Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 26 Jun 2025

59. Ngô Thụy Miên

Có lẽ trong số các nhạc sĩ sáng tác của chúng ta, kể từ khoảng 73, 74 tới nay, Ngô Thụy Miên là một trong những người có sức sáng tác đều đặn nhất. Tặng hoa để tạ ơn Ngô Thụy Miên, hiển nhiên, số bạn trẻ là đông nhất. Bởi vì, ngay từ những tác phẩm đầu tay, cho đến những sáng tác gần đây nhất, Ngô Thụy Miên không viết gì khác ngoài tình ca. Mấy bài hát trình làng của Ngô Thụy Miên đều phổ từ thơ Nguyên Sa: Áo Lụa Hà Đông và Tuổi 13. Thơ Nguyên Sa đã như một làn gió thổi vào thi ca của chúng ta một thời. Từ ý tứ đến ngôn ngữ ông đã làm cho thơ tình Việt Nam trẻ trung ra và nồng nàn thêm.

Trong thơ Nguyên Sa, tuổi trẻ Việt Nam như vừa có thêm một bộ mặt mới, một cách thế yêu đương mới. Nói rõ hơn, có lẽ phải bảo rằng, qua thơ Nguyên Sa, và thêm Hoàng Anh Tuấn nữa, người ta thấy, dường như tuổi trẻ Việt Nam có thêm một cách bầy tỏ tình yêu mới, khác với Xuân Diệu, khác với Huy Cận. Tiếc một điều, các nhạc sĩ mới chỉ phổ nhạc những bài thơ có vần điệu của Nguyên Sa mà thôi.

Chưa ai phổ nhạc những bài thơ tự do, thơ xuôi của ông. Nếu Ngô Thụy Miên thử làm công việc này, có thể, ông sẽ có thêm một số ca khúc được tuổi trẻ hoan nghênh nữa không chừng. Nhạc sĩ Phạm Duy với một số lượng tác phẩm đồ sộ như thế, mà đã có lần tỏ ý tiếc là ông đã không viết nhiều tình ca hơn.

Riêng Ngô Thụy Miên hẳn không có gì phải luyến tiếc về điều này. Có thể có người sẽ trách cứ ông về điều khác, chẳng hạn ông đã quá thờ ơ với thời cuộc chăng?

Nhưng giả thử ông không viết được, hay không muốn viết gì khác ngoài tình ca thì sao? Một cây hồng không thể trổ ra một bông cẩm chướng, lẽ tự nhiên là như vậy. Chúng ta hãy cứ nghe tình ca của Ngô Thụy Miên.

Điều đáng nói là liệu Ngô Thụy Miên, bằng nhạc của mình, có nói đúng tiếng lòng của những người đồng lứa tuổi với ông chăng? Quan trọng hơn, những lớp trẻ đến sau ông và hiện nay, có vẫn còn tìm thấy sự đồng điệu với nhạc của Ngô Thụy Miên chăng?

Đức Huy chẳng hạn, viết nhạc tình, có gần với tuổi trẻ hơn Ngô Thụy Miên không? Những câu hỏi được đặt ra ấy, liên quan tới giá trị và sự bền vững của nhạc Ngô Thụy Miên với thời gian.

Hơn 30 năm qua, nhạc của ông vẫn được hát. Có thể nói tất cả các ca sĩ danh tiếng nhất của chúng ta ở hải ngoại hiện thời, đều có hát nhạc của Ngô Thụy Miên. Và ngay ở trong nước, hiện nay, đêm đêm tại các tụ điểm ca nhạc, các quán cà phê có chương trình nhạc sống, nhạc của Ngô Thụy Miên cũng đang được hát rất nhiều. Hiển nhiên, sự kiện phải được coi như là Ngô Thụy Miên vẫn tiếp tục gặt hái những thành công. Có những bài hát được hát nhiều quá cũng khiến người ta sợ. Bởi nó giống như sự cạn kiệt. Nhất là khi người ta lại không còn gì khác để nghe. Cả cái hay lẫn cái dở hình như đều chất chứa nỗi bi thương. Chúng ta có đang ở trong một thời kỳ như thế chăng?

Mong rằng không. Bởi nếu đúng như thế thì đây là một thời kỳ buồn nhất trong lịch sử âm nhạc của chúng ta. Ai muốn nói gì thì nói. Ai muốn làm gì thì làm. Và điều ấy, cùng một lúc, lại cũng có nghĩa là, có những người không thể nói, không thể làm gì cả. Phê bình thơ Xuân Diệu xưa, có người bảo rằng, cho dù ai nói gì chăng nữa, Xuân Diệu vẫn có thể tự hào: “Đã có tuổi trẻ yêu tôi “. Đúng quá đi chứ! Chỉ có điều tuổi trẻ qua rất mau thôi.

Thơ phổ nhạc thường có hiện tượng: được một ca khúc hay lại mất đi một bài thơ. Bởi vì, những bài thơ đã được phổ nhạc không còn được đọc như một bài thơ nguyên vẹn nữa. Nó không hẳn đã biến thành lời ca của bài hát đâu, nhưng cũng không dễ gì tách nó ra được, lấy lại vị thế độc lập cũ.

Thơ Nguyên Sa và nhạc Ngô Thụy Miên có ở trong trường hợp ấy không? Hay chính thơ Nguyên Sa đã giới hạn thế giới nhạc của Ngô Thụy Miên?

Có lẽ không phải như vậy. Bởi vì, trong những ca khúc mà Ngô Thụy Miên viết cả lời ca, ông đã cho người ta thấy, ông đã mở những cánh cửa thế giới riêng của mình. Ngô Thụy Miên đang ở độ chín để sáng tác. Hy vọng ông sẽ còn mang đến cho người nghe nhiều ca khúc mới, lạ. Phổ thơ Nguyên Sa là một giai đoạn. Ngô Thụy Miên vẫn còn có thể tiếp tục làm công việc này, nếu ông còn tìm thấy sự đồng điệu trong những bài thơ khác của Nguyên Sa. Kosma phổ rất nhiều thơ của Prevert. Nhưng Kosma vẫn cứ là Kosma và Prevert vẫn cứ là Prevert, nếu không muốn nói đó là một cuộc hôn phối tuyệt đẹp giữa thơ và nhạc. Khi chìm đắm vào thế giới riêng của mình như trong bài Kể Từ Giọng Hát Em. hay Riêng Một Góc Trời nhạc Ngô Thụy Miên cũng bay lượn thoải mái. Ông được tuổi trẻ yêu mến cũng phải thôi.

Bảo rằng tuổi trẻ qua mau ư?

Tuổi già e còn qua mau hơn nữa!

Image from the Net collected by Sơn râu

Riêng Một Góc Trời

Tình yêu như nắng,

nắng đưa em về bên dòng suối mơ

Nhẹ vương theo gió, gió mang câu thề

xin rời chốn xưa

Tình như lá úa rơi buồn trong nỗi nhớ

Mưa vẫn mưa rơi, mây vẫn mây trôi,

hắt hiu tình tôi.

Người vui bên ấy

xót xa nơi này, thương hình dáng ai

Vòng tay tiếc nuối, bước chân âm thầm,

nghe giọt nắng phai

Đời như sương khói mơ hồ trong bóng tối

Em đã xa tôi, tôi vẫn chơi vơi, riêng một góc trời

Người yêu dấu, người yêu dấu hỡi

khác nữa.

Khi mùa xuân vội qua chốn nơi đây

Nụ hôn đã mơ say, bờ môi ướt mi cay,

nay còn đâu

Tìm đâu thấy, tìm đâu thấy nữa

Khi mùa thu về theo cánh chim bay

Là chia cách đôi nơi, là hạnh phúc rã rời, người ơi

Một mai em nhé, có nghe thu về trên hàng lá khô

Ngàn sao lấp lánh, hát câu mong chờ,

em về lối xưa

Hạ còn nắng ấm, thấy lòng sao buốt giá

Gọi tên em mãi, trong cơn mê này,

mình nhớ thương nhau

Tuấn Ngọc

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 26 Jun 2025

58. Ngọc Bích

Hội họa, điêu khắc, nhiếp ảnh, âm nhạc của chúng ta, chỉ trong vài năm gần đây, đã mất đi nhiều nhân tài. Chúng ta lại vừa mất thêm Ngọc Bích. Nhạc sĩ của chúng ta, cùng lứa tuổi Ngọc Bích, đến lượt ông ra đi nữa, thì chỉ còn lại những chiếc lá cuối cùng.

Nhạc sĩ của chúng ta, có lẽ không có người nào không viết nhạc tình. Nhưng Ngọc Bích vẫn được coi là Hoàng Tử. Ông yêu không đắn đo, lấy yêu làm hạnh phúc, không trách móc, không hỏi tại sao, dù “mộng vàng phút tan theo gió chiều, biết em về đâu”. [Mộng Chiều Xuân].

Nhận định về Ngọc Bích có người cho rằng, không có nhạc sĩ nào biểu trưng cho tuổi trẻ thành thị một thời, cái thời ông gọi là “chiến chinh” nhưng lại “ngát hương thanh bình” [Trở Về Bến Mơ] bằng Ngọc Bích.

Yêu đương và lãng mạn. Và lãng mạn đã thăng hoa tình lên gấp đôi trong thập niên 40-50. Có thể nói, vào những năm ấy, không một cặp tình nhân nào lại không có lần nghe nhạc Ngọc Bích.

Nhạc của ông không phải là những đỉnh cao ào ào gió lộng. Lời ca của ông không phải là những câu thơ tuyệt tác chỉ những thi sĩ tài ba mới viết ra được. Nó chỉ giản dị như là những điều, khi yêu, người ta muốn nói như thế, muốn hát như thế. Và, nói được như thế, hát được như thế, người ta cảm thấy yêu nhau hơn, hạnh phúc hơn.

Ngọc Bích đã kéo dài thời trăng mật cho tình. Ông đã biến những cái phù phiếm của tình thành cái cần thiết, trở thành một thứ thực phẩm của tình. Vì thế, tình trong nhạc Ngọc Bích luôn có vẻ giàu có, tràn đầy. Ông đã kéo lại gần những khoảng tình cách xa và xích gần hơn nữa những cuộc tình đã kề sát. Ông không đẩy tình lên quá cao, cũng không dung tục hóa tình. Tình trong nhạc Ngọc Bích là tình trong tầm tay của tất cả mọi người. Nếu người ta yêu người ta sẽ cảm thấy như ông thôi.

Chẳng hạn như ông nói: “Yêu em thiết tha dù lòng nát tan” [Lời Hẹn Xưa] thì không phải chỉ khi đã mất người ta mới cảm thấy như thế, mà ngay khi còn đang yêu, đang sống trong tình, người ta vẫn có thể cảm thấy như thế.

Vâng, nhạc Ngọc Bích có thể gói gọn trong hai tiếng “tương tư. Lúc nào ông cũng tưởng nhớ.

Vì hoàn cảnh riêng, vì những công việc hàng ngày, Ngọc Bích viết nhiều loại nhạc. Ông cũng từng tham gia vào việc đóng kịch tại các sân khấu nhỏ, một vài ban hợp ca. Nhưng những hoạt động ấy không giữ phần quan trọng nào trong sự nghiệp của ông. Tình ca vẫn là phần chính những gì ông sáng tác. Nhờ ông, tuổi trẻ một thời đã được hưởng bao nhiêu ngày thêm phần hạnh phúc, dù cho đến hôm nay, giờ phút này đây, những người đã được thêm phần hạnh phúc ấy, ít nhất, một nửa đầu đã bạc và riêng ông không còn nữa.

Tuổi trẻ hôm nay, nói cho chính xác hơn, những người  hai mươi, ba mươi tuổi vào những năm 2000 này, có cònnhận được ở nhạc Ngọc Bích niềm hạnh phúc tương tự nữa hay không, chúng ta hãy cứ chờ xem. Các nhạc sĩ cùng lứa tuổi với Ngọc Bích, hiện còn lại những ai? Những người ấy đã để lại cho chúng ta những gì đẹp nhất của tâm hồn họ. Dù cũng như chúng ta, họ đã phải trải qua, phải chịu đựng bao nhiêu cuộc tang thương biến đổi của đất nước, và thử hỏi, liệu họ có được bao nhiêu ngày thực sự vui trong đời?

Vậy thì họ đã chắt ở đâu ra những mạch sống ngọt ngào đến thế để dâng tặng cho đời nhỉ?

Những người như Ngọc Bích, như Đoàn Chuẩn, Văn Cao, Phạm Đình Chương, Dương Thiệu Tước, Lê Thương, Vũ Thành … mất đi, hình như họ cũng mang thco những gì còn sót của một quá khứ. Cái quá khứ tan nát cùng với một đất nước tan nát. Và, đối với số người đã có chung một quá

khứ với họ, thì đời đã vắng vẻ lắm, chỉ còn lác đác những bóng hình.

Đời một phía ta trôi về một phía.

Có phải ta mù dở hay sương che?

Một trong những ca khúc của Ngọc Bích được nhiều người ưa thích là bản Đôi Chim Giang Hồ. Vâng, ca khúc này có đủ chất lãng mạn của không phải chỉ một mình tâm hồn Ngọc Bích, mà còn của cả một thời đại.

Đi!

Cuộc đời tù túng ngưới ta mơ ước những chuyến đi. Cuộc chiến tranh xẩy ra trên đất nước đã xua đuổi người ta đi. Nửa thế kỷ âm nhạc của chúng ta vừa qua cũng là nửa thế kỷ mệnh nước của chúng ta nổi trôi, vật vã.  Nhưng cũng chính trong khoảng thời gian ấy, không biếtbao nhiêu nhạc sĩ đã dâng hiến cho chúng ta những giai điệu thiết tha nhất, làm nên một phần ý nghĩa đời sống của chúng ta. Mặc dầu đó là những ngày tháng không được hạnh phúc. Nhưng giả thử nếu chúng ta không có những bài hát ấy để nghe và để hát thì, nỗi bất hạnh của chúng ta hẳn không chỉ có từng đó.

Đôi khi chúng ta cũng nghe nói đến những lo âu, về sự thay thế các nhân tài đã mất. Nhưng đó chỉ là một cách nói. Người chết là mất. Làm gì có sự thay thế. Mỗi thế hệ có công việc của mình. Công việc ấy làm nên ý nghĩa hiện sinh của từng người, từng thế hệ, tương quan với đất nước nữa.

Thuở Trăng Về

Thuở ấy trăng về tắm nắng mây

Rung theo nước gợn gió vươn dài

Muôn ngàn đợt sóng đua nhau múa

Để sóng loang vầng lốt bước ai

Thoảng gió đêm về với sắc trăng

Không trung nới rộng ánh tơ vàng

Đôi người nhẹ bước vui bên suối

Thổn thức đôi lòng hát mến thương

Thênh thang trăng vàng

Tràn lan mênh mông trên vòm cây thắm

tuôn chảy suối trăng

Em còn nhớ lại hay chăng

Nguồn vui bên suối dưới trăng đêm nào

Muôn ngàn lớp sóng nao nao

Lả lơi mơn trớn xô vào chân em

II

Lửa khói xông mùi khét chiến tranh

Đôi chim hoãn mộng rẽ đôi cành

Anh đền nợ nước theo chinh chiến

Phỉ chí tung hoành kiếp chiến binh

Đợi lúc qua mùa hết chiến chinh

Giang sơn sáng lạn khúc thanh bình

Anh về nhịp bước say công chiến

Để nối duyên hồng lúc thắm xinh

Mong khi thanh bình! Chờ qua đao binh

Quay về chung sống xây tổ ấm xinh

Anh về nhắc lại năm xưa

Lời thơ ân ái dưới trăng đêm nào

Cho lòng bớt chút thương đau

Thỏa khi đơn chiếc âu sầu xa em

Khánh Ly-Duy Trác-Lệ Thu

Mấy Người Con Trai Vương Long

vietmessenger.com

Pearl S. Buck

Nguyễn Thế Vinh dịch

(Tái bản)

Post by Sơn râu 26 Jun 2025

Chương 14

Trận rét năm đó thật dữ dội, mây phủ, tuyết rơi, gió thổi lạnh buốt, kéo dài lâu quá, Vương hổ tướng chỉ ở trong Phủ đảm nhiệm công việc Phủ đường mà bây giờ là công vụ chính của chàng trong khi chờ sang xuân ấm áp. Công việc chàng đảm nhiệm rất chu đáo, trôi chảy. Chàng thiết lập một đạo quân gần tám ngàn người, tổn phí rất lớn, luôn luôn chàng yêu sách lão Phủ đặt thêm các thứ thuế mới, để bổ sung vào quân phí. Tất cả ruộng nương, đất cát, vườn tược phải đóng một thứ thuế gọi là thuế bảo vệ an ninh dân chúng, đảm phụ quân đội Quốc gia. Quân đội dưới nhãn hiệu Quốc gia thực ra là quân đội riêng của chàng, chàng nuôi dưỡng, rèn luyện để gây thanh thế và phòng khi cần đến. Tất cả nông dân trong vùng có ruộng đất phải nộp thuế, thuế đó đóng thẳng cho chàng. Bọn lâu la được khu trừ, quét sạch; sào huyệt chúng bị san phẳng, dân không lo nạn trộm cướp, hết lời ca ngợi tài bình trị của Vương hổ tướng, răm rắp vui lòng đóng thuế. Họ không hiểu thuế khóa đóng góp đến thế nào là đủ.

Image from the Net collected by Sơn râu

Chàng lại yêu sách lão Phủ đặt thêm mấy thứ thuế khác nữa, thuế đánh vào các cửa hàng, thuế về chợ búa, thuế về thông thương, phường buôn qua lại trong vùng trên đường quan lộ độc nhất nối từ Nam chí Bắc, đem hàng lên

hay tải hàng xuống nhất luật phải nộp thuế. Nguồn lợi thuế khóa, thu hoạch được êm đềm kín đáo, đã tăng cường không ngừng quỹ dự trữ của chàng. Chàng còn để ý, xem xét, những tiền nong thu hoạch được không nên chuyên tay qua nhiều người, vì chàng biết nếu qua tay nhiều người thế nào cũng bị hao hụt ít nhiều. Chàng cắt cử bọn lính tâm phúc để ý trông nom việc thu thuế, ăn nói phải ôn hòa, lễ độ, chàng cho phép bọn lính tâm phúc được quyền nghiêm trị nếu bắt được quả tang những ai phù thu lạm bổ, mà nếu bọn lính đồng lõa, lừa dối, chàng sẽ thẳng tay nghiêm trị. Ai cũng

biết tính chàng cương trực, không giết ai một cách vô cớ, hay vì tính đa sát.

Tuy đã thành công một cách vẻ vang, nhưng suốt mùa đông tháng giá, bị cầm chân ở mấy căn nhà trong Phủ chàng thấy bực bội khó chịu, không hợp với tính phóng khoáng của chàng. Không có người nào chàng có thể giao du kết bạn, không muốn đi lại thân mật với ai, ai cũng có vẻ khiếp sợ, chàng nghĩ không nên suồng sã để giữ uy tín được lâu bền. Bản tính chàng không thích chè chén, tiệc tùng, bè bạn, chàng ở riêng biệt một nơi với thằng cháu và anh lính Sứt Môi, một người mà chàng tin cẩn nhất.

Lão Phủ bây giờ già quá, suốt ngày nằm ở bàn đèn, gia nhân, quyến thuộc, họ gần họ xa ăn bám lão, ở Phủ không ai cai quản, lộn bậy ghen ghét, tranh giành nhau, không ai nhường nhịn ai. Người này khích bác người kia, lúc nào cũng to tiếng, cãi nhau ỏm tỏi. Lão Phủ ở căn nhà trong cùng với bà vợ già, có cần lắm mới thấy lão ló ra ngoài. Nhưng là quan bản hạt, lão còn phải lo công vụ cho dân. Hôm nào có phiên xử kiện, lão dậy từ sớm, ăn mặc trịnh trọng lối quan dạng, bước vào công đường, leo lên bệ cao, chễm chệ ngồi ở chiếc ghế bành để xử.

Vốn người hiền hòa, phúc hậu, lão cố gắng xét xử những việc của dân kiện cáo nhau. Đám dân đen đến công đường để hầu kiện cũng khó khăn, vất vả lắm, phải đút lót từ cổng Phủ đút lót vào, ai mà không có tiền đút lót quan lớn quan nhỏ trong phủ, đừng có hòng đặt chân lên công đường, cả những bọn đề lại đứng trước mặt lão cũng có phần chè lá. Chính lão Phủ cũng không biết, lão xử kiện cho dân, lão đã ỷ lại hết vào bọn đề lại. Lão già quá, hay quên, nhiều khi lão không hiểu đầu đuôi câu chuyện họ kiện cáo ra sao, lão lại ngượng không dám nói thật lão chưa hiểu, hay lúc gần hết giờ, lão mệt thiu thiu buồn ngủ, không nghe thấy họ nói gì, không muốn bảo nhắc lại sợ dân họ khinh cho là bất lực. Nên chăng lão ỷ lại vào bọn đề lại, họ hót bên tai:

– Bẩm, tên này trái, tên kia phải.

Lão Phủ vội nói theo ngay:

– Đúng thế bản chức đồng ý.

Hay bọn đề lại hót:

– Bẩm tên này cứng đầu, xin cho đánh năm chục hèo.

Lão Phủ cũng lắp bắp:

– Phải, phải, cho nó mấy chục hèo là phải.

Trong những ngày nhàn rỗi, để tiêu khiển cho qua thì giờ, Vương hổ tướng hay lại công đường xem xử kiện, chàng ngồi một góc phòng, xung quanh có mấy anh lính tâm phúc, và thằng Rỗ làm như bọn lính gác cổng Phủ. Chàng đã chứng kiến, tai nghe, mắt thấy nhiều cái chướng tai gai mắt, bất công, vô lý. Lúc đầu chàng nghĩ không can dự đến mình, mình là một võ tướng, xử kiện là việc về dân sự không thuộc phạm vi mình. Sau chàng thấy nhiều cái phi lý quá, chàng phát cáu, phát biểu ý kiến, thấy chàng cau mày lão Phủ và bọn đề lại không nhận thức những chỗ sai lệch, bất công, cho là chàng lấn quyền, quyền nhà binh dẫm chân lên quyền dân sự. Vài lần thành quen, chàng nghiễm nhiên làm quan tòa xử kiện, thay hẳn lão Phủ. Lão không than phiền cho thế là mạt sát lão, lão lại càng thích, trút được trách nhiệm, có người ôm cho gánh nặng. Dân sự tỏ vẻ hân hoan vì Vương hổ tướng xử kiện công minh, chính trực hơn lão Phủ và bọn cò mồi.

Một hôm, nhân có một lễ lớn, theo tục lệ trong vùng, mấy ông bô lão đến yết kiến chàng, thỉnh cầu cho phóng thích một số phạm nhân, chàng sực nghĩ đến người đàn bà vẫn bị giam ở trong trại cả mùa đông năm đó, có đến hai mươi lần chàng đã nghĩ đến phóng thích mụ đó, song chàng chưa nghĩ xử trí thế nào cho hợp lý, nên vẫn để mụ ở trại giam, ra chỉ thị cho bọn giám thị đề lao phải đối đãi, cho ăn uống tử tế không được cùm kẹp. Lúc này nghĩ đến bọn phạm nhân được phóng thích, chàng liên tưởng đến mụ, nghĩ thầm:

– Thật khó nghĩ quá, làm thế nào cho hợp lý để thả mụ này ra.

Ý chàng muốn trả tự do cho mụ, nhưng trả tự do không có nghĩa là để mụ chuồn thẳng. Chàng tự nghĩ cũng thấy lạ, chàng quên sao được những cử chỉ, lời lẽ khiêu khích, ngạo  mạn, mụ đã đối xử với chàng. Băn khoăn khó nghĩ quá,chàng trở về phòng ngủ, gọi tên lính tâm phúc, anh chàng  sứt môi lại, bảo:

– Mụ đàn bà, chúng mình bắt được ổ cướp, bây giờ thế nào?

Anh lính trịnh trọng trả lời:

– Bẩm, mụ vẫn ở đó, như ý con nghĩ, Đại tướng nên giao cho anh “chọc tiết heo” đâm cho nó một nhát dao ở cổ, như hắn vẫn thường chọc cổ con heo lấy tiết.

Vương hổ tướng đưa mắt nhìn chỗ khác, thủng thẳng nói:

– Người ta là một người đàn bà (chàng ngừng một lúc nói tiếp) ý ta muốn coi lại rồi sẽ liệu, định đoạt sau.

Nghe chủ tướng nói, anh lính như cụt hứng, không nói gì, đi ra. Chàng thét bảo dẫn mụ lên công đường, chàng sẽ ra chờ ở đó.

Ra công đường, trèo lên bệ cao, vẻ mặt kiêu căng tự đắc, ngồi trên ghế của lão phủ, ý chàng nghĩ nên cho mụ biết trên chiếc ghế trạm cao chót vót này có chàng ngồi, không có ai hơn nữa. Lão Phủ hôm nay lên cơn suyễn, nằm lỳ ở gian nhà trong. Vương hổ tướng chễm chệ ngồi trên chiếc ghế bành trạm, nét mặt nghiêm nghị như một vị đường quan.

Mụ ung dung bước vào công đường, hai anh lính kèm hai bên. Mụ mặc chiếc áo vải bông, quần vải màu xanh lợt, ăn mặc đơn sơ, cũng không làm giảm được vẻ đẹp tự nhiên. Mụ ăn uống điều hòa, bây giờ đã có da, có thịt, hình vóc thon thon óng ả.

Phong trần đã trải, nét mặt in nhiều vết phong sương, mụ không được kiều diễm ngây thơ song đượm một vẻ đẹp khác người, đẹp ở hùng dũng, chí khí bất khuất, hiên ngang. Mụ mạnh dạn bước vào không chút rụt rè, e lệ, đứng

thẳng người trước Vương hổ tướng, chờ chàng phán quyết. Chàng nhìn mụ hết sức ngạc nhiên, chàng không ngờ mụ đã hoàn toàn đổi thay, thân thể cũng như tinh thần khác hẳn khi xưa. Chàng quay bảo đám lính áp giải:

– Mụ bình tĩnh, tử tế, sao tụi mi dám bảo mụ điên?

Mấy người lính lắc đầu nhún vai, đồng thanh thưa:

– Bẩm, thực tình chúng con không hiểu, từ hôm ở trên phòng Đại tướng chúng con dẫn về trại, mụ không hung hăng như trước, nhũn nhặn, như ma vương quỉ ám đã xuất ởngười mụ, từ độ đó đến giờ mụ xem chừng dễ bảo, khác hẳn trước.

Chàng hạ thấp giọng bảo:

– Sao tụi mi không tường trình ngay ta biết để thả mụ ra?

Nghe chàng nói, lính kinh ngạc, vội vàng nói chữa, cáo lỗi:

– Bẩm đại tướng, chúng con sợ đại tướng bận nhiều công việc không dám bẩm.

Chàng lẩm bẩm, suýt nữa nói to “ta để tâm việc này lắm chứ!”. May chàng hãm ngay được không thốt ra mấy câu đó trước mặt mụ và lính. Thốt nhiên chàng bảo:

– Tụi mi tháo dây, cởi trói cho mụ.

Không dám cãi lại, bọn lính răm rắp tuân lệnh, mụ được  tháo dây, chân tay thong thả, hoàn toàn tự do. Tất cả mọingười hiện diện lúc đó, kể cả Vương hổ tướng, hồi hộp không hiểu mụ có giở trò gì ra không? Mụ vẫn đứng nguyên như khi bị trói, Vương hổ tướng thản nhiên bảo:

– Mụ được trả tự do, muốn đi đâu tùy ý.

Mụ trả lời:

– Tôi biết đi đâu bây giờ, tôi không có nhà cửa gì hết.

Nói thế mụ ngửng mặt đưa khóe mắt nhìn chàng. Cặp thu ba của mụ có một mãnh lực khác thường, chàng thấy rạo rực, nôn náo máu chảy mạnh trong huyết quản, nếu không có bộ nhung phục che kín đã thấy người chàng

run lên bần bật. Người ta cảm nhận lúc đó ở trong công đường có một

bầu không khí khác thường bị kìm hãm, họ nhìn nhau như cùng nhau cảm thông. Chàng sực nhớ trong phòng có một bọn đông đứng đó, chàng thét bảo:

– Cho ra hết cả ra ngoài, chờ ở trước cửa.

Bọn người ngơ ngác nhìn nhau, kéo cả ra ngoài, họ thông cảm tâm trạng chủ tướng, tâm trạng này làm người ai cũng có, dù lớn, nhỏ, sang hèn.

Khi chỉ còn chàng và mụ, chàng nghiêng người về phía mụ, với một giọng rắn rỏi đanh thép, nói:

– Mụ đã được trả tự do, muốn đi đâu tùy ý, nếu có cần ta cho người đưa đi.

Mụ thản nhiên nhìn chàng, thẳng thắn trả lời, rõ ràng không úp mở:

– Tôi đã chọn được một con đường: từ nay tôi là tiện thiếp của chàng.

Nỗi buồn chiến tranh qua thi ca miền Nam (1960-1975)

hung-viet.org

Huy Phương

21 Tháng Mười 2015

Post by Sơn râu 25 Jun 2025

Chiến tranh được định nghĩa như một cuộc tranh giành hơn thua, xung đột vũ trang vì quyền lực, chiếm đoạt lãnh thổ, áp đặt chủ nghĩa hay để trả thù, rửa hận. Nhiều nhóm người và dân tộc đã nhân danh nhiều thứ như tự do, độc lập, giải phóng… để mở cuộc chiến tranh. Dù với nhân danh nào, mục đích nào, giải phóng, áp đặt hay tự vệ hay bảo toàn lãnh thổ thì chiến tranh cũng đem lại chết chóc, tang tóc cho cả hai bên. Chúng ta đã thấy hàng trăm nghìn bia mộ, những vành khăn tang của cô nhi quả phụ, những nạng chống, những chiếc xe lăn của người thương tật, cùng với xóm làng điêu tàn, và những hậu quả để lại cho đời sống cả chục năm sau trên mặt địa cầu cũng như những dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn con người.

“Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu

Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?”

“Say chốn sa trường xin chớ mỉa

Xưa nay chinh chiến mấy ai về?”

Hai câu Đường của Vương Hàn đã cho ta thấy nỗi xót xa của người chiến sĩ một lần đi không trở lại. Sau những khải hoàn môn kia, sau những vòng hoa chiến thắng, sau những ngày lễ khao quân, sau những ”tướng công thành” là những đống xương Vô Định, như hai câu sau đây của Bùi Hữu Nghĩa:

“Đống xương vô định sương phơi trắng

Vũng máu phi thường nhuộm cỏ cây!” Chúng tôi xin lấy thời điểm 1954 – sau khi đất nước chia cắt và sau đó vài năm chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc bộc phát khốc liệt. Trong thời gian này chúng ta đã đọc được nhiều bài thơ viết về chiến tranh, phần lớn là của những người cầm súng. Ở đây chúng tôi chưa có dịp để trình bày với các bạn những bài thơ trong thời gian gọi là chống Mỹ cứu nước với lòng căm thù hung hãn của những người làm thơ để “biểu diễn lập trường.”

Với cái nhìn tổng quát, tôi xin nói về thơ chiến tranh của những thi sĩ, trong cuộc chiến tranh để bảo vệ miền Nam trong hơn hai mươi năm. Cũng xin nói thêm về danh từ phản chiến. Chỉ có những kẻ buôn súng mới thích chiến tranh, còn ngoài ra không ai yêu chiến tranh, ai cũng chống lại chiến tranh, mà người ta gọi bằng danh từ “ phản chiến.” Nhưng phản chiến không chỉ là đào ngũ, trốn lính, để trở thành hippy, bụi đời… mà phản chiến cũng có thể vẫn cầm súng và làm hết bổn phận công dân của mình.

Chúng ta có những nhà thơ phản chiến không mang danh nghĩa “bất phục tòng,” hiện diện trong quân đội, có mặt trên chiến trường và vẫn làm thơ lên án chiến tranh. Đó là ưu điểm của nền văn nghệ miền Nam.

Trong những tác giả có thơ chiến tranh mà tôi trích dẫn nơi đây đã có người nằm xuống trong cuộc chiến, vì người thơ không sống nổi qua một cuộc chiến quá dài. Hiện nay việc sưu tập thơ trong chiến tranh đã gặp nhiều khó khăn và nhiều tài liệu đã thất lạc, qua bao nhiêu lần khổ nạn của đánh tư sản, thiêu hủy văn hóa phẩm, di tản, vượt biển.

Là người làm văn hóa, nhà văn, thi sĩ, họa sĩ, điêu khắc gia… chúng ta đã chia sẻ gì với đất nước, với con người về nỗi buồn của chiến tranh, cao hơn là nỗi đau đớn của chiến tranh.

Điều đáng ghi nhận là suốt trong những dòng thơ của những người miền Nam cầm súng, không thấy ai căm thù, không thấy ai cao giọng hô hào cho chủ nghĩa, không thấy ai đòi ăn gan uống máu quân thù. Họ coi chiến tranh như chuyện tất nhiên phải làm, một bổn phận đưa đẩy, thậm chí là một thứ trò chơi lớn, do đó những người thơ cầm súng cũng chấp nhận cái chết, sẽ đến bất ngờ, nếu có, một cách thư thái nhẹ nhàng.

Tôi ghi lại đây bốn cái nhìn về chiến tranh;

1. Thảm cảnh của chiến tranh,

2. Chiến tranh như một thứ trò chơi của số mệnh,

3. Lòng nhân ái trong thơ của người lính miền Nam,

4. Nỗi buồn của người lính sau chiến tranh.

1. Thảm cảnh của chiến tranh

Chiến tranh trước hết là địa ngục. Ở đó là máu lửa, bom đạn, chết chóc, mẹ góa con côi, què cụt… Mô tả chiến tranh thì mỗi người nhìn từ một góc cạnh, kẻ trực tiếp cầm súng làm chiến tranh, đối diện với kẻ thù, người là nạn nhân mất chồng, mất cha, người thấy chiến tranh hiện diện đe dọa cuộc sống bình thường trong thành phố. Chúng ta sẽ thấy nỗi bi thảm chiến tranh hiện diện thế nào trong thơ.

Mai Trung Tĩnh đã vẽ một bức tranh tổng thể về chiến tranh trên quê hương miền Nam, nơi ông đã sống và phục vụ trong quân đội trong bài thơ mang nhan đề “Quê Hương”:

“Những bình minh rớm máu

Những hoàng hôn nghĩa trang

Những ruộng đồng thi thể

Những núi đồi thịt xương

Khóc không còn nước mắt

Ăn không trọn bát cơm

Học chẳng thành ra học

Chơi không còn chỗ chơi

Tuổi trẻ uống đạn bom

Bao lần chưa biết đã

Bè bạn lá mùa thu

Rụng mỗi lần lả tả

Cái chết như tặng vật

Tình yêu quán nghỉ chân

Mười lăm trông mười bảy

Ba mươi nhìn năm mươi.”

Vào sâu từng hoàn cảnh, từng địa phương, chúng ta sẽ thấy chiến tranh nhìn từ mọi phía, nơi mặt trận đầy đạn bom, tại một đơn vị vừa có nhiều người cầm súng hy sinh, hay một góc nhà vĩnh biệt quạnh hiu. Với Trần Hoài Thư, người lính thám báo SĐ 22 BB, trực tiếp tham gia chiến tranh:

“Pháo chụp người gào khan cổ họng

Máy sôi tắt nghẹn chờ phi tuần

Miểng thép đâm xiên thằng bạn gục

Hỏa châu vàng thoi thóp triền sơn.”

Với Tô Thùy Yên, người lính làm thơ vùng sình lầy, sông rạch của miền Nam:

“Di tản khó – sâu dòi lúc nhúc

Trong vết thương người bạn nín rên

Người chết mấy ngày chưa lấy xác

Thây sình, mặt nát, lạch mương tanh,”

hay:

“Trời ơi những xác thây la liệt

Con ai, chồng ai, anh em ai?” (TTY)

Lan Sơn Đài, một nhà thơ trẻ, đã viết những dòng thơ buồn sau đây trên tuần báo Khởi Hành năm 1969, khi chiến tranh tới hồi khốc liệt, lúc thoát chết mà không biết nên khóc hay nên cười:

“Khi tôi về theo đơn vị ở Tân Uyên,

đêm không bóng đèn, ngày chói chang nắng phủ

từng mùa trăng lùng địch tận chiến khu D,

những ngày nơi đây tôi không hy vọng được về

chết- nhất định tưởng rằng tôi sẽ chết

bao nhiêu đói rét – ôi nhọc nhằn hết sức,

vinh quang đâu – đời tôi đó hôm nay

bạn bè tôi, thằng hóa đá, đứa mây bay

đứa còn kẹt ở chiến khu một cánh tay, một bàn chân, dăm ba sợi tóc

điều không tưởng là tôi được thoát

nên biết cười hay nên khóc thế nào đây?”

Và với Trần Thuật Ngữ, chiến tranh là vô nghĩa và vô định:

“lòng theo chân bước mịt mờ

thịt xương ủ lạnh ngọn cờ đỏ tươi

từ đi theo vết máu người

ngủ trong tiếng nổ quên lời chim ca

người nằm trong đất xót xa

người đi trên đất xương da rã rời.”

Và đây, với Nguyễn Phúc Sông Hương, người lính đang thực sự chiến đấu trên mảnh đất đồng bằng Nam Bộ, thấy bạn bè ngã gục trước mắt mình:

“Ngày đầu nhảy xuống rừng An Lộc

Tuấn, Bé, Hùng, An đã giã từ

Đành lấp hình hài khắc dấu đá

Quan tài chôn bạn chiếc poncho.”

“…Chỉ hai trăm mét mà xa lắm

Trảng trống đã rơi mấy chục người

Trảng trống, đời ta nhiều trảng trống

Và nhiều cao địa núi sông ơi!”

Đây là câu hỏi của một người chiến binh khác, Ý Yên:

“Sau những đợt xung phong ào thác lũ

Còn lại gì, vườn trống cạnh nhà hoang?”

Ngy Hữu, một người lính làm thơ khác đã viết những lời trối trăn gần như tuyệt vọng:

“em biết không tháng ngày bom đạn phá

những thằng con trai chết tuổi hai mươi

anh nhìn lại bốn năm miền máu lửa

xót xa đầy hồn du tử em ơi.

“ngày mai anh về nghĩa trang quân đội

người lính còn ngồi ôm súng không em

xin đừng khóc nếu một lần em tới

vì với đời – anh tình nguyện quên tên.”

Cũng trong hoàn cảnh những chiếc quan tài người lính mới được đưa về hậu cứ hay ở quận lỵ heo hút, đôi khi chẳng có khói nhang, với cái nhìn của Tô Thùy Yên:

Áo quan phong quốc kỳ oanh liệt

Niềm thiên thu đầm cỗ xe tang

Quê nhà không tiện đường đưa tiễn

Nghĩa tận sơ sài đám lạnh tanh. (thơ TTY)

Nếu được vẽ một bức tranh về chiến tranh thì Thái Hải Ngạn sẽ vẽ như thế này:

“Vẽ quê hương khói đạn mù

Vẽ anh em với mắt thù bao năm

Vẽ em thơ chết trăng rằm

Vẽ đêm phố chợ điêu tàn gạch vôi.”

Đối với Định Giang, không còn cả tương lai cho thế hệ mai sau:

“Mau lớn khôn đi con

Góp mặt cùng bè bạn

Đêm nhìn nắng hỏa châu

Ngày nhìn mưa bom đạn”

… “Cha cuộc đời lính tráng

Mười năm vác súng rồi

Mỗi năm giờ sum họp

Ngắn hơn giờ chia phôi.”

Tống Châu An ghi lại nỗi buồn trong một đêm đi kích ở miền quê:

“Quê hương chinh chiến mù mù

Đêm nghe chinh phụ à ời ru con.”

Trái với những người làm thơ ngoài mặt trận, Lê Thị Huệ nhìn chiến tranh ở hậu phương, trên phố phường qua những chướng ngại trên đường phố, đó là những lô cốt, với những cái nhìn phản chiến, hờn giận:

“Tôi lớn dậy cùng những lô cốt chắn đường,

Tử thủ phố phường ướt những đêm kinh con gái

Máu chảy lai láng chiến trường trong bản tin buổi sáng

Lô cốt. Lô cốt. Những hàng rào kẽm gai!

Gai đâm ngang mặt trời quê hương chiến tranh

Tôi không biết được mùi hương của những nụ hoa chanh

Nở cốm xanh trời việt Nam những trưa hè lưu tán

Họ để lại lô cốt những cái bướu trâu

Móc u óc khắp tử cung tôi thời hậu chiến

Chúng nổi tự bao giờ làm sao tôi hiểu thấu

Những lô cốt còn lại từ một cuộc chiến tranh.”

Đường Nguyễn Huệ – Sài Gòn

Đây cũng là cái nhìn về chiến tranh qua đời sống người dân ở một quận lỵ miền Nam, qua thơ của Thạch Nhân:

“Buổi sáng nhìn những chuyến xe đò chạy vào quận lỵ

những chuyến xe chạy chậm hơn rùa

những mô đất cao, những ổ gà có thể

là bóng tử thần đang chờ đợi chúng ta

Buổi sáng nhìn những mái nhà, những ngôi chùa sụp đổ

ôi quả đạn nào vừa rơi trúng đêm qua

những xác người, những trái tim ngừng thở

đứa bé nhà ai khát sữa kêu la…”

Bến Tre

Không chia sẻ, làm sao hiểu được nỗi đau của người trong cuộc, khi mất đi Ệ phần đời của mình như người quả phụ trong thơ Lê Thị Ý, chua xót với hình ảnh “anh lên lon mới giữ hai hàng nến trong”:

“Ngày mai đi nhận xác chồng

Say đi để nhớ mình không là mình.

Ngày mai đi nhận xác anh

Cuồng si một thuở hiển linh bây giờ.”

và Linh Phương, một người mà chúng ta biết rất ít, hiện ra một lần, rồi biến mất, nhưng những âm thanh còn lại để đời qua nhạc Phạm Duy, một bài thơ với những hình ảnh xót xa nhất của chiến tranh, được coi như một bài thơ phản chiến:

“Anh trở về trên chiếc băng ca

Trên trực thăng sơn màu tang trắng

Anh trở về chiều hoang trốn nắng

Poncho buồn liệm kín đời anh

Anh trở về bờ tóc em xanh

Chít khăn sô trên đầu vội vã, em ơi.”

2. Nhà thơ nhìn chiến tranh như một trò chơi

– Sống chết là số mệnh

Hầu hết những người làm thơ miền Nam là người cầm súng. Dù họ phản chiến, nghĩa là ghét chiến tranh, chống chiến tranh, hoặc coi chiến tranh như một điều phải làm, một điều không thể tránh. Bị động viên như một trạng thái thụ động, hay hăng hái tình nguyện vào lính vì yêu lý tưởng, vì không hèn, họ vẫn còn khí phách của những người trai. Ra trận, có nghĩa là cái chết đã gần kề, không nghe ai run sợ, mà vẫn nghe sự hào sảng, khí khái như Tô Thùy Yên sau đây

“Tới đây toàn những tay hào sảng

Sống chết khôn làm thắt ruột gan

Cũng không ai nhắc gì thân thế

Có vợ con mà như độc thân.

– Bạn hỏi thăm ta cho có lệ

Cuộc đời binh nghiệp – Ta cười bung

Còn mươi tháng nữa lên trung úy

Có thể ngày mai chữa biết chừng…”

Lính nhảy dù tấn công bắc quân ở cổ thành Quảng Trị (24/07/1972)

Và đây, những suy nghĩ của Trần Hoài Thư trong một đêm chuẩn bị hành quân:

“Nửa đêm kẻng giục, quân ra trận

kinh động cả lòng đêm tối bưng

Nhận lấy chỉ ba ngày cơm gạo sấy

không buồn, chỉ một chút bâng khuâng.

Đời ta là con số không vô tận

May trên đầu còn chiếc mũ rừng

mũ nhẹ nên coi đời cũng nhẹ

Chiến tranh. Thì cũng tựa phù vân (THT)

Nguyễn Bắc Sơn, người được coi như một nhà thơ phản chiến, cũng chỉ hơi thấy một chút buồn ngày ra trận:

“Đêm nằm ngủ võng trên đồi cát

Nghe súng rừng xa nổ cắc cù

Chợt thấy trong lòng mình bát ngát

Nỗi buồn sương khói của mùa thu.

Mai ta đụng trận ta còn sống

Về ghé song Mao phá phách chơi

Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm

Đốt tiền mua vội một ngày vui. (Nguyễn Bắc Sơn)

Trong bài “Tiệc Tẩy Trần của Những Thằng Sống Sót,” Nguyễn Bắc Sơn đã viết:

“Các bạn cũ những thằng nào vô phước,

Mồ đang xanh vì cuộc chiến hôm qua,

Hãy về đây mà say khướt cùng ta

Này bóng mây cao, này vòm lá thấp.”

Đôi lúc giận đời cũng muốn chửi thề một tiếng:

“Chửi thề mấy tiếng trong tầm pháo

Thế hệ sinh lầm thuở rối ren!” (NBS)

– Lòng nhân ái trong chiến tranh:

Người lính trong chiến tranh có buồn không? Xa xa, trên đường chinh chiến gian nguy, không biết cái chết đang rình rập đâu đây, nhưng thơ của người lính miền Nam vẫn hào khí và đầy lòng nhân ái, như những câu thơ sau đây của Nguyễn Phúc Sông Hương, một đêm trăng tròn trên chiến địa:

Mấy tiếng tù và vang dưới lũng

Chắc là địch lạc, thổi tìm quân.

…Đỉnh cao ta chẳng cần xin pháo

Để cho người sống trọn đêm rằm.

Ai đi đánh giặc mà không muốn tìm và diệt đối thủ, nhưng ý tưởng của Nguyễn Phúc Sông Hương cũng gần gũi với Nguyễn Bắc Sơn, coi chiến tranh như tai trời ách nước, chết sống đều do số mệnh an bài:

“Ta vốn hiền khô là lính cậu

Đi hành quân rượu đế vẫn mang theo

Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo

Xem chiến cuộc như tai trời ách nước.

Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước

Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi.”

Rõ ràng cuộc chiến như trò chơi, không căm hờn, không thù hận.

Trần Hoài Thư cũng đồng ý chiến tranh, chết sống là nghiệp số:

“Kẻ bỏ ra đi người ở lại

Chiến tranh thì cũng nghiệp oan chung.”

Tô Thùy Yên đã nói đến điều vô lý của chiến tranh trong bài thơ dài “Chiều Trên Phá Tam Giang”:

“Hỡi gã Cộng quân sốt rét, đói

Xích lời nguyền, sinh Bắc tử Nam.

Vì sao ngươi tới đây?

Vì sao ta tới đây?

Lòng xót xa, thân xác mỏi mòn

Dưới mắt ngươi làm tên lính ngụy.”

hay:

“Hỏi nhau chơi cho thỏa tính bông đùa

Ngươi cùng ta ai thật sự hy sinh

Cho tổ quốc Việt Nam – một tổ quốc…?

Các việc người làm, ngươi tưởng chừng ghê gớm lắm.

Các việc ta làm,

Ta xét thấy chẳng ra chi!”

Tiền đồn An Lộc

Những nhà thơ miền Nam, không nghe ai kêu gào giết giặc như nhà thơ Chính Hữu của bên kia chiến tuyến, đó không phải là nỗi đau của chiến tranh, đó là hả dạ lòng căm thù:

“Mùa thu thây giặc chất sông núi,

Mùa hạ thây giặc phơi đầy đồng.”

Cùng một cái nhìn đối với những xác chết ngoài trận địa sau cơn giao tranh, Chính Hữu làm sao có được cái nhìn nhân ái đối với những con người đã nằm xuống ngoài trận địa, để có thể đặt câu hỏi như Trần Hoài Thư:

“Ai bạn ai thù sao quá thảm,

Trên một dòng cuồn cuộn oan gia”

hay pha chút đau đớn như Tô Thùy Yên:

“Trời ơi, những xác thây la liệt

Con ai, chồng ai, anh em ai?”

3. Chiến tranh chấm dứt những người thơ miền Nam nghĩ gì? Đó là nỗi buồn chưa hết, nỗi buồn sau chiến tranh.

Rồi chiến tranh đột ngột chấm dứt, người ta dùng hình ảnh người lính bị bức tử phải buông súng, hay nói như nhà văn Cao Xuân Huy là gãy súng. Danh từ quân đội là tan hàng, danh từ điện ảnh là đứt phim. Sáu năm trước khi chiến tranh chấm dứt, Nguyễn Bắc Sơn đã nghĩ sẽ có một ngày:

“Cởi áo trận và hoa mai ném tuốt,

Xin giã từ đời vũ khí, huy chương

Xin trở về như một kẻ hoàn lương

Xin vứt hết, xin bắt đầu lại hết.”

và chúng ta, ai cũng có quyền mơ ước như Bùi Nghi Trang:

“ngày nào đó ta trả súng trở về

cha con ta vác sách thánh hiền, vác cần câu ra bờ ruộng.”

hay:

“ngày nào đó ta trả súng trở về,

ta sẽ kẻ lông mày cho hiền thê như Triệu Minh-Vô Kỵ”

Binh sĩ VNCH bị bắt làm tù binh.

Nhưng sau ngày 30 tháng 4, rõ ràng là những mơ ước đó không thành sự thật, và rất nhiều điều bất trắc đang chờ đợi người lính thất trận. Người lính không tiếc cấp bậc không tiếc danh vọng, nhưng có người đã tiếc một cuộc đời toan tính hy sinh cho hai chữ tự do, họ tiếc vì sự nghiệp nửa chừng dang dở. Giờ đây sau chiến tranh là nỗi nhớ chiến hữu, nhớ bạn, nhớ bè:

“Chiếc chiếu rượu bây giờ thành chiếu trống

Những người xưa giờ đã bỏ đi đâu

Còn lại mình tôi, cách nửa địa cầu

Con ngựa lạc đàn ngậm ngùi đất khách” (Trần Hoài Thư)

Đẹp hơn cả, trong sự hối tiếc sau chiến tranh, là họ không còn che chở, chiến đấu được cho những người dân, những đồng bào trong vùng trách nhiệm, bất lực trước thời cuộc đổi thay quá nhanh chóng.

Người lính miền Nam “chân theo đoàn quân rút đi, nhưng tấm lòng còn ở lại” như ý thơ của Nguyễn Phúc Sông Hương, trong bài Nửa Hồn Xuân Lộc mà tôi xin trích dẫn một vài đoạn sau đây để kết thúc cho bài này:

…….

Hồn ta là kiếm sao không chém

Rạp ngã rừng xanh, bạt núi đồi.

Hỡi ơi! chân bước qua Bình Giã

Cẩm Mỹ nhà ai khói, ngậm ngùi!

Lửa cháy, cả lòng ta lửa cháy

Xóm làng Gia Kiệm nhớ khôn nguôi.

Đêm nay Xuân Lộc, đoàn quân rút

Đành biệt nhau, xin tạ lỗi người

Chao ơi tiếng tắc kè thê thiết

Kêu giữa đêm dài sợ lẻ loi,

Chân bước, nửa hồn chinh chiến giục

Nửa hồn Xuân Lộc gọi quay lui

Ta biết dưới hầm em đang khóc

Thét gầm pháo địch dập không thôi…

Huy Phương

Nguồn Người Việt

Tài liệu tham khảo:

– Tạp Chí Khởi Hành của Viên Linh (bộ cũ trước 1975)

– Trong dòng cảm thức văn học miền Nam (Trần Văn Nam – 2006)

– Thơ Văn Hiện Đại (Uyên Thao – 1969)

– Tuyển tập thơ Trần Hoài Thư (2004)

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 25 Jun 2025

57. Minh Kỳ.

Ông tên thật là Vĩnh Mỹ. Minh Kỳ là bút hiệu. Ông bắt đầu sáng tác  từ thập niên 50. Ngoài những bài viếtriêng ký tên Minh Kỳ, ông còn một số bài cùng viết với các nhạc sĩ Lê Dinh và Anh Bằng ký tên chung là Lê Minh Bằng.

Các ca khúc được nhiều người biết và yêu thích nhất của Minh Kỳ có thể kể:

Dòng Thời Gian, Nha Trang, Biệt Kinh Kỳ, Lá Vàng Rơi, Mấy Độ Thu Về, Mưa Trên Phố Huế, Buồn Ga Nhỏ, Đà Lạt Hoàng Hôn, Tiếng Hát Học Trò … Tuy cũng là tình ca, nhưng tình yêu chỉ bàng bạc trong các ca khúc của Minh Kỳ. Hình như thời gian, bằng hữu, các cuộc chia ly và các thành phố mới là nỗi ám ảnh thực sự của tâm hồn ông:

Bạn ơi! Quan hà xin cạn chén ly bôi

Ngày mai tôi đã đã đi xa rồi

Thành đô lưu luyến chắn bước chân tôi

Trước giờ chia phôi mấy ai

không ngậm ngùi

Kỷ niệm buồn vui mãi ghi trong lòng tôi

Rồi đây mai ngày ai hỏi đến tên tôi

Bạn ơi hãy nói: “Khoác chiến y” rồi

Người thư sinh ấy đã xếp bút nghiên

Giã từ trường yêu với bao nhiêu bạn hiền

Có về là khi nước non vui bình yên

[Biệt Kinh Kỳ]

Ngày mai ta sẽ ra khơi

Ngày mai ta sẽ đi xa

Mượn thời gian xóa mơ qua

Dù buồn vui trên bước lưu ly

Hãy cố quên đi, đừng nhớ thương chi

Mặc ngày mai thời gian thế nào

Giang hồ cứ đi

[Dòng Thời Gian]

Trong số khoảng 50 ca khúc đã được phổ biến, Minh Kỳ đã dành tới chín mười bài viết về các thành phố: Huế, Nha Trang, Đà Lạt …

Nhạc Minh Kỳ ngọt ngào, giản dị. Nghe các ca khúc của ông, người ta có cảm tưởng nhẹ nhàng như được hưởng những cơn gió mát. Ông ít khi xử dụng những quãng cách quá chênh [từ cao xuống thấp hoặc ngược lại] trong các giai điệu, câu, chữ cầu kỳ trong ca từ:

Có những chiều thu vương nắng cuối thôn

Tiếng tiêu ai vọng đến thiết tha buồn

Man mác niềm vương vấn tình cố hương

Mối u hoài trầm tư khi chiều xuống

Mây lững lờ bay bay đến chốn xa

Gió thu lay cành liễu uốn la đà

Đôi bướm vàng tung cánh vờn khóm hoa

Nhớ bao ngày thơ ấu đã dần qua

[Mấy Độ Thu Về]

Các ca khúc viết về quê hương của chúng ta như một  nỗi buồn lập lại. Hoặc là người ta nói tới những hình ảnhtươi đẹp, thơ mộng, còn lại trong ký ức, hoặc là những cảnh tang thương, chết chóc đang diễn ra trong chiến tranh:

Người đi trên đống tro tàn

Thương em nhớ mẹ hương vàng về đâu

Chiều khô nước mắt dưng sầu

Tan thân thiếu phụ nát đầu hài nhi

[Phạm Duy]

Ruộng đồng Việt Nam cháy đỏ cuối thôn

Người chết hai lần thịt da nát tan

[Trịnh Cộng Sơn]

Ai qua miền quê binh khói

Nhắn giúp rằng nơi xa xôi

Tôi vẫn mơ tùm tre xanh ngắt

Tim sắt se cảnh xưa hoang tàn

[Hoàng Giac]

Chúng tôi có hai mươi năm làm tuổi trẻ

Chưa bao giờ hưởng trọn một ngày vui

Khi lớn lên quê hương trùng lửa đỏ

Tuổi thanh xuân mà lỡ mất nụ cười

[Đỗ Vân Thảo / Vũ Thành An]

Đất nước lắm khi chẳng còn là đất nước chỉ còn là chiến tranh. Người ta còn điều gì khác để nói?

Thanh Mai

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 25 Jun 2025

56. Lương Ngọc Châu

Lương Ngọc Châu chơi vĩ cầm. Những người yêu nhạc ở Hà Nội trước 1954 hẳn đã có nhiều dịp nghe ông đàn. Sau, ông qua Pháp để tiếp tục việc học nhạc và chơi vĩ cầm. Nhưng từ đó chỉ những kiều bào của chúng ta tại Pháp biết ông hoàn tất việc học ra sao và trình diễn ở những nơi nào.

Thính giả ở trong nước không được biết tin gì về Lương Ngọc Châu từ khi ông qua Pháp. Nhưng phần lớn người ta vẫn giữ những kỷ niệm tốt đẹp đối với ông. Nói chung, vào cái thời “xa xưa” đó, các nghệ sĩ thường được công chúng dành cho những cảm tình trân trọng, cho dù sự đóng góp của họ nhiều hay ít.

Ở cái thành phố Hà Nội nhỏ bé ấy, một nhạc sĩ viết xong một bài hát, đưa lên sóng điện, có thể nói, chỉ một sáng một chiều, gần như mọi người đều biết. Đó có lẽ cũng là cách thuởng ngoạn nghệ thuật đúng nhất. Nó từa tựa như như người ta biết đến vẻ đẹp của từng bông hoa.

Lương Ngọc Châu trong những năm ấy cũng chỉ để lại một sáng tác duy nhất, viết chung với Tử Phác, tác giả Tiếng Hát Quay Tơ, đó là bài Tiếng Hát Lênh Đênh. Chúng ta không biết ai viết nhạc, ai viết lời ca. Nhưng giai điệu của bài hát có vẻ như được xuất phát từ cây vĩ cầm. Nhạc của chúng ta có hai bài được sáng tác trong chiến tranh, vừa có vẻ đẹp của những bài thơ tình vừa có cái thiết tha của những bài kinh cầu nguyện hòa bình, đó là Tạ Từ của Tô Vũ và Tiếng Hát Lênh Đênh của Lương Ngọc Châu và Tử Phác.

Tiếng Hát Lênh Đênh

Nghe ầm vang lên tiếng chiến chinh

Mơ làm diều mang sáo thanh bình

Nghe vườn cây xao xác gió may

Mơ làm chiếc lá úa rơi đầy

Chiều lắng xuống bao kiếp cô liêu

Đìu hiu bến vắng trong lòng muôn dòng nước trôi

Nhà ai thấp thoáng lửa hồng

Người đi có nhớ đường về

Miền giang khô gió đìu hiu

Nghe ầm vang lên tiếng chiến chinh

Mơ làm diều mang sáo thanh bình

Nghe vườn cây xao xác gió may

Mơ làm chiếc lá úa rơi đầy

Hiu hiu theo chiều gió dâng lời thầm ước

Em nghe chăng lá vàng rụng lay lắt

rót nhớ thương

Anh nghe chăng bao tiếng đời,

bao tiếng lòng

Ngàn muôn xa cách bừng lên phố phường

Hoa rung rinh chập chờn gió lướt bâng khuâng

Cho mềm cánh bướm phân vân

Kim Tước

Mấy Người Con Trai Vương Long

vietmessenger.com

Pearl S. Buck

Nguyễn Thế Vinh dịch

(Tái bản)

Post by Sơn râu 25 Jun 2025

Chương 13.

Vương hổ tướng bước vào cổng Phủ, qua mấy chiếc sân mà nơi đây đêm qua chàng đã lập được một chiến công oanh liệt, bộ hạ tùy tùng của chàng mệt nhọc, uể oải theo sau. Mấy chiếc sân đó đã được quát tước sạch sẽ, kê dọn lại như cũ. Những xác chết đã đem đi, những vết máu đã xối nước cọ

rửa. Lính tráng, gia nhân đầy tớ ở Phủ, người nào lại công việc ấy như thường lệ. Vương hổ tướng bệ vệ oai nghiêm  bước vào như một vị đế vương đi chinh phạt về ca khúc khải hoàn, ai trông thấy chàng cũng kính sợ, cúi rạp xuống chào.

Chàng, hiên ngang, hùng dũng qua mấy chiếc sân, nét mặt nghiêm nghị, dương dương tự đắc. Chàng biết cả vùng này, chàng đa thu gọn, nắm chặt ở

lòng bàn tay, chàng vẫy một tên lính gác ở Phủ ra lệnh:

– Đem mụ này, nhốt vào trại giam trong Phủ. Cho nó ăn uống tử tế, đừng hành hạ, đánh đập, khi nào ta rảnh rang công việc sẽ đem ra xử.

Chàng dừng bước, nhìn bọn lính khênh mụ treo lủng lẳng giữa đòn. Mụ xem chừng đã kiệt sức, mặt trắng bệch  như bạch lạp. Hai môi trước đỏ tươi, bây giờ thâm xám, haicon mắt đen in trên bộ mặt trắng nhợt. Vẫn trừng trừng chừng nhìn chàng với cặp mắt căm hờn, mụ thấy chàng để ý coi mụ, mụ nhăn mặt nghiến răng.  Vương hổ tướng hết sức lạ lùng, chưa từng thấy một người đàn bà như thế này bao gờ, chàng khó nghĩ quá không biết xử trí làm sao với mụ này, thả nó ra không thể được, nó đang tức giận, căm hờn mà rất có thể liều mạng phục thù.  Chàng hãy tạm xếp việc này lại, sau này có thì giờ sẽ định liệu, công việc bây giờ là cần gặp lão Phủ. Lão Phủ có ý chờ chàng từ sáng sớm, hôm nay lão trịnh trọng khăn áo chỉnh tề và đã sai các đầu bếp sửa soạn một bữa tiệc thật thịnh soạn để cung tiếp khoản đãi. Khi thấy chàng đến, lão phập phồng lo sợ, luống cuống, lão nghĩ ơn của chàng to lắm  biết đền bù thế nào cho xứng đáng, không có lý họ đến giúpviệc không công. Lão không biết chàng sẽ yêu xách những gì, biết đâu lại chẳng xách nhiễu còn hơn Tám Beo khi trước.

Lão lo nghĩ, bồn chồn, nóng ruột, khi tên lính gác cổng vào bẩm Vương hổ tướng đã đến, khi lão ngó thấy chàng đi vào, hùng dũng hiên ngang, tướng cách một vị anh hùng hảo  hán lão sợ quá, không thể tự chủ được, chân tay lật bật, runlẩy bẩy. Lão trịnh trọng mời chàng ngồi, chàng ậm ừ, trả lời mấy câu xã giao thường lệ. Khi đã phân ngôi chủ khách, lão Phủ truyền đem ra trà rượu, các món cao lương mỹ vị, cho khách nhập tiệc, trao đổi vài câu phiếm luận.

Ngồi phiếm đàm mãi, lão cố tránh không muốn đả động đến việc đêm qua, lão nghĩ như thế không thể được. Lão liếc ngang liếc dọc, bốn bề xung quanh, trừ có chàng, lão không dám ngó tới, lão cất giọng nói trước, chàng nghiễm nhiên ngồi nghe, không nói đỡ lời. Chàng nghĩ bây giờ chàng có thế lực, uy quyền, chàng hiểu rõ tâm trạng lão Phủ. Chàng trố mắt nhìn lão, chàng cũng biết nhìn như thế, lão càng thêm rối trí càng sợ, tuy biết vậy, chàng cũng cứ trêu chơi. Với một giọng yếu ớt, hổn hển, thều thào, lão nói:

– Xin ngài hiểu cho, công việc ngài giúp cho đêm qua,thâm ân đó tôi xin mai tâm khắc cốt. Trừ bạo, cứu nguy, ngài đã giải cho cái ách, bao nhiêu năm nay, tôi phải cay đắng chịu đựng, ngài đã giúp cho tôi được an lạc lúc tuổi già. Tôi không biết nói thế nào, đền bù công ơn cho xứng đáng một người đã có thiện chí trừ nguy, giải ách cứu tôi. Tôi quíngài còn hơn tiện nam của tôi. Lại còn quí bộ đội, tôi không biết lấy gì thù lao cho xứng đáng. Xin ngài cho biết tôn ý sở vọng, hay ngài thay tôi trọng nhậm hạt này, tôi xin vui lòng kính nhượng.

Nói xong lão run bần bật, đút ngón tay trỏ vào mồm cắn. Vương hổ tướng ngồi yên bình thản nghe lão nói, chờ lão dứt lời, chàng chậm rãi nói:

– Tôi không yêu cầu, phiền nhiễu gì cụ. Ngay từ khi còn niên thiếu, tính tôi rất ghét bọn côn đồ, cường bạo. Công việc tôi làm là ngụ ý giúp dân ở hạt ta trừ nguy giải ách.

Nói xong, chàng lại ngồi yên, lão Phủ tiếp lời:

– Ngài thật có hùng tâm, đại tởm, chí khí anh hùng mã thượng, đời nay một người như ngài thật hiếm có. Nhưng dù sao, sau này tôi hai năm mươi, tôi không sao nhắm được mắt nếu tôi không đền bù ngài trong muôn một thâm ân đó. Xin ngài vui lòng chỉ giáo tôn ý sở vọng.

Hai bên đàm luận giờ lâu, trao đổi quan điểm trong một bầu không khí nho phong lễ độ, hai bên đã đi sát thực tế, đề  cập đến vấn đề. Với lời lẽ bóng bẩy, văn hoa ngụ ý, Vương hổ tướng muốn mở rộng hàng ngũ, thu nạp tất cả bọn lâu la, dư đảng Tám Beo, những ai muốn qui thuận, phục vụ dưới  trướng.

Lão Phủ chưa hiểu thâm ý chàng, phát hoảng, đứng dậy, tay vịn vào chiếc ghế chạm, lão nói:

– Thế ra ý ngài muốn thay thế làm trùm bọn lâu la thảo khấu hay sao?

Lão nghĩ bụng nếu quả thực thế thì chí nguy. Anh chàng kỳ khôi này, lông mày rậm như chổi xể, có lẽ trên trời sa xuống, điệu bộ có phần hung tàn hơn Tám Beo, xem ý lại còn xảo quyệt nữa. Kể ra Tám Beo còn dễ chịu hơn cha này, nó sách nhiễu gì mình đã biết, còn đằng này không hiểu tham vọng ra sao biết thế nào mà lường. Nghĩ thế lão rên hừ hừ, tâm thần hoảng hốt, lão cũng không biết lão đang rên.

Vương hổ tướng hiểu ý, thương tình nói rõ:

– Cụ không phải sợ quá như vậy. Không bao giờ tôi lại có ý nghĩ làm một tên đạo tặc, cha tôi là một lương dân có  ruộng đất, tôi được thừa hưởng. Tôi không đến nỗi nghèo khổ quá mà bạ cái gì cũng cướp bóc. Hai anh tôi cũng khá giả, danh giá. Nên tôi hoạch định một thế lộ là muốn đi đến chỗ quang vinh, xáng lạn. Tôi làm có phương châm, chiến  thuật chứ không phải những xảo kế, tiểu mưu như bọn vô lại, cường bạo. Tôi chẳng kể công ơn gì hết, chẳng yêu sách gì, chỉ xin cụ một việc:

– Xin cụ cho tôi và thuộc hạ tôi đồn trú ở trong Phủ và cụ trưng dụng tôi chỉ huy cai quản đạo quân bảo vệ hạt này. Đạo quân đó thuộc quyền cụ sử dụng. Chúng tôi có bổn phận bảo vệ cụ, giữ an ninh trong hạt đề phòng đạo tặc. Cụ đài thọ tổn phí cho chúng tôi, phần mà chúng tôi  được thụ hưởng, cụ bảo trợ chúng tôi về mặt pháp lý đối với chính quyền.

Lão Phủ nghe nói, hết sức kinh ngạc, rụt rè nói:

– Thế còn ông tướng hiện có ở đây, tôi biết nói làm sao?

Tôi chắc không khi nào ông ta chịu thoái lui mà không có một xô xát đổ máu.

Nghe nói thế, Vương hổ tướng trả lời quả quyết, mạnh bạo:

– Việc đó kể không khó khăn gì. Theo lề lối của khách phong lưu mã thượng, chúng tôi mở một cuộc tỷ võ, nếu ông ta thắng, tôi xin rút lui để lại cho hắn hết quân bản bộ, võ khí. Nếu thảng hoặc tôi thắng, ông ta phải thoái triệt nhường lại hết quân số, võ khí, quân trang.

Lão Phủ nghe nói tới tỷ võ, vừa rên vừa thở, lão sợ nhất những chuyện đấm đá, chém giết. Lão là một nhà nho, một  môn đồ của cửa Khổng sân Trình, tâm trí muốn an phậnbình thản. Lão cho lính mời ông tướng sang chơi, có việc quân cơ. Một lát sau ông này lại, một người hình thù nhỏ bé, bụng to như thúng úp, bận rõ trang theo kiểu ngoại lai, dưới cằm lơ thơ vài sợi râu, lông mày chải ngược cho xếch, cố làm ra vẻ một mãnh tướng. Bên mình đeo một thanh đoản kiếm kéo lê thê ở gót chân, ông đi lấy oai, cố nện gót giày cho thật  kêu. Ông sẽ nghiêng người một chút chào lão Phủ, cố làm ra dáng điệu dữ tợn, hùng dũng, uy phong.

Lão Phủ, mồ hôi ướt giỏ giọt, hổn hển nói cho biết mục tiêu cuộc hội kiến.

Vương hổ tướng ngồi thản nhiên, đưa mắt nhin chỗ khác, làm như đang suy nghĩ một việc gì. Lão Phủ ngồi lặng thinh, cúi đầu trầm ngâm nghĩ lúc này giá có phép gì mà thăng thiên hay độn thổ thì hay, hai thằng này hai đầu mình đến chết chẹt ở giữa. Lão vẫn yên chí tướng của lão cũng ghê gớm lắm, vẫn nghe đồn ông tướng này hơi một chút là máu sôi lên sùng sục như nồi cơm sôi. Vương hổ tướng lanh lẹ, khi có việc gì phẫn nộ, bao nhiêu uất khí đưa lên mặt, thoáng nhìn là cảm nhận thấy.

Ông tướng bụng to như thúng úp nghe thấy lão Phủ nói cũng hơi thấy tức, đưa bàn tay mẫm mụi mó vào chuôi kiếm làm như sắp ra tay hạ thủ đối phương đến nơi. Vương hổ tướng tuy làm như mải nhìn khóm mẫu đơn ngoài vườn nhưng măt vẫn liếc thấy hết cử chỉ của hắn, chàng nhếch đôi

môi dài để lộ hai hàm răng trắng nõn, díu đôi lông mày đen  rậm, khoanh tay trước ngực. Chàng nhìn thẳng địch thủ, ông tướng gặp luồng nhỡn tuyến của chàng, như người bị thôi miên, thấy khó chịu, cố nuốt giận làm lành. Hắn tự hiểu thời oanh liệt đã hết, biết sức mình không đọ được với địch thủ kinh đởm này. Hắn khoan thai nói với lão Phủ:

– Đã lâu, tôi định thưa với Cụ, tôi còn cha già mà lại con một, tôi muốn xin nghỉ để về phụng dưỡng lão phụ. Tôi chưa dám nói vì chưa lúc nào được rảnh rang, công việc ở Phủ bề bộn, mà cứ liên tiếp hết việc này đến việc khác. Ngoài bổn phận hiếu tử phải săn sóc cha già, tôi lại có bệnh ở bụng, thỉnh thoảng trở trời lên cơn đau. Cụ cũng hiểu rõ bệnh tình của tôi nên mấy năm nay, ngoài ý muốn của tôi, tôi không diệt trừ được bọn lâu la hoành hành quấy nhiễu. Tôi nghĩ  buồn về bệnh hoạn âu cũng là do lòng trời. Bây giờ có dịp may, có người thay thế, tôi được về cố hương, trước là săn sóc cha già cho phải đạo làm con, sau là để dưỡng bệnh một thể. Nói xong hắn đứng thẳng người chào, lão Phủ đứng dậy đáp lễ, nói mấy câu:

– Xin ngài yên tâm, ngài sẽ được ân thưởng xứng đáng về những năm ngài đã tận tụy với công vụ.

Lão Phủ nhìn theo ông tướng đi ra, thở dài có ý luyến tiếc, lão nghĩ cha này thế mà dễ thương, tuy chẳng đánh đấm được giặc cướp, hắn ở Phủ cũng chẳng thấy phiền nhiễu gì. Tính lão hay phát bẳn, thỉnh thoảng máu lão có sôi lên như nồi cơm sôi, nhưng toàn về chuyện ăn, chuyện uống, lặt vặt, cái đó không đáng kể, dễ xử lắm. Lão nghĩ thế, liếc mắt nhìn Vương hổ tướng, lão thấy ác cảm, khó chịu, cha này còn ít tuổi, mặt rắn như sành, bộ điệu hung dữ, khó tính, nham hiểm quỷ quyệt. Lão cố lấy giọng ôn hòa nhã nhặn nói:

– Ngài thế là toại nguyện, khi nào lão tướng già sắp đi,  ngài sang bên đó để bàn giao quân số, võ khí. Tôi chưa nghĩbẩm lên thượng cấp thế nào cho trôi, dám tự tiện thay võ quan mà ngộ hắn đệ đơn kiện thì cũng rầy rà lắm.

Vương hổ tướng lanh chí, khôn ngoan, đỡ lời:

– Ôi thiết nghĩ như thế là vẻ vang cho cụ lắm, có gì mà cụ phải bận tâm. Cụ bẩm lên thượng cấp cụ chiêu hiền đãi sĩ, được một anh hùng hảo hán quét sạch được đạo tặc trong hạt, cụ cần lưu hắn lại để làm quân bảo vệ ở tư dinh, cụ bảo lão ta. Tôi sẽ làm hậu thuẫn cho cụ thảo một lá đơn bẩm tỉnh, xin từ quan vì cha già, vì bệnh hoạn, lão ta tiến cử tôi thay thế. Danh chính ngôn thuận cụ được phép bổ nhiệm tôi để trông nom an ninh tuần phòng trong hạt, dân được yên ổn làm ăn. Đó là một vinh dự rất lớn cho cụ.

Lão nghe chàng nói cũng xuôi tai, có lý, lão thấy cũng vững dạ nhưng lão vẫn thấy nơm nớp sợ, thằng cha này coi bộ hung lắm, chỉ sợ có ngày nó phát khùng thì nguy. Vương hổ tướng hiểu ý, lão sợ cứ để lão sợ càng hay, chàng sẽ nhếch mép cười thầm.

Công việc này bàn giao đã xong, với sự thỏa thuận của lão Phủ, chàng đem hết quân bản bộ vào đóng ở Phủ đường vừa đúng lúc mùa đông tháng rét sắp đến, gió lạnh phương Bắc thổi về. Chàng rất sung sướng, hoan hỷ thấy mọi công việc được trôi chảy theo nhưý định, bọn lính được cơm no, áo mặc no đủ, tiền nong thu hoạch được ít nhiều, có thể lo liệu cho đám thủ hạ được no ấm trong mùa đông tháng giá.

Mọi công việc đã xếp đặt hoàn hảo. Mùa đông đã đến, gió bấc thổi, ngày này qua ngày khác rét mướt, một chuỗi ngày buồn tẻ. Một hôm rỗi việc, chàng sực nghĩ đến mụ đàn bà nhốt ở trại giam, chàng bật cười, kêu tên lính gác lại bảo:

– Ở trong trại giam có một mụ đàn bà, ta cho nhốt đã được hai tháng nay, xuống dẫn con mụ đó lên đây. Ta quên chưa xử tội nó, nó đã toan ám sát ta (chàng nghĩ cười thầm nói tiếp) bây giờ chắc nó đã được cảm hóa nhiều rồi.

Chàng thấy thích thú muốn biết mụ này đã được cảm  hóa đến mức độ nào? Chàng ngồi một mình ở phòng riêng,cạnh chàng có đốt một lò sưởi than đỏ hồng. Ở ngoài mưa tuyết, nhà cửa, cây cối, một lớp tuyết dầy bao phủ trắng xóa. Hôm ấy không có gió nhưng rét ngọt, rét như cứa da, cắt thịt. Rỗi việc ngồi sưởi, chàng quấn một chiếc áo lông cừu, ngồi trên chiếc ghế bành có giải một tấm da cọp. Chờ độ một giờ, ngoài sân lao xao có tiếng người, chàng nhìn ra cửa, anh lính đã dẫn mụ lại, thêm hai lính nữa đi hộ tống. Mặc dù có ba anh lính đi kèm, mụ cũng cố giãy giụa, cố dứt chiếc thừng trói quanh người mụ. Mấy anh lính cố đẩy mụ vào, tuyết cũng bay theo vào phòng. Khi bọn lính đã nắm chắc mụ, bắt mụ đứng yên trước mặt chủ tướng, một anh bước lên tường trình, cáo lỗi về sự chậm trễ.

– Thưa đại tướng, chúng con đắc tội đã thi hành chậm chạp thượng lệnh, chúng con vất vả mới đẩy được con yêu này đi. Nó nằm trần truồng ở trại giam, chúng con vào không tiện, chúng con tuy vậy đứng đắn, có vợ con đàng hoàng. Chúng con phải nhờ tụi đàn bà cùng bị giam với nó bắt nó mặc quần áo. Nó cắn, cấu xé người ta, họ cố mặc sơ sài  cho nó, chúng con mới dám vào lôi được nó ra. Bẩm, quả là nó điên, thật sự điên, ở trại giam ai cũng bảo nó không phải là người, một con chồn lâu năm hóa người.

Nghe nói bảo mụ là chồn, mụ hất đầu cho nắm tóc lỏa tỏa trước mặt hắt về đằng sau. Họ đã cạo trọc mụ một lần, ít lâu nay tóc đã mọc, bây giờ dài chấm vai. Mụ the thé nói:

– Tao không điên đâu, tao chỉ căm thù thằng kia.

Mụ văng một câu rất ngạo mạn, tục tĩu, mụ hắt cằm về phía Vương hổ tướng, mụ nhổ. Nếu chàng không lùi lại nhanh thì đã trúng bãi nước bọt của mụ, bọn lính thấy mụ sắp nhổ, đẩy mạnh mụ lùi về phía sau, bãi nước bọt rớt vào than hồng cháy sèo sèo, anh lính thấy mụ hỗn xược quá, thưa với chàng:

– Bẩm. Đại tướng xét coi, con này thực sự hóa điên.

Vương hổ tướng không nói năng gì, chàng không rời mắt nhìn mụ, để tai suy xét lời nói của mụ, tuy lời nói thô lỗ, ngạo mạn nhưng xét ra không phải lời lẽ một mụ đàn bà thường dân, vô học. Chàng để ý nhận ra mụ vốn người đã mảnh dẻ, bây giờ bị gầy đi nhiều, tuy vậy coi vẫn còn óng ả,  kiêu căng, không phải như một mụ nhà quê cục mịch. Haibàn chân to không bị bó, ở vùng này những con nhà khá giả,danh gia không bắt buộc phải theo tục lệ bó chân. Nhiều cái trái ngược mâu thuẫn quá, chàng không sao hiểu nổi. Chàng để ý ngắm bộ lông mày đen nhánh, nằm vắt ngang  trên đôi mắt đầy vẻ căm hờn, đôi môi mỏng quẹt để lộ bộ răng trắng nõn đều và bóng, chàng thấy người này có lẽ đẹp nhất, chàng chưa thấy một người đàn bà nào đẹp như thế bao giờ. Ngay giờ đây mặt tái xanh như tàu lá, cáu kỉnh, căm hờn nhưng vẫn đượm vẻ kiều diễm. Chàng thủng thẳng, ôn hòa bảo mụ:

– Ta chưa biết mi bao giờ, sao mi lại thâm thù ta quá như vậy?

Mụ phăm phăm trả lời, giọng nói sang sảng:

– Ông đã giết chủ tôi, chưa báo thù được tôi vẫn chưa yên. Nếu ông có giết tôi, tôi cũng chưa thể nhắm mắt được khi tôi chưa trả được mối thù.

Người lính đứng cạnh mụ nghe mụ nói nhiều câu hỗn xược, giơ kiếm lên thét:

– Mi nói với ai ở đây? Đồ yêu nghiệt!

Nếu Vương hổ tướng không ra hiệu không cho phép có lẽ tên lính đã lấy xống kiếm đập vào mồm mụ.

Nhẹ nhàng, chàng lại hỏi:

– Có phải Tám Beo là chủ chị không?

Mụ the thé hét to:

– Phải.

Vương hổ tướng ngồi chống tay ở thành ghế, với một giọng ôn hòa, nhưng có vẻ miệt thị, chàng nói:

– Tám Beo, ta cho đi chầu Diêm vương rồi, giờ đây mi có  một chủ mới là ta đây.

Nghe nói, mụ tiến một bước như có thể lăn xả giết ngay chàng, hai anh lính phải cố ghì mụ lại. Bọn lính trói mụ, lần này thẳng tay ghì chặt, mụ không sao cựa quậy nhúc nhích; mồ hôi nhỏ giọt trên trán, mụ thở hổn hển, đau quá muốn khóc, nhưng vẫn nhìn chàng một cách thâm thù ghê gớm.

Chàng nhìn thẳng vào mụ, mụ không kém cũng nhìn lại như có vẻ thách thức, cố ý nhìn như bắt chàng phải khuất phục  dưới làn nhỡn tuyến của mụ, bao giờ chàng chịu mụ mới thôi. Vương hổ tướng không lộ vẻ phẫn nộ, cặp mắt chiếu thẳng vào mụ, bình tĩnh mãnh liệt. Tuy chàng rất căm tức thái độ khiêu khích, ngạo mạn của mụ, nhưng chàng rất kiên tâm, kín đáo, không để lộ ý nghĩ trên nét mặt. Mụ cũng  cố nhìn lại chàng trong một lúc lâu. Trơ trơ không nao núng,luồng nhỡn tuyến của chàng vẫn chiếu rọi vào mụ, mụ chịu đựng mãi không nổi chớp mắt, hét lên, quay lại bảo bọn lính:

– Các anh đưa tôi về trại.

Vương hổ tướng cười nhạt bảo:

– Mi coi, ta đã bảo mi, nay mi đã có chủ mới.

Mụ lặng yên không trả lời, thốt nhiên mụ ngã gục xuống, mồm há hốc thở hổn hển. Chàng bảo bọn lính dẫn mụ về trại giam, mụ đứng dậy thoăn thoắt đi ngay không phải co kéo, mụ như sung sướng được xa lánh chốn này.

Thái độ kỳ khôi của mụ càng gợi tính tò mò của chàng. Chàng muốn biết tông tích mụ, duyên cớ làm sao lại lạc loài đến ở trong sào huyệt bọn côn đồ, chàng muốn khám phácuộc đời bí ẩn của mụ.

Anh lính đưa mụ về trại giam trở lại, tường trình với chàng, vừa nói vừa lắc đầu:

– Bẩm đại tướng, đời con đã bao phen lọt vào ổ bọn mọi rợ, hung tàn thế mà con không sợ bằng con cọp cái này, nó dữ kinh hồn.

Vương hổ tướng phán bảo:

– Xuống bảo chủ trại giam, ta cần biết lý lịch mụ đó, lý do mụ ở trong ổ bọn cướp.

  – Bẩm đại tướng, chúng con đã căn vặn nó nhiều lần nhưng không bao giờ nó chịu nói, nó cứ lặng ngắt không chịu trả lời. Có một điều đáng chú ý là lúc đầu không chịu ăn bây giờ nó ăn ghê lắm, không phải nó đói, nhưng hình như nó ăn để lấy lại sức, chắc con mụ định mưu toan gì đây, nó không

hở cho ai biết nó là ai. Bọn đàn bà cùng giam với nó đã dung hết mưu kế để cho nó nói, nó cũng không nói. Con nghĩ chỉ có đem ra tra tấn may ra nó xưng, con lại sợ có khi phải dung đến cực hình mà liệu con yêu nghiệt này có chịu khai không? Đại tướng có cho lệnh đem mụ ra tra tấn không?

Vương hổ tướng suy nghĩ hồi lâu nghiến răng nói:

– Nếu không còn cách gì hơn cho đem ra tra tấn. Mụ phải phục tòng, qui thuận ta. Nhưng mà liệu nhẹ tay, đừng để nó chết nghe không? – chàng suy nghĩ một lát, nói tiếp:

-Đừng có làm gãy xương nó, đừng làm sây sát da thịt nó.

Chiều hôm đó, anh lính gác trở lại tường trình:

– Bẩm đại tướng, chúng con lôi con mụ ra tra tấn rất nhẹ nhàng, nó không khai một câu nào. Theo thượng lệnh, chúng con không làm gẫy xương nó, sây sát da thịt nó. Nó khinh chúng con quá, coi chúng con không ra gì.

Vương hổ tướng sầm mặt nói:

– Hãy để tạm nó yên đấy, cho nó rượu, thịt ăn uống tử tế nghe không?

Chàng tạm gác việc đó một bên, để suy nghĩ sẽ quyết định sau. Một ý nghĩ chợt vụt đến trong trí óc chàng, chàng sai anh lính sứt môi xuống phương Nam, về quê nhà, kể chuyện cho các anh chàng biết những việc đã qua, chàng đã thành công đắc thắng, chỉ mất có vài tên lính, chàng đã nắm trọn

được cả vùng. Chàng cặn kẽ căn dặn anh lính:

– Mi không được khuếch khoác quá, cái chức vị nhỏ nhen, cái Phủ bé tí tẹo này chỉ là bước đầu ta leo lên ngọnnúi hùng vĩ vinh quang nó dựng ở trước mặt ta. Mi n i thế nào cho các anh ta đừng tưởng ta ở địa vị cao sang, không các ông ấy lại đem con ấn cho ta, con các ông ấy ta ngán lắm rồi. Vẫn hay ta chưa có con cũng mong có một đứa. Nói qua loa thôi, không được phóng đại, phô trương, nhưng nói thếnào các ông ấy tin tưởng gửi tiền nong, ta còn cần lắm. Hiện nay quân số có linh năm ngàn, phải lo cơm áo tốn lắm, họ ăn

như tằm ăn rỗi. Nói đại khái ta vừa mới khởi sự buổi đầu, ta cố nắm quyền cai trị cả tỉnh này rồi dần dà các tỉnh khác nữa, nghĩa là công việc ta liên miên, không có bờ bến nào.

Anh lính sứt môi xin hứa theo đúng như lời chàng dặn. Anh ta mặc trá hình như một người nghèo đi trẩy chùa xa. Vương hổ tướng bắt tay vào việc, chàng xếp đặt chỉnh đốn quân đội. Đúng lý ra, chàng có quyền tự hào về kết quả của công tác chàng đã thu lượm được. Chàng có cơ sở, địa vị, đàng hoàng không phải một tên trùm trộm cướp, chàng được đặt bản doanh ngay trong phủ đường, một cơ quan của chính quyền địa phương cả vùng ai cũng nghe uy danh hổ tướng. Khi chàng tuyển mộ tân binh, dân binh cả vùng ùn ùn kéo lại xin phục vụ dưới trướng. Chàng tuyển lựa rất cẩn thận, gạt bỏ những người già, hạng ốm yếu, hạng tàn phế, ngu xuẩn, chàng không thể thu nạp bọn này hại cho công quỹ, có rất nhiều người xin đăng lính cốt để kiếm cơm ăn.

Chàng thiết lập được một đạo quân hùng mạnh, non tám  ngàn người toàn trai tráng, khỏe mạnh, tập luyện tinh thục. Một trăm anh lính cũ từ lúc khởi đầu, trừ ra có mấy người bị giết trong khi xung đột với bọn lâu la, mấy người chết thui trong đám cháy ở sào huyệt Tám Beo, còn độ một trăm anh, chàng cất nhắc lên đội trưởng, thượng sĩ.

Tất cả mọi việc được xếp đặt hoàn hảo, nếu là người  khác được địa vị như chàng chỉ có việc ngồi mà hưởng phú quý, ăn uống phè phỡn. Vương hổ tướng không thế, chàng tự vạch một kỷ luật, sáng dậy thật sớm, ngay mùa đông tháng rét cũng thế, đem quân lính ra rèn luyện, dạy họ binh thư,  đồ pháp chiến thuật, khi tiến, khi lui, khi rút lui giữ được chủ lực, cái gì chàng đã học được, đã biết, chàng đem trau dồi cho bọn lính. Trí chàng muốn tung hoành, không phải ẩn nấp trong một cái Phủ nhỏ bé đã cho là mãn nguyện. Chàng có những mộng rất lớn, cố theo đuổi để thực hiện chí hướng.

Chiến tranh Israel-Iran 6-2025: Chuyện quả bom GBU-57, thả hay không thả?

dongsongcu.wordpress.com

Trần Lý

Posted on June 23, 2025

Post by Sơn râu 24 Jun 2025

“Fordow is the be-all and end-all of Iran’s nuclear operation”

(Ben Taleblu – Foundation for Defense of Democracies- US Think-tank)

1- Cơ sở Nguyên tử Fordow (Fordow Fuel Enrichment Plant)

     Cơ sở ngầm dưới mặt đất nằm tại vùng Núi Doom, cách Thành phố Qom 30km về phía Bắc, rộng khoảng 54 ngàn square-feet,và từng là một Doanh trại cũ của Lực lượng Vệ Binh Cách mạng Iran.

    Cơ sở trên nguyên tắc đặt dưới sự điều hành của Ủy Ban Nguyên tử năng Iran (AEOI) và là Cơ sở làm giàu Uranium thứ nhì của Iran sau Natanz Nuclear Facility.

   Các Cơ sở làm giàu uranium Fordow, Natanz và Trung tâm nghiên cứu Isfahan là 3 Cơ sở ‘trụ cột’ của Chương trình Nguyên tử của Iran..(Natanz và Istafan đã bị san bằng)

Về phương diện quân sự, Fordow không phải là Cơ sở duy nhất, xây dựng trong hang núi, được bảo vệ cẩn mật, duy nhất trên thế giới; Các Quốc gia quân sự hùng mạnh có vũ khí nguyên t, đều có những bunkers quân sự ngầm để đề phòng bị tấn công.. Hoa Kỳ có Taven Rock (gọi là Pentagon ngầm), xây dựng tại một vùng núi ở Pennsylvania; Rạng núi bí mật Mount Yamantau của Nga, là nơi đặt Bộ Chỉ huy Nguyên tử Chiến lược của Nga; Tàu có Căn cứ Hải quân Longbo, ngầm sâu dưới hang động.

   Cơ sở Fordow bắt đầu được xây dựng từ 2006, nhưng mãi đến 2009, AEOI mới công nhận là có Cơ sở này, sau khi các Cơ quan Tình báo Âu châu đưa ra các bằng chứng về sự hiện diện của cơ sở..Khi bị đặt các câu hỏi về ‘sự việc’, Iran tránh né và không giải thích thỏa đáng về sự che giấu này..

    Một cuộc thanh tra của Liên Hiệp Quốc năm 2012, tìm ra những hệ thống đường hầm, với vách đá dày; cửa vào trang bị hệ thống chống công phá do chất nổ, và có những bunkers được bảo vệ bởi những khối đá cả 100m mét 

     Iran ký một Thỏa ước năm 2015 (thời TT Obama) với Ủy ban Phối hợp 6 quốc Gia gồm Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Tàu và Đức (Joint Comprehensive Plan of Action), buộc Iran ngưng mọi việc ’enrichment tại Fordow, chuyển sang nghiên cứu và phát triển tại đây Chương trình Nguyên tử phục vụ cho mục đích dân sự?

    Nâm 2008, Iran đã đặt một giàn phi đạn phòng không S-300 để bảo vệ cơ sở (giàn phi đạn này bị Israel phá hủy trong cuộc tấn công 2024)

    Năm 2018, TT Trump (Nhiệm kỳ 1) rút Mỹ ra khỏi thỏa ước Quốc Tế 6 nước, và áp đặt lại các biện pháp trừng phạt kinh tế trên các chương trình phi đạn của Iran. Iran tái lập chương trình ‘enrichment’ tại đây và công bố là Uranium cho Hòa bình?

   Năm 2019, các Cơ quan tình báo  xác định được Iran đã đặt 2700 máy ly tâm tại Cơ sở này.

   Một cuộc thanh tra bất ngờ năm 2023, các chuyên gia Nguyên tử năng Quốc Tế đã thu được những mẫu hạt nhân uranium tinh chế đến 87.3%, rất gần với tiêu chuẩn để chế tạo vũ khí, và các chuyên gia cũng nghi ngờ là Iran đã tạo được kết nối đồng bộ giữa 2 nhóm (set) ly tâm để tinh khiết hóa được uranium đến 60%. (hình dưới)

Theo Reuters, Iran hiện đang có đến 166.6 kg uranium (enriched đến 60%), đang tiếp tục được ‘làm giàu’ để đủ chế tạo được 4 quả bom nguyên tử..

* Các diễn biến quan trọng:  

Cơ sở Natanz, xây dựng ngầm 20m dưới mặt đất, từng bị phá hoại vào năm 2021, gây nổ cho một loạt các máy ly tâm , do cuộc tấn công cyber của tình báo Israel .. Các hoạt động enrichment được chuyển dần  về Fordow..

Tham vọng trở thành Cường quốc Nguyên Tử của Iran còn đang được thực hiện với việc xây dựng một Trung Tâm khác khoét sâu hơn trong núi Pickaxe (Kuh-e Kolang GazLà), cách Natanz vài km về phía Nam. Cơ sở mới có 4 đường hầm ra-vào (Fordow chỉ có hai), sẽ gây khó khăn hơn cho các cuộc không kích! Cơ sở này có thể  sẽ là nơi Iran chế tạo bom nguyên tử? 

 Israel, sau khi ‘kiểm soát được không phận Iran’ đã lần lượt đánh phá tất cả các Cơ sở liên quan đến Chương trình Nguyên tử của Iran như Lò phản ứng hạt nhân Bushehr cung cấp điện (các chuyên viên Nga điều hành Cơ sở đều đã phải di tản); Lò phản ứng chế biến nước nặng Arak; các Cơ sở chế tạo máy ly tâm tại Karaj và Tehran.., Israel cũng theo dõi và hạ sát các Chiên viên nghiên cứu, các kỹ thuật gia nguyên tử của Iran..Chỉ còn lại Fordow, là vượt quá khả năng không kích mà Israel đang có.   

Để có thể phá hủy Cơ sở Fordow, các chuyên gia vũ khí thế giới, đều đồng ý là phải cần đến loại bom GBU-57 của Mỵ, và loại này chỉ có phi cơ B-2 của Mỹ (hiện nay) mới có đủ khả năng thả được ?

Tuy nhiên nếu Hoa Kỳ quyết tâm từ chối sử dụng B-2 (?) thì Israel có thể làm gì?

GBU-57 Bunker buster bomb làm được gì?

Bunker buster bombs là loại vũ khí dùng nguyên tắc trọng lực để đâm sâu vào lòng đất, đá và các vật liệu khác như bê tông, trước khi bom cho nổ sâu dưới lòng đất. Hiệu ứng nổ có thể phá tan vị trí trúng bom hay gây sụp đổ các cấu trúc chung quanh, giết chết đối phương bị vùi lấp  dưới đất-đá..

  Bunker buster bombs có nhiều loại tùy theo trọng lượng. Israel hiện có các loại 2000 và 5000 pounds. Chỉ Hoa Kỳ mới có loại 30000 pounds GBU-57 A/B, Massive Ordnance Penetrator (MDP).

   Để có thể hủy diệt toàn Cơ sở Fordow, còn tùy thuộc vào độ sâu nơi cơ sở được xây dựng. Theo the Foundation for Defense of Democracies thì Cơ sở Fordom nằm sâu ở khoảng 60-90m (196-295 feet) dưới mặt đất.

Cách B-2 thả GBU-57:

Theo nguyên tắc kỹ thuật MOP có khả năng khoan sâu khoảng 200 feet, và đây là khoảng cách dưới sâu cùng với các khó khăn khác  khi bom thả vào khu vực núi, và kỹ thuật thả cần áp dụng, được gọi là ‘burrowing’= đào hang, theo đó B-2 phải thả liên tiếp nhiều bom kế tiếp nhau ?. Phi công điều khiển cuộc tấn công vào mục tiêu cần đánh trúng lối vào đường hầm, bay đúng góc của trục tấn công..

(Trái bom thứ nhất tạo một lỗ sâu đến 200 feet và phát nố).  Kỹ thuật tấn công đòi hỏi khả năng của phi công và Mỹ không thể ‘cho Israel mượn ‘phi cơ! Phicông Israel.. chưa được huấn luyện về B-2!)

(Trái thứ 2, theo đúng đường của trái thứ nhất. Nổ vả gây thêm thiệt hại…)

 Qua các nhận định kỹ thuật trên, thì hiện nay chỉ KQ Hoa Kỳ mới đủ phương tiện để thực hiện nội kế hoạch oanh kích phá hủy Cơ sở Fordow.

   Nhưng, theo một số chuyên gia quân sư khác thì Israel, với những thành tích quân sự ‘khó tưởng’ vẫn có thể phá hủy Fordow mà không cần MOP?

    TT Netanyahu tuyên bố “Israel có thể tự xóa bộ Fordow, nhưng cần có thời gian lâu hơn?

A- KQ Israel cũng thể dùng các F-15, có thêm các F-35 yểm trợ, tấn công Fordow theo phương pháp ‘đào hang’ với loại bom 5000 pounds đang có? 

IDF có các bom GBU-28 và GBU-109, cà 2 loại bom này đều có khả năng xuyên phá, khoan sâu vào lòng đất trước khi nổ, nhưng không đủ sức mạnh như GBU-57. F-15I đ đủ sức chở và thả 2 loại bom trên..

     GBU-28 là loại  đã được dùng trong các trận tấn công đánh phá các Cơ sở nguyên tử (như Natanz, Istafan..) trong các đợt vừa qua (từ 13 tháng 6) với những kết quả khả quan, tuy có thử đánh Fordow nhưng không đạt được kết quả mong muốn.

      GBU-109 đã được KQ Israel sử dụng trong các trận không kích tại Lebanon (2024).

   Các nhà chiến thuật đánh giá việc dùng các GBU-28 và GBU-109, chỉ có thể gây hư hại các đường hầm, lối ra-vào và  các cấu trúc trên mặt đất, cùng hệ thống thông khí nhưng không hủy hoại nổi các công trình căn bản khác của Fordow! Và trong tương lai Fordow vẫn có thể còn là một Trung tâm nguyên tử của Iran…?

B- Chiến tranh phá hoại?

    Israel đã có những chiến tích thành công ‘ngoạn mục’ trong các cuộc tấn công phá hoại và cũng từng thành công trong những vụ đột kích vào các Chương trình nguyên tử của Iran. Năm 2010, Israel đã thành công trong Chiến dịch Stuxnet cyber-attack đánh vào Hệ thống ly tâm tại Natanz, cài đặt các malware, gây  các máy ly tâm cùng một lúc ngưng hoạt động. Năm 2020, Israel hạ sát Chuyên gia nguyên tử Mohsen Fakhrizadeh, dùng đại liên điều khiển từ xa (Israel chối không nhận trách nhiệm). Nhiều vụ ám sát các nhân vật quân sự và các chuyên viên khác cũng từng do Mossad gây ra..

    Israel có thể dùng 3 phương thức phá hoại ‘bất quy ước’ để tán công Fordow:

Cắt đứt nguồn cung cấp năng lượng, như đã và đang làm tại các Cơ sở quanh Natanz. Năm 2021, một vụ mất điện toàn bộ tại Narantz đã làm hoạt động của các máy ly tâm bị trục trặc, vòng quay mất kiểm soát, gây hư hại công việc enrichment.

Tấn công cyber kiểu Stuxnet, tuy khó thực hiện vì Iran đã lo đề phòng?

Tấn công cảm tử như Israel từng thực tập : Thả các biệt đội đột kích bằng trực thăng đến các vị trí gần Fordow, đột nhập và dùng chất nổ phá hoại..

C– Dùng vũ khí nguyên tử?

     Trên nguyên tắc, Israel không có vụ khí quy ước để xóa bỏ Fordow, nhưng các chuyên gia tin chắc rằng Israel có khả năng nguyên tử để xóa bỏ Fordow! Nhiều nhà lãnh đạo Israel, kể cả Thủ tướng Yitzhak Rabin, năm 1987, đã xác nhận là Israel sẽ không phải là quốc gia đầu tiên đem vũ khí hạt nhân sử dụng tại khu vực., và chính TT Netanyahu cũng đã nhắc lại những lời này. Tuy nhiên dù Israel đang có các đầu đạn nguyên tử cỡ nhỏ (khoảng 90 đầu đạn plutonium?), IDF vẫn cần có phương tiện cần thiết để phóng đạn và phá hủy Fordow (GBU-57 mang lượng chất nổ tương đương với 2 tấn TNT, trong khi đó đầu đạn của hệ thống Davy Crockett (vũ khí nguyên tử chiến thuật nhỏ nhất của Mỹ, có thể phóng được chất nổ tương đương với 10 tấn TNT!)

     Việc sử dụng vũ khí nguyên tử có thể gây ra nhiều hệ lụy quan trọng ! gây những hậu quả không lường trước về nhân bản và môi sinh, gia tăng tình trạng thù địch, bất ổn, nghi ngờ và chạy đua tạo mãi vũ khí hạt nhân trong toàn khu vực?

Thả hay Không?

Thái độ ‘ỡm ở’ ‘cố ý của Trump là một chiến thuật quân sự kiểu ‘chơi bài poker’?

  TT Trump cho biết (20 tháng 6)..Ông giành 2 tuần để..suy nghĩ ‘về việc Cộng tác với Israel, để thanh toán Fordow”. TT Trump vẫn đòi “Iran ‘đầu hàng vô điều kiện”! và Ông tiếp tục ‘điều nhiều chiến hạm Mỹ đến khu vực, bao quanh Iran., đưa các B-2 đến những Căn cứ KQ trong khu vực Trung Động..

   Khi được các ký giả hỏi thêm chi tiết. Câu trả lời ’kỳ bí’ là “Tôi cũng chưa biết.. Tôi sẽ làm gì!.. Chờ xem?”

      “I may do it. I may not do it. I mean, nobody knows what I’m going to do”

Trần Lý cũng đành chờ.?

Trần Lý 6-2025

Nguồn: Mr.TL chuyển

Những người muốn ‘vùi chôn’ thương binh VNCH

hung-viet.org

Posted 30 Tháng Ba 2015

Huy Phương

Post by Sơn râu 24 Jun 2025

Hiện nay cộng đồng người Việt tị nạn trên thế giới, không phải chỉ có hằng trăm mà hằng nghìn tổ chức và cá nhân đứng ra quyên góp tiền để giúp cho thương binh VNCH ở quê nhà.

Qui mô nhất ở Hoa Kỳ có Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh-VNCH, với sự yểm trợ nhiệt tình của Trung Tâm Asia và đài SBTN, đã tổ chức 8 lần đại nhạc hội ngoài trời, gây quỹ giúp thương binh. Ngoài ra, còn có Bác Sĩ Phạm Minh Hiển ở Pháp với các hoạt động gây quỹ yểm trợ các thương binh, Hội Bạn Thương Phế Binh VNCH Nam Úc với Bác Sĩ Ngô Anh Tuấn và nhiều tổ chức thiện nguyện khác mà chúng tôi không có đủ thông tin để trình bày ở đây.

Hình chụp tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. (Hình: website Namrom64)

Khiêm nhường hơn chúng ta đã có những Foundation nhỏ như Dương Lạc Foundation ở San José mỗi năm giúp được cho thương binh vài chục nghìn đồng. Chúng ta cũng không thiếu những gia đình hảo tâm, tự nguyện trực tiếp giúp cho một vài thương binh vào các dịp Lễ Tết.

Ở trong nước những năm gần đây, các đoàn thể tôn giáo cũng bắt đầu “không biết sợ” khi tập họp một số thương binh VNCH lại để phát quà hay khám bệnh, quan tâm đến đời sống và sức khỏe của anh em đã hy sinh một phần thân thể của mình trong cuộc đấu tranh chống Cộng Sản xâm lăng.

Ngoài những tổ chức phát quà từ thiện, Hòa Thượng Thích Không Tánh còn tổ chức những buổi gặp gỡ gọi là “Tri ân Quý Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa” (TPB-VNCH). Khi các cơ quan tôn giáo “không biết sợ” thì chính quyền Cộng Sản bắt e dè. Hòa Thượng Thích Không Tánh cho biết ông cùng các chức sắc Phật Giáo, Cao Đài, Tin Lành, đã bị giới chức trách tỉnh Thừa Thiên Huế trục xuất khỏi địa bàn tỉnh lúc nửa đêm 14 tháng 3, 2015 với lý do mơ hồ là, “Nhà cầm quyền tỉnh Thừa Thiên có quyền trục xuất người ra khỏi tỉnh.”

Cũng trong chiến dịch “Tri Ân,” Dòng Chúa Cứu Thế Saigon trong thời gian qua đã nhiều lần tổ chức những buổi khám bệnh, dùng cơm, phát quà, tổ chức mổ mắt cho thương binh VNCH gọi là để chia xẻ, nâng đỡ tinh thần và vật chất cho anh em.

Những nhà hảo tâm ở hải ngoại của chúng ta không phải là nhưng người làm việc không suy nghĩ, cẩu thả, trong việc kiểm soát hồ sơ của các thương binh. Phần lớn họ là cựu quân nhân hay có gia đình liên hệ đến cuộc chiến, có kiến thức về quân sự và hiểu biết về tình trạng của những thương binh VNCH.

Số thương binh miền Nam còn quá nhiều, dù sự giúp đỡ của chúng ta, từ các cộng đồng người Việt tự do ở hải ngoại, có cố gắng bao nhiêu chăng đi nữa, cũng chỉ mang lại cho anh em thương binh, một món quà an ủi khiêm nhường, chứ không hề nuôi sống được ai.

Cũng có thể một thương binh ở Việt Nam nhận được sự giúp đỡ của nhiều nguồn, cũng có những thương binh, khi tình cờ được một du khách thăm hỏi, đã trả lời chưa hề nhận được sự giúp đỡ của bất cứ ai.

Sở dĩ chúng tôi phải nói dài dòng như vậy là vì chuyện thương binh VNCH là chuyện “việc thật, người thật.” Thương binh VNCH là những người còn sống, có thể tiếp xúc được, có giấy tờ chứng minh lai lịch, không phải là những bóng ma hư ảo, mà các cơ quan thiện nguyện đã hết lòng vì thương binh, phải đốt vàng mã, hay “đô la âm phủ” về cho họ.

Gần đây có một số người chủ trương và tung tin, “Thương binh VNCH chết hết rồi, bốn mươi năm qua, giờ đây còn có ai là thương phế binh nữa! Đó chỉ là thương binh giả, thương binh ma và thương binh Việt Cộng!”

Ngồi trước mặt tôi là một nhân vật có chút tiếng tăm trong cộng đồng, một cựu quân nhân. Anh nói thẳng với tôi, vẫn ý trên, và kết luận, “Bây giờ không còn ai là thương phế binh VNCH nữa!”

Tôi hỏi lại anh, “Anh và tôi đều cựu quân nhân được may mắn sang đây! Năm nay anh đã 73 tuổi và tôi gần 79. Anh và tôi còn sống, vì sao những thương binh cùng lứa tuổi anh với tôi lại phải chết hết. Không phải vì họ nghèo, tuyệt vọng mà bốn mươi năm nay, không còn ai hiện diện trên trái đất này!

Có những người thương binh miền Nam trẻ nhất, 18 tuổi, mới nhập ngũ đầu tháng 4, 1975, bị thương tật, cộng với 40 năm nay, họ chỉ mới 58 tuổi, còn trẻ hơn anh 15 tuổi, nhỏ hơn tôi 21 tuổi. Tôi và anh còn sống sờ sờ ra đây, sao anh bắt họ phải chết!”

Một phụ nữ tôi không biết mặt, đã điện thoại nói với tôi, “Tôi sợ các thương phế binh mà các anh giúp đỡ là thương phế binh ma và thương binh Việt Cộng!” và cũng trở lại điệp khúc, “Giờ này làm gì còn thương phế binh VNCH!”

Tôi không trách người đàn bà này, có thể bà không biết nhiều về quân đội hay có liên hệ gì với cuộc chiến đã đổ bao nhiêu xương máu vừa qua, nhưng tôi không chấp nhận người đồng ngũ với tôi đã tàn nhẫn phủ nhận sự sống còn của hơn 10,000 hay hơn thế nữa, người thương phế binh VNCH vẫn còn hiện diện nơi quê nhà của chúng ta.

Tôi cay đắng cho đây là thái độ muốn “vùi chôn” anh em thương phế binh của chúng ta.

Quên đi rồi, có nghĩa là phủi tay, không có trách nhiệm gì nữa, không mất đi một đồng bạc nào vì cái ý nghĩ, “Giờ này làm gì còn thương phế binh VNCH!”

Tôi nghĩ viên cựu sĩ quan này, người vẫn còn thường thích mặc áo trận trong các dịp lễ lạt, không lẽ không còn một người lính dưới quyền nào sống sót đang ở Việt Nam? Có chăng thì ông cũng phủ nhận sự sống đó. Nhận họ còn sống, có nghĩa là còn nhận lấy trách nhiệm với anh em đồng đội của mình. “Vùi chôn” họ có nghĩa là quay mặt với những sự thật, với nỗi khổ đau có thật của “bạn bè” mình.

Chỉ cần gõ cửa một cơ quan thiện nguyện, đưa ra một tên người và một số quân, mà ông ta nghĩ rằng là “ma” để xem hồ sơ, và nếu cần tiếp xúc qua điện thoại, để gặp người thương binh bên kia đường dây ở Việt Nam. Có nhiều người hành động theo cảm tính, và định kiến, mà không cần nghe, cần thấy những điều gì gọi là sự thật.

Cuối tháng 4, 1975, quân đội miền Nam đã bị bức tử. Cộng Sản cũng không bao giờ muốn nhắc đến mấy tiếng Việt Nam Cộng Hòa. Chuyện người Việt trên cả thế giới giúp thương phế binh VNCH cũng là điều chính phủ Cộng Sản Việt Nam không hề muốn. Tôi chưa vội trách họ, những người vẫn coi chúng ta là kẻ thù. Tôi trách những người đã từng cầm súng như những anh em thương binh của chúng ta, và những kẻ hoàn toàn không có kiến thức, đang muốn “vùi chôn” những người vốn đang dở chết, dở sống!

Huy Phương

Những người bị bỏ quên trong Nursing Home

hung-viet.org

10 Tháng Hai 2011

Huy Phương

Post by Sơn râu 24 Jun 2025

Vào tháng 5 năm 1992, cựu Thiếu Tá Lê Văn Giỏi, quê ở Bà Rịa, một sĩ quan phục vụ tại Vùng 4 Chiến Thuật, sau 7 năm tù dưới chế độ Cộng Sản, đã đưa vợ là Trầm Thị Sáu đến California theo chương trình H.O. dành cho những người cựu tù “cải tạo”. Các con của ông bà đều đã lập gia đình và lớn tuổi nên phải đành ở lại để hai ông bà già lên máy bay đi Mỹ. Thời gian đó, hai ông bà đã trên 65 tuổi, họ được lãnh trợ cấp dành cho người cao niên, tằn tiện ở trong một nhà xe của người quen cho mướn.

Như những gia đình những người cựu tù chính trị đến Mỹ trong thời gian này, chỉ sống bằng đồng tiền trợ cấp, tuy không lấy gì làm sung túc, nhưng dè sẻn cũng có đồng đô la gởi về giúp cho các con ở quê nhà.

Tháng 4 năm 2001, ông Lê Văn Giỏi bị tai biến mạch máu não, phải nằm bệnh viện một thời gian, sau đó được chuyển vào nursing home này. Trong thời gian ấy, thỉnh thoảng bà Sáu cũng đi nhờ xe người quen lui tới thăm ông. Ông ngồi xe lăn suốt ba năm, rồi kiệt lực, ra đi vào Mùa Đông năm 2004. Hai năm sau, 2006, bà Trầm Thị Sáu lại theo chân chồng vào đây.

Bà Trầm Thị Sáu. (Hình: Huy Phương/Người Việt)

Trong 16 năm hầu như bà Trầm Thị Sáu, năm nay đã 85 tuổi, sống trong sự lãng quên của mọi người. Bà không gia đình, không con cái, mà cũng không hề có ai thăm viếng. Những đứa con bà từ lâu đã mất liên lạc, chắc chúng cũng còn nhớ là có một bà mẹ già ở Mỹ nhưng không biết bây giờ lưu lạc ở đâu, đã chết hay còn sống. Những người bạn già của bà thời sang Mỹ, hay những người quen biết ngày xưa, không còn ai nhớ đến bà, mà còn nhớ, giữa nước Mỹ tất bật hôm nay, cũng không ai bỏ thời giờ đến thăm một bà già dở hơi, nói năng lẩm cẩm, nhớ nhớ quên quên trong một căn nhà dưỡng lão ở miền Tây nước Mỹ này.

Một vùng nhớ, một vùng quên

Người ta thường nghe nói những người bị bệnh lú lẫn (Alzheimer) quên chuyện hiện tại mà thường nhớ lại những chuyện rất xa. Phải chăng vì vậy mà bà Trầm Thị Sáu không biết hiện nay bà đang ở đâu, đã ai cho bà ăn trưa chưa nhưng bà lại nhớ rõ tên và năm sinh chồng của bà. Ở một vùng nào đó trong trí nhớ, hình ảnh của người chồng bà không hề phai nhạt. Bà còn nhớ và nói rõ tên ông là Sáu Giỏi, ông tuổi Tý và bà tuổi Dần, nghĩa là ông hơn bà ba tuổi.

Nhưng bà Sáu lại nói “ổng bận đi làm, chiều hôm qua mới vào thăm tui đây mà!” Hỏi con, bà Sáu “hai đứa lớn bận lắm, còn con nhỏ đang đi học ở Việt Nam!” Hỏi nhà, bà Sáu nói “có hai căn, trước kia là nhà thương, họ mới bán lại cho tui. Một căn đằng kia, một căn ở đây!” Vừa nói bà vừa khoát tay chỉ quanh chỗ bà ở. Đang ngồi trên xe lăn mà tôi vừa đẩy giúp bà từ hành lang vào chỗ ở của bà, chỉ vào chiếc giường, bà nói một cách tỉnh táo, không có vẻ gì là đùa cợt: “Tới nhà tui rồi!”

Bà Sáu đang sống trong thế giới của bà, một thế giới mù mịt của trí nhớ, quá khứ như lẫn vào hiện tại, những người thân đã qua đời, những đứa con phiêu bạt, nhưng tưởng vẫn còn lẩn quẩn ở gần đây với bà, và thời gian không có gì thay đổi. Trong tình trạng như thế, bà không biết buồn. Nếu ra khỏi cơn hoang tưởng, tỉnh táo, bà Trầm Thị Sáu sẽ khổ biết bao, vì bà là người duy nhất ở đây không có thân nhân, không hề có ai liên lạc thăm viếng. Tuy vậy, nếu qua đời, bà cũng không phải là một xác chết vô thừa nhận, ban giám đốc Garden Park Care Center này sẽ toàn quyền quyết định việc hậu sự cho bà, và ông Nguyễn Na, người có nhiệm vụ lo cho người Việt có khoảng 80% trong trung tâm này hứa sẽ lo thiêu cốt bà đem gởi vào chùa. Gia đình thân thuộc của bà Trầm Thị Sáu bây giờ là những nhân viên nhà dưỡng lão lo cơm cháo, thuốc men cho bà và những người đồng cảnh ở chung phòng của bà, nơi mà bà gọi đó là “nhà đã mua xong.”

Sáu Giỏi, ông ở đâu?

Sáng hôm nay, tôi gặp lại bà Sáu trong phòng ăn của trung tâm, trông bà có vẻ tươm tất sạch sẽ như vừa mới được tắm gội xong, ngay cặp kính lão cũng được lau chùi sạch sẽ. Hôm nay là ngày mồng bốn Tết, các cụ được đãi một bữa ăn đặc biệt và có ban nhạc Chân Quê đến giúp vui, nên các cụ được tập trung tại đây, hầu hết đều ngồi trên xe lăn. Buổi sinh hoạt này được tổ chức hàng tháng do các ban nhạc tài tử tình nguyện đến giúp vui như ban Thanh Mỹ, Reach Out Foundation, Viễn Du, Sống Vui và đôi song ca Lan Hương-Xuân Thanh (trong ba tù ca Xuân Điềm). Khác với không khí yên lặng, buồn nản thường ngày của một nursing home, hôm nay ở đây vui vẻ, náo nhiệt hẳn lên, tuy vậy trong các cụ, không phải ai cũng cảm nhận được niềm vui này. Trong tiếng nhạc ồn ào, trên xe lăn, nhiều cụ đang ngủ, đầu ngoẹo sang một bên hay gục xuống ngực, nước dãi chảy ra hai khóe miệng. Có những ông bà gương mặt đờ đẫn mơ màng như đang sống trong một thế giới riêng tư khác. Có những người tự ăn được, nhưng cũng có người phải có người đút thức ăn giúp. Có bà cụ được người nhà đem hoa đến tặng, nhưng cũng có người ngồi lặng lẽ một mình.

Tôi hỏi một thiếu nữ mặc áo dài đỏ đang đút súp cho một bà cụ, có phải cô là thân nhân của cụ hay không? Cô cho biết, ở đây có nhiều người như cô, không phải là thân nhân, cũng không phải là nhân viên trung tâm, nhưng tình nguyện đến giúp đỡ săn sóc các cụ. Một người đàn ông đứng tuổi đang vào săn sóc bà vợ vừa bị stroke đang phục hồi, hai vợ chồng một ông bạn H.O. đang đút cơm cho mẹ già 95 tuổi. Hôm nay là ngày Chủ Nhật, lại là ngày còn không khí Tết, nhưng không phải ai cũng có thân nhân lui tới thăm viếng, con cái ở xa hay bận bịu công việc hay cũng có thể mải vui chơi. Trong khi một nam ca sĩ tài tử đang hát bài “Xuân Này Con Không Về”, một bài hát trong thời kỳ chiến tranh mà chúng ta, hầu như ai cũng biết, tôi thấy bà cụ còn tỉnh táo, ngồi ở hàng xe lăn đầu đang hát theo. “Nếu con không về chắc mẹ buồn lắm”, nhưng đã mấy năm nay, mẹ nằm trong nursing home, không biết những đứa con có thấy buồn không?

Ngày Xuân, ca sĩ đến nursing home ca hát giúp vui. (Hình: Huy Phương/Người Việt)

Bà Trầm Thị Sáu đang sống trong sự quên lãng của thân quyến họ hàng. Bà không có bà con ở Mỹ, chồng bà đã qua đời, bà có nhiều đứa con ở Việt Nam nhưng đã bặt tin tức. Trong câu chuyện với bà, có điều bà quên nhưng cũng có điều bà nhớ. Gặp lại tôi, có lẽ vì thấy quen mặt, lần này bà Trầm Thị Sáu lại hỏi, một điều bà còn nhớ, là tên chồng, và một điều bà đã quên, là chồng bà đã qua đời. Lần này, bà nói: “Ông có gặp Sáu Giỏi ở đâu không, sao không thấy vào thăm tui?”

Huy Phương/Người Việt

07-02-2011