Mấy Người Con Trai Vương Long

vietmessenger.com

Pearl S. Buck

Nguyễn Thế Vinh dịch

(Tái bản)

Post by Sơn râu 20 Jul 2025

Chương 20.

Ngày tháng thoi đưa, đông qua xuân tới, các cây anh đào hoa đã nở trắng xóa, điểm màu hồng nhạt của hoa đào, những chùm hoa rung rinh trước gió xuân hây hẩy như những đám mây nhẹ nhàng lướt trên nền đất cây cỏ xanh

tươi. Vương hổ tướng họp các thủ hạ tâm phúc nghị bàn về chiến sự, hội nghị thắc mắc hai điểm sau đây, đem ra nghiên cứu thảo luận:

Điểm thứ nhất:

Chiến cuộc Bắc Nam sẽ tái phát xét vì cuộc đình chiến năm ngoái chỉ mỏng manh, không có gì bảo đảm chắc chắn, nó chỉ là một sự ngừng hoạt động do thời tiết, vì không thể tiếp tục chiến sự trong gió rét, mưa tuyết, bùn lầy.

Điểm thứ hai:

Xét vì các ông tướng Bắc Nam khác nhau xa hẳn cả tinh thần lẫn thể chất, một bên thân hình to lớn, vạm vỡ, chậm chạp hung bạo, một bên người tầm vóc bé nhỏ, giảo huyệt hay dùng sảo trá, gian mưu, hai bên tính tình khác nhau, ngôn ngữ cũng khác nhau, như thế cuộc đình chiến chỉ có tính cách tạm bợ. Một lý do Vương hổ tướng chưa động tĩnh là còn chờ bọn thám tử đi do thám về tường trình công tác. Trong khi chờ đợi thời cơ, chàng họp các thủ hạ thảo luận nên đem quân chinh phục phương nào để mở mang cương giới. Hội nghị họp ở trong một căn phòng riêng của Vương hổ tướng, tất cả ngồi quanh một chiếc bàn dài tùy theo thứ tự, cấp bực. Anh “Mũi Diều Hâu” phát biểu ý kiến:

– Chúng ta không thể tiến lên mạn Bắc được vì chúng ta thuộc phạm vi quản trị ở miền đó. Tiếp đến anh “chọc tiết heo” oang oang cất giọng nói, anh này có tính nói theo đuôi. Anh muốn tỏ ra cũng có ý kiến không phải ngu tối quá, nhưng thực ra anh không có ý kiến gì mới lạ cả:

– Đúng, vả lại chẳng những thế miền ấy xui lắm đến cả  heo cũng ốm nhom, không thể giết thịt được. Tôi đã biết heovùng đó, tôi thề thật quả gò lưng nó sắc như lưỡi liềm, một con lợn nái trước khi nó đẻ, có thể đếm ở trong bụng nó có mấy con. Cái vùng đó không đáng để ý, đem quân đến xâm chiếm thật phí công vô ích.

Vương hổ tướng thủng thẳng nói:

– Mà phía Nam cũng không được, vì nếu mình gây chiến họa ở miền Nam, mình làm hại họ hàng, làng mạc, nơi quê cha đất tổ nhà mình, mà sau này có đặt thuế mình lại đi thâu thuế trong họ nhà mình hay sao?

Anh Sứt Môi phát biểu ý kiến, anh này ít nói, bao giờ cũng để mọi người nói trước, anh mới nói sau:

– Có một miền xưa kia là quê tôi, bây giờ hết rồi, tôi không nhận là quê nữa, miền đó ở phía Đông Nam vùng này, một phía giáp ranh với hạt này, một phía trông ra biển, một vùng trù mật, phong phú, có đường ăn thông ra biển. Có một quận nằm theo dọc duyên hà, con sông chảy thông ra biển. Một vùng đất cát phì nhiêu, có nhiều đồi thấp, sông ngòi rất nhiều cá. Quận ở đó là một đô thị lớn có nhiều làng xã, dân cư tằn tiện, người nào xem cũng khá giả.

Vương hổ tướng nghe nói, liền hỏi:

– Một miếng béo bở ngon thế, chắc thế nào cũng có một ông tướng cai quản rồi. Ở đó bây giờ là ai nhỉ? Anh lính mới nói tên vị tướng đó xưa kia xuất thân là một tên trùm lâu la, năm ngoái có dự chiến đem quân đánh miền Nam. Vương hổ tướng nghe nói tên người ấy, chàng quyết nghị ngay đem quân chinh phạt. Chàng sực nghĩ những năm chàng còn nhỏ, ở miền đó, gạo ăn nhạt cơm, các món ăn hay bỏ nhiều hạt tiêu.

Chàng nói:

– Rất hợp ý ta. Người đó, miền đó, ta cần phải thanh toán ngay, như thế cương giới ta cũng mở rộng và việc chinh phạt này cũng ở trong chương trình chiến sự toàn diện, việc xuất quân chinh phục miền đó được quyết nghị và toàn thể hội nghị tán thành. Vương hổ tướng gọi gia nhân đem rượu vào, cả hội nghị cùng uống. Chàng ra lệnh báo cho toàn thể quân đội phải chuẩn gọi sẵn sàng để chờ ngày xuất quân. Chỉ còn chờ bọn thám tử trở về báo cáo tình hình chiến cuộc năm nay sẽ tiến triển ra sao. Cuộc hội họp bế mạc, bọn thủ hạ đứng dậy rút lui về trại để thi hành quân lệnh. Anh lính “mũi diều hâu” ở lại, đến ghé sát vào tai Vương hổ tướng nói nhỏ, giọng nói ồ ề, hơi thở nóng thổi vào má chàng:

– Tụi lính họ than phiền, phục vụ cho tướng quân họ không được hưởng những đặc ân như ở nơi khác, tướng quân nên nghĩ lại sau một trận đắc thắng nào, cho phép họ phè phỡn, tự do trong ba hôm. Nếu họ bị bó buộc, khe khắt quá, họ không chịu tận tâm chiến đấu.

Vương hổ tướng nghe nói sẽ cắn mấy cái ria đen cứng chàng để mọc ở trên môi trên, chàng biết anh này nói cũng có lý, bất đắc dĩ bảo:

– Ừ, anh bảo tụi họ, mỗi lần thắng trận ta ra ân cho tự do trong ba hôm, chỉ được ba hôm thôi, không hơn.

Anh lính lui ra, thích chí lắm, còn chàng ngồi trầm ngâm suy nghĩ, vì sự thật, thâm tâm chàng rất ghét cướp bóc, tàn phá của cải dân chúng, chàng thật bắt buộc phóng túng bọn lính của chàng là làm một việc trái với lương tâm chàng, vì nếu cứ khăng khăng không cho họ tự do, họ không chịu hy sinh để chiến đấu. Tuy bất đắc dĩ phải hứa như thế, trong lòng chàng rất băn khoăn khó chịu, chàng hình dung cảnh tượng đau khổ của lương dân bị bọn lính quấy nhiễu, cướp bóc, tàn phá. Chàng tự cho là tính chàng quá nhu

nhược đối với nghề binh nhung của chàng. Chàng cố làm cho có can đảm, có nghị lực, chàng nghĩ bọn lính có cướp phá thì chỉ bọn giàu có là thiệt, chứ hạng nghèo còn có gì mà sợ. Chàng nghĩ thấy tự thẹn, tính đa cảm nhu nhược của chàng, chàng không muốn tụi lính biết chàng rất ghét trông thấy sự thương tâm, đau khổ, vì tụi lính mà biết tính chàng như thế họ sẽ coi thường chàng.

Các thám tử lần lượt trở về phúc trình kết quả công tác lên chủ tướng, các báo cáo đều nói hiện nay chưa có trận nào tái khởi. Tuy nhiên cả Nam lẫn Bắc, các ông tướng vẫn cho nhập nội ở ngoại quốc súng ống đạn dược. Chiến tranh thể nào sớm muộn cũng tái phát vì cả hai bên ráo riết chuẩn bị, chiêu binh mãi mã. Khi được tin đích xác như vậy Vương hổ tướng hạ lệnh cất quân. Ngày hôm đó, chàng cho tập hợp hết quân lính ở ngoài cổng tỉnh, vì số lính đông quá không thể tụ tập trong sân Phủ được. Chàng cưỡi con ngựa hồng, bên tả có các vệ sĩ đứng hộ vệ, bên hữu có thằng Rỗ cưỡi ngựa (thằng này bây giờ cưỡi ngựa không cưỡi lừa như trước).

Ngồi trên mình ngựa, tướng mạo uy phong lẫm liệt, các thủ hạ ngắm chàng tấm tắc khen ít có một võ tướng dung mạo như chàng, với bộ lông mày rậm, với bộ ria đen trên mép, tuy tuổi chưa đến nhưng trông chàng có lẽ quá tứ tuần. Chàng đứng yên một lúc để tất cả quân lính chiêm ngưỡng dung nhan, rồi cất giọng lanh lảnh hiệu triệu binh sĩ:

Hỡi các chiến hữu,

Ngày mai mùng tám, chúng ta tiến về mạn Đông – Nam để chinh phục miền đó. Đấy là một vùng đất cát phì nhiêu dân cư trù phú, có một con sông chảy ra biển. Khi nào chúng ta chiếm cứ được vùng đó tôi và anh em cùng nhau cộng hưởng. Anh em quân lính chia làm hai đạo quân đặt dưới quyền chỉ huy của các thủ hạ tâm phúc của tôi. Anh mũi diều hâu kéo quân về phía Đông, anh “chọc tiết heo” về phía Tây. Tôi dẫn 5.000 quân tinh nhuệ, sẽ chờ hai cánh quân đó ở mạn Bắc. Khi hai cánh quân tả hữu đã công hãm được vùng đó, tôi sẽ tiếp ứng để triệt hạ tận gốc đối phương. Ở đấy, có một

ông Lãnh chúa nhưng thực ra chỉ là một tên trùm lâu la. Anh em đã hiểu và thường vẫn nói anh em đối xử với bọn trộm cắp thế nào. Chàng lại bất đắc dĩ phải thêm vào mấy câu nữa mà chàng rất buồn vì trái với lương tâm, bản tính của chàng:

– Nếu anh em thành công, tôi để cho anh em hoàn toàn tự do trong ba hôm. Nhưng chỉ được ba hôm thôi, qua sáng ngày thứ tư là phải chấm dứt. Ai trái lệnh không theo hiệu kèn, tôi cho thổi sáng hôm thứ tư, tôi sẽ thẳng tay giết liền. Đó là nhật lệnh của tôi xin anh em nhớ cho kỹ.

Chàng vừa dứt lời, bọn lính nhảy lên hoan hô. Khi Vương hổ tướng vừa quay ngựa đi, binh sĩ xem lại võ khí, lau chùi, mài cho sắc, đếm xem còn bao nhiêu viên đạn. Hồi đó bọn lính trao đổi với nhau, dùng những viên đạn thay liền. Anh nào máu mê rượu chè, hay thích gái, lấy đạn ra mua bán, trao đổi.  Tang tảng sáng mùng 8, Vương hổ tướng dẫn đạo hung binh ra khỏi trại, chàng để một số binh sĩ ở lại. Chàng tới tìm ông Phủ (ông này bây giờ yếu mệt quá, nằm liệt giường), cho hay chàng có để lại một số quân phòng ngự trong Phủ. Giọng nói yếu ớt, ông Phủ cám ơn chàng, ông cũng biết chàng sắp xếp như vậy để bảo vệ cho ông, cho hạt ông. Đạo quân để lại đặt dưới quyền điều khiển của anh sứt môi. Trông coi bọn lính ở lại thật là khó khăn, họ bực tức vì không được theo đi đánh giặc; Vương hổ tướng phải hứa nếu mọi việc trong hạt được êm đạp, khi chàng về, sẽ có thưởng và lần sau có trận mạc nào, bọn này sẽ được trưng dụng. Được ve vãn và hứa có thưởng, bọn lính ở lại cũng hơi bằng lòng. Chàng dẫn quân đi, cho phao đồn trong dân chúng là chàng xuất sư để dẹp quân thù ở miền Nam kéo lên định xâm lăng vùng này. Dân chúng sợ quá; để lấy lòng chàng, bọn con buôn trong hạt hom góp nhau đem biếu chàng một số tiền lớn, nhiều thân hào đi tiễn chàng để nhân tiện xem làm lễ tế cờ. Chàng cho mổ heo, lập bàn tế cờ cầu cho cuộc  xuất chinh nầy được thành công mỹ mãn.Lễ xong, đoàn quân lên đường. Chiến sự đối với chàng không phải chỉ dùng binh lính, võ khí, chàng còn đem theo cả một số tiền lớn. Là một tướng tài có mưu cơ, chàng đem tiền vì có khi phải dùng đến. Lúc đầu, tiền đem theo cũng không ích gì, nhưng biết đâu sau này chàng phải dùng thế lực kim tiền để mua chuộc lòng người, mua chuộc một nhân vật trọng yếu nào để làm nội công. Hồi đó đang độ tiết xuân, hai bên đường lúa mạch đã lên cao, sắp trổ bông. Ngồi trên mình ngựa, chàng ngắm những cánh đồng bao la, xanh dờn, cảnh vật tốt tươi, ruộng đất phì nhiêu, vùng này dưới quyền chàng cai trị, chàng dương dương tự đắc, cảm thấy tâm hồn phấn khởi, sung sướng, như một ông vua đi kinh lý trong nước. Thấy cảnh vật tốt tươi, huy hoàng, chàng nghĩ cần phải tìm thêm một vùng mới để cai trị, đặt thuế khóa, lấy tiền duy trì một đạo hùng binh và bổ sung vào quỹ dự trữ. Đạo quân tiến sâu, ra khỏi hạt chàng đến đầu địa phận một hạt mới ở miền Nam, phong cảnh đã thay đổi, những cây lựu, bông hoa lập lòe đỏ như lửa, cây cối tốt tươi đâm chồi nảy lộc, chàng biết đạo binh của chàng đã đặt chân lên một vùng mới lạ. Ruộng nương xanh tốt, trâu bò con nào cũng béo mập, con trẻ đứa nào cũng mũm mĩm phục phịch, hàng ngắm cảnh sung sướng, tinh thần như thêm phấn khởi.

Khi đạo quân chàng đi qua một cánh đồng, nông phu đang làm dưới ruộng, ngửng đầu, cau mày nhìn, đàn bà đang nói chuyện cười đùa vui vẻ, thấy lính đi ngang im bặt tiếng, nhiều người mẹ ăm con, lấy tay che mắt con không

cho nhìn thấy binh sĩ. Bọn lính vừa đi vừa nghêu ngao hát, càng làm khích nộ bọn nông phu chửi rủa cả đến những đàn chó trong làng, nghe tiếng động xồ ra sủa, nhưng thấy lính, chó lùi ngay lại, cúp đuôi chạy. Trâu đang ăn cỏ, nghe tiếng ấm ầm, cũng co chân chạy; con nào đang kéo cày, lôi cả người và cày chạy theo. Bọn lính thấy thế rộ lên cười, nhưng nếu Vương hổ tướng có nom thấy, chàng ngừng lại, nhã nhặn, tử tế, chờ cho người nông phu điều khiển được con vật khỏi lồng lên.

Các thôn xóm, dân chúng bực mình, khó chịu thấy lính xô đẩy nhau vào, bô bô xin nước, xin rượu, xin cơm, xin thịt. Các cửa hàng, chủ nhăn nhó, khó chịu, lo sợ lính cướp phá hàng hóa của họ, nhiều nhà giữa ngày, ầm ầm đóng cửa như trời đã tối. Lúc ra đi, Vương hổ tướng đã phát tiền cho lính, ra nghiêm lệnh không được cướp bóc, cần thứ gì phải mua bán đàng hoàng, tiền nong trả phân minh. Nhưng chàng cũng biết một ông tướng dù tài giỏi đến mấy, điều khiển hàng bao nhiêu ngàn người, cũng không phải là dễ nếu

không có phương pháp, nên chàng ra lệnh cho các đội trưởng phải chịu trách nhiệm các cơ đoàn của mình, chàng chỉ biết  kêu lên “Nếu ta nghe thấy, ta sẽ giết chết!” nhưng xemchừng nếu khắt khe quá, quân sĩ sẽ nản lòng, chàng đành làm ngơ, không muốn nghe ai nói.

Vương hổ tướng nghĩ ra được một diệu kế về kinh tài là khi đến một đô thị nào, chàng để quân đội ở cả ngoại ô, chàng dắt mấy trăm thủ hạ vào trong thành đến một nhà buôn nào giàu có nhất vùng, cho triệu tập các nhà buôn lớn nhỏ hội lại nhà đại phú thương đó. Khi bọn này tề tựu đông đủ, họ sợ lắm, khúm núm kính cẩn. Với một giọng lịch sự ôn tồn, chàng nói:

– Xin các ông yên tâm, đừng tưởng tôi đến đây để sách nhiễu các ông quá mức đâu. Tôi hiện có mấy ngàn binh đội ở ngoại châu thành, nếu các ông vui lòng gom góp nạp cho tôi một số tiền phải chăng, tôi đưa binh đội đi xa, chúng tôi chỉ ghé qua chặng này một đêm thôi.

Các nhà buôn sợ xanh mặt, cử một đại diện nói xin nạp một số tiền, Vương hổ tướng thấy số bạc họ hứa quá ít ỏi, cười nhạt, tuy cười, chàng nhíu đôi lông mày lại, nói:

– Tôi biết các ông ở đây buôn bán khá lắm, có những cửa hàng lớn bán dầu, ngũ cốc, tơ lụa vải vóc; các ông ăn mặc sang trọng, phố xá khang trang, các ông làm giảm giá trị đô thị này, các ông đưa nộp một số tiền quá nhỏ mọn, ít ỏi. Với một số tiền như thế có hại đến danh dự, phẩm giá các ông. Chàng yêu sách rất mềm mỏng nhã nhặn được một số tiền quan trọng. Không như các ông tướng khác, dùng dọa nạt, nếu không được như ý, thả lính đi cướp bóc, tàn phá. Dùng chính sách hợp lý, nhân đạo, chàng nghĩ họ buôn bán còn vợ con, gia đình, không nên sách nhiễu quá đáng. Sự nhã nhặn của chàng đã đem lại kết quả như ý mà các con buôn cũng thấy dễ chịu tống khứ được bọn lính và chàng ra khỏi đô thị.

Từng chặng một, Vương hổ tướng đã lần lần đưa bọn lính về phía Đông Nam, một vùng ăn thông ra biển. Mỗi chặng, mỗi đô thị, chàng lại nhận được một số tiền thù lao, đến nơi nào chiều hôm trước, sáng hôm sau chàng lại nhổ trại kéo quân đi. Đến xã nào dân cư nghèo, chàng chỉ xin ủng hộ ít thực phẩm còn không lấy gì hết. Suốt bảy đêm ngày kéo quân đi ròng rã như thế, chàng đã thu nhận được một số tiền rất lớn, binh sĩ ăn uống no đủ, tinh thần hăng hái, chứa chan hy vọng. Đến ngày thứ bảy, còn độ nửa ngày đường nữa tới một đô thị, trung tâm vùng đó là nơi mà chàng định chinh phục. Chàng cưỡi ngựa đi trước, trèo lên một ngọn đồi để quan sát địa thế. Xa xa đằng kia, đô thị như một viên ngọc, xung quanh có thành trì bao bọc, trong một cánh đồng bát ngát, ruộng nương xanh tốt. Trước phong cảnh tuyệt đẹp, chàng cảm thấy sung sướng quá, tim chàng đập mạnh, như muốn

nhảy ra khỏi lồng ngực. Kìa xa xa con sông lượn vòng, khúc sông giáp ngay với cửa Nam, đô thị khác nào như hạt châu gắn ở đầu sợi dây chuyền bằng bạc. Chàng vội vàng cho một sứ giả đến đô thị đó. Binh đội nơi đây khoảng một ngàn người canh phòng, báo cho chủ tướng biết có Vương hổ tướng ở phương Bắc kéo đại đội hung binh xuống giải phóng cho dân vùng thoát khỏi áp bức của một tên trùm lâu la. Nếu tên đó không chịu rút lui và nạp một số tiền, Vương hổ tướng sẽ kéo độ mươi ngàn binh san bằng tỉnh thành.

Vị tướng cai quản vùng này là một tên trùm già trộm cướp, hình thù rất xấu xí, dân trong hạt mệnh danh là Thủ môn Thiên tướng vì họ thấy ở các đình chùa có đắp tượng mộng vị hắc thần gác cổng hình thù cổ quái.

Tiếp viên sứ giả của Vương hổ tướng đến yêu sách sống sượng, ngạo mạn, lão tướng nổi cơn lôi đình như sấm sét. Uất khí xung thiên, tưởng chừng đến tắt thở, mãi hắn mới mở miệng nói được:

– Về bảo chủ tướng mi, muốn đánh nhau thì đánh, ta không sợ. Ta chưa nghe thằng chó nào có tên là Vương hổ tướng.

Sứ gia trở về trình Vương hổ tướng thuật hết lời tên kia đã xúc phạm đến uy danh chàng. Đến lượt chàng nổi cơn thịnh nộ, lòng tự ái bị kích thích quá mạnh, hắn dám bảo không biết có ai tên là Vương hổ tướng! Song chàng thầm nghĩ thiên hạ cũng có khi không biết ta chăng? Chàng nghiến răng ra lệnh ngay ngày hôm đó kéo đại đội hung binh thẳng tiến đến trước mặt thành đóng quân hạ trại. Đến nơi, các cửa thành đều đóng kín mít, chàng hạ lệnh cắm trại rải rác quanh hào để xem đối phương động tĩnh ra sao, có gì

khác lạ phải cấp báo cho chàng biết. Sáng hôm sau, chàng dậy thật sớm cho gọi thủ hạ, thổi kèn đánh trống tập trung hết binh đội lại. Khi tất cả tụ tập

đông đủ, chàng hạ lệnh phải chuẩn bị sẵn sàng để chiến đấu, có khi phải chờ một hai tháng nữa. Đem theo độ một trăm vệ binh, chàng lên một ngọn đồi cao ở phía Bắc, trên có một ngôi chùa cổ. Để vệ binh ở ngoài thị uy chư tăng ni, chàng lên trên cao, nhận xét, địa thế trong thành không rộng mấy, có độ năm vạn dân cư, nhà cửa cũng thường, mái lợp bằng ngói đen, hòn nọ chồng lên hòn kia như vẩy cá.

Chàng quay xuống cùng với thủ hạ sang bên kia hào, thình lình một loạt súng nổ, ở trên mặt thành bắn xuống, chàng vội vàng lùi, né mình. Vương hổ tướng xét hiện tình, bắt buộc phải chờ cơ hội thuận tiện, chàng họp các đội trưởng lại bàn kế hoạch ứng phó. Tất cả khuyên chàng dùng kế hãm thành là hay hơn cả, về vấn đề sinh hoạt dân trong thành, triệt lương thực ở ngoài vào. Chàng nghe cũng có lý, vì như thế tránh được sự đổ máu, tiết kiệm được sinh mạng, vả lại cửa thành chắc chắn lắm, cánh cửa có đai sắt, khó lòng phá vỡ. Hãm độ một hai tháng, dân trong thành hết lương thực tức sinh biến, phải đầu hàng, đánh ngay bây giờ bất lợi, họ sung sức, lương thực đầy đủ, vị tất thắng sẽ về bên nào. Vương hổ tướng chấp thuận kế hãm thành là thượng sách, chờ ngày nào thuận lợi đánh một trận là xong. Chàng hạ lệnh cho quân sĩ đồn binh, cắm trại quanh thành, xa ngoài tầm đạn, dù ở trong có bắn ra, đạn chỉ rơi xuống hào. Bốn mặt thành được vây kín, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Binh sĩ của Vương hổ tướng được ăn uống đầy đủ do các sản phẩm, gà vịt, rau cỏ, thóc gạo của các miền phụ cận tiếp tế. Chàng mua bán đường hoàng, tiền nong trả song phẳng, dân quê các vùng quanh đó không có ác cảm, chống đối với chàng.

Thấm thoát đã sang hạ, lúa rất tốt, ở đây mưa gió thuận hòa, không mưa nhiều, không nắng lắm. Có tin đồn ở vùng bên núi hạn hán mất mùa, dân cư bị đói. Vương hổ tướng thấy thế lòng khấp khởi mừng thầm, số chàng kể cũng tốt, chiếm cứ được vùng này thật là mãn nguyện.  Ngày tháng thoi đưa đã được một tháng rồi, Vương hổtướng vẫn ngồi chờ trong lều vải, không thấy một người nào trong thành ló mặt ra ngoài. Hai mươi hôm sau nữa vẫn

lặng ngắt, không bóng dáng một người nào ở trong thành đi ra; chàng cáu lắm, bọn lính nóng ruột, bực bội khó chịu. Nếu sang phía bên kia hào, thế nào cũng có một loạt súng ở trên thành bắn xuống. Vương hổ tướng hết sức lạ, trong cơn phẫn nộ chàng nói:

– Không biết chúng nó còn gì ăn, mà vẫn còn sức bắn súng.

Anh “Mui Diều Hau” đứng đó, nhổ một bãi nước bọt, tỏ ý thán phục đối phương giỏi, gan dạ, lấy tay quệt mồm, nói:

– Nó ăn cả chó, cả mèo, thứ gì ăn được là ăn, bắt cả chuột thịt là đằng khác.

Ngày này qua ngày khác, tình trạng vẫn thế, sắp sang tháng thứ ba, cuộc hãm thành đến nay tính đã gần hai tháng. Một buổi sáng cũng như mọi ngày, chàng đi tuần một vòng quanh trại, thình lình ở trên cổng Bắc thấy phấp phới có lá cờ trắng. Chàng vội vàng truyền cũng giương lên một lá cờ trắng, mừng thầm chắc chiếc cuộc đã đến ngày kết liễu. Cửa Bắc hé mở vừa đúng một người lách ra, cửa lại đóng chặt, nghe tiếng thanh sắt kéo lên kéo xuống ầm ầm bên trong. Phía bên kia hào, Vương hổ tướng ngồi ở trong lều vải nhìn ra, hồi hộp chờ. Một người trẻ tuổi tiến lại phía chàng, tay cầm một lá cờ trắng cắm trên đầu ngọn tre. Chàng thét tả hữu đứng dàn ra cả ở phía trước, chàng ngồi đằng sau hàng rào lính, chờ người của đối phương lại  điều đình. Khi gần đến nơi, người kia nói lớn:

– Tôi được cử đến đây để xin nghị hòa, chúng tôi bằnglòng nạp một số tiền, bao nhiêu cũng được, yêu cầu quý ông cho triệt thoái binh đội.

Vương hổ tướng nghe nói cười khẩy:

– Anh tưởng tôi kéo binh mã tới đây để yêu sách một số tiền hở? Ở trong địa giới tôi, tôi muốn có bao nhiêu mà chẳng được. Chủ tướng anh phải đến đây xin đầu hàng, triệt thoái, ta cần đô thị này, vùng này để sáp nhập vào miền của ta.

Người trẻ tuổi đứng vịn cành tre cắm dưới đất nhìn Vương hổ tướng có vẻ van lơn, cầu khẩn, anh van nài:

– Xin quý ông làm phúc triệt thoái binh đội đi nơi khác.

Nói xong, người đó sụp xuống lạy Vương hổ tướng; chàng đùng đùng nổi cơn thịnh nộ, như mọi lần có việc gì trái ý, chàng hét:

– Ta không khi nào chịu rút lui trước khi miền này ở trong tay ta.

Người trẻ tuổi đứng dậy, hất đầu về đằng sau, vẻ thách thức, anh ta nói:

Các ông cứ ở, suốt đời ở đây cũng được, chúng tôi không ngại.

Nói xong hắn quay người trở về thành. Vương hổ tướng bừng bừng nổi giận, chàng nghĩ thấy lạ quá, tụi nó đã đến bước cùng đồ mà còn dám sai một thằng quá ư vô lễ đến xin điều đình. Chàng chưa thấy một người nào xấc láo đến thế, nghĩ căm tức, thét lính:

– Lấy súng bắn chết thằng đó cho tao!

Lính tuân lời, ngắm đúng, nổ cò, người kia trúng đạn ngã gục nằm úp mặt xuống đất trên chiếc cầu hẹp ở hào, lá cờ trên tay rơi xuống lơ lửng trên mặt nước. Vương hổ tướng  truyền cho lính lôi xác người đó về, và phải chạy thật nhanhsợ súng trên thành bắn xuống. Vương hổ tướng xét có hai  điều làm chàng ngạc nhiên: trên thành thấy im không bắnxuống, khám nghiệm xác chết không thấy gầy ốm, đói ăn; có da có thịt béo tốt, tất phải được ăn uống điều hòa, vẫn có  sức cầm cự được với chàng. Chàng cáu lắm, nói lớn:

– Được rồi, ta đóng quân ở đây suốt đời liệu chúng mày có sức cầm cự được mãi không?

Vì đang căm hờn, từ hôm đó chàng như nới lỏng cho bọn lính được tự do hơn, không khắt khe như trước. Lính có đi cướp bóc thực phẩm ở ngoại ô hay những trại nào quanh đó, chàng cũng làm ngơ không phạt giam như trước. Khi có người dân nào đến trình với chàng nhà họ bị lính đến quấy nhiễu, làm điều phạm pháp, chàng trả lời:

– Các ngươi cũng là một tuồng vô lại cả. Ta chắc các ngươi lén lút tiếp tế lương thực vào trong thành, nếu  khônghọ lấy gì ăn, mà có đủ sức chống đối.

Các dân quê thề không bao giờ làm thế, một người trong bọn nói với chàng:

– Ông nào đến cai trị đây cũng thế, vấn đề đó chúng con không quản ngại. Sự thật chúng con không ưa gì tên cướp già đó, thuế má đánh nặng quá, chúng con chết đói dở. Nếu tướng quân ra nghiêm lệnh cho bộ đội đừng xâm phạm tài sản quấy nhiễu dân, chúng con cầu mong tướng quân đến quản nhậm hạt này.

Hồi đó, đang giữa mùa hè nóng bức, ruồi nhặng kéo lên hàng đàn ở những đống rác, đống phân lính phóng uế. Chàng bị kích thích đến cực độ, nghĩ đến mấy gian phòng ở phủ chỗ chàng ở, nghĩ đến hai cô vợ đang mong chờ ở nhà, chàng bực bội, tính nết cáu kỉnh, không thuần tính như xưa kia. Bọn lính trở nên ngỗ nghịch, khó bảo, nhiều cái chàng không cấm đoán nổi.

Một đêm trăng sáng vằng vặc, không gió, tiết trời oi ả, chàng không sao ngủ được, đi ra ngoài hóng mát. Một vệ sĩ theo sau, vừa đi vừa ngáp, nửa thức nửa ngủ, chàng đi đi lại lại ngắm bức tường thành dưới ánh trăng vừa cao vừa đen như ngạo nghễ thách thức, bất khả xâm phạm. Lòng càng thêm bực tức, mối căm thù không thể khuây được, chàng thề nếu vào thành sẽ làm cỏ hết dân trong đó, đàn ông, đàn bà, trẻ con. Chợt chàng ngó thấy ở tường thành hình như có một bóng đen từ trên cao tụt xuống. Chàng đứng yên, để ý nhìn, lúc đầu chàng tưởng chừng hoa mắt, sau định thần nhìn kỹ, có cái gì nhỏ nhỏ, bò như con cua lách qua cây cỏ ở khe tường thành. Dưới ánh trăng, chàng nhận ra một người tay phất một miếng vải trắng. Vương hổ tướng truyền cho lính đem theo một lá cờ trắng lại giáp người đó đưa về bản doanh. Khi tới trước chàng, người đó phủ phục, rập trán xuống đất lạy; chàng thét:

– Người kia đứng dậy để ta xem mặt.

Hai người lính xốc người ấy đứng dậy, Vương hổ tướng nhìn người đó, cơn tức lại nổi lên, chàng như nghẹn họng không nói được. Người này coi còn sức lực, khỏe mạnh, không có vẻ đói khát. Tuy người có gầy, mảnh khảnh nhưng không có dáng gì phải nhịn đói thiếu ăn. Chàng gầm lên:

– Tên kia, đến xin đầu hàng phải không?

Người đó trả lời:

– Không phải thế, chủ tướng tôi chưa chịu đầu hàng, ở trong thành hãy còn lương thực, bọn thủ hạ chúng tôi ngày nào cũng được phát lương ăn đầy đủ. Dân trong thành cũng có đói nhưng cái đó không đáng quản ngại, chúng tôi còn có thể chịu đựng được một thời gian lâu nữa và đang chờ viện binh ở Nam đến ứng cứu. Chúng tôi đã lén lút cho một sứ giả ra ngoài cầu viện.

Vương hổ tướng bán tín bán nghi, chàng cố nén giận, dịu giọng hỏi:

– Nếu mi không đến xin hàng, mi lại đây có việc gì, nói mau.

Người kia vẻ mặt rầu rầu trả lời:

– Tôi đến đây do việc riêng của tôi, tôi bị chủ tướng ngược đãi. Thằng cha đó cục súc, đê tiện, vô giáo dục, tôi là một người có huyết thống, dòng dõi danh gia lệnh tộc, ông cụ thân sinh ra tôi là một văn nhân. Tôi quen sống trong lễ nghi, giáo lý. Lão tặc đó đã nhục mạ tôi trước mặt quân lính thuộc bản đội tôi. Vẫn hay ở đời nhiều cái cũng có thể tha thứ, nhưng sỉ nhục lăng mạ đến tổ tiên tôi là một điều không thể bỏ qua được. Thực ra tổ tiên hắn chỉ đáng làm nô bộc cho tiên tổ nhà tôi.

Vương hổ tướng nghe câu chuyện lạ lùng, gạn hỏi:

– Hắn sỉ nhục lăng mạ thế nào?

Người kia trả lời:

– Hắn sỉ nhục tôi, bắt bẻ tôi về cách cầm súng, tôi là một thiện xạ, nếu tôi ngắm cái gì là tôi bắn trúng đích.

Nghe xong, Vương hổ tướng thấy nảy một tia hy vọng,  chàng hiểu châm biếm và lăng mạ là hai yếu tố gieo rắc vào lòng người một mối căm thù ghê gớm, cả đến với bạn bè than mật, nhất là với một hạng tự phụ, tự đắc như anh chàng này, cứ trông nét mặt cũng đoán được tính nết.

Chàng thật lòng hỏi:

– Anh giúp tôi định lấy bao nhiêu tiền công hay thế nào?

Người đó thấy xung quanh bọn vệ sĩ của Vương hổ tướng đứng, há hốc mồm nghe, anh ta đến gần Vương thì thào nói:

– Ông cho tôi vào trong lều, dễ nói chuyện hơn.

Vương hổ tướng quay vào lều và cho lính dẫn anh này theo sau. Chàng để năm sáu vệ sĩ bảo vệ chàng phòng sự rủi ro bất trắc. Vương hổ tướng xét người này có ý thật tình, không có ý gì man trá, mưu phản. Khi vào trong lều, người kia nói:

– Con rất căm thù tên đó nên con liều lại trèo vào thành làm nội công mở cửa thành cho tướng quân, con chỉ xin tướng quân một việc là con được thâu nạp phục vụ dưới trướng với vài ba người biết nghe theo con. Nếu tên lão tặc đó chưa bị giết, con xin được bảo vệ, thế nào hắn cũng cố tìm hại con, hắn đối với con là một tử thù.

Vương hổ tướng không muốn nhận một việc trợ giúp không phải trả công, chàng nhìn thẳng mặt người đó, có hai tên lính kèm theo hai bên. Chàng nói:

– Nhà ngươi là một người tự trọng, có nhân cách, không chịu khuất phục, không chịu lăng mạ, một người có khí tiết. Ta rất hài lòng gặp một người có khí phách nhà ngươi. Nhà ngươi quay về thành bảo với đồng đội: ta sẽ thu nạp hết những ai tới đem vũ khí, súng ống quân trang, ta tỏ lượng khoan hồng thu nạp vào hàng ngũ binh đội của ta. Còn nhà ngươi, ta sẽ phong cho chức Đại đội trưởng và ân thưởng một trăm đồng và cứ mỗi người đến đem đủ súng ống, ta thưởng cho nhà ngươi năm đồng.

Người kia, mặt tươi hẳn lên,hớn hở nói:

– Bình sinh con vẫn mong ước được phò giúp một người như tướng quân. Con sẽ tận tâm báo ơn tri ngộ. Con sẽ làm nội ứng, mở cửa thành đón tướng quân ngay ngày hôm nay khi mặt trời đúng ngọ.

Nói rồi hắn vái chào từ biệt. Vương hổ tướng đứng dậy đi ra theo dõi bóng người đó. Thoăn thoắt, nhanh nhẹn như một con khỉ, hắn leo lên tường thành vịn vào rễ, cành cây mọc ở khe tường rồi biến mất.

Mặt trời từ từ nhô lên, một góc trời đỏ ửng tỏa ánh hào quang chiếu sáng. Vương hổ tướng truyền mật lệnh cho thủ hạ đừng làm náo động sợ đối phương có do thám làm hỏng kếhoạch. Một số đông binh đội đã biết đêm qua có người trong thành leo tường trèo ra điều đình. Đêm qua trời sáng trăng vằng vặc, trông rõ, có thể xâu kim được, bọn lính thấy rõ hết, họ nằm im xem, đã hiểu một phần nào cuộc hội kiến giữa chủ tướng và người trong thành lẻn ra. Khi mặt trời lên cao, tất cả binh sĩ được chuẩn bị sẵn sàng. Vương hổ tướng truyền phát cho bộ đội rượu thịt ăn cho ấm bụng. Khi ăn uống no nê họ chờ hiệu trống để tiến quân.

Mặt trời lên cao, nắng chang chang, nóng bức, không một chút gió. Vương hổ tướng hô lên một tiếng, quân sĩ xếp thành sáu hàng dài. Theo tiếng hô quân của chủ tướng, tất  cả binh đội đều hô theo, vừa hô, vừa giơ cao vũ khí, mỗingười một khẩu súng, một thanh đoản kiếm, chạy thẳng lên phía trước mặt.

Họ đi lên trước cầu con, qua hào, một số lớn phải lội, đến tập trung ở cửa Bắc. Các đội trưởng không muốn Vương hổ tướng đứng hàng đầu vì chưa hiểu bụng dạ người kia, sợ có mưu phản, gian trá gì chăng. Tất cả quân đội chờ, không một tiếng động nào ở trong vọng ra, binh đội đứng yên không bắn một phát súng nào vào trong thành. Mặt trời lên cao đến đỉnh đầu, Vương hổ tướng vẫn đứng nguyên chờ, thình lình thấy cánh cửa sắt từ từ hé mở, một người thò đầu ra ngoài: Vương hổ tướng thét quân, bao nhiêu binh đội kéo ùa vào, cửa thành mở rộng họ chạy như nước vỡ bờ tràn ngập cả trong thành. Không bỏ phí một chút, chàng truyền kéo ngay tới chỗ ở lão tặc, thét bọn lính không được hoành hành tự do vì chưa bắt được tên chủ tướng. Tất cả binh đội theo chàng lục soát tìm kiếm. Khi tìm thấy chỗ ở của tên này, gian phòng bỏ trống, hắn đã cùng bọn thủ hạ tẩu thoát theo cửa Nam. Chàng nhìn ra ngoài phía cửa Nam, xa xa thấy bụi bay mù mịt. Chàng đứng một lúc, không đuổi theo nữa. Đã chiếm được thành trì, cả vùng này ở trong tay chàng, cần gì một tên tướng cướp già với thủ hạ lâu la của hắn.

Chàng trở lại trong tòa nhà bỏ không của tên trùm, những binh lính của tên này lục tục kéo lại chào và xin được bảo trợ. Chàng ngồi ở gian chính giữa, bọn lính kéo lại, lũ năm lũ mười, người nào cũng gầy còm ốm yếu trông còn

thảm tệ hơn những năm mất mùa đói kém. Đến trước mặt Vương hổ tướng, họ quỳ cả xuống chắp tay vái xin được dung nạp. Chàng chấp thuận kết nạp, đãi ăn uống và phát cho mỗi người năm đồng. Anh chàng đêm qua đến dẫn đầu bản đội của hắn. Vương hổ tướng trao tận tay tên này số tiền 200 đồng đã hứa, truyền đem cho hắn một bộ quân trang cấp bậc đại đội trưởng. Chàng cho ghi công hắn kết nạp vào trong binh đoàn.

Sau khi thu nạp xong bọn tàn binh của viên tướng cũ, thưởng phạt phân minh, Vương hổ tướng nghĩ đã đến lúc chàng phải thực hiện lời chàng đã hứa trước mặt ba quân. Bọn lính nhấp nhổm chờ chàng cho phép tự do. Có một điều lạ là bây giờ chàng đạt được chí nguyện, lòng căm thù đối với dân trong thành đã tiêu tán, chàng nghĩ xót xa, ái ngại nếu làm cho dân chúng phải cực khổ, điêu linh. Tuy nhiên, chàng phải giữ chữ tín đối với thuộc hạ, bắt buộc chàng phải cho họ ba hôm được tung hoành phóng túng. Trong ba hôm đó, lòng chàng se thắt, không muốn nghe, không muốn trông thấy những cảnh thương tâm, đồi bại, chàng đóng kín cửa ở trong phòng với các vệ sĩ. Có hai, ba trăm vệ sĩ túc trực bảo vệ, bọn này nóng lòng sốt ruột cũng muốn được hưởng thú tự do, chàng đành phải chiều lòng cho đi gọi bọn khác về thay thế. Thấy bọn lính gọi về, mắt người nào cũng đỏ ngầu, mặt mũi hung dữ, chàng ngoảnh mặt không muốn nhìn, không muốn nghĩ những cảnh đau khổ thương tâm của dân chúng trong thành đang bị lính phá phách vơ vét, hiếp tróc.

Thằng Rỗ vẫn quanh quẩn bên chàng, ngỏ ý muốn tò mò xem cảnh tượng ra sao, chàng được thể như trút nỗi bực tức lên đầu thằng nhỏ:

– Cả mày cũng muốn đi làm những việc tồi bại như tụi khốn nạn đó hử?

Chàng muốn thằng nhỏ luôn luôn ở bên mình chàng, sai nó lấy cái này cái kia. Khi tiếng rên siết lọt thấu đến tận phòng, chàng càng bực bội khó chịu, càng tức, càng rầy la thằng cháu. Thấy chú không vui, tính nết cáu kỉnh, thằng nhỏ sợ toát mồ hôi, không dám hé răng một lời.

Sự thật trong lúc phẫn nộ, chàng không thể hung bạo, tàn nhẫn, chém giết, cái đó có lẽ cũng là nhược điểm của một  người làm tướng, sự vinh quang thành công phần nhiều vẫn xây bằng xác chết kẻ khác. Chàng cũng biết một nhược điểm là chàng không đủ can đảm làm việc gì trái với lương tâm, chàng cũng hiểu không thể gữ được mối căm thù, phẫn nộ đối với dân trong thành, chàng nghĩ bọn người này ngu xuẩn đáng ghét đã không biết tìm cách gì để mở cửa thành cho chàng.

Khi bọn lính ủ rũ, trở về xin lương thực, chàng vừa buồn vừa giận hét to:

– Đi cướp phá chưa đủ ư lại còn về xin ăn?

Bọn lính trả lời:

– Cả tỉnh không còn được một nắm thóc. Chúng con chỉ thấy có vàng bạc vóc lụa, những thứ đó không ăn được. Dân quê các vùng lân cận, cũng sợ không gánh thực phẩm lên. Ở tỉnh không còn có gì ăn được.

Nghe nói thế, Vương hổ tướng nghĩ đến dân tình lòng xót xa đau đớn, tuy phát lương cho bọn lính nhưng chàng nhiếc móc. Có lần chàng nghe một tên lính bô bô nói năng thô lỗ:

– Bọn đàn bà, con gái ốm nhom, như gà trụi lông, trông không có gì hứng thú là khoái cả.

Vương hổ tướng nghĩ đến dân chúng lầm than, cơ cực, tâm hồn chàng tê tái, lòng buồn rười rượi. Chàng vào phòng riêng một mình để che giấu nỗi buồn, nỗi bực tức, căm hờn đối với bọn lính vô nhân đạo, vô ý thức.

Chàng nghĩ hiện nay đã chinh phục được một vùng mới, đất cát phì nhiêu giang sơn cẩm tú, mở rộng được cương giới, đạt được chí nguyện, nghĩ như thế, chàng như cất được nỗi buồn, tinh thần phấn khởi hăng hái. Chàng lại nghĩ đến hai cô vợ ở nhà, thế nào một trong hai người chẳng sinh hạ cho

chàng một đứa con trai, chàng tự nhủ thầm:

– Ta vì đứa con trai đã chịu gian nan, vất vả, những kẻ  khác cũng cố chịu cực khổ trong ba ngày. Chàng đã giữ lờihứa, đã cố gắng chờ cho hết ba ngày.

Sang ngày thứ tư chàng dậy thật sớm, cho lệnh thổi kèn loan báo cho tất cả binh lính được biết cuộc cướp phá chấm dứt, nhất luật phải trở lại quân kỷ. Khác với mọi hôm, sáng hôm đó nét mặt chàng hầm hầm, cương quyết, đôi lông mày đen rậm luôn luôn nhíu xuống cặp mắt, trông thấy, không một ai dám trái lệnh.

Chàng dạo quanh một vùng ở trong tỉnh, hết sức ngạc nhiên thấy vài ba người dân thân hình quá tiều tụy, ngồi ở bực thềm nhà trước cửa. Khi Vương hổ tướng đi ngang, dưới ánh nắng nhạt mùa thu, có vệ sĩ đi dàn hầu, gươm dáo sáng loáng đám dân ngồi trước cửa, vẻ mặt hốc hác, buồn thiu, không đủ sức nhấc nổi đầu nhìn chàng. Họ ngồi yên lặng, không nhúc nhích, như những xác không hồn. Trước một cảnh tượng thương tâm, bi đát đó, Vương hổ tướng tự thẹn với mình và quá nỗi kinh ngạc, chàng không thể dừng bước hỏi han được một ai, chàng như không ngó thấy bọn người đó, chăm chú ngắm nhìn các cửa tiệm ở hai bên phố, cửa tiệm nào cũng đầy nhóc những hàng hóa. Đô thị này nằm trên bờ sông, con sông chảy thông ra biển, một giang hải để  tải hàng ngoại hóa nhập nội, Vương hổ tướng thấy nhiều thứhàng ngoại quốc lạ mắt, chàng chưa từng thấy bao giờ.

Những gian hàng để lỏng chỏng, bụi bặm, như đã lâu ngày không ai hỏi đến. Chàng nhận ra ở đô thị có hai thứ khác lạ không như mọi nơi, không có một hàng thực phẩm nào, gian  chợ bỏ vắng ngắt không một người mua một người bán. Phốxá vắng ngắt, không một tiếng động, chàng ngạc nhiên tự hỏi vì lẽ gì không nghe tiếng cười đùa của trẻ nhỏ, vì thường  ra nhà nào cũng đầy trẻ nhỏ, tung tăng chạy chơi, khắp phố cùng đường. Đột nhiên, chàng cảm thấy khó chịu phải nhìnnhững bộ mặt hốc hác, buồn thiu của mấy người đàn ông, đàn bà còn sót lại. Kể ra cũng không thể buộc tội chàng đã gây cảnh điêu linh trong dân chúng, vì chàng đã không làm gì quá đáng, có một đường lối duy nhất để đạt tới đích mà  bất cứ ông tướng nào cũng phải làm như thế. Thật tình vớinghề làm tướng cần phải sát phạt, Vương hổ tướng quả là một người có lòng trắc ẩn từ tâm.

Chàng quay gót trở về phòng, không muốn nhìn đô thị này từ nay thuộc quyền cai trị, sở hữu của chàng, hiện đang ở trong tình cảnh bi đát, tang thương. Chàng mắng chưởi bọn lính , chàng hét bọn này phải dãn ra xa, chàng không muốn nhìn bộ mặt ngu xuẩn, những tiếng cười ghê rợn, thô

lỗ. Chàng rất bực tức nhìn thấy những chiếc nhẫn vàng bọn lính đeo ở tay, những chiếc đồng hồ quả quít ngoại quốc họ đeo ở người và những thứ khác họ cướp được của dân chúng.

Hai người thủ hạ, thân tín nhất cũng vậy, ở ngón tay anh “mũi diều hâu” đeo một chiếc nhẫn vàng, anh “chọc tiết heo” một chiếc nhẫn cẩm thạch ở ngón tay cái, ngón tay thô lỗ, cục mịch, to quá chiếc nhẫn không vào lọt, đeo lơ lửng ở đốt ngón tay. Thấy thế, chàng muốn xa bọn người ghê tởm, chàng cho là một loài sài lang. Ngồi một mình trong phòng, lòng hết sức buồn rầu, ai lại gần chàng, hơi có chút gì, chàng la hét om sòm. Chàng ở trong phòng hai ba ngày, bọn lính thấy chàng bực tức, cáu kỉnh, sợ quá, không dám làm gì thất ý chủ tướng. Ngồi trầm ngâm suy nghĩ, cho là thói thường của chiến sự, chàng đã chọn nghề này, số trời đã định, đã theo đuổi nghiệp võ, chàng phải theo đuổi đến cùng. Nghĩ vậy chàng như trút được nỗi ưu sầu phiền muộn, lòng thư thái, tinh thần phấn khởi. Chàng đứng dậy ra tắm rửa, đã ba hôm nay, buồn rầu chàng không tắm rửa cạo râu. Thay quần áo xong chàng cho mời ông Phủ lại trình diện. Vương hổ tướng ra ngoài nhà khách ngồi chờ ông Phủ lại. Độ một hai giờ sau ông phủ tất tưởi đến, vịn vào hai người, nước da xanh ngắt, mặt mũi hốc hác bơ phờ. Thấy chàng, ông cúi đầu chào, dáng điệu nho phong, chàng hiểu ông là một văn nhân dòng dõi trâm anh, bèn đứng dậy nghiêng đầu đáp lễ và mời ông ngồi. Đối diện, chàng hết sức kinh ngạc thấy ông khách da mặt và tay đen sạm như miếng gan để khô hai ba ngày, người gầy đét như chỉ còn da bọc xương, chàng thốt nhiên hỏi:

– Úi chà! Dễ thường cụ cũng bị nhịn đói hử?

Ông phủ thản nhiên trả lời:

– Vâng, tôi cùng đồng bào cam khổ dữ đồng, mà không phải lần này là lần thứ nhất.

– Thế sao người bữa trước trèo thành ra xin hoãn chiến, tôi thấy khỏe mạnh béo tốt?

– Phải, họ đã nuôi nấng cho ăn uống đầy đủ, vì nếu ngài từ khước, ngài coi người đó tất sẽ dự đoán là trong thành còn đủ lương thực có thể cầm cự được lâu.

Vương hổ tướng không khỏi khâm phục mưu mô xảo trá, mánh khóe đó, chàng lại hỏi:

– Thế lão đội trưởng trèo ra ngoài thành người cũng béo tốt?

Ông Phủ thản nhiên trả lời:

– Họ chăm cho bọn lính được ăn uống đầy đủ, còn dân sự  không có gì ăn, chết đói như rạ. Những người ốm yếu khôngđủ sức, người già trẻ con chết vô kể.

Vương hổ tướng thở dài nói:

– Ừ, kể cũng lạ thật, tôi không thấy một đứa nhỏ nào.

Ngồi ngó ông phủ một lát, vì công vụ bắt buộc, chàng phải nói nội dung chủ yếu của cuộc hội kiến:

– Theo nguyên tắc bây giờ cụ phải đến xin phục tòng quy thuận tôi. Lão tướng trước đây cai quản hạt này tôi đánh bại đã lưu vong, hiện giờ đây tôi là thủ lãnh, vùng này từ đây sáp nhập vào cương giới của tôi ở phương Bắc. Từ giờ trở đi bao nhiêu thuế má lợi tức ở hạt này thuộc về tay tôi. Ngoài số thuế má, tôi yêu cầu cụ nạp cho hàng tháng một số tiền nhất định là bao nhiêu.

Vốn người lịch sự, chàng đã lựa lời nói năng mềm mỏng nhũn nhặn.

Với một giọng mệt nhọc, hai môi khô đét thâm sì hơi mấp máy để hé lộ bộ răng to và trắng, ông phủ nói:

– Chúng tôi bây giờ thuộc quyền của quý ngài. Xin khất ngài rộng lượng cho một hai tháng để được hồi phục.

Ông nói xong, ngừng lại suy nghĩ một lúc, nét mặt rầu rầu nói tiếp:

– Vấn đề ai cai trị ở đây chúng tôi không quan tâm lắm, miễn sao chúng tôi được yên ổn làm ăn nuôi lũ con dại. Tôi xin thề, tôi và đồng bảo tôi ở đây xin vui lòng nạp thuế má, cung phụng tùy theo khả năng của chúng tôi, miễn sao ngài đủ uy lực cản bọn các ông tướng khác đừng bén mảng đến

đây, ngài giữ được an ninh trong hạt.

Vương hổ tướng cũng chỉ cần biết có thế. Nghe tiếng nói yếu ớt, mệt nhọc, hơi thở hồn hển, chàng động lòng trắc ẩn, kêu lính, truyền:

– Dọn cơm rượu mời cụ phủ và các người này ăn.

Sau khi cơm rượu dọn rồi, chàng gọi bọn thủ hạ tâm phúc lại bảo:

– Các anh đem theo ít lính đi khắp các làng mạc, thôn xóm, bắt các nông dân phải gánh gạo cùng các thứ thực phẩm lên tỉnh bán, chiến tranh đã chấm dứt, ta muốn chợ búa lại họp buôn bán như trước.

Đối với toàn dân trong hạt chàng tỏ ra một người có độ lượng, chính trực. Ông phủ hết lời cảm ơn lòng tốt của chàng, chàng cũng cảm động được sự ghi ân đó. Chàng nhận xét ông Phủ thật là một người nho phong, gia giáo, đói gần lả, đồ ăn bày la liệt trước mặt, hai tay ông vẫn xum xoe, vẫn giữ phép xã giao, mời chào đưa đẩy. Theo xã giao, Vượng hổ tướng ngồi tiếp, ông phủ tuy đói vẫn làm khách, ăn cầm chừng. Chàng biết ý, nghĩ thương hại, giả vờ có việc xin kiếu đứng dậy, để ông ăn một mình. Ông phủ ngồi

riêng một mâm, các thủ hạ ông ngồi một mâm, chàng được  nghe đầy tớ dọn mâm kháo nhau các mâm hết sạch, bát đĩa nhăn bóng như chùi.

Chàng sung sướng thấy chợ họp đã đông, thực phẩm đã thấy bày bán ở các hè phố, dân chúng, đàn ông đàn bà dần dần có da có thịt, nước da xưa kia xanh sạm bây giờ đã hồng hào.

Suốt cả mùa đông chàng ở trong tỉnh, lợi tức thu nhập  được, công việc trong ngoài thu xếp ổn định, chàng rất vuimừng đã thấy trẻ con ra chào đời, đàn bà ẵm con cho bú.  Trước cảnh tượng đó, tâm hồn chàng rung động, nghĩ đã đếnlúc trở về quê cũ. Lần đầu tiên chàng thắc mắc tự hỏi không biết hai cô vợ ở nhà hiện nay ra sao? Chàng xếp đặt công việc để cuối năm trở lại nhà.

Khi công việc hãm thành vừa chấm dứt, các thám tử đi do thám trở về báo cáo một trận đại chiến Nam Bắc vừa phát khởi, quân Bắc toàn thắng. Chàng vội vàng gửi một phái bộ lên ông Đại tướng trên tỉnh, đem theo lễ vật vàng bạc vóc lụa và một phong thơ. Lá thơ đó chính tay chàng viết, chàng tự hào một người có văn tự; các ông Lãnh chúa phần đông mù chữ. Dưới lá thơ chàng đóng một triện son to, bây giờ chàng là một nhân vật quan trọng. Trong thơ, chàng tường trình đã đánh bại một tên tướng miền Nam, chinh phục được một vùng lớn ở miền duyên hải.

Ông tướng trên tỉnh gửi một phong thơ trả lời hết sức ca ngợi sự thành công của chàng, phong cho chàng một chức tước rất hoa mỹ, cuối thơ yêu cầu chàng hàng năm gửi lên tỉnh một số tiền để đài thọ quân phí.

Vương hổ tướng cũng tự biết chàng chưa đủ sức để khước từ, hứa xin y lời hàng năm cống hiến. Chàng đã  nghiễm nhiên trở thành một yếu nhân của chính quyền trong nước.

Ngày tháng thoi đưa, đã gần hết năm. Vương hổ tướnglàm bản thống kê công việc trong năm đã làm, kết quả thu  lượm được. Cương giới đã mở rộng gấp đôi, trừ những miền núi non, cằn cỗi, những ruộng đất phì nhiêu vừa trồng lúagạo và lúa mạch, ngoài ra lại còn những nguyên liệu thiên nhiên, hay sản phẩm như: muối, dầu, vừng, đỗ … Có một  điểm rất quan trọng là có đường thông ra biển, chàng có thểdễ dàng nhập càng nhiều thứ hàng ngoại quốc; cần dung súng ống đạn dược, chàng có thể điều đình mua ở ngoại quốc không cần nhờ đến anh Hai.

Ngoài những chiến lợi phẩm thu được của viên tướng cũ, có hai khẩu đại bác lớn. Vương hồ tướng lạ quá, chưa trông thấy bao giờ, chàng nảy ra ý muốn mua của ngoại quốc những cỗ đại bác có hỏa lực rất mạnh. Hai khẩu đại bác này đúc bằng một thứ sắt rất tốt, không có bọt, nhẫn thín, cỗ  súng này chắc một người thợ rèn nào khéo tay lắm mới làm được. Hai khẩu này nặng lắm, phải hai mươi người lực  lưỡng, cố hết sức mới nhấc lên nổi. Mấy khẩu súng này gợitính tò mò của Vương hổ tướng, chàng muốn biết cách bắn ra sao. Không một ai biết sử dụng thứ vũ khí lạ lùng này, mà cũng không có đạn để bắn thử. Họ cố lục soát tìm tòi thấy ở trong kho có hai cục sắt tròn to, chàng chắc đúng là đạn đại bác.

Tìm thấy đạn, chàng mừng quá, cho khênh một khẩu đại bác ra ngoài trời, đặt chĩa sang ngôi chùa cổ, mặt trước chùa có một khoảng đất bỏ trống. Lúc đầu không ai chịu ra sử dụng đại bác, Vương hổ tướng treo giải ai biết bắn đại bác sẽ được một số tiền thưởng. Viên đội trưởng làm nội ứng cho chàng lúc trước, nghe nói có thưởng và ý muốn lập công, tình nguyện ra thử súng. Trước kia hắn có xem bắn đại bác, còn nhớ cách thức sử dụng. Hắn lấy một thanh tre dài đầu buộc giẻ tẩm dầu, đốt lửa, hắn cầm một đầu thanh tre đứng xa đốt vào nòng súng; khi thấy khói bốc lên, những người đứng xem chạy thật xa, chờ đạn nổ. Một lúc nòng súng đẩy viên  đạn bắn ra xa tiếng nổ vang động như sấm sét, rung chuyển cả đất, khói lửa mù mịt, hỏa lực mãnh liệt, đến cả Vương hồ  tướng một lúc thấy người run lên, trái tim ngừng đập vì sợquá. Khi bắn xong mọi người chạy ra chỗ cổ tự, thấy có một

chỗ bị phá, bụi cát mù mịt. Vương hổ tướng sung sướng quá, được biết một thứ vũ khí lạ lùng, chàng nói lớn:

– Nếu trước ta có những khẩu đại bác này, ta không cần  phải hãm thành, một vài viên đạn cũng đủ phá tan các cửathành.

Chàng suy nghĩ một lúc quay lại hỏi viên đội trưởng:

– Thế sao ông chủ tướng cũ của anh không sử dụng thứ võ khí này để đánh ta.

Viên đội trưởng trả lời:

– Lúc đó không ai nghĩ đến thứ vũ khí này. Hai khẩu này ông tướng cũ chiếm được của một ông khác, họ cho khênh lại đây vứt xó, có ai biết bắn đâu. Chúng tôi cũng không biết có hai viên đạn đó, hai khẩu vẫn để nằm trơ ở góc sân ngoài.

Vương hổ tướng được hai khẩu đại bác đó như được gói vàng, chàng định sẽ mua ở ngoại quốc đạn đại bác, chàng cho khênh hai khẩu súng đó để vào một nơi chàng nom thấy luôn để dễ bề kiểm soát. Khi làm xong tổng kê những chiến lợi phẩm, kết quả thu hoạch trong một năm, lòng chàng sung sướng khoan khoái sửa soạn để trở về thăm nhà. Chàng để lại một đạo

quân hùng mạnh, toàn binh lính cũ, bảo an trong tỉnh.  Chàng đem theo về toàn tân binh và viên đội trưởng vừa kếtnạp. Chàng suy tính cân nhắc đặt quyền chỉ huy, thống lĩnh, vào hai người mà chàng có thể tin cậy được. Chàng để anh mũi diều hâu và thằng cháu; thằng này bây giờ đã lớn, một

thanh niên vạn vỡ, khỏe mạnh, thấp lùn, phải bộ mặt rỗ thì đến lúc già lúc chết cũng vậy. Chàng đã nghĩ kỹ phải để hai người. Thằng Rỗ hãy còn trẻ quá, chưa thể đảm nhiệm được hết, còn anh mũi diều hâu chàng không dám quá tin giao phó cho hết, nghĩa là hai người phải tương trợ lẫn nhau.

Chàng bảo riêng thằng Rỗ:

– Mày phải để ý coi nó, nếu có gì khác, mưu đồ phản nghịch, phải mật sai người đi suốt ngày đêm về cấp báo ngay cho tao biết.

Thằng Rỗ hứa xin triệt để thi hành mệnh lệnh, hai mắt nó sáng ngời lên, hớn hở sung sướng được chú đặt vào một địa vị quan trọng. Phần chàng cũng yên chí, đã có người thân tín huyết mạch ở lại trông coi.

Ổn định trong ngoài, đề phòng an ninh, Vương hổ tướng ca khúc khải hoàn trở lại thăm nhà. Dân cư trong đô thị, lo kiến thiết lại nhà cửa bị tàn phá vì chiến cuộc. Các cửa hàng lại mở cửa buôn bán, các khung cửi lại nhộn nhịp hoạt động sản xuất vải lụa, dân chúng lại hoạt động, buôn bán như trước, chuyện cũ đã lui vào dĩ vãng. Chẳng qua muôn việc ở đời cũng do Hoàng Thiên xếp đặt.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply