This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Bây giờ, cứ khi nào thấy thèm lấy vợ, Thắng lại tới chơi nhà Pi-lốt Thái Bình. – A, đừng có nghĩ bậy – Tới chơi với nó, Thắng chỉ muốn chứng kiến một cảnh gia đình rất ư là một sự êm ấm. Ấy thế là khi về nhà, bao nhiêu tư tưởng lấy vợ, tự nhiên theo gió mà bay mất lên trời.
Nhà thằng Pi-lốt Thái Bình ở trong một khu xóm gần phi trường. Nhà đó là nhà đi thuê. Một dãy nhà giống nhau, làm ra để cho thuê nên những bức tường ngăn nhà nọ với nhà kia chỉ dày hơn tờ giấy bạc có một tí. Thằng Thái Bình thở hít không khí cứ phải gượng nhẹ từ từ… Đôi khi, nó còn không dám ho. Nó sợ bay mất bức tường.
Mỗi khi nhà bên cạnh đóng đinh lên tường thì nhà thằng Thái Bình lại có một trận đổ vỡ kinh khủng. Rồi sau khi đó, lại nối tiếp theo một sự nói chuyện bằng mồm mà bao nhiêu những cái không đẹp từ trước đến nay lại tuôn ra cho kỳ hết. Thái Bình đã bảo Thắng:
– Muốn biết chuyện của xóm tao, chỉ cần tới chờ những lúc mà mấy mụ đàn bà đấu võ miệng…
Hàng xóm nhà nó là nhà một anh Hai Đất. Xóm đó dân đi thuê toàn là giới nhà banh. Đủ cả, mũ đỏ, mũ xanh, mũ trắng, mũ vàng… Hai Đất với Pi-lốt Thái Bình, hai tên có vẻ tri kỷ lắm. Hai Đất ít nói, lầm lì. Mới thoạt trông thì có vẻ hơi…nể vợ. Nhưng đừng nghĩ vậy mà lầm. Hai Đất chỉ huy được bao nhiêu là lính thì có sá chi…một con vợ.
Chiều chiều, Hai Đất và Thái Bình thường bắc ghế xếp ra cửa, nằm dài chuyện gẫu. Lúc đó thì hai chị vợ lúi húi ở mãi tít tận cùng trong bếp. Cứ khi nào một trong hai chị vợ ra ngoài thì cả hai thằng đều im bặt, nằm nhìn mây trắng trôi, ra cái điều chẳng thằng nào thèm nói với thằng nào. Rồi khi người đàn bà trở vào trong bếp, câu chuyện lại tiếp tục. Thường thường thì chỉ toàn là những chuyện dạy vợ. Chuyện Hai Đất thì có vẻ anh hùng lắm.
– Với tao thì đàn bà là phải đánh. Thân chúng nó là thân lừa…Nhẹ không ưa, chỉ ưa nặng….
Thằng Thái Bình dở giọng hào hoa phong nhã rẻ tiền:
– Theo tao thì không nên đánh đàn bà, dù rằng chỉ bằng …một cánh hoa.
Hai Đất tức lắm, ngồi nhỏm ngay dậy. Mặt hắn đỏ bừng. Hắn nói hơi to tiếng:
– Không đánh bằng một cánh hoa?…Thế thì đánh bằng gì?… Bằng lọ cắm hoa hả?…
Câu chuyện kết thúc khi mấy thằng lỏi ra mời ba vào ăn cơm. Thằng Thái Bình trước khi vào nhà, dặn Hai Đất tối nay đừng có đóng đinh lên tường. Hai Đất dặn Thái Bình đừng có mở radio lớn quá. Rồi họ chia tay nhau…
Ấy chỉ có thế mà vợ thằng Thái Bình cằn nhằn. Nằm khểnh nói chuyện thì được cái ích lợi gì cơ chứ…Thà rằng ở trong nhà, đùa với con có phải là khoái hơn không. Tiếng vợ thằng Thái Bình trách chồng cứ oang oang. Không kém gì, bên kia cũng có tiếng vợ Hai Đất:
– Chiều nào cũng phải tâm sự. Mất hết cả thì giờ. Để thì giờ mà tắm cho con Tô Tô lại còn tốt hơn!…
Câu chuyện có vẻ đi đến chuyện gay go, nghĩa là sắp sửa đi đến một trận vỡ làng, vỡ xóm thì may thay, lũ lỏi ngồi vào bàn ăn, dành nhau loạn xạ. Thằng lớn nhất lấy một miếng ớt, lén bỏ vào bát cơm của thằng nhỏ làm cho thằng bé ăn phải ớt cay, khóc la cứ inh nhà. Chị người làm đang xúc cơm cho con bé gái nhỏ nhất, định đứng lên lấy nước cho thằng bé uống, nhưng vừa đứng lên thì đứa bé gái đạp đạp hai chân, không chịu. Thằng anh nghịch được thằng em một vố, khoái quá, cười lên sằng sặc. Tiếng cười, tiếng khóc, tiếng hét làm cho căn nhà vốn dĩ đã mỏng manh, chỉ chực bật tung nóc.
Lúc này, vợ thằng Thái Bình mới xông vào vòng chiến. Củng cho thằng lỏi lớn một củng bươu đầu. Cho thằng lỏi con uống một ly nước. Quát chị người làm bế con bé ra đầu ngõ. Thằng lỏi con vừa nín thì thằng lỏi lớn bị một cái cốc đau quá, mồm lại mếu xệch. Thằng Thái Bình quát:
– Câm!…ăn đi, không “ông” lại nhốt vào cầu tiêu bây giờ….
Thấy những cảnh đó thì dù cho những thằng có “gan to mật lớn” đến đâu cũng không còn dám lấy vợ. Thằng Thái Bình lấy vợ được hơn tám năm. Tám năm mà được hai trai, một gái. Đấy là vì khi đẻ đứa con gái chót, vợ con nó đều bị đau, nằm bết bát ở nhà thương. Con nó phải để trong phòng lạnh. Mỗi ngày tốn tất cả hơn một ngàn đồng bạc. Tiền bạc để dành được bao nhiêu thì kỳ ấy moi ra cho bằng hết. Không công nợ là may! Ban đêm nó phải thức canh cho con và vợ, nên mệt lắm. Ban ngày lại phải đi bay… Nó nghĩ đến nông nỗi đó nên khi vợ khoẻ và con cứng cáp đã trở về nhà, nó chẳng thiết “làm ăn” gì với vợ. Bẵng đi được tới hai năm, vợ nó không mang bầu.
Nhưng từ ngày vợ nó khám ví, lấy hết cả tiền, chỉ để lại vài ba chục lẻ tiêu vặt, Thắng lại thấy bụng vợ nó đưa ra đằng trước. Một hôm, thấy vợ mặc áo dài đã phải để hở ra mấy cái cúc cuối cùng, mặt nó chảy dài ra:
– Thất là đại bất hạnh!…
Ở phi trường, suốt ngày nghe tiếng tàu bay làm point fixe ầm ĩ. Leo lên máy bay, ngoài tiếng động cơ máy bay lại còn nheo nhéo tiếng vô tuyến điện. Về đến nhà thì lại phải nghe chuyện gàn của ông bố, chuyện nhức đầu của bà vợ và tiếng khóc của một lũ con… Thằng Thái Bình, ôi, thật là đáng thương! Nó thèm được một ngày yên tĩnh, nằm nghe tiếng hát vọng ra từ chiếc máy stereo hay tiếng suối chảy, thông reo. Mỗi năm được nghỉ ở Đà Lạt nửa tháng, vợ nó lại đòi theo đi. Thân nó, quả thực là thân tội.
Buổi trưa hôm nay, nó rủ Thắng về nhà nó ăn cơm. Thì ra sáng nay, nhà nó mới xảy ra một tấn bi kịch. Đầu đuôi, chỉ tại ông Thái Bình con. Ông lỏi đi học ở một trường tiểu học cách nhà chừng một cây số, lớp học vào lúc bảy giờ rưỡi nên thằng lỏi phải đi học sớm.
Ở trong cái thế giớ con nít và đàn bà, tư tưởng kỳ thị giai cấp còn mạnh hơn tư tưởng kỳ thị chủng tộc của các ông Mỹ ở bên cái xứ Hoa Kỳ. Con một ông Trung-tá Y-sĩ đâu có thèm chơi với con một ông Trung-sĩ Y-tá. Đến vợ của một anh Cai Kèn mà cũng còn dám nói với thiên hạ rằng chỉ một tiếng kèn của chồng bà cũng đủ làm cho “chồng chúng mày” chạy tập họp tóe khói còn hơn ma đuổi.
Ông Thái Bình con cũng mắc cái bệnh đó. Thằng lỏi khoe với bạn là bố nó làm phi công, bố nó lái tàu bay bay vù vù ở trên trời. Nhiều khi nó cũng được bố cho đi tàu bay, lên trên trời còn cho nó lái nữa. Điều này thì nó nói phét. Bạn bè nó chẳng đứa nào tin. Thằng nhóc ức lắm, dọa:
– Được rồi, sáng mai tao bảo bố tao mặc quần áo tàu bay chở tao đi học cho chúng mày xem.
Buổi sáng hôm nay, thằng lỏi nhất định không chịu đi ô-tô-buýt. Nó chờ bố nó dậy, chở Vespa đi. Bởi vậy đã ăn sáng rồi mà thằng lỏi cứ tần ngần. Hết đi ra lại đi vào như là đánh mất một cái gì. Bố nó giờ này đang ngủ. Thường thường, bảy giờ mười lăm, bố nó mới thức dậy, bảy giờ rưỡi mới đi làm. Có khi tám giờ. Trông dáng bố nó ngủ, thật là xấu. Đầu gối co lên đến tận cằm. Mặt thì nhăn nhó. Với cái dáng đó mà đứng ở trong chấn song ở Sở Thú con nít dám cho ăn chuối và mắm tôm lắm.
Nó cứ lấm lét nhìn bố nó ngủ. Mẹ nó lấy làm lạ hỏi nó:
– Sao mày không đi học đi? Cứ làm như là ma bắt mất hồn ấy thôi.
Không phải ma bắt mất hồn nó đâu. Nó tìm cách đánh thức bố dậy. Đánh rơi vỡ một cái gì thì bị đòn. Hét lên một tiếng thì thế nào cũng bị đi nhà thương. Trêu cho em nó khóc thì dễ nhất nhưng mà em nó, cả hai đứa đều cùng đang ngủ. Ông nó lại ngồi gần đó. Chỉ còn mỗi một cách là làm cho chuông đồng hồ báo thức reo….
Nó nhìn cái dáng dã nhân của bố đang co quắp trên giường rồi tay cầm cái đồng hồ. Nó từ từ vặn chiếc kim nhỏ. Một tiếng cạch nhỏ rồi một hồi chuông reo. Nó cuống quýt, chưa kịp đặt chiếc đồng hồ xuống bàn ngủ để tẩu thoát thì bố nó đã vùng ngay dậy…Thôi, chết cha chú Thái Bình con rồi. Bố nó nhìn chiếc đồng hồ, nắm lấy tai nó làm chân nó kiễng lên chỉ muốn rời khỏi mặt đất.
Bố nó bỏ tai nó ra, cho nó một cái tát, như cả cái mái nhà đổ sụp lên đầu. Nó khóc toáng lên. Lần này thì cả hai em nó đều thức dậy và cùng hoà ca một bản đàn lâm khốc.
Mẹ nó ở dưới bếp vội chạy lên. Thấy má nó còn hằn vết ngón tay đỏ ửng, mẹ nó quát bố nó:
– Trời ơi, đánh con gì mà như quân hằn, quân thù. Đấy, đem nó mà giết đi.
Chú Thái Bình con được mẹ bênh, tủi thân, càng khóc dữ. Mẹ nó nói lải nhải một hồi…Bố nó đi rửa mặt từ dưới bếp đi lên mặt vẫn còn hầm hầm:
– Sao còn chưa đi học?…
Thằng Thái Bình con lau nước mắt, đi ra cửa. Bố nó đưa cho nó cái cặp sách:
– Đi học gì mà lại không mang sách?…
Tuy rằng bị cái tát đau, nó vẫn còn nghĩ đến chuyện lấy le với bạn. Nó bảo với bố:
– Lát nữa, bố lái tàu bay qua trường, bố ném xuống sân trường cho con.
Thằng bố chợt hiểu…Nó muốn đấm cho ông con của nó một đấm gãy quai hàm. Thằng con thấy cái bộ mặt ghê gớm của thằng bố, sợ quá, vội giật chiếc cặp sách, ù té chạy ra cửa… Buổi sáng hôm ấy, nó quên vòi mẹ nó năm tì.
Ông lỏi con đi rồi thì mẹ ông lỏi bắt đầu mở máy nói:
– Không phải anh đẻ ra nó, thành ra anh đâu có thương nó.
Thằng Thái Bình chỉ còn một cách là im lặng….Im lặng là khinh bỉ. Im lặng còn có nghĩa là sợ nữa…Sợ vợ thì có cái gì là nhục đâu cơ chứ. Chị vợ thấy anh chồng không trả lời, tức quá nói nặng hơn:
– Mặt thì cứ lầm lầm, lì lì… Lúc mới lấy vợ thì mồm đâu mà nhiều thế… Đồ…Đồ sấp mặt!…
Đã là vợ chồng mà nói nặng nhau thì ai còn nhịn được. Nó tức giận, to tiếng không kém:
– Con cái ở nhà, không chịu dạy dỗ…Ở nhà làm cái gì? Người ta đi làm mệt…Đồ…Đồ ăn sẵn, nằm ngửa!…
Cả hai vợ chồng nó cứ quai mồm ra mà mắng nhau là đồ sấp mặt với lại đồ ăn sẵn, nằm ngửa… Sau cùng thằng Thái Bình chịu thua. Nó mặc quần áo, dắt Vespa ra cửa. Nó gặp Hai Đất cũng đang sửa soạn đi làm. Hai Đất nắm tay lại, đấm không khí một cái, nháy nó, như muốn nhắc chuyện chiều hôm qua.
Trong nhà, vợ nó vẫn lải nhải. Nó dựng xe, đứng tần ngần, suy nghĩ…Thân nam nhi, bảy chục kí-lô, há đâu có sợ cái thân liễu yếu đào tơ, cân được bốn mươi hai kí. Nhưng còn cái mồm, làm sao mà bịt được mồm nó lại. Cái đó mới thật là khó.
Nó nhìn chiếc Vespa. Mới súc bình xăng và lau sạch bu-gi hôm qua. Đạp một cái chắc là máy nổ. Nó yên chí trở vào nhà. Nó lấy lại dáng điệu của người hùng. Nó nói giọng ra lệnh:
– Tôi bảo cô im…Có im không?..
Vợ thằng Thái Bình tròn mắt ngạc nhiên. Nhưng rồi vẫn nói cứng:
– Tôi không im có được không? Anh làm gì tôi?
Thằng Pi-lốt Thái Bình giơ thẳng tay lên giáng xuống. Nhưng khi bàn tay gần tới má vợ, nó vội hãm lại và chỉ ấn mấy ngón tay vào cái má chưa bao giờ được cái hân hạnh ăn tát… Ấy thế là vợ nó lăn đùng ra nhà. Vợ nó hét lên vỡ xóm…Ông bố nó ở trong nhà chạy ra. Thấy tình hình có vẻ nghiêm trọng, nó bay ra Vespa. Đạp một cái, máy nổ dòn tan. Nó nhảy lên xe, sang số một cách dã man, thả “ăm-bờ-ray-a” rú ga quẹo cái cua ở đầu ngõ một cách kinh khủng rồi chạy tuốt vào trong phi trường. Hú vía!…
Nó vỗ tay lên chiếc đèn Vespa mấy cái nhè nhẹ cám ơn, như mấy anh nài ngựa vuốt ve ngựa, khi ngựa về nhất. Ngồi ở Phòng Hành-quân, nó vừa nghĩ, vừa lo…Vì vậy, trưa nay nó rủ Thắng về nhà nó ăn cơm.
Thằng Thái Bình rất hiểu tính vợ. Những đàn bà dù cho có giận chồng đến đâu cũng không dám lên tiếng sỉ vả chồng khi có mặt của bạn chồng . Mà những thằng bạn vào cái loại Thắng thì cái đó thật là một điều tối kỵ.
Thắng về nhà nó trước khi tan sở mười lăm phút. Để câu chuyện không có vẻ gì là đóng kịch, Thắng nói với vợ Thái Bình:
-Hôm nay trực mà túi lại cạn tiền, đành phải vào xin anh chị…bữa cơm.
Vợ Thái Bình nói theo giọng cố hữu của đàn bà miền Bắc:
– Dạ, anh cứ dạy…Mời anh hôm nay ở lại đây ăn cơm với chúng tôi.
Rồi vợ thằng Thái Bình quát người làm đi mua thức ăn thêm tưng bừng. Lũ con được ăn riêng. Vợ nó cứ chạy ra, chạy vào ra cái điều bận rộn lắm. Thắng hiểu ngay rằng cái lối tiếp đãi trịnh trọng ấy có ngụ ý bảo ngầm rằng, chỉ có một bữa ngày hôm nay thôi đấy nhé.
Ngồi ăn cơm, Thắng nghĩ cách để cho vợ chồng nó làm lành. Thấy bụng vợ nó hơi to, Thắng hỏi Thái Bình:
– Mày thích lần này, con trai hay con gái?…
Thằng Thái Bình ngồi lặng im.. Nó vốn sợ đưa vợ đi nhà hộ sinh. Lúc đau đẻ, vợ nó thường hay réo tên nó ra mà chửi.. “Vì mày mà bà khổ!…”. Ở nhà hộ sinh, sau khi vợ nó đẻ là mấy bà mụ biết tên nó hết. Lúc gần đây, vợ nó đẻ xong, vừa vác mặt đến nhà hộ sinh, mấy bà mụ gặp nó ngoài cửa, nhìn cái bảng tên nó đeo ở ngực áo rồi tủm tỉm cười:
– Con gái, ông ạ!…
Nó ngạc nhiên nhưng rồi cứ yên trí là tất cả đàn bà nằm ở cái nhà hộ sinh nầy đều đẻ con gái. Bởi vậy, nghe Thắng hỏi, thằng Thái Bình cứ ngồi im. Một lúc sau, nó mới trả lời:
– Con gì cũng được…miễn là đừng làm cho mẹ nó…chửi bố nó.
Vợ nó cười e thẹn, ngập ngừng:
– Lúc ấy, đau chết đi được…Anh cứ thử đẻ đi rồi anh biết.
Cả nhà nó cười vang, kể cả ông cụ già, bố nó sắp sửa ăn khao thượng thọ.
Buổi trưa hôm đó, Thắng ngủ trưa ở nhà nó. Vợ thằng Thái Bình cứ bắt Thắng phải nằm trên giường nệm. Thắng lắc đầu lè lưỡi…Buổi trưa ở cái đất Sàigòn này mà nằm trên giường nệm thì có khác gì mang thằng người đi mà rô-ti. Thắng và Thái Bình trải chiếu xuống đất nằm. Nó tâm sự với Thắng là trưa nay, là một buổi trưa yên tĩnh nhất đời.
Cả hai vừa thiu thiu sắp ngủ thì ngoài nhà có tiếng ồn ào. Tiếng chào hỏi cứ um lên. Lũ trẻ con vùng ngồi nhỏm ngay dậy, chạy ra ngoài nhà.
Thì ra bà cô nó vừa ở Hố Nai lên thăm gia đình nó. Thằng Thái Bình thở dài, chán nản:
– Thế là…, mất mẹ nó buổi trưa.
Nó cứ vờ nằm ngủ, để mặc vợ con và bố tiếp khách ở ngoài nhà. Tiếng bà cô nó cứ oang oang vọng vào. Bà cô nó hỏi thăm đến công việc làm ăn của anh Cả. Anh Cả là thằng Pi-lốt Thái Bình đấy. Ông bố nó trả lời:
– Cháu nó làm ở “Sở Phi-công” cũng gần đây…
Vì đã nhiều lần được nghe cái tiếng “Sở Phi-công” nên Thắng cũng không ngạc nhiên gì cho lắm. Chuyện làng nước giữa bà cô nó và ông bố nó, nghe chán nản không thể tả được. Mồ mả làng nó, nghe bà cô nó nói thì phát quan võ. Con cụ Tổng trong làng, đóng tới ông Ba Đất. Còn nó thì đóng được tới ông Một “lái phi công”. Bà cô nó còn văn minh hơn ông bố nó ở chữ “lái phi công”. Nó nằm nhìn trần nhà mà tủm tỉm cười. Hai ba con mối đuổi nhau. Nó giật mình khi nghe bà cô nó hỏi:
– Anh Cả đâu rồi nhỉ? Chắc hôm nay phải gác…
Vợ nó nhanh nhẩu trả lời:
– Không, nhà con ở trong nhà.
Vợ nó vào trong nhà gọi nó ra. Nó miễn cưỡng đứng dậy ra ngoài nhà chào bà cô. Bà cô nó hãnh diện hỏi:
– Cháu có còn “lái phi công” không?…
Thằng Thái Bình làm ra bộ ngớ ngẩn, lắc đầu:
– Thưa cô không ạ!…
Bà cô nó vẫn không tha. Bà còn hỏi thêm một câu:
– Thế thì người mình có ai “lái được phi công” không?
Thằng Thái Bình thản nhiên trả lời:
– Có, có chứ!… Vợ cháu, nó lái được phi công.
Thằng Thái Bình trả lời thật chí lý. Chỉ có vợ ông phi công mới lái được phi công chứ bố ai mà lái được. Vợ nó nhe răng ra cười. Bà cô nó chợt hiểu. Ấy thế là bà dài mồm ra nói kháy – Nào là tôi ngu, tôi dốt – Phải, các anh các chị bây giờ giỏi giang – Nào là có thế mà cũng phải chửi khéo – Nhưng mà tao đâu bằng vai, phải lứa với chúng mày mà chúng mày dám hỗn. Cái nhà này thật loạn rồi.
Vợ và bố nó thì cứ tíu tít xin lỗi. Nó đứng lên lừ lừ đi vào trong nhà, buông mình xuống cạnh Thắng đánh huỵch một cái. Nó nhắm mắt, cố ngủ để chiều còn phải đi bay. Nó thở phì phào làm bay bay, phập phồng mấy cái mạng nhện ở dưới gầm giường….
Không ai muốn một thuyền trưởng phải chết theo con tàu đắm, tuy nhiên thuyền trưởng có trách nhiệm locho sự an toàn của tất cả mọi người trên con tàu đó.
(Cade Courtley, cựu thuyền trưởng Hải Quân Hoa Kỳ)
Nhân viên cấp cứu Nam Hàn khiêng xác hành khách chiếc phà Sewol mà thuyền trưởng đã thoát khi vẫn còn người trên phà. (Hình: Jung Yeon-Je/AFP/Getty Images)
Chủ tướng chết theo thành trì bị tan vỡ, thuyền trưởng chết theo con tàu bị chìm xuống đại dương, đó hình như là một truyền thống của người quân tử có trách nhiệm, và tinh thần mã thượng. Luật pháp Ý, Nam Hàn và một số quốc gia khác quy định thuyền trưởng bỏ tàu khi tai nạn là một tội phạm hình sự. Đối với nước Mỹ luật pháp không xem chuyện từ bỏ con tàu khi gặp nạn là phạm tội, nhưng thuyền trưởng rời tàu cuối cùng khi nó bị chìm đã trở thành một truyền thống lâu đời đáng ca ngợi.
Đã có những quy ước hàng hải quốc tế về việc thuyền trưởng phải chịu trách nhiệm đối với an toàn của tất cả những người trên tàu, nhưng lại không quy định họ phải ở lại trên con tàu trong suốt cuộc khủng hoảng.
Năm 1852 khi chiếc tàu HMS Birkenhead chở quân của Anh bắt đầu chìm ngoài khơi bờ biển Nam Phi, thuyền trưởng và các sĩ quan quân đội tập trung đưa phụ nữ và trẻ em xuống các xuồng cứu sinh đầu tiên.
Thuyền trưởng và nhiều thủy thủ ở lại trên con tàu cho đến khi nó chìm xuống đáy đại dương và những phụ nữ, trẻ em kia đã được cứu sống.
Năm 1949, khi tàu Cochino của Hải Quân Mỹ trong thời Chiến Tranh Lạnh bốc cháy và sắp chìm tại khu vực biển gần Liên Xô, trong khi những thuyền viên khác đều thoát khỏi tàu sang một chiến hạm khác hoạt động gần đó, thuyền trưởng Rafael Benitez đã từ chối rời khỏi con tàu. Benitez hy vọng có thể cứu Cochino, tàu ngầm gián điệp đầu tiên của nước này trong Chiến Tranh Lạnh, chỉ đến khi con tàu đang chìm, thuyền trưởng này mới chịu rời tàu.
Năm 1812, Thuyền Trưởng Edward J. Smith của con tàu huyền thoại Titanic đã cùng chết theo con tàu đã chìm xuống Đại Tây Dương, được người đời ca tụng như một người hùng có phong cách. Các nhân chứng nói rằng ông đã được nhìn thấy lần cuối vào buồng lái trên tàu, và chìm dần xuống biển cùng con tàu Titanic.
Nhưng không phải thuyền trưởng nào cũng cư xử được như vậy!
Trong hai vụ chìm tàu mới đây, với thuyền trưởng đã tham sinh, hèn nhát đã bỏ tàu khi tàu chưa chìm hẳn.
Francesco Schettino là thuyền trưởng chỉ huy tàu du lịch Costa Concordia bị đắm ngoài khơi bờ biển Ý năm 2012 làm 32 người thiệt mạng. Người ta cho rằng ông đã lái tàu quá sát bờ để quan sát một người đẹp, và khi con tàu bị lật nghiêng sắp đắm, Schettino đã nhảy xuống xuồng cứu sinh để chạy trốn khỏi con tàu, bỏ lại hàng trăm hành khách vẫn còn mắc kẹt trong tàu chưa thoát ra được.
Còn mới đây, thuyền trưởng Nam Hàn Lee Joon-seok, 69 tuổi, của chiếc phà Sewol Lee chở 476 người, bị nạn ngoài khơi đảo Jindo, đã cùng một số thành viên thủy thủ đoàn tháo chạy xuống thuyền cứu cấp để mặc hơn 400 hành khách vẫn đang mắc kẹt dưới phà.
Quy định của Hải Quân Mỹ còn nghiêm ngặt hơn so với tàu thương mại. Từ năm 1814, hải quân đã quy định thuyền trưởng ở lại trên thuyền bị nạn lâu nhất có thể và dốc toàn lực bảo vệ tàu. Công ước quốc tế về an toàn sinh mạng trên biển lần đầu được thông qua sau sự kiện chìm tàu Titanic. Theo đó, thuyền trưởng phải chịu trách nhiệm trước sự an toàn của tàu thuyền và hành khách. Văn bản sửa đổi của công ước trên còn quy định hành khách cần được sơ tán khỏi tàu trong 30 phút đầu tiên sau hồi còi báo động.
Chúng ta có thể xem một thành trì, một chiến lũy như một con thuyền hay không? Người ta thường vì quốc gia như một con thuyền, hay nhiệm sở như một con thuyền.
Trong sách sử Việt Nam, năm 1801, khi đại quân chúa Nguyễn rút về Gia Định, thành Bình Định được giao cho Võ Tánh và lễ bộ tham tri–Ngô Tùng Châu trấn giữ. Thành Bình Định ngay sau đó bị đại quân Tây Sơn, dưới quyền chỉ huy của Thái Phó Trần Quang Diệu và tướng Võ Văn Dũng, đến bao vây kéo dài trong vòng 14 tháng. Trong thành lúc ấy hết cả lương thực, quân sĩ phải giết voi, ngựa mà ăn. Võ Tánh sợ rằng thành bị vây lâu ngày, tướng sĩ chết hại nhiều, bèn đưa thư ra hàng quân Tây Sơn: “Phận sự ta làm chủ tướng, thì đều liều chết theo thành. Còn như các tướng sĩ không có tội gì, không nên giết hại.” Hiệp Trấn Ngô Tùng Châu sau khi biết được ý định tự thiêu của Võ Tánh, lui về dinh, uống thuốc độc mà chết. Sau khi Võ Tánh liệm táng cho Ngô Tùng Châu tử tế, mặc triều phục lên lầu khuyên bảo tướng sĩ rồi tự châm lửa đốt lầu mà tự thiêu. Thống Binh Nguyễn Tấn Huyện cũng nhảy vào lửa mà chết theo chủ tướng.
Tướng Trần Quang Diệu vào thành, trông thấy cũng chảy nước mắt, sai làm lễ niệm táng tử tế. Còn các tướng sĩ trong thành, không ai bị giết hại, trả thù.
Đời sau tư lệnh quân đoàn như Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, sư đoàn như Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Lê Văn Hưng cũng noi gương tuẫn tiết chết theo thành, Thủ Tướng Sirik Matak của Cambodia cũng là một thuyền trưởng chịu chết theo con tàu, nhưng đối phương không có được cái tinh thần mã thượng như Trần Quang Diệu!
Bốn giờ sáng ngày 30 Tháng Tư, 1975, ông Martin, đại sứ Mỹ tại Việt Nam, mới chịu lên trực thăng rời Sài Gòn trong chuyến bay cuối cùng, khi cuộc triệt thoái của nhân viên dưới quyền đã hoàn tất.
Đất nước chúng ta, trong biến cố 30 Tháng Tư, 1975, cũng có những nhân vật thuyền trưởng bỏ tàu quá sớm, hoặc giao quyền lái tàu lại cho một người khác không đủ kinh nghiệm như Lee Joon-seok đã trao tay lái cho nữ thuyền phó Park Han-gyeol, 26 tuổi, lần đầu tiên điều khiển chiếc phà đi qua biển.
Trường hợp các em học sinh trên chiếc phà Sewol Lee đã được lệnh ngồi yên không được hoảng loạn tìm cách thoát thân, không khác gì đơn vị quân đội của chúng tôi ngày trước, cấp dưới được lệnh phải “ở nguyên tại chỗ” để các cấp chỉ huy lên trực thăng đi mất!
Nói như Cade Courtley, cựu thuyền trưởng Hải Quân Hoa Kỳ, là “không ai muốn một thuyền trưởng phải chết theo con tàu đắm…” nhưng không thể như lời tuyên bố của một vị cựu tổng thống “bỏ tàu,” rằng ông không có trách nhiệm gì với thảm trạng vượt biển, vượt biên đầy chết chóc của đồng bào ông sau ngày 30 Tháng Tư, 1975.
Cuối Tháng Tư, 39 năm về trước, chúng tôi cũng ở trên một con tàu. Cấp chỉ huy trực tiếp dặn dò tôi phải ở với đơn vị, chờ ông trở về, nhưng đó chỉ là một cái cớ để ông thoát thân ra đi. Không nói một lời với ban tham mưu, ông tướng chỉ huy trưởng sáng 29 Tháng Tư cũng lên trực thăng bay về Cần Thơ. Tôi không trách hai ông bỏ đơn vị, nếu như hai ông tập họp anh em lần chót, trình bày tình hình, tuyên bố “tan hàng” để chúng tôi lo lấy thân mình. Đằng này chúng tôi vẫn giữ nguyên kỷ luật “cố thủ” trong khi xe tăng địch vào tận nơi, binh sĩ không còn trở tay kịp, nhiều người phải chạy thoát thân, bỏ lại xe cộ, tài sản. Không tướng, không tá, chỉ với những tân binh thôi, anh em đã can trường đối đầu với địch, bắn cháy ba xe tăng T.54, mới chịu tan hàng. Vậy thì ai đã dũng cảm, can trường hơn ai?
Tôi biết nếu tình hình thay đổi, như có một chính phủ liên hiệp, các ông còn đường trở lại, biết đâu mỗi người lại được thăng một cấp. Sang đây, các ông chưa bao giờ dám nhìn thẳng vào mặt chúng tôi. Các ông như Thuyền Trưởng Lee Joon-seok, hèn nhát bỏ tàu trong khi ra lệnh cho đám học sinh ngồi yên, không được náo loạn, không được tìm cách thoát thân, để các ông ra đi được trót lọt, bình yên!
Vương Long hấp hối, sắp từ giã cõi đời. Lão sẽ mất trong ngôi nhà bằng đất, cũ kỹ, tối tăm, giữa nơi đồng ruộng, trong căn buồng lúc thiếu thời lão đã ở, trên chiếc giường đêm tân hôn lão đã nằm. Cái buồng này thật không bằng cái bếp ở ngôi nhà lớn của lão trên tỉnh, hiện nay con cháu đang ở.
Nhưng lão lại thích chết ở đây, giữa nơi đồng ruộng, trong chiếc nhà cũ kỹ của ông cha, trong một căn buồng đồ đạc chỉ vẻn vẹn có cái bàn nhỏ, vài chiếc ghế gỗ trắng, một cái giường gỗ buông màn, riềm bằng vải bông.
Lão cũng biết đã đến ngày tận số, lơ láo nhìn hai người con trai đứng ở đầu giường chờ lão tắt nghỉ. Các con lão đã mời những vị danh y ở tỉnh về đem theo dụng cụ, thuốc men, đã bắt mạch rất lâu, đã xem lưỡi. Các lương y chẩn mạch xong, gói ghém dụng cụ thuốc men lại, lắc đầu chê:
– Cụ đến tuổi rồi, sức kiệt lắm. Không ai có thể đổi được mệnh Trời.
Hai người con tưởng cha nằm im, nhắm mắt ngủ, nhưng thực ra lão còn nghe rõ họ xì xào nói chuyện ở trên đầu giường.
Hai người con nhìn nhau thì thào:
– Phải cử người về Nam báo cho chú Ba biết.
Người anh Hai nói:
– Phải lắm, phải cho người đi tìm ngay, ai mà biết ông ấy bạt vong ở phương nào.
Vương Long nghe lỏm thấy thế, biết con đang bàn định ma chay. Cạnh giường Vương Long nằm có kê một cỗ hậu sự; các con lão sắm đã lâu, như một vật gia bảo. Cỗ hậu sự này như một chiếc tủ lớn, đục trong một súc gỗ lim, để chật cả gian buồng, đi ra đi vào phải đi vòng, cố lách chân mới đi
được. Cỗ hậu sự này mua gần 600 bạc, nhưng anh Hai cũng chẳng quản gì đắt rẻ, tuy anh rất cẩn thận, tiền ở tay anh ít khi anh cho ra. Các con chẳng tiếc gì, miễn sao cha được hả dạ. Những lúc hãy còn có sức lão vẫn giơ chiếc tay khẳng khiu, vàng bệch sờ chiếc hậu sự gỗ đen nhánh và nhẫn thín.
Ở trong chiếc hậu sự còn một chiếc nhỏ hơn, bào nhẫn, gỗ dẹt mỏng như lụa vàng; hai chiếc, cái nọ lồng vào cái kia như hồn với xác. Thật là hoàn toàn, đầy đủ để cho bất cứ ai được an giấc ngàn thu.
Tuy thế Vương Long vẫn dai dẳng không “xuôi” một cách dễ dàng như ông cụ thân sinh xưa kia. Đã đến mười lần, hồn toan lìa xác, nhưng vẫn ngoắc ngoải, tưởng như chống với Tử thần. Sự thật chỉ còn có hồn phảng phất; xưa kia khỏe mạnh, vạm vỡ, hồn như còn lưu luyến chưa chịu phân lìa. Khi thấy hồn bay bổng, phảng phất, lão sợ, rên rỉ, thổn thức, nói không ra lời, như một đứa trẻ nhỏ.
Hoa Lê, người thiếp của lão, ngày đêm túc trực, trông nom hầu hạ. Mỗi lần nghe thấy lão rên rỉ, thổn thức, Hoa Lê an ủi, nắm chiếc tay già khô đét. Hai người con trai, vội vàng ghé lại gần dỗ dành. Người con Cả ghé sát tai lão, nói lớn:
– Đám ma của cha, chúng con xếp đặt dài đến nửa dặm, các bà thiếp sẽ kêu khóc, lăn, gào, các con cháu sô gai, lại còn tất cả làng, các tá điền, sẽ đưa cha ra đồng. Chiếc kiệu rước linh đi đầu, ở trong con đặt tấm ảnh truyền thần của cha, ảnh này con đã thuê một nhà mỹ thuật vẽ. Tiếp sau là cỗ đại
sự, cha nằm trong đó như một vị đế vương. Chúng con đã sắp sẵn quần áo mới cho cha và thuê những tấm thêu kim tuyến rất đẹp để phủ ở ngoài quan tài. Đám sẽ đi qua các phố đông đúc để thiên hạ quan chiêm!
Anh Cả này người to lớn vạm vỡ, hét to quá, mặt đỏ tía tai như người đứt hơi. Anh ngửng đầu lên để thở thì người anh Hai lại ghé vào tai lão già nói tiếp. Anh này người nhỏ bé, mặt vàng vàng, đôi mắt giảo quyệt nói nhỏ nhẻ giọng mũi, tiếng nói lài nhài:
– Cũng có cả các vị sư đi đọc kệ để cha được siêu sinh tịnh độ về Tây phương cực lạc, cũng có cả bọn khóc mướn, các phu mặc áo nâu đỏ, nỉ vàng khênh các đồ mã cho cha. Chúng con đã thuê thợ mã làm hai cái nhà bằng nan, giấy, một cái đúng như ngôi nhà này, một cái đúng như ngôi nhà
trên tỉnh, con lại còn thuê làm các đồ đạc bày biện trong nhà, đầy tớ thị tỳ, một cái kiệu võng, một con ngựa … đủ hết chẳng thiếu thứ gì. Đồ mã làm khéo lắm, con sẽ cho đốt ở mộ cha và sẽ theo cha xuống âm phủ. Con dám chắc chưa ai được sung sướng hơn cha, đồ mã kèm sau cỗ đại sự, đi hành
trang để thiên hạ quan chiêm. Con cầu trời hôm ấy được nắng ráo.
Ông già nghe thích quá, thều thào lẩm bẩm:
– Thế thì … đến cả tỉnh … đi xem.
Anh Cả nghe nói thế hét to, vung bàn tay chuối mắn nhờn nhợt:
– Cả tỉnh thật chứ ly! Thiên hạ không khéo đến chật cả phố, con chắc chưa có đám nào to hơn, trừ ra ngày xưa có đám của nhà họ Hoàng kể cũng lộng lẫy lắm.
Vương Long nghe sướng quá, thốt lên:
– Hà à !..
Lão tỉnh cả người quên cả chết, tự nhiên thấy người nhẹ nhõm hẳn.
Nhưng sự tỉnh táo nhẹ nhõm cũng chẳng được bao lâu, một giờ đêm hôm ấy, ngày mồng sáu, lão từ giã hẳn cuộc đời. Hai người con trai túc trực đã lâu, thấy người mỏi mệt quá, vả chăng từ thuở nhỏ chưa quen ở một căn nhà lụp xụp chật hẹp bèn ra sân sau ngủ. Cái sân này, lão già làm đã lâu từ khi cưới Liên, nàng hầu thứ nhất, khi lão trai tráng, khí huyết phương cường. Ở buồng ra, hai người đã cẩn thận dặn Hoa Lê nếu đêm có thấy ông trở bệnh phải báo ngay cho biết, người mệt quá cần phải ngả lưng một chút. Cũng bộ ghế ngựa này, xưa kia Vương Long cho là đẹp, thích nhất, bây giờ anh Cả nằm cứ than vãn, giường gì nằm đau cả mình, lắc lư như đưa võng. Anh lại than phiền buồng the gì mà tối om om, chết ngạt, đang độ tiết xuân mát mẻ. Nhưng anh vừa đặt mình nằm, đã ngủ biến và ngáy như sấm. Anh Hai nằm
ở chiếc chõng tre kê giáp vách, ngủ chập chờn như con mèo. Hoa Lê không đi ngủ, nàng thức suốt đêm, bắc cái ghế tre ngồi ở đầu giường, mặt nàng kề sát mặt lão già, hai tay nàng mềm mại nắm bàn tay khô đét của lão. Tuổi nàng chỉ đáng là con Vương Long, nhưng nét mặt nàng có vẻ trầm ngâm, tư lự. Nàng làm việc gì cũng cẩn thận kiên nhẫn như không phải cái tuổi nàng hãy còn non dại, trẻ trung. Ông già này đối đãi với nàng tốt như một người cha. Ngoài ông này, nàng chưa hề biết ai có thể tử tế với nàng được như thế. Nàng không khóc, lẳng lặng nhìn khuôn mặt ông già trong khi ông ngủ mê mệt, bất tỉnh nhân sự.
Thình lình lúc đó, trời tối đen như mực, đêm đã khuya, Vương Long mở choàng mắt dậy. Ông thấy ông yếu quá rồi, tưởng như hồn đã lìa xác, ông giương cặp mắt nhận thấy Hoa Lê ngồi ở cạnh ông. Ông thấy người yếu quá phát sợ, vừa nói vừa thở, nghẹn ngào trong họng:
– Con ơi … con thấy … đã chết chưa?
Nàng thấy ông lo sợ, nàng nói to, giọng bình tĩnh và làm ra hết sức tự nhiên:
– Không, không … ông đỡ nhiều … không sao cả!
Nghe Hoa Lê nói giọng tự nhiên, ông trấn tĩnh lại hổn hển chòng chọc nhìn Hoa Lê với cặp mắt lờ đờ đã mất hết tinh lạc:
– Có thật không? Mày chắc không?
Hoa Lê trông thấy “hỏng đến nơi”, trống ngực đánh rất mạnh. Nàng đứng lên, cúi sát vào lão già, nói rất ôn tồn, bình tĩnh:
– Con có nói dối ông bao giờ đâu? Con nắm tay ông thấy nóng, con tin chắc ông đã khá nhiều. Ông không hề gì đâu, đừng sợ … không sao cả, đã tỉnh táo khá lắm.
Nàng cố hết sức trấn tĩnh lão, nhắc đi, nhắc lại đã đỡ nhiều, nàng ủ vào lòng bàn tay nàng cho nóng, bàn tay lão già, nàng cố hết sức hé một nụ cười với lão. Lão già hai mắt đã lờ đờ, môi đã cứng, cố vểnh tai để nghe nàng nói. Nàng thấy “xuôi” đến nơi, bèn cất giọng to, nói rõ ràng:
– Ông đỡ nhiều, ông đã đỡ nhiều, không chết đâu ông ơi, không chết đâu.
Nàng cố hết sức làm lão phấn khởi. Ngay khi nàng đang nói to, lão thu hết tàn lực, quả tim đập mạnh rồi tắt thở. Lão chết không được êm ả, như hết sức cố chống lại với tử thần, hồn tuy đã xuất, sắc diện như hãy còn uất ức, muốn nhổm trở dậy chân tay vung vẩy rất mạnh. Bàn tay xương xẩu khẳng khiu đập mạnh vào mặt Hoa Lê đang cúi sát gần.
Bàn tay đập mạnh, thẳng vào mặt nàng như một cái tát, nàng ôm má lẩm bẩm:
– Chưa bao giờ ông tát con, lần này ông mới tát con.
Không thấy Vương Long trả lời, nàng cố nhìn lão, lão đã sóng sượt, một cái xác không hồn ngang giường không cử động nữa. Bàn tay mềm mại, nhẹ nhàng của nàng khẽ kéo chân tay lão cho ngay ngắn, kéo chăn đắp lên cho lão. Mấy ngón tay búp măng của nàng vuốt cặp mắt lão còn mở trừng
trừng nhưng đã mất hết tinh lạc. Nàng đứng một lúc nhìn mặt lão, như hãy còn in vết lão cười khi nàng bảo chưa chết. Khi làm xong mấy việc đó, nàng nghĩ cần báo cho các ông con trai ngoài sân kia biết. Nghĩ thế, nhưng nàng lại ngồi xuống chiếc ghế tre, nắm chặt hai bàn tay cứng lạnh ban nãy đã đánh nàng, nàng gục đầu nước mắt ràn rụa âm thầm khóc. Nàng có một tâm hồn kỳ lạ, đa cảm đa sầu, không như mọi người đàn bà khác, nước mắt có thể trút được nỗi u sầu. Nàng ngồi một lúc rồi đứng dậy ra sân báo cho hai ông “quý tử” biết. Nàng nói to:
– Các anh không cần phải vội vàng, ông đã “xuôi” rồi.
Hai người con nghe báo tin vội vàng nhổm dậy, anh Cả mặc chiếc áo sa tanh, đêm nằm nát nhàu, đầu tóc rối bời, vội vàng chạy đến buồng lão già. Lão nằm y nguyên như Hoa Lê đã đặt lão hồi nãy. Hai anh đứng ngắm nhìn thấy có vẻ rờn rợn. Người anh Cả nói nhỏ, xì xào tưởng chừng như có người lạ trong phòng sợ họ nghe thấy:
– Thế nào, ông “đi” có dễ dàng hay vật vã?
Hoa Lê trả lời giọng rất bình tĩnh:
– Ông mất như đi ngủ.
Anh Hai nói tiếp:
– Nom ông như đi ngủ thật chứ không phải mất.
Hai người con trai đứng một lúc ngắm nhìn người cha, một cái xác không hồn, họ cảm thấy rờn rợn, sờ sợ. Hoa Lê hiểu ý, nói rất nhỏ nhẹ:
– Các anh còn phải lo sắp đặt nhiều việc lắm.
Hai chàng như sực tỉnh, có người nhắc nhở công việc phải lo liệu, anh Cả cởi phăng chiếc áo ngoài, lấy tay vuốt mặt, nói giọng khàn khàn:
– Ừ, đúng … ma chay lắm việc lắm …
Hai người vội rảo bước ra khỏi căn buồng, họ thấy dễ chịu nhẹ nhàng. Trong buồng tối om, một cái xác nằm song sượt.
Các học sinh, sinh viên thập niên 55-65, chắc chưa ai quên được chương trình phát thanh dành cho học sinh, sinh viên, do Dương Hồng Duyệt phụ trách trên đài phát thanh Quốc Gia. Đỗ Đình Tuân (Đỗ Tuấn) Phạm Vận, Duy Trác, Thể Tần, Hồng Hảo, Mai Hương, Bạch Tuyết, Mai Ngân, Mai Hân đều đã hát trong chương trình này. Các ca khúc của Cung Tiến như Thu Vàng, Hương Xưa … đều cũng được đưa đến các thính giả lần đầu qua chương trình này do chính Duy Trác, Phạm Vận, Đỗ Tuấn, Mai Hương, Hồng Hảo hát. Đất nước vừa bị chia cắt. Họ là lớp thanh niên mới lớn lên. Người chuẩn bị bước vào các đại học, người sắp ra trường.
Dương Hồng Duyệt học luật. Nhưng sau khi tốt nghiệp ông lại không muốn trở thành luật sư. Ông đi dạy học một thời gian, rồi làm cố vấn, người viết diễn văn cho một vài chính trị gia. Tất cả các công việc ông đã làm, có một vẻ gì đó, giống như một cuộc chơi nhiều hơn là những công việc thực thụ. Ông cũng không phải nhạc sĩ chuyên nghiệp. Ông chơi nhạc chỉ để giải trí. Sáng tác duy nhất của ông bài Đường Chiều làm ngạc nhiên ngay cả những bạn bè của ông. Nhưng cũng ngay từ lần đầu được nghe người ta đã có thể dự đoán sự thành công của bài hát sau này.
Quả vậy.
Đường Chiều gần như hầu hết các ca sĩ đương thời đem trình diễn trên các đài phát thanh và được thính giả hoan nghênh, nhất là các thính giả trẻ.
Xuân và Tuổi Trẻ của La Hối có nhiều chất valse musette nhất, thì Đường Chiều của Dương Hồng Duyệt cũng là bài hát Việt Nam có nhiều chất Jazz nhất. Rất nhiều người hát “Đường Chiều” của Hồng Duyệt. Nhưng theo sự thăm hỏi một vài người đáng tin cậy, song ít khi phát biểu ý kiến công khai thì, người hát “Đường Chiều” hay nhất, ra được nhiều chất blue nhất, là Túy Phượng.
Vì Túy Phượng thường được coi là một diễn viên kịch nhiều hơn là một ca sĩ. (Con gái cặp nghệ sĩ Tuý Hoa/Anh Lân). Hình như cả Anh Lân, Túy Hoa, Túy Phượng, đã mất sau 75. Chúng ta mong đó là những tin tức sai lầm. Riêng Dương Hồng Duyệt đã chết trong một chuyến vượt biên đường biển (năm 79-80?) cùng mấy người con và một số thân nhân ruột thịt khác. Trong một ngày, gia đình ông còn lại ở Sài Gòn, đã đưa lên bàn thờ mười mấy tấm hình. Để lại một tác phẩm duy nhất hay nhiều hơn có ý nghĩa thế nào trong trường hợp ấy nhỉ?
Tại phi trường San Francisco. Allen thấy Josui xuống máy bay, bước đi ngập ngừng.
– Josui.
Nàng trông thấy chàng và một nụ cười biến đổi những nét mặt nàng. Vẻ mặt hơi chút lo âu, chàng tưởng nhận ra dễ dàng, thoạt đầu có lộ ra một chút thất vọng: nàng không xinh tươi như trong trí nhớ của chàng hoặc là bộ y phục màu xám không thích hợp với nàng chăng? Nụ cười trả lại. Allen, nàng Josui chàng yêu mến. Không để ý đến đám đông, chàng ôm nàng trong cánh tay. Một số người hiếu kỳ nhìn hai người: họ ngạc nhiên thấy người Mỹ cao lớn kia ôm hôn một thiếu nữ Nhật. Josui cũng trông thấy những cặp mắt soi mói ấy, nàng co người lại một chút, nhưng vẫn không rời chàng ra.
– Chúng ta hãy đến khách sạn – Allen nói – Anh đã lấy phòng. Chúng ta ở lại đấy một vài ngày, em yêu của anh ạ. Anh muốn dành thời gian, nhiều thời giờ với em. Và sau, chúng ta sẽ về nhà không vội vã gì.
Lúc trở về, hai người sẽ cùng tìm một đường lối xử thế. Mẹ chàng, như chàng thấy, quyết định không đếm xỉa đến thực tế. Nhưng bà có thể không để ý đến Josui được không, nếu nàng tới của nhà bà.
Hai người bước lên xe của Allen.
– Có phải xe của anh không, Allen?
– Của cả chúng ta, em yêu của anh. Tất cả những gì thuộc quyền sở hữu của anh là của em
Nàng mỉm cười và cầm tay chàng.
– Đừng lái nhanh quá – nàng khẩn nài một lúc sau.
Chàng cười:
– Josui, chúng ta ở Mỹ. Em quên điều này à?
Khi đến khách sạn, chàng đưa đồ đạc cho nhân viên xách hành lý và dùng thang máy đưa hai người lên từng lầu thứ mười bảy. Cửa sổ phòng của hai người hướng ra biển. Chàng dúi một đồng tiền thưởng cho anh bồi và khóa cửa lại. Chàng cởi áo choàng của Josui ra và ôm nàng trong vòng tay. À ! Hương thơm của da thịt nàng, cổ nàng, mềm dịu. Chàng không thể chờ lâu hơn được nữa. Chàng trông thấy cặp mắt nâu lớn và sáng ngời của nàng, đường vòng cung xinh đẹp của đôi môi tươi thắm. Tại sao chàng còn chờ đợi? Josui biết rõ lòng ham muốn của chàng. Nàng hoàn toàn là một thiếu phụ, một người phụ nữ phương Đông mà những sự yêu sách của cõi lòng không có gì là bí mật.
– Em còn yêu anh nữa không?
Chàng ngừng lại để ít nhất cũng được nghe câu trả lời của nàng.
– Vâng em yêu anh – nàng đáp, giọng trông trẻo và tuyệt hay – Allen, em từ phương xa đến vì tình yêu với anh.
Ở đâu bắt đầu đời sống của trẻ thơ? Có phải trong căn phòng có những bức ngăn bằng giấy ở nơi kia, ở bên kia bờ đại dương, hay ở trong căn phòng từng lầu thứ mười bảy, có những cửa sổ mở ra phía Tây? Trong cái nhà nhà ván ở miền núi kia nơi cặp vợ chồng trẻ đã trải qua một vài ngày hoặc trên những ngọn đồi nhấp nhô miền Middle West? Trong những tháng ngày hạnh phúc xán lạn này, trong chuỗi ngày và đêm tình ái, đứa con bằng xương bằng thịt đã lựa chọn giờ của nó, nó sinh sống, nhưng cha mẹ nó chưa ngờ tới.
– Phải cần báo tin cho gia đình anh là chúng ta về – một ngày kia Josui nói.
Cả hai người cùng ngẫm nghĩ đến điều này. Cuộc đời không phải dệt toàn bằng tình ái, phải cần một ngày kia, xe tình yêu vào cuộc đời. Xúc động về từng nét mặt của Allen, Josui hiểu rằng chàng e ngại cái kỳ hạn này. Trên con đường của hai người có một trở ngại mà nàng không hiểu rõ thế nào. Nhưng nàng cố chuẩn bị để vượt qua. Nếu nàng thận trọng, chịu khuất phục, niềm nở, nếu nàng đặt bố mẹ chồng lên trên hết, có thể Allen và nàng sẽ hạnh phúc.
– Vậy ngày mai, xin anh gọi điện nói cho cha mẹ nhé – nàng hỏi giọng nũng nịu.
Những sự cố gắng của Josui để điều khiển chàng đối với chàng như một mệnh lệnh của trẻ thơ. Nàng cười khi chàng tỏ ra “thô lỗ” với nàng, khi chàng từ chối không dậy buổi sáng, hoặc chàng để bộ đồ ngủ rơi xuống đất hoặc chàng đùa nghịch làm rối tóc hay vò nhàu áo nàng. Nàng chiều chuộng chàng quá sức. Trong căn phòng hai người ở tạm, nàng không cần trông chờ sự giúp đỡ của chàng về việc lặt vặt, nàng chăm sóc chàng và thấy rất tự nhiên cầm chiếc áo choàng đưa cho chàng khi chàng tắm xong hoặc lau chùi dao cạo cho chàng khi chàng cạo râu xong.
Lúc đầu chàng chống lại, không muốn để nàng săn sóc chàng quá như thế này.
– Này, em làm vợ anh, chứ có phải là nô lệ đâu.
Nhưng nàng không thay đổi thái độ và cuối cùng Allen đành nhượng bộ, vì đó là cách của nàng biểu lộ tình yêu thương, chàng bắt đầu hiểu những người nói: “Sau khi đã biết những đàn bà phương Đông, người ta không thể yêu người đàn bà Mỹ được nữa.”
Ngày hôm sau, Josui lại dịu dàng nhắc chàng:
– Hôm nay, anh gọi điện nói cho cha mẹ đi.
– Được, lát nữa – chàng trả lời một cách lơ đãng.
Một ngày khác xán lạn hiện ra trong làn sương thắm đỏ trên dãy núi Allegheny, Allen không muốn nghĩ tới buổi chiều nữa.
Không mấy lúc chàng nhận thấy sự bối rối của Josui. Nàng ngồi ở gần chàng trong sự yên lặng hơi hay go một chút.
– Em đừng băn khoăn, Josui, anh sẽ làm việc ấy – chàng hứa.
– Vâng – nàng nói – Thật là hay quá nếu anh làm ngay bây giờ, có phải không?
Bỗng chàng cười:
– Được. Đến phòng điện thoại công cộng sắp tới, ta sẽ ngừng. Em sẽ báo cho anh khi trông thấy chiếc chuông nhỏ xanh.
Không mấy lúc nàng nhận thấy một phòng điện thoại trong một ngôi làng nhỏ.
– Ô kìa! – nàng kêu lên và lấy tay chỉ.
Chàng ngừng xe lại để xin nói.
Nay giờ phút đã đến, chàng cảm thấy bối rối và công phẫn. Chàng đâu còn nhỏ dại gì mà sợ hãi việc gì có thể xảy ra? Nếu cần, chàng sẽ đưa Josui ra khỏi nhà, hai người cùng sinh sống ở nơi khác. Nhưng trong thâm tâm, chàng không muốn xa rời nhà chàng. Những năm xa cách càng làm gia tăng tình yêu của chàng đối với quê hương, thành phố của chàng và ngôi nhà lớn do tằng tổ phụ chàng xây cất. Cách sinh hoạt này có thể bị loại bỏ, nhưng Allen còn sống thì nó vẫn tồn tại. Chàng muốn sinh sống như vậy, giống như cha chàng, hưởng được đức độ và hạnh phúc.
Nữ điện thoại viên bảo chàng:
– Xin ông nói đi.
– Kính chào cha, con Allen đây.
– Chào chú bé, chú ở đâu đấy?
Tiếng nói của cha chàng tới tai chàng rõ ràng.
– Ở miền núi Allenghyne. Con muốn thưa với cha rằng có lẽ chiều tối mai chúng con sẽ về đến nhà.
– Phải, này… – ông Kennedy ngập ngừng. Allen hãy nghe cha, tối đầu con nên qua đêm ở khách sạn, cha có điều muốn nói với con.
– Thưa cha, có gì thế?
– Cha không thể nói với con bây giờ. Chúng ta sẽ nói sau. Thí dụ, con hãy ngừng ở Rickmond. Cha sẽ đến tìm con. Con hãy gọi điện thoai cho cha ở quán rượu khi con tới đấy.
– Vâng, được rồi.
Chàng nóng lòng muốn biết cho chàng nói về việc gì.
– Xin tạm biệt cha, xin hẹn ngày mai.
– Đúng rồi, bé con.
Allen nhắc máy điện thoại và nấn ná một lúc trong một cửa hàng nhỏ có bán đủ thứ. Chàng mua những bánh chocolate và đợi lấy tiền dư. Chàng muốn kéo dài thời giờ để kịp có vẻ mặt tự nhiên. Josui có con mắt thật tinh, nàng thấu rõ cả tư tưởng chàng và đoán ra khí sắc của chàng nữa. Chàng cũng bắt đầu hiểu biết nàng và nhận thấy nàng có một xu hướng nguy hiểm dễ dàng thất vọng, chán đời một cách ghê gớm, điểm đặc biệt của bản chất người Nhật. Chàng không muốn thấy nàng thất vọng vào lúc mà cuộc đời bắt đầu đối với họ.
Chàng trở lại, tươi cười và đưa cho nàng bánh chocolate.
– Ồ! Cảm ơn anh! – nàng nói.
Chàng ưa biếu nàng những tặng vật nhỏ, dù chỉ để được cái thú vị nghe tiếng nói dịu dàng của nàng, lễ phép cảm ơn chàng, với một vẻ tự nhiên đáng yêu.
– Anh đã nói chuyện với cha mẹ chưa?
– Phải, nói với cha anh. Tối nay, chúng ta ngừng ở lại một khách sạn tốt ở Richmond. Cha sẽ lại gặp chúng ta.
– Ồ, ông tốt quá! – Josui nói, mắt đẫm lệ. Em hy vọng rằng cha chưa già lắm. Điều đó làm em băn khoăn nhiều… Còn mẹ anh?
Chàng lẫn tránh câu hỏi này.
– Mẹ muốn ở nhà để chuẩn bị các thứ.
Allen chọn một khách sạn bình thường trong một phố yên tĩnh Richmond và tự thú thật rằng chàng không cần phải phô trương với Josui. Khi hai người vào một căn phòng bé, có cửa sổ hướng ra công viên nhỏ. Allen gọi điện thoại cho bố ở quán rượu. Một vài phút sau, ông Kennedy gõ cửa phòng hai người. Ông nghe thấy một tiếng nhỏ, một giọng phụ nữ, rồi đến tiếng Allen nói:
– Cha anh.
Cửa mở ngay. Riêng một mình trong phòng, Allen tươi cười, đón tiếp ông.
Josui vào phòng trong bới lại tóc. Nàng muốn khi trình diện được lợi điểm nhiều cho nàng.
Ông vào ngồi xuống chiếc ghế bành tiện nghi nhất và nhìn xung quanh. Ông muốn nói ngay cho Allen biết câu chuyện, nhưng ông còn để thời giờ châm điếu thuốc lá.
– Trong khi có hai chúng ta, bé con, ta cần phải nói cho con biết điều này, mẹ con không được hài lòng. Cha không muốn nói điều này trước mặt vợ con.
Allen đứng yên lặng, kinh hoàng trước về mặt buồn rầu và trang nghiêm của cha.
– Nói khác đi, là mẹ con không muốn chúng con về nhà phải không?
Ông Kennedy có vẻ chán nản, quay đầu đi và phà một làn khói thuốc lá.
– Bé con của cha, thật không may điều đó là đúng. Hay ít nhất, mẹ con chưa sẵn sàng tiếp đón vợ con. Tất nhiên là bao giờ mẹ con cũng hoan hỉ thấy con về. Mẹ con dặn dò cha mãi là bảo con muốn về lúc nào cũng được và phòng riêng của con lúc nào cũng sửa soạn sẵn sàng.
– Xin cha đợi cho một lát…
Allen vội sang phòng bên và đóng cửa thông hai phòng. Một lúc lâu, chờ đợi. Ông Kennedy hy vọng Allen đừng cáo giác sự bí mật này cho vợ chàng. Không bao giờ nên xen đàn bà vào những chuyện này, như vậy công việc để giải quyết hơn. Nhưng, cũng như phần đông những cặp vợ chồng mới lấy nhau, Allen có lẽ muốn nói hết cho vợ nghe. Về sau nữa, đàn ông học hỏi kín tiếng hơn, nhưng một người cha đâu có biết dẫn dạy con trai mình về điều này.
Image from Net – Collect by Sơn râu
Ông Kennedy nghĩ đến vợ và buổi tối đáng buồn hôm qua. Ông thú thực với bà lý do cuộc hành trình của ông đi Richmond. Đáng lẽ cảm ơn ông về việc này, bà trách móc ông đủ điều.
– Thất bại vẫn vui lòng! – ông phản đối. Bà coi chúng đã lấy nhau.
Khuôn mặt xinh đẹp của bà Kennedy nhăn lại:
– Chúng chưa thành hôn – bà nói giọng xẵng.
Dễ thương và dịu dàng khi bà muốn, thường bà nói một giọng hơi kéo dài, nhưng đôi khi, bà lại có cái giọng cứng rắn như thế này mà ông vẫn e ngại.
– Này bà, tại sao nhắc lại chuyện này làm gì? Tôi đã nói với bà là một điều Phật giáo cũng có giá trị như một ngôi nhà thờ Thiên Chúa.
– Đối với tôi một ngôi đền có đáng kể gì!
– Có phải là điều quan hệ với bà đâu…
Một tiếng la làm ông ngừng nói và kêu như tiếng roi vút:
– Ông nói có lý, không có gì quan hệ kể cả ý nghĩ của chúng ta, cả của ông và tôi. Nhưng pháp luật, luật lệ của nước chúng ta cấm cuộc hôn nhân giữa người da trắng và da màu.
Bà ngồi đối diện ông và buộc ông phải nhìn lại.
– Joséphine! Bà biết rằng luật đó chỉ nhằm người da đen.
Ông cho mời vị luật sư của gia đình, ông Bancroft Haynes. Ông này công nhận ý kiến của bà Kennedy là: luật lệ của nước Mỹ không công nhận cuộc hôn nhân của Allen với một người phụ nữ da vàng. Và nay, ông Kennedy chỉ còn cách báo tin này cho con trai.
Cửa mở. Allen xuất hiện với Josui. Ông Kennedy nặng nề đứng dậy, cặp mắt chăm chăm nhìn thiếu phụ xinh đẹp và rụt rè, mà con trai ông cầm tay dắt đi, cặp mắt lớn màu nâu đượm vẻ e sợ. “Ồ! Khuôn mặt xinh đẹp quá – ông nhủ thầm. Một thiếu phụ rụt rè, muốn làm vui lòng người khác, khẩn nài người ta hiểu mình!” Ông bỗng cảm thấy thương hại nàng hết sức.
– Con xin giới thiệu cha: Josui – Allen nói.
Ông Kennedy tiến về phía nàng, bước đi nặng nề và giơ bàn tay lớn, mềm mại.
– Ta rất hài lòng trông thấy con – ông lịch sự nói theo kiểu miền Nam. Con từ xa tới, ta xin chúc mừng con – ông khẽ bắt bàn tay nhỏ, chắc. Chắc con phải mệt và có lẽ hơi bỡ ngỡ với xứ sở này.
– Ồ thưa không, không chút nào – Josui nói khẽ, cảm động vì hình dáng của ông Kennedy.
Nàng mỉm cười, môi run run.
Ông Kennedy nhìn nàng vẻ âu yếm. Lòng ông nhẹ nhõm vì thấy làn da nàng thật trắng. Có thiếu gì những thiếu nữ con nhà thật tử tế ở miền Nam da sẫm hơn da nàng. Ông sẽ nói điều này với vợ.
Josui nhỏ bé đứng giữa hai người đàn ông cao lớn và mỉm cười. Nàng không còn sợ hãi gì nữa. Nàng hiểu rằng người đàn ông cao lớn kia, vẻ thật hiền hậu sẽ giúp đỡ vợ chồng nàng và mọi việc sẽ tốt đẹp. Nàng nguyện sẽ là người dâu hoàn toàn về tất cả các phương diện.
Nàng rút tay khỏi tay Allen.
– Xin mời cha ngồi đây, Allen xin anh bấm chuông, cho mang trà và bánh ngọt.
– Cha không muốn ăn gì – ông Kennedy nói giọng cảm động. Cha vừa ăn lót dạ xong.
Ông ngồi xuống và nàng quanh quẩn bận rộn gần ông.
– Cha uống một ly Whisky soda? – nàng hỏi ông, giọng dịu dàng.
– Ồ, có thể được.
Ông nhận lời cho nàng vui lòng.
Josui nóng lòng chờ đợi người bồi mang giải khát lên. Nàng không để cho Allen pha Whisky. Khi ông Kennedy uống xong, nàng băn khoăn chờ đợi lời phê bình của ông.
– Thưa cha, uống có được không?
– Hoàn toàn – ông trả lời giọng quả quyết, sẵn sàng nói bất cứ điều gì để làm nàng yêm tâm. Bây giờ, con ngồi xuống đây, con thân mến và nghỉ ngơi đi.
Nàng vâng lòi ngay, thân hình yểu điệu của nàng vẫn thẳng thắn, trong khi mắt nàng đưa từ cha chồng đến chồng.
– Thế vợ con vẫn chiều chuộng con luôn luôn thế à? – ông Kennedy hỏi con trai.
– Đó là quan niệm của người Nhật về bổn phận một người vợ – Allen mỉm cười trả lời.
– Thật là hay quá.
Bỗng ông Kennedy như nhớ điều gì… Nàng trở lên băn khoăn và lại sợ hãi. Không thể chịu đựng được sự yên lặng, nàng khẽ tới gần Allen và đặt tay lên vai chàng.
– Có phải em làm điều gì rồ dại không? – nàng thì thầm vào tai chàng.
– Nhưng không, có gì đâu – Allen trả lời giọng thản nhiên. Riêng anh thấy rằng cha muốn nói một câu chuyện với mình anh. Nếu em có thể sang phòng bên?
Josui nhận thấy ngay có tai họa, nhưng nàng vâng lời như một đứa trẻ thơ. Nàng vào phòng ngủ và đóng nhẹ nhàng cánh cửa.
Ông Kennedy không thể lùi được nữa. Không còn làm cách nào được. Ông đặt ly rượu xuống.
– Bé con của cha, cha đem đến cho con những tin chẳng hay gì.
Allen chờ đợi, yên lặng.
– Con có muốn cha nói thẳng với con, không quanh co gì!
– Thưa cha, dĩ nhiên.
– Cha nghĩ như vậy là hơn.
Ông ngã người ra phía trước và buông thả hai bàn tay to lớn, xiết chặt vào nhau.
– Bé con ạ, mẹ con nói có lý. Cuộc hôn nhân của con không được pháp luật công nhận: ở trong nước chúng ta, có một đạo luật cũ cấm cuộc hôn nhân giữa khác nòi giống. Hình như, con tha lỗi cho cha nhé, luật này áp dụng cho tất cả những người không phải da trắng.
– Ai nói như vậy?
– Ta hỏi luật sư Bancroft Haynes.
Ông Kennedy đứng dậy, ra nhìn cửa sổ để cho Allen có thì giờ trấn tĩnh.
– Chúng tôi không bắt buộc phải ở xứ này – Allen nói.
– Tất nhiên rồi – ông Kennedy tán thưởng và quay lại, thấy rõ ràng ông được thoải mái vì câu trả lời của con – Giải pháp hay nhất là các con sinh sống ở một xứ khác và làm lễ kết hôn theo pháp luật. Như vậy, các con sẽ yên mọi bề. Có phải con muốn như vậy không?
– Tại sao lại nói như vậy! – Allen có vẻ bực tức.
Ông Kennedy cố làm nguôi lòng con:
– Được rồi, bé con ạ. Chúng ta hãy quên những điều ấy đi.
– Chúng con sẽ sinh sống ở nơi khác – Allen nói giận dữ. Cha có thể bảo mẹ rằng từ nay không bao giờ con đặt chân vào nhà bà nữa.
– Cha sẽ không bao giờ bảo mẹ con điều này. Ta hy vọng rằng con sẽ luôn luôn trở về nhà. Con là con một của mẹ con.
– Người ta sẽ không nói như thế nữa!
Ông Kennedy uống thêm một hớp rượu trước khi trả lời:
– Allen, con xử sự như một đứa trẻ con. Mẹ con yêu quý con quá, cha nghĩ như vậy. Không phải chỉ liên hệ đều có mình con, nhưng đến cả đời con nữa. Khi mẹ con biết là mẹ con sẽ không được có các cháu nữa, mẹ con ốm liệt giường mất vì thất vọng. Mẹ con khóc lóc hằng đêm trường. Chúng ta không thể ngủ được. Ta tưởng mẹ con không bao giờ quên được sự chán nản này do Thượng đế bắt bà phải chịu. Chủ nhật mẹ con đi lễ nhà thờ, nhưng mẹ con không cầu nguyện buổi tối nữa.
– Mẹ con muốn khuất phục hết trước ý chí khả ố của bà – Allen bực tức nói.
Ông Kennedy không để ý đến những lời này.
– Mẹ con là một người đàn bà đáng khen, đáng thương và ngây thơ nữa – ông nói giọng âu yếm, và đây là lần đầu ông nói chuyện với con trai như một người đàn ông nói chuyện với con trai như một người đàn ông – Mẹ con lại ương ngạnh chuyên chế quá, đôi khi cha khó khăn mới chịu được. Những lúc này, ta liền nghĩ đến một khía cạnh khác về bản chất của mẹ con: một đứa trẻ bị đập. Có lẽ con không sao hiểu được mẹ con. Nhưng cha thì cha hiểu.
Ông nhìn con trai vẻ rụt rè, hầu như van lơn, như muốn yêu cầu tha thứ vì đã tiết lộ điều bí mật này. Xúc động và bối rối, không sao hình dung mẹ chàng trong vai trò người vợ, Allen bỗng đứng dậy.
– Cha đã làm hết sức cha. Nay đến lượt con hành động. Mời cha ở lại dùng bữa với chúng con.
– Không, cha không ở lại ngày hôm nay được. (Ông Kennedy cảm thấy rất mệt mỏi và ông không muốn trông thấy con dâu hiền dịu của ông nữa° – Cha sẽ lại thăm các con khi các con yên bề gia thất rồi.
– Con sẽ báo tin cha biết.
Hai cha con bắt tay nhau. Allen muốn đặt đầu mình lên vai cha chàng. Nhưng chàng lại đứng thẳng và nói giọng quả quyết:
– Con xin cảm ơn cha đã nói thẳng thắn với con. Con biết nay con phải xử sự thế nào.
Ông Kennedy hắng giọng và định nói điều gì. Đầu gối của ông run, ông những muốn ngã lưng chút ít.
– Tạm biệt con. Hãy gọi cha nếu con cần đến.
Cho đến lúc cha chàng đi, Allen vẫn giữ được nụ cười. Sau đó, chàng ngồi xuống và ôm đầu trong hai tay.
Trong phòng bên, Josui chờ đợi. Danh dự không cho phép nàng được nhìn hoặc nghe câu chuyện giữa hai cha con. Nàng đứng yên lặng giữa căn phòng. Mệt mỏi không phải vì cuộc hành trình, nhưng vì những ghế và giường kiểu Âu Tây mà nàng đã mất thói quen trong nhiều năm nay, nàng muốn được yên tĩnh hoàn toàn khi đó tất cả đều làm nàng bối rối.
Nàng nghe thấy cửa hành lang tự đóng lại. Một lúc sau, Allen vẫn chưa xuất hiện, nàng liền khẽ mở của và nhìn vào phòng.
– Allen!
Chàng giật minh, tưởng như chàng quên không có nàng ở đây và từ từ ngẩng đầu lên.
– Anh Allen có gì thế?
Allen xấu hổ phải tỏ bày lý do sự buồn rầu của chàng:
– Mẹ anh khó chịu trong người – chàng giải thích một cách vụng về – Cha khuyên chúng ta nên hoãn ngày về nhà thăm mẹ. Trong khi chờ đợi, chúng ta tìm một căn nhà.
Chàng trông thấy sắc mặt nàng biến đổi, nên vội nói thêm:
– Em yêu của anh, em biết rằng ở Mỹ con gái đã lập gia đình không sống chung với cha mẹ. Anh đoan chắc với em rằng việc ấy không khó. Đến lễ giáng sinh, có thể chúng ta sẽ qua nhà cha mẹ một vài ngày trong khi chờ đợi.
Chàng đứng dậy, tay bỏ vào túi quần vừa đi lại trong phòng vừa nói. Vẫn quỳ gối, Josui nhìn nhận từng cử chỉ của chàng và cặp mắt đen mất cả vẻ tinh anh.
– New York, đó là nơi chúng ta đến ở. Một thành phố lớn có đủ hạng người; em cũng rõ thành phố gia đình anh ở là một thành phố nhỏ, một số ít gia đình đã sinh sống ở đấy nhiều thế hệ. Họ chưa trông thấy người Nhật nào!
– Như vậy là vì em – Josui nói nhỏ.
Allen nói quá lời, chàng ngừng lại và định nhìn nàng mỉm cười.
– Em còn nhớ thái độ của cha em đối với anh không? Vậy…
– Ồ! Phải ở Mỹ, em yêu của anh. Đặc biệt ở Mỹ… em đã quên sao? Em đã sinh sống ở Los Angeles. Em không nhớ gì nữa à? – chàng hỏi vẻ buồn rầu.
Phải, nàng còn nhớ. Nàng cúi đầu xuống, nước mắt lóng lánh ở cặp mi dài.
– Em tưởng tất cả đã thay đổi – nàng thở dài.
– Đang thay đổi. Chúng ta là bằng chứng.
Image from Net-Collect by Sơn râu
Nàng ngẩng đầu lên và nhìn chàng hãi sợ.
– Tất cả những điều này làm em cảm thấy lạnh lùng cô đơn – nàng nói giọng thất vọng.
– Phải hai ngôi sao lạc lõng, tìm cách lặp một thế giới riêng biệt mới… có thể được em yêu à.
Chàng cầm hai tay nàng và nàng đứng dậy.
– Em đừng quỳ nữa, anh van em, bà Kennedy. Anh sẽ gọi em là Jo Kennedy. Nghe tiếng kêu giòn như tiếng Mỹ, phải không?
Sự tức giận, phẫn uất làm chàng can đảm.
– Em hãy sửa soạn hành lý, chúng ta đi New York.
Bề ngoài, họ thay đổi dễ dàng lối sinh hoạt. Không mấy lúc, Allen tìm được một chân biên tập viên cho một tuần báo. Lương của chàng đủ sinh sống trong một căn nhà nhỏ ở Riverside Drive, Josui quen biết một vài người, một thiếu phụ Trung Hoa, vợ một sinh viên Columbia và một cặp vợ chồng Nhật, sinh viên sư phạm và khoa tâm lý trẻ thơ.
Nhưng sự thay đổi làm tổn thương cuộc đời của họ vẫn tạc sâu trong lòng hai người. Họ càng bám riết lấy nhau một cách thất vọng và nung nấu một mối tình tăng lên đến cực điểm, trong khi mỗi người sống một cuộc đời riêng biệt, bí hiểm. Ngôi nhà nhỏ hẹp của họ đối với bọn trẻ trong khu là cả một thiên đường, nhưng họ quen sống trong cảnh rộng rãi và sung túc. Josui vừa lau gian bếp nhỏ, vừa nghĩ đến nhà nàng ở Kyoto, mà những cửa ngăn khi kéo ra bày cả một dãy dài các căn phòng. Allen xếp quần áo trong một chiếc tủ nằm trong tường bằng chiếc hộp và mơ ước những căn phòng trong ngôi nhà cột trắng mà chàng sẽ hưởng một ngày kia. Cả người này người nọ, không người nào muốn rời bỏ tình yêu nhau, nhưng mỗi người đều mơ ước đến những vật đã mất đi và có lẽ không bao giờ có nữa.
Tình yêu của chàng chú trọng cả về nhà cừa, về tuổi thơ và về cha mẹ chàng, làm Allen trở nên cáu kỉnh. Luôn luôn chàng nghĩ đến cha mẹ, về đời sống gia đình trong một khung cảnh chàng yêu mến biết bao, rồi chàng lại oán hận cha mẹ và nhất là cha chàng. Chính là người đàn ông, phải có chí cương quyết buộc vợ phải theo ý kiến của mình, nếu không hóa ra nhu nhược…
Nghiền ngẫm mãi những ý nghĩ này, ngày này qua ngày khác. Allen trở nên tha thiết một cách vô ý thức, khó tính hơn, hung bạo cả với Josui. Ngạc nhiên, Josui tự hỏi tại sao nàng lại tự chuốc lấy biết bao điều oán trách của chàng. Tuy vậy, nàng cố gắng làm tận thiện tận mỹ đủ mọi thứ, đến nỗi nàng để cả mấy giờ để cắm hoa vào trong chiếc bình. Tuy săn sóc những việc nhỏ nhặt, nàng vẫn để thời giờ làm tròn nhiệm vụ trước khi chồng về. Nàng không có người hầu và cũng không muốn mượn. Vả nữa, công việc nội trợ làm nàng bận rộn luôn. Mùa Đông đến, khi nàng không thể đi dạo chơi trong các công viên được, nàng quyết tâm ghi tên theo các lớp học. Nàng lấy những tài liệu trường gởi tới để học buổi tối.
Nhưng chàng đi tới chỗ cáu kỉnh, những muốn thoát ly khỏi gian phòng chật hẹp này, tinh thần chàng bị ngột ngạt.
– Anh Allen – một ngày kia nàng nói. Anh yêu của em, anh có bạn bè không?
Nàng làm một bữa cơm ngon để chàng ăn, một món ăn Nhật, chàng ưa thích và cơm nấu vừa chín đến.
– Bạn bè à?
– Vâng, những người anh có thể nói chuyện được. Em có thể làm một bữa cơm ngon, như tối nay, nếu anh mời hai người bạn, một cặp vợ chồng trẻ chẳng hạn.
– Anh không có nhiều thì giờ để giao thiệp ngoài công việc của anh, Jo ạ! Sau này, có thể được.
Josui mời một cặp vợ chồng Mỹ-Nhật, quen biết ở công viên. Họ dễ thương nhưng dè dặt. Họ không thể quen được những năm giam hãm ở Arizona, sau những hàng rào dây kẽm gai và Allen đối với họ vẫn tượng trưng viên sĩ quan Mỹ trẻ tuổi.
Về phía này, phía nọ, họ cố gắng tìm câu chuyện. Khách rất ca tụng Josui về tài khéo léo bếp núc, nhưng họ cáo từ sớm. Josui không hẹn họ một ngày nào gặp gỡ khác nữa.
Một buổi kia, tính nóng nảy của Josui bỗng biến mất. Đi chợ về, nàng cảm thấy mệt nhọc và lên giường nằm. Một vài triệu chứng thầm kín làm nàng lo âu trong ít lâu nay. Sự hành kinh trở nên bất thường. Theo lời giải thích của một bác sĩ Nhật, sự kích động vì….phải rời Mỹ bất ngờ, sự gián đoạn các mối liên lạc về tình cảm đã làm cho tinh thần bực bội và ảnh hưởng đến sức khoẻ. Trong một vài tuần nay, Josui tự hỏi có phải nàng có thai không? Nàng gắng hết sức xô đẩy cuộc đời kia đi. Con nàng sẽ sinh sống ra sao?
– Không, không- nàng thì thầm.
Khi nàng yên nghỉ, nàng cả thấy trong người một cử động nhẹ nhàng, không rờ mó thấy, nhưng xa lạ với thân thể nàng. Những dấu hiệu mà nàng từ chối không chấp nhận bỗng có ý nghĩa rõ ràng. Một đời sống khác đời sống của nàng đã ẩn náu trong người nàng và chiếm một ngôi vị. Quá muộn! Đứa trẻ đã sinh sống.
Thoạt đầu bất động, kinh hoàng, cuối cùng Josui trở mình và mặt úp xuống gối, nàng khóc.
May thay đứa bé trong lòng mẹ không nghe thấy nàng khóc. Muốn hay không, nó bắt đầu sinh sống vui vẻ nà nó không cảm thấy mối đau buồn của người mẹ. Cứ như vậy đứa hài nhi sống trong lòng Josui. Nó không biết đến những giọt lệ của người mang nặng để đau nó. Nó cử động đôi khi và mỗi lúc mỗi mạnh hơn.Nó không hiểu rằng đời sống của nó là một điều bí hiểm giữa mẹ nó và nó.
Vì Josui không muốn thố lộ sự phát giác này với Allen. Nàng đoán rằng người thanh niên Mỹ kia mà nàng đắm đuối yêu thương chẳng được sung sướng. Chàng làm việc quá nhiều, tỏ ra rất tốt đối với nàng và yêu nàng lắm. Nhưng nàng không phải là tất cả đối với chàng. Chàng giấu nàng một vài ý nghĩa, một vài khía cạnh cuộc đời của chàng. Nghĩ ngợi về nhà cửa của chàng chẳng hạn, về gia đình chàng đã xa rời, về tuỗi thơ ấu mà nay nàng không thể chia xẻ với chàng được. Chàng còn lưu tâm đến chính trị mà nàng không hiểu, chàng đọc những sách nàng thấy khó quá, nàng sửng sốt vì những cơn giận hờn, do máy thâu thanh hoặc báo chí gây ra cho chàng. Khi nàng hỏi han, chàng đáp vẻ nóng nảy. Không có gì làm mếch lòng nàng hơn sự tức giận này mà dần dần khó khăn lắm chàng mới đè nén được.
” Ta phải đi “. Josui khiêm nhường nhủ thầm:
Đi làm sao? Thật ra, nàng còn it tiền trong một ngân hàng ở San Francisco, nhưng nàng đi đâu? Nếu nàng viết thư cho cha, có thể cha nàng sẽ gửi thêm tiền cho nàng nữa, nhưng cha nàng đã bảo nàng đừng có trở lại nhà. Còn đứa bé? Còn ai muốn đùm bọc nó, ngoài nàng ra?
Ngay tình thân của những bạn bè Nhật cuối cùng cũng đè trĩu lên nàng và nàng thôi không liên lạc với họ nữa.
Nàng không thể gửi gắm những nỗi ưu tư của mình cho họ được.
Dần dần, nàng cảm thấy mình cô đơn.
Một buổi kia, Allen gọi điện thoại báo tin Cynthia, cô bạn tuổi nhỏ của chàng, đến thăm chàng ở bàn giấy và muốn được quen biết nàng. Chàng mời Cynthia ăn cơm tối và chàng yêu cầu Josui thết nàng món ăn Nhật chàng vẫn ưa thích. Tiếng nói của chàng vang lên vui vẻ trong máy nói. Josui rất hài lòng được nghe lại giọng nói đã bẵng đi từ mấy tháng qua…
Nàng dọn dẹp nhà cửa rồi đi mua một bó bông cúc nhỏ. Vì say mê hoa, nàng mua thêm ba bông cúc dại đóa màu vàng nữa. Nàng để hai giờ cắm hoa, cố gắng tạo một ảo tưởng, một khoảng không rộng lớn giữa bốn bức tường. Cuối cùng, nàng lựa, coi như phòng, chiếc cửa sổ với một mảnh trời và đầu những lò sưởi ở trên các mái nhà.
Còn bữa tối. Josui vo gạo nhiều lần, hết sức thận trọng. Nàng xếp đặt rất mỹ thuật những miếng củ cải cắt thành hình hoa. Nàng cắt cải xen thêm vào món gà hầm. Không thích thói quen của người Mỹ bầy món cá không đầu, nàng mua một con cá nguyên vẹn. Nàng đánh bóng thìa, nĩa, lau sạch bát đĩa, xếp đặt thứ tự trong bếp cho đến khi đứa bé trong bụng phản đối. Nàng liền đi nằm cho nó nguôi dịu đi.
Thường thường người ta tìm tên cho trẻ trước khi chúng ra đời. Josui suy nghĩ về vấn đề này nhiều lắm. Biết đặt tên gì cho đứa bé này? Nàng không đặt tên cho nó là Allen vì bà mẹ Allen không muốn nhìn nhận nàng. Allen, Allen! Vậy tại sao không là Lennie? Như thế, hơi giống tên bố. Trong khi nàng đọc nhỏ cái tên này, nó trở thành tên của đứa bé. Nàng như nhìn thấy một khuôn mặt nhỏ đầy sinh khí, một khuôn mặt mà cái tên lựa chọn này thật thích hợp. Khi nàng làm việc trong nhà và khi đứa bé tức giận hoặc phản đối vì nàng đứng lâu để cắt rau làm món lẩu Sukyaki, nàng liền khẽ mắng con.
Nay nàng có thể gọi tên con là Lennie.
“Lennie, đáng lẽ mẹ phải ngồi. Đúng vậy, mẹ phải ngồi. Nhưng mẹ chưa bao giờ thấy một người phụ nữ ngồi cắt rau. Bao giờ chúng ta cũng đứng làm việc này. Vậy con hãy yên lặng, mẹ yêu cầu như thế”.
Nhưng Lennie không hiểu biết gì và Josui đành phải đi nằm.
Người phụ nữ ấy, nàng Cynthia, có thể nghi ngờ điều mà Allen không nhìn thấy ở nàng? Nàng là người thế nào: bạn hay thù?
Khi nàng trông thấy Cynthia, Josui nhận thấy là một người bạn. Một thiếu nữ cao, tóc vàng, thật kiều diễm. Khi Cynthia vào nhà, có Allen theo sau, Josui nhìn nàng vẻ khiêm nhường và kính phục. Đó là người thiếu nữ đáng lẽ Allen phải lấy. Cuối cùng Josui thấu hiểu nỗi thất vọng của bà Kennedy. Tất nhiên, chính Cynthia là người thích hợp với chàng hơn. Nếu Josui biết và vì tình yêu Allen, có lẽ nàng đã từ chối kết hôn với chàng.
Không biết nói sao nàng giơ tay. Cynthia nắm chặt tay Josui với hai bàn tay của nàng.
– Tôi nóng lòng muốn biết được chị – Cynthia nói giọng ấm áp. Tôi quen biết Allen đã từ lâu. Chúng tôi như anh em. Tôi ước mong là anh ấy đã nói điều này với chị.
– Anh ấy có với em.
– Em bỏ mũ ra, Cynthia – Allen nói, (giọng chàng tự nhiên, nhưng chàng hài lòng gặp Cynthia). Em hãy tự nhiên như ở nhà. Kìa, Josui, em quên những nghi lễ tao nhã của em rồi sao?
– Em bị bất ngờ quá – Josui nói khẽ, vẻ bàng hoàng.
– Bất ngờ vì cái gì?
– Chị đẹp quá… Em không ngờ thế… Anh không nói cho em biết…
– Ồ, chị nhã nhặn quá! – Cynthia cảm động kêu lên. Anh không nói cho em biết chị đáng quý mến như thế này. Em có thể đính chị lên áo em như một bông hoa.
Josui cười và không mấy lúc cảm mến Cynthia.
– Xin mời chị ngồi xuống đây – nàng nói và trấn tĩnh được. Em đi pha trà. Allen nói em tối nay tất cả đều phải theo kiểu cách Nhật. Xin chị thứ lỗi cho em.
Nàng đi ra và nghiêng mình, đóng lại cánh cửa gian bếp nhỏ và ngồi xuống một chiếc ghế đẩu.
“Lennie – nàng nghĩ thầm, mắng con, đừng có nhảy lên như vậy! Yếm che ngực của mẹ không che hết được con đâu, con phải biết thế. Con không được mời dự tiệc. Hãy giúp mẹ con!”
Đứa bé nguội dịu, đồng thời tim Josui cũng đập như thường lệ. Nàng liền đứng dậy và sửa soạn pha trà.
Sau cánh cửa đóng, Josui nghe thấy hai người nói, nhưng nàng không nghe rõ được. Có lẽ, họ nói về ngôi nhà của Allen, về mẹ nàng, về những điều mà có thể họ sẽ kín tiếng trước mặt nàng. Nàng nấn ná mà không ra để hai người có thời giờ nói chuyện.
– Allen, chị ấy thật đáng quý – Cynthia nói. Nếu mẹ anh có thể gặp chị dù chỉ một lần, cũng sẽ thay đổi.
– Anh nghĩ rằng có thể, vào dịp lễ giáng sinh… Nếu em có thể thuyết phục được mẹ anh…
Cynthia trở nên trầm ngâm.
– Vâng, em hiểu. Tại sao không, nhưng rồi sao? Em sẽ cố. Em sẽ tả cho bà nghe vẻ yêu kiều của chị Josui bé nhỏ, có phải thế không? Và chúng ta xem sao… chúng ta sẽ xem…
– Cynthia nếu em muốn…
– Xin hứa như vậy. Nếu bà không nhượng bộ, em sẽ mời Josui đến nhà em và sẽ tổ chức một tiệc đãi khách. Lúc đó, ta sẽ xem sao.
– Ồ, anh tự hỏi – Allen nói vẻ băn khoăn.
– Hãy bạo dạn lên anh Allen, chúng ta sẽ ép buộc bà. Lễ giáng sinh anh hãy tới nhé.
Cuộc viếng thăm của Cynthia có một ảnh hưởng lâu bền. Lần thứ nhất sau nhiều tuần lễ nay, Allen lại có cảm giác với Josui, với một cảm tình gần như khiêm nhượng. Chàng nói:
– Em thật đánh yêu. Cynthia thấy hoa của em rất đẹp. Còn em… em xinh xắn quá, Jo bé nhỏ của anh. Đó cũng là ý kiến của Cynthia.
Image from Net – Collect by Sơn râu
Sự ngờ vực không còn làm chàng mù quáng. Chàng lại không hiểu lầm nàng nữa, do ý kiến của Cynthia, hai người hầu như tìm lại được nỗi hân hoan hoàn toàn. Josui suýt nữa nói với chồng về Lennie. Nhưng nàng cảm thấy hạnh phúc. Allen còn gói ghém cả trong sự nhà cửa, gia đình, thành phố và cái thế giới che chở tuổi thơ ấu của chàng. Bao giờ nàng có thể tin chắc được rằng chàng đã di chuyển cái hạnh phúc từ dĩ vãng về hiện tại, lúc này nàng sẽ nói về đứa nhỏ trong bụng.
“Ta ăn uống nhiều quá – nàng đành lơ đãng nói và cố cười. Ta mập béo ra. Không khí ở Mỹ thích hợp với ta quá.”
Cứ như vậy, Josui cố che giấu sự thật. Nhưng cho đến bao giờ nàng còn giấu giếm được…?
Một buổi tối kia, Allen trở về, nàng đưa cho chồng bức thư:
– Thư gửi cho anh đến ngày hôm nay.
Chàng mở bức thư ra ngay. Josui quan sát mặt chàng trong khi chàng chăm chú đọc và nàng hiểu rằng đó là một bức thư quan trọng. Bỗng chàng vò nát lá thư, ném vào sọt giấy và đi vào phòng.
– Em có thể đọc được không? – Josui hỏi.
– Tùy ý em – chàng đáp không quay người lại.
“Một ngày kia rồi cũng phải cho nàng biết” Chàng buồn rầu nghĩ. Josui nhặt lá thư trong sọt giấy và lấy tay vuốt thẳng.
“Anh Allen thân mến.
Em có đến thăm mẹ anh, như em đã hứa với anh. Em có nói với bà về chị Josui thân yêu! Em tả chị cho bà nghe, không giấu giếm chút cảm tình nào của em. Em nghĩ sẽ làm lay chuyển bà và trong tâm trí em đã hình dung những chương trình về ngày tiếp khách của chúng ta nhân dịp lễ giáng sinh. Bà để cho em nói không hề ngắt lời em. Nhưng em phải nghi ngờ rằng bà để nước bài cho đến phút chót. Anh đã biết thái độ cứng cỏi của bà, cứng rắn như kim cương, khi bà tin chắc là mình có lý.
Allen tại sao anh không nói với em về đạo luật? Anh không thể kết hôn với Josui trong xứ sở của chúng ta. Theo cha anh, người ta không thể làm thế nào chống đạo luật ấy được. Dư luận đã tạo ra luật lệ và dư luận phải đổi thay. Nhưng chẳng có gì thay đổi ở thành phố chúng ta từ hai trăm năm nay…
Em không ngớt nghĩ đến Josui. Theo em, anh nghĩ có cách lập cuộc đời ở nơi khác. Thật là cả sự oái ăm trong đời này.
Đối với anh, em vẫn như xưa.
Cynthia”
Josui đọc từng chữ một, ý tưởng này xâm nhập vào đầu óc và len lõi vào huyết quản nàng như một nọc độc. Người Mỹ một lần nữa lại đóng cánh cửa hòa nhập không cho nàng vào. Không bao giờ nàng lấy chàng được. Lennie, ôi! Lennie!
Nàng bỏ bức thư vào ngăn kéo bàn, giấy nhỏ của nàng. Ở trong bếp, nàng rưới nước sốt vào món thịt quay và trong món rau. Tại sao Allen không nói cho nàng biết điều đó? Ồ! Chàng đâu có can đảm nói, nàng không ngờ như thế. Nay, mọi việc đều sáng tỏ, nàng hiểu lý do tại sao chàng hay buồn rầu, bực tức.
Chàng ở trong phòng ra, đi giầy Pantoufle, mặc quần áo ngủ. Nàng chạy lại với chàng, hai tay giơ ra.
– Anh Allen khổ sở – nàng nói, thổn thức. Em thật khổ tâm quá. Đó là lỗi ở em đã lấy anh. Em làm cho anh khổ sở, tuy thật ra em chỉ tìm hạnh phúc cho anh! Em biết làm thế nào?
Chàng ghì chặt nàng trong vòng tay và can đảm trả lời:
– Chúng ta sẽ sống ở nơi khác, Pittsburgh.
Ồ, cái địa danh thân yêu, vô nghĩa mà đã lâu lắm chàng không gọi tới!
– Chúng ta sẽ quên ngôi nhà xưa ở Virginia.
– Nhưng ông bà tổ tiên anh đã xây dựng ngôi nhà cho anh – nàng rên rĩ. Tổ tiên như là một vị thần thánh, người ta đâu có thể quên được thần thánh?
– Anh sẽ kiếm tiền và nhà chúng ta sẽ rộng lớn hơn nữa. Anh phải làm cho mẹ phải ngượng. Nàng cảm thấy dưới má nàng tiếng ngực Allen đập. Bị xúc phạm vì hiềm khích, tức giận, lòng giận hơn đó chỉ đập vì chàng, chứ không phải vì nàng. Nước mắt nàng ngừng rơi, nàng nguôi dịu. Nàng giữ sự bí mật của nàng. Người ta không thể xây dựng một thế giới trên sự giận hờn được.
Josui không hỏi về những ý định của chàng. Nàng không còn ngạc nhiên nữa và tỏ ra bình tĩnh. Allen thấy đỡ gánh nặng. Gần đến lễ giáng sinh, ông Kennedy viết thư cho con trai, nói rằng ông bà rất sung sướng được thấy riêng chàng về thăm ông bà dù chỉ trong một ngày.
“Cha nghĩ rằng là Phật tử, vợ con không thấy lễ này quan trọng như chúng ta – ông Kennedy nói, như tự biện giải. Nhưng sự thăm nom của con sẽ là một nguồn an ủi vô cùng cho mẹ con! Đó chính là cha yêu cầu con, chớ không phải mẹ con.”
Allen đưa bức thư cho Josui xem.
– Dĩ nhiên, nàng nói ngay, anh phải về nhà. Đó là bổn phận của anh. Em sẽ tự lo liệu lấy một mình. Em xin van anh. Allen, anh hãy làm cho em vui lòng, anh hãy tuân lời em
Riêng chỉ còn mình nàng với Lennie, Josui nói với con rất lâu, cắt nghĩa cho con hiểu hoàn cảnh của mình. Nàng quỳ xuống xin lỗi con, tưởng như con nàng đứng trước mặt nàng, đã lớn lao, đã thành nhân rồi.
“Lennie, con hiểu rằng không phải mẹ muốn công việc như thế. Con có quyền sinh sống ở hai ngôi nhà thích đáng, nhà của ông ngoại và nhà của ông nội con. Nhưng mẹ không thể giải thích cho con rằng ở cả hai ngôi nhà này, không ai dung nạp con. Mẹ xin con, hãy thứ lỗi cho mẹ.”
Hầu như ngày nào, nàng cũng lặng lẽ nhắc lại cho con nàng nghe bản diễn văn này. Nay nàng hiểu rằng Allen không những yêu vợ, nhưng chàng còn mến yêu tổ tiên, cha mẹ, nhà chàng, nơi chôn nhau cắt rốn của chàng. Đáng lẽ chàng phải lấy vợ trong cái hoàn cảnh thiên liêng ấy mà Josui không tới tham dự, nàng nhận thấy chàng không đủ cương quyết để đoạn tuyệt với quá khứ, để quyến luyến riêng nàng. Nàng có thể làm được điều này, nhưng chàng thì không. Nhưng không nên oán hận chàng, nàng cắt nghĩa cho Lennie nghe.
Cảnh quạnh hiu trống không đè trĩu lên nàng. Nàng ăn uống ngon lành, vì Lennie phải lớn và nảy nở. Lúc Allen trở về, nàng biết tính sao?
Trước ngày Tết, Allen vẫn chưa trở về. Buổi tối, nàng nghe thấy có tiếng gõ cửa. Hơi lo âu, nàng đi nhón chân ra mở cửa. Cửa vừa hé mở nàng trông thấy… Kobori. Cao lớn, khỏe khoắn, mặc Âu phục, đầu đội mũ, tay đi bao và cầm chiếc gậy, chàng mỉm cười và đưa cho Josui một bó hoa.
– Kobori! – Nàng kêu lên, sung sướng và sửng sốt.
– Trước anh đã nói với em rằng, anh sẽ tới New York vì công việc.
– Ồ! Xin vào! Xin nào.
Nàng hài lòng mình đã mặc Kimono. Vì một lý lẽ riêng từ ngày Allen đi vắng, nàng vẫn mặc Kimono.
Chàng cởi áo khoác, bỏ mũ, chiếc gậy và bao tay.
– Em có một mình ở nhà thôi à? – chàng hỏi.
– Allen về nhà cha mẹ chàng vài ngày, nàng đáp không chút bối rối.
– Thế em không đi cùng với chàng sao?
– Chưa
– À!
Chàng ngồi xuống và nàng ngồi ngả ra chiếc ghế đi văng nhỏ.
– Này! – chàng nói khẽ, nhìn nàng vẻ hiền từ. – Em hãy nói sự thực, Josui. Chúng ta quen biết quá lâu rồi.
– Để em cắm hoa vào bình đã.
Nàng mở hộp và thấy những bông huệ của Trung Hoa, hương thơm ngát. Về mùa này, người ta bán khắp nơi, ở kinh đô, những bông huệ đã ló ra những mầm non màu trắng sữa, xanh ngọc thạch ở đầu.
– Em đã sợ tưởng màu hồng đỏ.
Chàng lắc đầu:
– Đâu anh có ngu ngốc thế?
Chàng liền thấy điều mà Allen không nhận ra. Chàng đoán nàng có mang.
– Này – chàng lại nói khẽ. Anh thấy như em không phải có một mình ở đây.
Nàng cúi đầu xuống bình hoa.
– Allen không biết điều này.
– Làm thế nào mà một người chồng lại không biết được? Vậy chàng không muốn có con hay sao? – Kobori nói và giương cặp mắt ngạc nhiên.
Josui ngồi gần bàn và hít hương thơm của hoa. Rồi nàng nói rõ cho chàng biết hoàn cảnh của nàng. Nàng cảm thấy nàng có thể nói hết mà không đến nỗi phải khóc. Khi nàng nói xong, chàng thở dài và ngả người ra tựa ghế.
– Sao em không nói sự thực với chồng em? Biết đâu đứa bé lại chẳng thay đổi sự tình.
– Ồ! Không – nàng trả lời vội vàng. Một đứa trẻ ở đây không có gì quan hệ lắm. Ở xứ này, các thế hệ này với thế hệ nọ không ràng buộc với nhau như ở nước ta.
– Tuy vậy…
– Không! – nàng kêu lên. Không bao giờ em thú thật với Allen rằng có cháu bé Lennie.
– Josui, thế em sẽ xử sự ra sao? – Kobori dịu dàng hỏi ngay.
Chàng sửng sốt, bối rối vì điều chàng phát giác ra. Chàng yêu mến Josui trước kia một cách điềm tĩnh. Rồi sau nỗi đau đớn của chàng biến đổi thành các cảm giác với hôn nhân. Sau khi thấy Josui được sung sướng, chàng cũng ước mong mình được kết hôn theo lý trí với một thiếu nữ do cha mẹ chàng lựa chọn để có cháu chắt cho ông bà và để lập gia đình. Một người đàn ông cần phải có con cái.
Hoàn cảnh của Josui làm đảo lộn tất cả chương trình của chàng.
– Em không biết phải làm thế nào – Josui nói nhỏ, đầu cúi xuống các bông hoa. Riêng em chỉ biết rằng em không muốn làm điều ấy.
Kobori thở dài.
– Em phải trở về với cha mẹ. Đứa bé sẽ chào đời ở Nhật. Các cô nhi viện sẽ nuôi những đứa bé này, em đã biết.
– Không, anh ạ.
– Em Josui thân mến – chàng hỏi khẽ. Em có còn yêu người Mỹ kia không?
Nàng bỗng ngẫng đầu lên. Kobori hỏi nàng câu hỏi chính nàng vẫn tự vấn mình. Phải, nàng yêu Allen nhưng với một mối tình chết. Nàng vẫn yêu chồng, nhưng với mối tình vô vọng. Đáng lẽ hai người đừng gặp nhau trên đường đời là phải. Sinh trưởng trong hai thế giới khác biệt. Allen không thể là một người bạn trăm năm của Josui, mà Josui cũng không thể là một người bạn đời của chàng được. Josui không có một manh tâm chống đối nào và cũng không lấy gì làm thất vọng lắm. Nỗi buồn xâm lấn khắp người nàng, khiến nàng đờ đẫn như bị tê liệt.
– Cũng chẳng có lợi ích gì phải yêu chàng – nàng giản dị nói.
Cả hai người đều trầm ngâm, để kéo dài sự yên lặng. Cuối cùng Kobori nói giọng ngập ngừng nhưng rất tế nhị.
– Anh muốn nói với em một điều… Em hãy thứ lỗi cho anh, nếu anh im đi là hơn.
– Xin anh cứ nói – Josui đáp, không quay đầu lại.
Chàng liếm môi nói:
– Nếu bao giờ em định một mình về Nhật, anh sẽ chờ em.
Hương những bông hoa bỗng trở nên ngát mạnh quá đối với Josui. Nàng đẩy xa chiếc bình, nàng hiểu ngay ý nghĩa những lời này của Kobori: chàng muốn lấy nàng, nếu nàng không có ý giữ đứa bé:
– Em có đứa con – nàng nói.
Chàng không ngẩng mắt nhìn nàng. Hai bàn tay to lớn của chàng bấu chặt lấy đầu gối.
– Anh muốn giữ đứa bé, anh muốn điều ấy thật sự. Nếu anh chỉ có một mình, nếu anh không nghĩ đến cha mẹ anh, anh sẽ giữ nó. Ít nhất, anh cũng tưởng như thế.
Image from Net-Collect by Sơn râu
Thành thật, bối rối, chàng muốn tỏ ra khoan hồng.
– Em xin cảm ơn anh – nàng nói. Một ngày kia, em có thể sẽ nhớ lại lời anh. Em không biết được.
Nàng đứng dậy, vẻ quả quyết. Chỉ một lời nói thêm nữa, sự thất vọng sẽ vỡ bờ, nàng không thể chịu đựng được nữa.
– Em đi pha trà – nàng đề nghị với một sự vui vẻ miễn cưỡng, và đi vào bếp.
Chàng nhìn nàng pha trà và không có ý nghĩ giúp nàng. Chàng vốn quen được chiều chuộng. Josui thấy cử chỉ đó rất tự nhiên. Nàng mang ra ấm trà sơn và hai tách trà tươi. Khi nàng đã mời Kobori uống, nàng uống sau.
– Anh hãy cho em biết tin tức về cha mẹ em. Cha mẹ em không trả lời hai bức thư của em.
– Anh biết. Anh có đến thăm ông trước khi đi và anh thấy ông còn giận dữ lắm. Ông nghĩ rằng đáng lẽ em không được trái ý ông.
Nàng đặt chiếc tách xuống và can đảm nói:
– Xin nhờ anh nói giùm với cha em rằng, em có lý do.
Ngạc nhiên, chàng kêu lên:
– Josui, em kiêu hãnh thế mà nói như vậy à?
– Em đâu còn kiêu hãnh nữa – nàng khiêm nhượng nói. Em không biết làm thế nào đối với lòng dạ những người ở đây. Em biết đi đâu để sinh con? Nó không có chỗ để nương thân.
Nói xong những lời này, bỗng Josui không kiềm chế được nữa và sụp xuống. Nàng thổn thức, mặt úp vào tay, người rung động vì khóc.
Kobori xúc cảm hết mức, chàng đặt chiếc tách xuống và đứng dậy. Chàng vặn hai bàn tay, nhưng chàng không hề nghĩ dám đụng vào người nàng.
– Thôi Josui, như thế này thật có hại cho em lắm. Josui, xin em ngừng đi, thật nguy hiểm lắm..
Chàng nói khẽ những lời rối loạn và thở dài. Bỗng cảm thấy xấu hổ, Josui cố nén lòng. Nàng lấy tay áo Kimono lau mắt nói với Kobori giọng bình thường làm chàng nhẹ nhõm hẳn người:
– Anh còn ở Mỹ bao lâu?
– Một vài tháng, nói cho cùng, đến khi nào em có một quyết định – chàng nói.
Kobori đứng dậy và cầm các thứ. Hai người cúi rạp chào nhau ở ngưỡng cửa. Josui đứng chờ thang máy với chàng và hai người lại chào nhau nhiều lần dưới cặp mắt hiếu kỳ của thằng bé gác cầu thang. Nàng về phòng và khóa cửa lại. Quyết định đối với nàng thật rõ ràng, quyết định duy nhất có thể thực hiện được có lợi cho Lennie: trên đời không có nơi nào dung nạp nó.
Đỏ mặt vì bẽn lẽn Josui nói Allen:
– Em sẽ không viết thư cho anh trong khi anh còn ở nhà cha mẹ.
– Tại sao lại không?
– Em thấy rằng làm như thế là trái ý mẹ anh. Có khác gì bí mật lẻn vào nhà mà bà đã đóng cửa không cho vào.
Chàng phản đối:
– Josui thật vô lý. Em không buồn bực thấy anh đi hay sao?
– Ồ! Không Allen. Riêng em, em định không viết thư là tỏ ra lễ phép với mẹ anh. Em muốn tuân lời bà.
Vì vậy, Allen không chờ đợi thư của Josui. Khi bước vào gian phòng lớn, chàng thấy như tất cả chào đón mình, chàng lại tìm thấy niềm vui nhộn nhàng của tuổi thơ, với lòng tin chắc rằng ở nhà mọi người đều mạnh khỏe. Chàng còn nhớ cảm giác thoải mái, khi chàng ở trường võ bị về nhà nghĩ lễ giáng sinh. Ở đây chàng lại tìm được sự yên tĩnh, an toàn và tất cả những gì chàng yêu mến. Chàng trở về giống như những trở về thuở xưa, trông thấy mẹ tiến lên đón chàng, bước đi nhẹ nhàng, yểu điệu, lòng chàng chan chứa tình yêu, bà giang tay đón con, chiếc áo khoác màu xám bạc phất phơ ở cánh tay và gợn sóng ở phía chân bà.
– Con trai, con trai thân yêu của mẹ.
Chàng cảm thấy quanh mình cánh tay mẹ và ngửi thấy mùi hương thân mật.
– Thưa mẹ…
Tiếng nói của chàng, giọng nói của một người đàn ông trầm và vang lên vẫn không phản lại tâm hồn tuổi thơ.
– Mừng con về nhà.
– Vậy mẹ biết con về nhà sao? Con tưởng đó là một sự bất ngờ.
Bà giữ con với cánh tay và cười. Khuôn mặt bà xinh đẹp, tươi trẻ, dưới mớ tóc bạch kim, trở nên linh động với nụ cười thắng thế.
– Cha con có giấu gì được mẹ. Lễ giáng sinh này con…
Chiếc voan xám lại che phủ bà, như một màng tơ nhện.
– Lại đây, hãy đến gần lò sưởi, chúng ta chưa sửa soạn xong cây giáng sinh, chúng ta đợi con về đính ngôi sao lên ngọn cây, ví đó là nhiệm vụ của con. Cynthia có đến dự!
Bà nói tên Cynthia không lộ ra một lý do gì.
– Này Cynthia, anh Allen đây! Ta đã nói với con anh ấy sẽ về. Ta biết lắm mà!
Cynthia mặc một chiếc áo len dài, chiếc áo len đỏ bên trong và đính những trái ô rô vào tóc. 1
Mặc dầu xa cách lâu ngày, Allen và Cynthia gặp gỡ nhau vẫn tưởng như mới chia tay ngày hôm qua.
– Ngồi xuống đây anh – Cynthia nói. Em sẽ pha trà. Bà đang bị bệnh biếng nhác đấy.
– Ta thật sung sướng – bà Kennedy kêu lên.
Ngày hôm ấy, Allen thật đặc biệt cảm động về khung cảnh đẹp này: những bông hồng vàng, những thanh củi nổ lốp bốp trên những chiếc giá bằng đồng bóng loáng, những chiếc ghế bành và những chiếc ghế dài bọc vải satin, sàn nhà đánh si bóng và các tấm thảm dầy. Một sự hoàn hảo như vậy thật quý và hiếm có.
Chàng có quyền hưởng tất cả những thứ này, gia tài của chàng. Chỉ trừ khi nào chàng tự ý khước từ…
Cynthia ngồi gần chiếc bàn nhỏ bằng gỗ hồng vân, trên có đặt một bộ đồ trà bằng bạc, một của gia bảo, Allen nhủ thầm nàng sẽ giữ được vẻ yêu kiều cho đến tận ngày già nua, vì nàng thật đẹp và hoàn toàn thích hợp với khung cảnh này.
Ngày ngày ngày nọ trôi qua. Họ treo những chiếc bí tất vào lò sưởi bằng đá trắng do ông cố năm đời của Allen mua ở Pháp. Ở dưới chiếc bí tất của chàng, Allen nhận thấy viên ngọc huyền đính vào một chiếc kẹp caravat vốn xưa là của ông nội chàng.
Thấy Allen cảm động nhìn, mẹ chàng mỉm cười:
– Đó là phần của con sau này, vậy tại sao không cho con ngay bây giờ? Mẹ có nói với cha con là mẹ muốn trao cho con tất cả những gì thuộc về con sau này. Chúng ta sẽ nói chuyện này một ngày kia.
“Một ngày kia” bao giờ cũng là ngày hôm sau. Phải đợi viên luật sư đi dự lễ ở Miami trở về. Allen viết thư cho Josui, tuy biết là nàng không trả lời. Cuối cùng chàng không nghĩ ngợi nữa. Chàng giải trí trong cảnh tiện nghi và đẹp đẽ của ngôi nhà bền chắc và cổ xưa.
Ngày Tết khách đến đông đảo. Không ai hỏi thăm Allen về Josui, về cuộc sống của chàng ở New York. Đâu đâu chàng cũng gặp sự tiếp đón nồng nhiệt.
Khi viên chưởng lý ở Miami trở về, Allen được mời vào thư viện và quyết định của mẹ chàng được bày tỏ. Bà ngồi co người lại, ở phía đầu chiếc bàn gỗ đào.
Ánh mặt trời mùa đông lọt vào gian phòng giữa những bức rèm lớn có những búp vàng.
Viên chưởng lý, một người nhỏ bé, khuôn mặt rắn chắc nói như người đang nhai rơm.
– Allen, mẹ anh đã tỏ ra rất quảng đại. Bà sang tên ngôi nhà cho anh, kể từ nay, anh là chủ nhân ngôi nhà.
– Nhưng thưa cha, con tưởng ngôi nhà là quyền sở hữu của cha? – Allen ấp úng nói.
Ngồi gần cửa sổ, như một hình bóng xám trong gian phòng chan hòa ánh sáng, ông Kennedy trả lời vắn tắt:
– Cha đã tặng mẹ con ngôi nhà này ngày chúng ta kết hôn. Cha nghĩ rằng một người đàn bà cần phải có một căn nhà. Đó là sự bảo đảm cho đời mẹ con.
– Con bé của mẹ, chắc con sẽ dành cho mẹ một góc nhà để ở – bà Kennedy nói. Mẹ tin tưởng ở con.
– Ta không tán thành quyết định này – ông Kennedy nói.
– Và con, con phản đối – Allen nói.
– Ồ! Con yêu của mẹ, mẹ van con! – bà khẩn nài. Con hãy nhận đi, ta yêu cầu con đó.
– Ý kiến này không làm con vui lòng chút nào – Allen cự tuyệt.
Nhưng thật ra việc này làm chàng vui lòng hết sức.
Chàng liếc nhìn gian phòng rộng lớn, từ nay thuộc quyền sở hữu của chàng. Nhưng bỗng chàng nói giọng hoảng hốt:
– Nhưng con không thể sống ở đây được.
– Có thể một ngày kia, con sẽ ở được – bà vui vẻ nói.
Như vậy, mặc dầu sự phản đối của ông Kennedy và của Allen, một lần nữa, ý chí của bà Kennedy lại thắng thế. Allen thấy có một cảm giác kỳ dị và đáng ghét nữa: nỗi vui mừng được gia sản. Chàng cố gắng làm nguôi dịu niềm vui, tự nhủ, dù sao, ngôi nhà sau này cũng thuộc quyền sỡ hữu của chàng. Và nay, nếu chàng có xây cất ở nơi khác một ngôi nhà nữa, thì một ngày kia rồi chàng cũng phải lựa chọn một trong hai ngôi nhà.
Buổi chiều, chàng đi New York. Chàng đi taxi về đến nhà lúc sẫm tối. Thằng bé gác cầu thang, một đứa mới, không nói với chàng điều gì. Allen bấm chuông, nghĩ rằng Josui sẽ mở cửa ngay cho chàng và sự hối hận làm tim chàng đập mạnh, chàng thật có nhiều tội lỗi, cần xin tha thứ.
Cửa vẫn đóng. Chàng lại bấm chuông, có lẽ Josui ngủ. Không khác gì một chú cún nhỏ, nàng có thể ngủ bất cứ lúc nào, nằm cuộn tròn trên chiếc đi văng hoặc dưới đất, trên mấy chiếc đệm. Cửa vẫn không mở. Chàng lục soát trong túi và tìm thấy chìa khóa. Không có ánh sáng trong nhà. Không khí chứa đựng có mùi ngột ngạt và hơi lò sưởi. Một cảnh yên lặng hoàn toàn trong các căn phòng.
Chàng kêu lớn:
– Josui!
Không có lời đáp lại. Chàng bật đèn và hấp tấp đi vào phòng. Không có ai! Chàng mở rộng hai cánh cửa tủ đựng quần áo ăn sâu vào tường. Nàng đi rồi!
Sự thực hiển nhiên đập vào đầu óc chàng. Đi rồi. Biết tìm kiếm nàng ra sao? Chàng thấu hiểu sự thất vọng có thể đưa người đàn bà đến đâu! Nàng đã tới cực độ, tuy vẫn giữ cái vẻ bề ngoài khả ái đối với Allen. Nàng đã đoán ra những gì? Nàng hiểu đến mức nào? Không bao giờ chàng có thể hiểu được. Chàng nằm lăn ra lề giường, bỗng ngã lòng vì buồn rầu và hối hận. Rồi chàng úp mặt vào lòng bàn tay và trong thâm tâm tự nguyền rủa mình: không phải vì Josui bỏ ra đi, nhưng bởi vì, mặc dầu xấu hổ, hối tiếc và hãi hùng, chàng thấy hài lòng là nàng ra đi.
——————————–
1 Tiếng Anh là holly berry, tiếp Pháp là Hõu dùng để trang trí, trưng bày trong dịp lễ giáng sinh.
Thắng nhớ mãi những kỷ niệm ngày xưa ở Nha Trang. Kiếp của mình là kiếp lang thang…Vài tháng sau, Thắng được lệnh đổi về Biên Hoà, nơi phi trường cao su đất đỏ.
Thắng nhớ tới cái hôm đổi về cái phi trường ấy. Từ nhà ga xe lửa, Thắng hỏi thăm đường về phi trường. Năm bảy cái quẹo tay mặt, quẹo tay trái… Nghe xong được cái quẹo cuối cùng thì quên cái quẹo đầu tiên. Chàng ngán ngẫm xách va-li bước liều về phía ngón tay mà người chỉ đường đã vẽ trong không khí. Ông ta hỏi với theo:
– Sao thầy không kêu một cái xích-lô..
Thắng im lặng, bước đi không trả lời. Hai, ba anh chàng xích-lô đạp từ từ theo sau Thắng, mong cho chàng đừng có tập thể thao. Thắng vẫn bước đi, cố nhìn ngang, nhìn ngửa cho có vẻ yêu đời… Mấy anh chàng xích-lô, thấy không nước non gì, vượt qua mặt Thắng rồi đạp xe đi mất hút…
Bấy giờ, bao nhiêu sự tức giận mới để lộ ra trên nét mặt Thắng. Thắng nện gót chân mạnh xuống mặt đường. Đổi đi vào lúc cuối tháng, là lúc mà xoay bở người mới được ba đồng để mua bốn điếu thuốc Ruby. Thắng muốn chửi đổng một câu cho hả tức, nhưng thấy nhiều người qua lại, nên lại thôi.
Thắng nhớ cách đây bốn hôm khi được giấy đổi, Thắng đã năn nỉ với cái thằng làm lệnh di chuyển:
– Xếp để cho mấy hôm nữa, đến đầu tháng hãy làm lệnh di chuyển. Cuối tháng, meo quá, đào đâu ra tiền để đi về cái xứ cách đây đến hàng bốn trăm cây số….
Cái thằng làm lệnh di chuyển, được Thắng gọi bằng xếp, khoái quá, nhìn Thắng, nháy mắt cười ra cái điều thông cảm. Thắng về phòng, nằm yên được tới hai ngày… Ngày thứ ba, cửa phòng mở một cách dữ dội. “Xếp” tông cửa nhảy xổ vào như gió. Nó dựng cổ Thắng dậy, cầm lệnh thuyên chuyển ấn vào tay Thắng:
– Xin mời ngài dậy rồi đi ngay cho. Hai cái công điện thượng khẩn đánh về hỏi thăm sức khoẻ của mày làm tao bị thằng Hai Lùn xạc. Dậy đi!…
Lúc đó là lúc nhịn thuốc lá đã được nửa ngày. Thèm thuốc lá quá nên Thắng phát khùng:
– Ông không đi thì mày làm được gì ông?…
“Xếp” không nói gì, móc túi Thắng, lẳng lặng lấy chìa khoá, xếp quần áo vào va-li cho Thắng. Trông hắn hiền như một người vợ trẻ. Hắn dìu Thắng ra xe. Làm giấy tờ để đi mất có nửa ngày… Buổi chiều, hắn khiêng Thắng lên xe và tiễn Thắng ra nhà ga…”Đèn ga Nha Trang màu vàng, tao cầm tay mày muốn khóc…Chưa bao giờ buồn thế!”.
Đêm hôm đó, Thắng nằm nhịn đói trên xe lửa. Thắng ra đằng cuối toa, ngồi trên sàn tàu, ngắm rừng cây mịt mù. Nhìn lên trời để tìm sao Bắc Đẩu. Ở vĩ độ nào thì nhìn thấy sao Bắc Đẩu ở độ đó. Bây giờ mình đang ở vĩ tuyến thứ mười. Nhìn một góc mười độ với chân trời, Thắng thấy sao Bắc Đẩu lấp lánh. Miền Bắc là phương đó. Không biết đến bao giờ con tàu mới ngược lên phương Bắc, mang mình trả lại quê hương.
Con tàu xuôi về phương Nam để tới phi trường đất đỏ. Sáng mai, mình sẽ tới Biên Hoà. Vườn cao su xanh um, có những căn nhà thấp thoáng. Phi đạo lót vỉ sắt, mỗi lần xe hơi chạy qua, lại có tiếng kêu loảng xoảng. Thắng nghĩ:
– Ở nơi này có lẽ tốt đấy. Không xa Sàigòn lắm để có chỗ du hí khi có tiền. Mà cũng lại đủ xa để ngại không thèm về khi nào túi rách.
Thắng đổi về Biên Hoà được chừng ba tháng thì Trọng cũng đổi về. Trọng xin đi bay lại mà không được . Người ta tiếc một chuyên viên cao đẳng. Đào tạo phi công chỉ mất hơn một năm. Đào tạo một chuyên viên cao đẳng vào loại khá như Thắng, như Trọng thì phải mất ít nhất năm năm.
Bởi vậy, Trọng vẫn phải sống đời bò sát. Ngày ngày leo lên Lầu Gương làm việc ở cái chỗ “chân không đến đất, cật chẳng đến trời”. Những con người bò sát, dân tàu bay đặt tên là Kiwi. Những con chim, tuy mang danh là chim mà không biết bay. Thỉnh thoảng nhìn lên trời cao, lại thấy thèm được chui vào mây, được hưởng cái phút con người bị lắc lư như đồng tiền trong bát xóc đĩa.
Tây về nước, trao lại cho Không Quân tất cả cả các phi trường. Ở Biên Hoà là Phi-đoàn Khu-trục. Những chiếc F8F đen chùi chũi. Cái gian nhà dành làm Ban Kiểm Kỳ, bé tí xíu, ngổn ngang vật liệu và trông tàn tạ như một căn nhà bỏ hoang lâu ngày.
Rồi Thiện đầu bạc cũng đổi về đây. Cả Pi-lốt Thái Bình cũng về để tập lái tàu bay “tớp tớp”. Thành ra cái “lũ quỷ sứ” đi đâu rồi cũng gặp nhau. Le bal des maudits. Những căn phòng độc thân ở cạnh vườn cao su lại vẫn những con người đó. Di sản của Tây để lại ở cư xá độc thân còn sót lại trên tường bức vẽ những con đầm không mặc quần áo và những câu bậy bạ viết bằng bút chì xanh đỏ.
Thắng nhìn ra phi đạo. Phi đạo Nam-Bắc bằng đá đỏ, mỗi một lần phi cơ hạ cánh lại bụi tung mù. Một cái Đài Kiểm-soát thấp lè tè, bị bỏ rơi, kính vỡ, nằm trơ dưới nắng như một người con gái đã hết cái thời xuân sắc.
Mỗi một khi xây cất được một cái phi đạo khác dài hơn, người ta lại làm một cái Lầu Gương mới. Chiếc Lầu Gương cũ đó có từ khi phi trường chỉ có một phi đạo Nam-Bắc bằng đá đỏ. Bây giờ có thêm một cái phi đạo mới, lót bằng vỉ sắt. Nhiều khi những cái vỉ sắt tróc cạnh bung lên, giương lên như một cái bẫy. Tàu bay đang ngon trớn mắc cái bánh xe vào đó là….rồi đời. Trọng ngồi trên Lầu Gương, thỉnh thoảng lại nghe thấy mấy ông phi công la hoảng:
– Đầu đường 33, có một cái vỉ sắt tróc cạnh. Ấn cái đầu nó xuống một chút đi bồ…
Trọng uể oải xuống thang… sau khi đã dặn thằng bạn cùng làm trên Lầu Gương, nếu có phi cơ hạ cánh thì bấm cho một phát đèn đỏ. Nếu thấy chàng chưa nhìn thấy thì bắn một phát hoả pháo đỏ để chàng chạy ra khỏi đường bay.
– Đừng để tàu bay nó đè chết tao đấy nhé…
Trọng xuống dưới nhà, lấy xe cứu thương lái ra phi đạo. Tiếng sắt kêu rào rào dưới bánh xe. Một con chó chạy vụt qua trước mặt. Trọng rất khổ sở vì lũ chó hoang. Chúng hay kéo nhau ra phi đạo đùa giỡn, bất chấp tàu bay hạ cánh và cất cánh. Đã nhiều lần, Trọng thủ cây carbine chỉ để rình bắn chó. Bắn một, hai con không ăn thua gì vì chúng nó sinh đẻ mau lắm. Nhiều gia đình chó sống lúc nhúc trong những ống cống của phi đạo, nhai đứt giây điện, đạp vỡ bóng đèn … Nhiều khi còn đưa nhau ra phi đạo “làm ái tình” ngay giữa ban ngày, dằng co nhau trên những vỉ sắt nóng bỏng. Nhiều lúc đã giơ súng lên, Trọng lại không nỡ bắn, để rồi lúc bị những người phi công cằn nhằn lại ngồi tức một mình…
Trọng ngừng trên đường vận chuyển, chờ một ánh đèn xanh. Từ Lầu Gương, ánh đèn xanh chớp chớp. Trọng quẹo mạnh vào phi đạo, lái xe đi kiếm miếng vỉ sắt tróc cạnh. Gió thổi mạnh, uốn cong đầu những khóm hoa lau, trắng xoá cả vùng đất phi trường. Trọng đập mạnh búa xuống. Miếng vỉ sắt nằm ép xuống rồi lại bung lên… Trọng lấy một cái móc đóng…
Một ánh hoả pháo đỏ vụt bắn lên từ phía Lầu Gương. Trọng nhảy lên xe, lái vội vào bên lề. Hai chiếc F8F làm “break” ngay trên đầu, phơi cái bụng đen, tróc sơn loang lổ.
Một ánh hoả pháo đỏ nữa lại vọt lên từ phía Lầu Gương. Chiếc phi cơ F8F vút qua đầu Trọng. Tiếng động cơ gầm thét. Trọng nhìn theo… Phi cơ chỉ thò ra ngoài có một bánh xe… Chiếc phi cơ thứ hai đáp chạy êm trên sân bay sau khi nhảy vài cái “boum” nhẹ.
Trọng lái xe chạy theo sau rồi về đường vận chuyển đứng chung với toán xe chữa lửa đang chờ sẵn. Ánh đèn đỏ trên nóc xe chữa lửa quay nhiều vòng sáng, tắt. Người y tá và người tài xế xe cứu thương nhảy sang xe của Trọng. Chàng nhường tay lái và đứng ngoài cửa xe nhìn theo chiếc phi cơ đang vào vị trí gió xuôi với nhiều thấp thỏm lo âu…
Những tai nạn xảy ra ở cái phi trường này gần như thường xuyên. Khi nào chiếc cần trục bị hư, các phi công không dám bay. Không có xe cần trục, tàu bay mà lộn úp sấp thì người phi công chỉ còn đành nằm bẹp trong đó. Cái gì mà Tây để lại cũng đều đáng được xếp vào viện bảo tàng.
– Có chuyện gì vậy mày?…
Trọng nhìn lại đã thấy Thắng đứng ở đằng sau. Những nét mặt bồn chồn lo lắng cho người bạn ngồi trên chiếc phi cơ đang lượn vòng trên trời cao xanh thẳm kia. Trọng chớp mắt:
– Chiếc Echo hạ cánh chỉ có một cẳng…
– Buổi sáng, tao sửa máy cũng thấy nó bị trục trặc ở ống áp lực thủy điều. Thằng Thiện đầu bạc coi về vũ khí cũng bảo tao là cây súng bên trái hay bị tắc đạn. Tao biết thế nào cũng có chuyện…
Trọng che mắt cho đỡ chói nắng, đứng nhìn theo chiếc phi cơ nghiêng lượn vào vòng chót. À, lần này thì thò ra được hai cẳng nhưng khi phi cơ gần tới đất lại bốc vụt lên. Thắng hỏi Trọng:
– Tại sao vậy?
– Chắc thằng đó nó không tin tưởng lắm ở hai cái bánh xe. Để chờ thêm một chút nữa xem sao…
Chiếc phi cơ lượn thêm một vòng nữa. Lần này, khi bay vòng trở lại, ngang qua đầu Thắng và Trọng, hai cánh lắc dữ dội…như những lúc tàu bay hỏng vô tuyến xin hạ cánh. Trọng biết rằng anh chàng phi công đã nhờ Đài Kiểm-soát lấy ống nhòm coi xem hai cẳng đáp đã khoá chắc chưa . Hai cái bánh xe không có lắc lư. Trọng thở phào một tiếng:
– Chắc ăn rồi…
Lần này, phi cơ hạ cánh một cách êm thấm. Khi hai bánh xe chạm đất, cả đoàn xe chữa lửa, cứu thương và cần trục chạy theo sau. Chiếc mũ sắt trắng của người phi công lấp loáng, phản chiếu ánh mặt trời. Chiếc phi cơ chạy vào bến đậu, rú lên, quay vài vòng cánh quạt thật nhanh rồi tắt máy.
Người phi công leo ra ngoài phi cơ. Với những thằng Tây cao lớn và chân dài thì bước ra và bước vào phi cơ một cách thật dễ dàng. Nhưng với dân Giao Chỉ thấp nhỏ thì phải leo… Có những anh chàng phi công Việt Nam , như Hữu chẳng hạn, đi bay phải mang theo một đống gối. Cái để sau lưng, cái để lót xuống dưới ngồi… Ngồi trong “cockpit” trông lọt thỏm như hòn bi trong ly nước. Nhưng khi phi cơ chạy trên sân đậu, hai tay anh khuỳnh ra, gác trên thành cửa, chiếc khăn quàng cổ bay phất phơ cũng vẽ nên một bức tranh hùng tráng.
Thắng yêu nhất cái hình ảnh của phi cơ khi rời sân đậu. Người cơ khí viên ngoắt hai tay ra phía sau… Chong chóng quay nhiều vòng. Người phi công giơ ngón tay cái lên trời. Hai chiếc bánh xe nhích lên…
Còn bay ở trên trời, phi cơ chỉ là một khối sắt bay. Cái vẻ đẹp tan biến, nhường chỗ cho cái đe doạ khủng khiếp của chết chóc đau thương.
Thắng theo Trọng lên Đài Kiểm-soát… Ở trên cao nhìn xuống phi trường, mới thấy hết cái đẹp. Phi đạo nằm thẳng băng như một mạch máu. Rừng Tân Phong nằm về phía bên trái. Phía xa xa, thấp thoáng nhiều bóng thánh giá của nhà thờ thuộc khu Hố Nai. Con đường nơi đầu phi đạo 33, xe hơi chạy đi, chạy lại, tấp nập về phía Cấp, Đà Lạt.
Trọng ngồi làm báo cáo về chiếc phi cơ F8F vừa hạ cánh…”Chiếc Xanh I, sau khi vào vị trí hai phút…rồi ba mươi giây, làm break để hạ cánh. Trời tốt, tầm nhìn xa hai mươi lăm cây số. Khi tới vòng chót, người kiểm soát viên không lưu thấy cẳng đáp không ra hết, ra lệnh tống ga làm lại vòng phi đạo. Phi cơ làm lại hai vòng khác, kiểm soát lại bánh đáp, hạ cánh an toàn…Phi công vô sự”.
Tờ báo cáo chỉ vỏn vẹn có như vậy… Trọng uể oải quay sang hỏi Phạm, người chuyên viên khí tượng:
– Tối nay, liệu có mưa không mày?…
– Hỏi để làm gì?…
– Để buổi tối đi coi chớp bóng ở cái rạp lộ thiên.
Rạp chiếu bóng ở trong căn cứ không có mái che nên đi xem, Thắng, Trọng và các bạn rất sợ bị mưa. Hỏi vậy, nhưng Trọng và Thắng không tin ở tài tiên đoán khí tượng của Phạm. Nhiều hôm, nó nói mưa, bắt Thắng và Trọng mang áo mưa, nhưng suốt cả buổi chiếu bóng mặt trăng tròn vành vạnh cứ lơ lửng ở trên đỉnh đầu… Nhiều hôm nó quả quyét không mưa thì trời lại mưa xuống ào ào…
Phạm bước ra ngoài Lầu Gương nhìn về bốn phía… Chân trời có vài đám mây Cummulus, nhưng gió lại thổi hướng Đông Nam. Nhưng biết đâu từ giờ đến tối, trời lại không đổi gió. Trên đầu, thật cao, mây gợn sóng thành đợt mà ngoài Bắc gọi là những vẩy tê tê. Đó là những đám mây Cirrus. “Trên trời có vẩy tê tê, có ông bảy vợ chẳng chê vợ nào.” Phạm nhiều khi thấy cái vô lý của ca dao. Suốt mấy năm trời làm cái nghề khí tượng, Phạm chẳng bao giờ thấy cái cảnh “trên trời có đám mây xanh, ở giữa mây trắng, chung quanh mây vàng…” Phạm đi vào, trả lời Trọng:
– Có thể mưa mà cũng có thể không mưa…
Thắng bĩu môi:
– Hỏi mày mà được trả lời như vậy, thà rằng đừng hỏi. Khí tượng gì mà bết quá vậy.
Bị đụng chạm tự ái nghề nghiệp, Phạm trả lời xẳng:
– Thì đừng có hỏi có được không?…Lần sau thì ông không thèm trả lời chúng mày.
Trọng nháy mắt nhìn Thắng cười… Nó cáu kỉnh rồi đấy, đừng trêu chọc nó nữa. Thắng và Trọng nhiều khi nghịch tinh, ban đêm đi chơi về khuya, múc một lon nước đổ vào bình đựng nước mưa để ngoài trời. Rồi sáng ngày hôm sau, rình coi cái bộ mặt thắc mắc của Phạm. Quái, đêm hôm qua đâu có mưa nhiều mà hôm nay đo nước mưa được cả đến mấy chục phân. Hay là mưa mà mình ngủ quên, không biết… Nhưng nếu mưa nhiều như thế này, buổi sáng dậy cũng phải thấy nước đọng vũng trên mặt đường… Phạm giữ bộ mặt trầm ngâm ngồi trước cuốn sổ, chi chít đặc những con số.
Căn phòng của Thắng có bốn người. Trung sĩ nhất Thắng, Trung sĩ nhất Trọng, Trung sĩ Phạm và Thượng sĩ Thiện. Thiện đầu bạc, vì là chuyên viên vũ khí, gần với súng đạn nên thăng cấp trước nhất. Tất cả, với số lương bốn ngàn đồng cũng đủ đi du hí vào những ngày đầu tháng.
Vào những ngày giữa tháng, nếu các bà chủ quán trong căn cứ, không cho “mở một trang nhật ký” thì bắt đầu ăn cơm Tây. Nghe cái tiếng ăn cơm Tây có vẻ sang trọng lắm, nhưng biết đâu chỉ là một khúc bánh mì nhân thịt và một ly nước lạnh. Buổi chiều, mỗi lần ra phố lại có thằng dặn với theo:
– Lúc về, nhớ mua cho tao mười đồng cơm Tây.
Những cái quán ăn trong căn cứ cũng nhân đạo lắm. Mỗi thằng có một trang để “à la ghi”. Có nhiều thằng ăn cơm mấy tháng không mất tiền. Cứ hết tháng, nó lại “bắn một phát hoả tiễn”, rồi chạy sang quán khác. Những chuyên viên bắn hoả tiễn nổi tiếng đã làm các bà chủ quán phải chạy mặt…
Những buổi chiều thứ bảy và ngày chủ nhật đầu tháng, cái cư xá độc thân vắng hoe. Ít thằng ở lại cái đất Biên Hoà vào những ngày ấy. Những cây cao su cổ thụ, lá rụng ào ào sau mỗi cơn gió. Tiếng con tắc kè ở đầu nhà như kêu lớn hơn, vang động cả ba từng thang lầu.
Thắng đã ở lại cư xá trong một buổi tối thứ bảy, giấc ngủ chập chờn như những đêm uống thật nhiều cà-phê. Miền đất phi trường Biên Hoà ngày đó vẫn còn hoang vu. Những người lính gác ngoài vòng đai phi trường giáp rừng Tân Phong, kể chuyện cho Thắng nghe, thỉnh thoảng vẫn thấy cọp lảng vảng đi sát hàng rào giây kẽm gai.
Những buổi sáng khám phi đạo, Trọng vẫn kể cho Thắng nghe đã gặp những con rắn dài, thấy ánh đèn pha, bò lủi nhanh vào bụi cây mắc cỡ. Thành ra, những ngày nghỉ lần sau, Thắng cứ phải cố lên xe đi về Sàigòn.
Đường từ Biên Hoà về Sàigòn qua ba cái cầu. Ba cái cầu cùng bắc ngang qua một sông. Đi xe lô mất mười lăm đồng. Đi xe đò mất mười hai đồng. Nhưng nếu mặc quần áo lính thì chỉ mất có bảy đồng. Những ông chủ xe đò là người có nhiều cảm tình với lính.
Nếu mặc quần áo ka-ki thì phải lên xe từ lúc xe còn đậu ở bến. Mấy ông tài xế và mấy ông lơ, ít khi chịu rước khách nhà binh ở dọc đường… Những người thừa hành đã phá hoại cái thiện chí của nhà lãnh đạo. Nhiều khi Thắng nghĩ rằng thà cứ việc lấy bằng tiền những người thường dân rồi cho đón xe ở dọc đường, có lẽ lại còn hơn.
Những chuyến xe buổi trưa thứ bảy và buổi chiều chủ nhật, chuyến xe nào cũng gần tới một nửa số hành khách lính tàu bay. Những chiếc mũ kết xanh trông thật vênh váo khó thương.
Chiếc xe đò đi qua đầu phố chợ, chạy dọc theo bờ sông Đồng Nai rồi ngừng lại để chờ qua cầu. Qua được hai cái cầu ở đầu tỉnh thì kể như đã nhìn thấy Sàigòn. Khi chiếc bảng cấm quay sang màu trắng, anh lơ xe nhắc hành khách như một cái máy:
– Xin cô bác dấu thuốc, xả rác ở trong xe…
Chiếc xe bò lên dốc cầu, qua mặt người lính gác. Anh lơ xe nhìn người lính gác, cười tình… Nụ cười ấy được tái bản nhiều lần trong một ngày. Tiếng gỗ cầu bật lên đập xuống rầm rầm dưới bánh xe. Chiếc cầu sắt đã chịu đựng bao nhiêu đoàn xe hơi, xe lửa hàng mấy chục năm.
Qua hai cái cầu là Chợ Đồn…Một chú Ba Tàu bán bánh bò ngay ở chỗ trạm kiểm soát hay bị các chàng lính tàu bay hỏi nhiều lần:
– Đây là đâu vậy, chú Ba?
Chú Ba thản nhiên trả lời:
– Dạ, đây là chợ Đồn…
Tiếng cười khoái trá nổi lên..Mấy cô học trò ngồi trong xe thẹn đỏ mặt, lơ đãng nhìn về phía đường tàu. Chú Ba nói vần Đ không được, nên phải đổi thành vần L. Nhất là giọng của chú thản nhiên và mặt không hề thay đổi..
Có hôm đi về…không gặp chú Ba Tàu. Vài hôm sau lại thấy chú xuất hiện. Chú kể chuyện bị cảnh sát bắt. Tiếng của chú cứ bô bô ở trạm kiểm soát:
– Ngộ đi bán ở chỗ cấm, bị bắt bỏ vô đồn…Đồn trên bỏ xuống đồn dưới, đông quá là đông. Ông cảnh sát cứ đếm đi đếm lại hoài….
Thắng cố giữ vẻ mặt nghiêm trang mà không nổi. Bên cạnh chàng, tiếng cười đủ hết mọi giọng…Nhiều thằng mua một chiếc bánh bò, mua mà không ăn, để hỏi lại chuyện. Thành ra câu chuyện tự nhiên nhiễm một tí ti mất dạy.
Những ông cảnh sát ở Biên Hoà thật là hiền lành. Cả ngày, chẳng bao giờ đặt cái còi lên miệng. Ông cảnh sát đứng chỉ đường cho xe hơi ở ngã tư đầu chợ, lối vào phi trường, ít khi đứng ở trên bục gỗ. Thỉnh thoảng, nhìn thấy một cái xe hơi chạy ở đàng xa, ông cảnh sát chạy ra làm “chim bay, cò bay” một chút xíu rồi lại đứng vào trong lề đường tránh nắng.
Thắng thấy ở đất Biên Hoà, một cái gì lành và mát như sông Đồng Nai. Thiên hạ sống thật thanh bình. Chẳng bao giờ nghe thấy tiếng súng. Vào cái năm 1955, 1956 chiến tranh chưa xảy ra ở cái đất nước này. Tàu bay khu trục chỉ dùng đạn bắn xuống…sân tập tác xạ Phú Lợi.
Bom napalm vừa thả xuống, xăng đặc chưa cháy hết, lũ trẻ con đã chạy ra, nhặt những mảnh vụn vỏ bom mang về bán cho mấy chú Ba Chợ-lớn lấy nhôm, đúc nồi.
Trong mấy năm ở Biên Hoà, Thắng suýt bị…lấy vợ đến hai lần. Thời gian qua đi, Thắng bây giờ đã hai mươi lăm tuổi. Sống độc thân nhiều khi cũng chán. Mỗi một lần về chơi nhà bà bác ở bờ sông Tân Định, lại nghe các bà chị tính đến chuyện làm mối cho Thắng:
– Thắng có lấy vợ không? Có cái đám ở trước cửa để ý nhiều đến Thắng đấy nhé. Muốn thì chị nói một câu là được ngay.
Thắng nhìn sang căn nhà trước cửa… Người con gái đó tên Lan thì phải, vì Thắng thường nghe ông hàng xóm mỗi buổi chiều lại vác đàn ra ca vọng cổ… “Em Lan ơi, tội tình chi mà em phải đoạ…ư…đầy, cho khổ sở kiếp hồng nhan…”
– Ngoan lắm, Thắng ạ. Ngoan như những người đàn bà ở thế hệ cây kim, sợi chỉ…Thắng cứ viết thư đi rồi chị đưa cho.
Thắng mỉm cười nghĩ đến việc mình viết thư tình. Biết viết cái gì để tỏ tình với một người con gái?… Chị Kim nhét vào tay Thắng một tờ giấy và một cây bút máy.
– Viết đi Thắng..
– Viết cái gì hở chị? Hay là chị đọc cho em viết…
Chị Kim lườm Thắng rồi đi vào trong bếp. Thắng ngồi xoay cái cán bút rồi viết nguệch ngoạc… “Anh yêu em, yêu ghê lắm, yêu cứ như là yêu …gái. Anh có thể mổ bụng, lôi trái tim anh ra đặt trước mặt em, nhưng với điều kiện là ở nước mình phải có một ông thầy thuốc nào khâu bụng anh lại không đau đớn gì cả mà lại không lấy tiền….” Thắng quẳng cái bút xuống bàn. Chị Kim đứng đằng sau lưng Thắng tự hồi nào, đọc qua vai Thắng rồi mắng:
– Rõ là thằng khỉ…Sao lại viết vậy? Nhưng được rồi, để chị đưa cho cô ta.
Thắng ra ngồi ngoài hè. Một cây dừa lẻ loi in bóng xuống giòng sông, nước đục ngầu. Con sông Tân Định này chứa hết rác rưởi của Sàigòn. Những căn nhà nằm chênh vênh trên bờ sông, tố cáo hết cả cái nghèo nàn của xóm này. Bè rau muống trôi lềnh bềnh trên mặt nước, mỗi lúc muốn hái mang đi bán, người ta lại ấn cho chìm xuống rồi khua nước cho những thứ cặn bã nổi trên mặt sông trôi đi hết, rồi mới hái lên chiếc thuyền con. Từ ngày về chơi cái xóm này, Thắng thấy lợm giọng mỗi lần ăn rau muống…
Một viên đạn giấy bắn vào người Thắng đau điếng. Thắng giật mình, nhìn lên…Một chú lỏi nhe răng sún ra cười với Thắng. Tuy rằng tức giận, nhưng Thắng vẫn thản nhiên vì biết rằng nếu để lộ sự tức giận ra, thế nào cũng nhận được thêm vài ba viên nữa. Thắng cầm viên đạn giấy lên, nhìn ngắm như chưa bao giờ được thấy… Lũ em của Lan đấy. Nếu mà lấy Lan, mình phải có trách nhiệm nuôi cái lũ ấy thành người.
Chị Kim ở bếp ra, đứng cạnh Thắng. Hai chị em cứ nhìn vơ vẩn về phía bờ sông. Cây dừa bị sóng vỗ đã trơ cả rễ mà vẫn đứng vững mãi trên bờ. Thắng hỏi chị Kim:
– Hình như ông cụ của Lan bị ho lao?…
– Ừ… Lan nó cũng kể cho chị nghe như vậy. Tội nghiệp ông cụ. Đi làm thư ký suốt đời, bàn tay gầy gò gõ mãi trên chiếc máy đánh chũu, làm gì mà không ho lao.
Thắng thở dài. Chị Kim vuốt tay lên đầu, lau mấy giọt mồ hôi đọng trên trán, trên tóc mai…
– Tại sao Thắng cứ thắc mắc như vậy? Nếu yêu nhau, người ta còn chết vì nhau được cơ mà…
Chị Kim cứ làm như Thắng đã yêu Lan. Chị thuộc vào cái thế hệ Tố Tâm… Dĩ vãng của chị cũng nhiều chuyện đau thương về tình ái. Người yêu của chị đã chết, vậy mà chị cứ trung thành với những kỷ niệm cũ, chờ người yêu đến cả hai chục năm…Thắng cười:
– Nếu mà em yêu, cô ta bảo em chết, em có thể chết, nhưng em chỉ sợ lây cái bệnh của ông cụ…
Chị Kim cũng cười… Hai chị em đi vào trong nhà. Ánh nắng chỉ còn thoi thóp trên các ngọn cây. Một mâm cơm dọn ra đạm bạc. Thắng cũng rất muốn có một gia đình. Buổi tối, ăn cơm xong, nằm đọc báo có vợ ngồi khâu, con ngồi học bài… Cái cảnh gia đình vẽ trong tưởng tượng ấy đẹp biết là ngần nào.
Vài tháng sau, Thắng lại về xóm đó thăm chị Kim. Ông hát vọng cổ ở đầu ngõ vênh mặt nhìn Thắng. Chị Kim bảo Thắng:
– Nó sắp sửa lấy cô Lan.
Thắng chợt hiểu. Thì ra anh chàng đã coi mình như là một kẻ chiến thắng. Mà địch thủ là Thắng thì cũng đáng hãnh diện lắm đấy chứ. Chàng cười thầm và thấy cũng nên để hắn sung sướng. Mình có mất mát gì đâu.
Thắng cố tạo ra một bộ mặt thật buồn… Nhưng khi nhìn sang nhà Lan, chàng bắt gặp một đôi mắt nhìn mình sâu thăm thẳm. Chỉ vì em nghèo… Chỉ vì chúng mình cùng nghèo. Lấy nhau rồi để nối tiếp cái nghèo khó, nó dính lấy mình đời đời, kiếp kiếp…
– Lan nó cứ hỏi thăm đến Thắng luôn…
Thắng lơ đãng nhìn ra ngoài sông. Một con thuyền xuôi nước, lặng lẽ trôi theo mái chèo nhẹ đẩy.
Những cuộc hôn nhân không thành mà thời gian thì cứ qua đi, không bao giờ trở lại… Một năm, hai năm, ba năm. Tất cả đều thay đổi. Những phi cơ F8F, chìm vào trong quên lãng. Bây giờ người ta dùng Skyraider…Khi nhắc nhở tới “chiếc quan tài bay F8F”, chỉ để thương tiếc những anh tài khu trục.
Phi đạo bây giờ bằng bê-tông dài đến ba cây số. Trước cửa Lăng Cha Cả, lúc nào cũng đông thanh niên xin vào lính tàu bay.
Thắng xin đi bay…nhưng vẫn giữ nghề thợ máy. Để gần với trời hơn. Tóc đã bạc đi thật nhiều mà sự nghiệp vẫn chẳng có gì.
Vườn cao su trong căn cứ Biên Hoà đã bị đốn đi gần hết để lấy đất xây cất nhiều doanh trại mới. Thắng bỏ vùng sông nước Đồng Nai để đổi về Sàigòn với nhiều luyến tiếc. Thiện đầu bạc đổi đi Đà Nẵng. Trọng vẫn ở lại leo lên một cái Lầu Gương cao hơn, làm việc suốt ngày, suốt đêm với nhiều mệt mỏi chán chường…
– Có lẽ tao xin giải ngũ… Mà giải ngũ rồi, có lẽ tao phải nằm nghỉ ở nhà mấy tháng rồi mới có thể kiếm việc đi làm trở lại…
Thắng hỏi:
– Mày có bao giờ thấy thích được nhìn lại Hà-nội không?
Trọng không trả lời…Ngoài ấy, gió lạnh, mưa nhiều. Tiếng F.100 cất cánh làm rung mạnh cửa kính. Tiếng súng lẻ tẻ nổ từ phía rừng Tân Uyên trùng điệp….
Đám cưới thằng Pi-lốt Thái Bình không thằng nào được dự. Ngày đó, người ta sửa soạn di cư. Vùng quê của nó, nổi tiếng là vùng có nhiều du kích. Cứ khi nào mặt trời sắp sửa lặn xuống phương Tây là “mấy ổng” lại bò ra, cõng theo mấy cụ Lý đình dù, mời đi cải huấn. Ăn được một bữa cỗ đám cưới mà được cõng đi với cụ thì không thằng nào dám, dù có thằng đã nổi tiếng là mật lớn bằng mật Khương Duy…
Đám cưới của Pi-lốt Thái Bình không có chú rể. Một ông anh họ của nó phải làm chú rể hờ thay nó. Chú rể hờ cũng phải đi đón dâu, bái lễ, làm đủ mọi chuyện như chú rể thật. Thiện đầu bạc, giả vờ ngây thơ hỏi một câu:
– Thế đêm hôm ấy, chú rể hờ có được làm phận sự chú rể không?…
Pi-lốt Thái Bình trợn mắt:
– Đâu có được mày!…
Nó tưởng thằng Thiện ngây thơ, không biết. Ai ngờ lũ quỷ sứ mất dạy, cứ nhất định xô nó vào ngõ bí:
– Mày ở tận đây thì làm sao mày biết?….Ừ, tao hãy hỏi, mày làm sao mà biết được?…
Pi-lốt Thái Bình mặt tái đi vì tức giận. Nó đè cái thằng Thiện đầu bạc ngây thơ xuống giường, nằm lên trên, hai tay bám chặt lấy hai thành giường. Thiện đầu bạc nằm dưới bị nghẹt thở, kêu ú ớ, hết chửi rồi đến lạy. … Nó tha cho Thiện đầu bạc rồi hăm dọa một câu cho tất cả bọn:
– Ông cấm được bàn đến chuyện lấy vợ của ông nữa đấy!…
Buổi trưa hôm ấy khi ngủ dậy, Pi-lốt Thái Bình thấy treo lủng lẳng ở trước giường tấm bảng:” Cấm chọc thú và cho thú ăn.”. Mọi người đã coi Pi-lốt Thái Bình như một con thú dữ bị nhốt trong Sở Thú. Nó tức chửi đổng mấy câu, giựt tấm bảng xé nát rồi xách mũ, mặc quần áo đi bay.
Từ trước đến giờ, nó là kho cười bất tận cho Thắng và tất cả lũ bạn trong cái cư xá độc thân. Ngày ký giấy tòng ngũ ở Đệ tam Quân-khu, nó được ông bố dẫn đi. Ông bố nó thấy Thắng đi cùng với nó, cứ dặn đi, dặn lại:
– Cậu trông nom em nó dùm tôi…
Thắng ngước mắt nhìn lên vì nó cao hơn Thắng đến hẳn một cái đầu. Thắng thấy ông bố nó coi mình lớn hơn nó, khoái lắm, cố làm ra vẻ mặt quan trọng:
– Dạ được, cụ cứ tin ở con…
Thấy Thắng nói vậy, ông bố có vẻ yên chí lớn. Nó thò tay ra bắt tay Thắng. Thắng nhăn mặt muốn kêu lên rồi gỡ mãi mới thoát ra được cái bàn tay chuyên môn cầm cầy cuốc. Lúc bước chân lên máy bay để ra đi, Thắng liếc nhìn sang nó thì ngạc nhiên biết mấy, nước mắt nó chảy dễ dàng xuống hai gò má. Ôi, đẹp làm sao là thân nam nhi bảy thước.
Ngày Thắng ra đi, Hà-nội vào tháng bảy. Trời hay có những trận mưa bất chợt. Đang nắng thì mưa, đang mưa thì nắng…Thời kỳ này vợ chồng ông hàng mắm rất thích “uýnh” nhau… Trên trời, lúc nào cũng có vài ba đám mây đuổi nhau. Khi gặp nhau thì thế nào cũng hợp lại rồi mưa rơi xuống, rửa sạch lá cây sắp đổi màu vàng.
Pi-lốt Thái Bình cũng giống như trời tháng bảy. Vừa cười ngay đấy lại khóc ngay đấy. Con người thật vô tư, một cái tính chất phác, lành như kẹo mạch nha. Phi trường Gia Lâm loang loáng mặt nhựa nước đọng thành vũng, chỗ khô, chỗ ướt. Phi cơ cất cánh, đưa những thằng con trai mặt còn đầy trứng cá, xa dần Hà-nội.
Thắng và cả bọn được gửi vào miền thùy dương cát trắng để học ắc-ê. Cái đất Nha Trang này như cái cổng để vào Không Quân. Trước khi được phân tán đi khắp các ngả đường, đều phải tụ tập ở đây. Những ngày chủ nhật, đường Độc Lập đủ mọi màu áo binh chủng. Màu áo trắng của Hải Quân, màu ka-ki của Không Quân. Màu xám đậm của trường Lục Quân từ Tháp Bà đổ về. Những nàng con gái Nha Trang hình như đã qua nhiều cuộc tình duyên vì những anh chàng người yêu của nàng khi mãn khoá là ra đi, ít khi trở về chốn cũ.
Lúc đi học ắc-ê, Pi-lốt Thái Bình vì cao lớn nhất đám, nên bao giờ cũng là “thằng đứng làm chuẩn”. Có nó, Thắng và lũ bạn có những phút vui thật bất ngờ.
Trung đội của Thắng thường bị làm cái công việc vác súng đi chào các ông lớn. Thường thường máy bay ông lớn tới vào khoản mười giờ. Nơi nhận công điện báo giờ tới của phi cơ, sợ bị xỉ vả, báo lại cho anh Tây lớn nhất là phi cơ tới vào lúc chín giờ. Người ta nghĩ rằng báo sớm còn hơn là muộn. Vì báo muộn, lỡ các ông lớn tới mà không có lính bồng súng chào thì có mà đi ăn mày sớm.
Anh Tây lớn nhất cũng cẩn thận như vậy. Báo ngay xuống là phải sửa soạn ở Ban Huấn-luyện Quân-sự cho xong ngay từ lúc tám giờ. Anh Hai Việt Nam bắt các ông Huấn-luyện viên phải sẵn sàng lúc bảy giờ. Mấy ông Huấn-luyện viên thì ôi thôi, không còn chỗ nào có thể chê được. Mấy ông đánh thức tụi Thắng dậy từ lúc sáu giờ sáng, đi lĩnh quần áo và súng, sang tới sân bay thì vừa đúng sáu giờ rưỡi. Từ lúc sáu giờ rưỡi tới mười giờ , nhịn đói đứng dưới nắng, thời gian chao ôi là dài.
Mỗi lần đi chào các ông lớn, lại phải tới kho Quân-trang, lĩnh một bộ áo quần trắng và một đôi giầy cao cổ. Chào xong, lại phải giặt sạch mang tới trả, chờ tới lần chào sau.
Lần đó, không có một đôi giầy cao cổ nào vừa chân thằng Pi-lốt Thái Bình. Chỉ có một đôi giầy khổng lồ nhưng hai cái lại cùng một chân. Thằng Pi-lốt Thái Bình đánh phải lĩnh vậy. Đôi giầy vĩ đại đến nỗi, hai cái cùng một chân mà hai bàn chân to lớn của thằng Pi-lốt Thái Bình thọc vào vẫn hãy còn rộng. Mấy ngón chân của nó vẫn được tự do ngó ngoáy ở trong giầy. Nó đi như hề Charlot trên màn bạc.
Lúc nó đứng “nghỉ” thì ít nhận thấy. Nhưng khi nó đứng “nghiêm”, hai bàn chân nó cùng vẹo về một phía thì đến đức Khổng Tử, ngài có sống lại, ngài cũng phải bò ra sân nhựa mà cười…
Khi đi chào kính, thường có một ông sĩ quan dẫn đầu. Lần này, ông Trung-úy chỉ huy lấy làm lạ, vì khi hô “nghiêm” lại có tiếng cười khúc khích. Tức quá, ông quát tướng lên:
– Ông nào cười thế?…Có giỏi cười to nữa lên xem nào….
Tiếng cười im được một lúc, nhưng rồi vẫn không kìm hãm được, lại bật ra…Ông Trung-úy lại gắt:
– Cười cái gì mới được chứ?… Các ông này lạ thật…
Thắng vội chỉ ngay vào đôi giầy của Pi-lốt Thái Bình. Vừa thấy đôi giầy, ông Trung-úy bật phì cười. Thắng và cả lũ bạn thấy vậy được thể, cười…ôm bụng mà cười… Có thằng cười đánh rơi cả súng. Ông Trung-úy thì luôn miệng kêu trời ơi, và mỗi một lần kêu trời ơi thì ông lại nắm trên đầu ông, dứt ra được một dúm tóc.
Khi ngớt cơn cười, ông Trung-úy bảo Pi-lốt Thái Bình:
– Thế mà ông đứng hàng đầu thì có chết cha người ta không…Mời ông đứng xuống dưới dùm cho.
Thằng Pi-lốt Thái Bình đứng xuống hàng dưới. Nhưng mà nó cao quá, nên cái đầu của nó cứ thò lên. Trông chẳng mỹ thuật chút nào mà khi hô “nghiêm” vẫn có tiếng cười.
– Thôi mời ông về phòng nằm nghỉ đi cho được việc…
Thằng Pi-lốt Thái Bình khoái lắm, trông phởn ra mặt. Cái mặt hí hửng con nít của một thằng lớn tồng ngồng, trông nó buồn cười lắm. Khi trả giầy và quần áo cho kho Quân-trang, nó cứ căn dặn ông Quản bò đá coi kho:
– Lần sau lại cứ đưa cho tôi đôi giầy ấy nhé.
Bởi vậy, lần sau đi chào ông lớn, nó lại được về phòng nằm nghỉ. Nhiều thằng, trong số đó có Thắng, tức quá, nghĩ cách đổi giầy cho nhau, nhưng bị khám phá ngay. Bị khám phá ra là bị phạt chạy toé khói mà vẫn bị đi vác súng chào như thường.
Chuyện cười của Pi-lốt Thái Bình còn rất nhiều. Sau hơn một năm, phân tán đi các trường, lúc mãn khoá trở về, lại gặp nhau gần đông đủ ở nơi đây. Cái cư xá độc thân lại thu nhận tất cả. Những kỷ niệm ngày xưa làm cho Thắng và các bạn thấy gần nhau hơn.
Ngày đó, dân tàu bay ít lắm, chỉ có vài trăm ngoe. Đi tới đâu cũng gặp những người quen thành ra ít cảm thấy cô đơn để phải nằm đùa với muỗi….
Thế mà bây giờ, Pi-lốt Thái Bình lại đi lấy vợ trước nhất, bỏ anh em ở lại cái cư xá độc thân này. Nó sắp có một cái gia đình riêng biệt… Nó bỏ anh em nó đi.
Sau ngày cưới, ông bố nó dẫn vợ nó vào trong này cho nó… Tụi Thắng cứ chờ để được mời ăn. Nhưng Pi-lốt Thái Bình cứ lờ đi, không thèm mời ăn để giới thiệu vợ. Bởi vậy, Thắng phải mở đề:
– Mày chưa cho tụi tao ăn để giới thiệu bà đầm nhà mày…
Pi-lốt Thái Bình thản nhiên:
– Cưới từ đời tám hoánh nào rồi, còn ăn uống cái mẹ gì nữa.
Thiện đầu bạc giáng thêm một búa thật nặng:
– Lỡ tụi tao đi đường gặp vợ mày, tụi tao không biết, tụi tao tán lầm phải, có phải ê mặt mày không?…Rồi thế nào cũng có ngày tụi tao tới chơi với mày. Vợ mày nhớ mặt tụi tao, vợ mày nó bảo mày rằng bạn của mày đi tán gái ở ngoài đường. Lúc ấy thì mày trả lời vợ mày ra làm sao?…
Pi-lốt Thái Bình thộn mặt ra rồi thở dài một tiếng nghe thật não nùng. Lũ bạn bè nói cũng có lý. Cho chúng nó ăn một bữa để rồi chúng nó không trêu vợ mình, chẳng lấy gì làm thiệt:
– Thôi thì tao đành…tháng này chỉ được lĩnh có nửa tháng lương. Chiều thứ bảy này, tụi mày tới…
Nó chỉ vào mặt từng thằng …
– Thằng Thắng này, thằng Thiện này, thằng Trọng này…Một, hai, ba…Chỉ được tới mười thằng thôi đấy nhé. Mười một thằng tới thì đừng có hòng ăn…
– Nhưng mười thằng, với mày, với vợ mày, với ông bố mày là mười ba. Mày không sợ con số mười ba sao?…
Pi-lốt Thái Bình vung một cánh tay vào không khí:
– Ông cóc cần…Ông lái tàu bay “bà già”. Tàu bay có ục oặc, ông cũng còn lượn xuống được. Nó đâu có rơi như một cục đá. Với lại con người ta sống hay chết, cái số mười ba nó có làm gì được nhau…
Pi-lốt Thái Bình nhiều khi cũng cảm khái lắm. Bao giờ cũng thờ một chủ nghĩa ăn là phải no, uống là phần sau.
Thắng tới nhà Pi-lốt Thái Bình thấy nó đang ngồi ngắm mấy con chó con nằm thu gọn phơi nắng trông thật xinh xắn dễ thương.
Có một con chó nổi hứng, chạy hết tốc lực từ nhà trong ra đến nhà ngoài, gần đến cửa thì thắng thật gấp lại để cho đà chạy kéo lê chĩu hẳn hai chân sau và mông xuống. Pi-lốt Thái Bình bảo Thắng:
– Mày thấy không?…Như là biểu diễn đua xe hơi.
Thắng và Pi-lốt Thái Bình ngồi nói về những “chuyện chó đẻ”. Không thịt gì ngon bằng thịt chó. Hôm nào những con chó này lớn, mình đi một đường thịt cầy bảy món. Vợ tao thì nó cứ nói rằng thiếu gì những thứ thịt để ăn mà lại phải ăn thịt chó. Rõ thật đàn bà ngu có khác.
Vợ Pi-lốt Thái Bình đi ra nhà ngoài. Trông người đàn bà có vẻ hiền, nhưng cái đôi mắt lá dăm làm cho Thắng thấy cả mùi gạo tám thơm của miền Bắc. Thắng nói đùa:
– Chị cho xin một con chó con để nuôi, thay cho con vợ chẳng bao giờ có thể có tiền cưới…
Pi-lốt Thái Bình trợn mắt:
– Chúng nó thì quý hoá gì chó…Chúng nó thì chỉ họp vài ba thằng rồi đưa con chó vào bụng, nuôi cho thật kín đáo.
Vợ Pi-lốt Thái Bình thấy nói đến chuyện ăn thịt chó thì mặt tối hẳn lại. Tới đây, Thắng mới thấy cái dịu dàng tinh nghịch của đàn bà xứ Bắc:
– Dạ, thưa anh, bây giờ nó còn bé lắm. Anh đợi mấy hôm nữa, nó khôn lớn lên một tí nữa thì anh tới mà….lấy chó.
Mặt của Thắng vụt đỏ bừng. Ai bảo nghịch dại đùa với lửa?
Lũ bạn Thắng và Pi-lốt Thái Bình đã tới đông đủ. Ông bố Pi-lốt Thái Bình ở trong nhà ra, bắt tay cả lũ:
– Các cậu là ở “Sở phi công” cùng với em?…
Tất cả mười thằng ngơ ngác nhìn nhau… Chẳng hiểu cái “Sở phi công” nó là cái sở quái quỷ gì. Thiện đầu bạc thông minh nhất đám, vội trả lời:
– Dạ, thưa cụ, chỉ có mấy anh này là làm ở “Sở phi công”. Còn chúng cháu thì là ở Sở Súng, Sợ Thợ máy, Sở la-dô, Sở Lầu gương…
Ông cụ già cũng chẳng cần hiểu mấy cái sở ấy nó như thế nào. Người đàn bà xin phép vào trong nhà, trông coi bếp. Vợ Pi-lốt Thái Bình đi rồi, mấy thằng khốn nạn xúm nhau phê bình. Da cũng trắng đấy chứ… Nhưng phải cái hai hàm răng hơi đưa về đằng trước. Thiện đầu bạc kéo Pi-lốt Thái Bình lại gần bảo nhỏ:
– Đừng có dại dột cãi nhau với vợ mày. Răng ấy mà nó bổ vào trán cho một cái thì bỏ mẹ…
Trọng, chàng thi sĩ của Lầu Gương vội an ủi:
– Cũng chẳng thiệt, Thái Bình ạ… Đi đường, lỡ gặp mưa, bảo vợ chìa răng ra, đứng ở dưới, đâu có ướt được…
Mặt Pi-lốt Thái Bình cứ ngây ra một cách thật là dễ thương. Thắng thấy yêu cái khuôn mặt ấy. Nó kể chuyện về cái nghiệp dĩ của nghề lái tàu bay. Trời đã định cho như vậy. Khi nó vừa “đầy tuổi tôi” thì cả nhà nó bầy tiệc ăn mừng, đem tất cả các thứ ra chung quanh nôi của nó để cho nó chọn nghề. Nếu nó mà cầm cây bút, cuộc đời của nó về sau thành ông Phán gậm giấy. Nếu mà nó cầm lấy cái kìm, cuộc đời của nó sẽ tối tăm ngay vì có danh giá mẹ gì cái nghề thợ máy. Nó vênh mặt nhìn Thắng… Thợ máy tàu bay hay thợ máy xe đạp cũng chỉ có một cái tên chung là thợ máy.
– Thế thì mày cầm lấy cái gì?…
– Tao chẳng cầm cái gì cả. Chỉ nắm “con chim” nghịch chơi. Cả nhà tao ngạc nhiên, không biết tao sẽ làm cái nghề gì…
Nó cười hề hề, kết luận:
– Đến bây giờ ông mới biết, cái nghề ấy nó là cái nghề tài xế tàu bay.
Pi-lốt Thái Bình cười vang….Nước bọt văng bắn cả vào mặt thằng ngồi trước mặt. Cái thằng này thật khốn nạn. Lần sau có nói chuyện thì phải báo trước để ông còn mặc áo mưa…
Nhưng tất cả im lặng ngay câu chuyện đang bỏ dở. Vợ Pi-lốt Thái Bình đã mang thức ăn lên. Thịt gà chặt từng miếng to bằng nắm tay. Các bát xào nấu trông thật vĩ đại. La-de mở, rót đầy tràn cả ra ngoài ly…Ông cụ nó xoa hai tay vào nhau:
– Các cậu cứ tự nhiên như ở nhà…Ngày tôi mà bằng tuổi các cậu là tôi ghê lắm….Các cậu bây giờ chẳng thấm vào đâu. Nào mời các cậu…
Ông cụ già ba hoa như hai đàng trai, đàng gái thi tài ăn nói. Tự nhiên Thắng và cả bọn cảm thấy cần phải có một sự làm khách. Có một cái gì chưa được thật thực tình. Cả bọn ăn nhỏ nhẻ như con gái. Vài ba thằng lại còn kêu bia đắng, đòi uống nước cam. Ông cụ thấy vậy, tiếp cho mỗi thằng một cái đùi gà rồi lại bắt đầu kể “ngày tôi bằng tuổi các cậu…”. Pi-lốt Thái Bình mặt nhăn nhó quát lên vang nhà:
– Tới mười hai giờ đêm là dẹp đấy. Ăn đi, đừng có làm bộ, làm tịch….
Thế là ông cụ già hết nói chuyện “ngày tôi bằng tuổi các cậu…”. Chúng nó uống bia ừng ực….Khi bia mở đến két thứ tư thì không thằng nào còn giữ gìn gì được nữa. Chúng nó hỏi Pi-lốt Thái Bình chỗ đi tiểu…Chúng nó hối bà chủ đi mua thêm la-de. Có mấy thằng mà tưởng như muốn vỡ nhà. Hàng xóm đã có nhiều người tức, mở mạnh cửa sổ. Tiếng chúng nó vẫn oang oang:
– Mày ngồi gần gắp cho tao miếng thịt gà…
– Không phải…miếng thịt gà. Phải gọi là …cục thịt gà. Cho tao một …cục thịt gà. Nghe không?
Thằng đó đứng dậy, co tay, duỗi mấy cái như để tập thể thao rồi mới gắp cho thằng kia miếng thịt gà. Nó gắp bằng hai tay, ra cái điều nặng lắm. Tất cả cười vang… Cả bà nội trợ cũng cười. Vui vẻ cả làng.
Rồi câu chuyện xoay quanh về phía nịnh bà chủ. “Chị đã thấy cao bồi phi ngựa chưa? Chị thì không nên phi ngựa mà chỉ nên cắt cái mớ tóc dài…phi-dê”. Vài ba thằng mách nơi may áo dài, mách nơi đánh đồ vàng đẹp. Pi-lốt Thái Bình chửi:
– Sư mày, chỉ bày đặt cách làm hại!
Thắng hỏi:
– Chị người ở đâu ta?
– Tôi ở Duyên Hà…
Trọng thi sĩ lúc nào cũng có một mớ ca dao ở trong đầu, thanh cũng có mà tục cũng có. Nó cất tiếng ngâm nga:
– “Có phải con mẹ con cha, thì sinh ở đất Duyên Hà, Thần Khê”. Ấy, ông Lê Quý Đôn cùng quê với chị đấy…
Vợ Pi-lốt Thái Bình thích chí, cười luôn. Nhưng kẹt cái thằng chồng. Nó biết rõ lũ qủy sứ nhiều quá.
– Nịnh cũng chẳng được mời ăn nữa đâu.
Theo đúng lời Pi-lốt Thái Bình giao trước, bữa tiệc tàn đúng vào lúc mười hai giờ. Trên bàn, không còn một món gì. Thắng và cả bọn đứng dậy, cám ơn vợ chồng Pi-lốt Thái Bình rất trịnh trọng, chào ông cụ rồi ra đạp máy xe, tiếng máy nổi vang ầm một góc phố. Vợ Pi-lốt Thái Bình đứng tần ngần. Có mười thằng với ba người nhà mà la liệt, đếm vừa đúng một trăm tám chục chiếc ve chai không.
Nhan đề “Ngậm Ngùi Tháng Tư” trên bìa cuốn sách của tôi, đã khiến cho một người bạn, khi cầm cuốn sách này trong tay, đã nói thẳng với tôi: “Tôi không hiểu vì sao mấy ông cứ tiếc nuối dĩ vãng, mà không đoạn tuyệt nó đi để sống với hiện tại. Cái này là cái người ta nói là ‘hội chứng Việt Nam’ (hay hội chứng chiến tranh Việt Nam).”
Tôi không muốn trả lời câu hỏi của người bạn, vì tôi biết ông bị ám ảnh bởi câu chuyện “Hội chứng chiến tranh Việt Nam” trên báo chí Mỹ hơn là chính bản thân ông cũng như tôi, những người Việt Nam đã qua một cuộc chiến tranh dài trên đất nước, nhưng hiện nay đang có một sống bình thường trên đất Mỹ.
Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, một số cựu chiến binh Mỹ trở về nhà, vẫn còn mang nỗi ám ảnh tâm lý được đặt tên là “Hội chứng chiến tranh Việt Nam.” Theo chính phủ Mỹ, có 15% cựu chiến binh Mỹ từ Việt Nam trở về bị rối loạn tâm thần vì những ám ảnh trong thời gian họ đã tham chiến, đưa đến việc có nhiều người tự sát.
Năm 1967, trong thời gian theo một khóa học tại Mỹ, tôi được dịp theo một sĩ quan “sponsor,” gốc Texas, đã có thời gian là cố vấn Thiết Giáp cho VNCH tại Pleiku đến thăm một dân biểu thuộc địa hạt của ông tại văn phòng Hạ Viện Hoa Kỳ tại Washington, DC. Vị dân biểu này đã không kiêng dè, trước sự có mặt của tôi, đã nói với người sĩ quan quen biết của ông: “I don’t know why we are there!” (Tôi không hiểu vì sao chúng ta lại có mặt ở đó!) (Việt Nam). Khi một vị dân cử đã “không hiểu” như vậy, làm sao người lính viễn chinh trở về quê hương được đón tiếp như những anh hùng!
Cuộc chiến Việt Nam đã gây chia rẽ trong nhân dân Mỹ, ngay cả Quốc Hội cũng không đồng tình, phong trào phản chiến nổi lên khắp nơi. Những điều đó chưa hề xảy ra sau Thế Chiến 2 và Chiến Tranh Triều Tiên.
Những người lính Mỹ sau khi trở về mang thương tật thể xác và ý chí mệt mỏi, mất lòng tin vào đất nước, sống không có mục đích. Thất nghiệp, ma túy, không gầy dựng được mái ấm gia đình nhiều cựu chiến binh đã trở thành những kẻ không nhà.
Chiến binh Mỹ là những người đang tuổi thanh Xuân, sống trong một đất nước thanh bình, yên ổn, no ấm, chưa hề nghe tiếng bom đạn, chắc chắn phải ngỡ ngàng khi được đưa đến một chiến trường xa xôi vùng nhiệt đới với những trận chiến khốc liệt, ở một hoàn cảnh văn hóa, ngôn ngữ xa lạ, và nhất là thanh niên Mỹ không phải ai cũng biết đến lý tưởng vì sao họ phải đến đây! Một phần cũng chính phong trào phản chiến đã gây cho người cựu chiến binh những mặc cảm về những ngày đi chiến đấu ở ngoài đất nước của mình.
Đôi khi người ta dùng “hội chứng Việt Nam” như là một cái cớ để bào chữa cho tội ác. Khoảng năm 1982, tại tiểu bang New York, một thiếu nữ Việt Nam, buổi chiều trở về ngôi nhà cũ để lấy thư, đã bị một cựu chiến binh Mỹ tấn công và hiếp dâm. Ra tòa bị cáo được trắng án vì y khai rằng, y bị ám ảnh người thiếu nữ này là nữ một cán binh Việt Cộng.
Nhưng không phải cựu chiến binh Hoa Kỳ nào cũng mang nặng “hội chứng Việt Nam.” Thượng Nghị Sĩ John McCain là một trường hợp điển hình. Máy bay ông bị bắn rơi tại Hà Nội, bị gãy hai tay và một đùi. Trong nhà tù Cộng Sản, ông bị đánh đập, đối xử tàn tệ, trong hơn 5 năm bị giam cầm, ông đã chịu 2 năm biệt giam. Trở về Mỹ năm 1973, ông phải vào bệnh viện và chống nạng trong một thời gian dài, gia đình đổ vỡ… nhưng cuối cùng ông đã trở thành thượng nghị sĩ và đã hai lần tranh cử tổng thống. Cũng trở về từ Việt Nam, Trung Úy John Kerry đã thoát khỏi “hội chứng Việt Nam,” trở thành thượng nghị sĩ, ứng cử viên tổng thống, rồi ngoại trưởng.
Chúng ta không thể đem điều gọi là “hội chứng Việt Nam” để gán ép cho những cựu chiến binh VNCH. Họ lớn lên trong một đất nước chiến tranh, từ thuở nhỏ đã nghe tiếng bom đạn, thấy sự tàn ác của những người Cộng Sản, từ thời Việt Minh “cắt cổ, mổ bụng” đến cuộc đấu tố địa chủ, bước tới cuộc thảm sát Mậu Thân, nào là chuyện giật mìn xe đò, pháo kích vào trường học… nên chuyện cầm súng chống lại cuộc xâm lăng của Cộng Sản Bắc Việt là một điều tất yếu, không có con đường nào khác. Có thảm trạng đau lòng xót xa nào gây ấn tượng như cuộc lui binh Tháng Ba, 1975, những ngày tháng tù đày chết mòn nơi chốn rừng thiêng nước độc, những thảm cảnh gia đình đổ vỡ tan nát, chia lìa sau khi miền Nam thất thủ, những cuộc vượt biển chết chóc kinh hoàng, nhưng rút cuộc con người Việt Nam vẫn can trường đứng lên, không ai điên loạn, cũng không ai ra nằm đường.
Chúng ta đã có những người bạn chịu cảnh tù đày 13, 18, 23 năm, đói khát, đau ốm, mòn mỏi, đến Mỹ vẫn gia nhập sinh hoạt cộng đồng, làm việc tất bật từ hai ba mươi năm nay, để nuôi con ăn học và gia đình có được cuộc sống ổn định hạnh phúc ngày hôm nay.
Chúng tôi đã tiếp xúc với những vị bác sĩ tâm thần hai vùng Nam Bắc California, là nơi có nhiều thuyền nhân và cựu tù nhân chính trị định cư đông nhất, thì không thấy có triệu chứng tâm thần trong hai giới này. Một số rất ít được hưởng tiền trợ cấp “disability” về bệnh tâm thần trong cộng đồng Việt Nam vẫn có một đời sống bình thường, không có triệu chứng điên loạn làm ảnh hưởng đến xã hội và chương trình y tế.
Cách đây nhiều năm, tại miền Đông Hoa Kỳ, một lần nữa, “hội chứng Việt Nam” được dùng như một luận cứ bào chữa cho một bị can, cựu quân nhân, tù “cải tạo” VNCH đã dùng dao giết vợ. Ra trước tòa, luật sư của bị cáo, đã khôn khéo dùng “hội chứng chiến tranh Việt Nam,” bào chữa rằng bị cáo luôn luôn bị ám ảnh vì thời gian bị áp bức, đày đọa trong tù, nên khi ông cầm dao giết vợ, ông có sự hoang tưởng đang giết một tên nữ cán bộ trong trại tù vì quá phẫn uất. Kết quả là người cựu quân nhân này được tha bổng. Tôi cho rằng đây là một luật sư giỏi biết lợi dụng cái “hội chứng” của những người cựu quân nhân Mỹ để thuyết phục bồi thẩm đoàn và cũng nhờ án lệ của một vụ tương tự. Trong cộng đồng Việt Nam lâu nay chưa thấy một trường hợp thứ hai liên quan đến “hội chứng Việt Nam” như thế xảy ra như rượu chè, ma túy, đốt nhà, giết người, tự tử hay phải ra nằm đường.
Còn như chuyện một người vượt biển, một người “tù cải tạo,” một người cựu quân nhân, ngày nay được ra nước ngoài vẫn chưa quên được những ngày tháng cũ. Lẽ cố nhiên có mất mát, có cay đắng thì người ta sẽ nhớ lâu hơn. Một người có con mất tích trên biển, một người tù mang những vết thương, bệnh tật chưa lành, một cựu chiến binh trong chiến trận, đã bỏ anh em, bạn bè lại. Nếu vào những dịp đáng nhớ, chúng ta có cử hành những buổi lễ, làm lễ tưởng niệm cho những người đã khuất, hoặc dù có kể lể khóc than đi nữa, thì điều đó có làm gì hại cho ai, và đâu có thể gọi là một hội chứng, là hội chứng Việt Nam, hay hội chứng chiến tranh Việt Nam.
Người ta nói có những điều có thể tha thứ nhưng không thể quên. Chúng ta cũng đừng trách thực tế nhiều người không thể quên và cũng không thể tha thứ!
Bạn khuyên sao không đoạn tuyệt với quá khứ để sống với hiện tại. Chỉ có những người điên loạn và những người lú lẫn mới không có quá khứ, và những người này trong xã hội chúng ta cũng chỉ là thiểu số nhỏ nhoi không đáng kể.
Tôi không nhớ ai đã nói câu: “Đọc lịch sử như bóc một củ hành, càng đọc càng chảy nước mắt!” Năm nào vào Tháng Tư, ít nhiều tư liệu lịch sử cũng tình cờ hiện ra dưới mắt chúng ta. Dù ít hay nhiều nó cũng gây xúc động trong lòng bạn, là con người có tình cảm, biết yêu thương nhưng cũng có căm ghét, không phải là những con người dửng dưng, vô cảm.
Quên hay chưa quên thì mỗi người trong chúng ta, mỗi năm đến Tháng Tư, cũng phải nhớ rằng: “Tôi là ai và vì sao tôi đến đây?”
Có lẽ trong số khách đi xem cuốn phim tài liệu “Last Days in Vietnam” (Những ngày cuối cùng ở Việt Nam) tại rạp University 6 ở Irvine hôm 1 tháng 10 vừa qua, ba đứa cháu ngoại của tôi là những khán giả trẻ nhất. Mặc dù cuốn phim được giới phê bình Mỹ đánh giá rất cao, 96% trên Rotten Tomatoes, tôi vẫn có chút ngại ngần không muốn rủ bọn trẻ đi xem, sợ chúng chán với cuốn phim tài liệu kể về những sự kiện xảy ra lúc chúng chưa sinh ra đời. Tôi cũng không muốn chúng phải kinh nghiệm những khổ đau thế hệ trước đã trải qua dù là gián tiếp. Nhưng trong thâm tâm, tôi vẫn tha thiết muốn cho chúng hiểu được tại sao cha ông chúng đã có mặt trên đất nước Hoa Kỳ này và tại sao thế hệ tôi vẫn còn khắc khoải và lo nghĩ về những gì đang xảy ra nơi cố quốc.
Trong hơn một tiếng rưỡi đồng hồ, cuốn phim kể lại những nỗ lực tuyệt vọng và bi tráng của thủy quân lục chiến và nhân viên Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ nhằm di tản những công dân Việt Nam Cộng Hòa có khả năng bị trả thù khi quân đội Bắc Việt chiếm lấy miền Nam.
Cảnh tượng cả Mỹ lẫn Việt hốt hoảng chen lấn tìm đường di tản trước cuộc tiến quân của Bắc Việt trong những ngày cùng tháng tận của miền Nam đã làm người xem phim như sống lại những ngày tháng bi thảm đó, đau đớn như một lần nữa mất nước.
Đạo diễn Rory Kennedy đã cố gắng xây dựng một đánh giá khá quân bình về trách nhiệm và đặc biệt là tư cách của những người Mỹ và Việt, ở cả vai trò quyết định hay nạn nhân của cuộc chiến. Tổng Thống Nixon cam kết sẽ trả đũa bất kỳ cuộc tấn công vi phạm hiệp định hòa bình nào của Cộng Sản Bắc Việt và bảo đảm tiếp tục chi viện cho Việt Nam Cộng Hòa để bảo vệ chế độ dân chủ của miền Nam. Nhưng những lời hứa trên văn bản này cũng chỉ là giấy lộn khi chế độ dân chủ tại Hoa Kỳ không chấp nhận một tổng thống như Nixon lạm quyền đi nghe lén đối thủ chính trị của mình.
Cảnh di tản tại Tòa Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn.
Đại Sứ Martin cứng đầu không chịu chuẩn bị kế hoạch di tản vì mãi hy vọng về một giải pháp chính trị cho miền Nam và cũng không muốn thông tin về di tản sẽ làm dân miền Nam hoảng loạn. Nhưng trong vài ngày cuối, ông Martin lại ra lệnh cho thủy quân lục chiến Mỹ cho phép mỗi chuyến bay rời tòa đại sứ ra Hạm Đội 7 chỉ được chở một số ít nhân viên Mỹ còn lại là người Việt Nam để di tản được càng nhiều người Việt càng tốt. Chính ông Martin đã chỉ lên chuyến trực thăng kế cuối rời tòa đại sứ khi biết rằng đã tận lực, không thể làm gì hơn cho số người Việt còn kẹt lại.
Tổng Thống Henry Ford cũng đã không quay lưng lại với Việt Nam Cộng Hòa hoàn toàn khi vào ngày 10 tháng 4, 1975 đã đọc diễn văn trước Quốc Hội Mỹ về tình hình Việt Nam và yêu cầu Quốc Hội chấp thuận một ngân khoản 722 triệu đô la để viện trợ khẩn cấp cho miền Nam Việt Nam. Và Quốc Hội Mỹ, mà nhiều người Việt Nam tỵ nạn sau này đã đổ lỗi cho Đảng Dân Chủ lúc đó đang chiếm đa số, đã không đồng ý cấp viện trợ theo yêu cầu của Ford. Không phải vì họ thiên tả hay chủ hòa nhưng vì cả nước Mỹ đã quá mỏi mệt với cuộc chiến; họ không tin vài trăm triệu đô có thể thay đổi tình thế khi trong hơn 15 năm Mỹ đã đổ hàng tỷ đô la và 58 nghìn mạng sống con dân của họ mà vẫn không đạt được kết quả.
Cuốn phim cũng phần nào giải thích vì sao dân miền Nam lại hoảng loạn chạy trốn Cộng Sản. Chỉ trong 15 phút đầu, cuốn phim đã kể lại vắn tắt vụ thảm sát tại Huế trong Tết Mậu Thân, khi hàng ngàn người dân cố đô vô tội bị trói tay từng chùm và dẫn đi mất tích, và sau đó là cảnh những thân nhân vật vã than khóc trước những nấm mồ tập thể và những thi hài bó trong mảnh poncho. Nỗi ghê sợ của vụ thảm sát Mậu Thân và sau này là biến cố trên “đại lộ kinh hoàng” vào mùa Hè 1972 đã khiến người dân miền Nam bất chấp mọi giá phải bỏ chạy càng xa Cộng Sản càng tốt. Nỗi ám ảnh đó đã khiến người chạy loạn trao cho người thân hay thậm chí người lạ những đứa con còn nhỏ của mình để mong chúng được đem đến vùng đất an toàn và tự do mà bố mẹ chúng đã chọn để sống.
Sự hy sinh trong chia ly đó đã bắt đầu từ 1954, đến 1972, 1975, cho đến suốt thập niên 80, người Việt vẫn tiếp tục ra đi, dấn thân vào mọi hiểm nguy chết chóc băng rừng vượt biển để tìm đến những đất nước mà họ tin có thể tiếp tục được sống trong tự do và nhân phẩm.
Khi ra khỏi rạp, cô cháu hỏi tôi, “Trong những giờ phút cuối cùng ấy, người ta chen chúc nhau để được ra đi, thì ông ngoại ở đâu?”
Tôi nói cho cháu rõ vào những “last days” ấy tôi phải ở lại với đơn vị cùng với những người lính của tôi. Không phải ai cũng có cơ hội ra đi, và đi được. Cũng như số phận một sĩ quan trong quân đội VNCH trong phim là Trung Úy Phạm Hữu Đàm bị kẹt lại phải đi “học tập cải tạo“13 năm trong nhà tù Cộng Sản, tôi cũng ở lại với 7 năm tù từ Nam ra Bắc. Còn đứa cháu trai nhỏ nhất thì ôm tôi và nói, “Con cám ơn ông ngoại!” Tôi không hỏi xem cháu nó cám ơn tôi về điều chi! Nhưng tôi cám ơn chúng đã “chịu khó” nghe tôi bỏ cả buổi tối đi xem cuốn phim này.
Bích chương “Last Days in Vietnam.”
Để biết thế hệ cháu tôi nghĩ gì về những gì đã xảy ra cho thế hệ cha ông của chúng sau khi xem phim, tôi có một yêu cầu là tất cả đều phải viết cho tôi một vài dòng cảm tưởng. Dưới đây là “bài thu hoạch” (!) của chúng, lẽ cố nhiên bằng Anh ngữ, xin tạm dịch:
“Thật là một kinh nghiệm không tưởng tượng được khi ngồi và xem bộ phim này trong một rạp hát với các cá nhân và cựu quân nhân đã có mặt tại miền Nam Việt Nam vào thời điểm đó. Khi xem phim, tôi gần như có thể cảm thấy sự hoảng sợ mà tất cả người miền Nam đã trải qua khi họ cố gắng một cách tuyệt vọng để chạy trốn khi quân Bắc Việt đang tiến dần vào thành phố. Cuốn phim tài liệu này đã thực sự mở mắt cho tôi, một người Mỹ gốc Việt, để thấy rằng một sự kiện bi thảm như vậy đã xảy ra và để biết dù muốn hay không gia đình tôi đã phải sống qua tấn bi kịch này.” (HDP, 25 tuổi, 24 năm ở Mỹ)
“Cuốn phim ‘Những Ngày Cuối ở Việt Nam’ đã cho tôi biết về những ngày cuối cùng của cuộc chiến đã xảy ra như thế nào cho những người liên quan. Trước khi xem phim, tôi thực sự không biết những gì đã xảy ra trong những khoảnh khắc cuối cùng của cuộc chiến, nhưng bây giờ, tôi cảm thấy như tôi hiểu nó rõ ràng hơn. Điều khiến tôi cảm động là xúc cảm mạnh mẽ của ông tôi đối với những cảnh miêu tả trong phim. Việc ông tôi khóc khi xem cảnh hạ cờ Việt Nam trên những chiếc tàu hải quân Việt Nam tại vịnh Subic, cùng với cảnh mọi người hát quốc ca miền Nam Việt Nam đã giúp tôi hiểu sự quan trọng của cuộc chiến đối với những người liên quan. Thay vì chỉ là một phần của lịch sử mà tôi đã đọc trong các cuốn sách giáo khoa, cuộc chiến vẫn còn rất mới để còn có những ảnh hưởng đến ngày hôm nay. Tôi đã học được rằng ngay cả bây giờ, những ảnh hưởng của chiến tranh vẫn còn tồn tại và tác động đến cộng đồng Việt Nam, điều mà tôi đã không thực sự chú ý đến trước khi xem cuốn phim này.” (LKN, 19 tuổi, sinh ở Mỹ)
“Trước khi xem phim, tôi không biết thời điểm của những biến cố dẫn đến việc Việt Nam trở thành một quốc gia Cộng Sản. Tôi lớn lên chỉ biết rằng Đảng Cộng Sản nắm quyền vào tháng 9 năm 1975; họ đã phá vỡ hiệp định hòa bình giữa miền Bắc và miền Nam, và miền Nam đã thua trận. Cuốn phim tài liệu rất có giá trị thông tin. Tôi đã biết được những thông tin mà trước đây tôi không thể tưởng tượng đã có ảnh hưởng đến cuộc chiến như thế nào, chẳng hạn như việc Cộng Sản đã thấy một cơ hội xuất hiện khi Nixon từ chức tổng thống! Bộ phim đã đào sâu các chi tiết như vậy, nhưng nó vẫn rất dễ hiểu. Tôi thậm chí đã khóc khi xem đoạn thuyền trưởng của một tàu hải quân Việt Nam đã phải hạ lá cờ quốc gia thua cuộc của mình để Cộng Sản khỏi nhìn thấy.” (HCP, 15 tuổi, sinh ở Mỹ)
Đọc những dòng cảm tưởng của ba đứa cháu, tôi lấy lại niềm tin vào thế hệ trẻ lớn lên sau cuộc chiến và ở nước ngoài; chúng vẫn đủ tri thức và tấm lòng để hiểu những gì xảy ra cho quê hương và ông bà cha mẹ của chúng 40 năm trước. Có những điều tuổi trẻ cần quên, như lòng căm thù hay sự phản bội. Nhưng có những điều tuổi trẻ cần nhớ, như lý do chúng có mặt trên đất Mỹ này và nỗi khổ đau dân tộc của chúng vẫn đang gánh chịu trên quê hương Việt Nam. Tôi đã không đủ sức để kể một phần đời của mình cho chúng, thì thôi mượn cuốn phim của người để nói hộ những điều mình muốn nói với thế hệ mai sau.
Có những điều không nhớ thì sẽ không “lớn nổi thành người”…Việt Nam.
Bà Kennedy sửa soạn đón con trai. Vợ ông đại tá viết thư cho bà, báo chuyện Allen có cuộc phiêu lưu với một thiếu nữ Nhật và ông đại tá cho chàng về nhà để tránh cuộc hôn nhân này và để cứu vãn một trong số những sĩ quan ưu tú của ông.
Bà Kennedy đưa bức thư cho chồng, rồi kín đáo đưa cả cho Cynthia, vì ông có dặn dò bà đừng nói chuyện này với ai.
Cynthia không bình phẩm gì. Nàng đọc kỹ trước khi trả lời bà Kennedy.
– Những bà vợ các ông đại tá chẳng đã có tiếng là…
– Là làm sao vậy?
– Ngồi lê đôi mách – cuối cùng Cynthia nói.
– Có lẽ thế – bà Kennedy công nhận. Nhưng Allen là một thanh niên. Và nó sống đã mấy năm ở xa cách xã hội chúng ta. Ta cần sự giúp đỡ của con, Cynthia.
Cynthia giương to đôi mắt xanh.
– Vâng dĩ nhiên rồi, bác Kennedy. Con sẽ làm bất cứ chuyện gì cho Allen.
Bà Kennedy đi nhón gót đến hôn Cynthia. Thiếu nữ đi rồi, bà xét lại xem phòng của Allen đã xếp đặt đầy đủ chưa, bà đặt hai bình hoa cúc lên bàn và lò sưởi. Đến phút cuối cùng, bà hái một bông hồng cắm vào một chiếc bình bạc và đặt lên mặt tủ. Cần phải tái tạo cái không khí gia đình, thấm nhuần những truyền thống hòa dịu với một tình yêu nồng nhiệt người con trai độc nhất, người thừa kế. Bà đã hiểu từ lâu rằng nếu làm trái ý Allen hoặc làm chàng tức giận thì chẳng được việc gì. Bà không hề nhắc nhở với chồng về thiếu nữ Nhật và quyết định quên chuyện này. Đối với bà, thiếu nữ này coi như không có.
Khi Allen về, bà đang ở cửa vào, mặc một chiếc áo buổi chiều bằng voan màu xám bạc. Chàng ngả vào cánh tay mẹ dang ra và ôm lấy bà, đặt má chàng áp vào má bà.
– Mẹ lúc nào cũng thơm tho – Allen nói.
Hai mẹ con thường hay nói đùa với nhau. Đối với những lời giỡn cợt nhẹ nhàng của chàng, bà lướt đi như cánh một con chim sâu.
– Ồ! Bà Kennedy phản đối và xoa má. Con không cạo râu từ ngày con rời nước Nhật?
Một vết hồng hiện lên da mặt mịn màng của chàng.
– Việc ấy con sẽ làm xong năm phút – Allen nói và đi trèo lên thang gác.
Ông Kennedy đi xuống.
Hai bố con ôm lấy nhau.
– Mẹ bảo con đi cạo râu – chàng nói. Bây giờ con lại ở trong không khí gia đình.
– A! Được lắm, vậy ta không chặn giữ con nữa.
Khi Allen về nhà, sau khi đi vắng ít hay nhiều ngày, ngay tức thời chàng cũng quen thuộc ngay với cảnh nhà, tưởng như chàng chưa bao giờ bước chân ra đi. Chàng vội vã về giang sơn của mình và ngắm nghía khung cảnh thân yêu: phòng khách và phòng ngủ rộng lớn của chàng, với chiếc cửa sổ có khung kính hướng về phía Tây. Trong một thế giới thống khổ, đối với chàng, nhà chàng bao giờ cũng hơn tất cả, như gợi lên hình ảnh thiên đường. Tại sao chàng không về đây sống với Josui?
Chàng ăn cơm tối với cha mẹ và Cynthia. Sắc đẹp muộn màng của thiếu nữ làm chàng ngạc nhiên. Lúc còn nhỏ, nàng xanh xao vụng về, tóc hung vang và cứng, vẻ rụt rè, khiêm nhường của một cô gái quá mau lớn. Tính rụt rè đã biến mất trong vòng tuổi thiếu thời và sự khiêm nhường biến thành sự nhũn nhặn đáng yêu. Chàng ngắm nàng với mớ tóc xoắn cắt ngắn, da mịn màng, cặp môi tô son một cách kín đáo. Mảnh dẻ và kiều diễm, nàng cân đ ối với thân hình và có vẻ tự cao.
Allen rất hài lòng thấy nàng tỏ ra vui vẻ thấy chàng về. Chàng có ý muốn nói với nàng về Josui, nhưng chàng thấy thế là bất nhã vì chưa trinh bày với cha mẹ.
– Ổng thấy con chúng ta thế nào? Bà Kennedy day hỏi chồng.
– Trông nó khá, khá lắm!
Bà đứng ờ ngưỡng cửa thông sang hai căn phòng của ông bà, một chiếc áo lót dentelle vắt lên chiếc áo ngủ bằng lụa. Ông Kennedy đang thắt vải áo ngủ quanh mình.
– Tôi không có ý định nói cho nó biết việc này – bà Kennedy nói. Nó sẽ đơn giàn nghĩ rẳng tôi không biết.
– Khôn ngoan lắm, ông khen ngợi bà, bao giờ tôi cũng hoài nghi lời những người khác.
Hai người trao chiếc hôn lên trán và người nào về phòng người ấy. Cửa thông sang hai phòng để ngỏ. Ban đêm, bao giờ bà cũng đóng cửa này tại, đóng nhẹ nhàng quá, ông không nghe thấy tiếng nữa. Ông không hỏi lý do, ông vốn hoài nghi những lời nói.
Buổi sáng hôm sau, Cynthia gặp Allen bất ngờ trong khi nàng đang đi mua mấy thứ cho mẹ. Hai người đi sát gần nhau và luôn luôn gặp bạn bè hãm lại.
Alien thổ lộ với nàng chuyện bí mật của chàng. Chàng cần phải giải bày với người khác.
Sớm muộn rồi chàng cũng phải báo tin cho cha mẹ nhưng chàng còn đợi cơ hội thuận tiện. Chàng khinh miệt những người đàn ông lúc nào cũng tưởng tượng như được tất cả phái nữ yêu đương, vậy mà chàng đoán với sự tinh tế của mình rằng, nếu chàng không quen biết Josui thì lúc trở về chắc chàng gặp một Cynthia ưng thuận chàng. Thái độ thân thiện của thiếu nữ biểu lộ bằng nhiều cách. Không bao giờ chàng tìm hiểu và phân tách tính chất.
– Cha mẹ anh biết à? – Allen nhắc, không tin, đứng nhìn chôn chân một chỗ.
– Bà đại tá có viết thư cho mẹ anh.
Cynthia nói giọng điềm tĩnh, với âm hơi kéo dài của miền Nam.
– Ngay ông đại tá cũng không biết – Allen kêu lên.
– Allen, anh đừng đứng trơ ra như thế, người ta nhìn mình đấy!
Chàng cất bước đi, mau lẹ quá, nàng phải đuổi theo.
– Anh hãy nghe em, đừng chạy nữa. Ông đại tá không biết cái gì.
Chàng bước chậm lại.
– Chúng tôi đã làm lễ kết hôn. Ngoài em không ai ở đây biết nữa. Anh nói với em, vì anh cần em giúp đỡ.
Cynthia liếc nhìn chàng giận hờn, làm nàng tủi thẹn. Chàng lấy quyền gì ở ngoại quốc kết hôn với một người màu da khác. Như vậy, những người phụ nữ như nàng sẽ ra sao, không lẽ lại sống già lẻ loi trong các thành phố và làng mạc ở Mỹ à? Những người phụ nữ ngoại quốc hãy lấy đàn ông nước họ! Allen là của riêng nàng! Nàng buông trôi theo bản năng như một người thiếu nữ thuở trước và quyết định liên kết với mẹ Allen, chống đối người phụ nữ xa lạ kia.
– Em tưởng rất khó khăn khi cưới lấy một người phụ nữ Nhật – nàng nói.
Chàng trông thấy nàng, dưới vành chiếc mũ dạ, mĩm cười với bạn bè qua đường.
Bỗng có một người chặn hai người lại, một thiếu nữ xinh tươi đi đánh bài tây chiều thứ sáu.
– Anh, Allen Kennedy!… Chị Cynthia, thật vô ích hỏi xem anh chị sáng nay có đến câu lạc bộ.
Giọng nói trong trẻo của họ vang lên trong không khí buổi sáng thu. Ý chí rửa hận thắng thế bản tính dịu hiền của Cynthia. Nàng mỉm cười với các bạn gái và báo tin với họ giọng thật đáng yêu:
– Allen vừa báo cho tôi một tin mừng: anh vừa kết hôn với một thiếu nữ Nhật xinh đẹp trước khi về nghỉ phép.
– Ồ! Allen, thật lý thú!
– Anh hãy nói về nàng cho chúng em nghe!
– Anh cho bọn em xem ảnh nàng.
Allen nhìn Cynthia vẻ tức giận.
– Anh không có…có…ý báo tin như vậy.
Chàng có giữ trong mình một tấm hình thường của Josui mặc Âu phục. Trông nàng nghiêm chỉnh, ăn mặc vụng về, đầu bới tóc không được đẹp. Mấy thiếu nữ chuyền tay nhau tấm hình và cùng kêu lên:
– Allen, nàng thật kiều diễm.
Họ đưa tấm hình cho Cynthia, tất cả đều mỉm cười cúi chào rồi đi. Cynthia đăm đăm nhìn tấm hình.
– Đó là tấm hình xấu – Allen nói. Josui thật đẹp, nhất là khi nàng mặc Kimono.
– Nàng khó có thể mặc như vậy ở Mỹ.
– Cũng có thể. Tại sao em lại kể chuyện của anh cho các cô nhiều chuyện ấy? Rồi cả thành phố này đều biết!
– Chính vì thế mà em nói – nàng quả quyết một cách điềm tĩnh. Người ta biết sớm, như vậy lại hơn.
Bức thư thứ nhất của Allen đến khi Josui đi vắng. Bác sĩ Sakai bỏ vào ngăn bàn giấy của ông. Ông đi lại, săn sóc các bện nhân và suy nghĩ về bức thư mà ông không bóc ra. Bệnh tình ông Matsui cần phải có sự săn sóc hàng ngày. Ông bị sưng túi mật nguyên nhân vì không tiêu hóa được cua biển. Mặc dù ông thường ăn thanh đạm, hàng năm vào mùa thu, ông Matsui không sao cưỡng được món cua biển nhấm nháp với rượu vang trắng. Đôi khi ăn cua, không xảy ra chuyện gì, khi khác bị trúng thực, lúc nặng lúc nhẹ. Năm nay cua biển suýt giết ông Matsui.
Một ngày kia, cảm thấy trong người khá dễ chịu, ông mời bác sĩ Sakai lại trò chuyện với ông. Sau những ngày ở bệnh viện, bác sĩ Sakai mệt nhọc nhưng ông không biết làm thế nào để chuộc lỗi của con gái, nên đến khi bác sĩ định nói điều này, ông Matsui chỉ lấy tay ra hiệu:
– Những chuyện đó có gì quan trọng – ông nói.
Ngày hôm ấy, ngồi ở đầu giường thân hữu, bác sĩ Sakai cảm thấy cần phải thổ lộ với ông Matsui. Ông Matsui, đầu và vai trùm một chiếc áo lụa màu xám thắt chéo ở ngực đã bình phục như thường ngày và mặt không còn thấy nhăn nhó đau đớn nữa.
Ông Matsui nói:
– Tôi sống được là nhờ ông.
– Đó là bổn phận của tôi – bác sĩ Sakai khiêm tốn trả lời.
– Quả hơn nữa. Thế là chúng ta hết nợ nhau.
Bác sĩ Sakai hiểu lời ám chỉ này. Một cảm giác nồng ấm làm ngực ông nở ra. Ông ngả người ra phía trước và nói khẽ:
– Tôi muốn hỏi ý kiến ông. Ở trong ngăn bàn giấy tôi có một bức thư gửi cho con gái. Không đưa cho nó, có phải là một lỗi không? Vì hạnh phúc của nó, tôi vẫn ước mong nó rời người Mỹ kia. Chỉ vì riêng hạnh phúc của nó thôi.
Ông Matsui suy nghĩ một lúc về vấn đề này. Ông không còn muốn để cho thiếu phụ này vào nhà ông. Chỉ một người trong trắng mới xứng đáng với con trai ông thôi.
– Tôi nghĩ ông phải trả bức thư cho cô ấy. Tôi tán thành những ý kiến của ông, nhưng ở trong gia đình, cần phải giữ những mối liên lạc tương kính.
Bác sĩ Sakai khẽ nghiêng mình.
Ông Matsui thay đổi ngay để tài câu chuyện.
– Tôi có định mở rộng thêm tiền đình trà thất.
Ngay tối hôm ấy, khi Josui đến chúc cha mẹ ngủ ngon giấc, bác sĩ Sakai đưa cho nàng bức thư.
– Thư đến lúc con vắng nhà – ông không nói rõ ngày nào.
Và nàng cũng không hỏi ông.
Josui cúi rạp xuống trước mặt cha, mặt mẹ và chạy biểu vào phòng riêng. Ồ! Bức thư! Không sao bóc ra được, nàng ghì bức thư vào má, vào ngực, vào môi. Rồi nàng chăm chú đọc, thưởng thức từng chữ. Nàng cố gắng tưởng tượng để hình dung những ngọn đồi dập dờn của miền Virginia, những khu vườn, ngôi nhà của Allen, một cách yêu thương, nàng hình dung căn phòng mà một ngày kia nàng sẽ sống gần chàng.
Nàng đọc đi đọc lại mãi đoạn chàng mô tả ngôi nhà, vì nàng sẽ qua sống ở đấy và nàng muốn quen thuộc với nơi này khi nàng bước chân vào. Allen chưa nói chuyện với cha mẹ chàng, nhưng chàng cam kết rằng nàng không có gì phải e ngại: cha mẹ chàng đầu tiên đón nàng vì chàng và sau này, cũng vì nàng nữa.
Cuối cùng Josui tắt đèn, thu mình dưới những mền đệm và bức thư ghì chặt vào lòng, nàng khóc vì sung sướng và vì cô quạnh.
Allen phải nói với cha mẹ chàng, không đợi lâu được nữa. Có cần phải thổ lộ với cha chàng trước không và hy vọng ông giúp đỡ? Nhưng than ôi! Chàng biết rằng sự can thiệp của cha chàng chỉ gây thêm sự căm ghét của mẹ chàng. Chàng quyết định nói với mẹ ngay, sợ rằng máy điện thoại sẽ đi nhanh trước chàng. Chàng vừa chạy vừa leo lên những bậc đá hoa trắng và gọi:
– Mẹ ơi, mẹ ở đâu đấy?
Bà vốn ưa thích được gọi như thế.
– Ở đây, ở Vườn mùa Đông – có tiếng ở xa đáp.
Bà Kennedy tay đeo bao tay, sửa những cây xanh tốt. Ánh mặt trời đùa giỡn trên những cây dương sĩ và những chậu cúc…
– Những bông cúc đẹp quá! – Allen kêu. Lớn ngang với những bông cúc ở Nhật!
Bà Kennedy không lưu ý đến nước Nhật.
– Mẹ đang nghĩ rằng có lẽ chúng ta phải tiếp đãi nhiều khách khứa. Tất cả mọi người đều muốn gặp con. Điện thoại kêu suốt ngày.
Chàng nắm ngay lấy cơ hội:
– Con muốn nói với mẹ một việc trước cái máy điện thoại khả ố đấy. Cynthia quả quyết rằng bà đại ta có viết thư cho mẹ.
– Về việc thiếu nữ Nhật ấy phải không? – bà hỏi.
– Vâng.
– Ồ! Việc ấy mẹ coi không phải chuyện đáng lưu ý – bà nói vẻ thản nhiên hết sức. Mẹ hiểu biết: con ở nơi xa xôi quá.
– Thưa mẹ, xin mẹ hãy khoan.
Bà ngẩng mắt lên, trông thấy mặt chàng tái đi, môi mím lại.
– Có gì thế, Allen?
– Thưa mẹ, Josui là vợ con.
– Allen Kennedy.
Đó là tiếng bà kêu, trước kia, mỗi khi thấy Allen làm điều gì dại dột.
– Chúng con đã kết hôn với nhau, thưa mẹ và con muốn dẫn nàng về nhà.
– Không có gì đáng kể. Được rồi.
Chàng theo mẹ. Mỗi người ngồi một bên lò sưởi.
– Kể cho mẹ nghe.
Giọng bà có vẻ khẩn khoản. Hai tay chấp lại, khẽ mỉm cười, dù vậy, bà không hề giấu được nỗi băn khoăn hiện ra trong cặp mắt.
Chàng vâng lời, tức giận mẹ và tức giận cả mình, tức giận vì đến tuổi trưởng thành rồi mà còn bị ám ảnh bởi những hình bóng tội lỗi thuở thiếu thời, bà thường mắng chàng cũng trong gian phòng này. Khi bà mắng chàng hồi ấy, chàng phải xin lỗi, hứa hẹn không tái phạm và đoan chắc rằng chàng vẫn yêu mẹ.
Nay chàng không thể ép mình theo lệ xưa được. Chàng kể cho mẹ nghe hết và nếu mẹ không muốn chàng ở nhà nữa, thì mẹ chàng cứ nói hẳn ra. Phản ứng của bà thật bất ngờ. Bà nghe, không biểu lộ một sự giận dữ nào. Vậy mà Allen đoán rằng mẹ chàng bối rối.
– Nàng là người Nhật chính tông à? – bà Kennedy hỏi.
– Vâng, nhưng nàng sinh tại California. Con đã chẳng nói với mẹ là gì?
Chàng đã nói điều này với mẹ và nay chàng nhắc lại.
– Như vậy nàng là người Nhật đặc biệt phải không?
– Người Nhật da không sẫm. Họ không giống một chút nào những người da đen ở miền chúng ta.
– Dầu sao, họ cũng không phải da trắng – bà ngắt lời một cách tàn bạo.
Trước lý lẽ không thể bác bỏ được, chàng không van nài và để mặc sự yên lặng bao trùm hai người. Rồi bà lại nói, vẫn cái giọng sắc bén:
– Bảo rằng người Nhật là kẻ thù của chúng ta, mới không bao lâu nay và con chiến đấu chống họ. Nay con lại bảo mẹ tiếp nhận một người phụ nữ Nhật vào gia đình chúng ta.
– Thưa mẹ, con hiểu những ý nghĩ của mẹ hơn bao giờ hết, vì con cũng có những ý nghĩ này trước khi biết rõ Josui.
Một ý nghĩ bất ngờ làm cho bà mỉm cười.
– Mẹ có biết là cha nàng cũng có một phản ứng y hệt mẹ không? Ông không muốn con làm rể vì con là người da trắng.
Bà Kennedy bỏ qua lời nhận xét này. Bà không lưu tâm đến bác sĩ Sakai.
Allen ngả người ra phía trước, khuỷu tay tì lên đầu gối và cố mỉm cười, đón chờ một tia hy vọng trên khuôn mặt mẹ chàng.
– À! Mẹ…
Bà nhìn nàng:
– Allen, hãy để cho mẹ ngồi riêng một mình một lúc. Mẹ phải nói chuyện này với cha con. Thật là một đòn nặng cho cha con. Chúng ta hy vọng là con kén chọn một người vợ ở đây… Chúng ta có nghĩ đến Cynthia… Và chúng ta ước mong được trông thấy các cháu nhỏ chạy trong nhà này, một ngôi nhà quá rộng lớn! Ta ước mong có thêm con nữa, nhưng không được.
– Chúng con có thể sẽ có con, mẹ ạ.
Chàng tưởng an ủi được mẹ thì chàng lại phạm một lỗi lầm lớn. Phản ứng của bà bộc phát ngay:
– Ồ! Không Allen! – bà kêu và bỗng đứng dậy.
– Mẹ ơi – chàng áo não kêu, tay chìa ra.
Bà ngả vào lòng con trai, người run lên và thổn thức khóc. Chàng chưa bao giờ trông thấy mẹ khóc. Cố làm nguôi lòng mẹ, chàng cầm tay bà và thì thầm:
– Đừng khóc nữa, mẹ… mẹ sẽ thấy…
Nhưng bà bứt ra khỏi tay chàng và chạy đi.
Đi dạo chơi về, ông Kennedy cảm thấy có sự khác lạ trong nhà mình, ông là một người khả ái, rất khôn ngoan. Vừa vào đến gian phòng lớn, với sự nhận xét tinh tế ông thấy ngay có sự hỗn loạn nào đó, ông treo mũ, áo khoác da màu xám và cắm chiếc can vào trong một chiếc bình lớn của Trung Hoa bằng xứ xanh. Không mấy lúc, ông nghe tiếng chân con trai đi xuống cầu thang.
– Cha về con vui mừng quá! Con không biết tìm cha ở đâu. Con e sợ đã làm mẹ con bối rối nhiều. Mẹ con vào phòng khép chặt cửa lại rồi.
Đó là một điều tai họa. Cả hai cha con đều biết như vậy. Hai người nhìn nhau.
– Con không biết nói thế nào với cha… – Allen bắt đầu nói.
– Ta cũng đoán ra.
Ông Kennedy vào gian phòng rộng khác, không có ai và ngồi xuống.
– Ta ngờ rằng việc sẽ xảy ra. Chúng ta biết khi sống ở Nhật, con có một người do ông đại tá…
Allen ngắt lời cha, nóng lòng sốt ruột quá.
– Thưa cha điều làm cho mẹ con bối rối là mẹ biết rằng con lấy Josui Sakai.
Chàng ngồi trên tay ghế bành lớn bọc nhung và vi phạm một sự cấm đoán từ thuở chàng còn nhỏ.
Khuôn mặt lớn và hai má phị của ông Kennedy đều nhuốm một màu hồng.
– Con của cha, đáng lẽ con có thể báo cho chúng ta biết trước – ông bảo chàng, giọng hờn giận.
– Con không ngờ việc diễn ra mau chóng như vậy – Allen thú thật. Tuy vậy, đó là giải pháp duy nhất có thể làm được và con tưởng con xử sự như vậy là có lý. Josui là con nhà gia giáo. Vả nữa, con không phải là người thuận theo làm điều gì khác ý mình.
– Nàng là người thế nào? – ông Kennedy hỏi. Hai bàn tay to lớn, xanh xao của ông, xòe ra trên hai ghế, biểu lộ một cảm giác suy nhược và nhàn rỗi – Con biết nàng bao giờ?
– Không lâu gì, nhưng cũng đã đủ để hiểu nàng còn có nhiều đức tính tốt nữa.
Allen đứng dậy và đi lại trong phòng, không nhìn cha nàng.
– Con không biết nói với cha thế nào, việc xảy ra sao. Nàng không những đẹp, nhưng còn điểm khác ở nàng nữa. Có phải là do ở nguồn gốc Á Đông của nàng không? Con không hiểu. Con ở đấy đã ba năm và có lẽ đã chịu ảnh hưởng của xứ sở đó. Khi việc đã xảy ra như thế, hình như người chỉ có thể lấy người phụ nữ phương Đông được thôi.
Ông Kennedy như có vẻ rã rời, nhưng đó chỉ là bề ngoài. Ông lắng nghe và suy nghĩ.
– Mẹ con không bao giờ chấp nhận điều này… – ông nói giọng thất thanh – Có lẽ mẹ con không phản đối một việc sắp xếp khác, như có trong gia đình một nàng dâu khác màu da…
Ông đứng dậy, lấy đôi tay chắc khỏe chống lên, bước nặng nề và trèo lên thang gác, chân đạp chắc nịch xuống mỗi bậc cầu thang. Đến trước cửa phòng vợ, ông khẽ động vào tay nắm cửa:
– Bà mở cửa cho tôi.
Một lúc sau, ông nghe thấy tiếng chân đi. Cửa mở ra. Ông vào và ôm vợ vào cánh tay. Bà đặt đầu lên vai chồng và khẽ vuốt tóc ông.
– Con nó nói với ông chưa? – bà thì thầm.
– Nói rồi, bà ạ.
– Chúng ta biết làm thế nào?
– Nguyên tắc của tôi là không làm gì cả và để tự nhiên cho mọi việc tự xếp đặt lấy.
– Nhưng nó sẽ dẫn con bé kia về đây! – bà kêu lên.
– Phải tiếp nhận vậy!
– Không bao giờ!
Bà đẩy ông ra. Ông thở dài, đứng yên, trong khi bà đi lại trong phòng.
– Tôi bị đau đầu.
– Tôi cũng ngờ thế.
Ông thận trọng ngồi xuống một chiếc ghế bành thấp, bọc vải hồng, trong khi bà bóp thái dương. Ông yêu mến vợ và hiểu rằng ngoài mấy điểm nhỏ nhặt trong tính tình độc đoán và chuyên chế của bà, bà là một người có phẩm cách, một người vợ hiền và tiêu biểu cho sức mạnh của xứ sở.
– Này bà – ông bắt đầu nói vẻ dịu dàng – Bà là một người độ lượng, sao lại tính như vậy. Tôi hiểu bà lắm, thôi được, chính tôi cũng muốn Cynthia là mẹ của cháu chúng mình. Nhưng con trai muốn điều khác và nó quyết định như thế. Chúng ta hãy gắng làm sao cho cuộc nhân này có được kết quả tốt đẹp.
– Làm thế nào cho có kết quả tốt đẹp được? – bà hỏi – Hôn nhân không phải chỉ liên hệ đến hai cuộc đời. Điều chính yếu là lập một gia đình. Chúng nó không nên có con cái. Ông có rõ không? Không nên có.
Ông Kennedy cũng chẳng vui thích gì khi tưởng tượng rằng nhà mình lúc nhúc những đứa trẻ nhỏ lai Nhật.
– Có thể chúng sẽ có con cái – ông nói không chút tin tưởng.
– Ông biết rằng sẽ có! Những người Á Đông sinh con như thỏ! Không, cần phải thuyết phục Allen.
– Nhưng nó đã cử hành hôn lễ rồi!
– Nó sẽ ly dị.
– Đó! Tôi sẽ nói với bà ý kiến của tôi. Một lời khuyên nhỏ cuối cùng nữa, bà hãy tự hỏi, nếu bà biết rõ con trai bà.
Cuối cùng ông đi ra, ông cần phải có ngay một ly Whisky nguyên chất. Ông ra ngồi ngoài hiên.
Allen thấy ông thiu thiu ngủ, một chiếc ly không ở dưới chân. Nghe thấy tiếng chân đi, ông Kennedy tỉnh dậy và trông thấy con trai sắp sửa ra đi, chiếc valise ở tay.
– Con đi một vài ngày.
– Con đi đâu?
– Đến Washington.
– Tại sao con tới cái nơi bẩn thỉu ấy?
– Kiếm một thằng ngốc và nhất là hỏi cách thức cho Josui tới đây được.
– Con có báo cho mẹ con biết không?
– Không. Xin cha hôn mẹ giúp con. Cha nói hộ con không? Con không đi lâu ngày đâu.
– Được, con trai của cha.
Ông nhìn con lên chiếc xe mà ông bà đã nâng niu giữ gìn nhiều năm nay. Rồi ông ngủ trong yên tĩnh.
Đời sống tiếp tục không có sự thay đổi đáng kể nào trong khi Allen vắng nhà. Ông Kennedy dần dần quen nghe câu trả lời của vợ ở điện thoại, giọng như ca hát.
– Ồ, chị ạ, chúng tôi coi việc ấy không có gì đứng đắn cả! Các bà mẹ chúng tôi đều quen thấy con trai chúng tôi trong các cuộc phiêu lưu như vậy, nếu như không tránh được, đó là một hậu quả đáng buồn của chiến tranh… Không, cháu nó chưa có cử hành hôn lễ. Hai người chỉ mới đính hôn, trong một ngôi đền Phật giáo mà tôi tưởng rằng nghi lễ rằng chẳng có chút giá trị nào đối với chúng ta. Dù thế nào, trong lúc này, chúng tôi không nói đến việc này.
Những ngày tươi đẹp nối tiếp nhau. Những bông hồng lại tưng bừng nở: hồng mùa thu, kém đẹp, không thắm sắc như hồng mùa xuân, nhưng thơm ngát hơn. Allen gửi về nhà một vài tấm bưu phiếu, trong mỗi tấm đều báo tin chàng sắp về. Nhưng chàng vẫn không về.
Trong các bữa ăn, bà Kennedy đọc các bưu phiếu cho chồng nghe và giả đò vẻ lơ đãng. Bà có viết thư gửi máy bay cảm ơn bà đại tá và cầu bà giúp đỡ thêm nữa:
“Có thể biệt phái Allen sang Âu châu được không? Bà hỏi bà đại tá. Được như vậy là giải pháp hay nhất. Nếu không có thời giờ đưa thiếu nữ Nhật kia về đây thì tất cả mọi người đều cất được gánh nặng.”
Ở Washington, những sự chậm trễ không sao hiểu nổi dáng lo ngại nữa vẫn dồn dập đối với Allen. Trái lại chàng được phép khỏi phải trở lại Nhật. Hơn nữa, chàng sửng sốt thấy người ta cho chàng một công việc ở Âu châu, tương tự như ở Viễn Đông.
Nhưng Allen quyết định từ chối nhiệm sở ở Âu châu nếu không được Josui đi theo chàng. Đối với chàng cũng là một thế giới khác: chàng đã nhìn thấy Âu châu quá nhiều nơi rồi.
Lưỡng lự không biết phải làm thế nào thì chàng lại được phép nghỉ vô hạn định không lương, để có thời giờ suy nghĩ. Nhưng trên đường về, giữa lúc xe chạy giữa các cánh đông trù phú miền Virginia, chàng quyết định đưa Josui về Mỹ ngay. Đối với pháp luật, nàng là công dân Mỹ. Chàng chỉ cần cương quyết bám lấy điểm thực tế này.
Chàng về nhà lúc trời tối. Ở phòng khách cha mẹ chàng đang đánh cờ. Cả hai người đều đánh giỏi nhưng bà Kennedy thường được luôn vì sự ham muốn được thắng, trong khi đó ông Kennedy không quan tâm đến được thua.
– Kính chào các nhà quán quân! – Allen kêu lúc đi vào phòng khách.
Hai ông bà ngẩng đầu lên, ngạc nhiên và hài lòng. Allen tưởng như thấy mẹ chàng có có phần dè dặt, tuy vậy bà cố gắng đón chàng niềm nở. Bà đứng dậy, ôm lấy con, hai tay giữ chặt lấy một cánh tay chàng:
– Ồ! Thấy con về mẹ hoan hỉ quá! Mẹ ước mong rằng con không tìm được công việc gì, con yêu của mẹ, ít nhất trong lúc này. Nhà ta trống rỗng khi con đi vắng!
– Con ngồi xuống đây – ông Kennedy nói – Và mách ta một nước. Quân hậu đẩy ta vào ngách cuối cùng, như thường lệ.
– Ồ! Ông tấn đi! – bà Kennedy nói tiếp – Allen, con đã ăn bữa tối chưa, bé con của mẹ?
– Thưa mẹ chưa.
Allen cảm thấy niềm vui bất ngờ có một cảm giác là cha mẹ chàng không gây khó khăn cho cuộc sống của chàng. Chàng giãn chân tay và sự mệt nhọc xâm lấn chàng ngay. Tất cả mọi việc ở đời thật phức tạp quá. Nhưng ở đây, cuộc đời vẫn tiếp tục luôn luôn không thay đổi. Nàng Josui nhỏ bé có thể lướt vào cánh cửa hé mở, cuộc đời cũng chẳng có gì đảo lộn. Với ý chí cương quyết, chàng sẽ giữ ngôi nhà này nguyên vẹn như xưa, qua đời này đời khác, xin được như nguyện.
Josui đọc lại bức thư cuối của Allen, nhiều lần, như thường lệ để cảm thấy được gần gũi chàng hơn và cũng để hiểu biết thêm về tâm trí chàng nữa. Chàng dâu có cương quyết nhiều như thoạt đầu nàng tưởng, chàng cũng phụ thuộc một phần nào vào cha mẹ chàng. Nàng ngạc nhiên về điều này, vì nàng tưởng tất cả những thanh niên Mỹ đều được hoàn toàn tự do. Nàng nhìn thấy sự lầm lẫn của mình. Đối với nàng, sự khó khăn do ở cha nàng, về phần Allen, sự khó khăn lại ở mẹ chàng. Josui suy nghĩ về sự phát giác này và quyết định trước tiên là lấy lòng mẹ chàng. Tình trạng cũng hơi giống như ở Nhật, hạnh phúc hay tai họa của một người con dâu đều phụ thuộc vào người mẹ chồng.
Bức thư này còn đem lại cho nàng một vé máy bay. Nàng chăm chú ngắm nghía vật báu này và thưởng thức từng chi tiết nhỏ. Một vật giản dị và quý giá biết bao, nó là chìa khóa mở cửa thiên đàng cho nàng. Allen sẽ chỉ dẫn rất cho nàng. Nàng sẽ đi máy bay ở Tokyo, chàng sẽ tới đón nàng ở San Francisco, đi xe vượt qua các tiểu bang, sẽ thay thế cho cuộc du lịch tuần trăng mật.
Sau khi đọc lại thư một lần nữa, Josui đi tìm mẹ để nói chuyện này. Nàng thấy bà ở gần hồ nước nơi bà nuôi cá vàng. Bà Sakai khua nước nhẹ nhàng với chiếc que tre để thức tỉnh cá gần tê cóng vì giá lạnh, nhưng chúng vẫn chưa chịu rời nơi ẩn náu dưới bùn, nơi chúng sẽ trải qua một mùa Đông ở đây.
Trong vườn, ánh mặt trời tràn ngập qua làn sương sớm. Hình dáng nhỏ bé của mẹ nàng mặc chiếc Kimono màu xanh đập vào mắt Josui như một bức tranh bỗng hiện ra. Nàng sẽ thiếu mẹ, Josui quỳ xuống gần mẹ trên thảm cỏ vàng bệch và chờ đợi một lúc trước khi đưa cho bà bức thư.
Cá vàng ở dưới các hồ đá bơi ra, lắc lư những chiếc vẩy trong suốt, nhưng chúng chê thức ăn.
– Chúng muốn ngủ – Josui nói khẽ.
– Chúng thấy mùa Đông sắp đến.
Chăm chú vào công việc, bà Sakai không nhìn con gái. Rồi như đoán được ý nàng, bà bổng ngẩng đầu lên:
– Có có điều gì muốn nói với mẹ?
– Vâng – Josui trả lời và chìa bức thư – Allen muốn con sang Mỹ và gửi cho con vé máy bay – nàng đưa cho mẹ xem vé máy bay – Cha con sẽ nói thế nào? Thật ra cha con không bao giờ nghĩ rằng Allen lại gọi con về Mỹ.
– Bây giờ thì cha con phải tin như thế.
Bà Sakai đứng dậy và đóng lại lọ bột.
Hai người đứng im, mắt chăm chăm nhìn xuống nước. Cá vàng vẫy mỗi khi chúng nhấm nháp bột.
– Có lẽ không bao giờ mẹ gặp con nữa – bà Sakai nói.
– Con sẽ về thăm mẹ – Josui hứa.
Nàng làm lại một cử chỉ như khi còn bé, nàng nắm tay ấn vào lòng bàn tay mẹ.
– Nếu con có con… – bà Sakai bắt đầu nói.
Josui thấy mẹ có vẻ băn khoăn.
– Người đàn bà Mỹ… Họ không bao giờ biết trước màu mắt của con cái họ. Có phải là khó chịu không?
– Như vậy có nghĩa gì với con?
– Điều đó quan trọng lắm. Nếu khi xưa, con không có cặp mắt đen, ta sẽ bối rối lắm. Có thể nào mẹ dám tự coi mình là bà một đứa cháu có cặp mắt xanh.
– Ồ, mẹ.
Josui muốn cười, nhưng những lời nói của mẹ làm nàng băng khoăn. Nếu đứa trẻ có cặp mắt xanh, nàng có thấy dễ chịu không? Vậy mà nếu đứa trẻ giống nàng về tất cả mọi phương diện, chính Allen sẽ không được thư thái cõi lòng. Còn ai biết được? Đúng như mẹ nói, vấn đề thật đáng quan tâm.
– Có thể con sẽ không có con – Josui nói.
Bà Sakai lắc đầu:
– Người ta không thể nói như thế được. Đến lúc, đứa trẻ sẽ được thai nghén và không có gì ngăn cản được. Thần linh đợi nó ở ngưỡng cửa. Khi đến thời điểm sinh ra, chúng ta bước vào cuộc đời và cũng kết thúc vào khoảnh khắc khi chúng mất. Chúng có một cuộc đời ngắn ngủi hoặc sống lâu hơn, nhưng tất cả đều theo số phận đã định trước.
Bác sĩ Sakai không lên tiếng phản đối một lời nào, khi Josui đến báo tin mừng sắp khởi hành. Nàng ngạc nhiên thấy sự bất ngờ này, nhưng cảm thấy việc không sao tránh được. Ông bảo nàng rằng ông còn ít tiền dành dụm để ở một ngân hàng San Francisco, trước để cho Kensan và nay ông muốn sang tên cho nàng. Điều khó khăn duy nhất lại chính do Josui gây ra: nàng muốn có một giấy thông hành với tên mới của nàng: bà Allen Kennedy.
Về điểm này không thể lay chuyển ông được.
– Ta không cho phép con điều này. Con hãy dùng tên họ của chúng ta. Một ngày khác con sẽ cần dùng đến.
– Thưa cha, sao cha có thể nói thế được? Cha không tin tưởng con sao? – nàng tức giận phản đối.
– Ta không tin tưởng ở đời!
Nàng nhượng bộ. Cuộc đời sẽ có chứng thực cho cha nàng biết là ông lầm lẫn. Ông sẽ thấy. Các bậc cha mẹ hay hoài nghi quá!
Một vài ngày trước khi khởi hành, nàng nhận được của Kobori Matsui một bức thư ngắn, thân mật. Chàng chúc nàng được hạnh phúc và báo tin cho nàng biết là chàng sẽ gửi sang Mỹ một món quà nhỏ mọn tặng nàng. Chàng còn báo tin là có thể chàng sẽ đến thăm nàng năm tới và xin Josui cho phép chàng được đến thăm. Không muốn giữ và để lại bức thư, nàng đốt trong bình hương.
Lúc khởi hành. Josui từ giã ngôi nhà, khu vườn, mẹ nàng, Yumi. Khi đi cùng với cha ra phi trường, nàng cảm thấy sung sướng. Nàng không sao nghĩ về cha mẹ được, cũng như những vật nàng rời bỏ đi.
Khi máy bay cất cánh, Josui cảm thấy trong chớp nhoáng ý nghĩ hành động của nàng. Nàng nhìn qua khung cửa nhỏ máy bay và nhìn thấy một lần cuối cha nàng. Gió thổi hất tà áo choàng của ông, ông chắp tay chống cây gậy của mình, ngước nhìn. Cao lớn, thẳng ngực, đầu ngẩng cao, chân hơi xoạc ra và vững chắc, đứng trên mặt đất. Josui không chắc rằng cha nàng trông thấy nàng, nhưng trong giờ phút ngắn ngủi này, hình bóng của ông hiện ra rõ ràng. Mặt trời chói lọi, sau những ngày mưa bão, soi tỏ khuôn mặt xinh đẹp đã in sâu vết răn. Josui nhìn thấy qua vẻ bề ngoài điềm tĩnh của ông là một nỗi buồn cao quý, một mối đau thương nghiêm trọng, một sự tiếc nhớ khôn nguôi. Lòng nàng se lại.
Giờ phút phân ly đó không thể kéo dài được. Đôi cánh lớn sáng ngời đưa nàng bay bỗng lên trời và mặt đất xa rời mắt nàng. Những ý nghĩ, những ước mơ của nàng đã tiến xa hơn nàng nhiều.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.