This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Tuyển tập Phùng Cung dày 436 trang, chia làm 3 phần:
Phần thứ nhất gồm 10 truyện ngắn. Phần thứ hai là tập thơ Trăng Ngọc. Phần thứ ba gồm một bài viết của Nguyễn Chí Thiện về Phùng Cung và truyện ngắn Con Ngựa Già Của Chúa Trịnh. Độc giả trong và ngoài nước biết nhiều đến Phùng Cung là qua truyện ngắn này. Đọc sách của những tác giả sống trong thế giới công sản nói chung, chỉ có một điều người ta thấy được một cách rõ rệt, đó là: con người khổ quá! Người viết, hay tác giả, thường cùng với các nhân vật trầm luân trong một bể khổ. Dường như các tĩnh từ, trạng từ không đủ để diễn tả những hoàn cảnh, trạng thái của các nhân vật. Sự can đảm chịu đựng cũng như các mưu chước, độc ác, lạnh lùng, người ta đem ra đối xử, hành hạ nhau, đều đáng sợ.
Được biết Phùng Cung sinh năm 1928 và theo chính lời con trai ông kể lại, Phùng Cung đã tham gia cách mạng từ năm mới 17 tuổi. Phùng Hà Phủ con trai Phùng Cung cho biết:
“Trong suốt thời gian tham gia cách mạng, bố tôi ít có dịp trở lại quê nhà. Khi chính phủ phát động phong trào ‘cải cách ruộng đất bố tôi cũng như bao anh em khác cùng cơ quan phải về các địa phương khác nhau tham gia phong trào. Một lần, nhân dịp tết Nguyên Đán về thăm gia đình, thấycảnh tượng cửa nhà, ruộng đất bị chia cướp, phá phách. Ông nội tôi rất lo lắng vì gia đình sợ bị quy là thành phần địa chủ, cường hào. Bố tôi çó an ủi, động viên ông: Con đi làm cách mạng, thoát ly đã lâu, thì thế nào gia đình mình cũng được chiếu cố. Cùng lắm là nhà nước lấy lại hết ruộng đất chia cho người nghèo hơn, bố cứ an tâm, đừng lo lắng gì”.
Nhưng hy vọng của Phùng Cung đã tan thành mây khói ngay đợt phát động đầu tiên: bố ông đã bị quy là thành phần địa chủ, bị đấu tố và sau đó chết trong tù. Về việc Phùng Cung tham gia vào vụ Nhân Văn Giai Phẩm, con trai ông cho biết như sau:
“Năm 1956, một nhóm văn nghệ sĩ gồm những người tham gia kháng chiến cũ tập họp nhau đứng ra thành lập báo Nhân Văn và Giai Phẩm. Ông Nguyễn Hữu Đang đến gặp và bảo bố tôi tham gia viết bài ‘Con Ngựa Già Của Chúa Trịnh’ đăng trên báo Nhân Văn ngay sau đó. Thời gian này mẹ tôi thấy người chung quanh bàn tán với nhau tờ Nhân Văn ‘có vấn đề’. Và chỉ một thời gian ngắn sau khi có bài viết của bố tôi thì tờ báo bị cấm xuất bản và lưu hành”.
Sau đó, như người ta được biết, gần như toàn bộ các *người tham gia vào việc xuất bản hai tờ Nhân Văn và Giai Phẩm đều bị bắt. Riêng Phùng Cung bị giam từ đó, tức là khoảng tháng 05-1956 cho đến khi có Hiệp Định Paris, nghĩa là 12 năm sau mới được tha ra. Ông bị giam tại Hỏa Lò [Hà Nội], rồi Bất Bạt [Sơn Tây], Yên Bình [Yên Bái] Phong Quang [Lào Cai] …
Phùng Hà Phủ kể tiếp:
“Nhớ lại, theo bố tôi kể, khi xảy ra chuyện, buổi sáng đó, bố tôi được triệu tập tới cơ quan để họp. Đến nơi thấy mọi người xung quanh cố lảng tránh mình, thậm chí không ai dám mời nhau một chén nước. Ngay cả những người bạn rất thân và thường lui tới nhà cũng tìm cách lánh mặt. Ngay sau đó, bố tôi bị đem ra kiểm điểm trước cuộc họp, mà thực chất gần như một buổi đấu tố ‘cải cách’ của thời Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật [gồm cả đại diện bên văn nghệ quân đội].
Chủ trì cuộc đấu tố gồm các ông Võ Hồng Cương, Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên, Hoài Thanh … Cảm tưởng đau xót và ngỡ ngàng nhất đối với bố tôi là những bạn thường ngày chơi thân với bố tôi như vậy, tham gia vào việc đấu tố. Ngày hôm đó, ông Trần Dần là người đứng lên ‘tố để hai ông Hoàng Cầm và Lê Đạt làm chứng dối. Tội chính mà bố tôi bị ‘tố” là mang lòng hận thù cách mạng sau cái chết của bố mình. Lôi kéo người khác cùng về hùa để lăng mạ lãnh đạo” …
Vẫn theo lời kể của con trai ông Phùng Cung thì, trước khi bị bắt và khai trừ khỏi Đảng, ông từng là đối tượng được cơ quan đề nghị sang học tại Liên Sô, nhưng ông trực tính, không ưa sự giả dối, hay châm chọc, đả kích người xu nịnh, nên có lẽ vì thế ông bị những người này ghét, hận. Con trai ông không nói rõ, nhưng chắc là chuyến đi Liên Sô của ông đã bị hủy bỏ.
Về việc lấy vợ của Phùng Cung cũng bị rắc rối. Ông báo cáo với cơ quan ý định kết hôn của mình. Cơ quan cử các ông Kim Lân, Hoàng Thượng Khanh, Lều Thọ Hợp … về quê bà để điều tra. Họ cho rằng nhà bà tuy không là địa chủ nhưng cũng thuộc thành phần của giai cấp phong kiến, không tiến bộ, nên không đồng ý. Nhưng Phùng Cung đã không chấp hành ý kiến trên’, ông cứ tiến hành đám cưới của mình.
Ở tù ra, Phùng Cung bệnh hoạn, không công ăn việc làm, cả gia đình ông chỉ còn trông cậy vào đôi vai gánh vác của bà, mọi người sống trong khổ cực, âu lo, vất vả. Có thể nói, gần như suốt đời, từ lúc thoát ly tham gia
cách mạng như cách nói thời bấy giờ, cho đến lúc chết, hình như ông không được sống một ngày thong thả, hạnh phúc. Suốt cuộc đời đau thương ấy, thực tế không bao giờ người ta thấy một nhân vật có quyền hành thật sự nào xuất hiện, chỉ vài ba người trong chính giới cầm bút, được ai đó trao cho chút quyền, hành hạ các đồng nghiệp, bằng hữu.
Đã có lần Lê Đạt nói với Phùng Cung thế này:
“Cung ơi, dù thế nào tao vẫn là bạn mày, tao có lỗi với mày. Có gì mày cứ gọi tao ra mà mắng”.
Mắng nhau thì vớt vát được cái gì đây?
Sống một cuộc sống như thế mà vẫn tồn tại được, vẫn viết được, thật khủng khiếp! Những người từng bị tù cộng sản, ở tù có thể không biết vì sao mình bị ở tù, tù không án, không xét xử, không biết bao giờ được tha, nói rằng sau một năm, hai năm và càng lâu người ta càng không còn để ý hay biết đến ngày tháng nữa. Biết để làm gì đây? Người ta tồn tại chứ không còn sống nữa. Và tồn tại trong những điều kiện không một con vật nào chịu đựng nổi, chẳng hạn như chỉ làm chứ không được ăn, đừng nói đến những cái khác. Dấu hiệu duy nhất để người ta biết chắc mình còn sống trong những ngày địa ngục ấy là người ta còn suy nghĩ được.
Thơ của Phùng Cung, truyện của Phùng Cung là những gì ông suy nghĩ trong những ngày như thế. Chỉ cần nói thật về mình, nói thật về người, về những gì nhìn thấy chung quanh, đủ làm nên những ‘tác phẩm’ trường
hợp thông thường, không trí tưởng tượng nào tạo ra nổi. Vì thế, tất cả các truyện ngắn trong tuyển tập của Phùng Cung đều là những truyện hay.
Nhưng tiểu sử của ông, những gì ông trải qua lại là những truyện hay nhất, dù đọc xơng, trong nhiều giờ, nhiều ngày, người ta cảm thấy tâm hồn không bình thường trở lại được nữa.
Cũng như Phùng Cung người ta thấy thương những con ngựa, dù có cố giữ cái thế ‘cao đầu phong vĩ’ thì rút cục vẫn chỉ là những con ngựa. Tuy được in chung trong tuyển tập truyện ngắn, nhưng Trăng Ngọc, thơ của Phùng Cung là một phần riêng biệt. Có thể coi Trăng Ngọc như tập nhật ký trong tù của
Phùng Cung, một tập nhật ký không đề ngày tháng. Không đề ngày tháng, vì đó là một chuỗi thời gian trắng, một cái khuôn, hay dùng chữ của Ôn Như Hầu cái lò cừ [Lò cừ nung nấu sự đời] không cần ghi dấu.
Trong bài Vay Nóng Phùng Cung viết:
Đất nước tôi
Triền miên bất hạnh
Tụi mặt dày – tay bẩn
Tim rắn – lời cừu
Văn hóa lớp hai
Điều hành cuộc sống
Tránh làm sao
Khỏi nát ngọc nhân quyền
Nhân danh một nạn nhân
Đứng giữa mênh mông
Cùm lim – rào kẽm
Khản cổ – chìa tay
Khấn xin những quốc gia
Văn minh – từ thiện
Cho dân Việt Nam tôi
Vay nóng chút dân quyền
Vay nóng? Lâu lắm người ta mới được đọc, mới được nghe lại hai cái từ buồn bã đó. Vay nóng. Vay xổi. Vì cần quá. Không còn biết kiếm đâu ra. Vay cũng hàm ý sẽ trả. Trông cậy vào đâu để trả chỉ có người vay biết.
Thật tàn nhẫn khi đọc những lời như thế, viết trong những hoàn cảnh như thế mà người ta lại muốn nó phải hay, phải văn chương, phải mới từ ngôn ngữ đến ý tứ …
Đáng lẽ vấn đề nêu ra chỉ là: làm thế nào con người có thể sống được, tồn tại được, trong hoàn cảnh như thế. Thơ cứu rỗi người ta chăng?
Trước mắt trẻ thơ,
mỗi tinh cầu chỉ là chấm nhỏ
Càng tối đen càng nhìn rõ xa / xanh
Mắt phàm tục đăm đăm vương chút lệ
Chút lệ này xuất hành từ trí tuệ con người
Hỡi biển cả
Diện tuy rộng
nhưng thiếu những giác quan
cần thiết
Lòng tuy xạnh – sâu
Xanh sâu đầy mặn chát
Bỏ mất mênh mông, chuốc lấy ồn ào
Tự thao túng – cái thói hư nộ cuồng
sóng vỗ
Trống trải bơ vơ, chiều quả phụ
Bình minh vô vọng phương mờ
Ôi! Bao yên lặng thanh cao
Đều chìm lặng trong thét gào man rợ
Thì nhắm mắt, bưng tai
Nhưng phải đâu khiếp sợ
Chỉ điếc đui vừa đủ, để làm ngơ
Ai cho phép ngươi
tự dành phần hương hoả nhỏ to
Một giọt nước
Vẫn tình nguyện tách đôi
Để cùng thấy rõ
Vậy dẫu vô cùng lớn lao gì đó
Ta chỉ yêu cầu hài hòa
Với vô cùng bé nhỏ mà thôi!
Điều khiến người đọc rùng mình khiếp sợ tự hỏi, thế những người vợ, những đứa con, người ta đi công tác vài ba năm, có khi dăm bảy năm mới được phép về nhà một lần, để lại / đâu / không thấy nhà thơ nhắc đến nhỉ?
Tổ quốc, quê hương, ý nghĩa cuộc đời là những điều to lớn đã chiếm hết tâm trí người ta hay sự thực là người ta phải quên những điều nhỏ bé ấy mới sống nổi?
Tổ quốc ư?
Đây là những lời Phùng Cung nói với tổ quốc:
Tổ quốc kính yêu ơi
Văn hiến – thuần phong – mỹ tục
Phút chốc bàn tay cộng sản dập vùi
Định nghĩa – tên người
Tôi không nói được
Nếu bị dồn hỏi
Tôi chỉ có thể trả lời
Bằng hai hàng nước mắt
Tổ quốc kính yêu ơi!
Quê hương u?
Đây là những điều Phùng Cung nói với quê hương:
Quê hương ơi!
Đường quan lầy nước mắt
Điệu sáo hết du dương
Mây chìm, gió ngủ
Chiều nắng da bò
Vẫn nhằm biên giới ưu tư
Rầu rầu đề bộ
Sông sâu bặt tiếng gọi đò
Chim hãy giùm ta
Gọi cành xanh ngóc dậy
Quê hương thấy lại quê hương
Ý nghĩa cuộc đời ư?
Còn có gì quan trọng hơn sống chết
Phùng Cung nói về sống chết như sau:
Sống quá khó khăn
Chết chẳng dễ dàng
Ta phải sống
Vì ta còn phải chết
Ơi! Những cánh buồm xanh biếc
Ngược dòng ngân – lộng gió
Có phải đang đưa những oan hồn
Về bên Thượng Đế chí nhân?
Thơ Phùng Cung là những gì vắt ra từ trí não và tàn lực của một người, bị treo giữa đời sống và cái chết, hay nói như chính ông ‘sống quá khó khăn, chết chẳng dễ dàng’. Nó là những tiếng kêu thất thanh, nhưng lại chỉ thốt ra bằng chữ viết. Những câu thơ người ta có thể phải trả giá bằng mạng sống. Và quả thật Phùng Cung đã phải trả bằng chính mạng sống của mình.
Những câu thơ như vậy, chúng ta phải đọc thế nào cho phải đây?
Được biết tắc giả Phan Xuân Sinh mồ côi mẹ từ lúc còn nhỏ. Ông sống với cha trong cảnh hiu quạnh gà trống nuôi con. Ông trưởng thănh vào lúc cuộc chiến Việt Nam bước vào giai đoạn thảm khốc nhất. Và cũng như hầu hết các thanh niên cùng lứa tuổi Phan Xuân Sinh không tòn sự lựa chøn nào khác là vào lính. Nhập ngũ được vài năm, mới 24 tuổi, chiến tranh đã lấy đi của ông bàn chân phải. Cái mà người ta gọi là định mệnh có nhiều khi quá khắt khe với một số người và dành sự may mắn cho một số người khác.
Rủi ro như vậy, lại là người có sẵn một tâm hồn thơ, dĩ nhiên Phan Xuân Sinh sẽ trút tâm sự vào thơ thôi. Có người dùng dao khắc thơ mình trên đá.
Có kẻ vịn vào câu thơ mà đứng lên. Thơ Phan Xuân Sinh không có cái mạnh mẽ ấy, dù có lúc ông so sánh hoàn cảnh của mình với cả Ngũ Tử Tư:
Ngài vượt qua cửa ải thoát thân
ta cũng trốn chạy năm lần bẩy lượt
cái nguy của ta Ngài đâu sánh được
rừng thẳm bể sâu tan xác như chơi
Thơ của Phan Xuân Sinh là những dòng tâm sự. Ông nói với mình, với bạn bè, với cố hương, với người xưa, với người bạn đời của mình.
Trong bài Gặp Lại Bạn Ta [trang 64] Phan Xuân Sinh viết:
Cũng quẩn quanh mấy thằng lưu lạc
Sớm chiều nghề ngỗng chẳng hơn ai
Trong lòng lịm tắt bao chí lớn
Đêm về se sắt tiếng thở dài
vẫn biết thế. Sao mắt ta cay xé
cố cầm lòng nhắc nhở từng tên
bạn ta. Kẻ đầu non cuối chợ
đứa mất đứa còn đâu dễ gì quên
Chén rượu đượm chút tình thân cũ
ta thấy đời đang dậy mùi hương
nhìn nhau hai đứa đâu còn trẻ
Mái đầu điểm bạc tóc pha sương
Chén rượu Phan Xuân Sinh uống với bạn bè trong cuộc gặp gỡ có cái gì đó tựa được rót ra từ chút tình còn sót trong lòng, chắt ra từ cái tình người xưa để lại, cái chết bỏ qua, cái vui chẳng trọn, cái buồn muốn xóa, cái còn, cái mất, hình như không phân biệt được.
Sau đây là những dòng Phan Xuân Sinh nói với những người cùng trôi giạt nơi xứ người sau biến cố 75:
còm lưng. Đẩy cỗ xe thấm mệt
từ Phương Đông ì ạch đến đây
mấy ngàn năm văn vật chất đầy
cũng đành bỏ bên lề quý quốc
bước qua đây. Mặt mày xanh ngắt
thịt da còn bám chặt phèn nâu
lên con tầu chẳng biết về đâu
với những đường thênh thang xa thẳm
mắt nhắm. Mà thấy còn chóng mặt
chữ nghĩa xứ người vật vã từng cơn,
có vội vàng cũng thành đứa chậm chân
giữa phố lạ bơ vơ ngờ nghệch
Có thể nói không có điều gì mới lạ trong thơ Phan Xuân Sinh. Nhưng những điều ông nhắc lại trong thơ tựa những vết- thương-cố-hương chúng ta mang trong lòng, vẫn còn chảy máu mỗi khi chạm tới, nên tự nó vẫn mới, vì, dù Phan Xuân Sinh có nói gì chăng nữa, nó cũng xuất phát từ nỗi đau đớn ấy:
bạn kể đời bao năm lưu lạc
ta kể đời ngày tháng tù đầy
tha phương hồ dễ người tri kỷ
gặp lại nhau chừ ta phải say
chén rượu đượm chút tình thân cũ
ta thấy đời đang dậy mùi hương
nhìn nhau hai đứa đâu con trẻ
mái đầu điểm bạc tóc pha sương
ôi cái thuở của mấy thằng phiêu bạt
nhớ làm chi ba cái chuyện tử sinh
nó nhỏ nhoi như đầu tăm ngọn cỏ
của một thời trai. Sông núi đao binh
Và sau đây là những lời Phan Xuân Sinh bầy tỏ cùng quê nhà:
giờ ở đây. Lòng se thắt lạnh
nhớ phố nhớ người. Đôi mắt long lanh
bên trời xa, bên đời hiu quạnh
chim lạc bầy, chim mỏi cánh tìm quanh
Những câu thơ cảm động nhất của Phân Xuân Sinh là những câu ông nói với nggười bạn đời của mình, từ cái buổi ông nhìn xuống vết thương đã cắt một mảnh thân thể mình:
Ta mệt lả mắt mờ chân mỏi
những lằn roi hằn nỗi đọa đầy
em chia sớt cơn đau cùng khó
lời em như mật rót bên tai
cúi xuống nhìn lại mình băng hoại
xót thương thay mầm sống rã rời
em vì ta lao mình cứu rỗi
trải lòng ra phơi giữa đất trời
cám ơn em, cám ơn đời
tình sau, nghĩa trước. Một trời bao dung.
giữa bao nhiêu cái khốn cùng
còn cho nhau chút thủy chung giữ mình
Như thế, chúng ta có thể hiểu thế này: Phan Xuân Sinh không vịn vào thơ để đứng lên. Thơ của ông là để tạ ơn những chỗ vịn, đó là tình yêu quê hương, bằng hữu và người bạn đời của ông, những gì đã giúp ông đứng lên dưới trời đổ nát.
Trung tá Hung Diep, tuyên thệ trong buổi lễ thăng cấp Đại tá ngày 29 tháng 8 năm 2025 (ảnh của 335th Signal Command (T), Facebook).
Theo nguồn tin từ các trang nhà của Quốc hội Hoa Kỳ (Congress.gov); Bộ chỉ huy nhân lực Hải quân (Navy Personnel Command); Bộ chỉ huy tài nguyên nhân lực Lục quân (United States Army Human Resources Command (HRC)) Trung tâm nhân viên (quân số) Không quân (Air Force’s Personnel Center), và Đoàn y tế công cộng Hoa Kỳ (USPHS), thông báo các bản danh sách Sĩ quan cấp Trung tá được đề cử thăng cấp Đại tá năm 2025 cho tài khóa YF-26. Trong số những Sĩ quan được đề cử, có 11 Trung tá Hải quân, Lục quân, Thuỷ quân lục chiến và Đoàn y tế công cộng Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Đại tá. Danh sách đề cử thăng cấp đã được chuyển đến Quốc hội và đang được Ủy ban Quân vụ Thượng viện xác nhận, bầu chọn.
Năm nay có một số vị sẽ nhận nhiệm sở mới sau khi chính thức thăng cấp Đại tá đó là Đại tá Hung Diep vừa được thăng cấp ngày 29 thàng 8 năm 2025, được bổ nhiệm chức Trưởng phòng 1 (quân số), Bộ Tư lệnh Truyền tin 335, Lục quân trừ bị; HQ Trung tá Brian Truong sẽ được bổ nhiệm làm Hạm phó một Hàng không mẩu hạm nguyên tử sau khi được thăng cấp Đại tá.
Danh sách 11 Trung tá gốc Việt được đề cử thăng cấp Đại tá:
Hải quân (2):
HQ Trung tá Brian Truong, Phi công Hải quân.
HQ Trung tá Dennis La, Kỹ sư công chánh công binh Hải quân.
HQ Trung Tá Brian Truong “phải”, được trao tặng huy chương Meritorious Service Medal do công trạng chỉ Phi đoàn 14 trực thăng chiến đấu biển (HSC-14) trong buổi lễ chuyển giao quyền chỉ huy tại căn cứ Không quân Hải quân North Island, ngày 9 tháng 3 năm 2023 (ảnh của Trung sĩ Hải quân Elisha Smith, dvidshub.net).
Lục quân (7):
Trung tá Nam T. Vo, Bác sĩ nha khoa Quân y Lục quân;
Trung tá Khai Q. Le, Bác sĩ nha khoa Quân y Lục quân;
Trung tá Duc M. Vo, Công binh Lục quân trừ bị;
Trung tá Loan L. Vo, Công binh Lục quân trừ bị;
Trung tá Darrell R. Tran, Lục quân trừ bị;
Trung tá Hung M. Diep, Lục quân trừ bị;
Trung tá Johnie M. Nguyen, Lục quân trừ bị.
Thuỷ quân lục chiến (1):
David J Tran.
Trung tá David L. Trần, nguyên chỉ huy trưởng phi đoàn 373 yểm trợ không đoàn TQLC (ảnh của MWSS-373).
Đoàn Y tế công cộng (USPHS) (1):
Tran Trang, Tiến sĩ Dược khoa.
Không quân (USAF:
không.
Lực lượng không gian (USSF):
không.
Tuần duyên (USCG):
không.
Theo hệ thống thăng cấp Sĩ quan Quân đội Hoa Kỳ (Military Commissioned Officer Promotion) thì sau 3 năm mang cấp Trung tá, khoảng 50% sĩ quan Trung tá sẽ được thăng cấp Đại tá. Và cũng theo tài liệu: Defense Primer: Military Officers – Updated June 4, 2024, thì Hải quân Hoa Kỳ có 6614 Trung tá và 3100 Đại tá; Thuỷ quân lục chiến có 1948 Trung tá và 711 Đại tá; Lục quân có 8589 Trung tá và 3738 Đại tá; Không quân 9222 Trung tá và 3132 Đại tá; Lực lượng Không gian có 724 Trung tá và 229 Đại tá phục vụ toàn thời (Active-Duty Military Officers).
Nữ Trung tá Trang Tran, Tiến sĩ Dược khoa, Doàn y tế cong cộng Hoa Kỳ (ảnh của phscof.org).
Năm 2024, có 16 Trung tá Hoa Kỳ gốc Việt được thăng cấp Đại tá. Riêng về người Việt mang cấp tướng trong Quân đội Hoa Kỳ thì hiện nay gồm có:
Phó Đề đốc Hải quân Tuấn Nguyễn, Tùy viên cao cấp Quốc phòng Tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Bắc Kinh, Trung Quốc;
Thiếu tướng John R Adwards, Giám đốc chương trình sức mạnh Không lực toàn cầu, Không quân Hoa Kỳ tại Ngũ Giác Đài, Arlington, Virginia.
Thiếu tướng William H. Seely III, Thủy quân lục chiến, nguyên Chỉ huy trưởng Trường An ninh Quốc gia và Chiến lược Tài nguyên Dwight D. Eisenhower, hồi hưu vào tháng 5 năm 2025.
Phó Đề đốc Nguyễn Từ Huấn, nguyên Chỉ huy phó an ninh mạng kỹ thuật điện tử, Bộ tư lệnh kỹ thuật hàng hải Hải quân Hoa Kỳ (NAVSEA), hồi hưu ngày 7 tháng 10 năm 2022, nay là cố vấn cao cấp cho Bộ tư lệnh kỹ thuật hàng hải Hải quân Hoa Kỳ (NAVSEA).
Thiếu tướng Lương Xuân Việt, nguyên Tư lệnh Lục quân Hoa Kỳ tại Nhật Bản, hồi hưu vào tháng 6 năm 2021.
Thiếu tướng Lapthe C. Flora, nguyên Phụ tá Tư lệnh Vệ binh Quốc gia Arlington, Virginia hồi hưu hồi tháng 4 năm 2024.
Nữ Trung tá Loan Vo, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1-108 Công binh Lục quân (ảnh của 1st Brigade (EN), 102nd Division (MS)).
Cho đến nay vẫn chưa có phụ nữ gốc Việt mang cấp Tướng trong quân đội Hoa Kỳ, nhưng có một số vị nữ công chức cao cấp liên bang Hoa Kỳ (Senior Executive Service (SES)) gốc Việt đã và đang phục vụ trong các ngành an ninh và Quốc phòng Hoa Kỳ như bà Elizabeth Phu, bà Giao phan, bà Dương Nguyệt Ánh, và một số phụ nữ khác đang phục vụ tại các Bộ, Sở Liên bang Hoa Kỳ. Ngạch công chức cao cấp liên bang Hoa Kỳ (SES) tương đương với cấp tướng trong Quân đội Hoa Kỳ, tuỳ theo thứ bậc và ngạch thâm niên của họ. Họ đảm nhận những chức vị quan trọng trong Quân đội như những vị Tướng, như trường hop của bà Giao Phan, nguyên là cấp chỉ huy thứ hai trong Bộ tư lệnh kỹ thuật hàng hải Hải quân Hoa Kỳ (NAVSEA), vị trí của bà chỉ sau Phó đô đốc James P. Downey. Bà Giao Phan về hưu hồi tháng 3 năm 2023.
HQ Trung tá Dennis La, Kỹ sư công chánh công binh Hải quân (ành của Regina Adams, dvidshub.net).
Tính đến tháng 9, năm 2025, Sĩ quan gốc Việt mang cấp bậc Đại tá Hải, Lục, Không quân/Không gian, Thủy quân lục chiến và Đoàn tế công cộng trên 113 vị, không tính 58 vị đã về hưu*** và 2 vị đã qua đời. Ngoài ra, còn có nhiều vị Đại tá mang họ và tên giống người Việt, nhưng chưa xác định được họ là gốc Việt, Hoa, Nam Hàn ! Riêng bên Tuần duyên (Coast Guard) hiện vẫn chưa có Đại tá gốc Việt, ngoại trừ Đại tá Hung Nguyen hồi hưu vào tháng 6 năm 2012.
Theo tài liệu lưu trữ trên trang Congress.gov, thì trong thập niên 80 đã có 2 Trung tá Bác sĩ Quân y Lục quân gốc Việt được đề cử thăng cấp Đại tá, đó là Trung tá Bác sĩ quân y Lục quân Nghiêm X Quang được thăng cấp Đại tá vào năm 1983, và Trung tá Bác sĩ Quân y Lục quân Nguyễn H Tu được thăng cấp Đại tá vào năm 1986. Sang thập niên 90, Trung tá Bác sĩ quân y Lục quân Nguyễn Dương cũng được thăng cấp Đại tá vào năm 1992. Ba vị trên là những Sĩ quan kỳ cựu gốc Việt mang cấp bậc Đại tá sớm nhất trong Quân lực Hoa Kỳ.
Trung tá Duc M. Vo, Chỉ huy trưởng Tiểu đoàn 578 Công binh Lục quân (ảnh của 79th Infantry Brigade Combat Team)
Dự đoán trong số 113 Đại tá Hoa Kỳ gốc Việt, có thể sẽ có vị được thăng cấp Chuẩn tướng/Phó Đề đốc vào năm 2026. Có một số vị Đại tá đang giữ những chức vụ chỉ huy quan trọng trong các Quân chủng Hải, Lục, Không quân và Thủy quân lục chiến Quân đội Hoa Kỳ. Họ là những ứng viên sáng giá để trở thành những vị tướng trong tương lai!
Người Việt Quốc Gia hải ngoại tại Hoa Kỳ và trên toàn thế giới vô cùng hãnh diện về sự cống hiến của tất cả những quân nhân gốc Việt đang phục vụ và chiến đấu trong Quân lực Hoa Kỳ, những Hậu duệ ưu tú của Quân, Dân, Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa mang giòng máu Việt làm rạng rỡ cho Dân tộc Việt Nam.
Chúc 11 tân Đại tá gốc Việt thăng tiến binh nghiệp.
Nguyễn Quân
Chú thích: **Số Đại tá hồi hưu có thể hơn 58.
Nguồn tài liệu: Congress.gov; Navy Personnel Command; Air Force’s Personnel Center; dcp.psc.gov/ccmis/; 960cyber.afrc.af.mil; daytondailynews.com; csis.org; linkedin.com; 335th Signal Command (Theater); U.S. Public Health Service Commissioned Corps promotion information; bienxua-16 Trung tá Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Đại tá năm 2024
BÂY giờ là lễ Giáng sinh ở Caracas. Trong tất cả các đường phố lớn, ánh sáng tưng bừng kỳ ảo. Khắp nơi tiếng hát, tiếng đồng ca vang dội với những điệu đặc biệt của giới bình dân. Mọi người đều vui tươi. Riêng tôi có phần kém vui vì vừa bị thất bại nhưng không cay. Chúng tôi đã chơi một canh bạc, đã thua, đó là cái chắc, nhưng tôi vẫn còn sống và tự do hơn bao giờ hết. Vả lại, như Gaston đã nói, dù sao cũng là một đường hầm khá đẹp.
Dần dần tôi vui lây vì những tiếng hát ca ngợi hài đồng Béthléem và rồi lấy lại bình tĩnh, tâm hồn thanh thản, tôi gởi một bức điện tín cho Maria: “Em Maria, anh cầu chúc ngày Giáng sinh sẽ đem hạnh phúc tràn đầy đến nhà em, nơi em đã cho anh tất cả”.
Ngày Giáng sinh, tôi ở lại bệnh viện với Picolino. Nó đã đi ra vườn hoa nhỏ của bệnh viện ngồi trên ghế dài. Chúng tôi cũng có lễ Giáng sinh của chúng tôi. Tôi đã mua hai chiếc bánh hallacas, một thứ bánh, người ta chỉ làm vào dịp Giáng sinh, hai chiếc bánh đắt tiền nhất và ngon nhất. Tôi bọc theo hai chai rượu nhỏ hảo hạng.
Giáng sinh của người nghèo? Không, Giáng sinh của người giàu, rất giàu! Giáng sinh của hai thằng sống sót từ “con đường thối nát” trở về. Giáng sinh sáng ngời tình bạn được tôi luyện trong gian nguy. Giáng sinh trong tự do hoàn toàn, dù để làm những việc điên khùng như tôi đã làm. Giáng sinh không có tuyết của Caracas, nhưng đầy hoa của khu vườn nhỏ bệnh viện, Giáng sinh với nhiều hy vọng đối với Picolino, từ ngày được điều trị tại bệnh viện, lưỡi nó không thòng xuống nữa, và nó không còn sùi bọt mép. Đúng, Giáng sinh màu nhiệm đối với Picolino vì nó đã nói rõ tiếng “vâng” rất vui vẻ khi tôi hỏi nó bánh có ngon không.
Trời ơi! làm lại cuộc đời quả thật là chua cay! Tôi trải qua vài tuần lễ khó khăn, nhưng không nản chí. Tôi có được hai đức tính: một là lòng tin tưởng sắt đá vào tương lai, hai là niềm ham sống không gì lay chuyển. Ngay những lúc đáng lẽ phải lo âu thì chỉ một việc không đâu ở ngoài đường phố cũng làm tôi bật cười và khi gặp một người bạn, tôi có thể đùa giỡn với nó suốt đêm như lúc còn 20 tuổi. Đó là điều làm cho tôi giữ vững được tinh thần.
Bác sĩ Bougrat có cho tôi một công việc làm sơ sài trong phòng bào chế mỹ phẩm của ông ta. Tiền công không nhiều, nhưng cũng vừa đủ để ăn mặc tử tế, có phần thanh lịch nữa là khác. Thêm vào đó, tôi đang tuổi thanh xuân. Tôi thôi làm việc với Bác sĩ Bougrat để theo một phụ nữ người Hung Gia Lợi, chủ một tiệm làm da-ua và tại đây tôi quen với một phi công mà tôi không nói tên vì hiện giờ anh ta là phi công trưởng trong công ty Hàng Không Pháp. Tôi sẽ gọi hắn là Carotte.
Hắn cũng làm việc trong tiệm da-ua của bà người Hung và chúng tôi kiếm cũng đủ tiền để đi du hí. Đêm nào chúng tôi cũng đi dạo chơi các quán nước ở Caracas. Thường thì đến uống một đôi ly rượu tại nhà hàng Majestic, một nơi thời thượng nhất thành phố, trong khu Silencio; bây giờ nhà hàng ấy không còn nữa.
Thế rồi, trong lúc chúng tôi nghĩ rằng không thể có gì lạ xảy ra thì lại xảy ra phép lạ. Một hôm, Carotte, như tất cả những người đàn ông, không bao giờ kể lể cuộc đời của mình, Carotte biến mất để rồi vài ngày sau, từ Hoa Kỳ trở về với một chiếc máy bay quan sát hai chỗ ngồi, một chỗ trước, một chỗ phía sau. Nhất rồi. Tôi không hỏi hắn do đâu có chiếc máy bay mà chỉ hỏi hắn định làm gì với chiếc máy bay ấy.
Hắn cười, nói:
– Tôi chưa định gì hết… Nhưng chúng mình có thể hợp tác.
– Để làm gì?
– Làm bất cứ việc gì, miễn là vừa chơi vừa kiếm tí tiền còm.
– Đồng ý, để rồi tính.
Bà người Hung rất dễ thương, hẳn là không tin rằng chúng tôi sẽ làm việc lâu với bà, đã cầu chúc chúng tôi nhiều may mắn. Từ ngày ấy chúng tôi bắt đầu một tháng vô cùng điên rồ và phi thường.
Carotte là một phi công thượng thặng. Trong thời chiến, ban đêm hắn chở những chiến sĩ Pháp từ Anh quốc đến các khu kháng chiến và chở về Luân Đôn những chiến sĩ khác. Thường hắn hạ cánh theo ánh sáng đèn bấm của những người chờ hắn ở dưới đất. Hắn rất gan dạ và thích đùa dai. Một hôm đột ngột hắn quay cánh thẳng góc khiến tôi tắt thở, chỉ để dọa chơi một bà to lớn đang để hở mông đi tiêu trong vườn.
Tôi quá thích chiếc máy bay và những vòng bay lượn trên không trung đến nỗi vì thiếu tiền mua xăng, tôi có một sáng kiến kỳ diệu là làm một gã bán hàng rong bằng máy bay nhỏ.
Đây là lần duy nhất trong đời, tôi bội tín đối với một người. Hắn tên là Coriat và có một tiệm bán quần áo đàn ông và đàn bà lấy bảng hiệu là “Almacen Rio”, Coriat hùn vốn với em hắn. Hắn người Do Thái, tầm thước trung bình, da ngăm, vẻ mặt thông minh, nói tiếng Pháp rất thạo. Tiệm của hắn ngày mỗi phát đạt nhờ buôn bán đàng hoàng. Trong gian hàng bán quần áo phụ nữ, có đủ loại áo cùng mọi thứ mới nhất, nhập cảng từ Ba Lê, nên tôi tha hồ chọn những hàng dễ bán nhất.
Tôi tìm cách làm cho hắn giao cho một số lớn áo dài, áo sơ-mi, quần vân vân… để chúng tôi đem đi bán ở các tỉnh xa.
Chúng tôi mặc sức ngao du, đi đâu, về khi nào không cần thiết, hoàn toàn tùy hứng. Tuy nhiên, mặc dù bán cũng khá, chúng tôi không kiếm đủ tiền để trang trải phí tổn và phần của Coriat tiêu tan theo tiền xăng. Hắn không còn gì hết.
Khách hàng sộp nhất là các cô gái điếm và lẽ dĩ nhiên chúng tôi thường viếng họ. Áo sơ-mi màu sắc sặc sỡ, quần thời trang nhất, jupe hoa, khăn choàng bằng tơ vân vân, là những món hàng vô cùng hấp dẫn đối với các cô gái mỗi lần chúng tôi trải các thứ ấy trên bàn để tại phòng ăn nhà chứa, và tôi bô bô quảng cáo:
– Xin các cô nghe kỹ đây. Đối với các cô, các thứ này không phải là xa xỉ phẩm. Trái lại tôi có thể nói đây là một sự đầu tư về nghề nghiệp, vì các cô thêm hấp dẫn, đàn ông càng nhào vô. Về phần những cô chỉ biết tiết kiệm, tôi có thể nói chắc chắn rằng không mua gì của tôi là một sự tiết kiệm ngu xuẩn. Tại sao vậy? Tại vì những nàng ăn mặc bảnh bao sẽ là những đối thủ ghê gớm!
Nhiều chủ nhà chứa không thích việc buôn bán của chúng tôi vì họ buồn lòng trông thấy tiền đi vào túi người khác thay vì vào hầu bao của họ. Bởi vì một số lớn chủ nhà chứa cũng bán cho gái điếm trong nhà các “dụng cụ làm ăn”. Đôi khi lại còn bán chịu. Bọn ăn cướp ấy muốn nuốt hết!
Chúng tôi thường đến Puerto La Cruz vì có một phi trường rất tốt trong một đô thị kế cận, Barcelona. Chủ nhà chứa sang nhất, đàng hoàng nhất, có sáu chục cô gái, rất dễ ghét, thô lỗ, kiêu kỳ, một thằng ngốc bẩn thỉu. Nó người Panama. Vợ nó người Venezuela rất dễ thương, nhưng khốn nỗi, chính nó là người chỉ huy và chúng tôi không cách gì mở va li ra được, dù chỉ trong một giờ, lại càng không thể trải hàng hóa ra trên một chiếc bàn.
Có một lần nó đi quá trớn. Nó đuổi ngay lập tức một cô gái vì cô ta mua một chiếc khăn choàng cổ. Cuộc cãi vã trở nên gay gắt, rồi người cảnh sát trực ở đó mời chúng tôi đi và cấm chúng tôi không được để chân trở lại đó.
– O.K., đồ đại ngốc, Carotte nói với thằng chủ chứa. Chúng tao không trở lại bằng đường bộ, nhưng sẽ trở lại bằng đường bay! Mày không cấm chúng ông chuyện ấy được đâu.
Qua buổi sáng ngày hôm sau tôi mới hiểu lời đe dọa ấy khi bắt đầu cất cánh từ Barcelona vào lúc rạng đông, Carotte nói với tôi bằng điện thoại trong buồng lái: “Chúng mình đến chào thằng người Panama. Mày ngồi cho vững, đừng sợ nhé!”.
– Mày định làm gì?
Nó không đáp và đến khi trông thấy nhà chứa, nó bay hơi cao một ít và xả hết tốc lực, đâm nhào xuống nhà chứa, chui dưới mấy dây điện cao thế ở gần ngôi nhà và lướt rầm rộ sát mái nhà lợp tôn, nhiều tấm tôn gắn không chặt tung bay như những chiếc lá, để lộ các phòng với đầy đủ giường ngủ cùng gái trai trên đó. Quay đầu lại, chúng tôi bay cao lên rồi trở lại cũng khá cao để ngắm cảnh bên dưới. Tôi chưa từng thấy cảnh nào buồn cười một cách kỳ lạ hơn cảnh bọn gái điếm với khách làng chơi, trần truồng như nhộng, tức điên người trong các chiếc hộp không nắp đậy, đưa những nắm tay thù hận về phía những chàng phi công đã làm gián đoạn một cuộc làm tình hay một giấc ngủ say mê của họ. Tôi với Carotte cười đến ốm người.
Không bao giờ chúng tôi trở lại đó bởi vì không phải chỉ có lão chủ tức giận mà cả bọn gái nữa. Về sau, tôi gặp một cô gái có óc hài hước nhắc lại vụ ấy. Hình như sự phẫn nộ đã lên đến cực độ và trong lúc tức giận, thằng Panama to lớn ngu ngốc đã tự tay dùng những chiếc bù lon bự nhất để đóng thật chặt các tấm tôn trên mái nhà chứa các cô gái.
Tôi với Carotte, hai đứa đều thích thiên nhiên và nhiều khi chúng tôi bay một vòng không mục đích gì khác hơn là tìm những cảnh trí phi thường. Nhờ vậy mà chúng tôi đã khám phá ở ngoài khơi, cách bờ biển 200 cây số, một kỳ quan độc đáo, Los Roquès. Đó là một quần đảo gồm hơn 360 đảo nhỏ sắp theo hình thuẩn, ở cạnh nhau, tạo thành một hồ lớn ngay giữa biển khơi. Một hồ nước lặng yên, vì các hòn đảo tạo thành một bờ đê, nước hồ xanh biếc, trong suốt đến nỗi có thể nhìn thấy đáy biển sâu từ 20 đến 25 thước. Tiếc là ở vào thời ấy, không có bãi đáp, đôi khi chúng tôi lượn đi lượn lại trên quần đảo đến hơn mười vòng trước khi đến một hải đảo cách đó khoảng 50 cây số về phía tây, Las Aves.
Carotte quả thật là một phi công xuất chúng, tôi đã chứng kiến nó đáp xuống với một cách cào vào cát hay cào vào nước khi bờ biển quá dốc.
Las Aves có nghĩa là hải đảo của loài chim. Có hàng ngàn, hàng vạn giống chim, lông xám nhưng lúc nhỏ lại trắng. Người ta gọi chúng là chim “bobos” vì chúng khờ khạo và không biết sợ. Quả là một cảm giác đặc biệt khi chỉ có hai đứa trần truồng trên hải đảo bằng phẳng như chiếc bánh tráng, giữa một bầy chim đậu hoặc trèo trên người chúng tôi không chút sợ hãi vì chúng chưa hề thấy giống người. Chúng tôi nằm phơi nắng cả buổi trên bãi cát nhỏ bao quanh hải đảo. Chúng tôi đùa với bầy chim, đưa bàn tay cho chúng đậu, nhiều con thích đậu trên đầu và mổ nhè nhẹ vào tóc chúng tôi. Tắm rồi lên phơi nắng trở lại và khi cảm thấy đói, chúng tôi tìm có ngay những con tôm hùm nằm phơi mình sát mặt nước. Chúng tôi đưa tay chụp một vài con đem nướng trên lửa đỏ. Một điều gay go là tìm đủ cây khô để đốt lửa, vì trên đảo hầu như không có thảo mộc. Vừa ăn những con tôm ngon tuyệt kỹ, vừa uống một ít rượu chát trắng hảo hạng đem theo trong máy bay, trên bãi biển hoang vắng này, chúng tôi có cảm tưởng như lạc bước vào một cảnh thiên thai, không cần nói câu nào, cũng cảm thông nhau hoàn toàn.
Trước khi màn đêm buông xuống, chúng tôi cất cánh bay lên, lòng đầy ánh mặt trời và niềm hoan lạc, muốn cắn mạnh vào cuộc đời, bất cần tất cả, kể cả việc không biết đào đâu ra tiền để trả tiền xăng cho cuộc du ngoạn chỉ có một mục đích duy nhất: sống trong cảnh đẹp không chờ không đợi.
Trên đảo Las Aves, chúng tôi khám phá một cảnh động ở dưới biển, mỗi khi thủy triều xuống cửa động lộ ra, không khí và ánh sáng mặt trời lọt vào. Tôi say mê cảnh động kỳ diệu ấy. Vào động phải bơi nước trong vắt, sâu không quá một thước. Khi bỏ hai chân xuống đứng thẳng ở giữa động, nhìn quanh thấy vách và vòm động như có muôn ngàn con ve sầu lấp lánh. Dĩ nhiên không phải là ve sầu, mà là hàng ngàn con tôm nhỏ bám vào vách đá, y hệt những con ve sầu trên cành cây xứ Provence, không lớn hơn ve sầu bao nhiêu. Chúng tôi ở trong động rất lâu, không làm cho các con vật ấy sợ hãi. Chúng tôi chỉ can thiệp khi một con mực lớn, rất ham tôm nhỏ, đưa vòi ra chụp một vài chú tôm. Chúng tôi nhanh tay lật con mực ngửa ra. Nó sẽ tiêu ra tại chỗ nếu trước đó nó không bị mấy con cua đớp ngon lành.
Chúng tôi nhiều lần trở lại đảo Las Aves để ngủ đêm. Mỗi đứa cầm một chiếc đèn bấm, bắt những con tôm độ một kí hai bỏ đầy hai bao lớn. Lúc khởi hành từ phi trường Carlota tại trung tâm Caracas, chúng tôi đã bỏ lại hết hàng hóa, nên bây giờ có thể chở về đến bốn trăm kí tôm. Chở nặng như vậy là điên, nhưng chúng tôi xem là trò đùa. May mà cất cánh được, còn chuyện bay lên cao thì các vì tinh tú khỏi phải lo. Khó nhọc lắm mới qua hết thung lũng 25 cây số từ bờ biển đến Caracas, rà sát mái nhà. Những con tôm sống ấy được bán với giá rẻ mạt 2$50 một con. Đủ để trả tiền xăng và tiền trọ. Nhưng bắt tôm thường bị xóc tay, nên nhiều khi phải đi về không. Điều ấy không quan hệ gì, chúng tôi bất cần tất cả, cuộc sống thật đáng sống.
Một hôm đang trên đường đi Puerto La Cruz, cách hải cảng không xa, Carotte dùng điện thoại trong máy bay nói với tôi: “Papillon, còn vừa đủ xăng, chúng mình sẽ đậu trên khoảnh đất của công ty đầu hỏa San Tonné!”. Sau khi chúng tôi lượn một vòng trên khoảnh đất để cho người ta hiểu chúng tôi muốn đậu trên phi đạo riêng của họ, họ đáp lại bằng cách đem đặt tại chính giữa phi đạo một xe chở nước hoặc xăng gì đó không biết! Carotte vẫn bình tĩnh và mặc dù tôi lo ngại nói đi nói lại với nó không thấy chỗ nào có thể hạ cánh được, nó chỉ nói: “Papillon, hãy ngồi cho vững!”. Rồi nó cho máy bay đáp xuống trên một con lộ khá rộng mà không lồi lõm lắm. Nhưng trớn của máy bay đưa đến một khúc quanh vừa có một chiếc xe vận tải hạng nặng chở đầy bò chạy ào tới hết tốc lực. Tiếng rít thắng át cả tiếng thét rùng rợn của chúng tôi, bởi vì nếu người tài xế không bị mất bình tĩnh và chiếc xe không bị văng xuống rãnh bên đường, chúng tôi đã tan xác rồi. Chúng tôi liền nhảy ra khỏi máy bay và Carotte chặn ngang tiếng chửi thề của anh tài xế người Ý: “Phụ một tay với chúng tôi để đẩy chiếc máy bay qua một bên đường rồi hãy chửi thề!”. Anh người Ý vẫn còn run, mặt mày trắng như bột. Chúng tôi phải giúp anh ta bắt lại mấy con bò đã bỏ xe chạy lung tung.
Chuyến đáp thần tình ấy có tiếng vang, chánh phủ đã mua chiếc máy bay của Carotte và bổ nó làm huấn luyện viên dân sự ở phi trường Carlotta.
Đoạn đời phi công của tôi chấm dứt. Thật đáng tiếc. Tôi có theo học một số giờ bay, khả quan lắm. Người bị thiệt thòi trong vụ này là Coriat. Điều kỳ lạ là nó không kiện tôi. Ít năm sau, tôi đã bồi thường thiệt hại đầy đủ cho nó và ở đây tôi muốn cảm ơn lòng tốt của nó đối với tôi.
Nhưng hiện giờ không những tôi đã không còn máy bay mà còn mất chỗ làm ở nhà thiếu phụ người Hung, lại còn phải tránh trung tâm thành phố Caracas vì tiệm của Coriat ở nơi đó, đụng đầu với nó chẳng có lợi gì cho tôi. Cảnh ngộ của tôi, một lần nữa không lấy gì làm sáng sủa, nhưng không ăn nhằm gì. Mấy tuần sống với Carotte quá đầy đủ, nên không có gì đáng tiếc rẻ. Không bao giờ tôi quên được khoảng thời gian ấy.
Tôi với Carotte thường gặp nhau lại trong một quán nước của một người Pháp già, công nhân một hãng thương thuyền, hồi hưu. Một đêm nọ, chúng tôi chơi cờ trong một góc phòng với một cựu phạm đang sống yên lành với nghề buôn bán chịu nước hoa và một đảng viên cộng hòa Tây Ban Nha, bỗng có hai người lạ mang kính đen bước vào và hỏi có phải nơi đây có một phi công người Pháp thường đến không.
Carotte đứng lên nói: “Tôi đây”.
Tôi ngắm kỹ hai người lạ mặt, từ đầu đến chân và dễ dàng nhận diện một người, dù nó mang kín đen. Hết sức xúc động, tôi bước tới. Trước khi tôi mở miệng, nó đã nhận ra tôi:
– Papillon!
Đó là thằng Léon, một trong những bạn cựu phạm thân nhất của tôi. Một thằng cao lớn, một tấm lòng quảng đại. Không phải lúc tỏ ra quá thân mật, nó chỉ giới thiệu với tôi bạn nó là Pédro người Chí Lợi. Ngồi lại trong một góc, nhấm nháp một ly rượu, Léon cho biết nó tìm một chiếc máy bay nhỏ với một phi công, người ta mách cho nó người phi công Pháp.
– Người phi công ở đây, chính là tôi, Carotte đáp. Nhưng chiếc máy bay nhỏ không còn nữa. Người khác đã mua mất rồi.
– Tiếc quá, Léon nói. Tiếc không hơn, không kém.
Carotte rút lui để tiếp tục chơi cờ, một tên khác đã thế chân tôi. Pédro người Chí Lợi đi lại ngồi nơi quầy rượu, nên chúng tôi yên trí nói chuyện.
– Sao đó, Papillon?
– Sao đó, Léon?
– Lần cuối cùng tụi mình gặp nhau, đến nay đã hơn 10 năm.
– Ừ. Mày vừa trong nhà Cấm Cố ra, còn tao thì vào đó. Léon, mày khỏe chứ?
– Không đến nỗi nào. Còn mày, Papillon?
Với nó, tôi có thể nói.
– Tao sẽ nói thật với mày: Léon, tao đang có phần lúng túng. Không dễ gì leo lên con dốc. Vả lại, mặc dù mình bước ra khỏi nhà tù với đầy đủ thiện chí, khi mà mình không có nghề nghiệp gì, đời sống rất khó khăn nên mình chỉ muốn nghĩ đến chuyện phiêu lưu mạo hiểm.
“Với lại, Léon, này, mày lớn tuổi hơn tao và mày không phải một cựu phạm như những đứa khác. Với mày tao có thể nói tất cả những ý nghĩ của tao. Mày biết đấy, rất thành thật và rất lương thiện mà nói, tao mang ơn xứ này nhiều lắm. Ở đây tao đã sống lại và tao đã tự nguyện tôn trọng đại gia đình này, làm điều đáng chê trách ít chừng nào hay chừng ấy. Nhưng nào có dễ. Mặc dù có óc phiêu lưu mạo hiểm, nếu tao không có một mối thù phải trả ở Ba Lê, tao tin chắc tao có thể tạo được một địa vị khả quan từ số không, bằng những phương tiện đàng hoàng, tuy nhiên tao không thể chờ để cho bọn sâu bọ ấy chết trước khi tao đến.
“Khi tao thấy tuổi trẻ xứ này vui sống, vô tư, khi tao đứng trước một thanh niên từ 24 đến 30 tuổi rực sáng niềm vui sống thì dù muốn dù không, tao cũng quay về quá khứ, về những năm tháng đã bị người cướp mất, những năm tháng tốt đẹp nhất. Rồi tao thấy mấy lỗ đen tối của trại Cấm Cố, ba năm trời chờ đợi trước và sau phiên tòa đại hình cùng cái ngục thất thối tha đã đối xử với tao tồi tệ hơn với một con chó dại. Thế rồi, suốt giờ này sang giờ khác, ngày này sang ngày khác, tao đi trong các đường phố Caracas gậm nhấm tất cả dĩ vãng ấy. Thay vì mỗi ngày nên cảm ơn 10 lần, 20 lần số mạng đã đưa tao đến đây, tao lại không làm như vậy: tao thấy, tao hồi tưởng, tao tưởng tao đang ở trong những nấm mồ dĩ vãng ấy, và cũng như lúc còn ở trong các ngôi mộ, tao đi tới đi lui như một con thú bị nhốt trong chuồng, tao trở lại đếm: một, hai, ba, bốn, năm, quay lại! Thật không cưỡng nổi, đúng là một ám ảnh. Không, tao không thể nào nghĩ rằng những thằng đã bắt tao phải chịu cảnh khổ nhục ấy một cách oan ức, tao có thể đã bỏ thây ở đó như một con vật khốn nạn nhất, trên mặt cũng như trong lòng không còn chút gì gọi là của một con người, tao đã thoát cảnh ấy nhờ đã chịu nhiều đau khổ và có nhiều ý chí, không tao không thể nghĩ chúng có thể chết yên lành mà không phải trả nợ.
“Thế là khi tao đi như thế này giữa lòng phố, tao không còn nhìn quanh một cách bình thản. Mỗi một tiệm kim hoàn, mỗi một nơi chứa đựng cái mà tao cần, là tiền bạc, tao không khỏi ngắm nhìn để tính xem làm cách nào để lấy hết những gì ở bên trong. Nếu tao chưa làm, như mày biết, không phải tao không ham, bởi vì ở đây có nhiều nơi hành động quá dễ đến nỗi tao như luôn luôn bị khiêu khích.
“Đến giờ này, tao đã thắng tao, trong cuộc thử thách cam go này, tao chưa làm gì nguy hại trong xứ sở này và đối với dân tộc đã tin tao này. Hiếp dâm con gái một nhà đã chứa chấp mình là một điều khiếp nhược, ghê tởm, đáng khinh. Nhưng tao sợ, đúng vậy, tao sợ chính tao, sợ một ngày nào đó tao không cưỡng được lòng ham muốn làm một vụ lớn. Tất cả chuyện ấy tạo một vấn đề nan giải khiến đôi lúc tao hết tin rằng một ngày nào đó tao có thể sống lương thiện. Bởi vì nếp sống lương thiện, không thể nào có thể kiếm gấp số tiền quá lớn cần để trả thù. Léon, nói riêng với mày, tao đuối sức rồi”.
Léon im lặng nghe tôi nói. Nó nhìn tôi chăm chăm. Chúng tôi uống ly rượu cuối cùng hầu như không trao đổi lời nào. Nó đứng lên và hẹn ngày mai sẽ đi ăn trưa, có cả Pédro người Chí Lợi.
Chúng tôi gặp lại trong một tiệm ăn yên tịnh, dưới bóng một dàn hoa. Trời tốt.
– Papillon, tao đã suy nghĩ về những điều mày nói. Bây giờ tao nói cho mày biết tại sao chúng tao đến Caracas.
Bọn Léon chỉ ghé qua đây trên đường đi đến một xứ Nam Mỹ khác để tính chuyện một tiệm cầm đồ; theo tin tức của một nhân viên kỳ cựu trong tiệm và của bọn Léon đã điều tra thì tiệm cầm đồ này có một số nữ trang khá quan trọng, sau khi được đổi thành mỹ kim, mỗi đứa sẽ làm chủ một số tiền khá lớn. Vì vậy mà chúng tìm Carotte. Léon muốn đưa cho Carotte một đề nghị về phần Carotte và về chiếc máy bay, nhưng chuyện ấy không thành vấn đề nữa rồi.
– Nếu mày muốn, Papillon, mày cùng đi với tụi tao, Léon kết luận.
– Tao không có thông hành, lại cũng yếu tiền lắm.
– Về chuyện thông hành, tụi tao sẽ lo. Phải vậy không, Pédro?
– Coi như mày có thông hành rồi vậy, Pédro nói, với một căn cước giả. Như thế mày chính không xuất cũng không nhập cảnh xứ Venezuela.
– Tổn phí phỏng độ bao nhiêu?
– Khoảng 1.000 mỹ kim, vì xứ chúng ta sẽ đến xa đấy. Mày có đủ tiền không?
– Đủ.
– Thế thì trong hoàn cảnh, mày không còn gì phải do dự.
Mười lăm ngày tiếp theo cuộc gặp gỡ ấy sau ngày ra tay, tôi thuê một chiếc xe đến một nơi cách thủ đô một xứ Nam Mỹ vài cây số, chôn phần nữ trang của tôi đựng trong một hộp bánh bằng thiếc trắng.
Vụ ăn hàng, tính rất chu đáo, đã xảy ra không gì khó khăn. Chúng tôi vào bằng ngõ một tiệm bán cà vạt sát nách tiệm cầm đồ. Léon với Pédro đã nhiều bận đến vờ mua cà vạt để ngắm kỹ ống khóa nhà kho và định rõ chỗ sẽ đục lỗ trong bức vách để chui vào. Không có tủ sắt, chỉ có nhiều kệ bọc sắt ở tứ phía. Chúng tôi chui vào lúc 10 giờ đêm thứ bảy và đi ra lúc 23 giờ ngày chúa nhật.
Một vụ trộm tiến hành hoàn hảo, không chút trục trặc. Thế là tôi chôn chiếc hộp dưới chân một cây cổ thụ, cách thành phố độ 20 cây số. Tôi yên trí sẽ tìm thấy chỗ ấy khi nào tôi muốn, không chút bỡ ngỡ, bởi vì ngoài một cái dấu tôi làm bằng dao, cây cổ thụ rất dễ nhận ra: liền sau khi qua khỏi cây cầu, bên bờ lộ, cây đầu tiên của khu rừng bắt đầu từ đó. Trên đường về, tôi quăng cái cuốc cách đó 10 cây số.
Tối hôm đó, ba đứa chúng tôi gặp nhau lại trong một tiệm ăn sang trọng. Chúng tôi đến từng người và làm như tình cờ gặp nhau ở quầy rượu trước khi định cùng ăn với nhau.
Mỗi đứa đều đã giấu phần của mình. Léon thì gởi cho một người bạn, Pédro chôn trong rừng như tôi.
Léon giải thích cho tôi hiểu:
– Mày thấy không, mỗi đứa mỗi phần như vậy hay hơn. Như thế mỗi đứa không biết hai đứa kia đã làm gì với phần của mình. Đây là một lối làm ăn chu đáo thường áp dụng ở Nam Mỹ, nếu một đứa bị cảnh sát bắt, vấn đề tra tấn không phải là chuyện đùa, và nếu nó có khai nó cũng chỉ biết phần nào thôi. Cho qua chuyện đó, Papillon, chia như vậy mày bằng lòng chứ?
– Thành thật mà nói, tao tin chắc chúng ta dùng mắt ước lượng các món nữ trang rất đúng. Tốt lắm, không có gì đáng nói.
Mọi việc êm xuôi và mọi người đều thỏa mãn.
– Đưa tay lên!
– Cái gì vậy! Léon la lên. Các anh điên hả!
Không kịp phản ứng, chúng tôi liền bị dùi cui giáng xuống, bị còng tay và bỏ lên xe cây chạy về hướng nhà giam của cảnh sát. Chúng tôi chưa ăn xong món sò huyết.
Trong xứ này, bàn tay của mấy ông bạn dân cũng không nhẹ nhàng chút nào. Người ta quay chúng tôi suốt cả đêm, ít ra là tám giờ.
Câu hỏi thứ nhất:
– Tụi bay thích cà vạt phải không?
– Đồ khốn kiếp!
Và vân vân. Đến 5 giờ sáng, chúng tôi trở thành những đống thịt sưng húp. Giận điên lên vì chúng tôi không chịu khai, bọn cảnh sát nổi khùng: “Được rồi. Tụi bay chảy mồ hôi, lại lên cơn sốt, chúng ông cho tụi bay tắm mát”. Người ta bỏ chúng tôi vào một cái giỏ lớn, vừa đủ đứng chen nhau, đưa đến một tòa nhà đồ sộ. Bọn cảnh sát chui vào nhà rồi có bọn thợ đi ra. Có lẽ do bọn cảnh sát yêu cầu. Thế là đến lượt chúng tôi đi vào, mỗi chúng tôi do hai người cảnh sát đỡ, gần như lôi đi.
Một hành lang mênh mông, nhiều cánh cửa sắt ở bên trái và bên mặt, trên mỗi cánh cửa có một chiếc đồng hồ chỉ có một cây kim giờ. Nhiều cây hàn thử biểu. Tôi nhận ra ngay chúng tôi đang ở hành lang các phòng ướp lạnh của một lò sát sinh cỡ lớn.
Mọi người đứng lại ở một nơi hành lang có nhiều bàn.
– Thế nào? người chỉ huy cảnh sát hỏi. Một lần cuối tao để cho tụi bây suy nghĩ. Đây là cái hầm chứa thịt đông lạnh. Tụi bây có hiểu như vậy là nghĩa gì chưa? Lần cuối cùng, tao hỏi tụi bây để nữ trang cùng các thứ khác ở đâu?
– Chúng tôi không thấy nữ trang, cũng không thấy cà vạt, Léon đáp.
– Hay lắm, cho mày làm luật sư. Mày đi tiên phong.
Bọn cảnh sát mở khóa cửa một căn hầm và kéo rộng cửa ra. Từ hầm tỏa ra một thứ khói mù lạnh cóng lan khắp hành lang. Chúng nó xô Léon vào trong sau khi đã lột hết giày vớ.
– Đóng cửa nhanh lên, viên chỉ huy nói, chúng mình cũng sẽ lạnh cóng hết bây giờ!
Nhìn thấy cửa khép lại sau lưng thằng Léon, tôi cảm thấy rợn người.
– Tới phiên mày, thằng Chí Lợi. Mày có chịu gáy không?
– Tôi không có gì để gáy hết.
Chúng nó mở cửa hầm thứ hai và đẩy thằng Chí Lợi vào.
– Thằng Ý Đại Lợi, mày trẻ nhất bọn (số thông hành của tôi mang căn cước Ý). Mày nhìn kỹ mấy cây hàn thử biểu kia. Kim chỉ ít nhất 40 độ. Như thế có nghĩa là đối với mày bây giờ sau khi bị quay, đang nóng bức, nếu mày không nói và nếu tống mày vào trong đó, chín phần mười mày sẽ bị sưng phổi và trước 48 tiếng đồng hồ, mày sẽ chết tại bệnh viện. Mày thấy đó, tao cho mày dịp may cuối cùng: mày đã ăn trộm nhà cầm đồ bằng cách đi qua tiệm bán cà-vạt, có phải vậy không?
– Tôi không dính líu gì với mấy đứa kia. Tôi chỉ biết một thằng, từ lâu rồi, và tôi tình cờ gặp chúng nó trong tiệm ăn. Xin ông hỏi những người làm công. Tôi không biết chúng có nhúng tay vào vụ này không, nhưng tôi thì không.
– Được rồi, cho mày chết luôn. Tao rất tiếc, còn trẻ như mày mà phải chết, nhưng kệ xác mày. Tại mày muốn vậy!
Cánh cửa mở ra. Người ta xô mạnh tôi vào bóng tối hầm lạnh và tôi nằm dài trên nền đầy băng giá vì đã đụng đầu vào một nửa con bò cứng như sắt treo trên một cái mốc. Từng giây từng giây, tôi nghe hơi lạnh kinh khủng trong hầm thấm vào da thịt, xuyên qua da thịt vào tận xương tủy. Cố gắng hết sức tôi mới đứng lên được, lúc đầu quỳ hai gối rồi đeo vào một con bò tôi đứng dậy. Mặc dù sau khi bị tra khảo, mỗi cử động đều làm tôi nhức nhối, tôi quay hai cánh tay, xát nơi cổ, má, mũi, mắt. Tôi kẹp hai bàn tay trong nách để sưởi ấm. Trên người tôi chỉ còn chiếc quần với chiếc sơ mi rách. Vì chúng nó cũng đã lột giày vớ của tôi, nên tôi cảm thấy nhức nhối không chịu được ở bàn chân bị dính vào nền nhà đóng băng và mấy ngón chân bắt đầu tê cóng.
Tôi tự bảo: “Không thể kéo dài quá 10 phút, năm phút là cùng, nếu không mình sẽ trở nên những con bò kia, một khối thịt đông lạnh! Không, không thể như thế này được, không lẽ chúng nó ướp lạnh người sống thế này sao? Papillon, hãy can đảm lên! Chỉ ít phút nữa là cánh cửa sẽ mở. Hành lang lạnh ngắt sẽ trở thành ấm áp”. Tôi không còn sử dụng được hai cánh tay, không thể nắm bàn tay lại, cũng không thể cử động mấy ngón tay, hai chân tôi dán vào mặt băng và không còn đủ sức để rút ra nữa. Tôi biết tôi sẽ ngất đi, rồi trong mấy giây đồng hồ, tôi thấy lại vẻ mặt của cha tôi bị cái miệng ghê tởm của viên Chưởng lý che khuất, cái miệng ấy cũng không được rõ ràng vì trộn lẫn với mặt mũi của bọn cảnh sát. Ba khuôn mặt làm một. Tôi nghĩ: “Lạ thật, chúng nó giống nhau hết, chúng cười gằn vì đã thắng”. Rồi tôi mê man.
Việc gì đã xảy ra? Tôi ở đâu đây? Một khuôn mặt đàn ông đẹp đẽ cúi xuống khi tôi mở mắt ra. Tôi không nói được vì miệng còn bị tê cóng, nhưng tôi tự hỏi: tôi đang nằm dài trên bàn này để làm gì vậy?
Hai bàn tay to lớn, khỏe mạnh và khéo léo đang xoa bóp toàn thân tôi bằng mỡ nóng và dần dần tôi cảm thấy nhiệt độ và sự co giãn trở lại cơ thể. Đứng cách hai ba thước, viên chỉ huy cảnh sát nhìn cảnh này. Nó có vẻ bực bội. Nhiều lần người ta mở miệng tôi ra để đổ một ít rượu. Có một lần, đổ nhiều rượu quá, tôi ngộp thở và phun mạnh hết rượu ra.
– Xong rồi, người thoa bóp nói, nó khỏi rồi.
Người ta tiếp tục thoa bóp trong cả nửa giờ đồng hồ. Tôi cảm thấy có thể nói được, nhưng tốt hơn là nên im lặng. Bên mặt, tôi nhận thấy có một người khác trên mặt chiếc bàn cũng cao như bàn tôi. Người ấy cũng trần truồng, người ta đang thoa và đấm bóp. Ai vậy? Thằng Léon hay thằng Chí Lợi? Chúng tôi ba người, thế mà tôi cộng với người nằm trên bàn kia, là hai. Thằng thứ ba đâu rồi?
Các bàn khác đều trống.
Người đấm bóp đỡ tôi ngồi dậy và tôi có thể nhận ra người kia là ai. Đó là thằng Pédro Chí Lợi. Chúng nó mặc áo lại cho hai đứa tôi, chiếc áo lùng bùng độn bông đặc biệt dùng cho những người làm việc trong các phòng ướp lạnh. Viên chỉ huy cảnh sát tấn công trở lại:
– Thằng Chí Lợi, mày nói được chưa?
– Được.
– Nữ trang để đâu?
– Tôi không biết.
– Còn mày, thằng mì ống?
– Tôi không đi với mấy đứa đó.
– Hay lắm!
Tôi tụt từ bàn xuống. Tôi đứng không vững, nhưng lúc hai chân chạm đất tôi rất thích thú khi cảm nhận đôi bàn chân như bị đốt nhè nhẹ khiến hơi đau một chút, và máu chạy khắp người mạnh đến nỗi tôi nghe rõ giòng máu động vào bờ huyết quản.
Trước đây tôi tưởng hôm nay tôi đạt đến tận cùng cảnh khủng khiếp, nhưng bây giờ không đến nỗi nào.
Sau khi để Pédro với tôi đứng cạnh nhau, viên chỉ huy đã lấy lại phong độ, ra lệnh: “Cởi áo chúng nó ra!”. Người ta lột áo chúng tôi, tôi phơi thân trần trụi ra, và run ngay vì lạnh.
– Bây giờ tụi bay hãy nhìn xem.
Chúng nó kéo từ dưới bàn ra một đống cứng ngắt, dựng lên trước mặt chúng tôi. Đó là một thân xác đã đông lạnh, rắn như một miếng gỗ. Cặp mắt mở lớn, hai tròng nhìn sửng như hai hòn bi, thật ghê gớm, khủng khiếp. Thằng Léon! Chúng nó đã ướp lạnh thằng Léon!
– Tụi bay nhìn kỹ đi! viên chỉ huy lập lại: thằng đồng lõa với tụi bay không chịu khai, nên người ta đã cho nó đi đến cùng. Bây giờ đến lượt mày, nếu mày ngoan cố như nó. Tao được lệnh phải tàn nhẫn vì vụ của chúng mày hết sức nghiêm trọng. Nhà cầm đồ do Nhà nước quản trị, và trong thành phố, đã có lộn xộn vì dân chúng nghĩ đây là một vụ trộm do công chức bày ra. Vậy thì, hoặc mày khai đi hoặc là trong nửa giờ mày sẽ như thằng đồng lõa của mày.
Tôi chưa hoàn toàn minh mẫn, và trước cảnh ghê rợn này tôi quá xúc động nên trong khoảng ba giây đồng hồ bất tận, tôi muốn khai hết. Điều duy nhất khiến tôi không làm công việc ghê tởm ấy là tôi không biết chỗ giấu các phần nữ trang khác. Không bao giờ người ta chịu tin tôi và chỉ nguy hiểm thêm cho tôi.
Tôi hết sức ngạc nhiên nghe một giọng nói rất chững chạc, giọng của Pédro:
– Kìa, tao không sợ đâu mà dọa. Chắc chắn là một tai nạn mà thôi! Mày không cố ý ướp lạnh nó, mày bị trục trặc kỹ thuật, chỉ có thế, và mày không muốn làm lại chuyện ấy với chúng tao. Bởi vì, một thì còn cho qua được, chứ ba thằng ngoại kiều biến thành ba khối băng sẽ quá nhiều và tao không tưởng tượng nổi mày sẽ biện minh như thế nào với hai tòa đại sứ. Một, thì được, nhưng ba thì quá nhiều.
Tôi không khỏi phục thái độ gan dạ sắt lạnh của Pédro. Viên cảnh sát bình tĩnh im lặng nhìn thằng Chí Lợi. Một lúc sau, nó nói:
– Mày là thằng ăn cướp, điều ấy hẳn rồi, nhưng phải công nhận mày rất gan lì. Nói đoạn, nó quay sang mấy đứa kia ra lệnh: Kiếm cho chúng nó một cái áo sơ mi rồi đưa chúng về nhà tù, tòa án sẽ lo cho chúng. Khỏi cần tiếp tục “đối xử tử tế” với hạng súc sinh như vậy, chỉ tổ mất thì giờ.
Nó quay lưng bỏ đi.
Một tháng sau tôi được thả ra. Người chủ tiệm cà vạt công nhận tôi không bao giờ đến tiệm hắn, điều ấy đúng, còn bọn ở quán rượu khai tôi đã đến một mình uống hai ly whisky, tôi giữ sẵn một bàn cho một người thì vừa có hai người đến, và bọn chúng tôi đã tỏ vẻ rất ngạc nhiên được gặp lại ở đô thị này. Thế nhưng tôi được lệnh trong 5 ngày phải rời khỏi xứ này, người ta sợ tôi sẽ đến tòa lãnh sự tố cáo sự việc đã xảy ra vì theo số thông hành, tôi là người Ý Đại Lợi, đồng hương với Léon.
Tại phòng dự thẩm, tôi được đối chất với một người tôi không quen biết, nhưng rất quen với Pédro, người nhân viên của tiệm cầm đồ đã chỉ vẽ vụ này. Bữa tối chia của, thằng già đó đã tặng cho một cô gái bán bar một chiếc nhẫn xưa tuyệt kỹ. Được báo động cảnh sát dễ dàng làm cho nó khai hết và vì vậy mà Léon với Pédro bị bắt ngay. Pédro người Chí Lợi bị kết án vì vụ này.
Tôi lên máy bay trong túi còn 500 mỹ kim. Tôi không đến chỗ giấu nữ trang vì sẽ rất nguy hiểm. Trong vòng 1 năm tôi sẽ trở lại tìm kho vàng của tôi. Tôi kiểm điểm cơn ác mộng vừa qua. Các báo ước tính vụ trộm tiệm cầm đồ lên đến hai trăm ngàn mỹ kim. Dù họ có phóng đại lên gấp đôi, cũng còn một trăm ngàn mỹ kim và như thế phần tôi khoảng độ ba mươi ngàn. Vì người ta ước tính theo số tiền đã cho vay, nghĩa là bằng nửa giá thực và nếu tôi bán thẳng không qua tay một người oa trữ, tôi tính có thể có hơn 60 ngàn mỹ kim! Đủ số tiền cần cho công việc trả thù, với điều kiện đừng động vào đó để sống qua ngày. Số tiền ấy bất khả xâm phạm, sẽ dùng vào một mục đích thiêng liêng, tôi không thể dùng vào một việc nào khác bất cứ vì lý do gì.
Dù nó đã đau đớn cho bạn tôi, Léon, một kết cuộc ghê gớm, đối với tôi vụ này là một thắng lợi. Trừ phi tôi phải giúp đỡ thằng Chí Lợi, nhưng chuyện này không chắc vì có lẽ trong vài tháng nữa nó sẽ cho một thằng bạn của nó đi lấy số của ấy để trả tiền biện hộ cho nó và để tìm cách trốn thoát. Vả lại chúng tôi đã đồng ý như vậy: mỗi đứa để riêng phần của mình để đứa này không liên hệ đến số phận đứa khác. Tôi không tán thành phương thức ấy, nhưng đó là lề lối áp dụng trong giới giang hồ Nam Mỹ. Công việc xong xuôi, đứa nào lo phần đứa ấy, Chúa thương tất cả mọi người.
Chúa thương tất cả mọi người… Nếu quả Chúa cứu tôi, đối với tôi Chúa không chỉ là cao cả, mà còn vô cùng đại lượng. Tuy vậy Chúa không dạy tôi phải trả thù. Chúa không muốn tôi trả thù, tôi biết vậy. Tôi còn nhớ ngục thất El Dorado, một ngày trước hôm tôi được phóng thích. Tôi cảm ơn Chúa của người công giáo. Trong niềm xúc động, tôi nói với Chúa: “Tôi phải làm gì để chứng tỏ lòng chân thành tri ân Chúa!” Và hình như tôi nghe rõ một giọng nói:
– Hãy từ bỏ ý chí phục thù.
Tôi đã đáp không, tất cả, trừ điểm này. Thế thì không thể nào Chúa che chở tôi trong vụ này. Không thể. Tôi gặp may, chỉ có thế, may như một đứa bị cắm sừng. Chúa không có liên can gì đến vụ bậy bạ này.
Tuy nhiên, kết quả còn đó, chôn chặt dưới một gốc cây cổ thụ. Tôi đã bớt được một gánh nặng trong việc đi tìm kiếm phương tiện để thực hiện ý đồ vẫn canh cánh bên lòng trong 13 năm trời nay.
Cầu mong chiến tranh chưa giết chết mấy thằng đồ tể trời đánh của tôi! Trong lúc chờ đợi giờ G, tôi chỉ còn tìm công việc làm ăn và sống yên trí cho đến ngày đi moi đống của.
Chiếc phi cơ bay rất cao, trong bầu trời rực rỡ, trên một đám mây trắng như tuyết. Ở đây là thanh khiết, và tôi nghĩ đến người thân, đến cha tôi, mẹ tôi, gia đình tôi, tuổi thơ chan hòa ánh sáng của tôi. Bên dưới đám mây trắng là những cụm mây bẩn thỉu, mưa xám xịt, đục ngầu, đúng là hình ảnh của trần thế: niềm khao khát danh vọng, khao khát biểu tỏ rằng mình hơn tha nhân, một niềm khao khát ô trọc, thiếu lương tri của những con người bất kể sinh mạng kẻ khác miễn là khi giết người, chúng gặt hái hoặc chứng minh một điều gì.
Lời Giới Thiệu: Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.
Kỳ 2
Là một sĩ quan cấp nhỏ, nhưng vì có cái tật bao sân, bao đồng, nên tôi lo lắng băn khoăn, không biết tương lai của Cao Nguyên sẽ ra sao. Tôi thấy, chỉ vài tháng sau Ngày Ðình Chiến 27 Tháng 1 Năm 1973 do Hiệp Ðịnh Paris được ký kết, trên lãnh thổ Vùng 2 Chiến Thuật của Việt-Nam Cộng-Hòa đã bắt đầu có những vụ chạm súng nhỏ do lấn đất giành dân.Rồi địch mỗi ngày mỗi đông hơn, mạnh hơn, chiến tranh từ từ leo thang trở lại. Trong các cuộc giao chiến, quân số và hỏa lực yểm trợ của địch mạnh hơn ta gấp nhiều lần.
Cứ mười đánh một, trận nào địch cũng chiếm thế thượng phong. Một đơn vị cấp tiểu đoàn của ta bị tan tành chỉ sau vài tiếng đồng hồ giao tranh không còn là chuyện hy hữu nữa. Vì lý do đó, chuyện mất tiền đồn đã xảy ra hàng tháng, hàng tuần. Tôi là người đã tận mắt chứng kiến những trận đánh bất cân bằng lực lượng ở Cao Nguyên diễn ra như thế nào, và tôi cũng là người đã từng chiến đấu trong tình trạng một chống mười như thế nào. Chiến tranh qua lâu rồi, giờ đây nhìn lại, bỏ chút thời giờ nghiên cứu và phân tách tình hình, chúng ta sẽ nhận ra ngay lý do vì sao an ninh Cao Nguyên thời gian đó lại suy sụp như vậy.
Chỉ vì, sau đình chiến, viện trợ bị cắt giảm, yểm trợ của Không Lực Ðồng-Minh cũng chấm dứt, do đó, quân ta hoàn toàn ngưng các cuộc hành quân tấn công quy mô tốn kém. Các đại đơn vị thì bị chia nhỏ để phòng thủ thành phố, quận lỵ, hay chốt giữ trục lộ, cầu đường. Quân ta tối ngày cứ phải lo chuyện tiếp tế lương thực, đạn dược, xăng dầu. Trong khi đó thì địch cứ thảnh thơi dưỡng quân, tự do canh tác hoa màu. Ðường tiếp vận của địch không còn bị oanh tạc, đánh phá, nên lương thực, đạn dược thừa mứa khỏi lo. Thêm vào đó, Việt-Cộng còn được Liên-Xô và Trung-Cộng tranh nhau viện trợ để giành ảnh hưởng, nên ta có yếu thế hơn địch cũng là lẽ đương nhiên. Vì không phải phòng thủ, không phải chia quân giữ đất, nên địch có thể tập trung tối đa lực lượng mỗi khi cần. Ðịch ở vào thế hoàn toàn chủ động nên những khi quyết định khai triển một chiến dịch, chúng đều cho trinh sát điều nghiên mục tiêu thật kỹ càng, rồi mới tổ chức lực lượng, phân nhiệm.
Ðợi khi các đơn vị tham chiến đã thực tập thật nhuần nhuyễn, chúng mới định ngày ra quân; ra quân là chắc thắng. Trong hai năm 1973-1974, trước ngày xảy ra cuộc rút lui tự sát của Quân Ðoàn II trên Liên Tỉnh Lộ 7B tháng 3 năm 1975 thì trên chiến trường Cao Nguyên chỉ có duy nhất một lần Việt-Cộng bị thua, đó là trận Pleime 33 ngày đêm diễn ra từ cuối tháng 7 tới đầu tháng 9 năm 1974. Trước Pleime 1974, không có trận nào quân ta trụ được quá một ngày. Nhưng trên thực tế, dù là trận chiến nửa ngày hay trận chiến một ngày thì những trận chiến này cũng là một phần của lịch sử chiến tranh Việt-Nam.
Trận Lệ Minh 1973…
Lệ Minh là một Căn Cứ Biên Phòng nằm cách thành phố Pleiku hơn 40 cây số về hướng chính Tây. Tên nguyên thủy của căn cứ này là Camp Plei Djereng. Thời kỳ còn sự hiện diện của Quân Ðội Ðồng-Minh thì Camp Plei Djereng được Lực Lượng Ðặc Biệt Hoa-Kỳ xây dựng lên và giao cho một đơn vị Dân Sự Chiến Ðấu trấn giữ. Năm 1970, đơn vị Dân Sự Chiến Ðấu này được cải tuyển thành Tiểu Ðoàn 80 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng; Camp Plei Djereng cũng đổi tên thành Căn Cứ Biên Phòng Lệ Minh. Cuối năm 1970 tôi đã từng vào căn cứ này giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 80 Biên Phòng, nhưng vì lý do riêng, tôi đã sớm rời khỏi nơi đây. Người kế nhiệm tôi là Ðại úy Khánh.
Sau khi tôi ra đi ít lâu, ông Khánh đã chết trong một vụ pháo kích. Tiếp đó, một vài vị sĩ quan theo chân nhau nhận nhiệm vụ chỉ huy Lệ Minh. Người ở lâu nhất là Thiếu tá Nguyễn Công Thông, với thời gian trên, dưới một năm. Ít lâu sau Hòa Ðàm Paris 1973, Ðại tá Phạm Duy Tất, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân Quân Khu 2 giao quyền chỉ huy Tiểu Ðoàn 80 và Căn Cứ Biên Phòng Lệ Minh cho Ðại úy Lê Văn Chương, khóa 19 Võ Bị. Thời gian Lệ Minh nằm dưới quyền của Ðại úy Chương thì quân ta và quân địch không hề có cuộc giao tranh nào xảy ra.
Cơ quan An-Ninh Quân-Ðội của ta được mật báo rằng, sở dĩ tình hình vùng này yên tĩnh là vì hai bên có hiệp ước bất tương xâm, Việt-Cộng sẽ không bắn phá hay pháo kích vào căn cứ, nếu chúng không bị đánh trước. Ðáp lại, nếu ta vi phạm tấn công trước thì ta sẽ bị địch đáp trả gấp 10 lần. Do tin tức này mà một phái đoàn thanh tra đã được gửi vào Lệ Minh để tìm hiểu sự tình.
Biết tin sẽ có thanh tra, Ðại úy Chương đã nhiều lần báo cho Ðại tá Tất biết rằng tình hình Lệ Minh rất nguy hiểm. Nếu phái đoàn bất chấp khuyến cáo của ông Chương thì ông ta sẽ không chịu trách nhiệm đối với những bất trắc sẽ xảy ra. Theo chương trình vạch sẵn, một ngày tháng 8 năm 1973 phái đoàn thanh tra của Quân Ðoàn II có mặt tại sân trực thăng Biệt Ðộng Quân. Trung tá Lương Văn Hơi, sĩ quan phụ tá của chỉ huy trưởng sẽ là người hướng dẫn đoàn thanh tra này. Sáng hôm đó Trung tá Hơi bị bệnh bất ngờ, tôi được lệnh bay theo phái đoàn thay thế ông Hơi. Khi trực thăng sắp cất cánh tôi lại được lệnh lên Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II đi bay thám sát vùng Tây Nam Pleime cùng ông sĩ quan chỉ huy Biệt Ðội Tác Chiến Ðiện Tử của Quân Ðoàn II, do đó Trung úy Lập, Sĩ quan Không Trợ Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 sẽ thay thế tôi đi bay.
Ngay giờ phút chiếc trực thăng chở phái đoàn thanh tra quân đoàn hạ cánh trên sân bay Lệ Minh thì hai khẩu đại bác 105 ly Biên Phòng đồng loạt khai hỏa cho bốn viên đạn bay vào trong núi. Vì không có ai đón tiếp nên các vị thanh tra đành tụ họp trước cổng trại Lê Minh để đợi chờ. Nào ngờ, bị 105 ly của quân ta pháo kích, Việt-Cộng bèn đáp lại bằng cối 120 ly. Từ hướng Tây, bốn khẩu cối của địch cứ nhẩn nha gởi đạn đi. Trong thời gian năm phút đồng hồ, 40 viên đạn 120 ly đã nối đuôi nhau xé gió rớt trên căn cứ và trên sân bay. Ðịch quân đã giữ đúng giao ước là bị bắn 1 viên, sẽ đáp trả đúng 10 viên! Kết quả vụ đọ súng hôm đó đã khiến cho vài vị sĩ quan thanh tra quân đoàn đền nợ nước, vài vị khác bị thương, anh Trung úy Lập thoát chết vì kịp thời nhảy xuống núp dưới cái mương thoát nước. Hồi tưởng lại chuyện này, tôi thấy số tôi và số ông Trung tá Lương Văn Hơi quả là rất may mắn! Ngày hôm sau Ðại úy Lê Văn Chương bị triệu hồi về Pleiku để nhận cái giấy phạt 40 Trọng Cấm cùng tờ sự vụ lệnh lên đường xuôi Nam đáo nhậm đơn vị mới.
Tôi hỏi anh Chương rằng cấp trên đã nại lý do gì để phạt anh, thì anh cho tôi hay, trên giấy phạt ghi chú là: “Tắc trách trong công tác bảo vệ an ninh cho phái đoàn thanh tra.” Ðại úy Chương cũng than phiền với tôi và vài bạn khác rằng anh ấy bị phạt oan, sở dĩ anh cho bắn bốn phát đại bác vào núi là để chào mừng phái đoàn thanh tra, chứ không phải để khiêu khích Việt-Cộng. Tôi nghĩ rằng không ai tin lời anh Chương cả.
Sau khi vào Nam, anh Lê Văn Chương được giao cho giữ chức vụ Trưởng ban 3 Liên Ðoàn 7 Biệt Ðộng Quân, và tiếp tục ở vị trí này với cái lon đại úy cho tới ngày chiến tranh chấm dứt. Người thay thế Ðại úy Lê Văn Chương để chỉ huy Lệ Minh là Ðại úy Nguyễn Ngọc Quang, biệt danh là “Quang Con”. Ông đại úy này xuất thân khóa 15 Thủ-Ðức.
Một tuần lễ trước ngày Lê Minh bị tấn công, tôi đã gặp Trung tá Trịnh Tiếu, Trưởng Phòng 2 Quân Ðoàn II và được Trung tá Tiếu cho hay rằng, theo tin A2 thì trong tương lai gần, địch sẽ tấn công Lệ Minh. Lực lượng địch tham chiến sẽ gồm Trung Ðoàn 48 của Sư Ðoàn 320A và một trung đoàn pháo hỗn hợp. Thêm vào đó còn có sự trợ lực của một đơn vị xe tank và Tiểu Ðoàn 631 Pháo của Tỉnh Ðội Gia-Lai Việt-Cộng.
Ông Tiếu dặn dò tôi phải khuyến cáo ông tiểu đoàn trưởng hãy lưu tâm chuẩn bị hầm hào để chống lại một cuộc tấn kích của Tiểu Ðoàn 631 Pháo. Tuyệt nhiên tôi không được hé răng nhắc tới tên Trung Ðoàn E48 và các đơn vị yểm trợ khác của Việt-Cộng như Tiểu Ðoàn D14 súng cối và Tiểu Ðoàn D16 xe tank trang bị súng cao xạ. Sở dĩ có chuyện che giấu này chỉ vì Trung tá Trịnh Tiếu e ngại rằng, nếu biết địch quá đông, quá mạnh, ông tiểu đoàn trưởng sẽ mất tinh thần không dám chiến đấu, sẽ dẫn quân bỏ đồn mà chạy trước khi có tiếp viện.
Thời gian này có một đại úy từ trong Nam thuyên chuyển ra. Ðây là một sĩ quan đàn em của tôi, anh ta tên là Hoàng Nghĩa Hội, dân Bắc Di Cư 1954, tốt nghiệp khóa 21 Võ Bị. Năm 1964 tôi là người huấn luyện anh Hội những ngày đầu quân ngũ. Tôi có ý giới thiệu Hội về Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân giữ chức Tiểu đoàn phó cho Ðại úy Nguyễn Lạn khóa 20 Võ Bị, nhưng Hội lại muốn vào Lệ Minh làm phó cho ông Quang Con vì Hội và Quang là bạn thân ở trong Nam. Dịp này tôi nhận được một chuẩn úy vừa thụ huấn xong lớp Tình Báo Cây Mai. Ông chuẩn úy này tên là Dao, cũng là dân Bắc Di Cư nhưng tuổi còn rất trẻ. Tiểu Ðoàn 80 hiện thời không có sĩ quan Quân Báo nên Chuẩn úy Dao được chỉ định bổ sung làm sĩ quan Ban 2 cho đơn vị này. Ngày 19 tháng 9 tôi đã đích thân đưa Ðại úy Hội và Chuẩn úy Dao vào Lệ Minh.
Vì đã được lệnh giấu kín tin tức địch và tình hình nguy kịch mà Lệ Minh sẽ hứng chịu trong tương lai, nên tôi chỉ còn cách trao cho hai ông Hội và Dao tần số riêng của tôi với lời dặn dò:
“Danh hiệu của tôi là Thái Sơn, nếu có gì thì gọi tôi trên số nhà này.”
Trước khi nhảy xuống phi đạo Lệ Minh, chú Hội bóp chặt bàn tay tôi,
– Danh hiệu của Hội là Hoàng Hoa. Niên trưởng nhớ đấy nhé!
Thế rồi, chuyện gì phải đến, đã đến… địch tấn công Lệ Minh.
Trưa 22 tháng 9 năm 1973 sĩ quan trực Trung Tâm Hành Quân hớt hải tìm gặp tôi,
– Thái Sơn vào máy, có ông phó của Lệ Minh xin gặp.
Tôi xuống hầm cầm ống nghe, qua máy 74, chúng tôi có thể nói chuyện bằng bạch văn,
– Hoàng Hoa có gì thì nói đi! Thái Sơn nghe!
Ðầu máy bên kia, tiếng của Hoàng Nghĩa Hội rất nhỏ, có vẻ như chú ấy đang lo lắng lắm,
– Niên trưởng ơi! Tôi mới nghe tụi lính nói rằng, từ ngày niên trưởng Chương về làm tiểu đoàn trưởng ở đây thì Biệt Ðộng Quân và Việt Cộng vẫn tắm chung một con suối nhưng không bắn nhau. Hôm nay tụi Việt Cộng không xuống suối tắm mà lại bảo mấy thằng lính của mình mau chạy về đồn, chui xuống hầm mà trốn, sắp đánh nhau rồi!
– Ông Quang đâu? Ông Quang có phản ứng ra sao?
– Quang đang cho báo động.
Rời trung tâm hành quân, tôi lên văn phòng chỉ huy trưởng, gặp Ðại tá Tất. Nghe tôi kể chuyện Ðại úy Hội vừa báo cáo, Ðại tá Tất nói,
– Cậu lấy C&C lên vùng, tui sẽ nói chuyện với ông Toàn xin yểm trợ và tăng viện.
Chỉ mười phút sau tôi và toán viễn thám của Hạ sĩ Nguyễn Ba đã có mặt trên sân trực thăng.
Ðúng 1 giờ 30 trưa, máy bay của tôi cất cánh.
Trời trong xanh, mây quang nên còn cách Lệ Minh cả chục cây số tôi đã thấy những cột khói đen, khói trắng cao ngút bốc lên từ căn cứ này. Lệ Minh đang bị địch pháo kích! Tôi vào tần số gọi Lệ Minh nhưng chỉ nghe được tiếng trái phá, tiếng lựu đạn và tiếng súng tay nổ giòn, người đầu máy bên kia nói gì tôi không nghe rõ. Cứ nhìn những tia lửa cầu vồng theo đuôi nhau bay vào ngọn đồi chỉ huy của Lệ Minh tôi đã thấy hoa cả mắt. Tôi và Hạ sĩ Ba, trưởng toán viễn thám thay nhau gọi hết hơi mà không nghe được tiếng người dưới đất trả lời. Tôi bay vòng vòng hướng Ðông của Lệ Minh một thời gian chừng nửa tiếng đồng hồ thì thấy máy bay trinh sát của ta xuất hiện.
Bài 6. (danh từ Việt Cộng đấy), có nghĩa là sẽ có người được tha hay chuyển trại)
Một số sĩ quan cấp thiếu úy, trung úy được chuyển đi. Sau nầy thì biết rằng họ đi Phước Long. Số người nầy, một vài năm sau, số đông được tha, một số chuyển trại, tiếp tục “học tập” trong trại tù của Công An.
Những người ở trại Phước Long không được tha sớm, sau nầy một số chuyển về trại Xuân Lộc (Long Khánh). Hôm họ chuyển vô trại, anh em chúng tôi bị nhốt sau hàng rào, đứng ngó ra, thấy Khả Năng mang xắc “ma-re” nặng. Chúng tôi mừng lắm, gọi tên anh rối rít, mặc dù chỉ biết anh, không quen biết gì!
Khi nghe tin chuyển trại, có người hy vọng được tha, Phan Hải cũng mong anh sẽ được về. Đến khi “không thấy gì hết”, không hy vọng về sớm, lại tự ái vì con “ông lớn Việt Cộng” mà không được về sớm, anh ấy bệnh liền tù tì mấy ngày, ai cũng ái ngại.
Hết bệnh, anh chàng “Hoảng nôm hay cãi” Phan Hải thẳng thắn nói: “Tui tưởng tui được về, nhưng chưa về.” Nói xong, anh ta lại nằm xuống, quay mặt vào tường. Không phải là mình, anh em cũng ngậm ngùi cho Phan Hải.
Ít lâu sau, tổ tôi nhận thêm 2 người, cũng cấp bậc đại úy (Tổ tôi hầu hết cấp bậc đại úy, ngoại trừ Phan Hải là trung úy). Hai người mới là đại úy Thành. Ông nầy “có công với cách mạng” vì hôm 30 tháng Tư, thiên hạ chạy cả. Ông là trưởng kho đạn ở Long Thành nên ở lại giữ kho đạn, không chịu “di tản”.
Bỏ kho đạn mà chạy, lỡ bọn du côn, du đảng, cướp bóc vào “chôm” lựu đạn, chất nổ thì nguy hiểm cho dân chúng lắm. Vì vậy, ông gồng mình canh kho một mình, cầm súng đi tới đi lui, chờ khi “bộ đội” vô tới nơi, bàn giao kho đạn cho họ xong ông mới ra về.
Việt Cộng cho rằng ông có “tinh thần cao” nên cấp cho một tờ giấy. Tin vào tờ giấy ấy, đại úy Thành hy vọng về sớm.
Người thứ hai là Hải quân Đại úy Tôn Thất Phú Sĩ, quê ở Hàng Đường, Huế. Vợ anh đang đi dạy, hiện sống ở gần cầu Trương Minh Giảng.
Tôn Thất Phú Sĩ kể:
“Gần tới ngày “giải phóng” thằng em tui là Tôn Thất Mạnh Lương bỗng xuất hiện ở đơn vị tôi tại Cần Thơ, khuyến dụ tôi ra đầu hàng “cách mạng” để được khoan hồng. Tui đuổi nó: “Mày đi đi! Tao không nghe lời mày được, chắc nó giận tui lắm. Vậy nên bây giờ cũng khó về sớm.”
Sinh viên, học sinh Huế nhiều người biết Tôn Thất Mạnh Lương. Năm 1963, biểu tình chống Ngô Triều, anh ta và Thái Thị Kim Lan đang học lớp Đệ Nhứt, ở trường Quốc Học, tham gia đấu tranh tích cực lắm, bị Cảnh Sát Diệm Nhu bắt bỏ tù cả hai.
Khi chế độ nhà Ngô sụp đổ, người ta coi anh như “người hùng”, khi đấu tranh cũng “dữ” mà vô tù cũng “dữ”. Ra tù, anh ta học đại học, nhưng có làm gì nữa không, tôi không rõ.
Sau cuộc chỉnh lý ngày 31 tháng 1 năm 1964, Trung tướng Thủ tướng Nguyễn Khánh cầm quyền. Đám đấu tranh cũng có người nhờ công trạng “đấu tranh” mà đời lên hương.
Mặt khác, để “khóa miệng” các “công thần” sinh viên nầy, một số không ít được Nguyễn Khánh cho đi du học. Người ta gọi mỉa là “đấm mõm” bằng một cái học bỗng:
Cao Huy Thuần đi Pháp, Thái thị Kim Lan đi Đức, Lê đình Điểu, Đỗ Ngọc Yến đi Mỹ.
Số nầy, không biết có ai bị (hay được) Xịa móc nối để làm tình báo cho Mỹ không?
30 tháng Tư, hình như Mỹ bốc cả gia đình Đỗ Ngọc Yến rời Saigon trước khi Dương Văn Minh đầu hàng đấy! Còn tấm hình chụp Đỗ Ngọc Yến họp với Nguyễn Tấn Dũng là photoshop hay thực sự như thế? Vì ai mà ông Yến gặp anh chàng “cựu y tá bộ đội địa phương” nầy? Ai mà biết!!!!
Không hiểu sao Tôn Thất Mạnh Lương không du học mà lại đi vô rừng theo Việt Cộng. Bấy giờ y lại xuất hiện ở Cần Thơ, dụ khị thằng anh trốn theo Việt Cộng. Việc không thành.
Chuyện Tôn Thất Phú Sĩ, Phật tử chính hiệu, cưới được bà vợ theo đạo Thiên Chúa, cũng là chuyện “trời thần đất lỡ” đấy, nhưng là chuyện riêng nên không viết vào đây.
Hồi đó, tôi đâu có biết anh ta có tài làm thơ!
Buổi sáng trước khi chuẩn bị “bồng gọn nhẹ” (danh từ Việt Cộng nữa đấy, tức là lo “hành trang”), tôi với Nguyễn Văn Bê ra chỗ trồng rau của tổ. Bê nói: “hái cho hết đem về ăn, để lại làm chi!”
Trong khi tôi và Bê đang lui cui hái rau, có môt “chú bộ đội” đi ngang, dừng lại hỏi thăm:
“Mấy anh biên chế phải không?” Tôi trả lời “Vâng”. “Chú bô đội nói: “Các anh đi mạnh khỏe, học tập tốt thì về thôi!”
Khi anh ấy đã đi xa một quãng, tôi hỏi Bê:
– “Thằng nầy hôm trước anh tập cho nó ca cải lương phải không?”
Bê nói “Phải”.
Khoảng gần tết, Bê trồng rau ở đám rau của tổ chúng tôi tại khoảnh đất gần kho đạn, kế hàng rào phi trường. Ở đó có môt cái chòi canh, “bộ đội” chỉ cắt cử vệ binh gác vào buổi tối mà thôi.
Bê có cái thú ưa ca cải lương. Anh ca cũng khá hay. Lúc đó trời cũng đã chiều rồi, đang trồng rau, Bê bắt chước Út Trà-Ôn trong bản “Sầu Vương Biên Ải”:
Chú bộ đội hồi nãy sắp lên ca gác, đi ngang, nghe ca cải lương, bèn dừng lại, hỏi chuyện Bê, rồi nhờ Bê tập ca bài đó cho. Tập vài lần như thế thì anh ta ca được. Sau đó, cũng một lần trồng rau với Bê ở chỗ cũ, tôi lại nghe anh ta ngồi trong chòi canh, hát nho nhỏ: “Đón giao thừa một phiên gác đêm, chào mừng xuân…”
Nói về con người thì ai cũng như ai, đều có tình cảm cả, cũng thương, cũng nhớ, và cũng… hoài hương. Sau mới biết thêm, anh ta quê ở Bắc Ninh.
Nghe nói quê ở Bắc Ninh, một đêm nào đó, tôi đọc cho mấy bạn tù nghe hai câu thơ của Xuân Diệu, trong bài thơ “Việt Nam Độc Lập”. Tôi không nhớ hết bài:
Cô gái Việt gánh gồng xinh xinh,
Đâu cũng là những cô gái Bắc Ninh.
Về địa lý và lịch sử, Bắc Ninh có hai đặc điểm. Con gái Bắc Ninh nổi tiếng đẹp và nơi nầy là “quê hương quan họ”. Ỷ Lan phu nhân và bà mẹ ông Lý Công Uẩn cùng quê ơ Bắc Ninh.
Hiền hỏi:
– “Ông” có biết chi về quan họ không?”
– “Không! Tui không biết.” Tôi nói. “Tui có nghe Phạm Duy soạn “Con đường cái quan”, nhưng tui ham theo “Đường giây 1 C” (1) nên không có thì giờ để biết con đường dân ca Phạm Duy đang soạn. Phải chi cứ ở thành phố, đánh giặc mồm CTCT thì có thì giờ “vui chơi ba ngày xuân 365 ngày”. (2)
Dung nói:
– “Thằng nầy quê quan họ, có máu “dzăng nghệ dzăng gừng” nên ưa ca cải lương cũng phải.”
Bỗng “cóc” (3) Phan Hải lên tiếng:
– “Cách mạng chủ trương dẹp bỏ cải lương, cho là ủy mỵ, ảnh hưởng tinh thần chiến đấu. Mấy ông đừng nói ra, tới tai cấp chỉ huy là thằng ấy bị kỷ luật đấy.”
– “Ưa ca cải lương mà cũng khổ. Nhiều khổ quá sống sao nỗi.” Ai đó lên tiếng.
– “Ủ my là không được, anh Hải có nhớ vụ Lê Hoàng Long không?” Phan Hải nói.
– “Nhớ chớ!” Tôi trả lời.
Sau khi học 10 bài, một hôm toàn bộ “cải tạo viên lên lớp” ở hội trường, Trung úy Dziệt Cộng Chính trị viên tên Thảo của “Tiểu đoàn” đem tên hai người ra phê phán. Một là ông Chuẩn tướng Lý Tòng Bá, gọi ông ta là “tên ác ôn”, và Lê Hoàng Long, làm thứ trưởng Bộ Chiêu Hồi, tên phản động văn nghệ.
Tôi từng hát nghêu ngao “Rồi mai lênh đênh trên sông Hương…” biết ông Lê Hoàng Long là tác giả bài “Gợi Giấc Mơ Xưa” nầy vào những năm tôi còn học ở Quốc Học; còn sau nầy ông ta làm gì, tôi mãi miết “lội bùn dơ băng lau lách xuyên đêm, sương trắng rơi…” của “Sương Trắng Miền Quê Ngoại”, đâu có về Saigon để mà biết tới những việc ấy.
Nhưng tôi vẫn cứ thắc mắc: Việc Việt Cộng lên án ông chuẩn tướng thì dễ hiểu, còn ai là “người trong cuộc” để tố cáo Lê Hoàng Long là tên “Biệt kích văn nghệ” vậy cà?
&
Chẳng bao lâu sau chúng tôi chuyển trại. Tổ tôi đi hết, ngoại trừ hai người mới chuyển tới và Phan Hải. Dĩ nhiên, chúng tôi nghĩ rằng án tù những người bị chuyển trại nặng hơn người được ở lại.
hoànglonghải
(1)-Tôi có kể trong “Hương Tràm Trà Tiên”
(2)-Trước 1975, nhiều người gọi đùa những người phục vụ ở bộ phận CTCT là “Cứ Thế, Cứ Thế” hay “Đánh Giặc Mồm”. Có những sĩ quan CTCT, khai rằng mình không trực tiếp chiến đấu, làm CTCT cho “nhẹ tôi với Cách mạng”. Trong khi đó, Việt Cộng đánh giá họ ngang tầm với Chính Ủy hay Chính Trị Viên, “nguy hiểm” hơn những người cầm súng chiến đấu ở mặt trận.
(3)-Phan Hải ít tham gia những buổi nói chuyện như chúng tôi, nên mỗi khi anh ấy lên tiếng, tôi gọi đùa là “Cóc mở miệng”.
Mặc dầu hơi rượu thơm nóng, đầy sức quyến rũ, nhưng các vị khách tự cho mình là người văn chương nho nhã, nên dẫu đang thèm vẫn phải nhâm nhi mà không dám nốc một hơn cạn chén.
Những kỷ niệm trong cuộc đời viết lách lại được nhắc đến. Tin tức về những bạn bè của họ chạy được ra nước ngoài cũng chiếm một phần câu chuyện. Hoàng Hải than phiền Việt Định Phương đem tái bản sách của anh ở Mỹ không thèm xin phép anh mà không trả tiền bản quyền cho tác giả. Nhà văn Đoàn Quốc cũng đồng tình, nhưng lập luận tác phẩm là tài sản chung, nó đến được với người đọc là tốt là niềm vui đối với tác giả, còn chuyện tiền nong là chuyện thứ yếu.
Khuất Duy niềm nở chuốc rượu cho khách. Anh ta lắng nghe mọi chuyện, khiêm tốn tự xác nhận mình là người “học trò” trong làng văn, hết lời ca ngợi sự nghiệp văn chương của các vị khách. Thật ra nhiều vị khách đang ngồi trong buổi tiệc không những biết hắn là Trung úy Tâm lý chiến quân đội Sàigòn cũ mà còn biết hắn qua đài VOA với mấy bản nhạc mà hắn mới sáng tác trong mấy năm gần đây.
Đến khi nghe Hoàng Hải và Đoàn Quốc bàn đến việc tái bản sách của họ ở nước ngoài, hắn mới chen vào:
– Bác Đoàn Quốc là nhà văn chân chính nên nói vậy. Còn tôi là người đọc, tôi nghĩ rằng Việt Định Phương làm như vậy không khác gì chiếm đoạt công lao của người khác, nhất là đối với những nhà văn như quý vị đây đang sống trong cảnh vô cùng khó khăn, lý ra những đồng nghiệp ở nước ngoài phải hết lòng giúp đỡ.
Dương Hùng hưởng ứng ngay:
– Đúng vậy! Anh Duy nói chí lý. Tôi còn lạ gì thằng ấy. Hồi còn ở đây nó cũng lưu manh còn hơn bọn đá cá lăn dưa ở chợ Cầu Muối. Dương Hùng định chửi thề, nhưng kịp hãm lại vì thấy không thể văng tục trước bà chủ nhà.
Khuất Duy nói tiếp:
– Tôi may mắn được biết một số tình hình của anh em văn nghệ sĩ ở nước ngoài. Theo chỗ tôi được biết, không phải ai cũng làm ăn bất chính, bán đứng bạn bè như Việt Định Phương đâu. Chắc quý vị đã biết “Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại”. Nếu tôi không lầm thì nhiều vị đã nhận được thư của Hội, có phải vậy không bác Hoàng Hải?
Hoàng Hải chột dạ. Hắn chợt nhớ ra Khuất Duy không chỉ là ca sĩ mà còn là Luật sư Tòa Thượng Thẩm Saigon. Cái nghề thầy kiện, theo hắn còn là trùm đá cá lăn dưa. Hẳn là Duy Khuất muốn moi móc việc cách đây không lâu, Hoàng Hải nhận được thư của Trần Tam Tiệp, Tổng Thư Ký “Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại” và Hoàng Hải có viết thư yêu cầu Tiệp can thiệp hộ vụ tái bản sách. Chưa rõ kết quả thế nào, nhưng Trần Tam Tiệp đã hai lần gửi cho Hoàng Hải nhiều món quà có giá trị gần cả một ngàn đô la. Sở dĩ anh ta biết chính xác số tiền ấy vì Trần Tam Tiệp có gửi kèm bảng chiết tính từng món hàng, bảo rằng sau này sẽ khấu trừ vào khoản tiền tái bản sách của Hoàng Hải. Hoàng Hải đã giấu biệt chuyện đó không dám cho bạn bè biết, một phần sợ bị vay mượn, sợ phải đãi đằng, phần khác sợ lộ ra nhiều người biết không tiện. Thế mà Khuất Duy dường như biết tỏng vụ này.
Khuất Duy nhìn Hoàng Hải mỉm cười cảm thông và nói tiếp:
– Như quý vị đều biết, Tổng Thư Ký Hội là ông Trần Tam Tiệp, sở dĩ tôi biết như vậy là vì ông Tiệp có viết thư cho tôi. Không những ông Tiệp nhờ tôi mà còn nhờ anh Dương Hùng nữa tổ chức cuộc họp này. Anh Tiệp đặc biệt tỏ lòng trân trọng cụ Đoàn Quốc, một trong những nhà văn lớn còn có mặt trong nước để làm nhân chứng lịch sử trong tám năm qua. Việc cụ Quốc nhận lời mời đến với chúng ta hôm nay là điều rất quý giá.
Mọi người hết nhìn về phía Đoàn Quốc lại nhìn Dương Hùng, ngầm ý trách hỏi:
– Thế mà các người cứ giả bộ không biết ai tổ chức cuộc họp mặt này.
Khuất Duy lại rót rượu, trịnh trọng:
– Xin mời quý vị nâng cốc lần nữa để chúng tôi được thưa chuyện. Xin mời…
Khuất Duy chạm cốc với từng người và uống cạn chén. Hơi men đã làm hứng chí các vị khách. Ngay cả Đoàn Quốc cũng trút vẻ đạo mạo, uống một hơi cạn nửa ly Camus vàng sánh và lên tiếng:
– Tuy ông Tiệp trước đây chưa cùng chúng tôi tham gia làng văn và cả làng báo nữa, nhưng bậc trí giả bao giờ cũng biết xuất hiện đúng lúc cần thiết để “cầm chính đạo để tịch tà, cự bí”. Chúng tôi đều đã nghe tiếng và dành sự kính trọng đối với ông Tiệp.
Một vài người dự họp biết rõ về Đoàn Quốc nên thấy hơi lạ về thái độ của ông ta. Trước đây, ông ta rất khinh thường “lũ nhãi nhép” tập tễnh làm văn, viết báo. Thế mà nay ông ta lại đi ca tụng một con người không biết gì về văn học nghệ thuật. Phải chăng vì con người ấy đang là Tổng thư ký “Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại” mà ông định tìm chỗ dựa?
Dương Hùng phụ họa:
– Vâng, cụ Đoàn Quốc nói chí lý: Thời nào anh hùng nấy mà lị!
Khuất Duy bắt đầu hùng biện:
– Thưa quý vị, như tôi đã trình bày, anh Tiệp… là bạn cũ của tôi. Anh ấy cùng với “Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại” đang hết sức quan tâm đến tự do sáng tác của quý vị trong nước. Nhưng vì hoàn cảnh chưa cho phép trực tiếp gặp quý vị, nên anh ấy yêu cầu chúng tôi thay mặt hầu chuyện với quý vị.
Nói đến đây, hắn móc trong túi quần Jean ra một tờ giấy mầu xanh và tiếp:
– Đây là lá thư anh Tiệp gửi chung cho quý vị, tôi xin phép được đọc nguyên văn:
“Thưa các văn hữu,
“Hôm nay, được sự chấp thuận của Hội, chúng tôi hân hạnh mời quý văn hữu khả kính đến cùng nhấp chén rượu mừng xuân. Do hoàn cảnh chưa cho phép chúng ta đoàn tụ đông đủ với nhau, chúng tôi phải nhờ anh bạn thân bên nhà thay chúng tôi hầu chuyện cùng quý vị. Xin quý vị nâng cốc, coi như chúng tôi đang có mặt cùng chung vui.
“Như quý vị đều biết, tuy xa xôi cách trở, nhưng anh em bên này vẫn thường hướng về quê hương, luôn luôn tìm mọi cách để chia xẻ những nỗi cay đắng cùng quý vị đem cả tấm lòng và sức lực đấu tranh cho một nền văn nghệ chân chính, cho sự nghiệp tự do sáng tạo của văn nghệ sĩ chúng ta. Nhân dịp này, thay mặt Hội, chúng tôi xin gửi lời chia buồn với các anh chị em đang bị nhà cầm quyền giam giữ và gia đình họ. Chúng tôi hứa vận động để họ sớm được tự do và rời khỏi đất nước, nếu họ muốn.
“Chúng tôi hy vọng rằng, từ đất nước thân yêu bất hạnh, quý vị sẽ gửi cho chúng tôi những tác phẩm mới nhất, có giá trị nhất để cộng đồng người Việt hải ngoại và dư luận thế giới biết rằng những nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ Việt Nam yêu tự do trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không ngừng sáng tạo nghệ thuật.
Anh bạn của chúng tôi sẽ lo việc gửi bài vở thay quý vị.
“Để đền đáp lại, chúng tôi sẽ có thù lao xứng đáng. Hơn nữa, chúng tôi xin nhấn mạnh rằng những tác phẩm của quý vị sẽ làm dư luận thế giới quan tâm, trở thành sự bảo đảm tốt nhất cho quý vị đối với nhà cầm quyền.
“Trân trọng kính chào.
Paris, ngày…
Trần Tam Tiệp, Tổng Thư ký Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại
Khuất Duy đọc xong thư, đảo mắt quan sát từng người. Hoàng Hải trầm tư rít từng hơi thuốc. Đoàn Quốc ngả người trên ghế sa-lông, lơ đễnh nhìn mấy con thằn lằn đuổi bắt mồi bên ngọn đèn nê-ông trên trần nhà. Những người khác thì chờ đợi thái độ của hai bậc đàn anh. Im lặng kéo dài.
Dương Hùng lên tiếng trước:
– Kể như bạn bè bên ngoài còn nhớ tới anh em như vậy là tốt lắm rồi. Không biết các anh khác thế nào, còn tôi từ lâu đã gác bút, chắc là không làm được trò trống gì nữa.
Nhiều tiếng xì xào. Một tay ngồi cạnh nói nhỏ với Dương Hùng:
– Tớ thấy vụ này phiền lắm đấy. Tớ rút lui thôi. Thà bán thuốc lá lẻ cho vợ mà yên tuổi già.
– Chúng ta ở đây toàn là chỗ anh em cả, có thể yên tâm.
Dương Hùng trấn an mọi người và hướng về phía Khuất Duy, nói lớn:
– Chuyện này để.. .”hạ hồi phân giải”. Giờ ta tiếp tục “cuộc chiến”, đánh ngã chai rượu này đi các ông ạ.
Anh ta nâng cốc uống một hơi không chờ ai.
Khuất Duy hiểu ý, cố làm ra vẻ tự nhiên:
– Thưa quý vị, anh em ta ở hải ngoại, không hiểu hết hoàn cảnh của chúng ta. Tôi đề nghị hãy gác chuyện này lại, để quý vị suy nghĩ thêm. Hôm nay, chúng ta có dịp gặp lại nhau là quý lắm rồi. Xin mời quý vị tiếp tục nâng cốc. Xin mời.
Họ tiếp tục uống. Chai Camus được tiếp nối bằng chai rượu Cây Lý của Dương Hùng. Không còn ai nhắc đến chuyện văn chương cũng như lá thư của Trần Tam Tiệp nữa. Đến lượt chai Cây Lý cũng bị đánh ngã.
Thấy khách ngồi im, bà chủ nhà gợi chuyện:
– Mời ông xơi nước. Lâu nay ông có sáng tác gì không ạ?
Hoàng Hải nhấp ngụm trà nóng, lắc đầu:
– Thú thật với bà, tôi đã treo bút. Viết cái gì bây giờ? Hơn nữa, viết để làm gì? Chẳng lẽ mình lại là độc giả duy nhất của chính mình.
– Tiếc thật, không riêng gì ông, nhiều người khác cũng thế. Thật phí những tài năng….
Trên đây là một đoạn trích trong quyển “Những tên biệt kích cầm bút”. Nhưng không có chuyện nhân vật bị gọi là Biệt kích Văn nghệ Hoàng Hải được hân hạnh nói chuyện với bà chủ vi-la Kiều Trang ở cư xá Lữ Gia, Saigon. Đoạn này hoàn toàn do hai anh Đại tá cớm cộng dựng đứng lên trong tưởng tượng của hai ảnh. Nhưng cứ giả vờ như đó là chuyện xảy ra có thật đi, ta thấy gì?
Trước hết bà chủ vi la Kiều Trang, hay bà chị nữ minh tinh Kiều Trang cũng rứa, là đàn bà lương thiện. Bà không dính dấp gì đến những cái gọi là dzăng nghệ, dzăng gừng, dzăng bút, dzăng mực tùm lum trên cõi đời này. Chắc chắn bà phải sống cùng nhà với cô em từ trước tháng Tư 1975, bà có tên trong sổ gia đình, nên bà mới giữ được cái vi la bạc tỷ tiền Hồ này. Theo đúng lời Thánh Tổ Lênin dậy bọn con cháu cộng sản khi nắm được chính quyền là “việc đầu tiên tịch thu tất cả tài sản của bọn bỏ trốn ra nước ngoài”. Nếu tui nhớ không lầm thì giữa mùa Thanh Minh trong tiết tháng Ba, lễ là tảo mộ, hội là Đạp Thanh năm ấy – năm 1975 – nữ minh tinh Kiều Trang đang là khách mời của Air Vietnam đi khai trương một văn phòng ở Singapore hay đâu đó. Số nàng là số đẻ bọc điều, nên nàng đang ở nước ngoài, Saigon thất thủ, nàng dzọt luôn.
Ngày xưa xa lắm tui còn trẻ, còn ngây thơ, tui nghe người ta bảo nhau: “Đẻ con gái đừng đặt tên cho nó là Kiều… Con gái tên Kiều là chém chết cũng có cuộc đời tình ái vất vả như em Kiều Thúy: chồng con chẳng ra gì, tài sắc đổ nước, nghiêng thùng, thơ phú, đàn địch, nhẩy đầm như máy vậy mà phải đem thân đi hầu hạ người ta, bị người ta khinh khi, đánh đập, phải vào nhà chứa rồi nhà chùa v.v..”
Ngày xưa ấy như đã nói xa lắm rồi trong cái gọi là dĩ vãng man mác thời gian tím ngắt, tui thơ dại nên tin lời thiên hạ nói về những nàng Kiều trên cõi đời này như thế là đúng.
Mùa Hè Đỏ Lửa của Phan Nhật Nam đã được tái bản nhiều lần. Và lần tái bản này, cuốn “Mùa Hè Đỏ Lửa” có một cái bìa màu đen, dù tên tác giả, nhan đề và tên nhà xuất bản có được in bằng chữ vàng chăng nữa, người ta vẫn có cảm tưởng rờn rợn như cầm trong tay “cuốn sách của nhà mồ”, những gì liên quan tới tóc tang, chết chóc. Cảm tưởng vậy thôi, chứ cho dù có chưa đọc, hẳn người ta chắc cũng đã phải nghe nhắc tới cái ‘mùa hè đỏ lửa’ ở Quảng Trị một thời và sở dĩ nó thành cái tên ấy cũng là do cuốn sách của Phan Nhật Nam. Cuốn sách đã được ông viết xong ngay khi Đại Lộ Kinh Hoàng, Cổ Thành còn nồng mùi máu, mùi xác chết, mùi lửa khói …
Cuốn sách đã đánh động đến lương tri của tất cả những ai còn quan tâm đến hoàn cảnh đất nước, đến số phận của từng con người đang sống trong một giai đoạn có lẽ là khốc liệt nhất trong lịch sử của dân tộc. Nếu ai có dịp nhìn thấy Quảng Trị sau cái mùa hè đỏ lửa đó hẳn không thể nào quên được: gần như cả một thành phố không còn một hòn gạch nguyên vẹn chứ đừng nói một bức tường! Tưởng chừng một con sâu cũng khó lòng sống sót trong tình trạng từng phân đất đều bị đạn khoét, xới thành hố sâu chi chít như thế, nói chi đến những con người!
Vậy mà khi người ta bồng bế nhau chạy trốn lại bị những trận mưa pháo bắn theo! Trực tiếp ngăn chặn những cuộc tàn sát như thế chỉ có những người lính. Những người lính đó là ai? Họ là chồng, là cha, là con, là cháu của mọi gia đình. Sau mấy chục năm dường như chiến tranh đã phân phát tang tóc đến mọi gia đình. Nói cách khác, người dân miền Nam đã đổ máu để cứu lấy nhau cho đến ngày tuyệt vọng 30 tháng 4, 1975.
Đọc Phan Nhật Nam người ta thấy rõ hơn những nỗi nhọc nhằn, hiểm nguy của người lính, sự hy sinh, gian khổ của họ trong cuộc chiến, để bảo vệ cho sư bình yên của đời sống, của các thành phố, của lý tưởng tự do, dân chủ, thế nào. Phan Nhật Nam nổi tiếng như một người viết phóng sự chiến trường có lửa nhất. Nhưng ông không viết Mùa Hè Đỏ Lửa chỉ như một phóng sự. Trong ông hình như có đến mấy con người: một nhà văn, một nhà báo, một nhà tư tưởng và một người lính nữa. Họ đã cùng một lúc viết Mùa Hè Đỏ Lửa. Nên đọc Phan Nhật Nam nhiều lúc người ta thấy hụt hơi vì phải theo dõi ông. Xin trích dẫn một đoạn trong bài viết được ông đặt tên là ‘Hai mươi bốn giờ của đời người ở An Lộc’ như sau [trang 119]:
“Vào mùa hè năm 1972, Bạch Lê vừa qua hai mươi tuổi, đúng ra hai mươi mốt tuổi hai tháng. Cô nhớ chính xác như thế vì tại thời điểm mùa hè này, cô đã trải qua những ngày, giờ, với từng phút, giây, hình như không chuyển dịch, thay đổi. Và từ những giữ, phút ‘không thể nào quên’ kia [không thể dùng một từ nào khác để diễn đạt nên], cô đã thành ‘một người nào khác’ với những tình cách tâm lý, phản ứng chịu đựng, phương thức chống cự qua những hoàn cảnh mà cô không lường trước, dự tính ra được. Cô đã thành một người lạ với chính mình. Tại sao lại như thế? Tại sao lại như vậy?
Cô tự hỏi với bản thân rất nhiều lần câu hỏi đơn giản không thể trả lời này”.
Đọc hết đoản văn nói về cô Bạch Lê của Phan Nhật Nam, người ta hiểu vì sao cô đã trở thành một người khác, cô đã chứng kiến những cảnh giết chóc, chạy trốn, chôn người chết, cứu người sống, một đàn em, một lũ học trò và
chính bản thân, ai cũng có thể chết và chết bất cứ lúc nào trong những cơn mưa pháo, phải nương vào nhau chỉ để cho đỡ sợ.
Xin trích thêm một đoạn nữa [trang 149]:
“Sáng ngày 10, với hai bàn chân trần, Bạch Lê dẫm lên đất lửa sôi bỏng mảnh gang thép, bầy nhầy thịt xương người lâm nạn tối qua, trở lại bệnh viện, đi qua hành lang đã biến thành một dãy nhà ngổn ngang xác chết – đống thây người chết nếu nói đúng hơn – đến chỗ căn phòng y tá [nơi có chiếc hầm chìm bị pháo], khi đang loay hoay bới đống xác chết, để tìm thây Nghĩa, Hiệp, một người lính quân y hỏi nhỏ ‘Cô có phải là cô gì Bạch phảikhông?’. ‘Vâng, tôi là Bạch Lê, nhưng mấy em tôi quen gọi là chị Hai thôi’. ‘Hèn gì người em cô đêm pháo kích vừa rồi cứ kêu tên cô mãi … Kêu cho đến khi chết vì bị thương thêm hai, ba lần nữa’.
Trải qua những cảnh ấy cô ta không thể là người bình thường được nữa. Những người lính cũng không thể có được một tâm lý bình thường được nữa. Và, nếu đúng như vậy thì, có lẽ đến quá phân nửa người Việt Nam, tâm thần ắt cũng có điều gì đó bất thường.
Có vẻ như Phan Nhật Nam viết theo cái cách để mặc cho cảm xúc dẫn dắt. Ông lại có nỗi lo sợ ngôn ngữ không nói đủ những gì ông muốn nói. Nên nhiều khi ông phải nói vội, chưa hết hẳn ý này ông đã nhảy sang ý khác, sợ quên, sợ thiếu, nên đọc ông người ta đôi lúc phải ngừng lại, đọc lại, để nắm bắt, tách rời những điều ông viết, để hiểu.
Có một điều rất quý, người ta có thể nhận ra ngay khi đọc Phan Nhật Nam: ông là người giầu lòng nhân ái, nồng nhiệt, yêu đời, yêu cái đẹp và sự ngay thẳng. Nhưng cuộc đời trước mắt ông dường như lại là một cuộc đời không thể sống ở trong đó được nữa. Nó kinh khủng quá. Máu, nước mắt, thây người, chảy tuôn, ngổn ngang suốt những trang sách của ông. Những gì ông nhìn thấy đều trở thành những nỗi ám ảnh, dày vò. Chân giẫm lên máu mà không làm gì được.
Phan Nghị có lẽ là nhà báo cuối cùng trong số những người khởi nghiệp cùng với ông, khoảng đầu thập niên 50, tại Hà Nội, còn sót tới hiện tại, và vẫn tiếp tục làm việc cho tới khi mất vào tháng 5/04 vừa qua. Ông tên thật là Phan Văn Nghị, người Nam Định. Gia nhập làng báo với các phóng sự “Bờ Lờ” [tức Buôn Lậu], “Dưới Bóng Điện Đài” [Hay Những Tôi Con Nhà Thánh] đăng trên các báo Giang Sơn, Tia Sáng … Tất cả đều là những phóng sự.
Sau năm 1954 ông vào Nam, cộng tác với nhiều nhật báo và tuần báo, nhưng ông viết nhiều nhất cho các báo Ngôn Luận, Chính Luận. Các năm 1967-1968 ông đứng làm chủ nhiệm cho nhật báo “Dân Quân”. Nhưng vị trí đích thực của ông trong nghề báo chính là viết phóng sự. Trong thời chiến tranh Việt Nam, Phan Nghị có hai phóng sự rất có giá trị: Vượt Trường Sơn và Đường Mòn Hồ Chí Minh nói về việc xâm nhập của quân đội miền Bắc vào miền Nam. Cả hai phóng sự này đều đã được in thành sách và hiện còn bầy bán tại các tiệm sách ở Hoa Kỳ.
Ông có một văn phong gọn gàng, mạch lạc, lý luận sắc bén, rất thích hợp để viết phóng sự. Xuyên qua những gì ông đã viết, người ta thấy, ông là một người yêu nghề. Những điều ông viết ra đều là những gì ông trông thấy, tìm biết, chứ không phải chỉ là những điều nghe nói hay phỏng đoán.
Các ký giả trẻ còn kể lại với nhau nhiều chuyện vui về ông trong khi đi hành nghề. Hình ảnh họ nhớ nhất về Phan Nghị là ông ‘ăn mặc không giống ai’. Áo sơ mi trắng, quần màu, nhưng ông sẵn sàng choàng ra ngoài một chiếc áo thủy quân lục chiến hay nhẩy dù, đội lên đầu chiếc nón sắt, và thắt chiếc thắt lưng “tổ bố” các quân nhân vẫn thường dùng, lấy chỗ đeo máy ảnh, máy ghi âm.
Google image edited by AI
Ông theo binh sĩ lăn xả vào các mặt trận để lấy tin tức, viết phóng sự. Mỗi chuyến đi như thế có thể coi là một lần đổi sinh mạng lấy sự thật. Nhưng ông vẫn làm. Và không bao giờ lấy đó làm quan trọng hay khoe khoang như những thành tích. Ông sống giản dị, ít để ý đến bề ngoài, vui chơi với bạn bè theo cái kiểu ‘ai tới đâu ông tới đó’. Chuyện không đáng gì, nhưng nếu đã tranh luận, ông sẵn sàng ‘ăn thua đủ’. Hung hăng vậy thôi chứ người ta cũng chưa thấy ông đánh nhau với ai. Cũng không thấy ai tỏ ra bất bình hay thù ghét ông. Nói chung, người trong nghề đều kính trọng lối làm việc của ông. Nếu mục đích của việc viết phóng sự là kể lại những sự việc xẩy ra ở một nơi nào đó, với những chi tiết mà một bản tin thường chỉ tóm tắt, nêu ra những cái sai, cái hỏng trong sinh hoạt xã hội để tìm cách sửa chữa, thì Phan Nghị đã làm đúng công việc của mình.
Chúng tôi xin trích dẫn sau đây một đoạn Phan Nghị viết về một vấn nạn xã hội đang đe dạa mọi người dân khắp miền Nam nhưng dường như chính quyền bất lực không giải quyết được hoặc cố tình làm ngơ không giải quyết đó là vấn đề giao thông, cả trên đường bộ lẫn đường thủy.
Con số người chết về các tai nạn giao thông trên toàn quốc hàng ngày, hàng năm, đã lên tới một con số kinh khủng. Phan Nghị đã viết về những người lái ghe thuyền mà ông gọi là ‘những hung thần trên sông’ như sau:
“Thảm cảnh đắm đò ở vùng sông nước Cà Mâu làm chết 71 học sinh, nay lại có thể tái diễn trên sông nước Sài Gòn, khi có những con đò lênh đênh chở các em nữ sinh từ bên kia sang bờ bên này để đi học. Cái phương tiện chuyên chở mỏng manh ấy đâu có được trang bị phao và khi xẩy ra sự
việc nhân viên cứu hộ làm sao có đủ thì giờ can thiệp? Trên sông Sài Gòn, chí ít các bác tài cũng phải e dè đối với luật lệ giao thông. Nhưng còn ở các tỉnh lẻ thì người ta gần như bất chấp. Trên thủy lộ mênh mông ấy làm gì có đèn xanh đèn đỏ, nên các bác tài phóng nhanh, vượt ẩu. Sợ nhất là các bác tài điều khiển tàu cao tốc. Người ta mệnh danh họ là những hung thần trên sông. Chỉ tính riêng ở Cà Mâu từ năm 2000 đến nay, đã xẩy ra 244 vụ tai nạn giao thông đường thủy, làm chết 201 người. Riêng mấy tháng đầu năm
2004 đã có 11 người chết trong 11 tai nạn. Tai nạn giao thông đường thủy gia tăng là do người điều khiển phương tiện không có di quản lý nên cứ việc cắm cổ phóng bạt mạng! Nhà cầm quyền địa phương đã phối hợp với cảnh sát giao thông đường thủy, kiểm tra phát hiện gần 7000 trường hợp vi phạm luật, tước quyền xử dụng bằng thuyền trưởng 141 người. Tuy nhiên những biện pháp chế tài ấy không chắc gì đã đem lại hiệu quả như ý muốn. Bởi vì, Cà Mâu phương tiện dày đặc: tàu khách 746 chiếc, ca nô cao tốc 500 chiếc,
và phương tiện thủy gia dụng lên tới 80.364 chiếc. Thành thử ăn thua là do cảnh sát giao thông đường thủy”.
Tuy tuổi cao, nhưng theo các bằng hữu của ông, Phan Nghị có vẻ khoẻ mạnh. Ông luôn cười đùa, vui vẻ. Khi khám phá bị ung thư, ông mất không bao lâu sau đó. Bằng hữu cũng cho hay đám tang ông không có hoa hay
lời phân ưu của cơ quan chính thức nào của nhà nước, như hội nhà văn, nhà báo, hội văn học nghệ thuật thành phố chẳng hạn. Mặc dầu, đã có lần người ta đã chọn và trao giải thưởng về viết phóng sự cho ông.
Như thế, có phải, dù ông có làm gì chăng nữa, cũng chẳng bao giờ ông được công nhận như một công dân bình thường. Đám tang ông chỉ có thân nhân và bạn bè cũ của ông đi tiễn.
Những người đã đọc ông từ mấy chục năm qua, ở nơi xa xôi này, xin cầu chúc cho linh hồn ông được yên nghỉ.
Ngày mới ra tù đi gặp ông Ký chủ lò gạch ở Núi Hùm để xin việc làm. Tôi lo dữ lắm. Tôi dựng xe đạp bên gốc cây trước lò gạch, ngồi lên khúc củi chờ, vì nghe nói ông chủ đi đâu đó. Mặt trời lên cao, nắng chói chang đổ xuống lò gạch, nhìn lao công nhễ nhại mồ hôi công việc nặng nề, tôi cảm giác sợ nhưng vẫn thầm mong ông chủ chấp nhận để có được việc làm. Đang suy nghĩ lan man, người lao công tôi làm quen lúc mới đến đi ngang qua:
– Ê… Ông Ký đến rồi, em vô gặp để ông đi lại đợi nữa.
Tôi theo hướng chỉ của người lao công. Ông Ký cao lớn có bộ ria mép đen rậm. Cảm nhận đầu tiên là từ vóc dáng đến gương mặt trông rất giống Nguyễn Cao Kỳ. Tôi thầm nghĩ: “Sao lại có người giống nhau quá vậy trời”!
Ông đang cắm cúi ghi chép gì đó, tôi đến đối diện nở nụ cười, lễ phép:
– Dạ… em chào anh.
– Có gì không em? Ông ngước lên.
Tôi trình bày xin việc làm bốc gạch. Ông lại nhìn vào quyển sổ:
– “Nhà em ở đâu?”.
Sau khi nghe tôi trả lời, ông hỏi tiếp có biết người này người kia không? Ông hỏi đúng tên ông “thân sinh” của tôi và một vài người khác. Nghe tôi nói ông nhìn lên ngạc nhiên:
– A… vậy à, vậy là lúc bác… còn sống với gia đình anh là chỗ thâm tình có lạ gì đâu?
Ông Ký là con một gia đình giàu có tiếng tăm ở Tư Nguyên. Cha mẹ ông là thông gia với ông thông gia của cha tôi, nhờ vậy mà được hưởng lây cái “dư hương” dù cha tôi đã không còn trên cõi đời. Khi biết tôi mới ra tù lâm cảnh khốn khó, ông nhìn từ đầu đến chân thái độ thân thiện cười:
– “Công tử” mà đi vác gạch, liệu có làm được không em? Công việc nặng nề, lấm láp như em thấy đó.
– Dạ được… “công tử” gì đâu anh! Em làm được hết.
Ông Ký vui vẻ hỏi tôi về gia đình, chuyện quân đội, chuyện ở tù, thái độ thân thiện. Tuy nhiên tôi vẫn dè dặt vì thời thế thay đổi, lòng người có thể cũng đổi thay nên tôi e dè. Nói chuyện chừng nửa tiếng, sau cùng ông gật đầu đồng ý bảo sáng mai đi làm.
Tôi xin phép về, ông theo ra sân. Lúc thấy tôi dắt chiếc xe đạp trần trụi chỉ có hai bánh, không gạc, không thắng, không bàn đạp. Ông kêu lên:
– Trời đất! xe như vầy làm sao em đi, nguy hiểm quá!
– Em đi rất chậm, của ông Nhạc cho chứ em chả có gì hết, vô sản mà anh! Tôi cười.
Ông nhìn theo khi tôi đạp xe ra ngõ.
Ngày ra tù, tôi thuộc loại vô sản đúng nghĩa, ngôi nhà của cha mẹ để lại bị trưng dụng làm cơ quan. “Cách mạng” cho gia đình tôi được “ưu tiên” tạm lưu trú ở chỗ trước đây làm nơi nhốt gà và bếp nấu ăn.
Trước ngày “đổi đời” tôi còn quá trẻ, chưa bao giờ nghĩ đời mình thê thảm tận cùng thế này. Cơn hồng thủy đã quét sạch những ước mơ, khép chặt cánh cửa vào tương lai. Chúng tôi bất ngờ bị nhậm chìm xuống tận cùng đáy vực.
Ra tù tôi làm việc gì để sống cũng gặp trở ngại vì bị “quản chế”. Ra khỏi nhà phải báo cáo với ông tổ trưởng, xin ông công an cho phép chứ không phải muốn đi đâu tùy ý, mà tôi thì không bao giờ muốn gặp “họ”. Người chung quanh không ai dám đến gần làm như tôi mắc bệnh phong cùi. Bà con bạn bè gặp nhau ngó lơ làm như không quen.
Mỗi thứ hai đầu tuần tôi phải trình diện công an, ngồi viết tường trình trong tuần qua làm gì? Đi đâu? Gặp ai? Thấy gì? Nghe gì? Chuyện viết báo cáo hàng tuần với tôi là một khổ hình, “ớn” tận óc, vì chưa bao giờ viết một lần là được “họ” chấp nhận, phải viết đi viết lại không biết bao nhiêu lần. Nhiều hôm mặt trời đứng bóng tôi mới lê bước rã rời ra khỏi cơ quan với nỗi chán chường.
Tôi đói meo, nhà không có cơm. Đến bữa, tôi xách cuốc ra vườn đào ít củ lang, hoặc nhổ bụi khoai môn, chà rửa sạch sẽ bỏ vào nồi, cho nắm muối… vậy là xong một bữa. Ngày này qua ngày khác “thực đơn” không thay đổi. Nghĩa là củ lang và khoai môn “bám trụ” vững chắc không có thứ gì khác được phép “thay thế” trong dạ dày của tôi.
Làm mướn thì không ai thuê. Nhà nhà đều xác xơ, công việc phần ai nấy làm. Lại thêm dưới mắt mọi người thì tôi vẫn thuộc loại “công tử”, nên ra tù về đã một tháng, đói gần chết mà chẳng có “ma” nào thèm mướn làm thử một ngày, chỉ mong kiếm được bữa ăn. Lại thêm mỗi khi cần đi đâu tôi phải mượn xe đạp của người hàng xóm, mà việc này thì không phải dễ dàng.
Hôm có người mách mối công việc làm gạch ở Núi Hùm, trở ngại đầu tiên là chuyện làm đơn xin công an cho phép ra khỏi nhà. Tôi phải mất cả tuần lễ đi tới đi lui vì đơn bị bác lên bác xuống, khi ông thôn đồng ý thì ông xã lại lắc đầu, làm tôi ngất ngư muốn bỏ cuộc.
Vừa xong chuyện đơn trương, tiếp theo lại lo phương tiện di chuyển. Thấy tôi bí đường lúng túng nghĩ suy, ông “Nhạc” thương tình đi góp nhặt ở đâu mấy cái phụ tùng cũ phế thải ráp cho chiếc xe đạp vừa đủ để di chuyển tạm thời.
Hôm trao xe ông “Nhạc” nhìn tôi cười cười:
– “Hồi trước đi xe jeep bây giờ chịu khó đạp xe này nghe con”.
Tôi dạ, nụ cười của tôi chắc tang thương lắm khi nhìn thấy “dung nhan” chiếc xe, “người bạn” sẽ đồng hành cùng tôi trên con đường thiên lý.
Trời ơi! Chiếc xe mà ông Nhạc trao tặng mới thê thảm làm sao! Nó đơn giản tới mức không còn thể nào đơn giản hơn được, trần trụi chỉ có ghi đông, cái sườn cũ móp méo tứ tung, có hai bánh xe, không gạt bùn, không dây phanh, bàn đạp chỉ là hai cây sắt mòn nhẵn. Sợi dây xích sét lỏng le, bắt vào cái dĩa cũng già lão răng cưa nhọn hoắc.
Khi tôi đạp một đoạn, nó trật xích, qua ổ gà rung nhẹ là nó rớt liền tù tì, phải xuống xe móc lại dây xích liên tục. Có khi vừa đặt mông lên yên xe, đạp chưa giáp một vòng lại rớt, cứ nhảy lên nhảy xuống hoài, đôi khi mệt quá tôi dắt bộ luôn cho khỏe.
Mỗi lần ra khỏi nhà phải chuẩn bị một nùi giẻ nhét dưới yên, vì khi đến nơi hai bàn tay tôi lúc nào cũng đen thui dầu nhớt. Bởi không có phanh nên muốn dừng lại phải rà bàn chân vào bánh sau làm đôi dép nhựa mòn te tua, mà dép của tôi thì rách từa lưa, phải cột khâu bằng dây kẽm chứ có lành lặn gì đâu! Vậy mà chiếc xe độc đáo đó cũng đã đồng hành cùng tôi đi sớm về tối, đã chia sẻ những nhọc nhằn suốt một thời gian dài, cho đến ngày tôi rời bỏ quê nhà ra đi.
Trở lại chuyện đi làm ở lò gạch. Ngày nào tôi cũng dậy sớm nấu cơm bỏ vào lon guigoz, gọi là cơm cho oai chơi vậy thôi, nhưng chỉ một phần gạo trộn với bốn phần bắp xay, nhìn lon cơm thấy toàn bắp đỏ, có hôm thay bắp bằng củ lang khô, một ít mắm đựng trong hũ chao treo tòn ten vào ghi đông đạp cộc cạch lên lò gạch.
Tôi phải đi sớm khi trời chưa sáng mới kịp giờ làm, vì chiếc xe nó vui buồn bất thường, phải nhảy lên nhảy xuống để bắt xích hoài nên đi chậm như rùa. Hôm nào cũng mệt gần chết, khi đến nơi người ta đã làm việc từ đời nào, báo hại tôi vội vàng vừa làm vừa thở muốn đứt hơi.
Công việc của tôi là bốc gạch chín từ trong lò đem xếp thành cây ngoài sân, rồi bốc gạch sống ngoài sân xếp vào một lò khác để nung. Ngày đầu tiên mỗi khi đặt hai chồng gạch lên vai, xương như gãy rời ra, tôi chịu đựng cả tuần lễ mới quen. Dù đã có tấm bao bố trùm từ đầu xuống hai vai nhưng mặt mũi tóc tai đầy tro bụi, nó phủ kín biến dạng không còn nhận ra người.
Nhà tôi ở quê nên hồi còn đi học trung học ở trường Trần Quốc Tuấn, mỗi cuối tuần về thăm nhà chạy xe ngang qua lò gạch này, thấy lao công trùm bao bố từ đầu xuống vai, hai chồng gạch cao, tay giữ thăng bằng đi thoăn thoắt, nể họ quá! Không ngờ sau mười lăm năm đèn sách để trở thành bác sĩ, kỹ sư. Bây giờ cũng lò gạch này tôi đang làm cái công việc mà ngày đó nghĩ không liên quan đến đời mình.
Buổi trưa tôi mang cơm ra gốc cây ngồi ăn, vì không muốn ai nhìn thấy cơm “đặc biệt” của mình toàn bắp đỏ lòm, hay củ lang khô đen thui xám xịt, trong khi cơm người ta bắp không nhiều, có thức ăn. Còn tôi thì duy nhất một hũ nước mắm, mà mắm của tôi cũng đã ba phần tư là nước muối, nên tốt nhất là không để họ biết mình ăn thứ gì.
Làm được ba ngày. Một buổi trưa tôi vừa ngồi xuống gốc cây để lon cơm và hũ mắm xuống đất, lấy chiếc nón vải lau mồ hôi, chuẩn bị mở nắp lon guigoz thì có tiếng gọi nhỏ:
– Thiếu uý.
Tôi ngước lên. Dù mặt mày tóc tai người đứng trước mặt lấm lem đầy tro bụi tôi vẫn nhận ra:
– “Xuân”. Tôi đứng dậy, Xuân bước tới kêu:
– “Trời”, cả hai ôm vai nhau, một giây yên lặng hai đứa ngồi bệt xuống đất mắt hai thằng đều đỏ. Tôi nói nhỏ:
– “Uý Tá” gì nữa Xuân ơi!… họ để ý mệt lắm… ủa… Xuân cũng làm gạch hả? Mấy hôm nay mình không thấy?
Xuân chỉ lò gạch phía dưới cách nơi tôi đang làm hơn trăm mét:
– Em làm ở lò bên kia. Chiều hôm qua lúc về đi ngang qua thấy anh đang vác gạch, em ngờ ngợ không lẽ Thiếu uý Tiến, thấy giống giống mà nhìn anh te tua lấm lem xơ xác quá. Trên đường về em nghi ngờ, nhất định hôm nay phải gặp để xác nhận có đúng là anh không?
– Mình mới làm có ba hôm. Còn Xuân làm lâu chưa? Tôi hỏi.
– Em làm hơn một năm rồi. Anh ra tù bao giờ?
– Mới được một tháng, khó khăn quá không có việc gì làm, trước mắt mình phải có tiền rồi tính sau.
Xuân nhìn tôi:
– Sao anh không đi? Em nghĩ là anh đã đi rồi. Từ ngày nghe anh chuyển về Pháo Binh Diện Địa Quảng Ngãi rồi mất tin luôn. Không ngờ bây giờ lại gặp ở đây.
Tôi tóm tắt ngày cuối Trung Đội pháo binh đóng ở Bình Sơn, tình hình chung xảy đến quá nhanh, bất ngờ bị bắt không xoay trở kịp.
Xuân thở dài:
– Số mệnh cả… gia đình em cũng quyết đi, em và mẹ suýt bị sóng cuốn chìm ở bến cảng Chu Lai… nếu một mình thì em đã lên tàu được.
– Sao không để mẹ ở lại, Xuân đi trước rồi tính sau. Tôi nói.
Xuân lắc đầu:
– Thấy hỗn loạn chết nhiều quá mẹ buộc em lo thoát thân một mình, nhưng thà cùng chết chứ em không thể bỏ mẹ ở lại.
Ngưng một giây Xuân cúi xuống nói chậm rãi:
– Khi mất Tam Kỳ, tin đồn bỏ Quảng Ngãi lan rất nhanh, Mẹ nhắn ông chú ra Chu Lai nói là bằng mọi giá em phải đi, chết cũng phải đi không được ở lại, đừng lo gì cho mẹ. Anh nghĩ làm sao em bỏ mẹ? Ngày 24 em từ Chu Lai chạy về Quảng Ngãi đưa mẹ đi, nhưng lại thất lạc bà chị dâu và hai thằng cháu.
Tôi cắt lời:
– Xuân đưa mẹ ra bằng cách nào?
– “Xe Honda, nhưng ra tới Bình Liên bị việt cộng chận đánh, ai chết bỏ lại, xe cán lên người, người giẵm lên người. Em bỏ xe dắt mẹ chạy bộ. Ra khỏi Bình Sơn gặp anh Châu con bà Dì ruột làm ban Quân Xa lái chiếc GMC đầy người, bám cả trên cabin, em nhét mẹ lên rồi bu theo. Ra tới Nước Mặn đánh nhau phía trước, lại bỏ xe chạy bộ. Em đưa mẹ ra được Chu Lai. Nhưng đêm 25 không thể lên tàu, bến tàu người đông như kiến, chen lấn xô đẩy nhau rơi xuống biển sóng cuốn đầy xác người bập bềnh. Mẹ không chịu đi cứ hối thúc em lo thoát thân. Trong cảnh dầu sôi lửa bỏng chết sống tính từng giây, em đành xốc mẹ lên lưng lội ra biển, hy vọng bám được lên tàu. Nhưng sóng lớn quá, sóng nhồi lên cao đánh văng mẹ ra xa, em thất kinh quơ tìm xung quanh xác người dập dềnh. Em hối hận quá! Mẹ bị sóng cuốn đi rồi! Em kiệt sức tuyệt vọng buông xuôi theo sóng xô vào bờ. Như một phép lạ mẹ bị sóng đánh giạt vào bờ nằm cạnh nhiều xác người. Mẹ còn sống nhưng kiệt sức uống quá nhiều nước biển”.
Xuân quay qua nhìn tôi:
– “Vậy là còn mẹ, em không cần gì nữa… Tàu ra khơi, người ta nháo nhào tìm thuê ghe đánh cá chạy ra biển. Đạn pháo kích ầm ầm tóe lửa, Chu lai rực cháy sáng trời. Hai ngày sau mới đưa mẹ về đến nhà thì không còn gì hết, nhà bị hôi của anh à”.
Xuân đăm chiêu buồn quá, hai đứa yên lặng không nói lời nào như cùng chia chung nỗi kinh hoàng vừa trải qua. Chặp lâu tôi hỏi:
– Thời gian đầu Xuân có bị làm khó dễ gì không?
– Em lính trơn nên “học tập” tại địa phương một tháng rồi công tác lao động liên miên.
– Lúc mình chuyển đi khỏi Tiểu Đoàn 20, Xuân vẫn ở pháo đội Chỉ Huy Công Vụ cho tới ngày cuối cùng hả? Tôi hỏi.
– Dạ, Đại uý Quả làm Pháo đội trưởng Chỉ Huy Công Vụ, vẫn giữ em ở lại trong đội banh của Tiểu Đoàn.
Ánh mắt buồn nhìn vào cõi xa xôi, Xuân tiếp:
– “Một thời gian lâu không thấy anh ở Tiểu Đoàn. Hôm gặp Trung uý Nghiệp ở câu lạc bộ hỏi thăm, mới biết anh đã chuyển về pháo binh diện địa Quảng Ngãi”.
Cuộn phim quá vãng hiện về như mới hôm nào: Tôi gặp Xuân ở Tiểu Đoàn 20 pháo binh, trong lần đầu tiên tăng phái đi đề–lô cho Tiểu Đoàn 77 Biệt Động Quân biên phòng ở Duy Xuyên, Xuân và Thọ là hai người lính được Ban 3 cắt theo mang máy truyền tin PRC–25 và phụ giúp tôi trong cuộc hành quân.
Sau khi nhận sự vụ lệnh ở Ban 3 qua Ban 2 nhận bản đồ, tôi dẫn Xuân và Thọ về phòng ngủ sĩ quan sắp xếp đồ đạc chuẩn bị ra Hương An đổ quân. Ba đứa vừa bước vào phòng, Chuẩn uý Sơn (Sơn ù) khoá 1/70 Thủ Đức (dân Quảng Nam khoá đàn anh của tôi), đang ngồi đánh giày, nhìn bọn tôi hỏi:
– Nghe nói mi đi với 77 hả Tiến, vùng mô biết không?
– Dạ, nhận bản đồ vùng Quế Sơn, Duy Xuyên với Hiệp Đức, anh đi vùng đó lần nào chưa?
Sơn nhìn bọn tôi nheo mắt cười:
– Rồi! Hiệp Đức, Hậu Đức tau nhảy xuống mấy lần cực bỏ mẹ nhưng vui. Mi coi chừng vô mấy buôn làng thấy thầy trò mi trẻ tuổi đẹp trai, con gái thượng hắn bắt giữ lại ở rể luôn đó nghe mi.
Tôi xếp đồ đạc bỏ vào ba–lô vừa cười:
– Nếu được vậy thì tôi tình nguyện ở lại luôn.
– Rứa hả? Rứa thì bàn giao con “bồ” của mi ở Quảng Ngãi cho tau. Nghe Thiếu uý Hanh nói con bồ mi đẹp lắm mà? Hứa với mi tau chăm sóc kỹ. Sơn cười.
Tôi xếp mấy tấm bản đồ, gom địa bàn, ống nhòm bỏ vào ba–lô. Xuân đến cạnh hỏi:
– Đồ Chuẩn uý đâu đưa em mang luôn cho.
– Thôi, đồ cá nhân của ai người đó mang, Xuân mang máy nặng rồi, cứ để tôi lo. Ra Hương An còn nhận lương thực hành quân nữa.
Chuẩn uý Sơn cười hì hì châm chọc:
– Ê, cái “bình sữa” bỏ theo chưa? Xuân nhớ Chuẩn uý Tiến còn “bú sữa” đó mi nghe.
– Xuân cười: “Dạ”.
Vì mới hai mươi mốt tuổi, ra trường có mấy tháng, vừa trẻ lại là đàn em nhỏ nhất trong nhóm sĩ quan đề–lô, cả phòng hay trêu chọc, gọi tôi là “Tiến sữa”. Sơn, Hanh, Công, Thắng, Vĩnh, toàn sĩ quan đàn anh thích nghịch đùa, khi tập trung lại bịa chuyện để cười:
Một lần Thiếu uý Vĩnh oang oang:
– “Bọn mi đừng rủ thằng Tiến ra cà phê Hương, mấy em chẳng tiếp mô, tụi hắn sợ mắc tội dụ dỗ trai vị thành niên ra tòa như chơi”. Hoặc Chuẩn uý Công cười ha hả bảo tôi đi đề–lô nửa đêm nhớ mẹ khóc làm lộ điểm đóng quân, khiến ông Tiểu đoàn trưởng bộ binh đòi trả về, làm công điện xin đổi đề–lô khác.
Còn Thiếu uý Hanh thì cười cười:
– “Hôm trước ngủ chung giường mới biết nó còn đái dầm ướt tao luôn”.
Mấy đàn anh hay phịa chuyện như vậy để cười mỗi khi tập trung ở phòng ngủ.
Xuân cũng bằng tuổi tôi, đẹp trai trắng trẻo nho nhã như học sinh trung học. Hiền lành vui vẻ, siêng năng vô cùng, dừng quân là lo đào hầm, cột võng, nhóm lửa nấu ăn. Mùa mưa ở miền trung mà lại hành quân trên rừng, chuyện lửa củi rất khó, nhưng Xuân cứ phải nấu nước sôi để chế cơm sấy, dù tôi bảo đổ nước lạnh vì không thể nhóm lửa dưới mưa rừng. Hay bữa ăn nào cũng có canh thịt hộp nấu với lá giang hoặc rau rừng hái dọc đường.
Suốt ba tháng hành quân trong rừng vùng Tây–Bắc thung lũng Quế Sơn, nơi chiến trường mịt mù lửa đạn, đánh đấm tưng bừng, sự sống mong manh cận kề cái chết, chúng tôi đã bên nhau trong tình đồng đội, gắn bó thương nhau như anh em ruột thịt.
Xuân bắt việc rất nhanh, đêm khuya bất kỳ lúc nào quân bạn chạm địch tôi thức dậy gởi điện văn tác xạ là có Xuân bên cạnh, rọi pin cho tôi xoay bản đồ, xác định phương giác, đọc tọa độ ghi chép phụ giúp tận tình, ngồi chờ đến khi nào tác xạ xong hết nhiệm vụ mới cùng nhau chui vào lều.
Ngày đó tuổi mới đôi mươi bọn tôi đều còn quá trẻ nên dễ hòa đồng, đùa nghịch với nhau không phân biệt quan lính. Mỗi khi dừng quân lúc Xuân và Thọ đào hầm, tôi dành phần cột võng cho ba đứa, hay phụ căng poncho, mỗi người một việc.
Có những đêm đóng quân trên đồi tranh không cột võng, phải căng lều trải poncho dưới đất, mây trời bập bềnh như khói giăng lạnh tê người, lúc nào Xuân cũng để tôi nằm giữa cho ấm, nghe Xuân và Thọ nói chuyện tếu rồi cười.
Những đêm nằm cạnh nhau Xuân kể chuyện gia đình:
– “Cha em theo đạo Cao Đài bị Việt minh giết khi em còn trong bụng mẹ, bà ở vậy nuôi hai đứa con. Anh Hiệp vào Võ Bị Đà Lạt, về Thủy Quân Lục Chiến đã có vợ.”
Biết Xuân cũng học Trần Quốc Tuấn sau tôi một năm, thi rớt Tú Tài bán phần, tôi hỏi sao không vào Đồng Đế? Xuân nói sợ đi xa bỏ mẹ một mình. Có người quen ở Bộ Chỉ Huy pháo binh Sư Đoàn 2 xin cho về Tiểu Đoàn 20 để thỉnh thoảng về với mẹ.
Như duyên nợ một năm sau, trong chuyến đề–lô với Trinh Sát 2, Xuân lại được Ban 3 cắt đi với tôi một lần nữa. Khi đơn vị bạn dưỡng quân Xuân hay đưa tôi về nhà chơi. Nhà Xuân ở Gò Quán đối diện với ngôi trường tiểu học, trong một xóm đông người. Mẹ Xuân là người lanh lẹ và giỏi giang được học hành tử tế, nói chuyện rất mạch lạc và sự hiểu biết có chiều sâu. Bà có cơ sở dạy may thêu lớn.
Bà kể tôi nghe về cái chết của cha Xuân và những người trong gia đình, trong phong trào giết Cao Đài của Việt minh ở Quảng Ngãi trước năm 1954. Những biến cố kinh hoàng đó như vết chém hằn sâu trong ký ức đã mấy mươi năm chưa bao giờ phôi phai. Bà lắc đầu: Bác rất sợ việt cộng.
Sự sống của bà là anh Hiệp và Xuân, bà thường than thở khi bọn tôi về thăm:
– “Bao giờ không còn cộng sản được hòa bình, để bọn cháu hết đi lính. Bác lo cho thằng Hiệp quá, trận nào cũng chết sống như chơi. Nay trên núi mai xuống biển, mới nghe nó đánh trong Nam, hôm sau đã ra Quảng trị. Nó đi lung tung.”
Bà hay ân cần dặn dò. Tôi nói:
– “Đạn nó tránh người, chết sống có số mà bác”. Khi đi thế nào bà cũng nhét cho Xuân ít tiền nói để nó uống nước.
Thời gian sau tôi rời Tiểu Đoàn 20 pháo binh, thuyên chuyển về Tiểu khu Quảng Ngãi làm Trung đội trưởng 109 pháo binh Diện Địa. Rồi tình hình chiến trường và nhiệm vụ mới, nên tôi và Xuân không còn gặp nhau nữa.
Bây giờ bất ngờ gặp lại Xuân ở hoàn cảnh này, trong nỗi mừng hội ngộ có mùi cay đắng, cả thầy lẫn trò đều là hai thằng cu–li cùng rách nát như nhau.
Từ hôm đó cứ đến trưa Xuân mang cơm qua gốc cây cùng ăn với tôi, rồi nằm ngửa mặt nhìn trời nói chuyện cũ, nhắc lại những kỷ niệm xưa. Tôi nhận ra Xuân lúc nào cũng buồn không còn vui đùa như ngày còn ở lính.
Tôi hỏi sao chưa lấy vợ, Xuân cười buồn:
– Một thân lo chưa xong mà vợ con gì anh, mẹ em đã mù bây giờ lại mất trí nhớ nữa!
Tôi nhìn Xuân:
– Ủa, Bác bệnh từ bao giờ, hồi Xuân dẫn về nhà chơi mình thấy bà dạy may thêu cơ sở lớn quá mà?
– Từ ngày anh Hiệp chết trận ở Quảng Trị, mẹ em khóc mắt bị nhiễm trùng. Năm bảy lăm cơ sở làm ăn tiêu tán. Suốt ngày bà chép miệng: “Thôi hết rồi.” Những biến cố dồn dập làm mẹ suy sụp, bệnh mẹ có thuốc men gì đâu bà mù luôn. Gần đây lại mất trí nhớ, có hôm nửa đêm mẹ mò đi ra ngoài đâm vào bụi rậm rơi xuống hố, ba chú cháu bưng đèn đi tìm. Em đi làm hai cháu phải ở nhà canh chừng bà nội, nhưng bọn nó nhỏ quá không giữ được nên bà cứ đi. “Chắc em phải bỏ làm thôi anh à!…”
Xuân nhìn vào cõi trời xa xăm: “Anh Hiệp Trung uý Thủy Quân Lục Chiến tử trận bỏ lại hai đứa con. Ngày Quảng Ngãi di tản, bà chị dâu dắt hai đứa nhỏ chạy ra Chu Lai, đến Bình Liên chị bị mảnh cối vào đầu, chỉ còn hai thằng bé sống sót. Mấy năm nay em phải nuôi bà mẹ mù và hai đứa cháu, bữa cháo bữa rau mà vợ con gì đâu anh!”
Tôi chết lặng trong lòng trách ông trời bất công! Sao thế hệ bọn tôi lại gánh chịu những oan nghiệt? Thương Xuân quá! Cứ tưởng mình khốn khó nhất trên đời, thì ra Xuân cũng không hơn gì, mỗi người một cảnh mà cảnh nào cũng tối tăm mịt mù.
Cái cà–mèn cơm của Xuân cũng thập cẩm không thua gì lon cơm của tôi, cũng toàn bắp lại có thêm mấy củ lang, một gói muối trắng giã ớt, bọn tôi ăn chung với nhau.
Mỗi buổi chiều trước khi về Xuân cùng tôi ra giếng tắm, nhớ lại chuyện hai đứa tắm mà tội nghiệp. Không hiểu sao thời tiết năm đó lạnh tàn bạo, lạnh khủng khiếp. Bên bờ giếng hai đứa không dám cởi áo quần, ngồi co ro núp ngọn gió bấc cứa vào da thịt. Không đủ can đảm xối gầu nước lên người, hai hàm răng đánh cồm cộp. Nhưng không thể mang cái hình hài chẳng ra người về nhà nên cuối cùng cũng phải xối nước trong cái rét chết người, hai thằng vừa xối vừa run. Hơn bốn mươi năm cái cảm giác lạnh ngày đó vẫn còn trong tôi như mới hôm nào đây thôi.
Một buổi sáng có việc nhà, tôi đến muộn, chiếc xe cà tàng nó lại hành hạ, dây xích cứ rớt lên rớt xuống hàng chục lần, nên bị đến trễ.
Vừa tới đầu đường đã thấy người ta làm nhộn nhịp, tôi vội vàng đạp nhanh, vô ý vấp lên cục đá nó hất tôi té lăn quay, cái xe văng xuống vệ đường, lon guigoz cơm bung nắp ra văng tõm xuống hầm đất đầy nước.
Tôi lồm cồm bò dậy, cái đau bị té không bằng cái đau lon cơm chìm xuống ao bùn. Tôi đành bỏ cơm, rửa lon vội vàng dắt xe vào lò gạch trong lòng lo bữa trưa nhịn đói, muốn mua cái gì thì không có tiền. Từ ngày ra tù trong túi tôi chưa bao giờ có một hào bạc.
Trưa hôm đó tôi lánh mặt trước khi Xuân tới, nhờ anh em nhắn lại là tôi có việc phải đi ra ngoài. Nhưng một người làm gạch cho Xuân biết chuyện tôi té ngã ban sáng. Nó chạy đi tìm.
Đang nằm trước hiên một ngôi nhà hoang nhắm mắt lại để quên cái đói cồn cào thì Xuân tới. Nó ngồi xuống bên cạnh lấy cái mũ vải tôi đang che mặt kéo tay dựng tôi dậy:
– Anh kỳ quá… em biết cả rồi, mình chia cơm nhau có sao đâu, lâu lâu ăn ít một bữa có chết ai!
Xuân tiếp tục những lời trách móc, miệng nói tay sớt cơm ra ngăn cà–mèn rắc lên ít muối đưa tận tay tôi với cái muỗng nhôm gãy cán. Xuân bẻ cây làm đũa bới cơm ra cái nắp. Nó nhìn tôi ánh mắt thật buồn:
– “Ăn đi anh, chiều còn làm nữa mà.”
Tôi không nói lời nào từ khi nó xuất hiện, cổ nghẹn cứng bao nhiêu lời nói đều vô nghĩa. Tôi cầm phần cơm Xuân đưa, nước mắt trào ra chảy xuống len vào miệng mặn chát. Xuân cũng cuối xuống đưa bàn tay chai sạm quẹt nước mắt.
Tình chiến hữu trong chúng tôi vẫn như ngày nào, tình đồng đội, sự tủi thân cho số phận bọn tôi đã bị cuộc đời nhận chìm xuống tận đáy vực của lớp người cùng khổ.
Hai đứa không nói lời nào, Xuân sớt thêm cơm cho tôi. Trong cái im lặng đã nói với nhau nhiều điều, dù có bao nhiêu ngôn từ thốt ra cũng không diễn đạt hết. Tình chiến hữu vẫn còn trong chúng tôi dù lịch sử đã sang trang và cuộc đời thay đổi.
Xuân hay qua trợ giúp khi thấy tôi làm không kịp, hôm nào Xuân không đi làm, tôi lầm lũi bốc vác ra vào như chiếc bóng. Công việc nặng nề trong tình trạng đói mờ mắt, đói rã rời tay chân. Nhiều hôm đói, kiệt sức tôi ngã ngoài sân, gạch văng tứ tung, gục đầu trên đống gạch thở dốc. Nhưng tôi không thể bỏ cuộc, lại đứng lên làm cho xong phần của mình.
Về sau Xuân hay nghỉ việc vì mẹ bị ốm thường xuyên, những hôm không có Xuân trợ giúp tôi thường về muộn, công việc quá sức đến nỗi có những buổi chiều mọi người ra về từ khi nào, tôi vẫn còn ở lại lầm lũi làm một mình.
Hoàng hôn đổ xuống nhập nhòa, lò gạch chỉ còn mình tôi nằm thở giữa sân cỏ, ngửa mặt nhìn bầu trời lưa thưa những vì sao mà nghe nỗi xót xa tràn ngập cõi lòng. Tôi buồn cho thân phận mình, thương cảnh bi đát của Xuân. Biết bao lần tôi đã tự hỏi: “Thượng Đế có thật sự hiện hữu trong vũ trụ này không hả trời?”
Ngồi trên chiếc xe đạp cộc cạch, lầm lũi trong bóng tối chập choạng theo con đường đất quanh co tôi nguyện với lòng: “không được bỏ cuộc, nhất định mình phải sống.”
Làm ở lò gạch được một thời gian thì tôi phải bỏ việc, vì bị an ninh kêu hạch hỏi đủ điều, đi làm gặp ai? Mấy người đó ở đâu? Trước đây làm gì? Nói với nhau những gì? Định bao giờ vượt biên? Nhất là mỗi khi có tin quân phục quốc hay kháng chiến hoạt động đâu đó là tôi bị câu lưu, nhốt năm bảy ngày, bị tra khảo… buộc phải nhận những việc mà mình không có làm.
Rồi tôi bị kêu đi công tác gỡ mìn, đắp đập, đào mương liên miên, việc làm phải gián đoạn, chủ lò gạch không vừa ý. Tôi sống trong tâm trạng lo âu bị khủng bố ngày đêm cho đến khi không còn chịu nổi, tôi quyết định ra đi.
Từ ngày không còn làm lò gạch có dịp là tôi ghé thăm, Xuân cho biết cũng không còn làm thường xuyên nữa vì bệnh mẹ ngày càng nặng, bà không còn trí nhớ hay mò đi ra ngoài không biết đường về.
Tôi đến nhà chia tay Xuân trước ngày ra đi. Hai thằng cháu con anh Hiệp vòng tay chào chú, khi đang chơi ngoài sân, Xuân lom khom nhóm lửa nấu cơm chiều, khói bay mù mịt. Mẹ Xuân đôi mắt vô hồn lờ đờ, ngồi nói lảm nhảm một mình trên chiếc giường tre cũ ở góc nhà, trông bà gầy xanh xao so với những lần tôi đến lúc còn làm lò gạch.
Chúng tôi cầm chặt tay nhau thật lâu không đứa nào nói nên lời. Giọng Xuân buồn buồn:
– “Vào miền nam nếu có cơ hội anh phải đi… phải ra đi mới có đường sống… Còn em chưa biết ngày mai ra sao… không biết làm gì? Đi đâu? Về đâu?”.
Hai đứa yên lặng. Tôi nhìn nơi chân trời màu đỏ của ráng chiều vắt ngang dãy Trường Sơn mịt mù. Bầu trời đã chuyển màu xám của hoàng hôn vài ngôi sao xuất hiện. Trong cái bóng chiều ảm đạm làm nát lòng người, một nỗi buồn tê tái dâng trào. Tôi siết mạnh bàn tay gầy guộc của Xuân. Xuân nhìn tôi thật buồn nước mắt đoanh tròng:
– “Thôi, anh đi bình an!”
Tôi đưa tay gạt nước mắt, đạp xe ra ngõ.
Tôi lang bạt vào miền Nam tìm đường mưu sinh, từ đó không gian chia cách và điều kiện liên lạc khó khăn không còn tin tức gì về Xuân nữa, mặc dù đã mấy mươi năm tôi cố gắng hỏi thăm khi có cơ hội.
Rồi thời gian trôi qua, chuyện cũ đã chìm theo tháng năm trong bụi mù ký ức. Đời tả tơi, mắt đã mờ, chân đã mỏi. Năm 2003 tôi trở về tìm Xuân, cảnh quan đổi thay không còn dấu tích, tôi đứng trước nơi nhà cũ Xuân rất lâu nhưng là căn nhà khác lạ, người ta cho biết nơi này đã đổi chủ nhiều lần nên không ai còn nhớ. Tôi hỏi thăm Xuân có bà mẹ mù cách đây hơn hai mươi lăm năm, nhưng không ai biết, tất cả đều xa lạ.
Cuối cùng gặp một người đàn ông lớn tuổi cho hay sau khi chôn cất mẹ, Xuân đã bán nhà dắt hai cháu lên cao nguyên. Từ đó đến nay không thấy trở về.
Tôi đi ngang qua nơi lò gạch mà cách đây hơn một phần tư thế kỷ lúc còn là một thanh niên khi mới ra tù, tôi và Xuân đã trải qua những ngày khốn khó, đổi từng bát mồ hôi tìm sự sống trong khổ nhục của kiếp lưu đày. Tất cả không còn dấu tích.
Bộ phim quá vãng sống lại. Nó kéo tôi trở về chân trời cũ, một quãng đường đời với bao nỗi đớn đau buồn phiền đã qua. Tôi bước đi lòng trĩu nặng u buồn, chúng tôi đã mất hết tuổi trẻ và hy vọng từng ấp ủ ở tuổi hai mươi. Không biết Xuân bây giờ ở chân trời nào? Cuộc sống ra sao qua bao nhiêu đổi thay của cuộc đời?
Quê hương từ dạo điêu tàn
Đứa tù, đứa chết đứa lang thang
Lối nhỏ đường xưa người vắng bóng
Ta về chốn cũ nhớ mênh mang.
Khi ngồi viết lại những dòng này đã hơn bốn mươi năm, gần nửa thế kỷ trôi qua, thời gian đủ dài để tôi và Xuân từ một thanh niên tuổi hai mươi đầy sức sống sắp bước vào cửa thất tuần. Qua cuộc bể dâu những thăng trầm của cuộc đời. Không biết Xuân lưu lạc nơi nào? Có còn trên cõi đời này hay không?
Cầu xin nơi chân trời nào đó Xuân vẫn sống, không biết hai cháu con anh Hiệp ra sao? Mình chúc bình an, hy vọng quả đất tròn rất mong một lần gặp lại nhau Xuân ơi!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.