Mấy Người Con Trai Vương Long

vietmessenger.com

Pearl S. Buck

Nguyễn Thế Vinh dịch

(Tái bản)

Post by Sơn râu 13 Jun 2025

Chương 2.

Vương Long lúc bình sinh một hôm có dặn các con khi lão trăm tuổi, quan tài hãy quàn ở ngôi nhà đất, đến tuần bốn chín mới làm lễ hạ huyệt. Bây giờ hai người con lo liệu ma chay báo hiếu, họ nghĩ từ tỉnh về đây xa xôi diệu vợi quá, chờ đến tuần tứ cửu mới đưa ra đồng thật là nhiêu khê phiền phức. Họ nhất định không theo lời di huấn, vả chăng lão cũng đã chết rồi. Họ thấy rất bất tiện, tốn kém lắm, các vị sư ở tỉnh cũng ngại đi xa, lại còn những người tắm rửa, khâm liệm, nhập quan cho lão già, họ đòi công một gấp đôi. Anh Hai nghe họ khai giá phát hoảng. Hai anh em đưa mắt nhìn nhau như thông cảm, lão già chết rồi, không có thể nói năng gì mà sợ làm trái ý. Họ cho gọi bọn tá điền bảo họ khênh quách Vương Long lên tỉnh, đặt lão vào gian phòng lão vẫn ở khi xưa. Hoa Lê kịch liệt phản đối nhưng vô hiệu. Biết nói lắm cũng vô ích, nàng thủng thẳng bảo hai ông “quý tử”:

– Tôi vẫn định con bé con và tôi không bao giờ bước chân vào ngôi nhà trên tỉnh, nhưng các anh nhất định đem ông lên, mẹ con tôi cũng phải theo lên.

Nàng dắt con bé, đứa con đầu lòng của Vương Long, và một người đàn bà đứng tuổi, nhưng tính nết lúc nào cũng như trẻ con. Bọn này đi sau linh cữu, trên các đường ruộng làng một ngày mùa xuân ấm áp, trời nắng ráo; con bé lẽo đẽo theo sau vừa đi vừa cười.

Hoa Lê trở lại gian nhà xưa kia nàng đã chung sống với Vương Long. Hồi đó Vương Long tuy đã có tuổi song khí huyết còn mạnh, ở một mình hiu quạnh, mua Hoa Lê đem về làm bầu bạn cho vui. Gian nhà này bây giờ âm thầm vắng vẻ, trên các cánh cửa buồng xưa kia dán những mảnh giấy hồng điều, bây giờ họ bóc đi hết. Trên hai cánh cửa cái trông ra đường họ dán đôi liễn trắng, báo hiệu nhà có tang. Hoa Lê đến đó, ngày đêm chầu bên linh sàng. Một hôm, một mình nàng đang túc trực bên linh cữu, sực có một con ở gái của Liên sai tới, báo trước Liên sắp đến viếng Vương Long. Liên là vợ lẽ thứ nhất của Vương Long, Hoa Lê trả lời xã giao người nữ tỳ, tuy nàng rất ghét Liên, xưa kia là đối thủ với nàng. Đứng dậy chờ Liên đến, nàng

đốt thêm hương, thắp thêm nến ở trên mặt quan tài. Lần này Hoa Lê mới gặp mặt Liên, từ ngày nàng kết bạn với Vương Long. Liên ghen ghê lắm, giận Vương Long sao dám tự tiện rước một hầu non. Nàng làm như không biết Hoa Lê là ai, còn sống hay chết. Nghe Vương Long đã từ

trần, nàng bảo với con ở:

– Bây giờ lão già đã chết rồi, tao chẳng thèm đếm xỉa đến con bé ấy làm gì, tao thử lại xem nó đối xử ra sao. Nghĩ thế, Liên tò mò đến, đi vịn vai hai con bé ở. Nàng chủ ý đến thật sớm trước khi các vị sư đến tụng kinh. Liên đến, đem theo hương, nến vào trong buồng, Hoa Lê ở đó; Liên sai con ở đốt hương, thắp nến trên mặt quan tài. Trong khi đó nàng không rời mắt nhìn Hoa Lê, mở to cặp mắt trừng trừng nhìn xem con bé có khác trước không, có già đi không. Tuy Liên đi giày tang mặc áo tang, song nét mặt chẳng đượm vẻ gì là tang tóc. Nàng dõng dạc bảo Hoa Lê:

– Ồ! Nom mày vẫn loắt choắt xanh xao, không khác trước mấy tý, tao không hiểu lão già chuộng mày về vẻ gì?

Liên khoái chí lắm thấy Hoa Lê bé nhỏ, bần tiện, chẳng có gì gọi là đẹp.

Hoa Lê đứng im, cạnh quan tài, nàng cúi đầu không nói năng gì, nghĩ thấy tủi, lòng rạo rực căm hờn trước mặt địch thủ. Liên cũng không còn lý do gì giữ mãi mối căm thù khi xưa, nhìn Hoa Lê chán chê, nhìn vào quan tài, lẩm bẩm nói:

– Chà! Cái này các ông con cũng tốn tiền lắm đây.

Nói thế Liên đứng dậy có vẻ nặng nề, sờ tay vào quan tài xem gỗ tốt xấu.

Hoa Lê thấy bàn tay phàm phu mó vào một quý vật ngày đêm chính nàng kính cẩn trông nom, tức lắm, hét to lên:

Này, đừng có mó vào.

Nói xong nàng cắn môi dưới, chắp hai bàn tay nhỏ nhắn vào nhau. Nghe thấy thế, Liên rộ lên cười và la lớn:

– Làm sao? Con bé này sợ tao mó vào lão già hở?

Liên cười tỏ vẻ khinh bỉ, ngồi xuống một lúc nhìn mấy ngọn nến cháy đứng dậy ra sân ý muốn lui về. Nàng đứng ở sân dòm ngó khắp nơi, thấy con bé con ngồi chơi phơi nắng liền nói:

– Ồ! Con oắt này hãy cỏn sống à?

Hoa Lê nghe thấy vội vàng chạy lại ngồi cạnh con, trong lòng rạo rực, nàng cố hết sức nén. Liên đi rồi, Hoa Lê lấy miếng vải lau đi lau lại quan tài chỗ Liên mó vào. Nàng lấy một chiếc bánh cho con, con bé được chiếc bánh thích quá.

Hoa Lê mặt rầu rầu, đứng nhìn con thở dài nói:

– Chỉ còn sót lại mày là giọt máu của người ấy, hắn đối với tao cũng chẳng tử tế gì, coi tao như con hầu con hạ.

Con bé con, có ai hỏi nó câu gì, nó có hiểu mới trả lời, nó chẳng hiểu mẹ nói gì, cứ việc ngồi ăn bánh. Hoa Lê ở gian buồng đó, túc trực cho đến tuần tứ cửu. Ngày đưa đám, gian nhà vắng ngắt, lạnh lẽo, phẳng lặng, chỉ trừ khi nào có sư đến tụng niệm, lũ con VươngLong có việc gì cần lắm mới thấy lai vãng đến. Tất cả nhà có vẻ khó chịu, sợ sệt, họ cho là thế nào cũng có tà ma luẩn quất. Vương Long lúc sinh thời khỏe mạnh, đáo để lắm, vị tất tâm

hồn thất phách đã chịu xuất đi chưa hay còn luyến tiếc phảng phất đâu đó. Trong nhà độ này tự nhiên thấy nhiều chuyện lạ, ghê rợn: các con ở nhao nhao nói đêm nghe như có người thở phì phò ở đầu giường, có người kéo tóc, nghe như có cái gì cào ở vách, con bé ở làm bếp cầm cái xoong tự nhiên như có người giật lấy, đang và cơm tự nhiên biến mất … Lũ vợ chồng, con Vương Long nghe thấy bọn đầy tớ kể chuyện, nhếch mép cười cho là tụi nó nói nhảm, bọn ngu si, nhưng chính thật ra họ rất khó chịu, thấy rờn rợn thế nào.

Liên phong thanh nghe thấy thế nói có vẻ thông thạo:

– Tao biết mà, lão già ấy kinh lắm.

Con ở của Liên nghe cũng góp thêm:

– Cô ạ! Người chết họ muốn làm gì kệ họ, chưa chôn cất xong chớ nên nói gì động đến họ.

Chỉ có Hoa Lê là không sợ, nàng ở một mình với chiếc quan tài. Cũng như trước kia nàng đã chung sống cũng ở gian phòng này một mình với Vương Long. Khi nào nàng thấy các vị sư mặc áo vàng đến, nàng đứng dậy lui vào gian trong đứng đó nghe họ tụng niệm bi ai, và nghe tiếng chuông mõ rền rĩ. Dần dần thất phách được siêu thăng, cứ cách bảy ngày, vị sư trưởng lại báo cho các con Vương Long biết:

– Lại thêm một phách được thăng thiên.

Lần nào vị sư trưởng đến báo tin đó, các con Vương Long cũng đem tiền hồi hướng. Thấm thoắt, thất thất lai tuần, đã đủ lễ, ngày cất đám đã đến.

Ông thầy địa lý đã cẩn thận chọn ngày cất đám cho một người có danh vọng như Vương Long. Tất cả tỉnh, ai ai cũng đều biết ngày đó là cuối xuân sang hạ. Các bà già muốn đi xem cho khỏi trễ, giục con cháu ăn cơm thật sớm. Đám dân cày hôm ấy nghỉ một buổi, các cửa tiệm, bọn làm công, bọn học nghề thu xếp công việc để tất cả được đi xem đám ma. Cả tỉnh ai cũng biết Vương Long, ngày xưa cũng là một dân cày, nghèo xơ xác, nhờ trời lập được cơ nghiệp giàu có, con cái trưởng thành khá giả. Những người nghèo khó thích đi xem đám ma Vương Long, một người xưa kia cũng như họ, bây giờ chết lại giàu sụ, thật là một việc đáng suy nghĩ, một nguồn tin tưởng về ngày mai cho bọn nghèo. Hạng giàu có, của ăn của để, muốn đi coi đám, vì con cái Vương Long đứng vào hàng phú túc, họ cho như một bổn phận phải tỏ lòng tôn kính một vị quá cố có danh vọng, to tát.

Hôm đó, ở nhà đám thật là huyên náo, lộn xộn vô cùng. Một đám ma to tát như thế, muốn có trật tự không phải là chuyện dễ. Anh Cả bận rộn quá, người như hóa điên, anh là trưởng nam, bổn phận anh phải xem xét, coi sóc đủ mọi thứ, riêng một thứ áo tang, phải xếp đặt cho hàng trăm người,

tùy theo thứ bực, họ gần, xa, lại còn thuê kiệu cho đàn bà con trẻ, anh bận quá, luống cuống, nhưng anh lấy thế là hãnh diện, một mình anh đảm đương trong ngoài. Họ gào thét, hỏi anh có phải làm thứ này, thứ kia không? Anh lăng xăng, chạy lên, chạy xuống xếp đặt công việc, mồ hôi nhễ nhại, tuy

đang độ tiết xuân mát mẻ mà như giữa mùa hè. Nhìn quanh, nhìn quẩn thấy anh Hai đứng lì một chỗ, anh Cả phát cáu, nhân trong người đang bừng bừng nóng, anh hét to:

– Cái gì chú cũng để tôi làm cả, chú cũng biết bảo vợ con chú ăn mặc thế nào cho phải phép chứ.

Anh Hai trả lời rất thản nhiên, có vẻ nhiếc móc, xoi mói.

– Việc gì bác cũng muốn làm lấy mới được vừa ý, nên không ai dám mó tay vào làm đỡ cho bác. Tôi và nhà tôi đã biết tính vợ chồng bác nên không dám đả động làm gì sợ trái ý hai bác.

Công việc ma chay, mấy người con trai cụ cố Vương Long đâm ra khích bác nhau. Người nào cũng nóng lòng sốt ruột chờ mãi chưa thấy chú Ba về. Họ hục hặc lẫn nhau, anh Cả hậm hực chú Hai hà tiện không phải đường, đưa người đi tìm, ít tiền quá; anh Hai phàn nàn anh Cả khệnh khạng để

đến hai, ba hôm mới cắt người đi tìm chú Ba. Ngày hôm đó, nội tất cả nhà đám chỉ có một người có vẻ bình tĩnh nhất, người đó là Hoa Lê.

Nàng bận tang chế, mặc áo vải gai trắng, trang nghiêm, trịnh trọng chẳng kém gì Liên. Nàng ngồi nép mình bên cạnh quan tài. Nàng sửa soạn quần áo từ mờ đất, nàng mặc cho con bé con bộ đồ tang, con bé thích quá luôn luôn cười, nhưng nó thấy áo mặc rộng lùng thùng vướng víu, nó muốn cởi bỏ ra. Hoa Lê dỗ dành con cho nó chiếc bánh, quăng cho nó một miếng vải đỏ nó chơi, để nó khỏi đòi cởi áo. Chưa bao giờ Liên lại cáu kỉnh hơn hôm đó, người nàng sức vóc to béo, không thể ngồi một chiếc kiệu võng thường,

nàng ướm hết chiếc võng này đến chiếc võng khác, chẳng có chiếc nào vừa vào khổ người. Nàng cáu, nàng khóc, hậm hực, rủa đứa làm kiệu bé quá, nàng khóc vì có lẽ phải ở lại không được đi đưa đám.

Chợt nàng thấy con bé (con của Hoa Lê) nàng trút hết nỗi căm hờn, tức tối lên đầu con bé con. Nàng hét ầm gọi anh Cả:

– Này … anh Cả, của này cũng đi vào đám à?

Nàng kịch liệt phản đối, ngữ ấy không có phép được ló mặt ra trong một đại lễ trang nghiêm, thiên hạ quan chiêm. Với một giọng ôn tồn, Hoa Lê trả lời rất rành rẽ, cứng rắn:

– Không thể nào được, quan đã căn dặn tôi không bao giờ tôi được rời con bé con này ra, đó là một hiệu lệnh của ngài. Tôi có thể dỗ nó im, nó biết nghe tôi, nó bảo được, mẹ con tôi không làm gì phiền nhiễu đến ai.

Anh Cả cũng bỏ qua không nói gì, vì còn bận rộn nhiều công việc, còn hàng trăm người đang chờ, mà đám tang cũng đã rục rịch cử hành. Bọn phu khênh võng thừa cơ bắt chẹt, vòi thêm tiền; các đô tùy phàn nàn cỗ đại sự nặng kia mà phải đi xa. Đám nông dân, tá điền lũ lượt kéo vào đầy sân, mắt nghếch đi coi đám.

Bọn phu đang nhao nhao, người đi xem xô đẩy, chen lấn lộn xộn, chị Cả lại còn luôn luôn hoạnh họe chồng không biết xếp đặt, làm anh Cả đã cuống lại càng cuống thêm, mồ hôi chảy như tắm, tha hồ mà gào mà thét, chẳng ai thèm để ý. Đám tang hôm đó, nếu không có một sự tình cờ xảy đến, thì không biết đến bao giờ mới dàn xếp nổi với bọn phu, bao giờ mới được cử hành, bao gờ mới xong. Sự tình cờ rất hợp thời đó là đang lúc vô cùng lộn xộn huyên náo thì chú Ba ló về. Mọi người trố mắt nhìn chú Ba xem bây giờ thế nào, vì chú bỏ nhà ra đi đã lâu lắm, đến mười năm nay, từ ngày

Vương Long mua Hoa Lê đem về. Chú phẫn uất ra đi, căm giận ông bố vô cùng. Bây giờ chú về, nom khác hẳn khi xưa, người vạm vỡ cao lớn hơn cả hai anh, chỉ nhận ra chú có cặp lông mày rậm rì và khóe miệng chua cay khắc nghiệt. Khi chú mới bước qua ngưỡng cửa vào, chưa ai nhận ra ngay

được là chú Ba. Chú ăn vận quân trang, nhưng không phải bộ binh phục của tên lính quèn. Chú mặc bộ đồ nỉ màu xanh xẫm, khuy áo to bằng đồng lấp lánh đeo ở giây lưng một thanh đoản kiếm chuôi bằng vàng óng ánh. Bốn tên lính bồng súng đi sau, người nào cũng sức vóc khỏe mạnh, có một anh tuy sứt môi nhưng coi cũng ra dáng lắm. Khi bọn người này bước vào cửa chính, trong nhà đang ầm ĩ huyên náo tự nhiên im bặt, phẳng lặng như tờ. Mọi người quay cả lại nhìn xem chú Ba, không ai dám hé răng, vì thấy chú hùng dũng oai phong. Chú rảo cẳng bước vào, bọn sư, bọn tá điền, nông phu, bọn người đi xem đông nghẹt, rẽ rạt sang một bên để nhường lối chú đi; chú dõng dạc hỏi to:

– Các anh tôi đâu cả?

Họ đã phi báo cho anh Cả, anh Hai biết là chú Ba về tới, hai ông anh chưa biết nên đối xử với chú Ba thế nào cho phải, hoặc niềm nở lễ phép, hay là một đứa em hư đã bỏ nhà trốn ra đi. Nhưng khi hai ông anh thấy chú Ba hiên ngang trong bộ nhung y, và đằng sau bốn tên lính võ trang, liền tỏ

hết sức lễ độ, như đón tiếp một vị tân khách. Họ cung kính nghiêng mình chào chú Ba, thở dài đượm vẻ buồn buồn của một hiếu tử ngày cất đám cha. Chú Ba nghiêng mình đáp lễ, đưa mắt nhìn xung quanh rồi hỏi:

– Thế cha đâu?

Hai anh bèn đưa chú Ba vào sân trong, ở đó đặt cỗ đại sự của Vương Long, phủ rèm thêu kim tuyến. Chàng ra lệnh cho bọn lính đứng yên ở sân ngoài, một mình bước vào trong nhà. Khi Hoa Lê nghe tiếng giày nện trên gạch, nàng liếc mắt nhìn xem ai đi vào, ngó thấy chú Ba, nàng quay phắt mặt vào tường, ngồi quay lưng ra ngoài. Nhưng chắc chú Ba dẫu có biết rõ là ai đi nữa, chú cũng sẽ lờ đi như là không biết. Chàng nghiêng mình trước linh

sàng, thay bỏ nhung y, mặc tang chế, bộ đồ tang đã sắp sẵn từ trước cho chàng, Chàng thắp hai ngọn nến, giục đem phẩm vật bày trên linh cữu.

Khi xếp đặt xong xuôi, chàng sụp lễ ba lễ trước linh cữu và kêu to:

– Ô ô ô hô!

Hoa Lê cứ ngồi im, úp mặt vào tường không hề nhìn lại xem sau lưng nàng họ làm gì. Làm xong công việc đầu tiên của một hiếu tử, chú Ba ra sân, dõng dạc nói một câu cụt lủn:

– Xếp đặt xong cả, đám cho khởi hành!

Thật là cả một sự lạ lùng, mới hồi nãy, huyên náo, hỗn loạn, bây giờ im phăng phắc, mọi người răm rắp tuân lệnh, tưởng chừng như sự hiện diện của chú Ba và bốn anh lính võ trang có một mãnh lực vô cùng huyền diệu. Bọn phu khênh võng có việc gì cần phải hỏi anh Cả, thì nói năng ôn tồn, lễ

phép, chú Ba chỉ nhíu cặp lông mày rậm rì là những anh phu nào tính hay mè nheo, ngổ ngáo nhất cũng nhũn; chú Ba dõng dạc đứng trước bọn phu tuyên bố:

– Các người làm ăn cho cẩn thận, ta sẽ biết và không để thiệt đâu.

Bọn phu câm như hến, thảy đều răm rắp nghe lệnh. Mấy anh lính và mấy khẩu súng thật có uy lực vô biên. Bọn phu bắt tay vào việc, lễ chuyển cữu bắt đầu. Họ luồn qua dưới quan tài những bện thừng lớn buộc túm hai đầu, sâu đòn kề vai khênh. Lại còn chiếc linh xa rước vong, trong đó họ bày mấy thứ bình sinh nhật dụng của vong, chiếc điếu ống, chiếc áo cũ … và một bức ảnh truyền thần do tay một nghệ sĩ được ca tụng là khéo đã họa khi Vương Long lâm bệnh. Thực ra bức hình đó chẳng giống Vương Long một ly nào, ảnh một vị hiền triết quái nào, nhà danh họa đại tài tô thêm râu, điểm thêm lông mày, kẻ thêm răn mặt cho có vẻ đạo mạo một vị quốc lão. Đám tang bắt đầu lên đường, bọn đàn bà nhà đám cũng bắt đầu khóc, gào; to mồm nhất là Liên, ả bứt tai bứt tóc, che kín mặt bằng chiếc khăn vải trắng mới, để hé mắt, nhắm mắt này mở mắt kia, ả khóc kể ầm đường:

– Ới! Ông ơi! Ông đi đâu, ông bỏ tôi bơ vơ, tôi biết trông cậy vào ai, hỡi ông ơi, là ông ơi!

Suốt dọc đường, thiên hạ đổ xô xem đám ma, thấy Liên kêu gào thảm thiết, ai cũng tấm tắc khen:

– Tội nghiệp! Ít người được như cô ta, con người có nghĩa thế … cô ta thương ông cụ quá !…

Nhưng cũng có bọn thấy một mu đàn bà to béo, kêu gào ầm ĩ, họ bảo nhau:

– Ông cụ này nghe nói giàu lắm, nuôi béo trương, béo nứt thế kia làm gì mà chẳng tiếc!

Bọn này bình phẩm Liên ngốt lên vì của cải, giàu có của Vương Long.

Còn các nàng dâu, mỗi chị khóc một lối, một kiểu; tùy theo tâm trạng từng người. Nàng dâu Cả thút thít cho phải phép, thỉnh thoảng lấy khăn chùi rỉ mắt. Về môn khóc chị này còn thua Liên nhiều. Chị vợ lẽ anh Cả, một cô mẩm mụi, coi cũng kha khá, mới nhập tịch vào họ nhà Vương Long được một, hai năm nay, luôn ngó xem chị Cả khóc thế nào cũng bắt chước khóc thế ấy.

Nàng dâu Hai, quê mùa, ngớ ngẩn, lần đầu tiên được ngồi võng kiệu, bọn phu khênh chị nghênh ngang ở đường phố. Thiên hạ đông đúc, vui quá, hàng trăm hàng nghìn mắt nhìn vào làm chị không sao khóc nổi, thỉnh thoảng nhớ ra phải khóc một tí, vội vàng lấy tay che mặt; hai mắt nhìn qua

kẽ tay, thấy vui vui quá, lại quên. Hoa Lê ngồi kiệu võng, buông rèm che kín, không ai ngó thấy, nàng lặng lẽ khóc thầm. Khi mọi việc của đám tang vĩ đại đó hoàn tất, Vương Long được mồ yên mả đẹp; các đồ mã: mấy căn nhà, gia đình, đầy tờ, gia súc, bằng nan phất giấy được đốt thành một đống tro lớn. Bó hương cắm trên mả, khói tỏa nghi ngút, các con trai làm lễ an phần, phái đàn bà lại một phen kêu gào. Khi xong việc, bọn phu được trả công, mấy bà không còn ai nghĩ đến khóc làm gì nữa, nhiệm vụ khóc đến đó coi như đã chấm dứt, duy chỉ có Hoa Lê vẫn lặng lẽ âm thầm, thổn thức.

Nàng không trở về ngôi nhà ngói trên tỉnh, ý nàng muốn quay về nếp nhà đất cũ nát. Anh Cả khuyên nàng lên trên tỉnh ở với vợ chồng anh, ít nhất cũng đến hôm chia gia tài. Nàng lắc đầu trả lời:

– Thôi được, tôi ở đây đã lâu kể cũng quen, ở một mình được yên thân, vả lại còn vướng con bé con. Lên tỉnh, con nhỏ này làm chướng mắt chị Cả, mà bà ấy cũng chẳng ưa gì tôi, để mẹ con tôi về căn nhà đất là yên hơn. Bác cũng chẳng cần quan tâm đến tôi, khi nào tôi có cần gì sẽ thưa với bác. Ở

nhà quê, ăn ít tiêu ít, lại còn vợ chồng lão tá điền kể cũng vui, tôi được rảnh rang yên thân, trông nom con bé và coi việc đồng áng.

Anh Cả làm ra vẻ miễn cưỡng, trả lời:

– Thôi cũng được … tùy ý.

Chính ra như thế, anh Cả cũng yên chí vì thường thường vẫn được nghe vợ nói chuyện về con bé con, không ai muốn chứa chấp nó làm gì. Còn ông cụ, Liên nó còn gờm, ông cụ chết đi, nó không kiêng nể gì ai, hung ác lắm, chẳng kẻo có bữa sinh chuyện lôi thôi to. Hoa Lê nắm tay con, dắt về căn nhà đất, nơi mà nàng trông nom săn sóc Vương Long trong những năm già yếu. Nàng về đó, trông nom con bé, quanh quẩn ở nhà, không đi đâu xa, trừ ra có đi viếng mộ Vương Long. Sau này chỉ có nàng là năng lui tới, thăm viếng phần mộ. Liên cũng có đi nhưng ít khi lắm, chỉ những công việc bắt buộc phải đi viếng mộ, không đi không được, nhưng cô ả có đi ra nữa cũng chờ ngoài đường đông người để ai ai cũng biết, cũng khen là thủ tiết. Trái lại, Hoa Lê, những lúc nàng thấy tâm hồn trốrg trải, cô đơn, nàng ra mộ; nàng đi như thầm lén, đi vào lúc đường sá vắng tanh, đêm hôm khuya

khoắt. Nàng khóc nhưng không khóc to, ngồi gục đầu vào mộ âm thầm nức nở, khẽ khẽ họa chăng nghe thấy:

“Ới quan ơi!

Ới cha ơi! Cha độc nhất của đời con trên đời, ới cha ơi! Quan ơi!”.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply