá và chậm rãi nâng ly nhắp từng ngụm rượu đắt tiền của bọn “đế quốc xâm lược”. Bửu Ý liếc nhìn tôi, rồi liếc nhìn Sơn, miệng tủm tỉm cười. Lúc bấy giờ tôi không hiểu ý nghĩa cái cười tủm tỉm của Bửu Ý. Và cho đến nay, khi viết những dòng chữ này, tôi cũng chưa hiểu vì sao Bửu Ý tủm tỉm cười. Thật bí hiểm! Tôi đoán có lẽ Bửu Ý cười tủm vì cho rằng tôi là một anh võ biền, chẳng có kiến thức gì lại cố gắng thuyết phục Trịnh Công Sơn đừng mơ tưởng cộng sản?

Không, tôi biết cả hai người, Trịnh Công Sơn và Bửu Ý, chẳng thể nào trở thành cộng sản được, như chuẩn mực Hồ Chí Minh xác quyết: “Phải là con người xã hội mới yêu chủ nghĩa xã hội”. Mà Sơn và Ý không phải là mẫu người xã hội! Sơn và Bửu Ý là người đọc nhiều sách vở, nhưng không nhìn thẳng vào thực tế đang diễn ra trước mắt, lại sống trong tháp ngà, hưởng thụ rượu nồng, dê béo.

Trịnh Công Sơn mô tả cuộc sống hàng ngày của mình là “Đêm Không Ngủ, Ngày Bất Tỉnh” mà bất cứ ai đã từng gần Sơn đều nghe Sơn nói câu đó. Nghĩa là uống rượu, nhậu nhẹt từ khi đêm chưa xuống cho đến ba bốn giờ sáng; ban ngày thì ngủ vùi bất tỉnh nhân sự.

Sơn là một người có biệt tài viết nhạc với những ca từ “phù thủy” làm mê hoặc những tâm hồn mơ mộng và Sơn cũng là người cực kỳ thông minh vì biết khai thác đề tài “chiến tranh – thân phận giống da vàng” phù hợp xu hướng thời đại để làm cho mình nổi tiếng. Sơn biết lợi dụng sự “thông thoáng” của chế độ Miền Nam và biết bám vào những người có quyền như Lưu Kim Cương, Hoàng Đức Nhã để trốn tránh nghĩa vụ quân dịch; đồng thời nghiêng về nhóm “tranh đấu đểu” loại Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, nghĩa là bắt cá hai tay, dù ai thắng thì mình cũng hưởng lợi. Nói tóm lại, Sơn là mẫu người có tài, ham thụ hưởng, không hề biết thương xót kẻ khốn cùng và không có lòng lân tuất đối với kẻ sa cơ.

Xin chứng minh:
– Nữ danh ca phản chiến trứ danh của Hoa Kỳ là Joan Baez sau khi chứng kiến những thuyền nhân Việt Nam chết chìm ngoài biển Đông, bà đã tỉnh ngộ, bèn tập hợp được một nhóm người nổi tiếng (celebrities) cùng ký vào bản lên án chế độ độc tài chuyên chính cộng sản. Đó là hành động xứng đáng của người trí thức khi biết mình sai lầm thì phản tỉnh và chống lại sự tàn bạo dã man. Chỉ có riêng Trịnh Công Sơn không một chút mảy may động tâm thương xót người chết đuối ngoài biển cả, nên đã viết thư cho bà Joan Baez để bào chữa cho chế độ bất nhân bằng câu:
“Có thể nào chị và những người bạn Mỹ cùng ký tên trong một lá thư ngỏ ấy không hiểu rằng sau một cuộc cách mạng đất nước nào cũng phải chịu đựng những khó khăn, bề bộn và bối rối nhất định?…”

Hàng trăm ngàn thuyền nhân chết đuối ngoài biển đã thức tỉnh lương tâm nhân loại, riêng Trịnh Công Sơn – người nhạc sĩ được chế độ “Ngụy” đùm bọc – lại đi bênh vực bạo quyền mà dám gọi đấy là cuộc cách mạng!
Chỉ có thiên tài với tấm lòng lạnh giá như băng mới mô tả đời sống nhân dân cả nước phải nhai bo bo, dáo dác đi tìm đường vượt biên bằng mấy câu ca mô tả cảnh thanh bình: “Em ra đi nơi này vẫn thế, lá vẫn xanh trên con đường nhỏ, vườn xưa vẫn có tiếng Mẹ ru, có tiếng em thơ, có chút nắng trong tiếng gà trưa …”
Trong khi những bằng hữu từng cưu mang mình, từng rót không biết bao nhiêu hồ rượu thượng hảo hạng cho mình như Phạm Thọ, như Lê Kim Lợi, như Hồ Đăng Lễ đang rũ tù trong trại khổ sai … thì Trịnh Công Sơn hân hoan “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui” để tới lui khề khà với những người bạn “cách mạng” có vây có cánh! Nhờ đâu Sơn đã có nhiều niềm vui đến thế? Từ ông Võ văn Kiệt chăng?

– Trịnh công Sơn viết báo cộng sản nhục mạ những anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, những người từng che chở cho Sơn, khiến cho ông anh tôi – Đặng văn Châu – không là quân nhân cũng phải nổi sùng. Năm 1994 về VN tình cờ gặp Trịnh Xuân Tịnh, em Sơn, ở sân bay Tân Sơn Nhất, anh tôi đã nhắn: “Anh Tịnh về nói với Sơn rằng Sơn là một con Số Không, là kẻ vong ân bội nghĩa.”

– Anh XYZ (nhân vật yêu cầu tôi dấu tên), một người anh em ăn ở hết lòng với Sơn và bạn bè, đi tù khổ sai về bị tai nạn gãy chân, phải vào nằm bệnh viện. Sơn làm ngơ như không hề hay biết. Mẹ Sơn hỏi con trai: “Tại sao con không vào nhà thương thăm anh XYZ một chút cho có tình?” Sơn đáp: “Đi ra Givral uống rượu còn thú hơn là đi thăm anh XYZ”. Chính bà mẹ Sơn là người thuật lại cho anh XYZ nghe câu nói phũ phàng của Sơn. Anh XYZ là người đàn anh của nhóm bạn văn nghệ ở Huế, rất được bằng hữu kính trọng và yêu thương, hiện sinh sống tại Hoa Kỳ.

Theo quan điểm của tôi, một người nghệ sĩ được đánh giá là chân chính thì không bám vào kẻ quyền thế để mưu lợi riêng, mà thủy chung với bạn bè, biết xót xa với nỗi bất hạnh của kẻ yếu để không bênh vực cho kẻ gieo TỘI ÁC. Lời phản bác của Sơn đối với bức thư của ca sĩ Joan Baez lên án chế độ vô nhân đạo là sự đồng loã, a tòng với TỘI ÁC, mà một con người bình thường có nhất điểm lương tâm không bao giờ làm. Phải chăng nhờ bức thư phản bác ca sĩ Joan Baez của Sơn mà Võ Văn Kiệt cứu Sơn thoát khỏi bàn tay Trần Hoàn và phe nhóm Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường ở Huế?

Nhờ sống với “Ngụy Quyền” Miền Nam, Trịnh Công Sơn nổi tiếng cả thế giới và được hàng triệu thính giả ái mộ. Nếu Sơn sống với “Chuyên Chính Vô Sản” Miền Bắc thì Sơn – một thiên tài – có rất nhiều khả năng trở thành Tố Hữu – nhà thơ thổi ống đu đủ – thăng quan tiến chức nhờ xu phụ quyền lực. Nhưng Sơn sẽ khổ sở vô cùng, vì Miền Bắc không có rượu thượng hảo hạng để uống mỗi ngày!

Tôi không chắc Trịnh Công Sơn có tham vọng chính trị như Trịnh Cung viết. Nhưng năm 1974, có nhóm tranh đấu đòi hòa bình (bịp) mời Sơn tham gia phong trào ca hát để vận động chấm dứt chiến tranh thì anh em bạn hữu khuyên Sơn đừng nhận lời, Sơn đáp thẳng thừng: “Mình phải tham gia để nếu họ thắng lợi thì mình có tiếng nói.” Lời bày tỏ của Sơn biểu hiện bản chất của con người biết tính toán để mưu cầu lợi ích bản thân.
Qua bức thư Sơn viết cho Ngô Kha vào năm 1974 có đoạn như sau:
“Hôm nay những thành thị miền Nam đang vươn vai đứng dậy. Trời đất được cơ hội thoát ra không khí ô nhiễm để thở bằng sinh lực mới cùng tập thể nhân dân yêu nước, yêu hòa bình và tự do. Phải chăng hồi chuông báo tử đã được gióng lên để những gì cần phải tàn tạ hãy tàn tạ nhanh chóng.”
Đó là luận điệu dối trá, bịp bợm của người nghệ sĩ có tên tuổi nhưng thiếu nhân cách, bởi vì trong thực tế nơi nào bị cộng sản tấn công thì nhân dân nơi đó bồng bế nhau chạy về phía Việt Nam Cộng Hòa, chứ không chạy qua vùng “giải phóng”. Người nào đọc thư Sơn viết cho Ngô Kha mà bảo rằng Sơn không hề có chủ tâm đứng về phía cộng sản là người đó mắc chứng “phương trệ tinh thần” (down syndrome).

Ba mươi Tháng Tư năm 1975, nằm ở đảo Guam tôi nghe đài BBC loan tin Trịnh Công Sơn ôm đàn lên đài phát thanh Sàigòn ca bài “Nối Vòng Tay Lớn” thì tôi dự đoán cuộc đời của Sơn sắp tiêu ma. Bởi vì cái bản chất đố kỵ của người cộng sản không bao giờ chấp nhận người ngoài đảng được phép nổi đình nổi đám được quần chúng hoan hô! Quả nhiên chẳng bao lâu sau Sơn bị cộng sản đe dọa tính mạng, nên Sơn phải chạy về Huế để mong được bạn bè che chở. Không ngờ những người bạn của Sơn như Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân đã quay lưng làm ngơ để cho Sơn bị Trần Hoàn đày đi lao động thực tế! Tình nghĩa bạn bè của cộng sản là như thế đấy!

Trịnh Công Sơn, một người nghệ sĩ tài hoa, được bạn hữu Miền Nam quý mến, bảo bọc lại bí mật rắp tâm thông đồng với bọn sát nhân nhằm giật sập chế độ Việt Nam Cộng Hòa, để rồi bị khốn đốn vì bọn sát nhân. Con người một dạ hai lòng, dù có tài đến mấy đi nữa, thì vẫn đáng khinh.

Bài viết của Trịnh Cung về Trịnh Công Sơn đã khiến cho một số người lên tiếng bênh vực “thiên tài”. Chúng ta không ngạc nhiên chút nào, bởi vì ngay như tội ác của Hitler, Staline, Mạo Trạch Đông vẫn có kẻ bênh vực và tôn thờ. Nhưng những ý kiến phản bác bài viết của Trịnh Cung đều có luận điệu mạt sát và bôi nhọ Trịnh Cung, mà không hề thấy có lời lẽ nào lên án hành vị “một dạ hai lòng ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản” của Trịnh Công Sơn khiến cho chúng ta thấy được tác giả của những ý kiến phản bác đều thuộc phe … xã hội chủ nghĩa, chứ không phải sự lên tiếng là vì SỰ THẬT. Sự Thật đó là Trịnh Công Sơn có ngả về phía cộng sản.

Trong số những người lên tiếng bênh vực Trịnh Công Sơn trên Thanh Niên Online có hai Việt Cộng khá tên tuổi. Đó là hai “tội phạm chiến tranh” Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân từng chôn sống hàng ngàn người dân Huế vô tội vào năm Mậu Thân 1968. Hai tên tội phạm đó đã ra cái điều trí thức, lấy danh nghĩa chống Mỹ cứu nước để đẩy cả nước xuống hầm tai họa. Từ tháng Tư năm 1975 cho đến nay chưa ai nghe thấy hai kẻ đó có một lời nói hay hành động sám hối.

Ngày xưa sống dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa, hai ông Việt Cộng này hung hăng chống độc tài quân phiệt tay sai đế quốc ngoại bang.

Ngày nay sống với Xã hội Chủ Nghĩa chủ trương đàn áp nhân dân biểu tình tỏ bày lòng yêu nước chống lại Trung Cộng cướp đất, cướp biển; dân oan khiếu kiện nằm la liệt dải gió dầm sương; các nhà tôn giáo bị đàn áp, các nhà dân chủ bị bịt miệng, bị cầm tù thì hai ông Việt Cộng này ngậm miệng giống như câm, như điếc. Họa sĩ Trịnh Cung tung ra một bài viết tiết lộ một chút xíu bí mật về Trịnh Công Sơn thì hai ông Việt Cộng Tường, Xuân hăm hở nhào ra bảo vệ uy tín thiên tài có quá trình đi đêm với cộng sản!
Tình trạng đạo lý suy đồi, quan chức ăn cắp từ trên xuống dưới, nhân quyền bị chà đạp là những thành quả to lớn của Cộng Sản Việt Nam mà hai ông Tường, Xuân đã dày công đóng góp.

Cho nên, ngày trước tôi nói với Trịnh Công Sơn rằng tôi rất khinh bỉ bọn trí thức tranh đấu là một lũ bịp bợm, lưu manh quả không sai. Khi chuyên chở tù binh cộng sản từ chiến trường, tôi biếu họ điếu thuốc lá, cái kẹo vì tôi thương và tôi kính trọng người lính khác chiến tuyến bị sa cơ. Nhưng tôi khinh bỉ những kẻ được ăn sung mặc sướng ở phần đất tự do lại ngấm ngầm tư thông với giặc.

Thật đáng tiếc cho Trịnh Công Sơn, một thiên tài nhưng đốn mạt. Sơn không xứng đáng là một người nghệ sĩ được đa số khán thính giả ngưỡng mộ, vì Sơn cũng chẳng khác với hai ông Việt Cộng Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân bao nhiêu.

Mới đây, đọc “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn” của nhạc sĩ Tô Hải, tôi không hề coi khinh tác giả, trái lại rất kính trọng bởi vì dám nhận mình hèn.
Tác giả phải sống dưới chế độ độc tài toàn trị có kỹ thuật hủy hoại người thẳng thắn, người cương trực một cách dã man khủng khiếp, khiến cho ai nấy đều trở nên hèn.

Đọc hồi ký của nhà phê bình văn học Nguyễn Đăng Mạnh kể lại những “cái hèn” của những văn nghệ sĩ Miền Bắc, tôi vô cùng xót xa cho họ và càng thù ghét chính sách cai trị phi nhân của cộng sản.

Lặp lại, nhạc sĩ Tô Hải dám nói lên cái hèn của mình, tôi xin ca ngợi ông là người có khí phách.

Ở Miền Nam có chủ trương đề cao nhân tài, dù sản phẩm nhân tài làm ra nhằm làm suy giảm tinh thần chiến đấu của quân sĩ, vẫn được tự do phổ biến, mà nhân tài vẫn tư thông với địch mới là đáng khinh.
Hai ông Việt Cộng Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân dùng đạo lý tình bằng hữu để miệt thị họa sĩ Trịnh Cung lừa thầy phản bạn là một hành vi đạo đức giả. Hai ông Việt Cộng từng phản lại khát vọng tự do của nhân dân Miền Nam để dẫn “Bộ Đội Cụ Hồ” về chôn sống người Huế vô tội, thì hai ông không có tư cách gì để nói đến tình nghĩa bạn bè, tình nghĩa con người.

Hơn ba mươi năm qua, Đất Nước đắm chìm trong nghèo đói, áp bức, bất công, hai ông Việt Cộng Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân không tỏ bày một chút ân hận, lại còn lên mặt đạo đức giả mới là kẻ hèn, đáng khinh bỉ.

Đọc bài “Tình bạn, hồi sinh cơn hôn mê” của họa sĩ Đinh Cường viết từ Virginia từ ngày 16 tháng 4 năm 2001, tôi không khỏi đem lòng hoài nghi cung cách ứng xử với nhau giữa các ông nghệ sĩ tên tuổi.

Nhờ sự tiết lộ của Trịnh Cung, tôi mới hiểu vì sao Đinh Cường viết những lời ưu ái với ông Việt Cộng Hoàng Phủ Ngọc Tường, tác giả bài “Ai đã đặt tên cho dòng sông” đã không ngần ngại ca ngợi nhà thơ Tố Hữu bằng câu văn như sau: “nó đột khởi thành sức mạnh phục sinh của tâm hồn, trong thơ Tố Hữu”.
(Nhắc lại: Tố Hữu là nhà thơ dùng quyền lực của Đảng làm khốn đốn, điêu đứng nhiều anh em nghệ sĩ Miền Bắc.)
Còn ông Việt Cộng Nguyễn Đắc Xuân bây giờ là nhà nghiên cứu! Chắc chắn nhà nghiên cứu này còn bám lấy chủ nghĩa Marxist–Léninist thì sẽ ngụy tạo ra những bài nghiên cứu theo đường lối “duy vật sử quan” cho phù hợp lập trường của Đảng để được Đảng cho đi Mỹ, đi Tây khua môi, múa mép.
Các cụ nhà ta thường nói: “Phủ bênh phủ, huyện bênh huyện”. Hai ông Việt Cộng Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân càng nỗ lực bênh vực Trịnh Công Sơn và miệt thị Trịnh Cung bao nhiêu, thì tội trạng Trịnh Công Sơn tư thông với kẻ thù càng rõ nét bấy nhiêu.

“Thời Của Những Kẻ Giết Người” biết đến bao giờ mới được lương tri soi sáng để can đảm nói một lời sám hối với những vành khăn tang trắng xóa đất Thần kinh thì chúng ta mới hy vọng Đất Nước có ngày hồi sinh.

Ngày 12 tháng Tư năm 2009.

Bằng Phong Đặng Văn Âu
hoalong1@att.net

Nguồn: Tiền Vệ

Lê Tùng Châu – 18-07-2010: Bài này được post lên Blog đã hơn một năm rồi, nhưng nay mới có thêm tài liệu mới liên quan đến đề tài TCS từ DCVonline (rất quý) nên xin mời bạn đọc xem thêm tin mới update ở đây: Tản Mạn Cuối Tuần – Trà My

Những tấm hình có giá trị lịch sử

Những tấm hình có giá trị lịch sử  

Đại tá Nguyễn Công Vĩnh dự tiệc Chào mừng chiến sĩ xuất sắc của Quân Lực VNCH gặp gỡ TT Nguyễn Văn Thiệu & Phu nhân.

Đại Tá Nguyễn Công Vĩnh trở về từ miền Bắc sau những năm tháng tù đày.

Bức ảnh này ai đã đăng trước đó, chú thích là:  Đón người thân “học tập cải tạo”(!) từ miền Bắc trở về tại ga Sài Gòn, ảnh chụp bởi Philip Jones Griffiths.

Nhưng ít ai biết, cụ già tóc bạc, cựu tù nhân trại “Học tập cải tạo” đó là cựu đại tá Nguyễn Công Vĩnh của QLVNCH.

Ông vốn là trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 9 thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh. Trong cuộc hành quân tại vùng Lộc Ninh, áp lực đối phương rất nặng và đánh úp vào bộ chỉ huy của chiến đoàn. Đại tá Vĩnh, Trung tá Nguyễn Văn Thông ( anh ruột của tôi ) làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 53 Pháo Binh và Trung Tá Dương và Thiếu tá Đặng văn Sơn Tiểu Đoàn Trưởng (một người bạn cùng khóa của tôi) đều bị bắt làm tù binh. Thời gian bị báo cáo là bị mất tích khi bị chiến xa của VC tràn ngập bộ chỉ huy tại Lộc Ninh. Sư Đoàn 5 và BCH Pháo Binh chỉ cho biết là bị mất tích không biết còn sống hay chết. Lính của anh tôi về cho bà chị dâu cho biết là thấy chiến xa T54 của VC ủi sập hầm của anh tôi, vì vậy không biết tình trạng như thế nào. Bà chị dâu của tôi lo sợ mất ăn mất ngủ, chạy lo coi thầy thật là tội nghiệp.

Kinh nghiệm cho tôi biết rằng VC bắt được sĩ quan cấp chỉ huy thường hay bắt đọc trên Đài Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam để làm lung lay tinh thần chiến đấu của đơn vị Quân Đội VNCH. Tôi mang vào sở một cuộn băng cassette và nhờ anh trung úy Hưng thuộc truyền tin trong Phủ Phó Tổng Thống. Tôi nhờ anh em trong ban truyền tin theo dõi đài Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam 24/24. Nếu nghe được tin tức về anh tôi thì thu băng ngay. Dự đoán của tôi đúng 100%. Ngày hôm sau tôi đi làm được Trung úy Hưng cho biết đă thu được tiếng nói của anh tôi. Tôi nghe thử cuốn băng thì đúng tiếng nói của anh tôi 100%. Tôi chạy về nhà cho chị tôi biết là anh tôi vẫn còn sống bà đã bị bắt làm tù binh. Đại Tá Vĩnh, Trung tá Dương, Thiếu tá Sơn bạn của tôi cũng vậy. Tôi mang mấy cuốn băng thu được về cho gia đình của Đ/Tá Vĩnh, Trung tá Dương biết để an tâm.

Khi Hiệp Định Paris ký kết xong, việc trao trả tù binh cũng thật là khó khăn. Các sĩ quan cao cấp chúng không muốn trao trả, chúng để tới gần hết thời hạn cũng không chịu giao Đại Tá Vĩnh, Trung tá Dương, Thiếu tá Sơn và Trung Tá Thông anh tôi. Vào lúc nầy tình trạng sức khỏe các ông nầy đã yếu lắm. Về phía VNCH, do biết phía VNDCCH sẽ không định trao trả các tù nhân là sĩ quan cấp cao nên phải cắt cử một số quân nhân thật khỏe mạnh đứng sẵn chờ đợi gần lằn ranh trao trả. Phía VNCH yêu cầu bên VC phải cho thấy tận mắt những sĩ quan kể trên còn sống thì mới tin và yêu cầu VC phải mang họ ra gần nơi trao trả mới tin được. Khi họ mang các sĩ quan kể trên ra trình diện thì bên phía VNCH nhảy qua cướp tù, nhờ vậy mới giải thoát được những sĩ quan kể trên. Lúc bấy giờ Đại Tá Vĩnh và anh tôi rất yếu, đi không nổi phải khiêng bằng băng ca.

Sau một thời gian dưỡng bệnh và kiểm tra an toàn về vấn đề an ninh xong. Đại tá Vĩnh về làm Quân Vụ Trưởng Quân Vụ Thị Trấn tại Saigon. Anh tôi được về làm Chỉ Huy Phó Pháo Binh thuộc Sư Đoàn 9 Bộ Binh. Vì là chỗ thân tín trong tình chiến hữu với anh tôi. Đại Tá Vĩnh xem tôi như người em. Nên khi ở Việt Nam ông Đại Tá Vĩnh và tôi hay gặp nhau khi ông làm chỉ huy trưởng QVTT.

Sau ngày 30-4-75, Đại Tá Vĩnh lại bị bắt đi tù học tập cải tạo lên tuốt miền Bắc đến năm 1988 mới được thả về Sài Gòn, anh tôi ở tù đến năm 1983, sau đó mất vào năm 1989 vì bệnh tại Việt Nam. Đại tá Vĩnh qua Mỹ theo diện HO. Hiện đang ở Costa Mesa, hiện ông vẫn khỏe mạnh và minh mẫn.

Theo Trực – 27/3/2013.

#Ad69

Đốt sách

Sáng mắt sáng lòng

Tấm hình lịch sử: Biệt Động Quân không bắt tay với Cộng Sản

Từ chối cái bắt tay, một Sĩ Quan Biệt Động Quân  Việt Nam và Đại tá Bắc Việt, Sài Gòn, 1973.  Ngày 5 tháng 2 năm 1973, một tuần sau ngày “Hiệp Định Paris” có hiệu lực (27/1/1973), Ủy Hội Quốc Tế về Kiểm Soát và Giám Sát (International Commission of Control and Supervision – ICCS) và Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự – 4 Bên (the Four – Party Joint Military Commission – JMC -4P) mở một cuộc họp chính thức ở thủ đô Sài Gòn nước Việt Nam Cộng Hoà.

Trên lối đi vào phòng họp, có nhiều quân nhân và cảnh sát VNCH giữ an ninh trật tự trước hàng trăm phóng viên báo chí khắp thế giới, một cán bộ cộng sản Bắc Việt là Thượng tá Bùi Tín phóng viên báo “Nhân Dân”, muốn bắt tay với một quân nhân Biệt Động Quân đang giữ an ninh tại đây nhưng bị từ khước không bắt tay. Bị “tẻn tò” trước các phóng viên quốc tế, Thượng tá Bùi Tín phải giả lả vỗ vai anh BĐQ này để “gỡ gạc” cho bàn tay bịp bợm của Việt Cộng.

Đúng là ….Biệt Động Quân… SÁT !

ANZAC Day in Canberra 25 Apr 2021

Photograph taken by Kerry Alchin Order reference: PAIU2012/024.12 Contact: esales@awm.gov.au
Photograph taken by Kerry Alchin Order reference: PAIU2012/024.14 Contact: esales@awm.gov.au
Photograph taken by Kerry Alchin Order reference: PAIU2012/024.29 Contact: esales@awm.gov.au
Photograph taken by Kerry Alchin Order reference: PAIU2012/024.45 Contact: esales@awm.gov.au
Photograph taken by Kerry Alchin Order reference: PAIU2012/024.48 Contact: esales@awm.gov.au
Photograph taken by Kerry Alchin Order reference: PAIU2012/024.50 Contact: esales@awm.gov.au
Photograph taken by Kerry Alchin Order reference: PAIU2012/024.51 Contact: esales@awm.gov.au
Photograph taken by Kerry Alchin Order reference: PAIU2012/024.80 Contact: esales@awm.gov.au
Photograph taken by Fiona Silsby Order reference: PAIU2012/022.07 Contact: esales@awm.gov.au
Photograph taken by Fiona Silsby. Order reference: PAIU2012/025.18 Contact: esales@awm.gov.au
Photograph taken by Kerry Alchin Order reference: PAIU2012/024.46 Contact: esales@awm.gov.au
Photograph taken by Kerry Alchin Order reference: PAIU2012/024.35 Contact: esales@awm.gov.au
Photograph taken by Kerry Alchin Order reference: PAIU2012/024.36 Contact: esales@awm.gov.au
Photograph taken by Kerry Alchin Order reference: PAIU2012/024.46 Contact: esales@awm.gov.au
Photograph taken by Kerry Alchin Order reference: PAIU2012/024.56 Contact: esales@awm.gov.au
Photograph taken by Kerry Alchin Order reference: PAIU2012/024.75 Contact: esales@awm.gov.au
Photograph taken by Kerry Alchin Order reference: PAIU2012/024.79 Contact: esales@awm.gov.au
Photograph taken by Fiona Silsby Order reference: PAIU2012/022.03 Contact: esales@awm.gov.au
Photograph taken by Fiona Silsby Order reference: PAIU2012/022.06 Contact: esales@awm.gov.au
Anzac Day in Canberra 25 Apr 2021  

Tổng thống Trần Văn Hương mẫu người Quốc gia tiêu biểu

Nguyễn Quang Duy

Trong buổi lễ nhậm chức Tổng thống ngày 21/4/1975 ông Trần văn Hương đã hứa:

“Tôi xin hứa với anh em trong quân đội là ngày nào anh em còn chiến đấu, tôi luôn luôn đứng bên cạnh anh em và ngày nào, chẳng may, mà đất nước không còn nữa thì cái nắm xương khô của tôi sẽ nằm bên cạnh đống xương của tất cả anh em binh sĩ.”

Ông Hương đã thực hiện lời hứa, từ chối lời mời di tản của người Mỹ và người Pháp, từ chối nhận “quyền công dân” dưới thể chế cộng sản, mất đi trong nghèo túng và bệnh hoạn.

Nhân dịp 30/4 năm nay xin được ôn lại lịch sử của Tổng thống Trần văn Hương một người quốc gia suốt cuộc đời vì nước vì dân.

Thời thuộc địa

Ông Trần Văn Hương sinh năm 1902 tại Vĩnh Long trong một gia đình nghèo nhờ học giỏi ông được ra Hà Nội học tiếp. Ở Hà Nội ông Hương học cùng trường Cao đẳng Sư phạm, cùng thời với nhà cách mạng Nguyễn Thái Học người sáng lập Việt Nam Quốc Dân đảng và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930.

Ông Hương không chọn con đường đấu tranh cách mạng mà tiếp tục con đường giáo dục khi tốt nghiệp ông về dạy môn văn chương và luận lý tại trường Collège Le Myre De Villers.

Trường này ông Hương cũng đã theo học và đã được thành lập từ năm 1879 là ngôi trường xưa nhất tại Việt Nam, năm 1953 được đổi tên thành trường Trung Học Nguyễn Đình Chiểu rất nổi tiếng nhờ đào tạo được nhiều nhân tài cho Việt Nam.

Bắt đầu tham chính

Tháng 3/1945, Nhật đảo chánh Pháp rồi trao trả độc lập cho Việt Nam, Vua Bảo Đại cho thành lập Chính phủ Trần trọng Kim và bổ nhiệm ông Trần Văn Hương làm Đốc Học lo việc giáo dục tại tỉnh Tây Ninh.

Đến tháng 8/1945, Việt Minh nổi dậy cướp chính quyền, Vua Bảo Đại thoái vị, ông Hương tham gia Việt Minh và được giữ chức Chủ tịch Ủy ban Hành chánh Kháng chiến tỉnh Tây Ninh. Đến năm 1946, ông Hương thấy Việt Minh quy chụp cho nhiều trí thức là Việt gian rồi đem thủ tiêu, ông về quê tuyên bố bất hợp tác với Việt Minh rồi lên Sài Gòn làm cho một tiệm thuốc Tây.Năm 1953, ông Hương cùng ông Trần Văn Văn và một số nhân sĩ quốc gia thành lập đảng Phục Hưng, ông Hương được cử làm chủ tịch đảng.

Đấu tranh cho dân chủ

Tháng 10/1954, ông Trần Văn Hương được bổ nhiệm làm Đô Trưởng thủ đô Sài Gòn nhưng chỉ được vài tháng ông xin từ chức không cho biết lý do. Ngày 26/4/1960, ông Hương cùng 17 nhân sĩ quốc gia thành lập nhóm Tự Do Tiến Bộ, tổ chức họp báo công bố một bản tuyên cáo tại khách sạn Caravelle.

Nội dung Bản Tuyên Cáo rất ôn hòa chỉ yêu cầu Tổng thống Ngô Ðình Diệm mở rộng chính quyền để các nhà trí thức có thể hợp tác với chính phủ nếu được yêu cầu.

Ngày 11/11/1960, ông Hương ký tên ủng hộ cuộc đảo chánh do Đại tá Nguyễn Chánh Thi khởi xướng, ông bị bắt trong tù ông có viết một tập thơ lấy tên là “Lao trung lãnh vận” (Những vần thơ lạnh lẽo ở trong tù).

Dấn thân chính trị

Sau cuộc đảo chính ngày 1/11/1963, ông Trần Văn Hương lại được bổ nhiệm làm Đô trưởng Sài Gòn, nhưng chỉ vài tháng ông được Quốc trưởng Phan Khắc Sửu mời ra làm Thủ tướng. Ông làm thủ tướng được 84 ngày thì Trung tướng Nguyễn Khánh lật đổ Chính phủ dân sự và Quốc trưởng Phan Khắc Sửu bị truất phế. Người con trai đầu của ông Hương tên là Trần Văn Dõi tự là Lưu Vĩnh Châu theo Việt Minh ra Bắc khi biết ông Hương làm Thủ tướng có viết một lá thư nhờ ông Ung Văn Khiêm là Bộ trưởng Bộ Nội Vụ Bắc Việt trao cho ông Hương.

Ông Hương nhận thư, thảo luận với người con thứ tên là Trần Văn Ðính cả hai đồng ý chuyện quốc gia phải đặt trên chuyện gia đình, bởi thế ông đã từ chối không liên lạc với người con ở miền Bắc.Năm 1967, ông Hương cùng ông Mai Thọ Truyền lập liên danh Người Gieo Mạ ra tranh cử Tổng thống nhưng chỉ được 10% phiếu cử tri ủng hộ đứng hàng thứ tư.

Cộng tác với ông Thiệu

Tháng 5/1968, Tổng thống Nguyễn văn Thiệu mời ông Hương ra làm Thủ tướng nhưng cũng chỉ được 96 ngày thì ông xin từ chức cũng không cho biết lý do. Việc ông Hương nhận lời ông Thiệu làm nhiều người ủng hộ ông thất vọng, vì trước đó liên danh Người Gieo Mạ đã cùng các liên danh thất cử khác họp báo tố cáo có gian lận bầu cử và yêu cầu Quốc Hội Lập Hiến hủy bỏ kết quả bầu cử để tổ chức một cuộc bầu cử khác.

Giáo sư Sử Địa Lâm Vĩnh Thế hỏi ông Hương vì sao ông đã nhận lời làm Thủ tướng được ông trả lời như sau:

“… Lúc đó chỉ có ông Thiệu là có khả năng chống cộng thật sự, lại nữa vụ Mậu Thân cho thấy Việt cộng đã mạnh lắm rồi, mà Hoà Kỳ thì lại có ý chủ hòa, ông Johnson thì ép mình phải đi hoà hội Paris… nên cần phải ủng hộ ông Thiệu.” Giáo sư Thế nhận xét: ông Hương có lập trường chống cộng triệt để nhưng ông cũng là một người yêu nước chân chính để vì đại cuộc mà bỏ qua mâu thuẩn cá nhân.

Liên danh với ông Thiệu

Năm 1971, ông Hương đứng chung liên danh với ông Nguyễn Văn Thiệu ứng cử và đắc cử chức vụ Phó tổng thống. Ông Hương rất liêm chính nên những kẻ tham nhũng rất sợ ông, miền Trung bị lụt ông tới ngay để thăm dân và cứu trợ, trong chiến dịch Hạ Lào khi Hoa Kỳ thất hứa không trợ giúp không quân cho miền Nam ông họp báo chỉ trích Mỹ…

Báo chí đặt cho ông danh hiệu “Cụ Già Gân” còn dân chúng miền Nam trân quý kêu ông bằng “Cụ Hương” vì là văn viết nên tôi xin phép gọi bằng ông Hương. Trong việc điều hành đất nước ông Hương rất gắn bó với ông Nguyễn văn Thiệu cho đến khi ông Thiệu từ chức dựa trên Hiến Pháp chính thức trao quyền Tổng thống cho ông.

Từ chức tổng thống…

Trong bài diễn văn trước Lưỡng Viện Quốc Hội ngày 26/4/1975, Tổng Thống Trần Văn Hương cho biết đã tiếp xúc với Đại tướng Dương Văn Minh để mời ông Minh đảm nhiệm chức vụ Thủ Tướng, nhưng ông Minh không chịu mà đòi phải nhường cho ông Minh chức Tổng thống. Ông trả lời ông Minh là không thể trao quyền cho ông ấy vì còn có Quốc Hội và phải tuân theo Hiến Pháp vì thế ông cho Quốc Hội biết để mọi người bàn tính và quyết định.

Ngay ngày hôm sau Quốc Hội họp, đồng ý sửa lại Hiến Pháp và trao quyền Tổng thống cho ông Dương Văn Minh để thương thuyết với phía cộng sản.Sang ngày 28/4/1975, ông Hương chính thức từ chức và trao quyền Tổng thống cho ông Dương Văn Minh.

Từ chối di tản…

Ngày 29/4/1975, Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin có đến nhà gặp ông Hương vừa để từ giã về nước, vừa để gởi lời Chính Phủ Hoa Kỳ mời ông Hương sang Mỹ lánh nạn, ông trả lời:

“Thưa Đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm, đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó.

“Nay ông Đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cám ơn ông Đại sứ, nhưng tôi đã suy nghĩ và quyết định dứt khoát ở lại nước tôi.

“Tôi cũng dư biết cộng sản sẽ vào Sài Gòn, bao nhiêu đau khổ nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam.

“Tôi là người lãnh đạo đứng hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia sẻ với họ phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nổi thống khổ của người dân mất nước.

“Cám ơn ông Đại sứ đã đến viếng tôi.”

Trước đó, Tòa Đại Sứ Pháp cũng ngỏ lời sẵn sàng đưa ông rời khỏi Việt Nam để đi Pháp.

Nước mất nhà tan

Theo Hồi ký của bà Phan Cẩm Anh vào tối ngày 30/4/1975 hai vợ chồng cháu ông Hương là đại úy Phan Hữu Cương và trung úy Trần Mai Hương (là bạn thân của bà Phan Cẩm Anh) đã uống thuốc ngủ tuẩn tiết ngay tại nhà ông Hương. Đại úy Phan Hữu Cương là cháu ruột kêu ông Hương bằng cậu và cũng là sĩ quan cận vệ cho ông Hương nên gia đình ở chung với ông Hương.

Họ để lại lời trăng trối: “…xin nhờ lòng tha thứ của cụ Hương và gia đình vì không thể sống khi đất nước rơi vào tay kẻ thù…”, người nhà phát hiện nhưng chỉ cứu được người vợ. Nghe tin buồn cháu tuẩn tiết ông Hương vào phòng đóng cửa im lặng, trầm mình trong nỗi đau của một người đã từng trên cương vị lãnh đạo đất nước, giờ đây bi phẩn chứng kiến cảnh quốc gia suy vong, gia đình tang chế, nỗi đau khổ của ông ở mức độ nào, chẳng ai trong nhà được ông hé môi thố lộ.

Từ chối “quyền công dân”

Theo hồi ký của Giáo sư Sử Địa Lâm Vĩnh Thế sau khi bỏ Việt Minh ông Hương lên Sài Gòn sống với gia đình bên vợ của ông Thế trong cả chục năm. Bà Phan Cẩm Anh cho biết khi ông Hương từ chức Thủ tướng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu biết ông không có nhà riêng nên tỏ ý muốn cấp cho ông một căn nhà.

Ông Hương chọn một căn biệt thự nhỏ và cũ nằm ở cuối con hẻm đường Phan Thanh Giản. Ông Thiệu muốn sửa lại căn nhà nhưng ông Hương không đồng ý vì không muốn tốn hao ngân sách quốc gia.

Ngày 28/4/1975 sau khi từ chức tổng thống, ông Hương dọn về ngôi nhà này, vách tường của ngôi nhà đã có nhiều chỗ nứt nẻ, nền nhà nhiều chỗ gạch vỡ tung lên, màu vôi đã trải qua nhiều năm tháng vàng uế không được trùng tu sơn quét. Giáo sư Lâm Vĩnh Thế cho biết sau Hội Nghị Hiệp Thương Thống Nhất Hai Miền Nam Bắc, nhà cầm quyền Hà Nội quyết định trao trả “quyền công dân” cho ông Hương tại ngôi nhà trước sự hiện diện của báo chí, các đài truyền thanh, truyền hình, nhằm tuyên truyền cho nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội. Bà Phan Cẩm Anh cho biết khi một cán bộ cộng sản đọc “chính sách khoan hồng và rộng lượng” của nhà nước đối với những “thành phần” như ông Hương, ông trả lời:

“Tôi xin phép từ chối, không nhận cái quyền công dân này vì dù gì tôi cũng là người lãnh đạo miền Nam, trong khi binh sĩ, nhân viên các cấp chỉ vì thừa lịnh của chúng tôi mà giờ đây vẫn còn bị giam cầm trong các trại cải tạo.

“Tôi sẽ là người sau cùng nhận cái quyền công dân này, sau khi binh sĩ và nhân viên của chúng tôi đã được thả và nhận lại quyền công dân.”

Những năm tháng cuối đời

Vì từ chối nhận “quyền công dân” ông Hương không được cấp hộ khẩu, không được cấp phiếu mua lương thực, mà còn bị quản thúc ba năm không được bước ra khỏi nhà. Ông Hương phải sống đạm bạc, thiếu thốn, ốm đau và cũng như những người miền Nam khác để có thể sống qua ngày ông phải bán dần đồ vật trong nhà từ bộ áo vest cũ đến những đồ kỷ niệm. Bà Trần Văn Văn và bạn bè từ Pháp gởi thuốc về giúp ông chữa trị, thuốc không dùng hết cũng được mang ra chợ trời thêm chút gạo bó rau cho gia đình.

Có lần ông Hương bị té xỉu phải đưa vào bịnh viện cấp cứu, khi tỉnh dậy thấy bịnh viện chỉ dành cho cán bộ cộng sản ông nhứt định đòi phải đưa ngay về nhà. Bà Phan Cẩm Anh bạn thân của cháu gái ông Hương có chồng là bác sĩ mới ra trường, khi biết ông Hương bệnh nặng cần người chăm sóc, ông chồng bác sĩ đã tình nguyện thường xuyên đến tận nhà để chăm sóc cho ông.

Nằm cạnh anh em binh sĩ

Tổng thống Trần văn Hương mất ngày 27/1/1982, gia đình nghèo đến độ không còn tiền mua hòm, người tài xế cũ của ông xin được phúng điếu chiếc quan tài, người chủ trại hòm ở Chợ Lớn, một người Việt gốc Hoa, nghe nói mua cho ông Tổng thống xin chỉ lấy nửa giá tiền của chiếc quan tài.  

Ông Hương có ước nguyện được chôn trong nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa để được nằm bên anh em binh sĩ nhưng không được cộng sản chấp nhận, nên người nhà đã quyết định hỏa táng ông tro cốt được rải trong khu vực. Hơn 40 năm qua người Việt quốc gia vẫn trân quý công ơn của ông, ở hải ngoại nhiều cộng đồng đến ngày ông mất đã cử hành lễ giỗ để tri ân một người đã một lòng một dạ xây dựng Việt Nam Cộng Hòa.

Người Việt quốc gia tiêu biểu

Ôn lại cuộc đời Tổng thống Trần Văn Hương làm tôi nhớ lại một định nghĩa được học giả Phạm Quỳnh viết trong bài “Đi tìm một chủ nghĩa Quốc Gia” xuất bản năm 1938:

“Một người theo chủ nghĩa quốc gia là một người hết lòng gắn bó với đất nước và nòi giống mình, có một ý thức cao về tình đoàn kết quốc gia và truyền thống lịch sử; là một người yêu nước, nhưng yêu nước không chỉ bằng tình cảm mà còn bằng lý trí, một người muốn nâng mức độ yêu nước của mình lên thành một chủ thuyết đạo đức và chính trị.”

Ông Hương quả là một mẫu người tiêu biểu theo chủ nghĩa quốc gia, ở miền Nam có không ít những người như ông, nhưng dường như họ đã thất bại xây dựng được một chủ thuyết về đạo đức và chính trị chung cho cả nước, để cuối cùng bị chủ nghĩa (quốc tế) cộng sản xóa nhòa.

Thế kỷ thứ 21, người Việt lại phải đối đầu với chủ nghĩa (quốc tế) toàn cầu mà mục tiêu cũng là xóa bỏ văn hóa, đạo lý, truyền thống dân tộc và xóa nhòa mọi nền tảng kinh tế, chính trị, xã hội và cả biên giới của mọi quốc gia.

Đã đến lúc người Việt cần tìm hiểu những điểm mạnh, điểm yếu, những thành công và thất bại của ông cha, để cùng nhau gìn giữ và phát triển những điều hay, lẽ phải, đồng thời bảo vệ được bờ cõi ông cha để lại.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi

24/4/2021

Ngày cuối cùng của chồng tôi

Phạm Thị Kim Hoàng
Chuyển Dịch: Nguyễn Minh

VNCTLS Ghi Chú: Bài viết Ngày Cuối Cùng Của Chồng Tôi là một phần hồi ký của bà quả phụ Phạm Thị Kim Hoàng, phu nhân của Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, và đã được Trần Thị Mỹ Ngọc và Larry Engelmann chuyển dịch sang Anh ngữ. Bài này ghi lại một số dữ kiện đã xảy ra vào những ngày gần cuối của cuộc chiến. Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam (Tư Lệnh Quân Ðoàn 4) và Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng (Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn) đã vạch định kế hoạch di tản lực lượng vào căn cứ bí mật để tiếp tục kháng cự lâu dài. Tuy nhiên, có một số việc không may đã xảy ra ngoài ý muốn, nên kế hoạch di tản đã không được thự hiện, và cuối cùng tướng Hưng đã tự sát vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Bài viết dưới đây đã được Nguyễn Minh chuyển dịch sang tiếng Việt từ ấn bản Anh ngữ The Final Days of My Husband’s Life.

Mùa Xuân năm 1975, chồng tôi đóng quân tại vùng châu thổ Cần Thơ, và là Phó Tư Lệnh Quân Ðoàn 4 dưới quyền của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam. Tháng 3 năm 1975 khi Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) tấn công Ban Mê Thuột thì tôi đang sống tại Biên Hòa. Chồng tôi khuyên tôi trong thời gian nguy hiểm như vậy thì nên chuyển các con xuống Quân Ðoàn 4. Ông nói quân Cộng Sản sẽ tấn công Quân Ðoàn 3 từ hướng Ban Mê Thuột xuống, và ông cho là Quân Ðoàn 3 sẽ không chống cự nổi. Vì thế tôi đã dọn nhà xuống Quân Ðoàn 4 sống cùng với chồng tôi. Chồng tôi cũng biết rằng sớm muộn chính phủ Mỹ sẽ bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Ông linh cảm được điều đó và không còn tin vào người Mỹ nữa.

Tôi có hai đứa con nhỏ sống với tôi ở Biên Hòa. Lúc đó chồng tôi nói nên mau xuống Quân Ðoàn 4 ngay vì Quốc Lộ 4 nối liền vùng châu thổ sông Cửu Long với Saigon sớm muộn gì cũng sẽ bị cắt đứt, vì Saigon với Biên Hòa sẽ rơi vào tay quân Cộng Sản là điều chắc chắn. Ngày 2 tháng 4 năm 1975, tôi rời Biên Hòa vào Cần Thơ bằng xe đò và cư ngụ tại một căn nhà gần Bộ Chỉ Huy Quân Ðoàn 4.

Khi Ban Mê Thuột thất thủ, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú (Tư Lệnh Quân Ðoàn 2) bị thất sủng. Cũng vào thời gian đó, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng (Tư Lệnh Quân Ðoàn 1) cũng đành bó tay mà không làm gì được. Về phía Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn (Tư Lệnh Quân Ðoàn 3) và Ðại Tướng Cao Văn Viên (Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Ðội) thì chồng tôi cũng không còn tin tưởng vào hai vị này.

Sau khi mất Quân Ðoàn 2, chồng tôi biết Saigon sẽ sụp đổ. Một số người kết luận rằng Saigon không thể chống cự nổi quân Cộng Sản, vì thế quân đội nên rút xuống Quân Ðoàn 4 để thiết lập một vòng đai để giữ trọn lãnh thổ còn lại, mà thật ra cũng sẽ chẳng giữ được bao lâu.

Tôi xin nói thật lòng với quý vị, vào năm 1975 những người miền Nam thật tâm và sẵn sàng chiến đấu chống quân Bắc Việt lại quá mỏng manh. Trong số rất ít những người đó là có thể đáng tin cậy để lãnh đạo cuộc chiến. Có một phần là tín đồ người Hòa Hảo chẳng hạn. Họ đến nói với chồng tôi và trình bày nguyện vọng khát khao của họ muốn chiến đấu chống Cộng Sản. Họ yêu cầu chồng tôi trang bị vũ khí và đạn dược. Tuy nhiên, chồng tôi không mấy tin tưởng vào những người này, và ông nghi ngờ biết đâu họ lại trở mặt đánh vào ông một khi ông đã cấp súng đạn cho họ chăng.

Hình chụp Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng cùng tổng thống và các sĩ quan cao cấp trong lần tổng thống đi thăm thị xã An Lộc sau trận chiến vào mùa hè năm 1972. Từ trái sang phải: Một sĩ quan không rõ tên, Ðại Tướng Cao Văn Viên, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, và Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. (HÌNH ẢNH: VNCTLS sưu tầm).

Thế rồi ngày 21 tháng 4 năm 1975, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức và trao quyền lại cho Phó Tổng Thống Trần Văn Hương. Tôi vẫn còn nhớ câu nói của ông Thiệu, “Mất một ông Thiệu, quân đội vẫn còn ba ông Thiệu khác, dân chúng vẫn còn có quân đội. Nguyễn Văn Thiệu tôi xin nguyện chiến đấu sát cánh cùng cắc đồng bào, chiến hữu…” Những lời tuyên bố của ông Thiệu đã làm rung động tôi rất nhiều. Nhưng rồi những lời nói đó trở thành vô nghĩa khi con người đó từng lãnh đạo quân đội và cầm quyền bộ máy chính quyền mình Nam lại cao bay xa chạy để tìm lấy chốn an toàn cho bản thân và gia đình mình, bỏ xa đồng bào, chiến hữu, bỏ xa xứ sở quê hương để tránh cho ông ta một cuộc tàn sát đẫm máu sắp sửa diễn ra trong những ngày cuối cuộc chiến. Tin tức về Quân Ðoàn 1, 2, và 3 đã mất về tay Cộng Sản bay đến Cần Thơ. Chúng tôi biết có những nơi không hề chạm súng với quân Cộng Sản nhưng vẫn bị thất thủ. Tuy vậy, cũng có một ít nơi đã chiến đấu dũng mãnh cho đến người lính cuối cùng. Nhưng cũng có nơi binh sĩ tự động buông súng bỏ chạy tìm lấy sự sống cho bản thân mình. Tổng Thống Thiệu, Thủ Tướng Khiêm, Ðại Tướng Viên cũng đã rời Việt Nam ra nước ngoài. Vậy thì có ai đứng lên để tiếp tục lãnh đạo cuộc chiến đây?

Khi nghe tin ông Thiệu từ chức thì chồng tôi nói rằng anh sẽ ở lại quê hương. Chồng tôi cũng biết là toàn bộ nội các của ông Thiệu đã bỏ ra nuớc ngoài, nhưng chồng tôi quyết định không làm như thế. Sau đó Tổng Thống Trần Văn Hương cũng từ chức, trao quyền lại cho Ðại Tướng Dương Văn Minh. Và chồng tôi cũng hiểu sẽ không có cuộc đàm phán nào xảy ra giữa hai miền nam bắc cả.

Trong khi Saigon và các vùng phụ cận đang nằm trong tình trạng hỗn loạn thì quân đội tại Quân Ðoàn 4 vẫn bình tĩnh chờ đợi những gì sẽ đến. Lý do mà Quân Ðoàn 4 vẫn yên ổn là do những người lãnh đạo như tướng Nguyễn Khoa Nam và chồng tôi vẫn còn giữ vững tinh thần chiến đấu. Vì thế các vị chỉ huy khác tại quân đoàn cũng sẵn sàng. Họ quyết định ở lại mà không bỏ đi đâu cả. Dĩ nhiên, cũng có một số ít đã tìm đường ra nước ngoài. Chân lý ở đâu cũng vậy mà thôi. Khi cao nguyên trung phần rơi vào tay Cộng Sản, bản thân tôi đã quyết định sẽ ở lại quê hương. Chồng tôi chưa bao giờ yêu cầu tôi bỏ chạy và cũng không hề buộc tôi phải rời bỏ quê hương. Tôi đã quyết định như vậy, thậm chí từ trước khi cuộc chiến đến hồi tàn. Tôi sẽ ở lại quê hương vì biết rằng chồng tôi cũng sẽ ở lại chiến đấu cho đến phút cuối. Số phận đã gắn liền chúng tôi với nhau như thế.

Trưa ngày 29 tháng 4 năm 1975, Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu và Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố trên đài phát thanh Saigon ra lệnh tất cả cơ quan Hoa Kỳ phải rút hết nhân viên ra khỏi Việt Nam trong vòng 24 giờ. Ðây cũng là lúc kế hoạch hành quân bí mật của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam và chồng tôi được hoàn thành. Trước vài giờ đồng hồ khi Saigon sụp đổ, tướng Nguyễn Hữu Hạnh lên thay tướng Vĩnh Lộc (đã rời Việt Nam) giữ chức tham mưu trưởng quân đội. Tướng Hạnh gọi nhiều cú điện thoại xuống Cần Thơ thuyết phục chồng tôi nên hợp tác với ông Minh. Tướng Hạnh cũng nhấn mạnh về quan niệm đời quân ngũ và tình bạn chiến đấu với nhau, và khuyên chồng tôi nên đầu hàng để tránh đổ máu. Nhưng chồng tôi đã nghi ngờ rằng đó là chiêu bài của ông Hạnh nhằm thăm dò xem hai vị tướng chỉ huy của Quân Ðoàn 4 như thế nào. Nhiều lần qua điện thoại, chồng tôi khẳng định là sẽ không hợp tác với ông Dương Văn Minh. Sẽ không có chuyện đầu hàng Cộng Sản, và họ sẽ chiến đấu đến cùng.

Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. (Nên nhớ ông Minh đã hai lần bội phản, lần đầu là trong cuộc đảo chánh năm 1963, và ra lệnh hạ sát hai anh em ông Ngô Ðình Diệm và Ngô Ðình Nhu). Ông Minh đã làm ô danh lịch sử chống Cộng của miền Nam, và tự hạ thấp giá trị bản thân mình để ký kết với Cộng Sản về lệnh đầu hàng vô điều kiện qua bản tuyên bố mà ông đọc trên đài phát thanh. Khi ông Minh tuyên bố đầu hàng, có một số binh sĩ nghe và họ đã bỏ hàng ngũ chiến đấu để về với vợ con, gia đình. Nhưng tôi vẫn còn nhớ đến những khuôn mặt đầm đìa nước mắt khi vừa nghe xong lời tuyên bố đầu hàng của ông Minh. Họ ôm lá cờ tổ quốc, tay nắm chặt khẩu súng mà khóc.

Lệnh đầu hàng đã được ban bố, yêu cầu Quân Ðoàn 4 với tướng Nam và chồng tôi phải đầu hàng. Ðó cũng là lúc kế hoạch rút quân tại Quân Ðoàn 4 bắt đầu. Tất cả đều quyết định ở lại với quân đoàn để chiến đấu. Thậm chí nếu Saigon sụp đổ, thì lực lượng còn lại của quân đoàn sẽ rút vào một căn cứ bí mật trong rừng của vùng châu thổ Cửu Long này. Kế hoạch đã được soạn thảo trước khi có lệnh đầu hàng của ông Minh. Tuy nhiên, để giữ bí mật hoàn toàn, chỉ có vài người trong bộ chỉ huy biết được kết hoạch mà thôi. Tướng Nam và chồng tôi vẫn tiếp tục giữ cương vị và nhiệm sở của mình tại quân đoàn và tiến hành kế hoạch lui quân bí mật này. Kế hoạch đã sẵn sàng, chỉ chờ giờ lên đường mà thôi. Lúc ấy tướng Nam và chồng tôi không bao giờ nghĩ đến việc phải nhận bất cứ một thứ gì viện trợ từ Mỹ nữa. Vì thế, hai vị chỉ huy này sẽ tiếp tục kế hoạch của mình và không bao giờ trông nhờ vào viện trợ gì cả. Tất cả đều sẽ tự lực cánh sinh. Trước đó, tướng Nam và chồng tôi đã 3 lần từ chối lời đề nghị của vị cố vấn Hoa Kỳ tại Quân Ðoàn 4 là hãy nên rời Việt Nam để ra nước ngoài. Cả hai người đều quyết định ở lại và chiến đấu đến cùng. Vị cố vấn Mỹ này vẫn cố gắng thuyết phục, nhưng không được, và ông đành rời Quân Ðoàn 4 mà lòng buồn bã rất nhiều.

Kế hoạch rút quân vào rừng đã chuẩn bị sẵn sàng. Vũ khí, đạn dược, và lương thực đã có đầy đủ. Tất cả đều chờ đợi giờ xuất phát do quân đội cầm đầu để tiến vào căn cứ mới. Kế hoạch lui binh được đặt mật danh là Linking Hands (nối vòng tay). Lúc đó, Quân Ðoàn 4 là một lực lượng chiến đấu mạnh mẽ, đủ sức tiếp tục đơn thân chống trả trong một thời gian dài. Cho đến ngày 29 tháng 4 năm 1975, không có một đơn vị nào của quân đội tại Quân Ðoàn 4 rơi vào tay Cộng Sản cả. Nhưng ở Cần Thơ, sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, dân chúng hoang mang và rúng động. Họ bắt đầu mất tinh thần khi nghe lời tuyên bố đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh, và cả những lời tuyên truyền của Cộng Sản trên đài phát thanh, thay vì tin tưởng và nhìn thấy hai vị tướng chỉ huy của Quân Ðoàn 4 vẫn còn đứng vững. Lúc đó, người thì quyết định tiếp tục chiến đấu. Kể thì khuyên nên buôn súng về nhà. Một số tội phạm và quân lao trốn trại ra ngoài cướp bóc tư gia của cố vấn Mỹ và các dinh thự giàu có. Họ bắn vào cả lực lượng cảnh sát và quân cảnh đang làm nhiệm vụ giữ trận tự an ninh cho thành phố. Tình trạng hỗn loạn vô chính phủ xảy ra, không còn ai giữ vững tinh thần nữa. Người lạc quan nhất giờ đây trở thành bi quan nhất. Có người vì quá thất vọng và khủng hoảng đã đập phá như một người điên.

Kế hoạch Linking Hands vẫn được giữ bí mật đến phút chót. Ngoài một vài sĩ quan thân cận và hai vị tướng tư-lệnh và phó tư-lện quân đoàn, những người dưới quyền còn lại thì không biết gì về kế hoạch này. Họ chờ xem hai vị chỉ huy của họ sẽ làm gì. Một bầu không khí nặng nề và ngờ vực xảy ra giữa vòng các sĩ quan và binh lính. Rồi kế hoạch rút quân vào căn cứ bí mật được bắt đầu phát lệnh vào trưa ngày 30 tháng 4/1975. Tuy nhiên, trước đó vài giờ chồng tôi đã ra lệnh triệt thoái quân đội cho một vị đại tá sĩ quan an-ninh của quân đoàn thực hiện. Nhưng vì sợ hãi nên vị đại tá này đã về với gia đình ông ta, sau đó bỏ ra nước ngoài mang theo tất cả mọi bí mật của cuộc hành quân này. Không ai biết, đột nhiên ông đại tá này biến mất không thấy trở lại, thế là quân đoàn tan rã, mạnh ai về nhà nấy. Lệnh rút quân bí mật đã được ban hành, nhưng khi tiếp xúc với những sĩ quan ở các đơn vị thì họ không hề biết kế hoạch sẽ thực hiện ra sao. Họ đang cầm quân thì đột nhiên họ được lệnh kéo quân số ra đi chỉ trong một buổi sáng. Khi đó, chúng tôi cố xác định vị trí mà vị đại tá kia nhận trách nhiệm đánh dấu trên bản đồ để đưa quân về căn cứ bí mật. Bây giờ thì chúng tôi đã biết vị đại tá kia đã phản bội và chạy ra nước ngoài. Tất cả kế hoạch hành quân và bản đồ đều mất theo ông ta.

Tướng Nam và chồng tôi vô cùng giận dữ, thất vọng và chán nản. Ngôn từ của tôi không thể nào diễn tả hết được tâm trạng của hai vị chỉ huy này. Tự bản thân tôi đến hôm nay chỉ có thể khóc được vì lúc đó tôi không thể làm gì hơn được để giúp chồng tôi, khi tôi nhớ lại những giọt nước mắt và khuôn mặt chán nản, đau khổ của chồng tôi, và biết rằng mọi kế hoạch anh ấy đặt ra đã tiêu tan. Trên khuôn mặt của chồng tôi hiện lên những đường gân máu, răng nghiến lại đau đớn. Tận bên trong trái tim của chồng tôi đang đau đớn đến cùng cực khi kế hoạch triệt thoái đã hỏng. Chồng tôi nhoài mình lên bàn làm việc. Kế hoạch rút quân đã được tính toán kỹ lưỡng đến thế mà nay là con số không vì một người phản bội, hèn nhát. Ngước đôi mắt buồn bã nhìn tôi, anh nói, “Chiến thắng là điều mà chúng ta đã luôn nhắm đến. Nhưng tại sao chúng ta lại cứ thất bại? Rồi thì em muốn anh làm gì đây?” Tôi trả lời, “Chúng ta sẽ ra đi. Các con của chúng ta cũng không muốn để chúng rơi vào tay Cộng Sản. Bây giờ em sẽ ở lại với anh. Em không thể bỏ anh trong giờ phút tuyệt vọng này.” Ðể có thể tránh được việc bị bắt vào tay kẻ thù, tôi bình tĩnh bàn bạc với chồng tôi kế hoạch của tôi là hy sinh các con của chúng tôi. Ðó là kết cuộc sau cùng của vợ chồng chúng tôi. Thật ra, chỉ có một thiểu số thành phần bi quan chỉ biết nghĩ về mình mà không còn tinh thần chiến đấu. Nhưng những gười còn lại đang gần gũi với chồng tôi và tướng Nam thì vẫn còn tin cậy được. Ho bày tỏ lòng sẵn sàng chiến đấu cùng với chồng tôi đến cuối cùng.

Quý vị cho phép tôi kể về điều này trước. Tướng Nam và chồng tôi đã lập ra kế hoạch hành quân bí mật này tại Bộ Chỉ Huy Quân Ðoàn. Chồng tôi chia khu vực này thành hai bộ phận. Bộ phận thứ nhất do tướng Nam chỉ huy về mặt quân đội. Bộ phận còn lại do chồng tôi chỉ huy thì sẽ như là một bộ phận quân đội thứ hai. Tại nơi này chồng tôi đã nói cho tôi biết về việc vị đại tá kia đã bỏ chạy và tất cả bản đồ và kế hoạch hành quân giờ đây đã bị mất. Ngay khi biết vị đại tá kia đã bỏ trốn, chồng tôi liền lập ra một kế hoạch khác để trình lên tướng Nam. Lúc 4 giờ 45 chiều ngày 30 tháng 4/1975, chồng tôi rời Bộ Chỉ Huy Quân Ðoàn và trở về văn phòng chỉ huy ở bộ phận thứ hai, nơi anh đang tạm đóng quân. Lý do là có tin đồn một thành phần gồm những người đại diện cho Cộng Sản đã đến xin đàm phán với tướng Nam về việc đầu hàng để tránh đổ máu, và yêu cầu giải toán quân đội tại Quân Ðoàn 4. Chồng tôi không đồng ý điều này. Anh không muốn đầu hàng và cũng không muốn chứng kiến cảnh tượng nhục nhã trong việc giải tán quân đội và giao chính quyền từ tay tướng Nam sang tay một viên thiếu tá Cộng Sản là ông Hoàng Văn Thạch.

Ðến 5 giờ 30 chiều, chồng tôi điện thoại cho Chuẩn Tướng Mạch Văn Trường, ra lệnh cho ông chuẩn bị hai đơn vị xe tăng đến bảo vệ Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh (BB). Sau đó anh ra lệnh cho các đơn vị trực thuộc đang đóng quân gần đó. Cùng thời gian ấy, dọc theo Quốc Lộ 4, đoạn đường từ Cai Lậy và Mỹ Tho đến Long An, quân đội đang giao tranh với quân Cộng Sản rất ác liệt. Trên tuyến đường này, các đơn vị thuộc Quân Ðoàn 4 đã tiếp tục chống trả cho đến ngày 2 tháng 5/1975 mới chấm dứt.

Lúc 6 giờ 30 chiều, chồng tôi triệu tập các sĩ quan còn lại vào một cuộc họp. Ðến khi cuộc họp sắp bắt đầu, khi các vị sĩ quan đã tề tựu đông đủ thì ở ngoài cổng văn phòng của chồng tôi có khoảng 10 người dân thành phố Cần Thơ đã đợi sẵn từ trước. Họ nhân danh là những người đại diện cho người dân Cần Thơ yêu cầu được gặp tướng Hưng. Họ có làm một bản kiến nghị như sau:

“Chúng tôi biết thiếu tướng sẽ không chấp nhận đầu hàng. Nhưng chúng tôi yêu cầu thiếu tướng đừng phản kháng. Vì nếu ông quyết chống lại thì quân Giải Phóng sẽ tấn công thành phố Cần Thơ này. Lúc đó Cần Thơ sẽ tan tành giống như tại An Lộc năm 1972 (năm 1972 tướng Hưng đã tử thủ tại thị xã An Lộc thành công). Vì vậy cho dù số phận quốc gia đã được an bài, xin thiếu tướng hãy vì sự sống của nhân dân chúng tôi mà bỏ đi tự kỷ của bản thân mình và tinh thần quyết chiến của thiếu tướng.” Họ cho rằng thà chấp nhận xấu hổ để được sống còn hơn là gánh chịu cảnh đổ máu, bắn giết trong cơn hấp hối.

Khi nghe những lời này, lòng tôi đau đớn lẫn khó chịu. Tôi cũng không ngạc nhiên về nhữnglời yêu cầu của người dân vì trước một tuần mới đây quân Cộng Sản đã pháo kích nặng nề vào Chi Khu Cần Ðôi, gây thương vong và mất mát lớn cho quân đội và dân chúng. Người dân Cần Thơ bây giờ cũng đang lo sợ nỗi-sợ ấy sẽ xảy đến cho họ. Chồng tôi tỏ ra lạnh lùng khi nghe những lời kiến nghị trên. Mất một lúc khá lâu anh ấy mới ráng gượng một nụ cười và trả lờ, “Xin quý vị hãy bình tĩnh, tôi sẽ cố gắng làm hết sức mình để giảm thiểu khả năng thương vong và mất mát cho quý vị.”

Khi những người dân ra về, chồng tôi gọi tôi lại và nói, “Em có nhớ câu chuyện của ông Phan Thanh Giản không? Khi ba tỉnh miền đông nam phần bị Pháp thôn tính, ông này đã cúi mình giao nộp luôn ba tỉnh miền tây luôn cho Pháp chỉ vì muốn chiều lòng dân. Ông ta không thể mang chính mạng sống của ông ấy ra để để đổi lấy sự an toàn cho dân chúng để tránh một cuộc đổ máu, cũng không thể tự mình đánh mất giá trị bản thân mình mà đầu hàng quân Pháp, vì hành động đó mà ông phải gánh lấy sự sỉ nhục của quê hương và đối với quân đội triều đình nước Nam. Thế rồi ông bỏ đi về nhà và uống thuốc độc tự tử. Anh cũng vậy, anh thà chết chứ không chịu để tay mình bị trói mà nhìn quân xâm lược Cộng Sản vào đây.”

Vì người dân thành phố Cần Thơ đã đến yêu cầu chồng tôi để nói lên nguyện vọng của họ là thay mặt người dân thành phố, vì thế chồng tôi không thể từ chối họ được. Họ tự làm điều đó là vì họ thay mặt người dân chứ không phải đại diện cho Cộng Sản đến đàm phán với chồng tôi. Họ nói lên nguyện vọng của người dân, nên chồng tôi không muốn gây tổn hại cho họ và do đó anh ấy đã quyết định tôn trọng lời thỉnh cầu của người dân.

Lúc 6 giờ 45 tối, tướng Nam điện thoại cho chồng tôi để kiểm tra tình hình các khu vực chung quanh. Chồng tôi đã kể lại cho tướng Nam nghe về vụ người dân Cần Thơ đến kiến nghị mình. Chồng tôi cũng thông báo cho tướng Nam biết về một mật lệnh quan trọng mới nhất sẽ được giao cho một người thân tín để ban hành. Tướng Nam cũng cho chồng tôi biết là ông sẽ thu thanh một thông điệp để gửi đến người dân thành phố, và sẽ đươc phát trên đài phát thanh. Nhưng chỉ hơn một giờ thì đài phát thanh Cần Thơi đã bị Cộng Sản chiếm. Ông giám đốc đài phát thanh bị khống chế bởi Thiếu Tá Cộng Sản Hoàng Văn Thạch. Thay vì phát đi thông điệp của tướng Nam, thì người dân nghe được lời tuyên bố của Cộng Sản trên đài phát thanh trước. Sau đó thì mới cho phát lời kêu gọi của tướng Nam, nhưng đã quá muộn màng.

Thật không thể tin nổi sự thất vọng và sụp đổ của người dân và binh lính. Thế là mạnh ai người nấy bỏ hàng ngũ chạy. Chồng tôi lo lắng, nỗi lo về sự an toàn của vợ con mình. Anh ấy bảo tôi bây giờ thì tôi muốn làm gì thì làm đi. Tận trong trái tim thật lòng tôi quyết định rằng, nếu chồng tôi và quân đội co rút lui vào căn cứ bí mật trong rừng thì tôi và các con sẽ không đi theo anh ấy. Tôi sẽ tự tay mình giết các con cuả tôi để chồng tôi không phải bận tâm về chúng mà làm ảnh hưởng đến tin thần chiến đấu.

Lý do mà tôi muốn làm vì biết rằng trong thời gian đoàn quân đang rút vào rừng, như vậy việc chiến đấu với quân Cộng Sản chắc chắn là điều sẽ không tránh khỏi. Bởi vậy ngay khi đoàn quân được bố trí đến những chỗ được thiết lập bắt đầu từ tháng 3/1975 cho đến ngày triệt thoái, ngay lúc ấy tôi sẽ giải quyết mạng sống của các con tôi. Làm cách này thì chồng tôi sẽ không bị xao nhãng trách nhiệm và nhiệm vụ của anh ấy để bảo vệ đất nước. Tôi không muốn chúng ta chất thêm gánh nặng trên chồng tôi nữa.

Tôi là một tín đồ Công Giáo. Tôi cũng biết đạo Công Giáo cấm giết người. Nhưng phải biết rằng cũng có những ngoại lệ, chẳng hạn giết người vì chính nghĩa quốc gia, giết người vì một quân đội.

Tấm hình chụp vào ngày 4 tháng 2 năm 1975, một số binh sĩ VNCH đang án ngữ trên Quốc Lộ 20, đoạn đường từ Saigon đi Bảo Lộc. Vào tháng 2/1975, tuy tình hình chiến sự của Việt Nam Cộng Hòa đã khá đen tối, nhưng các lực lượng VNCH vẫn tiếp tục chống trả dữ dội tuy rằng họ không còn nhận được thêm bất cứ sự giúp đỡ gì khác từ Hoa Kỳ. Ðến tháng 4 /1975, Trung Tướng Nguyễn Khoa Nam (tư lệnh Quân Ðoàn 4) và Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng (tư lệnh phó quân đoàn) đã có kế hoạch rút quân vào căn cứ bí mật tại miền Nam để tiếp tục kháng cự. Tuy nhiên vì một số yếu tố đã xảy ra ngoài dự định nên cuối cùng kế hoạch đã không thành. Cuối tháng 4 năm 1975, ngày 30 Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng tự sát, và Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam cũng kết liễu đời mình vào sáng ngày hôm sau, 1 tháng 5 năm 1975. Họ là một trong số những tướng lãnh trong quân đội đã tự sát vào những ngày cuối cuộc chiến. Ðối với đa số người dân Việt Nam, hai vị tướng Hưng và Nam là biểu tượng cho những hình ảnh trong sạch và hào hùng nhất của Việt Nam Cộng Hòa.

Tôi không thay đổi ý định sẽ giết các con mình rồi tự sát. Nhưng lúc xảy ra kết hoạch rút quân vào rừng của chồng tôi sụp đổ thì chồng tôi đã nghĩ đến việc tự sát. Tôi muốn chết chung với anh ấy. Cả con chúng tôi sẽ cùng chết với anh ấy. Mới đầu thì tôi dấu ý định giết các con rồi sẽ chết với con mình cho chồng tôi hay. Nhưng khi kế hoạch rút quân bị sụp đổ thì chồng tôi đã có ý định tự sát. Giờ thì tôi mới bàn với chồng tôi ý định cả nhà chúng tôi sẽ cùng chết. Nhưng anh ấy bác bỏ ý định của tôi. Anh không muốn tôi làm như thế. Thật ra thì mới đầu chồng tôi đồng ý, nhưng về sau anh ấy thay đổi ý định của tôi. Tôi định là sẽ tiêm thuốc ngủ cho các con mình rồi tôi sẽ tự tiêm cho tôi, còn chồng tôi thì tự sát bằng súng. Nhưng khi giờ đã đến, chồng tôi không muốn mẹ con chúng tôi phải chết, mà chỉ có mình anh ấy thực hiện ý định này mà thôi.

Lúc 7 giờ tối, chồng tôi gọi tôi lên văn phòng. Chỉ có vợ chồng chúng tôi mà thôi. Anh kiểm lại tất cả mọi sự việc thất bại diễn ra từ chiều cho tới tối, rồi nhìn tôi với đôi mắt đầy uất ức. Anh ấy nói với tôi thật chậm rãi và rất nghiêm trọng rằng anh ấy sẽ tự sát. Chồng tôi nói:

– Em phải sống để nuôi dạy các con.”

Tôi sợ hãi và kêu lên:

– Ôi anh ơi, sao anh lại thay đổi ý định như vậy?

– Các con chúng ta vô tội. Anh không bao giờ bắt chúng chết vì anh.

– Nhưng chúng ta không thể đế chúng sống chung với Cộng Sản được. Em sẽ làm việc đó thay cho anh. Em sẽ tiêm cho chúng một liều thuốc ngủ cực mạnh là đủ. Chỉ trong chốc lát chúng ta sẽ cùng chết chung với nhau.”

– Không thể như vậy được. Cha mẹ không thể giết con cái mình. Hoàng ơi, anh xin em hãy gắng chịu đựng nỗi nhục này. Em phải sống để thay anh nuôi dạy các con trở thành người tốt. Em phải cố gắng sống, dùng phải cam chịu cúi đầu mang nỗi nhục đắng cay.

– Nhưng nếu đây là vì con, vì tình yêu của anh cho các con, thì tại sao chúng ta không ra nước ngoài như những người khác?

Chồng tôi nhíu mắt lại với cái nhìn giận dữ, rồi nói:

– Em là vợ anh mà nói những lời như thế ư?

– Xin anh tha lỗi cho em. Ðó chỉ vì em rất yêu anh nên mới nói vậy thôi.

– Em hãy nghe đây. Người khác có thể bỏ chạy khỏi nơi này. Nhưng anh thì không bao giờ chạy. Có hàng ngàn quân nhân dưới quyền anh đã cùng sống, cùng chết với anh, vậy thì giờ đây làm sao anh có thể bỏ rơi họ để đi tìm sự sống cho chính anh? Anh sẽ không đầu hàng. Bây giờ đã quá muộn để rút lui quân đội vào nơi bí mật vì chúng ta không có sự cung cấp súng đạn, quân như, lương thực. Vì thế chúng ta sẽ không thể chống lại Cộng Sản lâu dài được. Ðã muộn quá rồi. Tiếp tục chiến đấu bây giờ sẽ mang lại rắc rối và mất mát thêm, không chỉ riêng cho gia đình chúng ta mà còn làm ảnh hưởng đến gia đình anh em binh sĩ và thường dân nữa. Miễn là anh không nhìn thấy cảnh quân Cộng Sản vào đây.

Tôi bối rối hỏi chồng tôi:

– Còn mẹ thì sao? Em phải làm sao đây?

Chồng tôi nắm chặt lấy tay tôi nói:

– Hôn nhân của chúng ta đã được đầy trọn tình yêu và sự trân trọng, và nói khiến cho anh và em hiểu nhau nhiều hơn. Xin em hãy cố chịu đựng, cho dù em phải cam chịu nhiều nhục nhã và thất vọng. Cứ đóng kịch mà sống. Hãy thay đổi chính bản thân em để tồn tại mà sống nuôi con. Anh tin em, cho chính anh, cho con chúng ta, cho tình yêu đất nước mà em phải gánh lấy. Em phải nghe lời anh! Anh xin em.

Tôi không còn nói gì được trước cái nhìn cứng rắn và những lời tâm huyết của anh ấy.

– Vâng, em sẽ nghe lời anh.

Dường như sợ rằng tôi sẽ đổi ý, anh tiếp tục nhắc lại với tôi lần nữa.

– Em hứa với anh là em sẽ nghe theo lời anh.

– Dạ, em hứa với anh. Nhưng phải cho em hai điều kiện. Nếu bọn Cộng Sản làm cho em phải xa lìa các con, và nếu chúng cưỡng đoạt em thì em có quyền hy sinh đời em không?

Chồng tôi suy nghĩ một chốc và gật đầu đồng ý.

Anh ấy đứng lên ôm lấy tôi rồi bật khóc. Khi mẹ và các con vào văn phòng gặp chồng tôi, anh ấy nói lời tạm biệt mẹ và các con rồi ôm hôn các con. Chồng tôi giải thích cho mẹ lý do tại sao anh ấy phải chết, còn tôi thì phải sống. Kế đến, tôi vâng lệnh chồng tôi cho mời tất cả các sĩ quan và binh sĩ có mặt trong văn phòng lúc đó đến gặp chồng tôi. Bầu không khí như đọng lại. Ðây là thời khắc để nói lời vĩnh biệt giữa sự sống và cái chết, giữa những con người đã từng chiến đấu bên nhau hàng nhiều năm liền. Chồng tôi nói rằng không có chỉ thị mới, cũng chẳng có rút quân vào nơi bí mật nào để chiến đấu nữa cả. Cuộc chiến của chúng ta giờ đây đã kết thúc. Anh nói:

– Tôi không bỏ rơi các chiến hữu để chạy tìm lấy cho vợ con tôi một chỗ ra nước ngoài. Các chiến hữu biết đó, cuộc hành quân đã thất bại giữa chừng, và tôi đã không tử thủ bởi vì dân chúng ở đây không muốn. Tôi không chịu được sự đầu hàng nhục nhã. Các chiến hữu đã từng sát cánh bên tôi, khi các bạn làm điều gì sai, tôi trách mắng. Khi tôi trách mắng không phải vì tôi căm ghét, mà vì tôi muốn chúng ta cùng hiệu tác để giúp đỡ lẫn nhau. Hôm nay, mặc dù đất nước chúng ta đã bị mất hết, nhưng tôi không trách các chiến hữu. Có trách là trách những người trực tiếp cầm giữ số phận quốc gia trong tay lại đã cam chịu đầu hàng Cộng Sản. Xin các chiến hữu tha thứ cho tôi nếu tôi là một trong những kẻ đó. Tôi chấp nhận cái chết. Một người chỉ huy mà không thể bảo vệ đất nước mình, không chu toàn vị trí của mình, người ấy phải chết ngay tại vị trí cho đất nước của mình. Sau khi tôi chết, các chiến hữu hãy trở về với gia đình, vợ con. Hãy nhớ rõ lời cảnh cáo cuối cùng của tôi: Các bạn đừng để cho Cộng Sản bắt các bạn vào những trại tập trung dưới bất cứ chiêu bài gì. Xin vĩnh biệt các chiến hữu.

Chồng tôi chào và bắt tay từng chiến hữu một. Khi chồng tôi đến gần Thiếu Tá Phương và Ðại Úy Nghĩa, anh nói:

– Xin các anh giúp đỡ vợ con tôi. Vĩnh biệt.

Tất cả mọi người đứng lặng im, chẳng ai nói nổi một lời. Mẹ tôi nhào tới chồng tôi và xin được chết cùng với con. Chồng tôi an ủi bà và khuyên bà phải sống để trông nom các cháu. Rồi chồng tôi ra lệnh cho mọi người giải tán. Nhưng chẳng ai đi cả, khiến chồng tôi phải đẩy từng người một ra về.

Tôi khẩn khoản với chồng mình, “Anh ơi, xin để em chứng kiến sự ra đi của anh.” Nhưng chồng tôi từ chối. Khi Ðại Úy Nghĩa đi khỏi, chồng tôi quay lại văn phòng của anh ấy, khóa cửa, và tôi nghe một phát súng nổ lớn thoát ra từ khe cửa. Một tiếng nổ làm tôi giật nảy mình.

Lúc đó là 8 giờ 45 tối ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày cuối cùng của cuộc chiến Việt Nam, và cũng là ngày cuối của chồng tôi. Có ai đó nói, “Tướng Hưng đã chết.” Còn tôi, tôi biết rằng chồng tôi đã không còn nữa.

Khi tôi vào phòng, nhìn thấy chồng tôi nằm ngang trên giường. Toàn thân run rẩy, giật giật. Ðôi mắt mở trừng đầy giận dữ, miệng há ra mấp máy. Tôi nhào tới ôm lấy xác anh, quì bên giường và ghé sát lỗ tai tôi nơi miệng anh liên hồi gào lên, “Anh yêu ơi, anh yêu ơi! Anh muốn nói gì với em phải không?” Nhưng anh ấy không còn nói gì với tôi được nữa. tôi ôm chồng tôi trong tay. Anh ấy đã chết rồi.

Hình chụp vào mùa hè năm 1972 tại Bộ Chỉ Huy Mặt Trận Bình Long. Người ngồi bên trái là Trung Tướng Trần Văn Minh (Tư Lệnh Quân Ðoàn 3), ngồi giữa là Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, và hai người ngồi bên phải là Ðại Tá Lê Quang Lưỡng (người chỉ huy cuộc hành quân của Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù vào giải tỏa An Lộc) và Ðại Tá Trần Văn Nhựt (Tỉnh Trưởng Tỉnh Bình Long). (HÌNH ẢNH: VNCTLS sưu tầm).

Tướng Nam không hề biết tin chồng tôi đã tự sát. Tôi có liên lạc với ông bằng vô tuyến nhưng không được vì tần số của ông đã bị nhiễu sóng bởi đài phát thanh của Việt Cộng. Tôi không biết lúc đó tướng Nam đang ở đâu. Tôi thật sự không biết. Tôi có gọi cho ông bằng vô tuyến và gắng hết sức định vi tần số nơi tôi có thể liên lạc được với ông. Có lẽ ông ấy ở cách chỗ tôi khoảng một dặm hoặc hơn, vì chồng tôi không nói cũng không để lại tin nhắn nào cho tôi để tôi có thể nối liên lạc với tướng Nam. Và anh cũng không thông báo cho ông ta biết về cái chết sắp đến của anh ấy. Nhưng tôi chỉ muốn báo cho tướng Nam biết chồng tôi đã chết.

Chồng tôi không nói cho tướng Nam về việc anh ấy tự sát bởi vì lúc đó trong suốt ngày 30 tháng 4 có mấy cuộc tiếp xúc giữa họ nhưng cho đến cuối ngày thì họ mất liên lạc với nhau, và chồng tôi không thể liên lạc được với tướng Nam nữa. Cho đến khi quân Cộng Sản tràn vào Cần Thơ thì chồng tôi mới tự sát.

Khoảng một giờ sáng ngày 1 tháng 5 năm 1975, tiếng chuông điện thoại vang lên. Lần này thì đúng là tuớng Nam gọi đến.

– A lô, xin chào chị Hưng.

Tôi bật khóc khi nghe tiếng của ông:

– Chào trung tướng.

Giọng nói của tướng Nam đầy nỗi buồn:

– Tôi đã nghe tin xảy ra với thiếu tướng. Tôi xin chia buồn cùng chị, chị Hưng ạ.

Tôi khóc nức nở hơn. Tôi hỏi ông ấy kế hoạch sắp tới của ông là gì. Tôi nghe ông ấy bày tỏ tâm nguyện của ông qua điện thoại mà những lời đó cho đến hôm nay tôi không hề quên được. Tướng Nam nói:

– Số phận của cuộc chiến này thật khốn nạn! Chị Hưng ơi, chồng chị và tôi đã hoạch định mọi thứ rất suôn sẻ, thậm chí đến từng chi tiết, nhưng cuối cùng đã bị phản bội. Thật là…

Giọng nói của tướng Nam chùng xuống đầy nỗi đau:

– Thiếu tướng đã chết, chắc tôi cũng chết thôi. Chúng tôi là những người chỉ huy. Nếu chúng tôi không thể bảo vệ được tổ quốc thì chúng tôi phải chết vì tổ quốc.”

Thế rồi giọng của ông trở nên bình tĩnh và cương quyết:

– Hãy dũng cảm lên, chị Hưng ơi. Chị phải sống vì các con của chị. Nếu tình hình có gì xấu và nguy hiểm thi hãy gọi ngay cho tôi.

– Xin cảm ơn trung tuớng.

Sau khi điện đàm với tướng Nam, tôi đi ra ngoài hành lang và nhìn xuống sân. Các sĩ quan và anh em binh sĩ đã đi khỏi. Cổng trại thì mở. Một cơn gió ùa vào qua cửa sổ gây nên những âm thanh nghe buồn bã làm sao. Tôi đứng đó và khóc một hồi lâu.

Bảy giờ sáng hôm sau, khi tôi cầu nguyện cho linh hồn chồng tôi vừa xong thì nghe có tiếng khóc nức nở của ai đó phía sau mình. Tôi quay lại thì nhận ra đó là Trung Tá Tùng, giám đốc bệnh viện quân đội Cần Thơ. Ông ta đến viếng xác chồng tôi lần cuối. Ông nói với tôi rằng ông phải quay trở lại bệnh viện ngay bởi vì tướng Nam cũng vừa mới tự sát. Xác của ông ấy đang còn trong bệnh viện. Tướng Nam đã tự kết thúc cuộc đời mình bằng một phát súng lúc 6 giờ sáng ngày 1 tháng 5 năm 1975.

Sau cuộc điện đàm với tướng Nam, tôi có linh cảm sẽ có chuyện đó xảy ra, và tướng Nam đã tự sát. Tuy vậy, cho đến khi Trung Tá Tùng báo tinh này thì tôi vẫn xúc động như thường. Tôi quì xuống, hướng mặt về bệnh viện quân đội nơi đang quàng xác của tướng Nam mà cầu nguyện cho linh hồn ông.

Người dân Cần Thơ biết mặt tôi và họ sẽ chỉ điểm tôi cho Cộng Sản. Vì thế tôi phải rời Cần Thơ ngay vào ngày 2 tháng 5 để lên Saigon lánh nạn cùng với các con. Tôi ở lại nhà của một vị thiếu tá quen biết với chồng tôi chỉ một đêm, rồi phải đi tìm mội nơi khác để sống, vì chẳng có ai cho tôi ở mãi trong nhà của họ khi chính họ cũng sợ hãi. Và tôi cũng sợ cho họ nếu chẳng may tôi mang lại liên lụy cho họ chăng.

Suốt những năm sau đó ở Saigon, tôi phải thay đổi nơi cư trú không biết bao nhiêu lần cho đến ngày tôi rời tổ quốc vào tháng 9 năm 1981. Tại sao có ít người sẵn lòng giúp đỡ tôi cho dù biết rằng chồng tôi là một anh hùng. Quí vị có sống trong một xã hội Cộng Sản thì mới hiểu được điều đó. Làm sao họ có thể giúp tôi mãi được. Nếu họ cứ giúp tôi mãi thì cuối cùng họ cũng sẽ chết. Họ sẽ bị liệt vào danh sách đen của chánh quyền. Họ sẽ bị trừng phạt. Vì thế tôi phải luôn di chuyển chỗ ở là vậy.

Hầu hết phần lớn thời gian các con tôi đều sống bên cạnh tôi. Nhưng bất cứ khi nào Cộng Sản “đánh hơi” được chúng tôi thì tôi gửi các con cho mẹ tôi chăm sóc chúng cho đến khi nào mọi chuyện đã lắng xuống thì tôi lại đón các con về sống bên tôi. Tôi ít nhận được sự giúp đỡ vì rất ít người Saigon biết tôi là vợ của tướng Hưng. Tôi dấu kín việc này với mọi người. Suốt từ năm 1975 đến 1981 tôi đã không còn ý định tự tử nữa. Nhưng nếu tôi bị Cộng Sản bắt được thì tôi sẽ tự tử ngay. Tôi sẵn sàng chết trong một tư thế dũng cảm, không để bị tra tấn cũng không để bị mất mặt, cũng không để làm tổn thương đến danh dự của chồng tôi.

Suốt thời gian đó, ai có hạnh phúc chứ tôi thì không. Ai có thể sống hạnh phúc được dưới chế độ Cộng Sản? Vào những năm đầu sau khi chiến tranh kết thúc, mọi hy vọng của tôi vẫn còn và tôi vẫn hy vọng sẽ có một ngày quay trở lại, một sự trở lại như ngày trước vì có những tin đồn về những cuộc kháng chiến đâu đó vẫn xảy ra. Tôi không bao giờ nghĩ rằng mình phải lìa bỏ tổ quốc. Tôi vẫn còn hy vọng và nghĩ rằng một ngày nào đó Cộng Sản sẽ bị đánh bật ra khỏi miền Nam này.

Tuy nhiên, thời gian trôi đi tôi nhận ra rằng tình hình thuận lợi đối với người dân miền Nam chúng tôi không dễ dàng như tôi tưởng. Tôi quyết định chỉ có một con đường duy nhất có thể làm được mọi sự cho tổ quốc là vượt biển, rời bỏ quê hương ra nước ngoài, nơi đó tôi mới có thể thích nghi được tình trạng của tôi mà thôi. Chẳng có cách nào khác để tôi có thể trở thành một người hành động tích cực cho Việt Nam vì điều này đã theo tôi như hình với bóng. Nó gần gũi với tôi cả ngày lẫn đêm.

Khi chồng tôi còn sống, anh ấy không bao giờ nói với tôi chuyện rời bỏ quê hương, và cũng không hề có ý tưởng chạy ra nước ngoài. Nhưng bây giờ trong giấc mơ của tôi mỗi đêm, tôi lại thấy chồng tôi như trở về với tôi nói rằng Cộng Sản đang đến gần và tôi sẽ phải chạy trốn nữa. Cứ như thế mà anh ấy đã cứu mạng mẹ con chúng tôi nhiều lần. Cuối cùng thì tôi đã rời Việt Nam vượt biển trên một chiếc thuyền. Sau đó tôi và hai đứa con đã sống trong trại tị nạn 11 tháng trên đất Phi Luật Tân (Philippines). Sau đó chúng tôi được định cư tại Hoa Kỳ.

Ngoài sự tự do có được, tôi muốn tạo lập một cuộc sống mới cho các con tôi, và nuôi dạy chúng lớn lên tiếp tục noi theo con đường của cha mình. Tôi đã cố gắng thực hiện điều như tôi đã hứa với chồng tôi trước khi anh ấy mất. Lúc nào tôi cũng nghĩ về Việt Nam. Chắc chắn như thế. Việt Nam luôn ở trong tâm trí tôi. Vâng, đúng như vậy, tôi luôn mơ sẽ có một ngày trở về lại quê hương, và các con tôi sẽ còn nhớ về người cha của chúng.

Tướng Lê Văn Hưng và Nguyễn Khoa Nam đã chết. Nhưng tinh thần và tấm gương anh hùng của họ vẫn không chết. Tôi luôn nhớ đến và tôn vinh họ.

Phạm Thị Kim Hoàng

Lá cờ Việt Nam Cộng Hoà

Chuẩn bị cho ngày trọng đại.

Vá cờ

Hồn thiêng sông núi.

Cho một người nằm xuống

Cố Trung Uý Thuỷ Quân Lục Chiến Cao Xuân Huy, tác giả Tháng Ba Gãy Súng

Đám tang Trung Uý Thuỷ Quân Lục Chiến Cao Xuân Huy

Hình ảnh cựu Trung Úy Hoàng Như Bá nguyên Trưởng Toán Biệt Kích Lôi Hổ Nha Kỹ Thuật (75 tuổi), quỳ trao Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa cho Bà Quả Phụ Cố Trung Tá Bùi Văn Thiện Nguyên Chỉ Huy Trưởng Đoàn Công Tác 71 và cũng là cựu Trưởng Toán Biệt Kích Strata 111 Xâm Nhập Bắc Việt năm 1967. 

Nghi Lễ Phủ Quốc Kỳ được cử hành trọng thể tại thành phố Abilene (ngoại ô Dallas) Tiểu bang Texas, Hoa Kỳ vào ngày 25 tháng 11 năm 2017.

Dưới sự chứng kiến của Linh Mục Tuyên Úy QLVNCH.

Anzac Day Melbourne 2017

Anzac Day Melbourne 2017

Biểu tình chống Trung Quốc đưa giàn khoan vào Việt Nam, Melbourne 2014

Biểu tình chống Trung Quốc đưa giàn khoan vào Việt Nam, Melbourne 2014

Biểu tình chống Trung Quốc đưa giàn khoan vào Việt Nam, Melbourne 2014

Anzac Day Melbourne 2017

Anzac Day Melbourne 2017

Khách Nhật Bản đội nón, trồng cây ở ngoại thành Sài Gòn

Thanh Tuyết

VN Express

Thứ tư, 2/8/2017, 02:05 (GMT+7)

Du khách tham gia trồng cây ở khu vực rừng phòng hộ huyện Cần Giờ, TP HCM là hoạt động du lịch vì cộng đồng được tổ chức thường xuyên.

Sau khi thăm viếng khu dự trữ sinh quyển, nghe thuyết minh về Cần Giờ, du khách di chuyển tới khu vực trồng rừng, được phân chia sẵn cây con và dụng cụ.

Dưới sự hướng dẫn của Ban quản trị rừng phòng hộ Cần Giờ và hướng dẫn viên, du khách thực hiện trồng cây con theo hàng, đảm bảo đúng khoảng cách.

Nhiều du khách Nhật Bản thích thú với hoạt động du lịch vì cộng đồng, góp phần nâng cao môi trường sinh thái.

Nằm ở phía đông nam, cách trung tâm thành phố tầm 60 km, huyện Cần Giờ có đường bờ biển dài hơn 13 km với hệ thống sông rạch chằng chịt, hệ sinh thái rừng ngập mặn được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Hoạt động du lịch sinh thái ở đây thu hút nhiều đoàn khách quốc tế.

Năm 2016, Cần Giờ đón một triệu lượt du khách với tổng doanh thu du lịch đạt khoảng 400 tỷ đồng. 

Tour vì cộng đồng thường được các đoàn khách ngoại quốc đặt trước, được thăm viếng và tìm hiểu về sinh thái, tham gia dọn rác, trồng cây, trải nghiệm làng nghề… Đại diện Fiditour, một trong các đơn vị thường xuyên tổ chức tour vì cộng đồng cho biết việc điều hành tour này đòi hỏi yêu cầu cao hơn các tour thông thường. Đơn vị lữ hành phải sắp xếp các hoạt động sao cho đúng thực chất vì cộng đồng và nhu cầu của nhiều đoàn khách khá “khó tính”. 

Sau khi trồng cây, du khách thưởng thức các đặc sản nổi bật của vùng Cần Giờ như ốc len xào dừa, cá thòi lòi nướng.

Hay gỏi lá lìm kìm cũng khiến nhiều du khách tò mò. Lá lìm kìm là loại dây leo, thân mềm và nhỏ. Dây lá lìm kìm thường sống len lỏi giữa các bụi cây thấp hay bờ rào. Người dân hái lá lìm kìm xanh non nhặt bỏ phần cuống, rửa sạch vớt ra rổ để cho ráo nước và trộn với cá khô. Gỏi ngon hay không phụ thuộc vào cách làm nước mắm trộn gỏi. Lá có vị chua chua và hơi chát nên nước mắm pha ngọt một chút để món ăn tròn vị.

Cung đường phủ tuyết gần Phan Thiết

Hà Duy Anh

Chủ nhật, 20/12/2020, 02:08

Bàu Trắng nhìn từ trên cao tựa như xứ sở mùa đông, hấp dẫn du khách ghé thăm.

Bàu Trắng là khu du lịch thuộc địa phận thôn Hồng Lâm, xã Hòa Thắng, huyện Bắc Bình, nằm cách Phan Thiết 65 km về hướng đông bắc. Theo tiếng địa phương, “bàu” nghĩa là “hồ”.

Trong ánh sáng bình minh, nơi đây hiện lên như được bao phủ bởi tuyết dưới ống kính máy ảnh của các bạn trẻ Hà Duy Anh và Đăng Dương. Ảnh: Hà Duy Anh

Từ Phan Thiết, du khách có thể di chuyển đến đây bằng ôtô. Ngoài ra, bạn cũng có thể đặt dịch vụ xe jeep của các homestay, khách sạn, hoặc thuê xe máy.

Quãng đường từ Phan Thiết tới Bàu Trắng rất đẹp do vẫn giữ được nét hoang sơ. Ảnh: Đăng Dương

Đến Bàu Trắng, bạn có thể thử thách bản thân bằng cách lái mô tô mạo hiểm trên cát, hoặc ngồi trên xe jeep. Giá thuê một xe jeep 6 chỗ khoảng 500.000 đồng trở lên, còn giá thuê mô tô vào khoảng 300.000 đồng cho một người.

Để chiêm ngưỡng Bàu Trắng trọn vẹn nhất, du khách nên tìm đến những địa điểm cao. Tại đây có những đồi cát để bạn có thể leo lên quan sát và ngắm toàn cảnh. Ảnh: Đăng Dương

Bàu Trắng là nơi mà vẻ đẹp của sa mạc giao thoa với biển cả. Du khách đến đây ngoài chiêm ngưỡng màu cát trắng còn được tận hưởng không khí trong lành từ những bông hoa sen của hồ nước ngọt vắt ngang qua đồi, cũng như cảm nhận mùi hương gió biển mặn mòi. Ảnh: Hà Duy Anh

Hà Duy Anh chia sẻ, “rất bất ngờ khi lần đầu đến đây, không ngờ Việt Nam có một cung đường ven biển đẹp như vậy. Nhìn tổng thể, Bàu Trắng như một con đường đi băng qua tuyết tại các nước châu Âu”. Ảnh: Hà Duy Anh

Tháng 7, tháng 8 là khoảng thời gian lý tưởng nhất để tham quan nơi này khi thời tiết dễ chịu.

Đăng Dương chia sẻ, Bàu Trắng là nơi mà anh nghĩ mọi người nên đến một lần trong đời. Nơi đây hội tụ được nét hoang sơ của cảnh quan để khám phá và cũng có những phút giây bình yên để nghỉ ngơi và thư giãn. Ảnh: Đăng Dương

Được mệnh danh là “Tiểu sa mạc Sahara” của Bình Thuận, nơi đây sở hữu cung đường và bờ cát trắng nhấp nhô, với quang cảnh hoang sơ và hùng vĩ.

Nhìn từ trên cao, khu du lịch được bao phủ bởi màu cát trắng xóa, khiến ai lần đầu nhìn thấy cũng đều ngỡ đang ở một xứ sở mùa đông nào đó. Ảnh: Hà Duy Anh