Người Lính Năm Xưa

vvnm.vietbao.com

7/11/2002

Lê Như Đức

Post by Sơn râu 24 Jun 2025

Hình minh họa

Lê Như Đức là tác giả nhiều bài Viết Về Nước Mỹ rất được người đọc quí trọng.

Ông sinh năm 1962 tại Saìgòn, Việt Nam.Nghề Nghiệp hiện tại: Kỹ sư cơ khí cho Boeing, thành phố Houston. Gia Đình: Vợ và hai con gái, Học vấn: Cao học cơ khí. Sau đây là bài viết mới nhất của ông. Bài đăng 2 kỳ.

*

Tôi gặp anh là duyên số. Anh gặp tôi là cố tình. Dù duyên phận hay cố ý, tôi vẫn luôn sung sướng khi biết được anh. Cho dù chỉ ở với anh chưa đến hai ngày tôi vẫn nhớ mãi những kỷ niệm thật đậm đà, nhẹ nhàng đến từ anh, từ gia đình anh và cả từ thành phố anh ở, El Paso.

Tháng 7 năm 1998, gia đình tôi qua California làm. Công ty chỉ cho gia đình tôi bốn người mướn một cái xe. Khi tôi lái xe đi làm, vợ con tôi bị treo giò, nằm ở nhà ngóng. Nhiều khi cần đi chợ hay đi học, vợ tôi lại phải chở tôi tới sở sáng sớm. Nhìn hai cô con gái còn ngái ngủ phải thức dậy sớm, tôi chịu hết nổi. Một buổi chiều thứ năm, nhân nghỉ lễ cuối năm, tôi phóng ra phi trường, lấy vé bay về Houston rồi một mình lái xe qua lại California.

Đường từ Houston qua tới Huntington Beach dài khoảng 1550 dặm Anh. Tôi tính lái đi tổng cộng hai ngày, rời Houston từ sáng sớm hôm thứ sáu và sẽ tới California vào chiều thứ bẩy. Theo lịch trình thì ngày đầu tiên tôi sẽ lái một nửa, khoảng hơn 750 dặm tới thành phố nằm tận cùng của tiểu bang Texas, El Paso. Tôi sẽ tìm một quán ăn Việt nam, dùng bữa cơm chiều thật xôm tụ để lấy sức rồi kiếm một khách sạn nghỉ qua đêm. Sáng hôm sau thức dậy lúc mặt trời chưa mọc, vừa phóng xe đi vừa ăn sáng thì có lẽ sẽ tới California trước bữa cơm chiều.

Có lẽ đối với dân Mỹ thì bữa cơm chiều là quan trọng nhất. Thường thì người Mỹ ăn trưa trong sở làm. Một miếng bánh mì sandwich kẹp vài ba miếng thịt nguội, một trái táo và lon nước ngọt. Có người bỏ luôn bữa trưa, chỉ ăn bữa sáng thật nhiều rồi nhịn cho tới bữa ăn chiều.

Với dân Việt nam thì ba bữa sáng, trưa, chiều đều quan trọng như nhau. Ngày còn nhỏ, tôi nhớ sáng sáng thường làm một bụng đầy trước khi đi học. Lúc thì cơm tấm, khi lại bánh xèo, nào bánh tầm bì, nào bánh cuốn rồi bánh mì thịt nguội. Trưa đi học về, cả nhà quay quần chung quanh bàn ăn với đầy đủ các món trước khi làm một giấc ngủ trưa dài. Chiều, trời chưa tối gia đình chúng tôi lại quay quần chung quanh bàn ăn một lần nữa. Thỉnh thoảng ngủ trưa dậy tôi lại ra đầu xóm làm một tô bánh canh giò heo nóng hổi. Tối khuya, có lúc bố tôi kêu đói, anh em chúng tôi lại lục đục lên xe đi tới quán mì. Không mì xào cây dừa thì cũng mì xào cây me. Cây nào anh em chúng tôi cũng xơi. Tính tới tính lui, tôi nhớ có ngày ăn đến năm lần. Anh em chúng tôi vẫn không mập.

Qua đến Mỹ, ngày ngày phải đi làm tám tiếng, nên buổi trưa đối với tôi giấc ngủ quan trọng hơn miếng ăn. Do vậy bữa ăn chiều phải thật thịnh soạn, phải đầy đủ chất bổ dưỡng. Với bữa sáng, nhiều khi ly cà phê cần thiết hơn miếng bánh mì. Tuy nhiên phải có một chút xíu vô bụng thì mồm miệng mới thơm tho, ăn nói mới thông. Ngày còn nhỏ, bố tôi thường dậy anh em chúng tôi sáng phải có chút gì vô bụng để bịt cái hơi hôi, thông từ ruột đi lên. Cho dù mình có đánh răng, nạo lưỡi hay xúc nước thơm cách mấy, không có chút gì vô bụng, mở miệng nói vẫn nặng mùi. Mùi hôi xông từ bao tử, từ ruột non, ruột già đi lên không thuốc thơm nào trị được. Chỉ cần một miếng bánh donut nho nhỏ hay nửa củ khoai lang đóng cái cửa thông hơi, hơi miệng bảo đảm sẽ không bay mùi. Cà phê chỉ để tỉnh ngủ chứ không chữa được hết mùi. Do đó tôi thường chỉ ăn một chút xíu vào buổi sáng sớm để ăn nói cho ngọt ngào chứ chẳng phải cho no. Bữa ăn trưa thường lè phè, có ít ăn ít, có nhiều ăn cũng ít để lẹ cho giấc ngủ trưa. Tất cả tôi đều tập trung vào bữa ăn chiều. Tôi phải tới El Paso và California trước bẩy giờ tối để sửa soạn cho bữa cơm chiều.

Tôi tới El Paso sớm hơn dự tính, trước sáu giờ chiều. Kiếm được một khách sạn thuận tiện nằm cạnh quốc lộ số 10. Quốc lộ số 10 có lẽ tất cả dân của mọi tiểu bang phía nam nước Mỹ ít nhiều cũng phải một lần đi qua. Nó chạy từ tiểu bang Florida qua tới California. Nối Thái Bình Dương với Đại Tây Dương. Cái khách sạn be bé xinh xinh, chỉ có khoảng năm chục phòng là cùng. Tôi thích chọn khách sạn nhỏ với một tầng trệt để đậu xe ngay trước cửa phòng, khỏi mất công khiêng đồ lên xuống. Đi với vợ con thì tôi phải chọn khách sạn lớn, đầy đủ tiện nghi vì con tôi thích cầu thang máy và vì vợ tôi sợ không được an toàn.

Vừa lấy được phòng ngủ là tôi vội tìm cuốn sách niêm giám điện thoại. Hầu như ngày nay bất cứ cuốn sách niêm giám điện thoại của mọi thành phố trên đất Mỹ đều có họ Nguyễn và bất cứ người Việt Nam tỵ nạn Cộng sản cũng đều có họ hàng sống ở Cali. Lựa một tên thật bình thường tôi bấm số hỏi địa chỉ nhà hàng Việt Nam. Đầu dây bên kia, giọng người đàn bà trả lời ngắn một tiếng Hello. Tôi lên tiếng:

– Xin lỗi có phải nhà Việt Nam không ạ “

Người đàn bà ngập ngừng giây lát rồi bập bẹ trả lời tôi:

– Ông ..đợi ..chút ..chút.

Khoảng hai phút sau, giọng người đàn ông vang trong điện thoại:

– A-lô, ai đó “

Tôi lập lại câu hỏi cũ:

– Xin lỗi có phải nhà Việt Nam không ạ “

– Đúng vậy. Anh tìm ai “

Tôi vội giải thích:

– Thưa anh, em lái xe từ Houston qua Cali, giữa đường ngừng nghỉ ở El Paso tối nay. Em muốn tìm một quán ăn Việt Nam. Em coi trong cuốn điện thoại thấy tên anh nên gọi hỏi đường. Anh có thể chỉ giúp em quán ăn Việt ở vùng này “

Người đàn ông cười trả lời:

– Vùng này có vài quán nhưng họ lại nấu lai theo kiểu Mễ để câu khách Mỹ, khách Mễ. Chú ăn không được như ở Houston hay Cali đâu. Có một tiệm tạm tạm được nhưng đường đi lại hơi khó, tiệm lại không có bảng hiệu rõ ràng. Chú hiện giờ đang ở đâu”

Tôi nói tên khách sạn của tôi đang mướn. Người đàn ông tiếp:

– Anh biết chỗ chú ở rồi. Cũng gần nhà anh thôi. Chú đợi khoảng mười lăm phút anh tới dẫn chú đi.

Tôi chưa kịp trả lời chỉ nhờ anh chỉ đường để khỏi làm phiền thì anh đã nhanh cúp điện thoại. Nằm dài trên cái giường to nhìn lên trần nhà, tôi nghĩ vớ vẩn đến người đàn ông kỳ lạ này. Mình chỉ hỏi đường, anh đòi tới dẫn mình đi. Chưa kịp nói số phòng, anh đã cúp phôn. Hình như anh đã biết tôi là ai và sẽ phải làm gì. Tôi bước vào phòng tắm xả nước nằm ngâm mình cho bớt cơn mệt nhọc sau hơn mười tiếng đồng hồ lái xe mà lòng vẫn băng khoăng nghĩ tới người đàn ông lạ kỳ này.

Chưa đầy mười lăm phút, điện thoại phòng tôi reo vang. Tôi nghe giọng anh vang rền trong máy:

– Chú ra văn phòng chính của Hotel. Anh đang đợi chú ở ngoài này đây.

Vẫn vội vã như lúc trước, tôi chưa kịp trả lời, anh đã cúp điện thoại. Tôi khóa trái cửa phòng, lững thững đi ra văn phòng của khách sạn tôi đang mướn. Ngay chỗ quầy làm giấy tờ cho mướn phòng, một người đàn ông Việt Nam tuổi dễ qúa năm mươi, người to lớn, đang đứng phân trần với nhân viên của khách sạn. Tôi bước lại gần thấy họ nói với nhau bằng tiếng …Mễ. Người đàn ông Việt Nam bỗng nhiên ngưng nói, quay qua nhìn tôi như ra lệnh:

– Chú đưa credit card cho nó đi. Nó bằng lòng hoàn lại tiền phòng cho chú rồi. Nhà anh dư phòng, chú tới ở đêm nay, đỡ được hơn sáu chục bạc.

Tôi ú ớ chưa biết trả lời ra sao, thì anh lại tiếp:

– Chú mới mướn phòng chưa được nửa tiếng đồng hồ nên có quyền lấy lại hết tiền.

Anh nhìn cái đầu ướt của tôi rồi cười hì hì:

– Theo luật thì chú không được tắm đâu. Nhưng anh nói với tên ngố này chú chưa đụng gì đến đồ trong phòng. Ngay cả cái thùng rác. Lẹ lẹ lên không nó đổi ý, lại mất công giải thích. Mình phải đánh thật mau, rút thật lẹ mới được.

Tôi ngập ngừng:

– Anh đừng lo. Tiền khách sạn, công ty của em sẽ hoàn lại. Ngay cả tiền ăn dọc đường nữa. Em chỉ cần tìm tiệm Việt Nam để ăn tối nay.

Anh lắc đầu, quơ tay liên tục:

– Có trả cũng về nhà anh ở. Vừa rộng rãi, thoải mái, vừa an toàn đóng quân hơn nơi đây nhiều. Chú nghe anh nói, đưa credit card cho nó đi.

Thấy anh hối mấy lần, tôi phải đưa thẻ tín dụng của tôi cho người nhân viên khách sạn. Hình như anh ta cũng không muốn cãi lộn bằng tiếng Mễ với người Việt nữa nên nhận lấy thẻ nhanh nhẹ quẹt vào máy, trả tiền lại cho tôi trong tích tắc. Khi người nhân viên khách sạn đưa tờ biên nhận hoàn lại tiền cho tôi, anh cẩn thận nhắc nhở:

– Chú coi cho kỹ đó. Lộn tới Cali gọi kiện nó không chịu trả đâu. Có lấy lại được thì cũng tốn gần hết tiền cho điện thoại long distance. Đừng để địch nắm đằng chuôi.

Anh theo tôi về lại phòng ngủ để dọn đồ đạc ra xe. Vừa đi anh vừa tự giới thiệu mình:

– Anh ở đây dễ cũng tới hai chục năm hơn. Ngày xưa lúc mới qua cũng trấn ở Cali một thời gian. Rồi không thích ồn ào bay về đây ở ẩn. Án binh bất động.

Tôi cười tiếp lời anh:

– Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, người khôn người xuống phố Bô-sa.

Anh cười lớn lặp lại câu thơ … thẩn của tôi rồi bỗng thấp giọng:

– Đây đàn bà Mễ nhiều lắm, lại chịu đàn ông Việt mình nên không phải là nơi vắng vẻ đâu. Chú nhớ đấy, đàn bà Mễ hành quân còn mạnh hơn cả cánh ta ở Cali nhiều.

Tôi khuân đồ ra xe rồi lái theo anh về nhà. Nhà anh cách cái khách sạn tôi mướn chỉ khoảng năm dặm Anh thôi, nhưng trời đã xẩm tối nên anh lái thật chậm sợ tôi theo không kịp. Khi tôi tới được nhà anh thì đường phố đã lên đèn, nhà nhà đều đèn đuốc sáng trưng. Trước cửa nhà, một người đàn bà và hai đứa con trai vội mở cửa ra đứng đón khi nghe tiếng còi xe anh bấm lúc chúng tôi đậu xe vào bãi đậu xe của nhà.

Căn nhà anh vừa vặn, xinh xắn sơn mầu xanh nhạt. Vườn trước rộng mênh mông với bãi cỏ lớn, hợp đúng tiêu chuẩn của tiểu bang Texas. Một cây cổ thụ lâu đời mọc giữa bãi cỏ như che phủ lấy căn nhà. Thân cây cắm hai lá cờ: cờ Việt Nam Cộng Hòa và cờ Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Trước cửa vào nhà là một dãy hàng hiên dài với cái ghế xích đu treo lủng lẳng và vài ba cái ghế nhựa mầu xanh lá cây đậm để ngổn ngang gần cửa ra vào.

Anh mở cửa xe bước xuống, hai đứa bé chạc mười tuổi chạy vội ra ôm anh. Chúng nhìn tôi lễ phép khoanh tay chào. Giọng Việt nghe rõ ràng. Người đàn bà đứng yên nơi cửa chào đón. Từ xa tôi cũng đã nhận đoán chị không phải người Việt Nam qua vóc dáng cao lớn của chị. Nếu mang giầy hơi cao gót, tôi chắc chắn chị sẽ cao hơn anh. Mái tóc hơi ngả mầu vàng, chị trông lối bốn mươi hơn.

Thường thường, người đàn bà Mễ không giữ được thân hình thon gọn sau khi lấy chồng sinh con. Có lẽ vì dân Mễ thích ăn đậu, ưa ngồi nhiều nên dễ phì. Người đàn bà Mễ đang đứng trước mặt tôi là một ngoại lệ. Dáng chị cao lớn nhưng không xồ xề, thân người to nhưng không thô, tay chân dài nhưng không thừa thãi. Chị nhìn tôi mỉm cười nhẹ, nói bập bẹ vài ba câu xã giao tiếng Việt:

– Mời anh vô nhà. Mời anh nghỉ. Anh đi xe có mệt không”

Tôi có bạn gốc Mễ, được dạy nói vài câu xã giao vớ vẩn, nên trả lời câu hỏi của chị bằng tiếng Mễ. Anh và chị đều cười to khi thấy tôi pha trò. Hai đứa bé không hiểu mấy nên ngẩn mặt tò te. Có lẽ anh ít bạn tới nhà chơi nên chúng có vẻ không được tự nhiên với tôi nhiều. Riêng anh và chị thì thoải mái hơn. Anh vừa kéo lê cái va-li hành lý của tôi vào nhà vừa chỉ chị và hai đứa con giới thiệu tên:

– Đây là Silvia. Tụi nhỏ tên An và Lộc. Chú đóng quân ở đây rộng rãi không sướng sao. Tội chi ẩn vào cái Hotel đó. Anh nói chú nghe. Nhân tiện chú đi ngang qua đây, ở chơi với anh mấy ngày rồi hãy về Cali.

Tôi cười thoái thác ngay:

– Anh cho em ở một đêm thôi. Mang phải lên đường. Em có nhiều chuyện lắm. Sáng thứ hai đi làm sớm, không ở lâu được đâu. Khi lái xe về lại Houston, có nhiều giờ hơn em sẽ ở lâu hơn.

Anh lắc đầu liên tục:

– Mấy khi có dịp. Chú đừng dùng kế hoãn binh. Mai thứ bẩy chú ở lại đây một ngày. Sáng sớm chủ nhật lái xe đi sớm, tới Cali vào lúc xế chiều. Sáng thứ hai dậy đi làm lại. Anh tính chú thấy sao”

Tôi vẫn lắc đầu từ chối:

– Mệt lắm anh ạ. Em muốn tới sớm, có một ngày nghỉ cho khoẻ.

– Thanh niên như chú thì đánh đấm Việt cộng sao nổi. Tới Cali chỉ cần ngủ một đêm thôi là mai có thể đi làm được rồi. Ngày xưa đi đánh giặc, chúng tôi chỉ ước được vài tiếng nghỉ mà chả có. Nhiều khi thức trắng đêm đến sáng thức tiếp. Ngủ nhiều là có thể …ngủ luôn.

Thấy anh có lòng, tôi im lặng chấp nhận. Tính tôi dễ dãi. Ngày xưa, lúc mợ tôi còn sống thường nói tôi là con cừu, muốn sao cũng được, không thích làm trái ý ai.

Trong nhà anh đồ đạc bầy đơn sơ, không kiểu cách mấy. Phòng khách nhỏ với bộ nghế xa lông có lẽ trên chục năm hơn đã ngã mầu xanh lá cây đậm thành lạt. Cái vô tuyến truyền hình đặt góc phòng cũng kiểu xa xưa với hai cây ăn-ten cao lêu nghêu để trên nóc. Dàn máy nhạc cũ kỹ để cạnh với cái gía nhỏ đựng dĩa và băng nhạc. Phía trong là nhà bếp bốc khói nghi ngút. Tôi ngửi được mùi bún riêu thoang thoảng cộng lẫn mùi nồng nồng của mắm tôm. Phía trái của phòng khách là phòng ăn với cái bàn gỗ mầu vàng nhạt và sáu cái ghế đặt chung quanh. Hai đứa bé lo phụ mẹ bầy chén đũa lên bàn. Người đàn bà Mễ đương hý hoáy nấu đồ ăn Việt Nam trong bếp. Anh nhìn tôi quảng cáo:

– Hôm nay anh cho chú thưởng thức món bún riêu nổi tiếng của vùng này. Đặc sản thuần túy của dân Việt Nam do đầu bếp… ngoại quốc nấu. Chả có tiệm nào ở đây nấu đồ ăn Việt Nam bằng Silvia đâu. Khỏi phải đi đâu kiếm tiệm chi cho mất công. Nhà này là tiệm ăn số một của vùng El Paso.

Trong cuộc đời, tôi may mắn sống nhiều nơi, đi nhiều chỗ và cũng được ăn nhiều món lạ. Có thể nói tôi rất hài lòng khi có được một cuộc sống đa dạng và trôi nổi. Tôi đã từng sống trong tù vượt biên, lúc lang thang ngủ trên nóc xe lửa cả tháng trời, khi lại nằm trong khách sạn thật sang trọng, mắc tiền tuần lễ hơn. Từng phá rừng Long Khánh, đốn cây trên đảo tỵ nạn Mã Lai, rồi một ngày lại được ngồi họp trong những phòng ốc tối tân nhất của thế giới. Có lúc khổ cực phải bươi khoai mì ăn sống, nhiều khi tôm hùm, đồ biển lại ngập bàn. Đi nhiều, thấy nhiều, nhưng có lẽ hình ảnh người đàn bà Mễ có chồng Việt Nam đứng trong bếp nêm nước mắm vô nồi bún riêu là một thích thú đặc biệt nhất trong cuộc sống lưu vong của tôi. Nó vừa là hình ảnh của một sự buồn bã chia cắt sống lưu lạc nơi xứ người phải lấy vợ ngoại quốc, vừa lại là một sự kết hợp hạnh phúc giữa các sắc dân nơi vùng đất tạm dung. Nó là sự chấp nhận thay đổi với cuộc sống mới nhưng lại không quên được quê hương qua những mùi vị của chai nước mắm, của lọ mắm tôm. Silvia sẽ mãi mãi không nấu bún riêu ngon bằng chị tôi hay vợ tôi nấu. Nhưng chiều hôm đó tôi đã có được một bữa ăn đầy hương vị của đất nước tôi. Tô bún của tôi có cả rau muống chẻ, có tía tô, kinh giới, có hành phi cháy dòn, và có đậu hũ chiên chấm nước mắm nguyên chất hiệu một con cua. Tôi còn nhớ mãi lời anh dặn:

– Nước mắm phải là đúng hiệu một con cua, tuy hơi đắt nhưng ăn mới đúng điệu. Ba con cua rẻ hơn nhưng không đậm đà bằng. Nước mắm mực chỉ dùng để nêm vô nồi nước lèo chứ không thể chấm ăn được. Chú nhớ đấy.

Buổi tối mùa đông trời El paso chuyển lạnh xuống thật mau. Anh và tôi bước ra ngoài hàng hiên trước nhà ngồi ghế xích đu, uống cà phê phin, ngắm trời xứ người. Hai lá cờ, Mỹ và Việt, gió lộng thổi tung bay phần phật trước mặt chúng tôi. Hình như tối nào sau bữa cơm chiều anh cũng đều ra đây ngồi ngắm chúng. Đã hơn hai mươi năm sau ngày nước mất, hình ảnh cuộc chiến vẫn chưa phai nhòa trong anh.

Ngồi càng lâu sương khuya xuống càng đậm, anh càng ít nói. Giọng anh lạc hẳn khi hỏi tôi hay tự hỏi chính mình:

– Tại sao một quân đội hùng mạnh, thiện chiến vào bậc nhất của thế giới lại vất súng đầu hàng một lũ người ngu dốt, người không ra người, ngợm chả ra ngợm” Không bắn được một viên đạn mà phải bỏ chạy. Cho đến giờ nghĩ lại anh cũng không thể tưởng tượng nổi ngày đó lại đến qúa mau như vậy.

Tôi chưa nghĩ được câu trả lời thì anh lại lẩm bẩm tiếp:

– Nếu nói Mỹ cố tình sắp đặt thì tại sao những tướng lãnh, chỉ huy của mình lại nghe họ bỏ súng đầu hàng. Mình vẫn còn dự trữ đạn dược dùng cả năm trời cũng chưa hết mà.

Đêm càng khuya càng lạnh. Anh vẫn ngồi yên lặng trên cái ghế xích đu, trầm tư nhìn hai lá cờ nghĩ về cuộc chiến năm xưa. Anh đã ngồi như vậy mỗi buổi tối suốt hơn hai mươi năm qua.

Cuộc chiến đã kết thúc, nhưng nó vẫn hằng in đậm trong tâm hồn của kẻ tới chiếm lẫn người ra đi. Ai ai cũng thấy cái thất bại của phe mình, cái gía phải trả cho cuộc tương tàn. Đoàn quân chiến thắng kéo từ rừng rú về thấy được sự phồn thịnh, tự do của những người bỏ cuộc. Kẻ mệnh danh đi giải phóng người trông thật ngu ngơ, tồi tàn hơn người được giải phóng. Người vất súng bỏ chạy uất ức thua vì sự ngu dốt của quân đội Bắc phương, sự lừa bịp của đám lãnh tụ về một chủ nghĩa không tưởng. Cả hai bên, thắng và thua, cũng đều thua đậm trong cuộc chiến. Người lính bên tôi ngày ngày ngồi ôm đầu trách mình sao bỏ súng qúa nhanh. Người lính bên kia, xưa lấy thân lấp lỗ châu mai, chống Mỹ cứu quốc nay đứng ngẩn ngơ nhìn các lãnh tụ mà một thời mình sùng bái hèn hạ dâng không đất cho đàn anh kết nghĩa ruột thịt. Thật thương cho sự hy sinh của người thua và tội nghiệp cho sự ngu dốt của kẻ chiến thắng.

Tôi chậm rãi bâng khuâng trả lời câu hỏi của anh:

– Có thể chúng ta thua vì bọn chúng quá… ngu chăng “

Sau ngày nước mất, tôi có được nghe một câu chuyện thật khôi hài, đầy mỉa mai về một cán bộ cấp tá vào miền Nam thăm người em trai của mình. Ông mang chức vụ trung tá chỉ huy cả một sư đoàn sao đỏ tới thăm em chỉ là một công chức quèn của chế độ cũ với chiếc túi xách nặng chĩu trên vai. Vì lịch sự, gia đình người em không hỏi gì về cái túi cả. Một tuần sau, chả thấy người anh nhắc gì đến nó, vợ người em thắc mắc nhờ chồng hỏi vì sợ bác có đồ dơ áy náy không dám nhờ giặt dùm. Người anh đỏ mặt ấp úng chối quanh. Người em vội mở túi xách ra thấy toàn giấy báo cũ xếp thật

gọn gàng. Người anh đành thú thật:

– Nghe chúng tuyên truyền trong nam Mỹ, Thiệu rất ác, người dân khổ sở thiếu thốn mọi thứ. Ngay cả giấy đi cầu cũng không cho, bắt phải chùi bằng lá chuối nên đít ai cũng lở không ngồi được. Mỗi ngày tôi lấy báo cũ trong sư đoàn tích lại, tính vào đây cho gia đình chú. Vào đến đây thấy nhà cửa của chú tôi mới biết mình cũng bị tên chính ủy sư đoàn lừa luôn.

Một vị sĩ quan mang cấp bậc trung tá mà còn ngây thơ và đần độn đến nỗi bị lừa phỉnh một cách ấu trĩ như vậy thì thử hỏi tại sao không có cả một quân đội chục triệu quân ngu dốt cứ đâm đầu sinh Bắc tử Nam cho vài tên ác độc, bịp bợm ngồi hưởng lộc tại Bắc bộ phủ.

Nghe xong câu chuyện của tôi, anh gật đầu đồng ý:

– Cùng có thể lắm. Chúng ta thua vì chúng qúa ngu. Ngu không tưởng được nên mới nghe lời dụ dỗ thật nhảm nhí như vậy. Càng ngày càng đói nhe răng mà lúc nào cũng mơ sống trong thiên đường cộng sản, đồ

ăn vất đầy đường không ai thèm lượm. Thật là …ngu. Nhưng mà nếu nói mình thua vì chúng qúa ngu thì ai mà tin được.

Buổi sáng tôi thức giấc trễ hơn mọi ngày vì El paso trễ hơn California một múi giờ đồng hồ. Cả gia đình anh thức giấc từ lâu. Họ đã dùng xong bữa ăn sáng và đang ở vườn sau tưới cây, nhặt cỏ. Hơn một phần ba vườn, anh làm nhà kính bao chung quanh để trồng rau miền nhiệt đới. Tôi trông thấy được cả những cọng rau muống thật to và dài. Anh chỉ tôi, hãnh diện khoe:

– Chú thấy đấy. Mùa nào gia đình anh cũng có đầy đủ các loại rau. Chỉ cần chịu khó một tí là tha hồ có rau tươi ăn quanh năm. Còn các bà thì càng dễ hơn. Cứ huấn luyện vài lần thì Mỹ, Mễ gì cũng nấu được bún ốc, quấn được chả giò ngay. Nếu biết cách chỉ huy là xong thôi.

Trưa hôm đó tôi được ăn bánh xèo, quấn rau cải đắng chấm nước mắm pha nhạt. Anh còn bẻ cho tôi vài ba quả ớt tươi trồng trong nhà kính của anh. Buổi chiều xuống chúng tôi lại ra ngồi trước cửa ngắm trời và nghe anh kể chuyện chinh chiến năm xưa. Chúng tôi lại kết thúc câu chuyện bằng câu hỏi của ngày hôm qua:

– Tại sao một quân đội hùng mạnh, thiện chiến vào bậc nhất của thế giới lại vất súng đầu hàng quá nhanh”

Trước khi đi ngủ anh còn cẩn thận lôi ra cho tôi coi bộ đồ trận anh mặc trong ngày bỏ nước ra đi từ đáy chiếc rương cũ. Nó được xếp thật ngay ngắn với cái mũ bê rê đỏ đặt lên trên. Anh đã sửa soạn để mặc lại nó trong ngày ra đi lần thứ hai: trở về nước hay từ bỏ kiếp làm người. Không một bộ đồ nào khác anh muốn mặc. Một ngày khoát bộ quân phục làm người lính Việt Nam Cộng Hòa, một đời chỉ muốn chết cho tổ quốc, cho quê hương. Tôi sờ nhẹ lên mép của cái áo như thấy được cả một cuộc chiến trôi nhanh qua. Mùi thuốc súng và mùi mồ hôi thoang thoảng đâu đây. Tôi nhìn anh, thương thật nhiều cho người lính của nước tôi năm xưa.

Sáng hôm sau, ngày chủ nhật, tôi dậy sớm để sửa soạn cho nửa cuộc hành trình còn lại. Gia đình anh cũng vẫn dậy sớm hơn tôi. Anh giúp tôi mang hành lý ra xe. Hai đứa bé ôm chân mẹ đứng trước cửa nhà nhìn ra im lặng. Anh đứng cạnh cửa xe tôi bùi ngùi chúc:

– Chú đi đường bình an.

Tôi gật đầu đáp lại lời anh:

– Anh, chị và hai cháu khoẻ luôn.

Anh nhìn tôi một lúc bỗng dưng mỉm cười hỏi tôi câu cuối:

– Chú còn thắc mắc gì về anh cứ việc hỏi, không đi đường suy nghĩ vớ vẩn dễ đụng xe. Con người của chú mang nhiều tình cảm, hay suy nghĩ.

Tôi ngần ngừ giây lát, không nhìn anh, ấp úng hỏi:

– Một điều em không hiểu. Người như anh, tại sao có người lại …chê, bỏ …anh đi.

Anh im lặng nhìn về hướng trước như ôn lại quá khứ rồi chậm rãi trả lời:

– Những ngày mới qua còn thiếu thốn khổ cực. Lại thêm cái buồn mất nước, cái nhục thua trận. Nhiều khi anh nóng nẩy, có lời lẽ không được nhẹ nhàng. Lỗi do anh cả.

Lời anh ngắn, nhưng tôi thấy được cả nôĩ khổ dài bao năm của người lính nước tôi đã trải qua: nước mất đến nhà tan. Tinh thần lẫn thể xác đều tổn thương. Anh trầm tư thêm giây lát rồi bỗng vỗ mạnh vào thành xe tôi nói to:

– Chú đi không trễ. Khi nào muốn trốn đời, về lại El Paso tìm anh.

Tôi từ từ lái xe ra khỏi sân. Ngoái lại nhìn mọi người lần cuối như muốn thu tất cả hình ảnh vào trong lòng. Xe tôi đi xa vẫn thấy anh đứng yên đấy. Nhìn qua cái kính chiếu hậu hông xe, tôi thấy được cả cái ghế xích đu mà chiều chiều anh ngồi vò đầu nhìn hai lá cờ để tìm câu giải đáp về một cuộc chiến đã tham gia. Hai lá cờ vẫn lộng gió tung bay như thách thức câu trả lời. Hai đứa bé vẫn ôm chân mẹ đứng nhìn hiện lờ mờ trên kính sau anh. Tên của chúng gợi tôi nhớ đến hai câu thơ nói về một địa danh đẫm máu và một binh chủng bách thắng mà năm xưa, một lần đã được ghi vào quân sử.

An Lộc địa sử lưu chiến tích,

Biệt Kích Dù vị quốc vong thân.

Houston, July 4 năm 2002

Hải Quân Trung tá Brian Truong (gốc Việt), Sĩ quan Phi công Hải quân Hoa Kỳ được đề cử thăng cấp Đại tá

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on April 26, 2025

Post by Sơn râu 24 Jun 2025

Hải quân trung tá Brian Truong (ảnh khi còn là Chỉ huy trưởng, Phi đoàn 14 trực thăng chiến đấu biển của airpac.navy.mil).

Hải quân Trung tá* Brian Truong, Sĩ quan Phi công trực thăng Hải quân Hoa Kỳ vừa được Hội đồng thăng cấp Sĩ quan Hải quân (Active-Duty Officer Promotion Boards) đề cử thăng cấp HQ Đại tá**, theo nguồn tin từ trang nhà của Bộ chỉ huy nhân sự Hải quân (Navy Personnel Command) ngày 24 tháng 4 năm 2025. Trong danh sách Sĩ quan Hải quân cấp Trung tá được đề cử thăng cấp Đại tá cho tài khoá YF26, có tên HQ Trung tá Brian Truong. Danh sách Sĩ quan Hải quân Trung tá được đề cử thăng cấp Đại tá, tài khoá FY-26 đã được chuyển đến Quốc hội để Uỷ ban quân vụ xác nhận, bầu chọn. Sau khi được chính thức thăng cấp HQ Đại tá, HQ trung tá Brian Truong sẽ được bổ nhiệm chức Hạm phó một Hàng không mẩu hạm nguyên tử (Prospective CVN Executive Officer) Hải quân Hoa Kỳ. HQ Trung tá Brian Truong cũng vừa được chỉ định trở về phục vụ Hải quân, sau nhiệm kỳ 2 năm phục vụ tại Bộ Tham mưu Liên quân (Joint Chiefs of Staff), Washington DC-Baltimore Area.

HQ Trung tá Brian Trương lớn lên tại Portland, Oregon, ông thụ huấn và tốt nghiệp Học viện Hải quân Hoa Kỳ (United States Naval Academy). Tháng 5 năm 2006, ông được tuyển chọn thụ huấn ngành Phi công Hải quân tại NAS Whiting Field, và hoàn tất khóa huấn luyện Phi công trực thăng H-60F/H tại Phi đoàn 10 trực thăng chống tiềm thủy đĩnh vào năm 2007.

Nhiệm vụ đầu tiên trong hải nghiệp của HQ Trung tá Brian Trương được phục vụ tại Phi đoàn 11 trực thăng chống tiềm thủy đĩnh tại Jacksonville, Florida. Ông được điều động phục vụ trên Hàng không mẫu hạm USS ENTERPRISE (CVN 65) để yểm trợ cho chiến dịch IRAQI FREEDOM và chiến dịch ENDURING FREEDOM. Tháng 1 năm 2010, ông bay các phi vụ yểm trợ nhân đạo tại Haiti trong lúc phục vụ trên Hàng không mẫu hạm USS CARL VINSON (CVN 70) trong Chiến dịch UNIFIED RESPONSE.

Trong nhiệm kỳ phục vụ đơn vị trực thăng trên bộ từ năm 2010 đến năm 2013, ông là Phi công huấn luyện của Phi đoàn 3 trực thăng chiến đấu biển và là Sĩ quan bảo mật Truyền tin đơn vị.

Năm 2013, ông được chọn làm Sĩ quan tùy viên cho Tư lệnh, Lực lượng Không quân của Bộ Tư lệnh Hạm đội Đại Tây Dương Hoa Kỳ (United States Atlantic Fleet), nay là Bộ Tư lệnh các Lực lượng Hạm đội Hải quân Hoa Kỳ (United States Fleet Forces Command).

Tháng 2 năm 2016, với chức vụ là Trưởng phòng hành quân, HQ Trung tá Brian Trương tường trình cho Chỉ huy trưởng phi đoàn 23 trực thăng chiến đấu biển. Vào mùa thu năm 2017, ông chỉ huy một hơp đoàn trực thăng hỗ trợ các nỗ lực cấp cứu bão Harvey ở Texas. Năm 2018, ông làm Phi đội trưởng, Phi đôi Ba, kiêm Sĩ quan an phi đơn vị, ông đã bay hướng dẫn hai máy bay trực thăng đáp xuống bệnh viện hạm USNS MERCY để yểm trợ cho công tác PACIFIC PARTNERSHIP 2018.

Trong nhiệm kỳ một năm làm Trưởng phân bộ đơn vị Hải quân, ông là Thư ký cùng đồng nghiệp trong ngành, nơi ông phục vụ trong vai trò Tham mưu trưởng cho Giám đốc cao cấp về lãnh vực đào tạo nhân tài, và làm Giám đốc chương trình của nhóm phân tích nhân lực.

Tháng 9 năm 2020, HQ trung tá Brian Truong được bổ nhiệm làm Chỉ huy phó, Phi đoàn 14 trực thăng chiến đấu biển, đến tháng 12 năm 2021, ông chính thức trở thành Chỉ huy trưởng phi đoàn 14 và chỉ huy đơn vị đến tháng 3 năm 2023.

Sau nhiệm kỳ làm làm Chỉ huy trưởng, Phi đoàn 14 trực thăng chiến đấu biển, HQ Trung tá Brian Truong được chỉ định phục vụ tại Bộ Tham mưu Liên quân (Joint Chiefs of Staff), Washington DC-Baltimore Area, từ tháng 5 năm 2023 đến tháng năm năm 2023 qua các nhiệm vụ: Sĩ quan Phó phụ tá cho Trung tướng, Giám đốc Tham mưu liên quân; Sĩ quan kế hoạch chính trị-quân sự, Ban Đông Bắc Á, Phòng 5 (J5); Phó phòng 5 (J5), Ban Đông Bắc Á.

HQ Trung tá Brian Truong tốt nghiệp các Văn bằng: Hoàn tất xuất sắc Văn bằng Cao học an ninh Quốc gia và nghiên cứu chiến lược Châu Á – Thái Bình Dương – Trường Đại học Hải chiến Hải quân Hoa Kỳ (U.S. Naval War College), năm 2015; Văn bằng Cao học điều hành quản trị kinh doanh – Trường Hậu Đại học Hải quân Hoa Kỳ (Naval Postgraduate School), năm 2013; Văn bằng Cử nhân khoa học kinh tế – Học viện Hải quân Hoa Kỳ (United States Naval Academy), năm 2004.

HQ trung tá Brian Truong đã bay trên 2600 giờ bay, và được ân thưởng các loaị huy chương: 3 huy chương Navy and Marine Corps Commendation Medal, 2 huy chương Navy and Marine Corps Achievement Medal, và các loại huy chương phục vụ và chiến dịch bội tinh.

Theo tài liệu thăng cấp lưu trữ tại mynavyhr.navy, thì hiện nay có 23 HQ Đại tá gốc Việt phục vụ các ngành trong Hải quân Hoa Kỳ (không tính những vị đã hồi hưu). Riêng ngành Sĩ quan phi hành Không quân của Hải quân, ngoài Tân HQ Đại tá Brian Trương, còn có nhiều Sĩ quan Phi công Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt bay các loại phi cơ: P-3 Orion; P-8 Poseidon; T-6B Texan II; T-44C Pegasus; KC-130T; MH-60R Seahawk; F/A-18 Hornet; T-44 Pegasus; T-44 Pegasus; E-2C Hawkeye.

Chú thích: Viết theo tài liệu tham khảo; *HQ Trung tá=Navy Commander; **HQ Đại tá=Navy Captain.

Chúc Tân HQ Đại tá Brian Truong thăng tiến hải nghiệp.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 24 Jun 2025

55. Lưu Hữu Phước

Lưu Hữu Phước là một trong những tác giả lớn nhất của nền tân nhạc Việt Nam. Đặc biệt, cũng như Đỗ Nhuận, ông không viết một bài tình ca nào. Suốt cuộc đời sáng tác của ông, Lưu Hữu Phước đã dành để ngợi ca lòng ái quốc, lịch sử bi hùng, thúc đẩy mọi người, nhất là tuổi trẻ, lên đường đấu tranh cho nền độc lập, tự do của dân tộc, của đất nước. Các ca khúc như Ải Chi Lăng, Hội Nghị Diên Hồng, Bạch Đằng Giang, Kinh Cầu Nguyện Hai Bà, Hồn Tử Sĩ, Lên Đàng, Tiếng Gọi Thanh Niên … cho đến nay, vẫn là niềm hãnh diện chung của tân nhạc Việt Nam.

Nhiều thế hệ người Việt Nam đã được ông “vỡ lòng” cho tình yêu tổ quốc, yêu lịch sử, yêu đất nước. Nhạc Lưu Hữu Phước đã truyền vào máu các thanh thiếu niên các tình thiêng liêng ấy dễ dàng và tự nhiên hơn bất cứ bài học luân lý hay công dân giáo dục nào. Ngay từ khi còn ở bậc tiểu học, tại biết bao trường ốc, các thiếu nhi đã thay nhau lấy tơ dứa, tơ đay làm râu bạc, khòm lưng, chống gậy, đóng vai các bô lão đi dự Hội Nghị Diên Hồng. Hình như các em đã cảm nhận ra thân phận người dân “thế nước yếu” và ý nghĩa cao cả của hai chữ “hy sinh” khi miệng hát ra những tiếng ấy.

Đây là một trong những bài hát đáng nhẽ phải được ghi vào chương trình giáo dục như những bài học thuộc lòng:

Toàn dân nghe chăng! Sơn hà nguy biến

Hận thù đằng đằng! Biên thùy rung chuyển

Vùng dậy non sông rền vang tiếng vó câu

Gây oán nghìn thu

Toàn dân Tiên Long! Sơn hà nguy biến

Hận thù đằng đằng! Nên hòa hay chiến

Diên Hồng tâu lên cùng Minh Đế báo ân

Hỡi đâu tứ dân!

Kìa vầng hồng tràn lan trên đỉnh núi

Ôi Thăng Long! Cõi tinh kỳ phơi phới

Loa vang vang chiếu ban truyền bốn phương

Theo gió bay khắp miềng sông núi: réo gọi

Lòng dân Lạc Hồng yêu quê hương cứu đất nước

Giống anh hùng nêu cao chí lớn

Giống anh hùng đua sức tráng cường

Ta lên đường lòng mong tâu lên long nhan

Dòng Lạc Hồng xin thề liều thân liều thân

Đường còn dài hồn vương trên quan tái

Xa xa trông áng mây đầu non đoài

Trông quân Nguyên tàn phá non sông nhà

Đoạt thành trì toan xéo dày lăng miếu

Nhìn bao quân Thoát lấn xâm tràn nước ta

Ôi núi sông nhà rền tiếng muôn dân kêu la

Trước nhục nước nên hòa hay nên chiến

Quyết chiến!

Trước nhục nước nên hòa hay nên chiến

Quyết chiến!

Quyết chiến luôn

Cứu nước nhà

Nối chí dân hùng anh

Thế nước yếu lấy gì lo chiến chinh?

Hy sinh!

Thế nước yếu lấy gì lo chiến chinh?

Hy sinh!

Thề liều thân

Cho sông núi

Muôn năm lừng uy!

Bài hát bi hùng nhất trong âm nhạc của chúng ta có lẽ là bài Hồn Tử Sĩ của Lưu Hữu Phước. Hồn Tử Sĩ và thường được dùng làm nhạc mặc niệm trong các buổi lễ. Vì được dùng làm lễ nhạc như thế nên bài hát gần như không được trình bày như những bài hát thông thường khác, lâu ngày, [từ các năm 45, 46] ít người thuộc lời ca, các ghi chép, lưu truyền có nhiều sai biệt, không biết lấy đâu làm chuẩn. Gần đây ở trong nước người ta có cho xuất bản mấy tuyển tập nhạc Lưu Hữu Phước. Nếu có được các tuyển tập này trong tay, hy vọng chúng ta có thể chiếu theo sửa chữa những sai lầm để có một bản đúng với bản chính. Nói hy vọng trong trường hợp này có vẻ vô lý, nhưng sự thực, rất nhiều các tác phẩm văn học nghệ thuật, ở trong nước, nhất là các ca khúc, đặc biệt là trong thời kỳ còn chiến tranh, lúc bị cấm, khi được cho lưu hành lại, thường được [hay bị?] thay đổi cho thích hợp với tình hình, hoàn cảnh, phần khác, các nhà xuất bản lười biếng, bất cẩn, không chịu hỏi lại tác giả trước khi in, nên cũng không biết sự thật thế nào.

Đêm khuya âm u

Ai khóc than trong gió ngàn

Xác quân Trưng Nữ Vương rơi ngổn ngang

bên nước tràn

Hồn ai đang thổn thức trên không

Hồn quân Nam đang khóc non sông

Sát khí ngất đất bao lấp thây

muôn bóng huyền

Không gian như lắng nghe bao oan hồn

đang xao xuyến

Xót thương hai Nữ Hoàng tuẫn thân

Dù mạng vong lửa hờn chưa tan

Làn sóng đang thét gào

Gió vang tiếng nguyền cùng gươm đao

Cùng dòng sông

Tấm thân nát không nao

Nhìn thấy quân Hán dầy xéo sông núi nhà

Dòng châu rơi

Khóc nước non nhà mờ tối dưới trời

Nghe nhạc Lưu Hữu Phước, yêu nhạc Lưu Hữu Phước,  nhưng có thể nói, toàn thể người miền Nam, kể từ sau ngày30 tháng 4/75 đều sợ ông.

Tiến về Sài Gòn! Ta quét sạch giặc thù

Tiến về Sài Gòn! Giải phóng Thủ Đô!

Lưu Hữu Phước chính là tác giả những câu ca đó. Những ai còn ở lại miền Nam sau ngày 30 tháng 4/75 hẳn không thể nào quên những câu ca đó. Nó bay lượn trên đầu người ta như những lời tuyên án tử hình, tiếng gào thét của thần chết, lập đi lập lại, giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác.

Người ta thực sự không biết ông nghĩ gì. Ông không nói gì cả. Ông giữ im lặng cho đến lúc chết. Việc làm của ông làm người ta sợ. Sư im lặng của ông cũng làm người ta sợ.

Cái sợ nhất là trải qua biết bao nhiêu những đau thương, tang tóc, mỗi người miền Nam còn sống đến hôm nay, đều có thể coi như những kẻ sống sót, thảng hoặc có đôi lúc nghe thấy lại những ca khúc của ông, người ta vẫn cảm thấy cái hay, cái đẹp, nhưng cái hay cái đẹp ấy thấm nhập vào người ta như một nỗi chết. Hình như chúng ta đang trải qua một thời lạ lùng: yêu nhau không được, ghét nhau không được, xóa bỏ nhau cũng không được. Vậy, phải làm sao đây?

Ải Chi Lăng

Chi Lăng! Chi Lăng!

Tiếng ai hò reo vang trời

Chi Lăng! Chi Lăng!

Bóng ai tranh hùng muôn đời

Trời âm u, gió tung, rú lên, rít lên ào ào

Rừng thông rên xiết dường như khóc

dưới trời bão

Lời ai nỉ non trong mây

Hồn ai thở than nơi này

Lời gió hay lời reo ngàn quân sĩ đã chết

Hồn gió hay hồn ai còn thương tiếc

Trời lung lay, sấm vang,

sét vang nổi lên ầm ầm

Đồi non thung lũng đều long lở dưới hồi sấm

Lời ai? Phải chăng thần thánh?

Hồn ai? Phải chăng hùng anh?

Vì nước tuốt gươm vùng lên

Làm cho rõ giống Tiên Rồng

Hồi nhớ tới vó câu khập khễnh

lướt qua làn khói

Giáp chiến!

Hồi nhớ tới bóng muôn cờ xí phất tung hùng vĩ

Quyết chiến!

Vì nước tuốt gươm xông pha

Lòng trung cứu dân lầm than

Đồng hát khúc anh hùng ca

Bền gan kết tâm cường tráng

Khuất Nam

Bình Bắc

Oai hùng luôn tiến

Trống chiêng vang rền!

Ban Hợp Xướng Ngàn Khơi

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 24 Jun 2025

54. Long Châu

Những người nghe nhạc và còn nhớ tới cái tên Long Châu, phần lớn, đến nay, đều phải ở tuổi trên dưới 70 cả rồi. Và, ai còn nhớ đến ông, gần như đều thuộc bài hát duy nhất của ông một thời, đó là bài Cô Tú. Cô Tú được viết vào khoảng thời gian 1945-1946, trước khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ một chút. Đó là những ngày cả đất nước bừng bừng trong ngọn lửa ái quốc.  Ở những nơi quê mùa nhất, ngay cả các phụ nữ, saucông việc đồng áng, chợ búa ban ngày, tối tối, tụ tập tại sân đình, bãi trống, lấy dây lạt buộc túm ống quần, vác gậy tập đi một, hai. Các bà già, các vị bô lão, đêm đêm cũng xách đèn tới các lớp “bình dân học vụ” tập đọc i, tờ. Rất nhiều bài hát đã được phổ biến trong những ngày đó:

Một hai ta đi một hai

Toàn dân ta đang nạn đói

Toàn dân ta gông cùm trói

Tiếng khóc rên bên tai

Việt Nam ta dấy lên

Đập tan quân giặc Pháp

Phá tan lũ cường quyền

Cướp lấy chính quyền

Để quảng bá cho phong trào “xóa nạn mù chữ”, thúc giục những người chưa biết chữ đi học, đạo ấy, có hai bài hát, một của Long Châu là bài Cô Tú, bài thứ hai, người viết cho đến bây giờ, cũng không biết là của ai, nhưng còn nhớ như sau:

Học cho biết,

chúng ta chăm học chăm viết

Đọc thông, viết thông

Mắt mờ nay biết trông

Học cho siêng

Bình dân ta nay quyết tiến

Nước văn minh do công ta học cho bền

Rồi ta tiến, tiến mau trên đường văn hiến

Tầm con mắt xa

Mở rộng tim óc ra

Việt Nam ta từ nay tương lai tất khá

Ta cố cho danh dân Việt lan rất xa

Học chữ quốc ngữ cho thông

Đọc viết tính toán cho tường cho chóng

Gắng công vào

Toàn quốc trí óc nâng cao

Toàn quốc tiến tới phong trào

Mau mau xa nơi tối tăm

Ta tiến mau trên con đường vinh xa xăm

Cố thoát ly nơi bùn tanh cát lầm

Đó là bài hát có thể coi là xuất phát từ các lớp học ra ngoài xã hội, vì đã được các “thầy, cô” tập cho các học viên hát ngay trong lớp. Thầy, cô có thể là những cô cậu 15, 16 tuổi và học viên có thể là các cụ 60, 70 tuổi. Học theo cái kiểu người biết đọc dạy cho người chưa biết. Hai mươi tư chữ cái được ghép thành câu vần câu vè cho dễ nhớ:

i, tờ [t] có móc cả hai

i ngắn có chấm, tờ dài có ngang

o, a hai chữ khác nhau

vì a có cái móc câu bên mình

o tròn như quả trứng gà

ô thì đội mũ, ơ là thêm râu

Bài Cô Tú của Long Châu, tuy cũng để cổ vũ cho phong trào xóa nạn mù chữ, nhưng được tung ra trong đời sống như  một tác phẩm nghệ thuật, và đã được các ca sĩ trình bầy trên các đài phát thanh, thu âm vào đĩa nhựa.

Vì nhắm thẳng vào việc khuyến khích “đi học cho biết chữ”, sự việc đã trở thành xa lạ với hoàn cảnh xã hội mỗi ngày một khác, nên bài hát gần như đã bị quên lãng, không thấy ai hát nữa.

Nhưng đối với một số người, bài Cô Tú của Long Châu, ngoài ca từ mộc mạc nhưng rất đẹp và một giai điệu ngọt ngào, dễ thương [những ai đã được nghe Ngọc Bảo hát ca khúc này trên đài phát thanh Hà Nội nhỉ? Bài hát còn chứa trong nó một chuỗi những biến cố lịch sử đầy tang tóc. Không có bài hát nào cho biết tiếp số phận của những Cô Tú trong nhạc Long Châu sau ngày thắp đèn đi học ra sao:

Ai về chợ Huyện Thanh Vân

Hỏi thăm cô Tú đánh vần được chưa

Đánh vần năm ngoái, năm xưa

Năm nay quên hết nên chưa biết gì

Lưng trời tiếng sáo vu vi

Vẳng nghe ai học chữ “i” chữ “tờ”

Sách i, tờ Pháp không cho học

i, tờ [t] có móc cả hai

i ngắn có chấm, tờ dài có ngang

o, a hai chữ khác nhau

vì a có cái móc câu bên mình

o tròn như quả trứng gà

ô thì đội mũ, ơ là thêm râu

Liệu cô mình đã đọc được chưa?

Đôi bên bác mẹ cùng già

Lấy cô hay chữ để mà cậy trông

Mùa hè cho chí mùa đông

Ruộng vườn thóc lúa tính thông chẳng nhầm

Nụ tầm xuân còn đương phong nhụy

Xin cô mình đừng phí ngày xanh

Bình dân học vụ lập thành

Cô nên tới đó học hành cho thông

Elvis Phương

Mấy Người Con Trai Vương Long

vietmessenger.com

Pearl S. Buck

Nguyễn Thế Vinh dịch

(Tái bản)

Post by Sơn râu 24 Jun 2025

Chương 12.

Vương hổ tướng và bọn thủ túc nhắm thẳng đường kéo lên tỉnh, tiến thẳng đến tận cổng Phủ. Đứng trước cổng Phủ, chàng dõng dạc bảo bọn lính gác, bọn này uể oải, đứng tựa lưng vào mấy con sấu đá:

– Ta muốn gặp ông Phủ có việc riêng.

Bọn lính không thấy nhúc nhích, có lẽ vì chàng không chịu lót tiền cho họ. Thấy thái độ đó, Vương hổ tướng hét một tiếng, bọn thủ hạ tâm phúc nhẩy xổ lại chĩa súng vào ngực anh lính gác. Anh lính này tái xanh mặt, lùi thật

nhanh, chàng và cả bọn thủ hạ kéo qua cổng, tiếng giày cọt kẹt, nện mạnh xuống thềm gạch. Bọn lính đứng đó trố mắt nhìn không một anh nào dám nho nhoe. Mày tằm dựng ngược, chàng hỏi to, tiếng nghe rùng rợn lạnh người.

– Ông Phủ đâu?

Không một anh lính nào trả lời, chàng rút mạnh thanh đoản kiếm đeo ở bên mình, dí mũi kiếm vào bụng một anh, anh lính này sợ quá nhảy bổng người lên, vừa nói:

– Thưa … để tôi đưa ông vào … tôi đưa ông vào!

Anh lính dẫn đường lùi lũi đi trước, Vương hổ tướng thấy hắn sợ quá, buồn cười thầm. Đi qua mấy cái sân, hết cái này đến cái khác. Chàng đi, đầu ngửng cao không nhìn ngang nhìn ngửa, bọn thủ túc cố bắt chước dáng điệu uy nghi lẫm liệt của chàng. Vào đến sân trong cùng, sân này đẹp lắm, có một cái bể cạn có núi non bộ, có bụi mẫu đơn, có cây tùng cây bách. Các khuôn cửa sổ rèm buông kín, ở đấy vắng ngắt, phẳng lặng như tờ. Anh lính dẫn đường đứng ở thềm cửa đằng hắng, một anh nô bộc trong nhà mở rèm, thò đầu ra hỏi:

– Cái gì? Quan còn ngủ.

Vương hổ tướng nói to, tiếng ầm ầm rung chuyển như sấm vang trong cái sân tĩnh mịch:

– Đánh thức ông ấy dậy, ta có việc khẩn cấp, cực kỳ quan trọng để thông báo. Việc này có liên quan mật thiết đến công việc, địa vị ông ta!

Anh đầy tớ có ý ngần ngại, nhưng ngó thấy luồng nhỡn tuyến của Vương hổ tướng như có một mãnh lực ghê gớm thúc đẩy, anh đoán có lẽ đây là đặc phái của thượng cấp gửi về. Anh này trở vào, lay ông Phủ, gọi dậy. Ông già này đang mơ mơ màng màng trong giấc điệp, mở choàng mắt, nghe nói tự sự, vùng đứng dậy rửa mặt, mặc áo dài ra ngồi bệ vệ giữa công đường, truyền gia nhân cho bọn người vào hầu. Vương hổ tướng hùng dũng rầm rộ đi vào, theo phép xã giao khẽ nghiêng đầu chào ông Phủ, thái độ hiên ngang, không khúm núm, e dè.

Ông Phủ thấy bọn này hung hăng, lấc cấc hoảng quá, ông vội vàng đứng dậy, kéo ghế mời ngồi, truyền cho người nhà đem bánh, rượu, trái cây khoản đãi. Ông cho ra những câu khách sáo, phù phiếm như mỗi lần tiếp một tân khách. Chầng ậm ừ, ăn nói hơi có chút lễ độ. Sau mấy lời xã giao thường lệ, chàng nhập thẳng đề:

– Chúng tôi nghe quý thượng cấp cho biết ở vùng ngài trọng nhậm có một bọn vô lại uy hiếp, xách nhiễu, chúng tôi lại đây dâng ngài bầu nhiệt huyết, chí dũng cảm, để trừ bạo khứ nguy.

Từ nãy đến giờ ông Phủ già vẫn chưa hết run và kinh ngạc. Nghe chàng nói xong, với một giọng run run, giọng một, ông chậm rãi nói:

– Đúng thế, tôi rất khổ tâm có một bọn côn đồ hoành hành quấy nhiễu, tôi là một văn quan không phải một võ tướng, chưa nghĩ được phương kế gì mà diệt trừ bọn đó. Ở đây tuy cũng có một võ quan, hắn vừa được tôi cấp dưỡng lại ăn lương nhà nước, muốn làm gì tùy ý, không ai hạch sách, hắn không thích dở dói đánh nhau, hắn ghét trận mạc, mà cũng ác hại, dân trí vùng này thấp kém quá, nếu có đánh nhau với tụi côn đồ có khi dân lại vào phe với tụi nó chống lại mình, dân vẫn hậm hực phải đóng thuế cho Nhà nước.

Vương hổ tướng nói vắn tắt:

– Chúng tôi đây là bọn giang hồ nghĩa hiệp ở đâu cần đến, chúng tôi ra tay khuông phò. Chúng tôi biết vùng này bị nạn côn đồ lộng hành, nếu ông chịu thâu nạp chúng tôi, chúng tôi đã có kế hoạch, phương pháp hành động. Nếu vào lúc khác, lão Phủ già này cũng không để ý nghe bọn người xa lạ, không quen không biết bao giờ, nhưng giờ đây hắn đang thấp thỏm lo cho địa vị hắn, lỡ ra khó mà có việc gì khả dĩ dung thân. Một bà vợ già với hằng trăm người họ xa họ gần ở cả đây ăn bám lão; lão già nua yếu đuối, bọn côn đồ càng được thể hoành hành, vơ vét, nên bây giờ ai nói đến giải nguy cho hắn, hắn bám chặt lấy. Hắn đuổi hết bọn gia đinh ra ngoài trừ mấy người thân tín, lắng tai nghe Vương hổ tướng trình bày cơ mưu. Nghe xong, hắn mừng quá, nhiệt liệt tán thành. Trong óc hắn lẩn vẩn một điều đáng lo ngại là ngộ lỡ ra tụi này không giết được Tám Beo và thủ túc của nó thì cuộc phục thù sau này sẽ vô cùng kinh đởm. Hiểu ý lão về điểm thắc mắc đó, chàng nói thản nhiên dễ dàng không một chút lo ngại:

– Tôi giết con beo cũng như giết con mèo, tôi chặt đầu, cầm ở tay cho dốc máu không sởn óc ghê tay. Tôi cam đoan đúng như thế.

Lão Phủ trầm ngâm suy nghĩ như nay mình đã già, bọn lính yếu đuối ươn hèn, bèn hỏi chàng liệu có tính được phương sách gì hơn thế nữa không? Chàng trả lời:

– Như thế là tuyệt diệu, không còn có kế nào hơn nữa.

Lão Phủ truyền gia đinh đầy tớ làm một bữa tiệc thật thịnh soạn, khoản đãi Vương hổ tướng và bọn tùy tùng vào hàng thượng khách. Chàng đem kế hoạch, mưu cơ ra thảo luận với lão Phủ, các chi tiết được nghiên cứu kỹ càng, xếp đặt hoàn bị chu đáo. Vài hôm sau chàng đem ra áp dụng thi hành.

Lão Phủ cho bọn thám tử vào tận sào huyệt Tám Beo phao tin ông đã xin cáo lão từ quan, ông quan mới sắp sửa đến đóng ở hạt này. Ông bình sinh sở nguyện, trước khi từ giã hạt ông trọng nhậm bấy lâu, ông muốn dân tình không ai ác cảm thù oán gì ông. Ông ước ao được Tám Beo và các viên bộ tướng vui lòng đến tư dinh dự tiệc để tỏ tình than thiện và cũng nhân tiện giới thiệu ông Tám với quan Phủ mới. Bọn côn đồ nghe đồn thế, tỏ ý nghi ky, nhưng Vương Hổ tướng đã tiên liệu trước rồi, đã mật bàn với ông Phủ cho gieo rắc cái tin đó khắp các xóm làng, hang cùng ngõ hẻm. Bọn côn đồ đi đến đâu cũng thấy đồn thế, trăm người, nghìn người như một. Họ tin cho là thật không phải lời phao đồn nhảm. Tám Beo và bọn thủ túc nghĩ thế cũng là một cơ hội hay để gây ảnh hưởng, uy tín với lão phủ mới, cho hắn biết thanh thế mình, sau này nếu hắn muốn yên thân, tránh xung đột can qua, bắt chẹt hắn phải nộp những món tiền rất lớn. Cuộc nghị hòa của lão phủ được chấp thuận, Tám Beo trả lời sẽ hạ sơn vào một đêm tối trời không trăng.

Một hôm mưa gió tầm tã suốt ngày, đêm hôm đó trời tối đen như mực, sương mù dày đặc, bọn lâu la y hẹn kéo cả xuống Phủ đường dự tiệc. Họ ăn mặc chỉnh tề, nai nịt gọn gàng, súng ống gươm dáo lau chùi sạch sẽ, mỗi người cầm lăm lăm ở tay một thanh đoản đao sáng loáng. Mấy cái sân ở Phủ đầy nhóc bọn lâu la canh gác, họ đứng cả ở phố trước cổng Phủ đề phòng bất trắc. Lão Phủ đóng vai trò hôm ấy rất  khéo, sau chiếc áo dài the, hai chiếc đầu gối run lên bần bật,tưởng chừng lão ngã khuyu xuống, tuy thế nét mặt vẫn thản nhiên, mồm vẫn đon đả chào mời. Lão cho dẹp hết lính tráng, súng ống ở phủ, bọn côn đồ chỉ thấy toàn người, toàn vũ khí của bọn họ nên càng yên tâm, vững dạ.

Lão cho các đầu bếp giỏi làm một bữa tiệc cực kỳ thịnh soạn, dọn làm hai nơi: gian phòng khuất nhất nhà trong để Tám Beo và các thủ hạ hắn, còn ở mấy cái sân cho các thuộc hạ hắn.  Khi cỗ bàn đã bầy biện xong xuôi, lão mời các quan khách vào dự tiệc, ân cần mời Tám Beo ngồi chiếc ghế danh dự, giằng co mời mọc, khẩn khoản mãi, Tám Beo mới chịu ngồi, còn lão ngồi vào hạng các thực khách; lão đã tiên liệu, xếp đặt trước, ngồi ngay giáp cửa để lát nữa lão ra ám hiệu đánh rơi chén rượu, lão có thể thoát ra ngay dễ dàng và nấp chỗ nào thật kín cho đến khi tấn thảm kịch hạ màn.

Quan khách nhập tiệc, lúc đầu Tám Beo uống cầm chừng đưa mắt cho bọn thủ hạ, có ý chê ăn uống quá tự do, sỗ sàng. Rượu hảo hạng, ngon nhất vùng, các món mỹ vị làm công phu, khéo quá, bọn người này ăn uống hau háu, những bát hải vị, sơn hào hâm nóng, ngon quá, tuyệt quá, bọn côn đồ này chưa hề bao giờ nghĩ đến, biết đến từ thủa lọt lòng mẹ đã được ăn uống thế này đâu. Lúc đầu còn khách sáo, e dè một chút, sau rượu uống ngà ngà say, bọn vô lại ăn uống thả cửa, phồng má trợn mắt. Ở ngoài sân cũng vậy, còn có phần tệ hại hơn nữa, ăn cho thật thích, tranh nhau ăn cho thật nhiều.

Vương Hổ tướng và thủ túc nấp đằng sau chiếc màn vải vây quanh khuôn cửa sổ buông rèm, ngay sát cửa ra vào, địa điểm rất thuận tiện để lúc hành sự đột nhập thẳng vào bàn tiệc. Người nào cũng nắm chặt thanh mã tấu, sẵn sàng, chỉ còn chờ ám hiệu để ra tay, ăn uống đã được ba giờ, lúc này hơi men đang bốc mạnh, náo nhiệt nhất, rượu rót ra như thác đổ, cốc lớn cốc nhỏ chan hòa; gia nhân, đầy tớ tấp nập, kẻ ra người vào tíu tít hầu hạ, rượu thịt mãi, bọn côn đồ đã thấy nặng bụng. Giữa lúc đang huyên náo, lão Phủ đứng dậy người run run, mặt tái nhợt, ấp úng nói:

– Có một việc rất thương tâm, làm tôi đau lòng !…

Lão vừa nói, vội vàng nâng cao chén rượu, tay run lẩy bẩy, chén rượu rớt ở tay rơi mạnh xuống nền gạch kêu đánh keng. Vừa dứt lời, lão vội vàng, lảo đảo bước ra khỏi cửa mất dạng.

Trước thái độ kỳ dị của lão Phủ, Tám Beo và cả bọn chưa kịp thốt một lời tỏ vẻ ngạc nhiên, thình lình một tiếng còi rúc vang, tiếp theo một tiếng thét lớn hô quân xung phong. Vương hổ tướng và cả bọn tâm phúc, nhanh như chớp nhảy xổ vào bàn tiệc. Mỗi người tâm phúc của chàng có nhiệm vụ phải giết cho kỳ được một tên côn đồ, tên nào đã được ấn định từ trước, chàng tự giữ trọng trách hạ thủ tên trùm: Tám Beo.

Bọn gia đinh, đầy tớ ở phủ đã được mật lệnh, khi nghe tiếng còi phải đóng chặt các cửa, bít hết các lối thông ra ngoài. Tám Beo nhanh mắt vùng nhảy ra cửa để thoát thân, Vương hổ tướng nhảy bổ theo sau, định khóa chặt tay hắn lại. Lúc nhẩy ra, Tám Beo vội vàng vơ một chiếc đoản đao,  còn thanh bảo kiếm của hắn lúc đó không có đeo bên mình,hắn bị cô thế không đủ vũ khí tự vệ. Mỗi người lính của chàng phải cố giết cho kỳ được một tên, trong phòng cực kỳ huyên náo, hỗn loạn, tiếng la, tiếng hét, tiếng vũ khí đập nhau xoang xoảng, ai lo phận sự người ấy, không ai để ý đến ai. Bọn côn đồ, rượu uống đã say mèm nên bị giết rất dễ dàng, không đủ sức lực tinh thần chống đối. Khi đã tận diệt bè lũ Tám Beo, bọn lính quay lại xem Vương hổ tướng đấu kiếm và nếu có cần xông vào trợ chiến.

Nguồn: image from the Net

Tám Beo tuy đã ngà ngà say, nhưng là một tay kiếm giỏi, một đối thủ lợi hại, hắn hãy còn sức cầm cự. Lanh như cắt, hắn đã thoát được vòng tay Vương hổ tướng định khóa hắn, võ nghệ hắn cũng siêu quần, không thể một nhát mã tấu Vương hổ tướng kết liễu được hắn. Muốn giữ một mình danh dự đắc thắng hạ thủ Tám Beo, chàng không muốn bọn thuộc hạ xông vào trợ chiến. Chàng rất cảm phục tên trùm này, gan dạ can đảm, đường kiếm hay, võ nghệ giỏi, với một vũ khí tầm thường, cố chống cự nhưng tuyệt vọng. Anh hung gặp anh hùng, trong thâm tâm chàng rất tán thưởng và nghĩ cũng đáng tiếc phải giết tên này, bổn phận chàng phải giết cho kỳ được tên nàychàng lùa hắn vào chân tường, tuyệt lộ với một chiếc đoản đao tầm thường trong tay. Phần bị say, phần ăn uống quá nhiều, sức đã mỏi mệt, võ nghệ Tám Beo tuy có hay thật, hắn tự luyện lấy bì sao được với Vương hổ

tướng đã được rèn luyện tinh thông có phương pháp chắc chắn.

Sức đã kiệt, Tám Beo để sơ hở đường kiếm, Vương hổ tướng lanh mắt, đưa nhanh mã tấu đâm giữa bụng, xoay mũi đao một vòng, bao nhiêu rượu thịt, máu, nước lẫn lộn tung tóe phọt ra. Trước khi lăn ra chết, hắn đã ngước mắt

nhìn chàng, đôi mắt oán hận, căm hờn, suốt đời Vương hổ tướng không quên được luồng nhỡn tuyến đó, tuy tâm hồn chàng sắt đá, cương trực, hung tàn. Tám Beo quả có dáng điệu, hình vóc một con mãnh thú, hai con mắt không đen như mắt người, hai con mắt hắn màu vàng nhạt như màu hổ phách. Khi Vương hổ tướng thấy hắn nằm sóng sượt ở sân, hai con mắt vàng nhạt còn mở, trừng trừng, chàng nghĩ quả thị tinh tướng một con báo, vì ngoài cặp mắt lạ đời, cái sọ hắn ở trên thì rộng, đằng sau gáy thót lại, trông đúng cái sọ một con thú chứ không phải sọ người. Bọn lính xúm đông lại xem, tấm tắc khen tài chủ tướng. Chàng không để ý, chống thanh mã tấu còn dính máu, nhìn xác chết, nói có vẻ thương tiếc:

– Ta ở trong trường hợp phải giết người này, ta thấy cũng đáng tiếc, hắn thật dũng cảm, gan dạ, hai con mắt kia thật mắt một tay anh hùng hảo hán.

Chàng còn đứng thẫn thờ nhìn lại kết quả việc chàng vừa làm, anh “chọc tiết heo” bô bô nói:

– Tim Tám Beo hãy còn nóng, chưa nguội ha!

Chưa ai hiểu ý câu nói đó, hắn giơ tay với cái bát ở bàn, với một tay cục mịch nhưng sành nghề, hắn rạch một đường ở ngực Tám Beo, ở bên vú dưới phía trái, bẻ gẫy mấy cái xương ngực, thọc tay móc trái tim ra ngoài, hứng vào trong bát. Tim còn nóng hổi, hãy phập phồng một, hai lần trong

bát, hắn giơ bát tim đầy máu cho Vương hổ tướng, oang oang nói có vẻ đắc chí lắm:

– Chủ tướng ăn ngay đi, hãy còn nóng. Người ta thường nói giết được quân địch, moi tim ăn ngay lúc còn nóng, sẽ được can đảm bội phần.

Chàng không nhận, ngoảnh mặt đi, nói ý tự cao:

-Ta không cần.

Chàng chợt ngó thấy trên nền gạch, cạnh chỗ Tám Beo ngồi ăn tiệc hồi nãy, lấp lánh một thanh kiếm, chàng vội vàng chạy vào nhặt, cầm lên xem mới biết một thanh kiếm rất quý, tuyệt đẹp đúc bằng một thứ thép già, bây giờ không làm được. Lưỡi kiếm sắc bén, chưa có thanh kiếm nào bì kịp, một bó lụa chém một nhát đứt làm đôi. Chàng đem thử vào xác Tám Beo mới hơi sẽ dí lưỡi kiếm đã ăn phập, lọt tận xương. Vương hổ tướng nói lớn:

– Ta giữ chiếc kiếm này cho ta, một bảo vật hiếm có.

Vừa lúc đó, chàng thoáng nghe có tiếng nấc như người bị nghẹt thở. Thằng Rỗ đứng cạnh chàng đang xem anh “chọc tiết heo” ăn sống tim người, nó trông thấy, sa sầm mặt mày, lộn mửa. Vương hổ tướng cũng hiểu thằng nhỏ này chưa được nom thấy cảnh tượng rùng rợn này bao giờ, ôn tồn bảo cháu:

– Mày đứng đây làm gì, ra chơi sân ngoài cho mát.

Thằng nhỏ vẫn đứng nguyên không chịu đi chỗ khác, thấy cháu tuy thế có dũng cảm, chàng sung sướng bảo:

– Nếu tao là hổ phụ, mày rất xứng đáng là hổ tử.

Nghe thấy chú khen thế, thằng nhỏ thích lắm, nhe bộ răng cười trên bộ mặt ốm yếu, nhợt nhạt.

Kế hoạch đã được thực hiện theo đúng như ý định, chàng bước ra mấy sân ngoài xem bọn lính của chàng đã dẹp yên được bọn lâu la chưa? Đêm hôm đó, mây kéo dày đặc, tối đen như mực, chỉ thấy lố nhố bóng đen. Chàng truyền đốt đuốc, khi có ánh lửa chàng nhận thấy có rất ít xác chết, chàng tỏ ý bằng lòng, bọn lính đã tuân theo đúng lời chàng, không chém giết bừa bãi, để bọn thuộc hạ Tám Beo tùy ý qui thuận. Tuy nhiên, công việc chàng chưa thể gọi là hoàn tất, chàng còn phải kéo cả bản bộ lên tận sào huyệt chúng, mặc dù chúng đã bị yếu thế rất nhiều và đề phòng trước khi chúng kéo viện binh xuống chàng phải làm ngay không dám trù trừ chờ gặp mặt lão Phủ, chàng chỉ gửi lời nhắn lại.

Trước khi phá được ổ rắn, ta chưa nói chuyện gì công lao.

Đêm hôm khuya khoắt, tối trời, chàng kéo bản bộ đi tắt qua cánh đồng, thẳng lên núi Lưỡng Long. Bọn lính, nhiều người dùng dằng không chịu đi, vì họ vừa đánh nhau mỏi mệt, đêm hôm sương gió, đi phải mất hơn một giờ đồng hồ lại còn phải trèo núi,, nhiều đứa đã hí hửng có lẽ được tự do cướp phá trong tỉnh, vơ vét của cải làm chiến lợi phẩm. Tụi này nói với Vương hổ tướng:

– Chúng con, vì chủ tướng không quản khó nhọc, hy sinh tính mạng liều chết giao phong đem lại thắng lợi, chúng con chưa được một chút gì gọi là đền bù công lao, chúng con chưa từng phục vụ một chủ tướng nào quá cay nghiệt khắt khe, chưa từng thấy sau cuộc chiến thắng, bọn lính tráng như chúng con lại không có một chút vật gì để thù lao, ít nhất cũng phải có gái để hú hí vuốt ve, bấy lâu nay chúng con cố nén tâm chờ đợi ngày nay chủ tướng lại không rộng lòng cho chúng con hả hê hay sao?

Lúc đầu Vương hổ tướng không thèm nghe, không buồn trả lời nhưng chàng thấy hình như cả bọn nhao nhao, chàng nghĩ lúc này nên dùng uy lực tỏ cho tụi này biết tính cương trực, khắc nghiệt, hung hãn của chàng vì bọn này có thể quay lại làm phản. Nghĩ thế chàng quay phắt người lại rút thanh đoản kiếm đánh soạt, vung lên sáng loáng, thét lớn:

– Ta đã giết chết Tám Beo, ta sẽ giết không chút mủi lòng bất cứ ai trong bọn các ngươi. Các ngươi không hiểu một chút nào là phải trái, hay dở, chúng ta trừ bạo cứu dân, bây giờ chúng ta lại đi cướp bóc dân để gây căm hờn ngay trong đêm nay trong dân chúng hả? Các ngươi phải bỏ ý nghĩ xuẩn ngốc đó đi. Khi nào lên sào huyệt bọn côn đồ, ta để các ngươi tự do tàn phá, vơ vét, trừ ra không được hãm hiếp đàn bà, con gái, nếu họ ưng thuận không kể.

Bọn này răm rắp cúi đầu tuân lệnh, một anh rụt rè, ấp úng nói:

– Thưa chủ tướng, chúng con nói chơi cho vui.

Một anh nữa, tỏ ý thắc mắc, còn ngạc nhiên hỏi:

– Thua chủ tướng, không phải riêng mình con lấy làm lạ lùng, nếu phá sào huyệt của chúng, bọn mình ở vào đâu, chúng con tưởng chiếm lấy để ở chứ? Bọn chúng mình cũng cần phải có căn cứ, sào huyệt chứ?

Đang cơn phẫn nộ, Vương hổ tướng nói với một giọng gay gắt:

-Chúng ta không phải là một bọn lâu la, côn đồ, ta đây không phải là một tên trùm, cầm đầu cho bọn đó. Ta đã vạch ra kế hoạch đường hoàng, các ngươi cứ yên chí theo ta sai khiến để áp dụng thi hành, đừng có làm như bọn xuẩn ngốc.Ta sẽ cho phóng hỏa đốt hết doanh trại sào huyệt của chúng để dân được an cư lạc nghiệp, xóa hẳn tàn tích bọn côn đồ đã cướp phá, quấy nhiễu vùng này.

Nghe nói thế, tất cả bọn lính, cả những anh thân tín tâm phúc đã ngạc nhiên lại càng ngạc nhiên thêm. Một anh quay lại nói với trong bọn chúng:

– Như thế, chúng mình là thế nào nhỉ?

Vương hổ tướng hầm hầm nói:

– Chúng mình là những chiến sĩ, không phải bọn côn đồ đi cướp bóc, không cần sào huyệt. Chúng ta đóng ở tỉnh, ngay trong Phủ đường. Chúng ta là một đạo quân để bảo vệ lương dân, phục vụ cho chánh nghĩa, cho quốc gia.

Nhờ tài khéo léo, uy vũ của chàng, những người này như được cảm hóa, đứng im phăng phắc, những khát vọng, tính khí hung hãn đều tiêu tan hết. Ai nấy tỏ ý hân hoan, đặt hết tín nhiệm vào chủ tướng. Họ hăng hái ra đi, mạnh bạo trèo lên núi, theo con đường độc đạo thẳng tiến vào tận sào huyệt của bọn thuộc hạ Tám Beo. Sương mù ở núi cuồn cuộn kéo dày đặc, mấy ngọn đuốc tỏa khói mù mịt trong sương, đêm hôm lạnh lẽo. Đi đến đầu đường độc đạo, một tên lâu la đứng gác, chợt ngó thấy đoàn quân của Vương hổ tướng, hắn hết sức kinh hoảng, hai chân như bị tê liệt không sao chạy được. Một anh lính của chàng, đang lúc hứng chí, đâm mạnh một nhát kiếm thấu suốt người, tên này chết không kịp kêu. Vương hổ tướng ngó thấy, ngoảnh mặt làm ngơ, vì bọn lính này mới giết có một tên lâu la, vả chăng làm chủ tướng, cầm đầu một bọn đầu trâu mặt ngựa, ngu ngốc, hung tàn, nếu bắt nét quá bọn này rất có thể nguy hiểm cho chàng. Mặc cho xác chết nằm đó, chàng kéo quân tiến thẳng vào cổng trại của chúng.

Doanh trại này như một cái làng nhỏ, xung quanh vây kín có tường cao, xây rất kiên cố bằng đá núi, đất sét và vôi. Một chiếc cổng lớn, hai cánh cửa có đai sắt, gắn chặt vào tường. Cổng đóng kín, hai cánh cửa khóa, thuộc hạ Vương hổ tướng đập cửa, ở phía trong phẳng lặng không một tiếng động, chàng lại cho đập cửa mạnh hơn, vẫn không có tiếng trả lời, chàng đoán có lẽ tụi lâu la ở trên này được tin chủ tướng bị hại, tụi này đã trốn đi nơi khác, lẩn tránh vào các làng xóm để mưu đồ cuộc phục thù. Vương hổ tướng truyền cho lính bứt cỏ khô ở quanh trại bện làm mồi đốt một cánh cửa gỗ. Khi lửa đã khoét thủng được một lỗ lớn, một tên lính chui vào mở cổng; cửa vừa mở, bọn này kéo ồ cả vào, đi đầu là Vương hổ tướng.

Trong trại im lặng như tờ, Vương hổ tướng dừng chân nghe ngóng, không một tiếng động. Chàng truyền cho bọn lính thắp to đuốc, phóng hỏa đốt hết các túp nhà sào huyệt của chúng. Được lệnh, bọn lính thi hành ngay, sung sướng la hét inh ỏi, một lát trên các nóc nhà đã thấy ngọn lửa bốc cháy. Lửa bốc mạnh lan sang khắp trại, những người ẩn nấp trong nhà chui ra như ong vỡ tổ, đàn ông, đàn bà trẻ con ùn ùn chạy tán loạn, bọn lính tha hồ mặc sức chém giết.

Vương hổ tướng ra lệnh ngừng chỉ ngay cuộc tàn sát để mặc cho họ chạy trốn. Chàng cho phép được tự do cướp phá, vơ vét của cải. Những căn nhà mới bị bắt lửa, chúng khuân ra được nhiều lụa, vải và bất cứ thứ gì có thể đem ra chúng đem ra hết. Bọn chúng thấy cả vàng bạc, nhiều hũ rượu ngon, thực phẩm, giành giựt nhau, tranh nhau ăn, tranh nhau uống, lắm tên no quá, say quá, chệnh choạng chết lăn trong đám cháy mà chính tay họ hồi nãy đã châm lửa đốt nhà.

Vương hổ tướng thấy bọn này tính nết tầm thường quá, bần tiện quá, tranh nhau ăn uống như bọn ma đói, chàng sai các thủ túc tâm phúc phải để ý coi chừng không sợ tụi này say quá ngã vào đống lửa chết thui mất nhiều.

Chàng đứng riêng một chỗ quan sát, để thằng cháu đứng cạnh, không muốn thằng nhỏ theo tụi lính ăn uống, cướp phá. Chàng nói:

– Chúng ta không phải là bọn giặc cướp, cháu cùng giòng máu với ta, chúng ta không như bọn kia đi cướp phá, bọn kia là một lũ vô lại, ngu xuẩn, ta ngơ cho tụi họ được thỏa thích, vơ vét, miễn là tụi nó trung thành với ta, ta dùng bọn đó như một công cụ để đạt tới đích bước lên quang, mày không thể bắt chước tụi nó được.

Chàng giữ thằng Rỗ đứng cạnh, mà cũng nhờ có nó ở cạnh, hôm đó chàng đã thoát hiểm một cách kỳ lạ. Tựa người vào khẩu súng chống ở đất, chàng thẫn thờ nhìn những ngôi nhà đang ngùn ngụt bốc cháy, khói tỏa mịt mù. Thằng Rỗ bỗng thất thanh hét lớn. Vương hổ tướng quay người lại, vừa lúc đó một lưỡi kiếm liệng từ trên cao nhắm thẳng vào người chàng. Nhanh như cắt, chàng rút thanh kiếm đeo bên mình, giơ lên đỡ, lưỡi kiếm kia trơn quá rớt xuống đất, chạm qua tay chàng, hơi bị sầy da. Như cọp vồ mồi, chàng nhẩy xổ vào đám tối lôi tên thích khách đem ra ánh lửa đám cháy. Chàng hết sức kinh ngạc thấy tên mưu sát là một mụ đàn bà. Thằng Rỗ nhận ra mụ

đó, reo to:

– Chính mụ này hôm nọ cháu thấy ngồi uống với Tám Beo.

Chàng lẳng lặng không nói năng gì, nắm chặt cánh tay mụ. Mụ này cố hết sức giãy giụa, vặn vẹo người để thoát thân nhưng vô hiệu, tay chàng nắm chắc quá, khác nào như kìm cặp. Biết sức không sao gỡ nỗi bàn tay sắt, mụ ngửa người nhắm đúng hai con mắt Vương hổ tướng nhổ một bãi nước bọt.

Chưa có ai bao giờ dám nhục mạ chàng, dám cả gan nhổ vào mặt chàng. Chàng giơ thẳng tay tát mạnh vào mặt mụ, bàn tay chuối mắn của chàng in rõ năm đầu ngón tay trên má mụ đỏ ửng, chàng hét to:

– Đồ súc sinh, đã biết chưa?

Mụ đàn bà với giọng điệu gian giảo, hung độc the thé:

– Quân khốn nạn, bà muốn giết mày, bà định xé xác mày ra.

Chàng nắm chặt cánh tay mụ, nét mặt nghiêm nghị, đanh thép, chàng nói:

– Tao cũng biết mày định giết tao, may nhờ có thằng nhỏ, không giờ đây tao đã bị hại về tay mày.

Chàng kêu bọn lính, tìm quanh đó một chiếc dây thừng thật tốt, trói ghì mụ này lại, cột ở gốc cây gần cổng. Chàng để mụ này hãy tạm đứng đó, khi nào xong công việc sẽ đem ra trị tội.

Bọn lính được lệnh, ra sức trói thật chặt, mụ cố hết sức giẫy giụa, rách cả da thịt không sao gỡ được những vòng thừng siết quanh người. Mụ la hét, chửi rủa om sòm, văng nhiều câu cực kỳ thậm tệ, tục tĩu. Trói mụ xong, bọn lính

quay trở lại ăn uống, vơ vét của cải. Không nói một lời, chàng thủng thằng đi đi lại lại quanh chỗ mụ, mỗi lần ngang qua mặt, chàng để ý nhìn mụ. Chàng thấy lạ quá, mụ này còn trẻ lắm, mặt mũi khôi ngô, sáng sủa, đanh ác, trán rộng nhẵn bóng, hai mắt sắc sảo đang long lên vì uất hận, cho đến bây giờ đang bị uất khí, căm thù, bị trói buộc đau đớn, khuôn mặt vẫn còn thấy đẹp. Mỗi lần chàng đi qua mặt, mụ nhìn chòng chòng, chửi rủa nhổ vào chàng. Không để ý đến lời nguyền rủa, cử chỉ hỗn xược của mụ,  chàng vẫn thủng thẳng đi đi lại lại quanh chỗ mụ, trầmngâm suy nghĩ, lẳng lặng quan sát. Trời đã gần sáng, mụ bị trói từ khuya, ghì chặt quá, thân thể bị đau đớn, mỏi mệt, sức mụ chịu không nổi. Mụ không còn gào thét, chửi rủa như lúc đầu, mụ chỉ nhổ, một lúc sau đã kiệt, mụ cũng không còn nhổ được nữa. Lúc gần sáng thè lưỡi liếm đôi môi khô, mụ thổn thức van nài:

– Nới cho một chút, tôi đau quá.

Vương hổ tướng không để ý câu nói đó, sẽ nhếch mép  cười chua chát, chàng nghĩ đó chỉ là một mưu kế gì của mụ.Mỗi lần đi qua mặt mụ, mụ lại van nài, chàng làm như không nghe thấy, không trả lời. Một lúc sau, khi đi ngang, chàng thấy đầu mụ ngả về sau, đứng im không thấy cử động, nói năng, chàng không muốn lại gần sợ mụ bầy mưu để nhổ vào chàng, hay mụ mệt quá, hay giả vờ ngủ. Qua lại nhiều lần, vẫn thấy mụ đứng yên như thế, chàng sai thằng Rỗ đến gần mụ xem sao. Thằng Rỗ nắm cằm mụ, lật mặt lại xem, nó nhận thấy mụ đã ngất.

Vương hổ tướng lại gần, nhìn sát mặt mụ, dưới ánh lửa chập chờn, yếu ớt của mấy đám cháy gần tàn, chàng thấy khuôn mặt mụ lồ lộ càng tăng vẻ đẹp. Mụ này còn trẻ lắm chưa đến 25 tuổi, dáng điệu, nét mặt, không phải con một nông dân, một nhà tầm thường. Chàng càng thắc mắc, không hiểu mụ này là ai, người thế nào, ở đâu lạc loài đến đây, làm sao Tám Beo lại lấy được một người đàn bà thế này làm vợ. Chàng cho gọi một tên lính cắt dây trói ở cây, trói lại mụ nhưng nhẹ tay hơn, và không buộc vào cây nữa. Chàng cho đặt mụ nằm ở dưới đất, trời đã gần sáng, mụ vẫn nằm yên chưa tỉnh. Chàng cho gọi mấy người lính tâm phúc lại bảo:

– Trời đã sáng, chúng ta còn rất nhiều công việc khẩn cấp.

Đang cãi nhau, tranh giành nhau phần nhiều, phần ít, khi được lệnh tập trung, bọn lính kéo cả lại đứng trước mặt chàng. Lăm lăm khẩu súng nạp đạn sẵn trong tay, sẵn sàng nhả đạn vào kẻ nào bất tuân thượng lệnh, oai nghiêm, dõng dạc, chàng ra khẩu lệnh:

– Đem tập trung ở đây, tất cả súng ống, đạn dược đã lấy được trong sào huyệt Tám Beo, cái đó là phần riêng của ta.

Bọn lính răm rắp thi hành khẩu lệnh. Chàng đếm được tất cả một trăm hai mươi khẩu súng và một số lớn đạn dược. Có nhiều khẩu đã cũ, rỉ nát, kiểu xưa, chàng để riêng một chỗ để đem hủy khi nào có những khẩu mới thay thế. Trong cảnh hoang vu, tàn phá sào huyệt lâu la, bọn lính xếp vào ba lô đồ vặt, của cải vơ vét được, gói to, gói nhỏ đeo lên vai. Chàng đếm lại súng giao cho bọn lính tâm phúc trông nom, chuyển vận.

Xếp đặt xong công việc, chàng quay lại chỗ mụ đàn bà bị trói. Bây giờ mụ đã tỉnh, nằm sóng sượt dưới đất, hai mắt mở trừng trừng. Vương hổ tướng nhìn mụ, mụ nhìn lại với con mắt đầy vẻ uất giận, căm hờn.

Chàng thét hỏi:

– Mi là ai, nhà ở đâu? Ta cho người dẫn mi về.

Mụ không trả lời, lại nhổ vào chàng, tỏ vẻ khinh bỉ thách thức. Chàng bị khích nộ đến cực điểm, kêu hai tên lính bảo:

– Đi kiếm cho ta một cái đòn, khênh mụ này xuống Phủ đem nhốt nó lại, chỉ có thế nó mới chịu khai ra nó là ai?

Được lệnh, bọn lính luồn đòn qua những vòng dây quấn quanh người mụ, trói mụ giữa đòn, hai đầu đòn hai anh lính kề vai khênh. Bước thấp, bước cao theo đường mòn xuống núi, mụ bị trói nằm giữa đòn, theo nhịp bước của hai tên lính, người mụ bị lắc lư, chao đi lật lại.

Khi đã sửa soạn xong, mặt trời đã ló qua những vừng mây ở ngọn núi, Vương hổ tướng dẫn đầu bọn lính, theo đường độc đạo xuống núi.

Chàng không ngoảnh cổ lại một lần nào nhìn sào huyệt bọn lâu la, ở đấy hãy còn khói bốc mịt mù. Xuống đến chân núi, bọn này đi tắt qua cánh đồng kéo thẳng lên tỉnh. Chợt thấy đám người kỳ khôi này, nhất là hai tên lính khênh một mụ đàn bà trói treo giữa đòn, đầu lủng lẳng, mặt như mặt cáo, xám ngoét, khách bộ hành dừng bước đứng xem. Ai trông thấy cũng lạ lùng, sửng sốt, nhưng không ai dám hỏi bọn này ở đâu đến, mụ đàn bà kia là thế nào, vì ngộ lỡ ra lôi thôi đến mình chăng. Ai cũng có ý sợ, nhìn qua biết vậy, rảo bước lảng xa, không muốn liên lụy đến mình, còn công việc

hàng ngày. Mặt trời đã lên cao, bọn Vương hổ tướng đã đến đầu tỉnh.

Khi mấy người qua cổng tỉnh, anh lính tâm phúc, anh sứt môi, kéo chàng ra gốc cây cạnh cổng, ghé mồm sát vào tai chàng thì thầm tiếng nhỏ tiếng to như có một việc gì tối mật, cực kỳ quan trọng:

– Có một việc con cần phải thưa với chủ tướng, con nghĩ không nên dây dưa rắc rối với con mụ ấy, nó như mặt chồn,  hai con mắt nó rõ hai con mắt chồn, hạng nửa người, nửayêu, vô cùng hung dữ. Chủ tướng cứ mặc con, để con cho nó một nhát dao là êm chuyện.

Vương hổ tướng cũng có nghe nói hạng đàn bà, nửa người, nửa cáo có pháp thuật ám hại, xong chàng là một người dũng cảm, táo bạo, chàng phì cười và bảo:

– Người tôi không sợ, yêu ma cũng không cần, một mụ đàn bà sợ cái gì? Chàng vừa nói vừa lấy tay hất tay anh lính ra, chàng rảo bước đi lên để dẫn đầu.

Anh lính Sứt Môi lẽo đẽo theo sau, vừa đi vừa lẩm bẩm:

– Con mụ này còn kinh bằng mấy người, đúng là hồ ly tinh, trêu vào rồi lại chả có ngày.

Liêu trai

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 23 Jun 2025

Thoát được bát quái trận đồ, Ðằng Võ đứng nhìn căn nhà án lối. Vật đổi sao dời, cảnh sắc biến hóa, đường sá thay tên đổi họ, thiệt khó tìm. Mà cũng không chừng thằng lái xe ôm ưa trấn lột tiền bằng cách chạy vòng vo, thong thả phun khói xăng. Chóng mặt, say nắng.

Ðằng Võ bước vào sân, hơi choáng váng. Một người đang ôm bình tưới nước ngẩng mặt lên, án chừng dọ hỏi, đón đường.

– Có đúng là nhà của Kiếm Văn?

– Thưa phải.
Những cánh hoa đầm đià ướt át, lả lơi. Năm sáu loài khác nhau, ba bốn màu dị biệt. Hương thơm nhẹ thoảng. Nước rơi xuống, giọt đọng trên cánh hoa, giọt lăn vào đất, thẩm thấu. Người đàn bà nghỉ tay khi nước đã cạn trong bình. Y phục nhàu bẩn, dáng dấp quê mùa, tựa hồ một kẻ làm công.

– Nói cho Văn biết có ta từ ngàn dặm đến thăm.

– Xin đợi ở đây, tôi vào báo cáo.

Ðằng Võ chắp tay sau lưng, nhìn ngang liếc dọc cảnh vật. Dưới mái hiên có treo dãy lồng chim. Sơn ca, chích chòe, họa mi, hoàng yến thay phiên hoà âm. Tiếng cao tiếng thanh chen vai thích cánh, ngân nga giữa chiều đang dịu nắng. Hoa và chim. Vườn tược và cách bài trí. Ô hay, xem chừng như đây là nơi quan chức an hưởng tuổi già. Một kẻ giàu tiền của muốn ẩn dật vui thú điền viên?

– Trời đất ơi!

Một tiếng la. Nửa mừng vui, nửa thảng thốt. Kiếm Văn mang tiếng reo ra khỏi bậc thềm. Áo quần bảnh bao, mặt mày tươi nhuận, thần sắc khác thường.

– Về hồi nào? Sao không đưa tin cho đệ đi đón rước?

– Về ban trưa. Ta bao giờ cũng ưa mang đến sự bất ngờ.

– Than ôi! Bao nhiêu năm rồi? E đã có hơn mười mấy mùa lá rụng. Huynh thật đổi thay.

– Bậy. Trước sau ta vẫn vậy. Kiếm Văn mới là kẻ làm ta ngờ vực. Trong đầu ta không hình dung được cảnh trí này. Ðứng đây mà ngỡ ngàng, tưởng chân đi lạc vào gia trang kẻ khác.

– Thôi, chớ chơi nhau. Chớ làm tình làm tội nhau kiểu ấy.

– Ta mừng cho hiền hữu không hết sao lại bảo là chơi nhau? Ta vẫn tưởng kẻ ở lại quê nhà đứa nào cũng lam lũ chật vật. Ai mà dè!

– Cuối cùng huynh cũng quay đầu. Phú quý không về làng khác nào áo gấm đem mặc vào ban đêm. Hãy vào nhà, uống một chút men cay gọi là đánh dấu buổi sum vầy, mừng vui vô hạn.

Ðằng Võ đi theo Kiếm Văn. Nhà ba gian hai chái đã phá bỏ để xây cất theo kiểu hiện đại. Trường kỷ, tủ khảm xà cừ, bệ thờ ông bà tổ tiên đã dẹp mất, nhường chỗ cho bàn ghế gọn nhẹ in tuồng của Ikea. Mỹ thuật, hài hoà, sang cả. Ðằng Võ dòm qua, bật lên tiếng than:

– Ta mà phú quý gì. Sống lây lất xứ người lao động quần quật cũng chỉ vừa đủ miệng ăn. So ra, nhà ta bên đó không thể sánh được chốn này. Cuộc đời thật có nhiều cái khó hiểu!

– Thật sao? Khó hiểu lắm sao? Xuân vũ vô cao hạ, hoa chi hữu đoản trường.

Kiếm Văn xổ nho. Ðằng Võ ngã ngồi xuống ghế.

– Bàn tay có ngón ngắn ngón dài, nếu thế ta là ngón cái còn Kiếm Văn là ngón giữa chăng?

– Khẩu khí ấy thật không phải là của bọn Việt kiều. Nhưng thôi, hãy quên đi. Mọi thứ đều phù du, tình bạn là vạn tuế, đúng không?

– Ðúng mà sai. Ðừng cưỡng bức định nghĩa một thứ gì ráo. Ta đọc trên báo Công an, hằng hà sa số những vụ khó hiểu, đơn cử như con đâm cha mẹ những năm nhát dao chí mạng vì muốn làm chủ hai triệu đồng. Chuyện ấy nên hiểu sao cho thông lý suốt tình?

Bia Heineken được khui. Lon nhôm ướp lạnh, logo ngôi sao đỏ in bên ngoài vả mồ hôi, chảy nước mắt.

– Uống đi. Uống mừng mấy chục ngàn dặm kinh qua mà chẳng bị không tặc khủng bố, lành lặn hình hài về tới quê hương.

Ðằng Võ nghe lời, ngữa cổ nốc bia. Thoáng đọng trong con mắt, lung linh vẻ đẹp rạng ngời của một thiếu nữ thoát y. Ðặt lon bia xuống bàn, kéo vạt áo chùi kính cận thị, đeo lên lại và ngó chăm chú vô bức tranh sơn dầu khổ lớn treo ở góc tường. Danh họa nào đã tỉa tót vẽ nên một dáng dấp sống động, ngỡ như thật. Ngày xưa, ông quan tội nghiệp nào đi sứ sang Tàu đã đưa tay chụp bắt một con chim có trong bức tranh, chuyện đó e phải nên tin. Thực và giả, việc ấy chỉ có bọn nghệ nhân nghệ sĩ mới hiểu thấu tường tận.

– Có đẹp chăng? Kiếm Văn rung đùi.

– Ðẹp. Ðẹp lắm. Ðằng Võ chớp mắt.

– Người hay tranh?

Ðằng Võ nheo nheo hai con mắt. Lông, tóc, mông, ngực, eo, đùi. Ðầu, mình và tứ chi thảy đều mượt mà, không tì vết. Thậm chí nốt ruồi cũng chẳng đậu được một hột đen.

– Sao lại hỏi thế? Sao lại treo cái báu vật đó giữa nơi này? Hội họa có được hiểu là một thứ để khiêu dâm không? Treo lên để trắc nghiệm lòng người chăng?

– Ngôn từ nọ có đúng lại có sai. Thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật mà lòng gợn tà ý thì ắt rằng kẻ đó chẳng phải là bạn của Văn này. Sao, từ thuở làm kiếp ăn nhờ ở đậu huynh có còn xắn tay áo lao vào cuộc chơi giỡn màu vọc cọ?

– Than ôi! Võ này ví như cây quýt bị bứng trồng ở nơi hiểm địa. Chua lè, đắng chát. Sinh lực tiêu hao, ta chẳng còn thiết để tâm vào một việc làm nào cả.

– Uổng thay! Phí thay! Thảng hoặc lòng có dấy lên chút nỗi niềm hối hận?

– Hối hận chuyện gì?

– Chuyện bỏ trốn đất cha làm thân lưu lạc.

– Bậy. Ta sống còn tới hôm nay là nhờ mau chân. Làm con rùa rút cổ ở lại thì e hồn du địa phủ lâu rồi. Thôi, đừng khơi chuyện cũ, mất vui. Ta về hôm nay mọi vật tuồng như đã khác trước?

– Phải.” Hãy lau khô nước mắt đi em, vết thương hôm qua sẽ thành sẹo”.

– Thơ của Kiếm Văn?

– Không dám đâu. Tuyên ngôn của một kẻ đại thần.

– Ðổi khác không có nghĩa là vết thương đã thành sẹo. Diện mạo này tuy bề ngoài hoa hoè hoa sói nhưng bên trong chừng như nhiễm độc trầm kha. Nghe đâu nuôi dưỡng vi trùng vô số kể.

– Sida là bệnh ngoài da, mười năm mới chết thì ta sợ gì.

– Lần này thì đúng là lục bát của Kiếm Văn?

– Ðấy là quan niệm sống của chị em ta. Văn này tuyệt không đủ sức để sáng tác một câu xuất thần tựa thế.

– Vậy chớ hiền hữu làm quỉ chi mà một tay gầy dựng nên cơ ngơi to tát đến dường này?

– Ðêm nay hãy nán lại tệ xá, chúng ta nằm gát chân lên nhau mà hàn huyên bao chuyện đổi dời.

– Nói cũng đúng.

– Về ở lâu mau?

– Ta không có hoạch định chương trình. Dài lâu hay ngắn hạn đều tuỳ vào lòng người, lệ thuộc cảnh vật. Thành tâm mà nói mọi thứ ở đây tuồng đã thờ ơ lạnh nhạt với ta, như không có giây mơ rễ má nào liên hệ với nhau. Ác cảm. Ngay phút ban đầu đặt chân xuống đất mẹ cũng phải bị nộp tiền mãi lộ mới được hanh thông chuyện đi đứng. Ôi, ta vẫn ngỡ bọn thảo khấu Lương sơn bạt chỉ có trong võ hiệp kỳ tình giả tưởng mà thôi!

– Cha mẹ ôi! Bơ sữa của bọn đế quốc đã đầu độc huynh mất rồi! Sao lại phát ngôn linh tinh ra thế? Nhập gia thì phải tuỳ tục.

Ðằng Võ chưa phản ứng chợt có tiếng chuông ré lên. Trong túi áo Kiếm Văn dấu gọn cái vật phát tiếng thúc bách ấy. Cầm điện thoại di động nhỏ tựa một cái tai heo, Kiếm Văn áp nó vào má và sắc diện luôn thay đổi khi đón nghe lời nhắn nhủ thì thầm.

– Thật là đường đột. Xin thứ lỗi, đệ có chuyện khẩn phải đi ngay. Huynh cứ ngồi yên vị mà nhấm nháp, thoải mái tựa đang ở nhà mình. Thu xếp công việc xong đệ sẽ giỏi chân trở về và chúng mình kéo nhau đi nhà hàng đặc sản cao cấp đánh chén.

Xe gắn máy đời mới sản xuất ở nước đàn anh Trung quốc vĩ đại từ nhà sau được dắt ra. Máy nổ dòn, Kiếm Văn leo lên yên.

– Nhớ nhé, chớ buồn chân đi thơ thẩn mà lạc mất nhau. Ði đái đi ỉa thì cứ tỉnh bơ lui nhà sau xả bầu tâm sự.

– Ðược. Ta đợi. Tám giờ tối là hạn cuối.

– Quân tử nhất ngôn.

– Ðinh mười phân đóng chặt vào gỗ.

Xe hai bánh phun khói lại ở sân mang bóng hình Kiếm Văn vụt mất như gió thoảng. Ðằng Võ khui thêm bia, mặt đỏ ké và lò dò tới đối mặt với tấm tranh. Thiếu nữ đứng trần truồng bất động ấy khoảng tuổi đôi mươi, tuy bị dát mỏng hình hài trên mặt bố phẳng nhưng Ðằng Võ cũng mường tượng ra những vùng thịt sung mãn nhô ra ngoài. Tràn đầy, căng cứng. Bắt chước tiền nhân, Ðằng Võ cũng thò tay sờ nắn thử. Nếu ta làm chủ được xác thân kia thì những đứa bạn mà ta kết giao đều phải có lý lịch là thái giám trong sạch, ba đời không nuôi chim, đảng viên đảng dị ứng đàn bà. Ý nghĩ ấy làm Ðằng Võ mắc đái, vén màn vải in hình chùa Một cột lui gian nhà sau. Chạng vạng ngoài trời và tù mù phòng vệ sinh ám tối. Bước chân thôi dọ dẫm khi ngọn đèn néon xanh tái mở bừng con mắt trên đầu Ðằng Võ. Có tiếng cười nhẹ sau lưng.

– Công tắc đèn nằm đây chứ nào phải bắt ở đó mà đưa tay sờ soạng.

Ðằng Võ quay đầu, sững sờ tới độ chẳng rút được bàn tay đang mân mê những hạt nút vừa cởi ở quần. Giống như chuyện liêu trai, người vừa gióng tiếng giễu cợt đó là một thiếu nữ mặt hoa da phấn. Cô đã sống động từ bức tranh bước ra, không quên mặc vào người bộ đồ ngủ bằng hàng lụa mỏng. Ðược ôm con ma ấy vào lòng có chết cũng cam, vì vậy Ðằng Võ chẳng chút hãi sợ, nao núng. Nói cho khoa học biện chứng, bia trong người Võ đã trao cho Võ sự can đảm. Ðồng thời nó có vẻ xúi dục Võ, khích lệ một cuc tổng tấn công. Tiền pháo hậu xung, lấy thịt đè người. Ôi, nhà thì quạnh quẽ mà nhà ấy lại chứa độc có cảnh trai đơn gái chiếc. Cái ấy là ý nghĩ sáng suốt của ta chứ không phải do bia Heineken xúi dại.

– Võ này lưu lạc đã lâu, đi đã gần cùng khắp mọi chốn nhưng thề với em ta chưa từng gặp ai mang thứ nhan sắc diễm tuyệt như em đang có. Phút đầu, khi ngó lên bức tranh, lòng ta đã thoáng giao động, nhuốm mùi tục lụy sững sờ. Nói cho ta biết em tên chi? Nhắc nhở cho ta hay đây là hiện thực mà không hề là mộng ảo.

Áo lụa mỏng di chuyển lại gần, êm ái, thướt tha.

– Sao lại mộng mị, sao lại hoang đường? Khi ngắm tranh, Kiếm Văn không giới thiệu qua cho anh rõ à? Em là Quỳnh Hoa. Và chúng ta đang ở đời thường.

Khứu giác Võ đánh hơi, cánh mũi Võ phập phồng. Quả nhiên từ người con gái không ngừng xô dạt tới một hương mùi kín đáo. Nó không hẳn là mùi Dove, Camay; lại càng không ra mùi xà phòng Chà và, Cô Ba, trầm, bồ kết do ni địa sản xuất 72 phần dầu. Ðích thị đây là mùi thanh tân của một đứa con gái vừa đi qua cánh cửa vị thành niên, mùi hoa quỳnh oằn thân khai hoa nở nhụy kín đáo giữa đêm thâu. Âm thầm, ngây ngất.

– Nãy giờ em trốn nơi mô mà ta không hề thấy qua?

– Em bận tắm. Em bận vốc nước kỳ cọ rửa ráy, em lau mình lau mẩy. Kiếm Văn thông báo: Hôm nay nhà ta có khách quý. Không có gì quý hơn… ông khách Việt kiều.

– Mà này, ta cũng hơi sơ ý. Liên hệ giữa em và bạn ta ra sao? Biết trước để khỏi mang tội sàm sỡ. Bà con xa? Láng giềng gần? Hay thê nhi, tì thiếp?

– Trật tuốt luốt. Gọi sư huynh cũng đúng mà nói Kiếm Văn từng là ân nhân của em cũng chẳng sai.

Ðằng Võ nhìn mặt mũi, ngó tay chân, quan sát thân hình Quỳnh Hoa. Rõ ràng người với tranh tuy hai mà một, như chị em sinh đôi, như hai giọt nước. Hoa nhường nguyệt thẹn.

– Thằng họa sĩ nào cũng khá mát tay!

– Xưa nay em nghe đời gọi là bác sĩ mát tay, thi sĩ mát giây, chứ chưa bao giờ nghe tới họa sĩ có đôi tay thiệt mát.

– Không mát thì nóng, không sạch thì bẩn; cái đáng nói là thành quả: Nó đã lột tả hết nét đẹp mà em có. Kiếm Văn quả là kẻ biết nhìn người, khéo chọn lựa.

– Ngó dậy mà hổng phải dậy!

– Tại sao vậy cà?

– Anh còn nhớ trò chơi tìm ra bảy điểm khác biệt thường in trên báo không?

– Nhớ, thời xưa ta rất ưa chơi trò đó. Họ đặt hai hình vẽ tựa nhau nằm kề cận để thử nghiệm cặp mắt mình. Bên này ba cành hoa bên kia chỉ có hai. Ông sói tóc này có ba sợi, hình kia thì đầu lại mọc thêm sợi thứ tư…

– Bức tranh treo ngoài kia và em cũng có vài điểm dị biệt.

– Tranh thì hoàn hảo lắm rồi, chẳng lẽ em lại trách cứ lão họa sĩ không chịu triển khai hết vẻ đẹp thầm kín trên người em?

– Với đôi mắt của một kẻ tầm thường, người nào cũng phát hiện ra sự khác biệt ấy.

Bàn tay Quỳnh Hoa đưa lên lần cởi nút áo. Bụng dưới căng cứng, Ðằng Võ như người đứng trên lửa.

– Khoan, xin em hãy đợi.

– Chuyện gì?

– Ta linh cảm như có điều bất thường đang rình rập.

– Anh có muốn đi đái thì cứ nói trắng ra. Ðái cho nhẹ người, điều bất thường đang rình rập kia sẽ trôi ra ống cống.

– Phải. Ta sẽ đái nhưng chưa chắc là ta sẽ nhẹ người. Kiếm Văn trở về bất ngờ và ta sẽ nói sao với nó đây? Giang hồ đã từng coi thường bọn Việt kiều như ta. Dỏm, hồi hộp, Việt gian… đủ các thứ gán ghép.

– Anh thì khác, dưới mắt em anh là đồ xịn. Còn Kiếm Văn? Một kẻ đi hẹn hò với nhân tình nhân ngải thì hắn ta đâu có dễ mau chân rời bỏ hiện trường. Lại nữa giờ này đang cao điểm, tất phải bị ùn tắc giao thông. E phải tới tám giờ tối chàng ta mới phờ phạc trở về, đến hẹn lại lên.

– Ùn tắc giao thông?

– Bị kẹt xe đó, không hiểu à?

– Fuck. Mẹ rượt! Ðằng Võ chửi thầm. Rắc rối hơn cả tiếng tây tiếng u.

Hạt nút cuối cùng thoát khỏi khuy, hai tà lay động như màn voan treo trước cửa phòng the run rẩy gió. Da thịt trắng ngần, phơi bày từ bán phần đến toàn phần. Nụ hồng lấp ló. Ðằng Võ nuốt nước bọt. Quỉ thật, tu bia có đến cả lít vậy mà nó đã bốc hơi đi đâu? Khô khan, bỏng rát. Thèm ăn chùng một trái dừa tươi biết mấy! Thèm uống vụng một bầu sữa ngọt vô cùng!

– Khoan…

– Nữa, lại hò rồi khoan. Sao anh cắc cớ quá chừng chừng!

– Ta không phải hạng trẻ người non dạ. Thực ra thì em đang nuôi dưỡng một âm mưu gì?

– Em sợ và em ghét chữ âm mưu vô hạn. Âm mưu vượt biên, âm mưu bôi bác chế độ, âm mưu chống đối chính quyền. Ðừng đổ oan vào lòng thơ ngây này bằng cụm từ khó nghe đó.

– Ta cũng ghét câu như chim vào lồng như cá cắn câu. Bác Hồ cũng từng làm thơ răn đe: “Ðau khổ chi bằng mất tự do, đến buồn đi ỉa cũng không cho!”

– Ỉa đái gì thì làm lẹ lên. Có ai cấm cản đâu?

– Võ này đâu phải hạng phàm phu tục tử. Ta phải biết thu dấu của quý trước mặt chị em phụ nữ.

– Thôi, để khỏi mất thời giờ vô lối em đành thưa thốt đôi điều để xua tan sự dị nghị có ở anh.

– Phải. Sáng sủa bao giờ cũng hơn mờ ám. Em cứ nói thật, nếu được không chừng ta sẽ dốc lòng vui vẻ giúp em ít nhiều.

Chiếc áo được cởi ra. Quỳnh Hoa để mặc cho nó rơi nhẹ xuống đất. Cô xoay người lại.

– Anh thấy gì không?

– Em cảm cúm hay em bị trúng gió?

– Kiếm Văn đánh em bằng roi mây đó.

– Bậy. Không phải có người đã cạo gió cho em sao? Sau lưng hằn đỏ hình xương cá.

– Ở ngực thì sao, có ai lại cạo gió nơi vú bao giờ?

– Trời đất! Kiếm Văn bạn ta sao lại nhẫn tâm đến thế.

– Ðể em cởi quần cho anh xem những thương tích bên dưới. Em và bức tranh không hề là bóng với hình. Nếu có, một bên đã là quá khứ, một bên là hiện tại thương đau. Khác, khác xa.

– Dập liễu vùi hoa! Không thương hoa tiếc ngọc. Bậy, bậy thật!

– Anh nói sao?

– Không. Ta thật ái ngại. Cho em và cho ta.

– Xin anh hãy thương em.

– Thương yêu có năm bảy đường. Em muốn ta tỏ bày bằng cách gì?

– Em sợ bị tù đày chốn này rồi. Hãy mang em cao chạy xa bay. Ơn cứu tử ấy em nguyện làm thân tôi mọi để đền đáp.

– Nhưng mà…

– Nhưng mà để tỏ thành tâm, trước tiên em xin được hiến dâng, ngay từ giờ phút này.

Ðằng Võ tần ngần, mặt khờ khạo tuồng như suy nghĩ lao lung.

– Cơ hi chỉ tới với chúng ta lần này thôi. Dùng dằng, thắc mắc, toan tính thì sẽ hỏng việc. Cho anh hai phút, em ra khoá lại cửa nẻo.

Quỳnh Hoa bước đi và Ðằng Võ tranh thủ đứng đái, bộ tịch bấn loạn, rùng mình mấy bận.

– Khi tới đây anh có trông thấy dãy lồng chim không?

– Thấy. Có chi đặc biệt?

– Những que những cành trong lồng đều có bao quanh ở ngoài bằng giấy nhám.

– Chi vậy?

– Ðể móng chim được mài sắc, để mỏ chim gạt vào dần dà sẽ bén ngọt tựa lưỡi kéo.

– Ta thực không hiểu.

– Nếu nó tấn công địch thủ vì ghen ghét tiếng hót thì nó sẽ chóng thắng trận trong vẻ vang. Dập tắt bài ca sinh tồn của giống khác.

– Ai bày ra trò hiểm độc ấy?

– Dạo này đang có cao trào mang chim đi uống cà phê, học mót từ phim ảnh Tàu. Con chim nào lỡ chết sau màn đấu nhau, khổ chủ sẽ có đó làm mồi đưa cay. Nhậu chim nướng rất bắt. Trước giải trí sau được bồi dưỡng. Kiếm Văn rất thú vị chuyện đó. Chữ hiểm độc là do anh nói, vậy thì anh đã tin những thương tích có trên người em chưa? Anh hôn hít đi, đâu có mùi khuynh diệp mùi dầu cù là mà bảo là cạo gió.

– Phải, ngó tướng em sung, đúng là kẻ không bao giờ biết cảm mạo xâm xoàng. Ta mới là đứa đang cần xức dầu nhị thiên đường.

– Chi vậy?

– Một, ta đã say bia. Hai, ta đã say em. Than ôi, người đâu gặp gỡ làm chi..!

– Ðằng này có cái futon, anh tạm ngã lưng và chúng ta ký kết một hợp đồng.

– Ký kết hợp đồng? Em ơi, ta sợ nhất là câu “bút sa gà chết”.

– Chỉ là một cách nói đã quen mồm. Như thế này nhé, anh hãy ăn tươi nuốt sống lấy em rồi sau đó mang em tới một phương trời cao rộng khác.

Quỳnh Hoa đưa tay ôm eo diù đỡ Ðằng Võ đi. Thân nhiệt giao hoà, chân cẳng va chạm, vướng víu như Lăng ba vi bộ. Một bên tỉnh táo ngửi thấy mùi bia nồng vướng trong hơi thở gấp. Một bên mù lòa ngửi ra mùi thơm của một thứ trái cây dấu chín trong hủ gạo. Ðằng Võ không gian dối, quả tình hắn đang say. Trôi nổi đã lâu, đây là lần đầu hắn đối mặt với một sự cố khẩn trương, đột xuất, hồ hởi phấn khởi, vân vân và vân vân. Phải về quê hương mới bắt gặp, mới đăng ký được cái cảm giác lạ lùng nọ. Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn. Quái đản thật! Ăn ở thiếu vệ sinh. Biết bùn lầy nước đục mà cũng nhắm mắt lao đầu xuống. Chuyện nấu nướng bếp núc cũng thế, ai đời mà nó bảo mình hãy ăn tươi nuốt sống lấy nó!

Gương cận thị được lấy ra bởi đôi tay lụa là của người trong tranh. Năm ngón cởi áo, mười ngón cởi quần, xuống tận cùng là cởi giày lột vớ. Trần như nhộng. Con tằm cựa quậy đòi ăn lá dâu. Ðằng Võ nhìn Quỳnh Hoa, ngó sự vật bằng nhãn quang của một kẻ lâu ngày không về thăm thôn Vỹ, để thấy “da” em trắng quá nhìn không ra, mơ hồ có vết lọ nồi bôi đen ở đâu đó, rất sương khói. Chẳng cần là pháo binh, Ðằng Võ cứ xem vệt đen kia tựa một điểm đã chấm tọa độ. “Này anh bạn đồng đội… Hãy rót cho khéo nhé kẻo nhầm nhà tôi…”. “Ôi, đường ra trận mùa này đẹp lắm…Trường sơn đông leo lên trường sơn tây”. Ðang loay hoay sửa soạn, đang chuẩn bị hô xung phong thì cánh cửa bên hông nhà mở rộng, thảng thốt, chết điếng, trăng treo đầu súng nguội lạnh.

– Mẹ kiếp. Tao mà về trễ chừng nửa giờ thì đôi gian phu dâm phụ này đã bê nguyên cặp sừng tê giác đặt trên đầu thằng Kiếm Văn này rồi. Hãy vào đây mà coi, mà chứng giám cho nỗi đau của một kẻ bị bạn thân chơi khăm. Chú phỉnh tôi rồi chính phủ ơi!

Kiếm Văn đứng chống nạnh giữa gian nhà, mặt mày tựa rắn hổ đang phồng mang trợn mắt. Có một kẻ đi sau lưng và kẻ đó vừa đóng chặt cánh cửa lại. Kiếm Văn đằng hắng:

– Thưa anh, tôi mời anh về đây cốt là để nhậu nhẹt khuya nay, sau nữa là tôi muốn thông báo cùng anh tôi có đứa bạn phương xa về thăm nhà, xin được đăng ký tạm trú ít hôm. Vậy đó, vậy mà tưởng vui vẻ cả làng, ngờ đâu lại diễn ra thảm trạng này. Ôi bạn hiền! Ôi vợ quý! Xin anh hãy lấy công đạo mà xử lý giùm, đời Kiếm Văn này chưa bao giờ đau đớn tợ hôm nay!

Ðằng Võ vội vã tròng lại y phục vào người, lóng cóng nhặt tìm được cặp kính cận. Ô hay, sao Quỳnh Hoa vẫn thần sắc rạng ngời như thế? Nàng tuyệt không chút mảy may sợ sệt, mắc cở. Ta, thân đại trượng phu, có lý nào lại tệ hại chết đứng như Từ Hải?

– Tang chứng vật chứng rành rành. Anh kia, còn lời gì để nói? Tôi, công an khu vực, xin mời anh về đồn nghiêm chỉnh thi hành pháp luật nhà nước không khoan nhượng.

– Nghe đồn nghe bót thì bản thân tôi cũng sợ hãi huống chi bạn tôi từ nước ngoài ngày đầu về thăm thú.

Kiếm Văn phát biểu cảm tưởng. Kẻ tự nhận là công an lên giọng, gần như reo hò:

– A. Việt kiều đấy hở? Vậy thì để ông chơi theo kiểu Việt kiều. Ðánh điện thư về bển kêu họ hàng thân thích sang mà kíp lãnh ra. Nhà nước không sẵn cơm nuôi béo những hạng vô đạo đức như ngươi.

– Xin anh khoan hồng, chớ bắt giam tù ti. Chuyện nội bộ, xin phép cho chúng tôi được giàn xếp riêng tư. Hoa, em sớm mời anh Bảy đây một lon bia, uống để hạ hỏa.

Lạ. Roi mây đâu? Sao không mang ra quất con nha đầu đĩ thỏa kia một vài lằn ngang dọc? Khiếp, chúng đó đóng tuồng tự biên tự diễn hay sao? Thế còn thằng mặt xanh mày lả mặc thường phục nói sôi bọt mép kia? Công an thật ư? Chẳng thấy súng ống dây dợ nhưng cốt cách bặm trợn ấy chắc đúng là đầy tớ của nhân dân. Tiến thối lưỡng nan, tình thế khó xử, tứ bề thọ địch, miệng ngậm như hến. Ðằng Võ ngồi co rúm trên futon, mặt mày rã rượi, tỉnh rượu muộn phiền.

– Rượu mời không uống lại đi uống rượu phạt. Thôi, nói năng chi cũng bằng thừa, mày hãy cuốn gói mà trốn khỏi nhà tao. Kiếm Văn vô phúc lỡ giao du với một thứ bạn khốn nạn. Kinh nghiệm này đời sau vẫn còn khắc ghi!

Kiếm Văn nói, tự động đến mở rộng cánh cửa, mặt lạnh như tiền. Hắn cư xử rất mực đàng hoàng, chẳng có biểu lộ sự ghen tuông nóng nảy quá đáng. Thong dong độ lượng y như quân tử Tàu.

– Ta thật có lỗi, ta thật nhẹ dạ, ta những mong mang được niềm vui đến cho Quỳnh Hoa…

– Ðừng rườm lời. Mày cút ngay, hãy nhớ cái địa chỉ này để bận sau chớ xớ rớ trở lui. Anh Bảy công an đây chỉ niệm tình tha thứ duy một lần này thôi.

– Ðâu có được. Người ta rộng lòng cũng chỉ ở một chừng mực nào đó thôi. Hắn ra về mà người lành lặn không rụng một sợi lông thì e quý vị đã coi thường sự có mặt của Bảy này mất rồi.

– Vậy chớ anh hai muốn chi?

Ðằng Võ xuống giọng. Ông công an xấn tới gần.

– Bảy này một lời nói ra bốn ngựa khó kéo. Ta muốn giữ của ngươi cái đồng hồ đeo tay không người lái để làm vật kỷ niệm, có được chăng?

Nhẹ nhàng quá, tưởng gì ghê gớm hơn. Ðằng Võ cởi chiếc đồng hồ Thụy sĩ giá tám trăm đô ra khỏi cổ tay. Mẹ kiếp, kinh nghiệm lần sau về thăm nhà nên đeo đồng hồ nhựa giá bảy đồng tính luôn cả thuế. Sự hào nhoáng nào cũng là con dao hai lưỡi cả. Nó cứa vào rut, quặn thắt. Vĩnh biệt nhé, Oméga. Vật ở lại giùm, cho người đi êm thắm.

Bảy đeo vào tay, săm soi.

– Ðồ dỏm hả mày, sao kim chỉ giờ giấc lung tung bấn loạn cả lên?

– Thưa anh, giờ ấy là giờ ở một đất nước xa xôi chứ không phải giờ của tổ quốc giàu mạnh mến yêu này. Bản thân chiếc đồng hồ nọ thì lao động rất xuất sắc, trong sáu năm trời nó chỉ sai lệch có hai giây thôi.

– Ðược, trông vừa vặn bắt mắt như chính tao đi lựa mua. Tao tha mày đấy, về lại xứ vật chất cặn bã ấy nhớ cho tao gửi lời hỏi thăm đồng bào mình.

Cánh cửa đóng đùng một tiếng, như sấm nổ giữa trời giông. Hú hồn, phước đức ông bà để lại. Ðằng Võ lau mồ hôi trán, phố phường lên đèn, rậm rật mọi thứ tiếng động lan tràn luồn chảy. Ta vẫn bình yên và đời này vẫn đập hối hả nhịp tim thời buổi mở cửa kinh tế thị trường. Những bảng hiệu sáng đèn toàn tiếng Tây tiếng u nhấp nháy chào mời, dân vô học ngó qua e phải gầm đầu cắn lưỡi tự tử. Những người cỡi xe gắn máy chạy tán loạn như bị ma rượt, họ mang kính dâm, đeo khẩu trang, găng tay lên thấu nách như thể Ninja; như thể chuẩn bị đánh cướp nhà băng một vố to. Thiệt gay cấn, khó nhìn rõ mặt, vô phương nhận đoán ai là đầu đảng, ai cảm tình viên, ai tòng phạm, ai vô can, ai con nhà lành. Xêm xêm cá mè một lứa.

Người đàn bà đợi Ðằng Võ thất thểu đi ra tới đường cái mới đóng cửa sắt, bóp chặt ổ khóa. Bà trở vào nhà đưa trả Kiếm Văn máy điện thoại di động.

– Thím Ba cầm đỡ năm chục mà chi viện cho dượng dưới quê. Lần sau nhớ gọi tôi sớm sủa một chút, chậm hơn hồi nãy vài phút không khéo thằng đó đã đánh du kích em Hoa tới tả tơi.

– Xì, anh khinh thường em cũng vừa phải thôi. Hắn du kích thì em giao liên, em dẫn cho đi lòng vòng thì hắn biết đường mô mà mò.

– Ðấy, phần em hai trăm. Còn thằng Bảy, tao giữ phần mày ở đây, đưa bây giờ thì mày lại cúng hết vào mục chích choác.

– Ảnh có cái đổng xịn rồi, nghèo mà ham! Lần sau có nhập vai công an thì nhớ bỏ bộ mặt đang đói thuốc kia ra kẻo rách việc.

– Ðược, tớ không lấy tiền, nhưng đã lập ra công ty thì xin cứ thông báo sự thật cho tớ mừng lây thành quả.

Quỳnh Hoa ngó Kiếm Văn, cô nhét tiền mới được chia vô xú-chiêng chật chội.

– Trong bóp hắn có tất cả là tám trăm bảy mươi lăm đô. Tui đã cẩn thận rà soát thắt lưng, sờ nắn chiếc quần xì-líp, thậm chí còn thử xỏ chân vô giày hắn nhưng không phát hiện vật thu dấu. Thằng đó chắc thuộc thành phần vô sản bần cố nông. Ðánh trận này thiệt chưa đã.

Bảy hỏi giờ rồi vặn kim đồng hồ, điều chỉnh phút giây:

– Hắn là bạn cũ của ông thật sao?

– Sao lại có chuyện giả vào đó? Hắn vượt biển lần thứ tư mới được trót lọt. Mẹ cha nó, nhớ lại có lần hắn bắt tao ngồi chờ ở bãi bốc đến trắng con mắt, thiếu đường bị muỗi tha đi, nhức nhối tới đ thấy ông bà ông vải luôn.

– Thôi, anh lo lên chương trình đãi đằng em và anh Bảy là vừa, ở đó mà nói chuyện xưa tích cũ.

– Em ăn nói vậy là thiếu chất xám. Cái này người ta gọi là ôn cố tri tân. Nghĩ lại, ta đây thật hối hận.

– Anh hối hận điều gì?

– Phải mà hồi đó ta giao du kết bạn cho nhiều thì giờ này đã ngồi không mà ăn bát vàng.

– Thật không đó cha. Còn công sức con Hoa này thì bỏ cho chó ăn hay sao?

– Ừ nhỉ. Em là số một. Làm sao ta có thể phụ em. Cái đó thì em đã đi guốc trong bụng ta rồi, chẳng cần thề thốt. Kế mỹ nhân bao giờ cũng lợi hại. Ðêm nay ta nguyện tắm táp sạch sẽ, ra giữa trời đốt hương khấn vái cao xanh, rằng xin cho em được giữ mãi nhan sắc ấy, xin cho thân thể em mãi được phì nhiêu núi đồi căng cứng.

– Làm chi có trời đất, làm gì có thần linh. Ðừng bắt em đi khách cho Tây ba-lô thì thân xác này sẽ không sớm bị xộc xệch. Cái ấy là chân lý.

– Em nói chí phải. Và chân lý thì ngàn năm không đổi.

Nói xong Kiếm Văn ôm Quỳnh Hoa vào lòng, điệu bộ như cưng trứng hứng hoa, cực kỳ âu yếm, cẩn trọng dịu dàng. Nàng quả là con gà đẻ trứng vàng, là cánh cửa hữu nghị rộng mở chào đón mấy anh khúc ruột từ ngàn dặm đi lơ ngơ về nộp mạng. Bộ nội vụ mà thuê được nàng làm công an chìm, làm gián điệp, thì đất nước ngày mỗi phồn vinh, kẻ thù sừng sỏ nào cũng đánh thắng. Than ôi! Mấy sếp lớn không biết dụng binh, chẳng có mắt nhìn người, thua xa một mình Kiếm Văn này vậy!

Hồ Đình Nghiêm

Người lính về từ chiến trường

baotreonline.com

Như Sao

September 13th, 2024

Post by Sơn râu 23 Jun 2025

Gia đình tôi có một giai thoại mà cha tôi thường kể cho chúng tôi nghe. Đó là câu chuyện về bà nội tôi.

Năm 1949, cha tôi trở về nhà sau chiến tranh. Trên mọi nẻo đường khắp nước Mỹ, bạn có thể thấy những người lính đang xin đi nhờ xe để trở về với gia đình mình. Chuyện đó đã trở thành chuyện bình thường ở Mỹ lúc bấy giờ.

Không may là, niềm vui sướng được trở về đoàn tụ với gia đình của cha tôi nhanh chóng lụi tàn. Bà nội tôi bị bệnh rất nặng phải đưa vào bệnh viện. Thận của bà có vấn đề. Bác sĩ nói, bà phải được truyền máu ngay nếu không sẽ không qua khỏi đêm nay. Vấn đề là ở chỗ, máu của bà nội thuộc nhóm AB-, một lọai máu cho đến ngày nay vẫn còn rất hiếm chứ đừng nói gì đến thời đó, cái thời mà chưa có các ngân hàng máu hay các chuyến bay phục vụ cho công tác y tế. Tất cả mọi người trong gia đình đều đến làm xét nghiệm, nhưng chẳng ai có nhóm máu giống bà. Không còn hy vọng gì nữa, bà nội đang hấp hối.

Cha tôi rời bệnh viện mà nước mắt ròng ròng. Ông phải đi đón mọi người trong gia đình đến để nói lời chia tay với bà nội. Đang đi trên đường, cha tôi gặp một người lính đang vẫy tay xin đi quá giang về nhà. Đang buồn như thế, cha tôi chẳng còn tâm trí đâu mà đi giúp người khác. Nhưng, dường như có một sức mạnh nào đó khiến ông dừng xe lại cho người lạ mặt đó bước lên xe.

Trong lúc tâm trạng rối bời, cha cũng chẳng thèm hỏi xem người lính đó tên là gì, nhưng khi vừa lên xe ông ta đã nhìn thấy những giọt nước mắt của cha và hỏi xem chuyện gì đã xảy ra. Qua dòng nước mắt, cha tôi kể cho người lính xa lạ nghe chuyện mẹ mình đang nằm chờ chết trong bệnh viện vì bác sĩ không thể nào tìm ra người có nhóm máu AB- giống như bà. Và nếu họ không tìm được trước đêm nay, bà chắc chắn sẽ chết.

Không khí trong xe chợt chùng xuống. Rồi người lính xa lạ đưa tay mình cho cha tôi, lòng bàn tay xòe ra. Nằm gọn trong lòng bàn tay ông là một chiếc thẻ bài ông vừa tháo trên cổ mình xuống, trên đó ghi: nhóm máu AB-. Rồi người lính nọ bảo cha tôi quành xe trở lại, đưa ông đến bệnh viện.

Bà nội tôi sống thêm đến 47 năm nữa. Thế nhưng, cho đến tận bây giờ, cả gia đình tôi không một ai biết tên người lính đó. Cha tôi vẫn thường tự hỏi, liệu người đàn ông đó có phải là một quân nhân hay chính là một thiên thần trong trang phục người lính?

Bảo Huân Microsoft AI

NS (Chicken Soup for The Soul)

Xe điện Aptera

baotreonline.com

Bảo Sơn

Post on March 2nd, 2024

Post by Sơn râu 23 Jun 2025

Mặc dầu có nhiều ý kiến trái chiều về xe chạy bằng điện, nhưng ai cũng phải công nhận rằng xe điện chạy êm hơn và không gây ô nhiễm. Vấn đề hiện nay là hệ thống sạc điện không phổ biến và thời gian sạc quá lâu.

Một hãng sản xuất xe điện ở California mới đây đã hoàn tất loại xe điện rất nhẹ với thân xe được trang bị pin mặt trời để xe tự sạc. Xe có hai chỗ ngồi, 3 bánh và mỗi bánh được gắn động cơ điện, có thể chạy tới 100mph. Một  pin điện đủ chạy 400 miles (643km) cho mỗi lần sạc. Nếu không phải đi xa, riêng pin điện mặt trời cung cấp đủ điện để chạy được 45 miles (72km) cho việc đi làm hàng ngày hoàn toàn không cần cắm điện.

Đã có 2,000 người đã trả tiền đặt mua loại xe này cùng với 46,000 người khác đã đặt cọc mua. Xe được bán với giá $33,200.

Máy chiếu phim lên trần nhà

baotreonline.com

Bảo Sơn

August 30th, 2024

Post by Sơn râu 23 Jun 2025

Kỹ thuật về TV đã phát triển rất mạnh trong thời gian qua. Hiện nay giá TV hạ xuống thấp tới mức kỷ lục. Nhưng xem TV có điều bất tiện là phải ngồi, vì vậy người xem không cảm thấy thoải mái khi xem những phim dài.

BenQ, một công ty lớn chuyên về máy phóng ảnh đã sáng chế loại máy chiếu phim GV50 hoạt động bằng tia laser. Đây là loại máy chiếu duy nhất hiện nay có thể phát ra hình ảnh có độ phân giải rất cao và người xem có thể nằm trên giường để xem thay vì ngồi trên ghế. GV50 được đặt trên một đế có thể xoay theo chiều đứng, chiều ngang hoặc một góc độ tùy ý. Vì vậy có thể phóng ảnh lên trần nhà hay bất cứ mặt phẳng chung quanh nào có độ mịn cao để hình ảnh rõ ràng. Máy còn kèm theo hệ thống âm thanh nổi như trong rạp chiếu phim. Màn hình phóng ra có kích thước 120 inches, độ phân giải 1080p và có thể hạ thấp ánh sáng xuống để không làm chói mắt khi xem. Máy còn được cài đặt sẵn ứng dụng của Google TV và Netflix để xem phim. Ngoài ra máy có ổ cắm kết nối để chơi game khi cần.

GV50 đang được bán với giá $799 ở Amazon.com và website của công ty.

Từ anh hùng đến số không

baotreonline.com

Andy Nguyễn

November 25th, 2023

Post by Sơn râu 23 Jun 2025

Cách đây vài tuần, vào đầu tháng Mười, “Giải thưởng Nhiếp ảnh Lớn nhất Thế giới” CEWE Photo Award 2023 đã công bố kết quả của cuộc thi ảnh.

Bức ảnh người đàn bà đánh bài thắng ‘cuộc thi nhiếp ảnh lớn nhất thế giới’  

Nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp Dikye Ariani đã đoạt hạng nhất từ sự cạnh tranh của 509,612 số ảnh tham dự với giải độc đắc: một chuyến du lịch đáng giá 15,000 euros ($15,866), dụng cụ nhiếp ảnh trị giá 7,500 euros ($7,900), và các sản phẩm nhiếp ảnh từ CEWE trị giá 2,500 euros ($2,600).

Tác phẩm của Ariani cho thấy bà chủ quán cà phê đang chơi bài với những người đàn ông trong làng đang thư giãn sau một ngày làm việc vất vả trên cánh đồng lúa. Bức ảnh đã giành chiến thắng ở hạng mục “Con người” cũng như giành được vương miện chiến thắng chung cuộc.

Lúc đó, ban giám khảo đã bình rằng: “Dikye Ariani đã ghi lại bầu không khí của khoảnh khắc đặc biệt một cách ấn tượng bằng bức ảnh của mình”.

“Bố cục nổi bật của hình ảnh nổi bật ở độ sâu và sự tập trung rõ ràng vào nhân vật chính, người được bao quanh bởi các nhân vật chính khác của cảnh. Ánh sáng khuếch tán trung tâm nâng cao bố cục nghệ thuật và tăng cường tác động của hình ảnh.”

Diễn biến bất ngờ

Thông tin mới nhất đến nay cho biết rằng Giải thưởng Ảnh CEWE đã đình chỉ người chiến thắng chung cuộc trong cuộc thi năm 2023 sau khi nhiếp ảnh gia này cung cấp “thông tin sai sự thật và gây hiểu lầm”.

Bức ảnh đoạt giải, bên trái, hiện đã bị CEWE đình chỉ sau khi nhiếp ảnh gia Dikye Ariani nhận giải thưởng tại một buổi lễ được tổ chức ở Hamburg, Đức, phải

Bức ảnh chiến thắng trong “cuộc thi ảnh lớn nhất thế giới” đã được dàn dựng và giờ đây ban tổ chức Giải thưởng Ảnh CEWE đã hành động.

“Bức ảnh được ban giảm khảo chọn là tác phẩm chiến thắng chung cuộc, đồng thời là tác phẩm chiến thắng ở hạng mục “Con người”, – trái ngược với tuyên bố của nhiếp ảnh gia – không phải là một bức ảnh chân thực mà được tạo ra trong studio như một cảnh dàn dựng,” người phát ngôn CEWE tuyên bố.

CEWE nêu lên rằng các bức ảnh dàn dựng không vi phạm trực tiếp các điều khoản và điều kiện của cuộc thi; tuy nhiên, thông tin sai lệch do nhiếp ảnh gia cung cấp đã khiến họ đình chỉ giải thưởng của cô.

Bức ảnh đoạt giải không phải là một cảnh chân thực như bức ảnh hậu trường này

“Nhiếp ảnh gia đã cung cấp thông tin sai sự thật và gây hiểu lầm về việc tạo ra bức ảnh cho chúng tôi và chủ tịch giám khảo Giải thưởng Ảnh CEWE trên sân khấu trong lễ trao giải, do đó gây hiểu lầm cho công chúng. Điều này mâu thuẫn với các giá trị mà CEWE đại diện với tư cách là một công ty.”

CEWE cũng cho biết thêm rằng có “các câu hỏi pháp lý” xung quanh quyền sử dụng bức ảnh trong đó nhiếp ảnh gia “không thỏa đáng” trả lời các câu hỏi liên quan đến vấn đề này và đã “không gửi các tài liệu thích hợp chứng minh cô ấy là chủ sở hữu quyền sử dụng”.

Vì vậy, CEWE đã đình chỉ giải thưởng “cho đến khi tình hình pháp lý liên quan đến bức ảnh được làm rõ hoàn toàn”. Công ty in ảnh của Đức sẽ không hiển thị ảnh trên trang web của mình hoặc sử dụng nó trên bất kỳ phương tiện truyền thông CEWE nào khác.

Đã dàn dựng

Bức ảnh được đề cập, Warung Kopi, được chụp bởi nhiếp ảnh gia người Nam Dương Dikye Ariani và được cho là chụp cảnh một bà chủ quán cà phê truyền thống đang chơi bài với một nhóm “những đàn ông trong làng sau một ngày làm việc vất vả trên cánh đồng lúa”.

Tuy nhiên, chúng tôi đã biết được việc trình bày hình ảnh này như một bức ảnh tư liệu rõ ràng là sai sự thật.

Trên thực tế, những bức ảnh này được chụp tại một buổi chụp ảnh mang tính ý tưởng được tổ chức tại một studio để đánh dấu sự ra mắt của máy ảnh vào ngày 20 tháng 11 năm 2022, tại Bogor, Nam Dương. Người phụ nữ trong ảnh là mẹ của một nhân viên làm việc tại studio và thường xuyên xuất hiện trong các buổi chụp hình theo chủ đề tại studio.

Ariani không phải là nhiếp ảnh gia duy nhất có mặt tại hội thảo và nhiều nhiếp ảnh gia khác đã chia sẻ tác phẩm của họ từ cùng một sự kiện với những bức ảnh rất giống nhau.

Một nhiếp ảnh gia tại cùng sự kiện đã chụp bức ảnh gần giống hệt này.

Nhiếp ảnh gia du lịch Etienne Bosson ở Châu Á nói rằng những gì đã xảy ra “không phải là một trường hợp cá biệt”.

“Trong thời đại nhiếp ảnh kỹ thuật số, việc dàn cảnh để giành chiến thắng trong các cuộc thi đã trở nên phổ biến một cách đáng lo ngại. Câu hỏi cần có câu trả lời là tại sao những bức ảnh dàn dựng này tiếp tục giành chiến thắng trong các cuộc thi, ngay cả khi chúng vi phạm lòng tin của cả giám khảo và khán giả bằng cách làm mờ ranh giới giữa nghệ thuật và lừa dối,” ông nói.

AN