Bông Hồng Tạ Ơn

vietmesssenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 16 Jun 2025

38. Lam Phương

Lam Phương viết nhạc rất sớm.

Năm 1954, khi cuộc di cư vĩ đại của hơn một triệu dân từ miền Bắc vào Nam sau hiệp định Genève, mọi người đã được nghe nhạc Lam Phương trên các đài phát thanh và các sân khấu ở Sài Gòn. Vào khoảng thời gian đó, chắc Lam Phương chưa tới tuổi hai mươi. Các bài hát như Khúc Ca Ngày Mùa và Nhạc Rừng Khuya của ông khi ấy, không phải người ta chỉ nghe thấy trên các làn sóng điện và các rạp hát mà còn có thể nghe thấy ngay trên các hè phố, các ngõ hẻm nữa. Nó trở thành như một chút hương vị, không khí của vùng đất người ta mới tới. Lòng tư hương đang còn rất nặng nề, nghe Khúc Ca Ngày Mùa của Lam Phương, mặc dầu đều biết rõ ông chỉ viết về một cảnh nông thôn nào đó ở miền Nam, nhưng người ta thấy nó cũng chẳng khác bao nhiêu với những nơi người ta mới rời bỏ.

Nhạc Lam Phương giản dị, trong sáng, nhưng rất đằm thắm, phơi phới một lòng yêu đời, yêu người. Lời ca của Lam Phương hồn nhiên, dễ dàng. Có vẻ như ông đã viết được cả nhạc lẫn lời cùng một lúc. Mới nghe Khúc Ca Ngày Mùa, người ta nghĩ, dân ca sẽ là con đường Lam Phương theo đuổi.

Nhưng những ca khúc kế tiếp của ông đã cải chính điều đó. Lam Phương viết những gì ông có thể viết chứ không chỉ riêng những gì liên quan xa gần với dân ca. Và đúng như thế, mặc dầu hơi hướm cổ nhạc Nam phần vẫn là cái duyên thầm trong hầu hết các tác phẩm của Lam Phương. Những ca khúc sau này khẳng định Lam Phương là người viết tình ca chứ không gì khác.

Khúc Ca Ngày Mùa cũng chỉ là một tình khúc của ông mà thôi. Lam Phương viết rất nhiều loại nhạc, dùng nhiều thể điệu. Dường như ông cũng bị huyễn hoặc bởi đủ mọi thứ trên đời. Nhưng khi sáng tác, ông vẫn nghe chính lòng mình nhiều hơn, nên những điều Lam Phương viết ra trong nhạc luôn giữ được vẻ chân thực. Vẻ mộc mạc, chân thực này, có thể là lý do vì sao, tới một tuổi nào đó, người ta không thích nghe nhạc Lam Phương nữa. Hay ít ra, người ta không tìm nghe nhạc Lam Phương nữa, mà nó giống như một quãng đời tự nhiên xa, cùng với những xúc động chỉ ở trong cái khoảng thời gian ấy người ta mới thấy. Có thể người ta sợ. Sợ, vì nghe nhạc Lam Phương và để lòng rung động lại như thế, người ta sẽ thấy ra mình đánh mất một cái gì đó quý giá, cái tuổi đẹp nhất của đời người chẳng hạn.

Nhưng rồi cũng đến một cái tuổi nào đó, người ta lại thấy mình có thể nghe lại, yêu lại nhạc của ông, khi không còn bị lạc cảm xúc, đủ bình tĩnh để thuởng thức các ca khúc ấy chỉ như những tác phẩm nghệ thuật. Ca khúc đánh dấu sự thay đổi tâm hồn Lam Phương rõ ràng nhất có lẽ là bản Trăm Nhớ Ngàn Thương. Cái bầu trời trong sáng thuở nào dường đã vẩn những đám mây u ám. Từ ca khúc này, nhạc Lam Phương không còn như những đóa hoa nở trên cánh đồng nữa. Nó có vẻ đã là dấu tích của những vết thương lòng. Và những gì người ta đã nghe thấy trong nhạc Lam Phương không dễ gì sẽ quên đi được.

Bài Tình Đẹp Như Mơ được viết sau bài Trăm Nhớ Ngàn Thương vào thời gian Lam Phương đã sống ở nước ngoài. Nếu Trăm Nhớ Ngàn Thương là một vết thương thì bài Tình Đẹp Như Mơ phải là tác phẩm sau khi vết thương đã lành. Dĩ nhiên, chúng ta chỉ nói được như thế, căn cứ vào thứ tự các ca khúc Lam Phương đã cho công bố. Cái hồn nhiên cộng thêm một chút lãng mạn của những bản nhạc đầu tiên đã được thay thế bằng những lời ca đắn đo hơn. Lam Phương không phải là người có ưu thế khi viết lời ca, nhưng ông giữ sự trung thực, không cố viết những lời làm ra mới mẻ, nhưng tựu trung chẳng có ý nghĩa gì, như một số người khác đã làm. Em Đi Rồi ca khúc Họa Mi trình bầy được rất nhiều người ưa thích. Nghe nói Lam Phương đã viết vì xúc động trước hoàn cảnh của Họa Mi, khi cô bỏ lại gia đình ở Việt Nam trong một chuyến lưu diễn chính thức ở ngoại quốc.

Người nghe nói chung, cho rằng Lam Phương viết tình khúc ở dạng kể lể, rất thành công. Nhưng những ai theo dõi nhạc Lam Phương hẳn sẽ nhận ra, những bản nhạc ông viết sau này, ở một chừng mực nào đó, đã dần dần chịu ảnh hưởng của nhạc Âu Mỹ. Những lời lẽ chân tình, mộc mạc, những ý nhạc mang hơi hướm dân ca Nam Bộ, đã không còn nữa. Và khi nghe, chúng ta có cảm tưởng lẫn trong những âm điệu ấy, có một chút gì đó quá khứ đã tan biến, không còn để lại dấu vết.

Tuy nhiên Lam Phương vẫn cứ có quyền cho âm nhạc của ông rẽ vào một hướng nào đó. Chúng ta hãy nghe nhạc ông và chẳng nên đòi hỏi ông phải dừng lại ở một điểm nào trong cuộc đời sáng tác của ông.

Ngày Tạm Biệt

Hôm nay đây còn vui trông thấy nhau

Bên tiếng ca tiếng đàn ngập trời cao

Lời vui thắm thiết đưa trao như khi

ta mới gặp nhau

Nhưng anh ơi ngày mai ta cách xa

Anh kinh đô tôi phải về miền xa

Biệt ly ai khéo gieo chi

lên bao mái đầu xanh

Nhớ hàng phượng thắm ven đường

Mỗi lúc chiều buông

Tan tác rơi cài lên mái tóc xanh

Với bóng dáng ai chiều ấy

Nâng niu tà áo

Biết nói gì khi chia ly

Ai nghe chăng ngoài kia hoa vẫn rơi

Bên xác hoa u sầu vì tả tơi

Ngàn ve buông tiếng nỉ non như thương

cho người đi

Thôi chia tay cạn ly vui chúc đi

Ta chúc nhau những gì đẹp lòng nhau

Dù thời gian có phôi pha

Ta không bao giờ quên

Thái Thanh

Mấy Người Con Trai Vương Long

vietmessenger.com

Pearl S. Buck

Nguyễn Thế Vinh dịch

(Tái bản)

Post by Sơn râu 16 Jun 2025

Chương 4.

Tuy cùng gốc, cùng rễ, đâm chồi nẩy nở sinh ra, mỗi cành của cây đại thụ vươn mình theo một hướng khác nhau, mỗi cành lại sinh ra bao nhiêu cành con, hoa lá rườm rà. Ba anh em con Vương Long khác nào như ba chiếc cành của một cỗ đại thụ, cành non nhất, nhỏ nhất mà lại cứng rắn nhất là cành thứ ba, anh con trai út đang theo việc binh nhung trong một tỉnh miền Nam.

Ngày nhận được tin cha hấp hối, chàng ở trong một ngôi đền ngoài tỉnh cùng với chủ tướng. Trước đền có một khoảng đất rộng, chàng dùng nơi đó tập rèn quân lính, cách bài binh, bố trận, chiến lược, nghệ thuật binh gia.

Chàng đang cùng bọn lính thao luyện binh pháp, người đem thơ chạy đến (vừa mệt và cũng vì lá thơ có tính cách cực kỳ quan trọng, thượng khẩn) thở hổn hển nói:

– Kính thưa tướng quân và đệ tam công tử, cố ở nhà sắp mất.

Cho mãi đến ngày hôm ấy, từ khi chàng trốn khỏi nhà ra đi, chàng không có tin tức, không ai nói đến cha chàng. Vì chuyện gia đình, vì chuyện người cha mà chàng từ giã gia đình, quê hương.

Cha chàng, tuy đã nhiều tuổi, lại đi lấy trong bọn nô tỳ nuôi trong nhà, một đứa còn trẻ tuổi, Hoa Lê, làm thứ thiếp, nàng hầu. Mãi sau này, chàng mới biết, trước vẫn không ngờ cha lại có thể lấy một con ở làm vợ. Suốt hôm đó, chàng tức bực, đến chiều tối không thể nén sự phẫn uất, không suy nghĩ, chàng chạy thẳng vào buồng cha thấy Hoa Lê ở đó. Còn nhớ buổi chiều hôm đó là một chiều hè, trời oi ả nóng bức, chàng thấy Hoa Lê ngồi lặng yên, mặt xanh xao ở trong buồng. Nỗi lòng phẫn uất cuồn cuộn bốc đến cực độ, chàng hiểu nếu chàng ở nhà, sự căm hờn một ngày kia sẽ bùng nổ, ngay đêm đó chàng đã nhẹ bước ra đi đến nơi vô định, vẫn ấp ủ một cuộc phiêu lưu, lập một cuộc đời hiển hách hiên ngang. Chàng đi thật xa, xuống một tỉnh miền Nam, tiền lộ phí đã hết, xin tòng quân phục vụ dưới trướng một vị võ tướng hồi đó nổi danh trong một cuộc khởi nghĩa. Vị võ quan thấy chàng, một trang thanh niên tuấn tú, to lớn vạm vỡ, nét mặt nghiêm nghị, cặp môi như cắn chặt hai hàm răng trắng, lớn, quắc thước tinh lanh; hình dung tướng mạo chàng, đã rất đẹp lòng chủ tướng nên nâng đỡ cất nhắc, chàng đã leo các cấp bực rất nhanh. Trong một thời gian ngắn chàng từ chân một tên lính đã đóng đến đại đội trưởng, được cai quản một số binh sĩ.

Image from the Net collected by Sơn râu

Khi trở về quê, để chịu tang cha, chàng đã uy nghi trong bộ nhung y cấp bậc võ tướng. Hôm đó là một ngay đầu xuân, khi xưa vào những ngày về tiết xuân, cha chàng hay ra đồng thăm ruộng, lấy một cái cuốc nhỏ xới đất, đánh luống. Đối với con mắt người khác, mảnh ruộng lúc đó chỉ là một nắm đất đen sì, nhưng đối với con mắt của một lão ông như Vương Long, đã thấy bao nhiêu hoa màu phì nhiêu, rực rỡ ở trong nắm đất đen đó sẽ trồi lên.

Giờ đây lão đã ra người thiên cổ, chàng tráng sĩ cũng không ngờ lão lại chết vào giữa tiết xuân mát mẻ, cây cỏ đâm chồi nẩy lộc.

Người tráng sĩ quan niệm tiết xuân theo một chí hướng khác. Mỗi khi xuân về, nông gia lo xới đất, cày bừa để trồng trọt. Người tráng sĩ mỗi khi xuân về, tráng sĩ tưởng chừng sẽ thực hành chí nguyện, nhưng xuân qua, xuân tới bao lần, chí nguyện bình sinh vẫn còn là ảo mộng. Xuân này, chàng đã thề phải tạo thành sự nghiệp, nhất định không chịu luồn cúi dưới trướng một lão tướng ô trọc.

Mấy năm sau này, tinh thần lão tướng suy nhược rất nhiều, chí quật cường, hiên ngang tà tà nghiêng bóng, lão lười biếng, sống ỷ lại, không chăm lo chiến sự như xưa. Thân hình mỗi ngày càng thêm to béo, đẫy đà, ăn toàn cao lương, mỹ vị, uống toàn rượu ngoại quốc, rất mạnh, như bào gan xé ruột. Lão không còn thiết gì, nghĩ gì đến binh thư đồ pháp, đến chiến lược, chỉnh đốn quân đội, câu chuyện của lão chỉ toàn là bàn tán về nhà bếp, phê bình món cá bể này xào nấu thế nào, khen món mỹ vị kia làm khéo quá, như một món ngự dụng của bực đế vương. Lão thích ăn ngon và ăn nhiều,

lão lại còn một thứ tiêu khiển nữa là gái. Vừa vợ và nàng hầu, vừa già vừa trẻ, lão có đến năm mươi tên dưới trướng. Đạo quân này lão muốn có đủ các loại, không biết lão đã tậu đâu được một ả lạ quá, nước da trắng muốt, mắt xanh lẹt, tóc đỏ như râu ngô. Lão như có ý e nể mụ này, mụ như có một điều gì bất mãn ngấm ngầm, mụ lẩm bẩm suốt ngày, líu lo một thứ tiếng gì không ai hiểu. Tuy thế, lão thích lắm món giải trí đặc biệt, hãnh diện, trong đội nữ binh lại lạc loài có của lạ. Dưới quyền chỉ huy một người như lão, các tướng lãnh, binh lính cũng suy nhược, yếu hèn, vô tư, chỉ chăm lo chè chén rượu thịt suốt ngày, đục khoét vào đám dân đen. Cả vùng ai cũng chán ghét bọn này cả quân lẫn tướng.

Song, trong hàng ngũ quân đội của lão có một bọn người rất bực bội, chán nản về sự ăn không ngồi rồi, đó là bọn thanh niên và những người có tâm trí. Người tráng sĩ có phong độ hiên ngang biệt nhãn xuất chúng, sống bình thản tính cương trực, không dòm ngó đàn bà con gái, chàng như có sức thu hút, kết nạp đám người bất mãn. Bọn này, dần dần quay cả về với chàng, họ thì thầm bảo nhau:

– Phải chăng tráng sĩ là người sẽ dắt chúng ta ra khỏi nơi tù hãm ô trọc này?

Tất cả bọn đều ngưỡng vọng về chàng. Chàng chưa thực hiện được chí nguyện vì còn vấp một trở lực, vấn đề tài chính, ở nhà bước ra đi chàng chỉ có hai bàn tay trắng, khi đến với ông chủ tướng này, mỗi tháng được một ít tiền gọi là thù lao. Nhiều tháng cũng không có cả tiền thù lao vì chủ tướng không đủ tiền chi lương cho quân đội. Lão làm sao mà có đủ tiền được, trong khi còn phải cung cấp cho năm mươi người đàn bà, người nào cũng ghê gớm cả, tranh giành ghen ty nhau về ăn, về mặc, đục khoét đến xương tủy lão già.

Muốn thực hiện được chí nguyện, người tráng sĩ có lẽ phải dùng đến độc kế (thủ đoạn này, một quân đội phôi thai, vẫn thường áp dụng) là phải đi cướp bóc, tàn phá, khi đã nặng túi có thể chờ một trận chinh chiến có lợi hơn, xin điều đình với đạo quân của chính phủ xin hưu chiến rồi xin được chính thức thừa nhận. Nhưng người tráng sĩ rất đố ky ghê tởm làm một việc tàn bạo đi cướp bóc, cha chàng là một lương dân, một người mà những năm đói kém, giặc giã, không chịu làm xằng, bậy. Chàng hãy nén lòng chờ một vài năm, chờ thời cơ, ấp ủ đêm ngày mộng tưởng và chàng tin còn long đong cũng tại số trời đã định, thời vận chưa đến.

Có một điều chàng như không thể kiên nhẫn nén lòng chờ đợi chàng rất chán ghét miền Nam, bồn chồn muốn bỏ quách đi ngay, trở về nơi sinh quán ở phương Bắc. Vốn sinh trưởng ở miền trên, chàng không quen món gạo trắng ở miền dưới, chàng chỉ khao khát, thèm nhớ thứ bánh làm bằng lúa mạch, không men, cuốn trong củ tỏi nhân giòn và ngon, ăn như thế tiếng nói mạnh bạo, hung dũng, chàng lại rất ghét lối kiểu cách, xã giao phù phiếm, ủy mị. Chàng cho những người ăn nói bẻo lẻo, lèo lá, là những hạng tâm hồn rỗng tuếch, chàng xét đoán dân miền này theo một khía cạnh khác. Chàng nóng lòng được trở về cố hương, người to lớn phốp pháp, trái với những thân hình loắt choắt, ẻo lả của dân miền Nam, như những người bị đẻ non tháng. Người phương Bắc nói năng ít, nhưng khúc triết, lòng dạ thẳng thắn, cương trực. Tính chàng không được ôn hòa, ủy mị, bọn người lân cận chàng rất niềm kính nể, họ hoảng sợ khi thấy chàng nhíu cặp lông mày đen, rậm, khóe miệng nghiêm khắc, bộ răng dài và trắng; họ đã mệnh danh chàng là Vương hổ tướng.

Nhiều đêm trong gian phòng nhỏ, trên chiếc giường hẹp, người tráng sĩ không sao ngủ được, suy nghĩ, vật vã tìm kế hoạch, đặt phương pháp để thực hiện chí nguyện. Khoảng vắng, đêm trường, trong tâm tư chàng suy nghĩ cũng biết sau này cha chết đi, chàng được hưởng một phần gia tài. Ông già, kể cũng đã đến cõi, sao còn sống dai thế, chàng nghiến răng trong đêm tối lẩm bẩm một mình:

Nếu ông già còn sống lâu, tuổi hoa niên của ta cũng uổng. Sau này dù có được, cũng đã muộn rồi. Sự thành công, thất bại của ta cũng do sự còn mất của ông già. Thật quái gở, một người già đã đến cõi vẫn chưa chịu rút lui trên trần thế! Mùa xuân năm đó, chàng như người đứng ở ngã ba đường phải cân nhắc, chọn một trong hai đường. Con đường ngắn nhất đưa chàng đến ngay đích, con đường tà đạo, bất chính, thủ đoạn cường đồ, trong thâm tâm chàng không muốn, nhưng sự thế phải thế, còn hơn con đường dài mà phải ăn chực nằm chờ. Chí chàng đã quyết, sắp đặt chân vào con đường trên thì đột nhiên nhận được tin ông già đã chầu trời.

Được tin, chàng rảo bước ra đi, lòng khấp khởi mừng thầm, tâm hồn rạo rực, con đường thẳng tắp, sừng sững trước mặt. Chàng thoát không phải dùng độc kế, bước vào con đường cường đạo tàn ác, đêm hôm phải gào thét, chàng vốn là người trầm tĩnh ít nói. Bao nhiêu niềm hân hoan, liên miên suy tính, chàng nghĩ số phận chàng không đến nỗi hẩm hiu, được phần gia tài, chí nguyện sẽ toại thành, trên chờ Hoàng thiên ủng hộ. Thanh vân nhẹ bước, chàng sẽ mưu đồ đại sự, chàng có số một vĩ nhân công nghiệp hiển hách.

Tâm trạng chàng, dù vui dù buồn, không bao giờ phát lộ trên khuôn mặt. Sắc diện chàng lúc nào cũng thản nhiên, lạnh nhạt, hai mắt đanh thép, khóe miệng khắc bạc, tinh thần cũng như thể chất cứng cỏi, chàng đã hấp thụ được của mẹ truyền cho. Khi nhận được tin cha lìa trần chàng bình thản không nói gì, đi thẳng về tư phòng sửa soạn hành lý về quê. Chàng chỉ định bốn tên lính tâm phúc đi theo hầu. Sửa soạn xong hành lý, chàng đến một ngôi nhà cổ, lớn nhất ở tỉnh, đó là tư dinh của lão chủ tướng. Chàng sai một

tên lính vào thông báo trước, xin được tiếp kiến. Một lát sau tên lính chạy ra mời chàng vào. Ra lệnh cho bốn tên lính chờ ở cổng, một mình chàng đi thẳng vào tư phòng, chủ tướng lúc đó đang ăn cơm trưa gần xong.

Mâm bàn, bát đĩa, ngổn ngang, các món ăn như chất đầy trước mặt lão già, hai mụ đàn bà tíu tít hầu rượu. Mặt mũi không cạo, râu ria xồm xoàm, bẩn thỉu, quần áo lốc thốc, tơi tả, lão lo ăn, bận uống, không chịu sửa soạn thân

thể. Ở bẩn thành quen, không chải chuốt như khi còn ít tuổi. Lão xuất thân là một lao công, nhập tịch bọn côn đồ có tài ba được bầu làm anh chị bọn trộm cướp, rồi nhờ một trận mạc gì đó, nghiễm nhiên bây giờ là Đại tướng quân. Lão vui tính nói năng giản dị tự nhiên. Chàng vẫn được lão tiếp niềm nở thân mật. Chàng được biệt đãi, vì nhiều công việc khó khăn chàng đã đảm đương mà chính lão vì già nua, vì thân hình phì nộn, lười, ngại không cáng đáng được. Trước mặt chủ tướng, người tráng sĩ nghiêng mình chào, chàng nói:

– Có người tới báo tin cha tôi đã mất, các anh tôi chờ tôi về để mai táng.

Nghe xong lão thản nhiên ngả lưng vào thành ghế, nói:

– Được, anh đi cho trọn chữ hiếu, nhớ trở lại ngay nhé!

Lão móc trong túi ở dây lưng lấy một nắm tiền đưa cho chàng và nói:

– Chỗ này biếu anh làm tiền lộ phí, hành lý nhớ đem cho đủ.

Lão già, vừa nói xong, ngửa hẳn người ra chiếc ghế bành, kêu có cái gì vướng ở chiếc răng thủng. Mụ đàn bà đứng hầu cạnh đó vội vàng rút chiếc trâm bằng bạc gài đầu đưa cho lão. Lão xỉa răng rồi quên phứt Vương hổ tướng. Chàng trở về quê, chịu tang cha, nóng lòng sốt ruột mong chia xong gia tài để rồi lại lên đường ra đi. Chàng là người cẩn thận, cố nén tâm chờ hết ba năm đoạn tang cho trọn tình hiếu tử, mới thực hiện chí nguyện.

Bây giờ chàng đã có đủ khả năng, thực hành dễ dàng sở nguyện. Ba năm chờ đợi chàng để tâm nghiên cứu kế hoạch cho hoàn hảo, dành dụm tiền nong, dò xét tính tình từng người, bọn sau này đi theo chàng, để mưu đồ đại nghiệp.

Người lính Nhảy Dù lâm nạn

hung-viet.org

Huy Phương

15 Tháng Giêng 2013

Post by Sơn râu 15 Jun 2025

Trong những ngày cuối cùng của trận chiến, Tháng Tư 1975, trong khi Cộng Sản tràn ngập mặt trận Bà Rịa, cắt đường từ Saigon ra Vũng Tàu với chiến xa yểm trợ, những người lính Nhảy Dù thuộc Trung Đội 2-Trung Đội 15 thuộc Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù vẫn còn cố thủ để cho đơn vị rút đi. Toàn trung đội đã hy sinh vào những phút cuối cùng của cuộc chiến, trong đó có người lính Dù linh hiển mang tên Nguyễn Văn Bảy, nằm lại trong khu vực gần cầu Cỏ May.

Theo lời kể của người lính Dù, hiện nay sinh sống tại Bà Rịa mang danh hiệu MĐ.90, thân xác người thất trận nằm chơ vơ, lạnh lẽo, thỉnh thoảng vài người chăn bò và dân chúng qua lại xót thương đắp đổi cho anh vài nắm đất, qua thời gian, nơi anh nằm xuống trở thành một ụ đất cao. Sau trận chiến người chiến sĩ xả thân vì đất nước nằm lại, không một manh chiếu, một mảnh poncho, chỉ được vùi bằng đất cát quê hương.

Mãi đến năm 1995, theo phong trào đưa dân phía Bắc di dân vào Nam làm ăn sinh sống rầm rộ, một người lính Bắc Việt giải ngũ là anh Phạm Văn Kiên, cùng gia đình vào Bà Rịa, mua lại một mảnh đất hoang dã giữa rừng cây tràm, cây cừ, cỏ dại, có ụ đất cao, mà một người dân địa phương là ông Hai Lì cho biết đó là nấm mộ chôn một người lính Dù không rõ họ tên từ năm 1975.

 Những điều linh hiển

 Cám cảnh cho thân người chiến sĩ bị vùi thân nơi này, và cũng để dọn dẹp lại nơi canh tác, năm 1996, vợ chồng anh Phạm Văn Kiên quyết định cải táng hài cốt người lính miền Nam vào một góc vườn và lập trang thờ để hương khói. Về việc cải táng này, anh Phạm Văn Kiên đã bàn bạc cùng với một vài anh em lối xóm, cũng là bộ đội giải ngũ từ ngoài Bắc vào đây sinh sống một đợt, là sẽ tiến hành vào ngày mai. Bỗng dưng tối hôm đó vào khoảng 10 giờ đêm, cô em gái của anh Kiên mới ngoài Bắc vào thăm, đang ngủ, ngồi bật dậy chỉ mặt vào anh Kiên nói:

– Ngày mai mà mày đào, mày sẽ chết!

Xương cốt và thẻ bài của ND Nguyễn Văn Bảy

Nói xong câu đó, cô em lại nằm xuống ngủ bình thường. Gia đình anh Kiên cũng không hiểu sao cô em gái anh lại có thái độ hỗn hào như thế? Tại sao phải chết khi đào ụ đất?

Trời sáng, hai vợ chồng người lối xóm đến phụ giúp việc cải táng, bỗng dưng cô em gái của anh Kiên mặt mày đỏ gay, tay cầm một nhánh cây chỉ mặt anh Kiên nói với một giọng khác thường:

– Coi chừng chết nhé!

Nói xong cô ấy cầm nhánh cây cắm xuống chỗ gần ụ đất và sau đó té xuống bất tỉnh. Mười phút sau, cô tỉnh dậy mà cũng không biết mình đã nói gì. Hồ nghi, anh Phạm Văn Kiên đến chỗ nhánh cây, nơi cô em gái vừa cắm xuống, nhẹ nhàng dùng cái bay thợ hồ cào nhè nhẹ trên lớp đất thì thấy một trái M79 hiện ra. Nếu không có sự cảnh báo của cô em, có thể với nhát cuốc đụng trái đạn, sẽ phát nổ và gây chết chóc cho những người đứng gần.

Rất nhẹ nhàng, cẩn thận, anh Kiên cào đi những phần đất trên ụ đất cao, tìm thấy thân hình của một người lính, thân xác và quân phục đã rã mục, di cốt chỉ còn lại 2 ống xương đùi, một sọ người, vài đốt xương nằm vương vãi. Lẫn lộn với xương cốt là một dây đạn M16 đã bị hoen rỉ, 4 trái đạn M.79, 2 trái lựu đạn M26, một dây kim khí màu trắng có hình thánh giá, một ít đạn M16, đôi giày đã mục nát nhưng còn đôi vớ, và một ít đồ lặt vặt, và quí nhất là một thẻ bài có khắc tên: Nguyễn Văn Bảy, SQ: 59/182638 – LM: B.

Anh Phạm Văn Kiên đã bỏ tất cả vào một cái lu nhỏ và chôn ở góc vườn. Trước khi chôn xuống, anh Kiên đã cẩn thận ghi lại những chi tiết về tên họ, số quân và loại máu B trên thẻ bài vào cuốn sổ gia phả của gia đình mình.

Ngôi mộ người lính Nhảy Dù trong khu vườn người lính Bắc Việt giải ngũ.

Trong cuộc nói chuyện với anh Phạm Văn Kiên qua điện thoại vào tối Thứ Sáu 11 Tháng Giêng từ Mỹ, anh Phạm Văn Kiên, người lính Bắc Việt giải ngũ, gốc gác Đồ Sơn, Thanh Hóa đã cho chúng tôi biết, anh nguyên là bộ đội, đã tham gia trận đánh năm 1979 với Trung Quốc và sau khi giải ngũ, vào Nam lập nghiệp năm 1989. Anh Kiên cho biết năm 1998, khi gia đình làm ăn khấm khá, vợ chồng anh Kiên bàn bạc xây lại căn nhà lớn hơn để ở. Trong ngày chở gạch cát, xi măng về để khởi công xây dựng, thì buổi tối cả hai vợ chồng đều thấy trong giấc mơ, một người lính to cao, đen, bận đồ rằn ri về nói:

– Hai vợ chồng chú thím tính xây lại nhà thì nhớ xây nhà cho tôi với nhé! Tôi là Bảy đang ở góc vườn nhà chú thím đây!

Vì vậy, vợ chồng anh Kiên sau đó, xây nấm cho ngôi mộ và bàn trang để thắp nhang. Mỗi năm vào ngày lễ, Tết, giỗ Chạp gia đình đều cúng bái thắp hương cho anh Bảy như là một thành viên trong gia tộc.

Những tấm lòng chiến hữu

 Cho mãi đến ngày 19 Tháng Tám 2011, qua những câu chuyện, và sự tìm tòi, nhóm “bốc mộ” của anh em Nhảy Dù đã tìm được 4 quân nhân hy sinh tại vườn nhà ông Hai Lì. Từ đó, nhóm tìm mộ mới biết câu chuyện hài cốt của anh Nguyễn Văn Bảy chôn trong vườn gia đình ông Phạm Văn Kiên. Về cấp bậc TSI của anh Kiên là do một đồng đội của anh cùng trung đội cho biết.

Nhiều anh em trong gia đình Mũ Đỏ đã có dịp ghé lại nhà anh Phạm Văn Kiên đều được anh Kiên cho xem tấm thẻ bài cũng như những dòng chữ anh đã ghi rõ trong gia phả của dòng họ anh. Bà con lối xóm đều tin vào sự linh hiển nên thường vẫn hương khói cho anh Nguyễn Văn Bảy. Anh Phạm Văn Kiên cũng cho biết khi xây ngôi mộ cho anh Bảy, gia đình anh cũng bị đàm tiếu là “xây mộ, thắp nhang cho lính Ngụy!”

Nhóm anh em Nhảy Dù đã đến thăm và cảm ơn vợ chồng anh Kiên đã cải táng, xây mộ cho TSI Nguyễn Văn Bảy, và ngỏ ý muốn đem anh Bảy về nhà thờ giáo xứ Long Hương vì theo lời kể, người ta tìm thấy giây thánh giá bên cạnh hài cốt của anh Bảy.

Sự cải táng không thể tiến hành ngay vì sự quyến luyến của gia đình anh Phạm Văn Kiên là người đã chăm sóc ngôi mộ này hơn 20 năm. Trong thời gian này, các chiến hữu Mũ Đỏ còn ở lại trong nước hay đã ra nước ngoài như Mỹ, Canada có lòng đều tạo cơ hội thăm viếng, giúp đỡ hai gia đình của ông Hai Lì cũng như Phạm Văn Kiên. Một Mũ Đỏ ở Canada đã tài trợ cho chuyến thăm viếng của anh em đến Bà Rịa và một chiến hữu BĐQ khác đã có lòng chịu lo toàn bộ chi phí để cải táng và đem anh Bảy về nhà thờ Long Hương, mà trong trang báo này, anh em không muốn nêu rõ danh tánh.

Cho đến ngày 28 Tháng Mười Hai 2012 gia đình Mũ Đỏ mới cải táng di cốt của anh Nguyễn Văn Bảy từ một chiếc lu đã chôn trước đây qua một chiếc quách nhỏ vào nhà hài cốt giáo xứ Long Hương (Bà Rịa).

Hiện nay trong 4 hài cốt gởi tại chùa Bửu Thiền, một hài cốt đã được người thân nhận đem về quê là TSI Võ Quang Hàng, còn lại 3 quân nhân là: Trần Văn Hà, Trương Vi Cử và một Vô Danh. Nếu quý vị nào có lòng nhang khói cho các anh gởi tại đây xin vui lòng liên lạc với Thích Trung Thông, chùa Bửu Thiền, đường Lý Thái Tông, khu Cầu Xéo, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

Hài cốt của TSI Nguyễn Văn Bảy hiện để tại giáo xứ Long Hương, liên lạc qua Linh Mục Phạm Minh Tân, giáo xứ Long Hương, thành phố Bà Rịa, Vũng Tàu.

Chúng tôi, người viết bài này mong mỏi bản tin được phổ biến, để gia đình các chiến hữu Nguyễn Văn Bảy, Trần Văn Hà, Trương Vi Cử… thuộc TĐ 1ND có thể nhận ra thân nhân của mình.

Chúng tôi xin ghi số điện thoại của những người trong cuộc để gia đình các tử sĩ có thể liên lạc tìm thân nhân hoặc giúp đỡ:

– Phạm Văn Kiên Tổ 1, khu phố 1, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Số Phone: 01666496797, người đã có công cải táng, xây mộ và chăm sóc mộ phần của TSI Nguyễn Văn Bảy trong suốt hơn 20 năm.

– Anh Hai Lì, nhân chứng tại địa phương 0984748392.

– Anh Viên, danh hiệu MĐ.90, người kể chuyện 0903721529.

Huy Phương/Người Việt

Món nợ máu và một lời xin lỗi

hung-viet.org

Huy Phương

28 Tháng Tư 2014

Post by Sơn râu 15 Jun 2024

Tiến Sĩ Uwe Siemon-Netto (trái) và Ký Giả Huy Phương trong một buổi phỏng vấn truyền hình. (Hình: Huy Phương cung cấp)

Xin nói rõ món nợ máu này là cái chết của ba giáo sư y khoa và một phụ nữ Đức đã bị Việt Cộng khi vào Huế trong ngày Mồng Hai Tết Mậu Thân, bắt họ đi từ cư xá giáo sư viện Đại Học Huế, bắn vào đầu họ và chôn vùi trong vườn chùa Tường Vân, gần khu Nam Giao. Những người bị giết là Giáo Sư Gunther Krainick và phu nhân, Giáo Sư Raymund Discher, Bác Sĩ Alterkoster, là những vị đã đóng góp công sứ và tâm trí cho việc xây dựng Đại Học Y Khoa Huế…chấp nhận xa gia đình, đất nước để đem kiến thức và nguyện ước của mình để khai hóa văn minh cho một xứ sở kém mở mang, đang có chiến tranh khốc liệt.

Theo lời kể của một nhân chứng, thời gian Tết Mậu Thân, là cựu Sinh Viên Y Khoa Huế, Bác Sĩ Tôn Thất Sang, hiện sinh sống tại thành phố Sacramento, thì vào tháng 4, 1968, tại một bờ hào tre, cách sân chùa Tường Vân khoảng 200 mét, người ta tìm thấy “trong chiếc hố nhỏ, bề dài khoảng 3m, bề ngang khoảng 1m và bề cao khoảng 1m, bốn người ngoại quốc, ba đàn ông và một phụ nữ Đức bị trói thúc ké, hai tay bị bẻ quặt ra sau lưng, bị siết chặt bằng dây điện thoại truyền tin. Khuôn mặt họ đều bị biến dạng. Thái dương trái là lỗ đạn vào, thái dương phải là lỗ đạn ra, nên bị phá ra toang hoác; mắt lồi hẳn ra ngoài!

Đường đi của viên đạn do chính kẻ luôn luôn rêu rao lấy lượng khoang hồng và nhân đạo làm nền tảng để xử thế, đã làm méo mó, biến dạng những khuôn mặt hiền hòa của các vị thầy chúng ta.”

Sau đó linh cữu của bốn vị này được quàn tại Tòa Viện Trưởng Viện Đại Học Huế và sáng hôm sau, được phi cơ mang vào Sài Gòn, phi trường Tân Sơn Nhất. Nơi đây, phái đoàn Đại Học Y Khoa Huế, và Đại Học Y Khoa Sài Gòn chờ đón với vòng hoa phân ưu và biểu ngữ lên án Cộng Sản Bắc Việt đã ra tay thảm sát những người làm công việc y tế, chỉ biết phụng sự khoa học, phụng sự nhân loại. Linh cữu của bốn vị được đưa ra phi cơ về Đức vào ngày 13 tháng 4, 1968 trên chiếc xe có bốn ngựa kéo, theo sau là 250 sinh viên Y Khoa Huế và Sài Gòn, đội đưa tang và đội quân danh dự của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Sinh viên cầm biểu ngữ nói lên lòng biết ơn công lao của quí vị.

Sau đó tại sân Đại Học Y khoa Huế, một bia tưởng niệm các GS, BS Krainick, Raymund Disher và ALois Altekoester…đã được xây lên để ghi ơn quý vị bác sĩ, giáo sư y khoa đã góp công xây dựng, đào tạo những bác sĩ tài năng và đã hy sinh đời mình cho lý tưởng phụng sự ngành y trên quê hương Việt Nam.

Năm 1975, sau khi Việt Cộng chiếm Huế, cũng như số phận bức tượng Tiếc Thương của Nguyễn Thanh Thu ở Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, họ đã đập bỏ bia tưởng niệm này, đem vất xuống hồ rau muống nằm giữa trường Y Khoa Huế và trường Cán Sự Điều Dưỡng.

Vậy mà CSVN và quê hương của các giáo sư y khoa người Đức bị giết năm Mậu Thân đã thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 23 tháng 9, 1975, đến nay, “quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước ngày càng phát triển tích cực, sâu rộng, hiệu quả và toàn diện.”

Đại diện cho kẻ ác, sát thủ bốn công dân người Đức vào Tết Mậu Thân, các giới chức CSVN đã từng đến Đức để cúi mình xin viện trợ và xin khai hóa là Thủ Tướng Võ Văn Kiệt (1993); Chủ Tịch Quốc Hội Nông Đức Mạnh (1993); Thủ Tướng Phan Văn Khải (2001); Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh (2004); Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng (2008). Phó Thủ Tướng kiêm Bộ Trưởng Ngoại Giao Phạm Gia Khiêm (2010), và hai nước đã ký một số hiệp định tạo cơ sở pháp lý cho quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, văn hóa.

Nước Đức văn minh, quên hận thù, là một trong những nước viện trợ nhiều và thường xuyên ODA cho Việt Nam. Từ năm 1990 đến nay, Đức đã cung cấp trên 1 tỉ Euro cho các dự án ODA tại Việt Nam. Chính phủ Đức một mặt vẫn duy trì các khoản viện trợ truyền thống, mặt khác mở ra một trương mục vay vốn mới là vốn vay phát triển. Đức cam kết cung cấp 283.8 triệu Euro ODA cho Việt Nam trong năm 2011-2012, trong đó 257.5 triệu Euro vay ưu đãi và 26.3 triệu Euro viện trợ không hoàn lại.

Tiến Sĩ Uwe Siemon-Netto, người Đức, là một phóng viên chiến trường Việt Nam, từ năm 1965 – 1969 tác gỉa bài viết “The Wrong Side Won” (Phe Tà Đã Thắng), ông đã chứng kiến tội ác của Cộng Sản trong vụ thảm sát Mậu Thân, trong đó có một số đồng bào quen biết của ông là ba bác sĩ người Đức và một bà vợ đã bị giết.

Trong một cuộc phỏng vấn của chúng tôi trên đài truyền hình SBTN, ông Uwe Siemon-Netto đã nhiều lần lặp đi lặp lại, là từ khi cấp chính quyền Cộng Sản Việt Nam tái lập bang giao với đất nước của ông, ông chưa nghe được một lời xin lỗi nào của thành phần chóp bu này về cái hành động cố ý giết chết ba vị giáo sư, bác sĩ và một người phụ nữ Đức vào năm 1968, trong khi trong tay người này không có vũ khí, không chống lại họ và đang làm nhiệm vụ khai hóa cho một đất nước, đào tạo nhiều bác sĩ mà hiện nay có người đang lo chăm sóc sức khỏe cho những người dân dưới chế độ này.

Ở Việt Nam hiện nay có một chuyện rất nhỏ là chuyện một phụ nữ sinh sống ở Mỹ được báo chí gọi là “kiều nữ Hải Dương” bị báo chí Việt Nam làm tin giật gân vu oan là đã cưỡng dâm nhiều tài xế taxi. Bà đã nói: “Tôi nghĩ cứ để tòa án phân xử đúng, sai, lỗi tới đâu thì pháp luật xử lý tới đó. Tôi cũng không muốn làm khó ai, tôi cần một lời xin lỗi, mọi chuyện còn lại để pháp luật giải quyết.” Cuối cùng tòa án xử bà Phạm Thị Thanh Ngọc thua cuộc và “một lời xin lỗi” thì chẳng bao giờ có trong xã hội Cộng Sản hôm nay.

Ngay tại đám tang đang diễn ra ở Sài Gòn vào Tháng Tư của tù nhân lương tâm Đinh Đăng Định, gia đình của ông nói chính quyền nợ ông “một lời xin lỗi” vì ông vô tội, chứ không phải có tội mà được “đặc xá!”

Đối với chuyện lớn, đảng Cộng Sản chưa biết mở miệng, làm sao những chuyện nhỏ được họ để mắt đến.

Trên thế giới đã có nhiều lời xin lỗi.

Thủ Tướng Tomiichi Murayama, năm 1995, đã nói lên lời xin lỗi của nước Nhật về những đau khổ mà quân đội Nhật đã gây ra cho các dân tộc Châu Á. Thủ Tướng Nhật Shinzo Abe ngày 14 Tháng Ba cho biết ông buồn phiền trước nỗi đau mà các “phụ nữ giải sầu” cho quân đội Nhật phải chịu đựng trong thời chiến, và cam đoan rằng nước Nhật không hề có ý định giảm nhẹ lời xin lỗi.

Tổng Thống Nga Vladimir Putin ngỏ lời xin lỗi Ba Lan trong vụ thảm sát Katyn (1940), và cho chiếu vào giờ cao điểm trên đài truyền hình Nga phim của Wajda về lời tuyên bố này.

Ngày 23 Tháng Ba, cựu giám đốc Cơ Quan An Ninh Quốc Gia Mỹ (NSA) giai đoạn 1999-2005, Tướng Michael Hayden, lên tiếng xin lỗi người dân Đức vì những hậu quả liên quan vụ nghe lén của cơ quan này.

Thủ tướng Đức Willy Brandt, năm 1970, trong một cử chỉ bất ngờ, gây xúc động mạnh, quỳ gối, chân thành, trước đài tưởng niệm ở khu Do Thái tại Warsaw, Ba Lan, thì người Đức đã được đón tiếp nồng ấm trở lại ở Đông Âu. Khi xây dựng ở trung tâm Berlin một đài tưởng niệm nạn nhân vụ diệt chủng người Do Thái thời Đức Quốc Xã, thì nước Đức đã không tự hạ mình chút nào mà còn được thế giới khen ngợi!

Không biết xin lỗi là đặc tính của một đứa trẻ cứng đầu, vô giáo dục và đối với một người trưởng thành là thái độ vô liêm sỉ. Vô liêm sỉ hơn nữa là họ ngửa bàn tay nhuốm máu đã giết người để xin xỏ, nhận quà từ thân nhân của người mình đã giết.

Là người Đức, một dân tộc văn minh, ông Siemon-Netto than phiền rằng CSVN nhận viện trợ từ chính phủ ông mà không hề biết mở miệng nói một lời xin lỗi với dân tộc ông!

Còn chúng ta, những người Việt cả Nam lẫn Bắc, nạn nhân của chế độ tàn bạo, bất lương của Bắc Việt từ hơn nửa thế kỷ nay, trông mong hay hy vọng nỗi gì?

Huy Phương

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 15 Jun 2025

37. Lam Minh

Một trong những cái gợi cho người ta nhiều kỷ niệm, quá khứ, là âm nhạc. Quả thật, mỗi lần được nghe lại, hay chỉ thoảng trong trí nhớ âm điệu của bài Mơ Khúc Tương  hùng của Lam Minh, người ta lại thấy như sống lại cái không khí của Sài Gòn một thời, những tiếng hát của Minh Trang, Trọng Nghĩa, Văn Thiệt, Ngọc Hà, Minh Diệu, Minh Tần, Mạnh Phát rồi Linh Sơn, Bạch Yến, Bích Chiêu, Thanh Thúy, Ánh Tuyết, Bạch Quyên … Sài Gòn đang trong giai đoạn đổi thay, chiến tranh vẫn còn quanh quẩn đâu đó, nhưng đã lùi xa hơn một chút, người ta đã có thể thong thả dùng xe gắn máy làm những chuyến đi Sài Gòn – Đà Lạt, Nha Trang trong đêm khuya một mình … Đó là những khoảnh khắc thanh bình thực sự, hay người ta chỉ đang làm cái việc liều mạng để ngỡ mình được sống trong yên ổn, một điều người ta hằng ao ước nhưng đã bị mất từ lâu? Đó là thời gian Mơ Khúc Tương Phùng của Lam Minh đước hát rất nhiều.

Rồi chiến tranh tràn lan trở lại, tiếng bom đạn rung chuyển tận chân những thành phố, những giọng hát quen thuộc người bỏ nghề, người mất, người đi xa, cuộc sống diễn ra một nhịp dường tự xóa bỏ quá khứ, những bài hát được chuộng nhất một thời cũng rơi dần vào lãng quên. Mơ Khúc Tương Phùng của Lam Minh là một trong những bài ở trong trường hợp ấy.

Mơ Khúc Tương Phùng

Mối tình ta dở dang bởi vì ai

Ước nguyền như thế nhưng chóng phai

Duyên tình hờ hững sống đời buồn khổ

Hết rồi ngày vui trong niềm ân ái

Ôi thời hạnh phúc đã trôi qua

Nhưng lòng ta vẫn mơ xa

Mơ người yêu quý nhớ lại tình cũ

Để cùng ta vang khúc tương phùng ca

Một hôm lại gặp nhau

Đời tươi vui cùng tia nắng trên cành hoa đào

Ta được gần bên nhau

Mặc không gian mặc cuộc sống ra thế nào

Lòng ta được hân hoan

Cùng nhau ta có thể mơ những ngày sáng

Say đắm trong câu ca mơ màng

Ta hát theo cung đàn của giấc mộng vàng

Khánh Ly

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmesssenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 15 Jun 2025

36. La Hối.

La Hối là ai? Cho đến ngày nay ít người biết. Những người cùng thời với ông, các nhạc sĩ bắt đầu sáng tác vào các thập niên 30- 40 của chúng ta, chỉ kể lại một cách loáng thoáng, ông có cùng họ chơi nhạc trong một hai vũ trường hiếm hoi nào đó vào thời ấy. Có thể là ông chơi phong cầm. Cứ nghe ca khúc duy nhất ông để lại, người ta có thể tin, có lẽ nhạc khí gần gụi với ông nhất hẳn là chiếc phong cầm. Ông là người Trung Hoa? Người Việt Nam? Hay cũng như Hồ Dzếnh, ông là người Trung Hoa lai Việt? Điều này, ở đây, hiện nay chắc chỉ có Phạm Duy, Nguyễn Hiền hay Lữ Liên biết. Nhưng điều đáng kể hơn cả chính là tác phẩm duy nhất La Hối để lại cho chúng ta bài “Xuân Và Tuổi Trẻ”, một bài thơ của Thế Lữ do ông phổ nhạc[?]. Bài thơ được phổ nhạc tự nhiên, thanh thoát, đến độ người ta có cảm tưởng đó hoàn toàn là một sáng tác của La Hối, nghĩa là do chính ông vừa viết nhạc vừa viết lời ca. Tiết điệu của nhạc, nhip điệu của thơ kết hợp với nhau nhuần nhuyễn tựa hồ mỗi chữ của bài thơ đã chứa sẵn nhạc bên trong. Các nhạc sĩ của chúng ta hình như ai cũng có dùng nhịp điệu valse (3/4) trong ít nhiều sáng tác của mình. Nhưng “Xuân Và Tuổi Trẻ” của La Hối cho người nghe vài điều thích thú riêng ngoài giai điệu tuyệt vời của nó: hơi phong cầm và cái nhịp nhẩy nhót đặc thù của valse musette. Cái phơi phới của tuổi trẻ, cái nao nức của mùa xuân, vẻ tinh khôi của ngôn ngữ làm nên nỗi vui trong lòng người. Cuộc đời như một kho tàng còn nguyên vẹn bởi vì tôi chỉ vừa mới lớn lên. Tất cả những điều ấy dường được thu nhỏ trong ca khúc. Tuổi trẻ vừa là một ơn phúc vừa là một đặc quyền. Tôi còn trẻ nên cuộc đời thuộc về tôi.

Chỉ riêng điều ấy không đủ để tôi hát lên để bầy tỏ niềm vui sao? “Xuân Và Tuổi Trẻ” của La Hối đã trở nên thân thuộc đối với tuổi trẻ Việt Nam đến nỗi người ta có cảm tưởng như mùa xuân sẽ thiếu đi vẻ xuân nếu không được nghe ca khúc này.

Sau đệ nhị thế chiến có tin đồn đại rằng “Xuân Và Tuổi Trẻ” là một bản mật mã các gián điệp Trung Hoa gửi cho nhau. Không biết chính La Hối là một gián điệp, hay chỉ khi bài hát đã có rồi, người ta mới tìm cách biến nó thành những tín hiệu. Nếu đúng như vậy ai sẽ giải mã cho chúng ta biết những nốt nhạc đó chứa đựng điều gì? Hết đến chín phần mười đây chỉ là một câu chuyện thiên hạ bịa đặt cho vui.

Xuân Và Tuổi Trẻ

Ngày thắm tươi bên đời xuân mới

Lòng đắm say bao nguồn vui sống

Xuân về với ngàn hoa tươi thắm

Ta muốn ngắt muôn ngàn đóa hồng

Ngày thắm tươi bên đời xuân mới

Lòng đắm say bao nguồn vui sống

Xuân về với ngàn hoa tươi thắm

Ta muốn luôn luôn cười cùng hoa

Xuân thắm tươi, én tung bay cao tít trời

Vui sướng đi cao tiếng ca mừng reo

Đừng để lòng thổn thức tình mê đắm

Ta cứ vui, ta cứ vui đời xuân thắm

Xuân thắm tươi, én tung bay cao tít trời

Vui sướng đi cao tiếng ca mừng reo

Đừng để lòng thổn thức tình mê đắm

Ta cứ vui, ta cứ vui đời xuân tươi

Vui sướng đi cho đời tươi sáng

Vui sướng đi cho lòng thêm tươi

Ta hát ca đón mừng xuân mới

Ta hát ca cho lòng thêm hăng hái

Hát vang lên đời ta thắm tươi

Tiết xuân êm đềm muôn sắc hoa

Tiết xuân êm đềm muôn tiếng ca

Hát vang hòa lòng thêm hăng hái

Hát vang lên đời ta thắm tươi

Tiết xuân êm đềm muôn sắc hoa

Tiết xuân êm đềm muôn tiếng ca Xuân tưng bừng …     

Thái Thanh

Mấy Người Con Trai Vương Long

vietmessenger.com

Pearl S. Buck

Nguyễn Thế Vinh dịch

(Tái bản)

Post by Sơn râu 15 Jun 2025

Chương 3.

Tuy lão già đã chết rồi, đã được đào sâu chôn chặt, con cháu vẫn còn phải nhắc nhở đến, chưa thể quên ngay được, vì còn phải ba năm tang chế. Suốt một trăm ngày, kể từ hôm hạ huyệt, ba ông con trai phải đi giày trắng, ngoài bách nhật được phép đi giày vải xám, trai gái, dâu con không được dùng quần áo tơ lụa suốt ba năm cho đến ngày làm lễ trừ phục. Anh Cả đã lo liệu thuê may tang chế cho tất cả nhà, lớn, bé. Bây giờ quyền huynh thế phụ, khi nào ngồi cùng với các em, anh trịnh trọng ngồi trên, ăn nói dõng dạc, to tát; anh tuyên bố gì, hai em phải ngồi im để nghe, đặc biệt anh Hai mồm nhỏ môi cong, có vẻ khinh khỉnh tự đắc, khôn ngoan, lanh lợi hơn anh Cả. Còn mồ ma Vương Long, ông cụ tin cậy hơn, vị anh biết xếp đặt, suy tính công việc, chỉ có mình anh biết rõ nhà có bao nhiêu tá điền, biết ước lượng mỗi vụ lúa, thu hoạch được bao nhiêu. Chú Ba nghe anh Cả tuyên bố gì, chú làm như một người mới tập nghe hiệu lệnh, chỗ nào đáng để vào tai thì để, tuy chú ngồi đó mà tâm hồn ở đâu đâu, nhấp nhỏm ý chỉ muốn đi.

Tất cả ba anh em đều mong chóng đến ngày chia gia tài, cả ba đều đồng ý nhất định phải chia, anh nào trong thâm tâm cũng đã hoạch định sử dụng phần của mình. Anh Hai, chú Ba không muốn tất cả gia tư điền sản vào cả tay một người anh Cả nắm giữ, như thế các em còn bị lệ thuộc, chi phối. Ba anh em, ai cũng có ý thầm kín về phần của mình, anh Cả không hiểu về phần mình thế nào, liệu có đủ ăn, đủ tiêu trong nhà không? Có đủ cung phụng hai bà vợ và một lũ con không? Lại còn những thú riêng tây, thầm vụng, quen rồi khó chừa lắm. Anh Hai buôn bán thóc lúa đã thạo, quen nhiều bạn hàng, lại biết có tiền cho vay lãi, nên cũng nóng ruột về chia gia tài để khuếch trương thương mại. Còn chú Ba thì lạ quá, lầm lầm, lì lì, mặt mũi lúc nào cũng đăm đăm, chỉ nóng lòng, nóng ruột đi, không ai đoán được ý muốn đi đâu, phần gia tài làm gì? Chưa ai dám bén mảng thăm dò ý kiến. Trẻ nhất trong ba anh em, mà suốt cả nhà lại kiêng nể nhất, chú gọi ai một tiếng, ở đâu chạy lại cho mau, sai bảo gì răm rắp làm ngay, không như đối với anh Cả tuy lớn nhất trong nhà, ăn nói dõng dạc oai nghiêm mà họ lại lần khân coi thường.

Vương Long đã sống lâu nhất họ, cùng vai với hắn chẳng có ai, họa chăng còn sót một người anh em thúc bá đi lính đã lâu, gọi là đi lính chứ thực ra, nhập bọn vào một tụi lục lâm cướp bóc. Nghe nói chủ tướng đối xử cũng khá, đã lâu lắm không có tin tức sống chết thế nào! Ba anh em cũng nhẹ mình về khoản này và cầu đừng có ai nhắc đến làm gì, vậy suốt họ không còn ai nhiều tuổi, vai trên, theo tục lệ phải tìm trong lân bang, quen thuộc có người nào đạo mạo, có danh vọng mời lại làm chủ tọa, “trọng tài” buổi họp gia tộc để phân chia gia sản.

Một buổi chiều, mấy anh em ngồi chơi nói chuyện, bàn tán xem nên mời ai đến làm chủ tọa.

Anh Hai nói:

– Theo ý tôi, ngay gần đây có một người có thể tin cậy được, chẳng ai xa lạ, ông Lưu buôn thóc, ông thân của chị Cả nhà, nên mời ông ta, ông này có tiếng trung thực thẳng thắn mà nhà cũng khá giả, không còn sợ sách nhiễu.

Anh Cả nghe nói, ý không bằng lòng vì trái với tôn ti. Đúng ra anh mới là người có quyền phát biểu trước. Anh sầm mặt lại:

– Tôi phiền quá, tính chú hay lắp bắp, tôi định nói, chú tranh lời nói trước. Kể chú nói nghe cũng được, tôi cho mời ông cụ sinh ra mẹ các cháu, nhưng từ rày chú nhớ bao giờ tôi có hỏi, chú mới được nói, đừng có nói leo.

Nói xong anh Cả thở mạnh, cong đôi môi dày, nguýt dài. Anh Hai cắn chặt môi dưới cố nín cười.

Anh Cả ngoắt đầu sang phía chú Ba hỏi:

– Còn chú, ý thế nào?

Chú Ba ngước mắt nhìn, có vẻ hợm hợm, nói bâng quơ:

– Thế nào cũng được, đã định làm thì làm ngay đi.

Anh Cả đứng dậy, ý muốn thi hành ngay cho xong, nhưng anh đã đứng tuổi, làm gì mà vội quá thì hay cuống, cả đến khi đi nếu đi vội quá, chân tay cũng bị luống cuống. Mọi công việc được xếp đặt ổn thỏa, ông Lưu nhận lời sang làm trọng tài. Ông vẫn thường khen Vương Long khéo biết “tề gia”.

Ba anh em lại mời xung quańh hàng xóm những người có địa vị, cả mấy ông tai to mặt lớn trong tỉnh, vừa giàu, vừa có quyền thế. Tất cả họp ở gian phòng rộng nhất nhà Vương Long, phân ngôi thứ tự cao thấp, ngồi họp bàn hội nghị.

Ông lái thóc (ông Lưu) ngồi ghế chủ tọa bảo anh Hai trình tờ kê khai gia sản, ruộng vườn, đất cát, của chìm của nổi. Anh Hai đứng dậy, trịnh trọng trao tận tay anh Cả tờ khai, anh Cả kính cẩn đệ trình lên chủ tọa. Chủ tọa nghiêm nghị mở to tờ giấy trên bàn, đặt lên mũi cặp mục kỉnh gọng đồng lẩm bẩm đọc. Cử tọa ngồi im phăng phắc, chăm chú nhìn lên bàn hội đồng làm việc. Chủ tọa dọn giọng đọc lớn tờ khai gia sản. Toàn thể cử tọa, ai cũng sửng sốt vì Vương Long để lại một cơ nghiệp thật hùng vĩ, lớn nhỏ có hơn 800 thửa ruộng. Thật ít khi nghe thấy một người hay một họ có nhiều của cải đến thế. Ngoài ra, xưa kia có nhà họ Hoàng tiếng tăm lừng lẫy là giàu có, anh Hai biết rõ đã lâu, anh không ngạc nhiên, còn mọi người ai cũng kinh ngạc nhưng cố giữ vẻ bình tĩnh.

Riêng có chú Ba là thản nhiên, không thấy đổi sắc diện. Chú không để ý, tâm hồn vẫn như ở đâu đâu, chỉ mong công việc cho chóng xong để rồi lại đi. Ngoài ruộng nương đất cát, lại còn hai ngôi nhà, một nếp nhà ở quê và một tòa nhà lớn ở tỉnh tậu khi xưa của nhà họ Hoàng. Giòng họ này bị sa sút, con cháu phiêu bạt. Nào nhà, nào ruộng, ấy là chưa kể những món tiền lớn cho vay, cho mượn rải rác khắp nơi, lại còn số vốn lớn buôn thóc, những bao tải bạc nén chôn, nghĩa là riêng số tiền mặt cũng đã quá nửa của chìm. Cái gia tài đồ sộ đó, trước khi đem ra chia cho ba người cần phải định đoạt, xếp đặt cho xong, cho ổn thỏa những món phần cấp dưỡng. Có mấy món nhỏ cấp dưỡng cho vài người tá điền (cựu bộc) duy có hai món lớn về phần của hai người nàng hầu của Vương Long. Liên xưa kia làm ở một phòng trà, nom cũng có mẽ, Vương Long thấy vừa mắt chuộc ra, cô ả cũng khéo biết chiều chuộng.

Vương Long chê bà vợ cả quê mùa cục mịch, nên ơ hờ bỏ lửng, không hỏi han đến. Hoa Lê chỉ là một nữ tỳ, Vương Long mua về để sớm hôm hầu hạ đấm bóp. Cả hai, ả Liên và Hoa Lê, không được đứng vào hàng thiếp (vợ lẽ) chỉ được xếp vào hạng nàng hầu, con ở. Đã là nàng hầu, nếu chẳng may ông chủ quá cố, mà hãy còn ít tuổi, có thể được đi kiếm chồng, không ai nói năng chê trách làm gì. Cảba anh em cũng hiểu nếu hai cô ả này không chịu đi, ở lại – mà họ có quyền ở lại – phải nuôi họ ăn, nuôi họ mặc, cho trọn đời mãn kiếp. Á Liên dĩ nhiên không thể nào tấp tễnh đi lấy chồng, vừa già vừa phục phịch, được ở lại có người phải nuôi báo cô là toại nguyện lắm rồi.

Khi chủ tọa đọc đến tên ả (ả ngồi ở ghế gần cửa) vội vàng nhỏm dậy, hai tay vịn vai hai con ở, lấy ống tay áo quệt nước mắt, nói với một giọng nghe đến bi ai não ruột:

– Ới quan ơi! Quan bỏ con quan đi đâu, con bơ vơ, con còn thiết gì, mơ tưởng gì đến ai, con biết đi đâu bây giờ, hỡi quan ơ ơ ơi (hu hu)!

Vừa nói vừa khóc, thổn thức nghẹn ngào trong họng:

– Ngần này tuổi đầu ăn được là bao, mặc được là bao, thỉnh thoảng nhấp một tí rượu, hút một điếu thuốc cho lòng đỡ trống trải cơ cực, ba ông con quý tử của quan cũng chẳng hẹp lượng gì với con.

Chủ tọa (ông lái Lưu) tính hiền hòa chất phác, tưởng ai cũng tốt cả, nhìn cô ả động lòng trắc ẩn, ái ngại không biết lai lịch gốc tích cô ả, chỉ biết ả là nàng hầu của ông bạn cố tri, chẳng may đã thất lộc.

Ông ôn tồn phủ dụ:

– Chị ăn nói nghe được, thiên hạ ai cũng biết cụ cố đây là người phúc hậu. Tôi quyết nghị:

– Cho phép chị ở đây, mỗi tháng cấp cho chị Hai mươi nén bạc, cho chị có đầy tớ riêng và mỗi năm cấp thêm vài súc vải.

Nàng cố lắng tai nghe, không bỏ sót một câu, một chữ, đưa mắt nhìn ba ông con trai Vương Long rồi thất thanh nàng nói lớn:

– Có hai chục nén thôi à! Thật con không đủ tiền quà, con ăn uống độ này kém quá, cơm nước sô pha không sao nuốt được.

Chủ tọa sửng sốt, rút đôi mục kỉnh đặt xuống bàn, nhìn thẳng vào ả, nghiêm nghị nói:

– Nhiều gia đình cũng giàu có, khá giả, vào trường hợp này, hạng như chị may lắm chỉ được một nửa chỗ tôi quyết nghị. Tôi xử thế là hậu lắm rồi.

Cô ả không còn biết nói thế nào, bù lu, bù loa khóc lóc kể lể:

– Ối trời ơi! Quan bỏ con quan đi đâu để con bơ vơ vất vưởng biết nương tựa trông cậy vào ai … hu hu!

Chị Cả đứng gần đó, nấp sau bức rèm, tức chịu không nổi, vạch rèm ra hiệu cho chồng, ý muốn bảo: trước mặt quan khách một chỗ trang nghiêm, không thể để nó lộng hành quá thế được. Liên khóc lóc, kể lể, thảm thiết ghê gớm quá làm anh Cả ngồi không yên, anh cố hết sức tránh không được, không muốn nhìn ả.

Anh đứng dậy, hướng về chủ tọa, nói lớn át tiếng ồn ào:

– Xin chủ tọa tăng thêm cho hắn ít nhiều.

Anh Hai nghe chướng quá, đứng dậy nói lớn:

– Nếu cần phải cho ả thêm xin rút ở phần anh Cả. Hai mươi nén quá rồi, thừa tiền đánh bạc.

Anh Hai nói thế vì Liên càng về già càng ham mê cờ bạc, mê quá nhiều khi quên cả ăn cả ngủ.

Chị Cả vô cùng phẫn uất giơ tay múa chân, ra hiệu cho chồng đừng có nghe, chị lầm bầm nói lớn:

– Có cấp dưỡng, thì cấp cho cô nhi quả phụ, hạng ấy là cái thớ gì mà cũng ỉ eo.

Buổi họp đang phẳng lặng, bỗng đột nhiên huyên náo ồn ào. Chủ tọa lúng túng chưa biết phân xử thế nào, đưa mắt nhìn khắp mặt cử tọa. Liên được thể càng làm hăng, ồn ào quá, mọi người ai cũng thấy khó chịu. Tình trạng đó có thể kéo dài chưa biết đến bao giờ, nếu chú Ba không cáu tiết đứng dậy đi lại mấy bước, nện đôi ủng da xuống nền gạch:

– Được rồi, xén vào phần của tôi, làm quái gì một tí tiền, thêm, bớt, nhiều, ít, chán lắm rồi, xin chấm dứt.

Hội nghị đang lâm vào bí nay đã tìm được lối thoát.

Chị Cả nói:

– Phải! Chú ấy chưa vợ, chưa con mới rộng rãi được chứ, chúng tôi còn một lũ con.

Anh Hai khẽ rung đùi, tủm tỉm cười, nghĩ thầm: “Thây kệ chẳng hơi đâu, mày ngốc thì mày thiệt”.

Chủ tọa thấy nhẹ cả người, ông thở mạnh, rút khăn tay lau mặt, ông này quen sống bình thản, nho phong, chưa hề tiếp xúc với những hạng như Liên.

Được thể, đáng lý ả còn om sòm lên nữa nếu ả không ngó thấy nét mặt cứng rắn của chú Ba, ả cũng khôn hồn rút lui không dám làm già quá. Á nín bặt, ngồi xuống ghế, đắc chí đã thắng lợi, cố giữ được một lúc nét mặt rầu rầu, rồi thản nhiên chẳng ngượng ngùng nhìn mọi người. Con ở đưa đĩa hạt dưa, ả thò tay bốc một nắm, cắn chắt. Tuy đã khá tuổi hai hàm răng ả còn chắc và trắng lắm. Bây giờ, ả thật là yên chí, ngồi cắn hạt dưa.

Thế là phần cấp dưỡng cho ả Liên được kết thúc.

Chủ tọa đưa mắt nhìn cử tọa một lượt, cất giọng hỏi:

– Ai là nàng hầu thứ hai? Tôi thấy tên có ghi ở bản danh sách?

Nàng hầu thứ hai là Hoa Lê, chưa ai để ý có mặt ở hội nghị hay không. Ai cũng nhớn nhác nhìn ở trong phòng không thấy có ả. Mấy con ở lục tìm ở mấy căn phòng trong nhà cũng không thấy. Anh Cả đã quên không cho ai gọi ả đi họp, vội vàng cho người đi triệu cấp tốc cô ả. Trong khi chờ đợi mất một hai tiếng đồng hồ, cử tọa giải lao và đi bách bộ. Một lúc lâu Hoa Lê đến với con ở, đứng nơi ngưỡng cửa. Trong phòng đông người quá, nàng rụt rè, e lệ không dám vào. Chợt nhận thấy một người ăn mặc quân trang nàng quay phắt người, chạy ra sân. Chủ tọa phải thân hành ra ngoài sân để phủ dụ. Ông Lưu nhìn nàng với cặp mắt dịu dàng, hiền hòa, không ngó thẳng vào mặt, sợ nàng bẽn lẽn, thấy nàng còn ít tuổi, xanh xao, có nhan sắc, ông nói:

– Cô còn ít tuổi, không ai chê trách cô đâu mà ngại. Nhà người ta giàu có, thế nào phần cô cũng được một số tiền, nếu không ở vậy, đi lấy chồng, tùy ý không ai ngăn cản.

Nàng không ngờ được nghe những lời nhân đức, hiền hậu, tưởng họ cho gọi lại để khu trừ. Nàng trả lời, tỏ vẻ sợ sệt, hãi hùng:

– Thưa cụ, cháu không có nhà cửa gì cả, chẳng có ai họ hàng thân thích ngoài con bé nhỏ quan để lại. Bây giờ mẹ con cháu không biết đi vào đâu. Chúng cháu ăn uống dè xẻn, quần áo bằng vải bông, thô sơ, không làm gì bằng lụa, cháu không quấy nhiễu ai hết.

Chủ tọa trở về phòng họp. Ông ngạc nhiên, hỏi anh Cả:

– Nàng nói có một con bé con, vậy con bé ấy là thế nào?

– À! Một nghịch nhi, kể ra cũng là một em gái chúng tôi nhưng sinh không được đường hoàng, chính nghĩa; ông cụ, bà cụ chúng tôi không muốn để cho chết đói hay khổ cực, sống được ngày nào thì sống, cho nuôi nấng nên còn lại đến ngày nay. Ông thân tôi giao cho chị ta nuôi. Nếu không muốn lấy chồng, cho chị ta ít tiền để hai mẹ con nuôi nhau. Người cũng hiền lành không sợ phiền nhiễu, quấy quả.

Liên đột nhiên xen vào:

– Phải, nó làm gì cần phải tiền bạc cho lắm, nó là hạng con ăn con ở trong nhà này, cho nó ăn uống thế nào cũng được, quần áo vải bông là tốt lắm rồi.

Chú Ba nghe thấy quắc mắt nhìn Liên một vẻ kinh khủng, ả sợ quá mồm lẩm bẩm quay đầu nhìn chỗ khác.

Chú Ba nói:

– Con trẻ cũng như con già, hai phần bằng nhau. Tôi chia đều.

Liên cau mặt nhăn mày, bực bội, nhưng không dám nói to, lẩm bẩm:

– Vô lý, con già con trẻ bằng nhau, chính thị ấy là đầy tớ cũ của tôi.

Biết rằng con bé này lại sắp giở cái trò ầm ĩ, chủ tọa vội vàng tuyên bố:

– Tôi quyết nghị:

Cho nàng hầu thứ nhất, hai mươi nhăm nén bạc.

Cho nàng hầu thứ hai, hai mươi nén bạc.

Rồi quay về phía Hoa Lê, ông nói tiếp:

– Xong rồi, cô yên chí trở lại nhà, cô được phép làm gì tùy theo ý muốn. Mỗi tháng được trợ cấp hai mươi nén bạc để chi tiêu nhật dụng.

Hoa Lê sung sướng quá, cảm tạ chủ tọa, hội đồng. Lúc mới đến nàng sợ run lên không biết thế nào, bây giờ như được cất gánh nặng, lại được trở về ngôi nhà đất và đời sống bảo đảm.

Thế là mấy phần cấp dưỡng được dàn xếp ổn thỏa, hội đồng phê chuẩn và thông qua. Chủ tọa sửa soạn đem gia tài ruộng nương nhà cửa, tiền bạc chia làm bốn phần: anh Cả, trưởng gia đình, được hai phần, còn hai phần về hai em. Chú Ba, đột nhiên đứng dậy nói:

– Phần của tôi, xin miễn chia nhà và ruộng. Lúc nhỏ tôi đã ngấy lắm về ruộng, ông cụ thân tôi đã muốn tôi nhập tịch dân cày. Tôi độc thân, chưa vợ, tôi làm gì bằng nhà, bằng ruộng. Xin chia cho tiền thôi, nếu phần của tôi cũng phải có nhà và ruộng, xin hai anh mua giùm và xin trả tiền cho.

Hai người anh nghe lạ tai quá vì chưa từng có người nào đòi lấy phần gia tài bằng tiền cả. Tiền tiêu đi là hết chứ nhà cửa ruộng nương, còn di tích mãi mãi.

Anh Cả nghiêm nghị nói:

– Chú phải biết, ở trong thiên hạ, một người đàn ông đứng đắn, tử tế, không bao giờ ở độc thân suốt đời. Cha nay đã quy ẩn, trước sau chúng tôi phải lo liệu lấy vợ cho chú mà lẽ đương nhiên phải thế. Lúc đó chú cũng cần phải có nhà, có ruộng cho nền nếp.

Anh Hai tiếp lời, có vẻ thực tế hơn.

– Phần ruộng chia cho chú, chú muốn làm gì tùy ý, chúng tôi không khi nào mua lại. Đã có nhiều gia đình, anh em bất hòa vì thế, tiền tiêu cho hết, rồi trách móc oán thù cho là bị gạt gẫm nên không có ruộng nương đất cát. Nếu

chú bằng lòng, tôi sẽ đảm nhiệm số ruộng của chú, hàng năm thu hoạch được bao nhiêu tôi sẽ gởi cho. Chú đòi phần của chú bằng tiền cả, không sao nghe được.

Câu nói đanh thép đó cả cử tọa ai cũng công nhận là rất hợp lý. Tuy nhiên “ông quân nhân” vẫn còn lẩm bẩm:

– Nhưng tôi không thích nhà, ruộng, thì đã sao?

Không ai chú trọng câu chú nói, duy có chủ tọa, tò mò hỏi xoi mói:

– Cậu định làm gì cần lắm tiền thế?

“Ông quân nhân” trả lời, giọng cục cằn:

– Tôi cần bảo vệ một chủ nghĩa.

Câu đó không ai hiểu “ông” ấy định nói gì.

Chủ tọa, suy nghĩ, cân nhắc, một lúc rồi ra quyết nghị về các phần chia:

– Nếu, quả thực “chú” không muốn dự phần vào ngôi nhà lớn ở tỉnh, để cho “chú” căn nhà bằng đất cũ nát ở nhà quê (căn nhà này sự thực vô giá trị, chỉ tốn ít công lấy đất ở ruộng đắp lên).

Quyết nghị trù liệu một món tiền, giao cho hai anh giữ, để sau này cưới vợ cho chú. Ông cụ đã quá vãng, hai anh lớn phải đảm nhiệm, lo liệu về việc đó. Chàng quân nhân lẳng lặng ngồi yên, theo dõi hội đồng làm việc. Nhờ sự sáng suốt, cương trực của chủ tọa, mọi trở lực được dàn xếp, quân nhân được ổn thỏa, hợp pháp. Ba anh em con Vương Long mở tiệc khoản đãi hội đồng và tất cả mọi người hiện diện ở buổi họp. Một tiệc rượu thân mật, không phải yến ẩm liên hoan, chủ nhân không ăn mặc chải chuốt, lượt là, vì chưa đoạn tang.

Bao nhiêu đồng ruộng bát ngát, Vương Long đã suốt đời nai lưng tận tụy bồi đắp, nay phút chốc phân tán, tản nát cho lũ con lão, còn phần của lão, thu hẹp có một mảnh đất nhỏ, lão an nghỉ ngàn thu ở đó. Trên mảnh đất đó, con cháu lão vẫn có quyền tùy ý sử dụng, phần dưới mới thật là phần của lão, vĩnh viễn, bất khả xâm phạm, phần mà đất cùng thịt, xương, máu mủ lão hòa hợp cùng nhau. Cuộc phân chia vừa chấm dứt, người tráng sĩ và bốn lính tùy tùng đã sửa soạn quân trang lên đường về nơi xa xăm bí mật.

Anh Cả thấy sự vội vàng hấp tấp, kinh ngạc hỏi:

– Chú đi đâu mà vội vàng thế?

Người tráng sĩ đang buộc thanh đoản kiếm ở dây lưng, ngừng lại, nhìn người anh từ đầu đến chân, thấy một người tầm thường, nhu nhược, mặt béo phị, đôi môi dày, thân hình phục phịch, núng nính những thịt, hai bàn tay đàn bà mẫn mụi thịt nhẽo, móng tay dài. Tráng sĩ đưa mắt nhìn chỗ khác, trả lời đầy giọng khinh bỉ:

– Nếu không nói rõ vị tất đã hiểu, tôi chỉ cần nói là tôi phải khẩn cấp lên đường, trở lại nơi mà có hàng bao nhiêu người chờ tôi về để thi hành nhiệm vụ, những người sẵn sàng triệt để tuân theo mệnh lệnh của tôi.

Anh Cả xưa nay vẫn tự đắc tưởng chừng mình được kính nể, không nhận thấy sự khinh bỉ của em đối với mình, nghe nói chưa hiểu thế nào, lại hỏi:

– Thế lương của chú chắc khá lắm nhỉ?

Tráng sĩ trả lời cộc lốc:

– Cũng có khi nhiều, mà nhiều lúc không có một xu nào.

Không thể tưởng tượng được đi làm việc mà không được trả lương, anh Cả lại nói:

– Tôi mà đi lính như chú, đã đóng đến đội trưởng, đội triếc trông coi bao nhiêu người kể cũng khá, nếu làm với ông chủ tướng nào không trả lương, nhất định tôi chuồn sang làm cho ông khác, chứ đi làm mà không có lương, thật là phi lý.

Tráng sĩ đứng yên, không nói năng gì, trong đầu óc còn suy nghĩ xếp đặt để lên đường. Một ý nghĩ vừa vụt đến, tráng sĩ vội vàng chạy lại tìm anh Hai và căn dặn:

– Anh nhớ đừng quên, tháng tháng trả cho người nàng hầu thứ hai của cha, phần cấp dưỡng của nàng. Hàng tháng anh có gửi tiền cho tôi, anh nhớ khấu đi năm nén, là tiền tôi  cho thêm.

Anh Hai sửng sốt, không hiểu sao lại cho nhiều thế, trợn tròn mắt, hỏi:

– Sao lại phải cho lắm thế?

Tráng sĩ có vẻ hấp tấp vội vàng, trả lời cụt lủn:

– Người ta còn phải nuôi con, chớ sao!

Ý muốn nói nữa nhưng lại thôi, chàng nóng ruột, bốn tên lính đã đeo bọc lên vai, tề chỉnh chờ chàng ở sân. Chàng rảo bước ra đi với mấy tên lính, sung sướng như được cởi mở, thoát vòng kiểm tỏa của người cha già. Chàng, một tráng sĩ hiên ngang, chí muốn tung hoành, vùng vẫy, không chịu một sự chi phối, khuôn khổ, chật hẹp, gò bó. Tâm trạng hai người anh cũng chẳng kém gì em, cũng mong cho chóng thoát vòng cương tỏa của nghiêm đường, được sống một cuộc đời phóng khoáng.

Người anh Cả chờ chóng hết ba năm, đoạn tang, đặt bài vị cha lên bàn thờ cộng đồng cùng với các bài vị tổ tiên, trên gác xép ở gian phòng giữa nhà.

Suốt ba năm tang chế, Vương Long được thờ riêng biệt trong căn phòng bên. Các con tưởng chừng như hồn cha còn lẩn quất đâu đây, còn xét nét hành vi của các con. Người con trai lớn muốn được hoàn toàn tự do, ăn tiêu theo sở thích, nhưng chưa dám, bài vị cha còn đó, hồn cha còn đó, y phục còn sô gai, tang chế, mọi hoan lạc phải đình chỉ. Một người vô công rồi nghề như anh, trong óc mơ ước, tơ tưởng thú vui thầm lén, cha tuy đã chết, song hồn như hãy còn đủ uy lực để chế ngự anh.

Người con thứ hai đã vạch sẵn một chương trình hoạt động. Anh muốn “đẩy” một số lớn ruộng, phần của anh, lấy tiền để khuếch trương thương mại ngũ cốc. Chí anh muốn lấy lại mấy thị trường của ông Lưu. Ông này đã già, con trai. theo nghiệp bút nghiên không muốn nối chí cha về thương trường. Anh định mở mang buôn bán lớn, dùng ghe thuyền chở lúa ở vùng anh đến bán ở các vùng xa. Anh hãy còn khan tang trên đầu, phải thủ hiếu chưa thể hiện những mộng lớn anh phải cố nén tâm chờ. Anh chưa bộc lộ ý kiến đó cho ai biết, có một lần ngồi rỗi, anh hỏi anh Cả:

– Khi mãn tang, anh đã tính số ruộng thế nào chưa? Nên bán hay nên để?

Câu trả lời của người anh Cả phát lộ chân tướng một người vô tư lự:

– Thật ra, tôi chưa nghĩ đến vấn đề đó, tôi thiết tưởng tôi cần phải giữ lại một phần lớn số ruộng để đủ ăn đủ tiêu trong gia đình tôi. Tôi không làm lụng, buôn bán gì, mà trời cho cũng có tuổi, không muốn tham vác bôn ba.

Anh Hai nói:

– Ruộng đất thật là cả một vấn đề nhiêu khê, vất vả. Nếu ý anh muốn làm điền chủ, muốn có miếng ăn, phải tự mình thân chinh coi sóc các tá điền, phải tự mình đi cân thóc lấy, lại còn bao nhiêu công việc nặng nhọc nữa. Khi xưa, còn cha, tôi đảm đương lo liệu hết, bây giờ tôi không thể trông nom giúp anh được vì tôi còn có công việc riêng của tôi. Phần ruộng của tôi, tôi sẽ bán hết, chỉ giữ lại mấy miếng tốt, tiền tôi cho đặt lãi nặng, rồi anh xem, anh và tôi ai mau giàu hơn ai?

Anh Cả nghe thích quá, hợp ý anh, anh rất cần tiền, anh nói khẽ:

– Được rồi, để tôi xem có lẽ tôi cũng cần phải bán một số lớn ruộng, tiền tôi cho đặt lãi cùng với chú.

– Được rồi chúng ta sẽ thảo luận sau.

Chẳng ai bảo ai, hai anh em, khi nào nói đến bán ruộng là hạ thấp giọng, nói khe khẽ, tưởng chừng như hồn cha già còn nghe thấy. Hai người cố kiên nhẫn chờ, ngày qua tháng lụn, mong cho chóng hết ba năm. Ả Liên cũng sốt ruột cằn nhằn ba năm sao mà lâu thế! ‘Theo gia pháp tục lệ, ả không được ăn mặc chải chuốt lượt là, phải đeo mấy bộ áo vải bông thô kệch, không được đi lại nhà chúng bạn ăn uống tiêu khiển, có khi phải thầm lén vụng trộm. Tuổi đã nhiều, bây giờ ả thường đi lại giao lưu với năm, sáu bà già, nhà cửa nom cũng đàng hoàng ra vẻ, mấy bà lão thường đi song loan tới nhà nhau, cờ bạc, rượu chè.

Theo thói thường, chủ đánh bạc được hay không nô tỳ theo hầu có bổng, nên con nô tỳ của Liên phỉnh phờ, xui giục ả vào cuộc đỏ đen. Duy chỉ có Hoa Lê thản nhiên, không có vẻ gì vội vàng, hấp tấp, chờ mong. Không ai để ý đến nàng, âm thầm lặng lẽ, nàng ra khóc ở mộ Vương Long.

Hai anh em cố nén tâm chờ, mong cho chóng hết ba năm (mọi kế hoạch dự tính phải tạm hoãn thi hành). Trong thời gian chờ đợi, hai gia đình, vợ chồng con cái ở chung một ngôi nhà lớn. Sự chung đụng không phải là một việc dễ dàng, bọn đàn bà khích bác, thù ghét nhau. Hai chị em dâu hục hặc lẫn nhau, thành bọn đàn ông cũng rất bực mình khó chịu. Đàn bà có điều gì tức tối, bất mãn, không bao giờ để bụng, tỉ tê kể lể hết cho chồng nghe.

Chị Cả, hậm hực, một hôm nói với chồng:

– Thật lạ quá, từ ngày tôi bước chân về làm dâu nhà này, đáng lý họ phải biết kính nể tôi, họ lại coi thường, coi khinh tôi. Còn mồ ma ông cụ, tôi cố cắn răng nhịn nhục. Ông cụ người thô lỗ ngu xuẩn, tôi thật xấu hổ với lũ con tôi, nó thấy ông nội nó là hạng người thế nào. Tôi cũng cố chịu đựng biết làm thế nào, vì ông cụ là cha có quyền. Ông cụ đã chết, bây giờ anh có biết con vợ thằng Hai nó đối xử với tôi như thế nào không? Thằng chồng nó vừa ngu vừa mù chữ, anh lớn nhất trong nhà, anh phải biết xếp đặt thế nào cho có tôn ti, thể thống chứ? Càng ngày nó càng coi tôi không ra mùi mẽ gì, cái con mụ nhà quê, thô lỗ, tục tĩu.

Anh Cả thở dài, cố nhịn, anh hỏi.

– Con ấy nó nói gì?

Chị Cả trả lời, giọng đành hanh:

– Có phải nó nói gì tôi đâu, nhưng khi nào nó nói gì, hai môi nó mấp máy, còn tiếng thì chết ở trong cổ họng, chỉ thấy cái điệu bộ nó cũng đủ phát ghét. Tôi vào gian nhà phòng nào mà có gặp nó ở đấy, nó vờ như đang dở bận việc gì, nó không thèm đứng dậy hay nhường chỗ cho tôi, mặt đỏ tía tai,

nó nói oang oang, không sao chịu nổi, thấy nó đi ngang mặt cũng đã đủ tởm rồi.

Anh Cả nói:

– Thật vô lý, tôi không thể lại bảo thằng chồng nó: vợ mày làm sao lúc nào cũng mặt đỏ tía tai, nói năng oang oang, làm mẹ lũ con tao không sao chịu nổi, không thể để vợ mày như thế mãi được.

Anh vừa nói, vừa lắc đầu, tay sờ dây lưng tìm cái điếu hút thuốc. Anh nghĩ câu nói của anh dí dỏm, anh nhếch miệng cười. Chị Cả không thuộc vào hạng đàn bà ăn nói liến láu nhanh trí khôn, biết đối đáp. Chị thâm thù em dâu là vì mụ này tuy quê mùa, ăn nói cục mịch nhưng chết cây gãy cành.

Chị Cả người tỉnh thành nói dõng dạc, chậm chạp, phong độ của người trên, chị nhà quê giương mắt nhìn trừng trừng nói một câu bâng quơ bóng gió làm chị Cả xấu hổ không biết đối đáp lại. Bọn đầy tớ nô tỳ đứng quanh đó, nghe thấy ngoảnh mặt cười rúc rích. Nên khi nghe chồng nói, chị tưởng chừng như anh chồng cũng chế nhạo, soi bói chị, thấy anh chồng ngồi yên trong chiếc ghế bằng song, tủm tỉm cười, chị hầm hầm tức quá, bắc chiếc ghế gỗ đứng phắt lên trên, hai mắt lim dim, đôi môi chúm lại chị nói:

– Tôi biết mà, tôi biết ông khinh rẻ tôi lắm mà. Từ ngày ông rước con đĩ ấy về đây, ông khinh bạc tôi mà. Tôi chỉ muốn chăm lo lễ bái, muốn đi đâu tu quách cho yên chuyện, tôi chưa bỏ nhà ra đi cũng vì một lũ con. Cái nhà này ông xem trước kia nó thế nào, bây giờ tôi sửa sang thu xếp lại nó thế nào? Vô ơn, vô ơn.

Nói xong chị lấy ống tay áo quệt nước mắt, đi thẳng vào trong buồng. Một lát sau, anh Cả nghe tiếng chị tụng kinh ở trong buồng vọng ra. Chị Cả khi đã đứng tuổi, chị thường giao du với các sư, vãi, chị chăm chỉ lễ bái, tụng kinh rất lâu, các ni cô năng lui tới, thuyết pháp cho chị. Lần này cũng như mọi lần khác khi nào tức giận điều gì, chị tụng kinh thật to. Anh Cả nghe thấy chị tụng niệm, buồn quá, anh thở dài, hai tay ôm đầu, vì từ ngày anh lấy con bé ấy đem về nhà, chị vẫn không bằng lòng, không nguôi cơn giận. Con bé này xinh xắn, ngây thơ, anh đi chơi tình cờ thấy ở trước nhà một gia đình nghèo khổ, con bé ngồi trên chiếc chõng tre, cạnh chậu nước đang giặt giũ quần áo rách; con bé dễ coi quá, anh lượn đi lượn lại, hai ba lần để ý nhìn, rồi anh lui tới nhà con bé nhiều lần. Cha con nhỏ cũng mừng đã gả bán cho một người giàu, lại có danh vọng, anh trả cho người cha con bé món tiền kha khá. Con bé còn dại dột, ngớ ngẩn quá, bây giờ anh biết rõ tâm tính nó, anh cũng tự lấy làm lạ sao lại đi mua một con bé ngớ ngẩn, lúc nào cũng lấm lét sợ bà Cả. Con bé chưa có bản sắc cá tính. Nhiều lần anh bảo nó, đêm vào ngủ trong buồng anh, nó cúi đầu lẩm bẩm:

– Nhưng bà có bằng lòng cho phép đêm nay chưa?

Có lần anh thấy nó độn quá, ngốc quá, anh phát cáu, thề lần sau anh sẽ tìm một con khôn ngoan, tai quái, không phải sợ vợ cả quá lố. Đàn bà hầu hết là thế cả. Nhưng nhiều khi anh thở dài nghĩ có lẽ thế này lại hơn, cửa nhà được êm thấm. Con bé này sợ chị Cả ghê lắm, tuyệt đối phục tòng, bà này lại gần, nó cúi đầu không dám nhìn thẳng. Tuy thế mà vẫn chưa vừa lòng bà Cả, lúc nào cũng ỉ eo trách chồng đi rước vợ lẽ về, nếu cần phải lấy vợ lẽ, lấy ai chứ đi rước của nợ ấy làm gì. Anh Cả làm thinh, cố nhịn vợ cho êm thấm cửa nhà.

Anh thấy con bé mặt mũi trắng trẻo hay hay, anh thích lắm, anh xót xa khi thấy vợ anh mắng mỏ, đay nghiến nó. Anh nghĩ phải đến dùng mưu mẹo xảo kế mới có thể gần gũi con bé được.

Khi thấy con bé sợ sệt không dám lại gần anh, anh bảo:

– Không ngại gì, cứ đến, bà ấy hôm nay đang cáu kỉnh, tao cũng sợ lắm không dám đến gần.

Thực ra chị Cả “lửa lòng” đã tắt, thời kỳ sinh nở bận mọn đã qua, sung sướng được “sạch sẽ” thảnh thơi, chiến thuật của anh là ban ngày anh và con bé hết sức chiều chuộng không làm trái ý, phật lòng chị Cả, ban đêm con bé yên chí lại với anh. Thật là một xảo kế lưỡng lợi, lưỡng toàn, không xảy ra ỷ eo xô xát ầm ĩ cửa nhà. Song còn chuyện xích mích với bà em dâu, dàn xếp quả thật khó quá.

Một hôm vợ anh Hai lại bảo chồng:

– Tôi thậm ghét cái con mặt trắng lột lột, anh làm thế nào mà ngăn hẳn nhà ra chứ tôi không thích chung đụng kẻo có ngày tôi nói nó không ra gì, bêu xấu bêu hổ cho mà coi. Nó tưởng nó ghê gớm lắm, mỗi lần gặp nó, hay nó đi đâu về, dễ thường tôi phải chắp tay vái dài. Bất quá nó cũng như tôi hơn gì tôi, tôi không khốn nạn như nó, cả cái thằng chồng nó béo chương, béo nứt. Anh thì anh, làm gì nhau?

Dầu sao, vợ chồng anh Hai cũng ý hợp tâm đầu. Anh người nhỏ bé, nước da vàng vàng, ít nói, vạm vỡ, hồng hào, tính nết cương trực, anh còn quý vì chị tinh quái, đảm, công việc trong nhà xếp đặt giỏi, mà hà tằn hà tiện, biết tiêu pha chắt bóp.

Bố chị là một dân cày, chị không quen sống đài các trưởng giả. Bây giờ giá chị đua đòi cũng được, nhiều người khác thì đã thế, nhưng chị vẫn giữ mực sống hồn nhiên như trước. Chị ăn uống xềnh xoàng, sô pha, mặc quần áo vải, không chuộng lượt là, nhưng phải một tật là hay nói, hay trò chuyện cả với người ăn người ở, chị cho như ngang hàng với chị. Chị Cả thấy thế, khó chịu quá. Có một việc, làm chướng tai gai mắt nhất chị Cả, làm chị khích nộ là con em dâu quần áo lôi thôi, lốc thốc, đi lếch thếch khắp nơi, khắp xóm, giày dép cũ kỹ vẹt gót, đầu bù, tóc rối, bế con bạ chỗ nào cũng vạch vú cho con bú. Vú để thỗn thện, thật đúng một mụ nhà quê.

Chuyện cô vợ anh Hai cho con bú đã xảy ra một cuộc xô xát kịch liệt, sự bất hòa giữa hai anh em và rút cục cũng phải tìm cách dàn xếp cho ổn thỏa, êm ấm. Có một hôm, nhân ngày đản sinh một vị thần linh có đền thờ trong tỉnh, bà Cả “lịch sự đài các” đi hành hương. Bà vừa ra cổng lớn để lên kiệu võng, chợt thấy vợ anh Hai, một mụ “nhà quê” ngồi ở thềm cửa đang cho con bú, vú để thỗn thện mà đang mặc cả mua con cá để làm cơm chiều.

Bà thấy sỗ sàng quá, không ra thể thống gì, bà tức quá, nhịn không nổi, bà nói:

– Thật là nhục cho gia phong, chị không biết ngượng ngùng, xấu hổ là thế nào à? Đến con ở tôi cũng không thể để cho nó làm quá thế được.

Bà ăn nói chậm chạp khoan thai, không sao đọ kịp với lời “mụ nhà quê”, chị này sấn sổ lại, nói:

– Còn ai lạ gì trẻ nhỏ nó phải bú mớm, có con cho bú thì làm sao? Tôi cho bú cả hai bên làm gì mà xấu hổ, làm gì mà hại đến gia phong hở?

Đáng lẽ, mụ gài khuy áo, mụ lại khiêu khích, vạch nốt vú nữa, đổi vú cho con bú. Mụ nói oang oang, họ kéo đông lại xem; mấy người đàn bà đang làm bếp, nghe thấy ồn ào cũng tất tưởi chạy ra, vừa đi vừa chùi tay. Bọn nhà quê đi chợ ngang, đặt gánh xuống, quây lại xem thích lắm. Bà “trưởng giả đài các” thấy họ xúm đông quá, những bọn mặt rám nắng, tầm thường, không chịu nổi, bà rút lui. Không đi lễ nữa, bà cho kiệu võng về, bà rảo bước trở vào căn phòng riêng của bà. Mụ “nhà quê” chưa từng nghe ai nói việc cho con bú là lỗ mãng, mụ vẫn thấy người ta cho con bú, có cần phải kén chọn chỗ nào nên, chỗ nào không nên, trẻ con nó khóc, biết nó khóc cái gì, chỉ biết cho nó ngậm vú để nó nín đừng khóc. Nghĩ thế chị cho là đúng lý nên càng làm già, chị bêu xấu bà cả, nghe rất vui tai, cả bọn đứng xem cười ầm lên, vui như đi xem chèo, xem hội. Có một con nô tỳ của bà Cả đứng đó, được chứng kiến tấn hài kịch, vội chạy đi “tâu” hết cho chủ.

 – Thưa bà, chị ấy bêu xấu bà ghê quá, bảo bà phách lối hợm hĩnh, bắt nạt ông con kinh quá, ông con không dám bén mảng với vợ bé, bà có cho phép mới dám gần mà bà lại còn  hẹn giờ! Thiên hạ xúm đông xúm đỏ lại nghe, họ reo ầm lên cười.

Nghe con ở nói thế, bà Cả tái mặt, nằm vật xuống chiếc ghế ở cạnh bàn. Con ở lại chạy đi nghe, một lúc nó chạy về, thở hồn hển như đứt hơi, cấp báo:

– Bây giờ chị ta đang bảo bà chỉ lo chuyện sư mô, chẳng trông nom gì đến con cái. Tụi sư cũng ghê lắm, không khéo nó quyến rũ bà.

Nghe thấy câu sỉ nhục quá quắt, bà Cả nhổm phắt trở dậy sai con ở lập tức ra gọi người gác cổng vào. Anh gác cổng là một anh nhà quê, cục mịch, trước làm ruộng cho Vương Long, bây giờ già nua, không có con cái, Vương Long thương người có nghĩa, nuôi để gác cổng. Anh đến lấm lét, sợ sệt, thấy bà cả, cúi đầu vái dài. Bà cả dõng dạc oai nghiêm bảo:

– Quan ra trà thất không có nhà, ông Hai cũng đi vắng, hiện ở ngoài cổng có sự lôi thôi, lộn xộn, tôi tạm thi hành nhiệm vụ. Tôi không muốn họ xúm đông trước cửa nhà, tôi cho phép anh đóng hết các cửa ngoài đường lại. Nếu bà Hai không chịu vào, đứng ở ngoài đường, thây kệ bà ấy, nếu có hỏi ai bảo anh đóng cửa, thì bảo là tôi ra lệnh cho anh, anh phải tuân theo. Lão bộc, không nói năng gì, cúi đầu chào đi ra thi hành đúng như lời bà chủ.

Mụ nhà quê vẫn đứng nói léo xéo, kể xấu bà cả, bọn người đứng xem thích chí, cười rầm rầm, mụ không biết sau lưng mụ các cánh cửa từ từ đóng hết. Đóng xong, lão bộc hé hai cánh cửa cái, chõ mồm nói giọng khàn khàn:

– Này … bà!

Mụ ngoảnh cổ lại thấy cửa đóng hết, vội vàng đẩy cửa bước vào, vẫn tay ôm con cho bú, mụ mắng lão bộc:

– Ai bảo mày được đóng cửa, đồ chó già.

Lão bộc khúm núm trả lời:

– Bà Cả bảo con đóng hết các cổng lại, bà không muốn họ xúm đông trước cửa nhà. Con cũng đã nói trước bà biết mà!

– Thế cửa này là cửa nhà mụ ấy hở? Nhà này là nhà tao, mày định để tao ở ngoài đường ngoài ngõ à?

Mụ nhà quê la thét om sòm, sấn sổ chạy vào buồng chị Cả. Bà này cũng đã biết trước, đã cẩn thận đóng hết các cửa gài then, ngồi yên chí, trong buồng tụng kinh. Mụ nhà quê tha hồ đập cửa, gào thét, không sao mở được chỉ nghe tiếng bà cả rầm rì ở trong buồng. Đêm hôm ấy, hai anh em được nghe vợ rỉ tai kể lể, mỗi chị nói một khác.Sáng hôm sau, hai anh em ra trà thất, nhìn nhau mặt buồn thiu. Anh Hai cố gượng cười bảo anh Cả:

– Chỉ tại bọn đàn bà làm cho anh em mình bất hòa, mà lúc này, huynh đệ huých tường, chí không nên. Tôi thiết nghĩ bây giờ nên ngăn nhà ra. Anh ở mấy gian phòng hiện đang ở, anh giữ lấy cổng chính trông ra phố. Tôi ở mấy gian phòng bên, tôi cho mở cửa thông sang phố bên. Có làm như thế họa chăng mới ở được. Nếu chú Ba về, chú ở phòng hiện thờ cha, mà sau này con Liên chết đi chú ở cả mấy gian ấy nữa.

Suốt đêm hôm trước, anh Cả được vợ kể đi kể lại, đầu cua tai nheo câu chuyện, lại còn ray rứt, đay nghiến, anh thề từ rày trở đi, anh không thể ngọt nhạt, việc gì cũng bỏ qua. Anh là trưởng gia đình, anh phải cứng rắn, phải nghiêm khắc, không thể để một con em dâu lăng loàn, lăng mạ vợ anh.

Nên khi anh Hai bàn về việc ngăn nhà, anh nhớ đêm hôm trước, bị ray rứt đay nghiến khổ quá, bèn trả lời giọng tức tối hậm hực:

– Con vợ chú quá lắm, lăng loàn quá, chú không biết nó lăng mạ, sỉ nhục mẹ các cháu trước mặt những bọn tầm thường thế nào ư? Thôi đừng nên nói nữa. Chú biết điều phải cho nó một trận; tôi bảo chú phải cho nó một trận nên than mới được.

Anh Hai nhấp nháy hai con mắt tí hin, anh nói để lấy lòng anh Cả:

– Anh và tôi, bọn đàn ông chúng mình, ai cũng biết đàn bà là thế nào, hạng gọi là khá nhất cũng ngu xuẩn ngờ nghệch nữa là. Bọn mình không nên để tai nghe họ, dính dáng vào công việc đàn bà. Đàn ông chúng mình còn hiểu

biết, dễ chịu hơn. Tôi cũng biết con vợ tôi tính nết rồ dại, quê mùa, anh nói lại với chị hộ tôi là tôi nói thế, và tôi gởi lời xin lỗi chị cho nhà tôi. Xin lỗi có mất gì đâu? Tôi nghĩ nên để bọn đàn bà, con nít ở riêng ra, nhà nào nhà ấy, có công việc gì anh em mình ra tiệm trà bàn luận, về nhà mỗi người riêng biệt một căn.

Anh Cả nói: – Nhưng … nhưng …

Anh Cả nghĩ ngợi chậm chạp, không mau trí lanh lẹ như anh Hai.

Anh Hai thoáng ý hiểu ngay, anh Cả còn lúng túng chưa biết nghĩ cách nào để cho chị Cả hả giận, anh Hai mau miệng mớm lời. Anh về bảo với chị ấy thế này:

– Tôi phải thẳng tay trị vợ chồng thằng Hai mới được, tôi ngăn chỗ chúng nó ở lại, thế là yên chí, chúng nó không còn sang quấy nhiễu lếu láo được.

Anh Cả, hợp ý, cười ha hả xát hai bàn tay chuối mắn với nhau. Anh nói:

– Chú cho xây ngay đi chớ!

– Được, để tôi gọi thợ nề lại ngay ngày hôm nay.

Chị Cả, chị Hai đều vừa ý, hỉ hả, kế đó hay đến nỗi người nào cũng tưởng mình đắc thắng, đối thủ bị lép vế. Hai anh em lại càng thân mật hơn xưa, anh nào cũng tự đắc mình khéo biết khu xử hiểu tâm lý đàn bà. Bây giờ họ yên chí, chờ ngày đoạn tang hẹn nhau ngày ra tiệm trà để bàn tính việc bán ruộng. Thấm thoắt, ngày tháng qua ba năm đã hết, họ giở niên lịch ra chọn ngày nào hợp để làm lễ trừ phục. Vợ chồng anh Cả bàn soạn, tính toán, sắp đủ nghi thức.

Theo tục lệ trong miền, suốt họ, những ai đã phải chịu tang, được mời đến ăn mặc tử tế, quần áo lượt là, gấm vóc, đàn bà được mặc áo đỏ phủ ngoài áo sô gai, đi ra cả ngoài đường qua cổng chính, ở đó đã xếp những đống giấy tiền lớn, giấy vàng, giấy bạc, các vị sư ở đó châm lửa hóa vàng. Trước ánh lửa chập chờn, họ cởi bỏ hết áo sô gai. Thế là xong lễ trừ phục, tất cả lại trở vào nhà, chuyện trò vui vẻ mừng những ngày tang tóc, buồn thảm đã qua; tất cả lần lượt, đến lễ trước bài vị Vương Long mới làm (bài vị cũ đã đem hóa) họ bày rượu thịt ra cúng.

Bài vị mới này để thờ vĩnh viễn, lồng trong một cái giá nhỏ, hai thứ làm bằng gỗ tốt. Thuê đóng xong, họ sơn then rất kỹ, các con nhờ một vị danh nho trong tỉnh, đề trong lòng bài vị tên và duệ hiệu của vong. Anh Cả kính cẩn hai tay nâng chiếc bài vị (con cái, họ hàng lũ lượt theo sau) đem đặt lên bàn thờ cao, ở đó đã có hai chiếc bài vị nữa của hai dân cày, cha và ông nội Vương Long.

Ba ông này lúc sinh thời cũng không ngờ khi chết lại có những bài vị đẹp đẽ như những đại phú gia. Họ tưởng bài vị của họ bất quá là một mảnh giấy trắng, con sẽ nhờ người nào võ vẽ biết dăm ba chữ, viết tên vào rồi đem dán lên vách căn nhà ở quê rồi lâu ngày rách nát ra từng mảnh. Khi Vương Long được ở ngôi nhà trên tỉnh, đã thuê thợ làm hai chiếc bài vị cho cha và ông nội hắn, làm như các tiền nhân của hắn lúc sống đã ở cả trên tỉnh trong ngôi nhà đó. Không có ai biết hồn phách các vị ấy có ở trong bài vị hay ở đâu?

Con cái Vương Long đặt bài vị cha vào đó, đóng cửa bàn thờ lại, đi ra trong lòng thư thái nhẹ nhàng.

Mọi công việc về Vương Long thế là hoàn tất, bây giờ tha hồ tiệc tùng, phè phỡn hoan lạc. Thật đúng lúc làm cỗ bàn, khoản đãi khách khứa.

Liên (nàng hầu thứ nhất của Vương Long) vừa già, vừa phục phịch to béo, mặc một chiếc áo sa tanh hoa to, màu lam nhạt. Tất cả ai cũng biết ả, nên không ai để ý, bình phẩm sự ăn mặc lố lăng của ả. Họ ăn uống vui vẻ, nô cười, anh Cả tính thích có những cuộc hội họp, cỗ bàn, ăn uống, anh hỉ hả lắm, luôn mồm mời:

– Xin mời uống cạn chén; thật cạn chén.

Hôm ấy, anh uống nhiều, mặt đỏ ửng, hai mắt đỏ ngầu. Vợ anh ngồi phòng bên với khách đàn bà, nghe nói anh sắp say, vội cho con ở chạy lại bảo:

– Lúc khác không sao, hôm nay đừng uống nhiều say quá không tiện.

Anh hiểu ý, cầm chừng không dám uống nữa. Anh Hai cũng vui vẻ lắm, nhưng anh không để ý mấy về khách khứa cỗ bàn, anh thừa dịp nói chuyện mảnh với mấy người khách, thăm dò xem có muốn mua ruộng của anh

không? Anh phao lên phần ruộng của anh toàn là thượng đẳng điền, anh muốn bán để làm việc khác. Hai anh em đều vui vẻ, hân hoan, ông già từ đây thật là người thiên cổ, chiếc dây vô hình ràng buộc hai người phải tùy thuộc vào ông đến đây thật đứt hẳn. Duy chỉ có một người hôm ấy vắng mặt ở bữa tiệc, đó là Hoa Lê.

Nàng đã cho người lại cáo lỗi, nói thác là con bé con của nàng không được khỏe. Vì suốt trong họ không ai để ý dến nàng, có hay không cũng được, nên anh Cả chấp thuận, bảo nếu con bé đau, miễn cho không đến cũng được. Cũng duy có nàng hôm đó chưa chịu “trừ phục” vẫn giữ nguyên áo tang, giày tang khăn tang, mà nàng cũng không cởi bỏ những đồ tang cho con nhỏ. Trong khi ở ngôi nhà trên tỉnh, mọi người đang chè chén, cỗ bàn vui vẻ, nô cười, nàng lại quay về công việc riêng biệt, thích thú của nàng. Nàng nắm tay con dắt ra cánh đồng, đến ngôi mộ Vương Long, hai mẹ con ngồi xệp xuống đất. Con bé yên chí có mẹ ở đó, tung tăng chơi đùa, nàng phóng tầm mắt ngắm nhìn đồng ruộng mênh mông, bát ngát. Này những thửa ruộng xanh dờn, cái dọc cái ngang, liên chỉ cho tận đến chân trời xa tít. Đó đây, xa xa vài nét xanh sẫm, cử động, đó là mấy bác nông phu đang cấy lúa. Nhớ lại xưa kia Vương Long cũng làm ăn vất vả như thế, cũng cặm cụi như thế. Hồi tưởng lại khi Vương Long về già, kể cho nàng nghe những chuyện trồng trọt, gặt hái, những chuyện trước khi có nàng ra đời, giảng cho nàng nghe miếng đất này nên cày bừa thế nào thửa ruộng kia nên trồng trọt làm sao.

Thế là một ngày trôi qua, một ngày họ hàng con cái Vương Long no say vui sướng, một ngày nàng ngắm nhìn đồng ruộng hồi tưởng lại những năm đã qua. Hôm đó, chú Ba không về, chú ở nơi xa xăm, góc biển chân trời, đang lo toan công việc của chú.

Diệp Khanh – từ một ‘thuyền nhân’ 3 tuổi đến chánh văn phòng West Point

nguoi-viet.com

Mạnh Kim

May 31, 2025

Post by Sơn râu 14 Jun 2025

SPRINGFIELD, Virginia (NV) – Màn đêm buông xuống. Tất cả đều di chuyển trong im lặng. Nếu để lộ hàng xóm biết và báo công an thì năm người trong gia đình, vợ chồng và ba con nhỏ, đều có thể bị bắt và bị tù.

Đại Tá Diệp Khanh và mẹ. (Hình: Mạnh Kim)

Ẵm cô gái út 3 tuổi Diệp Khanh, bà Đoàn Huệ ngoái nhìn lại những gì thân thương lần cuối. Đây là chuyến đi không hẹn ngày về. Tuy nhiên, họ đi không chỉ một lần mà đến chín lần, chỉ trong vòng hơn một năm. Thậm chí còn suýt bị ném xuống biển…

“Thuyền nhân 3 tuổi”

Kế hoạch vượt biên được bàn tính ngay khi ông Diệp Kiết Thái, chồng bà Huệ, trở về từ trại tù cải tạo. Là sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) (sắp lên chức đại úy vào những ngày trước 30 Tháng Tư, 1975), ông Thái đã bị bắt tù cải tạo như mọi người lính và sĩ quan VNCH khác.

Năm năm trong trại tù đã giúp ông Thái hiểu rõ hơn chế độ Cộng Sản. Chẳng có cái gì gọi là hòa giải dân tộc sau chiến tranh cả. Hai năm đầu, bà Huệ không biết tí gì về tông tích chồng. Lúc ông bị bắt đi tù, bà đang mang thai cô gái út Diệp Khanh. Sau đó, “người ta” mới cho biết họ giam chồng bà ở trại Kà Tum, Tây Ninh. Chỉ lúc đó bà Huệ mới được thăm nuôi. Mỗi lần chỉ gặp được hai tiếng…

Sau khi được thả về, ngày nọ, ông Thái nói với vợ, chúng ta phải đi. Bằng mọi giá. Thế là họ lên kế hoạch, móc nối các đường dây tổ chức vượt biên. Biết rằng không thể trở về quê hương, gia đình ông Thái đến chào từ biệt người thân. Chia tay trong nước mắt, người thân của gia đình ông Thái cũng biết họ khó có thể gặp lại con cháu.

Tuy nhiên, vài ngày sau, tất cả lại lục đục trở về. Cuộc vượt thoát không thành. Một lần, khi họ đến bãi tập trung, chó sủa nhặng lên. Bị công an rượt đuổi, họ chạy thoát đến một đồng ruộng. Trời mưa tầm tã, bà Huệ lấy tấm đệm che tạm cho các con. Chừng sáng ra, thấy êm, mình mẩy đầy sình, họ dắt díu ra đường cái, đón xe đò về Sài Gòn. Cảm giác tuyệt vọng cùng cực. Chẳng lẽ lại tiếp tục chung sống với cộng sản?

Không bỏ cuộc, ông Thái và bà Huệ tiếp tục móc nối, lại bán tất cả những gì có thể để gom vàng đóng cho đường dây vượt biên. Lại thất bại. Nước mắt giọt ngắn giọt dài chia tay người thân rồi lại trở về. Lại xoay xở đi tiếp. Có một lần, ngày lên đường ra bãi tập trung ở Bà Rịa lại xảy ra đúng vào lúc bà ngoại của bà Huệ mới mất. Gia đình bà Huệ chỉ có thể đến đám tang thắp nhang lạy từ biệt bà cố của ba đứa nhỏ.

Lần cuối cùng, gia đình bà Thái đã cạn kiệt. Nhà đã bán và họ phải nương náu tạm ở nhà ông bà ngoại. Người tổ chức vượt biên đòi sáu cây vàng trong khi bà Thái chỉ có thể xoay xở được bốn cây. Thân nhân bên ngoại phụ thêm hai cây. Trong chuyến đi này, gia đình bà Huệ không chào từ biệt ông ngoại của ba đứa nhỏ. Ông đang ngủ. Họ không muốn đánh thức ông và cũng không muốn một lần nữa lại chia tay trong nỗi đau. Lúc đó, đứa con trai lớn nhất của gia đình bà Thái lên 7 tuổi; cô em kế lên 5 và Diệp Khanh chỉ mới 3 tuổi.

Nhận cọc phân nửa số vàng từ gia đình ông Thái, bà chủ tổ chức vượt biên, cũng cùng đi trong chuyến này, nói rằng ông Thái dẫn trước hai đứa con ra bãi. Ông và hai đứa nhỏ sẽ được ghe taxi đưa ra tàu đậu sẵn ngoài khơi. Bà Huệ cùng Diệp Khanh được yêu cầu ra sau. Không nên đi cùng lúc vì dễ bị chú ý.

Đại Tá Diệp Khanh. (Hình: Diệp Khanh cung cấp)

Người ta dặn, cứ đến địa điểm tập trung nằm chờ. Thế là bà Huệ dắt Diệp Khanh ra Long Hải. Ngủ một đêm, sáng hôm sau, bà Huệ dắt bé Khanh ra điểm hẹn. Tuy nhiên, vừa ra đến bãi thì bà Huệ được báo tin rằng chồng và hai con đã bị bắt. Vụ việc bị lộ. Tất cả đã bị nhốt trong đồn công an. Nói rằng mình may mắn mới chạy thoát, bà chủ tổ chức vượt biên yêu cầu mọi người, trong đó có mẹ con bà Huệ, nên về nhà càng sớm càng tốt. Nấn ná ở lại chắc chắn bị hốt cả ổ.

Bà Huệ không về. Có gì đó bất thường. Dường như bà chủ tổ chức vượt biên nói dối, vì lý do nào đó. Người chủ nhà trọ tiết lộ với bà Huệ rằng, tối hôm đó, sẽ có một ghe taxi chở thân nhân của bà chủ ra chiếc tàu vượt biên đang neo ngoài khơi.

Nghe tin này, bà Huệ mừng quýnh. Bà biết chồng và hai con nhỏ còn trên tàu. Thế là bà Huệ dò hỏi tìm nhà “ông taxi.” May mắn sao, có người chỉ. Bà Huệ dắt Diệp Khanh đến nhà ông lái ghe taxi. Đến nơi thì trời tối sụp. Lên tiếng nhiều lần không thấy ai trả lời, bà Huệ xông đại vào nhà. Bên trong tối om.

Một lúc sau, nghe tiếng chân bước vào, bà Huệ cùng bé Khanh vẫn ngồi im trên giường. Khi thắp cây đèn dầu lên, ông taxi hoảng hồn. Sẵn gần cái gối, ông chụp đại và ném vào bà Huệ, kinh hoảng hỏi, bà là ai, sao ở đây, vô nhà tui làm gì…

Bà Huệ kể lại sự việc và nài nỉ ông taxi đưa bà ra tàu lớn. Giãy nãy từ chối, ông taxi nói rằng: “Bà chủ không trả tiền cho nên tôi không rước ai.” Bà Huệ kiên nhẫn van nài: “Tôi còn ít tiền, tôi đưa anh hết. Anh làm ơn đưa hai mẹ con tôi đi, cùng tất cả những người bị bỏ lại ở đây.”

Dù không quen biết người nào trong số những người bị bỏ lại, chừng 7-8 người, nhưng bà Huệ không đành lòng bỏ mặc họ. Cuối cùng, ông taxi mủi lòng.

Rạng sáng hôm sau, ông taxi giấu Diệp Khanh trong cần xé, phủ bạt lên che. Cùng bà Huệ mỗi người nắm một quai cần xé, họ giả làm dân bán cá, đi ra bãi biển. Ở đó có chiếc ghe của ông taxi. Tới nơi, ông taxi đặt Khanh vào cái thúng và bỏ lên ghe.

“Bà đi núp đi, lát nữa tôi đẩy ghe ra rồi bà lội ra theo. Lần chần ở đây rất nguy hiểm,” ông nói.

Bà Huệ không “đi núp.” Bà không thể để Diệp Khanh chơi vơi một mình trên ghe. Bà nắm chặt thành chiếc ghe đang lắc lư theo sóng biển. Lúc đó, bãi biển xuất hiện nhiều người “canh me” – những người không có tiền nhưng rình canh thấy tàu vượt biên thì phóng đại lên. Theo ánh đuốc trên chiếc tàu lớn, mọi người túa nhào ra. Bà Huệ lật đật leo lên ghe. Khi ghe taxi đến sát chiếc tàu, bà thấy có ai đó kéo bé Khanh lên. Rồi một cánh tay nào đó cũng nắm bà…

Thời trung học, Diệp Khanh nổi tiếng toàn tiểu bang Texas với môn tennis. (Hình: Gia đình cung cấp)

Chuyến vượt biên kéo dài năm ngày năm đêm. Mọi người đói khát, tưởng như bỏ mạng ngoài biển khơi. Tàu không có mui. Trời lúc nắng chang chang, lúc mưa xối xả. Chưa hết, ngày nọ, mọi người hoảng hồn khi thấy hai tàu hải tặc. Đàn bà con gái khóc vang trời. Nhiều người sụp xuống vái lạy cầu xin Trời Phật.

Ông Thái lôi bà Huệ xuống hầm tàu, lấy dầu nhớt bôi lên mặt bà. Trên hai tàu hải tặc, súng AK chĩa thẳng vào con tàu vượt biên. Không ai biết chúng sẽ làm gì. Tuy nhiên, dường như bọn hải tặc nghĩ rằng nếu một trong hai nhóm động thủ cướp thì sau đó chúng sẽ bắn nhau để tranh giành. Thế là chẳng nhóm nào động chân động tay. Sau một lúc, hai tàu hải tặc bỏ đi.

Sau năm ngày năm đêm, tàu vượt biên của bà Huệ đến bãi biển Malaysia. Họ được đưa đến trại tị nạn Pulau Bidong. Ở đó mấy tháng, sau đó, họ được đưa qua Philippines để học tiếng Anh rồi đến Mỹ…

Con đường trở thành chánh văn phòng West Point

Một tháng sau khi đến Mỹ, ông ngoại của ba đứa con bà Huệ từ trần. Mãi sau này bà Huệ mới biết như vậy. Ở Việt Nam trước 1975, bà Huệ là cô giáo tiểu học. Năm 1983, gia đình bà đến Mỹ. Không một xu dính túi.

Những ngày đầu, ông Thái phải bán chiếc đồng hồ – tài sản có giá trị duy nhất của ông thời điểm đó – để mua quần áo cho các con. Như tất cả thuyền nhân giai đoạn này, gia đình Diệp Khanh phải cố gắng hết mức để tồn tại.

Ý chí phấn đấu là vũ khí duy nhất của họ dùng để chiến đấu trước muôn vàn thách thức. Họ luôn nhắc các con phải cố gắng gấp đôi người khác. Sự hy sinh của ông bà Thái-Huệ cuối cùng cũng nhận được trái ngọt. Hai người con đầu của ông bà đều đỗ đạt thành tài, sau này đều có bằng tiến sĩ.

Diệp Khanh tại quân trường. (Hình: Gia đình cung cấp)

Với Diệp Khanh, cô đam mê thể thao từ nhỏ. Khi vào trung học, Diệp Khanh bắt đầu nổi tiếng khắp Texas với môn tennis. Cô tham dự nhiều cuộc thi tennis và giật được giải cao. Với thành tích hạng 23 tiểu bang Texas về tennis cấp trung học, Diệp Khanh được nhiều trường đại học lớn chú ý.

Năm Khanh học lớp Mười, Trường Võ Bị West Point cử người đến gặp cô. Họ gửi thư cho phụ huynh, xin được đồng ý cho Diệp Khanh vào West Point. Thoạt đầu, nghe nói đến “lính tráng,” ông Thái không đồng ý. Cả đời ông đã lăn lộn trong binh nghiệp và chiến tranh; bây giờ ông không muốn thấy con ông – lại là cô gái út – khoác áo nhà binh.

Phần mình, bà Huệ tôn trọng ý muốn của con gái, khi Diệp Khanh bày tỏ rằng việc đi West Point là sự chọn lựa cuộc đời của cô. Năm Diệp Khanh học lớp Mười Một, West Point lại đến. Năm sau lại đến nữa.

Cuối năm lớp Mười Hai, với sự chấp thuận gia đình, West Point cùng trường trung học tổ chức buổi lễ long trọng. Trước toàn thể học sinh và phụ huynh, họ loan bố Diệp Khanh là học sinh duy nhất được chọn vào West Point, với học bổng toàn phần trị giá $145,000…

Vào West Point, Diệp Khanh miệt mài học, và tiếp tục chơi tennis, đại diện trường tham gia các cuộc thi trong khuôn khổ thể thao sinh viên. Đam mê thể thao của cô chỉ dừng lại khi cô bị tai nạn gãy chân.

Đại Tá Diệp Khanh và (cựu) Thiếu Tướng Châu Lập Thể. (Hình: Diệp Khanh cung cấp)

Năm 1999, Diệp Khanh ra trường, mang lon thiếu úy. Cô được biệt phái đi Bosnia; tiếp đó là Iraq… Cô từng phục vụ ở các vị trí chỉ huy và tham mưu trong Sư Đoàn 3 Bộ Binh, Sư Đoàn 4 Bộ Binh, Sư Đoàn 1 Kỵ Binh…; phụ tá đặc biệt cho Tham Mưu Trưởng Lục Quân; phụ tá đặc biệt và phụ tá điều hành cho Chủ Tịch Hội Đồng Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa Kỳ.

Năm 2001, sau khi từ Iraq về Mỹ, Diệp Khanh học môn vận động học (kinesiology), lấy bằng cao học môn này từ Đại Học Texas A&M; rồi lấy bằng cao học về an ninh quốc gia từ Eisenhower School thuộc National Defense University. Tiếp đó, cô về ngôi trường cũ West Point để dạy…

Ngày 1 Tháng Mười, 2020, Diệp Khanh được thăng đại tá. Từ Tháng Sáu, 2023, cô đảm nhiệm chánh văn phòng Trường Võ Bị West Point (Chief of Staff). Đây là lần thứ ba Diệp Khanh ngồi ghế chánh văn phòng West Point.

Gia đình Diệp Khanh là một gia đình quân nhân (chồng cũng là đại tá; vợ chồng cô có một con trai). Cô vẫn không ngừng nỗ lực trong công việc và trách nhiệm. Một trong những trích dẫn yêu thích nhất của cô là: “Thành công là một hành trình, không phải đích đến. Những gì đang làm thường quan trọng hơn kết quả.”

Diệp Khanh nói rằng câu nói trên của Arthur Ashe, một trong những tay tennis huyền thoại của Mỹ, giúp nhắc rằng mình cần sống trọn từng khoảnh khắc. Khi được hỏi một ngày mới bắt đầu như thế nào, Diệp Khanh nói theo ngôn ngữ nhà binh: Chìa khóa quan trọng nhất là sắp xếp thứ tự ưu tiên công việc.

Nhắc đến gia đình, Diệp Khanh tâm sự rằng tấm gương hy sinh của cha mẹ khi đương đầu không biết bao nhiêu rủi ro và khó khăn để dựng lại cuộc đời sau khi đến Mỹ luôn là động lực giúp cô tiến lên phía trước.

Diệp Khanh tại Samarra, Iraq. (Hình: Diệp Khanh cung cấp)

Chỉ trong vòng hơn một năm, cô bé Diệp Khanh đã cùng cha mẹ đi vượt biên chín lần. Có thể với một đứa bé lúc đó chỉ 3 tuổi thì không còn nhớ gì nhiều, và chắc chắn Khanh không nhớ cảnh bà chủ tàu vượt biên la gào đòi ném cả nhà mình xuống biển vì gia đình cô không chung đủ nửa số vàng còn lại (bởi vì trước đó bà Huệ đã dốc hết đưa cho ông taxi; chủ tàu chỉ nguôi giận khi bà Huệ hứa trả $2,000 khi đến Mỹ).

Dù vậy, những năm tháng vất vả trên đất Mỹ thì vẫn nằm trong ký ức Diệp Khanh. Hành trình của song thân cô là một chặng đường rất dài. Hành trình của cá nhân cô cũng là chuỗi nỗ lực bền bỉ.

“Cơ hội đến với chúng ta mỗi ngày và chúng ta có tận dụng tối đa được hay không là tùy thuộc hoàn toàn vào chính mình,” Đại Tá Diệp Khanh nói.

Diệp Khanh kể rằng cô rất yêu ca khúc “Heart of Gold” của Neil Young. “Ca khúc này nhắc tôi rằng hành trình tìm kiếm thực sự trên đoạn đường đời luôn bắt đầu từ bên trong mỗi chúng ta,” cô nói. Có một câu trong “Heart of Gold” mà Diệp Khanh rất thích: “Tôi muốn sống, để trao lại cho đời” (“I want to live, I want to give”). [qd]

Món nợ lương tâm

hung-viet.org

Thơ Huy Phương

14 Tháng Hai 2013

Post by Sơn râu 14 Jun 2025

Chúng ta trốn đi như tên đào ngũ

Nhưng trên lưng của cải đã chất đầy

Người chiến binh vẫn nằm bên ụ súng

Tạc đạn cuối cùng đành nổ trong tay.

 Khi những vì sao mọc trên cổ áo

Có khi nào anh tự hỏi vì sao

Ôi những đống thây phơi ngoài trận mạc

Những khăn tang vội vã quấn trên đầu.

 Ta nguyên vẹn từ hình hài răng tóc

Của cải còn từ sợi chỉ cây kim

Khi cả đất trời đột nhiên đổ nát

Biển dâng cao và cả núi non chìm.

 Con cái ta, những tiên đồng ngọc nữ

Người yêu muôn đời, ích tử vượng phu

Ta đang sống ở trong vùng ánh sáng

Mà thế gian vẫn trong đám mây mù

 Bọn chúng ta hèn như bầy thỏ đế

Khổ đau chia, khi sung sướng một mình

Lúc lửa đỏ bèn cao bay xa chạy

Còn nhớ gì nghĩa huynh đệ chi binh.

 Có những món nợ chưa hề trả được

Ta đã quên hay còn giả vờ quên

Bởi người chết không bao giờ thức dậy

Kẻ sống còn không dại cũng thành điên.

 Ta nợ những người chết sông chết biển

Nợ những người ở lại để ta đi

Suốt đời ta luôn khôn lanh láu cá

Vẫn nợ biết bao kẻ chẳng được gì.

 Nợ người phế binh lê la kiếm sống

Nợ lũ cháu ta liếm lá đầu dường

Nợ những người em thất thân làm đĩ

Nợ nỗi nhục nhằn dày xéo quê hương

 Ta còn nợ những nấm mồ thất lạc

Nợ máu xương rải rác giữa đồng hoang

Nợ những mẹ già suốt đời bất hạnh

Đang còng lưng đi mót lúa đầu làng.

 Ta như kẻ chăn chiên quay đầu chạy

Bỏ bầy chiên lại cho lũ sói rừng

Ta như tên lái buôn thường biển lận

Mà món hời đã thủ sẵn trong lưng.

 Ta tự hào cho mình là tốt số

Vẫn thường làm kẻ lội nước đi sau

Thật ra ta là phường bất nghĩa

Khi có ăn vẫn xếp sẵn hàng đầu.

 Ôi những món nợ chẳng hề nhắc đến

Không có người sao ta có hôm nay

Lương tâm ngủ hay lương tâm còn thức

Người đang đêm sao ta lại có ngày.

 Lúc ta chết vẫn không hề nhắm mắt

Vì nợ nần chưa thức được lương tri

Bao người sống ở dương gian réo gọi

Bao vong hồn đứng đợi ở âm ty.

Huy Phương

(Trích trong tập thơ Chúc Thư Của Một Người Lính Chết Già)

Theo Người Việt

Luật rừng

hung-viet.org

Huy Phương

23 Tháng Chín 2013

Post by Sơn râu 14 Jun 2025

Châm ngôn luật La tinh có câu: “Ignorantia juris non excusat”. Không ai có thể viện cớ không biết luật để biện minh khi phạm luật. Trong thực tế, xã hội càng văn minh, tiến bộ, luật pháp trong quốc gia của xã hội này càng nhiều, càng phức tạp. Không biết luật, do đó, là một tình trạng thực tế. Bước vào lãnh vực luật pháp, nhất là lãnh vực các đạo luật có tính cách chuyên môn, ta có cảm tưởng như đặt chân vào một rừng luật. Đó là trường hợp nước Mỹ.

Văn minh kỹ thuật càng tiến bộ, luật pháp càng nhiều. Tuy nhiên, đó là giá phải trả của một xã hội văn minh. Nhưng có một khác biệt lớn giữa “rừng luật” của một xã hội tiến bộ và “luật rừng” trong một quốc gia sống dưới một chế độ rừng rú!

Luật của kẻ mạnh trong rừng rú được Rudyard Kipling, một thi sĩ và tác giả Anh Quốc nổi tiếng vào đầu thế kỷ 20 , gọi là “luật rừng” (the law of the jungle). Nhưng đó là luật rừng của loài thú, một thứ luật tranh sống, một thứ luật thiên nhiên. Khi thứ luật của ác thú này được du nhập vào xã hội con người thì xã hội này hiện nguyên hình là một xã hội mọi rợ, bán khai. Ở trong hoàn cảnh này, thằng dân thật khó biết tai họa sẽ đến lúc nào, không biết đường đâu mà tránh đỡ.

Công an đánh chết người trong khi “thi hành công vụ,” như Trung Tá Công An Nguyễn Văn Ninh đánh chết một người dân đi xe không đội nón bảo hiểm, chỉ bị xử 4 năm tù. Nguyễn Trọng Hiếu, công an viên xã Diên Khánh, Khánh Hòa, trong khi tuần tra giao thông, đã đuổi theo một nam thanh niên vì người thanh niên này không đội mũ bảo hiểm, đã dùng gậy giao thông đánh vào gáy thanh niên này làm anh mất thăng bằng ngã xuống quốc lộ, bị thương tích 77%, xếp loại thương tật vĩnh viễn. Tên công an chỉ phải ở tù 9 tháng và bồi thường 113 triệu VN (khoảng $6,000.00 đô la,) số tiền này không thể nào nuôi một người nằm liệt giường suốt đời. Đó là luật rừng của kẻ cầm quyền.

Có phải công an thương dân, sợ dân vỡ đầu vì không đội nón an toàn mà phải đánh vỡ đầu dân, hay là vì Bộ Công An có ăn chia với nhà sản xuất nón nhựa!

Anh em nhà Đoàn Văn Vươn ở Hải Phòng, chống cưỡng chế chiếm đất, bị phá nhà phải chống đỡ, uất ức, phải chống cự, bắn súng hoa cải làm bị thương bốn công an, mỗi người lãnh 5 năm tù. Phá nhà, chiếm đất, hiếp dân là một công trạng, nên trưởng công an Hải Phòng được phong tướng! Trong khi đó, LS Trần Vũ Hải nói với BBC hôm 30 Tháng Ba, 2013, so sánh vụ án ở Cống Rộc, Tiên Lãng này với vụ án Nọc Nạn xảy ra ở tỉnh Bạc Liêu từ thời Pháp thuộc mà trong đó các bị cáo chính, là nông dân người Việt đã phản kháng đàn áp, cưỡng bức ruộng đất và giết chết năm người của chính quyền thực dân Pháp và phong kiến ở Nam Kỳ, đã được tha bổng!

Dân chúng cũng có luật rừng vì không tin vào công lý của kẻ cầm quyền, hành động phát xuất từ tính hung bạo, man rợ của con người sống và được đào tạo trong chế độ cộng sản gần 40 năm nay. Đây là một xã hội mà tội ác khởi sự từ chính quyền và dần dà lan rộng trong quần chúng.

Ngoại tình có một dạo đã lâu lắm được xếp vào loại tội tiểu hình ở California, nhưng đã bị hủy bỏ từ lâu. Trong các quốc gia theo văn hóa Á Châu, và tại Việt Nam, ngoại tình vẫn được xem là một tội phạm. Nhưng dù là một tội lỗi (sin) hay tội phạm (crime), không một xã hội trọng pháp nào lại cho phép có một hình phạt có tính cách gây điếm nhục, tàn bạo, công khai như trong trường hợp xảy ra tại huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Lợi dụng lúc chồng vắng nhà, một thiếu phụ nhắn tin gọi tình nhân đến nhà mình “quan hệ bất chính.” Ông em chồng của người đàn bà theo dõi sự việc, kêu gọi người lối xóm vây bắt, ngoài trận đòn roi tới tấp như mưa, đôi “gian phu dâm phụ” còn chịu hình phạt bị lột sạch áo quần, bị trói đứng trước cửa nhà, trước mắt của mọi người qua lại.

Tự động bắt trói người, đánh đập và làm nhục, điều ấy phải chăng là một lối làm luật rừng tự phát? Một người vợ phạm tội ngoại tình, bà ta chỉ có lỗi trước chồng hay bị búa rìu dư luận, nhưng tòa án không thể bắt hay đưa bà ra tòa mà kết án tù. Trong trường hợp này một ông em chồng, có thể nhân danh ai để thi hành bản án lăng nhục những người khác như vậy?

Mọi người được xem là vô tội cho đến khi có án tòa. Và luật pháp phải được thi hành một cách điềm đạm, không thiên vị, không mang tính cách bêu riếu, trả thù. Bởi lẽ nếu bất cứ ai ai cũng có thể áp dụng, và thi hành luật pháp theo ý riêng thì xã hội sẽ rơi vào tình trạng loạn lạc, tạo nên điều kiện làm sống lại những thú tính nơi con người của xã hội bán khai, man rợ. Và đó là tình trạng dưới chế độ cộng sản trong nước hiện nay.

Trong bộ “luật rừng” này, một người “bị nghi” là trộm chó, dù không có tang chứng, cũng bị lên án tử hình bằng cách bị đưa lên “giàn thiêu,” như thời Trung Cổ, vì tại hiện trường đôi khi không thấy chó bị bắt hay bị thuốc, chỉ thấy xác người và xe đã bị thiêu rụi một cách tàn nhẫn. Nạn nhân đã thực sự bắt quả tang đang ăn trộm chó chưa, công an, chính quyền ở đâu mà để cho dân dùng luật rừng giết người như vậy?

Như vậy, nếu một người lạ mặt chạy xe gắn máy qua làng, chỉ cần một người hô lớn lên: “Trộm chó! Trộm chó!” – như chuyện “Chó dại!” trong Luân Lý Giáo Khoa Thư ngày trước – thì cả làng đổ ra, chưa biết trắng đen thế nào, gậy gộc vây lại đánh người này cho đến chết, hay chưa chết thì cũng thiêu sống họ bằng số lượng xăng trong chiếc xe gắn máy của nạn nhân. Một phó giám đốc ở Vũng Tàu cũng bị đánh trọng thương khi chạy xe vào vùng đang xẩy ra vụ trộm chó, như vậy trong số nạn nhân những người bi nghi là trộm chó cũng có kẻ chết oan.

Trong vụ “luật rừng” này, nạn nhân bị kết án và chịu án tử hình tại chỗ, nhưng chiếc xe gắn máy, tài sản của nạn nhân, kẻ khốn cùng và gia đình của họ, ai có quyền tước đoạt và thiêu hủy như người ta thiêu hủy những món độc dược như cần sa, thuốc phiện?

Hai thanh niên trộm chó nằm bất động trên xe cảnh sát.

Quả phụ ông Nguyễn Văn Tuyến, người nghi trộm chó bị đánh chết, trú tại Hải Dương đã nói những lới ai oán: _ “Dù chồng tôi có thực là đi ăn trộm thì người ta cũng không thể nhẫn tâm đánh cho bằng chết. Còn nếu anh ấy không trộm chó mà bị đánh chết thì phải điều tra làm rõ nguyên nhân.” Thân phụ của một người bị đánh chết trong vụ trộm chó thì suốt ngày đóng cửa không dám ra đường, nghẹn ngào nói với phóng viên báo chí: _ “Quả thật tôi rất nhục nhã với dân làng, tôi không còn mặt mũi để gặp ai nữa. Đây là một nỗi nhục không biết bao giờ mới rửa sạch được. Tôi chỉ muốn chết hoặc bỏ đi biệt xứ nơi khác để khỏi phải nghe tiếng gièm pha!”

Ở các nước khác, dù là nơi thú vật trong nhà được cưng chiều, ăn trộm một con chó hàng xóm, cùng lắm là ở tù một vài tháng. Ở Việt Nam nếu một người bị kết án đi ăn trộm cho của người khác, không lẽ phải chịu tù chung thân? Hoàn cảnh xã hội nào đã khiến con người độc ác với con người đến như vậy?

Bảy năm sau khi cộng sản đã thôn tính cả nước, ở tù về, tôi đã đau lòng gặp gỡ nhiều thanh niên mạnh khỏe, khôi ngô, đã bưng từng rổ chanh, rổ kim chỉ, ráy tai đi bán trên hè phố, không lẽ sau ba mươi tám năm “kháng chiến đã thành công,” những thanh niên mạnh khỏe không có tiền để đút lót làm lao động xuất khẩu hay đóng tiền vượt biên, lại phải đi trộm chó để mưu sinh?

Cũng không phải kỳ thị, nhưng câu hỏi của tôi, là vì sao những vụ trộm chó lại chỉ xẩy ra quanh quẩn ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Bắc Giang, Hải Dương, Hải Phòng, cùng lắm ở Quảng Trị, thì lại là huyện Gio Linh, những vùng đất nằm ở phía Bắc vĩ tuyến 17 XHCN, những “thành đồng vách sắt,” được un đúc rèn luyện trong tinh thần cách mạng “thép đã tôi như thế đấy!” Không lẽ ở những nơi này, loài chó đang có giá và người ta coi con chó quý hơn mạng sống của con người.

Đành phải thốt lên câu:_ “Chó ơi là chó!”

Huy Phương