This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Khánh Băng là một trong những nhạc sĩ ở miền Nam, bắt đầu sáng tác và nổi tiếng giữa thập niên 50, sau hiệp đinh Genève chia đôi đất nước. Người ta còn nhớ vào thời ấy, ngoài sân khấu các rạp hát, Sài Gòn còn luôn rộn ràng vì những buổi phụ diễn ca nhạc kịch tại các rạp ciné trước khi chiếu phim. Khánh Băng giống như một con thoi tới lui từ rạp này đến rạp khác, trên chiếc vespa. Với chiếc áo sơ-mi hoa ông thường mặc, Khánh Băng có vẻ một người Phi Luật Tân với nước da ngăm đen và vóc dáng khá cao lớn. Khánh Băng đóng vai trò gì trong các buổi diễn ấy?
Hình như ông có xuất hiện trên các sân khấu với tư cách một ca sĩ. Nhưng trong trí nhớ của nhiều người thời bấy giờ, ngón đàn của ông mới để lại nhiều ấn tượng. Khi ấy, đàn guitar điện còn là một cái gì mới lạ đối với các khán giả Việt Nam. Khánh băng nổi tiếng với cây guitar điện của ông.
Về sáng tác, Khánh Băng viết được khá nhiều ca khúc. Đã có một dạo, người ta có thể nghe thấy nhạc của Khánh Băng khắp hang cùng ngõ hẻm ở Sài Gòn với cả những lời ca thiên hạ bịa đặt nữa. Một trong những ca khúc được hát nhiều nhất của Khánh Băng là bài Tiếng Mưa Rơi:
Giọt mưa rơi nhuộm tím bầu trời
Gió đêm vi vu muôn ngàn lời
Mấy ai yêu thương nhau trọn đời
Gió ơi!
Tình yêu xin đừng đến làm gì
Đến chi cho đau thương ngập tràn
Lắng nghe tiếng mưa rơi bàng hoàng
Gió ơi!
Trường hợp Khánh Băng cũng là một trường hợp lạ. Mặc dầu được hát nhiều như vậy, biết nhiều như vậy, nhưng lại cũng có những khoảng thời gian nhạc của ông biến mất, không thấy ai hát hay nhắc nhở tới. Rồi đột nhiên nó lại được hát được nghe trở lại, trên cả các làn sóng điện, các
sân khấu và các khu phố. Còn có thể nói thêm điều này: rất ít người thuộc trọn một ca khúc của ông, mặc dù người ta cho rằng nhạc ông hay. Có những người hát nhạc ông, hát chơi thôi, nhưng lại không biết ông là tác giả. Những người khác biết Khánh Băng là tác giả nhưng lại không nhớ rõ tên một ca khúc nào của ông hoặc nhầm bài nọ với bài kia.
Như thế, có thể ví Khánh Băng như ngôi sao lúc ẩn lúc hiện trên nền trời ca nhạc Việt Nam.
Chiều Nay gió đông về
Dừng chân trên bến xưa
Đời trai gió sương về thăm cố hương
Tìm bao nhớ thương
Mà sao phố phường vắng
Tình sầu lạnh buốt đêm trường
Rồi ngày mai sẽ ra đi phương trời
Biết đâu cuộc đời vạn nẻo từ ly
Biết đâu cuộc đời ngày mai đổi thay
Mà tôi vẫn nhớ
Nhớ … nhớ …
Phút giây ban đầu
(Sầu Đông)
Nói chung Khánh Băng không viết gì ngoài tình ca. Nhạc của ông cũng luôn có vẻ gì đó nô nức, rộn rã, dù ông nói tới một cảnh chiều quê hay một cuộc chia tay. Đại đa số nhạc của chúng ta đều là những ca khúc, nghĩa là có phần lời ca. Vì vậy, trừ khi chưa nghe hát lần nào, chứ nếu đã nghe rồi, đã lõm bõm thuộc vài ba câu, thì dù phần nhạc có được trình tấu hoàn toàn bằng các nhạc cụ không thôi, người ta vẫn luôn nghe thấy phần lời ca lẩn
khuất ở bên dưới, ở đằng sau. Như thế, có vẻ như ca từ vừa giúp cho người nghe tiếp nhận nhạc một cách dễ dàng hơn vừa hạn chế sự bay bổng của trí tưởng tượng.
Chẳng hạn khi người ta viết: Một dòng sông xanh …(Phạm Duy) thì cùng một lúc người ta cũng ấn định cái màu xanh ấy vào trí tưởng của người nghe, không còn thay đổi được nữa. Trên thực tế không thể có một dòng sông màu sắc không thay đổi trong mọi thời tiết, thời khắc. Ai cũng biết vậy. Cũng không có ngoại lệ đối với nhạc Khánh Băng. Tuy nhiên, nghe hòa tấu nhạc Khánh Băng người ta có cảm tưởng cái phần trì kéo của lời ca nhẹ hơn. Song cũng vì thế, có người cho rằng, lời ca của Khánh Băng không hoàn toàn hợp nhất với nhạc của ông. trở hơn nữa. Chỉ nói về âm nhạc thôi thì sự cấm đoán hay cho phép phổ biến một số bài nào đấy ở nơi này hay nơi khác, phần lớn lại hoàn toàn căn cứ trên những lý do nghệ thuật, tác phẩm thất lạc, nhiều khi chỉ còn được lưu giữ bằng trí nhớ của các cá nhân, rất dễ dẫn đến tình trạng tam sao thất bản. Ngay cả khi tác giả còn quanh quất đâu đó, người ta vẫn thấy những ca khúc được ghi âm sai rất nhiều với nguyên bản, cũng chẳng được sửa chữa hay cải chính. Sự việc cũng không biết giải thích thế nào.
Những người yêu nhạc cho biết, có khoảng hơn một chục bài hát của Khánh Băng được ghi âm ở hải ngoại này. Tuy vậy, có thể nói, sự nổi tiếng không tương xứng với tài năng của ông. Nhưng ở một mặt khác, điều đó lại có nghĩa là một hứa hẹn, số người nghe và yêu nhạc của ông chưa ngừng lại ở con số đã có như hiện nay.
Nhưng thế nào là một lời ca hoàn toàn hợp nhất với nhạc? Đó là một câu hỏi không dễ trả lời. Với tài năng của Phạm Duy và Ngày Đó Chúng Mình thì “Ngày đó có em đi nhẹ vào đời” và “Ngày đó có em ra khỏi đời rồi” không có một chút gì tương phản, gượng ép, dù có nằm chung trong một khuôn nhạc, một cung bực. Ý nghĩa của một tác phẩm nghệ thuật chính là những cảm xúc nó tạo ra cho người thuởng ngoạn. Hoàn cảnh đất nước chúng ta gây ra nhiều khó khăn trong mọi sinh hoạt. Riêng đối với sinh hoạt văn học nghệ thuật càng nhiều trắc trở hơn nữa. Chỉ nói về âm nhạc thôi thì sự cấm đoán hay cho phép phổ biến một số bài nào đấy ở nơi này hay nơi khác, phần lớn lại hoàn toàn căn cứ trên những lý do nghệ thuật, tác phẩm thất lạc, nhiều khi chỉ còn được lưu giữ bằng trí nhớ của các cá nhân, rất dễ dẫn đến tình trạng tam sao thất bản.
Ngay cả khi tác giả còn quanh quất đâu đó, người ta vẫn thấy những ca khúc được ghi âm sai rất nhiều với nguyên bản, cũng chẳng được sửa chữa hay cải chính. Sự việc cũng không biết giải thích thế nào.
Những người yêu nhạc cho biết, có khoảng hơn một chục bài hát của Khánh Băng được ghi âm ở hải ngoại này. Tuy vậy, có thể nói, sự nổi tiếng không tương xứng với tài năng của ông. Nhưng ở một mặt khác, điều đó lại có nghĩa là một hứa hẹn, số người nghe và yêu nhạc của ông chưa ngừng lại ở con số đã có như hiện nay.
Vọng ngày xanh
Trời mưa gió lá cây tơi bời khắp nơi,
Tan nát bao cánh hoa tươi bên thềm gió chiều thét gào não nề
Ôi trời mưa gió điêu tàn gieo bao đau thương
Người nghệ sĩ âm thầm trong đêm gió mưa
Mơ màng nâng tiếng tơ đàn dịu dàng
Cho hết bao niềm hận sầu kiếp người lạc loài
Gợi tình quê hương với bao nhiêu lời thương nhớ
Tình xưa ấy bấy lâu phai mờ dáng ai
Quê cũ nay cách xa ôi muôn trùng
Xế trời gió chiều lạnh lùng
Ôi trời mưa gió điêu tàn gieo bao đau thương
Ngoài xa vắng quay về quê hương dấu yêu
Mong người mẹ chớ ưu sầu làm gì
Khi chí trai nặng lời thề quyết diệt giặc thù
Biên thùy xa xôi biết tìm lại nơi chốn nao
Lòng chạnh nhớ đêm nào ngắm trăng vàng chiếu bên bờ nước xanh mơ hồ
Lòng chạnh nhớ đồng lúa xanh chiều ấy ta nhìn cánh chim trời bay
Lòng chạnh nhớ xuân nào ngắm xuân về bao mạch sống xuân chan hòa
Tình xưa ấy êm đềm với bao niềm nhớ nhung còn lắng sâu muôn đời
Ngày xưa ấy mỗi khi trăng mờ lối đi
Ta nắm tay hát vang câu yêu đời với ngàn tiếng đàn nhịp nhàng
Con thuyền êm lướt trên dòng trong đêm trăng thanh
Trào Lòng của Hữu Hiệp và Hữu Châu là cơn say đầu tiên trong nhạc của chúng ta. Mười lăm, hai mươi năm sau mới có những bản nhạc
say khác: Cái Áo The Thâm Tàng của Đan Trường, Say! Say! Say! của Hoàng Trọng. Người sáng tác nhiều, tác phẩm của họ như hoa trái của một cái cây. Tác phẩm duy nhất của một người có vẻ gì đó giống như chân dung của người ấy.
Tựa và có vẻ thôi. Không định nghĩa nào chính xác.
Tuy lão già đã chết rồi, đã được đào sâu chôn chặt, con cháu vẫn còn phải nhắc nhở đến, chưa thể quên ngay được, vì còn phải ba năm tang chế. Suốt một trăm ngày, kể từ hôm hạ huyệt, ba ông con trai phải đi giày trắng, ngoài bách nhật được phép đi giày vải xám, trai gái, dâu con không được dùng quần áo tơ lụa suốt ba năm cho đến ngày làm lễ trừ phục. Anh Cả đã lo liệu thuê may tang chế cho tất cả nhà, lớn, bé. Bây giờ quyền huynh thế phụ, khi nào ngồi cùng với các em, anh trịnh trọng ngồi trên, ăn nói dõng dạc, to tát; anh tuyên bố gì, hai em phải ngồi im để nghe, đặc biệt anh Hai mồm nhỏ môi cong, có vẻ khinh khỉnh tự đắc, khôn ngoan, lanh lợi hơn anh Cả. Còn mồ ma Vương Long, ông cụ tin cậy hơn, vị anh biết xếp đặt, suy tính công việc, chỉ có mình anh biết rõ nhà có bao nhiêu tá điền, biết ước lượng mỗi vụ lúa, thu hoạch được bao nhiêu. Chú Ba nghe anh Cả tuyên bố gì, chú làm như một người mới tập nghe hiệu lệnh, chỗ nào đáng để vào tai thì để, tuy chú ngồi đó mà tâm hồn ở đâu đâu, nhấp nhỏm ý chỉ muốn đi.
Tất cả ba anh em đều mong chóng đến ngày chia gia tài, cả ba đều đồng ý nhất định phải chia, anh nào trong thâm tâm cũng đã hoạch định sử dụng phần của mình. Anh Hai, chú Ba không muốn tất cả gia tư điền sản vào cả tay một người anh Cả nắm giữ, như thế các em còn bị lệ thuộc, chi phối. Ba anh em, ai cũng có ý thầm kín về phần của mình, anh Cả không hiểu về phần mình thế nào, liệu có đủ ăn, đủ tiêu trong nhà không? Có đủ cung phụng hai bà vợ và một lũ con không? Lại còn những thú riêng tây, thầm vụng, quen rồi khó chừa lắm. Anh Hai buôn bán thóc lúa đã thạo, quen nhiều bạn hàng, lại biết có tiền cho vay lãi, nên cũng nóng ruột về chia
gia tài để khuếch trương thương mại. Còn chú Ba thì lạ quá, lầm lầm, lì lì, mặt mũi lúc nào cũng đăm đăm, chỉ nóng lòng, nóng ruột đi, không ai đoán
được ý muốn đi đâu, phần gia tài làm gì? Chưa ai dám bén mảng thăm dò ý kiến. Trẻ nhất trong ba anh em, mà suốt cả nhà lại kiêng nể nhất, chú gọi ai một tiếng, ở đâu chạy lại cho mau, sai bảo gì răm rắp làm ngay, không như đối với anh Cả tuy lớn nhất trong nhà, ăn nói dõng dạc oai nghiêm mà họ lại lần khân coi thường.
Vương Long đã sống lâu nhất họ, cùng vai với hắn chẳng có ai, họa chăng còn sót một người anh em thúc bá đi lính đã lâu, gọi là đi lính chứ thực ra, nhập bọn vào một tụi lục lâm cướp bóc. Nghe nói chủ tướng đối xử cũng khá, đã lâu lắm không có tin tức sống chết thế nào! Ba anh em cũng nhẹ mình về khoản này và cầu đừng có ai nhắc đến làm gì, vậy suốt họ không còn ai nhiều tuổi, vai trên, theo tục lệ phải tìm trong lân bang, quen thuộc có người nào đạo mạo, có danh vọng mời lại làm chủ tọa, “trọng tài” buổi họp gia tộc để phân chia gia sản.
Một buổi chiều, mấy anh em ngồi chơi nói chuyện, bàn tán xem nên mời ai đến làm chủ tọa.
Anh Hai nói:
– Theo ý tôi, ngay gần đây có một người có thể tin cậy được, chẳng ai xa lạ, ông Lưu buôn thóc, ông thân của chị Cả nhà, nên mời ông ta, ông này có tiếng trung thực thẳng thắn mà nhà cũng khá giả, không còn sợ sách nhiễu.
Anh Cả nghe nói, ý không bằng lòng vì trái với tôn ti. Đúng ra anh mới là người có quyền phát biểu trước. Anh sầm mặt lại:
– Tôi phiền quá, tính chú hay lắp bắp, tôi định nói, chú tranh lời nói trước. Kể chú nói nghe cũng được, tôi cho mời ông cụ sinh ra mẹ các cháu, nhưng từ rày chú nhớ bao giờ tôi có hỏi, chú mới được nói, đừng có nói leo.
Nói xong anh Cả thở mạnh, cong đôi môi dày, nguýt dài. Anh Hai cắn chặt môi dưới cố nín cười.
Anh Cả ngoắt đầu sang phía chú Ba hỏi:
– Còn chú, ý thế nào?
Chú Ba ngước mắt nhìn, có vẻ hợm hợm, nói bâng quơ:
– Thế nào cũng được, đã định làm thì làm ngay đi.
Anh Cả đứng dậy, ý muốn thi hành ngay cho xong, nhưng anh đã đứng tuổi, làm gì mà vội quá thì hay cuống, cả đến khi đi nếu đi vội quá, chân tay cũng bị luống cuống. Mọi công việc được xếp đặt ổn thỏa, ông Lưu nhận lời
sang làm trọng tài. Ông vẫn thường khen Vương Long khéo biết “tề gia”.
Ba anh em lại mời xung quańh hàng xóm những người có địa vị, cả mấy ông tai to mặt lớn trong tỉnh, vừa giàu, vừa có quyền thế. Tất cả họp ở gian phòng rộng nhất nhà Vương Long, phân ngôi thứ tự cao thấp, ngồi họp bàn hội nghị.
Ông lái thóc (ông Lưu) ngồi ghế chủ tọa bảo anh Hai trình tờ kê khai gia sản, ruộng vườn, đất cát, của chìm của nổi. Anh Hai đứng dậy, trịnh trọng trao tận tay anh Cả tờ khai, anh Cả kính cẩn đệ trình lên chủ tọa. Chủ tọa nghiêm nghị mở to tờ giấy trên bàn, đặt lên mũi cặp mục kỉnh gọng đồng lẩm bẩm đọc. Cử tọa ngồi im phăng phắc, chăm chú nhìn lên bàn hội đồng làm việc. Chủ tọa dọn giọng đọc lớn tờ khai gia sản. Toàn thể cử tọa, ai cũng sửng sốt vì Vương Long để lại một cơ nghiệp thật hùng vĩ, lớn nhỏ có hơn 800 thửa ruộng. Thật ít khi nghe thấy một người hay một họ có nhiều của cải đến thế. Ngoài ra, xưa kia có nhà họ Hoàng tiếng tăm lừng lẫy là giàu có, anh Hai biết rõ đã lâu, anh không ngạc nhiên, còn mọi người ai cũng kinh ngạc nhưng cố giữ vẻ bình tĩnh.
Riêng có chú Ba là thản nhiên, không thấy đổi sắc diện. Chú không để ý, tâm hồn vẫn như ở đâu đâu, chỉ mong công việc cho chóng xong để rồi lại đi. Ngoài ruộng nương đất cát, lại còn hai ngôi nhà, một nếp nhà ở quê và một tòa nhà lớn ở tỉnh tậu khi xưa của nhà họ Hoàng. Giòng họ này bị sa sút, con cháu phiêu bạt. Nào nhà, nào ruộng, ấy là chưa kể những món tiền lớn cho vay, cho mượn rải rác khắp nơi, lại còn số vốn lớn buôn thóc, những bao tải bạc nén chôn, nghĩa là riêng số tiền mặt cũng đã quá nửa của chìm. Cái gia tài đồ sộ đó, trước khi đem ra chia cho ba người cần phải định đoạt, xếp đặt cho xong, cho ổn thỏa những món phần cấp dưỡng. Có mấy món nhỏ cấp dưỡng cho vài người tá điền (cựu bộc) duy có hai món lớn về phần của hai người nàng hầu của Vương Long. Liên xưa kia làm ở một phòng trà, nom cũng có mẽ, Vương Long thấy vừa mắt chuộc ra, cô ả cũng khéo biết chiều chuộng.
Vương Long chê bà vợ cả quê mùa cục mịch, nên ơ hờ bỏ lửng, không hỏi han đến. Hoa Lê chỉ là một nữ tỳ, Vương Long mua về để sớm hôm hầu hạ đấm bóp. Cả hai, ả Liên và Hoa Lê, không được đứng vào hàng thiếp (vợ lẽ) chỉ được xếp vào hạng nàng hầu, con ở. Đã là nàng hầu, nếu chẳng may ông chủ quá cố, mà hãy còn ít tuổi, có thể được đi kiếm chồng, không ai nói năng chê trách làm gì. Cảba anh em cũng hiểu nếu hai cô ả này không chịu đi, ở lại – mà họ có quyền ở lại – phải nuôi họ ăn, nuôi họ mặc, cho trọn đời mãn kiếp. Á Liên dĩ nhiên không thể nào tấp tễnh đi lấy chồng, vừa già vừa phục phịch, được ở lại có người phải nuôi báo cô là toại nguyện lắm rồi.
Khi chủ tọa đọc đến tên ả (ả ngồi ở ghế gần cửa) vội vàng nhỏm dậy, hai tay vịn vai hai con ở, lấy ống tay áo quệt nước mắt, nói với một giọng nghe đến bi ai não ruột:
– Ới quan ơi! Quan bỏ con quan đi đâu, con bơ vơ, con còn thiết gì, mơ tưởng gì đến ai, con biết đi đâu bây giờ, hỡi quan ơ ơ ơi (hu hu)!
Vừa nói vừa khóc, thổn thức nghẹn ngào trong họng:
– Ngần này tuổi đầu ăn được là bao, mặc được là bao, thỉnh thoảng nhấp một tí rượu, hút một điếu thuốc cho lòng đỡ trống trải cơ cực, ba ông con quý tử của quan cũng chẳng hẹp lượng gì với con.
Chủ tọa (ông lái Lưu) tính hiền hòa chất phác, tưởng ai cũng tốt cả, nhìn cô ả động lòng trắc ẩn, ái ngại không biết lai lịch gốc tích cô ả, chỉ biết ả là nàng hầu của ông bạn cố tri, chẳng may đã thất lộc.
Ông ôn tồn phủ dụ:
– Chị ăn nói nghe được, thiên hạ ai cũng biết cụ cố đây là người phúc hậu. Tôi quyết nghị:
– Cho phép chị ở đây, mỗi tháng cấp cho chị Hai mươi nén bạc, cho chị có đầy tớ riêng và mỗi năm cấp thêm vài súc vải.
Nàng cố lắng tai nghe, không bỏ sót một câu, một chữ, đưa mắt nhìn ba ông con trai Vương Long rồi thất thanh nàng nói lớn:
– Có hai chục nén thôi à! Thật con không đủ tiền quà, con ăn uống độ này kém quá, cơm nước sô pha không sao nuốt được.
Chủ tọa sửng sốt, rút đôi mục kỉnh đặt xuống bàn, nhìn thẳng vào ả, nghiêm nghị nói:
– Nhiều gia đình cũng giàu có, khá giả, vào trường hợp này, hạng như chị may lắm chỉ được một nửa chỗ tôi quyết nghị. Tôi xử thế là hậu lắm rồi.
Cô ả không còn biết nói thế nào, bù lu, bù loa khóc lóc kể lể:
– Ối trời ơi! Quan bỏ con quan đi đâu để con bơ vơ vất vưởng biết nương tựa trông cậy vào ai … hu hu!
Chị Cả đứng gần đó, nấp sau bức rèm, tức chịu không nổi, vạch rèm ra hiệu cho chồng, ý muốn bảo: trước mặt quan khách một chỗ trang nghiêm, không thể để nó lộng hành quá thế được. Liên khóc lóc, kể lể, thảm thiết ghê gớm quá làm anh Cả ngồi không yên, anh cố hết sức tránh không được, không muốn nhìn ả.
Anh đứng dậy, hướng về chủ tọa, nói lớn át tiếng ồn ào:
– Xin chủ tọa tăng thêm cho hắn ít nhiều.
Anh Hai nghe chướng quá, đứng dậy nói lớn:
– Nếu cần phải cho ả thêm xin rút ở phần anh Cả. Hai mươi nén quá rồi, thừa tiền đánh bạc.
Anh Hai nói thế vì Liên càng về già càng ham mê cờ bạc, mê quá nhiều khi quên cả ăn cả ngủ.
Chị Cả vô cùng phẫn uất giơ tay múa chân, ra hiệu cho chồng đừng có nghe, chị lầm bầm nói lớn:
– Có cấp dưỡng, thì cấp cho cô nhi quả phụ, hạng ấy là cái thớ gì mà cũng ỉ eo.
Buổi họp đang phẳng lặng, bỗng đột nhiên huyên náo ồn ào. Chủ tọa lúng túng chưa biết phân xử thế nào, đưa mắt nhìn khắp mặt cử tọa. Liên được thể càng làm hăng, ồn ào quá, mọi người ai cũng thấy khó chịu. Tình trạng đó có thể kéo dài chưa biết đến bao giờ, nếu chú Ba không cáu tiết đứng dậy đi lại mấy bước, nện đôi ủng da xuống nền gạch:
– Được rồi, xén vào phần của tôi, làm quái gì một tí tiền, thêm, bớt, nhiều, ít, chán lắm rồi, xin chấm dứt.
Hội nghị đang lâm vào bí nay đã tìm được lối thoát.
Chị Cả nói:
– Phải! Chú ấy chưa vợ, chưa con mới rộng rãi được chứ, chúng tôi còn một lũ con.
Anh Hai khẽ rung đùi, tủm tỉm cười, nghĩ thầm: “Thây kệ chẳng hơi đâu, mày ngốc thì mày thiệt”.
Chủ tọa thấy nhẹ cả người, ông thở mạnh, rút khăn tay lau mặt, ông này quen sống bình thản, nho phong, chưa hề tiếp xúc với những hạng như Liên.
Được thể, đáng lý ả còn om sòm lên nữa nếu ả không ngó thấy nét mặt cứng rắn của chú Ba, ả cũng khôn hồn rút lui không dám làm già quá. Á nín bặt, ngồi xuống ghế, đắc chí đã thắng lợi, cố giữ được một lúc nét mặt rầu rầu, rồi thản nhiên chẳng ngượng ngùng nhìn mọi người. Con ở đưa đĩa hạt dưa, ả thò tay bốc một nắm, cắn chắt. Tuy đã khá tuổi hai hàm răng ả còn chắc và trắng lắm. Bây giờ, ả thật là yên chí, ngồi cắn hạt dưa.
Thế là phần cấp dưỡng cho ả Liên được kết thúc.
Chủ tọa đưa mắt nhìn cử tọa một lượt, cất giọng hỏi:
– Ai là nàng hầu thứ hai? Tôi thấy tên có ghi ở bản danh sách?
Nàng hầu thứ hai là Hoa Lê, chưa ai để ý có mặt ở hội nghị hay không. Ai cũng nhớn nhác nhìn ở trong phòng không thấy có ả. Mấy con ở lục tìm ở mấy căn phòng trong nhà cũng không thấy. Anh Cả đã quên không cho ai gọi ả đi họp, vội vàng cho người đi triệu cấp tốc cô ả. Trong khi chờ đợi mất một hai tiếng đồng hồ, cử tọa giải lao và đi bách bộ. Một lúc lâu Hoa Lê đến với con ở, đứng nơi ngưỡng cửa. Trong phòng đông người quá, nàng rụt rè, e lệ không dám vào. Chợt nhận thấy một người ăn mặc quân trang
nàng quay phắt người, chạy ra sân. Chủ tọa phải thân hành ra ngoài sân để phủ dụ. Ông Lưu nhìn nàng với cặp mắt dịu dàng, hiền hòa, không ngó thẳng vào mặt, sợ nàng bẽn lẽn, thấy nàng còn ít tuổi, xanh xao, có nhan sắc, ông nói:
– Cô còn ít tuổi, không ai chê trách cô đâu mà ngại. Nhà người ta giàu có, thế nào phần cô cũng được một số tiền, nếu không ở vậy, đi lấy chồng, tùy ý không ai ngăn cản.
Nàng không ngờ được nghe những lời nhân đức, hiền hậu, tưởng họ cho gọi lại để khu trừ. Nàng trả lời, tỏ vẻ sợ sệt, hãi hùng:
– Thưa cụ, cháu không có nhà cửa gì cả, chẳng có ai họ hàng thân thích ngoài con bé nhỏ quan để lại. Bây giờ mẹ con cháu không biết đi vào đâu. Chúng cháu ăn uống dè xẻn, quần áo bằng vải bông, thô sơ, không làm gì bằng lụa, cháu không quấy nhiễu ai hết.
Chủ tọa trở về phòng họp. Ông ngạc nhiên, hỏi anh Cả:
– Nàng nói có một con bé con, vậy con bé ấy là thế nào?
– À! Một nghịch nhi, kể ra cũng là một em gái chúng tôi nhưng sinh không được đường hoàng, chính nghĩa; ông cụ, bà cụ chúng tôi không muốn để cho chết đói hay khổ cực, sống được ngày nào thì sống, cho nuôi nấng nên còn lại đến ngày nay. Ông thân tôi giao cho chị ta nuôi. Nếu không muốn lấy chồng, cho chị ta ít tiền để hai mẹ con nuôi nhau. Người cũng hiền lành không sợ phiền nhiễu, quấy quả.
Liên đột nhiên xen vào:
– Phải, nó làm gì cần phải tiền bạc cho lắm, nó là hạng con ăn con ở trong nhà này, cho nó ăn uống thế nào cũng được, quần áo vải bông là tốt lắm rồi.
Chú Ba nghe thấy quắc mắt nhìn Liên một vẻ kinh khủng, ả sợ quá mồm lẩm bẩm quay đầu nhìn chỗ khác.
Chú Ba nói:
– Con trẻ cũng như con già, hai phần bằng nhau. Tôi chia đều.
Liên cau mặt nhăn mày, bực bội, nhưng không dám nói to, lẩm bẩm:
– Vô lý, con già con trẻ bằng nhau, chính thị ấy là đầy tớ cũ của tôi.
Biết rằng con bé này lại sắp giở cái trò ầm ĩ, chủ tọa vội vàng tuyên bố:
– Tôi quyết nghị:
Cho nàng hầu thứ nhất, hai mươi nhăm nén bạc.
Cho nàng hầu thứ hai, hai mươi nén bạc.
Rồi quay về phía Hoa Lê, ông nói tiếp:
– Xong rồi, cô yên chí trở lại nhà, cô được phép làm gì tùy theo ý muốn. Mỗi tháng được trợ cấp hai mươi nén bạc để chi tiêu nhật dụng.
Hoa Lê sung sướng quá, cảm tạ chủ tọa, hội đồng. Lúc mới đến nàng sợ run lên không biết thế nào, bây giờ như được cất gánh nặng, lại được trở về ngôi nhà đất và đời sống bảo đảm.
Thế là mấy phần cấp dưỡng được dàn xếp ổn thỏa, hội đồng phê chuẩn và thông qua. Chủ tọa sửa soạn đem gia tài ruộng nương nhà cửa, tiền bạc chia làm bốn phần: anh Cả, trưởng gia đình, được hai phần, còn hai phần về hai em. Chú Ba, đột nhiên đứng dậy nói:
– Phần của tôi, xin miễn chia nhà và ruộng. Lúc nhỏ tôi đã ngấy lắm về ruộng, ông cụ thân tôi đã muốn tôi nhập tịch dân cày. Tôi độc thân, chưa vợ, tôi làm gì bằng nhà, bằng ruộng. Xin chia cho tiền thôi, nếu phần của tôi cũng phải có nhà và ruộng, xin hai anh mua giùm và xin trả tiền cho.
Hai người anh nghe lạ tai quá vì chưa từng có người nào đòi lấy phần gia tài bằng tiền cả. Tiền tiêu đi là hết chứ nhà cửa ruộng nương, còn di tích mãi mãi.
Anh Cả nghiêm nghị nói:
– Chú phải biết, ở trong thiên hạ, một người đàn ông đứng đắn, tử tế, không bao giờ ở độc thân suốt đời. Cha nay đã quy ẩn, trước sau chúng tôi phải lo liệu lấy vợ cho chú mà lẽ đương nhiên phải thế. Lúc đó chú cũng cần phải có nhà, có ruộng cho nền nếp.
Anh Hai tiếp lời, có vẻ thực tế hơn.
– Phần ruộng chia cho chú, chú muốn làm gì tùy ý, chúng tôi không khi nào mua lại. Đã có nhiều gia đình, anh em bất hòa vì thế, tiền tiêu cho hết, rồi trách móc oán thù cho là bị gạt gẫm nên không có ruộng nương đất cát. Nếu
chú bằng lòng, tôi sẽ đảm nhiệm số ruộng của chú, hàng năm thu hoạch được bao nhiêu tôi sẽ gởi cho. Chú đòi phần của chú bằng tiền cả, không sao nghe được.
Câu nói đanh thép đó cả cử tọa ai cũng công nhận là rất hợp lý. Tuy nhiên “ông quân nhân” vẫn còn lẩm bẩm:
– Nhưng tôi không thích nhà, ruộng, thì đã sao?
Không ai chú trọng câu chú nói, duy có chủ tọa, tò mò hỏi xoi mói:
– Cậu định làm gì cần lắm tiền thế?
“Ông quân nhân” trả lời, giọng cục cằn:
– Tôi cần bảo vệ một chủ nghĩa.
Câu đó không ai hiểu “ông” ấy định nói gì.
Chủ tọa, suy nghĩ, cân nhắc, một lúc rồi ra quyết nghị về các phần chia:
– Nếu, quả thực “chú” không muốn dự phần vào ngôi nhà lớn ở tỉnh, để cho “chú” căn nhà bằng đất cũ nát ở nhà quê (căn nhà này sự thực vô giá trị, chỉ tốn ít công lấy đất ở ruộng đắp lên).
Quyết nghị trù liệu một món tiền, giao cho hai anh giữ, để sau này cưới vợ cho chú. Ông cụ đã quá vãng, hai anh lớn phải đảm nhiệm, lo liệu về việc đó. Chàng quân nhân lẳng lặng ngồi yên, theo dõi hội đồng làm việc. Nhờ sự sáng suốt, cương trực của chủ tọa, mọi trở lực được dàn xếp, quân nhân được ổn thỏa, hợp pháp. Ba anh em con Vương Long mở tiệc khoản đãi hội đồng và tất cả mọi người hiện diện ở buổi họp. Một tiệc rượu thân mật, không phải yến ẩm liên hoan, chủ nhân không ăn mặc chải chuốt, lượt là, vì chưa đoạn tang.
Bao nhiêu đồng ruộng bát ngát, Vương Long đã suốt đời nai lưng tận tụy bồi đắp, nay phút chốc phân tán, tản nát cho lũ con lão, còn phần của lão, thu hẹp có một mảnh đất nhỏ, lão an nghỉ ngàn thu ở đó. Trên mảnh đất đó, con cháu lão vẫn có quyền tùy ý sử dụng, phần dưới mới thật là phần của lão, vĩnh viễn, bất khả xâm phạm, phần mà đất cùng thịt, xương, máu mủ lão hòa hợp cùng nhau. Cuộc phân chia vừa chấm dứt, người tráng sĩ và bốn
lính tùy tùng đã sửa soạn quân trang lên đường về nơi xa xăm bí mật.
Anh Cả thấy sự vội vàng hấp tấp, kinh ngạc hỏi:
– Chú đi đâu mà vội vàng thế?
Người tráng sĩ đang buộc thanh đoản kiếm ở dây lưng, ngừng lại, nhìn người anh từ đầu đến chân, thấy một người tầm thường, nhu nhược, mặt béo phị, đôi môi dày, thân hình phục phịch, núng nính những thịt, hai bàn tay đàn bà mẫn mụi thịt nhẽo, móng tay dài. Tráng sĩ đưa mắt nhìn chỗ khác, trả lời đầy giọng khinh bỉ:
– Nếu không nói rõ vị tất đã hiểu, tôi chỉ cần nói là tôi phải khẩn cấp lên đường, trở lại nơi mà có hàng bao nhiêu người chờ tôi về để thi hành nhiệm vụ, những người sẵn sàng triệt để tuân theo mệnh lệnh của tôi.
Anh Cả xưa nay vẫn tự đắc tưởng chừng mình được kính nể, không nhận thấy sự khinh bỉ của em đối với mình, nghe nói chưa hiểu thế nào, lại hỏi:
– Thế lương của chú chắc khá lắm nhỉ?
Tráng sĩ trả lời cộc lốc:
– Cũng có khi nhiều, mà nhiều lúc không có một xu nào.
Không thể tưởng tượng được đi làm việc mà không được trả lương, anh Cả lại nói:
– Tôi mà đi lính như chú, đã đóng đến đội trưởng, đội triếc trông coi bao nhiêu người kể cũng khá, nếu làm với ông chủ tướng nào không trả lương, nhất định tôi chuồn sang làm cho ông khác, chứ đi làm mà không có lương, thật là phi lý.
Tráng sĩ đứng yên, không nói năng gì, trong đầu óc còn suy nghĩ xếp đặt để lên đường. Một ý nghĩ vừa vụt đến, tráng sĩ vội vàng chạy lại tìm
anh Hai và căn dặn:
– Anh nhớ đừng quên, tháng tháng trả cho người nàng hầu thứ hai của cha, phần cấp dưỡng của nàng. Hàng tháng anh có gửi tiền cho tôi, anh nhớ khấu đi năm nén, là tiền tôi cho thêm.
Anh Hai sửng sốt, không hiểu sao lại cho nhiều thế, trợn tròn mắt, hỏi:
– Sao lại phải cho lắm thế?
Tráng sĩ có vẻ hấp tấp vội vàng, trả lời cụt lủn:
– Người ta còn phải nuôi con, chớ sao!
Ý muốn nói nữa nhưng lại thôi, chàng nóng ruột, bốn tên lính đã đeo bọc lên vai, tề chỉnh chờ chàng ở sân. Chàng rảo bước ra đi với mấy tên lính, sung sướng như được cởi mở, thoát vòng kiểm tỏa của người cha già. Chàng, một tráng sĩ hiên ngang, chí muốn tung hoành, vùng vẫy, không chịu một sự chi phối, khuôn khổ, chật hẹp, gò bó. Tâm trạng hai người anh cũng chẳng kém gì em, cũng mong cho chóng thoát vòng cương tỏa của nghiêm đường, được sống một cuộc đời phóng khoáng.
Người anh Cả chờ chóng hết ba năm, đoạn tang, đặt bài vị cha lên bàn thờ cộng đồng cùng với các bài vị tổ tiên, trên gác xép ở gian phòng giữa nhà.
Suốt ba năm tang chế, Vương Long được thờ riêng biệt trong căn phòng bên. Các con tưởng chừng như hồn cha còn lẩn quất đâu đây, còn xét nét hành vi của các con. Người con trai lớn muốn được hoàn toàn tự do, ăn tiêu theo sở thích, nhưng chưa dám, bài vị cha còn đó, hồn cha còn đó, y phục
còn sô gai, tang chế, mọi hoan lạc phải đình chỉ. Một người vô công rồi nghề như anh, trong óc mơ ước, tơ tưởng thú vui thầm lén, cha tuy đã chết, song hồn như hãy còn đủ uy lực để chế ngự anh.
Người con thứ hai đã vạch sẵn một chương trình hoạt động. Anh muốn “đẩy” một số lớn ruộng, phần của anh, lấy tiền để khuếch trương thương mại ngũ cốc. Chí anh muốn lấy lại mấy thị trường của ông Lưu. Ông này đã già, con trai. theo nghiệp bút nghiên không muốn nối chí cha về thương trường. Anh định mở mang buôn bán lớn, dùng ghe thuyền chở lúa ở vùng anh đến bán ở các vùng xa. Anh hãy còn khan tang trên đầu, phải thủ hiếu chưa thể hiện những mộng lớn anh phải cố nén tâm chờ. Anh chưa bộc lộ ý kiến đó cho ai biết, có một lần ngồi rỗi, anh hỏi anh Cả:
– Khi mãn tang, anh đã tính số ruộng thế nào chưa? Nên bán hay nên để?
Câu trả lời của người anh Cả phát lộ chân tướng một người vô tư lự:
– Thật ra, tôi chưa nghĩ đến vấn đề đó, tôi thiết tưởng tôi cần phải giữ lại một phần lớn số ruộng để đủ ăn đủ tiêu trong gia đình tôi. Tôi không làm lụng, buôn bán gì, mà trời cho cũng có tuổi, không muốn tham vác bôn ba.
Anh Hai nói:
– Ruộng đất thật là cả một vấn đề nhiêu khê, vất vả. Nếu ý anh muốn làm điền chủ, muốn có miếng ăn, phải tự mình thân chinh coi sóc các tá điền, phải tự mình đi cân thóc lấy, lại còn bao nhiêu công việc nặng nhọc nữa. Khi xưa, còn cha, tôi đảm đương lo liệu hết, bây giờ tôi không thể trông
nom giúp anh được vì tôi còn có công việc riêng của tôi. Phần ruộng của tôi, tôi sẽ bán hết, chỉ giữ lại mấy miếng tốt, tiền tôi cho đặt lãi nặng, rồi anh xem, anh và tôi ai mau giàu hơn ai?
Anh Cả nghe thích quá, hợp ý anh, anh rất cần tiền, anh nói khẽ:
– Được rồi, để tôi xem có lẽ tôi cũng cần phải bán một số lớn ruộng, tiền tôi cho đặt lãi cùng với chú.
– Được rồi chúng ta sẽ thảo luận sau.
Chẳng ai bảo ai, hai anh em, khi nào nói đến bán ruộng là hạ thấp giọng, nói khe khẽ, tưởng chừng như hồn cha già còn nghe thấy. Hai người cố kiên nhẫn chờ, ngày qua tháng lụn, mong cho chóng hết ba năm. Ả Liên cũng sốt ruột cằn nhằn ba năm sao mà lâu thế! ‘Theo gia pháp tục lệ, ả không được ăn mặc chải chuốt lượt là, phải đeo mấy bộ áo vải bông thô kệch, không được đi lại nhà chúng bạn ăn uống tiêu khiển, có khi phải thầm lén vụng trộm. Tuổi đã nhiều, bây giờ ả thường đi lại giao lưu với năm, sáu bà già, nhà cửa nom cũng đàng hoàng ra vẻ, mấy bà lão thường đi song loan tới nhà nhau, cờ bạc, rượu chè.
Theo thói thường, chủ đánh bạc được hay không nô tỳ theo hầu có bổng, nên con nô tỳ của Liên phỉnh phờ, xui giục ả vào cuộc đỏ đen. Duy chỉ có Hoa Lê thản nhiên, không có vẻ gì vội vàng, hấp tấp, chờ mong. Không ai để ý đến nàng, âm thầm lặng lẽ, nàng ra khóc ở mộ Vương Long.
Hai anh em cố nén tâm chờ, mong cho chóng hết ba năm (mọi kế hoạch dự tính phải tạm hoãn thi hành). Trong thời gian chờ đợi, hai gia đình, vợ chồng con cái ở chung một ngôi nhà lớn. Sự chung đụng không phải là một việc dễ dàng, bọn đàn bà khích bác, thù ghét nhau. Hai chị em dâu hục hặc lẫn nhau, thành bọn đàn ông cũng rất bực mình khó chịu. Đàn bà có điều gì tức tối, bất mãn, không bao giờ để bụng, tỉ tê kể lể hết cho chồng nghe.
Chị Cả, hậm hực, một hôm nói với chồng:
– Thật lạ quá, từ ngày tôi bước chân về làm dâu nhà này, đáng lý họ phải biết kính nể tôi, họ lại coi thường, coi khinh tôi. Còn mồ ma ông cụ, tôi cố cắn răng nhịn nhục. Ông cụ người thô lỗ ngu xuẩn, tôi thật xấu hổ với lũ con tôi, nó thấy ông nội nó là hạng người thế nào. Tôi cũng cố chịu đựng biết làm thế nào, vì ông cụ là cha có quyền. Ông cụ đã chết, bây giờ anh có biết con vợ thằng Hai nó đối xử với tôi như thế nào không? Thằng chồng nó vừa ngu vừa mù chữ, anh lớn nhất trong nhà, anh phải biết xếp đặt thế nào cho có tôn ti, thể thống chứ? Càng ngày nó càng coi tôi không ra mùi mẽ gì,
cái con mụ nhà quê, thô lỗ, tục tĩu.
Anh Cả thở dài, cố nhịn, anh hỏi.
– Con ấy nó nói gì?
Chị Cả trả lời, giọng đành hanh:
– Có phải nó nói gì tôi đâu, nhưng khi nào nó nói gì, hai môi nó mấp máy, còn tiếng thì chết ở trong cổ họng, chỉ thấy cái điệu bộ nó cũng đủ phát ghét. Tôi vào gian nhà phòng nào mà có gặp nó ở đấy, nó vờ như đang dở bận việc gì, nó không thèm đứng dậy hay nhường chỗ cho tôi, mặt đỏ tía tai,
nó nói oang oang, không sao chịu nổi, thấy nó đi ngang mặt cũng đã đủ tởm rồi.
Anh Cả nói:
– Thật vô lý, tôi không thể lại bảo thằng chồng nó: vợ mày làm sao lúc nào cũng mặt đỏ tía tai, nói năng oang oang, làm mẹ lũ con tao không sao chịu nổi, không thể để vợ mày như thế mãi được.
Anh vừa nói, vừa lắc đầu, tay sờ dây lưng tìm cái điếu hút thuốc. Anh nghĩ câu nói của anh dí dỏm, anh nhếch miệng cười. Chị Cả không thuộc vào hạng đàn bà ăn nói liến láu nhanh trí khôn, biết đối đáp. Chị thâm thù em dâu là vì mụ này tuy quê mùa, ăn nói cục mịch nhưng chết cây gãy cành.
Chị Cả người tỉnh thành nói dõng dạc, chậm chạp, phong độ của người trên, chị nhà quê giương mắt nhìn trừng trừng nói một câu bâng quơ bóng gió làm chị Cả xấu hổ không biết đối đáp lại. Bọn đầy tớ nô tỳ đứng quanh đó, nghe thấy ngoảnh mặt cười rúc rích. Nên khi nghe chồng nói, chị tưởng chừng như anh chồng cũng chế nhạo, soi bói chị, thấy anh chồng ngồi yên
trong chiếc ghế bằng song, tủm tỉm cười, chị hầm hầm tức quá, bắc chiếc ghế gỗ đứng phắt lên trên, hai mắt lim dim, đôi môi chúm lại chị nói:
– Tôi biết mà, tôi biết ông khinh rẻ tôi lắm mà. Từ ngày ông rước con đĩ ấy về đây, ông khinh bạc tôi mà. Tôi chỉ muốn chăm lo lễ bái, muốn đi đâu tu quách cho yên chuyện, tôi chưa bỏ nhà ra đi cũng vì một lũ con. Cái nhà
này ông xem trước kia nó thế nào, bây giờ tôi sửa sang thu xếp lại nó thế nào? Vô ơn, vô ơn.
Nói xong chị lấy ống tay áo quệt nước mắt, đi thẳng vào trong buồng. Một lát sau, anh Cả nghe tiếng chị tụng kinh ở trong buồng vọng ra. Chị Cả khi đã đứng tuổi, chị thường giao du với các sư, vãi, chị chăm chỉ lễ bái, tụng kinh rất lâu, các ni cô năng lui tới, thuyết pháp cho chị. Lần này cũng như mọi lần khác khi nào tức giận điều gì, chị tụng kinh thật to. Anh Cả nghe thấy chị tụng niệm, buồn quá, anh thở dài, hai tay ôm đầu, vì từ ngày anh lấy con bé ấy đem về nhà, chị vẫn không bằng lòng, không nguôi cơn
giận. Con bé này xinh xắn, ngây thơ, anh đi chơi tình cờ thấy ở trước nhà một gia đình nghèo khổ, con bé ngồi trên chiếc chõng tre, cạnh chậu nước đang giặt giũ quần áo rách; con bé dễ coi quá, anh lượn đi lượn lại, hai ba lần để ý nhìn, rồi anh lui tới nhà con bé nhiều lần. Cha con nhỏ cũng mừng đã gả bán cho một người giàu, lại có danh vọng, anh trả cho người cha con bé món tiền kha khá. Con bé còn dại dột, ngớ ngẩn quá, bây giờ anh biết rõ tâm tính nó, anh cũng tự lấy làm lạ sao lại đi mua một con bé ngớ ngẩn, lúc nào cũng lấm lét sợ bà Cả. Con bé chưa có bản sắc cá tính. Nhiều lần anh bảo nó, đêm vào ngủ trong buồng anh, nó cúi đầu lẩm bẩm:
– Nhưng bà có bằng lòng cho phép đêm nay chưa?
Có lần anh thấy nó độn quá, ngốc quá, anh phát cáu, thề lần sau anh sẽ tìm một con khôn ngoan, tai quái, không phải sợ vợ cả quá lố. Đàn bà hầu hết là thế cả. Nhưng nhiều khi anh thở dài nghĩ có lẽ thế này lại hơn, cửa nhà được êm thấm. Con bé này sợ chị Cả ghê lắm, tuyệt đối phục tòng, bà này lại gần, nó cúi đầu không dám nhìn thẳng. Tuy thế mà vẫn chưa vừa lòng bà Cả, lúc nào cũng ỉ eo trách chồng đi rước vợ lẽ về, nếu cần phải lấy vợ lẽ, lấy ai chứ đi rước của nợ ấy làm gì. Anh Cả làm thinh, cố nhịn vợ cho êm thấm cửa nhà.
Anh thấy con bé mặt mũi trắng trẻo hay hay, anh thích lắm, anh xót xa khi thấy vợ anh mắng mỏ, đay nghiến nó. Anh nghĩ phải đến dùng mưu mẹo xảo kế mới có thể gần gũi con bé được.
Khi thấy con bé sợ sệt không dám lại gần anh, anh bảo:
– Không ngại gì, cứ đến, bà ấy hôm nay đang cáu kỉnh, tao cũng sợ lắm không dám đến gần.
Thực ra chị Cả “lửa lòng” đã tắt, thời kỳ sinh nở bận mọn đã qua, sung sướng được “sạch sẽ” thảnh thơi, chiến thuật của anh là ban ngày anh và con bé hết sức chiều chuộng không làm trái ý, phật lòng chị Cả, ban đêm con bé yên chí lại với anh. Thật là một xảo kế lưỡng lợi, lưỡng toàn, không xảy ra ỷ eo xô xát ầm ĩ cửa nhà. Song còn chuyện xích mích với bà em dâu, dàn xếp quả thật khó quá.
Một hôm vợ anh Hai lại bảo chồng:
– Tôi thậm ghét cái con mặt trắng lột lột, anh làm thế nào mà ngăn hẳn nhà ra chứ tôi không thích chung đụng kẻo có ngày tôi nói nó không ra gì, bêu xấu bêu hổ cho mà coi. Nó tưởng nó ghê gớm lắm, mỗi lần gặp nó, hay nó đi đâu về, dễ thường tôi phải chắp tay vái dài. Bất quá nó cũng như tôi hơn gì tôi, tôi không khốn nạn như nó, cả cái thằng chồng nó béo chương, béo nứt. Anh thì anh, làm gì nhau?
Dầu sao, vợ chồng anh Hai cũng ý hợp tâm đầu. Anh người nhỏ bé, nước da vàng vàng, ít nói, vạm vỡ, hồng hào, tính nết cương trực, anh còn quý vì chị tinh quái, đảm, công việc trong nhà xếp đặt giỏi, mà hà tằn hà tiện, biết tiêu pha chắt bóp.
Bố chị là một dân cày, chị không quen sống đài các trưởng giả. Bây giờ giá chị đua đòi cũng được, nhiều người khác thì đã thế, nhưng chị vẫn giữ mực sống hồn nhiên như trước. Chị ăn uống xềnh xoàng, sô pha, mặc quần áo vải, không chuộng lượt là, nhưng phải một tật là hay nói, hay trò chuyện cả với người ăn người ở, chị cho như ngang hàng với chị. Chị Cả thấy thế, khó chịu quá. Có một việc, làm chướng tai gai mắt nhất chị Cả, làm chị khích nộ là con em dâu quần áo lôi thôi, lốc thốc, đi lếch thếch khắp nơi, khắp xóm, giày dép cũ kỹ vẹt gót, đầu bù, tóc rối, bế con bạ chỗ nào cũng vạch vú cho con bú. Vú để thỗn thện, thật đúng một mụ nhà quê.
Chuyện cô vợ anh Hai cho con bú đã xảy ra một cuộc xô xát kịch liệt, sự bất hòa giữa hai anh em và rút cục cũng phải tìm cách dàn xếp cho ổn thỏa, êm ấm. Có một hôm, nhân ngày đản sinh một vị thần linh có đền thờ trong tỉnh, bà Cả “lịch sự đài các” đi hành hương. Bà vừa ra cổng lớn để lên kiệu võng, chợt thấy vợ anh Hai, một mụ “nhà quê” ngồi ở thềm cửa đang cho con bú, vú để thỗn thện mà đang mặc cả mua con cá để làm cơm chiều.
Bà thấy sỗ sàng quá, không ra thể thống gì, bà tức quá, nhịn không nổi, bà nói:
– Thật là nhục cho gia phong, chị không biết ngượng ngùng, xấu hổ là thế nào à? Đến con ở tôi cũng không thể để cho nó làm quá thế được.
Bà ăn nói chậm chạp khoan thai, không sao đọ kịp với lời “mụ nhà quê”, chị này sấn sổ lại, nói:
– Còn ai lạ gì trẻ nhỏ nó phải bú mớm, có con cho bú thì làm sao? Tôi cho bú cả hai bên làm gì mà xấu hổ, làm gì mà hại đến gia phong hở?
Đáng lẽ, mụ gài khuy áo, mụ lại khiêu khích, vạch nốt vú nữa, đổi vú cho con bú. Mụ nói oang oang, họ kéo đông lại xem; mấy người đàn bà đang làm bếp, nghe thấy ồn ào cũng tất tưởi chạy ra, vừa đi vừa chùi tay. Bọn nhà quê đi chợ ngang, đặt gánh xuống, quây lại xem thích lắm. Bà “trưởng giả đài các” thấy họ xúm đông quá, những bọn mặt rám nắng, tầm thường, không chịu nổi, bà rút lui. Không đi lễ nữa, bà cho kiệu võng về, bà rảo bước trở vào căn phòng riêng của bà. Mụ “nhà quê” chưa từng nghe ai nói việc cho con bú là lỗ mãng, mụ vẫn thấy người ta cho con bú, có cần phải kén chọn chỗ nào nên, chỗ nào không nên, trẻ con nó khóc, biết nó khóc cái gì, chỉ biết cho nó ngậm vú để nó nín đừng khóc. Nghĩ thế chị cho là đúng lý nên càng làm già, chị bêu xấu bà cả, nghe rất vui tai, cả bọn đứng xem cười ầm lên, vui như đi xem chèo, xem hội. Có một con nô tỳ của bà Cả đứng đó, được chứng kiến tấn hài kịch, vội chạy đi “tâu” hết cho chủ.
– Thưa bà, chị ấy bêu xấu bà ghê quá, bảo bà phách lối hợm hĩnh, bắt nạt ông con kinh quá, ông con không dám bén mảng với vợ bé, bà có cho phép mới dám gần mà bà lại còn hẹn giờ! Thiên hạ xúm đông xúm đỏ lại nghe, họ reo ầm lên cười.
Nghe con ở nói thế, bà Cả tái mặt, nằm vật xuống chiếc ghế ở cạnh bàn. Con ở lại chạy đi nghe, một lúc nó chạy về, thở hồn hển như đứt hơi, cấp báo:
– Bây giờ chị ta đang bảo bà chỉ lo chuyện sư mô, chẳng trông nom gì đến con cái. Tụi sư cũng ghê lắm, không khéo nó quyến rũ bà.
Nghe thấy câu sỉ nhục quá quắt, bà Cả nhổm phắt trở dậy sai con ở lập tức ra gọi người gác cổng vào. Anh gác cổng là một anh nhà quê, cục mịch, trước làm ruộng cho Vương Long, bây giờ già nua, không có con cái, Vương Long thương người có nghĩa, nuôi để gác cổng. Anh đến lấm lét, sợ sệt, thấy bà cả, cúi đầu vái dài. Bà cả dõng dạc oai nghiêm bảo:
– Quan ra trà thất không có nhà, ông Hai cũng đi vắng, hiện ở ngoài cổng có sự lôi thôi, lộn xộn, tôi tạm thi hành nhiệm vụ. Tôi không muốn họ xúm đông trước cửa nhà, tôi cho phép anh đóng hết các cửa ngoài đường lại. Nếu bà Hai không chịu vào, đứng ở ngoài đường, thây kệ bà ấy, nếu có hỏi ai bảo anh đóng cửa, thì bảo là tôi ra lệnh cho anh, anh phải tuân theo. Lão bộc, không nói năng gì, cúi đầu chào đi ra thi hành đúng như lời bà chủ.
Mụ nhà quê vẫn đứng nói léo xéo, kể xấu bà cả, bọn người đứng xem thích chí, cười rầm rầm, mụ không biết sau lưng mụ các cánh cửa từ từ đóng hết. Đóng xong, lão bộc hé hai cánh cửa cái, chõ mồm nói giọng khàn khàn:
– Này … bà!
Mụ ngoảnh cổ lại thấy cửa đóng hết, vội vàng đẩy cửa bước vào, vẫn tay ôm con cho bú, mụ mắng lão bộc:
– Ai bảo mày được đóng cửa, đồ chó già.
Lão bộc khúm núm trả lời:
– Bà Cả bảo con đóng hết các cổng lại, bà không muốn họ xúm đông trước cửa nhà. Con cũng đã nói trước bà biết mà!
– Thế cửa này là cửa nhà mụ ấy hở? Nhà này là nhà tao, mày định để tao ở ngoài đường ngoài ngõ à?
Mụ nhà quê la thét om sòm, sấn sổ chạy vào buồng chị Cả. Bà này cũng đã biết trước, đã cẩn thận đóng hết các cửa gài then, ngồi yên chí, trong buồng tụng kinh. Mụ nhà quê tha hồ đập cửa, gào thét, không sao mở được chỉ nghe tiếng bà cả rầm rì ở trong buồng. Đêm hôm ấy, hai anh em được nghe vợ rỉ tai kể lể, mỗi chị nói một khác.Sáng hôm sau, hai anh em ra trà thất, nhìn nhau mặt buồn thiu. Anh Hai cố gượng cười bảo anh Cả:
– Chỉ tại bọn đàn bà làm cho anh em mình bất hòa, mà lúc này, huynh đệ huých tường, chí không nên. Tôi thiết nghĩ bây giờ nên ngăn nhà ra. Anh ở mấy gian phòng hiện đang ở, anh giữ lấy cổng chính trông ra phố. Tôi ở mấy gian phòng bên, tôi cho mở cửa thông sang phố bên. Có làm như thế họa chăng mới ở được. Nếu chú Ba về, chú ở phòng hiện thờ cha, mà sau này con Liên chết đi chú ở cả mấy gian ấy nữa.
Suốt đêm hôm trước, anh Cả được vợ kể đi kể lại, đầu cua tai nheo câu chuyện, lại còn ray rứt, đay nghiến, anh thề từ rày trở đi, anh không thể ngọt nhạt, việc gì cũng bỏ qua. Anh là trưởng gia đình, anh phải cứng rắn, phải nghiêm khắc, không thể để một con em dâu lăng loàn, lăng mạ vợ anh.
Nên khi anh Hai bàn về việc ngăn nhà, anh nhớ đêm hôm trước, bị ray rứt đay nghiến khổ quá, bèn trả lời giọng tức tối hậm hực:
– Con vợ chú quá lắm, lăng loàn quá, chú không biết nó lăng mạ, sỉ nhục mẹ các cháu trước mặt những bọn tầm thường thế nào ư? Thôi đừng nên nói nữa. Chú biết điều phải cho nó một trận; tôi bảo chú phải cho nó một trận nên than mới được.
Anh Hai nhấp nháy hai con mắt tí hin, anh nói để lấy lòng anh Cả:
– Anh và tôi, bọn đàn ông chúng mình, ai cũng biết đàn bà là thế nào, hạng gọi là khá nhất cũng ngu xuẩn ngờ nghệch nữa là. Bọn mình không nên để tai nghe họ, dính dáng vào công việc đàn bà. Đàn ông chúng mình còn hiểu
biết, dễ chịu hơn. Tôi cũng biết con vợ tôi tính nết rồ dại, quê mùa, anh nói lại với chị hộ tôi là tôi nói thế, và tôi gởi lời xin lỗi chị cho nhà tôi. Xin lỗi có mất gì đâu? Tôi nghĩ nên để bọn đàn bà, con nít ở riêng ra, nhà nào nhà ấy, có công việc gì anh em mình ra tiệm trà bàn luận, về nhà mỗi người riêng biệt một căn.
Anh Cả nói: – Nhưng … nhưng …
Anh Cả nghĩ ngợi chậm chạp, không mau trí lanh lẹ như anh Hai.
Anh Hai thoáng ý hiểu ngay, anh Cả còn lúng túng chưa biết nghĩ cách nào để cho chị Cả hả giận, anh Hai mau miệng mớm lời. Anh về bảo với chị ấy thế này:
– Tôi phải thẳng tay trị vợ chồng thằng Hai mới được, tôi ngăn chỗ chúng nó ở lại, thế là yên chí, chúng nó không còn sang quấy nhiễu lếu láo được.
Anh Cả, hợp ý, cười ha hả xát hai bàn tay chuối mắn với nhau. Anh nói:
– Chú cho xây ngay đi chớ!
– Được, để tôi gọi thợ nề lại ngay ngày hôm nay.
Chị Cả, chị Hai đều vừa ý, hỉ hả, kế đó hay đến nỗi người nào cũng tưởng mình đắc thắng, đối thủ bị lép vế. Hai anh em lại càng thân mật hơn xưa, anh nào cũng tự đắc mình khéo biết khu xử hiểu tâm lý đàn bà. Bây giờ họ yên chí, chờ ngày đoạn tang hẹn nhau ngày ra tiệm trà để bàn tính việc bán ruộng. Thấm thoắt, ngày tháng qua ba năm đã hết, họ giở niên lịch ra chọn ngày nào hợp để làm lễ trừ phục. Vợ chồng anh Cả bàn soạn, tính toán, sắp đủ nghi thức.
Theo tục lệ trong miền, suốt họ, những ai đã phải chịu tang, được mời đến ăn mặc tử tế, quần áo lượt là, gấm vóc, đàn bà được mặc áo đỏ phủ ngoài áo sô gai, đi ra cả ngoài đường qua cổng chính, ở đó đã xếp những đống giấy tiền lớn, giấy vàng, giấy bạc, các vị sư ở đó châm lửa hóa vàng. Trước ánh lửa chập chờn, họ cởi bỏ hết áo sô gai. Thế là xong lễ trừ phục, tất cả lại trở vào nhà, chuyện trò vui vẻ mừng những ngày tang tóc, buồn thảm đã qua; tất cả lần lượt, đến lễ trước bài vị Vương Long mới làm (bài vị cũ đã đem hóa) họ bày rượu thịt ra cúng.
Bài vị mới này để thờ vĩnh viễn, lồng trong một cái giá nhỏ, hai thứ làm bằng gỗ tốt. Thuê đóng xong, họ sơn then rất kỹ, các con nhờ một vị danh nho trong tỉnh, đề trong lòng bài vị tên và duệ hiệu của vong. Anh Cả kính cẩn hai tay nâng chiếc bài vị (con cái, họ hàng lũ lượt theo sau) đem đặt lên bàn thờ cao, ở đó đã có hai chiếc bài vị nữa của hai dân cày, cha và ông nội Vương Long.
Ba ông này lúc sinh thời cũng không ngờ khi chết lại có những bài vị đẹp đẽ như những đại phú gia. Họ tưởng bài vị của họ bất quá là một mảnh giấy trắng, con sẽ nhờ người nào võ vẽ biết dăm ba chữ, viết tên vào rồi đem dán lên vách căn nhà ở quê rồi lâu ngày rách nát ra từng mảnh. Khi Vương Long được ở ngôi nhà trên tỉnh, đã thuê thợ làm hai chiếc bài vị cho cha và ông nội hắn, làm như các tiền nhân của hắn lúc sống đã ở cả trên tỉnh trong ngôi nhà đó. Không có ai biết hồn phách các vị ấy có ở trong bài vị hay ở đâu?
Con cái Vương Long đặt bài vị cha vào đó, đóng cửa bàn thờ lại, đi ra trong lòng thư thái nhẹ nhàng.
Mọi công việc về Vương Long thế là hoàn tất, bây giờ tha hồ tiệc tùng, phè phỡn hoan lạc. Thật đúng lúc làm cỗ bàn, khoản đãi khách khứa.
Liên (nàng hầu thứ nhất của Vương Long) vừa già, vừa phục phịch to béo, mặc một chiếc áo sa tanh hoa to, màu lam nhạt. Tất cả ai cũng biết ả, nên không ai để ý, bình phẩm sự ăn mặc lố lăng của ả. Họ ăn uống vui vẻ, nô cười, anh Cả tính thích có những cuộc hội họp, cỗ bàn, ăn uống, anh hỉ hả lắm, luôn mồm mời:
– Xin mời uống cạn chén; thật cạn chén.
Hôm ấy, anh uống nhiều, mặt đỏ ửng, hai mắt đỏ ngầu. Vợ anh ngồi phòng bên với khách đàn bà, nghe nói anh sắp say, vội cho con ở chạy lại bảo:
– Lúc khác không sao, hôm nay đừng uống nhiều say quá không tiện.
Anh hiểu ý, cầm chừng không dám uống nữa. Anh Hai cũng vui vẻ lắm, nhưng anh không để ý mấy về khách khứa cỗ bàn, anh thừa dịp nói chuyện mảnh với mấy người khách, thăm dò xem có muốn mua ruộng của anh
không? Anh phao lên phần ruộng của anh toàn là thượng đẳng điền, anh muốn bán để làm việc khác. Hai anh em đều vui vẻ, hân hoan, ông già từ đây thật là người thiên cổ, chiếc dây vô hình ràng buộc hai người phải
tùy thuộc vào ông đến đây thật đứt hẳn. Duy chỉ có một người hôm ấy vắng mặt ở bữa tiệc, đó là Hoa Lê.
Nàng đã cho người lại cáo lỗi, nói thác là con bé con của nàng không được khỏe. Vì suốt trong họ không ai để ý dến nàng, có hay không cũng được, nên anh Cả chấp thuận, bảo nếu con bé đau, miễn cho không đến cũng được. Cũng duy có nàng hôm đó chưa chịu “trừ phục” vẫn giữ nguyên áo tang, giày tang khăn tang, mà nàng cũng không cởi bỏ những đồ tang cho con nhỏ. Trong khi ở ngôi nhà trên tỉnh, mọi người đang chè chén, cỗ bàn vui vẻ, nô cười, nàng lại quay về công việc riêng biệt, thích thú của nàng. Nàng nắm tay con dắt ra cánh đồng, đến ngôi mộ Vương Long, hai mẹ con ngồi xệp xuống đất. Con bé yên chí có mẹ ở đó, tung tăng chơi đùa, nàng
phóng tầm mắt ngắm nhìn đồng ruộng mênh mông, bát ngát. Này những thửa ruộng xanh dờn, cái dọc cái ngang, liên chỉ cho tận đến chân trời xa tít. Đó đây, xa xa vài nét xanh sẫm, cử động, đó là mấy bác nông phu đang cấy lúa. Nhớ lại xưa kia Vương Long cũng làm ăn vất vả như thế, cũng cặm cụi như thế. Hồi tưởng lại khi Vương Long về già, kể cho nàng nghe những chuyện trồng trọt, gặt hái, những chuyện trước khi có nàng ra đời, giảng cho nàng nghe miếng đất này nên cày bừa thế nào thửa ruộng kia nên trồng trọt
làm sao.
Thế là một ngày trôi qua, một ngày họ hàng con cái Vương Long no say vui sướng, một ngày nàng ngắm nhìn đồng ruộng hồi tưởng lại những năm đã qua. Hôm đó, chú Ba không về, chú ở nơi xa xăm, góc biển chân trời, đang lo toan công việc của chú.
Có nhiều người bạn thân, khi đọc xong truyện này, đã trách tôi viết truyện không có đoạn kết. Nhưng tôi thì không nghĩ vậy… Đọc một cuốn truyện, khi gấp sách lại, cảm giác của người đọc thế nào, đó chính là đoạn kết.
Người viết truyện, nhiều lúc thấy mình có đủ oai quyền như Thượng Đế. Tạo nên một nhân vật rồi có quyền để cho sống hay là bắt phải chết. Cái sống và cái chết của những nhân vật trong truyện được cái ông Thượng Đế nho nhỏ ấy toàn quyền quyết định…
Tôi có thể để cho những người trong truyện của tôi cùng bay trên một chuyến bay định mệnh không bao giờ trở lại. Làm như vậy, may ra gợi được lòng thương tiếc của những độc giả đa cảm, thương tiếc những kiếp người tài hoa chưa được hưởng trọn vẹn tuổi trẻ đã vội sớm vĩnh biệt cuộc đời. Nhưng tôi không làm như vậy. Cái đoạn kết ấy nó dễ dãi quá, tuy rằng mang nhiều tính chất bi thảm nhưng mà lại hết sức tầm thường.
Có lẽ tôi cần thú thực với bạn đọc một điều này. Tôi đã gửi đời tôi vào các nhân vật trong truyện. Tôi cố đưa tôi, đưa những người bạn thân của tôi, những uất nghẹn của mười ba tuổi lính, của hơn ba chục tuổi trời hơn hai trăm trang giấy. Tôi viết văn mà thấy như mình đang kể chuyện cuộc đời mình. Vậy thì làm sao mà có thể viết đọan kết khi cuộc đời của mình chưa đi vào đoạn kết?…
Những người bạn văn như Văn Quang, Cung Trầm Tưởng, Hoàng Song Liêm… người nào cũng đã nghĩ dùm tôi một đoạn kết thật đẹp và tròn trỉnh. Như để cho Trọng, người kiểm soát viên phi trường giải ngũ…rồi một ngày nào đó, lên đón người yêu ở phi trường Tân Sơn Nhất, nhìn phi cơ hạ cánh và cất cánh, thấy nhớ ghê gớm cái không khí phi trường. Trọng lại xin tái ngũ. ..Một lần trả quân trang, lại một lần lĩnh quân trang, các bạn tôi cho rằng đấy cũng là những nét đặc biệt của kiếp kaki.
Tôi đồng ý rằng, cái không khí phi trường nó quyến rủ lắm. Đã một lần lâu lắm, phi trường Biên Hoà đóng cửa để sửa chữa lại phi đạo, phi cơ về hết Tân Sơn Nhất, tôi đã khổ sở vì nhớ tiếng chim kêu… Chúng tôi gọi tiếng nói trong máy vô tuyến là tiếng chim kêu… Những ngày đó, ngồi trên đài kiểm soát phi trường, tôi thấy cái vắng lặng mênh mông và vô cùng buồn nản… Nhưng phải thật với lòng mình, khi đã giải ngũ rồi, ít có người nào lại làm đơn xin tái ngũ. Tôi nghĩ có lẽ vì tự ái… Vì không muốn bị mang tiếng là rời nhà binh ra là…đói. Tôi rất muốn tránh những gì gượng ép, nó làm phật lòng những người bạn tôi, đã từ lâu mang nặng mặc cảm rằng cái áo kaki đã làm mình phí cả một nửa kiếp người.
Tôi cố làm nổi bật những người như Pi-lốt Thái Bình – con người không bao giờ thích rắc rối, cầu kỳ. Trong một bữa ăn có mười ba người, Pi-lốt Thái Bình cảm khái “con người ta có số mệnh, cái con số mười ba, nó đâu có làm gì được nhau…” Nhưng rồi khi vợ đẻ con trai, nhất định không đặt tên con trai mình là Long. Những người bạn tên Long đều đã chết…Pi-lốt Thái Bình cũng có một chút mê tín, nhưng nặng hơn, nó là lòng thương nhớ bạn. Đặt tên con như vậy, cái tên đó nó cứ nhắc tới những kỷ niệm ngày xưa… Những người sống cuộc đời bấp bênh, thường hay tự đi tìm một chút gì an ủi. Tôi biết một số phi công của một phi hành đoàn khu trục nó, chỉ hút thuốc lá Lucky vì nghĩ rằng đã để được cái may mắn trong túi.
Thế nào cũng có nhiều người bạn trách tôi chưa viết đủ những vui, buồn của giới mũ xanh. Tôi chỉ biết có vậy thành ra chỉ viết được như vậy. Lòng người, không phải là đại dương để chứa được hết nước của ngàn con sông.
Những chuyện buồn trong đời tôi, chắc cũng chỉ như những đám mây mù, rồi sẽ dần tan. Những chuyện không đẹp chắc cũng chỉ như một đám mưa bóng mây, rơi xuống đất bất chợt nhưng mà mau tạnh..
Các bạn của tôi ơi!… Các bạn đòi cho cuốn truyện có một đoạn kết. Tôi xin nói lại rằng, chuyện này chính là chuyện của đời tôi. Rồi một ngày nào , các bạn gặp tác giả đi trên lề đường mũ áo xênh xang hay là thân tàn ma dại, ấy đó chính là đoạn kết của cuốn truyện này…
Đã hơn mười năm nay, anh sống với phi trường. Ngồi đây, anh cũng có thể tưởng tượng thấy bộ mặt buồn buồn của phi trường Đà Nẵng, buồn như những cô gái miền Trung, phi trường Nha Trang nằm song song với bờ biển, bãi cát trắng với sóng vỗ rì rào…
Từ mấy năm nay, đời anh ngừng lại ở phi trường Biên Hoà. Nơi đây còn vương không khí chiến tranh, giết chóc. Anh đã bâng khuâng nhìn những chiếc khu trục cơ chạy qua trước mặt mà nghĩ rằng chỉ một lát nữa đây, bao nhiêu người sẽ chết hay mang những tấm thân tàn phế khắc khoải suốt đời.
Ngày ở Nha Trang, anh có một thú vui hiền lành. Mỗi khi có một máy bay dân sự tới, anh thường đứng trên Lầu Gương, lấy ống nhòm nhìn những tà áo xanh, áo đỏ, thẫn thờ bước xuống thang khi cánh cửa phi cơ mở rộng.
Thế mà chỉ còn mấy tháng nữa, anh vĩnh biệt phi trường. Chỉ còn mấy tháng nữa thì anh giải ngũ – Phi trường ơi! Vĩnh biệt phi trường….
Sáng hôm qua, anh bắt được hộp thuốc lá của Khánh trong đám cỏ. Chắc em còn nhớ Khánh?…Khánh, nhà ở cạnh đường xe lửa mà có một lần đã than phiền với tụi mình:
– Mình chẳng bao giờ tiễn đưa ai, mà ngày nào cũng phải nhìn con tàu chuyển bánh.
Mỗi buổi sáng, anh thường đi khám phi đạo. Sáng sớm, trời lạnh mù sương…Thỉnh thoảng, thêm một chút gió heo may để cho lòng thêm nhớ về miền Bắc. Anh thuộc từng miếng grille góc cạnh, từng đám mây mắc cỡ rũ ướt sương đêm mà lũ chó hoang thấy ánh đèn pha thường chạy vào ẩn núp.
Hộp thuốc lá của Khánh nằm trong đám cỏ gần đầu phi đạo. Cách đây chừng sáu tháng, chiếc C47 của Khánh bị nổ bánh ở đây. Khánh ngồi dưới cánh máy bay chờ một chiếc khác mang tới thanh. Anh lái xe ra nói chuyện với Khánh.
Khánh là bạn của anh từ lâu, từ ngày hai đứa còn ở ngoài Hà-nội. Nhưng mà hai đứa ít khi được gặp nhau. Khánh thì cứ đi luôn. Còn anh thì khi về tới Sàigòn lại lao đầu vào những chỗ nhiều ánh đèn, quên cả việc lại thăm Khánh.
Gặp anh, Khánh mừng lắm…Khánh trách anh sao dạo này hay dấu kín những chuyện tâm tình… Anh biết nói gì bây giờ? Cái trống rỗng lúc nào cũng như nằm bất di, bất dịch trong tâm hồn. Khánh đọc cả một câu chửi đổng rất khinh đời, giọng Nguyễn Tuân:
– Mũ xanh chúng tao đâu có bạc đãi gì mày?… Gạo thì trắng, nước thì trong, mà người thì lành….
Anh buồn buồn nhìn Khánh. Khánh già đi nhiều mà chắc anh cũng vậy. Tuổi học trò đã thật hết rồi. Hai khuôn mặt bây giờ cằn cỗi và hai mái đầu đã bắt đầu lưa thưa điểm bạc. Khánh cho anh biết là Khánh sắp lấy vợ. Anh ngạc nhiên:
– Mày lấy vợ? …Nhưng mà lấy ai?…
Khánh nói giọng thản nhiên:
– Hiền chứ còn ai nữa…Chắc mày còn nhớ Hiền.
Giọng Khánh tiếp theo, trầm hẳn xuống:
– Tụi mình cũng nên tính chuyện vợ con đi thì vừa. Sống lủi thủi một mình lâu quá rồi. Mày với Phượng có lẽ giận nhau rồi thì phải?…
Anh nghĩ tới Hiền, người con gái hay mặc chiếc áo dài màu đỏ, màu của những cánh hoa bên đường Cổ Ngư. Hiền và Khánh yêu nhau đã từ lâu. Hiền có đôi mắt thật buồn và mái tóc buộc đuôi ngựa nhí nhảnh, hai cái tương phản nhau. Nếu Khánh lấy Hiền thì kể cũng là một cuộc tình duyên đẹp. Anh cười bảo Khánh:
– Nhớ gửi thiếp mời cho mình đấy.
Ánh đèn trắng từ Lầu Gương chớp nhiều lần gọi anh. Anh bắt tay tạm biệt Khánh. Tạm biệt hay là vĩnh biệt đây. Lưng trời, mây trắng bay nhanh. Gió hơi thổi mạnh. Khánh nhắc lại anh khi nào về Sàigòn thì nhớ lại thăm Khánh.
Thế rồi, hơn một tháng sau, anh phải về Sàigòn để đưa đám Khánh. Khánh chết trong chuyến bay Sàigòn – Lộc Ninh – Phú Quốc. Nhớ tới Khánh bằng tuổi anh mà đã chết, anh thở dài:
– Mới vừa ba mươi tuổi..
Hôm đó, Hiền khóc thật nhiều. Từ ngày đó đến nay, chủ nhật nào Hiền cũng đi thăm một Khánh. Nhìn tên Khánh khắc trên hộp thuốc lá để trước mặt, anh muốn khóc cho lòng vợi thương nhớ Khánh. Anh gói hộp thuốc lá lại, ngậm ngùi:
– Mình sẽ mang về biếu Hiền…
° ° °
Ba người ngồi ở một chiếc bàn, trong góc tối. Người đàn bà chấm ngón tay vào ly nước, viết nghịch lên mặt bàn những tên, những chữ…. Hai người đàn ông đăm đăm nhìn hai ly rượu đã tan hết nước đá.
Dancing về cuối tháng, vắng người. Tiếng trompette dài lê thê, nức nở theo một điệu nhạc blue. Vài cặp trai gái, uể oải dìu nhau theo điệu nhạc, trong cái tối u buồn cố giữ gương mặt sầu tư…
Tiếng nói ở bàn ba người:
– Về thôi chứ Khánh?…
– Mày muốn về bây giờ sao Du…?
– Ừ, về thôi. Mai mày còn phải bay sớm thì phải.
Tiếng cười nho nhỏ nhưng nghe rõ:
– Mai phải bay sớm thì có làm sao. Nhiều khi đi suốt đêm, mai leo lên máy bay vẫn cứ tỉnh như thường . Nhưng cũng phải về để trả xe cho thằng Phi. Với lại cũng phải đưa em về, không có chồng em ghen..
Người đàn bà nhìn Khánh, một cái nhìn dài cám ơn. Tiếng xô ghế và tiếng ly chạm khẽ vào chai. Ba người lách qua những hàng ghế đặt lẫn với những tiếng thì thầm trong bóng tối. Tiếng trompette đuổi theo như đưa tiễn. Qua tấm màn và cánh cửa dày, tiếng trompette chỉ còn như mơ hồ từ phương xa vọng tới…
Về khuya, đường Trần Hưng Đạo vắng người. Ánh đèn pha đuổi nhau trên mặt nhựa loang loáng ướt. Ngày mai đi rồi hở Khánh?…Đi rồi nhớ trở lại đây. Ở đây vẫn còn vấn vương không khí ánh đèn mầu Văn Cảnh, Tháp Ngà…
Ba người chui vào chiếc 203, ngồi trên băng trước. Tiếp theo muôn ánh đèn pha, chiếc xe tiến về nơi mỗi lúc một thưa thớt ánh đèn. Khánh tự nhiên đọc một câu ca dao cũ rích:
“Trời mưa bong bóng phập phồng,
Mẹ đi lấy chồng, con ở với ai?…”
Gương mặt người đàn bà thoáng một nét u buồn. Ba người vẫn ngồi lặng lẽ. Khánh lái xe, nhìn vào cái sâu thăm thẳm của đại lộ, hun hút vắng bóng người.
Tiếng người đàn bà:
– Anh cho em xuống đây.
– Anh đưa em đến tận cổng.
– Không được đâu anh. (tiếng nghẹn ngào). Còn chồng em, còn con em…
Tiếng thắng rít, rồi tiếng mở cửa xe. Họ ôm lấy nhau thật lâu. Mưa phơi phới trên đầu. Mưa đêm này đẹp như mưa đầu Xuân miền Bắc. Trong xe, ánh lửa đỏ thuốc lá lập loè thản nhiên.
Ánh đèn pha sáng lóe phía sau…Họ buông nhau ra. Khánh trở lại xe còn người đàn bà lảo đảo bước về phía căn nhà có ánh đèn dìu dịu, tà áo đen lẫn vào bóng tối. Xa xa, tiếng trẻ con reo:
– A, má về, má về…
Khánh thở dài. Chiếc xe vòng lại, phóng trên mặt đường nhựa trơn ướt như điên dại. Chiếc xe lại tiến về nơi rực rỡ ánh đèn.
Du ném mạnh mẩu thuốc lá qua cửa kính:
– Khánh ạ, tao khuyên mày nên để yên nó với chồng con nó. Thế nào rồi cũng có ngày chồng nó biết. Tao ngại cho mày.
Khánh không nói gì. Im lặng. Chỉ có tiếng máy xe đều đều…. Khánh đưa Du về nhà. Lúc bắt tay tạm biệt, Khánh ghé tai Du nói thầm:
– Tháng sau tao lấy vợ. Tao lấy Hiền.
Mắt Du sáng lên trong đêm tối. Mưa ngoài trời tạnh hẳn.
° ° °
Hùng uống hết ly cà-phê, với tay lấy chiếc cát-kết đội lên đầu, đứng dậy:
– Anh đi nhé!…
– Khoan đã anh. Để em đánh thức con dậy cho nó hôn anh.
– Thôi, để con ngủ…
Hùng bước vội ra cửa. Vợ Hùng chạy theo:
– Anh nhớ mua nước mắm. Mẹ dặn em nhắc anh không anh quên. Anh thì hay quên lắm đấy.
Tiếng Hùng:
– Thì đi Phú Quốc chuyến này…chỉ là để mua nước mắm. Sao lại còn quên.
Tiếng “quên” lẫn vào tiếng máy Vespa. Trời mờ sương mai, gió hơi lành lạnh. Người thiếu phụ khép vội cánh cửa, tắt đèn. Tiếng cựa mình rồi một tiếng nói âu yếm trong bóng tối:
– Ngủ đi chứ, thằng chó!….
° ° °
Chuyến bay hôm đó, có tất cả sáu người. Lâm, phi công chính, trưởng phi cơ; Phụng và Khánh, phi công phụ; Hùng, điều hành viên; Lựu, vô tuyến du hành và Sơn, chuyên viên cơ khí.
Tất cả đều trên hai mươi và chưa quá ba mươi. Người nhiều tuổi nhất là Phụng vừa đúng ba mươi. Trong số đó, chỉ có Hùng là có vợ và một con. Lâm, Phụng và Khánh sắp sửa lấy vợ. Lựu thì ít nói nên ít người biết được chuyện riêng tư. Chỉ có Sơn là ít tuổi nhất. Tất cả phi trường đều gọi Sơn là chú bé. Không hiểu sao, chú bé lại chọn một cái nghề già là nghề thợ máy.
Buổi sáng hôm ấy, Sơn đến phi trường rất sớm. Trận mưa đêm qua, nước còn đọng vũng ướt trên sân đậu. Phương Đông trời mới ửng hồng, hiện rõ hàng cây phía chân trời. Tiếng động cơ làm point fixe, đánh thức không gian. Ánh đèn “pin” soi ngang, chạy dọc dưới bụng những chiếc phi cơ trắng. Sơn thay quần áo, lấy đèn “pin” và tiến về phía đậu chiếc Echo. Vài tiếng chào nhau trong không gian còn vương một ít bóng đêm.
Người đến thứ hai là Hùng. Rồi tới Phụng. Khánh và Lựu cùng tới một lượt. Người đến sau cùng là Lâm.
Lâm là phi công chính. Lâm lúc nào cũng có một vẻ mệt mỏi chán chường nhưng bên trong chứa đựng một tinh thần bình tĩnh và tỉnh táo. “Thằng cha như con mèo”…đó là lời Khánh phê bình về Lâm.
Lâm sắp sửa lấy vợ mà lại lấy một cô dược sĩ mới ra trường. Phụng hỏi Lâm:
– Nghe nói mày sắp giải nghệ. Lấy vợ giàu thì lái làm cái mẹ gì?…
Khánh bàn góp:
– Chuyến này, anh Lâm đào được một cái kho pénicilline.
Lâm không trả lời…Mặt vẫn lầm lì, nhưng đuôi mắt hơi nheo lại. Lâm móc túi, quẳng cho Khánh gói thuốc lá Lucky, hỏi Sơn – lúc đó đang ngồi trên cánh máy bay:
– Tốt chứ Sơn?
Sơn nhe răng cười:
– Au poil…
Lâm lên xe lái về phía đài kiểm soát phi trường. Khánh đưa thuốc lá cho mọi người. Năm người đi xa chỗ máy bay, đốt thuốc lá hút. Những đốm lửa lập loè. Khói bay tản mạn lên không trung. Phương Đông trời ửng hồng những đám mây phía chân trời, chung quanh đã viền trắng.
Lâm đã trở lại. Sơn nhảy lên máy bay trước nhất. Lâm làm một cử chỉ rất kịch:
– Bây giờ mời quý vị …. lên đường.
Động cơ quay từ từ rồi được trớn, quay tít. Cỏ phía sau nằm rạp xuống. Máy bay từ từ bò ra đầu phi đạo, ngừng lại và rú lên ầm ĩ, rung chuyển thân tàu.
Máy bay cất cánh và chìm trong mây. Những cánh chim là máu và phi trường là con tim…Máu đi khắp cơ thể rồi lại về tim. Một đôi khi có những cánh chim bay đi, rồi không bao giờ trở lại.
Lâm chào tạm biết đài Kiểm-soát Sàigòn. Những người con trai ra đi, tạm quên nếp sống kinh kỳ. Sàigòn xa dần…Dưới chân vườn cao su vuông vắn, một con sông chạy uốn éo, càng xa, càng nhỏ dần rồi mất hút vào đồi núi chập chùng. Phía Lộc Ninh, sương mù giăng trắng xoá.
Chiều nay, những người con trai ấy lại trở về, nhưng bây giờ thì sống với tiếng động cơ đều đều, buồn nản. Cuộc đời lênh đênh như những đám mây trên đầu, dưới chân. Không gian mênh mông rộng lớn.
Khánh ngồi trên ghế lái. Cánh máy bay nghiêng lượn một nửa vòng. Ánh nắng ban mai đã chiếu vào khung cửa. Kim đồng hồ nhấp nháy trước mặt…
Khánh nhường chỗ cho Phụng….Khánh cần một giấc ngủ vì đêm qua thức trắng. Khánh nằm trên ghế sắt dài, lồi lõm, đằng sau thân tàu, nhắm mắt và bắt đầu nghĩ tới Hiền. Tháng sau là đám cưới rồi. Hôm cưới, chắc là Hiền sẽ đẹp lắm. Hiền ngoan như thế mà mình thì cứ hay lang bang. Khánh nhất định chuyến này về Sàigòn, đoạn tuyệt với tất cả những mối tình vụn vặt. “Anh chỉ yêu có một mình em!…” Khánh nói thầm câu đó và mỉm cười, cảm thấy mình ngây thơ như một cậu học trò mười bảy. Khánh ngủ mà vẫn giữ nụ cười… Khánh cứ chìm dần vào giấc ngủ…
Một nửa giờ sau, máy bay xuống thấp dần. Cánh quạt bên trái đã ngừng quay. Động cơ bên phải thì yếu không đủ giữ cho máy bay ở cao độ để bay về một phi trường gần nhất. Lâm nhìn xuống phía dưới để tìm một khoảng đất trống. Chỉ là rừng trùng điệp. Máy bay cứ xuống thấp dần…Lâm chợt thấy một khoảng đất trống cạnh một giòng suối. Anh cố giữ máy bay hướng về phía đó.
Nhưng muộn mất rồi… Tiếng cành cây gẫy răng rắc và một tiếng ầm vang ghê gớm. Lửa bùng cháy ở bình xăng cánh phải…Tất cả sáu người ngất đi.
Lúc đó là lúc Khánh mơ thấy Hiền và anh bước lên xe kết hoa. Bạn bè đang ném những vòng serpentin quấn quít khắp người cô dâu, chú rể. Tiếng động mạnh đánh thức anh trong một giây rồi một vật nặng đánh vào đầu anh. Anh lại mê đi và lần này không còn mơ thấy gì nữa.
Lúc Khánh tỉnh dậy thì chung quanh toàn là lửa đỏ. Anh hoa mắt cố lê ra phía cửa. Khó nhọc lắm anh mới xoay được chiếc chốt và thò đầu ra ngoài. Lửa táp vào người anh như lưỡi rắn. Bỗng một tiếng nổ bùng của bình xăng cánh trái. Xăng dính đầy vào quần áo anh. Khoẻ như một con thú dữ, anh lăn lộn trên vũng bùn, cách chỗ máy bay cháy chừng hai chục thước. Anh úp mặt xuống bùn, cố tìm lấy một chút mát lạnh cho cơ thể. Anh thều thào gọi vào lòng đất:
– Hiền ơi!…Vĩnh biệt…Vĩnh biệt phi trường !
Mặt trời lên cao…Sương mù dần tan trong khi đó lửa đỏ vẫn ngạo nghễ, sáng rực cả rừng hoang.
° ° °
Có bao giờ, em lên Bắc Việt Nghĩa-trang thăm những ngôi mộ?…Nếu em lên đó, em sẽ gặp những người trai của không trung, hiện đang nằm nghỉ ngơi trong lòng đất.
Nằm nơi đây, hoà với tiếng thông reo vi vu, còn có tiếng động cơ vọng lại từ phi trường Tân Sơn Nhất. Mỗi buổi sáng chủ nhật, con đường đầy bụi lại tung mù. Nhiều chiếc xe đưa người sống tới thăm người chết.
Và trong một chiếc xe có một người con gái, đã thay màu áo đỏ bằng màu áo đen sâu kín, như một nỗi buồn khó nguôi. Người con gái đó là Hiền.
Từ cổng nghĩa trang đi vào, bên phải là mộ của Long. Long để lại một người vợ thật trẻ, thật đẹp và một cháu gái thật ngoan. Thỉnh thoảng, anh vẫn gặp chị Long dắt cháu đi trên vỉa hè Sàigòn. Hai mẹ con đi lạc lõng trong giòng người đông đảo, bàn tay nhỏ xíu nằm trong bàn tay trắng gân xanh. Nhiều khi anh đã đứng nhìn theo:
– Tội nghiệp cho cháu tôi.
Mộ của Khánh trên Bắc Việt Nghĩa-trang, nằm bên phía tay trái, ở tận sâu trong cùng. Bốn ngôi một nằm song song nhau: Lâm, Khánh, Hùng, Sơn… Còn Phụng và Lựu được đưa về Hậu Giang, chôn nơi mảnh đất quê hương.
Không biết một người bạn nào đã trồng trên bốn ngôi mộ, một giàn hoa mát mẻ. Những người đã chết để thương nhớ lại cho bao nhiêu người. Nhìn bốn ngôi mộ ghi cùng một ngày chết, người ta nghĩ tới tình đồng đội của những người trai hôm nay, đã cùng nắm tay nhau cho tới hơi thở cuối cùng. Người ta cảm thấy buồn thêm, mặc dầu cái không khí nghĩa trang đã buồn lắm rồi.
Chủ nhật nào, Hiền cũng lên thăm mộ Khánh. Hiền cứ ngồi lặng bên một Khánh hàng giờ. Anh khuyên Hiền:
– Hiền hãy quên Khánh đi… Khánh chết rồi. Hiền hãy quên cái dĩ vãng đằng sau lưng mà nhìn thẳng vào cuộc đời. Cuộc đời của Hiền hãy còn dài dằng dặc trước mặt…
Hiền chớp mau đôi mắt:
– Quên Khánh làm sao được hở anh?..
Hiền cứ ngồi đấy. Khi mặt trời lên cao, Hiền đi về rồi chủ nhật sau lại tới. Anh và mấy thằng bạn thân của Khánh phải thay phiên nhau để coi chừng Hiền, ngăn cản Hiền muốn theo Khánh về thế giới bên kia.
Phượng ơi!… Làm thế nào bây giờ? Sau khi đọc những giòng này, anh mong Phượng hãy lại thăm Hiền.
Trước 75, các nhạc sĩ của chúng ta ở Sài Gòn có vài địa bàn để hoạt động các vũ trường, phòng trà, và các đài phát thanh. Các ca sĩ cũng vậy. Thực tế, số nhạc sĩ sống hẳn
bằng nghề chơi nhạc ở Sài Gòn khi
ấy cũng chẳng có bao nhiêu, nên
phần lớn họ thường cộng tác với cả hai nơi. Ban ngày họ chơi cho các đài phát thanh, buổi tối họ chia nhau đi chơi cho các ban nhạc ở các vũ trường.
Dĩ nhiên cũng có những nhạc sĩ, ca sĩ độc quyền của vũ trường này, phòng trà khác, họ được trả những số lương rất cao, các đài phát thanh không trả nổi. Nhưng những người này vẫn muốn cộng tác với các đài phát thanh vì danh tiếng của mình. Tầm ảnh hưởng của các đài phát thanh hẳn rộng hơn so với các sân khấu.
Huỳnh Anh nổi tiếng như một tay trống hàng đầu của các vũ trường Sài Gòn một thời, trước khi ông được biết đến như một nhạc sĩ sáng tác.
Huỳnh Anh thường được các khách mộ điệu, thích khiêu vũ, gọi bằng cái tên dễ thương “Ba Bé”. Có lẽ vì ông hơi nhỏ con. Hơi thôi, chứ ông cũng có tầm vóc trung bình. Ai đã có dịp lui tới vũ trường Mỹ Phụng chẳng hạn, chắc vẫn còn nhớ những màn độc tấu trống của Huỳnh Anh. Tất cả ban
nhạc đều im tiếng. Khách trên sàn nhẩy cũng dừng lại. Chỉ còn tiếng trống của Huỳnh Anh xen với tiếng mõ, tiếng phèng la, chập chọe, ròn rã, dồn dập. Ánh đèn màu quanh sân khấu dường cũng rung chuyển theo nhịp trống. Khi tay trống đập tới nhịp cuối cùng, cũng là lúc vũ trường ào lên tiếng vỗ tay tán thuởng. Xuất phát từ môi trường như thế, nên người ta không ngạc nhiên khi các ca khúc của Huỳnh Anh ngoài giai điệu, nhịp điệu cũng đóng một vai trò rất quan trọng. Mưa Rừng và Đời Tôi Chỉ Yêu Một Người của Huỳnh Anh là những thí dụ điển hình. Nhiều nhà phê bình cho rằng, nhạc Việt Nam nói chung, mạnh về giai điệu, nhưng yếu về nhịp điệu.
Cũng có người cho rằng, mỗi dân tộc có một cách diễn tả tình cảm riêng. Nếu toàn thể một bài hát Việt Nam mà không toát ra được chút gì đó chứng tỏ đó là sản phẩm của một người Việt Nam, thì tách rời giai điệu hay nhịp điệu ra cũng chẳng có ý nghĩa gì.
Huỳnh Anh đã dùng nhịp điệu Blues để viết ca khúc Đời Tôi Chỉ Yêu Một Người. Không biết có phải vì ca khúc đã được hát quá nhiều, trong khung cảnh của Sài Gòn, nên nghe bài hát, người ta chỉ thấy hiện ra trong ký ức những ngõ ngách, hè phố Sài Gòn, cái mưa, cái lạnh của Sài Gòn chứ
không thể là nơi nào khác, cả những từ ngữ người ta đã nghe quen đâu đó …
Hình như từ ngày ra khỏi nước sau biến cố 30 tháng 4/75 Huỳnh Anh chỉ mới cho thực hiện một CD gồm một số ca khúc của ông lấy tên là “Khung Trời Tưởng Nhớ” do các ca sĩ như Thanh Thúy, Xuân Thu, Khánh Ly, Lệ Thu, Duy Quang, Vũ Khanh … và chính Huỳnh Anh hát. Cách viết nhạc và ngay cả cách chọn ca sĩ để trình bày các bài hát của mình chứng tỏ Huỳnh Anh là một người nặng lòng với kỷ niệm, quá khứ.
Nghe Huỳnh Anh hát người ta mới thấy, nếu một nhạc sĩ lại có giọng hát, thì luôn luôn nghe một tác giả trình bày sáng tác của mình vẫn có những cái hay riêng, các ca sĩ không thể hiện được.
Nhạc Việt Nam buồn. Đó là điều người ta dễ nhận thấy. Tình trong nhạc của chúng ta thường là những cuộc tình đã xa, đã chết hay lỡ làng:
Vì cuộc tình đã chết một đêm nao
Lúc trăng hãy còn thơ ấu
[Phạm Duy]
Em ơi tình duyên lỡ làng rồi
Còn chi nữa mà chờ (Lê Hoàng Long)
Mùa màng người ta nói đến trong nhạc cũng là những mùa màng sắp tàn hay sắp hết:
Đến nay thu tàn
Phương xa kìa chiếc én bay về (Phạm Ngữ)
Buồn xa vắng trong tiếng trầm
Buồn hiu hắt trong tiếng ngân
Buồn như lúc xuân sắp tàn (Văn Cao)
Thời khắc của một ngày được nhắc nhiều nhất trong nhạc của chúng ta là chiều và đêm:
Chiều tưởng nhớ
Nắng vương màu biệt ly (Thẩm Oánh)
Đêm mùa trăng úa làm vỡ hồn ta (Cung Tiến)
Như thế, có thể nói, nhạc của chúng ta là nhạc buồn, nhạc chiều. Nhưng, nếu gọi chung nhạc Việt Nam là nhạcchiều thì, riêng nhạc Hùng Lân là nhạc sớm mai. Thật vậy, ca khúc của Hùng Lân, nhất là những ca khúc đầu tay của ông, bài nào cũng như tấm gương sáng choang, phản ánh một rạng đông, một buổi sáng, một ngày hè.
Đó là một ngày người ta có thể đổ mồ hôi vì đường xa, vì nhọc nhằn, dứt khoát không phải là một ngày ảm đạm.
Anh nghe chăng cung kèn rạng đông
Đang uy linh lừng vang trên không
Đang thiết tha hùng hồn
Khơi chí gan Lạc Hồng
Cháy lên nhuộm bao ánh hồng
Cháy lên nhuộm bao ánh hồng
Đi đi đi thôi nước non nhắn bao tiếng mời
Quyết sống những phút tung hoành
dọc ngang thật vẻ vang
Mang danh nam nhi quyết đem chí thi với đời
Đường hoàng lẫm liệt dù sao
ta cũng cứ hiên ngang
[Rạng Đông]
Nhạc sĩ của chúng ta có nhiều người ca ngợi cảnh sắc mùa hè, nhưng chỉ trong nhạc Hùng Lân người ta mới thấy rõ cái chang chang của một buổi trưa mùa hè miền Bắc.
Trời hồng hồng
Sáng trong trong
Ngàn phượng rung nắng ngoài song
Cành mềm mềm
Gió ru êm
Lọc màu mây bích ngọc qua màu duyên
Đàn nhịp nhàng
Hát vang vang
Nhạc hòa thơ đón hè sang
Hè về trong khóm trúc mềm đầu bờ
Hè về trong tiếng sáo diều dật dờ
Hè về gieo ánh thơ
Bâng khuâng nghe nắng đùa mây thắm
đàn chim cánh đo trời
Phân vân đôi mái chèo lữ thứ
thuyền ai biếng trôi
Xa xa lớp lúa dồn cao sóng
vàng leo dốc chân đồi
Thanh thanh hương sen nồng ướp gió
trăng khi chiều rơi
[Hè Về]
Thật là một bức tranh hè tuyệt vời (nhìn bằng mắt hay còn lại trong trí nhớ) của một học sinh được nghỉ hè về quê chơi, một thanh niên đang thuởng thức ngày xanh của mình hay một người già đang mỉm cười nhìn lại đời sống. Giữa sự khác biệt về tuổi tác, người ta cảm nhận một nỗi rạo rực chung của lòng yêu đời, yêu đất nước và nhất là yêu cái hiện tại của mình.
Nhạc của Hùng Lân nghiêm chỉnh, gần như không bao giờ ông dùng tới những câu phức tạp.
Lời ca của ông trau chuốt, được chọn lựa kỹ lưỡng từng chữ, nhưng vẫn giữ được vẻ tự nhiên. Nên mỗi ca khúc của ông đều có cái đẹp của những bông hoa mãn khai. Ông thúc giục người ta sống chứ không khuyến dụ phiêu lưu:
Đường hoàng mà sống
Xứng đáng nghĩa sống
Lo gì luống công
Ông xanh bao dong
Cho hồn chớ thẹn cùng trời Nam đất Việt
bên gánh nợ tang bồng
Trừ các thân nhân của ông, không ai biết rõ ông sáng tác bao nhiêu bài hát. Hè Về, Khỏe Vì Nước, Mùa Hợp Tấu, Cô Gái Việt … đều là những tác phẩm đã đóng góp làm nên niềm hãnh diện chung của nền tân nhạc Việt Nam. Bài Việt Nam Minh Châu Trời Đông của Hùng Lân và Việt Nam! Việt Nam! của Phạm Duy đã đôi ba lần được công luận đề nghị chọn làm Quốc ca.
Hình như trong toàn bộ tác phẩm của mình, Hùng Lân chỉ viết một bài tình ca duy nhất, đó là bản: Hận Trương Chi. Ông cũng có phổ nhạc bài thơ Tiếng Sáo Thiên Thai của Lưu Trọng Lư. Nhưng cả hai ca khúc này đến nay, ít người nhớ và trình bầy.
Ông cũng chỉ viết một ca khúc buồn đó là bài Sầu Lữ Thứ, nhưng nó cũng chính là một trong những ca khúc tư hương lớn nhất của âm nhạc Việt Nam.
Sầu Lữ Thứ được viết vào cái thời, đã có nhà nghiên cứu thắc mắc tự hỏi, vì sao, đang sống trên quê hương mà người ta lại mang nặng lòng nhớ quê như vậy? Ca từ của bài hát này, tách riêng, có thể coi là một bài thơ kiệt tác của
Hùng Lân. Ngoài sáng tác Hùng Lân còn làm công việc nghiên cứu dân ca, nhạc cổ truyền đồng thời là giáo sư dạy nhạc lý có rất nhiều môn sinh. Nhiều nhạc sĩ cũng như ca sĩ danh tiếng của chúng ta hiện tại từng thụ giáo ông. Nhạc sĩ Hùng Lân không còn nữa. Chúng ta mang ơn ông, nhưng ông mất lúc nào, ít người biết. Sau biến cố 75, ông giữ hoàn toàn im lặng. Dù gặp nhiều khó khăn, ông tiếp tục dạy nhạc để sinh sống. Chúng ta hy vọng thân nhân của ông sẽ cho xuất bản đầy đủ các sáng tác cũng như công trình nghiên cứu của ông. Để chúng ta có dịp đọc, nghe và cùng một lúc bầy tỏ lòng biết ơn đối với ông.
Vương Long lúc bình sinh một hôm có dặn các con khi lão trăm tuổi, quan tài hãy quàn ở ngôi nhà đất, đến tuần bốn chín mới làm lễ hạ huyệt. Bây giờ hai người con lo liệu ma chay báo hiếu, họ nghĩ từ tỉnh về đây xa xôi diệu vợi quá, chờ đến tuần tứ cửu mới đưa ra đồng thật là nhiêu khê phiền phức. Họ nhất định không theo lời di huấn, vả chăng lão cũng đã chết rồi. Họ thấy rất bất tiện, tốn kém lắm, các vị sư ở tỉnh cũng ngại đi xa, lại còn những người tắm rửa, khâm liệm, nhập quan cho lão già, họ đòi công một gấp đôi. Anh Hai nghe họ khai giá phát hoảng. Hai anh em đưa mắt nhìn nhau như thông cảm, lão già chết rồi, không có thể nói năng gì mà sợ làm trái ý. Họ cho gọi bọn tá điền bảo họ khênh quách Vương Long lên tỉnh, đặt lão vào gian phòng lão vẫn ở khi xưa. Hoa Lê kịch liệt phản đối nhưng vô hiệu. Biết nói lắm cũng vô ích, nàng thủng thẳng bảo hai ông “quý tử”:
– Tôi vẫn định con bé con và tôi không bao giờ bước chân vào ngôi nhà trên tỉnh, nhưng các anh nhất định đem ông lên, mẹ con tôi cũng phải theo lên.
Nàng dắt con bé, đứa con đầu lòng của Vương Long, và một người đàn bà đứng tuổi, nhưng tính nết lúc nào cũng như trẻ con. Bọn này đi sau linh cữu, trên các đường ruộng làng một ngày mùa xuân ấm áp, trời nắng ráo; con bé lẽo đẽo theo sau vừa đi vừa cười.
Hoa Lê trở lại gian nhà xưa kia nàng đã chung sống với Vương Long. Hồi đó Vương Long tuy đã có tuổi song khí huyết còn mạnh, ở một mình hiu quạnh, mua Hoa Lê đem về làm bầu bạn cho vui. Gian nhà này bây giờ âm thầm vắng vẻ, trên các cánh cửa buồng xưa kia dán những mảnh giấy hồng điều, bây giờ họ bóc đi hết. Trên hai cánh cửa cái trông ra đường họ dán đôi liễn trắng, báo hiệu nhà có tang. Hoa Lê đến đó, ngày đêm chầu bên linh sàng. Một hôm, một mình nàng đang túc trực bên linh cữu, sực có một con ở gái của Liên sai tới, báo trước Liên sắp đến viếng Vương Long. Liên là vợ lẽ thứ nhất của Vương Long, Hoa Lê trả lời xã giao người nữ tỳ, tuy nàng rất ghét Liên, xưa kia là đối thủ với nàng. Đứng dậy chờ Liên đến, nàng
đốt thêm hương, thắp thêm nến ở trên mặt quan tài. Lần này Hoa Lê mới gặp mặt Liên, từ ngày nàng kết bạn với Vương Long. Liên ghen ghê lắm, giận Vương Long sao dám tự tiện rước một hầu non. Nàng làm như không biết Hoa Lê là ai, còn sống hay chết. Nghe Vương Long đã từ
trần, nàng bảo với con ở:
– Bây giờ lão già đã chết rồi, tao chẳng thèm đếm xỉa đến con bé ấy làm gì, tao thử lại xem nó đối xử ra sao. Nghĩ thế, Liên tò mò đến, đi vịn vai hai con bé ở. Nàng chủ ý đến thật sớm trước khi các vị sư đến tụng kinh. Liên đến, đem theo hương, nến vào trong buồng, Hoa Lê ở đó; Liên sai con ở đốt hương, thắp nến trên mặt quan tài. Trong khi đó nàng không rời mắt nhìn Hoa Lê, mở to cặp mắt trừng trừng nhìn xem con bé có khác trước không, có già đi không. Tuy Liên đi giày tang mặc áo tang, song nét mặt chẳng đượm vẻ gì là tang tóc. Nàng dõng dạc bảo Hoa Lê:
– Ồ! Nom mày vẫn loắt choắt xanh xao, không khác trước mấy tý, tao không hiểu lão già chuộng mày về vẻ gì?
Liên khoái chí lắm thấy Hoa Lê bé nhỏ, bần tiện, chẳng có gì gọi là đẹp.
Hoa Lê đứng im, cạnh quan tài, nàng cúi đầu không nói năng gì, nghĩ thấy tủi, lòng rạo rực căm hờn trước mặt địch thủ. Liên cũng không còn lý do gì giữ mãi mối căm thù khi xưa, nhìn Hoa Lê chán chê, nhìn vào quan tài, lẩm bẩm nói:
– Chà! Cái này các ông con cũng tốn tiền lắm đây.
Nói thế Liên đứng dậy có vẻ nặng nề, sờ tay vào quan tài xem gỗ tốt xấu.
Hoa Lê thấy bàn tay phàm phu mó vào một quý vật ngày đêm chính nàng kính cẩn trông nom, tức lắm, hét to lên:
Này, đừng có mó vào.
Nói xong nàng cắn môi dưới, chắp hai bàn tay nhỏ nhắn vào nhau. Nghe thấy thế, Liên rộ lên cười và la lớn:
– Làm sao? Con bé này sợ tao mó vào lão già hở?
Liên cười tỏ vẻ khinh bỉ, ngồi xuống một lúc nhìn mấy ngọn nến cháy đứng dậy ra sân ý muốn lui về. Nàng đứng ở sân dòm ngó khắp nơi, thấy con bé con ngồi chơi phơi nắng liền nói:
– Ồ! Con oắt này hãy cỏn sống à?
Hoa Lê nghe thấy vội vàng chạy lại ngồi cạnh con, trong lòng rạo rực, nàng cố hết sức nén. Liên đi rồi, Hoa Lê lấy miếng vải lau đi lau lại quan tài chỗ Liên mó vào. Nàng lấy một chiếc bánh cho con, con bé được chiếc bánh thích quá.
Hoa Lê mặt rầu rầu, đứng nhìn con thở dài nói:
– Chỉ còn sót lại mày là giọt máu của người ấy, hắn đối với tao cũng chẳng tử tế gì, coi tao như con hầu con hạ.
Con bé con, có ai hỏi nó câu gì, nó có hiểu mới trả lời, nó chẳng hiểu mẹ nói gì, cứ việc ngồi ăn bánh. Hoa Lê ở gian buồng đó, túc trực cho đến tuần tứ cửu. Ngày đưa đám, gian nhà vắng ngắt, lạnh lẽo, phẳng lặng, chỉ trừ khi nào có sư đến tụng niệm, lũ con VươngLong có việc gì cần lắm mới thấy lai vãng đến. Tất cả nhà có vẻ khó chịu, sợ sệt, họ cho là thế nào cũng có tà ma luẩn quất. Vương Long lúc sinh thời khỏe mạnh, đáo để lắm, vị tất tâm
hồn thất phách đã chịu xuất đi chưa hay còn luyến tiếc phảng phất đâu đó. Trong nhà độ này tự nhiên thấy nhiều chuyện lạ, ghê rợn: các con ở nhao nhao nói đêm nghe như có người thở phì phò ở đầu giường, có người kéo tóc, nghe như có cái gì cào ở vách, con bé ở làm bếp cầm cái xoong tự nhiên như có người giật lấy, đang và cơm tự nhiên biến mất … Lũ vợ chồng, con Vương Long nghe thấy bọn đầy tớ kể chuyện, nhếch mép cười cho là tụi nó nói nhảm, bọn ngu si, nhưng chính thật ra họ rất khó chịu, thấy rờn rợn thế nào.
Liên phong thanh nghe thấy thế nói có vẻ thông thạo:
– Tao biết mà, lão già ấy kinh lắm.
Con ở của Liên nghe cũng góp thêm:
– Cô ạ! Người chết họ muốn làm gì kệ họ, chưa chôn cất xong chớ nên nói gì động đến họ.
Chỉ có Hoa Lê là không sợ, nàng ở một mình với chiếc quan tài. Cũng như trước kia nàng đã chung sống cũng ở gian phòng này một mình với Vương Long. Khi nào nàng thấy các vị sư mặc áo vàng đến, nàng đứng dậy lui vào gian trong đứng đó nghe họ tụng niệm bi ai, và nghe tiếng chuông mõ rền rĩ. Dần dần thất phách được siêu thăng, cứ cách bảy ngày, vị sư trưởng lại báo cho các con Vương Long biết:
– Lại thêm một phách được thăng thiên.
Lần nào vị sư trưởng đến báo tin đó, các con Vương Long cũng đem tiền hồi hướng. Thấm thoắt, thất thất lai tuần, đã đủ lễ, ngày cất đám đã đến.
Ông thầy địa lý đã cẩn thận chọn ngày cất đám cho một người có danh vọng như Vương Long. Tất cả tỉnh, ai ai cũng đều biết ngày đó là cuối xuân sang hạ. Các bà già muốn đi xem cho khỏi trễ, giục con cháu ăn cơm thật sớm. Đám dân cày hôm ấy nghỉ một buổi, các cửa tiệm, bọn làm công, bọn học nghề thu xếp công việc để tất cả được đi xem đám ma. Cả tỉnh ai cũng biết Vương Long, ngày xưa cũng là một dân cày, nghèo xơ xác, nhờ trời lập được cơ nghiệp giàu có, con cái trưởng thành khá giả. Những người nghèo khó thích đi xem đám ma Vương Long, một người xưa kia cũng như họ, bây giờ chết lại giàu sụ, thật là một việc đáng suy nghĩ, một nguồn tin tưởng về ngày mai cho bọn nghèo. Hạng giàu có, của ăn của để, muốn đi coi đám, vì con cái Vương Long đứng vào hàng phú túc, họ cho như một bổn phận phải tỏ lòng tôn kính một vị quá cố có danh vọng, to tát.
Hôm đó, ở nhà đám thật là huyên náo, lộn xộn vô cùng. Một đám ma to tát như thế, muốn có trật tự không phải là chuyện dễ. Anh Cả bận rộn quá, người như hóa điên, anh là trưởng nam, bổn phận anh phải xem xét, coi sóc đủ mọi thứ, riêng một thứ áo tang, phải xếp đặt cho hàng trăm người,
tùy theo thứ bực, họ gần, xa, lại còn thuê kiệu cho đàn bà con trẻ, anh bận quá, luống cuống, nhưng anh lấy thế là hãnh diện, một mình anh đảm đương trong ngoài. Họ gào thét, hỏi anh có phải làm thứ này, thứ kia không? Anh lăng xăng, chạy lên, chạy xuống xếp đặt công việc, mồ hôi nhễ nhại, tuy
đang độ tiết xuân mát mẻ mà như giữa mùa hè. Nhìn quanh, nhìn quẩn thấy anh Hai đứng lì một chỗ, anh Cả phát cáu, nhân trong người đang bừng bừng nóng, anh hét to:
– Cái gì chú cũng để tôi làm cả, chú cũng biết bảo vợ con chú ăn mặc thế nào cho phải phép chứ.
Anh Hai trả lời rất thản nhiên, có vẻ nhiếc móc, xoi mói.
– Việc gì bác cũng muốn làm lấy mới được vừa ý, nên không ai dám mó tay vào làm đỡ cho bác. Tôi và nhà tôi đã biết tính vợ chồng bác nên không dám đả động làm gì sợ trái ý hai bác.
Công việc ma chay, mấy người con trai cụ cố Vương Long đâm ra khích bác nhau. Người nào cũng nóng lòng sốt ruột chờ mãi chưa thấy chú Ba về. Họ hục hặc lẫn nhau, anh Cả hậm hực chú Hai hà tiện không phải đường, đưa người đi tìm, ít tiền quá; anh Hai phàn nàn anh Cả khệnh khạng để
đến hai, ba hôm mới cắt người đi tìm chú Ba. Ngày hôm đó, nội tất cả nhà đám chỉ có một người có vẻ bình tĩnh nhất, người đó là Hoa Lê.
Nàng bận tang chế, mặc áo vải gai trắng, trang nghiêm, trịnh trọng chẳng kém gì Liên. Nàng ngồi nép mình bên cạnh quan tài. Nàng sửa soạn quần áo từ mờ đất, nàng mặc cho con bé con bộ đồ tang, con bé thích quá luôn luôn cười, nhưng nó thấy áo mặc rộng lùng thùng vướng víu, nó muốn cởi bỏ ra. Hoa Lê dỗ dành con cho nó chiếc bánh, quăng cho nó một miếng vải đỏ nó chơi, để nó khỏi đòi cởi áo. Chưa bao giờ Liên lại cáu kỉnh hơn hôm đó, người nàng sức vóc to béo, không thể ngồi một chiếc kiệu võng thường,
nàng ướm hết chiếc võng này đến chiếc võng khác, chẳng có chiếc nào vừa vào khổ người. Nàng cáu, nàng khóc, hậm hực, rủa đứa làm kiệu bé quá, nàng khóc vì có lẽ phải ở lại không được đi đưa đám.
Chợt nàng thấy con bé (con của Hoa Lê) nàng trút hết nỗi căm hờn, tức tối lên đầu con bé con. Nàng hét ầm gọi anh Cả:
– Này … anh Cả, của này cũng đi vào đám à?
Nàng kịch liệt phản đối, ngữ ấy không có phép được ló mặt ra trong một đại lễ trang nghiêm, thiên hạ quan chiêm. Với một giọng ôn tồn, Hoa Lê trả lời rất rành rẽ, cứng rắn:
– Không thể nào được, quan đã căn dặn tôi không bao giờ tôi được rời con bé con này ra, đó là một hiệu lệnh của ngài. Tôi có thể dỗ nó im, nó biết nghe tôi, nó bảo được, mẹ con tôi không làm gì phiền nhiễu đến ai.
Anh Cả cũng bỏ qua không nói gì, vì còn bận rộn nhiều công việc, còn hàng trăm người đang chờ, mà đám tang cũng đã rục rịch cử hành. Bọn phu khênh võng thừa cơ bắt chẹt, vòi thêm tiền; các đô tùy phàn nàn cỗ đại sự nặng kia mà phải đi xa. Đám nông dân, tá điền lũ lượt kéo vào đầy sân, mắt nghếch đi coi đám.
Bọn phu đang nhao nhao, người đi xem xô đẩy, chen lấn lộn xộn, chị Cả lại còn luôn luôn hoạnh họe chồng không biết xếp đặt, làm anh Cả đã cuống lại càng cuống thêm, mồ hôi chảy như tắm, tha hồ mà gào mà thét, chẳng ai thèm để ý. Đám tang hôm đó, nếu không có một sự tình cờ xảy đến, thì không biết đến bao giờ mới dàn xếp nổi với bọn phu, bao giờ mới được cử hành, bao gờ mới xong. Sự tình cờ rất hợp thời đó là đang lúc vô cùng lộn xộn huyên náo thì chú Ba ló về. Mọi người trố mắt nhìn chú Ba xem bây giờ thế nào, vì chú bỏ nhà ra đi đã lâu lắm, đến mười năm nay, từ ngày
Vương Long mua Hoa Lê đem về. Chú phẫn uất ra đi, căm giận ông bố vô cùng. Bây giờ chú về, nom khác hẳn khi xưa, người vạm vỡ cao lớn hơn cả hai anh, chỉ nhận ra chú có cặp lông mày rậm rì và khóe miệng chua cay khắc nghiệt. Khi chú mới bước qua ngưỡng cửa vào, chưa ai nhận ra ngay
được là chú Ba. Chú ăn vận quân trang, nhưng không phải bộ binh phục của tên lính quèn. Chú mặc bộ đồ nỉ màu xanh xẫm, khuy áo to bằng đồng lấp lánh đeo ở giây lưng một thanh đoản kiếm chuôi bằng vàng óng ánh. Bốn tên lính bồng súng đi sau, người nào cũng sức vóc khỏe mạnh, có một anh tuy sứt môi nhưng coi cũng ra dáng lắm. Khi bọn người này bước vào cửa chính, trong nhà đang ầm ĩ huyên náo tự nhiên im bặt, phẳng lặng như tờ. Mọi người quay cả lại nhìn xem chú Ba, không ai dám hé răng, vì thấy chú hùng dũng oai phong. Chú rảo cẳng bước vào, bọn sư, bọn tá điền, nông phu, bọn người đi xem đông nghẹt, rẽ rạt sang một bên để nhường lối chú đi; chú dõng dạc hỏi to:
– Các anh tôi đâu cả?
Họ đã phi báo cho anh Cả, anh Hai biết là chú Ba về tới, hai ông anh chưa biết nên đối xử với chú Ba thế nào cho phải, hoặc niềm nở lễ phép, hay là một đứa em hư đã bỏ nhà trốn ra đi. Nhưng khi hai ông anh thấy chú Ba hiên ngang trong bộ nhung y, và đằng sau bốn tên lính võ trang, liền tỏ
hết sức lễ độ, như đón tiếp một vị tân khách. Họ cung kính nghiêng mình chào chú Ba, thở dài đượm vẻ buồn buồn của một hiếu tử ngày cất đám cha. Chú Ba nghiêng mình đáp lễ, đưa mắt nhìn xung quanh rồi hỏi:
– Thế cha đâu?
Hai anh bèn đưa chú Ba vào sân trong, ở đó đặt cỗ đại sự của Vương Long, phủ rèm thêu kim tuyến. Chàng ra lệnh cho bọn lính đứng yên ở sân ngoài, một mình bước vào trong nhà. Khi Hoa Lê nghe tiếng giày nện trên gạch, nàng liếc mắt nhìn xem ai đi vào, ngó thấy chú Ba, nàng quay phắt mặt vào tường, ngồi quay lưng ra ngoài. Nhưng chắc chú Ba dẫu có biết rõ là ai đi nữa, chú cũng sẽ lờ đi như là không biết. Chàng nghiêng mình trước linh
sàng, thay bỏ nhung y, mặc tang chế, bộ đồ tang đã sắp sẵn từ trước cho chàng, Chàng thắp hai ngọn nến, giục đem phẩm vật bày trên linh cữu.
Khi xếp đặt xong xuôi, chàng sụp lễ ba lễ trước linh cữu và kêu to:
– Ô ô ô hô!
Hoa Lê cứ ngồi im, úp mặt vào tường không hề nhìn lại xem sau lưng nàng họ làm gì. Làm xong công việc đầu tiên của một hiếu tử, chú Ba ra sân, dõng dạc nói một câu cụt lủn:
– Xếp đặt xong cả, đám cho khởi hành!
Thật là cả một sự lạ lùng, mới hồi nãy, huyên náo, hỗn loạn, bây giờ im phăng phắc, mọi người răm rắp tuân lệnh, tưởng chừng như sự hiện diện của chú Ba và bốn anh lính võ trang có một mãnh lực vô cùng huyền diệu. Bọn phu khênh võng có việc gì cần phải hỏi anh Cả, thì nói năng ôn tồn, lễ
phép, chú Ba chỉ nhíu cặp lông mày rậm rì là những anh phu nào tính hay mè nheo, ngổ ngáo nhất cũng nhũn; chú Ba dõng dạc đứng trước bọn phu tuyên bố:
– Các người làm ăn cho cẩn thận, ta sẽ biết và không để thiệt đâu.
Bọn phu câm như hến, thảy đều răm rắp nghe lệnh. Mấy anh lính và mấy khẩu súng thật có uy lực vô biên. Bọn phu bắt tay vào việc, lễ chuyển cữu bắt đầu. Họ luồn qua dưới quan tài những bện thừng lớn buộc túm hai đầu, sâu đòn kề vai khênh. Lại còn chiếc linh xa rước vong, trong đó họ bày mấy thứ bình sinh nhật dụng của vong, chiếc điếu ống, chiếc áo cũ … và một bức ảnh truyền thần do tay một nghệ sĩ được ca tụng là khéo đã họa khi Vương Long lâm bệnh. Thực ra bức hình đó chẳng giống Vương Long một ly nào, ảnh một vị hiền triết quái nào, nhà danh họa đại tài tô thêm râu, điểm thêm lông mày, kẻ thêm răn mặt cho có vẻ đạo mạo một vị quốc lão. Đám tang bắt đầu lên đường, bọn đàn bà nhà đám cũng bắt đầu khóc, gào; to mồm nhất là Liên, ả bứt tai bứt tóc, che kín mặt bằng chiếc khăn vải trắng mới, để hé mắt, nhắm mắt này mở mắt kia, ả khóc kể ầm đường:
– Ới! Ông ơi! Ông đi đâu, ông bỏ tôi bơ vơ, tôi biết trông cậy vào ai, hỡi ông ơi, là ông ơi!
Suốt dọc đường, thiên hạ đổ xô xem đám ma, thấy Liên kêu gào thảm thiết, ai cũng tấm tắc khen:
– Tội nghiệp! Ít người được như cô ta, con người có nghĩa thế … cô ta thương ông cụ quá !…
Nhưng cũng có bọn thấy một mu đàn bà to béo, kêu gào ầm ĩ, họ bảo nhau:
– Ông cụ này nghe nói giàu lắm, nuôi béo trương, béo nứt thế kia làm gì mà chẳng tiếc!
Bọn này bình phẩm Liên ngốt lên vì của cải, giàu có của Vương Long.
Còn các nàng dâu, mỗi chị khóc một lối, một kiểu; tùy theo tâm trạng từng người. Nàng dâu Cả thút thít cho phải phép, thỉnh thoảng lấy khăn chùi rỉ mắt. Về môn khóc chị này còn thua Liên nhiều. Chị vợ lẽ anh Cả, một cô mẩm mụi, coi cũng kha khá, mới nhập tịch vào họ nhà Vương Long được một, hai năm nay, luôn ngó xem chị Cả khóc thế nào cũng bắt chước khóc thế ấy.
Nàng dâu Hai, quê mùa, ngớ ngẩn, lần đầu tiên được ngồi võng kiệu, bọn phu khênh chị nghênh ngang ở đường phố. Thiên hạ đông đúc, vui quá, hàng trăm hàng nghìn mắt nhìn vào làm chị không sao khóc nổi, thỉnh thoảng nhớ ra phải khóc một tí, vội vàng lấy tay che mặt; hai mắt nhìn qua
kẽ tay, thấy vui vui quá, lại quên. Hoa Lê ngồi kiệu võng, buông rèm che kín, không ai ngó thấy, nàng lặng lẽ khóc thầm. Khi mọi việc của đám tang vĩ đại đó hoàn tất, Vương Long được mồ yên mả đẹp; các đồ mã: mấy căn nhà, gia đình, đầy tờ, gia súc, bằng nan phất giấy được đốt thành một đống tro lớn. Bó hương cắm trên mả, khói tỏa nghi ngút, các con trai làm lễ an phần, phái đàn bà lại một phen kêu gào. Khi xong việc, bọn phu được trả công, mấy bà không còn ai nghĩ đến khóc làm gì nữa, nhiệm vụ khóc đến đó coi như đã chấm dứt, duy chỉ có Hoa Lê vẫn lặng lẽ âm thầm, thổn thức.
Nàng không trở về ngôi nhà ngói trên tỉnh, ý nàng muốn quay về nếp nhà đất cũ nát. Anh Cả khuyên nàng lên trên tỉnh ở với vợ chồng anh, ít nhất cũng đến hôm chia gia tài. Nàng lắc đầu trả lời:
– Thôi được, tôi ở đây đã lâu kể cũng quen, ở một mình được yên thân, vả lại còn vướng con bé con. Lên tỉnh, con nhỏ này làm chướng mắt chị Cả, mà bà ấy cũng chẳng ưa gì tôi, để mẹ con tôi về căn nhà đất là yên hơn. Bác cũng chẳng cần quan tâm đến tôi, khi nào tôi có cần gì sẽ thưa với bác. Ở
nhà quê, ăn ít tiêu ít, lại còn vợ chồng lão tá điền kể cũng vui, tôi được rảnh rang yên thân, trông nom con bé và coi việc đồng áng.
Anh Cả làm ra vẻ miễn cưỡng, trả lời:
– Thôi cũng được … tùy ý.
Chính ra như thế, anh Cả cũng yên chí vì thường thường vẫn được nghe vợ nói chuyện về con bé con, không ai muốn chứa chấp nó làm gì. Còn ông cụ, Liên nó còn gờm, ông cụ chết đi, nó không kiêng nể gì ai, hung ác lắm, chẳng kẻo có bữa sinh chuyện lôi thôi to. Hoa Lê nắm tay con, dắt về căn nhà đất, nơi mà nàng trông nom săn sóc Vương Long trong những năm già yếu. Nàng về đó, trông nom con bé, quanh quẩn ở nhà, không đi đâu xa, trừ ra có đi viếng mộ Vương Long. Sau này chỉ có nàng là năng lui tới, thăm viếng phần mộ. Liên cũng có đi nhưng ít khi lắm, chỉ những công việc bắt buộc phải đi viếng mộ, không đi không được, nhưng cô ả có đi ra nữa cũng chờ ngoài đường đông người để ai ai cũng biết, cũng khen là thủ tiết. Trái lại, Hoa Lê, những lúc nàng thấy tâm hồn trốrg trải, cô đơn, nàng ra mộ; nàng đi như thầm lén, đi vào lúc đường sá vắng tanh, đêm hôm khuya
khoắt. Nàng khóc nhưng không khóc to, ngồi gục đầu vào mộ âm thầm nức nở, khẽ khẽ họa chăng nghe thấy:
“Ới quan ơi!
Ới cha ơi! Cha độc nhất của đời con trên đời, ới cha ơi! Quan ơi!”.
Josui đi yên lặng trong một đường phố ở Los Angeles. Ngày hôm ấy, nàng sửa soạn một công việc thật khổ tâm, không sao tránh được. Nàng dậy sớm và sau khi trang điểm kỹ lưỡng, nàng mặc một bộ quần áo màu xanh nước biển mới nguyên, chiếc áo khoác ngoài che thân hình đầy mập của nàng. Số tiền cha nàng gửi ở một ngân hàng ở San Francisco đủ cho nàng ăn mặc, trả tiền phòng và tiền ăn trong một ký túc xá tầm thường. Những gì còn lại, nàng phải trông chờ vào cứu tế cuộc. Nàng đã hỏi một người xa lạ địa chỉ một tổ chức bảo vệ thiếu nhi. Chính đến cơ quan này, ở một hộ khá nghèo mà nàng tới sáng nay. Cửa mở, Josui đi vào. Người nữ thư ký ngập ngừng nhìn nàng.
– Xin cho biết quí danh.
– Sakai.
– Xin mời cô vào.
Josui tuân lời. Nàng đứng trước một người đàn bà tuổi trung niên vẻ mặt hiền hậu ngồi ở một bàn giấy, sắc mạo không xứng với chân giá trị của mình.
– Cô Sakai, tôi biết giúp ích gì cho cô?
– Tôi nghe nói ở đây có săn sóc trẻ con…
– Cô sắp sinh nở?
– Vâng, không ngay lúc này, nhưng tôi phải sửa soạn trước.
– Cô có gia đình không?
– Không.
Người nữ thư ký ghi nhận những lời khai của Josui.
– Cô có muốn giữ đứa bé không?
– Không, tôi có một mình, tôi không thể giữ nó được. Nàng đã tập luyện nói câu này và nói không chút khó khăn.
Ồ! Lennie, nàng dỗ dành, an ủi mãi tận trong đáy lòng! Nó mới yên tĩnh làm sao! Tưởng như nó nghe thấy những lời nàng nói.
– Tên tôi là cô Bray, – Người đàn bà nói dịu dàng. – Cô hãy cho tôi biết chút ít về cô có được không?
– Tôi có một mình. Tôi không có gì đáng kể.
– Cô có thể cho tôi biết tên ông thân sinh ra cô được không?
– Ông là người Mỹ da trắng. Tôi là người lai Mỹ – Nhật.
– Vậy cha đứa bé có chịu nhận một phần trách nhiệm của ông ta không?
– Tôi không muốn cho chàng biết.
Cô Bray phản đối:
– Ồ! Cô em thân mến, như vậy không tốt! Tôi có thể nói cho ông ta biết nếu cô muốn.
– Không, cám ơn.
Giọng nói của Josui như không muốn người nghe đáp lại.
Cô Bray không nhẫn nại được nữa:
– Cô Sakai, như vậy thật khó nhận con cô. Việc thu nhận hầu như không thành vấn đề nữa. Không ai muốn nuôi một đứa con lai.
– Thôi được! Để chúng tôi xem sao! Cô có thể trả một phần tiền được không?
– Vâng, tôi tưởng có thể được.
Josui hóa ra khờ khạo vì sự biến đổi này. Nàng không tự hỏi Lennie sẽ ra sao. Nàng hình dung một cô nhi viện, trẻ con chơi đùa trên cỏ dưới những cây lớn.
Cô Bray lại cầm bút chì và viết vài chữ.
– Tôi khuyên có nên lại một bệnh viện. Đây là địa chỉ. Cô hãy hỏi bác sĩ Steiner. Đó là một người đàn bà, một người tị nạn, rất hiền từ và dịu dàng. Chúng tôi sẽ đến bệnh viện tiếp nhận đứa bé. Tôi tưởng cô không nên trông thấy nó làm gì.
– Ồ! Có chứ! – Josui kêu lên, rất xúc động.
– Nếu cô quyết định xa rời đứa bé, tôi khuyên cô không nên nhìn mặt nó, – cô Bray nói và ngẩng đầu lên.
– Tôi muốn xem mặt nó.
Cô Bray nhún vai và nói tiếp:
– Có thể ngày nào sinh đẻ?
– Có lẽ tháng sáu.
– Địa chỉ cô?
Josui cho địa chỉ.
Cuộc tiếp xúc mà nàng rất e sợ, thế là kết thúc Lennie có thể ra chào đời, có người sẽ săn sóc nó. Josui đứng dậy.
– Xin cảm ơn cô. – nàng nói và nghiêng mình.
– Xin cô cứ tự tiện. – cô Bray lễ phép trao đổi.
Josui ngồi trong một công viên nhỏ để nghỉ ngơi. Nàng tự cấm mình không được nghĩ đến Allen. Bây giờ chàng biết là không bao giờ chàng trông gặp nàng nữa. Nàng không để lại một thứ gì, ngay cả một bức thư. Nàng giản dị ra đi, mang hết quần áo, đồ lặt vặt, chút ít nàng có. Có lẽ Allen sẽ trả lại căn nhà và trở về với bố mẹ. Riêng chỉ có Kobori biết địa chỉ của nàng, nhưng nàng cấm chàng không được lại thăm nàng.
Bác sĩ Steiner tò mò nhìn thiếu phụ Nhật xinh đẹp. Cô Bray báo tin cho bà là Josui sẽ tới và bà chờ đợi. Bà chưa biết một người Nhật nào.
– Vậy cô không có điều gì nói với tôi à? – Bác sĩ Steiner hỏi nàng một lần nữa.
– Không, – tôi xin bà, – tôi không lưu ý đến việc ấy.
Thấp và béo, bà bác sĩ hiểu rõ mình xấu xí. Bà không oán hận ai vì sự bất hành này, thu lãnh từ lâu. Giống một người thượng cổ tạc đẽo thô sơ trong một tảng đá xám, làm sao bà có thể hy vọng lôi cuốn được con mắt của người đàn ông. Và ít nhất bà cũng được trời phú cho thông minh nên bà nhất tâm chuyên chú vào khoa học. Điều tiếc nhớ cuối cùng trong lòng bà biểu hiện bằng sự khiêm nhường và cảm phục trước sắc đẹp của con người. Vì vậy bà ngắm nghía mãi Josui.
Sau nhiều tuần thất vọng, Josui không còn thấy xúc động trước lời ca tụng hay xót thương. Nàng luôn luôn đau đớn vì một nỗi lạnh lùng về tinh thần. Bà bác sĩ thấy dưới tấm mền đắp lên người thiếu phụ bàn chân bàn tay nàng lạnh ngắt.
– Cô bé ơi, cô lạnh đấy! – Bà kêu lên. – Nhưng theo y tá, ngày hôm nay lại nóng.
– Tôi vẫn bị lạnh luôn.
– Cô duỗi chân tay ra, tôi không thăm bệnh được. Nàng cứng rắn như một tượng đá, mà thật ra nàng giống thế. Nàng không suy nghĩ, không cảm thông và xua đuổi hết tất cả những kỷ niệm lướt qua đầu óc nàng. Vậy mà về đêm, khi nàng không ngủ được, những kỷ niệm xa xưa lại trở về với nàng, như máu trào lên vết thương mở rộng. Cứ như vậy nàng lại bội phần đau đớn, không phải vì quá khứ, nhưng vì nàng nhủ thầm nàng sẽ không được trông thấy Lennie, không được sống với con, không được thấy con khôn lớn, không bao giờ được nghe con nói, không được vui hưởng nụ cười đầu tiên của con, không bao giờ được tắm cái thân hình nhỏ bé cựa quậy luôn.
Không bao giờ nàng biết con nàng nữa.
Sau nhiều giờ suy nghĩ, cuối cùng nàng chấp nhận lời khuyên bảo của cô Bray. Nếu nàng nhìn mặt con một lần, nàng sẽ không thể xa rời con nàng nữa. Nàng thật chán nản. Nỗi đau khổ của nàng vượt xa tất cả những nỗi đau khổ của đàn bà. Lòng nàng tan nát và tan nát, nàng tự trách lỗi lầm của nàng làm đau khổ đứa bé. Còn nhỏ bé như vậy, không có gì tự vệ, thơ ngây dễ bị xâm hại… và nàng đã bỏ con. Nó sinh ra đời theo luật của tạo hóa, ái tình có thủ vai trò, Lennie từ bóng tối ra chào đời. Vì đó là một đứa trẻ vui vẻ. Josui cảm thấy như vậy. Sau một đêm khóc lóc, đứa hài nhi cựa quậy đánh thức nàng dậy, và nàng cảm thấy nó cười trong khi chờ đợi được giải phóng ra ngoài. Trong lúc đau khổ bội phần, nàng cảm thấy đau đớn đến cực độ, vì biết rằng không bao giờ nàng được nghe tiếng con cười đùa.
– Cô rất khỏe mạnh, – bà bác sĩ cam đoan với nàng. – Tất cả đều bình thường. Hàng tháng cô hãy lại đây. Mọi việc sẽ tốt đẹp.
– Xin cảm ơn bà. – Josui nói.
Nàng mặc áo, búi lại tóc và đi.
Nàng đi rồi, bà bác sĩ gọi dây nói cho cô Bray:
– Tôi đã khám thiếu phụ Nhật, – bà nói lớn giọng, tưởng rằng ở điện thoại phải nói như vậy. – Nàng thật kỳ dị, rất đẹp và khỏe mạnh. Thiếu phụ này chắc phải ở giới quý phái. Đứa trẻ sẽ đẹp, thông minh và rất khỏe mạnh. Trong danh sách của cô có ai biết lượng giá báu vật này không?
– Chà, nếu bà biết được! (Tiếng nói giọng mũi và khô khan của cô Bray có vẻ chán nản). Chúng tôi có 370 cặp vợ chồng phải thỏa mãn. Họ thúc giục chúng tôi để có những đứa trẻ theo yêu cầu của họ và tất cả lỗi lầm đều rơi vào đầu tôi vì tôi không thể cung cấp những đứa trẻ như sự mơ ước của họ. Này! Tôi bỏ một mỹ kim đánh cuộc với bà là không một cặp vợ chồng nào muốn nhận đứa bé này.
Bà bác sĩ đỏ mặt.
– À! Nền dân chủ của cô làm tôi nghĩ đến tên ác quỉ Hitler! Tôi chỉ có một phần tám máu Do Thái, nhưng với Hitler, tôi hoàn toàn là người Do Thái.
Cô Bray không trả lời.
– Ồ! Thế cô không trả lời à?
– Tôi còn suy nghĩ. Tôi không có một ý kiến nào. Phải giao đứa bé này cho cô nhi viện “Cực Tây”.
– Trên thực tế, họ không còn một chỗ nào để nhận thêm một đứa bé.
– Như vậy, tôi biết làm thế nào?
– Điều đó liên hệ đến cô Bray – bà bác sĩ kêu lên. Về phần tôi, tôi săn sóc đứa bé lúc sinh đẻ, sống và khỏe mạnh. Đó là công việc của tôi.
Bà mắc ống nói bất ngờ và lấy tay áo lau trán. Sự tức giận bao giờ cũng làm bà Steiner toát mồ hôi và bà vẫn tự trách mình tính hay giận dữ. Với thân hình mập mạp, những cơn giận dữ này có thể nguy hiểm được. Nhưng điều ấy đối với bà không cần. Bà cũng chẳng còn mong sống lâu, ngay cả ở Mỹ.
Trước mặt người nữ y tá rụt rè, tiếng bà ta như tiếng sấm!
– Đến lượt sản phụ sau… mau lên!
– À! À! – Bà bác sĩ Steiner hoan hỉ nói.
Bà đón đứa bé bà chờ đợi, nó sinh ra chậm vài ngày, một đứa bé trai mủm mỉm, thật cân đối đến tận những nét nhỏ, bà hứng thú chờ đợi nó, nóng nảy nữa. Tất cả mùa xuân bà nghĩ về đứa bé, thoạt đầu tự chế giễu mình, sau nhiệt thành nghĩ đến nó, một đứa bé không ai muốn nhận. Nó sẽ kỳ dị, đứa bé này: một kẻ phiêu lưu sinh ra, bất chấp cả những luật lệ và những sự căm hờn, một đứa trẻ táo bạo, sáng tạo ra một thế giới mới.
– À! – Bà bác sĩ nhắc lại dịu dàng hơn, mắt bao trùm đứa bé.
Nó chưa biết nhìn, bà biết rõ, vậy mà như nó nhìn bà. Nó có cặp mắt đen lớn và một khuôn mặt nhỏ tươi vui.
– Một đứa bé trai. – Bà báo tin cho Josui được đánh thuốc mê và không nghe thấy bà nói. – Đừng mang đứa bé đi, bà ra lệnh cho người nữ y tá, ta muốn tự ta săn sóc nó.
Người nữ y tá quấn đứa nhỏ trong chiếc mền cũ sạch, và đặt nó trong một chiếc giường trống. Bà bác sĩ đứng gần giường và ngắm nghía Lennie. Thiếu phụ không nói nhiều, nhưng trước khi bị mê, nàng đẩy chiếc mặt nạ ê-te ra.
– Tôi dặn bà hai điều quan trọng, – nàng nói với bà bác sĩ giọng rõ ràng. – Tôi không muốn nhìn đứa bé. Tên nó phải là Lennie.
– Không có họ sao?
– Không.
Bị quặn đau, nàng quyết định đặt chiếc mặt nạ lên mặt nàng.
– Lennie, – bà bác sĩ thì thầm.
– Tên này được lắm. Đứa bé có khuôn mặt nhỏ, nhẫn và xanh xao, một thân hình nhỏ rất cân đối.
Nó nhìn bà, nóng lòng muốn đùa nghịch, hoặc ít nhất bà cũng tưởng tưởng như thế. Nó làm bà ngạc nhiên hết sức vì những trẻ sơ sinh thường tiếp tục ngủ lâu. Nhưng Lennie thì không. Nó đã già dặn với đời. Một mối xúc động, một sự ham muốn nồng nhiệt rung động trong tấm lòng âu yếm của người đàn bà này không được tạo hóa ban ân. Chưa bao giờ bà được thấy rung động tình mẫu tử, có lẽ bà coi sự sinh đẻ là một địa hạt ngăn cấm, bà không bước chân tới được. Nhưng Lennie thật là độc nhất, khác hẳn những đứa trẻ khác. Quấn trong tấm drap trắng, hai tay nhỏ xíu nắm lại để dưới cằm, cặp mắt lớn và đen nhìn bà, nó như muốn đánh giá bà và nói: “Vậy bà cũng là một người phải không?”.
Bà bác sĩ quay lại người sản phụ. Josui ngủ, duỗi thẳng, tưởng như nàng không bao giờ trở dậy nữa. Bà thấy nàng xanh xao và bắt mạch nàng. Mạch đập bình thường. Thuốc mê càng hiệu nghiệm khi thiếu phụ càng muốn được ngủ.
– Đưa nàng sang buồng khác, – bà nói. – Nàng không muốn nhìn mặt đứa bé.
Ngay chiều tối hôm ấy, trước khi về nhà, bà bác sĩ Steiner vào phòng các trẻ sơ sinh và tiến ngay đến nôi của Lennie. Nó ở kia, đứa bé vô song, nó ngủ bình thản, không có quắp, như số đông những trẻ sơ sinh khác, nhưng nó nằm duỗi dài, như muốn đo cái hình nhỏ bé của nó. Bà bác sĩ Steiner cầm cái bàn tay xinh xắn. Bà biết rằng những trẻ Á Châu không nắm tay lại như những trẻ Tây phương. Những trẻ như vậy có lẽ sinh ra đời dễ chịu đựng số phận của chúng, được phủ thêm cho đức tính ngoan ngoãn của một dân tộc thật cổ xưa. Phương diện hữu hình đặc biệt còn tiêu biểu một điều xa lạ, một sức hấp dẫn đối với trí tưởng tượng, nhưng một ngày kia khi người ta quan tâm đến đời sống hơn là cái chết, trí thông minh của người ta sẽ thám hiểm cái địa hạt huyền bí này. Mắt vẫn chăm chú nhìn Lennie, bà bác sĩ bỗng nghĩ tới cảnh cô đơn của đứa trẻ. Sau những ngày ngắn ngủi ở bệnh viện, nó sẽ đi đâu?
Bà bác sĩ Steiner bỗng quay đi không nhìn đứa bé và trở về nhà theo lộ trình quen thuộc hàng ngày. Bà sống ở ngoại ô, trong một biệt thự xấu xí kiểu mới. Bà đã cố tìm một nhà gian để sinh sống, nhưng không được. Mặc dầu vụng về việc bếp núc, bà vẫn cần phải có một căn nhà riêng. Bà tra chìa khóa vào ổ, và như thói quen đẩy chìa khóa vào quá sâu. Bao giờ bà cũng dậy sớm để căn nhà được sạch sẽ khi bà đi, không có một vẻ đẹp nào đối với con mắt người khác, ngoài mắt bà. Trên bàn chồng chất sách. Bà bác sĩ vừa bận rộn vừa nói to tiếng Đức. Bà tắm và mặc một chiếc áo choàng cũ vải bông. Rồi ba sửa soạn buổi cơm tối một món canh đun nóng và những mẩu bánh cắt dầy phết bơ.
Lẩm bẩm bà nói, bà tự hỏi có phải mình điên không? Ba cần gì đứa trẻ con? Bà biết làm thế nào để trả một người tâm phúc hiểu biết giá trị đứa bé kỳ dị này hầu săn sóc được nó? Bà ngồi xuống bàn và thận trọng rút hàm răng giả. Thoải mái, bà nhai bánh ngâm trong súp bằng lợi. Tất cả răng của bà đều rụng ở trại tập trung. Sau bữa cơm tối, bà rửa bát đĩa và ngồi trong chiếc ghế bành lớn bọc nhung đỏ đã phai màu. Bà mở một chiếc hộp, lấy một điếu xì gà và hút. Mặc dầu bề ngoài bình tĩnh, những ý nghĩ của bà quay cuồng trong đầu óc bà thật dữ dội.
Trong vòng mười phút, bà nhấc cần máy nói và đẩy điếu xì gà sang một khóe miệng, bà nói:
– Bray, cô đấy à?
Giọng nói mệt mỏi và xa xăm đáp:
– Thưa bác sĩ, vâng.
– Đứa bé đã sinh ngày hôm nay.
– Đứa bé nào?
– Bray, tôi xin cô, cô đừng có ngốc thế. Thiếu phụ Nhật xinh đẹp cô gửi đến tôi đó. Làm sao cô quên được? Bray, cô có nghe tôi nói không?
– Tôi nghe rõ bà hơn nếu bà đừng la như thế.
Bà bác sĩ Steiner hiểu rằng cô Bray bị mệt nhọc và dễ giận dữ.
– Làm thế nào mà cô không nghe được nếu tôi không nói to! Thật kỳ cục quá! (Bà nói to nữa.) Bray, tôi quyết định rồi, tôi giữ đứa bé này.
Bà chờ đợi kết quả của cái tin giật gân này, cô Bray im lặng.
– Bray, cô có nghe thấy tôi không?
– Vâng, tôi nghe rõ. Nhưng, theo nguyên tắc, chúng tôi không giao trẻ con những người đàn bà không có chồng.
Bác sĩ tức giận:
– Thế cô nhi viện có chồng không? Cô bảo tôi cô cho đứa bé vào một cô nhi viện. Nó sẽ bị bịnh đi tiêu chảy và chết. Mười đứa trẻ đã gặp trường hợp này năm nay. Tôi không muốn nó là trường hợp thứ mười một. Tôi sẽ nhận nó. Nếu có sự khó khăn, tôi xin chịu trách nhiệm.
Sau một ngày dài dặc, nóng oi ả, sau khi cật vấn nhiều sản phụ trẻ tuổi và cáu gắt, cô Bray thấy chán ngán tình yêu và những hậu quả của nó. Lúc này giá có một công việc nào cô cũng chẳng cần.
– Được lắm! – Cô kêu và thấy mệt quá sức.
Khi Josui thấy tờ giấy khai từ bỏ con, nàng ngập ngừng. Nàng hỏi cô Bray:
– Không ai nhận đứa bé hay sao?
– Hơn hết là cô không nên biết điều này, – cô Bray trả lời với giọng như không muốn đối đáp nữa.
Josui không nói gì. Bỗng giật mình, nàng cúi đầu và vội vã biên tên mình trên dòng ghi “người mẹ”. Nước mắt trào lên mắt nàng và lóng lánh trên lông mi. Cô Bray cầm tờ giấy và thấm khô.
– Thế là xong. Nếu cô muốn biết tin tức đứa bé, cô có thể viết thư cho chúng tôi. Nếu có điều gì xảy ra, chúng tôi sẽ báo tin cô biết. Tôi khuyên cô nên quên nó đi.
– Xin cảm ơn cô, – Josui nói khẽ. – Xin chào cô.
– Xin chào cô.
Josui đi ra ngoài đường phố nắng chói chang. Nàng muốn được yên tĩnh, nhưng bà bác sĩ Steiner chờ đợi nàng để thăm lần chót. Nàng thấy có thể tin tưởng ở bà bác sĩ này, mặc dầu bà có vẻ kỳ cục, đầu tiên vì đó là một người đàn bà, và sau nữa, Josui thấy bà hiền lành tuy nóng nảy. Sau khi thăm lần cuối này, nàng sẽ viết thư cho Kobori để hẹn gặp gỡ. Lúc đó hai người sẽ quyết định xử sự thế nào.
Xanh xao và im lặng, nàng đi vào phòng giấy bác sĩ đang nóng lòng chờ đợi nàng, vì bà đã có quyết định rồi. Bà bác sĩ nói ngay:
– Đây, tôi nói để cô biết… (Bà nhìn Josui lại ngắm nghía sắc đẹp mảnh mai của nàng.) Tôi muốn cô biết chuyện, nhưng xin cô đừng nói cho cô Bray rõ. Tôi không muốn có chuyện xích mích với người đàn bà dũng cảm nhưng đần ngu ấy.
Bà ngả người ra phía trước, hạ thấp giọng vẻ quan trọng:
– Đây, tôi giữ con của cô. Đó là một đứa bé kỳ dị. Nó gồm thu trong thân hình nhỏ bé của nó cả thế giới! (Bà bác sĩ giơ hai tay nắn làm một cử chỉ như bao quanh cả vũ trụ.) Tôi sẽ dạy dỗ nó trở thành một vĩ nhân. Điều đó sẽ dễ dàng vì nó đã chứa đựng một thứ gì cao cả. Vừa choáng mắt, vừa cảm động, Josui lắng nghe. Nàng cũng ngả người ra phía trước. Dưới những băng bó chặt, hai vú của nàng đau đớn, chan chứa một thứ sữa không có công dụng gì. Nàng nhiều sữa quá, theo cô nữ y tá ở bệnh viện, nàng có thể nuôi luôn ba đứa bé được.
– Vậy tôi có thể biết tin tức con tôi được, – nàng thở dài. – Tôi sẽ biết nó ở đâu.
– Cô có thể biết, – bà bác sĩ quả quyết – Cô có thể giữ nó trong một thời gian cũng được. Cô hãy đến căn nhà nhỏ của tôi và hãy săn sóc đứa trẻ.
– Ồ! Xin cảm ơn! (Tất cả những quyết định của Josui đều nhượng bộ trước một sự ham muốn mãnh liệt.) Tôi không thể ở lâu được, nhưng có thể một đêm…
– Xin cứ lại. Đây, chìa khóa. Cô hãy đến một mình. Tôi sẽ đem đứa bé về sau.
– Nhưng bà làm thế nào…
Josui nhìn chiếc bàn đầy giấy tờ.
– Tôi đã xếp đặt. Tôi có một bà láng giềng tốt, một bà già, nhưng không già lắm, con ba đều đi vắng. Bà sẽ trông nom đứa bé ban ngày. Các bà già thường yêu trẻ con lắm. Đến tuổi chúng ta, người ta hiểu rằng bọn con trẻ mang trong người chúng mối liên lạc giữa quá khứ và tương lai. Thôi, cô đi luôn bây giờ, và hãy sửa soạn đón tiếp đứa bé.
Josui cầm chiếc chìa khóa do cái bàn tay mập và vuông đưa cho nàng. Nàng cúi đầu xuống và đặt má lên bàn tay này một lúc, rồi nàng đi ra, không sao nói được lời nào. Như vậy, nàng sẽ bế con của nàng, con cả của Allen trong cánh tay nàng. Nàng có thể bế, tắm rửa và nuôi nấng con. Và trong khi đứa bé ngủ, nàng làm gì? Nàng khâu cho nó những quần áo nhỏ mà bà bác sĩ hiền từ và dễ giận dữ đã để dành cho nó khi lớn. Như vậy, con nàng sẽ biết mẹ nó yêu quí nó. Nàng vào một cửa hàng, mua những miếng dạ rẻo, màu hồng xanh, kim và lụa màu.
Cắp gói các đồ lặt vặt, nàng đi xe buýt về nhà có Lennie ở.
Bà bác sĩ Steiner về, bế Lennie. Bà đặt đứa bé vào chiếc nôi do Josui xếp đặt. Josui cởi khuy áo ngực và nhìn bà bác sĩ, vẻ van lơn.
– Cô bé đáng thương! – Bà bác sĩ nói, giọng thương xót. – Cố nhiên rồi, cô cứ tự nhiên. Ta sẽ làm tắt sữa khi nào cô muốn, hãy ẵm lấy con.
Chìm đắm trong nỗi hân hoan, Josui bế con trong cánh tay và ẩn mình trong phòng. Riêng với con, nàng nuôi nấng nó. Mắt chăm chăm nhìn cặp mắt trẻ thơ, nàng cảm thấy nỗi đau đớn cửa nàng tê tái, lên tới cực độ, tràn ngập cả tâm hồn nàng. Nàng khóc và nước mắt rơi xuống mặt Lennie. Nàng lau mặt con và không ngớt nhìn nó, rung động vì tình yêu thương.
Không mấy lúc no nê, thằng bé ngủ. Nàng đặt con vào nôi và chăm chú ngắm nghía khuôn mặt nhỏ bé, bàn tay và bàn chân con. Nàng nhận ra miệng nó giống miệng Allen, với cặp môi cong dịu dàng, nhưng cằm lại có vẻ cương quyết sửa đổi sự dịu dàng kia, đó là cái cằm của bác sĩ Sakai. Bàn tay đứa bé giống bàn tay mẹ. Còn hai vai vuông kia giống ai? Nàng trông cặp lông mi con: lông mi của một người đàn bà Mỹ, dài và cong, với đôi mắt phượng của người Á Đông. Cặp mắt tuyệt đẹp kia. Allen đã đi hưởng tổ tiên nào của chàng. Cặp lông mi giống lông mi của một người đàn bà Mỹ xinh đẹp nào mà Josui không thể bao giờ biết được.
Cứ như vậy khởi đầu cái tuần lễ kỳ thú, vì một tuần lễ qua đi hai người đàn bà mới có thể chia tay nhau được. Cuối cùng Josui kể câu chuyện ngắn về đời sống của Lennie. Vừa nói, nàng vừa nhớ lại những chi tiết đã lãng quên hoặc khi trước nàng không lưu ý đến.
– Khi lần đầu tiên chúng tôi gặp gỡ nhau dưới giàn hoàng hậu, cuối cùng khi chúng tôi… bà đã biết… hôn nhau.
– Không, tôi không biết. Không bao giờ tôi hôn một người đàn ông. Vậy việc gì xảy ra thế?
– Chúng tôi cảm thấy sự chuyển động nhẹ trong không khí, một làn gió thoảng, mặc dầu trời yên lặng và không có gió. Tưởng như có một sự hiện diện nào khác xen thêm vào sự hiện diện của chúng tôi. Bà tưởng như thế có thể được không?
– Không phải là không có thể được.
Ẵm đứa bé trong lòng, chiếc váy căng thẳng trên hai đầu gối mập, bà bác sĩ Steiner muốn giải thích cho Josui rõ vì sao Lennie đối với bà tiêu biểu sự đắc thắng của đức tin của bà.
– Nó đẹp quá, đứa bé này! Nó chứng mình lý thuyết của tôi sự tạp chủng có thể có những kết quả tuyệt vời. Tuyệt vời cô có rõ không, cô bé? Đó là một thắng lợi.
Lennie ngủ trong nôi ban đêm, vì lúc đó hai người đàn bà cuối cùng phải ngừng nói. Ban ngày, từ cánh tay mẹ, Lennie chuyển sang cánh tay bà bác sĩ Steiner. Nó ngủ, người ta cũng mang từ phòng này sang phòng nọ, người ta đặt nó lên hai đầu gối, đầy đủ tiện nghi hoặc người ta hiến nó một vài đầu vú căng sữa mà tức thời nó ngoặm lấy ngay, hai người đàn bà bao phủ nó bằng tình yêu thương. Tất cả những kỷ niệm đầu tiên của nó, chôn giấu trong trí nhớ của nó, chỉ nói lên tình yêu thương, tình yêu thương lại tình yêu nữa. Đó là một đứa trẻ được chiêu đãi nhất trên đời.
Ngày cuối tuần đến và Josui sửa soạn ra đi. Hạn kỳ đó, thoạt đầu nàng e sợ mãi, lúc đến gần, nàng đỡ lo sợ hơn. Nàng không còn muốn đem Lennie ra khỏi nơi này. Ở đây nó được che chở. Tấm lòng quảng đại của người đàn bà này, thấu hiểu đời sống và cái chết, không yêu thương ai khác là toàn thể nhân loại và Lennie. Gần bà, nó được an toàn.
– Ở đây với tôi, cô bé, – bà bác sĩ đề nghị với Josui. – Cả ba chúng ta sẽ sống chung với nhau. Tôi kiếm cũng được khá.
Josui từ chối:
– Đứa bé không phải của riêng tôi. Nếu tôi ở lại, một ngày kia, nó sẽ hỏi về bố nó. Tôi sẽ không thể chịu đựng được và cũng không thể trả lời được. Xin cho tôi đi.
Để tắt sữa, theo những lời chỉ dẫn của bà bác sĩ. Rồi nàng sửa soạn rời ngôi nhà nàng. Ở San Francisco, Kobori chờ đợi nàng, lúc ấy nàng sẽ quyết định. Lòng nàng bình tĩnh, bình tĩnh vì tình yêu đã hết. Lúc đi, nàng ôm con trong lòng. Nó đi giày vải màu xanh và hồng thêu mấy con bướm, do mẹ nó khâu. Nàng trao đứa bé cho bà bác sĩ Steiner, lùi lại một bước và cúi rạp xuống, theo kiểu Nhật.
– Xin cảm ơn, xin cảm ơn, bây giờ và suốt đời tôi và đời con tôi.
– Một ngày kia, xin mời cô lại.
Josui lại cúi người xuống nữa.
– Xin cảm ơn, – nàng nhắc lại, – xin cảm ơn. Nhưng nàng không muốn chính thức tỏ ý nghĩ của nàng: không bao giờ nàng trở lại nữa. Đứa bé nàng cho là cho hẳn. Giữa quá khứ và tương lai, nàng không muốn có dây liên lạc nữa.
Kobori đợi nàng ở ga San Francisco. Tàu đến đúng giờ. Josui lại đẹp và mảnh mai như xưa. Kobori cố hãm lại ý muốn định xổ lại đón nàng. Chàng ước ao mối buồn tình ái của nàng đã tiêu tan, nhưng cần phải nương nhẹ những cơn bệnh mới khỏi. Thành thật, chàng muốn để Josui tự do từ chối chàng. Vả nữa, chàng không thể hưởng một cách bình tĩnh sự đắc thắng ngẫu nhiên, nếu chàng không nói cho Josui biết cái tin đăng trên các báo từ ngày hai người gặp gỡ nhau.
Chàng trật mũ và chìa tay, không muốn người ngoài để ý cách chào cúi rạp của người Nhật.
– Josui.
Nàng không trông thấy chàng. Nghe thấy gọi, nàng quay lại phía chàng.
– Kobori, anh đi đón em, thật quý hóa quá!
Hai người đi gần nhau, Kobori không thể không ngắm nghía Josui. Chàng thấy người nhẹ nhõm khi trông thấy má nàng đánh phấn hồng dịu. Nàng đã trưởng thành, nay nàng bình tĩnh từ tốn. Đối với con mắt Kobori, những đức tính này càng tăng vẻ đẹp của nàng.
Chàng gọi một chiếc tắc xi, mời nàng lên xe và ngồi gần nàng.
– Anh nghĩ ta có thể cùng ăn buổi sáng được, – chàng ngập ngừng nói.
– Hay lắm! – Josui đáp.
Chàng nói địa chỉ cho tài xế và ngồi lên đệm xe. Chàng không biết nói gì. Và cũng vì một lý do chính đáng, chàng không muốn hỏi han về đứa bé. Chàng không muốn biết nó sống chết hay số phận ra sao.
May mắn tiệm cao lâu không xa. Kobori trả tiền xe và thưởng người tài xế rất hậu hĩ. Chàng những muốn khoác tay Josui như người Mỹ chàng trông thấy, nhưng chàng rất nhút nhát. Chàng đưa nàng vào một tiệm cao lâu nhỏ nhưng sang trọng. Từ chỗ ngồi, người ta trông thấy vịnh nhỏ. Trên bàn có bầy hoa thủy cúc màu tím lợt và cây mã tiên thảo màu vỏ cam của Kobori mua.
Chàng cố ngồi trên chiếc ghế quá nhỏ và cuối cùng bắt đầu thấy thoải mái và thích thú.
– À! Bây giờ em phải ăn các món anh đã gọi. Hình như đó là những món ăn đặc biệt nhất của tiệm này. Nó giống nhiều các món Á Đông nhưng có nhiều gia vị hơn.
– Em đói. – Josui nói. – Em thấy ăn ngon miệng từ ngày em không còn buồn rầu nữa.Đó là một tin tốt lành: nàng không buồn nữa! Kobori mỉm cười. Rồi chàng lại nhớ một tin khác, mà chàng phải nói cho nàng biết.
– Còn phải đợi món tôm.
– Tôm là món ăn chắc phải nấu vào lúc cuối cùng.
– Chúng ta không vội, có phải không?
– Không, không có gì vội (chàng hắng giọng). Thật ra anh thấy chờ đợi lâu như vậy rất thích hợp. Anh có mấy tin báo cho em. Anh không rõ em cho là tốt lành không?
– Tin tức gì thế anh? – Nàng nhắc lại và nghĩ đến Allen.
– Tuần lễ trước, – Kobori bắt đầu nói, chăm chú để diễn tả được rõ ràng tình thế – anh được biết các vị thẩm phán California đã quyết định cho phép các cuộc hôn nhân giữa các người da trắng và người Nhật.
– Anh nghĩ em phải biết việc này vì nó có thể thay đổi tình thế. Nghĩa là em có thể, nếu em còn muốn, viết thư cho người Mỹ kia mà anh không muốn đọc tên. Bây giờ hai người được phép chung sống với nhau ở đây.
– Chúng em không thể sinh sống bất cứ ở nơi nào khác. Bây giờ không thể được nữa.
Kobori thấy lòng se lại:
– Em muốn nói rằng em không muốn sống với anh ta nữa phải không?
– Không phải vấn đề muốn hay không. Đó là một điều không thể thực hiện được nữa. (Giọng nói quả quyết của nàng có vẻ ngã lòng trong chốc lát.) Kobori anh có hiểu rằng, em không thể nhìn được nữa hay sao? Bây giờ luật lệ có làm gì? Cuối cùng em đã hiểu anh ta, không thể đủ cho cả một cuộc đời.
Như có những tiếng đập vào lồng ngực Kobori.
– Em không còn…
Nàng nói tiếp câu của chàng:
– Tình yêu đối với người Mỹ kia phải không? Điều đó không có quan trọng. Và nửa tình yêu không đủ. Người Mỹ có thể thỏa mãn với tình yêu được. Em thì không. Nay em hiểu rõ điều đó.
Chàng thở dài:
– Như vậy có nghĩa là em sẽ trở về Nhật hay sao?
Nàng trả lời không chút ngập ngừng:
– Vâng, anh Kobori ạ, như cha em.
Người hầu đến giữa lúc này, mang món tôm để trong một đĩa sứ đẹp. Y kiêu hãnh đặt đĩa tôm trước mặt Kobori và đưa cho chàng một bộ thìa đĩa.
– Chắc ông muốn tự đưa thức ăn mời bà?
Kobori ngạc nhiên, cầm một cách vụng về bộ thìa đĩa và nhìn Josui vẻ thiểu não:
– Anh chưa làm việc này bao giờ.
– Anh đưa em! – Nàng nói và giơ tay. – Anh Kobori, cho em đĩa của anh để em xẻ thức ăn.
Chàng đưa chiếc đĩa, nhẹ nhõm hẳn người.
– Cảm ơn em, – Chàng nói nhỏ.
Nhìn nàng, chàng lấy làm mãn nguyện thấy nàng còn giữ chuỗi hạt ngọc Ấn Độ. Chàng nói âu yếm:
– Anh là chủ, nhưng em lại làm hết, giỏi hơn anh nhiều.
Nàng mỉm cười không đáp. Nàng cảm thấy tự nhiên hầu hạ con người to lớn và vụng về này. Công việc đó là công việc của nàng. Nàng nghĩ trong hết phần còn lại của đời nàng.
Ngày hôm đó, trời nóng bức trong thành phố nhỏ này ở Virginia. Hồi này vào giữa mùa hạ.
Mảnh dẻ trong chiếc áo mỏng màu xanh, sau khi yên nghỉ giấc trưa, bà Kennedy đi xuống cầu thang đánh si bóng. Bà ngừng lại trong hồ tắm. Bà tỉnh giấc vì tiếng nói và tiếng vỗ nước: đó là Cynthia và Allen. Bà giữ ý không nói với Allen về Cynthia, bà không buộc con phải theo ý bà, từ ngày chàng trở về, trong mùa Đông trước, vì mệt mỏi một cách lạ lùng, nên chàng thường bực tức luôn. Bà liền dẫn chàng đi Wison Bring trong một tháng, không căn vặn gì chàng. Do ông Kennedy nói, bà biết thiếu phụ Nhật đã bỏ đi, không để lại một chữ nào. Allen thôi không làm công việc với tờ báo nữa và triệt hồi khế ước thuê căn nhà để về với cha mẹ chàng.
– Đó là điều hay hơn hết cả, – bà Kennedy nói với chồng và chỉ được đáp lại bằng sự yên lặng thường lệ.
Bà nấp sau cửa sổ để âu yếm nhìn đôi thanh niên nằm dài dưới gốc sung ở ngoài hiên. Bà thấy cả hai người đều đẹp. Bà buông tấm màn cửa và ngồi xuống. Từ tháng trước, bà hy vong hàng ngày Allen đến bảo bà:
– Thưa mẹ, ngày hôm nay Cynthia đã hứa hẹn…
Bà thận trọng tựa người vào lưng ghế để khỏi làm hư mớ tóc và nhắm mắt lại. Bà mỉm cười và chờ đợi.
Cynthia cọ đầu với chiếc khăn lớn màu xanh. Nằm ở phía dưới chân nàng, Allen hỏi nàng một câu vụn vặt:
– Có phải em lựa chiếc khăn màu xanh và em ưa thích màu này không, hay là em thấy chiếc khăn này hợp với em.
– Đi qua phòng tắm, em dù bắt chiếc khăn người ta ném cho, nhưng cũng có thể em lấy chiếc khăn này vì màu sắc của nó, có lẽ là một cử chỉ vô ý thức.
– Hoàn toàn biết rõ, như thường lệ, – Allen nói đùa.
– Có thể được.
Chàng chóng khuỷu tay lên.
– Chúng ta nói những điều điên rồ.
– Chẳng có gì thay đổi cả. Em còn nhớ khi anh khoảng lên mười, em thấy anh và cậu bé kỳ cục nhất.
– Nhưng hồi ấy, em yêu anh lắm phải không?
Nàng ngập ngừng, thận trọng:
– Có lẽ, đôi khi.
Sự thận trọng này làm cho Allen bực tức.
– Cynthia, em hãy bỏ chiếc khăn khốn kiếp xuống, – chàng ra lệnh.
Bỗng ngả người ra, chàng nắm lấy gốc khăn và giựt khỏi tay nàng. Nàng giựt lại và hai người giằng co chiếc khăn.
– Lại một cử chỉ kỳ khôi của anh rồi! – Thiếu nữ kêu lên.
– Được! Nhưng hãy nghe anh, anh ngán thái độ của em đối với anh. Em hiểu rõ rằng anh muốn nói gì và em không để cho anh hết lời, – chàng nói và bỗng buông chiếc khăn ra.
Nàng ném chiếc khăn xuống đất.
– Được lắm! Anh nói đi cho xong chuyện.
Allen cảm thấy khó chịu một cách lờ mờ trước cặp mắt xanh sáng ngời, môi mím lại. Chàng có quá tự tin về sự đắc thắng của mình không?
– Thôi, anh nói đi! – Nàng vật nài.
– Cố nhiên. (Bỗng chàng nói vẻ tức giận.) – Anh muốn em lấy anh. Em biết điều đó và em biết thế đã từ lâu.
– Được! Này! Còn em, em không muốn lấy anh. Đã đến lúc anh phải biết điều này.
Nàng trả lời như ném vật gì vào đầu chàng, nhưng nàng thấy chàng nghe mà không hiểu.
– Anh không muốn chấp thuận lời đối đáp của em. – chàng nghiêm trang nói – Nếu em nghĩ đến Josui…
– Đúng rồi, chính em nghĩ đến nàng.
– Vô ích, vì thế là hết tất cả rồi. Coi như việc này chưa xảy ra… Anh tự hỏi không rõ tại sao anh lại mắc mưu vào được. Anh ở xa nhà lâu quá. Và em biết, Cynthia… Cuối cùng phải nói với em, dù em lãnh đạm với điều này, nghĩa là chưa bao giờ anh tiếp xúc với đàn bà Nhật như những bạn bè khác.
Chưa chắc nàng đã nghe chàng nói. Nàng bất động như một pho tượng.
– Em tưởng như biết tại sao Josui lại bỏ anh đi. Nàng sắp sinh nở.
– Không. Nàng không có nói với anh.
Cynthia như để ý đi đâu.
– Em không tin như thế, – nàng nói. – Theo ý em, nàng biết rằng mẹ anh không chịu nhận nàng, nàng cũng chẳng muốn giữ đứa bé làm gì.
– Thôi em đừng công kích mẹ anh nữa! – Chàng phản đối. – Bà không chịu trách nhiệm và em đã biết. Em biết luật lệ.
– Thật nói dóc! Anh tưởng như miền Virginia là tiểu bang duy nhất của nước ta!
– Chính nhà của anh ở đấy!
– Nói dóc quá! – Nàng nhắc lại và mắt nàng ướt đẫm giọt lệ.
Trông thấy nàng khóc, chàng đứng dậy, hai tay giơ ra.
– Cynthia, em thân mến…
Nàng lùi lại:
– Đừng đụng vào em! Em không thể chịu được.
Nàng cúi xuống, nhặt chiếc khăn xanh, chạy qua thảm cỏ về nhà nàng.
Chàng nhìn nàng đi, lòng chán nản nặng nề, tưởng như không bao giờ thấy như thế. Vũ trụ như sụp đổ. Chàng rời căn nhà ở New York, cách đây một tháng, trong một tình trạng thảm thương… một ý nghĩ duy nhất trong đầu óc đau đớn của chàng, kéo lê về nhà để hàn gắn vết thương: Cynthia! Cynthia chờ đợi chàng ở nhà. Chàng sẽ để một khoảng thời gian để tự thuyết phục chàng là thật sự chàng không thương yêu Josui và cuối cùng sẽ quên nàng. Sau đó, chàng lại sống cuộc đời bình thường.
Allen đi thong thả qua thảm cỏ và thấy mẹ chàng đứng trước cửa. Chàng muốn bỏ vứt đi ngay cái tin ghê gớm kia.
– Thưa mẹ, con xin nói một lần chót và xin mẹ đừng nhắc lại chuyện này nữa: con có yêu cầu Cynthia lấy con và nàng từ chối.
– Allen, tại sao?
– Nàng không cho con biết lý do.
Thất vọng, bà nhìn người con lớn, rất đẹp trai và đoán nỗi đau khổ của chàng dưới cái bề ngoài hãnh diện.
– Con lại muốn tái đăng vào quân đội, thưa mẹ, – chàng nói giọng ngập ngừng.
– Ồ! Con yêu của mẹ.
Vừa thổn thức, bà vừa giơ tay ra đón con, nhưng chàng quay đi và lên phòng riêng.
Bà bác sĩ Steiner, ngồi trên ghế, cầm một chiếc khăn lớn bằng bọt bể trải trên đầu gối.
– Bây giờ nhấc nó lên, – bà Markey. Đặt nó lên đầu gối tôi.
Bà Markey ẵm Lennie ở trong bồn tắm ra và khẽ đặt nó vào lòng bà bác sĩ đang chờ đón nó. Thằng bé cố ngồi thẳng và mỉm cười với bà. Nó thường mỉm cười luôn với hai khuôn mặt quen thuộc. Nó chỉ kêu la khi một trong hai người đàn bà đáng yêu và vụng về này vô ý đâm chiếc kim vào nó, hoặc bắt nó chờ đợi bầu sữa, điều ít khi xảy ra. Cặp mắt lớn của nó giống trái hạnh đào, mầu đen như nhung, hơi cụp xuống, với đôi lông mi kỳ dị, rất dài và cong, làm bà bác sĩ hết sức vui vẻ. Bà lau chùi đứa bé hết sức kỹ lưỡng.
– Này, bà Markey, – bà nói giống như người diễn thuyết, – bà hãy lưu ý xem hai bàn tay Lennie. Ngón thứ nhất và ngón thứ tư duỗi thẳng, còn ngón tay cái, ngón thứ nhì và ngón thứ ba gập lại. Đó chính là điệu khiêu vũ ở Miến Điện và Thái Lan. Nghĩa là những người sáng tạo ra vũ điều này tại các xứ Á Đông trông thấy ở những cử chỉ này của đứa bé sự biểu lộ đầu tiên của bàn tay loài người.
Bà Markey, một người đàn bà tầm thường cung kính nhìn hai bàn tay Lennie, những ngón tay này bay nhảy như chim muông, đứa bé hầu như khiêu vũ, với tất cả những lỗ đồng tiền ở má và những nụ cười, linh động như nước chảy và những tia nắng. Bà so sánh nó với thằng con cháu bà, nặng nề hơn, mà một trong những người ấy đã đến tuổi thành nhân để đi lính và chết, không ai biết tới, tại một đảo bao phủ bởi toàn rừng rậm. Khi bà khoe khoang Lennie với bạn láng giềng của bà, người ta trả lời:
– Làm sao bà có thể say mê một đứa trẻ Nhật được thế?
– Lennie khong phải là Nhật, – bà Markey đáp. – Nó khác hẳn những đứa bé mà tôi biết.
Những người đàn bà chua ngoa lại nói vẻ độc ác:
– Và phải nói rằng con trai bà lại bị người Nhật giết.
Lòng bà đau đớn nhớ đến Sam con trai, nhưng bà trả lời:
– Lennie không chịu trách nhiệm về những việc này.
Làm thế nào các bạn láng giềng ngu ngốc của bà có thể hiểu được những ý nghĩa thầm kín của bà.
Bỗng Lennie thay đổi vẻ mặt. Khuôn mặt thông minh của nó bỗng sa sầm xuống và có vẻ kinh ngạc. Nó nhìn bà bác sĩ Steiner như trách móc, tuy đã hiểu rằng bà là nhân vật chính trong đời nó. Miệng nó như bông hồng hé mở khẽ run run những giọt lệ lóng lánh trên lông mi mắt.
– Mau lên! – bà bác sĩ Steiner hoảng hốt. – Thằng bé đói rồi! Phải, phải, cục vàng của ta! Bầu sữa, bà Mackey!
Bà Markey chạy tìm bầu sữa, bà bác sĩ cẩn thận sờ bầu sữa nóng ấm ra sao. Bà quấn chiếc tả cho Lennie và buộc chặt lại. Thằng bé không chịu đựng được khoảng thời gian ngắn ngủi này. Nó cử động mạnh chân tay mụ mẫm.
– Đây! Đây! – Bà bác sĩ xin lỗi. – Để ta làm từ từ, ta biết làm. Đây, bầu sữa của con.
Nó giơ tay (quá sớm đối với tuổi nó, bà bác sĩ ghi nhận như vậy), bám lấy bầu sữa và đút vào mồm, méo xệch đi vì nhăn nhó đói. Được cánh tay rắn chắc của bà bác sĩ nâng đỡ, nó bú sữa. Nguôi dịu, nó trầm ngâm nhìn khuôn mặt to lớn, hiền từ cúi xuống mặt nó. Bà bác sĩ vẫn tiếp tục nói:
– Tôi đã làm xong trắc nghiệm ngày hôm qua, bà Markey.
– À, thật à! – bà Markey lẩm bẩm, vẻ không tán thành.
Bà thấy tàn ác và bất chính khi bắt một đứa bé nhỏ xíu và hoàn toàn như Lennie phải chịu sự trắc nghiệm.
– Phải, tất cả các cuộc trắc nghiệm, ngay cả trắc nghiệm thần kinh, – bà bác sĩ nói lớn giọng và oai nghiêm. – Hệ số thông minh của nó, tôi rất hài lòng nói để bà biết, cao hơn tất cả những mẫu trẻ đồng tuổi nó. Thật phi thường, nhất định phi thường.
– Tại sao bà lại gọi Lennie là một “mẫu trẻ”? – Bà Markey hỏi vẻ khiêu khích.
Bà bác sĩ Steiner ngạc nhiên nhìn bà láng giềng:
– Và tại sao không được?
– Danh từ đó làm cho thằng bé mất cá tính. Lennie không những là một mẫu trẻ, nhưng là tình yêu đằm thắm của những đứa bé, một đứa trẻ đáng yêu nhất.
Lennie nghe thấy bà Markey nói liếc nhìn bà. Bà già yêu thương đứa bé đến chảy nước mắt.
Bà bác sĩ cười:
– Markey, bà không yêu đứa bé này à!
Bà Markey lấy tay che hàm răng hư hỏng trước khi mỉm cười:
– Tôi tự hỏi tại sao tôi lại yêu nó nhiều thế, sau những đứa bé tôi biết và sau cả con tôi đã chết. Nhưng khi thằng bé Lennie nhìn tôi, lòng tôi lại thấy như tan nát.
Lennie đẩy bầu sữa ra, một ít sữa chảy xuống cằm nó, nó mỉm cười đẹp như thiên thần và chạy lại bà bác sĩ mập mạp, vẻ chăm chú. Bà sẽ nói thế nào?
Bà bác sĩ cúi đầu xuống khuôn mặt tươi vui. Bỗng bà nghĩ đến những xác nhỏ trẻ thơ chết đói, bị giết bằng lưỡi lê, chất lên thành đống, bị giết vì cha mẹ chúng là Do Thái, theo Thiên Chúa giáo hay theo kháng chiến, bị thù ghét sợ hãi và khinh bỉ. Bà hãi sợ, chỉ e Lennie nhìn thấy những kỷ niệm này trong cặp mắt bà. Thằng bé thật dễ xúc động! Khối óc của nó chứa đựng tất cả những báu vật trên đời. Bà nâng cao nó lên, đặt lên vai bà và cảm thấy ở má bà những sợi tóc tơ mềm mại màu hung nâu. Bà đã trông thấy biết bao trẻ thơ chết nhưng đứa bé này, ba sẽ cứu sống.
– Thật mùa hoa nở! – bà khẽ nói, – mùa hoa nở đẹp quá.
Những buổi sáng, Trọng có thói quen thức giấc vào khoảng sáu giờ…Những ngày không phải đi làm, Trọng trở mình nằm nghiêng rồi nghĩ thầm: hôm nay mình nghỉ mà!… Trọng nhắm mắt ngủ lại. Giấc ngủ ban ngày nặng nề mệt nhọc, quên cả ăn sáng. Lúc thức dậy, nhìn vào trong gương thấy mặt phờ phạc, ngơ ngác. Đôi mắt thật đỏ, mái tóc bồng lên, cố chải mà không thể nằm ép xuống.
Những giấc ngủ ban ngày thường đưa Trọng vào những cơn mộng thê thảm. Những tiếng người khóc, những tiếng nổ kinh hoàng, những tai nạn phi cơ trên phi đạo. Trọng mơ thấy mình thấy một tai nạn phi cơ chắc chắn sẽ xảy ra, chàng cầm micro mồm há thật lớn mà nói không thành tiếng… Những chiếc phi cơ hỏng thắng, chạy vun vút trên sân, đuổi theo chiếc phi cơ đằng trước, đâm sầm vào nhau, bom nổ tung, lửa rừng rực cháy…Trọng bàng hoàng bừng tỉnh, thấy ngực mình thật nặng. Trọng cố xoay mình rồi lại nhắm mắt. Căn phòng trống chỉ còn lại mình Trọng.
Trong những giấc ngủ chập chờn, lúc bừng tỉnh Trọng thường nằm nghe những tiếng động trong căn cứ để phỏng đoán thời gian. Tiếng xe chạy qua đầu nhà rầm rập, tiếng động cơ gần rồi xa…Tiếng nói chuyện vang trên đường buổi sáng. Đã đến gần tám giờ. Nhân viên của công xưởng đã đi làm. Trọng nhắm mắt rồi một lúc sau lại bừng tỉnh. Tiếng máy bào, máy tiện rú lên phía Xưởng Bảo-trì. À, đã hơn chín giờ. Trọng lại nhắm mắt.
Những tiếng động ban ngày của căn cứ vọng vào căn phòng trong cư xá độc thân. Tiếng máy bay cất cánh từ phía đầu phi đạo 09. Tiếng kẹt cửa nhè nhẹ. Bà già giặt đồ rón rén đi vào phòng, lấy đồ giặt để ở đầu giường. Đã hơn mười giờ. Bắt đầu từ lúc mười một giờ, tiếng khóa mở lách cách ở những căn phòng bên cạnh. Vài ba thằng đã đi làm việc về, tiếng giày bước mạnh ngoài hành lang. Tiếng hát oang oang sai cả nhịp điệu, tiếng nước dội ào ào phía buồng tắm đầu nhà. Trọng uể oải ngồi dậy. Giờ này thì không thể nào ngủ được. Sắp tới giờ ăn cơm trưa.
– Bố khỉ, giờ này mới thức dậy…
Trọng ngồi bó gối trên giường…Những thằng cùng phòng đang ngồi xúm nhau chung quanh một chiếc giường đánh vài ván bài trước khi đi ăn cơm. Có nhiều khi chẳng cần ăn cơm trưa, đánh bài tới lúc giờ đi làm buổi chiều.
Trọng hất cái mền xuống cuối giường, thò chân xuống tìm đôi dép. Chiếc giường sắt kêu cót két.
– Dạo này mấy thằng Lầu Gương thức đêm trắng con mắt. Tàu bay nó bay hành quân suốt đêm. Những ngày không phải đi làm, chúng nó ngủ “ráp-pen”.
Trọng kéo chiếc khăn mặt, đi về phía phòng rửa mặt. Nắng chói mắt làm Trọng chớp mắt nhiều lần. Vườn cao su, lá rung động lấp loáng. Trọng nghĩ tới kiếp con vạc. Đi làm ban đêm rồi ban ngày ngủ bù. Trọng làm việc hai mươi bốn giờ rồi nghỉ bốn mươi tám giờ. Những giờ làm việc ban đêm trên Đài Kiểm-soát phi trường thì thật buồn ngủ nhưng khi về phòng, ít khi nào có thể ngủ trọn được một ngày.
Trọng úp mặt vào chiếc “la-va-bô” đầy nước cho tỉnh ngủ rồi chợt giật mình…nhớ lại cái “la-va-bô” này chúng nó đã rửa nhiều thứ. Trọng lẩm bẩm chửi thầm mấy thằng khốn nạn. Sống với lũ chúng nó, có phen rụng hết răng và đui luôn hai con mắt. Ngửng đầu lên, Trọng thấy khuôn mặt mình trong chiếc gương méo mó, ố vàng, chiếc gương độc nhất còn sót lại trong cái phòng rửa mặt mày.
Trọng ăn cơm ở Câu-lạc-bộ. “Ăn cơm Câu-lạc-bộ, ngủ Cư-xá độc thân.”… Rồi chết thì được chôn ở đâu? Đã nhiều lần, Trọng định ăn cơm tháng của một gia đình binh sĩ trong trại. Để tìm một chút không khí gia đình cho cuộc đời bớt tẻ nhạt. Nhưng Trọng chỉ chịu đựng được có hai tháng.
Những cảnh nhem nhếch của Trại Gia-đình Binh-sĩ mà Trọng phải chứng kiến hàng ngày đã làm Trọng ăn mất ngon. Những đứa trẻ lếch thếch bồng thêm một đứa em, tha thẩn trên sân như những con gà, con vịt…Những lúc ngồi chờ ăn cơm, có vài ba đứa xúm lại quanh Trọng:
– Bác cho cháu một tì…
Trọng móc túi lấy một nắm tiền lẻ, đưa cho đứa lớn nhất để chúng nó chia nhau…. Chỉ vài phút sau là có tiếng chí choé cãi nhau về việc chia không đều. Những đứa trẻ bù lu bù loa khóc, gọi bố, gọi mẹ ầm ĩ.
Rồi thì tiếng cãi nhau của người lớn bênh con. Rồi cuộc cãi nhau lan rộng khi nhắc đến chuyện để nước chảy qua nhà nhau, rút trộm củi hay chuyện mất gà, mất vịt từ “đời tám hoánh” nào cũng đem ra kể lể… Trọng như ngồi trên đống lửa.
Có tới đây, Trọng mới thấy một trăm bạc nó to như thế nào…Vợ người hạ sĩ, chủ nấu cơm tháng cho Trọng có một lần đi chợ về, đã hốt hoảng, mặt thất sắc, lục tìm khắp các túi vì tưởng mất một trăm bạc…Sau khi tìm ra trăm bạc để lẫn vào mớ giấy tờ, mắt mới sáng lên và khuôn mặt hí hửng như một đứa trẻ con được một thứ đồ chơi mong ước. Trọng tự nhiên thấy hối hận, nghĩ tới những buổi tiêu pha đầu tháng…Nhiều khi đã tiêu tiền như ném đi những số tiền đáng kể chỉ để mua một nụ cười, một câu nói đãi bôi ngoài miệng hay một tiếng khen suông hào phóng.
Hết tháng đó Trọng lại về ăn cơm Câu-lạc-bộ. Trọng nghĩ đến cuộc đời không vợ con, sống mãi ở trong cái cư xá độc thân mà buồn ghê gớm. Vợ người hạ sĩ đó cũng đã nổi tiếng một thời, cũng là hoa khôi của một trường nữ trung học, đã từ chối bao nhiêu người để bằng lòng làm vợ một anh lính tàu bay. Không biết có bao giờ chị hối tiếc hay không?…Trọng chắc là có.
Đã nhiều người con gái bị cái vỏ ngoài của “lính hào hoa” nó đánh lừa. Không-quân thích bay, thuộc về loài chim. Chim thường hay gáy, cái đó là lẽ dĩ nhiên.
Có một điều lạ, những em nghe tụi tàu bay nó gáy tin nhiều nhất, lại là những em con nhà lành. Còn những em con nhà “rách cứ bươm ra”, khi nghe anh tàu bay gáy thì xí một tiếng, môi dưới trề ra tới cả thước:
– Gáy hoài…Sức mấy!…
Có những lần, Trọng đứng lẫn vào đám phi công sau những lần Bắc phạt, để nghe lời đối thoại. Các ông phi công mặc đủ các màu áo. Từ màu đen cho đến màu xanh, màu đỏ. Những anh chàng phi công được các em nữ sinh người thơm như múi mít, choàng vòng hoa lên cổ. Một anh chàng tâm sự:
– Lúc đó, tao còn thấy hồi hộp hơn là cái lúc lao thẳng xuống, bấm một phát SALVO…
Trọng mỉm cười khi nghe những bản gáy. Những khuôn mặt trẻ trông rạng rỡ, sáng lên một cách đáng yêu. Như vậy, những người con gái của thành phố làm gì không yêu những chàng lính tàu bay vì khi ra ngoài thì chàng nào cũng là phi công hết.
– Tao chỉ sợ ông Hồ đầu hàng…
– Sao vậy mà?…
– Nếu ông Hồ đầu hàng, chúng mình đâu có còn được đi Bắc phạt. Chúng mình đâu có được là anh hùng. Chúng mình đâu có còn được “dương liễu” mà mang. Chúng mình đâu có còn được những em thơm như thế kia, kiễng chân, rướn người lên quàng cái thòng lọng hoa vào cổ. Lúc em dơ hai tay lên để ôm lấy đầu tao, hơi người của em thổi phào qua, cái mùi của em thật quyến rũ đến muốn…chịu không nổi.
Trọng tự nhiên tìm thấy cái triết lý về người anh hùng. Khi nhìn một người anh hùng, mình chỉ nên đứng xa, thật xa. Như nhìn một vì sao…Càng xa, càng lấp lánh. Lại gần, nó bớt đẹp đi nhiều lắm. Lột trần một thằng người ra thì thằng nào bên trên cũng chỉ có hàm răng, bên dưới có một con chim dù rằng người đó, chữ “người” được viết bằng chữ hoa.
Có nhiều ngày nghỉ, Trọng về Sàigòn thăm Thắng. Thắng và Trọng thường đi uống rượu ở mấy cái quán đường Tự Do. Buổi tối thường la cà qua bên Khánh Hội. Trọng thích con đường bên Khánh Hội, với một bên đường tối mù mù, một bên thì nhiều ánh đèn xanh đỏ. Con đường sắt ở giữa đường gập ghềnh làm nẩy bánh xe, làm Trọng nhớ tới con đường tàu điện Hà-nội. Chỉ thiếu có tiếng chuông tàu điện kêu leng keng.
Những lần tới Khánh Hội, Thắng và Trọng cùng thấy mình sôi nổi máu giang hồ. Bao giờ thì mình lại được xách va-li, bước qua cái cổng có chữ “Messagerie Maritimes” làm lại một chuyến viễn du?…
Tới những quán bên Khánh Hội, Thắng và Trọng cũng vẫn thường gặp những anh chàng lính tàu bay. Những anh chàng này đi đến đâu cũng vẫn gáy.
– Trong Không-quân, anh làm gì?…
– Anh là phi công.
Trong cái quán rượu rẻ tiền này, toàn mùi thuốc lá, mùi nước hoa thợ cạo, chợt nghe tiếng đó, Thắng và Trọng cùng ngoái cổ lại nhìn. Thắng và Trọng hay có thói quen ngồi trên ghế cao ở quầy rượu. Ồ, cái anh chàng cai xếp chuyện việc đi coi tù làm những công việc thường vụ, cắt cỏ, đắp đường ở trong căn cứ, quét phòng, đốt công văn, vậy mà cũng là phi công sao?…Cái tiếng phi công đã bị mấy cái thằng đó nó “xài” cho rách mướp. Thấy Trọng và Thắng quay lại, nó chợt nhìn thấy nên lấy làm ngượng quá. Nó nhe răng ra cười, hàm răng lấp lánh có vài chiếc răng vàng. Em chiêu đãi viên thì mặt cứ nghệt ra. Chỉ cần nhìn cái đầu xoăn tít, cái mặt đánh phấn loang lổ của em cũng đã biết rằng, em vừa mới thoát cái kiếp “ma-ri sến”. Thắng và Trọng vội quay mặt đi. Anh chàng cai xếp đứng dậy, đi đến gần quầy rượu, ghé vào Thắng và Trọng thì thầm:
– Hai ông đừng phá mình, tội nghiệp!…
Thắng tủm tỉm cười, gật đầu thông cảm:
– Biết rồi mà…Cứ việc đấu đi….
Những lần đi chơi với Thắng, Trọng lại tìm được những giây phút ngày xưa. Những người bạn ngày xưa bằng đâu có còn lại được nhiều.. Có thằng chết còn xác, có thằng thì “lấy không gian ủ ấp hình hài…”
Thằng Pi-lốt Thái Bình cũng là một phi công, nhưng ít khi nó nhận là phi công. Nó chỉ tự xưng một cách khiêm nhượng là tài xế tàu bay. Cầm cần lái, cầm sừng trâu hay cầm vô-lăng, cái đó chỉ là một sự đi đến nơi, về đến chốn.
Nó bảo với Trọng:
– Thiên hạ cứ hay tô son, thếp vàng cho tụi tao thành ra nhiều khi tao đâm hoảng. Mẹ kiếp, ông mà cũng là anh hùng thì….chó thật.
Nhiều khi thấy Trọng buồn, tiện có tàu bay đi công tác, Pi-lốt Thái Bình thường rủ Trọng đi Nha Trang chơi. Trọng thường thích trêu thằng Pi-lốt Thái Bình để được thấy nó nổi giận. Trọng mở cánh cửa sắt mỏng, chống khuỷu tay lên bàn, hai tay chống lên má, nhìn hết các gầm ghế:
– Ê, tàu bay của mày sao không có chỗ đi tiểu?
– Hé cửa ra mà tưới xuống đầu, xuống cổ thiên hạ chứ.
Rồi Pi-lốt Thái Bình bắt đầu gáy về chuyện lái tàu bay. Nhiều khi nó bay trên biển, là xuống thấp để đi tiểu mà “con chim” của nó kéo lê trên mặt biển.
– Mẹ mày, chỉ được cái dóc tổ!…
Thằng Pi-lốt Thái Bình thản nhiên:
– Thật mà!… Cả cái vùng đó nó kéo túa ra xem vì tưởng rằng là rồng hút nước….
Pi-lốt Thái Bình kể những câu chuyện như vậy mà không thèm cười, thành ra Trọng cứ đành phải gật gù cái đầu, ra cái điều tin lắm. Cãi nhau với thằng này mệt lắm. Nó hỏi Trọng:
– Mày có đi Nha Trang không?
Trọng thộn mặt ra, giả vờ ngây thơ:
– Mày lái?
Pi-lốt Thái Bình vỗ vào ngực đánh độp một cái:
– Tao chứ còn ai nữa. Tao là tài xế tàu bay mà.
– Nhưng mà ông sợ mày đi lạc quá.
Pi-lốt Thái Bình lại nổi giận. Trêu được Pi-lốt Thái Bình nổi giận là một điều thật sướng. Nó nói như quát vào tai Trọng:
– Đồ ngu! Sàigòn, Biên Hoà đi ra Nha Trang mà sợ lạc. Từ Nha Trang về mới sợ lạc chứ!
Trọng ngạc nhiên:
– Lạ nhỉ…
– Lạ cái con khỉ!… Từ Biên Hoà đi Nha Trang, ông chỉ cần lấy hướng chéo ra bờ biển, khi gặp bờ biển rồi chỉ việc theo bờ biển mà bay thì thế nào mà không tới được Nha Trang.
Trọng phục nó sát đất…Nhưng rồi Trọng cứ thắc mắc không hiểu Pi-lốt Thái Bình làm cách nào để bay từ Nha Trang về Sàigòn. Theo bờ biển mà bay thì thế nào nó cũng tới Sihanouville…Nhưng chắc rằng nó phải có bí quyết vì giờ đây, Trọng và Pi-lốt Thái Bình đang đứng ở phi trường Biên Hoà.
Những người bạn xưa, đã già, những thằng phi công già như Pi-lốt Thái Bình thì chỉ nhận là một thứ tài xế. Còn những thằng không phải là phi công thì cứ vỗ ngực tự xưng là phi công. Pi-lốt Thái Bình đáng yêu ở chỗ đó. Chơi với bạn bè, không bao giờ có một sự kỳ thị cấp bực.
Khi các ông Tây về nước, các ông bạn Hoa Kỳ sang bên này, Pi-lốt Thái Bình than phiền:
– Nói chuyện với Xê Kỳ mỏi tay quá.
Nghĩa là nói phải nói chuyện bằng tay. Chúng nó gọi như vậy là nói tiếng quốc tế. Nhưng chỉ nửa năm sau, Pi-lốt Thái Bình đã bỏ được lối nói chuyện bằng tiếng quốc tế mà đã có thể nói chuyện bằng mồm. Nó rất tự phụ về cái điểm này và thường chửi đổng:
– Mẹ kiếp! Mình là phi công, mình nói thông được đến ba thứ tiếng mà sao vẫn rách như thường…
Lần này, nó định học nói tiếng Tàu. Như vậy, nó nói thông được bốn thứ tiếng. Kinh nghiệm của những chuyến xuất ngoại đã cho biết rằng cần phải học tiếng Tàu. Học tiếng Tàu thì đến đâu cũng ít khi bị đói vì ở xứ nào cũng đầy những chú “trois bateaux”. Nhưng biết nhiều thứ tiếng cũng có nhiều cái bất tiện vì nói tiếng nó cứ hay choang tiếng kia vào.
Nghe những lời tâm sự của Pi-lốt Thái Bình, chắc các em thành phố hết còn mơ tưởng đến các anh phi công. Cả đời nó, lúc nào cũng than đói rách. Chắc là vì nó ăn khoẻ quá. Chắc vì bao nhiêu tiền, vợ nó đã móc túi lấy hết. …Thằng Pi-lốt Thái Bình nhiều khi buồn lắm. Người ta chỉ có hai lần sung sướng. Lần lấy vợ và lần vợ chết. Thằng Pi-lốt Thái Bình đang chờ cái lần sung sướng thứ hai.
Những buổi sáng đi làm , Trọng thức dậy luôn từ sáu giờ. Chàng rón rén ra đầu nhà rửa mặt. Ánh đèn ngoài đường còn chưa tắt, vàng vọt soi bóng của Trọng lên tường. Nhiều khi, bóng đèn ở đầu nhà bị hỏng, Trọng rửa mặt trong bóng tối, chỉ nghe thấy tiếng nước chảy từ vòi nước xối mạnh vào chất men trong chậu cáu bẩn… Chàng phóng xe đi thay phiên trực cho những người bạn trên Đài Kiểm-soát Phi-trường.
Chiếc cầu thang xoáy trôn ốc, cao tít lên mãi tận lầu năm. Trọng làm việc trên đó. Mỗi một lần leo lên và leo xuống là cả một sự tốn sức lao động. Chàng leo lên bằng hai chân mỏi mệt, và cả bằng hai tay, bám chặt vào tay vịn để kéo cả người lên. Phía bên kia, sân đậu thấp thoáng bóng người. Cánh quạt quay nhiều vòng, hình ảnh những dãy phi cơ mờ mờ trong sương sớm.
– Có gì lạ không mày?…
– Đêm hôm qua, bay hành quân suốt đêm. Cả đêm không ngủ, mệt quá. Tao về…Còn phi tuần RED, cất cánh hồi bốn giờ sáng. Tao đã ghi vào sổ hết rồi..
Thằng bạn của Trọng mắt lờ đờ mệt mỏi, uể oải ký tên vào sổ bàn giao. Trên trời còn lác đác vài ngôi sao chưa kịp tắt. Đèn phi đạo còn sáng như rèm mi người con gái…Chiếc đèn trên nóc hồ nước, trên cao quay nhiều vòng sáng, tắt…
– Mày đi khám phi đạo chưa?
– Chưa…Nhưng thôi… Đêm qua nó cất cánh, hạ cánh suốt đêm. Tụi khốn nạn sức mấy mà dám đến đặt mìn.
Từ ngày có cái phi đạo bằng “bê-tông”, việc khám phi đạo mỗi buổi sáng được làm thật nhanh chóng. Không như những ngày còn cái phi đạo lót vỉ sắt. Khi thấy có vết đào xới trên phi đạo, phải báo cho an ninh phi trường biết. Nhiều khi, việc đó chỉ là “tác phẩm” của lũ chó hoang.
Vừa bước xuống cầu thang, thằng kiểm soát viên ban đêm chợt ngừng lại. Nó hỏi sau tiếng ngáp:
– À, cái đơn xin giải ngũ của mày, nó phê ra làm sao?…
Trọng trả lời chán nản:
– Nó dấu không cho biết…Nhưng tao lên phòng Hành Chánh lén xem được.
Trọng bĩu môi, chun cái mũi lại, nói tiếp:
– Chuyên viên cao đẳng ưu tú… Sự có mặt của đương sự rất cần thiết. Chấp thuận cho giải ngũ với điều kiện phải có người thay thế.
Trọng đá cái đống giây điện vào gầm bàn, thận trọng kéo hết các cần điện xuống, tắt đèn ngoài phi đạo. Trời sáng rồi. Đèn đầu phi đạo 27: OFF. Đèn đầu phi đạo 09: OFF. Đèn đường vận chuyển màu xanh biếc. Chiếc đèn bay trên nóc hồ nước.
Những buổi sáng, công việc đó làm thường xuyên như một cái máy. Trọng làm nghề kiểm soát viên không lưu này không có quyền quên một cái gì. Tất cả các nghề, kể cả nghề tài xế tàu bay, những con người máy đều có thể thay thế, riêng cái nghề của Trọng, không thể nào thay thế được bằng người máy. Một cái nghề mà chỉ có thực hành mới có thể dạy được nhiều. Những lý thuyết học được đều bỏ xó, ít khi mang ra áp dụng.
Hoàng, người bạn làm cùng một phiên việc và mấy người tân binh tập sự vừa tới. Thêm Phạm, anh chàng chuyên viên mây, mưa, nắng tới nữa làm cho cái lồng chim bồ câu thêm chật chội. Rừng Tân Phong mù mịt sương buổi sáng sớm. Tiếng thử máy vang trong máy vô tuyến:
– Alpha xin thử máy…
– Roméo xin thử máy…
Những người tân binh chụp vội lấy micro. Trọng mỉm cười…Những anh chàng mới vào nghề, hăng say làm việc, nhưng các bậc đàn anh lúc giao công việc cho, vẫn không rời đôi mắt cú vọ, nhìn ngắm và sửa chữa, lúc cần thì giựt lại. Những chiếc tàu bay bay mau, chỉ cần hơi sơ sẩy một chút cũng đủ ân hận cả một đời. Trọng đã nhìn thấy những ánh mắt thích thú của những người tân binh khi thấy những chiếc tàu bay cất cánh và hạ cánh theo lệnh của mình.
Khi giao cho những người tân binh làm việc, Trọng vẫn phải dè dặt và đề phòng những biến cố, mà sự thiếu kinh nghiệm đã làm cho vòng phi đạo rối beng…
– Ngày xưa, lúc tôi mới ra trường, thằng La Poussière nó cầm cái gậy to tổ bố. Làm sao nó gõ lên đầu. Mấy bạn bây giờ thật sướng…
-Thì Thượng-sĩ cứ làm như nó, vẫn được cơ mà…
Trọng nháy mắt:
– Để mấy cha đón đường đi Sàigòn, mấy cha đập tôi thì cũng đến chết. Mẹ, chẳng nên chơi dại…
Tiếng cười vang lên trong nắng sớm. Một chiếc phi cơ xin di chuyển và cất cánh đi Nha Trang. Bạn nào làm ơn gọi về Sàigòn xin dùm cái phép bay. Gió êm, cho cất cánh đường bay 27, cho đỡ chói nắng. Bắt đầu của một ngày đã nhộn nhịp tiếng đối thoại.
– Phép bay xin được rồi à, bạn nào đọc cho người ta chép đi.
Tiếng người tân binh ngập ngừng trong máy vô tuyến:
– A.T.C clearance, are you ready to copy?…
Trọng gật đầu, mỉm cười khuyến khích.
– Phép bay từ Biên Hoà đi Nha Trang, theo đường W4, giữ mực bay 115. Sau khi cất cánh, giữ hướng 045o lên cao 1500 bộ, liên lạc với Sàigòn trên tầng số 119.7
Trọng cười:
– Được lắm, nhưng lần sau nói chậm một chút để người ta còn chép và nhớ nhắc hắn đọc lại.
Người tân binh tập sự nghề, ngước mặt lên, hãnh diện nhìn Trọng. Chỉ cần vài năm nữa, mấy bạn sẽ có thể thay thế được tôi. Trong lại nghĩ tới câu “cần có người thay thế” trong lá đơn xin giải ngũ. Một chút buồn man mác.
Buổi sáng, từ sáu giờ tới tám giờ sáng, có ít tàu bay trong vòng phi đạo. Phạm đọc bản tin khí tượng đầu tiên trong ngày. Trời quang, tầm nhìn xa hai mươi lăm cây số. Áp lực dưới đất 29,85. Những người tân binh chép những tin tức khí tượng vào sổ, ngập ngừng và cẩn thận. Không như bọn Trọng, Hoàng.
– Các ông viết, chúng tôi đọc không nổi. Toàn những dấu hiệu…
– Rồi nó quen đi chứ. Nhiều khi nghe tàu bay đọc một thông điệp, chép như mấy bạn thì làm sao kịp…
Trọng lại nghĩ tới sự “có người thay thế” trong lá đơn xin giải ngũ của mình. Tới bao giờ thì những người tân binh này có thay thế được chàng?…
Miền Nam, hết mùa nắng là tới mùa mưa, trời mù đầy mây từ sáng tới tối. Phi trường Biên Hoà lại thật gần với phi trường Sàigòn. Phía Nam phi trường là hành lang không vận dành riêng cho Sàigòn. Những phi cơ đi và đến Sàigòn đều dùng hành lang đó. Trọng thấy cái không gian của mình thật hẹp vào những mùa mưa…
Vào những mùa mưa, Trọng thấy cuộc đời của mình cứ theo những đám mây nặng màu chì mà xuống thấp dần…Những người phi công trẻ có nhiều tính bốc đồng hay hỏi tại sao…”Tại sao vòng phi đạo trống thế này, không có phi cơ nào ở vòng chót, lại bắt tôi phải chờ, không cho tôi cất cánh?…” Nhiều khi Trọng làm thinh, không trả lời. Vì nếu trả lời thì nhiều lắm. Chẳng lẽ phải kể lể dài dòng như đàn bà. Rằng khi có một phi cơ đang làm phương thức xuyên mây, khi đã quẹo hết vòng thủ tục, đang giữ hướng trục phi đạo, đèn của người kiểm soát tiếp cận đã bật đèn đỏ thì không một phi cơ nào được cất cánh. Nói như vậy có vẻ như dạy đời. Những lúc như vậy Trọng nhìn sang Hoàng đang bù đầu với hàng dẫy “strip” màu xanh, màu đỏ:
– Ê Hoàng, “tớp tớp” nó đòi cất cánh.
Hoàng nhún vai, trả lời sau một cái búng tay bất cần:
– Cho nó cất cánh để nó chết à?…Nhưng thôi, mặc kệ nó, cho cất cánh đi. Bảo nó đừng có chui vào mây…
Chiếc phi cơ L19 chậm rãi cất cánh dưới trời mưa nặng hạt, trong lúc chiếc phi cơ lớn đã nhìn thấy đèn vị trí nhấp nháy ở tận đàng xa. Trọng lẩm bẩm khấn thầm.. Lạy trời, nó đừng có tống ga, làm phương thức xuyên mây lại…Lạy trời cho nó nhìn thấy phi đạo. Khi chiếc phi cơ lớn báo cho biết “runway in sight”, Trọng mừng như thằng Pi-lốt Thái Bình lần đầu tiên nghe tin vợ đẻ con trai.
Nhưng ông phi công trẻ đã được lợi thế một lần, lần sau lại đòi hỏi. Trọng và Hoàng nhức đầu vì những tiếng hỏi tại sao “Tại sao lần trước tôi cất cánh được, lần này lại không cho cất cánh?…” Trọng chán nản và ghét cái nghề này thậm tệ. Bởi vậy, Trọng ghét mùa mưa.
Những phi trường được giao việc kiểm soát viên không lưu xen kẽ. Sàigòn, Đà Lạt, Đà Nẵng thuộc về dân sự. Biên Hoà, Nha Trang, Pleiku thuộc về quân sự. Những anh chàng kiểm soát viên không lưu dân sự, vì được coi là tối cần thiết nên không bị động viên, mà có bị động viên cũng được cấp bậc sĩ quan, đứng trên đầu trên cổ mấy thằng kiểm soát không lưu quân sự, nên hay có những cử chỉ không đẹp. Hoàng phàn nàn:
– Mẹ, mấy cái thằng làm đài kiểm soát Sàigòn phách lối. Xin cái “clearance” mà phải chờ tới cả nửa giờ…
Trọng lơ đãng nhìn cái tàu bay C47 đang quay máy đứng chờ ở điểm đợi:
– Cứ cho nó cất cánh đi. Rồi khi nó lên trời mày bảo nó liên lạc với Sàigòn mà xin “clearance”…
– Nhưng rồi mấy thằng khốn kiếp ở Sàigòn lại cự nự sao lại để cho tàu bay làm loạn ở cái cao độ mà chúng nó đang xử dụng. Hôm nào nghỉ, ông về Sàigòn, đập vỡ mặt mấy cái thằng phách lối ở cái phi trường Tân Sơn Nhất.
Hoàng chỉ doạ suông như vậy nhưng rất ít khi dám đánh ai. Anh chàng thật dễ tính. Những người tân binh rất mến Hoàng vì dù có hỏi ngớ ngẩn thế nào, Hoàng cũng cố trả lời và giảng giải thật cặn kẽ. Nhiều khi còn kiêm thêm cả cái công việc dạy Anh ngữ. Dù rằng vợ con đùm đề, Hoàng vẫn còn nhiều tính đùa nghịch trẻ con.
Với tuổi lính già nua, Hoàng và Trọng đã trải qua nhiều thời đại. Thời vui nhất là thời Tây vừa về nước. Có lệnh phải dùng tiếng Việt trong tất cả các cuộc đối thoại giữa phi công và kiểm soát viên không lưu, trong khi đó chưa có bản dịch nào chính thức, thành ra mỗi thằng nói một kiểu, tùy theo lối hành văn của mình. Chỉ riêng có chữ “remettez les gaz” mà đã có dăm bẩy lối nói. Những thằng xấc, thích ra lệnh: tống ga, dọt!…Những thằng lễ phép có nhiều chất Khổng Tử nói dài dòng kiểu ngồi chơi xơi nước: yêu cầu tống ga, làm vòng phi đạo khác!…Thôi thì đủ kiểu…Nhiều khi những chữ đã quá quen thuộc mà lại khó dịch, chúng nó thường phát ngôn một cách lai căng, tiếng Tây pha lẫn tiếng Việt: số một hạ cánh, xin gọi lại ở final..
Trọng ngồi thoải mái trên chiếc ghế nệm thật êm có bánh xe phía dưới để dễ di chuyển. Vòng phi đạo đã đông phi cơ. Tất cả những việc xảy ra từ mười năm về trước mà như mới xảy ra từ hôm qua.
– Ê Trọng, tao đi ăn sáng…Khi nào tao về thì mày đi.
Trọng gật đầu…Hoàng bước vội vã xuống bậc thang. Cầu thang cao, nhìn xuống, nếu không quen thấy hoa mắt. Mỗi ngày, leo lên, leo xuống cả chục lần. Hoàng vừa cười vừa bước xuống thang:
– Mẹ kiếp, ăn sáng xong, leo lên cái cầu thang này lại thấy đói. Chẳng lẽ lại phải đi ăn sáng lại.
Tiếng giày bước xuống bậc thang chìm dần . Phi tuần RED, cất cánh từ lúc bốn giờ sáng đi hành quân đã trở về.
– Đài Kiểm-soát Biên Hoà, phi tuần RED, xong nhiệm vụ hành quân, 4 phi cơ A1H, xin vào vòng phi đạo và chỉ thị hạ cánh…
Mấy người tân binh nhìn Trọng….Thường thường ở những phiên việc khác, ít khi người trưởng phiên chịu để cho những người tập sự làm việc với phi cơ khu trục. Những chiếc phi cơ A1H hạ cánh tập đoàn. Bằng những con mắt nhà nghề, người kiểm soát viên không lưu ước lượng được khoảng cách có đủ an toàn để hạ cánh. Nhưng với Trọng, chàng muốn cho những người lính mới quen với hết tất cả. Trọng gật đầu khuyến khích:
– Bạn nào trả lời đi…
Hai ba cái bàn tay vội vã chụp vội lấy cái micro. Một sự sung sướng sáng rỡ trên những khuôn mặt trẻ.
– Phi đạo 27. Áp lực dưới đất 29,84. Gọi lại hai phút trước khi break.
Những giọng nói run run như giọng chim mới tập hót những bản ca vỡ lòng. Mắt người tân binh đăm đăm nhìn về hướng đông và cố nhìn để thấy bốn chấm đen tận phía chân trời.
Lòng Trọng cũng thấy vui lây. Hết năm nay, không biết mình có thể được giải ngũ?… Vài ba chiếc phi cơ xin cất cánh. Từng chiếc phi cơ lướt qua mặt Trọng nhẹ nhàng nhấc mình lên khỏi mặt đất, bánh xe xếp lại dưới bụng gọn gàng. Mây trắng nhẹ như bông bay nhè nhẹ in bóng lên khung cửa kính đài kiểm soát.
Bốn chiếc phi cơ làm break. Trọng đi tới, đứng bên cạnh người tân binh. Từng chiếc, từng chiếc chạm bánh xuống phi đạo êm ái. Đôi cánh đã không còn nặng chĩu bom.. Nghĩ tới những người vừa chết vì bom đạn, Trọng thở dài…
Lúc phi cơ chạy ngang đài kiểm soát, người phi công giơ tay vẫy Trọng. Chiếc mũ sắt sơn màu đỏ nổi bật trong cockpit. Cũng vẫn những hình ảnh ấy, bao nhiêu năm qua đi rồi.
– Đài Kiểm-soát Biên Hoà, đây C47 Echo Alpha.
– C47 Echo Alpha, Đài Kiểm-soát Biên Hoà nghe…
Trọng uể oải trả lời trong máy vô tuyến…”Phi đạo 27, vòng phi đạo bên phải….Áp lực dưới đất 29,84. Gọi lại ở gió xuôi”
Nắng đã lên, chiếu vào đài kiểm soát. Chiếc máy lạnh không đủ làm bớt cái nóng. Trọng quay đầu sang bảo Phạm đang hí hoáy viết trên cuốn sổ khí tượng chi chít dày đặc những con số:
– Mày mở dùm cái máy lạnh, số lớn nhất….
Phạm quăng cây viết xuống bàn, vươn vai rồi cúi xuống chiếc máy lạnh. Số lớn nhất rồi đó. Chắc là chiếc máy lạnh này sắp sửa được về hưu. Có một giọng nói quen thuộc trong máy vô tuyến:
– Có Trọng ở Đài không?…
Trọng cầm lấy cái micro:
-Trọng đang nói đây..
-Thắng đây. Lát nữa, chiếc Echo Alpha hạ cánh, xuống câu lạc bộ Tàu Bay ăn sáng với tao. Tao ở lại đây để đổ xăng chừng nửa giờ.
– Đồng ý…
Tiếp theo đó, một giọng nói thật oai trong máy vô tuyến, chắc là giọng một ông quan lớn:
– Yêu cầu dùng thủ tục đàm thoại vô tuyến… Xin đừng nói chuyện riêng trên tầng số của Đài.
Trọng và Thắng cùng im bặt…Những lời hẹn hò như vậy đã là tạm đủ. Ông lớn kia đã nhắc cho người ta biết là không được quyền nói gì ngoài những câu mà trong thủ tục đã ấn định. Nhưng các ông đã quên nhiều lần, khi những người kiểm soát không lưu đang bù đầu với công việc, như giải quyết những vụ phi công gọi xin khí tượng, hỏi gió ở mặt đất, yêu cầu cho chỉ thị hạ cánh, báo cáo vị trí của mình, nhắc lại clearance, khiếu nại một kẻ vi phạm luật lệ không lưu …, thì các ông chỉ gọi để hỏi những chuyện bâng quơ… Chiếc phi cơ này mấy giờ thì đến?… Điện thoại dùm về nhà tôi, để tài xế mang xe ra đón…Chạy đi kiếm cho tôi ông X… v.v… Người kiểm soát viên không lưu bao giờ cũng có một mặc cảm. Mặc cảm rằng mình lon nhỏ, còn các ông phi công thì lon lớn . Đã từ lâu, trong con người những người kiểm soát không lưu như Trọng, đã mất hẳn cái quan niệm khi làm việc là “một nghề giao thiệp với một nghề”.
Trọng thấy tiếc cái thời xa xưa, cái thời rất xa. Những kiểm soát viên không lưu có quyền mời phi công tới Đài để tranh luận về vụ vi phạm quy tắc không lưu. Tranh luận một cách thật bình đẳng. Những cái giấy báo cáo về vi phạm không lưu gửi đi, bao giờ cũng có kết quả, không như bây giờ. Trọng đã nghe Hoàng than thở:
– Những giấy vi phạm tụi mình gửi đi, không hiểu rằng qua nhiều hệ thống nên đã bị bay hết chữ, hay là có những cuôc “ça va” kín với nhau nên đã êm luôn. Còn những báo cáo về tụi mình thì bao giờ cũng có kết quả liền…
Trọng nghĩ đến lá đơn xin giải ngũ. Trọng tha thiết với chuyện đó dù biết rằng giải ngũ lúc nầy là trốn trách nhiệm. Nhưng mình sẽ làm công việc khác, có ích cho cuộc chiến đấu dai dẳng này hơn.
Hoàng đã về…đứng ở đầu cầu thang để thở. Leo lên hết năm cái cầu thang xoáy trôn ốc, thật là mệt. Những hôm bị cúp điện, Trọng và Hoàng phải thay phiên nhau leo lên, leo xuống để quay cái máy phát điện. Không dám sao những người tân binh vì sợ mang tiếng là “lợi dụng cấp bậc”, là “hối mại quyền thế”. Hoàng ngồi xuống ghế:
– Mày đi ăn sáng đi…
– Tao đi hơi lâu đấy. Có thằng Thắng “mê vô” của chiếc Echo Alpha rủ xuống câu lạc bộ Tàu Bay. Đi không, Phạm? Xuống gặp thằng Thắng, đấu láo cho đỡ buồn…
Phạm lắc đầu… Từ ngày mấy thằng khí tượng phải lên Lầu Gương làm việc chung với dân không lưu , Phạm ăn sáng trước khi đi làm rồi ngồi dính ở ghế cho tới lúc mười hai giờ. Hoàng dặn:
– Nhớ đừng lâu quá một giờ…
Trọng vừa bước xuống cầu thang thì Hoàng gọi lại:
– Đêm nay mày trực, có cần mấy ông tân binh không? Tao nghĩ chỉ cần hai người cũng đủ. Để cho họ chia phiên nhau nằm ngủ ở nhà cho đỡ mệt…
Trọng gật đầu rồi chậm rãi xuống cầu thang. Ánh sáng ban ngày soi rõ bộ mặt tang thương của những tầng lầu dưới. Cửa kính vỡ chưa được thay trong vụ pháo kích cách đây mấy tháng. Căn phòng nhỏ ngập bụi. Lăn lóc ở góc nhà, một khúc bánh mì ăn dở.
Đã một lần, thấy cái đài kiểm soát dơ quá, Trọng lấy cái chổi quét nhà, lấy khăn lau cửa kính. Trong khi đó, những người tân binh mắt lơ láo nhìn. Không may là ông Đại-úy trưởng phòng Hành-quân tới. Ông thấy Trọng cặm cụi làm công việc đó, mặt sa sầm, gọi tất cả những người tân binh lại:
– Các anh thấy ông thượng sĩ, trưởng phiên của các anh quét nhà, lau cửa kính mà các anh không có phản ứng gì sao?…Tôi sẽ phạt, không ký giấy trong một tháng..
Những người tân binh thoáng có một chút oán hận Trọng. Chàng rất băn khoăn về chuyện đó. Phải mất đến nửa tháng, tình thân mới được như trước. Ông Đại-úy, một người bạn cũ, bảo nhỏ Trọng:
– Mày chia những công việc thường vụ cho chúng nó làm. Hơi sức đầu mà những thằng lính già cứ làm mãi những công việc đó..
Trọng nhún vai:
– Ngày trước, tao bị Tây nó sai…Tao đã ghét và chán nản đến cùng cực bộ quần áo kaki. Bây giờ, mình phải tránh cho họ những cái đã làm mình khổ.
Trọng phóng xe xuống sân đậu, chờ chiếc phi cơ C47 của Thắng hạ cánh. Vài thằng thợ máy già lớn tiếng gọi Trọng:
– Ê, cái thằng chuồng Cu, xuống đây làm gì vậy?…
Trọng dựng xe vào trong lề cỏ, lững thững đi về phía sau những dẫy phi cơ. Trọng cười với các bạn quen, chỉ vào chiếc C47 đang bắt đầu quẹo vào vị trí gió xuôi.
– Tao chờ thằng Thắng… Nó sắp hạ cánh, rủ tao đi ăn sáng.
Sân đậu phi cơ nhộn nhịp. Những người chuyên viên vũ khí đang đưa bom lên nóc. Vài người phi công đứng gác chân lên bánh máy bay đứng nói chuyện với mấy tay thợ súng:
– Nghề này cũng nguy hiểm đấy chứ… Sơ sẩy một chút thì bom, rốc-kết, đạn 20 nó đâu có tha…
– Cái đó là cái chắc….Nhưng đâu bằng các anh lao đầu xuống mục tiêu trong lúc đạn phòng không phơi phới bay lên.
Những mẩu chuyện nhỏ lọt vào tai Trọng. Và người tân binh khiêng nặng nề những chiếc mâm đầy nhớt đi đổ vào lề cỏ. Chàng hỏi một thằng bạn quen:
– Sao nhớt chúng mày xả ra, chúng mày cứ bắt người ta mang đi đổ. Chúng mày không làm cái công việc đó được à?
Thằng thợ máy già cười vang…Nó xoay cái tuộc-nơ-vít gõ gõ nhẹ vào ngực mình:
– Khi tao mới ra trường, tao làm cái công việc ấy rồi. Tất nhiên là bây giờ, công việc ấy không phải là công việc của tao.
Trọng thẫn thờ ngắm những khuôn mặt trẻ. Tuy dầu mỡ nhem nhuốc nhưng khuôn mặt vẫn chưa hết nét thư sinh. Chàng thật tình thấy thương những người lính mới như thương những đứa em.
Hai người phi công mang dù, mang nón bay, đi ra sân đậu, sửa soạn một cuộc hành quân. Hai người đi vòng quanh chiếc phi cơ, lắc chiếc cánh cản gió, lắc chiếc cánh phía đuôi. Họ leo lên phi cơ. Người cơ trưởng leo lên theo, giúp những người phi công buộc dù, thắt lưng và đội mũ…Người cơ trưởng nhảy xuống đứng chéo trước mặt phi cơ. Một cánh tay giơ thẳng, một cánh tay vẽ thành nhiều vòng trong không khí.
Trong lúc đó, vài người cơ khí viên trẻ đẩy chiếc máy phát điện, cắm vào hông tàu. Chong chóng quay một vòng, hai vòng…Một đám khói màu xanh nhẹ, cuộn tròn, bay về phía sau, cánh quạt được trớn quay tít. Những người cơ khí viên rút máy phát điện, đẩy sang phía chiếc phi cơ khác, bước đi, đầu đưa về phía trước, một tay giữ chặt chiếc mũ “dô-kề”. Cánh quạt lại quay một vòng, hai vòng…
Trọng nhìn cảnh hùng tráng của người phi công ngồi trên chiếc phi cơ. Đôi môi mấp máy, đôi lông mày chợt cau lại vì không nghe tiếng trả lời…. Người phi tuần trưởng nhìn sang chiếc phi cơ bên cạnh. Người bạn đồng hành cười, hai tay đập nhẹ vào hai tai, lắc đầu…Người phụ trách về vô tuyến vội leo lên.
Người hạ sĩ vô tuyến nằm bò trên thành cửa phi cơ, đầu cúi hẳn vào lòng cockpit. Cánh quạt vẫn quay đều. Năm phút sau, người phi công giơ ngón tay cái lên trời. Người hạ sĩ vô tuyến nhảy xuống đất. Người cơ trưởng rút hai miếng gỗ chèn bánh xe. Hai cánh tay ngoắt về phía sau, phi cơ rời sân đậu. Người hạ sĩ vô tuyến cau có:
– Pi-lốt yếu quá. Quên cả việc bật máy vô tuyến sang chữ ON…Máy kêu không rõ mà cũng không biết điều chỉnh vặn “volume” cho nhỏ bớt lại…Cái gì cũng gọi.
Anh than phiền xong, xách ống nghe về những chiếc phi cơ khác, leo lên…Bravo thử máy!… Delta xin thử máy! … Lima xin thử máy!…
Sân đậu nằm trong lòng phi trường lúc nào cũng đầy khung cảnh hoạt động.
Phi cơ của Thắng đã rẽ vào bến. Cánh quạt quay mạnh vài vòng rồi tắt máy. Thắng mở mạnh cửa, nhảy từ phi cơ xuống lấy lá cờ đỏ cắm vào ống “pi-tô”. Trọng tới bên cạnh:
– Tao để xe ở ngoài kia. Tụi mình đi thôi..
Hai người bạn cũ đi về phía cuối sân. Mới tám giờ rưỡi mà vùng phi trường như bốc lửa. Tiếng động cơ gầm vang, hai chiếc khu trục cơ vừa cất cánh nơi đầu phi đạo 27.
Hai người đi vào câu lạc bộ. Tám giờ rưỡi, câu lạc bộ ít người, nhìn mặt, chỉ toàn là những tay thợ vịn và thợ lặn. Trong Không Quân có hai cái nghề là thợ vịn và thợ lặn là không có chỉ số, được anh em đặt tên một cách hài hước. Anh thợ vịn chỉ biết vịn, mồm lớn nhất mà ít làm việc. Còn anh thợ lặn, chỉ có mặt vào lúc điểm danh. Sau giờ đó, anh “lặn” mất tiêu, rất khó tìm thấy. Giang sơn của anh là câu lạc bộ, là một tấm nệm đặt trong xó tối góc nhà kho.
Thắng mượn chiếc điện thoại ở câu lạc bộ, gọi về kho xăng. Buổi sáng, trời đẹp như tất cả những buổi sáng miền Nam mùa nắng. Thắng xin xe xăng làm “plein” cho chiếc C47. Xăng 140 octanes. Kho xăng chỉ có hai xe “xi-tẹc” còn mắc bận đổ xăng cho những chiếc A1H tiếp tục hành quân. Thắng xin thời hạn nửa giờ. Chàng đặt chiếc điện thoại xuống ra ngồi bên cạnh Trọng, gần cửa sổ. Đằng sau câu lạc bộ, còn sót lại một vài cây cao su cổ thụ. Bên cạnh là căn nhà lầu ba từng mà hai người đã có bao nhiêu kỷ niệm của một thời rất xa. Bây giờ tất cả đã chia tay nhau, thỉnh thoảng mới gặp nhau ở phi trường cũ.
Thắng gọi một miếng bí-tết đúp, năm chục đồng. Một chai coca cola. Gọi thêm một miếng xăng-uých gà, gói mang đi. Trọng mỉm cười:
– Mày ăn sáng gần bằng thằng Pi-lốt Thái Bình rồi đấy nhé. Ăn sáng mà cứ như bị nhịn đói đến ba ngày…
Thắng nhếch mép, cười gượng:
– Những ngày tập cho phi công bay “không hành” thường là từ sáng cho tới tối mịt. Lần này, tụi tao cất cánh từ Sàigòn để đi Biên Hoà, Phan Thiết, Nha Trang, Đà Nẵng rồi trở về Pleiku, Đà Lạt và Sàigòn. Mệt muốn chết luôn. Tao phải ăn sáng thay cho cả buổi trưa. Buổi chiều mới có thể về Sàigòn đi đớp…
Trọng thấy thương thằng bạn thật nhiều…Cuộc đời của thằng thợ máy phi hành phi cơ vận tải cứ dính vào những chuyến bay dài dằng dặc. Một tháng, may ra được vài ba lần xuất ngoại, mua vải và transistor, nếu mà không bị thộp cổ, thì có thể tậu được cái xế bốn bánh.
Trọng uống một ly cà-phê thật đặc. Để cho ngủ mà tỉnh táo làm việc tới mười hai giờ trưa và thức suốt đêm nay. Người chủ quán đi ra bắt tay Thắng:
– Lâu quá mới gặp anh… Dạo này ra sao?…
– Vẫn thường…Có nhiều đô-la đổi bớt cho một ít..
Người chủ quán cười…Cái cười thật sáng của kẻ có tiền. Trọng không thích người chủ quán. Những người lính của phi trường này đã làm giàu nhiều cho ông chủ quán, nhưng ông chủ quán thường có nhiều cử chỉ không đẹp với những kẻ thiếu nợ. Người chủ quán đi vào trong quầy rượu. Thắng hỏi Trọng:
– Mai nghỉ, mày có về Sàigòn không?
Trọng ngập ngừng chưa muốn trả lời…Những cơn hứng thường nổi lên bất chợt. Tám giờ sáng, nếu buồn quá chàng lại phóng xe ra chợ chơi, rồi có nhiều khi chạy thẳng về Sàigòn. Nhiều khi chàng ở lại Thủ Đức vào hồ tắm bơi lội cho tới chiều rồi lại trở về Biên Hoà. Trọng thắc mắc:
– Có chuyện gì cần không?…
– Cần lắm. Nếu về, ghé qua phòng tao. Thằng Pi-lốt Thái Bình mấy ngày nay nằm ở phòng tao, một mình tao không thể nào khiêng nó trả về nhà cho vợ nó…Mai mày nên về Sàigòn giúp sức tao..
Trọng ngạc nhiên. Pi-lốt Thái Bình mà cũng nổi máu giang hồ, bỏ nhà đi hoang? Chắc phải có chuyện gì quan trọng. Từ xưa tới nay, ít khi nào nó dám bỏ nhà đi du hí suốt đêm. Thắng kể:
– Dạo này, nó có nhiều chuyện buồn… Vợ nó vừa mới đẻ con trai…
– Như vậy là chuyện vui chứ!…
– Nhưng nó đã có tới sáu đứa con. Mày cũng biết rằng, đứa con thứ sáu, chỉ được lĩnh có một nửa lương. Nó lo lắm vì vợ nó thuộc vào cái loại tốt nái, chồng chỉ cần đi qua đầu giường là bụng đã to…
Tiếng cười vang lên trong câu lạc bộ. Trọng thắc mắc vì chưa phải là cái cớ để cho Pi-lốt Thái Bình bỏ nhà đi giang hồ. Chàng hỏi Thắng:
– Thế rồi sao nữa?…
– Vợ nó nhất định đặt tên cho con là Long. Nhưng mà nó nhất định không chịu. Vợ nó giận lắm, hai vợ chồng cãi nhau ầm ĩ mà nó thì nhất định không thèm nói rõ lý do.
Trọng thở dài…Dù Pi-lốt Thái Bình không cần nói rõ lý do nhưng Trọng và Thắng cũng đã hiểu rõ. Những người bạn trong Không Quân có tên Long đều đã về với đất. Long Bô chết ở Nhà Bè. Long Rùa mất tích, đến bây giờ chưa tìm thấy xác. Long Chà chết ở Cần Thơ. Cách đây vài hôm, Long Con, ông thiếu tá đẹp trai đã chết ở phi trường này trong lúc hạ cánh, phi cơ bị hư thắng chạy hết phi đạo không ngừng lại được, tàu bay lộn mấy vòng ở cuối phi đạo.
Nếu đặt tên con là Long, mỗi lần gọi tên con lại nhớ tới những người bạn cũ, đã cùng chia với nhau từng khúc bánh mì, từng mẩu thuốc trong những ngày cuối tháng. Thắng nói tiếp:
– Tao cũng khuyên nó nên nói rõ chuyện đó cho vợ nghe, nhưng nó lắc đầu…Nó khóc, mày ạ. Những lần khác, thấy nó khóc mếu thì mình buồn cười, nhưng lần này nó khóc trông thảm lắm. Tao đành phải cầu cứu đến mày…
Trọng gọi thêm một ly cà-phê. Một cơn gió đưa vài ba chiếc lá bay qua cửa sổ. Tiếng động cơ làm point fixe, rú lên từ phía sân đậu. Hai người ngồi đối diện nhau, nhìn rõ khuôn mặt của nhau, đã mất đi nhiều nét học trò. Đầu Thắng đã có vài ba sợi tóc bạc. Thắng thở dài:
– Một chuyện buồn hơn nữa là nó vừa mất một chuyến mua hàng ở Thái Lan về. Lâu lâu, nó mới được đi một chuyến mà chuyến của nó lại đúng vào chuyến bị tịch thu.
– Nó mất cái gì?..
– Năm trăm hộp thuốc ngừa thụ thai Lyndiol 2,5.
Trọng giật bắn người…Giá tiền năm trăm hộp Lyndiol 2,5 không phải là nhỏ. Trọng nghĩ tới hoàn cảnh đau khổ của Pi-lốt Thái Bình. Với người vợ tốt nái, hay chửa đẻ, mua được thuốc ngừa thụ tai về để dùng thì lại bị tịch thu. Chàng thấy cần phải gặp Pi-lốt Thái Bình. Nếu bây giờ, về đến Sàigòn gặp nó, hỏi xin nó một hộp thuốc ngừa thụ thai, chắc là thế nào nó cũng nổi giận. Mọi khi Trọng và Thắng thích trêu cho Pi-lốt Thái Bình nổi giận nhưng ở trong trường hợp này, còn trêu chọc nó thì thật quả là đắc tội với Trời, với lương tâm…
– Sao nó không nói rõ cho cái thằng sĩ quan An Ninh mặt đen sì biết. Nếu cần thì kèm theo cả sáu cái giấy khai sinh …
– Mày còn lạ gì cái thằng hắc diện. Nó có bao giờ nghĩ tới tình bạn hay tình thương nhân loại gì đâu …Bố nó mang hàng lậu thì chắc nó cũng…thộp cổ luôn.
Trọng hỏi:
– Thế phản ứng của Pi-lốt Thái Bình? Nó có đeo đuổi chuyện đó, để có thể vớt vát lại một ít gì không? Năm trăm hộp Lyndiol 2,5 đâu có phải là ít của..
Thắng trả lời buồn buồn:
– Nó bỏ rơi ngay chuyện đó. Như một thằng đi buôn nồi đất. Khi nồi đã rơi xuống đất thì chắc chắn là vỡ rồi. Không bỏ đi luôn mà còn quay lại, thiên hạ thế nào cũng bắt quét dọn..
Thắng hay có lối ví von đặc biết như vậy….Hai người đi ra khỏi câu lạc bộ. Đường trong căn cứ bụi tung mù. Trọng và Thắng bước dọc theo con đường gập ghềnh sỏi đá. Đầu đường là một trường tiểu học của căn cứ. Những giọng hát trẻ thơ vang lên trong giờ hoạt động thanh niên.
Một đám trẻ con đang quay vòng tròn chung quanh cô giáo trẻ. Mái tóc dài buông lơi xuống đôi vai…Thắng thấy hiện lên hình ảnh của Thủy, người vợ sắp cưới của Trung lúc sắp chết cũng có một vẻ đẹp não nùng như thế này. Trung và Thủy, chỉ còn một tháng nữa thì tới đám cưới, đột nhiên Thủy lìa bỏ cõi đời. Thắng lẩm bẩm: “Ông Trời thật là …nhảm. Cái thằng làm phi công, suốt ngày đùa giỡn với cái chết thì lại sống nhăn răng để bù lu, bù loa khóc con vợ sắp cưới…” Thắng thấy thương cuộc tình duyên dang dở của Trung.
– Hôm nay, chúng mình chơi một trò chơi mới, các em nhé!
Mấy chục cái miệng xinh xinh reo lên vui thú:
– Trò chơi gì vậy cô?…
Cô giáo trẻ hất mái tóc ra đằng sau lưng thon đẹp:
– Chim bay, cò bay…
Thắng và Trọng dừng lại bên lề cỏ. Cô giáo trẻ chớp mắt, e thẹn. Trung ơi, có bao giờ mày tìm lại được hình bóng của người xưa đã mất rồi…Hai người đứng im không nói chuyện gì với nhau. Không còn chuyện gì để nói.
– Chim có bay được không?…
– Có, có…
– Thế thì khi nào cô nói chim bay, các em cũng nhảy lên nói chim bay…Nhớ chưa?…
– Dạ, nhớ rồi..
– Cái nhà có bay được không?…
– Không, không..
– Thế thì khi nào cô nói cái nhà bay, các em phải đứng im, nghe không?… Khi nào một cái gì không bay được, mà em nào nhảy lên thì bị phạt, đứng ra ngoài…Nhớ chưa?…
Thắng và Trọng cùng tìm thấy lại nét hồn nhiên thuở nhỏ. Ước gì mình trở lại được với tuổi thơ. Đụng chạm với đời nhiều, thấy đời có nhiều cái bất bình. Những người không thích phá phách như Trung, đã tìm thấy một cuộc tình duyên đẹp mà rồi cũng mất đi… Ngoài con người còn có Thượng Đế. Những cái mê tín không phải chỉ để dành riêng cho đàn bà. Thằng Pi-lốt Thái Bình không muốn đặt tên cho con là Long vì những người bạn tên Long đều không còn ở trên cõi đời này. Trọng thấy cái đẹp của mê tín và nghĩ rằng cái mê tín, đừng có nhiều quá, làm cho con người ta thêm một chút tí ti trí thức. Như những người phi công ít khi nào dám đi xe hơi màu đen, màu của tang tóc…
Chung quanh hai người, tiếng reo cười vang vang…
Trường Tiểu học được bao bọc một hàng giây kẽm gai. Một chút gì làm cay đắng lòng Trọng và Thắng. Những ý nghĩ trẻ thơ cũng không được tự do thoát ra ngoài cái không khí chiến tranh giết chóc.
Trọng đốt một điếu thuốc lá:
– Thằng Trung nó quên được Thủy chưa? Nghe nói thằng đó nó trung thành với kỷ niệm lắm…
Một đám mây che lấp mặt trời. Thắng chớp mắt:
– Nó tìm quên trong công việc… Nó nghỉ bay khu trục rồi. Bây giờ thì nó bay tàu bay trắc giác, đi tìm đài phát thanh của Vẹm. Nó lái loại tàu bay U6A, trang bị nhiều máy móc lắm. Những công việc nhức đầu như vậy, may ra có thể làm cho nó quên. Hôm nào, mày có hứng, thích bay sáu giờ đồng hồ từ lúc hoàng hôn xuống tới lúc nửa đêm thì cứ việc về Sàigòn, leo lên tàu bay của nó.
Trọng nghĩ đến công việc trắc giác để tìm kiếm đài phát thanh của địch. Công việc thật rắc rối.
– Nó vừa được ban khen vì tìm được một đài phát thanh của tụi giải phóng ở chiến khu D. Tụi B52 nó “cạo” tan nát hết, rồi cái đài phát thanh ấy tịt luôn. Cũng là một thành tích đáng ăn mừng đấy chứ…
Trọng cũng thấy vui vui…May ra thì Trung có thể quên được mối tình đầu đẹp ấy. Nắng đã lên cao, có lẽ đã tới hơn chín giờ. Thắng bảo Trọng:
– Cho tao về sân đậu.
Hai người đi về chỗ để xe. Học trò của trường tiểu học trong căn cứ đang xếp hàng vào lớp. Cô giáo trẻ đi sau cùng, còn ngoái cổ lại nhìn theo hai bóng người khuất vào nẻo đường sỏi đá.
Trong tiếng gió hoà lẫn tiếng máy xe ào ào, Thắng ghé vào tai Trọng nói như quát:
– Tao quên chưa báo cho mày biết một tin buồn. Tháng sau, tao cưới vợ rồi. Mình già rồi, phải không mày? Vợ tao nó quen với em Phượng của mày, tao đã xúi nó mời em Phượng đi phù dâu. Hôm đó, tao sẽ để cho mày ngồi cạnh em Phượng. Chịu khó xin lỗi đi…
Phượng…Phượng…! Cái tên đó lại làm sôi nổi một chút quá khứ đã chìm sâu trong lãng quên. Một sự giận dỗi giả vờ rồi tới một sự giận dỗi thật. Cả hai đều nhiều chất tự ái ở trong người, thành ra không ai muốn xin lỗi trước. Tuy có vài lần, thấy lòng mình buồn muốn khóc, Trọng muốn nối lại cuộc tình duyên ấy, nhưng khi đến đầu ngõ nhà Phượng, Trọng ngập ngừng một chút rồi lại quay trở ra.
Đưa Thắng về chiếc C47 Echo Alpha, Trọng quay xe trở về đài kiểm soát phi trường. Phi đạo nắng ngập đầy. Một chiếc L19 cất cánh, bóng lẻ loi, đơn độc, trông côi cút như một con gà lang thang. Trọng thở dài:
– Đêm nay trực, mình sẽ viết một lá thư thật dài cho Phượng….
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.