Ó đen

lytong.wordpress.com

Lý Tống

Post by Sơn râu 23 Apr 2025

Phần 11

Vượt Biên Giới Thái Lan — Mã Lai

Khu vực quân sự kiểm soát biên giới thật ra lại quá nghèo nàn về hình thức so với một Bangkok đồ sộ, hào nhoáng của Thái Lan. Chừng hai mươi gian nhà tranh thấp, lụp xụp nằm ngay hàng thẳng lối trong khung cảnh tịch mịch, yên lặng và tăm tối của núi rừng. Đứng ngoài nhìn vào, tôi có cảm giác như đứng nhìn Trại Cải tạo 53 của Cộng Sản tại Phú Khánh mà bao nhiêu kỷ niệm cay cực, kinh hoàng vẫn không bao giờ phai nhạt trong tiềm thức. Có khác chăng là cái hàng rào dựng lên bằng những cọc tre hoặc cây đan chéo nhau để ngăn cách tù nhân và xã hội bên ngoài đã được thay thế bằng những bụi gai rậm rạp, những giây nhợ chằng chịt của thiên nhiên mà khả năng ngăn chận thật hữu hiệu. Cái khác biệt chính yếu là những kẻ sống trong những ngôi nhà lụp xụp nầy là những con người có nhiệm vụ ngăn cản người khác tự ý làm những điều họ muốn, còn những con người trong nhũng gian nhà tù Cộng Sản lại tự ngăn cản mình làm những điều mình ước muốn, dù đó là ước muốn Tự do, Công lý.

Sau một đoạn đi men theo mép đường lộ chính mà thỉnh thoảng tôi phải ngồi thụp xuống, hoặc chớp nhoáng lách vào bờ bụi bên lề đường để tránh né những ánh đèn pin loang loáng từ xa, hay những bước chân xào xạc trên sỏi của Toán Tuần tiễu, tôi tiến gần miếng đất đã được phát quang sạch và cách ngôi nhà đầu tiên chừng ba mươi thước. Bụi bờ phía mặt tiền tuy gây vất vả, nhọc nhằn nhưng cuối cùng tôi cũng chui qua được, sau khi đã để lại vài vết trầy sướt trên tay và cổ, mặt. Tôi định đi vòng men theo mép vườn để qua khu vực trú quân nguy hiểm. Bóng tối đồng lõa với tội ác nhưng bóng tối đồng thời cũng che chở người hiền lương trong cơn hoạn nạn. Lúc đầu tôi cố bò khom người đi tới, nhưng nhiều cành cây thấp mới đâm chồi ra lá thỉnh thoảng cứ đập vào mắt vì mắt không nhận rõ đường, nên tôi đành đứng dậy, dò dẫm rón rén từng bước chậm rãi. Những lá khô, cành gãy kêu răng rắc gây những tiếng động lớn giữa đêm yên lắng ngột ngạt.

Bước chân đi thấp cao, hụt hẫng trên thế đất gồ ghề làm tôi nhiều lúc chúi nhủi, nên lượm khúc cây còn tốt làm gậy để dò đường và để làm vật nương tựa giữ thăng bằng. Cuối cùng tôi quyết định đi xuyên qua giữa hai dãy nhà sát bìa rừng, vì vẻ hoang vắng tăm tối và bất động như chìm đắm trong giấc ngủ vùi mê mệt. Có gian nhà như nơi chứa dụng cụ, có gian như phòng ăn tập thể. Có lúc đi nép sát hiên nhà để tránh lộ hình tích, có lúc tôi đi lại thong thả trên lối đi như chính mình là người cư ngụ trong khu vực đó, cần đi vệ sinh ban đêm hoặc đang đi kiểm soát. Tôi đã vượt được nửa đoạn đường hiểm hóc bỗng có tiếng chó sủa dồn inh ỏi. Con chó tinh khôn bám sát theo tôi để báo động, và tiếng chân chạy lịch bịch, đèn pin lóe sáng. Tôi mỉm cười tự nghĩ:

–  Yên chí! Ban ngày ban mặt ông còn chạy an toàn dưới lằn đạn truy đuổi, giờ nầy bóng tối, rừng cây, khoảng cách, các chú làm gì nổi ta.

Tôi phóng chạy tách vào rừng, lớp lá ẩm mục và cành cây gãy phủ dày trên mặt đất lâu ngày làm tôi có cảm giác như bước chân mình bị sa xuống hầm bẫy bên dưới. Có lúc bị vấp mạnh, cả thân mình bắn lên như một lực sĩ nhảy cao, rồi rớt lọt thỏm vào một bụi rậm trước mặt. Bọn gác đuổi theo một đoạn đường rồi bỏ cuộc.

–  Một con mễn, một con nai đi lạc! Toán tuần tiễu có thể nghĩ như vậy. Tôi té chui té nhủi, trèo, bò, trườn, làm đủ cách để leo lên những bờ đất cao, giây leo chằng chịt hoặc trơn trợt. Đường quốc lộ quẹo trái, tôi phải đi vòng cung 270 độ mới gặp lại đoạn kế tiếp. Sau nửa giờ mò mẫm theo đường, tôi lại gặp một Trạm gác khác, đèn đóm sáng trưng. Trạm gác nầy bề thế và quy củ, có tính cách chính quy hơn vẻ du kích của khu vực đồn canh Thái Lan. Những dãy nhà gạch nằm liền lạc nhau, được bố trí có tính cách quân sự, nghiêm chỉnh.

Không biết vì quá tự tin hay muốn tìm chút cảm giác mạnh mà thay vì sau khi rẽ phải theo một con đường lộ lớn mới xây cất xong cách đồn phòng thủ chừng một trăm thước, tôi cần phải đi ít nhất xa một cây số rồi mới quẹo hướng Nam để xuyên qua khu vực canh phòng, tôi lại quyết định leo qua hàng rào cao bằng tường và giây thép rồi đi xuyên qua những dãy nhà nằm gần bìa khu vực phòng thủ, tương đối yên tĩnh, mù mờ trong ánh sáng khiêm nhường của những bóng đèn điện tròn với ánh sáng yếu ớt.

Lính gác Cộng Sản thường lười biếng vì cuộc sống kham khổ, khắc nghiệt làm họ mệt mỏi. Lính các nước Tư Bản cũng lười biếng, nhưng trái lại, vì đời sống tương đối đầy đủ thỏa mãn chỉ gây cho họ ý tưởng thích hưởng thụ, và mệt mỏi vì sự hưởng thụ qáu độ. Nói chung nếu không vì kỷ luật sắt máu của Chuyên chính Vô sản, hay nhũng biện pháp mạnh của Thể chế Quân đội phe Tự do, có lẽ đặc tính lười tự nhiên của con người bị bắt đi lính sẽ có cơ hội phát triển mạnh mẽ. Nước sông công lính hay nước sông công tù có lẽ phát sinh từ ý niệm đó. Đã từng gần mười năm sống trong Quân đội, cũng như gần sáu năm nghiên cứu Binh lính Cộng Sản qua các Trại tù, tôi có cảm giác không ái ngại khi vượt qua những trở lực do sức người tạo ra. Chỉ có những hệ thống kiểm soát bằng máy móc điện tử mới tương đối có hiệu lực ngăn chận những công tác đột nhập.

Len lỏi qua một số gian nhà bên ngoài cùng, tồi tiến đến một nơi hình như là nhà bếp và chỗ tạm chứa đồ phế thải trước khi chuyển đi đổ rác. Tôi bỗng vô ý đạp lên những vỏ đồ hộp vứt bỏ ngổn ngang, tiếng kêu dòn lốp đốp của kim loại làm một tên lính nằm tầng gác trên lưu ý. Có lẽ y vừa thức giấc vì có tiếng đằng hắng. Tôi rón rén đi tiếp, cẩn thận tránh né nhưng vì tối trời, tôi lại đạp lên những cái hộp rỗng khác. Tiếng dép lẹp xẹp trên gác chạy xuống khẩn trương, tôi đành phóng chạy nhanh như cắt. Khu vực nằm giữa ruộng nước và sình lầy, tôi phải lội nhanh qua đám đất ruộng trống trải, đất bùn sền sệt cố níu kéo lấy chân kẻ đang cố chạy trối chết. Tôi bương bả lội bì bõm một hồi lâu và ra khỏi khu vực nguy hiểm, giặt kỹ đôi giày và ống quần bết bùn rồi vòng ra đường cái, tiếp tục đi qua các xóm nhà nằm rải rác, ngái ngủ. Đến gần sáng, tôi tìm một bụi rậm nghỉ lưng. 

Trốn Thoát Khỏi Mã Lai

Những con muỗi cỏ đói khát từ các bụi bờ rủ nhau kéo lại. Mặc kệ, mặc sức cho chúng mầy làm thịt ta. Ta phải ngủ dù đang nằm trên lửa, trên gai, dù trời long đất lở, bởi vì ta đã thoát khỏi vùng đất bất trắc, hiểm họa, định chôn chặt cuộc đời ngang dọc của ta. Nằm ngủ nướng nhàn hạ trong khi xe cộ và người đi đường đã rộn rịp ngoài lộ, tôi hoàn toàn hồi phục. Tôi kiểm soát áo quần và bước ra đường, ước ao được thấy một lá cờ để xác định cái hạnh phúc cồn cào náo nức trong lòng. Những chiếc Takxi (có thêm chữ k tại Mã Lai) chạy ngang bóp còi, tôi định đón xe, nhưng vì cẩn thận tôi chọn giải pháp vất vả. Tôi sẽ đi bộ và còn đi bộ mười sáu cây số để đến Thị trấn đầu tiên của Mã Lai: Kangar.

Hai bên đường có những trạm nhỏ vừa làm bus stop vừa làm nơi bán các món quà vặt. Những người đàn ông da nâu, để râu mép trông lạ mắt, dân trong vùng hiền lành, cởi mở. Một chiếc xe Cảnh sát màu đen chạy ngược chiều, những phụ nữ mặc trang phục Muslim, một số người gốc Ấn, một thứ ngôn ngữ nghe líu ríu như đọc thần chú. Tôi đến Kangar khoảng gần trưa sau suốt một buổi sáng tản bộ như kẻ nhàn du, nhưng mồ hôi đã đầm đìa cả áo. Không Takxi nào chịu đi xa từ Kangar đến Kuala Lumpur, tôi đành phải đợi chuyên xe buýt 8g30 tối. Tôi thay đổi nhiều quán nước để chờ giờ lên đường. Vừa mới khổ vì khát khô cổ họng giờ lại khổ vì phải uống nhỉều nước, đầy hơi tức bụng.

Tôi vào công viên, giữa thanh thiên bạch nhật, cởi quần jean vá lại cái đủng quần, bởi quá trình leo, trèo, té, trợt đã làm rách toẹt một khoảng lớn, và bôi một chút thuốc mỡ vào mông và háng đang phồng rát ê ẩm. Lại vào xi nê để giết thì giờ. Tôi chỉ đường cho một người Anh du lịch đang tìm ngân hàng, luôn tiện nhờ đổi dùm số tiền Bahts còn thừa.

Nhớ cái lần nhức tim buổi sáng, khi mới vào quán ăn đầu tiên, một thanh niên ngồi đối diện cứ thỉnh thoảng liếc nhìn tôi. Ăn xong, tính tiền, tôi vừa bước đi thì bị kêu lại. Ngạc nhiên, tưởng ăn xong phải dọn dẹp bàn như kiểu Mỹ, tôi lật đật quơ những giấy napkin gom lại, thì người nầy chỉ vào đĩa ra dấu. Té ra tôi bỏ quên số tiền lẻ thối lại lần trước. Ôi người bạn Mã Lai ơi! Sự lịch sự và thân hữu của bạn làm ta phải nhức tim mấy phút.

Mã Lai—Thái Lan, một vùng biên giới nhưng hai sắc dân, một vùng đất, hai đặc tính. Con người bên nầy hiền hòa cởi mở, con người bên kia soi mói, rình rập. Có phải vì gần với Cộng Sản hơn mà người Dân Thái dọc biên giới đã ảnh hưởng cái đặc chất đầy Cộng Sản tính như vậy. Đúng là gần mực thì đen! Tôi đi tìm bia uống để lấy hứng khởi, nhưng Kangar hay Kuala Lumpur hay Mã Lai nói chung, hạn chế bia và rượu theo qui luật của đạo Hồi. Tôi ngồi nhìn những thiếu nữ mặc quốc phục bằng voan màu xanh hoặc trắng có khăn choàng mặt, vừa kín đáo, vừa bí ẩn. Đạo Muslim có ảnh hưởng lớn trên mọi sinh hoạt của người dân Mã. Tôi lên xe buýt Air Cond với vài người khách lẻ tẻ, chẳng bù với xe buýt Sàigòn, những loại xe Liên Xô chật chội như cá hộp, khó khăn tìm một chỗ đứng và nhờ vậy mà đám móc túi mặc sức tung hoành (dù trong túi người dân chỉ còn bạc cắc) và những anh chàng có máu dê mặc tình dở trò sờ soạng. Sự đói khát cũng không ảnh hưởng đến bản tính dê cụ.

Sau cái đói khổ, tôi vừa gặp cái no khổ và hiện tại là sướng khổ. Tôi sướng khổ vì hệ thống máy lạnh quá mới, xe lại ít khách làm tôi rét run cầm cập, suốt đêm trăn trở. Tiếc những đêm hạnh phúc nằm lăn lóc giữa rừng sâu say sưa trong giấc ngủ tuyệt vời. Đường quốc lộ hẹp, nên dù chạy một mình giữa canh khuya vắng vẻ xe buýt chưa sử dụng được hết khả năng tốc độ. Xe chạy qua một vài Trạm gác một cách bình yên mặc dù có lần tôi thấy thót ruột vì xe ngừng lại quá lâu. 

Kuala Lumpur, Thủ Đô Mã Lai

 Tôi đến Kuala Lumpur lúc 5 giờ sáng. Một thanh niên ngồi cạnh bập bẹ nói tiếng Anh mời tôi về nhà chơi. Tôi từ chối để được đi bát phố một mình. Tôi vào một tiệm Tàu ăn sáng. Người Tàu ở đâu cũng vậy, thú ăn uống là một đặc điểm dân tộc tính. Tôi kêu một bàn la liệt đủ loại bánh bao, xíu mại, bánh cuốn, dầu cháo quãy… chẳng cần biết tên món ăn, thấy món nào hấp dẫn là tôi chận xe lại để ăn thử, ăn đến ớn và trả tiền cũng ớn.

Tôi tính toán giờ giấc. Để đến Johore Baru vào sẩm tối, tôi chọn chuyến xe buýt 12g30 trưa. Để tiêu khiển một buổi sáng tại thủ đô Mã Lai, tôi mướn một Takxi hết 18 dollars Mã mỗi giờ để chạy quanh ngắm cảnh. Kuala Lumpur không tấp nập nhộn nhịp như Bangkok, nhưng những buildings chọc trời nằm lẻ loi đây đó tạo nên một dáng dấp riêng, một vẻ đẹp hài hòa. Người tài xế làm hướng dẫn viên du lịch thành thạo, đã đưa tôi đi xem các di tích, danh lam thắng cảnh nổi tiếng của Thủ đô.

Bangkok chật chội, ngộp thở với nhịp sống vội, Kuala Lumpur khoáng đãng, rộng rãi với những bãi cỏ, những đồi, vườn cây xanh tươi mát mẻ. Tôi ngồi trên lầu của trạm xe buýt uống bia đen, ngắm cảnh tài tử giai nhân qua lại, rồi lên đường theo dự trù. Những thị trấn nhỏ nằm dọc theo quốc lộ phía Nam nghèo nàn hơn phía Bắc. Tôi kiểm lại bảng cây số, địa danh sắp đến. Vẫn những đồn điền cao su nằm dọc suốt lộ trình, nền kinh tế, kỹ nghệ của Thái và Mã phát triển trên lợi tức của loại nguyên liệu nầy.

Xe dừng dọc đường để khách ăn chiều. Ba người Mỹ, hai trai, một gái, lúng túng khi gọi món ăn vì Chủ quán không nói được tiếng Anh. Tôi ngồi bàn gần cạnh nên làm quen với họ. Họ cùng đi Singapore. Tôi hỏi sơ họ về đoạn đường sắp tới, nói đại khái ý định của mình và hẹn gặp họ tại Singapore, họ ngạc nhiên và không tin. Một người Mỹ ăn phần đồ ăn vừa kêu nhưng vì không thích khẩu, nên bỏ nửa chừng. Anh đưa phần thừa mời tôi.

–  Anh ăn đi kẻo bỏ uổng.

Tôi lắc đầu, bảo rằng:

–  Tôi có đủ tiền để ăn, nếu cần ăn.

Nền văn hóa phương Đông bị shocked nặng trước sự thân hữu bất nhã đó. Người Anh gặp tại Kangar còn đặc biệt hơn nữa. Anh đi chung với tôi cả tiếng đồng hồ, tiết kiệm đến nỗi chỉ đứng giải khát tại xe bán nước mía bình dân bên đường. Anh uống một ly xong, kêu thêm ly nữa. Uống nửa ly, để xuống nghỉ lấy hơi, người bán hàng tưởng anh uống xong thò tay lấy ly định đổ đi để rửa, anh chộp lấy, giật lại và bực bội phân bua với tôi:

–  Nó vừa bán vừa ăn cướp!

Tôi chợt nhớ và tiếc nuối những người Mỹ ở Việt Nam ngày xưa. Họ đi đến đâu, người ta chạy theo mời mọc, vồ vập đến đó, bởi vì họ rộng rãi trong cách sử dụng tiền, trong lối giao thiệp. Đi du lịch không chỉ đến để ngắm một bãi biển, một phong cảnh, để nằm lăn lóc những nơi chốn rẻ tiền, gặm bánh mì và uống nước mía bình dân. Bãi biển đâu cũng vậy, phong cảnh đâu cũng giống nhau. Chỉ có những giây phút của sự buông thả, buông thả về cách suy nghĩ, buông thả về cách sinh hoạt, tiêu xài, buông thả để hưởng cái cảm tình ngưỡng mộ của người địa phương, sự nồng nhiệt chờ đợi, sự chuẩn bị phục vụ những người khách hào hoa, phong nhã. Toàn bộ những thứ đó mới đem lại cuộc du lịch một ý vị đặc sắc của nó.

Hồi trước, mỗi lần đi chơi một nơi nào, điều thú vị nhất vẫn là sự đón tiếp, ân cần nơi tôi đến. Những người bồi vừa thấy mặt đã chạy ra mừng rỡ, vừa móc điếu thuốc đã thấy bật lửa quẹt lên, vừa uống một ngụm đã thấy ly bia lại đầy. Tôi đã làm cho họ hạnh phúc bằng cách tip rộng rãi. Họ đã làm cho tôi hạnh phúc: Phục vụ tận tụy. Hai bên cùng hạnh phúc, cùng mong mỏi gặp nhau, không chỉ riêng bồi nhà hàng, các chú bé đánh giày còn mê tôi như điếu đổ. Tôi vừa ngồi xuống, hai chú bé, mỗi chú một chiếc giày, vừa đánh xong, chú khác vào, lại lột giày ra đánh tiếp. Có lần gặp một cảnh tức cười không quên được. Tôi vào ăn trưa tại Thanh Bạch và chỉ có một chú bé đang ngồi ngáp ruồi thay vì nhiều chú như thường lệ. Tôi rút chân ra khỏi bàn cho chú bé đánh bóng mặc dù giày tôi lúc nào cũng bóng. Đánh xong chú bé ra đi, một lát sau, một chú bé ở trần, đầu trùm kín bằng chiếc áo, đi vào, lại kéo giày tôi ra đánh tiếp. Tôi ngồi nghe nhạc, rung đùi nhâm nhi bia, bỗng cảm thấy có gì là lạ? Tôi cầm vai xoay mặt chú bé lại. Đúng là chú bé hồi nãy đã giả dạng để đánh giày thêm một lần nữa. Tôi cú đầu chú bé trừng trị cái tội lừa tôi, nhưng lại cho thêm tiền vì em đã đem lại cho tôi một cảm giác thú vị khó quên.

Tôi cảm thấy hạnh phúc vì cái hạnh phúc của những kẻ nghèo khổ khi gặp mình. Cái giới thứ ba thỉnh thoảng cũng được nằm mơ một lần là những người ăn xin. Đôi khi, gặp lúc yêu đời, tôi kéo một anh chàng ăn mày vào ngồi chung bàn với mình, cho anh ta tự do ăn uống tùy thích. Xong xuôi tôi còn bắt ép anh ta ăn ráng thêm để hưởng cái thú no khổ. Tôi tiếc mình không phải là một ông tiên có phép mầu để thỏa mãn những điều ước của những người cùng khổ, bất hạnh. Thỉnh thoảng, trong khả năng, tôi cũng cố gắng tạo những niềm vui lạ, những hạnh phức bất ngờ cho họ.

Bơi Qua Eo Biển Johore Strait 

Xe chạy, rồi dừng lại đổ xăng, rồi chạy tiếp. Tôi cứ tưởng tượng giữa Johore Baru và bờ biển là một cánh rừng, hoặc những bãi cát rộng, nhưng khi đang mê mải với những ngọn đèn đường rực rỡ như hội hoa đăng, với làn sóng xe cộ tràn ngập, rộn rịp, tôi bất chợt bị kéo ra khỏi xe bằng một lời thông báo bất ngờ:

— Yêu cầu hành khách xuống xe, kiểm soát thông hành trước khi qua Singapore.

Tôi bước xuống, đi ngược hướng những người khách khác, đứng lẫn lộn ở một bãi đậu xe cách Trạm Xét giấy chừng bảy mươi thước để quan sát. Cảnh sát Quan thuế, Cảnh sát Sở Di trú đứng nhung nhúc trong một phạm vi chật hẹp, phải là kiến mới lọt qua chỗ nầy mà không có passport. Tôi đi về hướng Tây, đi dọc bờ biển dài xây bằng đá, cao trên mặt nước. Trời chuyển xấu, gió thổi mạnh nhưng những đôi nhân tình vẫn không lưu tâm quấn lấy nhau tình tự, yêu đương. Thanh niên nam nữ Mã Lai thật bạo, có cặp như chuẩn bị làm tình công khai giữa nơi chốn đông người. Đã mệt mỏi với đường dài, đã thừa mứa với Esther, thế mà đôi mắt đói mắt hơn đói bụng thỉnh thoảng lại len lén nhìn trộm. Cảnh tượng này làm tôi nhớ lại cảnh bờ sông Bạch Đằng trước ngày ra đi. Sài Gòn Xã hôi Chủ nghĩa cũng táo bạo vô cùng, hoàn cảnh khó khăn đã làm cho giá cả tình yêu càng ngày càng rẻ mạt. Một tô hủ tiếu, một chầu xi nê, một cuổc xe Honda cũng làm nên một cuộc tình vội nhưng đầy đủ thủ tục và nghi thức. Những cô gái vị thành niên trốn vùng kinh tế mới về thành phố, hàng đêm tụ tập níu kéo khách qua đường. Từ khu nhà ga xe lửa Sài Gòn, khu Tao Đàn, khu Hồng Thập Tự, công viên trước Quốc Hội… đến nhiều nơi khác, giá bình dân chỉ một Mỹ kim một đêm.

Sài Gòn giờ đây hàng đêm lăn lóc bao nhiêu cặp tình nhân trẻ dọc theo bờ sông Bạch Đằng. Sự sống trở nên điên cuồng, vội vã bởi vì đời sống đã thành vô nghĩa, bởi vì tương lai mờ mịt ngoài tầm tay, bởi không biết còn được sống bao lâu nữa?

Càng đi xa đường càng vắng dần, rải rác đó đây, những cặp tình nhân cuối cùng cũng đang vội vã rời bờ biển hẹn hò vì giông gió đã chuyển hướng, sấm sét đang gầm thét sẵn sàng giáng cơn thịnh nộ bất ngờ.

Huyền thoại về Đội Tuần tra biên giới, về Đội Đặc nhiệm chống buôn lậu thuổc phiện đã làm cho sự toan tính chuẩn bị quá chu đáo, cẩn thận của tôi trở nên khôi hài:

–  Nothing is easy but nothing is impossible. Tôi lập lại câu châm ngôn của mình và bắt đầu cởi quần áo chuẩn bị. Tôi chọn lựa, bỏ bớt một số đồ, xong nhét đồ vào xách tay, choàng qua cổ. Nhìn hướng về bờ biển Singapore khoảng cách trên ba cây số, tôi chọn một ngọn đèn sáng, nằm tách riêng ra để làm chuẩn. Thời tiết bất ngờ xấu đã làm cuộc vượt biển thập phần khó khăn. Tôi bơi một mình giữa vùng biển mênh mông giá lạnh, sóng gào gió thét. Sự chiến đấu sinh tồn hoàn toàn độc lập nhiều năm tháng lúc nào cũng lặng lẽ cô đơn trong sự bình tĩnh và tự tin. Tôi mỉm cười tự nhủ:

–  Lý Tống. Bạn là người hạnh phúc trọn vẹn. Bởi vì hạnh phúc và bất hạnh của bạn không chia sẻ được.

Sóng biển cao vỗ mạnh từ hướng trái. Tôi phải bơi nghiêng một bên, cần cổ mỏi rã rời. Những con cá nhỏ hay những đám rong rêu gây những cảm giác nhờn nhợt rờn rợn nơi lòng bàn tay quạt nước. Túi xách ngấm nước càng lúc càng nặng và chìm dần. Cứ mỗi động tác tiến tới, giây choàng lại giật mạnh vào cổ, như con chó muốn chạy nhanh bị người Chủ già giật dây tròng cổ giữ lại. Tôi ngoảnh đầu lại vẫn còn thấy mình đang ở bên nửa hải phận của Mã Lai. Tôi đã uống ba chai 7 up (tôi chọn số 7) trước khi xuống nước, nhưng cái mệt quá độ làm cảm giác khô đắng ở cổ cứ ngai ngái nhột nhạt muốn buồn nôn.

Bơi hoài, bơi mãi. Bờ biển Singapore nhòe nhoẹt mơ hồ, ngọn đèn chuẩn chập chờn di động, bờ bãi mênh mông chìm đắm trong ánh sáng tù mù. Có đèn chuẩn, hướng bơi vẫn còn bị lệch vì sóng đánh dạt về một phía. Nếu cứ bơi bừa, không hiểu tôi phải lạc lõng giữa biển đen bao lâu nữa. Sóng dạt từ trái và tôi phải bơi ngang kiểu cua.

Tôi nhớ lại lần bơi đua ở bãi biển Ninh Chữ. Thanh, Phi công cùng Phi đoàn Ó Đen 548 thách tôi bơi ra cồn ngoài biển, một bãi đất nằm chìm khuất dưới nước. Chỉ nghe nói cồn ở phía đó, khoảng cách chừng đó, nhưng thực sự chưa ai từng biết, từng thấy cồn lần nào. Buổi sáng đi biển chung với các cô bé con Chủ Phan Rang Hotel và các bạn gái khác. Phi công vốn thừa tình nhưng thiếu tiền bởi vì ham đào đạt bay bướm. Có lẽ vào cuối tháng chưa kịp lãnh lương, Thanh, Thuận đã không làm vừa lòng bà Chủ quán. Bà ta nói xiên, nói xéo, nói tục nói tĩu để đuổi những khách chỉ uống nước dừa, để dành chỗ cho khách sộp khác uống bia. Bạn trai và gái của tôi, có lẽ thường đi biển, quen cảnh bạc đãi ở đây, nên cứ đánh bài lờ, ngồi thản nhiên không thèm để ý. Tôi đi biển lần đầu nên khó chịu, bực mình. Tôi ngoắc bà Chủ quán lại, móc cọc tiền 100,000 đồng mà lúc nào tôi cũng đem sẵn để chi dùng cho dịch vụ Câu Lạc Bộ Sĩ Quan KQ (mà tôi đang làm Quản lý), đập mạnh xuống bàn và quát:

–  Chừng nầy có đủ đốt quán nầy không?

Cái mặt nhơn nhơn đáng ghét kia bỗng tái xanh run rẩy. Ôi! Mãnh lực đồng tiền! Bà ta xun xoe xin lỗi và hỏi tôi:

–  Cậu kêu món gì tôi dọn ra?

–  Đem hết ra đây. Tôi mua luôn cả quán!

Chúng tôi ăn hết đống nem chả nầy, uống đến két bia nọ. Ăn uống xong, bắt đầu mục bơi đua. Đến lúc nầy, Thanh bắt đầu ái ngại nhìn ra biển xa, đưa ý kiến:

–  Nếu toa bơi một mình đến được cồn coi như toa thắng.

–  OK. Một chầu tiền bay (4.500 đồng) chịu không? Tôi ra giá.

–  Đồng ý. Thanh lưỡng lự gật đầu.

Tôi xuống nước, cứ thế bơi mãi. Chẳng biết đâu là cồn, đâu là điểm đến, sóng gió lớn làm tôi muốn đứt hơi. Tôi cứ bơi, tôi đuối sức đến ỉa chảy luôn trong quần nhưng vẫn cương quyết tự nhủ:

–  Lý Tống! Toa phải bơi tiếp. Hoặc toa chết trên biển nầy hoặc toa chiến thắng!

Chẳng hiểu vì sao lúc đó tôi lại có quyết định dứt khoát và vô lý cho một trò giải trí tầm thường. Bơi quá lâu, kiệt sức, không chồm qua được ngọn sóng cao, tôi bị chìm xuống đáy nước. Bất ngờ lúc đó chân tôi đụng đất, nước sâu tới cổ và không biết cồn rộng bao nhiêu. Cứ tưởng tượng nếu tôi vô tình bơi qua khỏi cồn mà không hay và tiếp tục bơi tới mãi để tìm một vị trí thực sự đã bỏ lại đằng sau? Tôi cởi quần giặt sạch sẽ và đưa cao làm cờ vẫy ra hiệu. Các bạn phía trong vẫy trả lời. Tôi nghỉ mệt hơn nửa tiếng đồng hồ mới lại sức, bơi trở vào. Đến bờ, tôi không đứng nổi, hai chân run, đánh lập cập vào nhau. Tôi khuỵu xuống, bò lên khỏi mặt nước vừa lúc Thanh, Thuận chạy lại, đồng đồng kẻ chiến thắng lên vai chạy quanh bãi biển.

Vâng. Chỉ trong một cuộc chơi, tôi đã xả thân để chơi, giờ nầy, tại vùng biển âm u xa lạ nầy, sự nỗ lực phấn đấu còn có ý nghĩa nghiêm trọng hơn nhiều. Tôi đã tới được giữa biển, khoảng cách hai bên bờ bằng nhau. Tự nhiên sự mệt nhọc biến mất, tôi phấn khởi và cảm thấy sức khỏe hồi phục. Tôi bơi tránh một ngôi nhà đánh cá nổi nằm bên phải, một chiếc thuyền chài đơn độc bên trái. Bơi một hồi lâu, tay chân lại bủn rủn vì đuối sức. Tôi cố đánh vật chồm tiếp qua từng đợt sóng cao và hầu như sắp kiệt lực thì thấy xuất hiện trước mắt dãy trụ cột đóng giữa dòng nước. Đây là nơi giăng lưới bắt cá. Tôi bám vào cây cột gần nhất, bám lấy nghỉ xả hơi. Tự nhiên ruột gan tôi cồn cào và bị tháo dạ rèn rẹt như bắn tiểu liên. Thì ra trong lúc bơi, những động tác chồm, đạp… giống như máy bơm đã bơm hút nước biển đầy ắp vào bụng. Tôi phải bám cột nghỉ dưỡng sức gần nửa tiếng mới đủ sức bơi tiếp đoạn biển cuối cùng. Tôi hướng về hàng cây mọc nằm nhô ra biển.

Bước lên bờ, trước mặt tôi là một ngôi nhà lớn điện sáng, một đống rác đang cháy âm ỷ gần cạnh. Tôi giặt giũ quần áo, tắm rửa sạch sẽ và mặc đồ ướt đi lên đường. Đi qua một ngôi nhà chẳng ai để ý (sau nầy trở lại để chụp hình điều tra, tôi ngạc nhiên khi thấy tấm bảng Police gắn ở cổng ra vào)! Tôi đi dọc theo đường hai bên có đồn lính đóng, vài người bộ hành về muộn, đi ngược chiều. Qua khỏi đường xe lửa, tôi gặp xa lộ và quẹo trái vì ngỡ rằng Singapore là những buildings sáng rỡ ánh đèn mà tôi đã thấy khi đứng bên phần đất Mã Lai. Singapore trên đoạn đường nầy về đêm chỉ thây bóng rừng và vườn hoa. Tôi ngạc nhiên vì một hòn đảo diện tích nhỏ, lại bỏ nhỉều đất hoang như thế.

Được chừng bốn cây số, thấy xe cộ dồn cục ùn ùn truớc mặt chờ đi Mã Lai. Woodland, New Town. Tôi đọc tên địa danh trên bảng hiệu chỉ dẫn, định đi dạo một vòng nhưng vì đã khuya, mọi sinh hoạt đều ngưng nghỉ trừ xe cộ lưu thông trên xa lộ. Tôi vào Woodland Garden tìm chỗ ngủ, vòng lên một tháp xây cao, ngắm nghía toàn cảnh chung quanh rồi đi xuống về hướng cái chòi gỗ chìm khuất trong bóng tối. Một tay bụi đời ngủ say trong chòi thứ nhất, một cặp tình nhân vội vã rời nhau khi thấy tôi đi qua trong chòi thứ hai, chòi thứ ba vắng người. Tôi vào chòi thứ tư kín đáo, quần áo vẫn còn ẩm ướt, giằng co giữa cái lạnh và muỗi. Singapore thật đẹp nhưng cũng thật nhiều muỗi. Gió đêm rì rào tê tái thịt da đã bở vì ngâm nước lâu. Mặc áo ướt thì lạnh, cởi áo thì bị muỗi. Tôi đành ở truồng và ngồi, trùm áo quần bao phủ lấy toàn thân. Cái lạnh và muỗi cùng những xúc cảm dào dạt làm tôi trằn trọc không ngủ được. Bỗng có tiếng giày đi lại. Tôi ngồi lắng yên. Cảnh sát tuần tra? Tôi lo lắng toan tính. Có lẽ nào tôi lại bị bắt tại đây? Tôi muốn đến nơi dự trù để trình diện: Tòa Đại Sứ Mỹ.

Bỗng có tiếng thét sợ hãi của một người con gái. À! Thì ra một cặp tình nhân. Tôi đứng dậy để tự thanh minh, tự chứng tỏ mình là một tay bụi đời chứ không phải là một bóng ma. Nếu để họ nghi ngờ tôi là ma, biết đâu lại sinh ra rắc rối. Đây là lần thứ nhì tôi bị tưởng nhầm là ma, một con ma bất đắc dĩ, bởi vì đống áo quần trùm phủ kín người. Nhờ hơi người, nhờ gió, sáng hôm sau, quần áo tạm khô, tôi tìm đường về thành phố Singapore. Đến bến xe buýt, gặp một người con gái da nâu, sắc sảo, mặn mà đứng một mình, tôi tiến gần chào bằng tiếng Anh:

–  Good morning, Miss. Where can I get a bus going to city center?

–  Tôi cũng đi city, ông cứ theo tôi.

Cô gái vừa nói vừa giang tay đón một chiếc buýt đang chạy lại, vội vã leo lên. Tôi nhảy theo nàng, và ngồi cạnh ghế nàng gợi chuyện:

–  Tôi ở Malaysia qua đây thăm một người anh làm tại Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ. Mới đến buổi sáng, chưa đổi tiền được, cô có thể đổi cho tôi ít tiền Mã Lai sang tiền Singapore để trả tiền xe không?

Tôi kiểm soát hết túi và ngạc nhiên vì 20 Mỹ kim Esther đổi cho tôi đã đánh mất từ hồi nào. Cô ta lấy một dollar Singapore đổi một Mã kim.

–  Cô biết Tòa Đại Sứ Mỹ ở đâu không? Chỉ dùm tôi xuống.

–  Vâng, nhưng xe buýt không đi qua Tòa Đại Sứ. Ông phải đón taxi đi tiếp.

Tôi chào cô gái, xuống xe theo lời chỉ dẫn. Thành phố Singapore đẹp ngoài sức tưởng tượng. Tôi đã ở Hoa Kỳ năm 1966, nhưng nhan sắc Singapore không gì so sánh bằng. Những buildings cao bằng kiếng đủ màu, những kiến trúc tân thời vươn mình ngạo nghễ trên các tàn cây xanh thẳm. Người dân Singapore thật sang trọng, những kiểu y phục thời trang Tây Phương, những loại vải nhập cảng đắt tiền làm nổi bật nhân dáng Đông Phương kiều diễm. Tôi chưa đến Tòa Đại Sứ Mỹ vội, tôi phải đi ngắm cảnh, ngắm người cho thỏa thích. Đường phố sạch như chùi bóng, bỗng gặp một bảng hiệu thân mến: Saigon Restaurant.

Mừng rỡ biết bao khi thấy chữ Sài Gòn thân thương, khi sắp gặp những người Đồng hương yêu dấu. Tôi lên cầu thang tìm quán, một bà cụ mở cửa mời tôi vào.

–  Còn sớm quán chua mở. Cậu ngồi tạm.

–  Thưa dì, dì ở đây lâu chưa?

Từ ngày mất Sàigòn đến nay. Tôi định cư tại đây luôn. Cậu ở đâu mới đến?

Tôi kể sơ chuyến đi của mình và hỏi ý kiến của bà.

–  Cậu ngồi chơi, chốc nữa bà Chủ quán đến. Bà Chủ có chồng người Mỹ, mới qua đây mở quán làm ăn.

Sau đó bà Chủ đến. Bà Chủ là một người đàn bà còn trẻ, nhan sắc trung bình. Tôi đang chờ đợi được chào hỏi niềm nở như bà cụ đã vồn vả với tôi, nhưng ngược lại, bà Chủ lạnh lùng và khó chịu khi nghe chuyện tôi do bà cụ giới thiệu.

–   Sao ông không đến trình diện ở Trại Tị Nạn đi?

— Tôi muốn trình diện tại Tòa Đại Sứ Mỹ. Bà có thể chỉ đường dùm hoặc hướng dẫn dùm?

–  Xin lỗi. Tôi đang bận!

Bà Chủ nói xẵng và bỏ vào trong. Một cảm giác đau đớn xâm chiếm tâm hồn. Ôi! Người Đồng hương ơi! Có lẽ nào chỉ có những người nghèo mới thân mến ân cần, mới thương yêu người Đồng bào của mình? Bà cụ nhìn tôi thương cảm, khuôn mặt bà xúc động, đau đớn:

–  Cậu đừng buồn. Những người giàu họ đều như vậy!

Không, tôi không tin điều đó. Tôi đã từng giàu có, bạn bè tôi đã từng giàu có, và ngay cả những người Mỹ giàu có sau nầy khi đọc báo về cuộc hành trình gian khổ của tôi cũng đã viết thư chúc mừng, tình nguyện bảo lãnh và giúp đỡ việc làm. Cái loại người của bà Chủ quán Sàigòn là một loại đặc biệt. Quán Saigon, sự lạm dụng tên của Thủ đô thân yêu đã làm đau lòng những con người có tâm hồn, có lương tâm, có tình người mà thôi.

–  Dì có tiền đổi dùm tôi?

– Tôi không có tiền. Tôi biếu tạm cậu 5 đô Singapore. Tôi vào trong hỏi bà Chủ đổi dùm cho cậu.

Từ phía trong, giọng bà Chủ vọng ra lảng xảng:

–  25 đô Mã đúng ra chỉ đổi cho cậu 15 đô Singapore. Nhưng thôi tôi đổi cậu 20 đô cho chẵn.

Tôi định lấy lại tiền bỏ đi. Tôi chẳng cần mấy đồng tiền thừa của những con người vô tình, đầy tính toán và nhẫn tâm như bà. Bà cụ năn nỉ tôi:

– Thôi lấy rồi đi cậu. Đừng để ý đến họ làm gì.

Tôi nắm tay bà cụ muốn khóc.

–  Chào dì tôi đi.

Tôi đón xe taxi đến Tòa Đại Sứ Mỹ. Vừa mở cửa định bước vào, thấy một người Mỹ tất tả bước ra, tôi vội thối lui đón lại để hỏi. Ông ta chỉ tôi vào bên trong. Nhân viên An ninh người địa phương thấy tôi mở cửa vào, lại thụt ra, nên tiến tới hỏi tôi:

–  Đi đâu? Gặp ai?

–  Tôi đi tị nạn. Tôi cần gặp Viên chức Tị nạn của Tòa Đại Sứ.

Anh ta xét đồ và đưa tôi vào phòng đợi. Tôi đến bàn đầu tiên bên trái, trình bày câu chuyện của mình, moi miếng giấy bèo nhèo có khuôn dấu Trại Tị nạn Nong Samet đã bay màu, ticket xe lửa, xe buýt ướt nhão nhẹt và nhăn nhúm. Cuối cùng khi được thẩm vấn, tôi trình bày về thân thế và cuộc hành trình 17 tháng đã qua. Câu chuyện thật khó tin, tôi cảm thấy sự ngờ vực qua đôi mắt của người thẩm vấn.

– Thưa ông! Ông cứ liên lạc với Tòa Đại Sứ Mỹ ở Bangkok, ông sẽ tin những điều tôi nói.

Hai nữ nhân viên của UNHCR được thông báo cũng vừa đến. Và Lê Văn Mỹ, một cựu Đại úy Không Quân, được gọi đến làm thông dịch viên:

–  I think you don’t need me anymore, because he speaks English better than I do.

Lê Văn Mỹ, tuy thế, vẫn không thừa thãi. Vì qua câu chuyện giữa tôi và Mỹ, Mỹ đã xác nhận với Caroline là chúng tôi có chung những người bạn Không Quân, mặc dầu không quen biết nhau.

–  Chỉ cần nhìn anh ta cũng đủ biết là thứ thật rồi. Mỹ nhấn mạnh thêm.

Tại Singapore, Julian, Chuyên viên Phản gián của Cơ quan Tình báo, sau khi đóng cửa phòng thẩm tra, mở lời:

– Nghe nói anh là một tay từng vượt ngục nhiều quốc gia, anh là bậc Thầy của Papillon. Vậy ở phòng nầy, anh trốn bằng cách nào?

Tôi nói ngay:

–  Ngã nầy! Tôi chỉ vào chỗ máy lạnh gắn vào tường.

Ngạc nhiên về sự nhạy bén của tôi, anh ta nửa đùa nửa thật:

–  Ngày mai tôi sẽ đem theo vệ sĩ và súng. Biết đâu anh lại giết tôi và bỏ trốn thì nguy quá.

Chữ và số hình như có một ý nghĩa huyền bí nào đó. Đầu tiên tôi rất thích số 8 và sợ số 7. Trên lòng bàn tay phải, tôi có một con số 8 nàm ngang do những đường chỉ bàn tay tạo nên, và một nốt ruồi son ẩn trên đầu số 8. Những ngày trốn tránh ở Sài Gòn, tôi gặp Dương Ngọc Cư (trong vụ án Trần Khánh Vân và Trần Văn Bé Tư) tại nhà một cô bạn hàng xóm. Dương Ngọc Cư đã nghe nhiều huyền thoại vượt ngục và ở tù của tôi nên mến mộ và mời tôi đi gặp một Thầy xem tướng nổi tiếng tại Sài Gòn để thử xem vận số trước khi tôi lên đường đột nhập Phi trường Tân Sơn Nhất. Ông thầy coi tướng bảo Cư “có những ngón tay nhọn nên gặp trở lực nào cũng đâm thủng được.” Còn tôi, ông bảo:

— Anh có số 8 ở trên đường chỉ tay, chỉ thua người có số 9 thôi, nhưng số 8 nằm ngang lại trở thành cái koòng số 8. Vì vậy để thành đạt được, anh sẽ bị tù tội và xiềng xích liên tục.

Tôi đã ở tù tại hơn bốn Quốc gia, tới Singapore vẫn còn bị ở tù, và xích xiềng. Không chỉ ở Việt Nam mà ngay khi đã đến Thái Lan, tôi vẫn còn bị xích xiềng.

–  Số 7 giống như lưỡi hái tử thần. Thấy số 7 ngán như thầy Thần Chết! Thế mà từ khi đột nhập Phi trường Tân Sơn Nhất, trong lúc nguy hiểm tôi đã trốn trong phi cơ số đuôi 077 và tránh khỏi bị bắt. Từ đó tôi tin rằng số 7 tiền hung hậu kiết, gặp số 7 là gặp hiểm nghèo nhưng cuối cùng vô sự. Vì thế khi ở Nhà tù 7708, tôi hoàn toàn yên chí vì 77 đã tốt lại cộng thêm số 8 bổn mạng của tôi. Số 7 theo Phật Giáo lại có ý nghĩa huyền diệu hơn. Đúc Phật Thích Ca sinh ra đời đi 7 bước, biểu tượng bằng 7 đóa hoa sen. Số 7 tượng trưng cho kiến thức thông suốt vũ trụ, sự vĩ đại, siêu việt. Đó cũng là một trong những nhân tố quyết định trong các cuộc vượt ngục của tôi.

Hai lần vượt ngục vào ngày 7: 7-10-1975 và 7-10-1981, lại còn nhiều trường hợp trùng số kỳ lạ: Tôi bị bắt giam vào trại 7708 ngày 25 tháng 9 năm 1981, bị nhốt tù Aran ngày 25 tháng 1 năm 1982, và tôi tiên đoán sẽ rời Galang ngày 25 tháng 8 nămg 1983. Số 25 tức 2 + 5 = 7 nút. Lại số 7.

Trước kia tôi là người bài bác những kẻ hay tin dị đoan nhưng trong những ngày nằm tù nằm khám, nhiều lúc rỗi rảnh không làm gì cả, chẳng hạn như bị cùm, bị conex tôi ôn cố tri tân, nghiên cứu, nghiền ngẫm những sự kiện quan trọng xảy ra trong cuộc đời đã qua và đã tìm thấy được nhiều sự trùng hợp kỳ cục, khó hiểu của sự kiện. Vì thế tôi nghĩ, thỉnh thoảng cũng nên tin dị đoan chút chút và đó cũng là nguyên nhân tại sao tôi chọn ngày 13 để đột nhập Phi trường Tân Sơn Nhất lần nhì. Số 13 là số xui xẻo, tôi đang xui tận mạng nên dùng số 13 để dĩ độc trị độc.

Tôi được chuyển qua Immigration Department và một lần nữa, tôi lại ở tù. Qua nhiều Trại tù của nhiều Quốc gia, tôi có nhận định rằng: Nhà tù là một biểu tượng mà qua đó ta có thể đánh giá được mức độ văn minh của mỗi Dân tộc. Vị thẩm quyền cao nhất của Sở Di Trú hoàn toàn không tin tôi, Mr. Never Swim, không tưởng tượng được chuyện kẻ một mình ban đêm bơi qua biển rộng hơn ba cây số đầy sóng gió, cá mập…

–  Anh thú thật đi. Anh đi theo đường rầy xe lửa, hay mướn thuyền chở qua?

À ra thế. Đến đây tôi mới biết còn có những lối đi dễ dàng hơn nhiều mà tôi không hề nghĩ tới.

–  Hay là CIA giúp đỡ anh? Họ cần Phi công giỏi. Họ thấy anh bị kẹt ở Thái Lan lâu nên cấp giấy tờ giả cho anh đến đây?

Tôi nhớ đến một Viên chức Tòa Đại Sứ Mỹ tại Bangkok, khi gặp chúng tôi ở Nong Samet đã nói:

—Tôi có vợ Việt Nam, tôi có hai người anh vợ. Tỉ dụ hai người anh vợ tôi tị nạn đến đây, họ cũng phải chờ hàng năm như các người khác.

Vâng, đúng vậy. Người Mỹ rất công bằng trong các trường hợp như vậy, họ có những kế hoạch toàn cầu, những giải quyết tập thể, không cá nhân, không thiên vị. Họ sẽ không can thiệp nếu có kẻ bị đối xử bất công, nếu có sự vi phạm Công pháp Quốc tế, bởi vì không muốn gây quan điểm bất đồng với Chính quyền địa phương.

Người Điều tra viên đưa tôi trở lại hiện trường. Đây ụ xi măng, đây hàng cây nhô ra biển, đây những hàng cột lưới cá… Tất cả đều chính xác hoàn toàn. Thật cũng may, nếu tôi xuống và lên bờ ở những chỗ khác, làm sao tôi diễn tả được những điểm chuẩn rõ ràng chính xác để họ tin. Tôi đề nghị ông ta đưa thuyền thả tôi bên bờ Mã Lai và tôi sẽ biểu diễn bơi trở lại Singapore, nhưng ông từ chối, bảo:

–  Không cần thiết. Tôi hoàn toàn tin tưởng anh. nhưng cần anh cho biết: Tại sao anh bỏ Việt Nam và bỏ Thái Lan trốn qua đây?

–  Tôi vượt ngục tại Việt Nam bởi vì tôi chưa muốn chết như một người Hùng trong ngục tù Cộng sản. Tôi trốn thoát Trại Tị nạn Nong Samet bởi vì tôi đã chán sống đời sống một thằng ăn mày vô vọng tại đó.

Ngoài những cuộc thẩm vấn của Immigration Officers, những trao đổi kiến thức chuyên nghiệp với các Sĩ quan Phi công của Bộ Tư Lệnh Không Quân Singapore, một Chuyên viên Phản gián đã request a favor về nhận định tình hình thực tiễn tại Việt Nam và Kampuchia.

Tôi trả lời:

–  Chống Cộng là nhiệm vụ chung của tất cả mọi người yêu chuông Tự Do. Không chỉ với các ông mà bất cứ ai cần tìm hiểu Cộng sản để chống Cộng, tôi cũng sẵn sàng trình bày những hiểu biết thực tiễn và quan điểm của mình để đóng góp vào Sự nghiệp Giải thể Chế độ CS của Thế giới Tự do.

Tôi viết một bản báo cáo 20 trang bằng tiếng Anh, đề cập đến tình hình về các mặt Quân sự, Chính trị, Kinh tế, Xã hộí và tinh thần của Cán binh Cộng sản, của Dân chúng tại Việt Nam, của Bộ đội Việt Nam tại Kampuchia, và những hiểu biết về các Lực lượng Kháng chiến Khmer hiện tại.

— Có thể đánh Cộng sản được không? Đánh như thế nào?

Chuyên viên nầy nhấn mạnh. Đó là một câu hỏi mà thông thường những ai ít nghiên cứu về Chủ nghĩa Cộng sản trên lý thuyết và hoàn toàn mù tịt Cộng sản về thực tiễn thường hay thắc mắc. Nói theo Nguyễn Bá Học: “Đánh Cộng sản khó, không khó vì Cộng sản khó đánh, mà khó vì lỏng người sợ Cộng sản và không dứt khoát để đánh Cộng sản.”

Từ ngày Chủ nghĩa Cộng sản tượng hình trong đầu hai ông tổ Cộng sản Karl Marx và Engel, đến thời kỳ được Lenin sáng chế và bổ túc thêm để áp dụng vào thực tiễn cho đến nay, chưa lúc nào Cộng sản có đủ yếu tố và cơ hội thuận tiện để sụp đổ như hiện tại. “Cộng sản như một cổ quan tài cồng kềnh mà xác chết bên trong đã sình thối! ”

Các Chế độ Cộng sản trên thế giới dần dần sụp đổ do chính sự nổi dậy của quần chúng phù hợp với ý niệm chiến lược: “Chỉ có Cộng sản mới đánh được Cộng sản.” Đã có một Việt Nam và một số quốc gia khác bị Cộng sản xâm lược đã thể hiện quan niệm chiến thuật hiện đại: “Muốn thắng Cộng sản trước hết phải thua Cộng sản.” Và giờ đây Nga Sô, quốc gia tiên phong giương cao ngọn cờ búa liềm của Cách mạng vô sản, đang chuyển mình theo Chính sách Tư bản Kinh tế Thị trường.

“Đại Thắng Mùa Xuân” của Việt Cộng chỉ nhắc nhở một câu nói trong phim Ben Hur: “Les vainqueurs ce sont les vaincus” hay Pháp quốc đối với Đức quốc năm 1945: “Les vaincus seront les vainqueurs.” Thắng-Bại chưa thể phán xét khi trận chiến cuối cùng vẫn còn ở trước mặt. Nếu cứ để Việt Nam Cộng Hòa còn tồn tại đến nay, ta có thể tưởng tượng được tinh thần Binh sĩ, tinh thần Dân chúng Việt Nam đến giờ phút nầy còn bi thảm và tệ hại biết

dường nào. Nhìn rõ thực tế để dụng thời, dụng người cho cuộc Chiến đấu Chính nghĩa. Những năm sau 1975, Hoa Kỳ không tốn một nhân mạng, không tốn một đồng Mỹ kim cho cuộc chiến Việt Nam, nhưng Nhà tù Cộng sản là một Trường Huấn luyện vĩ đại nhất đã huấn luyện người Chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa trở thành những tay thiện chiến và kiên cường vượt bực. Xã hội của Xã hội Chủ nghĩa, một môi trường ưu việt nhất giáo dục Dân chúng ý thức được giá trị của Tự do, khai phá trí tuệ và lương tâm con người để họ tự giải đáp câu thắc mắc ngày xưa: Chiến đấu cho ai, chiến đâu vì cái gì để tự tạo một lập trường, một thế đứng chính trị tích cực! Chúng ta lost war nhưng won peace. Cộng sản won war nhưng mất tất cả bởi vì toàn Dân miền Bắc đã thấy được bộ mặt dối trá, lường gạt của Cộng sản trong mấy chục năm qua. Và miền Nam cũng nhận chân được Thiên đàng hiện thực của Chủ nghĩa Cộng sản.

–  Nếu biết đi, tất cả các cột đèn cũng đều sẽ đi vượt biên! Dương Hùng Cường nói lên một sự thật phũ phàng, rõ ràng như ban ngày. Người dân Đông Dương đã bỏ phiếu bằng chân chống Cộng sản trên bước đường tị nạn gian khổ của họ. Tuy nhiên vì bản tính con người dễ dãi, như một loài sâu lá, dễ dàng thay đổi màu da để hòa lẫn với màu sắc ngoại cảnh, nên con người dễ chấp nhận hoàn cảnh, dễ dàng Chịu đựng mọi áp bức, bất công, dưới sự đe dọa của mũi súng.

Tình thế đã căng thẳng như một trái bong bóng hơi khí đầy hơi, chỉ cần búng một tàn thuốc là vỡ, như một tô nước đã đầy, chỉ cần một giọt cuối cùng là tràn, nhưng cái giọt cuối cùng đó, mỗi người đều quan niệm hoặc trân trọng quá đáng như là một giọt máu quí báu, như là một mạng sống thay vì chỉ cần nhổ một bãi đờm hay đái vung tí mẹt vào là nó tàn tràn ngay.

Chống Cộng không phải là một sự nghiệp riêng của một người hay một quốc gia, mà chống Cộng cũng không phải là cứu cánh của loài người. Chống Cộng và chống bất cứ Chế độ nào tàn bạo, bất nhân như Chế độ Cộng sản. Thay thế Chế độ Cộng sản bằng Chế độ thối nát khác cũng không phải là một giải pháp lý tưởng. Hoàn toàn nương tựa vào Đồng minh, hay tự lực tự cường như một người hùng cô đơn đều không phải là những phương thức hoàn hảo. Phải làm cho Đồng bào thấy Tự Do và Hạnh Phúc không phải là trái sung mà ta cứ nằm dưới gốc cây há miệng chờ rụng, làm cho thế giới thấy Cộng sản là hiểm họa chung, là đe dọa trực tiếp đến bản thân họ. Đẩy Bè bạn, Đồng minh về phía kẻ thù, trở mặt với Ân nhân và không thấy lỗi lầm của ta, quanh ta chỉ còn là một thế giới thù địch.

Người Chiến sĩ Quốc gia chiến đấu chống Cộng sản không chỉ vì lý tưởng yêu nước mà còn là một hành động chuộc lỗi đã để đất nước rơi vào tay Cộng sản. Đối với những người hồi chánh cũng vậy, còn là sự đoái công chuộc tội cái quá khứ lầm lỗi đã góp tay với kẻ thù sát hại Đồng bào, tàn phá Quê hương. Nếu trở về hoặc đứng lên chỉ vì quyền lợi, địa vị trong tương lai, hành động đó cũng đồng nghĩa với đồng lõa, là đầu cơ trục lợi, đục nước béo cò, lạm dụng xương máu của Đồng bào, nhiệt tình của nhũng con người có tinh thần, ý thức.

Thật dễ mà cũng thật khó. Khó hay dễ cũng chỉ vì cái lòng người.

Chưa thống nhất được các Lực lượng, chưa thống nhất được lòng người thì chưa thắng được Cộng sản. Một vũ khí tối tân ở trong tay kẻ thiếu tinh thần trở thành một thỏi sắt vô dụng và ngược lại. Ngày xưa ta có được sự viện trợ mạnh mẽ, nhưng thiếu lý tưởng, thiếu ý chí quyết chiến quyết thắng nên ta thua Cộng sản. Ngày nay ta có Thiên thời, Nhân hòa nhưng thiếu Địa lợi, và cái địa đây không phải chỉ là đất mà còn là tiền, tức là thiếu tiền bạc, vũ khí viện trợ nên ta chưa thắng được Cộng sản.

Thượng Đế sinh ra kẻ xấu để ta thấy ghê tởm điều xấu mà sống lương thiện. Thượng Đế sinh ra Cộng sản và các Chế độ độc tài để ta thấy được giá trị của Tự do, của Nhân quyền, biết hưởng Hạnh phúc giản dị, biết sống một đời sống có ý nghĩa, hữu ích. Chừng nào chưa ý thức được Chân lý đó, chưa cảm nhận được phần thưởng và hình phạt đang nhận lấy hàng ngày trong đời sống hiện hữu chứ không phải là Địa ngục hay Thiên đàng sau khi đã chết, thì xã hội vẫn còn bất công, thì con người vẫn còn đau khổ, mặc dù không còn Cộng sản.

Ngày nào Cộng đồng người Việt Hải ngoại nhận chân được rằng hạnh phúc không chỉ là nhà lầu, xe hơi, tiền bạc, địa vị cho bản thân mình, gia đình mình, mà còn thông cảm được hạnh phúc và bất hạnh của hàng triệu dân Việt Nam quốc nội, còn biết hạnh phúc trong chia sẻ và đóng góp. Chừng nào 90 triệu người dân trong nước cảm nhận được rằng, hạnh phtic không chỉ là còn sống yên thân cho hết quãng đời còn lại, mà còn là những giây phút bất khuất, kiên cường khi đang bị tra tấn, cùm kẹp, khi hiên ngang đi đến pháp trường, thì Cộng sản sẽ tan vữa như con đỉa gặp thuốc xịt muỗi. Đáng trân trọng biết bao những thái độ tích cực đối với Công cuộc Kháng chiến Cứu nước:

–  Thà bị nhầm lẫn hơn là vô trách nhiệm.

Có nhũng thái độ Chim bị cung gặp cành cây cong cũng sợ, nhưng vẫn có những con người từng nhiều lần chạy dưới lằn đạn truy kích của kẻ thù vẫn cảm thấy coi khinh họng súng. Thái độ đấu tranh của những tay nghiên ngập, ba hoa trong những cơn say, tự vỗ ngực mình yêu thương nòi giống theo kiểu:

Phàm phu đâu biết người say nhỉ,

Say nước say nhà lúc ngửa nghiêng.

Hay những tư tưởng: Dỉ đào vi thượng sách, như của một người tị nạn được phỏng vấn đã trả lời:

–  Tôi thích sống gần biển. Bởi vì khi Cộng sản đến, tôi lại tiếp tục lên đường vượt biên! ” chỉ là những thái độ tiêu cực, thụ động, đầu hàng.

Chúng ta không thể đổ trách nhiệm cho Hoa Kỳ hay bất cứ thế lực nào về sự thất trận nhục nhã của Việt Nam Cộng Hòa. Hãy tự trách lấy bản thân mình, chính chúng ta từ ngài Tông Tông đến anh Tùy phái, từ cấp Tướng năm sao đến chú Binh nhì, từ ngài Triệu phú đến gã Ăn mày, từ bậc Sĩ phu đến gã Thất phu, từ anh Nghệ sĩ đến gã Phàm phu, từ các Công nương đến các Chị Mary Sến, từ Dân chơi thành thị đến bác Nông dân, từ ông Cố đạo đến Nhà sư… mỗi một người Việt Nam đều đã không hoàn thành bổn phận giữ nước và cứu nước, đã có một phần trách nhiệm trong cuộc bại trận năm 1975 và thảm cảnh hiện tại của Việt Nam.

Nếu chúng ta không thể Chịu đựng và nuôi dưỡng một người bạn thất nghiệp nhưng suốt ngày chỉ thích rượu chè, cờ bạc, ăn chơi, thì làm thế nào Hoa Kỳ lại có thể tiếp tục viện trợ và cưu mang một Chế độ tham nhũng thối nát đồng thời lại công kích, nguyền rủa, biểu tình, đốt xe, xúc phạm đến Ân nhân mình, trong khi chính bản thân người dân Mỹ phải quần quật làm việc để trả nợ bills mà chính chúng ta, những người Tị nạn, giờ cũng đang được nếm mùi mưu sinh vất vả đó? 

Thế giới đang chuyển mình qua một khúc quanh lịch sử quan trọng. Những biến chuyển đột xuất tại Liên Xô và Đông Âu bắt nguồn từ sự thất bại của Chủ nghĩa Cộng sản là đi thẳng từ Chế độ Phong kiến xây dựng trên nền tảng Nông nghiệp lên Chủ nghĩa Cộng sản bằng con đường vũ trang Cách mạng không kinh qua Chủ nghĩa Tư bản và thời kỳ quá độ, nên thiếu nền kỹ nghệ hiện đại để phát triển kinh tế như Karl Marx chủ trương, cùng những chi phí nặng nề của chiến tranh bành trướng và xâm lược nên đã đưa đến sự sụp đổ của Chủ nghĩa Xã hội ở các nước Đông Âu, được phương Tây gọi Cuộc Cách mạng năm 1989 hay Mùa thu của Cộng sản và việc Liên Xô bị giải thể vào cuối năm 1991 dẫn đến kết quả là Nga và 14 quốc gia tuyên bố độc lập của khỏi Liên Xô. Tác động này cũng dẫn đến việc cáo chung của Chế độ CS tại một số quốc gia khác, ngoại trừ 4 nước còn lại Trung Cộng, Việt Cộng, Bắc Hàn và Cuba,dẫn đến tuyên bố kết thúc của Chiến tranh Lạnh.

Thời hoàng kim của chiến tranh bằng quân sự đã qua, và chiến tranh ý thức hệ cũng đã ngã ngũ. Ai thắng ai? Câu hỏi thường được các Cán bộ Cộng sản nhắc đi nhắc lại trong các Trại tù Cải tạo đã có câu trả lời rõ rệt. Kinh tế và tài chánh là cơ sở sức mạnh của thời đại hiện tại và tương lai.

Chủ nghĩa Cộng sản không còn mê hoặc được Dân chúng một khi người Dân dưới Chế độ Cộng sản đã bị mùi Tư bản quyến rũ, và người Dân thuộc Khối Tự do đã hiểu thấu bản chất tàn độc, bất nhân và nghèo đói, bần cùng của Cộng sản.

Nếu Hoa Kỳ và Khối Tư bản thành công trong nỗ lực ủng hộ các thành phần cấp tiến trong khối Cộng sản thì Chủ nghĩa Cộng sản sẽ sớm bị tiêu diệt. Nếu thất bại, sẽ có hai khuynh hướng xảy ra tại các nước Cộng sản  òn lại:

— Phe Bảo thủ sẽ thắng thế và dùng bạo lực quân sự để đàn áp và tiêu diệt các Phong trào Dân chủ.

— Hoặc tình trạng hỗn loạn vô chánh phủ sẽ xảy ra một khi người Dân vừa thoát khỏi ác mộng Cộng sản lại vỡ mộng ảo vọng Tư bản.

Trung Cộng là thí dụ điển hình của trường hợp thứ nhất. Nhưng sự thắng thế của phe bảo thủ chỉ tạm thời, bởi vì lớp lãnh đạo già nua của cuộc Vạn Lý Trường Chinh sẽ ra người thiên cổ vào những thập niên tới. Trong tương lai, dù cho sức mạnh quần chúng không đủ sức tiêu diệt họ, thì đám bảo thủ cố cựu này cũng sẽ tự diệt, và lớp lãnh đạo trẻ, mới sẽ phải theo đuổi một chánh sách canh tân.

Trường hợp thứ hai, sự thất bại về Chánh sách Kinh tế của Chủ nghĩa Cộng sản hướng niềm hy vọng của dân chúng về phía Tư bản, trông cậy vào sự ủng hộ tinh thần và tài chánh của các quốc gia giàu có để cải cách nền kinh tế lạc hậu, củng cố thực lực của nhóm cấp tiến, giúp quốc gia họ sớm thoát khỏi vòng kiềm tỏa của độc tài Cộng sản. Nếu Khối Tư bản không có thái độ dứt khoát, chỉ nhiệt tình ủng hộ bằng tinh thần nhưng viện trợ lại quá hạn chế và nhỏ giọt, Nhóm Cấp tiến sẽ mất khả năng thu hút và dân chúng sẽ chóng mất niềm tin.

Nếu các Chính phủ Dân chủ tương lai của Đông Âu thất bại trong chương trình cải cách kinh tế, khiến cho tình trạng nghèo đói và thiếu thốn không được cải tiến hoặc càng trầm trọng hơn, thì nội loạn sẽ xảy ra bởi vì hai Nhóm Bảo thủ và Cấp tiến đều thất bại, và khủng hoảng kinh tế cùng khủng hoảng niềm tin sẽ châm ngòi cho nhũng cuộc bạo động và nổi dậy.

Ủng hộ và giúp đỡ Phái Cấp tiến thắng thế khác với ý đồ tiêu diệt hẳn Cộng sản. Nếu tiêu diệt hoàn toàn Cộng sản, Khối Tự do sẽ mất đối tượng thù địch chính trị (và tất nhiên sẽ thêm đối tượng thù địch về kinh tế), và những tay  Tư bản Kỹ nghệ Chiến tranh sẽ không còn có cơ hội tốt để sản xuất hỏa tiễn, phi cơ, xe tăng, vũ khí… để bán cho Bộ Quốc Phòng và các quổc gia khác. Lịch sử Hoa Kỳ cũng đã chứng minh rằng chính Nhóm Tư bản Kỹ nghệ Chiến tranh đã thúc đẩy Mỹ tham dự vào hai cuộc Đại Chiến Thế Giới.

Ngoài mối lợi nhuận do sự buôn bán vũ khí, sự cạnh tranh thị trường tiêu thụ giữa các Nước Tư bản cũng đã đạt tới tầm mức đáng ngại. Nhật Bản và Hoa Kỳ là thí dụ điển hình. Chưa kể từ năm 1992, Khối Thị Trường Chung Âu Châu sẽ bắt đầu Chính sách Kinh tế Liên bang để đối đầu lại với Hoa Kỳ và Nhật Bản. Nếu Nga Sô và Trung Cộng từ bỏ Chủ nghĩa Cộng sản để theo Chủ nghĩa Tư bản và thành công, các Nước Tư bản sẽ phải đối đầu với hai địch thủ đáng sợ trong cuộc chạy đua và cạnh tranh kinh tế.

Nói riêng về trường hợp Khối Đông Âu hay toàn Khối các Nước Cộng sản chư hầu cũ nói chung, việc Tư bản hóa các nước nầy có lợi gì cho Hoa Kỳ và Đồng Minh? Hãy xem một Argentina bị khủng hoảng tài chánh gây nên bởi 57 tỉ Mỹ kim tiền nợ và 3600% lạm phát hàng năm. Một Mễ Tây Cơ, người láng giềng sát nách với tệ trạng nhập cảnh lậu người và nhập cảnh lậu ma túy vào Mỹ, là “cục nợ đời” với 54 tỉ Mỹ Kim nợ nần trong khi nền kỹ nghệ dầu hỏa đang bị đình trệ. Và những cuộc bạo động phá rối an ninh trật tự, gây tử thương 300 người, 2000 người bị thương, và 2000 người bị cầm tù bởi vì giá dầu hỏa xuống thấp và tiền nợ 33 tỉ dollars đã làm đảo điên nền kinh tế, xáo trộn xã hội của một quốc gia được xem là dân chủ và ổn định nhất tại Châu Mỹ La Tinh: Venezuela.

Như vậy Hoa Kỳ và các Đồng minh Tư bản có sẵn sàng để nuôi báo cô thêm những con nợ mới (nếu Ba Lan, Hung Gia Lợi trên đường Tư bản hóa lại dẫm lên vết đường lụn bại của các Nước Dân chủ Châu Mỹ La Tinh) hoặc có sẵn sàng để đương đầu với các đối thủ kinh tế mới nếu Ba Lan, Hung Gia Lợi phát triển trở thành những Nhật Bản, Tây Đức hoặc các Rồng con như Nam Triều Tiên, Đài Loan, Hồng Kông và Tân Gia Ba?

Khi đòi hỏi Hoa Kỳ viện trợ, giúp đỡ các nước vừa thoát khỏi quỉ đạo Cộng sản, ta quên rằng Hoa Kỳ đang bị thâm thủng ngân sách quốc gia 4,000 tỉ dollars và 25% tài sản địa ốc và kỹ nghệ Hoa Kỳ đều thuộc về Chủ nhân ông Nhật Bản và Anh Cát Lợi. Nga Sô, Trung Cộng theo Chủ nghĩa Cộng sản thì ngày càng nghèo đói, Hoa Kỳ theo Chủ nghĩa Tư Bản thì từ một anh Chủ nợ trở thành một con nợ lớn nhất thế giới! Anh Cộng sản đang chết đuối tưởng anh Tư Bản bở, níu lấy, trong khi anh Tư Bản cũng đang điên đầu tranh sống trong cuộc chạy đua, cạnh tranh một mất một còn theo luật “thị trường tự do!”

Chính sách của Mỹ nói riêng và Khối Tư bản nói chung được thu gọn trong bốn chữ “Thù Địch — Thân Hữu.” Họ muốn có những thù-địch-thân-hữu hơn là những thân-hữu-thù-địch. Nghĩa là những thù địch như Nga, Tàu vẫn giữ nhãn hiệu Cộng sản, nhất là loại Cộng sản đang suy sụp, khủng hoảng (hoặc biến thái sang một Chủ nghĩa khác yếu kém hơn Chủ nghĩa Tư bản) để Nhóm Tư bản Kỹ nghệ Chiến tranh còn có đối tượng, đối thủ cho chính sách ngăn chận (containment) bằng vũ trang của họ. Và đồng thời họ lại muốn những thù địch nghèo đói này có đường lối ngoại giao thân thiện, thân hữu để Nhóm Tư bản Thương mại có cơ hội khai thác thị trường tiêu thụ của hơn một tỷ người Trung Hoa và của gần ba trăm triệu người Nga. Những thân-hữu-thù-địch như Nhật Bản, nghĩa là cùng Đồng minh với Hoa Kỳ nhưng lại là địch thủ giàu mạnh trên thương trường, bất lợi cho sự độc quyền kinh tế của Mỹ.

Sau khi được tự do, một số nước gia nhập

Vì tình hình cạnh tranh căng thẳng giữa các Đại cường Tư bản, và Mỹ quốc lại theo Chủ nghĩa Thực dụng bất kể đạo lý, thủy chung, sẵn sàng “đem con bỏ chợ” nên việc Mỹ có ý đồ chiêu dụ Nga và Tàu để đối trọng kinh tế với Khối Thị Trường Chung Âu Châu và Nhật Bản khi cần là điều không tránh khỏi. Tuy nhiên Nga và đặc biệt Tàu là những quốc gia bậc thầy về mưu mô, thủ đoạn suốt quá trình lịch sử lập quốc lâu đời trong khi “anh cao bồi Mỹ” sinh sau đẻ muộn nhờ có địa lợi, tách biệt khỏi Châu Âu và Châu Á, lại dùng Chính sách “Isolationism” (Chủ nghĩa Biệt lập) nên tránh được các thiệt hại chiến tranh, lại còn lợi dụng được chiến tranh trên thế giới để trục lợi nên bỗng nhiên trở nên giàu mạnh nhất thế giới một thời, thì việc “mèo nào hơn mỉu nào,’ “ai cao cờ hơn ai” để giành thắng lợi cuối cùng trong thế cờ quốc tế cũng không quá khó để đoán. Bởi vậy không ngạc nhiên khi thấy “Mỹ chạy vòng vòng Mỹ chạy mòn hơi. Nào có hay túi cạn nào có hay cạn túi” trong Chính sách giai đoạn bất nhất, bởi “Politics is the next election” theo Mỹ, nên cuối cùng trở nên tay “Chúa chỗm” nợ nần nhất thế giới, nên không chỉ địch thủ mà ngay cả đồng minh và những kẻ từng được Mỹ thi ân, ban ân cũng trở nên ngày càng bất mãn, thù ghét Mỹ trên toàn thế giới. Bởi vậy mới có câu: “Thà làm kẻ thù Mỹ còn lợi hơn làm bạn Mỹ!”

Hoa Kỳ không những sẽ mất địa vị đại cường quân sự một khi hiểm họa chiến tranh châm dứt, mà còn có thể bị mất địa vị đại cường kinh tế giữa các quổc gia kỹ nghệ tiên tiến. Lý do căn bản cho sự thay ngôi đổi chủ là chính sách kinh tế lạc hậu của Mỹ cùng số tiền mắc nợ quá lớn. Tính đổ đồng theo đầu người, mỗi công dân Mỹ đang mắc nợ gần 15,000 đô la. Nga có lợi điểm để tiến triển nhanh hơn Mỹ bởi vì Nga mắc nợ tương đối ít, khoảng 50 tỉ đô la. Như vậy chỉ nói về nợ nần, Nga giàu hơn Mỹ đến 2,500 tỉ đô la; nói về kỹ thuật, nền khoa học không gian của Nga vượt xa Mỹ

Nói về kinh tế, tại Nga lao công rẻ, Chế độ tập quyền Cộng sản chuyển sang Chế độ bán tập quýền của Nhật dễ hơn Chế độ phân quyền của Mỹ chuyển sang Chế độ bán tập quýền của Nhật. (Chế độ kinh tế bán-tập-quýền của Nhật là Chế độ ưu việt nhất trong nền kinh tế thị trường tự do của khối tư bản hiện đại.) Bán-tập-quyền là thể tổng hợp giữa tựdo kinh doanh của các công ty kỹ nghệ tư nhân và kế sách điều động chỉ huy của chính phủ Nhật Bản.

Khối OPEC Ả Rập cũng sẽ mất ảnh hưởng bởi vì Nga sô, với kỹ thuật khai thác dầu hiện đại nhận từ khối tư bản, sẽ cung cấp đủ dầu cho châu Ảu và Hoa Kỳ. Mỏ dầu Trung Cộng cũng đủ sức thỏa mãn nhu cầu kinh tế của Nhật Bản. Ả Rập da nâu sẽ kết hợp với châu Phi da đen để củng cố địa vị sẽ bị lung lay một khi mất hẳn thế “vua dầu hỏa. ”

Nhưvậy lưỡng Cực Nga—Mỹ (Cộng sản — tựdo) dựa trên sức mạnh quân sự và chính trị sẽ biến thành tứ cực (cực Nga—Mỹ, cực Tàu—Nhật, cực Tây Âu—Đông Âu, và cực A Rập—Phi Châu) không chỉ dựa trên sức mạnh kinh tế, tài chánh, mà còn dựa trên màu da, sắc tộc: Hai khối da trắng, một khối da vàng và một khối da đen.

Trong bối cảnh mới của thế giới, chúng ta có thể tiên đoán về tương lai của Việt Nam. Ngoài đặc điểm đầu cầu chiến lược của hải cảng Cam Ranh và Đà Nẳng, hoàn cảnh lịch sử cận đại của Việt Nam khác với hoàn cảnh lịch sửTrung Cộng. Trận “ĐạiThắng Mùa Xuđn” đã giúp người dân miền Bắc nhận thấy được sự tuyên truyền bịp bợm của Bác và Đảng, và người dân miền Nam vỡ tan ảo giác Thiên Đường Cộng sản. Nội bộ bị chia rẽ phân tranh. Tình trạng kinh tế kiệt quệ. Sự phụ thuộc vào quỹ đạo Nga Sô. Kháng chiến Campuchia hùng mạnh. Âm mưu lũng đoạn Việt Nam của Trung Cộng. “Củ cà rốt Tư Bản” của Mỹ. Và lực lượng hùng hậu của người Việt hải ngoại. Tất cả những yếu tốđó sẽ giúp cho những cuộc biểu tình, đình công, bải thị qui mô có lãnh đạo tốt tại Việt Nam thành công một cách dễ dàng và nhanh chóng nếu được người Việt hải ngoại và các tổ chức chông cộng ngoại quốc, đặc biệt thế giới tự do, giúp đỡ tài chánh.

Chiến tranh quân sự giải phóng không còn hợp thời. Đấu tranh chính trị đẫ trở thành cao trào của thế giới. Những nước tự trị tại Nga, những nước Đông Âu là những mẫu mực cho cao trào cách mạng mới. Việt Nam nhất định sẽ lật đổ được Chế độ độc tài Cộng sản bằng People’s power, nhưng tự do chỉ là mục tiêu của nửa đoạn đường tranh đấu đầu, no ấm và hạnh phúc mới là mục tiêu tối hậu của loài người. Những người Mỹ thất nghiệp nghèo đói là hình ảnh của những người có tự do nhưng thiếu no ấm, và một số người Việt Tị nạn tại Mỹ tương đối sung túc nhưng vẫn cảm thấy bất hạnh là bằng chứng của sự có tự do, có no ấm, nhưng thiếu hạnh phúc. Muốn có đủ ba yếu tố: “Tự Do — No Ấm — Hạnh Phúc” những căn bản chính thức để đem lại hòa bình, thịnh vượng cho loài người, toàn thế giới cần có một học thuyết mới cải tổ toàn bộ những cơ cấu sai lầm của xã hội, gia đình, và những tư tưởng, định kiến lỗi thời của mỗi một cá nhân, mỗi một con người. Học thuyết đó được trình bày tổng quát qua ba bài Tiểu luận: (1) Trật Tự Thế Giới Mới vs. Hỗn Loạn Thế Giới Mới; (2) Giải Pháp Suy Trầm Kinh Tế Mỹ và (3) Thế Giới Tân Plato.

Chuẩn Bị Vượt Ngục Nhà tù Singapore

Bị giữ cả tháng tại Phòng Tạm giam của Immigration Department của Singapore mà vẫn chưa được giải quyết để chuyển ra Trại Tị nạn Singapore, tôi đã có ý định vượt ngục bỏ trốn. Ý định đó được tăng cường thêm khi một hôm đem dấu các muỗng ăn cơm trong nhà cầu tôi bất chợt bắt gặp một chiếc chìa khóa. Trại giam không những cấm chứa chấp các dụng cụ bằng sắt, mà ngay chính cái muỗng ăn cơm chúng tôi phải bẻ từ một cái ly nhựa và mài thành muỗng để dùng khi ăn cơm bởi vì Cai tù chỉ cho tù ăn bốc bằng tay. Không hiểu cái chìa khóa nầy của ai, ở đâu ra, nhưng đợi khi các bạn tù khác đã ngủ và các tên gác đang ở ngoài phòng trực, tôi lấy tra thử vào ổ khóa và thật tuyệt, ổ khóa được mở ra dễ dàng. Như vậy thật thuận tiện cho giai đoạn đầu, bởi vì nếu không có chìa khóa, tôi phải khổ công bẻ tấm lưới sắt ở tường nhà giam để chui ra.

Phía mặt tường nầy nằm sát đường lộ lớn, vì vậy chỉ cần có giây đu leo xuống là đã ra khỏi phạm vi Nhà giam. Tuy nhiên, đi trốn lối nầy khó khăn vì tấm lưới sắt khá dày và con đường bên ngoài lại tấp nập nhộn nhịp. Nếu mở khóa trốn theo đường bên trong thì tôi lại phải tìm cách mở thêm một cánh cửa sắt khác. Cửa sắt nầy cuốỉ dãy hành lang và có cầu thang đi xuống sân chính nằm giữa các phòng làm việc của cơ quan Immigration. Đối diện với cánh cửa sắt nầy là một cánh cửa sắt khác nằm đầu hành lang, nơi được dùng để đưa tù ra vào, và cạnh đó, khuất bởi góc tường là phòng trực của các Lính gác Nhà giam. Dự trù trong một đêm tối, tôi sẽ dùng chìa khóa lượm được mở thử cánh cửa sắt cuối hành lang, nếu mở được tôi sẽ tẩu thoát.

Trốn đi đâu? Đó là câu hỏi có giải đáp sẵn hôm hai Lính Hải Quân Mỹ vừa bị đem nhốt chung phòng vào một buổi chiều tối. Hai anh Lính trẻ thuộc Hàng không Mẫu hạm Hoa Kỳ ghé bến tại Singapore, bỏ tàu ra Singapore chơi dù không có giấy phép. Tôi hỏi dò thì được biết Hàng không Mẫu hạm đậu không xa lắm từ Cảng Singapore. Như vậy, tôi sẽ trốn về bến cảng và bơi ra Hàng không Mẫu hạm để xin tị nạn. Tôi nghĩ rằng Hạm trưởng và các Phi công Mẫu hạm sẽ thông cảm và sẵn lòng giúp đỡ một Phi công Đồng minh cũ. Lên được Mẫu hạm là lên được phần lãnh thổ chủ quyền của Hoa Kỳ, như vậy Singapore sẽ không có quyền làm khó khăn, và tôi sẽ được đi Mỹ dễ dàng nhanh chóng. Nhưng ý định chưa kịp thực hiện thì tôi được gọi thông báo chuẩn bị lên đường đi Trại Tị Nạn Galang ở Indonesia.

Sáng ngày 16 tháng 3 năm 1983, tôi được hai Sĩ quan Cảnh sát Singapore đưa từ Nhà tù thẳng ra bến tàu. Hạnh phúc nhỏ, cuối cùng tại hòn đảo nhỏ xinh xắn Singapore là được Caroline, một cô gái Mỹ trẻ, xinh đẹp, tâm hồn hài hòa Âu-Á làm việc cho UNHCR thường lệ hàng tuần ghé nhà giam thăm tôi, đang chờ đợi tôi tại
bến tàu để tiễn đưa tôi đi Indonesia và tặng tôi cuốn sách War and Peace của L. N. Tolstoy. Nhà giam nghiêm cấm đủ mọi thứ, nhưng tôi vẫn lén dấu được viết và giấy để tập tễnh làm bài thơ bằng Anh Ngữ đầu tiên trong mô hình của chiếc phản lực cơ để tặng Nàng, người con gái tôi đã một lần “tỏ tình” trong dịp Caroline viếng thăm Vạn Lý Trường Thành với câu: “Nhan sắc yêu kiều diễm lệ của em đã làm lu mờ tất cả những kiến trúc mỹ thuật vĩ đại nhất của nền văn hóa mấy ngàn năm lừng lẫy của Trung Quốc.”

(Bài thơ lay-out theo hình phi cơ F5 với chữ KINDNESS là mũi phi cơ, chữ VIETNAM và LY TONG là hai Hoa Tiễn ngoài hình bản đồ VN tại đuôi phi cơ.) 

YOUR KINDNESS

(Viết tại phòng tạm giam của Trung Tâm Di Trú Singapore để tặng Caroline, cô nhân viên UNHCR người Mỹ.) 

My head is toughly hard

But my heart’s pretty soft

       So, it’s easily touched VIETNAM

       Even with a slight flirt

       Your kindness is something

       It’s stronger but it’s smooth          

       It does not expose

       But it’s felt so good

       It does not self-boast    

       But it’s understood

       It  comes very slow

       But it overflows very fast

       It looks like the absence

       But its existence’s obvious

       It sounds like the silence

       But its echo’s deep-heard LY TONG

       It seems like nothing

       But it means everything

Đoạn Kết

Chiều ngày 16 tháng 3 năm 1983, một chiếc ca nô vượt biển đi đón một người tị nạn duy nhất, Lý Tống, từ cảng Indonesia về Galang. Một chiếc xe jeep do chính Viên Trưởng phòng Cảnh sát Nam Dương thuộc Trại Galang đích thân ra bến tàu đón Lý Tống về Trại, và trên đường, ông dừng xe tại một quán ăn Việt Nam chiêu đãi Lý Tống một chầu nhậu. Hội Ái Hữu Không Quân tại Galang lại được phép Trại tổ chức một Tiệc rượu để chào mừng Lý Tống (mặc dù lệnh cấm rượu đang được thi hành nghiêm ngặt) và các Chiến hữu đã nhiệt tình phát biểu:

— Đọc báo nghe nói về cuộc hành trình độc nhất vô nhị của một Phi công phản lực tên Ly Van Tong, tụi tao đã đánh cá là chỉ có Lý Tống mới làm được chuyện kinh thiên động địa nầy chứ chẳng phải Ly van Tong nào hết.

Ngày hôm sau, các nhân viên UNHCR đến quay phim và thết đãi người tị nạn nổi tiếng qua hai số báo của tờ The Wall Street Journal về Vietnamese Odyssey với lời tiên đoán: He’ll probably be mayor of Santa Anạ inside 10 years. Sau đó đặc phái viên của tờ Reader’s Digest đã bay từ Hongkong sang Indonesia để phỏng vấn và viết bài dài tám trang: Ly Tong’s Long Trek to Freedom.

Lý Tống đã tặng lại toàn bộ số tiền tờ Reader’s Digest trả công phỏng vấn cho các Hội Đoàn tại Trại Tị Nạn Galang và tổ chức một buổi Tiệc và Dạ vũ chiêu đãi các Chiến hữu. Tổ chức khiêu vũ thường chỉ dành riêng cho cơ quan UNHCR và Ban Chỉ huy của Trại Galang mà thôi.

Ngày 25 tháng 8 năm 1983, Lý Tống rời Galang đi Singapore và lên đường đi Mỹ Quốc. Ngày 1 tháng 9, đúng ngày Sinh nhật, Lý Tống đến Boston, Massachusetts và được một gia đình người Mỹ ái mộ tổ chức Sinh nhật cho Lý Tống.

Lý Tống nộp đơn xin học Khoa Chính trị tại Đại học Harvard nhưng không thành công vì học phí quá cao (gần 20,000 dollars một năm) và đơn xin học bổng không được chấp thuận vì không có Hồ sơ học bạ.

Trước khi rời Boston về California, Lý Tống tuyên bố:

— Hôm nay tôi xin làm học trò, Harvard không nhận. Ngày mai Harvard mời tôi về làm thầy, tôi cũng sẽ không nhận.

Lý Tống đã đi xuyên bang từ Boston về New York, Texas, California để thăm bạn bè và dành thì giờ viết cuốn hồi ký này và dịch sang tiếng Anh tựa đề Black Eagle

Năm 1984, Lý Tống dừng chân tại New Orleans, Louisiana làm quản lý cho một Night Club một thời gian, bắn chết một tên cướp Mỹ đen, và sau đó bắt đầu dành thì giờ ghi tên học Khoa Chính trị tại trường Đại Học New Orleans.

Tại New Orleans, toàn thể Nghị viên Hội Đồng Thành Phố đã trao tặng Lý Tống một bằng khen về sự can đảm của người Phi công phản lực:

“The Council herby commends Mr. Ly Tong for his bravery in escape and his commitment to the principle of freedom in the face of overwhelming odds. ” Tổng Thống Ronald Reagan trong một bức thư gửi Lý Tống đã viết: “Your courage is an example and inspiration to all who would know the price of freedom. ”

Để  bù lại những năm chinh chiến rày đây mai đó xông pha lửa đạn với những phi vụ hiểm nghèo không có thì giờ và cơ hội tiếp tục cắp sách đến trường và để chuẩn bị kiến thức và kinh nghiệm cho cuộc đấu tranh trong tương lai, Lý Tống dành 9 năm dùi mài kinh sử, tốt nghiệp các văn bằng Cử nhân, Thạc sĩ và hoàn thành Luận án Tiến sĩ Khoa Chính trị chuyên ngành “Bang Giao Quốc Tế” và “Chính Trị Thế Giới’”tại trường Đại Học New Orleans và được Nhà Sử gia Mỹ danh tiếng, Tiến sĩ Ambrose, khen tặng:

— Ly Tong like “Ike” Eisenhower, a fighter for freedom, a hero from another war.

— In 25 years of teaching, I have never had a student graduate of whom I was prouder.

Phụ Lục 

  1. I. Phần văn và thơ của Lý Tống

— Lời kêu gọi trừ gian diệt bạo của Lý Tống (báo Văn Nghệ Tiền Phong)

— Tường trình từ New Orleans (báo Đời)

— Con đường ngắn nhất (Sách Những Kẻ Nội Thù)

— Những ngày sinh nhật (báo Lý Tưởng)

— Người về từ cõi chết (Tiếng Nước Tôi)

— Trong mơ ta thấy Việt Nam (Người Việt)

— Những rung cảm mùa xuân (báo Không Quân)

— Người về (Người Việt)

— Ga Lăng tình xù (báo Lý Tưởng).

  1. Phần thư bạn hữu

— Sổ Tay của Trương Thiên (báo Đời)

— Lời khen tặng của Sử gia Tiến sĩ Ambrose

— Thư Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh

— Thư Trung tá KQ Trần N. Chấn

— Thư Dương Ngọc Cư

— Thư Đại úy KQ Nguyễn Bảy

— Thơ của nữ thi sĩ người Anh gốc Ấn Ashoka Tiagi.

III. Phần thư và thơ tình

— Thư của Esther, Phi Luật Tân

— Thư của Minh T., đảo Galang

— Thư của T. Hương, đảo Pulau Bidong

— Thư của Ánh H., Lomita

— Thư của Ngọc M., Baton Rouge

— Thơ của Thu H., Mission Viejo

— Thơ cho N.B.

— Thư của N.B., Miami Beach

— Thư và thơ của Hạnh, Sài Gòn

  1. IV. Phần báo chí Việt Nam và ngoại quốc

— Mẫu phim truyện Trên Đỉnh Tình Yêu (Lý Tống đạo diễn và diễn viên).

— Headline’s về cuộc vượt biên của Lý Tống trên các tạp chí Việt ngữ phát hành tại Mỹ, châu Âu, châu Úc, Canada.

— Tóm lược thư và điện tín bảo lãnh và offer job cho Lý Tống từ các Công ty lớn tại Mỹ.

— Headlines về cuộc vượt biên của Lý Tống trên các nguyệt san ngoại quốc trên khắp thế giới.

— Trích hai bài báo đăng trên The Wall Street Journal

— Bài báo đăng trên nguyệt san Reader’s Digest tại Hoa Kỳ.

— Bài báo đăng trên Selection tại Pháp.

— Bài báo bằng Hán văn phát hành tại Hồng Kông.

— Bài báo đăng trên Das Beste, tiếng Đúc, tại Áo Quốc.

— Bài báo đăng trên Selecciones, tại Mễ Tây Cơ.

— Bài báo đăng trên Hot Best tại Hòa Lan.

— Bài báo đăng trên Selecoes, tại Brazil.

— Reader’s Digest tại úc Đại Lợi.

— Reader’s Digest tại Hồng Kông.

Chuyện vượt biên bằng đường bộ của Lý Tống được phổ biến tại 41 quốc gia trên thế giới bằng 17 tiếng ngoại quốc (chưa kể đài VOA và BBC).

Ngoại trừ bảy ngôn ngữ: English, Spanish, Portuguese, French, German, Dutch và Chinese đã đăng trong phần phụ lục, còn mười ngôn ngữ khác gồm có: Swedish, Finnish, Norwegian, Danish, Japanese, Italian, Korean, Arabic, Hindi và Greek.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply