This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
12 ngày đêm ác chiến với Cộng Sản Bắc Việt (8/4/1975 đến 20/4/1975)
(Cựu Đại Tá Hứa Yến Lến – Tham Mưu Trưởng/HQ/SĐ18BB)
(Bài viết lần thứ hai sau khi bổ túc và Thiếu Tướng “LÊ MINH ĐẢO” đã duyệt)
Phần 3
– TĐ8ND, hành quân lục soát hướng Bắc QL1; vừa xuất phát khoảng 600 thước thì toàn bộ TĐ chạm súng mạnh với địch; LĐ1ND quyết định tăng phái 1 ĐĐ/TĐ9ND để đơn vị tiếp tục thu hẹp vòng vây; Pháo binh vẫn liên tục tác xạ vào đội hình địch. Kết quả: 100 xác CQ thuộc TĐ1/141/CSBV để tại chổ.
– TĐ1ND trừ bị cho LĐ bố trí phía Tây LTL2 và sau đó được lệnh di chuyển đến ấp Bảo Định thay thế nhiệm vụ TĐ9ND.
“Biệt Đội Kỷ Thuật” của P7/BTTM tăng phái trực tiếp cho LĐ1ND, đã nhận được và giải mã hầu hết các mật điện của CSBV.
Chập choạng tối ngày 13/4/1975, C/TS/CSBV xuất hiện để đón TĐ1/141/ ra khỏi vùng HQ sau khi bị LĐ1ND gây tổn thất nặng. Kết quả: C/TS/CSBV bị tiêu diệt; phần lớn do hỏa lực PB/Dù với các hỏa tập tiên liệu của LĐ1ND.
(Mật điện/CSBV)
– TĐT/TĐ1/141 báo cáo không gặp được C/TS và đơn vị chỉ còn 39 đồng chí khỏe mạnh, gần 200 thương binh; di chuyển rất khó khăn.
– TRĐ chỉ thị TĐ2/141 chi viện ngay và không quên nhắc nhở TĐ1/141 phải giữ vững tinh thần.
Khoảng 10 giờ đêm ngày 14/4/1975, TĐ2/141/CSBV xuất hiện; chờ khi địch đã lọt vào trận địa pháo, TĐ1ND cho lệnh khai hỏa. Sau khi ngưng tác xạ, TĐ1ND xung phong lên lục soát mục tiêu và thanh toán nốt những tên CSBV cuối cùng và sau đó án ngữ chờ lệnh. Kết quả: TĐ2/141/CSBV bị tiêu diệt gần hết; phần lớn do hỏa lực PB/Dù.
Ngày 15/4/1975, TĐ8ND báo cáo: “Địch đã chui đuợc vào một ngôi nhà lớn có hàng rào kẻm gai, rất khó vào. TĐ đang tiếp tục bao vây nhưng không thể chui qua hàng rào kẻm gai để tiến chiếm mục tiêu.
Lữ Đoàn chỉ thị TĐ8ND (+) tiếp tục bao vây địch với 2 ĐĐ. Riêng Tiểu Đoàn(-) di chuyển ra gần QL1, bố trí chờ lệnh. Hoàn trả ĐĐ cho TĐ9ND.
Để chứng minh diển tiến trận ác chiến tại Xuân Lộc giữa lực lượng thuộc QLVNCH và CSBV trong giai đoạn đầu, tôi xin ghi lại ý kiến của các vị Tướng Lãnh thuộc Quân đội Huê Kỳ và CSBV cũng như của ký giả người Pháp thân CS đã phát biểu như sau:
– Tướng Smith trưởng phòng tùy viên Quốc Phòng (DAO) của Mỹ tại SÀIGÒN đã hân hoan phúc trình cho Tướng G. Brown, TMT/LQ/HK rằng (7) “Tại chiến trường Long Khánh, rõ ràng QLVNCH đã chứng tỏ sự quyết tâm và anh dũng chiến đấu chống lại địch quân đông hơn gấp nhiều lần. Mặc dầu chiến trường chỉ mới qua giai đoạn 1, chúng tôi có thể nói không ngần ngại rằng QLVNCH đã thắng vòng đầu.”
– Tướng Văn tiến Dũng, TL/CD/HCM đã phải thú nhận (2) “Mặt trận Xuân Lộc (Long Khánh) đã ác liệt và đẫm máu từ những ngày đầu tiên. Các SĐ6+7+341, của ta phải tổ chức tấn công vào thị xả để tiêu diệt từng mục tiêu nhiều lần nhưng gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của TRĐ43 của địch. Các đơn vị Pháo của ta đã sử dụng nhiều hơn số đạn dự trù; số lớn xe tăng và xe bọc thép của ta đã bị hạ. Một số khác phải trở lại hậu cần để sửa chửa, lấy nhiên liệu, và đạn dược.”
– Hãy nghe O. Todd người ký giả Pháp đã hơn một lần có thiện cảm với CSBV mô tả (8): Tinh thần của binh sĩ bảo vệ Xuân Lộc rất cao. Hệ thống truyền tin rất tốt, con đường đi từ SÀIGÒN đã được khai thông và viện binh VNCH gồm các đơn vị Dù + BĐQ đã đến. trực thăng tản thương đang hoạt động, trực thăng võ trang đang yểm trợ chiến trường; các trực thăng quan sát cũng như các SQ/QLVNCH gọi PB và Không yểm rất nhanh chóng và chính xát khi phát giác vị trí PB hay xe tăng của CS. Tình trạng gần giống như lúc QĐ/Mỹ còn hiện diện tại đây.
Trở lại mặt trận phòng thủ tuyến thép Xuân Lộc (Long Khánh)
Trước sự yểm trợ chính xác và đắc lực của KQ/QLVNCH; tinh thần chiến đấu cao độ của quân nhân các cấp tham chiến tại MT/XL, đã gây tổn thất nặng cho QĐ4/CSBV, nên BTL/CD/HCM đã vội vàng quyết định đưa ngay Tướng “Trần văn Trà” vào thay Tướng “Hoàng Cầm” đồng thời tăng viện các đơn vị kể sau:
– SĐ 325/CSBV
– Liên Đoàn 75 Pháo yểm trợ tầm xa đủ loại
– Đơn vị Pháo/Phòng Không di động đặt trên xe, v.v…
Có thêm quân tăng viện, CSBV tiếp tục tấn công chiếm bằng được thị xả Xuân Lộc; sử dụng 2 QL 1 và 20 để tiến nhanh vào SÀIGÒN, giải phóng miền Nam/Việt Nam.
Vùng trách nhiệm hoạt động của LLĐN 52 rất bất lợi vì địa thế phòng thủ không có địa điểm cao thích hợp như Xuân Lộc nên vị trí chiến đấu không an toàn vì vậy lực lượng phòng thủ phải gánh chịu hỏa lực hùng hậu và áp lực rất mạnh của Pháo và BB+CX địch. Lợi dụng ưu thế trên, địch dồn hết lực lượng vào tấn công đè bẹp LLĐN 52 để xẻ đường, tiến thẳng vào Biên Hòa và SÀIGÒN theo QL 20 (từ Kiệm Tân) và QL 1 (từ ngã ba Dầu Giây).
Ngày 15/4/1975, với chiến thuật “biển người”, CSBV đã tràn ngập lần lượt các tiền đồn và tuyến phòng thủ của LLĐN 52 trên QL 20. trong trận chiến nầy, một binh sĩ SĐ18BB bắt buộc phải chống trả với 10 lính CSBV được yểm trợ đầy đủ hỏa lực PB và xe tăng.
Một TRĐ thuộc SĐ341/CSBV tấn công giữa ban ngày 2ĐĐ/TĐ3/52/VNCH tại Đồi Móng Ngựa; đơn vị phòng thủ phải chống trả liên tục hết đợt tấn công nầy đến đợt tấn công khác. Đến buổi chiều cùng ngày, 2ĐĐ/TĐ3/52/VNCH (đơn vị phòng thủ) Đồi Móng Ngựa báo cáo (9) “Chung quanh chúng tôi rất trống trải, cây cối đã bị hỏa lực đủ loại dọn sạch và thay vào đó bằng xác CSBV nằm dọc theo triền đồi. Với quyết tâm chiếm cho được Đồi Móng Ngựa nên QĐ4/CSBV đã tăng cường cho SĐ341/CSBV TRĐ.95/SĐ325 vừa được tăng viện, tràn ngập vị trí phòng thủ của 2ĐĐ/TĐ3/52.
Thành phần còn lại TĐ3/52 gồm BCH/TĐ + 2ĐĐ/BB với nhiệm vụ phòng thủ núi Sóc Lu và những điểm phía Bắc/Dầu Giây. “Pháo của CSBV rót liên tục và BB tràn ngập các tiền đồn của TĐ3/52(-) trên núi Sóc Lu và các điểm phía Bắc/Dầu Giây” sau đó TĐ mất liên lạc.
Với tình hình nguy ngập trên, phòng tuyến phía Tây/Xuân Lộc dọc theo QL20 do LLDN 52 trấn giữ đã phải chịu hỏa lực và áp lực mạnh của Pháo binh và Bộ binh cùng Chiến xa địch. Với số lượng đông gồm SĐ6/CSBV với 2 TRĐ/Địa phương cũ có rất nhiều kinh nghiệm chiến trường (TRĐ33+TRĐ274), tràn ngập tuyến phòng thủ của LLDN 52 đêm 15/4/1975, bắt buộc lực lượng trên phải phân tán mỏng và rút về hậu cứ Sư đoàn (Biên Hòa) với tổn thất nặng. (10)
Để trả đủa cho LLDN 52 vừa bị tổn thất, sau khi phối kiểm tin tức có giá trị cao về địch cộng thêm các mật điện mà BĐKT đã bắt được của CSBV, Tướng “Lê Minh Đảo” Tư Lệnh mặt trận Xuân Lộc (Long Khánh) đề nghị và qua trung gian trình xin của Trung Tướng “Nguyễn Văn Toàn” Tư Lệnh/QĐIII+QK3/VNCH và đã được Đại Tướng/Tổng Tham Mưu Trưởng/QLVNCH chấp thuận sử dụng Bomb BLU.82 (Daisy Cutter), một loại Bomb nổ đặc biệt có sức công phá cực mạnh trong một phạm vi rộng lớn. Theo chuyên viên vũ khí TOBIN CARTER (11) đã viết về trái Bomb nầy như sau: “Mục đích của Bomb BLU.82 (Daisy Cutter) là dọn bãi đáp trực thăng hoặc mở rộng vùng đất trống để lập căn cứ hỏa lực; Bomb cũng được dùng để tiêu diệt địch quân khi cần. Bomb có hai loại: “Bomb nổ và Bomb xăng đặc (napalm).” Bomb nặng 7 tấn, chứa gas hổn hợp PROPANE và TNT; Bomb được để trên giàn gổ (palette) có gắn dù khi thả.
25) Giải tỏa thắc mắc về trái Bomb xử dụng
Để giải tỏa thắc mắc về quả Bomb thả trong trận Xuân Lộc (Long Khánh) của Dược sĩ Trần Lý đăng trong báo VN mới số 454, Friday Sept. 24, 1999. Chuẩn Tướng “Trần Đình Thọ”, Trưởng Phòng 3/Bộ Tổng Tham Mưu/QLVNCH là bạn học cùng khóa 6/Đinh Bộ Lĩnh/Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (Đàlạt) với người viết bài nầy. Tướng “Thọ” trách nhiệm trực tiếp trình xin quyết định của Đại Tướng/Tổng Tham Mưu Trưởng /QLVNCH về việc sử dụng Bomb BLU.82 (Daisy Cutter) để yểm trợ quân bạn qua trung gian trình xin của Tư Lệnh Quân Đoàn theo đề nghị của Tư Lệnh chiến trường.
“Chuẩn Tướng Thọ” đã xác nhận với tôi bằng email ngày 30/6/1999 với nội dung như sau (sao y nguyên văn):
“Tôi xin xác nhận với anh, đó là loại BLU.82 (Daisy Cutter) chứ không phải CBU.55. Tụi tôi chuẩn bị các mục tiêu theo đề nghị của các Tư lệnh đại đơn vị ngoài mặt trận. Tụi tôi thường gọi là B52/VN. Mổi lần trình Đại Tướng thì chính tôi lên trình bày và xin chấp thuận. Mục tiêu được Đại Tướng chấp thuận rồi, tôi trao cho Không quân; chỉ có Tư lệnh/Không Quân biết và thi hành; mọi mục tiêu đều là “Tối Mật” hết. Thả Bomb nầy rất công phu; chuyên viên Quân cụ và Không quân phụ trách đưa lên phi cơ; Bomb nầy để trên một giàn gổ (palette) có đeo dù; Bomb cũng có loại xăng đặc nữa. Phi công phải là những sĩ quan giỏi bay đêm. Máy bay C130 chở loại Bomb nầy đi thả. Có một lần phi cơ không thả được Bomb vì gần quân bạn, nên tôi cho trút xuống chiến khu C vì nếu đưa Bomb về Tân Sơn Nhứt, lỡ Bomb nổ khi đáp thì sức nổ sẽ tàn phá luôn SÀIGÒN, điện nước sẽ hư hết. Chúng tôi trách nhiệm về sử dụng loại Bomb nầy; chính Tư lệnh Quân Đoàn phải chịu trách nhiệm trực tiếp nếu có sơ xuất xảy đến cho lực lượng bạn. Sử dụng loại Bomb nầy rất hạn chế và chỉ được thỏa mản yêu cầu khi được Đại Tướng chấp thuận, tôi và Trưởng Phòng 2/BTTM trách nhiệm về mục tiêu đánh Bomb.”
Trước sự kháng cự mãnh liệt của QLVNCH tại Xuân Lộc cũng như việc BĐKT đã bắt được hầu hết các mật điện của CSBV, nhờ đó QLVNCH đã xác định được vị trí đóng quân của CSBV và đã tận dụng hỏa lực Phi + Pháo tiêu diệt, khiến tổn thất của CSBV ngày càng cao. Trước sự hoang mang, khủng hoảng tinh thần của các cán binh CSBV, chiều ngày 14/4/1975, trong một buổi họp của QĐ4/CSBV, Chính ủy Hoàng thế Thiện phải trấn an cán binh như sau (12): “Tôi nhắc lại, SÀIGÒN là mục tiêu cuối cùng chứ không phải Xuân Lộc. Giải phóng Xuân Lộc bằng “THẾ” sẽ hay hơn bằng “LỰC”. Các đồng chí cần phải giải thích cho cán bộ và chiến sĩ hiểu vì sao chúng ta không chủ trương tung hết lực lượng vào mặt trận Xuân Lộc trong lúc nầy.
Trong khi đó tại phía nam, hoạt động của LĐ1ND vẫn tiếp diễn đều và mang lại kết quả đáng tuyên dương (6).
Lợi dụng có quân số đông vừa được tăng viện QĐ4/CSBV sử dụng 3TĐ của SĐ7/CSBV cố gắng chọc thủng tuyến phòng thù của LĐ1ND đồng thời giải vây cho 200 thương binh và 39 đồng chí còn sống sót. LĐ1ND đã sẳn sàng và liên tục theo dỏi mọi di động của lực lượng trên kể cả ban đêm. Chờ cho địch di chuyển vào hết trận địa Pháo, TĐ3PB/ND thi nhau nhả đạn, chuyển từ hỏa tập đến hỏa tập khác. Đội hình của địch bị tán loạn. Sáng sớm hôm sau, lực lượng Nhảy Dù tung quân ra lục soát trận địa ghi nhận 300 xác VC để lại tại chổ ngoài ra dân ấp Bảo Bình đi đốn củi cho biết, khoảng 200 thương binh nằm băng bó tại Ấp.
Trưa ngày 18/4/1975, LĐ1ND lệnh cho TĐ9ND cắt cử 1ĐĐ lục soát rộng khu rừng Đông Nam và Nam mà các toán viễn thám của ĐĐTS/Dù báo cáo có sự hiện diện của CSBV; ĐĐ này chạm địch khá mạnh với cấp TĐ/CSBV có hầm hố ngụy trang kỷ. ĐĐ/TĐ9ND xin quân tiếp viện và ĐĐ tiếp ứng cũng chạm súng với địch.
LĐ1ND liền xin BTL/HQ/SĐ18BB tăng cường Chi Đoàn/TQV/M113 được một ĐĐ/Dù tùng thiết để cùng với 2 ĐĐ/TĐ9ND thanh toán nhanh mục tiêu. Kết quả: địch để lại khoảng 200 xác “sinh Bắc tử Nam.” Bạn có 3 hy sinh trong đó có 1 SQ + 18 bị thương + 1 TVX/M113 bị đứt xích. Sáng ngày 20/4/1975 Chi Đoàn/TVX/M113 trực chỉ Long Giao trên LTL2 để trở về với Thiết Đoàn 5 KB vì có lệnh “rút khỏi Xuân Lộc” vào giờ chót.
26) Những dữ kiện liên quan đến lệnh rút khỏi Xuân Lộc (Long Khánh) như sau:
Ngày 10/4/1975, một phái đoàn hổn hợp gồm các Nghị sĩ, Dân biểu Việt và Mỹ vào thăm BTL/HQ/SĐ18BB tại Xuân Lộc (Long Khánh) để nghe thuyết trình về tình hình, quan sát các tù binh CSBV.
Ngày 18/4/1975, Trung tướng “Nguyễn văn Toàn” Tư lệnh/QĐ3 có Chuẩn tướng “Trần đình Thọ” TP3/BTTM/QLVNCH tháp tùng, đến thị sát mặt trận để điều nghiên tình hình liên quan đến việc tiếp tục phòng thủ hoặc rút khỏi Xuân Lộc (Long Khánh).
Ngày 20/4/1975, hồi 0900G sáng, Trung Tướng TL/QĐ3 có Đại tá Hoàng Đình Thọ/TP3 tháp tùng vào thăm BCH/HQ/Mặt trận và lệnh cho Thiếu tướng Lê Minh Đảo/TL/Mặt trận rút toàn bộ lực lượng tham chiến khỏi Xuân Lộc (Long Khánh) trong ngày 20/4/1975. Hoàn trả LĐ1ND+TĐ82BĐQ về BTTM/QLVNCH; lực lượng TK/Long Khánh di chuyển về Phước Tuy (Bà Rịa). Riêng SĐ18BB di chuyển về hậu cứ tại Long Bình (Biên Hòa); sẳn sàng nhận nhiệm vụ mới.
Sau khi nhận lệnh của QĐ, trực thăng chỉ huy (C&C) của TL/SĐ18BB được sử dụng để bay quan sát tình trạng thật sự LTL2 từ Long Giao đến Đức Thạnh (Phước Tuy) vì từ lâu tỉnh lộ nầy không sử dụng. LTL2 dự trù sẽ là lộ trình chính khi rút toàn bộ lực lượng tham chiến khỏi Xuân Lộc (Long Khánh).
Qua 12 ngày đêm ác chiến với CSBV, tuyến thép phòng thủ Xuân Lộc (Long Khánh) vẫn đứng vững. Lực lượng QĐ4/CSBV tham chiến tại mặt trận đã bị thiệt hại nặng nề về sinh mạng, pháo binh, xe tăng, v.v… nên BTL/CD/HCM đã vội vàng thay đổi kế hoạch tiến chiếm SÀIGÒN như sau (xem sơ đồ 1).
– QĐ3/CSBV từ Củ Chi, sử dụng QL22 tiến vào SÀIGÒN theo hướng Tây.
– QĐ2/CSBV sau khi phá vở phòng tuyến Phan Rang, sử dụng QL1 đánh bọc bên hông Xuân Lộc, sử dụng QL15 để vào SÀIGÒN. QĐ2/CSBV thừa thắng xông lên, làm nổ lực chính, tấn công tiến chiếm SÀIGÒN càng nhanh càng tốt theo hướng Đông Bắc.
– QĐ4/CSBV bỏ ngỏ Xuân Lộc, trở thành trừ bị.
– QĐ1/CSBV từ Thủ Dầu Một sử dụng QL13 tiến nhanh vào SÀIGÒN theo hướng Tây Bắc.
– 3 SĐ phía Nam, sử dụng QL4 tiến nhanh vào SÀIGÒN.
27) HÀNH QUÂN LUI BINH
Ngày 20/4/1975, trong buổi họp hành quân khẩn cấp tại BTL/HQ/SĐ18BB, lệnh triệt thoái được Tướng Lê Minh Đảo TL/MT phòng thủ Xuân Lộc (LK) ban hành vắn tắt nhưng đầy đủ như sau:
– LTL2 nối liền Long Khánh và Phước Tuy sẽ dùng làm lộ trình chính, rút quân về Đức Thạnh (Phước Tuy). LTL nầy từ lâu không sử dụng.
– Kế hoạch lui binh sẽ dựa trên 3 nguyên tắc kể sau:
– Lợi dụng bóng đêm để giữ yếu tố bất ngờ
– Vừa đánh vừa rút
– Giữ trật tự, an ninh đến mức tối đa
– Căn cứ Long Giao (Black Horse củ của Mỹ) cách Chi khu Xuân Lộc 8 cây số về hướng Nam, hậu cứ của TRĐ48/SĐ18BB tạm coi như an ninh. Từ đó cách 4 cây số về hướng Nam là xã xôi đậu Cẩm Mỹ, được ghi nhận có 1 TĐ/Địa Phương/VC, hoạt động lưu động trong vùng.
Thứ tự rút quân như sau:
– LLĐN48 do Trung tá Trần Minh Công TRĐ Trưởng/TRĐ48 chỉ huy với nhiệm vụ mở đường.
– BTM/HQ/SĐ18BB+THĐ5KB+các đơn vị yểm trợ kỷ thuật (kể cả 2 khẩu đại bác tự hành 175 ly đặt trên xe bánh xích của QĐ tăng phái) lập thành đoàn Cơ giới do Đại tá Hứa Yến Lến/Tham Mưu Trưởng/Hành Quân/SĐ chỉ huy (13).
– BCH/Tiểu Khu/Long Khánh và các đơn vị trực thuộc do Đại tá Phạm Văn Phúc/Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng chỉ huy.
– LLĐN43 do Đại tá Lê Xuân Hiếu/TRĐ Trưởng/TRĐ43 chỉ huy.
– LĐ1ND+TĐ2/43 do Trung tá Nguyễn Văn Đỉnh/LĐT/LĐ1ND chỉ huy (lực lượng đoạn hậu rút sau cùng).
Đội hình di chuyển theo hình chân vẹt để luôn luôn có hỏa lực yểm trợ thường xuyên quân bạn; trực thăng bao vùng suốt đêm do Đại tá Ngô kỳ Dũng/TRĐ52 đảm trách.
12 ngày đêm ác chiến với Cộng Sản Bắc Việt (8/4/1975 đến 20/4/1975)
(Cựu Đại Tá Hứa Yến Lến – Tham Mưu Trưởng/HQ/SĐ18BB)
(Bài viết lần thứ hai sau khi bổ túc và Thiếu Tướng “LÊ MINH ĐẢO” đã duyệt)
Phần 2
“Sư đoàn tổ chức lực lượng trừ bị gồm bộ binh và thiết giáp, có lưu động tính cao, phản ứng nhanh, hỏa lực mạnh, v.v… để sẳn sàng can thiệp, hổ trợ đơn vị bạn hoặc tiêu diệt địch (nếu cần).”
“Sư đoàn cũng đã tiên liệu các hỏa tập Pháo binh, kế hoạch yểm trợ hỏa lực cũng như kế hoạch không yểm chiến thuật, vùng oanh kích tự do, v.v… Số lớn Pháo được phối trí ngoài thị xã Xuân Lộc, trên các điểm cao như Núi Thị, hướng Nam/Xuân Lộc, v.v… (kể cả 2 khẩu “đại pháo tự hành 175 ly” đặt trên xe bánh xích của QĐIII tăng phái) để địch không tìm ra vị trí chính xác. Các khẩu Pháo nầy có nhiệm vụ tác xạ ngược lại vào thị xã, trường hợp CSBV xâm nhập sâu vào vòng đai phòng thủ. Tại BCH/TK/LK và TRĐ 43, Sư đoàn đã phối trí tại mổi vị trí vỏn vẹn 2 khẩu pháo để yểm trợ đơn vị bạn hoạt động ngoài vòng đai phòng thủ.
“Sư đoàn chỉ thị Tiểu Đoàn 18 Quân Y và bệnh xá Sư đoàn cùng với thân nhân và gia đình binh sĩ trực thuộc Sư đoàn di chuyển từ Xuân Lộc về Long Bình (Biên Hòa) hậu cứ của Sư đoàn để chiến sĩ SĐ18BB không bị vướng chân, tránh thiệt hại cho gia đình và an toàn cho thương bệnh binh nằm điều trị.”
23) Tổ chức và tương quan lực lượng (xem sơ đồ 2)
231) Nhiệm vụ
SĐ18BB và các đơn vị tăng phái với nhiệm vụ kể sau:
• Phòng thủ tỉnh lỵ Xuân Lộc (Long Khánh)
• Chận đứng sự xâm nhập của CSBV xuất phát từ Cao Nguyên (QL20) và miền Trung (QL1) tiến vào thủ đô SÀIGÒN.
• Bảo vệ an ninh:
– QL1 từ Xuân Lộc đến Gia Ray
– QL20 từ ngã ba Dầu Giây đến Kiệm Tân
232) Tổ chức
Để thi hành nhiệm vụ trên, SĐ18BB phối trí các đơn vị trực thuộc như sau:
a) Bạn-QLVNCH
– BTL/HQ/SĐ18BB do Chuẩn Tướng “Lê Minh Đảo” chỉ huy
– BTM/HQ/SĐ do Đại Tá “Hứa Yến Lến” TMT/HQ/SĐ chỉ huy
– LLĐN 43 do Đại Tá “Lê Xuân Hiếu” chỉ huy gồm:
– TRĐ 43 (trừ TĐ2/43) * + TĐ2/52
– THĐ5KB + TĐ82BĐQ* + LL/ĐPQ+NQ/TK/Long Khánh
Nhiệm vụ: Phòng thủ thị xã Xuân Lộc (Long Khánh)
* TĐ2/43 – Tăng phái Tỉnh và TK/Long Khánh với nhiệm vụ bảo vệ an ninh Quận và Chi Khu/Định Quán nằm trên Quốc lộ 20 về hướng Đông Bắc/Xuân Lộc (Long Khánh), vì vậy, TĐ2/43 không còn trực thuộc hệ thống chỉ huy của TRĐ43.
*TĐ82BĐQ do Thiếu tá “Vương Mộng Long” chỉ huy vừa di chuyển từ trại Ben Het (QK2) về tạm trú đêm hôm trước tại Xuân Lộc để chờ phương tiện chuyên chở tiếp về hậu cứ nhưng qua ngày hôm sau tình hình Xuân Lộc sôi động nên BTTM/QLVNCH tăng phái đơn vị trên cho SĐ18BB để tăng cường cho TRĐ 43 phòng thủ thị xã Xuân Lộc (Long Khánh).
– LLĐN 48 do Trung tá “Trần Minh Công” chỉ huy gồm toàn bộ TRĐ48 với thành phần yểm trợ cơ hữu.
Nhiệm vụ: hoạt động bảo vệ an ninh QL1 từ Xuân Lộc đến Gia Ray. Ngày 12/4/1975, LLĐN 48 bàn giao nhiệm vụ cho Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù (LĐ1ND) và sau đó di chuyển về bố trí dọc LTL2 từ ngã ba Tân Phong (Chi Khu Xuân Lộc) đến căn cứ Long Giao (hậu cứ TRĐ), trở thành trừ bị cho Sư đoàn.
– LLĐN 52 do Đại tá “Ngô Kỳ Dũng” chỉ huy gồm toàn bộ TRĐ52 (trừ TĐ2/52) với thành phần yểm trợ cơ hữu.
Nhiệm vụ: hoạt động bảo vệ an ninh QL20 từ ngả ba Dầu Giây đến Kiệm Tân.
Lực lượng tăng phái của QLVNCH:
– LĐ1ND do Trung tá “Nguyễn Văn Đỉnh” chỉ huy, được trực thăng vận đến vùng hành quân ngày 12/4/1975 để thay thế LLĐN48, gồm:
• TĐ1 + 8 + 9ND + ĐĐTS/ND
• TĐ3PB/ND + ĐĐ3CB/ND + ĐĐ1QY/ND
Nhiệm vụ: hoạt động bảo vệ an ninh QL1 từ Xuân Lộc đến Gia Ray.
– TĐ82BĐQ – Tăng phái cho SĐ18BB theo lệnh BTTM/QLVNCH kể từ ngày 7/4/1975 để tăng cường cho LLĐN43 phòng thủ thị xã Xuân Lộc (20). Nhiệm vụ: Phòng thủ sân bay L-19 và tòa Hành Chánh tỉnh Long Khánh, nơi đặt BCH/HQ/TKLK (vùng Đông Nam thị xã XL) do Đại tá Phạm Văn Phúc /Tỉnh Trưởng kiêm TKT/TK/LK chỉ huy.
– 2 khẩu đại bác tự hành 175 ly đặt trên xe bánh xích với tầm tác xạ trên 30 cây số của PB/QĐIII/VNCH. Tất cả lực lượng tham chiến trên được hỏa lực Pháo binh cơ hữu yểm trợ trực tiếp và tổng quát. Ngoài ra hỏa lực của 2 khẩu đại bác tự hành 175 ly đặt trên xe bánh xích của QĐIII tăng phái sẽ yểm trợ tăng cường các cánh quân ưu tiên theo nhu cầu chiến trường.
– SĐ3KQ/Biên Hòa không yểm chiến thuật theo yêu cầu của Tư lệnh mặt trận qua các CHT/LLĐN và LĐ1ND.
b) Địch-CSBV
Lực lượng CSBV tham chiến tại mặt trận Xuân Lộc (Long Khánh)
– Quân Đoàn 4/CSBV (QĐ4) với 3 SĐBB cơ hửu: SĐ 6 + 7 + 341 + đơn vị xe tăng + xe bọc thép + đơn vị Pháo yểm trợ tầm xa đủ loại. Đơn vị Pháo phòng không gắn trên xe kéo, v.v…
• Sư Đoàn 6/CSBV (SĐ6) với quân số khoảng 2300 người gồm 3 TRĐ.33+274+612.
• Sư Đoàn 7/CSBV (SĐ7) với quân số khoảng 4100 người gồm 3 TRĐ.141+165+209.
• Sư Đoàn 341/CSBV (SĐ341) là Sư đoàn mới thành lập 1 năm sau ngày Hiệp định Balê được ký kết.
Lực lượng tăng cường của CSBV:
– Sư Đoàn 325/CSBV (SĐ325) với quân số khoảng 5000 người gồm 3 TRĐ.18+95+101.
– Liên Đoàn 75 Pháo yểm trợ tầm xa đủ loại + đơn vị Pháo phòng không gắn trên xe kéo, v.v…
233) Tương quan lực lượng
– Bạn QLVNCH 1
– Địch CSBV 5
24) Diễn tiến12 ngày đêm ác chiến (xem sơ đồ 3)
Để chuẩn bị trận đánh Xuân Lộc (Long Khánh) BTL/CD/HCM đã xử dụng QĐ4/CSBV và các đơn vị của QK7/CSBV; thành phần như sau:
– Tư lệnh QĐ4/CSBV Thiếu tướng “Hoàng Cầm”
– Chính ủy Thiếu tướng “Hoàng Thế Thiện”
Giữa tháng 3/1975, CSBV đã đánh chiếm quận Định Quán (tỉnh Long Khánh) nằm hướng Đông Bắc, cắt đứt QL20 nối liền SÀIGÒN với các tỉnh Cao Nguyên; sau đó không lâu, CSBV chiếm quận Bình Khánh, cắt đứt QL1 ra Bình Tuy và vùng Duyên Hải.
Giữa tháng 3/1975, trong một cuộc chạm súng với lực lượng của SĐ341/CSBV tại xã Kiệm Tân trên QL20, LLĐN 52 đã bắt được một số tù binh còn rất trẻ, không có kinh nghiệm chiến trường, tuổi từ 18 đến 20 nhưng được trang bị vũ khí mới với đầy đủ cấp số hỏa lực còn nguyên vẹn (mặc dầu đã tham chiến); khai thác cung từ cho thấy các tù binh nầy thuộc những đơn vị mới thành lập được đưa thẳng từ miền Bắc vào. Với những tin tức trên, tinh thần SĐ18BB lên rất cao và cũng cố thêm niềm tin để chờ đợi địch vào đánh như đã dự trù sẳn chiến trường từ trước mà không bị bở ngỡ.
Đầu tháng 4/1975, lực lượng QĐ4/CSBV tuần tự đánh chiếm các điểm trọng yếu thuộc tỉnh Long Khánh và vào thượng tuần tháng 4/1975, thị xã Xuân Lộc (tỉnh Long Khánh) trở thành khu vực phòng ngự trọng yếu của QĐIII+V3CT/QLVNCH để bảo vệ SÀIGÒN từ hướng ĐB đồng thời là tuyến ngăn chận CSBV từ miền Trung (QL1) và miền Cao Nguyên (QL20) tiến chiếm SÀIGÒN.
Kế hoạch đánh chiếm Xuân Lộc (Long Khánh) với chiến thuật “tiền Pháo hậu Xung”, (như đã áp dụng các trận cưỡng chiếm miền Nam), sau đó CSBV sẽ đồng loạt và ồ ạt tiến quân như sau:
– SĐ6/CSBV
– 1 TRĐ đánh chiếm ấp Trần Hưng Đạo, đèo Mẹ Bồng Con trên QL1 giữa Núi Thị và ngã ba Dầu Giây.
– 1 TRĐ đánh vào ngã ba Dầu Giây ngăn chận viện binh VNCH từ Trảng Bôm đánh lên.
– 1 TRĐ trừ bị.
– SĐ7/CSBV
– 1 TRĐ tấn công thị xã Xuân Lộc từ hướng Đông Bắc.
– 1 TRĐ cắt đứt QL1 từ ấp Suối Cát đến ngã ba Tân Phong.
– 1 TRĐ trừ bị.
– SĐ341/CSBV
– 1 TRĐ tấn công thị xã Xuân Lộc từ hướng Tây Bắc.
– 1 TRĐ cắt đứt QL20 từ Kiệm Tân đến ngã ba Dầu Giây.
– 1 TRĐ trừ bị.
(Diễn tiến)
Sáng sớm ngày 8/4/1975, CSBV bắt đầu pháo kích dử dội vào tỉnh lỵ, để 2 mủi tấn công vào thị xã Xuân Lộc có thành phần “đặc công” tháp tùng và xe tăng yểm trợ, theo hướng làng “Phế Binh/QLVNCH” và “ngã ba cua Heo.” Nhà thờ và chợ Xuân Lộc bị trúng đạn pháo khiến nhiều tín đồ xem lễ sớm cũng như dân chúng đi họp chợ sớm bị thiệt mạng.
ĐĐTS43/VNCH trách nhiệm phòng thủ mặt “ngã ba cua Heo” đã đẩy lui ngay mủi tấn công nầy. Một vài nơi khác trên tuyến phòng thủ đã bị CSBV chọc thủng nhưng LLĐN43 đã kịp thời phản công và chiếm lại ngay. Đến chiều cùng ngày thì LLĐN43 đã làm chủ hoàn toàn trận địa; hằng trăm xác CSBV bỏ lại chiến trận với nhiều xe tăng và xe bọc thép bị đốt cháy tại chổ. (5)
Chiến thuật “tiền Pháo hậu Xung” CSBV đã cho thi hành liên tiếp 2 ngày liền (8+9/4/1975) với 6000 quả đạn Pháo đủ loại nhưng kết quả không chiếm được thị xã Xuân Lộc mà còn bị tổn thất nặng nề về sinh mạng và xe tăng bỏ lại tại chổ trước tinh thần chiến đấu anh dũng của quân nhân các cấp trực thuộc SĐ18BB và các đơn vị tăng phái. (16)
Ngoài 2 ngày ác chiến trên, lực lượng QĐ4/CSBV đã liên tục tung ra những đợt tấn công khác vào những ngày kế tiếp với sự phối hợp nhịp nhàng BB/TG dưới hỏa lực yểm trợ Pháo binh đủ loại (1000) quả, quyết chiếm cho được thị xã Xuân Lộc để làm bàn đạp tiến thẳng vào SÀIGÒN bằng QL1, nhưng không mang lại kết quả mong muốn mà trái lại càng bị tổn thất chồng chất về sinh mạng và xe tăng.
Ngày 11/4/1975, CSBV tấn công trại Huỳnh văn Điền (hậu cứ TRĐ52) đồn trú trong thị xã Xuân Lộc; lực lượng phòng thủ đã đẩy lui địch và gây tổn thất của địch như sau: 50 xác cùng với 32 vũ khí đủ loại bị tịch thu + 2 xe tăng T-54 bị bắn cháy.
Đêm 11/4/1975, TĐ2/52 tăng phái cho LLĐN 43 do Đại úy Huỳnh Văn Út chỉ huy đã phục kích gần Suối Tre tiêu diệt 1 đoàn xe vừa chở quân, vừa chở đồ tiếp tế; hơn 100 xác CSBV bỏ lại chiến trường; nhiều vũ khí kể cả đại liên phòng không gắn trên xe bị tịch thu. Cũng trong đêm, 1 toán quân đặc nhiệm CSBV lọt ổ phục kích của LLĐN 43; kết quả địch để lại 17 xác trong đó có 4 sĩ quan cao cấp có nhiệm vụ quan sát, điều nghiên tình hình, nghiên cứu địa thế trận chiến.
Ngày 12/4/1975, LĐ1ND gồm: (6)
– TĐ 1 + 8 + 9ND + TĐ3PB/ND
– ĐĐ1TS + ĐĐ3CB + ĐĐ1QY/ND
được trực thăng vận đến vùng hành quân, tăng phái cho SĐ18BB tại mặt trận phòng thủ thị xã Xuân Lộc (Long Khánh); nhiệm vụ của LĐ1ND là hoạt động bảo vệ an ninh dọc QL1 từ Xuân Lộc đến Gia Ray, thay thế LLĐN 48. Sau khi bàn giao nhiệm vụ, LLĐN 48 di chuyển về bố trí dọc theo LTL2 từ ngã ba Tân Phong (chi khu Xuân Lộc) đến căn cứ Long Giao (hậu cứ TRĐ); trở thành trừ bị cho SĐ.
Vùng trách nhiệm của LĐ1ND có 2 Ấp “Bảo Định và Bảo Bình” đều có lực lượng Dân quân tự vệ, được trang bị đầy đủ vũ khí và đạn dược; tinh thần chống Cộng rất cao vì hầu hết dân trong Ấp đều là những con chiên ngoan đạo di cư từ Bắc vào. Ấp Bảo Định cách chi khu Xuân Lộc (ngã ba Tân Phong) khoảng 3 cây sồ về hướng Đông và Ấp Bảo Bình khoảng 4 cây số về hướng Đông Nam. Tinh thần dân chúng trong 2 Ấp rất vững vàng; Quốc kỳ VNCH vẫn bay phất phới ở 2 Ấp, mặc dầu CSBV đóng “chốt” gây trở ngại cho việc liên lạc, tiếp tế từ tỉnh đến 2 Ấp trên.
Ngày 13/4/1975, kế hoạch hành quân của LĐ1ND như sau:
– TĐ9ND, trách nhiệm diệt chốt để giao tiếp với 2 Ấp Bảo Định và Bảo Bình. Kết quả: Địch để lại 13 xác với 1 súng cối 61 ly, 7 vũ khí cá nhân. Quân dân gặp nhau tay bắt mặt mừng.
12 ngày đêm ác chiến với Cộng Sản Bắc Việt (8/4/1975 đến 20/4/1975)
(Cựu Đại Tá Hứa Yến Lến – Tham Mưu Trưởng/HQ/SĐ18BB)
(Bài viết lần thứ hai sau khi bổ túc và Thiếu Tướng “LÊ MINH ĐẢO” đã duyệt)
Phần 1
Lời nói đầu
Lịch sử Việt Nam đã bị ép buộc phải sang trang ngày 30 tháng 4 năm 1975; ngày mà Cộng sản Bắc Việt đã cưởng chiếm miền Nam, áp đặt chế độ độc tài Đảng trị lên toàn nước Việt Nam!
“Moshe Dayan” Ngoại Trưởng Do Thái (chiến thuật gia và danh tướng “độc nhản”) khi viếng thăm SÀIGÒN (Thủ đô Việt Nam Cộng Hòa) trong cuối thập niên 1960, đã nhận định: “Bắc Việt sẽ thua trận một khi họ chiếm SÀIGÒN!” (1)
Là người Việt tị nạn Cộng Sản tại hải ngoại, hằng năm đến ngày 30 tháng 4 đen, không một ai trong Cộng Đồng Việt Nam chúng ta mà không đau buồn vì cảnh nước mất nhà tan, nhân tâm ly tán; đồng bào trong nước đang quần quại dưới ách thống trị bạo tàn của bè lũ Cộng Sản cầm quyền và cũng không một ai quên được “biến cố lịch sử” đã in sâu trong ký ức của mỗi người. Đó là sự “mất miền Nam thân yêu của chúng ta”.
Là quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, tôi xin ghi lại diễn tiến “Mặt trận phòng thủ tuyến thép Xuân Lộc (Long Khánh) 12 ngày đêm ác chiến với Cộng Sản Bắc Việt” để hồi tưởng lại chiến thắng cuối cùng của QLVNCH (nói chung), Sư Đoàn 18 Bộ Binh và các đơn vị tăng phái (nói riêng) gồm: “Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân, Lực Lượng Địa Phương Quân & Nghĩa Quân/Tiểu Khu Long Khánh, hỏa lực Không yểm chiến thuật của Sư Đoàn 3 Không Quân” là để chứng tỏ rằng QLVNCH đã đánh một trận “tuyệt vời” và “để đời” vì thế giới bên ngoài đã hiểu một cách sai lệch cho rằng miền Nam/Việt Nam không chịu chiến đấu tự vệ nên đã sụp đổ mau lẹ sau 55 ngày đêm.
Tôi xin cúi đầu trước anh linh các chiến hữu đã “Vị Quốc Vong Thân”; tôi xin kính chức sức khỏe đặc biệt đến các “cô nhi quả phụ”, anh em “thương phế binh” cũng như thăm hỏi sức khỏe đến tất cả các chiến hữu và gia đình trực thuộc Sư Đoàn 18 Bộ Binh và các đơn vị tăng phái kể trên.
Xin ơn trên phù hộ cho tất cả chúng ta!
TUYẾN THÉP XUÂN LỘC (LONG KHÁNH)
I. TIẾN TRÌNH CƯỞNG CHIẾM MIỀN NAM VIỆT NAM CỦA CỘNG SẢN BẮC VIỆT (2)
Sau khi được Nga Sô và Trung Cộng trang bị vũ khí tối tân như: chiến xa T-54+T-55+ PT-76; Đại bác 130 ly + 152 ly; Đại bác phòng không 23 ly + 57 ly; hỏa tiển chống chiến xa AT3/Sagger và hỏa tiển địa không SA-7/Strela.
Lợi dụng thời cơ “vừa đánh vừa đàm”, nhầm lúc Huê Kỳ đã rút về nước 80% quân số tham chiến tại Nam Việt Nam, Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) bất chấp dư luận Quốc tế, cố tình vi phạm hiệp định GENÈVE và những điều khoản đã thỏa thuận tại Paris nên vào tháng 3/1972, CSBV tập trung toàn lực gồm 12 trong số 13 Sư Đoàn (SĐ) chính quy có chiến xa và pháo binh yểm trợ, đặt kế hoạch tổng tấn công miền Nam/Việt Nam chia ra làm 3 mặt trận chính như sau:
11. Mặt trận Quảng Trị (V1CT/VNCH): sẽ do 2 SĐ 304+308 và 4 Trung Đoàn (TRĐ) 31+246+270+126 Biệt Lập/Đặc Công thuộc mặt trận B5 với sự yểm trợ của 2 TRĐ 203+204 Xe tăng cùng với 3 TRĐ Pháo 38+68+84. Các đơn vị này vượt tuyến Bến Hải, xâm nhập vùng phi quân sự theo Quốc Lộ 1 (QL1) đánh thẳng vào tỉnh địa đầu Quảng Trị. Cùng lúc đó, SĐ324 cùng với 2 TRĐ/BL 5+6 sẽ từ thung lũng A Shau (phiá Tây) tiến về thành phố Huế đe dọa Đà Nẳng.
– Trận Quảng Trị (30/3/1972-16/9/1972)
12. Mặt trận Cao Nguyên (V2CT/VNCH): sẽ do 3 SĐ 2+320+F10 được yểm trợ bởi 1 TRĐ Xe tăng và 1 TRĐ Pháo, đánh chiếm Pleiku và Kontum. Để yểm trợ cho mặt trận này, SĐ3/CSBV sẽ đánh phá vùng Bình Định phía ven biển để cầm chân QLVNCH tại đây. SĐ711/CSBV cũng được lệnh tạo áp lực và cầm chân QLVNCH tại Đà Nẳng.
– Trận Ban Mê Thuột (1/3/1975-17/3/1975)
13. Mặt trận biên giới Miên-Việt (V3CT/VNCH): được giao phó cho 4 SĐ 5+7+9+Bình Long, các TRĐ chủ lực Miền cùng với 1 TRĐ xe tăng và 1 TRĐ Pháo tiến chiếm quận Lộc Ninh đồng thời tấn công An Lộc (tỉnh Bình Long). Nếu chiếm được An Lộc, các lực lượng CSBV có thể theo QL13 tiến về SÀIGÒN; cùng lúc đó, SĐ1/CSBV sẽ tạo áp lực tại các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long để ngăn chận các lực lượng tiếp viện thuộc QĐIV/VNCH.
– Trận An Lộc (13/04/1972 – 12/06/1972)
– Trận Phước Long (13/12/1974 – 06/01/1975)
– Trận Phan Rang (07/04/1975 – 20/04/1975)
Chiến tích lịch sử trên của CSBV đã được thu gọn trong bài nói chuyện của ông “Lê Đức Thọ” thuộc BCT/TU/ĐCSBV đăng trong tập san “Lịch sử quân sự số 3 năm 1988” với nội dung như sau (sao y nguyên văn) (3): “Đánh xong Buôn Ma Thuột, buộc địch rút khỏi Tây nguyên làm rung động cả chiến trường miền Nam; ta còn phải mở chiến dịch Huế + Đà Nẳng và cuối cùng mới hình thành chiến dịch Hồ Chí Minh (CD/HCM), giải phóng SÀIGÒN.” Để chỉ huy chiến dịch cuối cùng nầy, BTL/CD được thành lập, kết hợp với BTL/Miền cùng với các QĐ, phối hợp với các lực lượng chủ lực và địa phương miền Nam đánh chiếm SÀIGÒN. BTL/Miền chỉ huy các tỉnh, phối hợp với CD/HCM, giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Về Đảng, BCT chỉ định 3 đồng chí ủy viên thay mặt, chịu trách nhiệm tập thể, trực tiếp lảnh đạo chiến dịch lịch sử nầy. Chúng ta đều biết, CD này phải có thời gian để tổ chức lực lượng, phải hình thành những cánh quân lớn, gần 5 Quân Đoàn từ 6 hướng cùng đánh vào SÀIGÒN.
– Một cánh quân (QĐ2 với chủ lực của K5 + K6), sau khi đánh Huế, giải phóng Quảng Nam + Đà Nẳng, đánh dọc theo miền Trung, phá vở phòng tuyến Phan Rang, đánh vào Đông/Long Thành và căn cứ Nước Trong*.
– Một cánh quân (QĐ3) từ Tây Ninh đánh vào Đồng Dù*.
– Một cánh quân (QĐ1) đánh vào Thủ Dầu Một.
– Một cánh quân (QĐ4) giải phóng Xuân Lộc đánh vào Biên Hòa.
– Một cánh quân nữa gồm 3 Sư đoàn phía Nam/SÀIGÒN từ Long An + Cần Đước + Cần Giuộc và đường số 4 đánh lên. Cùng lúc ấy, ở nội thành những đơn vị “Đặc công + Biệt động” chiếm giữ các cầu lớn, bảo đảm đường tiến quân của các QĐ chủ lực tiến vào trung tâm thành phố đuợc thuận lợi đồng thời các đơn vị trên tiếp tục đánh phá một số mục tiêu trong thành phố, làm cho địch càng thêm rối loạn, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ lực tiến vào đánh chiếm các cơ quan đầu nảo về quân sự, chính trị của Ngụy quân, Ngụy quyền ở nội thành. Trong tình thế địch đã suy sụp nên ta không gặp khó khăn, cản trở gì. Trong khi chủ lực tiến vào nội thành và quân địch bị tan rã thì các tổ chức Đảng và quần chúng, chiếm giữ các quận lỵ và một số cơ sở của địch mà không gặp sự xung đột, phản kháng nào của Ngụy quân và Ngụy quyền. (xem sơ đồ 1)
* Căn cứ Nước Trong – Địa danh Trường Bộ Binh/Thủ Đức và Trường Thiết Giáp
* Đồng Dù – Địa danh căn cứ SĐ25BB/VNCH tại Củ Chi
Mặc dầu bị tổn thất nặng khi phải thật sự chạm súng với QLVNCH nhưng CSBV vẫn tiếp tục xua quân quyết cưởng chiếm cho được trọn vẹn miền Nam với chiến dịch Hồ Chí Minh (CD/HCM); thành phần nhân sự của tổ chức trên như sau:
Tư lệnh – Đại tướng Văn Tiến Dũng
Chính ủy – Đồng chí Phạm Hùng
Phó Tư lệnh – Thượng tướng Trần Văn Trà
– Trung tướng Lê Đức Anh
– Trung tướng Lê Trọng Tấn
Tư lệnh phó – Trung tướng Đinh Đắc Thiện
– Thiếu tướng Bùi Phùng (phụ trách Tiếp vận)
Phó Chính ủy – Trung tướng Lê Quang Hòa
Tham mưu trưởng – Thiếu tướng Lê Ngọc Hiếu
BTL/CD đã bàn thảo kế hoạch đánh chiếm SÀIGÒN với 5 mục tiêu ưu tiên như sau:
1)- Bộ Tổng Tham Mưu/QLVNCH
2)- Dinh Độc Lập
3)- Bộ Tư Lệnh/Biệt Khu Thủ Đô
4)- Bộ Tư Lệnh/Cảnh Sát Quốc Gia
5)- Phi trường Tân Sơn Nhứt
II. TUYẾN THÉP XUÂN LỘC
Với thành phần lực lượng tham chiến gồm 5 QĐ, CSBV đã tràn vào từ miền Bắc, đánh chiếm Buôn Ma Thuột cũng như tiếp thu các căn cứ mà QLVNCH đã rút bỏ tại QK1 + QK2 + Huế + Đà Nẳng, v.v… Tuy nhiên trên đường tiến quân, CSBV đã nhận lấy tổn thất nặng nề khi phải thật sự “mặt đối mặt” với QLVNCH tại Xuân Lộc (Long Khánh) của SĐ18BB và các đơn vị tăng phái với 12 ngày đêm ác chiến.
21) Địa danh Xuân Lộc
“Xuân Lộc” tỉnh lỵ Long Khánh, nằm trên QL1, hướng Đông Bắc Sàigòn khoảng 80 cây số, được thành lập năm 1957 thời Đệ Nhất Cộng Hòa, có diện tích khoảng 3457 cây số vuông; phần lớn địa thế gồm đất đỏ, núi thấp, rừng thưa, nhiều vườn cây ăn trái và đồn điền cao su.
“Xuân Lộc” căn cứ của toàn bộ SĐ18BB bao gồm: Bộ Binh, Thiết Giáp, Pháo Binh và các đơn vị Kỷ Thuật thuộc mọi Binh chủng của QLVNCH.
“Xuân Lộc” còn là vị trí chiến lược quan trọng vì là ngã ba của 2 QL1 + 20 đồng thời là cửa ngỏ xâm nhập SÀIGÒN (thủ đô miền Nam Việt Nam), xuất phát từ Cao Nguyên (QL20) và miền Trung (QL1) do đó Xuân Lộc được coi như vòng đai bảo vệ phi trường Biên Hòa và thủ đô SÀIGÒN.
“Xuân Lộc” về mặt chiến thuật, nằm trên đường giao liên giữa 2 Chiến khu C + D của Việt Cộng với các mật khu: Mây Tào + Cù Mi + Xuyên Mộc + Đất Đỏ của tỉnh Phước Tuy đồng thời là con đường huyết mạch bằng đường biển dùng để tiếp tế, bổ sung quân số xuất phát từ miền Bắc cho miền Nam/CSBV.
22) Chuẩn bị chiến trường tại Xuân Lộc (Long Khánh)
Nhờ vào tin tức tình báo, cung từ của tù binh CSBV cũng như giải đoán không ảnh của “Biệt Đội Quân Báo”; đặc biệt “Biệt Đội Kỷ Thuật” (BĐKT) gồm 5 quân nhân của BTTM/P7 do Trung úy Phát chỉ huy, tăng phái cho Sư đoàn với nhiệm vụ “nghe và dò đài địch”; thành quả đạt được của BĐKT trên hết sức xuất sắc, góp phần không nhỏ vào chiến thắng cuối cùng của QLVNCH (nói chung), SĐ18BB và các đơn vị tăng phái (nói riêng) trước khi giã từ chiến trường. Khai thác các mật điện từ đơn vị CSBV đánh đi mà toán BĐKT đã nhận được và giải mã, nên Sư đoàn đã nắm rất vững tình hình địch, đơn vị địch, v.v… rồi từ đó Sư đoàn chuẩn bị thật tỉ mỉ chiến trường để chờ đón địch vào đánh mà không sợ bị bở ngở. Thời gian chuẩn bị chiến trường của Sư đoàn là thời gian rất sôi động tại Cao Nguyên và miền Trung.
“Sư đoàn tổ chức cho đơn vị học tập thường xuyên đề cũng cố tinh thần binh sĩ; huấn luyện tại chổ kỷ thuật chống chiến xa cũng như cách sử dụng vũ khí chống chiến xa (M72).”
“Sư đoàn chỉ thị các đơn vị trưởng, các sĩ quan trực thuộc đơn vị, thường xuyên sinh hoạt với binh sĩ vì vậy tinh thần đơn vị lên rất cao; binh sĩ luôn tin tưởng các cấp chỉ huy thường xuyên sống chết với mình tại chiến trận.”
“Sư đoàn chỉ thị các đơn vị, tổ chức vị trí chiến đấu ngoài rìa thị xã với những công sự phòng thủ chắc chắn để pháo của địch không gây nhiều tổn thất.”
“Sư đoàn chỉ thị TRĐ 43 tái chiếm và cố thủ những điểm cao chung quanh thị xã làm đài quan sát vì kinh nghiệm chiến trường cho biết, đơn vị trinh sát VC thường chiếm các điểm cao để điều chỉnh pháo, quan sát tình hình, mổi khi chúng tấn công vào thành phố.”
Chuông điện thoại reo. 11 giờ 40 phút. Tôi nhấc máy: – Phạm Lê Phan đây. – Sao? – Xong rồi. Tao đã giao Cục cho họ. Tốt đẹp cả. Tự nghĩ mình chỉ là thượng sĩ nên tao không đủ tư cách làm Hoàng Diệu. Tao về. Thôi nhé! Phạm Lê Phan đã về. Tôi rủ Côn ra đường. Vỉa hè nhà tôi, vỉa hè bên kia phố đã ngổn ngang mũ sắt, mũ vải, giầy vớ, ba lô, súng đạn. Không ai thèm lượm nhặt. Không ai nỡ lượm nhặt. Vợ tôi và ba đứa con cũng mở cổng ra đường. Khi nhìn quân trang, quân dụng, võ khí của quân đội ta xép lớp trên vỉa hè, vợ tôi òa lên khóc. Các con tôi khóc theo. Những tiếng khóc, những giọt nước mắt muộn màng. Tại sao người ta chỉ biết khóc vào hoàng hôn? Cảnh tượng bây giờ, đã thay đổi chút chút. Tôi thấy có nhiều người đeo băng vải đỏ ở cánh tay phải. A, những người này tôi đều biết. Họ ở dưới chợ Xóm Lách. Họ đã là nhân dân tự vệ chọc chó, hái trộm khế nhà tôi và gây phiền nhiễu cho dân lương thiện. Họ đã là những tên sống cù bơ, cù bất ngoài vòng pháp luật. Họ đã là ông thợ may hiền lành, bà chạp phô dễ tính. Họ đeo băng đỏ chờ đợi hoan hô cách mạng, hoan hô quân giải phóng. Họ thuộc sư đoàn 304 tân lập* . 11 giờ 45 phút, xe tăng cộng sản thị uy trên đường Công Lý. Nó tiến vào thành phố theo ngả Hàng Xanh, Bạch Đằng, Chi Lăng, Võ Tánh, rồi rẽ sang Cách Mạng, qua cầu Công Lý. Nó ngang qua nhà tôi. Năm chiếc. T-54 treo hoa ny-lông phía trước. Nóc xe đầy nhóc lính 304 phất lia lịa cờ đỏ sao vàng và cờ trên đỏ, dưới xanh, giữa sao vàng. Bên hông xe đeo tòng teng lồng gà, lồng vịt. Hẳn là tăng cộng sản đã dừng lại để nhận quà của “nhân dân” và để lính 304 leo lên… giải phóng Sài gòn. Gà và vịt cũng hãnh diện tham dự chiến dịch Hồ Chí Minh! Những người đeo băng đỏ dơ cao tay, hét lớn “Hoan hô bộ đội giải phóng”. Tôi có thể làm chứng nhân rất trung thực cái phút giây buồn bã này. “Nhân dân” đã không hoan hô theo. “Nhân dân” đứng trố mắt nhìn. “Nhân dân” suy nghĩ gì khi họ gặp xe tăng cộng sản, tôi không biết. Nhưng tôi đọc từ trong ánh mắt của họ một nỗi bẽ bàng. Chính nỗi bẽ bàng đó đã giữ tình nghĩa Việt Nam nguyên vẹn. Và Sài gòn không hề có đấu tranh giai cấp Xe tăng đi qua một lát thì mô-lô-tô-va và GMC Trung quốc tiến vào. Bộ đội miền Bắc đội nón cối. Quân giải phóng đội mũ tai bèo. Tất cả đứng trên xe cười thỏa mãn, vẫy tay rối rít. “Nhân dân” vẫy tay chào theo phép lịch sự. Tuyệt nhiên, “nhân dân” không hoan hô, dù cò mồi cách mạng 304 đã lấn xuống đường hô những khẩu, hiệu chào mừng quân giải phóng. Không còn cách mạng “diễn binh” nữa, “nhân dân” tản mạn về nhà mình. Đường phố nổi bật lính sư đoàn 304 đeo băng đỏ. Tôi bảo vợ tôi đưa các con vào nhà, đóng cổng, khóa kỹ rồi rủ Đặng Xuân Côn đi bộ lên Sài gòn. – Ông thấy gì? – Thấy gì? – Tôi sợ biển máu của nhân dân, không sợ biển máu của cộng sản. Rất may, nhân dân không thích biển máu. – Sẽ không có biển máu. – Phải, biển máu sẽ là đại dương nước mắt. Dọc vỉa hè số lẻ đường Công Lý, chúng tôi rảo bước. Tôi không thấy đi, thấy khát. Quân trang, quân dụng, võ khí từng đống, từng đống trên vỉa hè. Tôi đã no nghẹn ngào. Mười tuổi, tôi đi đếm xác đồng bào tôi chết đi tháng ba năm ất Dậu, 1945. Cái thị xã Thái Bình nhỏ bé của tôi, xác chết đói cùng khắp. Gầm cầu. Xó chợ. Vỉa hè… Tôi đã nhìn đồng bào tôi chết từ từ. Tôi đã nhìn người mẹ chết, đứa bé nhay vú mẹ một lúc rồi chết theo. Hồi đó, tôi chỉ biết sợ hãi, thương xót mà chưa vỡ lẽ đau đớn. Những người bạn thơ ấu của tôi như Côn, như Luyến đã cố gắng làm những gì mình có thể làm được để cứu đói Và chúng tôi, đã đi ăn mày xin cơm cứu đói. Hôm nay, 30-4-1975, ba mươi năm sau, 40 tuổi, tôi lại nhìn quần áo, nón mũ, súng đạn của quân đội nước tôi nằm ngổn ngang, chất đống trên vỉa hè Sài gòn. Tôi đã vỡ lẽ đau đớn. Nón mũ, giầy vớ, quần áo của quân đội tôi yêu dấu, cơ hồ xác chết đói năm 1945. Đời tôi sao lại phải chứng kiến nhiều thảm cảnh thế? Nước mắt ròng ròng, hai chúng tôi bước nhanh. – Long, cuộc chiến đấu chống cộng sản của dân tộc ta thật sự bắt đầu từ năm nào? – 1951. – Tại sao? – Vì cuối 1950, cộng sản quy định thành phần, giai cấp Quốc gia bị loại bỏ khỏi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành độc lập, tự do. – Như thế, dân tộc ta đã chống cộng sản 24 năm. Bốn năm chống cộng sản với Pháp thì mất nửa tổ quốc. Hai mươi năm chống cộng sản với Mỹ thì mất cả tổ quốc và nuốt nhục. – Chúng ta có thể xin cơm cứu đói 1945 mà không thể cất dấu xác chết 1975. – Chúng ta làm gì? – Làm gì? Lúc nãy, Phạm Lê Phan nói nó không đủ tư cách làm Hoàng Diệu nên nó về nhà nó. Ông muốn làm gì? Trong một biến cố lịch sử nào đó, có những người cần chết và những người cần sống. Chúng ta không có cả hai. Chúng ta chỉ có những kẻ sợ chết, cho nên, chúng ta thiếu sự chết cho sự sống. – Mày nghĩ sao, nếu Trần văn Hương không chịu “hy sinh” cho Dương văn Minh? – Có thể có đánh đấm. – Rồi sao? – Ông ta sẽ sống như Dương văn Minh thôi. – Nếu mày là Dương văn Minh? Những kẻ như Nguyễn văn Thiệu, Dương văn Minh, ngoài tham vọng quyền bính còn tham vọng đi vào lịch sử. Dương văn Minh đã có cơ hội duy nhất đi vào lịch sử, nhưng ông ta tình nguyện khước từ. Từ một tên lính của thực dân Pháp, nhờ sự chuyển mùa của đất nước khan hiếm tài năng, ông ta trở thành tướng lãnh của chế độ Ngô Đình Diệm, trở thành người anh hùng của các chiến dịch tiêu trừ loạn quân Bình Xuyên, Hòa Hảo… Tên lính Xuân tóc đỏ của quân đội, đáng lẽ, đứng ở đó là đẹp rồi. ông ta không chịu. ông ta nhúc nhích vì ngỡ mình là Nasser. ông ta bị dìu vào tội ác thoán nghịch. Và Dương văn Minh thỏa chí Quốc trưởng. Triều đình của Dương văn Minh thật phù du. Tên vũ biền không thích truy nã thân phận mình, ông ta tưởng ông ta có… đế mạng. Bị tước đoạt quyền bính, bị đuổi khỏi đất nước, Dương văn Minh cựa quậy quay về giành bằng được tước vị tổng thống. ông ta thỏa mãn. Thánh nhân thường đãi kẻ khù khờ. Thánh nhân đãi thêm đứa ngu dốt. Đất nước phải có đến thứ Dương văn Minh gánh vác, kể như đất nước tàn tạ. Dương văn Minh, trong diễn văn nhận chức vụ Tổng thống, biết nói về Trằn văn Hương: “Thầy đã hy sinh nhiều rồi” mà không biết ông ta đã già rồi và ngôi vị tổng thống ngáp ruồi vào giờ thứ hai mươi lăm của ông ta là cáo phó tuyệt vời bế mạc cuộc đời mình. Dương văn Minh chỉ cách biên giới lịch sử một sợi tóc: Nếu Dương văn Minh không ngu, lệnh đầu hàng của ông ta sẽ như thế này: “Đồng bào thân mến… Tôi, Dương văn Minh, tổng thống nước Việt Nam cộng hòa kiêm Tổng tư lệnh quân lực Việt Nam cộng hòa, tưởng đã đem những ngày cuối cùng của đời tôi chuyển vần lại vận mệnh của đất nước vào thời kỳ nghiêm trọng nhất của lịch sử, nhưng suy nghĩ lại, tôi thấy không đủ tài năng, e rằng xương máu của đồng bào đổ thêm vô ích. Vậy tôi tuyên bố đầu hàng cộng sản và xin đem cái chết của tôi để tạ tội cùng đồng bào, cùng chiến hữu, cùng tổ quốc…” Và Dương văn Minh tự sát ngay tại chỗ, ngay sau khi tuyên bố đầu hàng. Phát súng Minh tự bắn vào đầu ông ta cả nước sẽ được nghe trên vô tuyến truyền thanh, cả thế giới được nghe. Và đó là cái chết cần thiết cho cái sống. Dương văn Minh bất trí. ông ta không nên làm hàng tướng, vì sự sống của ông ta vô tích sự.*
– Không có so sánh hay “nếu” quái đản ấy. Dương văn Minh là tên lính tẩy chưa vỡ lẽ sống chết. Hai chúng tôi vẫn cắm cúi bước. Lính của sư đoàn 304 xuất hiện khắp đường phố Sài gòn. Triết lý sống cỏ đuôi chó mà Lý Cẩm Dương đề cập trong cuốn Mạ nháy và chế độ mới đang là cái mốt ở đây. Nhưng cỏ đuôi chó mới chỉ mọc ngoài đường phố và là thứ cỏ dân giả. Những con thò lò trí thức chờ đợi quay. Góc độ còn tùy hoàn cảnh. Không thể thiếu cỏ đuôi chó vương giả. Mỗi biến cố lịch sử, chúng ta lại thấy lòi mặt một hạng người không ra cái giống người. Cái hạng người này sáng tạo thứ nhân sinh quan đốn mạt. Chỉ cần cái miệng hét lớn. Họ đã hoan hô Ngô Đình Diệm truất phế Bảo Đại. Họ đã hoan hô hụt Nguyễn Chánh Thi đảo chính Ngô Đình Diệm. Họ đã hoan hô Dương văn Minh tàn sát Ngô Đình Diệm. Họ đã hoan hô Nguyễn văn Thiệu loại bỏ Nguyễn cao Kỳ. Họ đã hoan hô hụt cộng sản tổng tấn công Mậu Thân. Trí thức cả đấy. Bây giờ, họ chuẩn bị hoan hô cách mạng “đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào”… Sư đoàn 304 tự đảm trách việc hướng dẫn lưu thông đường phố, bảo vệ an ninh, trật tự công cộng. Cách mạng vô sản thường ồn ào nhờ cỏ đuôi chó. Tôi nghĩ, cỏ đuôi chó đã mọc khắp vỉa hè Sài gòn. Chúng tôi đã đến Dinh Độc Lập. Lá cờ Mặt trận giải phóng miền Nam đã thay thế cờ vàng ba sọc đỏ. Nó không phất phới bay theo khí thế giải phóng. Nó rũ rượi trong ngày thiếu nắng, thiếu gió. Chiếc xe tăng thứ nhất theo ngả Thị Nghè, Hồng Thập Tự, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thống Nhất đã vào khuôn viên Dinh Độc tập ngon lành. Cổng mở rộng sẵn. Không hề bị T-54 ủi sập như báo chí cộng sản tường thuật. Sư đoàn 304 đông đầy hai bên cổng dinh. Dân chúng đứng xa ngó vào. Lác đác ở vườn sao hai bên đường, vài người đứng nhìn về phía sau nhà thờ Đức Bà. Ở phố Hàn Thuyên nhỏ hẹp, dân chúng thập thò ngoài cửa. Cộng sản vào Dinh Độc Lập lúc 11 giờ 30 phút. Chúng tôi băng sang nhà thờ Đức Bà. Một người quen vỗ vai tôi, nói nhỏ: – Cách đây nửa tiếng, quân ta nghênh giặc ở sau lưng nhà thờ. – Quân ta? – Một trung đội nhẩy dù quyết tử. – Có diệt được chiếc T-54 nào? – Không. – Đánh đấm ra sao? – Đánh lấy chết. Chết vinh. Tôi vừa mới khô nước mắt. Trung đội nhẩy dù chết hết. Giặc cũng chết bộn. Xác quân ta và xác giặc đã được mang đi. Chiến trường đã rửa sạch vết máu. Ông ra mà xem, đường còn ướt mèm. – Ngoại quốc có quay phim? – Họ tới không kịp. Chỉ quay T-54 vào Dinh Độc Lập. Tôi ngỡ chúng ta đã bất hạnh cả đến phút chót. – Tại sao? – Bọn ký giả ngoại quốc chỉ quay những cảnh có lợi cho cộng sản. Đặng Xuân Côn và tôi lần ra phía sau nhà thờ Đức Bà. Quả thật, một khúc đường Thống Nhất cạnh vườn sao còn ướt mèm. Cộng sản đã hiện diện khắp cơ cấu quốc gia. Bọn nằm vùng chỉ đợi thời cơ hành động. Chúng đã kịp thời đưa xe vòi rồng tới tải xác chết, rửa đường. Đề chứng minh với thế giới rằng, quân đội ta tan hàng bệ rạc, cộng sản vào Sài gòn như vào chỗ không người. – Côn. – Hả? – Ai sẽ viết trận đánh này? Ai sẽ vinh tôn lính nhẩy dù, lính Việt Nam cộng hòa? Ai biết ngọn ngành trận đánh mà viết? Chắc chắn, phải có vài trang tiểu thuyết. Ai sẽ viết những trang này? Tôi đã là bạn của lính nhẩy dù. Nguyễn Minh Tiến, Hà Huyền Chi, Hoàng Ngọc Liến, Vũ Khắc Niệm, Phạm Huy Sảnh… Bạn tôi cả đấy, lính nhẩy dù cả đấy. – Vậy mày cần sống. – Phải, dù sống hèn.
NHỮNG THIÊN THẦN MŨ ĐỎ CỦA CHƯƠNG CÒM, DZŨNG ĐAKAO, BỒN LỪA, HƯNG MẬP Một vài trang nhỏ mọn dưới đây trích từ truyện tuổi thơ Nhánh cỏ mộng mơ của tôi viết năm 1985 ở Paris mà nhà xuất bản Nam á Paris đã phát hành. Tôi không muốn thế hệ con cháu tôi quên trận đánh danh dự này. Và tôi, tự cho mình còn thiếu nhiều thành thật khi vinh tôn những người lính mũ đỏ. Vậy nên để tuổi thơ trong sáng, hồn nhiên, đôn hậu bày tỏ hết lòng ngưỡng mộ lính quốc gia bằng những rung động thuần khiết, nguyên khối của các em. Với riêng tôi, vài trang truyện nhỏ mọn này nằm trong ý nghĩ: Sự thật nói ra không ai tin, thì nó biến thành tiểu thuyết. Lịch sử bỏ quên thì vẫn còn dã sử, huyền sử…
° ° °
Hai chiếc xe cam-nhông từ đâu không rõ, chạy tới đậu ngay chỗ bùng binh, sau nhà thờ Đức Bà. Lính trên xe nhẩy hết xuống. Dzũng Đakao vui mừng: – Lính nhẩy dù! Bốn ông nhóc đứng dậy, tiến sát ra lề đường. Những thiên thần mũ đỏ còn nguyên vẹn là thiên thần. Vị đại úy chỉ huy rất trẻ, mai vàng rực rỡ trên cổ áo. ông cằm cây gậy nhỏ, say mê nhìn quốc kỳ ủ rũ trên nóc Dinh Độc Lập. Rồi ông xoay lưng lại, quan sát phía Phủ Thủ Tướng. ông hơi cúi đầu giây lát. Đoạn, ông ngó thằng chiến hữu của mình, dõng dạc nói: – Lần cuối cùng, tôi nhắc nhở anh em: Dương văn Minh đã đầu hàng. Nhiệm vụ của anh em chấm dứt. Ai muốn về nhà cứ thản nhiên về. Anh em không nợ nần gì tổ quốc nữa. Những người lính nhẩy dù đứng nghiêm, đồng loạt trả lời: – Chúng tôi ở lại chiến đấu với đại úy. Vì danh dự của người lính. Đại úy dơ tay chào: – Cám ơn anh em. Chúng ta chuẩn bị nghênh địch. Dzũng Đakao, Chương còm, Hưng mập, Bồn lừa phóng tới ôm chặt lấy vị đại úy. – Thưa chú, tên chú là gì? Chương còm hỏi. Vị đại úy xoa đầu bốn ông nhóc, giọng cảm động: – Lính nhẩy dù. Mà cháu hỏi tên chú làm chi? Chương còm nắm tay vị đại úy: – Mai này, tên chú sẽ thay tên đại lộ Thống Nhất. – Chú tin không? Vị đại úy chớp mắt: – Chú tin, thế hệ các cháu phải làm lại lịch sử, phải xóa bỏ dấu tích ô nhục hôm nay. Dzũng Đakao nói: – Chúng cháu đặt tên chú cho con đường này. Chú cho biết tên chú đi. Vị đại úy vỗ nhẹ vai Dzũng Đakao: – Tên chú gắn liền với lính nhẩy dù. Lính nhẩy dù là tên chú. Các cháu nhớ đặt tên đại lộ này là đại lộ Mũ Đỏ nhé? Bây giờ chạy thật nhanh về nhà. Sắp nổ súng. Bồn lừa hỏi: – Cháu có thể giúp chú việc gì? Vị đại úy lắc đầu: – Các cháu đã giúp chú rồi, đã làm tăng ý nghĩa chiến đấu của chú, đã sưởi ấm lòng chú. Chú không còn cô đơn nữa. Nào chạy lẹ, các cháu yêu dấu…
Bốn ông nhóc co cẳng chạy. Nhưng chúng không chạy về nhà, mà núp dưới gốc cây đầu đường Alexandre de Rhôdes. Phía bên kia, đường Hàn Thuyên, dân chúng cũng đang lấp ló dưới những gốc cây sao. Nhiều người vào nhà thờ Đức Bà để xem chiến tranh qua kẽ hở của mấy khung cửa bên hông. Nhiều người tụ tập ở sân Bưu Điện. Xe tăng cộng sản, từ xa lộ Biên Hòa, vô Sài gòn hai lối Lối thứ nhất: Hàng Xanh, qua Gia Định, qua đường Chi Lăng, đường Võ Tánh đến Tổng Tham Mưu, rẽ trái qua đường Cách Mạng, qua cầu Công Lý. Rồi chạy thị uy khắp phố Sài gòn. Mười hai giờ trưa, xe tăng vô lối này đã xuất hiện. Lối thứ hai: Thị Nghè, qua cầu Thị Nghè (bị chặn đánh). Mãi gần bốn giờ mới lại qua cầu Thị Nghè, qua Hồng Thập Tự rẽ trái, qua Nguyễn Bỉnh Khiêm, rẽ phải, qua Thống Nhất để vào Dinh Độc Lập. – Xe tăng cộng sản rét rồi. – Bọn điên ấy không rét đâu. – Bao giờ chúng đến? – Cứ từ từ. Vị đại úy đứng ngạo nghễ giữa đại lộ Thống Nhất, khẩu Colt của ông trễ xuống bên đùi. Lính của ông đứng sau những thân cây sao với tư thế sẵn sàng khạc đạn.. – Chú ấy oai quá. – Cứ như shérif đợi bọn cướp. – Tao hồi hộp thấy mồ. – Im lặng. – Thằng nào chạy ra, ngó xuống Sở Thú xem chúng nó vô chưa? – Tao. – Để Bồn lừa đi. Mày mập chạy đâu nổi, Hưng. Bồn lừa cắm cổ chạy ra đường Thống Nhất. Nó chạy vào ngay, hổn hển: – Rồi, rồi, sắp tới! Tiếng xe tăng nghiến xích sắt trên đường nhựa nghe rõ dần rồi sôi sục trong tâm hồn bốn ông nhóc. Như chính mình tham dự trận đánh, Dzũng Đakao hét: – Nó kia kìa. Chiếc xe tăng dẫn đầu đã đến bùng binh. Nó có vẻ làm bộ làm tich. Nó có vẻ khinh khi, ngạo mạn. Đằng sau nó, đám bộ đội nón cối, dép râu ngụy trang cành lá trông dễ ghét. Chúng ôm súng AK lò mò bước y hệt chúng diễn trò khỉ. Vị đại úy đâu rồi? Chiếc xe tăng thứ hai lừ lừ bò ở cửa Bộ Tư Pháp. Một phát súng nổ. Lính nhẩy dù xuất hiện. Không thèm nấp. không thèm nằm, lính nhẩy dù đứng thẳng, bước tới, chắc tay súng, nhằm xe tăng và kẻ thù nhả đạn xối xả. Vị đại úy đó, thần tượng của Dzũng Đakao, Chương còm đó, sát cánh chiến hữu, phóng nhiệt tình và danh dự vào trận chiến cuối cùng. Để trả lời thế giới: Chúng tôi không đầu hàng. Bọn Mỹ và bọn tướng phường chèo khiếp nhược đầu hàng. Lính Việt Nam không biết đầu hàng. Chiến trường kết thúc mau lẹ. Vị đại úy và hơn ba mươi người lính nhẩy dù gục chết trên đại lộ Thống Nhất. Máu của họ, máu Việt Nam anh dũng, bất khuất đã thấm đỏ đường lịch sử tháng 4. Lính nhẩy dù, tại sao anh không chạy trốn ở phi trường, ở tòa đại sứ Mỹ, ở bờ sông? Tổ quốc đã cho anh cái gì? Dân tộc đã cho anh cái gì? Ngôi sao nào trên cầu vai anh, trên mũ anh? Bảo quốc huân chương nào, Bắc đẩu bội tinh nào trước ngực anh? -Thế là xe tăng nó vào Dinh Độc Lập! Bốn ông nhóc, nước mắt đầm đìa, thằng nọ nhìn thằng kia mếu máo. Xe tăng nghiến lên xác chết của lính nhẩy dù. Chúng nó thù hận cả xác chết. Bọn bộ đội phân tán, bao quanh khu vườn sao. Dzũng Đakao và Chương còm muốn tới vuốt mắt vị đại úy và những người lính cũng không được. Chương còm thầm thì: – Vâng, mai này, đại lộ này sẽ mang tên Mũ Đỏ và chỗ các chú chết sẽ là Đài Tưởng Niệm Anh Hùng. Cháu hứa, các cháu hứa… (Trích truyện dài Nhánh cỏ mộng mơ)
10 giờ 40, mười phút sau lệnh đầu hàng cộng sản của Dương văn Minh, Đặng Xuân Côn và tôi ra vỉa hè trước cửa nhìn Sài gòn chờ đợi cộng sản vào. Tại sao chưa đánh đã đầu hàng? Tôi nghe rõ câu hỏi nghẹn ngào đó trong những ánh mắt ngơ ngác của người Sài gòn quanh tôi. Trời hết âm u, nhưng vẫn chưa có nắng. Vẫn thiếu nắng vàng rực rỡ. Dân Xóm Lách kéo lên. Lề đường Công Lý, gần nhà tôi đông nghẹt. Dẫu lòng ngổn ngang bối rối, tôi còn chút hạnh phúc trên những khuôn mặt buồn bã của đám dân “vô sản” Xóm Lách. Không một nụ cười. Khó tìm ra niềm hân hoan. Ngay cả những người đã truy nã kỹ thân phận mình, sự nghiệp của mình ròng rã hai mươi năm Việt Nam cộng hòa, thấy chẳng dính líu gì tới “nợ máu” với cộng sản, cũng hồi hộp vì “biển máu.” Chưa bao giờ tôi thấy, kể từ nhận Sài gòn làm quê hương, một cảnh tượng Sài gòn não nề đến thế. Tôi có cảm tưởng Sài gòn đang sợ hãi cơ hồ tôi đang sợ hãi, cơ hồ mọi người đang sợ hãi. Xe cộ ngưng chạy. Những gia đình có “máu mặt” rút hết vào nhà. Cổng đóng kín mít. Cửa sổ gác cao he hé mở. Ai đã nhìn tôi qua ô cửa kính mắt lệ mờ? Tôi sinh ra ở miền Bắc, thị xã nhỏ bé, êm đềm Thái Bình. ấu thơ của tôi, trải dọc theo hàng cây hồi thấp và vương vấn cùng khắp cầu Bo. Niên thiếu của tôi lãng đãng vùng trời Hà Nội. Tôi khôn lớn ở Sài gòn. Sài gòn cho tôi những bước xuống đời cay đắng để tôi làm cuộc đời tôi Sài gòn cho tôi tình yêu, cho tôi thi ca, cho tôi tiểu thuyết. Công sinh không nặng bằng công dưỡng. Sài gòn đã nuôi dưỡng tôi. Sài gòn là mẹ tôi. Mẹ Sài gòn săn sóc tôi hai mươi năm. Tôi đã làm gì cho Sài gòn? Đã làm gì, vẫn chưa đủ, vẫn chỉ mới là cái hữu hạn trong cái vô hạn. Bây giờ, đứa con phóng đãng ôm ghì mẹ mình bằng đôi tay rời rã, nước mắt ròng ròng. Đứa con bất lực, đứa con hèn hạ, đứa con khiếp nhược, đứa con mải rong chơi nỡ để mẹ mình lạc vào tay thù. Mà chỉ biết khóc. Mà chỉ rên rỉ Mà chỉ luyến tiếc hàng me xanh, ghế đá công viên và những cuộc tình phù phiếm. Tôi hiểu những giọt nước mắt của tôi vô nghĩa, chẳng dám khóc, chẳng thiết khóc, mà mắt tôi cứ căng mọng và lệ cứ rơi. Tôi đã biết khóc vì Sài gòn, vì một thành phố kỷ niệm. Một toán quân xuất hiện. Quân ta. Tôi đếm: 19 người. Mười chín người lính, mười chín người chiến sĩ, đầu trần, chân đất, quần xà lỏn, áo thun, máng súng trên vai, mũi chúc xuống, mặt cúi gầm, lầm lũi bước. Tối hôm qua, tôi đã thấy quân ta ngang qua đây. Quân ta và xe tăng. Hình ảnh người lính sửa xích tăng đã in vào tiềm thức tôi. Tối hôm qua, tôi đã thấy tướng Vĩnh Lộc chủ chiến. 10 giờ 30 hôm nay, tôi nghe Dương văn Minh đọc lệnh đầu hàng. Và, sau lệnh đầu hàng của Dương văn Minh, tôi lặng người ngắm toán quân chiến bại. Cảm giác đầu tiên của tôi là ngậm ngùi. Tôi nhớ một câu thơ của Corneille: “ô cruel souvenir de ma gloire passée” mà Thế Lữ cảm hứng viết: “Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu? Thời oanh liệt đâu? Những chiến tích rực rỡ dội vang sông núi của quân lực Việt Nam cộng hòa, những chiến tích làm bàng hoàng thế giới, làm vỡ mộng xâm lược của cộng sản, nay còn đâu? Tôi không bao giờ quên người Do Thái đã bầy tỏ công khai với nhân loại rằng, họ mơ thành người An Lộc. Tôi vốn không ưa các chế độ, các nhà lãnh đạo, một số tướng lãnh bất tài vô học, tham nhũng của miền Nam sau 1963, nhưng, luôn luôn, tôi yêu mến và cảm phục quân đội. Chế độ đã xóa bỏ chế độ, lãnh đạo đã hạ bệ lãnh đạo, quân đội tồn tại như quê hương. Bởi vì quân đội bảo vệ quê hương. Quân đội không phải là công cụ riêng của chế độ, của lãnh tụ. Một số tướng lãnh hèn mạt, vì quyền lợi cá nhân, vì địa vị khốn kiếp, đã bán mình cho chế độ, cho lãnh tụ để bán xương máu của quân đội và làm nhạt nhòa cái kiêu sa của người lính. Kẻ bán xương máu của lính nhiều nhất, kẻ dùng quân đội làm thang lưng leo lên danh vọng là Nguyễn văn Thiệu. Bây giờ, Thiệu đã bỏ đi. Cao văn Viên đã bỏ đi. Vô số tướng lãnh đã đào ngũ chạy trốn. Dương văn Minh đã đầu hàng. Quân đội tiếp tục chiến đấu. Quân đội sẽ tiếp tục chiến đấu, nếu Dương văn Minh không hám cái hư vị “tổng thống miền Nam trung lập” đến nỗi thỏa hiệp với cộng sản. Tham vọng bằn tiện của Dương văn Minh còn là tham vọng của vài ông tướng, vài ông nghi sĩ, vài ông dân biểu “nhất định” ở lại làm Tổng trưởng. Bùi Tường Huân là một thí dụ. Những người khác đã đi học tập cải tạo, đã vượt biên sang âu châu, Mỹ châu thì xin miễn kể tên, sợ mất ép-phê chống cộng của quý vị ấy. Thế giới đã thiếu sự công bình tối thiểu để khắc nghiệt lên án sự tan hàng bệ rạc của quân đội ta. Họ không thèm quan tâm tới sự tôn trọng kỷ luật tối đa của quân lực Việt Nam cộng hòa. Quân đội không tuân lệnh đầu hàng của Dương văn Minh mà tuân lệnh đầu hàng của vị Tổng thống nước Việt Nam cộng hòa kiêm Tổng tư lệnh quân lực Việt Nam cộng hòa. Quân đội nước nào cũng thế cả, trừ trường hợp người ta làm cách mạng, làm đảo chính lật đổ Tổng thống. Tôi yêu quân đội của đất nước tôi. Tôi không xuẩn ngốc phán xét quân đội. Tôi có bổn phận ngưỡng mộ quân đội quốc gia. Và tôi đau đớn nhìn quân đội của tôi đầu trần, chân đất, quần xà lỏn, áo thun, máng súng trên vai, mũi chúc xuống, mặt cúi gằm, lầm lùi bước. ông Nguyễn văn Thiệu không chứng kiến thảm cảnh này. Các ông tướng đào ngũ không chứng kiến thảm cảnh này. Tôi nghĩ các ông ấy chẳng nên nói về quân đội, nhắc đến quân đội nữa. Một bà mẹ hớt hơ hớt hái, từ dốc chợ Xóm Lách, chạy lên đuổi theo toán quân, (tôi quả quyết quân đội ta không thua trận. Quân đội ta mãi mãi chiến thắng, mãi mãi anh dũng. Chế độ Nguyễn văn Thiệu thua trận, các ông tướng đào ngũ thua trận và chính sách Mỹ ở Việt Nam thua trận). Bà mẹ già ôm chặt lấy một người lính: – Mày đi đâu nữa con? Sao không về nhà? Hết chiến tranh rồi, hòa bình rồi. Về thôi, con? Người lính cố gỡ nhẹ tay mẹ mình ra: – Con không thể về được. ‘ Bà mẹ khóc. Bà mẹ khóc tức tưởi: – Sao vậy? Có lệnh hàng rồi mà. Người lính lắc đầu: – Con không thể về được. Toán quân đã băng qua ngã tư Công Lý – Yên Đổ. Bà mẹ vẫn níu chặt người con chiến sĩ lại: – Mày đã đi đánh nhau bao lâu nay, có được hưởng gì đâu? Người lính nghẹn ngào: – Con không thể nào bỏ các bạn con. Bà mẹ rên rỉ: – Bỏ hết, bỏ hết đi con, về với má, không sao đâu. Người lính gỡ mạnh tay mẹ mình ra: – Má về đi, con phải theo các bạn con. Người lính chạy nhanh để bắt kịp các chiến hữu. Bà mẹ đứng bên đường mắt đẫm lệ, nhìn theo con mình…
° ° °
– Rồi người lính có về không? Đó là câu hỏi của ký giả Patrick Sabatier của nhật báo La libération đã đến tận nhà tôi ở Ivry sur Seine phỏng vấn tôi để làm số báo đặc biệt cho ngày 30-4-1985. Tôi đã kể câu chuyện trên nhằm trả lời câu hỏi “Điều gì còn làm ông nhớ Sài gòn nhất”? – Tôi không biết, ông Patrick ạ! Sau 6 năm tù đầy trở về, tôi hỏi thăm người Xóm Lách, được rõ là bà mẹ còn sống, và người con vẫn biệt tăm… – Anh ta đi đâu? – Tôi nghĩ rằng anh ta đi làm cuộc chiến đấu mới, không cần viện trợ Mỹ, cố vấn Mỹ và lính Mỹ. Dân tộc tôi cần thiết cuộc chiến đấu mới mẻ này. – Tại sao? – Nó mới đích thực là cuộc chiến đấu của dân tộc tôi nhằm tiêu diệt chế độ cộng sản, chủ nghĩa cộng sản để giành lại tự do, dân chủ, độc lập cho Việt Nam. Cuộc chiến đấu mới của dân tộc tôi loại bỏ hết tay sai của Mỹ, của ngoại bang. Như thể, chúng tôi gọi là một cuộc chiến đấu có chính nghĩa, tuy cô đơn, lãng mạn nhưng tổ tiên chúng tôi đã lãng mạn, cô đơn chiến đấu. – Rất đẹp, rất cao quý. – Ông ủng hộ cuộc chiến đấu mới của chúng tôi chứ? – Vâng, tôi hết lòng. Số báo đặc biệt của La libération, một tờ báo khuynh tả, xuất bản ngày 30-4-1985 viết về Việt Nam đã như gáo nước lạnh hắt vào mặt đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Số báo này có đăng thêm một đoạn trong bài thơ Sài gòn ra đường của tôi trên trang nhất.
° ° °
19 người lính đi tới đâu, đi về đâu, tôi không biết. Hình ảnh bi thảm của họ khiến lòng tôi se lại nhưng cũng sưởi ấm tâm hồn tôi. ít ra, tôi còn được tự hào là người Sài gòn, người miền Nam. 19 người lính quốc gia đã anh dũng chiến đấu cho tới phút giây nghe lệnh đầu hàng. Vẫn 19 người lính này, biểu tượng của quân lực Việt Nam cộng hòa bất khuất, tháo bỏ quần áo Mỹ, giầy nón Mỹ, tiếp tục chiến đấu sau lệnh đầu hàng. Tôi đã thèm sống hèn, càng thèm sống hèn hơn. Để nói lên được cái hào hùng của người lính, cái tâm sự não nề của người lính, những con người không được phép chiến thắng, những con người bị tước đoạt quyền chiến thắng cộng sản. Thế giới đã không có hân hạnh nhìn 19 chiến sĩ Việt Nam. Thế giới đã không có hân hạnh nghe người lính giã từ mẹ mình lên đường nhập cuộc chiến đấu mới. Thế giới, cái thế giới mù lòa, điếc, ngọng đã bảo chúng ta thua trận đã miệt thị quân đội chúng ta tan hàng bệ rạc. Tôi đợi, tôi đã đợi, tôi đang đợi những kẻ tự nhận mình sống hùng viết những trang tâm sự của người lính sau 30-4-1975. Thú thật, tôi đã chai lỳ từ dạo cắm sừng nhọn vào đầu đề đương đầu với cuộc đời và người đời. Thế mà tôi còn khóc được hôm nay, khóc như kẻ mau nước mắt nhất. Giống hệt người mẹ anh lính, tôi cũng mắt đẫm lệ nhìn theo anh ta. – Buồn quá hả, Long? Côn hỏi. – Buồn hơn một chuyện tình buồn trong tiểu thuyết. Tôi nói. – Nếu mày còn sống và có cơ hội viết nhỉ? – Ở đâu? – Mỹ. – Ông mơ mộng hơn cả tôi rồi. – Sống phút nào mơ mộng phút ấy. 11 giờ, đường Công Lý nườm nượp những người đầu trần, chân đất, quần xà lỏn, áo thun cắm cúi rảo bước. Nhiều người chạy. Đó là lính, là sĩ quan của chúng ta. Họ đã liệng súng đạn. Họ về nhà mình, nhà thân nhân của mình. Khuôn mặt họ, sự sợ hãi pha trộn sự phẫn nộ. Dân chúng hai bên đường im lặng. Không một nụ cười rè bỉu. Không một ánh mắt khinh khi. Người ta đã thù ghét chế độ, thù ghét Nguyễn văn Thiệu và tập đoàn thống tri tôi mọi cùng đám tướng lãnh dốt nát, hống hách nhưng chẳng bao giờ người ta thù ghét quân đội* . Chỉ thiếu những tiếng hoan hô nồng nhiệt, những tràng pháo tay bất tận như những lần quân ta chiến thắng sau mỗi chiến dịch trở về thành phố. Tiếng nhạc quân hành, tiếng hoan hô, tiếng vỗ tay, lúc này, là tiếng vỡ của trái tim, tiếng nứt của mạch máu, tiếng rơi của nước mắt. Lúc này, cả thành phố thấy mình chiến bại, cả thành phố chia xẻ nỗi đau chiến bại, bởi vì, những kẻ đầu trần, chân đất, quần xà lỏn, áo thun là anh, là chồng, là cháu, là em của người Sài gòn. Của Sài gòn. Có phải khi người ta đã quá sợ chết thì người ta hết biết mình sợ chết? Tôi bỗng quên nỗi sợ chết của tôi. Hoặc là tôi đã chết rồi, linh hồn tôi đậu trên chân đất của người lính tìm về nhà mình. Người lính ấy, hai mươi năm ròng rã đứng giữa biên giới sống chết, hai mươi năm chưa một lần cúi đầu, nửa tiếng đồng hồ trước vẫn ngẩng mặt và, lúc này… Tôi hết biết mình sợ chết. Hơn cả thế, tôi biết mình nên sống hèn, không nên sống hùng để cùng bị chết hèn lãng nhách.
-Côn! – Hả? – Ông nhớ sau hôm đảo chính 1945 chứ? – Nhớ. – Thực dân Pháp đã chạy dài, đã lột bỏ quần áo, giày vớ, đã chân đất, đội nón mê cắm cúi bước. Đã bị phát xít Nhật truy lùng. – Chúng ta đứng bên kia cầu Bo nhìn các ông Tây kéo xe bò chở đất, các bà Đầm khóc sướt mướt và phát-xít Nhật cười hoan hỉ. – A, chúng ta đã vỡ lẽ chiến bại và chiến thắng từ năm mười tuổi. Chúng tôi trở vào nhà, đóng cổng kỹ lưỡng. Chuông điện thoại reo vang. Tôi nhấc máy. – Alô, alô, tôi muốn nói chuyện với Duyên Anh. – Chính tôi. – Phạm Lê Phan đây… Phạm Lê Phan, nhà văn, nhà thơ, tác giả nhiều truyện ngắn đăng rải rác trên các tạp chí Bách Khoa. Chi Đạo từ 1960 là bút hiệu của thượng sĩ Phạm văn Kiệm, phục vụ tại Cục tâm lý chiến. Anh ta đã viết thi phẩm Chiến ca mùa hè mà Phạm Duy phổ nhạc. Chiến ca mùa hè như những trang quân sử bằng thơ ghi lại mùa hè đỏ lửa. – Mày chạy không thoát à? – Ừ. – Tao gọi bạn bè, chẳng còn thằng nào. May quá, còn mày. – May cái con c…? Mày chưa về nhà ư? – Về hả? Tao là thượng sĩ nhưng là chiến sĩ, hơn cả, tao là kẻ sĩ. Tao đại diện quân lực Việt Nam cộng hòa chuẩn bi tiếp xúc với Việt cộng. – Cục mày hết người… lớn rồi à? – Còn mỗi mình tao. Tao là tân Cục trưởng. Cục trưởng cút lâu rồi. Cục phó Phan Trọng Thiện vừa về… nhà. – Mày cũng nên về đi. – Tại sao tao lại phải về? Lính văn nghệ đang chơi nhau dữ dội ở cầu Thị Nghè. Tao thủ trái lựu đạn, ngồi tại văn phòng Cục trưởng Tâm lý chiến thuộc Tổng cục chiến tranh chính trị của quân lực Việt Nam cộng hòa. Chai whisky trên bàn vơi quá nửa rồi. ông tu chất cay. Bọn nó vào mà tử tế, ông giao Cục, dở trò hỗn láo, ông cho lựu đạn nổ… Tao sẽ gọi mày sau. Thôi nhé! Người lính văn nghệ, thượng sĩ Phạm Lê Phan không muốn cộng sản vào Cục tâm lý chiến như vào nhà hoang. Anh ta ngồi đợi kẻ thù tới tiếp thu. Không còn cấp bậc và huy chương nào tưởng thưởng anh ta cả. Anh ta có quyền về nhà, được phép về nhà mình mà không ai dám kết tội anh ta đào ngũ hèn nhát. Nhưng mà “lính văn nghệ đang chơi nhau dữ dội ở cầu Thị Nghè.” Anh ta kiêu hãnh nói “tại sao tao phải trở về”? Sẽ chẳng một ai đủ liêm sỉ bắt chước Phạm Lê Phan tự vấn lòng mình “Tại sao tôi lại đào ngũ”. Tôi ngồi hút thuốc, chờ điện thoại của Cục trưởng Tâm lý chiến: Thượng sĩ Phạm văn Kiệm.
XÁC T-54 BÊN KIA CẦU THỊ NGHÈ “Lính văn nghệ đang chơi nhau dữ dội ở cầu Thị Nghè”. Tôi biết rõ những người lính ấy. Họ là nhà báo vô danh, là kép cải lương thứ yếu, là ca sĩ tân nhạc hạng xoàng. Họ còn là thanh niên Chợ Lớn, thanh niên con nhà giàu sợ hãi chiến trường, được ẩn thân ở Cục Tâm lý chiến dưới sự “bảo trợ” của tướng bà Cao văn Viên. Hai hạng người dưới, lương quân đội lĩnh xong phải cộng thêm tiền gia đình nộp cho người bảo trợ hàng tháng, chưa kể khoản tiền nặng ra mắt và được chấp thuận bảo trợ. Lính văn nghệ cơ hữu của Cục tâm lý chiến chỉ có bổn phận canh gác giữ an ninh cho Cục ngày và đêm. Sự canh gác mang tính cách trình diễn, dù đã học 9 tuần quân sự ở Trung tâm huấn luyện Quang Trung. Vòng đai an ninh của Cục bé nhỏ. Đã có lực lượng bảo vệ an ninh của Cục an ninh quân đội, của Đài phát thanh Sài gòn lo giùm hết. Vậy bên đây cầu Thị Nghè, kế sát Cục, là nơi lính văn nghệ canh gác ban đêm để bảo vệ Đài phát thanh quân đội, tòa soạn nhật báo Tiền Tuyến, văn phòng của các quan văn nghệ… Nói ra hơi buồn, lính văn nghệ gác cầu, chỉ nhằm trình diễn tinh thần kiểng và tạo oai phong cho các quan tâm lý chiến chơi xì-phé, mạt chược những đêm trực. Truyện kể về những người lính văn nghệ gác cầu Thị Nghè sáng 30-4-1975 như sau: Xe tăng cộng sản vào thành phố Sài gòn để vô Dinh Độc Lập bằng hai ngả. Ngả thứ nhất: Từ ngã tư xa lộ Hàng Xanh, T-54 của cộng sản chia đôi. Không nhiều gì đâu. Có 10 chiếc thôi. 5 chiếc rẽ phải vô Hàng Xanh, qua đường Bạch Đằng, qua đường Chi Lăng, Võ Tánh Phú Nhuận, bọc lên đường Cách Mạng, Công Lý. 5 chiếc rẽ trái vô Thị Nghè, qua cầu, qua đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, qua đường Thống Nhất. Chiếc thứ nhất bị lính văn nghệ chặn đánh ở bên kia cầu. Với súng M- 16, lính văn nghệ đã nhắm T-54 mà khạc đạn. Lúc ấy, 10 giờ 45 phút, sau lệnh đầu hàng của Dương văn Minh 15 phút. Lính văn nghệ đã gây cảm hứng cho quần chúng. Sự phẫn nộ nổi lửa, nhiệt tình và lòng tự phụ của tuổi trẻ Thị Nghè bốc phừng phừng. Bất chấp cái chết, thanh niên Thi Nghè đã viết những trang sử đấu tranh mới bằng những chai xăng châm lửa ném tới tấp vào T-54 của kẻ thù. Lửa cháy trên nóc T-54. Lửa cháy dưới T-54. Lửa cháy xích T-54. Lửa cháy đàng trước T-54. Lửa cháy đàng sau T-54. Lửa Thị Nghè bất khuất. Lửa Thị Nghè của Sài gòn. Ngọn lửa tiên phong của cuộc chiến đấu mới. Chiếc T-54 dẫn đầu đứng khựng. Nó bất động. Năm người bộ đội xe tăng, công cụ tội nghiệp của cộng sản, đã chết thảm dính chùm trong một sợi xích khốn kiếp. Đã chết mà không biết mình bị mê hoặc: Năm ngón tay trên một bàn tay Như năm người con cùng một mẹ Năm ngón tay trên một bàn tay Không xa rời nhau Như năm người con cùng một mẹ Năm người bộ đội trong xe tăng Như năm ngón tay trên một bàn tay Như năm người con cùng một mẹ Không xa rời nhau Sống bên nhau và chết bên nhau* Một chiếc T-54 bị bốc cháy. Là thừa thắp sáng cuộc chiến đấu mới. Là thừa mở mắt thế giới đui mù. Bốn chiếc sau phải dừng lại, ngơ ngác. Kẻ thù hoảng sợ. Nó hung hãn khạc đạn. Nó trấn áp. Nó vất vả qua cầu Thị Nghè. Hà Nội phải hiểu họ không có đại thắng. Bởi vì, theo Ngô Khởi, chiếm được đất mà không chiếm nổi lòng người thì không bao giờ chiến thắng cả. Xác chiếc T-54 nằm nhục nhã bên kia cầu Thị Nghè trọn ngày 30-4 và những ngày kế tiếp là biểu tượng bất hủ của lịch sử nòi giống và của quân sử Việt Nam cộng hòa. Tôi nhớ đã xem một phim, hình như tên phim là El Alamein do Frederick Stafford thủ vai đại úy quân đội ý, diễn tả một trận đánh tuyệt vọng giữa đám quân đồn trú ở sa mạc Phi Châu với đạo quân xe tăng của tướng Montgomery lừng danh Anh Quốc. Tăng của tướng Montgomery đã phơi xác lớp lớp. Và rồi, kẻ chiến thắng đã nghiêng mình kính cẩn chào tinh thần chiến đấu quả cảm tới phút chót của kẻ chiến bại. Người cộng sản, chắc chắn, thiếu sự hào sảng đó. Và, tôi còn thấy, thiếu cả những trang sách vinh tôn những người lính văn nghệ đã chết hay vẫn sống đã hạ chiếc T-54 của cộng sản bên kia cầu Thị Nghè buổi trưa ngày 30-4-1975 của những ông quan văn nghệ tự cho mình sống hùng trong ngục tù cộng sản rồi thoát ra ngoại quốc. Tôi cố tìm ở hồi ký dầy cộm của họ. Chẳng thấy gì ngoài sự kể khổ, lên án cộng sản man rợ và phô diễn cung cách sống bần tiện của mình.
Eliot Ness phóng lên xe, Gary Malone ngồi bên cạnh, Lite leo lên phía sau.
Chàng phóng hết ga chở cả ba người về nhà, lòng vui rộn như ngày nào còn trẻ cùng đám bạn bè đi ngao du phong cảnh. Eliot Ness tròn miệng huýt sáo một điệu nhạc, thỉnh thoảng lắc lư cái đầu ra chiều rất đắc ý. Công tác của bộ tài chánh giao không biết chừng nào mới xong, nhưng kể từ lúc chân ướt chân ráo xuống Chicago, chiều hôm nay, lần đầu tiên chàng thấy ánh sáng đã lóe lên ở cuối con đường hầm.
Gary Malone ngồi bên cạnh thấy cũng có vẻ hả hê. Lâu quá rồi, dễ chừng
đã hơn 15 năm, hắn mới tìm ra một người bạn như Eliot Ness. Cha nội cớm liên bang này coi được quá chừng. Gary Malone nhớ đến lần gặp gỡ đầu tiên với ông cớm khó chịu này. Phải rồi, cái buổi sáng mà hắn đập nát chiếc xe của thằng Frank Nitti. Thật ra sáng hôm đó, sau khi nhìn tới nhìn lui chiếc xe đậu ngang xương dưới bảng cấm, hắn đã tính bỏ đi. Trời đẹp như vậy thì nên tìm một cái ghế đá nào mà ngồi ngắm trời ngắm đất cho sướng cái thân già, ai thèm đi hạch xách ba cái màn đậu xe vớ vẫn làm chi. Nếu như thằng tài xế ngồi trên xe chỉ việc nhìn ra ngoài cười cầu tài một phát thì Gary Malone cũng chẳng thèm chấp nó làm gì. Một con cọp dữ cỡ Gary Malone đâu thèm đi chấp những con nai ngu đần làm chi. Hơn nữa, những lúc sau này, nhất là mấy năm gần đây, Gary Malone cảm thấy hơi mệt mỏi và chán nản. Cách đó vài tuần, một hôm buồn đời quá không có chuyện gì làm hắn bèn đi thăm thầy thuốc để kể lể sự chán nản của mình và xin ý kiến. Ông Bác sĩ phân tâm học già nghe chuyện xong lắc đầu bảo cho Gary Malone biết là sức khoẻ và bộ thần kinh của hắn bình thường, không có gì lạ cả. Chẳng qua đó chỉ là một dấu hiệu của tuổi già. Ông còn khuyên thầy đội nên tập thể tháo, ăn uống kiêng cữ, bỏ hết rượu
chè, tình nguyện tham gia vào những hội đoàn địa phương để hoạt động đi làm
những công tác xã hội “cho cuộc đời bớt tẻ nhạc,” và chuẩn bị đón tuổi già đến với mình một cách an lành như hằng bao nhiêu người khác. Gary Malone ra khỏi phòng mạch mà thấy tiếc cho 3 đồng bạc đã bỏ ra để vào đây nghe một anh thầy lang dạy đời. Tập thể tháo thì 40 chục năm qua, ngày nào Gary Malone không luyện “Lưỡng Thiết Cầu”, cái môn võ rất bí mật nhưng rất
là đơn giản của người Trung Hoa mà hắn may mắn học đường từ lúc nhỏ để đến nổi có biệt danh là “bàn tay thép”. Hai ngón tay của Gary Malone có thể bẻ cong đinh, đâm thủng ván và quan trọng nhất, chặt xuống đầu ai một cái thì cũng như người ta lấy búa sắt mà giộng vậy. Máu xịt ra có vòi liền và kẻ bị đòn chắc chắn gục liền tại chỗ. Nếu xui xẻo gặp hôm thầy đội nổi cơn điên thì … chết ngắt luôn là chuyện rất thường.
Ăn uống kiêng cử và bỏ rượu thì nhất định là không có Gary Malone rồi.
Hắn đã từng thấy thương hại cho những “thằng người” coi trọng mạng sống mình đến độ một miếng thịt, một hớp rượu cũng không dám uống. Sống … hèn như vậy chẳng thà đừng sống. Đối với Gary Malone, một tay cảnh sát từng tay không bẻ cổ bọn găng tơ Chicago liệng xuống sông, từng đánh xì phé với mạng sống của mình thì có sợ gì thần chết mà phải kiêng cử? Phải thì sống, còn không phải thì “thăng thiên” nơi miền hoan lạc, thèm chó gì cái cuộc sống này kìa? Vấn đề tham gia các hội đoàn để đi làm việc thiện nguyện còn thấy tức cười hơn. Nghề của thầy đội là nghề diệt du đãng mà có hội đoàn từ thiện nào ở Chicago này cần một tay súng hay một thằng biết đấm đá đâu?
Hắn đành lủi thủi đi về nhà, và chỉ đồng ý với ông thầy thuốc một điểm:
“Đó là dấu hiệu của tuổi già.” Suốt quãng đường đó, Gary Malone cứ suy nghĩ mãi về mình. Ai biết Malone bằng chính thằng Malone này?
Nhưng sáng hôm đó, cái thái độ kênh kệu mất dậy của thằng tài xế làm
máu anh hùng của một quá khứ xa xưa nổi dậy trong người hắn. Từ đằng xa, Gary Malone đã biết chỉ có dân mafia gộc mới dám đậu xe khơi khơi trước mũi cảnh sát như vậy. Tới gần hơn chút nữa, Gary Malone nhận ra ngay chiếc xe của thằng đệ nhất đao phủ thủ Chicago.
Thằng Frank Nitti, dù tiếng tăm của nó có vang lừng tới đâu, Gary Malone chỉ coi nó như một đứa con nít. Ngay chính xếp của nó là Al Capone mà gặp Gary
Malone còn phải kính nể một mực thì nó có nghĩa lý gì. Nhưng cuộc đời thường có những cái bất ngờ lạ lùng. Đã nói cọp rừng thiêng không thèm chấp nhất bọn thỏ cáo. Nếu thằng tài xế của Frank Nitti hôm đó không cương ẩu, chỉ cần chi một phát cười cầu tài thì Gary Malone cũng bỏ đi rồi. Dĩ nhiên chiếc xe Cadillac mấy chục ngàn đô la của chủ nó đã không bị đập nát, và Eliot Ness đã không có dịp thưởng thức tài nghệ của Gary Malone …
Quẹo xe vô nhà, nhìn vào dấu hiệu trên cánh cửa gỗ của hàng rào, Eliot
Ness biết là Catherine không có nhà. Vì cuộc đời của một cảnh sát như Eliot Ness có rất nhiều kẻ thù nên gia đình chàng có một hệ thống thông tin cho nhau một cách đặc biệt. Bằng những dấu hiệu nhỏ và đơn giản nhưng họ luôn luôn thông báo cho nhau được những khi cần kíp. Như cách gài cửa sổ hàng rào. Nếu chàng trở về và nhìn thấy cái then cài được để hớ hênh nửa trong nửa ngoài, đó là mọi chuyện bình yên và nàng không có nhà. Eliot Ness chỉ sợ nhất là nhìn thấy cái then cài bị lật ngược ra sau. Đó là dấu hiệu “Nguy hiểm lắm, có kẻ thù trong nhà”. Nếu then cài vậy mà tấm rèm cửa nơi phòng khách được kéo ra một phần ba, dấu hiệu chết người hơn: “Em bị bắt làm con tin trong này, … mau vô cứu gấp.” Cách đây mấy năm, gia đình chàng đã trải qua một lần kinh khủng như vậy nhưng nhờ có dấu hiệu thông báo, Eliot Ness đã lặng lẽ đi một đường ra sau nhà, dùng “độc đạo” mà chàng sáng chế ra để từ từ mò lên phòng khách, nơi một thằng khùng đang kê súng vào đầu Catherine để chờ Eliot Ness trở về. Truyện còn lại đâu có gì đáng nói. Một cái bang súng từ đàng sau đánh tới làm thằng khốn té lăn cù, lòm còm bò dậy thì cặp còng sắt đã bay ra, mổ cứng vào hai cánh tay. Eliot Ness gọi đàn em tới để chở thằng này vào ty chờ ngày ra toà nhưng sáng hôm sau, nghe nói nó bị bắn chết dọc đường vì tính chuyện tẩu thoát. Chàng biết và mọi người đều biết có cho kẹo thằng khốn
cũng không dám bỏ chạy. Chẳng qua nó đã phạm tới cái điều tối kỵ của cảnh sát, không thể tha thứ được: Nó dám đụng đến thân nhân của cảnh sát. Mày phạm tội gì cũng có thể đem ra toà án để xét xử được hết nhưng tội này là tử hình. Dù ông Ness đã cấm không cho nhưng đàn em cũng tìm được cách để xử tử hình được như thường.
Luật là luật mà.
Eliot Ness cảm thấy hơi thất vọng. Chàng muốn đem ông hung thần Gary
Malone này về khoe với vợ, nhưng điệu này thì đành phải chờ đến lần khác vậy. Mở cửa bước vào, ba người cùng ngồi nơi phòng khách. Gary móc ống tẩu ra, nhồi đầy một vố, thở khói ngi ngút lên trần nhà. Eliot Ness hỏi:
-Mấy ông uống cà phê.
Lite lẹ miệng xin một ly liền:
-Dạ, anh cho tôi xin một tách cà phê. Nhớ bỏ tí đường tí sửa.
-Còn ông, Malone?
Gary Malone cười. Hắn thò tay vô trong aó kéo ra một cái ve nhỏ:
-Ông khỏi lo cho tôi. Tôi có thức uống khác quý hơn. Cà phê chỉ uống vào
buổi sáng, buổi chiều nên uống thứ khác.
Tuy chưa bao giờ làm việc chung với Gary Malone nhưng Eliot Ness biết
hắn là một “tập họp” của những cái gì kỳ lạ, khác thường. Eliot Ness nhớ ra là cái số của chàng nó như vậy. Tất cả những nhân viên làm việc cho Eliot Ness thường có những con người nổi tiếng là “bất bình thường”. Mà nghĩ thấy cũng đúng. Nếu
đầu óc không bất bình thường không ai lại chịu xông pha nơi hòn tên mũi đạn, mạng
sống ngày nào cũng được tính từng giờ một để đi làm cái nghề nguy hiểm này với
một số lương chẳng có bao nhiêu.
Không hiểu cái “bất bình thường” của ông nội “bàn tay thép” này cỡ nào
nhưng nhưng Eliot Ness đoán phải là to lắm. Đa tài đa tật mà, chàng vừa bước lui ra
phía nhà bếp vừa suy nghĩ.
Trong khi đó, Gary Malone vặn nút cái ve nhỏ đen thùi lùi ra, ngữa cổ đưa
lên làm một hơi rồi bỏ xuống, khà một cái ngon lành.
Lite đang còn ngạc nhiên thì thầy đội đã thẩy cái ve tới:
-Chú mày muốn thử chút không?
Từ lúc thầy đội “đàn anh” móc cái ve ra, Lite đã nghi trong đó chứa những
gì, giờ nghe nói vậy bèn hoảng vía lên, giẩy nẩy:
-Cái gì vậy Gary?
Gary Malone tỉnh bơ:
-Đù mẹ rượu chớ còn gì nữa.
-Rượu!
Gary Malone chùi miệng:
-Đù mẹ chừng này tuổi đầu rồi không lý đi đâu cũng thủ một chai sữa trong người. Không phải là rượu thì là gì? Mà thứ này là thứ đặc biệt, nhập cảng từ
Canada qua đàng hoàng, không phải thứ cà chớn của mấy thằng chết đói nấu lậu đâu.
Nghe đến đây, Lite thấy muốn … chết trong lòng đến đó. Là một cảnh sát
viên trẻ tuổi, nó gia nhập nghành này vì muốn làm đẹp xã hội, muốn tống cổ mấy thằng găng tơ, bọn ăn cướp vào tù để đem lại no ấm và hạnh phúc cho xã hội. Chính vì vậy mà Lite mới đi tình nguyện đi theo Eliot Ness và gặp được Gary Malone. Chẳng ngờ thần tượng hằng bao nhiêu năm của hắn, con người đã làm rúng động giới giang hồ Chicago lại là một thằng nghiền rượu hay sao? Theo đầu óc non nớt của Lite, muốn bảo vệ luật pháp, thì chính mình phải giữ luật cho đàng hoàng trước đã. Mình chuyên môn đi bắt rượu mà lại uống rượu như hủ chìm như thế này thì coi không ổn chút nào cả.
Nhìn thấy vẻ chới với trong ánh mắt thằng cảnh sát trẻ, tinh đời như Gary
Malone thì hiểu liền là thằng bé này đang nghĩ gì. Té ra là nó ngạc nhiên vì thấy mình uống rượu đây mà. Gary Malone chợt nhớ đến hình ảnh của mình cách đây trên 20 năm …
Ngày ấy, mới vào nghề cảnh sát, Gary Malone cũng là một cảnh sát viên
gương mẫu, nhìn đời qua lăng kính màu hồng, quyết đem tuổi trẻ để phụng sự pháp luật. Sau thời gian tập sự, Gary Malone được giao trông coi một khu ghetto nghèo của dân di cư có nhiều thằng du đãng mới lớn hay phá làng phá xóm, nổi tiếng là “bất trị”. Theo sự nhận định của cảnh sát lúc ấy, con nít mới lớn thì chẳng có gì nguy hiểm, có thể giao cho một thầy đội mới ra trường cỡ Gary Malone trông coi được. Thầy có thể dạy dỗ đám con nít này vừa học thêm kinh nghiệm để sau này đảm nhận những chức vụ khó khăn hơn.
Nhưng đâu có ai ngờ chính cái bọn con nít mới lớn lại là cái bọn nguy hiểm nhất. Chúng nó còn trẻ lại có cái lợi thế là được pháp luật của cái xứ này gìn giữ nên đâm ra ngang ngược không thể nào trị được. Tệ hơn, hồi đó thầy đội làm gì có xe hơi, đi đâu cũng cỡi ngựa và mang gươm giống y hệt một hiệp sĩ thời trung cổ. Đi đứng coi oai vệ lắm nhưng sau mấy tháng hành nghề, thầy đội Gary Malone cứ bị khiển trách hoài vì từ ngày về “trấn nhậm” khu vực, nạn trộm cắp và phá làng xóm của bọn du thử du thực chẳng những không giảm mà còn có khuynh hướng “đi lên” mới là kẹt. Thầy đã cố gắng hết sức, lúc thì dọa nạt, khi khác lại còng đầu vài thằng đem vô bót nhưng chúng nào có sợ. Vừa được thả ra là bọn côn đồ tụ tập nhau lại và phá làng xóm còn nặng hơn xưa nữa như có ý nhắn với thầy đội trẻ tuổi rằng:
“Tài của thầy chỉ có vậy là hết rồi. Tưởng thầy làm được trò gì chứ bợp tai con
người ta rồi bắt đem về bót nhốt vài giờ thì đâu có hù được ai … “
Thầy đội trẻ tuổi Gary Malone căm lắm nhưng luật pháp Hoa Kỳ chỉ cho
mình xử dụng quyền hạn đến đó là hết. Tức đến học máu ra nhưng không thể làm gì hơn được. Vốn thượng tôn luật pháp, thày tự trách hay vì mình giữ luật không đúng để đến nổi bọn nó phải ra nông nổi đó. Tối tối về nhà, thầy chong đèn thức đêm tới mấy giờ sáng để ráng tìm trong cái mớ sách của trường cảnh sát, có một phương thức nào hay không để dẹp bọn du côn mất dậy.
Nhưng tìm mãi chẳng thấy. Trong khí đó, bọn nhô con vẫn lộng hành cho
đến một ngày, xếp trực tiếp gọi thầy đội Gary Malone vào phòng, đóng cửa lại rồi … chửi thẳng vào mặt chẳng nể nang gì cả:
-Bố mày là cảnh sát tuyệt hảo, … đẻ ra mày, tao tưởng mày nếu không được
bằng một nửa của bố thì cũng trên trung bình, hoa ra mày làm việc như … cứt.
Gary Malone tái mặt, ấp úng hỏi:
-Xếp cho tôi một thời gian nữa, tôi mới ra trường …
Người Thượng sĩ cảnh sát chửi thề:
-Nếu tao không nể mặt ông già mày thì tao đã tống cổ mày đi từ khuya rồi.
Làm việc như vậy mà cứ khoái mặc đồ cảnh sát đeo gươm làm những thằng cảnh sát khác phải ngượng lây. To con và sức lực như mày làm nghề phu khuân vác chắc có lẽ hợp lý hơn, chữ thọ lại bảo đảm nữa. Bây giờ, khỏi nói nhiều, tao cho mày một tháng, nếu cái khu trách nhiệm mà còn một lá đơn hay một lời than phiền về những vụ ăn cắp vặt, đấm đá vớ vẩn thì cút cha cái thân mày đi, đừng về đây mà nhìn mặt tao nữa. Trước khi cút, đừng quên trả cái mộc cảnh sát lại để tao kiếm người khác có khả năng hơn làm việc.
Thầy đội trẻ tuổi Gary Malone đang còn tính phân biện thì gã thượng sĩ già
đã đứng dậy, phất tay đuổi hắn ra ngoài như đuổi một thằng tội phạm tầm thường.
Gary Malone giận tím mặt lại nhưng biết tính tình xếp mình, đành lủi thủi bước ra. Tối đó, nhục nhã, đau khổ, hận đời, thầy đội Gary Malone đành lò mò tới
nhà cũ của mình để vấn kế ông cụ. Giòng họ Gary Malone đã có hai đời cớm trong máu, đến đời mình là đời thứ ba, chẳng lẽ để bị đuổi ra khỏi nghành thì mặt mũi nào mà dòm mặt tổ tiên.
Ông cụ thân sinh của Gary Malone tiếp đón đứa con trai niềm nở, lại biểu
vợ nấu nướng linh đình để đãi con. Bữa tiệc linh đình mà Gary Malone có ăn uống gì được đâu, chỉ thở dài và thỉnh thoảng nốc rượu lia lịa. Sang phần tráng miệng, Gary Malone mới tâm sự nổi khổ của mình cho bố nghe, và kết luận:
-Bố không cho ý kiến để giúp con thì chắc con bị đuổi sở, mất hết uy tín
của gia đình mình …
Ông thân Gary Malone cười ngất. Thằng con trai của ông, nổi tiếng là ngang ngược từ lúc còn đi học, đoạt giải vô địch quyền anh của trường và của Chicago trong mấy năm mà bây giờ sợ không làm tròn nhiệm vụ của một cảnh sát viên hạng bét thì quả là chuyện khôi hài. Sao cái máu cớm hai đời còn chờ gì mà không bốc lên trong người nó kìa.
Thấy ông già cứ nhìn mình cười mãi, Gary Malone đâm ngượng bèn hỏi:
-Bố, ngày xưa bố cũng là cảnh sát, bố làm sao để giữ được an ninh một khu
vực?
Ông già hỏi lại:
-Ngày xưa đi học trong trường, mày nổi tiếng là một thằng dữ tợn ai cũng
sợ, vậy để tao hỏi mày, mày làm sao để chúng nó nể sợ mày?
Cậu con nhớ lại dĩ vãng oanh liệt, cười hề hề:
-Tại con nóng tánh, nhìn thằng nào thấy gai gai con mắt là đập cho một trận liền …
Ông thân Gary Malone vỗ tay đánh đét một phát:
-Mày nên nhớ, trường học và trường đời đều giống y như nhau. Cái khác
biệt là ở trường đời, luật lệ gắt gao hơn gấp vạn lần và nếu mày thua, thì không phải mình mày khổ mà cả gia đình và vợ con sẽ khổ …
-Bố muốn nói là làm cảnh sát, hễ thấy thằng nào gai mắt là cứ xông tới đập chết mẹ nó ra như lúc còn đi học?
-Đúng. Thằng nào lạng quạng nói không được thì cứ tẩn cho nó mềm xương nó ra.
-Nhưng đâu có được, con đã thề trước thần công lý ngày ra trường là sẽ
bảo vệ luật pháp đến giây phút cuối cùng … Chưa đã hết, còn luật lệ, còn hiến pháp của quốc hội đã ban hành để bảo vệ quyền lợi của mỗi người dân, con làm vậy thì xã hội còn ra cái thể thống gì nữa?
Ông thân Gary Malone mồi một ống tẩu, phà khói um lên rồi trả lời:
-Luật pháp và hiến pháp cái … đít của tao. Mày phải hiểu, luật pháp được
lập ra để bảo vệ xã hội, dành cho những thằng biết tôn trọng luật pháp thôi. Những thằng không biết tôn trọng luật pháp thì cứ thẳng tay với chúng nó …
Gary Malone vẫn chưa hết thắc mắc:
-Là một cảnh sát, tức là người bảo vệ luật pháp, con nghĩ trước hết mình
phải tôn trọng luật đã, rồi mới bắt người ta tôn trọng được …
Ông thân Gary Malone ngắt lời con trai:
-Mày cứ tôn trọng luật pháp của mày theo kiểu trường huấn luyện cảnh sát
dậy đi, cứ áp dụng đúng những gì sách vỡ dạy đi, sáu tháng nữa trở lại đây để tao coi thử mày còn mặc bộ đồ cảnh sát này không cho biết … Mà nếu mày còn mặc được bộ đồ này, tao dám chắc là chẳng bao lâu, tao sợ sẽ phải đi đưa đám mày.
Gary Malone ngồi im, đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Suốt đời,
bố làm cảnh sát, ngày hai buổi sáng cầm … dùi cui đi, tối ôm dùi cui về. Trong bao nhiêu năm mặc đồ cảnh sát đó, bố có bao giờ thèm mở miệng nói một câu gì về công việc của mình? Gary Malone biết tính bố, cũng chẳng bao giờ dám thắc mắc nhưng đoán là bố mình phải là một con người thượng tôn luật pháp nhất thế giới. Mà thật, bố bắt đầu áp dụng luật ngay từ trong gia đình, khởi đầu bằng cậu con trai quý tử. Đi chung với bố, chỉ cần xả một chút rác xuống đường là bố thẳng cánh giộng cho một bợp tai liền. Ngay cả thấy rác ngoài đường mà không chịu khó lượm lên bỏ vô thùng thì cũng bị cự. Bố hay bảo: “Mày biết không, nếu mỗi thằng con nít như mày mỗi ngày liệng một tờ rác xuống đường thì nước Mỹ này sẽ thặng dư bao nhiêu tấn rác? Hoặc nếu chúng mày chịu khó cúi xuống nhặt một tờ rác khi nhìn thấy thì đất nước này sẽ sạch sẽ hơn được mấy trăm tấn rác một ngày … “
Cho đến ngày Gary Malone từ giã bố lên đường đi học cảnh sát, bố cũng
chẳng nói gì. Tốt nghiệp trở về, bố cũng chẳng nói gì. Cho đến ngày hôm nay,
trong giờ phút bi đát nhất của nghề nghiệp mà được bố giáo huấn mấy câu ngược đời vậy thì cậu cả không ngạc nhiên sao được?
Ông già mồi thêm một tẩu thuốc, tiếp:
– Mày biết một người cảnh sát giỏi là gì không?
-Thưa không.
– Vễnh cái lỗ tai của mày ra mà nghe tao nói câu này. “Một người cảnh sát
giỏi là một người dám phạm luật để trị những thằng phá luật mà không ai biết là mình phá luật.” Suốt đời mày, mày nhờ lấy giùm tao câu này. Tao đã chờ một ngày như ngày hôm nay từ lâu lắm rồi. Tao biết một ngày nào đó, mày sẽ đến đây để năn nỉ tao để truyền cho mày một ít kinh nghiệm của nghề cảnh sát. Vậy thì, lời tao vừa nói là chìa khoá, là sự khôn ngoan của giòng họ này, suốt cuộc đời còn lại của mày, mày phải ráng mà nhớ lấy. Nếu mày biết áp dụng câu này khéo léo, sẽ đem được hạnh phúc lại cho gia đình, cho xã hội. Bằng không, mày nên kiếm một nghề khác mà sinh sống.
Liếc nhìn bộ sắc phục cảnh sát lộng lẫy với mấy hàng nút vàng bóng láng
trên áo của con trai, ông ta nói tiếp:
-Nếu mày không muốn làm cảnh sát, tao nghĩ mày chỉ nên đi làm … tướng
cướp. Cái số của mày nó như vậy rồi con trai …
Tối đó, từ giã bố trên đường về nhà, Gary Malone cứ suy nghĩ mãi câu nói
của ông bố, một cựu cảnh sát viên với hơn ba chục năm trong nghề: “Một cảnh sát viên giỏi là một người dám phạm luật để trị những thằng phá luật mà không ai biết là mình phá luật … “
Câu nói gì nghe sao mà lãng quá. Phá luật để mà trị những thằng phá luật
mà vẫn không ai biết thì thật là rắc rối.
Ngày hôm sau, Gary Malone lại thắng yên lên ngựa, lòng rối bời, tà tà ra
khu vực trách nhiệm cũ. Vừa vào tới khu phố, thầy đội chưa dạo hết một vòng thì một bà già đã nhào ra, ôm cứng cổ con ngựa khóc ngất.
Đúng luật cảnh sát, thầy đội Gary Malone xuống ngựa, thò tay tính móc ra
cuốn sổ “biên bản” để ghi chép như mọi lần. Bàn tay vừa cho vào túi bỗng thầy
khựng lại. Câu nói hồi tối hôm qua của bố lại trở lại ám ảnh thầy: “Một cảnh sát viên giỏi là một người dám phạm luật để trị những thằng phá luật mà không ai biết là mình phá luật … ” Xưa nay mình chỉ ghi ghi chép chép hết gần cả mấy cuốn sổ mà có giải quyết được cái gì đâu. Hay là cứ thử nghe lời bố một lần để giải quyết vụ này coi đã. Thầy chắc lưỡi nghĩ tiếp: “Dù gì ổng cũng là … bố mình, lại là cựu cảnh sát, ổng không dạy mình bậy đâu.”
Suy nghĩ xong là thầy Gary Malone xoay người, ra dấu cho người đàn bà
thôi khóc:
-Bà bị cái gì, bình tỉnh nói cho tôi nghe, tôi sẽ giải quyết cho bà.
Cái giọng nói của thầy đội trẻ tuổi Gary Malone lúc ấy tự nhiên có một sức
mạnh bí mật lạ lùng, khác hẳn những lần trước làm bà già nín khóc ngay và chính
thầy đội cũng phải ngạc nhiên.
-Thầy ơi, vợ chồng tôi già rồi, chỉ còn có vài sợi giây chuyền và cái đồng
hồ vàng mà chúng nó cũng vào ăn cắp cho được.
-Tuị nào lấy và lấy hồi nào, lấy cái gì, có ai thấy không?
-Hu … hu, nếu thấy được thì tôi còn tới đây nhờ thầy làm gì? Chắc cũng mới
trong vòng một tiếng đồng hồ đây thôi. Hai vợ chồng tôi vừa đi lễ về thì thấy nhà cửa mở tan hoang … hu hu .. , tôi đã nói với lão già nhà tôi mà lão cứng đầu nhứt định không chịu nghe tôi, hu … hu, bây giờ mất của thì mới sáng mắt ra .. , nhờ thầy chận bắt chúng nó giùm, mới có một tiếng đồng hồ thì chúng nó không chạy đi đâu xa được đâu …
Thầy đội Gary Malone suy nghĩ mau lắm. Trong một khu phố nghèo với
nhà cửa san sát nhau như thế này thì cần gì tới một tiếng, chỉ một phút đồng hồ thôi là chúng cũng có thể lặn mất tiêu. Không lý chỉ vì một cái đồng hồ vàng mà xét hết một lần mấy ngàn cái nhà trong khu này à? Có muốn xét hết cũng không sao xét được. Bà già này tưởng cảnh sát là … trời con sao kìa? Khó nghĩ quá. Cứ theo như thông lệ thì thầy Gary Malone sẽ vào nhà làm một màn điều
tra lấy chi tiết, hỏi dăm ba câu vớ vẩn để chép vào biên bản. Xong đưa biên bản
cho bà già ký một phát rồi biểu diễn một nụ cười kèm theo câu: “Have a nice day” trước khi từ giã ra đi. Bà già nghèo khổ kia sẽ chẳng bao giờ nhìn thầy cái đồng hồ của mình, và thầy đội Gary Malone sẽ chẳng bao giờ tìm ra thủ phạm.
Nhưng hôm nay thì khác, mắt thầy đội Gary Malone tự nhiên long lên sòng
sọc, nhìn bà nói nhẹ nhàng:
-Bác cứ đi về nhà đi. Tên tôi là Gary Malone. Số thẻ hành sự là 982, tôi
sẽ lấy lại cái đồng hồ cho bác.
Từ lúc đi lễ về, nhìn thấy cửa sổ bị mở tang hoang, hai vợ chồng bà đã quì
ngay xuống đất mà cầu nguyện. Cầu nguyện xong bà chạy ra và gặp ngày thầy đội Gary Malone đang đi tuần buổi sáng thì tin là lời cầu nguyện đã được chấp nhận, chúa gởi ông này tới giúp mình thật. Thế là bà nhào tới, khóc lóc một thôi cho đỡ ấm ức trong lòng. Bây giờ nghe thầy đội Gary Malone hứa một câu như vậy thì bà càng mừng hơn nữa, chẳng sợ mắc cỡ, liền quì ngay xuống mặt đường mà tạ ơn thiên chúa. Gary Malone thấy cảnh đó không khỏi nhịn cười được, chờ bà đứng lên, liền hỏi thăm về chi tiết của cái đồng hồ, rồi kết luận:
-Xong rồi, tôi biết nhà bác ở đâu rồi, bác cứ về nhà, vài ngày nữa tôi đem
đồng hồ lại trả cho bác.
Bà già hớn hở ôm lấy Gary Malone hun một phát nghe đến chụt rồi quay
lui, mặt mày tươi tỉnh như là bà đã cầm lấy cái đồng hồ trong tay rồi vậy.
Nhìn bà lão bước đi, Gary Malone cũng thấy vui lây trong lòng. Thầy đội
trẻ tuổi chưa biết sẽ làm cách nào để lấy lại cái đồng hồ vàng cho bà ta nhưng mới áp dụng thử đòn “phá luật để bảo vệ luật” mà đã thấy có kết quả tốt rồi. Ít nhất, hắn đã làm vui lòng một bà già nghèo khổ đã có sự tin tưởng mãnh liệt nơi thiên chúa. Gary Malone phóng tót lên ngựa. Hứa thì ai hứa cũng được, chuyện quan trọng là có giữ được lời hứa không kìa. Gary Malone bắt đầu suy nghĩ một cách … phạm pháp để tìm cách lấy lại cái đồng hồ đã mất. Ý nghĩ đầu tiên là phải túm lấy một vài thằng đầu xỏ trong khu vực này mà tẩn cho mỗi đứa một trận rồi bắt nó khai chăng? Không được. Gary Malone biết rõ khu này hổn tạp, chúng nó đâu có tổ chức đàng hoàng như bọn mafia nên làm sao có đứa nào làm đầu sỏ. Vụ này nhất định phải là sản phẩm của một thằng nào kẹt tiền quá làm liều. Gom hết chúng nó lại rồi tát cho mỗi đứa một bợp tai chăng? Cũng không được. Gary Malone biết bọn con nít khu này. Tù tội chúng nó con chưa sợ thì sợ gì một cái bợp tai của cảnh sát. Hay là treo một giải thưởng. Mà lấy gì để làm giải thưởng kìa. Lương cảnh sát đâu có bao nhiêu, nhiều khi không bằng một cú ăn hàng của chúng nó thì làm sao hấp dẫn chúng được. Hơn nữa, không lý mỗi lần có ăn cắp là mỗi lần bỏ tiền túi ra treo giải thưởng? Chịu gì thấu?
Rẻ ngựa sang một khúc đường khác, thầy đội Gary Malone bỗng nghĩ ra
một kế. Thằng nào đó bỏ công rình mò đi ăn cắp cái đồng hồ này để làm gì kìa? Chắc chắn không phải là dân sưu tập đồ cổ. Nó phải tìm cách bán tháo bán đổ để kiếm tiền xài. Mà nó bán cho ai? Nghĩ tới đây, Gary Malone bật cười lên một phát rất là khoan khoái. Có vậy mà nãy giờ kiếm không ra. Trong cái khu phố này, có nơi nào mua đồ “thổi” mau và kín đáo cho bằng tiệm chạp phô của lão Enabel. Thằng cha Do Thái mũi quặp này có cái gì bán được mà lão không mua. Ngay cả xác chết, nếu có giá thì lão cũng sẵn sàng cất một cái nhà để chứa xác liền. Dân Do Thái xưa nay sống bằng nghề buôn bán mà.
Xong một chuyện. Chuyện thứ hai là phải làm sao mà “phá luật” được với thằng cha Do Thái lưu manh này. Thầy đội Gary Malone biết Enabel giàu có và rất nhiều thế lực. Làm cái nghề của lão mà không quen biết lớn, không nuôi vài ba thằng luật sư “trong túi” thì chỉ có nước vô tù mà … bán cà phê cho bọn cai ngục. Gary Malone lắc đầu liền mấy cái, nhíu mày tư lự. Chao ôi, ngày đầu tiên tính thử phá luật mà đã đánh mùi thấy sự rắc rối rồi.
Gary Malone lại nhớ đến nụ cười của bố mình tối hôm qua và câu nói.
Xưa nay có bao giờ thấy bố bày đặt triết lý đâu, đến bây giờ mới làm một câu thấy đúng quá trời. Gary Malone dạo thêm mấy vòng phố, rồi vào một tiệm cà phê bên đường bình tĩnh ngồi chờ cho cái kim đồng hồ quả lắc của mình bò tới con số 9. Đúng giờ, thầy đội đứng dậy, đội mũ chỉnh tề bước ra phóng lên ngựa.
Đường tới nhà lão Enabel không xa, chỉ quẹo vài vòng là thầy đội đã nhìn
thấy cửa tiệm của lão. Đã có chủ đích, Gary Malone xuống ngựa, cột nó vào một nơi vắng vẻ rồi tà tà cầm dùi cui thả bộ tới. Tiếng giày đinh nện xuống mặt đường nghe cồm cộp. Thỉnh thoảng, thầy đội trẻ tuổi phang cây dùi cui vô bàn tay trái của mình nghe đến chát một tiếng nổ to như pháo. Cả ty cảnh sát Chicago, đúng hơn, cả nước Mỹ chỉ có mình thầy là nện được cây dùi cui mạnh cỡ đó mà không sợ … gãy tay. Nếu ai biết thầy, thì họ chỉ sợ cho cây dùi cui bị gẫy làm đôi chứ bàn tay của thầy nổi tiếng xưa nay là “bàn tay thép” thì làm sao gẫy được?
Từ ngoài nhìn vào, Gary Malone phát hiện được ngay chiếc mũi quặp lại
như con két của lão Do Thái. Mũi gì đâu mà kỳ cục, thầy đội vừa suy nghĩ vừa đẩy cửa bước vào.
Lão Enabel đang lom khom làm mấy con tính, nghe tiếng động nhìn lên và
chút xíu nữa thì rú lên một tiếng. Làm cái nghề buôn bán này người ta kỵ cảnh sát như đàn bà kỵ rắn, mới sáng sớm chưa buôn bán gì mà thầy đội đã dẫn xác vào thì suốt ngày chắc thần tài sẽ không thèm ghé đây.
Nụ cười … Do Thái nở trên cặp môi … Do Thái liền, tuy hơi méo mó nhưng
rất nồng nhiệt, rất cầu tài, kèm theo một câu chúc tụng vui vẻ để chào mừng ông thày đội trẻ.
Ủa, thằng cảnh sát trẻ tuổi này hôm nay ăn trúng cái gì mà sao có vẻ bặm
trợn quá trời. Lão Enabel xã giao mấy câu, vẫn không thấy hắn trả lời, chỉ lầm lì thò tay ngoắc lão ra một góc nhà nói chuyện.
Lão Enabel chột dạ, bỏ quầy tính tiền bước ra. To nhỏ với thầy một lúc,
lão mới tá hoả mặt mày khi nghe ý định của thầy: Một gia đình trong khu trách
nhiệm của thầy bị mất cái đồng hồ vàng, thầy muốn ra ngồi phía nhà trong của lão để rình bắt nó. Làm sao được. Cái cửa tiệm này xưa nay chuyên môn mua và bán đồ ăn cắp, bây giờ dấu cho một thầy cảnh sát ngồi trong nhà chờ cho thằng ăn cắp vào để thầy thộp cổ thì còn thằng nào dám tới đây mà bán đồ cho lão nữa. Dẹp tiệm là cái chắc. Chẳng những bị bể nồi cơm, chúng nó còn nghi mình đi làm ăn ten cho cảnh sát thì có thể mất mạng như chơi.
Mới nghĩ đến đó là mồ hôi … Do Thái lấm tấm trên trán. Lão tính toán liền:
Mình từ chối được không? Được chớ, xưa nay luật pháp nước Mỹ đâu có cho cảnh sát vô ngồi trong nhà của người ta. Đừng nói ngồi, chỉ cần bước vô nhà thôi là cũng phải cần có trát của toà án. Nhưng dòm lại khuôn mặt của thằng cảnh sát này thì thấy nó còn ghê gớm hơn cả mấy cái án lệnh của toà. Cặp mắt nó sắc như thế kia thì làm sao dám cản nó. Mà nếu có cản nó được đi, không cho ngồi trong nhà, nó xách ghế ra ngồi lù lù một đống ngoài cửa thì càng kẹt hơn. Lão biết dân ăn cắp là dân hèn nhát nhất thế giới. Hễ đánh hơi thấy có chút mùi cớm thôi là chúng nó đã dọt rồi, nói gì tới chuyện có cảnh sát gác cửa?
Tiến thoái lưỡng nan, lão Enabel đứng thừ người ra suy nghĩ. Nhưng thầy
đội Gary Malone đâu có thì giờ để chờ, bèn gõ mạnh cái dùi cui vào tay mình nghe đến “póc” một tiếng, ra dấu là thầy đã mất kiên nhẫn rồi đấy. Cái gõ của thầy mạnh quá, tiếng “póc” vang lên nghe chẳng khác nào tiếng sét đánh ngang tai làm lão Do Thái giật nẩy mình lên. Nó ăn cái gì mà tay chân như cứng như sắt. Tay chân như vậy thì linh hồn chắc cũng chẳng mềm hơn, nó không đến đâu để đùa. Lão suy nghĩ thật mau và đi đến quyết định liền:
– Thầy đội đừng nóng, để tôi sẽ lấy lại cho thầy cái đồng hồ vàng đó.
Gary Malone mừng rỡ như người rớt xuống mỏ vàng. Không ngờ cái triết
lý của bố dạy nghe thì thấy khó nhưng áp dụng lại dễ dàng đạt đến kết quả như vậy.
Mừng lắm trong lòng nhưng bộ mặt thầy đội vẫn tỉnh bơ:
-Chừng nào?
Câu trả lời của lão Do Thái làm thầy đội trẻ tuổi muốn nhẩy lên:
-Nội trong ngày hôm nay.
-Ông không có dỡn mặt với chính quyền đó hả.
Lão Enabel nhăn nhó, đưa hai tay ra phân trần:
-Tui có khùng cũng không dám dỡn mặt mấy thầy.
Rồi lão kéo tay Gary Malone:
– Thầy đi theo tôi vào nhà, tôi có chuyện này muốn trình bày với thầy …
Ngồi phía trong nhà, khuất sau tấm cửa, lão mới tâm sự với thầy cảnh sát
trẻ, nói giọng rất nhỏ làm như sợ một kẻ thứ ba nghe thấy:
-Thầy biết không, tụi tôi luôn luôn ủng hộ chính quyền mà. Kỳ tranh cử
nào tôi lại không bỏ ra hàng chục nghìn bạc để vận động cho ….
Gary Malone không muốn nghe chuyện chính trị, xua tay:
-Ông muốn nói gì nói đi, tôi còn bận nhiều việc.
Câu trả lời tiếp theo của lão Do Thái đã làm thay đổi không những triết lý
mà cả cuộc đời của thầy cảnh sát trẻ Gary Malone:
-Nói thật với thầy, bọn ăn cắp ở đây thì đứa nào tôi chẳng biết. Tôi mà
làm cảnh sát thì khu phố này sẽ không còn một thằng ăn cướp …
Nói xong câu đó, lão bật cười, tự cho là mình đã nói một câu pha trò hay.
-Khu phố này, nếu chúng nó không đem đồ tới đây bán cho tôi thì bán cho
ai? Tôi tin thầy nên mới nói vậy, chứ nếu thầy đem luật pháp ra để làm khó tôi thì cũng khó lắm. Thầy hiểu luật pháp mà, trong khi đó, hội của chúng tôi có nuôi tới mấy chục thằng luật sư trong tay. Ngay cả thị trưởng còn phải xin tiền của chúng tôi mỗi khi tranh cử kia mà …
Ghê thay cái thế lực tiền bạc của bọn Do Thái này. Ra là chúng nó còn có
băng có đảng để bênh vực lẫn nhau. Vậy mà mình cứ tưởng ăn hiếp một thằng lái buôn Do Thái là dễ lắm. Nhưng tại sao đương không nó lại chịu hợp tác với mình kìa? Thầy đội mồi điếu thuốc:
-Nếu ông có thế lực mạnh ngon lành cỡ đó, tại sao lại chịu thua tôi một
cách dễ dàng vậy?
-Không ai thua ai hết, chỉ là vấn đề làm ăn thôi. Bây giờ tôi giúp thầy,
vài hôm nữa thầy sẽ giúp tôi lại.
Gary Malone quắc mắt lên liền, sẵn giọng đáp lại:
– Vậy ra là ông tính làm áp lực tôi à?
-Không, tôi, một thằng Do Thái “cô đơn” làm gì lại dám có ý tưởng làm áp
lực với cảnh sát? Tôi dùng chữ “giúp nhau” thôi mà. Thầy cứ tính đi, nói thật với thầy, nếu tôi không giúp thầy, chắc cũng còn lâu thầy mới lấy lại được cái đồng hồ.
Gary Malone cười:
-Và dĩ nhiên cái cửa tiệm của ông cũng khó mà mở cửa lâu được?
Lão Enabel vỗ hai tay vào nhau nghe đánh đét một phát:
-Đúng lắm. Thầy thấy không, nếu hở ra một chút là cứ đem pháp luật và
nguyên tắc ra để chơi nhau thì làm sao mà con người sống với nhau được? Trong cuộc đời, người ta thường quên là luật pháp, dù muốn nói gì đi nữa, thì cũng do con người làm nên. Mà hễ con người làm được thì con người bỏ được.
-Nhưng làm vậy thì chừng nào mới diệt hết nạn ăn cướp được? Hơn nữa,
luật pháp đặt ra để làm gì?
Lão Enabel ngã người ra sau, ngắm thầy cảnh sát. Tướng thầy coi dữ dội thật, lúc nãy thầy mới bước vào, lão tưởng là thầy “biết điều” lắm nhưng không ngờ
thầy còn ngây thơ quá. Chắc thầy bị xếp rầy quá cho nên mới nổi khùng làm bậy một chuyến đây mà.
Lão Enabel tinh mắt thật và phần nào biết mình đã đoán đúng. Đã vậy thì
nên tặng cho thầy một bài học, biết đâu chừng thầy nhờ bài học này mà sẽ trở nên một cảnh sát lừng danh của Chicago?
-Thầy cảnh sát, thầy ngây thơ quá. Từ khi có con người trên mặt đất, hễ
ngày nào người ta còn biết … đói bụng, thì ngày đó xã hội còn có người phạm tội ác. Nếu đổ mồ hôi mà không kiếm được miếng cơm để ăn thì người ta sẽ không chịu ngồi không để chờ thần chết tới đón đi. Người ta sẽ đổ máu, sẽ làm mọi chuyện, sẽ đổi tự do để tranh lấy miếng cơm mà ăn. Thầy còn trẻ mới ra nghề, tưởng rằng hễ cứ giữ được luật pháp là sẽ hết nạn trộm cắp, nạn ăn cướp chăng? Thầy lầm rồi. Từ thuở tạo thiên lập địa đến bây giờ, chưa bao giờ loài người sống được trong một xã hội tuyệt đối “phi tội ác”. Nó luôn luôn hiện diện với chúng ta, dù chúng ta không thích nó, dưới một hính thức nay hình thức khác. Đặc biệt, hễ xã hội càng nghèo đói, càng bất công thì càng nhiều trộm cắp và tội ác.
Lão Do Thái nói một thôi, thầy đội trẻ tuổi nghe đến đâu thấm đến đó.
Không ngờ hôm nay lại học được một bài học quý giá vô cùng từ một tên lái buôn Do Thái hạng bét mà mình thường khinh bỉ hằng ngày.
Thấy thầy cảnh sát có dáng bối rối, lão Enabel mĩm cười, lấy từ trong học
bàn ra một cuốn sổ tay, xé một trang đưa cho thầy:
-“Anh hùng trong thiên hạ” nằm hết trong cuốn sổ này của tôi. Mà chúng
nó đâu có nhiều, chỉ chừng năm ba thằng thôi.
Gary Malone đón nhận tờ giấy. Lão Do Thái hỏi luôn:
-Cái đồng hồ bị mất là khu nào?
-Khu Nam Ciceria!
Lão Enabel cười liền:
-Chém tôi chết nhất định là thằng Dusty phải có dính líu tới vụ này. Thầy
đội cứ chờ đi, tối nay tôi sẽ có cái đồng hồ vàng đem trả lại thầy.
-Sao ông biết rõ quá vậy?
-Nghề mà thầy. Buôn bán với bọn này mà không rành chúng nó thì chỉ
còn nước kiếm nghề khác mà sống …
Khỏi cần nói nhiều, Gary Malone đứng dậy kiếu từ liền. Ra tới cửa, thầy
quay lui bắt tay lão Enabel, giọng có vẻ thân thiện:
-Cám ơn ông. Buổi gặp gỡ hôm nay dạy cho tôi nhiều điều mà không có
trường cảnh sát nào dạy được.
Lão Enabel khoái chí cười:
– Thầy có tướng … cô hồn, nhất định thầy sẽ là một cảnh sát thượng thặng.
Mai mốt lên voi, thầy đừng có quên ngày hôm nay và thằng Do Thái nghèo hèn này.
Gary Malone cười, lắc đầu:
Chừng nào ông mua hết cả Chicago, mong ông cũng đừng quên thằng
cảnh sát … hiền lành này.
Cả hai cùng bật cười lên thật lớn.
Ra khỏi tiệm, Gary Malone lên ngựa, vừa đi vừa suy nghĩ những gì lão Do Thái vừa nói…
Dừng chiếc xe cảnh sát trước đại khách sạn Lexington, đưa mắt liếc một vòng là Mike Casey biết ngay là tụi này đang chuẩn bị chiến tranh. Hôm nay, lực lượng an ninh của Capone gài kín người từ ngoài ngõ vào đến đại khách sạn. Nhìn lên cao, Mike Casey khám phá ra chúng nó còn bố trí người vào cả những cao ốc chung quanh Lexington. Mike Casey thắc mắc. Nếu chỉ vì thằng Ness mà nó bố trí kỹ vậy thì là quá đáng. Hay là nó sợ tụi O Bannon lợi dụng nước đục thả câu, chơi cú phục kích bất ngờ. Gì đi nữa thì cái mùi của chiến tranh cũng đầy dẫy trong không khí.
Mike Casey chặc lưỡi, bước xuống xe, vừa đóng cửa thì hai thằng cô hồn
không biết từ đâu nhào tới như một cơn lốc:
-Xin lỗi ông bạn, đậu xe đây không được.
Mike Casey nhăn mặt lại. Đù mẹ tụi mù này, chúng nó dù có ngu đến đâu
cũng phải biết chiếc xe này là xe cảnh sát thành phố Chicago. Cái ngôi sao đen thùi lùi với hàng chữ “Police Chicago” bự bằng bánh xe được vẽ sơn rõ ràng nơi cánh cửa như vậy mà chúng nó không thấy sao? Còn nếu chúng nó không biết đọc, thì cái bộ đồ cảnh sát cùng căp lon đại úy mà lão đang mang cũng nói được lão là cảnh sát.
Chúng nó ở rừng mới ra hay ở cái lỗ nào chun lên mà ăn nói với cảnh sát mất dạy quá. Xưa nay, hễ ăn nói với thầy đội, thì người ta phải khúm núm, vừa nói vừa cười cầu tài và vừa gãi đầu gãi tai mới là đúng đạo công dân Chicago, có đâu lại xưng hô “ông bạn” một cách xấc láo với mình như thế này.
Mike Casey đang suy nghĩ, chưa kịp dừng bước thì hai thằng khốn đã chặn
ngay trước mặt lão. Tay chúng nó còn thọc sâu vô trong áo măng tô làm như sắp sửa móc chó lửa ra ăn thua đủ liền mới là lộn ruột. Xưa nay chỉ có cảnh sát đi làm khó dễ thiên hạ chứ đâu có cái màn thiên hạ đi làm khó dễ cảnh sát như thế này. Mike
Casey quen thói … cảnh sát, bèn lên giọng nạt lớn:
-Đù mẹ tụi mày, biết tao là ai không? Hai thằng khỉ đột không trả lời, vẫn
đứng yên một cách thách thức, lạnh lùng. Mike Casey dừng bước trước mặt chúng nó:
– Tao hỏi tụi mày có biết tao là ai không?
-Biết ông bạn là ai rồi nhưng không ông không thể đậu xe chỗ này được.
Lại chữ “ông bạn” chó đẻ. Ai thèm bạn bè với chúng mày. Mike Casey
gầm lên:
-Cảnh sát lái xe cảnh sát đi công chuyện nhà nước muốn đậu chỗ nào cũng
được hết … Xích qua một bên cho tao đi.
-Xin lỗi, tôi có lệnh như vậy. Ông bạn phải chạy vô ga ra như mọi người.
Lăn lộn trong nghề cảnh sát trên 30 năm, chưa bao giờ Mike Casey bị một
cảnh ngang ngược như thế này. Lão nổi khùng, giơ hai tay ra đẩy vào ngực một
thằng:
-Cút cha mày ra khỏi đường tao đi …
Ngay lập tức hai cây Colt.45 từ đâu không biết bay ra chĩa thẳng vào màng
tang lão. Tiếng con cò mổ bị kéo ra sau nghe cắc cắc đến lạnh mình. Một thằng cất giọng cảnh cáo:
-Xin lỗi ông bạn. Tôi không biết ông bạn làm tới quan chức gì bên cảnh sát
nhưng đất này là đất của Capone. Tôi lập lại, đất này là của Capone. Bất kỳ ai, kể cả tổng thống Hoa Kỳ muốn đi vào đây cũng phải tuân theo luật lệ của xếp Al Capone. Ông bạn có quyền chọn lựa, một là ông đi ra khỏi đây, hai là ông phải lái xe đậu vào ga ra.
Lão Mike Casey không ngờ chúng nó dám chơi bạo vậy. Giữa ban ngày ban nhật mà dám chĩa súng vào màng tang nhân viên công lực. Nhìn kỹ ánh mắt
chúng nó, Mike Casey biết tụi này không móc súng ra để doạ non dọa già. Lão
xuống nước phân bua:
-Tao tới đây đi họp với xếp Al Capone của tụi mày. Tao được mời.
-Ngay cả mấy Caporegime của xếp Capone cũng phải đậu xe vô ga ra như
thường. Luật là luật. Ông bạn thông cảm giùm.
Mike Casey tức muốn học máu ra. Cái câu “Luật là luật” là câu mà cảnh sát thường dùng để giáo dục dân chúng. Ngàn năm một thưở mới có thằng anh chị
dạy cho trùm cảnh sát câu này. Biết không thể làm tới, Mike Casey đành đấu dịu, nhăn nhó xuống giọng:
-Thôi được, xếp của tụi mày đâu, cho tao gặp chút coi.
– Khỏi cần, có gặp cũng vô ích vì chính xe của xếp tôi vẫn phải đậu vô ga
ra như thường.
Mike Casey lắc đầu, xoay người bước lui. Nó đã nói vậy thì đành lái xe ra
đậu vào ga ra cho yên chuyện. Thằng Al Capone này đúng là một ông vua không ngai. Lãnh thổ của nó thực tế đã trở thành một “quốc gia trong một quốc gia” với đầy đủ luật pháp và hệ thống an ninh riêng biệt.
Lão lên xe rồ máy, ngoan ngoãn chạy vòng ra sau, quẹo vào ga ra rồi đón
thang máy đi lên như tất cả mọi … công dân khác. Mike Casey không nhớ lần cuối cùng mình phải ngoan ngoãn lái xe như vậy là lúc nào. Có lẽ đã lâu, lâu lắm, từ thưở lão còn là một anh cảnh sát gác đường. Mấy chục năm nay đeo lon đại úy cảnh sát, tất cả những đặc ân của cảnh sát Mike Casey đều hưởng đủ, nay bỗng dưng trở lại làm phó thường dân trong vài phút đồng hồ, lòng dạ lão cảm thấy chua chát không ít. Lão lại chạnh lòng nhớ đến những ngày hưu trí sẽ đến. Người ta thường thì chỉ mong về hưu để hưởng nhàn nhưng riêng lão, cứ nghĩ đến ngày đó là thấy bạc đầu. Từ dân lên làm cảnh sát thì dễ chứ từ cảnh sát xuống làm dân không dễ chút nào hết. Mất mát nhiều quá.
Đếm những bước chân nặng nề trong cái ga ra lạnh lẽo, Mike Casey chợt
nghĩ đến Eliot Ness. Kể từ ngày thằng chó đẻ này xuống đây, Chicago như bị lọt vào cơn lốc. Mọi chuyện đảo lộn, chẳng còn ra cái thể thống gì cả. Lão ước giá hôm qua chúng nó phơ cho thằng cớm quái ác này một tràng vào giữa ngực cho nó chết mẹ nó ra thì cuộc đời sẽ giản dị hơn không biết là bao nhiêu lần.
Ra tới thang máy, Mike Casey thấy lạnh mình. Người của chúng nó đâu mà
lắm thế này? Nhìn đi đâu cũng thấy một thằng mặc áo bành tô, hai tay thủ sâu trong túi, mặt lầm lì làm như sắp sửa giết người vậy.
Một thằng cận vệ của Frank Nitti đón lão ngay tại cửa, lẹ tay đi một đường
kiểm soát khắp người. Lần thứ hai kể từ khi đến đây, Mike Casey thấy tự ái … cảnh sát bị thương tổn. Đến cả cảnh sát mà cũng bị đối xử như vậy thì chúng nó còn kiêng nể ai trên cõi đời này nữa? Ứa gan lắm nhưng Mike Casey chỉ biết đứng im lắc đầu.
Sau một tiếng gõ ra ám hiệu, cánh cửa phòng bật mở. Mike Casey bước
vào. Chỉ cần nhìn phớt qua là lão biết ngay buổi họp này rất quan trọng. Toàn là những thằng tư lệnh chiến khu của Capone, đúng hơn, gọi theo danh từ của bọn Ý là Caporegime khắp các nơi ở Chicago kéo về đây. Chúng nó ngồi thành hai dẫy dài chung quanh Al Capone. Trên bàn la liệt rượu và thức ăn như các bữa họp của bọn này. Xếp Al Capone ngồi giữa. Bên phải của xếp, như thường lệ là thằng Guzick, bên trái là thằng Frank Nitti với khuôn mặt lầm lì cố hữu. Cái thằng này suýt chết mới hôm qua mà bây giờ thấy nó mặt mũi nó vẫn tỉnh bơ, không có vẻ gì hoảng hốt cả.
Khi thấy xếp Al Capone đưa tay làm dấu chào Mike Casey, mấy chục cái
miệng trong phòng đang nói bỗng nín khe, trở nên im lặng như tờ. Mấy chục cặp mắt xoay về phía cửa, dán chặt vào người ông đại úy cảnh sát. Mike Casey lững thững bước vào. Một cái ghế bành được đẩy tới, Mike Casey ngồi xuống, đối diện với xếp Al Capone.
Ngồi chưa im đít là một thằng cô hồn đã lẹ tay bưng khay rượu đưa tới. Gì
chớ whiskey thì lúc nào đưa tới cũng tốt hết. Đặc biệt như hôm nay, sau khi đã bị tụi nó “hành hạ” kỹ như vậy thì lão cần uống rất nhiều để “trả thù”. Mày cho đàn em làm khó tao, tao … uống rượu trả thù. Mike Casey chụp chai rượu, rót đầy một ly.
Lão nâng ly làm dấu chúc tụng với Al Capone rồi ngữa cổ, “hà” một cái cạn sạch. Khỏi cần khách sáo làm gì cho mất công, Mike Casey lẹ tay rót tiếp ly thứ hai. Rồi đến ly thứ ba … Xếp Al Capone và đám đầu trâu mặt ngựa nhìn lão không thiếu một chi tiết. Ra là con người, khi bị lệ thuộc vào một cái gì rồi thì nó trở nên hèn hạ như vậy đó. Mà thường thì ai cũng bị lệ thuộc hay đam mê một cái gì. Kẻ bần tiền thì bị lệ thuộc rượu chè hay hút sách, trở nên nghiện ngập. Người thực tế thì làm nô lệ cho tiền bạc. Bậc anh hùng thì làm nô lệ cho danh vọng, cho những mục đích mình theo đuổi. Chính những cái đam mê này đã làm người ta hoặc trở nên hèn hạ, hoặc thành anh hùng, hay trở nên tàn ác. Xếp “suy tư” sâu thêm một chút và nhận ra là mình thuộc vào hạng đam mê … đủ thứ. Rượu chè hả, khỏi nói rồi. Danh vọng xếp cũng khoái nữa. Thì mấy chục thằng phóng viên nhà báo ăn lương tháng từ bao lâu nay mà có nhờ được gì đâu ngoài chuyện lâu lâu viết một bài bốc cho xếp lên chín tần mây xanh? Nếu không chi đẹp vậy và không có tụi nó thì làm sao tiếng tăm của Al Capone được cả thế giới biết tới. Và dĩ nhiên, cái đam mê quan trọng nhất của xếp
xưa nay vẫn là tiền bạc vì nó sẽ là chìa khoá để mở cửa cho sự thành đạt hai cái
đam mê kia. Xếp thường khuyên bảo đàn em là: “Danh vọng phải có tiền làm gốc. Có danh mà không có địa thì danh đó chỉ là danh của mấy anh hàn sĩ, không làm được mẹ gì hết. Ngược lại, có tiền mà không có danh thì tuy về già cảm thấy hơi thiếu thốn đó, nhưng cũng chẳng sao. Lấy tiền mua danh mấy hồi?”. Và xếp đóan lão Mike Casey cũng là một típ người y như xếp vậy. Có cái gì mà lão mập này chẳng khoái? Sự khác nhau giữa xếp và lão là xếp có nhiều tiền hơn. Phải nói là “vài trăm triệu đô la” nhiều hơn mới đúng. Và xếp kết luận rằng nếu ngày nào con người không còn biết đam mê nữa, ngày đó thế giới sẽ bước vào nơi mà kinh thánh gọi là thiên đàng …Chờ vài phút cho men rượu chạy đều trong cơ thể Mike Casey, xếp Al Capone mới lên tiếng:
-Xin cảm ơn đại úy về sự giúp đỡ ngày hôm qua. Tuy chuyện không như ý
mình muốn nhưng xin thành thực ghi nhận là đại úy đã cố gắng với chúng tôi hết mình.
Mike Casey thấy an ủi đôi chút. Lão liếc nhìn thằng Frank Nitti cười cầu
tài:
-Ông bạn thấy đó, tôi lúc nào cũng hết lòng với mấy ông.
Frank Nitti không cười. Cặp mắt lạnh lùng của nó nhìn chằm chặp vào phía
trước. Đúng là cặp mắt của một thằng gian ác. Nhìn mọi người mà như chẳng nhìn vào ai, cứ lờ đờ như một cái xác chết.
Hình như bọn chúng nó có mặt nơi này đã lâu lắm. Mọi chuyện cần bàn cãi
chúng đã bàn xong, chỉ mời lão đến bây giờ để nhận chỉ thị. Chuyện này không làm cho Mike Casey khó chịu. Nghề của lão xưa nay mà. Lần này, lão biết chỉ thị của Al Capone đưa ra không phải là ba chuyện vớ vẫn nữa. “Giặc” vào đến tận kinh thành, cung điện nhà vua mà náo động lên như vậy thì chắc chắn phải có đánh lớn. Máu sẽ đổ bằng thích. Có bao giờ vua bị nguy khốn mà thuộc hạ được bình yên?
Xếp Al Capone cắm điếu xì gà lên môi, khẻ xoay đầu cho thằng cận vệ mồi lửa rồi bắt đầu nói thật chậm:
– Như mọi người đều biết, cơ sở của chúng ta mấy tháng nay bỗng bị một cú
bất ngờ: Một thằng cớm … khùng từ Hoa thịnh Đốn xuống đây đòi diệt chúng ta. Bỗng nhiên, xếp vùng đứng dậy, bóp nát điếu xì gà trong tay. Đầu lửa bị nghiền nát trong lòng bàn tay, cháy nghe xèo xèo mà xếp đâu có thấy gì. Xếp bước từng bước một nặng nề trong phòng, gào lên thật to:
-Đòi diệt tao. Đù mẹ nó, thử hỏi nó là gì? Nó là một thằng cớm quèn, một
thằng cảnh sát vô danh tiểu tốt mà dám nói một câu không có tinh thần … cảnh sát chút nào hết: “I come here to get Capone”. Đù mẹ bộ nó tưởng nước Mỹ này hết còn luật pháp rồi hả? Ai cho nó cái quyền để đi diệt thiên hạ? Tụi mày đều biết, anh em đều biết Al Capone cũng là một công dân Hoa Kỳ như bao nhiêu người công dân Hoa Kỳ … lương thiện khác. Al Capone phải được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật như bất cứ mọi thằng Mỹ nào ở cái chỗ tên là United States of America này. Al Capone cũng có quyền làm giàu, quyền buôn bán, quyền tiêu tiền, quyền đi xe Cadillac, quyền ăn tôm hùm uống rượu vang, quyền ăn chơi nhảy nhót v.v …. như mọi người khác. Tại sao nó cứ đè thằng Al Capone này ra mà chữi bới và hành hạ đủ điều? Đù mẹ nó! Tại sao thằng chó đẻ đó lại mang đầu óc kỳ thị và bất công như vậy? Tại sao nó nhất định đòi diệt chúng ta cho bằng được? Chúng ta đã làm gì nên tội? Chúng ta có tiền có của, đi xe Cadillac bóng lộn, có cận vệ có đầy tớ quanh mình đâu có phải là tội. “This is America” mà!
Vài giọng nhao nhao cất lên hùa theo xếp:
-Xếp nói làm em … cảm động quá. Tụi mình phải có biện pháp đối phó.
-Xếp nói đúng. Chúng ta đã làm gì? Chúng ta chỉ là những công dân Hoa
Kỳ!
-Phải, chúng ta đã làm gì nên tội tình mà nó ăn hiếp chúng ta quá cỡ? Đù
mẹ nó.
-Bắn thấy mẹ nó đi …
Mike Casey phải cắn mạnh hàm răng mới giấu được nụ cười. Lão không
ngờ bọn quỷ sứ giết người không tanh máu này lại ngây thơ đến như vậy. Chúng nó cho rằng chúng nó là ai kìa? Thiên thần chắc? Làm nghề cảnh sát trên 30 năm, Mike Casey biết mặt hầu như gần hết những thằng ngồi trước mặt lão ngày hôm nay. Từ lãnh tụ Al Capone trở xuống, thằng nào lại không đã từng vào tù ra khám? Tội chúng nó phạm nhiều khi lại quá nặng nữa là khác. Tâm lý con người quả thật kỳ lạ, dù có phạm bao nhiêu tội ác cũng luôn luôn chủ quan cho rằng mình vô tội. Lại còn đòi pháp luật bảo vệ nữa mới là nực cười. Xếp Al Capone tiếp tục:
-Đồng ý rằng chúng ta có nấu rượu, có chứa đĩ, có mở sòng bạc nhưng cái
thế giới này nó không biết rằng nếu chúng ta không nấu rượu thì sẽ có thằng khác nấu, không chứa đĩ thì tụi nó lấy chó gì mà giải trí? Chúng ta chỉ giúp thoả mãn những đòi hòi thầm kín của xã hội thôi. Tụi mày nghĩ coi, không lẽ cưới xong con vợ rồi một năm mười hai tháng cứ nằm nhà ôm một cái … đít của nó mà hôn mãi. Chán thấy mẹ. Sống như vậy chẳng thà đừng lấy vợ, bỏ đi tu làm cố đạo luôn cho được mau lên thiên đàng. Chúng ta đã giúp chúng nó giải quyết những đòi hỏi thầm kín và quan trọng của chúng. Vậy mà, đù mẹ có thằng chó nào biết ơn chúng ta đâu. Cảnh sát gặp chúng ta là đòi bắt bỏ tù, dân chúng thấy mặt thì né như né hủi. Cố đạo hay bà phước vừa nhìn bóng dáng chúng ta từ đằng xa là đã làm dấu đọc kinh lia lịa, làm như sắp gặp phải quỷ sứ không bằng. Đù mẹ đời bất công quá. Còn cờ bạc hả?
Chúng ta chỉ hệ thống hóa cho nó có quy cũ để tránh cái nạn “cờ gian bạn lận” thôi. Nếu không có mấy cái xòng ru lết, máy quay tiền của bọn mình đặt dài dài khắp nơi thì khi chúng nó lấy chỗ nào mà sát phạt nhau? Đù mẹ máu tham thằng nào chẳng có? Chúng nó còn tham hơn mình gấp ngàn lần, chỉ rình dịp để chặt nhau, ăn chận ăn dựt của nhau. Vì chúng nó hèn, không dám đứng ra mở xòng để sát phạt nên mình phải hy sinh nhảy vào tổ chức giùm cho chúng nó, làm trung gian thôi. Đã tốn công của và nhân lực thì mình phải có chút huê lợi chớ? Tụi mày thấy tao nói đúng không? Đù mẹ bộ tụi nó tưởng chỉ có chúng nó là phải ăn mới sống được còn bên mình thì là gỗ đá, không biết đói bụng sao?
– Đại ca nói đúng!
-Xếp nói phải quá! Chúng ta đã bị đối xử rất bất công, đã bị kỳ thị rõ ràng.
-Còn, nếu chúng nó cho rằng ta là một bọn khát máu giết người không gớm
tay là nói bậy, là xuyên tạc quá đáng. Bọn mình trời sinh ra đâu có muốn giết ai? Vạn bất đắc dĩ mới phải cầm cây súng. Nhưng nếu có thằng nào muốn kê súng vào đầu mình đòi bấm cò thì mình phải tự vệ chớ. Tao còn nhớ ngày xưa đi học, trong thánh kinh Chúa có dạy một câu đại khái như vầy: “Con phải làm cho kẻ khác những gì mà con thấy nó … sắp sửa làm cho mình”. Chúa đã dậy vậy mà. Cái quan trọng là mình luôn luôn làm … trước nó, và phải làm đẹp. Làm một cái là bay luôn cái sọ khỉ nó ra ngoài, khỏi có màn hối hận đi.
Xếp tốp bài diễn văn nửa chừng, quay nhìn lão Mike Casey:
-Tụi mày không tin tao thì hỏi ông đại úy cảnh sát ngồi đây coi có phải là
chúa đã dạy như vậy không? Tao là dân … ăn cướp, học thức ít nên nói vậy có lẽ chúng mày không tin. Tụi mày hỏi thử ông này, ổng dù gì cũng có học đàng hoàng và lại là cảnh sát thì chắc chắn phải biết. Tao đâu dám bịa chuyện kinh thánh ra để ăn nói với tụi mày …
Mike Casey ngồi im. Thực ra, trong kinh thánh có một câu như sau: “Hãy
làm cho kẻ khác những gì mình muốn kẻ khác làm cho mình.” Không hiểu thằng ăn cướp này hồi nhỏ đi học ở trường nào mà được giảng dậy trật lất. Bị giảng sai hay nó cố tình nhớ lộn để cho lương tâm đỡ bị thắc mắc? Có Chúa nào lại đi dạy cái điều bất nhân như vậy?
Cả đám quần thần hướng mắt nhìn về lão. Mike Casey nhún vai gật đầu ra
điều đồng ý. Lão không ngu gì đi sửa lại một câu diễn văn của xếp lớn với đàn em của xếp ngay tại đại bản doanh của chúng nó.
– Tụi mày thấy, mình rất ghét chiến tranh, chỉ khóai hoà bình. Trời sinh ra
con người có ai thích cầm súng bắn nhau suốt đời đâu? Lâu lâu nếu cần phải săn tay áo để giải quyết công chuyện thì cực chẳng đã mới ra tay, nhưng xong rồi thì tụi mình chỉ khoái đếm bạc, ăn nhậu và chơi đĩ. Xưa nay, mình đâu có giết người như rác? Mình cũng biết tôn trọng mạng sống của con người lắm chớ. Đâu phải hở là giết như mấy thằng nhà báo thường hay nói. Những thằng bị giết toàn là những thằng cảnh sát … gian ác, những đứa phản thùng, những thằng ngu ngốc cứ nằm cản đường tiến thân của mình thôi. Nghĩ cho cùng, cuộc làm ăn nào mà không có nguy hiểm? Đù mẹ đi ỉa đái trong nhà mà lâu lâu còn bị trợt chân té chổng gộng trong cầu tiêu thì trên cõi đời này làm việc gì mà được an toàn trăm phần trăm?
Đám đàn em gật gù. Vất điếu xì gà đã bị bóp nát vào một xó, xếp lại dơ
hai ngón tay. Một thằng cận vệ nhét vào đấy điếu xì gà khác rồi bật hộp quẹt cho xếp. Xếp nhả khói lên trần nhà. Sau hơi thuốc đó, tự nhiên xếp quên mất bài diễn văn mình đang thao thao nãy giờ, bèn hỏi một đứa:
-Đù mẹ tao nói đến đâu rồi?
Thằng bị hỏi bất ngờ trả lời:
-Dạ đến những thằng cần phải bị giết.
Một đứa khác tinh ý hơn, nhắc xếp:
-Thằng cớm mất dạy Eliot Ness. Xếp bảo là mình phải “làm cho nó trước
những gì nó sắp làm cho mình” như lời Chúa dạy. Mình nên cho nó đi mò tôm càng sớm càng tốt.
Xếp quay nhìn thằng vừa mở miệng. Té ra là thằng caporegime Sal của
nhà hàng The Red Horse chớ ai. Đù mẹ mới lên làm chủ nhà hàng có mấy tháng mà đã biết ăn nói đúng điệu đại quản lý rồi.
-Sal, chú mày nói tao nghe được. Tao triệu tụi mày về đây sáng hôm nay
là chỉ có vậy. Thằng nào có ý kiến gì khác không? Có cái gì hay nên nói ra để tụi mình cùng nhau bàn tính.
Xếp nói xong là đảo mắt một vòng nhìn hết đám cận thần. Cặp mắt xếp
mới đầu dừng lại nơi thằng Frank Nitti, như có ý ngầm bảo: “Phải chi mà mày dứt nó được ngày hôm đó thì tao đâu có khổ sở như vầy. Lần đầu tiên thấy mày ra quân mà kẻ thù vẫn tỉnh bơ, lại bị nó quất cho 6 thằng nằm thẳng cẳng … ” Frank Nitti không có ý kiến. Không ai có thể đoán được nó nghĩ gì, tính làm gì sau cái khuôn mặt tái mét xám xịt cố hữu đó. Rồi cặp mắt xếp rời thằng Frank Nitti, trở qua “ôm cứng” lão Mike Casey.
Lão cảnh sát già thấy như có luồn điện chạy qua thân thể mình. Nghĩ cho
cùng, đâu có phải lỗi tại mình kìa. Thằng Ness số nó sống dai nên mới như vậy. Con người dù tài giỏi đến đâu nhiều khi cũng phải đành chịu thua số mạng mà.
Một thằng khác mở miệng, tiếng Mỹ pha lẫn tiếng Ý:
-Xếp biết, và thiên hạ đều biết, xưa nay ở Chicago này, xếp đã muốn đứa
nào chết mà nó còn sống được? Dù nó là biện lý gộc cỡ thằng McSwignn, hay là cớm ngoại hạng từ Hoa Thịnh Đốn đưa xuống. Theo ý đàn em, chuyện này chẳng có gì khó. Bắt đầu ngày mai, xếp cứ ra lệnh cho anh em là hễ gặp thằng chó đẻ đó ở đâu là bắn tại đó, khỏi có màn họp hành lỉnh kỉnh làm gì cho mất thì giờ.
Nhiều tiếng xì xào bàn tán đồng ý. Xếp xoay người nhìn đứa vừa phát ngôn. Ra là cậu Corossio, caporegime dưới trướng và cận vệ của Frank Nittie. Thằng này tuổi chưa tới 25, gốc Sicilian, bà con và là người cùng làng với ông chủ. Frank Nitti bảo lãnh cho nó di cư từ Ý qua lúc nhỏ và cưng lắm, coi như con cháu
trong nhà. Hai thầy trò thằng này tính tình giống hệt nhau, gặp chuyện bất bình là cứ rút súng ra ăn thua đủ, chẳng cần suy nghĩ hay tính toán làm gì cho mệt.
Xếp mỉm cười, gật gù cái đầu. Đù mẹ chuyện làm ăn bạc triệu mà dễ dàng
như nó nói thì giờ này mình đã có cả thế gian rồi.
-Còn đứa nào có ý kiến gì khác không?
– Như xếp nói lúc nãy, chúng ta đâu có phải là bọn hiếu chiến, bọn giết
người vô lương tâm? Chúng ta chỉ giết những đứa nào cản trở con đường tiến thân của chúng ta thôi. Tôi thấy thằng Ness là một. Thành phố Chicago sau khi tụi Colosimo bị dẹp tan là những ngày “Thái bình thạnh trị”, ai nấy lo chí thú làm ăn cho đến khi thằng khốn nạn bỗng từ đâu không biết dẫn xác về. Mới đầu, nó xung phong đột nhập vô kho hàng của chúng ta làm anh em phải lo … chạy thấy mẹ, rồi nó dám đem tên của xếp ra mà xỉ vã thậm tệ trên báo chí, dám gọi xếp là “Son of a bicth”, rồi lại còn hăm he đòi nhốt xếp vào tù nữa …
Đù mẹ thằng này bắt chước ai mà dài dòng quá, cứ nhắc chuyện cũ làm
xếp Al Capone cũng cảm thấy sượng trong người. Xếp ngắt lời thằng đàn em:
-Muốn nói gì thì nói mẹ nó ra, mau lên, để thì giờ cho người khác nói với …
-Thì đàn em muốn nói rằng chính nó là thằng gây nên cuộc tao loạn chứ
không phải chúng ta. Hai tháng qua, nó đã làm chúng ta thất điên bát đảo bao nhiêu lần? Chúng ta đã phải đục không biết bao nhiêu thùng bia cho chảy xuống cống?
Hết báo động ngày rồi tới báo động đêm …
Xếp bỗng nhăn mặt. Thằng quỷ này nói nhiều quá, ông trùm sắp cáu rồi
đây. Dòm sắc mặt biết ý đàn anh, thằng nọ đi mau vào phần kết thúc. Nói thêm vài câu nữa thì không chừng điếu xì gà trên tay xếp sẽ bay cái vèo vào mặt nó.
-Để kết luận, ý kiến của đàn em là “bắn chết mẹ nó đi”. Thứ này chết
không ai thương tiếc.
Câu kết luận của bài diễn văn dài thòn lòn cũng chỉ có vậy. “Bắn chết mẹ
nó ra”. Xếp bặp bặp điếu xì gà. Tụi này đi theo xếp bao nhiêu lâu, được dạy dỗ
hàng trăm lần, làm tới chức caporegime chứ ít sao mà chẳng hiểu chiến thuật chiến lược gì cả. Tụi nó không chịu suy nghĩ dùm là muốn bắn gục một “thằng liên bang” ngon như vậy không phải là chuyện dễ dàng. Ngày hôm kia, lúc quyết định cho thằng Frank Nitti đi làm thịt Eliot Ness, xếp Al Capone ở trong một tình trạng bối rối ghê gớm. Thực ra, xếp chỉ mong mua được nó. Đến chừng thằng Oliver Randal trở về vừa lắc đầu vừa méo miệng báo cáo chút xíu nữa bị nhốt vào nhà đá thì xếp biết là sẽ có chuyện lớn. Phải như cách đây chừng năm mười năm thì không những cái mạng của thằng Ness mà ngay cả mạng của tổng thống xếp cũng chẳng coi ra gì. Xếp nghĩ luật đời cũng óai ăm thật. Lúc người ta còn nghèo khổ thì người ta dám làm tất cả để đạt được giàu sang. Nhưng ngồi trên núi bạc rồi thì tất cả mọi chuyện sẽ thay đổi. Người ta sẽ thay đổi từ cách sống, cho đến tính tình, cho đến lời ăn tiếng nói. Ngày xưa hễ gặp một chuyện hơi bất bình một chút là xếp móc súng ra nổ liền, chẳng cần biết thằng trước mặt là ai và cũng khỏi cần phải suy nghĩ lần thứ hai.
Bây giờ thì cũng móc, nhưng chậm chạp hơn và phải suy nghĩ coi có đáng hay
không. Chẳng những xếp thôi mà các đàn em, những tay súng sừng sõ đã từng vào sinh ra tử, lẫy lừng một thời với xếp cũng vậy. Lâu lâu mới họp mặt chúng nó lại một lần, quan sát kỹ từng đứa xếp mới thấy giật mình. Ngoại trừ thằng Frank Nitti, bọn caporegime bây giờ ai cũng già đi và yếu thấy rõ. Đâu hết rồi cái hình ảnh “cảm tử quân” gươm dáo đầy mình, mặt mũi sát khí đằng đằng chỉ chờ nghe một tiếng hô “go” là ào ào xuất quân như nước lũ, quạt đạn mờ trời đất? Chúng nó bây giờ đứa nào cũng nốc rượu rào rào, bụng càng ngày càng phệ ra, đi đứng chậm chạp y hệt bọn con buôn thành công trên đời.
Nhìn những mặt khuôn mặt chảy xệ của chúng nó, xếp chợt liếc vào gương
và nhận ra rằng mình cũng chẳng hơn gì chúng. Có thể nói mập hơn chúng nó là đàng khác. Cái thân thể cường tráng của “Al mặt thẹo” ngày nào bây giờ chỉ còn là một khối thịt khổng lồ trên hai trăm pounds. Mặc quần thì mới đầu là size 44, rồi leo lên 46, cho đến cỡ 50 vẫn còn thấy chật. Hàng ngày ăn uống nếu không có hai ba thứ rượu vang đỏ, bốn năm loại rượu cognac hão hạng từ Pháp đưa sang thì không cảm thấy ngon được.
Đó có phải là cái giá của sự thành công? Thằng nào sống trên đời mà
không mơ ước một ngày mai giàu có với cuộc sống hạnh phúc an nhàn? Xếp biết không thể trách chúng nó cũng như không thể trách mình được. Xã hội tư bản là như vậy. Làm cho chết người ra lúc trẻ để về già thì rềnh rang tận hưởng kết quả của sự cực khổ của mình. Cái nỗi lo lắng của xếp bây giờ là tuổi già đã lò mò tới bên đường mà sự nghiệp gây dựng từ bao nhiêu năm bỗng bị đe doạ nặng nề từ khi thằng Eliot Ness đột ngột xuất hiện ở thành phố này. Vì thế, sau bao cố gắng mà vẫn không mua được nó, xếp quyết định cho Frank Nitti đi nhổ cái gai trong mắt mình.
Khi thằng Frank Nitti ra khỏi cửa rồi xếp mới thấy chột dạ nhưng đàn em đã lên xe, không thể kêu lại được. Rốt cuộc, gai đã không nhổ được mà chừng như nó càng mọc mạnh thêm, kéo luôn được một cây gai khác mọc rể ở Chicago này đã hơn 30 năm, thằng Gary Malone.
Ôi cuộc đời sao có nhiều lúc khó xử như thế này. Xếp bây giờ tiến thoái
lưỡng nan. Làm mạnh tay thì cũng kẹt vì chưa lường được hậu quả của Hoa Thịnh Đốn, hay có thể nói là của cả nhân dân Hoa Kỳ. Mà cứ để như vậy thì rồi sẽ có ngày không còn cái quần xì líp mà mặc. Hai tháng qua, cứ hai ba ngày là thằng khốn nạn cứ cho hành quân ma một lần. Không biết bao nhiêu là galông la de quý giá đã bị đục thủng, chảy lênh láng xuống đường mương. Ai cũng than phiền, chỉ có xếp là phải cố chịu đấm ăn xôi. Mình bây giờ đâu phải là thứ du thử du thực nữa.
Hồ sơ của cảnh sát Chicago ghi rõ nghề nghiệp là “Businessman, Real estates
Investor” mà. Không thể để đàn em bị bắt bậy bạ rồi nó moi tên mình ra, gởi trát mời tới sở cảnh sát để chụp hình lăn tay như ngày nào còn ở New York thì quê lắm. Tuần trước, thằng Guzick đã cảnh cáo với xếp là nếu thằng Ness cứ cái mững này tái diễn hoài thì mình sẽ bị lỗ nặng trong vòng mấy tháng nữa. Dân giang hồ làm ăn xưa nay là vốn một lời mười, bây giờ lại sắp có chuyện lỗ thì bỏ mẹ hết cả lũ. Ngày xưa đánh nhau tơi bời như vậy, tiền chi ra không biết bao nhiêu một ngày mà vẫn còn vốn “một lời năm ba”, ai ngờ sẽ có ngày như hôm nay. Mà kẻ thù đâu có phải là ghê gớm gì? Chỉ là một thằng thanh tra hạng bét của Hoa Thịnh Đốn gởi xuống.
Xếp đi lại trong phòng, đầu cúi xuống với luồng tư tưởng xoay quanh thằng
Ness. Thằng này có gì đặc biệt kìa? Nó bắn giỏi. Frank Nitti cũng đâu có thua gì. Nó gan lì? Đàn em mình còn ngon hơn. Dám vô tới tận ty cảnh sát để thanh toán nó thì đâu phải là dân chết nhát? Vậy nó có gì đặc biệt hơn những thằng cớm khác mà mình từng đối phó trong suốt mấy chục năm qua? Hôm nọ nghe Mike Casey nói là thằng này có bằng cấp đại học. Hèn gì. Không hiểu thiên hạ dạy cái chó gì trong mấy trường đại học mà ghê gớm quá cỡ. Thằng Do thái Guzick cũng là dân đại học ra mà. Thảo nào nó “sắc” không ai bằng. Xếp nhất định lát nữa sẽ hỏi thằng Guzick coi nó có đề nghị gì để giải quyết vụ này không?
Rồi xếp chợt mơ ước giá hồi xưa nhà mình có tiền một chút để được học
hết đại học rồi mới đi làm … ăn cướp thì thiên hạ phải biết tay Al Capone này. Hình ảnh đứa con trai Micheal Capone bỗng hiện ra trong đầu làm xếp thấy đau nhói nơi trái tim. Trăm sự cũng tại mình. Ai biểu đi chơi bời đàng điếm làm chi để mắc bệnh giang mai, thằng bé vừa sinh ra kháu khỉnh vậy là đã bị tật nguyền, khùng khùng điên điên. Nếu nó ngon lành như những người khác thì đường công danh của nó còn sẽ hơn gấp mấy lần mình. Mình sẽ cho nó vô đại học, học cho hết mấy cái kho sách trong đó rồi kéo ra mở cho nó một cơ sở thương mại kếch sù. Cuộc đời nó sung sướng phải biết. Kẹt cái là gần mười tuổi đầu rồi mà vẫn chưa biết cầm muỗng nĩa ăn cơm thì tương lai sẽ ở được chỗ nào khác hơn là mấy cái trường tàn tật. Càng suy nghĩ xếp càng cảm thấy xót xa trong dạ …
Nghĩ đến con một lúc rồi lại trở về với hiện tại. Thằng phụ tá mới giết người hụt lần đầu tiên trong đời mà xếp thấy mất tinh thần kinh khủng. Triệu bọn
Caporegime khắp nơi về để họp một cú lại càng thấy nản hơn. Không ngờ đàn em lẫy lừng của “Xếp Al Capone” chỉ sau vài năm thái bình mà đã trở nên yếu quá. Chả thằng nào có ý kiến gì hay ho hết. Mở miệng ra là cứ đòi “bắn thấy mẹ nó ra” thì ai mở chẳng được? Điều đáng nói là có làm được không kìa. Và làm xong hậu quả sẽ ra sao mới là chuyện quan trọng. Hay là đã đến lúc cần phải thay thế hết mấy cái bọn già nua … bụng phệ này? Thấy cũng tội. Chúng nó theo mình từ những ngày còn hàn vi áo vải, lăn lóc suốt một đời mới leo ngồi được ở chức vụ này. Tống cổ chúng nó đi thì tội quá mà không chừng còn có vẻ nguy hiểm nữa. Chúng nó mà họp lại “đảo chánh” thì giặc ngoài lo chưa xong, đã phải lo đến giặc trong nhà. Đù mẹ sáng hôm nay sao mà suy nghĩ đến đâu thì thấy chết người đến đó.
Xếp lắc đầu mấy cái, tay chỉ vào cái quày rượu.
Một ly cognac được kính cẩn dâng lên. Xếp ngữa cổ làm một phát cạn
sạch rồi đưa hai tay lên trời ra dấu cho bọn đàn em:
-Tất cả nghe tao nói đây.
Cả phòng im lặng như tờ.
– Tụi bay hiểu tại sao chúng ta có buổi họp này. Tao không muốn bi quan,
nhưng cơ sở làm ăn của chúng ta 2 tháng vừa qua bị tấn công tới tấp. Phụ tá Guzick cho biết là mấy tháng nữa, mình sẽ “không còn cái quần sì líp mà mặc.” Tụi bây hiểu “quần sì líp không có mà mặc” thì nói gì đến những thứ khác. Đế quốc này sẽ sụp đổ, bọn mình sẽ hoặc là chết đói hoặc là chết già trong mấy cái nhà đá liên bang …
Xếp Al Capone quả là một nhà hùng biện đại tài. Chỉ vừa vẽ sơ sơ trong
gió mấy cái hình ảnh tưởng tượng mà cả bọn đầu trâu mặt ngựa chưa hề biết sợ trời sợ đất trong phòng đã thấy rúng động. Ngay cả đại úy cảnh sát Mike Casey cũng cảm thấy nhói trong tim. Cái hình ảnh về hưu ngày ngày không có … rượu uống lại trở về ám ảnh lão.
Xếp tiếp tục:
-Ngày hôm nay tao nói thiệt, tụi mày cứ làm một con tính thì biết. Một thùng bia, dù nhập cảng từ Canada hay là nấu lấy, giá vốn cuối cùng tệ nhất phải là
25 đô la. Một lần chúng nó đột kích có khi cả ngàn thùng phải thẩy khơi khơi xuống cống … Đù mẹ nhắc đến một ngàn thùng tao mới thấy lộn ruột. Một ngàn thùng chứ ít gì. Một ngàn thùng tức là 25 ngàn đô la …
Xếp ngừng nói, đảo mắt một vòng nhìn khắp nơi. Cặp mắt xếp dừng lại nơi
ngài đại úy cảnh sát Mike Casey:
– Trong chúng ta đây, tụi bay biết tao có một người bạn thân thiết: Đại úy
Mike Casey …
Nghe đến đó, Mike Casey muốn té xỉu xuống đất. Mấy chục cặp mắt bây
giờ hướng về Mike Casey. Thì ra xếp mình cũng đâu có ngu. Lúc đại úy Mike
Casey xuất hiện, nhiều đứa đã thấy hơi khó chịu. Găng tơ bàn chuyện giết cảnh sát mà lại mời một thằng cảnh sát tới họp thì quả là chuyện lạ đời. Mà xếp suy nghĩ gì hay tính toán gì trong đầu đâu có thằng nào biết? Đến bây giờ nghe xếp nói vậy thì thằng nào cũng hả hê. Xếp biết dùng người lắm chớ. Trên cõi đời này, có cảnh nào đẹp bằng hình ảnh kẻ thù giết kẻ thù hay cảnh sát giết … cảnh sát?
Cả phòng nín thở nhìn xếp Al Capone chờ đợi.
-Sẵn có mặt đại úy ở đây, tôi xin hỏi đại úy một ý kiến, không biết có được
không à?
-Ông bạn cứ hỏi, tôi nghe.
-Dĩ nhiên, đại úy là khách quý của Al Capone, là một người bạn lâu năm …
Al Capone này không bao giờ chơi ép bạn bè, không bao giờ lợi dụng lòng tốt của bạn bè …
Một thằng cận vệ của Al Capone lại đưa cho Mike Casey khay rượu. Lão
cầm một ly đầy ắp, cạn cái rào.
-Đại úy thấy đó, anh em tại đây cũng đều đồng ý là thằng Ness … phải
chết. Nhưng, đại úy biết, thằng này không phải dễ mà tới gần nó được. Chuyện thất bại của thằng phụ tá tôi thiên hạ đều biết. Xưa nay, nói thật với đại úy, nó đã giết hàng mấy trăm người, mỗi khi nó ôm súng ra đi là chưa bao giờ có ai thoát khỏi tay nó. Vậy mà, dù đại úy đã tận tình giúp đỡ, thằng phụ tá vẫn không rờ được tới sợi lông của nó. Không sờ được mà còn bị nó quất sụm một lần sáu thằng mới là nhục …
Xếp Al Capone ngừng nói. Mike Casey im lặng chờ câu hỏi của nó. Thằng ăn cướp này xưa nay có cái tật ham đấu. Hỏi gì thì nói mẹ nó ra, cứ đi vòng vòng từ chuyện này sang đến chuyện kia làm lão hồi hộp quá. Không hiểu sao nói
nhiều vậy mà nó vẫn còn có thì giờ để chỉ huy một đế quốc với hơn ngàn tay súng. Mà nó đã đổi cách xưng hô, một điều đại úy, hai điều đại úy là sắp có chuyện rồi đây. Lão biết mỗi lần nó xưng hô như vậy tức là nó có công tác quan trọng muốn nhờ vả. Lần này, lão không muốn nghĩ xa nhưng mơ hồ cảm thấy cái công tác mà Al Capone muốn giao phó.
-Đó, nó ghê gớm như vậy, quỷ quyệt như vậy, cho nên, muốn diệt nó, chúng ta cũng phải kiếm ra được một phương pháp ghê gớm, quỷ quyệt. Cứ áp dụng
kiểu bình thường thì không diệt nó nổi. Vậy, đại úy có ý kiến gì không, xin cho anh em biết?
Mike Casey trả lời liền chẳng cần phải suy nghĩ:
-Tôi đồng ý với ông hoàn toàn. Nhưng muốn có một kế hoạch “ghê gớm,
quỷ quyệt” như ông nói, cần phải ngồi cùng nhau bàn thảo, suy nghĩ …
Cái tật của những người thích nói vẫn luôn luôn là không thích nghe người
khác nói nhiều, xếp Al Capone cắt lời lão:
-… cho phép tôi … tóm tắt những gì đại úy nói. Đại úy nói đúng, chúng ta
cần phải bàn thảo và nghiên cứu kỹ. Sau khi nghiên cứu và bàn thảo, chúng tôi đã tìm ra một giải pháp tuyệt hảo. Cú này mà không xong thì tôi không xứng đáng được gọi là “Xếp Al Capone”.
Al Capone xoay người, nhìn thẳng vào mặt lão cảnh sát:
-Phi … đại úy, bất thành đại sự. Nói theo cách khác, đại úy không giết nó
thì không ai giết được.
Dù đã chuẩn bị trước để nghe những đề nghị như vậy, Mike Casey cũng
không khỏi giật mình. Từ ngày “bán linh hồn cho quỷ” đến nay, lão đã làm nhiều chuyện phi pháp, đã gián tiếp ra lệnh hoặc ngầm yểm trợ cho chúng nó giết người, nhưng chưa bao giờ lão nghĩ đến chuyện có ngày đích thân mình sẽ cầm súng đi làm chuyện đó. Thật ra, trên con đường tới nơi này để “phó hội”, lão đã phần nào đoán được là bọn nó sẽ nhờ mình chuyện này nên lão đã suy nghĩ kỹ. “Giết thằng cảnh sát liên bang”, mới nghe nói thấy ghê thật nhưng thật ra, nếu ngày hôm qua mà thằng Frank Nitti dứt được Eliot Ness ngay tại ty cảnh sát thì mình cũng đã nhúng tay vào máu nó chớ còn gì nữa? Nhúng một cách … hàm thụ nhưng tay vẫn vấy máu đàng hoàng. Cái khác lạ là lần này, chính tay mình sẽ cầm súng bắn nó. Vậy thì tại sao phải suy nghĩ nhiều cho rắc rối kìa? Trước sau gì nó cũng chết, dù chết dưới tay thằng Frank Nitti hay bởi tay mình. Cho nên, nếu hỏi rằng dám làm hay không, lão phải nói là dám. Nhưng “dám” với một cái giá nào kìa. Năm nay lão đã trên 60 tuổi. Ở lứa tuổi này, nếu muốn làm gì, người ta phải làm cho mau, vì thời gian chẳng còn nhiều nữa. Và con số một triệu đô la từ đâu không biết xuất hiện bay chập chờn
trước mặt lão …
Mike Casey ngước nhìn Al Capone, nhún vai, bắt đầu trò mặc cả:
-Al, bạn biết tôi là một anh cảnh sát già, trong khi đó, thằng Ness thì đang
còn trong lứa tuổi “căng nhựa sống”. Tôi làm gì đủ sức lo chuyện này. Xếp Al Capone lắc đầu. Xưa nay xếp ghét nhất là cái màn kỳ kèo lẩm cẩm. Muốn gì nói mẹ nó ra, rào đón làm gì:
-Mike, tôi biết và ông cũng biết, vụ này quan trọng. Al Capone có bao giờ
để ai thiệt thòi đâu. Nhưng, chuyện giá cả không nên bàn tại đây, chúng mình và Guzick sẽ bàn sau. Chuyện quan trọng nhất tôi nghĩ, là đại úy có chịu giúp cho một tay hay không? Chịu thì nói, còn không thì cũng cho biết để tôi còn kiếm người khác.
Mike Casey đưa mắt một vòng nhìn khắp cả phòng. Hình như đứa nào cũng nhìn lão bằng một cặp mắt chờ đợi và hy vọng. Có đại úy giúp cho một tay
như thế thì cái vần đề nhức đầu nhất coi như được giải quyết xong, bọn này khỏi phải mất công lo nghĩ. Ngày xưa đi đánh đấm còn thấy hứng thú vì cái nồi cơm và giấc mộng của cuộc đời vương giả phủ mờ lý trí, bây giờ ngồi trong cung vàng điện ngọc rồi thì có ai còn ham ba cái chuyện đó nữa. Già rồi. Sau bao nhiêu năm lăn lộn, ở lứa tuổi năm mươi là lứa tuổi hưởng nhàn.
-Bạn Capone hiểu lầm ý tôi rồi. Đồng ý là tôi giúp mấy ông thì mấy ông
giúp tôi, nhưng tôi xin một ít thì giờ để suy nghĩ đã …
Lão vừa nói đến đó bỗng nhe đến xoảng một tiếng kinh hồn. Cả phòng giật mình nhìn lên. Thì ra xếp Al Capone vừa mạnh tay liệng cái ly rượu mình đang
cầm vào tường vỡ tan tành. Xếp tiến tới trước mặt Mike Casey, tay lăm lăm khẩu khẩu Colt. Thằng đao phủ thủ Frank Nitti xuất hiện đứng ngay sau lưng chủ liền. Mike Casey tái mặt. Xếp Al Capone chĩa thẳng cây súng vào giữa trán
lão:
-Đù mẹ đến giờ phút này không có có suy nghĩ gì cả. Chịu hay là không,
chỉ xin ông một lời.
Thằng này đúng là quân vô giáo dục. Đù mẹ mới một điều đại úy hai điều
đại úy mà bây giờ nó đã trở mặt như một con thò lò. Làm ăn liên hệ với bọn ăn
cướp này có cái chỗ kẹt là như vậy. Chúng nó sống ngoài vòng pháp luật nên có nhiều cách “thương lượng làm ăn” rất lạ lùng. Lão đã có lên tiếng từ chối đâu nào, chỉ muốn làm eo một chút để kiếm được giá cao thôi mà. Ai ngờ nó lại phản ứng lạ lùng như vậy. Ra là làm ăn với chúng mấy chục năm, lão tưởng đã hiểu hết nhưng hôm nay mới biết mìh lầm. Một con người như lão không bao giờ hiểu hết được bọn mafia. Chỉ có chúng nó hiểu nhau thôi. Lão biết là nếu mình nói “no”, âm thanh phát ra chưa hết là đã nghe một tiếng “oành” liền. Colt.45 mà nổ gần vậy thì máu óc phọt ra có vòi liền.
Nhưng Mike Casey đâu có dẫn xác đến đây để cho chúng nó tập bắn, lão
cười cười, dơ tay trái đẩy họng cây súng qua một bên.
-Ông bạn tính giết thằng già này thiệt sao? Mình quen biết nhau lâu quá
rồi mà, từ từ coi, chuyện gì phải nóng nảy vậy?
Lão cảnh sát đã cười hiền vậy mà khuôn mặt xếp Al Capone đâu có vẻ gì
thay đổi. Khuôn mặt vẫn lầm lì, cặp mắt vẫn còn trợn tròng lên:
-Đại úy biết tính thằng Capone này mà, xưa nay tôi có bao giờ đi dọa non
dọa già ai đâu? Sao, câu trả lời của ông là gì?
Cả phòng họp bỗng chìm sâu trong không khí nặng nề khó thở. Mọi người
chỉ sợ lão cảnh sát già nổi khùng sủa một chữ “no” bất tử thì cái sọ khỉ của lão sẽ bay khắp nơi trong phòng liền. Thằng ngồi ngay sau lưng lão, đoán chừng viên đạn sẽ bay từ trước trổ ra sau, máu óc có thể phun ra dính khắp người mình liền nhích ghế, lui sang bên cạnh. Bộ đồ đóng mất 200 đô la mà máu óc dính đầy thì chỉ có nước bỏ luôn. Chúng nó đâu có lạ gì cái cảnh này.
Dĩ nhiên, trước họng súng đen thùi lùi như vậy, và người cầm nó là một típ
như vậy thì ai mà dám nói “no”. Vẫn nụ cười … khả ái trên môi, Mike Casey nói liền:
– Thì đồng ý là cái chắc rồi chứ còn gì nữa. Mình làm việc với nhau quá
lâu rồi mà …
Nghe xong câu đó, xếp Al Capone xoay người nhìn thằng Guzick gật đầu
một cái. Thằng này liền móc ra cây bút chì và cây viết, hí hoáy ngồi tính toán …
Thân mến tặng các chiến sĩ Lôi Hổ của Chiến Đoàn III Xung Kích Nha Kỹ Thuật, để cùng nhau tưởng nhớ đến một buổi chiều Tây Nguyên rực nắng quê mình…
Trường Sơn Lê Xuân Nhị.
Trước khi vào truyện:
Bài này tôi viết vào ngày Quân lực năm 1989, cách đây 23 năm, lúc tôi mới tập tểnh cầm bút, đăng trên Tập San Ngàn Sao của anh em Không Quân Houston. Xin cám ơn Hắc Ưng 01, tức Trung Tá Nguyễn Tiến Thành, (Còn được anh em âu yếm gọi là Thành… dâm–thời buổi này, ai nói mình dâm là một lời khen quý giá vô cùng) một phi đoàn trưởng F-5, một nhà thơ, một … con người đầy tình cảm đã cho tôi lại bài này sau nhiều năm thất lạc. Nếu ai chưa đọc, xin đọc. Nếu ai đã đọc rồi, đọc lại cũng chẳng sao. Điều quan trọng ở đây, tâm hồn tôi ngày đó như thế nào thì bây giờ cũng như thế thôi…
Ai biết đời đổi thay, sẽ không bao giờ thay đổi
Ai tưởng rằng đời không thay đổi, người đó thế nào cũng đổi thay…
Sau mười mấy năm di tản, tôi đã được đọc hơn chục câu chuyện viết về cuộc đời binh nghiệp của nhiều người. Chuyện nào cũng hay, cũng có nhiều kỷ niệm, nhiều hào hùng. Riêng tôi, nhớ lại quãng đời binh nghiệp dang dở của mình, dù có chủ quan đến đâu, tôi cũng thấy hơi… mắc cỡ. Kể từ ngày vòng tay giã từ bố mẹ đi đăng lính cho đến ngày leo lên tàu bay… “chạy thấy mẹ”, đời lính tôi chẳng có đoạn nào hào hùng đáng để viết ra đây cho độc giả thưởng thức. Lý do đơn giản vì tôi là phi công lái tàu bay L-19. Nếu là phi công khu trục hay trực thăng, có lẽ tôi cũng đã có nhiều kỷ niệm ghê gớm hơn đáng được kể lại cho thiên hạ nghe như lúc cắm tàu bay xuống giữa rừng phòng không để thả những trái bom xuống đầu địch, hoặc lái trực thăng xông pha lửa đạn đến để thả quân, bốc thương binh ở những vùng địa đầu giới tuyến vân vân. Tàu bay L-19 của tôi, thân hình ẻo lả chậm chạp, thường bị người ta gọi là Tàu Bay Bà Già, được dùng để thám thính và đánh trái khói chỉ điểm mục tiêu. Thám thính hay quan sát thì bay cao bay thấp gì cũng được, chẳng ai cần để ý. Mới ra trường vì “Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ” nên tôi còn hăng lắm, trận thám sát nào cũng bay thấp gần ngọn cây. Nhưng già hơn một chút nữa thì cái bu-gi của tôi nó cứ từ từ teo lại như bị mắc phải một chứng bịnh quái ác và cao độ quan sát càng ngày tăng theo tỉ lệ nghịch của… con chim để tránh bớt phòng không. Gần đến ngày mất nước thì nó cao lắm, tôi không nhớ là mấy ngàn bộ.
Tôi không thể tự dối lòng mình và dối thiên hạ để bảo rằng ngày xưa tôi là một chiến sĩ oai hùng lắm, anh dũng lắm. Đời tôi đã hèn một lần ngày 30 tháng 4, tôi chẳng thể hèn thêm nữa. Nói láo, đối với tôi là một hành động hèn nhát. Tôi nhớ đã đọc được ở đâu đó rằng một trong những đức tính quan trọng nhất của người Võ sĩ đạo Nhật Bản là không bao giờ nói dối. Vì vậy, tôi đành thành thực mà viết rằng suốt mấy năm mặc áo nhà binh ăn cơm chính phủ, những đoạn đáng nhớ nhất về cuộc đời binh nghiệp của tôi có thể viết ra đây cho độc giả thưởng thức là mấy lần … đi ở tù.
Đời lính ngắn ngủi của tôi, kính thưa quí vị, tôi bị ở tù trước sau là 4 lần. Tôi nói ngắn ngủi bởi vì tôi đi lính năm 69, đến năm 75 thì quân đội tan hàng, tính ra là gần được 6 năm. 6 năm lính mà ở tù 4 lần, và mỗi lần một hai ngày là quá ít, nhưng đối với một thằng nhớ dai như tôi, mỗi lần như thế là một kỹ niệm. 4 lần ở tù, bây giờ ngồi nghĩ lại sau mười mấy năm, tôi chả thấy oan ức chút nào. Tôi công nhận lần ủ tờ nào cũng là do lỗi mình mà ra cả, rất đáng bị nhốt để duy trì kỹ luật quân đội và tốp bớt cái tính du côn hung hản của thằng thiếu úy trẻ. Đôi khi, tôi cảm thấy kỹ luật của quân đội đới với tôi như vậy còn là nhẹ hìu, nhẹ lắm.
Nhưng trong 4 lần ở tù này, chỉ có một lần cuối cùng là tôi leo lên xe quân cảnh mà lòng sung sướng hãnh diện đến độ có thể nói như ông Gandhi của Ấn Độ. “Đi vào tù mà vui tươi sung sướng như chú rể đi vào nơi động phòng ngày đám cưới.” Trước khi kể đến lần đi tù kỳ lạ này, tôi xin bắt đầu từ những lần ở tù đầu tiên…
Từ thuở nhỏ, tôi vốn là một thằng… chẳng giống ai. Lúc còn đi học ở tiểu học, lên đến trung học, tôi luôn luôn gây rắc rối cho thầy giáo, cho cha mẹ. Ở trường, thay vì phải lo dùi mài kinh sử để đáp đền ơn dưỡng dục của song thân, tôi chỉ thích nghiên cứu tổ chức lập đảng để đi oánh nhau. Về nhà, đã chẳng giúp gì được công việc gia đình, tôi lại ăn hiếp các em, thỉnh thoảng còn “đỡ nhẹ” một ít tiền của mẹ để tiêu hoang. Quá khứ gian ác như vậy, vào lính, chả trách gì chỉ một thời gian ngắn là tôi phải ôm mền chiếu đi ngồi tù.
Tôi được nếm mùi tù lần đầu tiên leiền chỉ sau khi khoác áo nhà binh mấy tháng ở trường bộ binh Thủ Đức. Một tối nọ trung đội tôi có nhiệm vụ đi gác uyến. Phiên gác của tôi được anh em cắt là 3 giờ sáng. Đem mùng mền khăn gói theo trung đội ra tuyến, căng lều võng xong lúc ấy mới có 9 giờ đêm. Không có chuyện gì làm, thay vì đắp chăn nằm ngủ lấy sức như những người anh em ngoan ngoản khác, tôi và vài thằng bạn trời đánh rủ nhau phú lỉnh ra khu gia binh ăn hột vịt lộn. Hột vịt lộn, muốn thưởng thức cho đúng điệu thì phải có ba thứ đi kèm: thứ nhất muối tiêu, thứ nhì rau răm và chót hết là… la de. Cái món sau cùng này nó đã hại tôi bởi khi đứng dậy đi về, trời đã quá nửa đêm, bước chân tôi xiêu vẹo lạng quạng, đi nghiêng ngã như… một thằng say rượu. Nói đúng hơn, tôi đã “xỉn mẹ nó rồi”. Mò mẫm mãi chúng tôi mới về đến nơi cắm trại. Vào tới lều thì tôi chẳng còn biết trời trăng gì nữa, nằm lăn quay ra đánh một giấc.
Hai giờ rưỡi sáng tôi bị một người khóa sinh đánh thức giậy để đổi gác. Gác gỏng gì nữa vì tôi lúc ấy chỉ còn là một khúc gỗ, có đem thẩy tôi vào lửa thôi cũng cóc cần, làm sao tôi thức dậy được? Anh khóa sinh này sau 10 phút không kêu tôi được, lại lui cui thế nào đễ lãnh phải một bốt đờ sô của tôi té lăn cù, bèn tức mình đi báo cho trung đội trưởng. Trung đội trưởng khôn hơn, biết tính tôi nên chẳng thèm gọi nữa, liền đi thông báo sĩ quan cán bộ trực. Ông trung úy Ba (tôi nhớ rõ tên), có lẽ bị mất giấc ngủ vì một chuyện không đâu, hầm hầm xách cây Carbine M-2 chạy ra tuyến kiếm tôi. Sau hai tiếng kêu không có kết quả, người sĩ quan cán bộ không thèm phí thì giờ, ông ta nhờ… báng súng Carbine kêu dùm. Bị giộng mấy cái đau điếng, tôi lòm còm bò dậy. Trung úy Ba xài xể tôi một thôi rồi bắt tôi ôm súng ra tuyến gác. Để trừng phạt, ông bắt tôi phải gác thế cho cho tất cả những người khác tới sáng.
Tôi ôm cây M-16 ra phòng tuyến, quên cả hỏi mật khẩu và mấy thứ lẩm cẩm khác của người lính gác giặc. Đứng được khoảng 15 phút thì tôi không còn chịu nổi nữa, cơn buồn ngủ kéo tới, tôi rớt một cái rầm xuống đám cỏ. Ôi, đất ơi là đất, sao mà êm ái và dịu dàng thế này, tôi nhắm mắt nằm ngủ thẳng cẳng.
Không biết tôi ngủ được bao nhiêu lâu thì trung úy Ba lại đi thanh tra. Lần này ông cho người dắt tôi thẳng về đồn quân cảnh. Lúc tỉnh dậy, đầu óc choáng váng, tôi nhìn thấy vừng Thái Dương đã ló dạng qua khung cửa sổ có mấy song sắt của nhà thù. Sáng hôm đó là ngày chủ nhật, ngày thăm viếng. Không biết hên hay xui cho tôi, ngàn năm một thuở, ngày ấy tôi có người đến thăm. Nhà tôi ở rất xa, mãi trên cùng cao nguyên đất đỏ, xuân thu nhị kỳ mới cò người đến kiếm, nay thằng em kế của tôi lên thăm ông anh quý thì hóa ra ông ấy đang ủ tờ. Thật là chán đời. Hai anh em gặp nhau trong một tiếng đồng hồ ngắn ngủi. Tôi dặn nó về đừng có nói là lên thăm gặp tôi đang ủ tờ, sợ cha mẹ phiền. Nó cười cười, dạy khôn tôi: “Anh là cùi mà cớ sợ hủi. Đi lính mà không ở tù lính thì làm sao đáng gọi là lính?” Tôi ầm ừ và cũng đành dùng câu nói của thằng em quý để tự an ủi lòng mình.
Chiều hôm ấy tôi được thả ra nhưng đã tiêu hết ngày chủ nhật quý giá của quân trường.
Lần ủ tờ thứ hai, khoảng 2 năm sau, lúc ấy tôi đã đeo lon thiếu úy tàu bay, vừa tốt nghiệp xong khóa hoa tiêu và đang được huấn luyện hành quân ở phi đoàn. Đó là những ngày nhàn nhã. Mục đích của thời gian huấn luyện này là tập cho phi công trẻ có dịp làm quen với chiếc phi cơ L-19 càng nhiều càng tốt nên chúng tôi nhận được lệnh của phi đoàn trưởng phải bay ít nhất 6 giờ mỗi ngày. Gì chớ bay bổng và nhậu nhẹt là hai chuyện tôi thích nhất trong cõi đời. Ngày nào tôi cũng vào phi đoàn, ký sổ phi lệnh rồi xách một chiếc L-19 cất cánh lang thang một mình trong không gian bát ngát. Khỏi cần nói chắc quí vị cũng có thể tưởng tượng được một thằng trời đánh như tôi sẽ làm gì trên trời một mình mới món đồ chơi mắc tiền là chiếc phi cơ? Tôi nhào, tôi lộn, tôi bay nghiêng bay ngã, tôi hành hạ chiếc L-19 đáng thương như đứa bé con tinh nghịch đủa giỡn với món đồ chơi cũ. Đùa chán chê, tôi xách tàu ra ngoài biền đi phá đám mấy ông thuyền chài. Thấy được một chiếc ghe nào lạc lỏng một mình là tôi cắt ga biểu diễn màn bay sát mặt nước, nhắm thẳng vào chiếc ghe lao tới như các Kamikaze Nhật trong xi nê. Khi nào người ngồi trên ghe chưa chịu… nhảy xuống biển là tôi chưa thoả mãn, quay tàu lại làm vòng khác thấp hơn, thấp hơn nữa. Tôi không nhớ đã thoát chết bao nhiêu lần và đã làm không biết bao nhiêu người thuyền chài vô tội sợ hú hồn, phải nhảy tùm xuống biển.
Những hôm khác, tôi xách tàu đi xa hơn. Có khi còn lên Khánh Dương, bay dọc theo mấy dòng suối để tìm con gái Thượng tắm. Tôi ở Ban Mê Thuột nên biết đàn bà thiều số thường tắm truồng. Tôi chả bao giờ tìm thấy ai tắm nhưng cũng xém chết mấy lần vì tàu gần đụng núi.
Đấy, tôi gian ác như vậy nhưng vẫn chưa bị vào tù vì không ai biết chuyện tôi làm cả. Nhưng thiên bất dung gian, một ngày nọ, vào khoảng giữa trưa, tôi xách nón bay ra quay máy một chiếc L-19 để bay tập. Tôi nhớ rõ hom ấy là ngày thứ sáu và lại vào giấc trưa nên phi trường vắng vẻ vô cùng. Phi đoàn cũng vắng tanh. Tuy ở phi đoàn chưa lâu lắm nhưng tôi biết chiều thứ sáu “Vắng chủ nhà, gà mọc đuôi tôm” được. Thử máy xong, tôi đem ràu ra so hàng ở taxiway rồi xin đài kiểm soát ra phi đạo cất cánh.
Đài kiểm soát vừa “Clear for takeoff” là chiếc L-19… già đã bị tôi tống ga cái rào. Con tàu như nhảy dựt người lên, lóc cóc chở ông thiếu úy cô hồn ra so hàng cuối phi đạo mau như bị ma đuổi. Tôi tống hết ga. Con tàu gầm lên, nhào tới trước. Cái giây phút thú vị nhất của bất cứ người phi công nào là lúc điều khiển con tàu chạy mau trên mặt đắt trước khi cất cánh. Sự khác biệt giữa người và chim, giữa mặt đất tù túng giới hạn và không gian bao la bát ngát , giữa nguy hiểm và an toàn, giữa sống và chết là những giây đồng hồ ngắn ngủi này đây.
Tàu tăng tốc độ, phi cơ “ăn no gió” chuyền áp lực vào cần lái làm tay tôi bắt đầu cảm thấy nặng. Khỏi cần nhìn tốc kế tôi cũng biết là chỉ cần kéo nhẹ cần lái là tàu sẽ rời mặt đất từ từ bay bổng lên không. Đó là kiểu cất cánh bình thường. Nhưng đời tôi, ít khi nào tôi làm chuyện gì bình thường và giống thiên hạ. Thay vì kéo tàu lên, tôi lại hơi đè cần lái xuống cho tàu nhỏng đít chạy thằng trên phi đạo. Cất cánh như vậy coi nó mới giống Skyraider, nó mới hùng, mới đúng điệu “Pilot de Guerre.” (Tôi thường bảo bạn bè rằng, nếu là mây, anh sẽ là loài mây trắng, nêu là người, anh sẽ chết cho quê hương, nếu là phi công, anh chỉ nên lái Skyraider…) Tôi cứ ráng giữ như vậy cho đến lúc không thể nào đèn phi cơ trên mặt đất nữa, mới hơi nới cần lái cho tàu bay lên.
Lần đó, tàu vừa hỏng mặt đất là tôi có một ý tưởng mới lạ. (Suốt đời tôi khốn nạn vì những ý tưởng mới lạ của mình). Bay bổng ngon lành như tôi, tại sao không làm một cái Chandel (đọc là Xăng Đeo) ở cuối phi đạo? Xin dành một vài hàng để tôi cắt nghĩa cái Chandel cho các quí vị không phải là dân bay hiểu.
Làm Chandel tức là làm một cái quẹo ngược 180 độ lên cao về phía sau. Tác diễn này giúp cho các phi công khi gặp phải chướng ngại vật phía trước có thể quẹo ngược ra sau một cách chính xác để khỏi mất hướng và vừa lấy thêm được cao độ. Muốn làm Chandel, người ta mới đầu chúi mũi phi cơ để lấy thêm tốc độ rồi vừa nghiêng vừa quẹo và vừa kéo tàu lên một lượt. Tay và chân phải hòa hợp và ăn khớp với nhau như biểu diễn một điệu nhảy đầm. Cái Chandel tuyệt hảo đặt con tàu đúng 180 độ ở cuối đường, không hơn không kém. Điểm quan trọng cần nói thêm, Chandel là một tác diễn chỉ được làm ở một độ cao tương đối, làm ở sát mặt đất lúc vừa cất cánh là một điều tối kỵ vị rất nguy hiểm và vi phạm luật an phi nặng nề.
Lúc ấy tôi nào có biết gì là nguy hiểm, cứ cho đó là một ý kiến hay. Nhưng trước khi liều mạng như vậy, vốn gian ác nên tôi tính toán cẩn thận. Tôi phải chắc chắn là không có ai ở phi đoàn giờ này thì mới an toàn. Thế là tôi tà tà cho tàu bay lên, quẹo phải hơn ngắn một chút và để ý nhìn xuống phía phi đoàn. Good. Bãi đậu xe của phi đoàn vắng tanh. Phi đoàn tôi lúc ấy có 3 người tôi ngán nhất là phi đoàn trưởng, phi đoàn phó và trưởng phòng hành quân, ông nào cũng có một chiếc xe. Tôi mừng thầm, thế này chắc là các đàn anh đã về nhà ngủ rồi hay không chừng đang chở vợ con đi tắm biền cũng nên. Riêng thiếu tá Bững trưởng phòng hành quân hì chắc đang đụng trận phé lớn ở một chỗ nào đó. Tôi ngán nhất là ông thần này, phi công gì mà mặt mày coi hung dữ chi lạ, còn ngầy hơn cả tôi, dòm cứ như là phi công Nhật. Cho chắc ăn hơn, tôi nhìn xuống bãi đậu xe của Không Đoàn. Chiếc xe díp xanh của đại tá Lạc không đoàn trưởng cũng thấy mất tiêu. Tôi mỉm cười khoái chí. Vậy là nhô con có thể múa rối được rồi.
Tôi làm vòng phi đạo xin tập đáp “Chạm Bánh cất cánh” (touch and go). Trưa thứ sáu, phi trường Nha Trang vắng khách nên các ông đài kiểm soát xem ra cũng có vẻ dễ dãi, chà bù với những lúc bận rộn, mấy ông hối nhặng cả lên. Vừa đáp xuống là tôi tống hết ga để chuẩn bị cất cánh lại. Phi cơ hổng khỏi mặt đất, tốc độ lên rất cao, có thể đến 140 Knots (quá giới hạn của L-19) là tôi trổ tài. Tôi nghiêng cánh, vừa quẹo trái vừa đạp bàn đạp trái và kéo cần lái lên. Con tàu bốc cao như một cái hõa tiễn, người tôi bị lực G đề xuống. G càng lớn thì tôi càng cảm thấy đê mê khoái tỉ, tưởng tượng như mình đang kéo một chiếc Skyraider bay lên. Thật không thể có cái Chandel nào đẹp hơn cái Chandel vừa rồi của tôi trên thế giới này. Chao ơi, sao mà nó sướng, sao mà nó đã, sao mà nó thú, không bút mực nào tả cho hết được. Bay như thế mới gọi là bay, mới là hào hùng, mới là xứng đáng là “Ôi phi công … danh tiếng muôn đời…”
Quẹo xong tôi theo mửng cữ soạn lại, tiếp tục vào đáp và làm thêm mấy cái Chandel nữa. Tôi cảm thấy lúc ấy tôi không còn là một người phi công mới ra trường với số giờ bay chưa tới ba trăm, mà là một anh hùng của KQVN. Giá có thằng Việt Cộng nào ngu dốt đi lạc vào phi trường thì tôi sẽ ủi cho nó xịt khói ra quần cho chúng nó biết tay người phi công trẻ này. Tôi cảm thấy phục tôi quá chừng.
Ở vòng đáp thứ bảy, đang biểu diễn ngon lành thì tự nhiên có tiếng gọi của đài kiểm soát phi trường trong nón bay:
-Mustang Alpha đây Nha Trang đài.
-Nha Trang, Mustang Alpha nghe năm.
-Có điện thoại từ phi đoàn gọi bạn về đáp gấp và vào trình diện phi đoàn trưởng. Mustang Alpha nghe rõ không bạn?
Tôi như muốn té xỉu trong tàu bay. Thế này là tàn một đời phi công vô kỷ luật. Phi Đoàn Trưởng rôi, tôi còn lạ gì? Ông ta là một hung thần xuất thân khóa 17 Đà lạt. Bình thường gặp ông ta không có tội lỗi gì mà đã thấy ngán, bây giờ giữa trưa vắng vẻ như thế này không lý ông ấy gội tôi vể trình diện để kể chuyện đời xưa? Liếc mắt thật nhanh về phía phi đoàn, tôi mới biết là cuộc đời gian ác của tôi sắp sửa bế mạc thật. Rõ ràng là chiếc xe díp đen của ông ấy đang nằm “chình ình” ngay trước cửa phi đoàn. Lúc ấy tôi mới hiểu rõ cái chữ “teo bu gi” mà thiên hạ thường dùng để chỉ những phút giây con người sợ vãi đái ra quần nó như thế nào. Thê thảm lắm.
Đang còn chới với thì đài kiểm soát phang tiếp cho một chưởng:
-Mustan Alpha nhận rõ không bạn?
Tôi… mếu máo:
-Mustang Alpha nhận năm bạn.
Con đường từ phi đạo về đến bãi đâu phi cơ sao mà ngắn quá, tôi cứ mong cho nó dài ra, đừng bao giờ hết để tôi khỏi gặp phi đoàn trưởng tôi. Nhưng rồi cái giây phút kinh khủng ấy đã sắp phải đến. Tôi cặp nón bay lủi thủi bước vào phi đoàn ủ rủ như con chuột ướt, như một đứa con hoang trở về nhà cũ để nhận lãnh hình phạt sau đã phung phí hết tiền của. Tôi ngạc nhiên khi thấy phi đoàn lúc ấy đã có mặt đầy đủ văn võ bá quan. Ông thiếu tá phi đoàn trưởng đang chờ tôi trong văn phòng phía sau. Tôi càng ngạc nhiên hơn khi nhìn thấy ai cũng nhìn tôi bằng một cặp mắt thương hại. Chắc họ đã đoán được cơn thịnh nộ sắp sửa dành cho tôi.
Sĩ quan trực ngày hôm đó là thiếu úy Hầu Văn Thùy Dương. Nó là một thằng tôi luôn luôn cho là cù lần cả quỷnh nhưng hôm nay tôi thấy thèm được cù lần như nó quá. Nó nhìn tôi rồi bám máy interphone báo cáo:
Tôi sửa sang quân phục, vuốt lại tóc tai. Thằng Dương bụm miệng kề tai tôi nói nhỏ:
-Số mày xui quá, thường thường giờ này ổng đâu có vô phi đoàn làm gì. Ổng để quên cái gì đó rồi chạy vào lấy là gặp ngay. Làm sao mà dấu được, tụi tao cũng chạy ra xem. Mày làm náo động cả phi trường Nha Trang. Ai bảo ngu ráng chịu. ĐM mày chuẩn bị 2 lỗ tai để nghe “mô ran” đi. Nhiều lắm là 2 tiếng và ít nhất là một tiếng. Xong phần “mô ran” là phần đi ủ tờ.
Nói xong nó lắc đầu nhìn tôi cười mỉm nửa như thương hại, nửa như thán phục. Tôi không nói gì. Tôi ngu thật, đúng như lời thằng Dương nói. Trong trạng huống này, tôi cảm thấy tôi ngu hơn cả con kiến.
Bước qua chỗ Lý Bững, ông trưởng phòng hành quân còn chơi nhẹ một câu:
-Bổ hết chỗ biểu diễn rồi hay sao mà về Nha Trang biểu diễn mày, làm như ở đây không có tàu bay chắc? Người thì nhỏ một chút mà sao bay bổng dữ dằn quá chừng…
Ông Tám là một con người cẩn thận. Mặc dù tội lỗi của tôi đã rành rành như vậy nhưng ông còn muốn xác nhận lại xem thử tôi vô tình hay cố ý mà “bay bổng kiểu gì kỳ quặc” vậy? Tôi thú nhận là tô đã làm Chandel ở cuối đầu phi đạo.
Thế là cơn thịnh nộ của ông thiếu tá giáng xuống. Suốt gần một tiếng đồng hồ, ông phi đoàn trưởng trẻ tuổi khi la hét, khi nhỏ nhẹ, lúc khác đập tay thình thình xuống mặt bàn để cắt nghĩa cho tôi hiểu về bổn phận và trách nhiệm của một phi công trong thời chiến. Tôi không hiểu cái vụ Chandel của tôi vừa rồi nó có liên hệ gì về quốc hội Hoa Kỳ và tiền viện trợ như thế nào và đôi khi tôi cũng nghe được hai tiếng này. Thỉnh thoảng tôi lại còn nghe được danh từ “phản quốc” và “phá hoại” mới chết chứ. Vì đã chuẩn bị… hai lỗ tai trước khi vào đây cho nên tôi không lấy gì làm khó chịu lắm. Thằng nào đi lính một thời gian rồi cũng học được cái nước tịnh khẩu này. Cứ để cho đàn anh chửi rủa cho hả cơn tức, tới một lúc nào đó đàn anh sẽ mỏi miệng rồi sẽ tốp lại. Sau đó mình sẽ đứng lên chào cái cốp rồi bước ra…
Nhưng tôi bỗng tỉnh hẳn người và cảm thấy quặn đau trong lòng như ai đâm vào đó một con dao khi ông phi đoàn trưởng chê cái Chandel của tôi:
-Anh nói anh làm Chandel hả? Chandel cái con khỉ gì. Tôi chưa thấy cái Chandel nào sai nguyên tắc, vụng về và xấu xí như cái Chandel của anh. Đó là “Xăng đan” của ba tàu Chợ Lớn chứ “Xăng đeo” gì.
Than ôi, nếu biết tôi bay dở như vậy thì thì tôi đâu thèm biểu diễn làm gì để ra nông nổi này. Tôi không buồn bao nhiêu vì sắp đi ủ tờ nhưng tôi đau đớn vì khả năng bay bổng của mình bị đánh giá tệ quá. Trong giây phút buồn phiền thất vọng, tôi chợt bi quan nghĩ rằng hay trời sinh mình ra chỉ để lái tới xe … GMC là hết cỡ, sao lại lái tàu bay để chuốc lấy họa?
Tôi không nhớ mình ngồi đó thêm bao lâu nữa nhưng khi leo lên xe Quân Cảnh đi về Cải Hối Thất thì trời chiều đã bớt nắng. Tối đó, thay vì ăn chơi nhậu nhẹt với bạn bè, tôi phải nằm trong tù nhìn mấy con muỗi làm … Chandel trong mùng tôi. Xem chừng bọn muỗi đói này làm Chandel hay hơn thiếu úy Nhị trưa này nhiều vì đã mấy lần tôi đưa tay định vỗ thì chúng đã lượn một vòng tuyệt đẹp, bay ngược ra sau rồi biến mất. Vồ hụt muỗi mấy lần, tôi phát cáu chửi thề: “Tiên sư chúng mày, học ở đâu mà làm Chandel đẹp quá thể, ông mà bắt được thì ông nghiền nát chúng mày ra cho tan đời muỗi…” Có thể nói, mỗi một con muỗi là một Fighter Pilot chính hiệu. Tuy tức tối nhưng tôi phục chúng nó.
Tôi đốt thuốc lá liên miên và tuy nằm trong một chỗ gọi là Cải Hối Thất, tôi chẳng thấy muốn hối cải chút nào hết. Chẳng những không biết hối cải, tôi còn tự rút ưu khuyết điểm để lần sau, nếu tôi có hành động gian ác nữa htì không ai có thể bắt được. Tôi lại nghĩ về cái Chandel … quê mùa và bực tức sự ngu dốt của mình. Đúng là có mắt như mù.
Ông Tám chỉ cho tôi nằm xả hơi đến sáng thứ hai thì gởi sĩ quan trực xách xe đến đón tôi về. “Ở tù ra” tôi đâm khôn, làm gì cũng ngó trước tính sau, nhất định không để sơ xẩy như lần đầu nữa.
Rồi tôi cũng được tha cho đi bay hành quân. Trước khi đi biệt phái lần đầu tiên, tôi được phi đoàn trưởng gọi vào trình diện. Một lần nữa, tôi chuẩn bị 2 cái lỗ tai để nghe “mô-ran” nhưng tôi ngạc nhiên khi thấy ông Tám ỏ ra thân mật với tôi. Tôi còn được mời hút thuốc lá 3 con 5 mới là ly kỳ. Ông phi đoàn trưởng tâm sự với tôi một câu mà tôi không thể nào quên được:
-Tôi biết anh là một con người ba gai nhưng anh có tâm hồn và tài năng. Tôi sẽ huấn luyện để anh trở thành một cán bộ nồng cốt của phi đoàn. Phần anh, anh phải cố gắng, đừng cậy mình có tài mà bê bối. Anh phải luôn luôn ghi nhớ mình là một sĩ quan của QLVNCH, phải giữ gìn tư cách và tác phong.
Kể từ ngay đi lính đến giờ đó là gần 3 năm, tôi luôn luôn bị nghe chửi, đây là lần đầu tiên tôi được khen là “có tâm hồn và tài năng” nên rất lấy làm sung sướng. Sẵn trớn, tôi muốn hỏi xem cái Chandel tôi làm ngày nào có quả thực là xấu xí và quê mua không nhưng tôi tốp lại kịp thời. Không nên nham nhở với phi đoàn trưởng quá, để rồi từ từ hỏi sau cũng được…
Rồi tôi nhận phi vụ lệnh sách tàu đi biệt phái ở một chiến trường hung hản nhất của vùng II chiến thuật lúc đó: Chiến trường Tam Biên Pleiku-Kontum. Giặc vừa mở một loạt tấn công khắp các nơi để mở màn cho một trong những mùa hè tang tóc và kinh hoàng nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam mà nhà văn Phan Nhật Nam gọi là “Mùa hè đỏ lửa” năm 1972. Tôi còn nhớ trong bay từ Nha Trang đến Pleiku lần đầu tiên ấy, lêo lên 8 ngàn 500 bộ, trên tôi là mây, dưới chân tôi là đồi núi trùng trùng điệp điệp. Phong cảnh hùng vĩ và tươi đẹp của quê hương lúc trời rạng đông làm cho lòng tôi dâng lên một cảm xúc bồi hồi khó tả. Trong một thoáng, tôi cảm thấy mình không còn là một phi công vô kỷ luật nữa mà trở nên trầm lặng như một nhà hiền triết. Sau bao nhiêu tháng ngày học tập, đây là lúc tôi có thể thi thố tài năng để đền ơn cho tổ quốc. Tôi lại cảm thấy tôi mang nợ với đất nước này nhiều quá. Lúc nhỏ, tôi mang nợ công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ. Lớn lên tôi mang nợ công ơn giáo dục của thầy. Vào lính hơn 2 năm qua, tôi chỉ cắp sách và nón đi học để trở thành một phi công. Giữa lúc mà những người cùng tuôi tôi phải nằm gai nếm mật, vượt rừng lội suối, đem máu đào ra gìn giữ từng con đường từng tấc đất của quê hương thì tôi suốt ngày hết bay lên rồi lại bay xuống. Tôi tự nguyện với lòng mình là sẽ sử dụng hết khả năng mình để làm việc đền ơn cho tổ quốc.
Bạn có bao giờ đưa cho một đứa con nít một cây súng thiệt rồi bảo nó đi săn với bạn chưa? Khổ sở lắm, vì đứa con nít đó luôn luôn hăng tiết vịt, gặp cái gì cũng muốn bắn phá, rồi hết chòng ghệo người này lại đến phá phách người khác. Thằng con nít còn đỡ hơn là tôi, một phi công trẻ với món đồ chơi mắc tiền là chiếc phi cơ. Chỉ vài ngày sau thôi là điện thoại gọi tới tấp về phi đoàn để báo cáo và than phiền về những hành vi vô kỷ luật của tôi trên trời. Lúc ấy ở chiến trường, tôi nào co biết sợ là gì? Vùng phòng không đan kín trời ai cũng né thì tôi lài lù lù dẫn xác vô bằng một cao độ mà AK bắn chắc cũng rớt. Tôi nghĩ bọn xạ thủ Việt Cộng phải bắn giở lắm vì tôi chẳng hề bị gì cả. Chẳng phải là tôi gan dạ hay ngon lành gì, chẳng qua chỉ vì chưa biết nên chưa sợ đó thôi. Đâu đã hết, nhiều lúc tôi còn đi lạc vào vùng có tác xạ pháo binh đang TOT (Pháo tập trung bắn từ nhiều nơi đến một chỗ, một lần) của hàng trăm khẩu vừa Tây vừa Ta. Tôi nào có biết. Đến khi nhìn thấy hàng trăm đóa hoa đất tự dưng nở tung tóe ngay dưới chân mình thì mới giật nẩy mình lên, hốt hoảng … chạy lấy người. Ai đi bay với tôi cũng đều than phiền.
Một buổi sáng, đích thân ông phi đoàn trưởng xách chiếc U-17 lên Pleiku đi điều tra tình hình. Khi chiếc tàu của ông vừa đáp thì một cơn mưa pháo của giặc cũng ào ào rớt xuống làm cho ông Tám càng giận thêm. Chỉ vì thằng thiếu úy mất dạy mà ông phải khổ sở như thế này. Gặp tôi, ông phùng mang trợn mắt xài xể và hăm dọa một lúc rồi đi một vòng thăm nơi ăn chốn ở của anh em, hỏi han dặn dò rồi ra về.
Tôi có bớt đi chút ít nhưng sau đó thì vẫn chứng nào tật ấy.
Một ngày nọ, tôi chở một ông đại úy bộ binh của phòng 2 tiểu khu Pleiku đi thám sát. Vừa quay máy tàu xong, đang tà tà di chuyển phi cơ thì phi trường bị pháo kích. Tôi nghe đài kiểm soát là ùm trong tần số, thông báo phi trường đóng cửa, tất cả các phi vụ bị tạm thời đình chỉ, yêu cấu tất cả các phi cơ đang di chuyển trở về bến đậu. Dĩ nhiên tất cả các phi cơ khác đều quay lui về ụ, chỉ còn mình tôi tiếp tục lang thang trên đường taxiway, coi lệnh lạc của đài kiểm soát chẳng ra gì, coi pháo giặc cũng chẳng ra gì luôn. Chẳng phải vì tôi ngon lành gì nhưng nghe bị pháo mà nhìn quanh tôi chẳng thấy trái pháo nào rớt cả nên cứ giả vờ như mình không biết. Quả đúng là “chưa có thằng nào ngu hơn thằng này.” Tôi không muốn trở về bến đậu vì trời Pleiku vào khoảng 2 giờ trưa, mùa hè nóng bức vô cùng. Hơi nóng từ trên cao đổ xuống, từ mặt đất bốc lên, làm cả 2 người ngồi trong phi cơ như ngồi trong lò bánh mì. Nghĩ đến cái cảnh phải trở về bến đậu rồi cà kê với mớ đồ nghề lỉnh kỉnh, tháo dù, cất dù, tôi đâm ra làm biếng. Tôi chỉ muốn cất cánh mau rồi leo lên chừng 5, 6 ngàn bộ cho nó được mát mẻ một chút. Ông sĩ quan bộ binh phòng 2 đi bay với tôi thì dĩ nhiên không có ý kiến gì rồi.
Đến cuối đường bay, tôi bấm máy gọi xin ra phi đạo cất cánh. Mấy ông đài kiểm soát này giờ tưởng tôi bị hư vô tuyến, bây giờ mới bật ngữa. Mấy cha la hoảng lên như bị ai bóp dái:
-Mustang 12, đài kiểm soát gọi bạn nảy giờ không được. Phi trường đóng cửa, đài kiểm soát yêu cầu bạn trở về bến đậu gấp.
-Bạn cho tôi ra cất cánh… đại cái đi bạn. May ra tôi còn tìm thấy pháo chúng nó để phản pháo.
-Negative! Đài kiểm soát thông báo một lần nữa, yêu cầu Mustang 12 trở về bến đậu gấp.
Ngay lúc đó, hình như tôi nhìn thấy được một cụm khói đen bốc lên ở đâu đó trong phi trường, dấu hiệu pháo bắt đầu rớt. Nguy cấp rồi, khỏi thèm cãi vã với mấy cha đài kiểm soát này làm chi, tôi bèn tứ động tống ga nhào ra phi đạo rồi đẩy cần ga lút cán. Chiếc L-19 chồm tới trước, chỉ vài trăm thước là hỏng bánh ngay. Tôi kéo tàu lên, quẹo gắt ra khỏi phi trường, trong tai vẫn còn nghe mấy ông đài kiểm soát lải nhải. Tôi cười hì hì, nói thầm với mình: “Mẹ, biết rồi, khổ lắm, nói mãi…”
Hành động điên rồ của tôi, nếu ở một hoàn cảnh khác thì có thể đã bị treo cánh bay vĩnh viễn, nhưng ờ một vùng địa đầu giới tuyến, giữa lúc cường độ chiến trường như vậy, tội của tôi được coi là nhẹ. Tuy nhẹ nhưng điện thoại cũng gọi tới tấp về biệt đội và phi đoàn. Hết ông an phi sư đoàn rồi đến ông an phi không đoàn thay phiên nhau mắng vốn về tôi. Tôi nghĩ đến cảnh ông trung tá Tám lại một phen nữa phải vểnh tai ra nghe thiên hạ xài xể vì có thằng thiếu úy du côn mà không biết dạy. Chiếu đó về biệt đội, ông biệt đội trưởng, đại úy Huy gọi tôi ra một góc, mặt mày hầm hầm:
-ĐM sao mà tôi chán cái ông quan con này quá, lại có chuyện rồi. Ông Tám mới gọi ra, xỉ và tao tưng bừng…
-Em biết rồi, chuyện cất cánh hồi chiều chứ gì?
-Tụi an phi nó bẩo ông cất cánh không có lệnh đài kiểm soát, làm bộ hư vô tuyến, đủ thứ…
Tôi đáp tỉnh queo:
-Trời đất, vô tuyến của em hư thật, lúc nghe được lúc không. Đến chừng nghe đài kiểm soát bảo đóng cửa phi trường thì pháo nó rớt gần quá, em hoảng hồn cất cánh luôn. Teo quá, chỉ sợ chết…
Nói xong tôi còn làm bộ dậm chân dậm cẳng như là mình vô tội mà bị oan ức lắm. Đại úy Huy không biết phải nói gì, đành than thở:
-Cái phi đoàn này ngày ông chưa về thì nó yên thế mà bây giờ ngày nào cũng có chuyện. Thôi chuẩn bị mồm mép đi để lúc đổi biệt đội về trình diện ông Tám. Mấy ngày còn lại, ông bay với tôi. Cấm không được lạng quạng, nghe rõ không ông thần?
Tôi gật đầu sốt sắng. Lúc quay trở vào, tôi còn nghe đại úy Huy lẩm bẩm đằng sau lưng: “Đù mẹ sao mà tôi chán ông quan con này quá, lúc nào cũng sinh chuyện được.”
Đến ngày đổi biệt đội, tôi vừa đáp xuống phi trường Nha Trang thì đã thấy chiếc xe díp của phi đoàn trưởng đậu sẵn. Người tài xế mời tôi lên xe rồi chở thằng về phi đoàn. Tôi vào trình diện ông Tám.
Tôi có thể lừa được nhiều người nhưng ít khi nào lừa được phi đoàn trưởng của tôi. Làm một cánh chim đầu đàn mà không biết mấy cái mưu chước vặt của đàn em thì làm sao trị được những thằng phi công vô kỷ luật cỡ như tôi. Chỉ vài câu hỏi hóc búa thôi là cái tội nói láo của tôi bị lòi ra ngay. Thế là một lần nữa hết đời tên gian ác.
Chiều hôm đó, sau 15 ngày biệt phái, thay vì được về nhà ăn nhậu như những người khác thì tôi lại lóc cóc leo lên xe Quân Cảnh trực chỉ Cải Hối Thất. Sao mà tôi ghét những chiếc xe díp nhà binh như thế này. Người ta thường ngồi lên đó lái đi phom phom coi rất oai phong lẫm liệt còn tôi thì chỉ ngồi lên để đi trình diện xếp lớn hay đi tù. Ngồi trên xe, tức quá mà chằng biết làm gì, tôi đành lôi mấy thằng đài kiểm soát Pleiku ra mà nguyền rủa. Tiên sư chúng nó, đúng là chuyện bé mà xé ra to để tôi phải đi tù…
Có lẽ chỉ muốn dằn mặt ông thiếu úy du côn một chút thôi nên sáng sớm ngày hôm sau tôi được thả ra. Lần này tôi được ông Tám cho một đại úy lái xe díp (lại xe díp) đi đón tôi và tôi được tặng một tờ giấy phép 5 ngày với nhiều lời nhắn gời…
Sau đó, bẵng đi một thời gian đến mấy năm, tôi không còn nhớ cái hình dáng của Cải Hối Thất nó tròn hay méo như thế nào nữa. Chẳng phải vì tôi trở nên tốt lành gì nhưng càng lớn thì tôi càng khôn ra, làm gì cũng cẩn thận, ngó trước dòm sau chứ không ào ào như những ngày xưa…
Tôi trưởng thành dần theo cuộc chiến cho đến lần xảy ra vụ ở tù lần thứ tư….
Khoảng đầu năm 1974, giặc bỗng tấn công và tràn ngập đồn Bu Prăng. Cái đồn địa phương quân này có một vị thế chiến lược quan trọng vì nó nằm giữa con lộ duy nhất nối liền Quảng Đức và Ban Mê Thuột.
Quận lỵ Quảng Đức, vốn đã từ lâu “sống âm thầm cô độc” giữa những khu rừng già trùng trùng điệp điệp nên chịu số phận hẩm hiu: Chỉ là miền đất lạnh lẽo dành cho những kẻ bị lưu đày. Bộ binh ở đây toàn là những kẻ ngang tàng và hào sảng như thiếu tá Trương Minh Dũng, tham mưu trưởng tiểu khu Quảng Đức. Thiếu tá Dũng, “người anh em” của phi đoàn 114, xuất thân khóa 1 hay khóa 2 Thủ Đức, vừa ra trường là gia nhập binh chủng nhảy dù, đánh hàng trăm trận lớn nhỏ trước khi được tổng thống Diệm đưa qua địa phương quân để vừa làm cán bộ vừa nâng cao khả năng chiến đấu của những đơn vị này. Gần mấy chục năm máu lửa và sương gió trên khắp nẻo quê hương cũng chỉ được nhà nước nhớ ơn bằng cặp lon thiếu tá khiêm nhường trên cổ áo. Phi đoàn tôi từ nhỏ tới lớn ai mà không biết hoặc không quen thiếu tá Dũng với cái điếu cày thuốc lào luôn luôn có trên tay. Cái điếu cày bằng nhôm màu bạc này là vật bất ly thân của thiếu tá Dũng dù trên chiến trận, trong tàu bay L-19, nơi phòng họp hành quân với tư lệnh quân đoàn, hoặc ở các phòng trà nhảy đầm danh tiếng của thủ đô Sài-gòn những lần về phép. Cái con người ngang tàng lạ lùng này của quân lực còn là một nhà thơ nỗi tiếng với những bài như “Nỗi buồn của Hạ”, “Xuân Cao Nguyên”, “Bỏ phố lên rừng…” Riêng bài Bỏ Phố lên rừng lúc ấy đã được Châu Kỳ phổ nhạc, nghe rất hay.
Về phía không quân thì đi biệt phái Quảng Đức cũng coi như khăn gói đi tu mười lăm ngày. Cả thành phố chỉ có được một khu chợ chính nằm trên con đường dài không quá một trăm thước, khách bộ hành, vừa đi vừa nghỉ, cũng chỉ cần năm phút là về chỗ cũ.
Nhỏ vậy, nghèo vậy, hiền lành như vậy, nhưng Quảng Đức với tôi có nhiều kỷ niệmvô cùng. Ai cũng sợ đi Quảng Đức, chỉ có mình tôi, đại úy Hưởng, đại úy Nhơn là cóc cần vì chúng tôi đã có “bùa”. Chiều chiều, chúng tôi hay hay rủ rê anh em xách tàu bay qua Lâm Đồng nhậu nhẹt với thiếu tá Dũng hay lên Đà Lạt hay qua Ban Mê Thuột chơi. Quảng Đức là một quận ly hiền lành, dường như giặc cũng chê cái thành phố này cho đến hôm nay.
Lấy xong Bu Prăng, con cháu giặc Hồ còn chơi bạo, tính kéo luôn quân về vây hãm Quảng Đức. Thế là chúng tôi có nhiều việc làm.
Chiến dịch tái chiếm Bu Prăng, vào lúc căng thẳng nhất, đã có đến 6 phi hành đoàn L-19 túc trực ngày đêm để làm việc với một liên đoàn Biệt Động Quân, một trung đoàn của sư đoàn 23 bộ binh và chiến đoàn III xung kích LLĐB. Rất từ từ nhưng quân ta cũng chặt đứt được khúc đuôi của giặc, giải tỏa áp lực cho Quảng Đức đồng thời tiền gần trở lại Bu Prăng.
Tôi bay lên biệt phái cho Quảng Đức một thời gian thì một buổi trưa, vừa về đáp sau một phi vụ, tôi đang nằm ngủ trong căn nhà của biệt đội. Sáng đó, tôi bay sớm và bay lâu nên về nhà thì mệt nhoài. Tôi cũng không còn nhớ lúc ấy những phi hành đoàn khác đã bỏ đi đâu mà chỉ còn có mình tôi ở lại biệt đội. Tôi nghĩ họ chở nhau đi ăn cơm.
Đang nằm thiu thiu thì bỗng có một chiếc xe díp nhà binh phóng như bay rồi thắng kít ngay trước cửa biệt đội. Bụi đỏ tung mù trời phủ mờ chiếc xe díp và hình ảnh mấy ông mặc áo rằn ri không rõ lon lá đang phóng xuống chạy như bay vào. Biệt đội Quảng Đức chúng tôi trú ngụ trong một căn nhà xây xi-măng. Từ đầu tới đuổi căn nhà, chúng tôi kê đúng 12 cái giường bố sắp thẳng băng sát cạnh nhau như trong một cái bệnh viện. Giữa nhà là một chiếc bàn con và cái điện thoại để liên lạc với trung tâm hành quân tiểu khu và sĩ quan liên lạc không quân. Chiếc bàn con này coi vậy mà làm được nhiều việc. Nó vừa là nơi họp hành quân, nơi ăn uống, nơi đánh bài và dĩ nhiên, cũng là bàn rượu khi rỗi rảnh. Giường tôi nằm khá xa phía trong.
“Mẹ, lại có chuyện rồi, thế là mất tiêu buổi ngủ trưa,” tôi vừa cằn nhằn vừa trở mình nhìn ra, chỉ hy vọng mấy ông mặc đồ rằn ri đổi hướng khác, không bước vào đây.
Nhưng họ không đổi hướng, cứ xăm xăm đi vào. Chẳng biết mấy ông muốn gì đây mà bộ tịch coi ghê quá. Tôi liền dựng người trở dậy, thọc vội cái áo bay vào người, kéo xong phẹc ma tuya thì mấy ông rằn ri cũng vừa tới trước mặt. Thì ra toàn là những sĩ quan của Sở Liên lạc Nha Kỹ Thuật, phù hiệu đỏ chói của Tổng Tham Mưu bên tay trái và huy hiệu chiếc dù có con cọp hay con beo gì đó trước ngực. Theo trí nhớ của tôi thì có một ông trung úy và hai ông đại úy, mặt mày ai nấy coi có vẻ nghiêm trọng vô cùng.
Tôi chưa kịp đưa tay chào mấy ông sĩ quan lớn lon hơn tôi theo đúng lễ nghi quân cách, chưa kịp nói gì thì một ông đại úy hỏi:
-…. Em là phi hành đoàn duy nhất ở đây?
Theo thói quen học được từ những ngày còn ở trường bộ binh Thủ Đức, tôi cung tay chào mấy quan Lôi Hổ:
-Dạ đúng đại úy, không biết mấy ông kia đi đâu hết rồi. Đại úy cần gặp ai?
Nghe như thế thì khuôn mặt mấy người sĩ quan Nha Kỹ Thuật thoáng lên vẻ thất vọng. Tôi kéo mấy cái ghế sắt:
-Mời đại úy và quí vị ngồi chơi, tôi xin phép đi sỏ đôi giầy.
Họ cám ơn tôi rồi cùng nhau xầm xì to nhỏ gì đó. Tôi bình thản ngồi xuống giường mang giày vớ. Mặc áo nhà binh lâu, tôi đã quá quen với những bất ngờ, những bấc trắc của cuộc chiến nên đã học được cái tính phớt tỉnh Ăng Lê. Chuyện gì xảy ra, tin tức gì cũng chẳng làm cho tôi bận tâm. Thêm vào đó, hồi đó tôi đang trở chứng, muốn tìm hiểu và đang đọc các loại sách nói về Kinh Dịch, về luật Âm Dương của tạo hóa nên trở nên là đà, mặt mày lúc nào cũng đăm chiêu tư lự và chán đời như ông Trang Tử ngày xưa.
Mang giày xong, tôi ra kéo ghế ngồi giữa mấy ông sĩ quan Nha Kỹ Thuật, châm lửa một điếu thuốc:
-Nếu đại úy muốn kiếm ông biệt đội trưởng, đại úy có thể dùng điện thoại đây gọi về cho trung tâm hành quân tiểu khu. Mấy ông “Alo” (sĩ quan liên lạc không quân) chắc biết ổng ở đâu.
Một ông đại úy lên tiếng sau một vài giây ngần ngừ:
-Chúng tôi có một việc cần anh giúp đỡ, nếu anh giúp được chúng tôi cám ơn anh vô cùng.
Lời nói khẩn thiết và chậm rãi của vị sĩ quan Nha Kỹ Thuật làm cho tôi ngạc nhiên. Một thằng thiếu úy không quân hạng bét như tôi thì giúp gì được mấy ông rằn ri thứ dữ này ? Nhưng cứ nhìn điệu bộ và cách ăn nói thì mấy ông này giữa trưa lái xe tới đây không phải để đùa dai với tôi. Trong một giây phút, tôi cảm thấy khoái chí vì mình tự nhiên được trở nên một nhân vật quan trọng.
Tôi nhíu mày:
-Đại úy cần gì, xin đại úy cứ cho biết…
Người sĩ quan Nha Kỹ Thuật nhìn thật sâu vào mắt tôi, nói chậm rãi và bằng tất cả những sự thống thiết của một con người:
-Một toán Lôi Hổ của tôi thả xuống lần trước đã bị Việt Cộng phát hiện, bị bao vây và tấn công mấy ngày. Tụi nó đã chạy thoát được nhưng đang bị phân tán mỗi người một nơi và lạc trong rừng. Tôi muốn nhờ… thiếu úy, muốn nhờ… em giúp tôi bay lên để gom chúng nó về một LZ an toàn.
Tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Tưởng gì chứ đi bay kiếm Lôi Hổ bị lạc và chọn bãi đáp thì quá thường đối với tôi. Tôi chịu nhất là cái tài chiếu kiếng của mấy ông này. Nhiều khi tôi bay rất cao, giữa rừng già thăm thẳm mênh mông mà mấy ông chỉ cần chiếu một phát là tôi nhìn thấy ngay. Chà bù với mấy ông bộ binh, nhiều khi chiếu cả ngày cũng chẳng thấy đâu. Nhưng một phi vụ đơn giản như thế thì tại sao lại khổ sở vào đây để kiếm tôi?
Tôi nói ngay:
-Có gì đâu đại úy, đại úy cứ việc gọi về trung tâm hành quân, request một phi vụ là tôi cất cánh liền.
Ông đại úy lắc đầu:
-Nếu xin được thì tôi đâu có đến đây kiếm anh.
Thì ra vậy. Số là, không quân chúng tôi khi được biệt phái đi bay yểm trợ cho các đơn vị bạn, mỗi ngày trung tâm liên lạc hành quân đều thông báo cho bộ tư lệnh chiến trường biết có bao nhiêu tàu khả dụng, bao nhiêu phi vụ có thể cất cánh được. Số phi vụ này được tư lệnh chiến trường, tùy theo mức độ cần thiết và nhu cầu, chia ra cho các đơn vị tham chiến. Khi một đơn vị cần phi cơ yểm trợ, họ chỉ việc gọi cho trung tâm liên lạc hành quân. Nơi này, tùy theo số lượng phi vụ đã được cấp phát trước, sẽ cho chúng tôi cất cánh để làm việc với họ. Tôi không tò mò hỏi thêm nhưng biết chắc có lẽ đơn vị Lôi Hổ này đã xài hết những phi vụ của mình, hoặc vì tình trạng thiếu thốn máy bay, không xin được một phi vụ nào cả, đành phải đau xót nhìn những đứa con của mình bị rượt đuổi giữa rừng già.
Đối với chúng tôi, ngoài những phi vụ huấn luyện hay bay thử phi cơ, cất cánh không có phi vụ lệnh đàng hoàng là sẽ bị ở tù hoặc đưa ra tòa án quân sự. Thân bại danh liệt là cái chắc. Thật ra, trong suốt cuộc đời bay bổng, chúng tôi cũng đã nhiều lần cất cánh lậu để đi ân nhậu hay chở bạn bè đi chơi nhưng chúng tôi đều luôn luôn có phép ngầm của trung tâm liên lạc hành quân. Nhiều khi, những người hành khách mà chúng tôi chở đi chẳng ai khác hơn là ông sĩ quan truỏng phòng liên lạc hành quân dù đi chơi hoặc bạn bè của ông ta. Nhưng đó là chuyện thời bình, khi không có việc gì để làm. Điềm quan trọng là trong bất kỳ hoàn cảnh nào, chúng tôi không bao giờ dám cất cánh lậu mà trung tâm liên lạc hành quân không biết. Hôm nay, giữa lúc khói lửa ngút trời như thế này, không ai dám nghỉ đến việc xách tàu đi đâu.
Tôi đã tính lắc đầu. Chuyện của thiên hạ thì mắc mớ gì tới mình mà bày đặt. Hơn nữa, cái tiếng tăm của tôi trong phi đoàn lúc ấy đã quá nổi. Không phải nổi nhờ những cái hay mà toàn là những chuyện bê bối và “gian ác.”
Tết vừa rồi, ngày mùng ba, tôi bay mấy trăm dặm đường về Ban Mê Thuột để chúc Tết và nói chuyện đầu năm với thân phụ. Sau một ly trà nóng, ông đã bảo tôi bằng một giọng buồn buồn và mệt mõi rằng: “Con đã lớn tuổi, phải sửa lại tính tình để lo cho tương lai, không thể sống mãi như một người vô trách nhiệm.” Cái chết của thằng em ruột tôi, trung sĩ Lê Xuân Bích tại trận Tân Cảnh năm 1972 đã đem tang tóc vào nhà tôi và làm cho ông buồn bã vô cùng. Tôi nhớ, khi em tôi vừa ra trường Đồng Đế, về sư đoàn 23 bộ binh, nhiều người đã bảo ông sao không chạy chọt cho nó được một chỗ ấm thân. Thân phụ nghiêm mặt trả lời: “Nếu ai cũng lo chạy chọt như mình thì chính phủ lấy người đâu mà đánh giặc. Hơn nữa, nhà nghèo quá, tiền ăn còn không có thì lấy tiền đâu ra mà chạy chọt.” Thật là một lời nói đau buồn nhưng không phải không có lý. Hình như cái chết của thằng con trai đã ám ảnh ông. Thân phụ không còn như xưa nữa. Nghĩ đến thân phụ tuổi đã cao, lại khổ cực cả một đời vì con cái nên tôi có thành tâm hối cải, tính tu thân để trở thành một “cán bộ nồng cốt của phi đoàn” như lời dạy dỗ của phi đoàn trưởng. Nhưng số tôi làm như không có… căn tu cho nên lâu lâu cứ bị dây dưa vào những chuyện đâu đâu.
Tôi suy nghĩ sâu hơn nữa. Nhìn những vị sĩ quan của Nha Kỹ Thuật ngồi trước mặt, lòng tôi bỗng tự dưng dâng lên một niềm kính phục kỳ lạ. Giữa lúc có nhiều ông sĩ quan cao cấp đem bán cả gạo, cả súng đạn cho giặc thì những con người Việt Nam này, những sĩ quan trẻ tuổi này, mặt mày lo âu, mắt ai nấy ngầu đỏ vì thiếu ngủ đang ngồi chờ sự quyết định của tôi. Nếu tôi đồng ý, các vị sẽ cứu được những người lính của mình, những người tuy không phải bà con ruột thịt nhưng tình chiến hữu còn khắng khít còn cao hơn máu mủ ruột thịt. Nếu tôi từ chối, chẳng làm gì tôi cả và tôi sẽ không bị lôi thôi rắc rối với phi đoàn hay pháp luật. Nhưng nếu làm vậy, tôi biết những người lính Lôi Hổ anh dũng kia có thể bị giặc bắt hay tàn sát và lương tâm tôi, cái lương tâm của một sĩ quan QLVNCH, dù mang một cấp bậc rất nhỏ là thiếu úy sẽ dằn vặt sâu xé tôi suốt đời.
Tôi lại nghĩ đến những lần cất cánh trái phép để đi chơi bời, đi ăn nhậu. Xăng chính phủ, tàu bay chính phủ, tôi sử dụng trái phép như thế chẳng khác gì tôi phạm tội tham nhủng, ăn cắp của công. Tôi chửi bới người khác tham nhủng, còn tôi, ai sẽ chửi bới tôi? Lớn ăn theo lớn, nhỏ phá theo nhỏ, còn gì là cái gia tài của quốc gia?
Ông đại úy Nha Kỹ Thuật mời tôi điếu thuốc. Ông cười… cầu tài. Tôi thấy nụ cười của người đàn anh trong quân đội sao vừa buồn mà lại vừa oai dũng, vừa chịu đựng, lại vừa quyết liệt. Ông nói, giọng như người anh khuyên bảo đứa em trai:
-Thiếu úy cứ tính đi. Anh em chúng tôi không muốn làm cho thiếu úy kẹt. Nhưng nếu giúp được chúng tôi, chúng tôi sẽ cám ơn vô cùng…
Vì trách nhiệm, vì tình chiến hữu sắc son, vì muốn cứu mấy người lính của ông ta, một vị đại úy oai hùng của Nha Kỹ Thuật đã mời thuốc lá và cười cầu tài với một chú thiếu úy oắt con như tôi. Tôi bỗng thấy trái tim mình như rướm máu, lòng dạ xót xa bồi hồi. Tự nhiên, tôi thấy thương quân đội tôi, dân tộc tôi vô cùng. Ngày nào quân đội tôi còn những sĩ quan như thế này, ngày đó chúng tôi và những người đàn em của ông ta còn có lý do và để hãnh diện chiến đấu. Quân đội tôi, cái quân đội nghèo nàn bắt đầu không phải từ con số không mà từ con số trừ to lớn bởi vì đã bị bóp méo coi thường ngay từ những giây phút đầu tiên. Bọn CS đã lòe được thiên hạ để mang cái võ “Quân đội Nhân dân” bên ngoài. Chúng tôi, những chiến sĩ của nhân dân thật sự thì lại mang tiếng là lính hậu thân của quân đội thuộc địa. Hàng bao nhiêu năm qua, bạn cũng như thù, đã đem quân đội tôi ra mà nhục mạ, bêu xấu, hành hạ đủ điều.
Tôi không phủ nhận quân đội tôi đã có những thằng tướng hèn, tướng phản bội, tướng nối giáo cho giặc. Nhưng, trên cõi đời này, có cái gì là tuyệt đối? Những bê bối, những xấu xa, quân đội nào chả có đâu phải chỉ riêng mình quân đội tôi.
Chính những người sĩ quan của một binh chủng hung hãn nhất quân lực ngồi trước mặt tôi ngày hôm nay làm cho tôi nghẹn ngào mà hãnh diện, vui mà buồn. Tôi nhớ đến cái chết của thằng em tôi tại chiến trường Tân Cảnh ngập máu năm nào. Mỗi lần nghĩ về em, lòng tôi như bị ai đâm lút cán một lưỡi dao. Tôi lại nhớ đến lời nói của thân phụ: “Không thể sống mãi như một người vô trách nhiệm.” Trách nhiệm của tôi, một sĩ quan xuất thân trường bộ binh Thủ Đức, một phi công của QLVNCH trong hoàn cảnh này là gì? Là bằng mọi cách, phải cứu cho bằng được những chiến sĩ Lôi Hổ can trường kia. Tôi cũng đã suy nghĩ đến những hậu quả có thể xảy ra cho tôi. Đi tù, “cát xê ga lông”, ra tòa án quân sự vân vân. Và cũng có thể, sẽ chẳng có gì xảy ra cho tôi hết. “Không thể sống mãi như một người vô trách nhiệm” câu nói của thân phụ lại trở về ám ảnh lấy tôi.
Tôi gật đầu, mặt đanh lại với câu nói quyết định:
-Được, tôi sẽ cất cánh mà khỏi cần phi vụ lệnh. Đại úy cho người đi bay với tôi.
Ba khuôn mặt đang buồn thảm bỗng trở nên sáng ngời như những vì sao. Vị đại úy đứng dậy, đưa hai tay ra nắm lấy vai tôi, giọng hớn hở như đứa con nít được quà:
-Em… em bay cho tụi tôi thật à. Thế thì quý hóa quá, hay quá, tốt quá. Thế mới là huynh đệ chi binh chứ. Mà cất cánh … bất ngờ như vậy có sao không? Có kẹt gì cho em không?
Đã lỡ giúp, tôi đành giúp cho trọn:
-Không sao đâu đại úy, cùng lắm thì bị phi đoàn trưởng xài xể chút thôi.
Tôi đứng dậy ra đầu giường để chuẩn bị dụng cụ phi hành. Khi thấy tôi lôi cây AK-47 từ trong góc giường ra, một người hỏi:
-Anh thích xài AK ư?
Tôi hãnh diện khoe:
-Dạ, quà của trung tá Xuân, tham mưu trưởng quân đoàn cho đấy.
Tôi vốn là một thằng ngược đời. Thằng Hiệp, bạn thân nhất có lần bảo tôi: “Con người mày nó kỳ lạ làm sao ấy. Mày luôn luôn phải có tí gì khác người thì ăn cơm mới thấy ngon. Thiên hạ đeo súng ở thắt lưng thì mày đeo ở nách, đeo lon ở vai thì mày đeo ở cổ, xài M-16 thì mày lại thủ AK coi cứ như một thằng du kích Việt Cộng. Anh em khoái đánh bài thì mày tối ngày cứ ôm mấy cuốn sách mà đọc, thích nói chuyện chơi bời thì mày lại giảng Kinh Dịch, bàn chuyện tử vi tướng số hoang đường và triết lý lẩm cẩm. Không biết chừng nào mày mới khá được như chúng tao.”
Tôi phóng lên chiếc xe díp của Nha Kỹ Thuật. Ông đại úy lái xe, tôi leo ra phía sau ngồi nhưng ông ta nhất định không chịu, bắt tôi ngồi ghế trước với ông. Từ chối không được, tôi đành phải ngồi ở ghế trước. Ông đại úy và ông trung úy kia ngồi sau. Ông đại úy ngồi sau khom tới trước, đưa cho tôi coi tấm bản đồ với những khoanh màu xanh màu đỏ đủ thứ và bắt đầu briefing. Đã bay vùng này mấy năm nên tôi chẳng lạ gì, nhìn qua là tôi nhớ liền. Sau vài phút đồng hồ, tôi đưa một ngón tay lên trời ra dấu nhận và hiểu.
Xe phóng thẳng lên phi trường Quảng Đức là một quả đồi nhỏ. Tôi lên tàu quay máy, chở ông đại úy bay tới vùng làm việc. Chừng 2 tiếng đồng hồ sau tôi đem tàu về đáp. Cả tôi và vị sĩ quan Nha Kỹ Thuật hả hê sung sướng vì phi vụ coi như thành công mỹ mãn. Ông ta đã kiếm được hết mấy đứa con đi lạc và gom họ hướng về một LZ an toàn. Ngày mai sẽ có một hợp đoàn trực thăng lên bốc họ về.
Di chuyển tàu về tới bến đậu, tôi loáng thoáng trông thấy mấy cái áo bay nhấp nhô ở đàng xa. Một dấu hiệu không tốt. “ĐM lại có chuyện rồi”, tôi lẩm bẩm. Biết thế nhưng giờ phút này không phải là giờ phút để hối hận. Muốn ra sao thì ra, tôi cóc cần.
Tắt máy xong, tôi tháo mũ bay, chụp cây AK và leo xuống tàu, bình thản, tự tín. Chiếc xe díp của Nha Kỹ Thuật ào tới như một cơn lốc. Vị đại úy Nha Kỹ Thuật nọ bước xuống, thân mật đửa tay cầm lấy nón bay của tôi:
-Để tôi đưa em về, mình ghé qua tiệm cơm kiếm chút gì bỏ bụng. Cám ơn em rất nhiều. Tối nay anh em chúng tôi ngủ yên giấc được rồi.
Khuôn mặt ông ta rạng rỡ dưới ánh nắng vàng của chiều cao nguyên Quảng Đức. Tôi đứng yên, hất đầu về phía có nhóm người đang mặc áo bay:
-Cám ơn đại úy nhưng chắc tôi phải cất cánh phi vụ kế tiếp, hình như anh em đang chờ.
Chiến trường đang ở hồi khốc liệt, chẳng ai có thì giờ cà kê lẩm cẩm, chúng tôi vội vã chia tay nhau. Mỗi người trong bọn họ siết chặt tay tôi, nói những lời cám ơn chân tình. Đáp xuống từ một độ cao cho nên hai lỗ tai tôi còn hơi bị ù, nghe được tiếng còn tiếng mất. Tôi không nghe được hết nhưng tôi nhìn thấy hết trong ánh mắt của họ vẻ trỉu mến, biết ơn và cảm phục. Trước khi leo lên xe díp, vị đại úy nọ bảo tôi:
-Tôi hy vọng không có gì rắc rối cho em. Tôi có nói chuyện với ông biệt đội trưởng của em, ổng bảo đối với ổng không có gì trở ngại. Nhưng nếu có gì, cứ gọi cho tôi, tôi sẽ nhờ chiến đoàn can thiệp. Thôi cám ơn em lần nữa nhé. Ráng giữ thân mình, anh em báo cáo Việt Cộng có đem hoả tiễn tầm nhiệt SA-7 về đây từ hồi đầu chiến dịch đó.
Tôi vẫy tay chào. Chiếc xe lăn bánh đi, nhưng được vào vòng bỗng ngừng lại và de lui đến trước mặt tôi. Ông đại úy hớn hở:
-Vội quá nên quên, tôi có mấy cây AK còn mới tinh, ngày mai tôi sẽ ghé qua biệt đội tặng em một cây làm kỹ niệm.
Tôi mỉm cười cám ơn ông đại úy. Thật ra thì lúc ấy tôi đã chán AK rồi, nặng bỏ mẹ, đang tính bán cây AK đang cầm để mua chai rượu. Tôi nghĩ giá ngài đại úy tặng tôi một chai rượu thì tốt hơn nhưng không dám nói ra. Chiếc xe díp lại lăn bánh. Lần này chiếc xe mất hút giữa đám bụi mù.
Tôi tà tà lê từng bước một đến chỗ bãi đổ xăng của biệt đội. Đại úy Nhơn đã “ghia ghiếc” (một danh từ chỉ phi công đã trang bị phi hành đầy đủ) xong, đang chờ đợi tôi.
Biết thân phận mình, tôi liền biểu diễn một nụ cười cầu tài để “do thám tình hình.” Đại úy Nhơn cười theo, rất thông cảm, rất chân thật. Như thế là quá tốt. Xếp “địa phương” mà thông cảm được như thế thì tôi đỡ được một gánh nặng. Đại úy Nhơn cũng chẳng hỏi tôi đi bay đâu mới về. Đúng hơn, cả hai chẳng nói gì nhiều với nhau. Ông đại úy chỉ bảo cất cánh lẹ lên để còn bàn giao với chiếc L-19 đang làm việc trên vùng.
Suốt phi vụ, ngài đại úy chẳng nói gì về chuyện cất cánh vừa rồi. Tôi cũng lờ luôn. Trước khi về đáp, ngài đại úy chỉ để cập vấn đề của tôi hơi vắn tắt:
-Chuyện đi bay của chú anh coi như không biết. Anh đồng ý chuyện chú làm. Chỉ sợ kẹt là kẹt phi đoàn thôi. Chú biết tính ông Tám mà, ổng biết được thì thế nào cũng có chuyện.
Và phi đoàn trưởng của tôi đã biết được chuyện này ngay cả trước khi tôi về đáp với đại úy Nhơn. Biết bằng cách nào tôi không biết và cũng chẳng cần tìm hiểu. Xã hội nào, thời đại nào, tập thể nào cũng luôn luôn có những con ký sinh trùng thối tha sống bám vào máu mủ của đồng loại bằng cách báo cáo vặt để kiếm tí điểm, tí ân huệ dư thừa. Cách hay nhất để sống là đừng thèm để ý hay biết đến bọn này. Biết chỉ làm cho mình bực mình.
Ngày hôm đó, tôi bay tổng cộng hơn 10 tiếng đồng hồ nên về đến biệt đội là phóng lên giường ngủ như chết, quên cả ăn uống.
Sáng hôm sau, lệnh từ Nha Trang gọi về: “Không cho thiếu úy Nhị đi đâu hết. Bảo hắn chuẩn bị hành lý có tàu lên chở về phi đoàn.” Đại úy Nhơn đích thân nhận chỉ thị này sau khi bị xài xể thậm tệ trong điện thoại. Lúc ấy trời còn tối mịt, tôi đang nằm trên giường thưởng thức điếu thuốc Capstan đầu tiên trong ngày. Tôi chỉ nghe ngài đại úy đáp những câu vắn tắt như: “Tôi không biết trung tá,” và “Làm sao tôi biết được trung tá?”
Chừng đó thôi cũng giúp tôi hiểu được cái số phận của mình. Gác điện thoại cái cụp, đại úy Nhơn nổi máu giang hồ, đứng giữa phòng chửi đổng cho tất cả biệt đội nghe:
-ĐM thằng C… hèn hạ khốn nạn nào báo cáo thì phải báo cáo cho đúng. Chuyện thằng Nhị nó làm thì tao biết C… gì, sao lại lôi cả tao vào? ĐM tao mà biết được thằng C… chó má đó thì tao vặn cổ.
Đã biết tính tình của đại úy Nhơn, chẳng có thằng C… nào dám mở miệng. Tiếng quát tháo của ông đại úy phi công lúc trời chưa sáng như vang dội cả núi rừng Quảng Đức. Tôi hút xong điếu thuốc, nằm im nhìn lên khoảng tối âm u trên trần nhà. Âm u như đất nước tôi, dân tộc tôi. Một lần nữa, tôi lại làm phiền đại úy Nhơn. Ông đại úy này vào tôi có nhiều kỷ niệmlạ lùng tôi sẽ đề cập tới trong một lúc khác.
Chửi bới một lúc xong, ngài đại úy đến bên giường tôi, kêu ra ngoài nói chuyện.
Mặt trời vùng cao nguyên hôm ấy dậy khá trễ, gần sáu giờ mà vẫn chưa chịu ló mặt ra. Tôi và đại úy Nhơn đứng hút thuốc ngoài biệt đội, trong bóng tối gần tàn của rạng đông, trên một ngọn đồi, nhìn xéo xéo xuống thung lủng mờ mờ phía trước. Gió cao nguyên thổi lồng lộng, hơi lành lạnh làm tăng thêm giá trị của hơi thuốc lá buổi sáng sớm. Giòng sông Đắp La dưới chân đồi, tuy không nhìn thấy nhưng tiếng nước chảy xiết bao trùm cả không gian. Trong một thoáng, tôi cảm thấy yêu cái cuộc đời “tang bồng hồ thỉ” của người phi công. Nay đây mai đó trên khắp nẻo quê hương, tôi thấy mình càng ngày càng gắn bó hơn với cái nơi chốn mà người ta gọi là “Tổ quốc.”
Khuôn mặt đại úy Nhơn có dấu buồn phiền mệt mõi khi đầu điếu thuốc được rít lên:
-Còn phải nói, tù là cái chắc rồi thằng em. Nhưng tù cái không đáng tù mới là đáng nói.
Tôi chẳng thấy buồn phiền gì cả, lính mà:
-Em quen rồi anh Nhơn. Ông đại úy Tới coi tướng em nói số mày không đeo nổi cái long trung úy. Thiếu úy là “Danh phận tột đỉnh” rồi.
Đại úy Nhơn bỗng bật cười:
-Mày chưa bị xuống Chuẩn úy là may. Nhiều khi tao tự hỏi tại sao quân đội lại để cho một thằng ba gai như mày đeo lon thiếu úy, những thằng ngổ nghịch như tao đeo lon đại úy.
Cả hai chúng tôi cùng cười. Tiếng cười như che lấp cả núi rừng chung quanh. Khi chúng tôi quay vào, vừng thái dương vừa từ từ ló dạng. Cả không gian, cả bầu trời bừng lên một sức sống mãnh liệt. Rạng đông ở quê hương mình đẹp đẽ và hùng dũng làm sao.
Sáng hôm đó, tôi về lại Nha Trang. Trước khi đi, tôi cũng không gọi điện thoại cho mấy ông Lôi Hổ để từ giã. Tôi biết họ rất tốt nhưng sẽ chẳng giúp gì được cho tôi. Mỗi quân chủng đều có một đường lối làm việc riêng. Hơn nữa, hôm qua trước khi cất cánh tôi đã suy nghĩ kỹ và sẵn sàng chấp nhận tất cả những gì sẽ xảy đến cho mình…
Khi leo lên tàu giã từ Quảng Đức, tôi vẫy tay chào đại úy Nhơn và chẳng hề cảm thấy hối hận chút nào mà trái lại, còn cảm thấy hãnh diện nữa. Tôi đã sống như một người có trách nhiệm như thân phụ tôi đã dạy.
Vào trình diện ông Tám, tôi tỉnh bơ đưa tay lên chào mà không hề thấy sợ sệt hay mặc cảm gì cả. Ông mời tôi ngồi, nói chuyện với tôi bằng một giọng nhỏ nhẹ làm tôi hơi ngạc nhiên. Ông hỏi tôi chuyện gì xảy ra. Tôi kể lại mọi chuyện rồi kết luận:
-Thưa thầy, (tục lệ của phi đoàn quan sát gọi người dạy bay mình là thày), chính tôi đề nghị bay giúp họ. Họ không có ép hay năn nỉ gì cả. Tôi thấy cần bay phi vụ đó nên tôi bay. Đơn giản như thế thôi. Bây giờ thì tôi chấp nhận mọi hình phạt của thầy.
Tôi nhìn thằng vào mặt ông Tám mà nói như thế. Lần đầu tiên, tôi thấy ông có vẻ hơi bối rối. Nhưng ông nắm được thế thượng phong ngay:
-Chuyện anh làm có thể… đúng. Nhưng anh nghĩ coi, quân đội sẽ như thế nào nếu ai muốn làm gì thì làm. Phi công muốn cất cánh thì cất cánh, lính thiết giáp muốn lái xe tăng đi đâu thì lái vân vân. Nếu ai cũng như thế thì làm sao có thể điều hành và chỉ huy một tập thể to lớn như quân đội được…
Lại bài mo-ran cũ rích mà lúc ấy tôi chẳng còn muốn nghe nữa. Dĩ nhiên là ông ta nói đúng, nhưng bây giờ tôi không muốn ngồi đây để nghe giảng hay cải lý với ông ta. Mẹ, trước sau gì cũng đi tù, tôi muốn đi tù càng sớm càng tốt. Tôi cảm thấy mệt mõi. Sau hàng trăm phi vụ hành quân ở Quảng Đức gần tháng qua, tôi muốn nghỉ ngơi, muốn ngủ một giấc thật dài dù là ở Cải hối Thất hay ở đâu. Ít nhất, ở trong tù Nha Trang, tôi không sợ bị ăn đạn pháo kích của giặc. Tự nhiên, tôi đâm liều:
-Trước sau gì tôi cũng đi tù, thầy cho tôi đi sớm chừng nào tốt chừng đó. Tôi mệt mõi quá rồi, không có thì giờ ngồi đây để nghe giảng…
Trung tá Tám như khựng lại sau câu nói liều lỉnh của tôi. Phi đoàn tôi chưa có ai nói chuyện với xếp lớn kiểu này. Nhưng con người có sức chịu đựng của nó.
Suy nghĩ một lúc, ông nói:
-Được, tôi sẽ cho anh đi tù…
Câu tiếp theo sau làm cho tôi giật nẩy mình:
-Tôi đã nói anh là một người có tâm hồn và tài năng. Tôi đã không lầm.
Tôi chưa biết nói gì thì ông tiếp:
-Nói thật với anh rằng hôm qua nếu tôi là anh, thì tôi cũng làm như anh mà thôi. Anh xứng đáng là một phi công tài giỏi của Không Quân. Nhưng, với cương vị là phi đoàn trưởng của anh, tôi phải phạt anh. Phạt nhưng rất phục.
“Phục cái kiểu … mẹ gì lại bắt tôi đi nhốt,” tôi nói với lòng mình như thế và đứng lên đi ra, chẳng muốn nói gì thêm nữa.
Ra khỏi phi đoàn, tôi leo lên chiếc xe díp của Quân Cảnh đã đợi sẵn bên ngoài. Ngồi trên xe trực chỉ Cải Hối Thất sư đoàn II Không Quân, tôi lẩm bẩm: “Mẹ, lại những chiếc xe díp…”
Sáng hôm sau, tôi được thả ra kèm một sự vụ lệnh đi phép 5 ngày…
Đó là lần thứ tư và cũng là lần ủ tờ cuối cùng của tôi. Nhưng như đã nói, lần này, khác hơn những lần trước, tôi lừng lửng bước vào Cái Hối Thất, đầu ngẩng lên cao, lòng cảm thấy sung sướng, không hề hối hận, không chút gì buồn phiền…
Đó là một lần rất ít trong cuộc đời binh nghiệp khiêm nhường ngắn ngủi của tôi, tôi cảm thấy đã làm một việc gì thật sự cho quê hương đất nước. Nếu phải bắt đầu làm lại từ đầu, tôi cũng sẽ không ngần ngại làm y như cũ.
Ngày hôm sau, tôi cũng quên không gọi lên biệt đội xem có ai tặng tôi cây AK không. Và tôi cũng chẳng bao giờ có dịp gặp lại vị đại úy Nha Kỹ Thuật tận tâm nọ…
Mười mấy năm sau trên đất khách, tôi hy vọng người đại úy ngày nọ của Nha Kỹ Thuật, nếu trời còn thương để cho đại úy không tự sát ngày 30 tháng 4, hay đã không bị kẻ thù giết chết trong các trại tù, và vượt biên được sang thế giới tự do này, nếu đọc được bài này, không hiểu đại úy còn có nhớ đến một buổi trưa ngút ngàn khỏi lửa ngày nào tại quận lỵ Quảng Đức quê mình? Tôi chẳng dám đòi cây AK đại úy đã hứa đâu, chỉ muốn tỏ một chút lòng ngưỡng mộ đối với đại úy, với anh em Nha Kỹ Thuật. Nếu đại úy đọc được những hàng chữ này, thì dù có cách trở xa xôi, dù tâm hồn đã héo hon tàn tạ sau mười mấy năm đau thương tủi nhục, xin hãy cùng tôi cất lên tiếng cười cho một chút quá khứ đáng hãnh diện. Chúng ta là những người trài sinh nhằm thời loạn, đành phải mặc áo nhà binh để bảo vệ non sông tổ quốc. Tôi biết đại úy cũng như tôi, chúng ta nào có thích gì cái trò chơi lửa đạn, mê gì cái bông mai vàng trên cổ áo với số lương tháng không bằng một ngày làm việc của anh tài xế taxi. Ngày xưa, trong cơn binh lửa, chúng ta là những kẻ bị thiệt thòi nhiều nhất. Ngày hôm nay, tàn cuộc binh đao, chúng ta lại là những kẻ bị trả thù tàn nhẫn nhất, bị hành hạ và lăng nhục nặng nề nhất. Hàng trăm thứ tội đều được đổ lên đầu chúng ta, gọi chúng ta bằng những danh bỉ ổi hèn hạ nhất như “nợ máu với nhân dân.” Nợ gì khi chúng ta đã bỏ hết tuổi thanh xuân quý giá đi nằm gai nếm mật, băng rừng lội suối, ngủ bờ ngủ bụi ngày này qua tháng nọ để gìn giữ cho xóm làng được yên vui, cho trẻ thơ được rộn rả tiếng cười, cho buổi họp chợ ban mai được yên lành trong nắng sớm, cho mái chùa cong cong còn được gióng lên những hồi chuông tín mộ, cho ngôi giáo đường thành phố còn nhịp nhàng vang lên những bản thánh ca nghe dịu dàng thanh thoát như những tiếng hát của thiên thần?
Nợ gì đây? Đồng bào miền Nam mình chắc cũng đã thừa biết ai nợ ai rồi…
Nếu còn có thể khóc được sau tiếng cười vừa rồi, thưa đại úy, xin hãy khóc lên không phải cho chúng ta nhưng cho hơn một triệu anh em đồng đội của chúng ta đã anh dũng ngã gục dưới cờ, chết thay cho cả dân tộc. Chính những sự hy sinh cao cả này của đồng đội mà chúng ta không thể để mất niềm tin. Chúng ta không được để những cái chết cao cả đó trở thành vô nghĩa. Chúng ta sẽ không bao giờ sao lãng cái sứ mạng mà tổ quốc và dân tộc Việt Nam đã long trọng giao phó: Ngày xưa là giữ gìn và bảo vệ non sông tổ quốc và bây giờ là quang phục lại quê hương. Theo Kinh Dịch, trong đại họa là cái mầm của đại phúc, trong tận cùng thống khổ là bắt đầu của thời đại an vui sung sướng. Chúng ta phải vững niềm tin. Chúng ta đều đã thật sự trưởng thành trong nước mắt, trong tủi nhục, trong đau thương thống khổ cùng với quê hương và dân tộc mình. Càng bị sĩ nhục, càng bị hành hạ, càng bị khinh bỉ, chúng ta càng trở thành những chiến sĩ, những cán bộ tài giỏi cần thiết cho công việc quang phục quê hương sau này…
Kính thưa quí vị,
Tôi vừa kể lại cuộc đời binh nghiệp khiêm nhường của mình, rất chân thành, không dấu diếm những hèn mọn, không khoe khoang quá đáng những cái hay. Tôi có đủ can đảm của một người lính để chấp nhận mình là kẻ thua trận, xứng đáng bị lăng nhục, bị chê trách, bị chửi bới. Tôi không có gì nói để biện mình cho tôi cả. Bây giờ, mỗi lần nhìn thấy chim bay trên trời, lòng tôi cảm thấy đau xót và tiếc nuối vô cùng vô tận. Không phải tôi tiếc nuối những giây phút lồng lộng giữa trời xanh bát ngát vì bên Mỹ này, chỉ cần bỏ ra 25 đô la một giờ là tôi sẽ mướn được một chiếc phi cơ còn đẹp hơn chiếc L-19 của tôi ngày xưa nhiều, tha hồ và vung vít, tha hồ mà nhào lộn. Cũng không phải tôi tiếc nuối vì đã mất đi cái mác “Thiếu úy phi công” trong bộ đồ bay màu xanh da trời với cái khăn quàng màu trắng nơi cổ và cây Colt lủng lẳng bên hông. Tôi đau xót và tiếc nuối thật tình, lòng tôi héo hon phiền muộn vì biết mình đã phần nào chịu trách nhiệm trong việc làm mất đi cái vòm trời vô giá của tổ quốc mến yêu. Cho cái thuở xa xưa, dù đã được giáo dục đầy đủ, được quân đội cưng chiều ưu đãi, tôi đã ít khi nào biết hết lòng tận trung báo quốc. Cho cái tuổi trẻ yêu dấu đã âm thầm vĩnh biệt tôi ra đi mãi mãi không bao giờ trở lại. Và, thật sâu trong đáy trái tim rướm máu của một người phi công lưu lạc, tôi đau đớn tiếc thương cho những chiến sĩ của một quân đội kiêu hùng đã nằm xuống, chấp nhận chết thay cho cả dân tộc, trong đó có tôi.
Mỗi năm, vào độ Xuân về, khi cầm nén hương đứng trước bàn thờ tổ quốc, nhìn lá cờ vàng 3 sọc đỏ uy nghiêm giữa hương khói ngút ngàn, hai hàng lệ của tôi cứ tuôn tràn ra mãi không sao cầm được. Tôi thấy hình bóng của một triệu người anh em đồng đội tôi, trong đó có em ruột tôi, có vợ chồng chú Bốn tôi chập chờn ẩn hiện sau lá cờ đó. Và năm nào cũng thế, tôi đều thề với trời đất rằng sẽ dùng hết quãng đời còn lại của mình để phụng sự tổ quốc. Tôi biết bây giờ mình đã già, thêm nợ thê nhi chồng chất, ắt khó mà cầm súng được. Nhưng tôi còn ngòi bút, còn lá phiếu để đi bầu, còn nhiều… tài vặt, và quan trọng hơn cả, tôi còn một ý chí sắt đá trong lòng mình.
Người ta bảo là chúng ta đã thua giặc không phải trên chiến trường ở Việt Nam mà tại Hoa Thịnh Đốn, vậy thì, với một triệu người Việt Nam di tản ở đây, tại sao chúng ta sẽ không thắng được chúng cũng ngay tại Hoa Thịnh Đốn này?
Để kết luận, tôi xin viết lại một đoạn trong bài diễn văn của Thủ tướng Winston Churchill đọc trước quốc hội Anh ngày 4 tháng 6 năm 1940, sau cuộc rút lui thảm bại và ô chục của quân đội Anh tại bờ biền Dunkirk. Trong những ngày lịch sử tăm tối đó, thật tăm tối và tràn đầy tủi nhục như chúng ta bây giờ, con sư tử lừng danh của Anh Quốc đã rống lên thảm thiết với hàng nước mắt chảy dài trên má như sau:
“We shall go on to the end. We shall fight on the seas and oceans… We shall defend our country, whatever the cost may be. We shall fight on the beaches, we shall fight on the landing ground, whe shall fight in the fields and in the streets, we shall fight in the hills; we shall not surrender. We shall never surrender…”
Hôm nay, trong những ngày tăm tối u buồn của quê hương Việt Nam, hỡi những người Việt Nam lưu lạc, xin hãy cùng tôi nói với lòng mình như thế và xin hãy giữ vững niềm tin…
Nỗi danh nhất không những trong Tiểu Đội thám báo mà cả trong Tiểu Đoàn 3/48 là Bé em M79, Bằng Lựu đạn và Tùng dao găm. Cây M79 trong tay Bé em khi đã nhã đạn thì không bao giờ trật mục tiêu dù xa hay gần. Đan nỗ thì làm bung mục tiêu, đạn cay thì đuổi địch chạy ra khỏi hầm, cho M16 đốn ngã. Bằng lựu đạn, không những chỉ vì mang gấp đôi, gấp ba số lựu đạn cơ hữu dành cho một người lính mà vì lúc ném lựu đạn, sau khi rút chốt, còn thả bung cả mỏ vịt vài giây rồi mới ném ra khỏi bàn tay, quả lựu đạn khi rơi xuống mục tiêu thì nỗ ngay, địch không thể có thì giờ chụp quả lựu đạn ném lại mình. Ít người dám làm như vậy bởi vì chỉ cần sơ xuất ném chậm một giây thì quả lựu đạn sẽ nỗ trong tay mình. Tùng dao găm còn ghê hơn. Cây dao găm là một thứ vũ khí thầm lặng, rất hữu ích cho người lính thám báo khi bò vào căn cứ địch. Địch ở xa hay gần, khi đã là mục tiêu củaTùng thì lưỡi dao găm không bao giờ khoan nhượng. Cả ba đều là binh nhì quân dịch, cánh tay không xâm chữ “sát địch” nhưng đánh giặc rất chì. Trong trận Long Tân, Núi đất Bà Rịa năm 1973, Tiểu Đội thám báo do Thượng sĩ Bé anh chỉ huy vô tình lọt vào ổ phục kích của địch. Địch không nỗ súng, ta không kịp kéo cò, đành chơi cận chiến, nhưng số ít thua số đông. Bé em, Bằng và Tùng đi đầu bị bắt sống. Thượng sĩ Bé thoát chạy về báo cáo. Tiểu Đoàn tức tốc mở ngay cuộc hành quân, không cần pháo binh dọn đường, lặng lẻ áp sát căn cứ địch mới đồng loạt nổ súng xung phong, giải cứu ba người. Cuộc hành quân chỉ được báo cáo lên Trung Đoàn, sau khi tiếng súng tấn công bắt đầu nỗ, quân lính đã tràn vào căn cứ địa VC. Địch không kịp trở tay, bỏ chạy tán loạn. Lúc này mới gọi pháo binh rượt theo. Đại Tá Trần Bá Thành, Trung Đoàn Trưởng ngạc nhiên, phán một câu” Các chú làm gì lẹ vậy!” Ba binh nhì Bé em, Bằng và Tùng cùng được thăng cấp hạ sĩ do chính Tư Lệnh Sư Đoàn Lê Minh Đảo và Tư Lệnh phó Quân Đoàn 3 Nguyễn Văn Hiếu đến gắn tại mặt trận. Lý do vì cả ba đã cùng loạt cận chiến, cướp vũ khí, chống lại địch khi thấy quân ta ào ạt xung phong tràn vào căn cứ địa Tiểu Đoàn 274 thuộc Trung đoàn 33 VC. Từ ngày đó ba người như hình với bóng, ở chiến trường cũng như khi về hậu cứ. Chiều ngày 8 tháng tư, Tiểu Đoàn hành quân từ ngã ba Hàm Tân Gia Rai lên hướng Bắc, Đông Bắc thì đụng địch mà theo suy đoán đây là quân tiền phương CSBV. Hai cánh quân đều đụng mạnh. Trung Úy Nguyễn Ngà, Đại Đội trưởng hy sinh. Toán thám báo của Thượng sĩ Bé lần theo dõi ba người đôi nón cối mang túi trên vai xuất hiện trên đường đi Gia Rai. Đêm đó địch yên lặng. Nửa khuya máy PCR 25 Tiểu đoàn sôi ò è như có tín hiệu của Tiểu Đội thám báo nhưng không có tiếng nói. Sáng sớm ngày 9 tháng tư, Tiểu Đoàn được lệnh rút về tăng cường chiến tuyến trong khi hàng ngàn đạn pháo của địch rơi xuống Xuân Lộc, mở đầu cuộc đại tấn công của quân đội CS.
Chiều ngày 9, Tiểu đội thám báo trở về nhưng thiếu mất toán ba hạ sĩ Bé em, Bằng và Tùng. Thượng sĩ Bé báo cáo đêm qua Tiểu đội phân tán thành ba toán ẩn mình vì khắp nơi trong rừng, địch di chuyển gần như suốt đêm, có cả tiếng động cơ xe tăng. Không dám gọi mà chỉ dùng hơi thở mà thôi, nhưng sau đó máy không phát sóng được. Đến sáng thì bị địch phát hiện. Các toán nỗ súng, zdọt lẹ, tìm đến điểm hẹn. Thượng sĩ Bé đợi đến chiều vẫn không thấy Bé em, Bằng và Tùng. Bé anh tin tưởng với khả năng của người lính thám báo, ba người hạ sĩ sẽ trở về trong nay mai. Còn tôi, tuy thương ba người lính đặc biệt của đơn vị nhưng thật tình xem chuyện thất lạc của họ là chuyện bình thường của người tham dự cuộc chiến. Những năm tháng ở tù cải tạo, tôi thật sự không còn nghĩ đến việc đó nữa. Năm 1984, sau khi ra tù, tình cảm thôi thúc khiến tôi về thăm Xuân Lộc. Về thăm Xuân Lôc như về thăm quê nhà, một quê nhà không có nhà cũ, vườn xưa, không có người thân thích chờ đợi, Nhưng thật không ngờ, không bao giờ nghĩ đến. Người đàn ông nhỏ con, một mắt đứng bên chiếc xe đạp thồ chờ khách ở bến xe đò lại là Bé em. – Xin lỗi, có phải là ông thầy, à à là anh không? Bé em hỏi. Tôi chìa tay ra. Bé em đưa cả hai tay chụp lấy. Chiếc xe đạp thồ cũ kỷ rơi ngã xuống. Cả hai chúng tôi nhìn chiếc xe ngã, cùng cười. – “Bằng và Tùng”? Tôi hỏi. Bé em không trả lời ngay mà hỏi lại tôi về Thượng sĩ chỉ huy và anh em Tiểu đội thám báo. Khi nghe tôi nói “Đầy đủ, chỉ có thiếu ba cậu”, gương mặt Bé em như bừng sáng với những giọt nước mắt đang ứa ra: “Trời ơi! Em biết mà, em ở đây bao năm chờ anh Bé, chờ bạn bè, bây giờ thì quá sung sướng ông thầy ơi”. Bé đưa mắt nhìn về khu đồn điền cao su, giọng buồn: “Bằng và Tùng không còn nữa từ những ngày đó anh à”. Một người đàn bà vừa kéo hai xách hàng xuống xe, quay mặt nhìn Bé em, gọi: “anh chột, cho tôi về Bảo Chánh”. Bé em gượng mỉm cười nhìn người đàn bà, nói: “Bà chị thông cảm, xin gọi người khác, hôm nay tui gặp bạn cũ, mừng quá, phải đi lai rai với nhau một lúc…” Thấy tôi nhìn vào con mắt chột của mình với vẻ ái ngại, Bé em cười: “Ở bến xe này, em có tên là anh chột xe thồ. Người gọi, người nghe đều thích”. Tôi ngồi lên xe đạp để Bé em chở về nhà. – Về nhà em lai rai rồi em chở ông thầy đi khắp Xuân Lộc thăm cảnh củ người xưa. À, mà ông thầy tìm thăm ai ở đây”? -Tự nhiên nhớ Xuân Lộc mà đi. Bây giờ bất ngờ gặp lại một người em. Tôi nói và thân mật vỗ vào lưng Bé em. Chiếc xe đạp nghiêng nghiêng như cùng xúc động với người đang cầm tay lái. Giọng Bé em run run: “Một thằng em chứ anh ba!” *. Bé em nói đúng. Một thằng em, thằng em trong đơn vị, gọi lên nghe thật tình cảm như gọi thằng em trong gia đình mình. Ghé qua nhà Bé em không đầy mươi lăm phút rồi lại chở nhau đi. Vùng đất này, xóm làng này, trước kia mình là người quen nhưng bây giờ là người lạ, bị để ý thì phiền. Mới ra tù, tờ giấy ra trại mang theo trong người dể bị thu hồi lắm. Bé em hiểu điều đó nên không ép tôi ngồi lâu. Đèo nhau trên xe đạp, chầm chậm đi khắp nơi trong thị trấn chiến trường cũ, tâm sự, nói cười không ai để ý. Nhớ lại đêm rút quân, bây giờ vẫn còn buồn. Đêm đó, đi bên cạnh, Thượng sĩ Bé anh nhiều lần yêu cầu tôi cho Tiểu Đội thám báo ở lại Xuân Lộc chờ đợi ba người trở về. Lúc đó tâm trạng tôi không yên. Tôi không nghĩ nhiều đến cuộc đụng độ với VC trước mặt vì đánh nhau là chuyện bình thường. Hình ảnh những người vợ lính, con lính đứng trước cổng trại Long Giao, căn cứ Trung Đoàn 48 mới làm mình suy nghĩ, đau lòng. Họ lặng lẻ nhìn theo đoàn quân trong đó có chồng, có cha mà không một lời than, tiếng khóc. Chồng đi, cha đi, vợ con ở lại trong trại gia binh. Đêm nay họ thế nào? Ngày mai họ ra sao?
Dường như tôi đã nói với Bé anh với giọng bực bội “Nếu được thì tôi cũng dẫn cả Tiểu đoàn quay lui”. Từ đó Bé anh im lặng. Tiểu đoàn sau khi về Long Bình, cùng Trung Đoàn lên Trãng Bom làm tuyến chận ngay bên này đường xe ủi đất đào sâu cắt ngang Quốc Lộ1 để làm cản trở xe tăng T54 của quân CSBV tiến về Biên Hòa. Ngày nào Bé anh và anh em trong Tiểu Đội thám báo cũng đứng bên này tuyến trông chờ bóng ba người bạn xuất hiên bên kia để nhào qua cứu, nhưng mãi đến ngày 27 tháng tư, TĐ lại một lần nữa theo lệnh rút lui. Bóng ba người hạ sĩ vẫn không thấy. Từ đó, xem như Bé em, Bằng và Tùng đã hy sinh. Còn ba người, trong thời gian đó, sau khi thất lạc đơn vị bị VC phát hiện, rượt theo “bắt cho được bọn trinh sát nguỵ”, như tiếng la lối om sòm của VC khắp nơi trong rừng. Ba người đã không thể tìm đến điểm hẹn. Bằng bị thương ở bả vai trái ngay từ khi bị VC phát hiện, bắn xối xả một loạt AK, may mà chỉ trúng một viên. Lúc đó Tùng ẩn mình sau một thân cây lớn, phóng dao găm cứu bạn. Còn Bé em cầm cây M79 trong tay nhưng không bắn được vì cây rừng chằn chịt. Ba ngày đầu, ba người len lỏi trong rừng, tìm nơi kín đáo ẩn núp, ban đêm lần mò về hướng Xuân Lộc nhưng cũng không đi được xa. Đối với người lính thám báo, vùng rừng đồi Gia Rai, Bảo Chánh không xa lạ gì, nhưng lúc này gần như nơi nào cũng có bóng dáng quân CS, mọi ngã vào Xuân Lộc đều bị lấp kín bằng xe tăng, lính bộ được nguỵ trang rất khéo léo. Bằng càng ngày càng kiệt sức vì máu ra nhiều và những cơn sốt hành hạ. Khi lần mò về được vùng đồn điền cao su, thấy nhiều quân trang, quân dụng của quân đội CS còn vươn vải khắp nơi, ba người mừng rỡ, tưởng quân địch bị thiệt hại nặng, đã bỏ đi, ai ngờ họ vẫn còn đào hầm hố trú ẩn trong vùng bị đạn bom tàn phá, chuản bị cho cuộc tấn công khác. Một lần nữa, ba người lại bị rượt đuổi. Bằng không đủ sức chạy trốn, dừng lại, tay phải cầm trái lựu đạn, đưa miệng cắn rút chốt, xoay người bung mõ vịt ném vào toán VC vừa rượt tới gần, tiếng lựu đạn nỗ ầm cùng với tràng AK. Xác bốn VC tung lên. Bằng cũng gục xuống. Còn lại Bé em và Tùng, nhanh nhẹn như sóc, băng mình từ gốc cao su này đến gốc khác tránh đạn địch và bắn trả khá chính xác. Thấy được một gò mối, hai người nhào đến, nép mình sau gò mối chống trả nhưng bốn bề bị địch bao vây, Khi Tùng trúng đạn cũng là lúc súng không còn viên đạn nào. Bé em còn trái lựu đạn cuối cùng, chưa kịp rút chốt thì bỗng nhiên một loạt đạn pháo rơi xuống ầm ầm, hất tung rừng cây cao su gãy đổ cùng với xác người. Bé em cũng bị hất tung nhưng may mắn sống sót, chạy thoát ra khỏi khu vực. Thấy một chiếc xe chở công nhân đồn điền bị trúng đạn pháo, có bốn người chết chắc đã vài ngày, Bé em thay đổi áo của mình bằng chiếc áo công nhân trên xác người tài xế; sau đó nhập vào đoàn người chạy loạn, phần nhiều là đàn bà, trẻ thơ đói, khát đang nằm la liệt bên cánh rừng cao su. Nhiều người mẹ lần mò đến các gốc cao su tìm nước trong những chiếc chén hứng mũ cao su cho con mình, nhưng chẳng ai được may mắn bởi vì những ngày qua không có mưa, còn mũ cao su trong chén thì đã đạc quánh. Bé em mệt mõi rã rời, nằm lăn, ngủ thiếp giữa đám người đang khóc lóc. Tiếng súng AK chát chúa đánh thức Bé em dậy. Khoảng mười mấy người đội nón cối đang chỉa súng hò hét, lùa đám đông vào một khu đất trống gần một xóm nhà bị đạn bom tàn phá. Một người chỉ huy lính CS tay cầm súng ngắn, tay chống nạnh, mặt hầm hầm la lối: “Bọn người này giúp bọn nguỵ gài mìn, gài bẩy giết hại cách mạng rồi bỏ chạy theo Nguỵ, phải bắn bỏ hết. Phải trả thù cho các đồng chí đã hy sinh. Hai người lính CS, mở cặp mắt trừng trừng nhìn đám đông, dò xét, tìm kiếm rồi kéo ra khoảng vài chục người có cả ông già, đàn bà dáng vẻ dân thành phố, tập trung trước hai cây súng đại liên. Bắn, bắn hết, giết hết! Tiếng hét ra lệnh bắn, tiếng đại liên thi nhau nỗ. Hàng loạt thân người đổ xuống, máu văng phủ đỏ màu xanh cỏ dại.
Bắn xong một loạt, như say máu, bọn CS không cần chọn lựa nữa mà chỉa súng đẩy đám đông ra từng nhóm. Toán thứ hai, thứ ba lần lượt bị đốn ngã. Bé em lọt vào toán thứ ba, đã khôn ngoan ngã xuống trước khi súng đại liên nhả đạn tới tấp. Những xác người ngã trên thân Bé, nhuộm máu. Không ai để ý vì tiếng khóc la của những người chờ phiên mình và tiếng rên rĩ của những người chưa chết hẳn. Rồi Bé không còn nghe tiếng súng nổ nữa. Bé cho rằng họ giết người đã chê chán, tạm ngừng để đem người chết đi chôn. Bé nghe có tiếng động cơ nỗ, bánh xe đang lăn về hướng mình. Bé suy tính không biết làm sao để thoát. Hay cứ để họ ném mình lên xe như một xác người rồi sẽ tính chứ chạy trốn lúc này chắc không thoát được. Bỗng có tiếng người la lối ra lệnh: “Không được bắn nữa. Tôi chịu trách nhiệm. Các đồng chí xem người nào còn sống thì tìm cách đưa người ta đi cứu. Nhiều người bị thương nặng cất tiếng kêu la. Những người dân chưa bị bắn theo lệnh lính CS đến kéo những kẻ còn sống, có cả Bé ra khỏi đống xác người. Bé không chết nhưng con mắt trái bị mù vì tay hay đầu người nào đó khi ngã xuống đã đánh mạnh vào hoặc bị cây đâm mà Bé trong cơn thập tử nhất sinh đã không còn cảm giác đau đớn. Cảnh tàn sát dã man người dân lành của lính CSBV làm cho Bé quá hãi hùng, kinh tởm. VIệc rút quân khỏi Xuân Lộc của QLVNCH làm cho Bé càng chán nản, đau buồn. Đầu óc Bé luôn bị ám ảnh bởi hình ảnh những xác người bị súng đạn VC đốn ngã, cảnh hoang tàn, trống vắng, đầy mùi tử khí của thị trấn Xuân Lộc và các vùng chung quanh. Thế mà Bé em vẫn không về quê Gò Dầu, Tây Ninh ngay mà vẫn ở lại Xuân Lộc. Lý do vì Bé phải kiếm tìm và chôn cất Bằng và Tùng như lời thệ nguyện cam kết với nhau từ ngày ba người bị VC bắt, được giải cứu, cùng được thăng cấp hạ sĩ: Người chết sau chôn người chết trước. Một thời gian, sau khi CS làm chủ Xuân Lộc, Sài Gòn, rất nhiều người đã tự đi tìm kiếm xác người thân chạy loạn, bị chết bỏ xác trong vùng đồn điền cao su dọc theo Quốc Lộ 1. Bé là một trong hàng trăm người đi tìm kiếm. Bé dể dàng tìm ra xác hai bạn vì đã biết nơi bạn nằm xuống. Việc nhận xác có phần khó khăn vì xác đã mục rữa. Hôm đó cũng có mấy người bộ đội đi tìm xác. Thấy Bé em tay cầm thẻ danh bài, có người hỏi” lính đi tìm bạn phải không? Bé em không chút sợ hãi, gật đầu. “Anh trước mang quân hàm gì? Bé trả lời: Hạ sĩ. Còn hai người này? Cũng là hạ sĩ. Cũng là hạ sĩ à, ghê nhỉ. Định chôn đâu? Bé chưa trả lời thì người lính CSBV vừa chỉ tay ra ngoài khu đất trống cạnh đồn điền cao su, nói tiếp:” Ngoài kia còn chổ trống, nhưng anh nhớ phải làm dấu kẻo mai kia chúng tôi hốt nhầm, không xứng đâu”. Bé buồn và tức. Đất đai của mình họ đến chiếm, bây giờ lên mặt làm chủ, chưa chi đã phách lối. Ai cần nằm bên bọn họ mà sợ nhầm lẫn, không xứng. Bé khóc khi gói ghém đem tạm chôn hai bạn ở gần Dầu Giây. Một thời gian sau, theo lệnh chính quyền địa phương đã dời xương cốt Bằng và Tùng đến chôn dưới chân núi Chứa Chan. Sau nhiều năm cây cỏ đã tràn lan che lấp, chính Bé đã một lần đến thăm nhưng không tìm ra được. Bé không buồn về việc này mà nghĩ rằng như vậy hai bạn được nằm yên, khỏi phiền luỵ đến ai. Rồi đây, biết đâu người ta lại tranh dành nơi yên nghĩ của những xác người bại trận. Buổi chiều, chở tôi trở lại bến xe đò, Bé nói: “Gặp được anh ba, em mừng quá, càng mừng hơn khi được biết anh Bé anh và anh em trong Tiểu đội Thám báo ngày đó đã về đầy đủ. Tội nghiệp anh Bé và các bạn hồi đó lo lắng cho ba đứa em nhiều”. Tôi ôm vai Bé em, nghe cảm xúc của chính mình và của bạn đang dâng lên. Bé nói, giọng chân thành: “Gần mười năm rồi, bây giờ mới có được một bàn tay xiết chặt, ấm áp. Ông thầy cố giữ gìn sức khoẻ, biết đâu một ngày nào anh em mình lại cùng đứng bên nhau. Em còn muốn mang cấp bậc hạ sĩ anh ba à”.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.