Banco Papillon – Giang Hồ Tung Cánh

vietmessenger.com

Henri Charrière

Dịch giả: Đinh Bá Kha

ĐỜI MỚI xuất bản 1974

Post by Sơn râu 27 Sep 2025

Image: Papillon movie edited by Sơn râu

6. Đường Hầm Dưới Nhà Ngân Hàng

XE chạy suốt hơn 72 giờ. Chúng tôi thay nhau lái. Paulo cẩn thận hết chỗ nói. Mỗi lần ghé mua xăng, người ngồi ở tay lái để hai người kia cách trạm xăng ba trăm thước rồi sau đó trở lại chỗ đi.

Tôi với Gaston đã đứng nửa giờ đồng hồ dưới trời mưa tầm tã để chờ Paulo trở lại. Tôi giận quá chừng.

– Paulo, mày cho cái trò xi-nê này quả thật cần lắm hay sao? Mày thử nhìn tụi tao, rồi sẽ ngã lăn ra đấy!

– Papillon, tao chán mày quá! Tao phải bơm bánh xe, thay bánh sau, lấy xăng với nước đầy thùng. Tất cả các chuyện đó không thể xong trong 5 phút!

– Paulo, tao không nói gì khác. Nhưng thú thật với mày tao không thấy cần phải quá cẩn thận như vậy.

– Không. Nhưng tao thấy, và chính tao chỉ huy. Nếu mày đã ở tù 13 năm thì tao đã bị 10 năm cấm cố tại nước Pháp đẹp đẽ của chúng ta. Thế nên tao nghĩ cẩn thận không bao giờ thừa. Nếu người ta báo có một chiếc xe Chevrolet với một người trên xe thay vì ba người, vấn đề trở nên khác hẳn. Nó có lý, nên cho qua.

Mười giờ sau, chúng tôi đến một thành phố mục tiêu cuộc hành trình. Paulo bỏ chúng tôi xuống đầu một đường phố hai bên có nhiều biệt thự.

– Các chú đi theo lề đường mặt. Biệt thự có tên Mi Amor, chính là đó. Các chú cứ vào như nhà các chú, trong nhà sẽ có Auguste.

Một khu vườn đầy hoa, một lối đi sạch sẽ. Một ngôi nhà xinh xinh có cửa đóng. Chúng tôi gõ.

– Chào các bạn! Mời vào, Auguste vừa nói vừa mở cửa.

Nó mặc sơ mi, mình ướt đẫm mồ hôi và đất dính trên đôi cánh tay lông lá. Chúng tôi cho nó biết Paulo đang kiếm chỗ đậu xe tại một bến ở đầu kia thành phố. Không nên để người ta thấy quá rõ bảng số Venezuela trên đường phố.

– Đi đường có mệt lắm không?

– Không.

Chỉ nói bấy nhiêu. Chúng tôi ngồi ở phòng ăn. Tôi cảm thấy đã đến lúc quyết định nên tinh thần tôi căng thẳng. Gaston cũng như tôi đều không biết công việc làm ăn như thế nào. “Vấn đề tín nhiệm, Paulo đã nói lúc ở Caracas. Làm hay không làm. Chỉ có vậy. Một điều chắc chắn: nhiều bạc mặt hơn các chú mơ ước”. Đồng ý, nhưng bây giờ mọi việc phải được rõ ràng và chính xác.

Auguste mời uống cà phê. Ngoài vài câu hỏi về cuộc hành trình, về sức khỏe, không một lời nào cho chúng tôi biết thêm được điều gì. Người trong tổ chức này quá kín miệng!

Tôi nghe tiếng đóng cửa xe trước biệt thự. Chắc hẳn là Paulo vừa thuê một chiếc xe với bảng số địa phương. Đúng quá.

– Xong rồi! Paulo vừa nói vừa bước vào nhà vừa cởi chiếc áo da. Mọi việc đều sít sao, các chú ạ.

Nó thong thả uống cà phê. Tôi im lặng chờ đợi. Nó bảo Auguste để một chai rượu cô-nhắc trên bàn. Không chút vội vã, với thái độ bằng lòng cuộc đời, nó rót rượu cho chúng tôi rồi cuối cùng đi vào đề:

– Này các chú, các chú đã ở trên chỗ làm việc. Các chú nên biết rằng ngay trước biệt thự xinh xắn này, bên kia con đường phố dẫn đến đây, là phía sau lưng của một ngân hàng mà cổng chính nhìn ra một đại lộ đẹp đẽ song song với đường phố nhỏ này. Các chú thấy tay Auguste dính đất sét, như thế là vì thấy các chú là một lũ lười biếng, nên nó đã bắt tay vào việc cho các chú.

– Việc gì? Gaston hỏi, tuy không ngốc nhưng không nhanh.

– Không gì nhiều, Paulo mỉm cười nói. Một đường hầm đi từ căn phòng kế cận phòng này, xuyên dưới vườn hoa rồi dưới đường phố để đạt đến ngay dưới phòng chứa bạc của ngân hàng. Nếu tao tính đúng. Nếu sai, thì có lẽ sẽ ra phía đối diện với đường phố. Trong trường hợp này, phải đào sâu thêm rồi cố gắng trở lại phía dưới, chính ở giữa.

Một phút im lặng, rồi nó hỏi:

– Các chú nghĩ sao?

– Xin bạn một phút. Để suy nghĩ. Không đúng hẳn công việc tao tưởng.

– Ngân hàng có lớn không? Gaston hỏi, quả là không nhanh trí lắm, bởi vì Paulo đã sắp đặt như thế này thì hẳn là không phải vì ba hộp cam thảo.

– Ngày mai mày đi ngang qua đó thử xem rồi cho tao biết ý kiến, Paulo nói và cười ha hả. Để mày có một ý kiến nho nhỏ, mày nên biết ngân hàng có 8 người thủ quỹ. Như vậy có thể tưởng tượng số bạc ra vào trong ngày.

– Thế thì tuyệt! Gaston reo lên, hai tay vỗ đùi. Đúng là một ngân hàng! Tao thích hết sức. Lần đầu tiên, tao tham gia vào một vụ trộm kỳ lạ, được tính kỹ như một nhà bách khoa. Tóm lại, tao đã thành thống chế trong cuộc đời giang hồ của tao rồi!

Cũng vẫn nụ cười rạng rỡ, Paulo quay sang tôi:

– Papillon, mày không nói gì hết?

– Tao không cần thăng thống chế. Tao chỉ thích làm trung sĩ nhưng có đủ tiền để chi vào công việc tao định làm. Tao không cần bạc triệu. Paulo, theo ý tao, đây là một vụ khổng lồ, nếu thành công – phải luôn luôn tin tưởng, nên vụ này sẽ thành công là cái chắc – suốt đời chúng ta sẽ đủ tiền để trả tiền thuê nhà cùng tiền điện thoại. Nhưng… vẫn có những cái nhưng để giải quyết! Thưa Đại Úy, tôi có thể đặt vài câu hỏi chứ?

– Bao nhiêu cũng được. Chính tao muốn thảo luận với các chú từng điểm trong vụ này. Bởi vì tuy tao điều khiển, tao nghiên cứu vụ này, nhưng mỗi đứa chúng mình có thể mất tự do và có lẽ mất mạng vì nó. Vậy thì mày cứ đặt câu hỏi thả cửa.

– Được rồi. Câu thứ nhất: từ phòng bên cạnh, nơi có giếng đi xuống cho đến lề đường phía vườn hoa, được bao nhiêu thước?

– Mười tám thước đúng.

– Câu thứ hai: từ lề đường ấy đến ngân hàng bao xa?

– Mười thước.

– Câu thứ ba: từ bên trong ngân hàng, mày đã định rõ vị trí cửa phòng chứa bạc đối với toàn thể chưa?

– Có. Tao đã thuê một hộp đựng tiền trong phòng chứa các hộp đựng tiền dành cho khách hàng. Phòng này ở bên cạnh phòng để tủ sắt của ngân hàng, chỉ cách một cánh cửa bọc sắt có hai bánh xe an toàn. Chỉ có một ngõ vào, nhìn ra phòng chứa các hộp đựng tiền. Từ đó người ta bước vào phòng để tủ sắt lớn. Một hôm, sau nhiều lần đến đó, trong khi chờ người ta đưa chìa khóa thứ hai của hộp đựng tiền mình thuê, tao trông thấy người ta mở cánh cửa bọc sắt. Cánh cửa xoay tròn, tao thấy rõ trong phòng có các tủ sắt lớn sắp quanh phòng.

– Mày ước lượng bề dày của bức vách ngăn đôi hai phòng chứ?

– Rất khó biết vì lớp sắt bọc ở ngoài.

– Có bao nhiêu bực cấp đi xuống đến cửa phòng chứa bạc?

– Mười hai.

– Như vậy nền các phòng khoản ba thước dưới mặt đường phố. Vậy mày tính sắp đặt như thế nào?

– Phải cố đục ngay ở dưới chỗ ngăn đôi hai phòng. Có thể được bằng cách nhắm các bù-lon bên ngoài đã gắn chặt các tủ sắt vào nền phòng để tiền. Như vậy, chỉ với mỗi một lỗ, ta có thể lọt vào cả hai phòng.

– Đúng, nhưng vì các tủ sắt dựa vào bức vách, có nhiều phần lọt vào một trong các chiếc tủ sắt.

– Tao quên nghĩ đến chuyện đó. Trong trường hợp ấy, chỉ còn cách khuếch đại cái lỗ về phía giữa phòng.

– Tao nghĩ tốt hơn hết là nên đục hai lỗ để vào. Một lỗ trong mỗi phòng và nếu có thể thì ở chính giữa.

– Bây giờ tao cũng nghĩ vậy, Auguste nói.

– Đồng ý với mày, Papillon. Nên nhớ giờ đây chúng ta chưa đến đó, nhưng nghĩ đến trước cũng là một việc hay. Rồi sao nữa?

– Đường hầm cách mặt đất bao nhiêu?

– Ba thước.

– Bề ngang bao nhiêu?

– Tám mươi phân. Phải có thể xoay mình ở trong ấy.

– Mày dự trù bề cao bao nhiêu?

– Một thước.

– Tao đồng ý về bề ngang và bề cao, nhưng không đồng ý về bề sâu. Hai thước đất trên chúng ta không phải là một lớp đủ vững chắc. Chỉ cần một xe vận tải lớn hay một xe hủ lô cán đường đi qua là nó có thể sập.

– Papillon, có thể lắm, nhưng không có lý gì các xe vận tải lại đi trên đường phố này.

– Tao mong được vậy, nhưng làm một cái giếng sâu bốn thước chả tốn kém gì. Làm thế, sẽ có ba thước đất giữa trần đường hầm với đường phố. Mày thấy bất tiện hả? Chỉ thêm một công việc là đào giếng sâu thêm một thước. Không thay đổi gì đối với đường hầm. Vả lại, sâu bốn thước, chắc chắn đạt đến ngân hàng ngang mực nền hoặc ở dưới nữa là khác. Nhà ngân hàng có mấy tầng?

– Một tầng trệt và một tầng lầu.

– Thế thì móng nhà không thể sâu hơn.

– Tốt. Sẽ đào xuống bốn thước.

– Mày sẽ làm cách nào đục phòng chứa bạc? Còn hệ thống báo động?

– Papillon, tao nghĩ đó là điểm gay go. Tuy nhiên thông thường hệ thống báo động đặt ở ngoài phòng chứa bạc. Mày không đụng đến cánh cửa của phòng chứa bạc hoặc cửa ngân hàng, thì hệ thống ấy không kêu lên. Chắc hẳn là không có hệ thống báo động ở bên trong hai phòng. Tuy vậy, thiết tưởng không nên động đến các tủ sắt đặt gần cửa vào phòng chứa bạc cũng như các tủ sắt để cạnh cánh cửa lớn bọc sắt.

– Đồng ý. Tao tán thành ý kiến của mày. Dĩ nhiên, có thể nguy hiểm là khi đục các tủ sắt, tiếng rung sẽ làm cho hệ thống báo động kêu lên. Nhưng nếu cẩn thận như vừa nói, chúng mình có nhiều phần thành công.

– Còn gì nữa không Papillon?

– Mày có định lấy ván dựng đường hầm không?

– Có. Trong nhà để xe, có một xưởng thợ mộc với tất cả đồ dùng để dùng.

– Tốt lắm. Còn đất đào lên?

– Trước tiên sẽ rải trên khắp mặt vườn hoa, rồi sẽ đắp những luống cao, sau cùng, dọc theo các bức tường, sẽ làm một vòng rộng một thước và cao chừng nào cũng được, miễn là đừng kỳ dị.

– Quanh đây có ai tò mò không?

– Phía bên mặt thì tuyệt. Một lão già thấp bé với bà vợ già thấp lẹt đẹt, ríu rít xin lỗi mỗi lần gặp tao vì con chó của họ để phân trước cổng nhà chúng mình. Phía bên trái thì rầy rà hơn. Có hai đứa nhỏ từ 8 đến 10 tuổi chơi đánh đu cả ngày, hai thằng nhãi ranh ấy đu cao đến độ chúng có thể thấy những gì xảy ra trong nhà chúng mình từ trên bức tường.

– Dù sao tụi nó chỉ có thể thấy một phần vườn hoa, không thể thấy phần vườn cùng một bên với bức tường.

– Papillon, mày nói đúng. Được rồi, giả sử chúng mình đào xong đường hầm, chúng mình đang ở phía dưới phòng chứa bạc. Phải đục một lỗ lớn, để có thể để dụng cụ và đứng làm việc thong thả, có lẽ đến 2 hoặc 3 người. Một khi đã tính đúng trung tâm điểm của mỗi căn phòng, chúng ta sẽ khoét ở dưới mỗi phòng một khoảng rộng hai thước, trên hai thước.

– Được lắm. Mày làm thế nào đục thép của các tủ sắt?

– Đó là một điểm chúng ta cần bàn.

– Mày nói trước đi.

– Có thể dùng đèn xì, tao thạo lắm, nghề của tao mà. Cũng có thể dùng máy hồ quang, tao cũng thạo, nhưng khó thực hiện vì thành phố này dùng điện 120 vôn mà ta cần điện 220 vôn. Vì vậy, tao định dùng một thằng nữa vào vụ này, nhưng tao không muốn nó làm công việc đào hầm. Nó sẽ đến hôm trước ngày công phá.

– Với dụng cụ gì?

– Đừng giật mình, Papillon nhá. Nó đến với máy hàn xì. Nó quả là bậc thầy về nghề này. Tụi bay nghĩ sao?

– Thế là phải chia 5 phần thay vì 4 phần, Gaston nói.

– Gaston, mày tham quá! Bốn hay năm, cũng thế thôi.

– Tao tán thành dùng thằng hàn xì bởi vì có cả thảy 12 tủ sắt, phải mở, với máy hàn xì công việc sẽ chóng hơn với bất cứ dụng cụ nào khác.

– Kế hoạch tổng quát là như vậy. Mọi người đều đồng ý chứ?

Mọi người đều đồng ý. Paulo căn dặn thêm chúng tôi một điều: Ban ngày Gaston với tôi không nên thò đầu ra ngoài bất cứ vì lý do gì. Chỉ ban đêm mới thỉnh thoảng đi ra nhưng càng ít càng tốt, ăn mặc rất chỉnh tề, có cà vạt và mọi thứ. Không bao giờ đi chung bốn đứa.

Chúng tôi đi qua phòng bên cạnh trước đây dùng làm văn phòng. Một lỗ đường kính một thước và bề sâu 5 thước đã đào xong. Tôi ngắm mặt trong của lỗ thẳng như bức vách và lúc bấy giờ tôi nghĩ đến vấn đề không khí.

– Còn vấn đề không khí, mày đã dự tính gì chưa?

– Sẽ cho không khí vào bằng một máy với nhiều ống cao su cứng. Nếu đứa nào đang làm bị ngộp quá, một đứa khác sẽ đưa ống không khí vào mồm nó. Tao có mua ở Caracas một cái máy khá êm.

– Tại sao không dùng một máy điều hòa không khí?

– Tao đã nghĩ đến chuyện đó và có một chiếc để ở nhà xe, nhưng các cục chì cứ bị hỏng luôn.

– Này Paulo. Phải đề phòng thằng hàn xì không đến. Nếu nó không đến đúng hẹn, dùng đèn xì sẽ chậm và chỉ có máy hồ quang mới được. Phải bắt điện 220 vôn. Để cho việc xin bắt điện được tự nhiên, mày nên khai là mày cần một máy đông lạnh thịt bò, máy điều hòa không khí, hơn thế nữa, vì mày có cất gỗ trong nhà xe, mày nói mày định đặt một cái máy cưa nhỏ vân vân… Chắc không phải là một vấn đề đáng quan tâm.

– Mày nói có lý. Đặt người ta bắt điện 220 vôn thế nào cũng có lợi. Rồi, bây giờ không nói chuyện đó nữa. Auguste là vua món mì Ý Đại Lợi. Khi nào chín chúng ta ngồi lại ăn.

Bữa ăn rất vui. Sau khi trao đổi một số kỷ niệm đau buồn, mọi người đồng ý khi nhắc đến dĩ vãng sẽ không bao giờ gợi lại chuyện ở tù. Chỉ những chuyện vui vẻ, chuyện phụ nữ, chuyện trời trăng vân vân… Chúng tôi nô đùa như con nít. Không ai cảm thấy ân hận khi nghĩ đến chuyện tấn công xã hội bằng cách tấn công biểu tượng lớn nhất của thế lực vị kỷ của nó là ngân hàng.

Điện thế 220 vôn đã được bắt vào không chút khó khăn, bộ phận biến điện ở ngay bên nhà. Không có gì rắc rối. Để hoàn thành việc đào giếng, chúng tôi không còn dùng cái cuốc cán cụt, rất khó sử dụng trong một hầm chật hẹp. Chúng tôi cắt các khối đất bằng một cái cưa dùng để cưa gỗ, mỗi cục đất lớn được lấy ra bằng một cái nọc để sử dụng rồi bỏ vào một cái chậu.

Một công việc cự đại, tiến rất chậm. Từ trong nhà, người ta chỉ nghe văng vẳng tiếng cưa máy ở dưới đáy giếng đến giờ này đã sâu đến bốn thước. Đứng ở vườn hoa, hoàn toàn không nghe gì hết. Vậy là không gì đáng lo.

Giếng đã đào xong. Hôm nay bắt đầu đào đường hầm và chính Paulo, tay cầm địa bàn, đã đào thước đường hầm đầu trong đất sét rất ẩm ướt dính lung tung. Không còn ở trần làm việc nữa mà mặc áo choàng lượt phượt nên cứ bị vướng chân. Như vậy, sau khi lên trở lại, bỏ áo choàng ra, chúng tôi sạch như những con bướm từ trong kén chui ra. Dĩ nhiên là trừ đôi bàn tay.

Theo chúng tôi tính, dù sao cũng phải lấy ra ba mươi thước khối đất. Không phải chuyện chơi.

– Đúng là một công việc khổ sai? Paulo lầm bầm khi nó nổi cáu.

Tuy vậy chúng tôi vẫn từ từ tiến. “Như những con chuột chũi hay những con chồn hôi”, theo lời Auguste.

– Sẽ đến nơi đến chốn, các chú ạ. Và chúng ta sẽ có bạc cắc dùng trọn đời. Phải vậy không, Papillon?

– Phải quá đi chứ! Phần tao, tao sẽ lấy cái lưỡi của lão Phó Chưởng Lý, thằng làm chứng gian và tao sẽ cho nở pháo bông hạng nhất tại số 36 đường Orfèveres. Rồi, ra tay đi các bạn! Nếu các bạn nôn nả trở thành triệu phú, các bạn nên nghĩ rằng thằng này nhiều đêm đã mơ thấy lão Phó Chưởng Lý nằm chết yên thấm trên giường với đầy đủ cái lưỡi, còn tên nhân chứng thì cứ cuốn dần vào đống da lông trong nhà kho của cha nó và chiến tranh đã làm cho bọn cảnh sát không những thay đổi địa chỉ mà đã biến thành các chiến sĩ trong đội quân cứu nước! Thế nên vụ này không ăn nhập gì với tao hết. Vậy thì bây giờ không phải là lúc để kể chuyện bậy bạ. Này, bỏ tao xuống cái lỗ này đi. Tao làm việc thêm vài giờ.

– Hãy bình tĩnh, Papillon! Tụi mình đứa nào cũng bực bội. Công việc không tiến nhanh, đúng vậy, nhưng nếu có tiến, trước mặt chúng ta, không đầy 15 thước, có đống của. Vả lại mỗi đứa có chuyện riêng của mình: hãy đọc bức thư của bạn tao gởi từ Buenos Aires.

Paulo rút trong túi ra một lá thư đọc lớn: “Paulo thân mến – Bạn ơi, bạn tin vào phép lạ hả? Thế là đã hơn 6 tháng, không những bạn không đến thăm hai con bồ câu của bạn, mà bạn cũng không gởi một chữ nào, ngay cả một tấm thiệp cũng không. Bạn hết sức vô tình. Chúng nó không biết bạn chết hay sống, không biết bạn đang ở xó xỉnh nào trên hành tinh này. Cứ phải nghe lời trách móc, thật không vui chút nào. Mỗi ngày thứ hai, pháo càng nổ lớn: “Sao? Anh ấy hiện ở đâu, anh ấy làm gì? Tôi đoan chắc là anh ấy đang mê một con nào rồi. Thật là dễ ghét. Anh ấy đến đây với tụi này là hơn. Mãi ôm gối nằm ngủ chán chết. Đây là lần cuối cùng tôi nói cho anh biết. Anh hiểu chưa? Anh ấy hãy trở về, nếu không thì ly dị!”.

“Paulo, chịu khó một chút đi, viết ít chữ, đừng tin vào phép lạ. Một ngày nào đó, bạn sẽ mất hai cái cối xay, lúc bấy giờ không còn bột đâu nữa. – Bạn của mày. Santos.”

– Tao thì tao tin có phép lạ, phép lạ trước mặt tụi mình kia. Chính tao, Paulo, chính tụi bây, bạn của tao, với vẻ thông minh và lòng can đảm, sẽ tạo ra phép lạ. Tuy vậy, cũng mong mấy con nhỏ đợi một thời gian nữa vì tụi mình cần tiền của chúng nó để làm cho xong vụ này.

– Chúng mình sẽ tuyên dương các cô ấy, Auguste nói, mặt mày rạng rỡ.

– Đó là việc của tao, Paulo nói. Tao là một nghệ sĩ đang thực hiện một trong những vụ đẹp nhất của bọn cựu phạm: các cô ấy đã là những người vô tình tài trợ cho vụ này, dù sao cũng là một vinh dự lớn.

Mọi người cùng cười lớn, cùng uống rượu và tôi nhận đánh bài để tất cả đều vui vẻ và cũng để xả hơi luôn.

Công việc đổ đất trên vườn dài 18 thước rộng 10 thước không gặp khó khăn gì. Chúng tôi rải đất theo chiều ngang nhưng phải chừa một đường đi đến nhà xe. Bởi lẽ đất lấy lên quá khác với đất vườn nên lâu lâu lại cho chở đến một xe đất mùn. Mọi việc đều êm xuôi.

Chúng tôi tiếp tục đào, tiếp tục kéo lên những chậu đầy đất. Chúng tôi đã lát ván gần hết mặt đất đường hầm vì có nước rỉ nên đất nhẹp bùn. Trên các miếng ván, dùng dây kéo các chậu lại dễ dàng hơn.

Chúng tôi làm việc như thế này. Một đứa ở dưới hầm, dùng cưa với gậy mấu đào đất và lấy đá bỏ vào chậu. Một đứa thứ hai đứng phía dưới giếng và kéo các chậu về phía nó. Ở phía trên một thằng thứ ba lôi cái chậu lên và đổ vào một xe cút kít có bánh cao su. Chúng tôi đã trổ một đường đi trong bức vách ăn thông thẳng nhà xe. Đứa thứ tư chỉ còn việc đẩy chiếc xe cút kít đi ngang qua nhà xe và xuất hiện ở vườn hoa một cách rất tự nhiên.

Chúng tôi làm việc suốt nhiều giờ với ý chí cương quyết thành công. Đây là một công việc lao lực phi thường. Ở dưới đáy hầm vô cùng khó chịu, mặc dù đã có quạt của máy điều hòa không khí và có không khí trong lành được đưa đến bằng một cái ống được quấn vào cổ chúng tôi, lâu lâu chúng tôi lại mút cái đầu ống. Thân mình tôi đầy mụt đỏ. Giống như nổi phong, ngứa ghê gớm. Chỉ một mình Paulo không bị mụt đỏ, vì nó lo đẩy xe cút kít và đổ đất trên vườn. Mỗi khi chui từ địa ngục ấy ra, đã tắm rồi phải đến hơn một giờ mới phục hồi trở lại; thở như thường, và cảm thấy tạm dễ chịu sau khi đã thoa sáp mỡ hoặc bơ ca-cao. “Dù sao, chính chúng ta muốn công việc kinh khủng này, đúng không? Không ai bắt chúng ta làm cả. Thế thì hãy tự lo lấy, hãy chịu đựng, ngậm miệng lại rồi trời sẽ giúp!” Tôi tự nhủ như vậy, và mỗi ngày tôi lặp đi lặp lại hai ba lần cho Auguste nghe khi nó nổi khùng vì đã chui đầu vào vụ này.

Không cần nói cũng biết muốn gầy đi không gì hơn là đào một đường hầm dưới ngân hàng. Cả ngày cứ cúi xuống, bò lết cong mình riết rồi người ta dẻo dai vô cùng. Trong hầm, mồ hôi ra nhễ nhại như trong một phòng tắm hơi. Cứ làm các động tác thể dục như thế, người ta khỏi sợ dư mỡ và sẽ có bắp thịt rất đẹp. Các ngài thấy không, thật là thực tế về tất cả mọi phương diện, lại thêm ở cuối đường hầm phần thưởng huy hoàng nhất đang chờ đợi: kho bạc của người khác.

Mọi việc đều trôi chảy, trừ khu vườn. Vì cứ mãi đổ thêm đất, nên mực đất vườn lên cao nên các đóa hoa không nở nữa mà cứ bị lấp dần, xem kỳ quá. Nếu cứ tiếp tục, rồi sẽ không còn thấy hoa đâu nữa. Cần phải có cách lấp liếm: chúng tôi để cây bông vào trong các chậu bằng đất đặt lún xuống đất vừa đổ lên. Như thế không còn thấy gì nữa, người ta tưởng cây bông mọc trên đất.

Vụ này có cơ kéo dài quá! Lại còn không thể thay phiên nhau mà nghỉ. Chúng tôi phải đủ bốn đứa mới giữ được một nhịp độ hữu hiệu. Nếu chỉ có ba đứa thì không bao giờ rồi vì như vậy phải tạm đổ đất vào trong nhà, một việc làm rất nguy hiểm.

Nắp đậy miệng giếng sít sao vô cùng. Khi nghỉ làm, có thể để ngỏ cửa căn phòng mà không thấy gì khả nghi. Về lối đi trong vách ngăn hai nhà xe, chúng tôi có để về phía nhà xe một tấm bảng lớn bằng gỗ trên đó treo nhiều vật liệu sửa chữa và về phía ngôi nhà, một chiếc tủ đứng từ thời thực dân Tây Ban Nha. Thế nên mỗi khi Paulo tiếp ai nó không chút e ngại. Chỉ có tôi với Gaston phải rúc lên phòng chúng tôi ở trên từng lầu. Suốt hai ngày trời mưa không ngớt như thác lũ, đường hầm bị ngập nước. Có đến gần hai tấn nước, tôi đề nghị Paulo đi mua một chiếc bơm tay cùng với nhiều đường ống thích ứng. Một giờ sau đặt bơm xong. Chúng tôi ra sức bơm, hút nước đổ ra cống rãnh. Một ngày dài làm việc nặng nhọc mà vô bổ.

Đã gần đến tháng chạp. Thật là tuyệt diệu nếu cuối tháng 11 chúng tôi có thể làm xong căn hầm nhỏ đóng hộc kỹ lưỡng ở dưới ngân hàng. Nếu thằng hàn xì đến đúng hẹn, chắc chắn Thánh Nicolas sẽ cho chúng tôi nhiều bạc. Nếu nó không đến, chúng tôi sẽ dùng mỏ hồ quang. Chúng tôi biết chỗ bán cả bộ mỏ hồ quang, với đầy đủ đồ phụ tùng. Tại hãng General Electric, có rất nhiều kiểu độc đáo. Sẽ mua ở một thành phố khác, như thế cẩn thận hơn.

Đường hầm tiến triển khả quan. Hôm qua, ngày 24 tháng 11, chúng tôi đã đụng nền móng của nhà ngân hàng. Chỉ còn 3 thước đường hầm với các hầm nhỏ phải làm, nghĩa là 12 thước khối đất phải đào. Chúng tôi uống sâm banh để ăn mừng, sâm banh Pháp, thứ nguyên chất.

– Rượu có hơi xanh màu lục, Auguste nói.

– Càng tốt, điềm lành: đó là màu các tờ Mỹ kim.

Paulo kiểm điểm những công việc còn phải làm:

– Sáu ngày để lấy đất ra, nếu đất không nhiều lắm.

– Ba ngày để đóng hộc.

– Cộng: 9 ngày.

– Hôm nay là 24 tháng 11, đến 4 tháng chạp là xong. Chắc chắn như vậy.

“Chúng ta sẽ tấn công lúc tám giờ đêm ngày thứ sáu, vì Ngân hàng đóng cửa lúc 7 giờ: Chúng ta sẽ có cả đêm thứ sáu rạng ngày thứ 7, đêm thứ 7 rạng ngày chúa nhật và cả ngày chúa nhật. Nếu mọi việc tốt đẹp, chúng ta sẽ chuồn đi khỏi nhà hai giờ sáng thứ hai. Tổng cộng 52 giờ làm việc. Đồng ý chứ?”.

– Không. Paulo. Không đồng ý chút nào.

– Tại sao, Papillon?

– Ngân hàng mở cửa lúc 7 giờ để chùi rửa. Bất cứ vì lý do nào, công việc sẽ đổ bể giờ đó, nghĩa là không lâu sau khi chúng ta chuồn êm. Tao đề nghị thế này: Chúng ta phải tìm mọi cách để mọi việc xong xuôi lúc 18 giờ ngày chúa nhật. Chia chác xong là đến 20 giờ, đại loại như vậy. Nếu chuồn lúc 20 giờ, chúng ta đi trước tối thiểu 11 giờ nếu công việc bị phát giác lúc 7 giờ, và tối thiểu 13 giờ nếu đợi đến 9 giờ mới khởi phát.

Cuối cùng, mọi người tán thành đề nghị của tôi. Vừa uống sâm banh, chúng tôi chạy các đĩa hát Paulo đã đem theo: Maurice Chevalier, Piat, Ba Lê những đêm khiêu vũ… Trước ly rượu, mỗi đứa ước mơ ngày vinh quang. Ngày ấy gần kề, hầu như ngón tay rờ được.

Papillon ơi, mối thù này ghi tâm khắc cốt, rồi đây có thể trả tại Ba Lê. Nếu mọi việc êm xuôi, nếu gặp hên, tôi sẽ từ Pháp trở lại Callao để tìm lại Maria.

Sau rồi mới gặp cha tôi. Cha khốn khổ mà huyền diệu! Trước khi tìm đến hôn ông già, tôi phải chôn sâu dưới ba tấc đất con người phiêu lưu mạo hiểm trong tôi… Sẽ không lâu sau khi tôi trả xong mối thù và tạo được một địa vị khả quan.

Sự việc xảy ra ngày hôm sau bữa uống sâm banh, nhưng mãi một ngày sau chúng tôi mới biết. Chúng tôi đi đến một đô thị kế cận, cách đó 120 cây số, để xem một bộ máy hồ quang để hàn và cắt của hiệu General Electric. Tôi cùng thằng bạn ăn mặc rất đàng hoàng đi bộ và gặp lại Paulo với Auguste trên xe cách đó 2 cây số.

– Các chú có thấy chúng mình đang được hưởng buổi đi chơi này không? Thở cho đã, hít cho đầy phổi ngọn gió tự do tuyệt vời này!

– Paulo, mày nói đúng, chúng ta xứng đáng được hưởng cuộc du ngoạn này. Đừng đi mau lắm còn để thì giờ ngắm phong cảnh.

Chia nhau ở hai nhà trọ, chúng tôi ở ba ngày tại hải cảng xinh đẹp đầy ghe thuyền tấp nập dân cư đủ màu sắc vui tươi. Đêm đến chúng tôi gặp lại đủ bốn đứa. “Không đến hộp đêm, không đến nhà điếm, không kiếm gái đứng đường, chúng ta đang có công có việc, các chú nhá!”. Paulo dặn chúng tôi. Nó nói có lý.

Cùng đi với nó, chúng tôi mặc sức quan sát máy hồ quang, tuyệt hảo, nhưng phải trả tiền mặt mà chúng tôi không đủ tiền. Paulo đánh điện về Buenos Aires, và may là nó cho địa chỉ tại nhà trọ ở hải cảng. Chúng tôi quyết định nó sẽ đưa chúng tôi về lại biệt thự rồi nó trở lại đây một mình, một hai ngày sau, nhận tiền và lấy máy. Sau ba ngày nghỉ xả hơi. Chúng tôi đi về rất thơ thới.

Như thường lệ, Paulo bỏ tôi với Gaston ở góc con phố nhỏ. Ngôi biệt thự ở cách đó 100 thước. Chúng tôi ung dung đi bách bộ, hân hoan nghĩ đến lúc sẽ trông thấy lại tác phẩm vĩ đại của chúng tôi là con đường hầm thì bỗng nhiên tôi nắm cánh tay Gaston bắt nó dừng ngay lập tức. Chuyện gì xảy ra trước ngôi biệt thự? Có cảnh sát, có độ 12 người, rồi tôi thấy hai lính cứu hỏa từ dưới đất chui lên giữa đường phố. Không cần ai nói gì, tôi hiểu ngay. Đường hầm đã bị phát giác!

Gaston nổi run lên như bị cơn sốt rồi vừa đánh bồ cạp, vừa cà lăm cà lặp nó không biết nói gì hơn câu ngu xuẩn tuyệt diệu này:

– Chúng nó đã làm sập đường hầm đẹp đẽ của mình rồi! Ồ, đồ ngu! Một đường hầm đẹp như thế!

Ngay lúc ấy, một thằng cha có bộ mặt, dù nhìn xa cả cây số cũng biết là cảnh sát, nhìn chúng tôi. Tuy nhiên vì tất cả tình huống này quá lố bịch nên tôi phá ra cười, cười rất thẳng thắn, rất vui tươi, rất thành thật đến nỗi nếu tên cảnh sát có nghi ngờ mảy may gì chúng tôi, sự nghi ngờ ấy cũng tiêu tan lập tức. Nắm tay Gaston, tôi nói lớn bằng tiếng Tây Ban Nha:

– Tụi ăn trộm đã làm một đường hầm độc đáo!

Rồi quay lưng lại công trình trác tuyệt của chúng tôi, chúng tôi chậm rãi đi ra đường phố, không vội vã, không bực bội. Nhưng bây giờ phải hành động gấp. Tôi hỏi Gaston:

– Mày có được bao nhiêu tiền? Tao có gần 600 mỹ kim với 1500 đồng bạc Venezuela. Còn mày?

– Tao có 2000 mỹ kim ở nhà tao, Gaston đáp.

– Gaston, tốt hơn hết là chúng ta nên chia tay nhau ở đây, trên đường phố này.

– Mày sẽ làm gì, Papillon?

– Tao sẽ trở lại hải cảng và kiếm một chiếc tàu để đi, bất cứ đi đâu, nếu có thể thì đi thẳng đến Venezuela.

Chúng tôi không thể hôn nhau từ biệt ngay giữa phố: trong giây phút cảm động, mắt của Gaston cũng ướt lệ như tôi khi chúng tôi bắt tay nhau. Không gì gắn bó hai người với nhau bằng một cuộc phiêu lưu với những mạo hiểm đã cùng nhau đương đầu.

– Gaston chúc mày may mắn!

– Khỉ gió.

Paulo với Auguste đã theo đường khác nhau, đứa thì về Paraguay, đứa về Buenos Aires. Mấy người vợ của Paulo không còn ôm gối ngủ nữa.

Tôi tìm được một chỗ trên một chiếc tàu đi Porto-Rico. Từ đó tôi đáp máy bay đi Colombie rồi lên tàu thủy đến Venezuela.

Chỉ mấy tháng sau tôi mới biết rõ những gì đã xảy ra: Một ống dẫn nước lớn bị bể trên đại lộ phía bên kia nhà ngân hàng, nên các xe cộ phải đi qua mấy đường nhỏ song song. Một chiếc xe vận tải to lớn chở đầy cột sắt đi vào đường phố chúng tôi, lúc chạy trên đường hầm bánh sau bị sụp xuống. Tiếp theo là tiếng la lối, mọi người kinh ngạc, cảnh sát đến, và rồi người ta hiểu ngay tất cả.

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline

Vương Mộng Long

April 27th, 2023

Post by Sơn râu 27 Sep 2025

Lời Giới Thiệu:  Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Chủ ý của người kể chuyện…

Khi kể lại chuyện đời một người, nếu đã nhắc tới những nụ cười thì đừng quên những lần nước mắt tuôn rơi.Khi kể lại chuyện trận mạc một thời, nếu thấy tự hào vì những chiến thắng lẫy lừng thì cũng đừng quên những chiến bại đắng cay. Trong chiến tranh Việt-Nam năm xưa, chính những chuyện đời thường của những người tham chiến gom góp lại mới đáng tin đó là chuyện thật, không thêu dệt, không trét phấn, không tô son, không đánh bóng, không khoa trương. Ngoài mặt trận, viên đạn vô tình không phân biệt được ai là ông tướng, ông tá, ông úy, hay ông lính trơn. Vì tổ quốc mà chết, thì sự hy sinh của ông đại tướng và sự hy sinh của ông binh nhì phải được đánh giá ngang nhau.

Lịch sử không là vật sở hữu của chính quyền cũ hay chính quyền mới, lịch sử không thuộc về người Quốc-Gia hay người Cộng-Sản, lịch sử không của riêng ai, mà lịch sử là của tất cả mọi người Việt-Nam.

Những gì còn in đậm trong trí nhớ của người kể chuyện dưới đây cũng chỉ là một chút đóng góp nhỏ cho chiến sử.

Phi trường Cù Hanh Pleiku 1970

Nhớ Xuân xưa…

Tháng Tư Dương Lịch, Bắc Mỹ chuyển mùa sang Xuân…

Trong khuôn viên trường đại học University of Washington (UW) và trên đường phố North Seattle, những đóa hoa anh đào bắt đầu đua nhau nở.

Tôi đã sinh sống ở thành phố Seattle này ba chục năm rồi. Tôi đã thành người tha phương ba chục năm rồi. Hằng năm, cứ tới thời kỳ anh đào ra hoa, lòng tôi lại dấy lên một nỗi buồn. Nỗi buồn này chỉ man mác, nhẹ nhàng thôi, nhưng lại thấm thía vô cùng, nó chính là nỗi nhớ quê hương… Quê hương Việt-Nam của tôi đẹp lắm, nhất là khi thời tiết bắt đầu vào Xuân. Có điều, quê hương tôi mãi chìm trong khói lửa. Quê hương tôi chưa có ngày nào ngưng cảnh đạn bom rơi. Suốt thuở thiếu thời cho tới khi trưởng thành, tôi chưa bao giờ thấy hòa bình.

Lớn lên, tôi đã chọn binh nghiệp, rồi thời thế đã biến tôi thành một người của rừng, của núi Cao Nguyên Vùng 2 Chiến Thuật. Tôi đã yêu Cao Nguyên và đã chọn nơi này làm chốn định cư. Giờ này, gần nửa thế kỷ sau Chiến Tranh Việt-Nam, hình ảnh Cao Nguyên Vùng 2 Chiến Thuật của nước Việt-Nam Cộng – Hòa vẫn chưa mảy may phai mờ trong ký ức của tôi. Vì thế mà, mỗi độ Xuân về, tôi lại nhớ Cao Nguyên…

Hoa đào tháng 4 năm 2023 trong sân trường UW (Seattle)

Mùa Xuân nơi ấy

Nơi này mùa Ðông, nơi ấy là mùa Xuân

Mùa quê hương đi trước mùa tha phương một bước

Xuân Cao Nguyên, làm sao ta quên được?

Một trời hoa, rực rỡ, áo Xuân vàng…

…

Cao Nguyên mùa Xuân nào cũng đầy lửa đỏ

Ðạn pháo ngút trời, nhưng hoa vẫn nở

Những người yêu nhau vẫn tưởng ở bên nhau

Áo trắng sân trường, thương áo trận rừng sâu…

Có một vùng trời

Bao lần ta bay qua, bay lại

Những chuyến bay tuần tra biên giới

Những địa danh kiêu dũng dưới chân ta

Dak Pek, Dak Seang, Ðức Cơ, Pleime…

Ðể bao năm sau ngày mất nước

Ta còn gọi tên nhau trong ký ức…

…

Những con dốc hụt hơi chân bước

Leo từ sáng đến chiều chưa tới ngọn, Chư Pa!

Những cái tên nghe đầy đe dọa:

“Thung Lũng Tử Thần”- “Cơn Sốt Vàng Da”

Từng đoàn quân tiến vào vùng đất chết

Cho quê hương những mùa Xuân bất diệt…

…

Nhớ thuở Bình Tây

Ta đóng quân bên dòng Yaly cuồn cuộn chảy

Chợt thấy Chúa Xuân vươn vai một sớm mai

Cùng tiếng chim ca, tiếng đạn réo lưng trời…

…

Nhớ Xuân Pleime mấy độ yêu người

Một nửa mùa Xuân nằm trong lô cốt

Quên cả rừng mai, quên mây trời bay

Một nửa mùa Xuân chìm trong pháo địch

một nửa mùa Xuân mưu chuyện phá vòng vây

Trong giao thông hào, ta như loài chuột bọ

giữ từng thước rào,

canh từng vuông đất nhỏ

cho ngọn cờ vàng ngạo nghễ bay trong gió

cho Em và Con bình an nơi thành phố…

…

Nhớ Xuân Cao Nguyên

Ðoàn quân xa đi ngang qua thị xã

Áo trận hoa rừng phủ đầy đất đỏ

Ta ghé thăm Em và Bé mới ra đời

Em cười, giọt nước mắt trên môi lăn vội

Ta chỉ biết nói lời, “Xin lỗi!”

Ðã để cho em, “Một mình đi biển mồ côi…”

Ta ôm con vào lòng, “Bé bỏng con tôi!”

Ta chỉ bên Em, bên Con vài giờ ngắn ngủi

Chiến trường sục sôi, chiến trường réo gọi

Ðoàn quân xa lại vội vã lên đường

để lại Bé, để lại Em và thị xã sau lưng…

…

Tuổi trẻ, một thời để yêu

Tuổi trẻ, một thời để chết…

Mùa Xuân ra đi biền biệt

Ngày xanh, tuổi trẻ của ta

Ta đã cho quê hương tất cả…

…

Nơi ấy, Cao Nguyên mùa Xuân

Nơi này, Seattle mùa Ðông

Người Biệt Ðộng nhớ Cao Nguyên vô cùng

Còn Cao Nguyên…có nhớ gì ta không?

Vương Mộng Long – Seattle 1996

Ở Việt-Nam, tôi đã là cư dân của núi.

Qua Mỹ rồi, tôi cũng là cư dân của núi. Vùng đất mà tôi đang sinh sống hiện thời là nơi có đủ loại thông xanh, thông xanh bạt ngàn. Người Mỹ gọi đất này là “Evergreen State” còn người Việt ở Seattle thì gọi xứ này là “Cao Nguyên Tình Xanh” Những khi rảnh rỗi, tôi thường lái xe qua núi, qua đèo, dừng chân nơi nào đó, ngắm cảnh trời chiều trong thung lũng để nghe tiếng suối reo, tiếng chim kêu, và tiếng gió rít qua khe. Trong những giờ phút ngây người trước cảnh hùng vĩ của thiên nhiên, tôi lại có dịp thả hồn mình phiêu du về Cao Nguyên của Vùng 2 Chiến Thuật Việt-Nam Cộng-Hòa…

Đại úy Vương Mộng Long và phu nhân 1970

Cao Nguyên và tôi…

Thời chiến tranh Việt-Nam trong Thế kỷ 20 đã có rất nhiều người tìm đến Pleiku chỉ với mục đích được sống vài ngày lang thang trên phố núi, ngắm sương mù che ánh đèn đêm, rồi chui vào quán cà phê khuya, ngồi phì phà khói thuốc, cố nặn óc kiếm ý, gieo vần, gắng sức viết cho được một vài bài thơ ca tụng Pleiku, những mong mai này sẽ nổi tiếng với đời. Còn tôi, tháng Mười năm 1966, sau vụ Phật Giáo Miền Trung, mang cái án phạt 90 ngày Trọng Cấm trên vai, tôi tới Pleiku với tâm trạng chán chường của một kẻ bị lưu đày.

Ngày ấy, tôi thấy Pleiku là một thị trấn nhỏ tí teo, chỉ có một con phố chính Hoàng Diệu là nhộn nhịp người qua kẻ lại, vì nơi này có những quán xá chen chúc sát vách nhau trên một đoạn đường dài chưa đầy cây số. Nhà hai bên phố thì toàn lợp tôn, cao, thấp chẳng đều, căn nhô ra, căn thụt vào, chẳng có thứ tự hay hàng lối gì cả! Chỉ qua vài ngày lang thang trong thành phố này, tôi đã nhận ra, người ở đây toàn là dân tứ xứ, đa phần là lính và gia đình của lính. Tóm lại, Pleiku thuở ấy, với tôi chẳng có vẻ gì là nên thơ hay quyến rũ cả.

Thành phố Pleiku là thủ phủ của Cao Nguyên mà còn buồn chán như thế thì nói gì tới những tiền đồn biên giới xa xôi như Dak Pek, Dak Tô, Ðức Cơ, Plei Me…

Ấy vậy mà, ngày tháng đong đưa, tôi đã chôn chân ở xứ này tới mười năm, đã say mê rừng núi Cao Nguyên tự lúc nào, tôi cũng chẳng hay. Trong mười năm dài, tôi đã có dịp góp sức, góp máu cùng hàng ngàn người lính vô danh khác đang ngày đêm lặn lội trong rừng sâu, núi thẳm đầy muỗi vắt, trước những họng súng sẵn sàng nhả đạn của quân thù, để bảo vệ quê hương. Gót chân tôi đã in trên từng thước đất dọc biên giới Việt, Miên, Lào, từ Khâm Ðức của Vùng 1 Chiến Thuật, tới Bù Gia Mập của Vùng 3 Chiến Thuật.

Ròng rã mười năm, tôi đã trải qua những trận đánh ác liệt và đẫm máu nhất của Cao Nguyên Vùng 2, những trận chiến mà cái sống và cái chết của người chỉ huy chỉ cách nhau như một đường tơ, kẽ tóc. Máu tôi đã nhiều lần đổ xuống tưới đẫm đất này.

Hiện thời, năm 2023 của Thế kỷ 21, trên người tôi, kỷ niệm chiến tranh vẫn còn đây, với cái vai trái mất một miếng xương, một cái sẹo bên sườn phải, và trong ngực tôi còn nguyên một đầu đạn AK47 nằm cách trái tim tôi chưa tới một centimet.

Bù đắp lại, tôi đã có những tháng, ngày sống thật vô tư, thảnh thơi, buông thả ở đây. Cũng từ Cao Nguyên, tôi đã xây dựng được một gia đình hạnh phúc tuyệt vời.Tôi đã chứng kiến một thời Cao Nguyên huy hoàng, rực sáng. Rồi tôi đã phải gạt lệ chia tay Cao Nguyên vào những ngày Cao Nguyên hấp hối.Vì thế, Cao Nguyên chính là đời tôi, với đầy đủ buồn, vui, vinh, nhục, hạnh phúc, và đau thương.

Gia đình Thiếu tá Vương Mộng Long (1974)

Tôi lớn lên trong chiến tranh, dù cho bao năm đã qua đi, những kỷ niệm gì liên quan tới chiến tranh, cứ còn mãi trong đầu.  Tôi còn nhớ, cuối năm 1953 kế hoạch Navarre của Quân Ðội Liên Hiệp Pháp ra đời khi tôi vừa qua tuổi lên mười. Kế hoạch Navarre có biểu hiệu là cái nắm đấm. Dấu hiệu này có ý nghĩa là sức mạnh quân sự của Pháp sẽ được tập trung bảo vệ những thành phố lớn vùng Trung Châu Bắc-Việt, những thành phố vùng cao sẽ bị bỏ rơi. Ðầu năm 1954 những bích chương với dấu hiệu cái nắm đấm được dán đầy tường trong phố và trên các gốc cây lớn mọc bên đường. Cùng thời gian này từng đoàn công voa chở quân lính và khí cụ nối đuôi nhau chạy về Hà-Ðông và ngoại ô Hà-Nội. Kết quả là, một năm sau khi kế hoạch Navarre ra đời, nửa nước Việt-Nam rơi vào tay Cộng-Sản. Hai mươi năm sau, cuối 1973 tôi lại nhìn thấy tình trạng Cao Nguyên Việt-Nam Cộng-Hòa cũng không khác gì tình trạng Trung Châu Bắc-Việt trong kế hoạch Navarre năm 1953, quân ta cũng không có cuộc hành quân thế công nào, đâu đâu cũng lo co cụm, phòng thủ thụ động xung quanh những thành phố lớn. Tình hình bi đát tới nỗi, giữa ban ngày mà muốn đi từ Pleiku tới Thanh-An cũng phải mở đường, rà mìn, đóng chốt.

Hào quang chiến thắng của những chiến dịch “Bình Tây 48” – “Bình Tây 3” hay “Lùng và diệt địch” của thời kỳ 1966-1970 ngày xưa đã trở thành kỷ niệm. Chúng tôi mang tiếng là Biệt Ðộng Quân, trên bảng cấp số có ghi rõ ràng là đơn vị trăm phần trăm di động, mà quanh năm cứ đóng đồn, giữ cầu, giữ đường thì “ẹ” quá! Hằng ngày tôi có dịp được tiếp xúc với các giới chức cao cấp của quân đoàn, được tham dự những buổi thuyết trình về tình hình bạn, địch trên toàn Quân Khu 2 nên tôi có thể hình dung ra những gì sẽ diễn ra ở Vùng 2 trong tương lai sắp tới.

Vết Nám – Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Posted 7 Feb 2015

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 27 Sep 2025

Bài 5 – Tết tù

Tết nguyên đán Bính Thìn nhằm ngày thứ Bảy, 31 tháng 1 năm 1976. Đó là cái tết đầu tiên chúng tôi ở trong tù tại L3-T3 trại Trảng Lớn, Tây Ninh.

Trước tết mấy tháng, bộ đội ra lệnh mỗi khối nuôi hai con heo để chuẩn bị ăn tết. Nghe tin đó, ai ai cũng rầu. Tưởng học xong 10 thì về, đâu có ai nghĩ phải ăn tết trong tù. Vậy là thông cáo “10 ngày học tập cải tạo”, coi như mây khói. Thế là xong lời hứa của “cách mạng”. Ai nghĩ “Cách mạng” hứa Cuội?

Trong khi học tập, cán bộ có giảng giải, yêu cầu “An tâm học tập cải tạo”, nói trắng ra, có nghĩa là không được, không nên trốn trại.

Một tối, anh em nằm với nhau chờ giấc ngủ như thường lệ, Lê Quang Dung cằn nhằn: “Cứ bảo an tâm học tập cải tạo” mà không biết ngày nào học xong để về thì an tâm làm sao được.”

Phạm Quang Chiểu, nằm gần cuối vách trong, kế bên Trần Phú Trắc, “giải đáp”:

“An tâm như Vương Cấu vậy.”

Nghe Chiểu nói, tôi nhớ một đoạn trong Tam Quốc, (1), vừa lặp lại câu của Tào Tháo nói với Vương Cấu vừa cười khúc khích với Phạm Xuân Lý nằm bên cạnh:

– “Thôi nhà ngươi hãy an tâm mà chết đi…”

Dung, nóng tính:

– “An tâm mà chết thì an tâm chó thế nào được!”

Thấy Dung nóng nảy, chúng tôi đều cười.

Phạm Ngọc Hiền, nằm phía vách sát cửa vào, chưa ngủ, còn đong đưa cái võng, nói đùa:

– “An tâm mà chờ… ăn thịt heo.”

Khối 1 của tôi có làm một cái chuồng heo phía ngoài sân bóng chuyền, chỗ Lê (?) Văn Cư hay chơi bóng. Phó khối tên là Hợp, quê Quảng Ngãi, mỗi ngày yêu cầu tổ nào tới phiên nấu cơm, sau khi phát cơm rồi, phần cơm cháy còn lại, không  được ăn, để trộn với rau muống cho heo ăn.

Heo cũng đói như người. Những hai con heo mà mỗi ngày chỉ có hai miếng cháy, có khi bị “ai đó” gỡ bớt, còn chút lõm.

Một hôm, Hợp họp các tổ trưởng lại, bàn cách “khắc phục”, làm sao cho heo ăn no. Trắc, đại diện tổ 1 của chúng tôi, đi họp.

Vốn tính hay đùa, mới vào họp một chốc, Trắc nói:

– “Khối phó ơi! Heo đói kêu “hợp hợp” kìa!”

Trắc chơi chữ, “hợp” cũng là tên khối phó.

Hợp tức giận, nói:

– “Anh về anh nói với cha anh vậy đi.”

Trắc bị chưởi cha, tức quá, bỏ về, không họp nữa, than phiền với chúng tôi. Nghe chuyện, ai cũng cười.

Hiền nói:

– “Dù ông lớn tuổi, nhưng đi “học tập” thì cũng còn là học trò. Học trò kêu cha mẹ ra chưởi là thường.”

Câu Hiền nói đùa làm tôi nhớ năm tôi học lớp nhất với ông Hồ Đắc Hanh, một hôm có anh vào thưa với thầy: “Thưa thầy, thằng … nó kêu tên cha con.”

Thầy bảo:

– “Ông Trần Hưng Đạo, người ta kêu tên ra hằng ngày, có sao đâu!”

Chỗ chuồng heo có sân bóng chuyền, đây là nơi vui chơi của chúng tôi, xem Lê (?) Văn Cư biểu diễn chơi banh.

Cư chơi banh hay lắm! Anh chia phe “đá” bóng chuyền. Phen bên kia gồm 6 người, phe bên nầy một mình Cư. Bên kia đánh bóng qua, bằng tay; bên nầy Cư dung chân đá bóng trả lại. Một mình anh ta xoay ngang, xoay dọc, đá banh qua lưới, bất phân thắng bại, khán giả ai nấy đều vui, vỗ tay hoan hô, khen Cư om sòm.

Có anh bộ đội đi ngang, đứng lại xem, cũng nói: “Sao mà tài thế!”

Nhiều lần Cư dùng trái banh, biểu diễn cho mọi người xem. Anh dùng banh đội đầu, đá vòng cầu, đá trước vòng lui sau, đá sau vòng ra trước, đá vòng ra tả hữu, tài tình lắm. “Can Tây đen” một cầu thủ nổi tiếng của làng bóng đá Saigon trước 1975, có lần ra đấu ở Huế, một mình anh giữa sân Bảo Long, cũng biểu diễn như Cư vậy; cả cầu trường đứng lên “hoan hô nhiệt liệt”, còn hơn “hoan hô Ngô Tổng Thống” hay “hoan hô Hồ Chí Minh”.

Có anh chàng bên T4, mê xem Cư chơi bóng, chiều nào cũng chui hàng rào qua xem, chờ khi gần tối, lại vạch hàng rào chui về.

Cư, cấp bậc thiếu úy, cầu thủ đội bóng Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH. Vào trại cải tạo, “Bộ đội” bắt buộc ai ai cũng phải tự xác nhận là người “có tội với cách mạng”. Cư nhứt định nói chỉ có mỗi một tội mà thôi. Đó là “tội giương cao mầu cờ sắc áo” bóng đá của miền Nam ở Đông Nam Á. Cán bộ quản giáo kêu lên làm việc nhiều lần, anh ta cũng nhận có mỗi một tội như thế!

Vậy là ngoan cố, chưa thông suốt “đường lối giáo dục của cách mạng”, khó được “Cách mạng khoan hồng” khó “sớm về sum họp với gia dình”, v.v…. Nhưng rồi mới hơn một năm, anh ta được về sớm, nhờ có một người cô là y sĩ Dziệt Cộng bảo lãnh cho.

Dù do “Bộ đội” hay Công an quản lý, họ chỉ có nhiệm vụ giữ tù là quan trọng, làm sao tù đừng trốn, chớ họ có quyền gì trong việc xét cho về sớm hay muộn đâu!

Hôm Cư được gọi lên văn phòng để về, cán bộ buộc anh phải đi cắt tóc vì anh chừa tóc theo kiểu Hippy. Để về, Cư làm liền. Anh ta “nghe cách mạng” có chừng đó.

Phần đông chúng tôi lớn lên, đi lính, vào lính thì cắt tóc theo kiểu nhà binh, “trước một phân, sau trọc lóc”, nên khi đi tù cải tạo, nhiều anh em muốn trở lại sống thời trai trẻ, bèn chừa tóc dài.

Một hôm, “bán chợ trời”, -tức là bày “tư trang” ra giữa sân cho bộ đội khám xét -. Có một tên đại úy Dziệt Cộng bộ dạng rất khó ưa, đi kiểm tra từng người.

Tới chỗ Trương Đình Khải, khối 4, thấy Khải tóc dài ngang cổ, y nói, vẻ giận dữ:

– “Tôi ra “nệnh” anh phải đi cắt tóc ngay. Cắt ngay mà cắt “chọc”. Không được phép chừa dài như thế.”

Khải phải nhanh chân tìm người cắt tóc giùm, để được yên.

Trước hôm tết, chúng tôi được lệnh tập họp đi nhận quà do thân nhân gởi vào cho. Chỗ phát hàng nằm ở phía bên kia L3-T3 nên chúng tôi phải sắp thành hàng mà đi.

Trên đường đi, chúng tôi gặp một toán người khác đi ngược lại. Vừa khi hai bên gặp nhau, tôi thấy hai ba người chạy ra giữa đường tranh nhau nhặt một cái gì đó. Xem ra, đó là cái tàn thuốc điếu, ai hút vứt lại. Thèm thuốc hút, không những là cái khổ mà còn là đại nạn trong anh em chúng tôi, không thiếu người bị mất cắp thuốc rê, thuốc lào…

Hôm đó, trong toán đi ngược chiều, tôi thấy có Huỳnh Hữu Ủy, thiếu úy, thuộc khối Quân Sử Bộ Tổng Tham Mưu, một người em họ, và Phan Văn Hộ, giáo sư Anh văn trường Phan Bội Châu, Phan Thiết, một người vừa là bạn học, vừa là cùng quê. Chúng tôi đưa tay vẫy chào nhau, không thấy bộ đội cầm súng đi theo “bảo vệ” nói gì. Họ không cấm hay họ không thấy cũng không biết nữa.

Kêu tên người nào thì người đó lên nhận hàng.

Hầu hết tổ tôi ai cũng có hàng. Gói hàng của tôi khá lớn, có thuốc hút ống vố của hãng Bastos – có lẽ hàng cũ còn lại – các thứ cá thịt đều được làm khô, nước mắm pha bột ngọt làm khô, thứ nầy ít ai có, do vợ tôi tự làm, thuốc cảm cúm, khăn mặt, kem và bàn chải đánh răng…

Hôm đó, cả tổ tôi chung nhau làm một bữa “thịnh soạn”. Ai nấy có quà thân nhân gởi cho, gom lại ăn chung, kẻ ít người nhiều. Thật là vui.

Trong khi nhận quà, trung úy Việt Cộng Hồng Dư, làm một việc khiến cho chúng tôi biết ơn. Anh ta cầm con dao nhỏ đi quanh. Thấy ai loay hoay mở chưa được gói quà, anh ta bước tới cầm dao cắt giây dùm, vui vẻ với người nhận quà.

Khi về phòng, chúng tôi nói với nhau chuyện ấy. Xem ra, nếu chỉ là con người với con người, trong tình người thì ai ai cũng đáng yêu.

Vài anh em phát biểu như thế!

Tôi nói đùa: “Thiếu úy Ái là người đáng yêu nhất, nhất là khi có được chiếc xe Honda.”

Ai nấy đều cười.

Có hai người đến tổ chúng tôi khi chúng tôi đang “học 10 bài.” Trước hết là viên thiếu tá trung đoàn trưởng.

Khi vào phòng, ông ta ngồi xuống sập và hỏi:

– “Học chính trị có khó khăn gì không?”

Phan Hải thay mặt, trả lời chung cho cả tổ, đúng “bài bản” Việt Cộng đưa ra.

Một lúc sau, ông ta nói đùa:

– “Tôi cũng có một người em đang học tập như các anh. Học xong thì cũng về cả thôi. Trước kia, nó cũng hay tìm tôi lắm. May tôi không gặp nó!”

Nói xong, ông ta cười. Ngồi chơi một chút, ông ta chào từ giã và ra khỏi phòng.

Sau đó, Phan Hải kể chuyện: “Ông ấy người Bắc, có người em con ông cậu di cư vô nam, làm trung sĩ Cảnh Sát Đặc Biệt ở Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát.”

Người thứ hai là thiếu úy Ái, gốc ở Diên Sanh, Quảng Trị.

Bố anh ta theo Việt Minh, nhưng không tập kết.

Thời đệ nhứt Cộng Hòa, khi chính quyền thi hành “Quốc sách Tố Cộng”, anh ta mới 13 tuổi.

Một hôm xã tập trung đồng bào xã lại để biểu tình “tố Cộng” theo “Chiến Dịch Tố Cộng” thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, anh ta đi xem. Thấy có tấm biểu ngữ đề “Tố Cộng là yêu nước”, nhớ câu nói của cha, anh ta lén thêm dấu sắc vào chữ yêu, thành ra yếu, bị dân chúng bắt được.

Xã trưởng thấy anh ta còn con nít, tát một tát tai, bồi thêm một cái đá đít, đuổi về. Vậy rồi do bọn nằm vùng móc nối, anh ta “nhảy núi”, theo Việt Cộng, làm du kích. Đến 30 tháng Tư, anh mang lon “thiếu úy cách mạng.”

Thấy anh ta là người cùng quê, vài lần tôi hỏi chuyện anh. Hỏi anh ta bây giờ “nước nhà độc lập thống nhứt” rồi, muốn gì. Anh ta cười, nói một cách tự nhiên: “Bây giờ có cái xe Honda đàn ông mà chạy thì sướng lắm.” Nghe anh trả lời, cả bọn chúng tôi cười vui vẻ.

Sau khi anh ta đi rồi, Trắc nói: “Cả một đời theo “cách mạng” chỉ mong có được chiếc 67 mà thôi. Buồn cười thiệt. Lý tưởng cao quí gì cũng không qua được cái xe Honda.”

Ít lâu sau thì tết đến. Bộ đội cũng tổ chức liên hoan đón giao thừa cho chúng tôi ở hội trường.

Tất cả tù cải tạo của 6 khối tập trung vào đó. Tổ của tôi là tổ 1, thường được ngồi trước, nhưng Trắc, Chiểu và tôi thường hay lẻn ra sau chót, ngồi cuối hàng của khối 1.

Ngồi ở đây xa, hơi tối, dễ đùa dởn hơn. Cũng vì vậy mà đã có lần chúng tôi bị “vệ binh” bắt gặp, bị cảnh cáo. Dung nói đùa: “Khinh địch là hửi địt”. Những lần sau, chúng tôi “canh phòng địch” kỹ hơn.

Tuy ở xa, chúng tôi cũng theo dõi được các mục diễn ra trên sân khấu. Một là nhạc sĩ Lê Dần (chế độ cũ), thuộc khối 6, – do ông Khuất Duy Trác làm trưởng khối -, dùng một cái can xăng, nối với một cái cần gỗ, căng lên mấy sợi giây đàn, chế ra một cái đàn contrebasse, nghe cũng hay. Khi ai hát, anh ta đệm đàn. Tiếng giây trầm của đàn nghe như tiếng trống đánh nhẹ.

Thứ hai, anh ta diễn trò đọc thư “bằng tai”, không nhìn vào thư mà vẫn đọc được câu viết trong thư (2). Trò nầy vui quá!

Ba là có một anh chàng nào đó, hát bài “Tự nguyện”, bản nhạc do Trương Quốc Khánh phổ thơ Mai Tuyết An (3).

Gần giao thừa, chúng tôi được cho về.

Trong khi lo chuẩn bị chỗ ngủ, tôi nói:

– “Anh chàng hát bài “Tự nguyện” hay đấy chớ!”

Hoàng Hữu Chung nói đùa:

– “Tui à! Tui mà làm chim, tui sẽ làm chim chèo bẻo.”

Nghe Chung nói vậy, tôi bèn hát đùa: “Nếu là chim, tôi sẽ là loài chim… chèo bẻo hớ hớ…”

Phạm Xuân Lý nói:

– “Chi cũng được, nhưng hát “Ra ngoài bắc báo tin nối liền” là làm tay sai cho… Dziệt Cộng rồi.”

Chiểu chế diểu:

– “Làm tay sai cho Dziệt Cộng tức là làm Dziệt Cộng đấy.”

Lợi dụng lúc đó Phan Hải chưa về, Dung nóng tính:

– “Dziệt Cộng mà cứ gọi là “cách mạng”. “Cách mạng” cái con cặ… gì!”

Cũng vì câu hát do Chung chữa lời như trên, Chung được Trần Phú Trắc đặt cho cái tên mới là “chèo bẻo”, sau khi cái tên Trần Dạ Từ bị bể mánh. Anh em cứ gọi “chèo bẻo, chèo bẻo” mà không gọi cái tên thực là Chung của anh ta.

Quá khuya, nhớ nhà, lại cảm phận tù của mình trong những vòng rào vây hãm, không ngủ được, tôi đọc hai câu thơ của Hàn Mặc Tử:

                        “Ngoài kia xuân đã bén duyên chưa?

                        Tôi ở trong đây chẳng có mùa!”

Dung, học trò trong Nam, ít rành văn chương Việt Nam, hỏi tôi:

– “Thơ của ai dzậy?”

Tôi trả lời: “Hàn Mặc Tử đấy!”

Dung nói:

– “Hàn Mặc Tử thì nói về trăng chớ! “Ai mua trăng tôi bán trăng cho!”

– “Đó là thời thượng.” Tôi nói. “Hàn Mặc Tử viết nhiều về trăng. Ông có một bản văn xuôi “Chơi giữa mùa trăng”, nhiều người thích, nhưng tôi ít thích. Tôi ưa trăng của ông ở “Lầu ông Hoàng” hơn.

Phan Hải vừa về, nằm yên chỗ, biểu: “Anh Hải có thuộc không? Đọc nghe chơi.”

Tôi nói:

Tôi thuộc cả bài, nhưng bây giờ không biết nhớ được bao nhiêu. Để tôi đọc mấy câu tôi hay đọc:

“Ta đến nơi nàng ấy vắng lâu rồi,

                        Nghĩa là chết từ muôn trăng thế kỷ

                        Trăng vàng ngọc, trăng ân tình chưa phỉ

                        Ta nhìn trăng khôn xiết ngậm ngùi trăng

                        Ta vãi tung thơ lên tận sông Hằng     

                        Thơ phép tắc bỗng kêu rên thống thiết

                        Ôi trời ơi là Phan Thiết!

                        Phan Thiết!

                        Mi là nơi ta chôn hận ngàn thu

                        Mi là nơi ta sầu hận ngất ngư!

Chung nói đùa:

– “Phan Thiết là cái chi mà ông hận như bọn mình hận trại cải tạo vậy!”

Phan Hải cảnh cáo:

– “Nói tầm bậy đi. Để nghe anh Hải đọc thơ cho vui.”

Phạm Xuân Lý hỏi:

– “Câu chuyện Phan Thiết ra làm sao?”

– “Một “cô nường” mê thơ ông, yêu ông, rồi hẹn nhau đi chơi ở lầu ông Hoàng ở Phan Thiết. Xong, về hai người bỏ nhau.”

– “Lầu ông Hoàng là cái chi?” Ai đó hỏi.

– “Có một ông Hoàng bên Tây, dòng dõi vua “Lu-i” hay gì đó, nên người ta mới gọi là ông Hoàng. Ông Hoàng nầy thất tình vì một cô đầm xòe bên Tây, bỏ qua Việt Nam, xây một ngôi lầu, kế một cái Tháp Chàm, trên một ngọn đồi ở kế thành phố Phan Thiết để ở. Được một thời gian, ông về Tây, không thấy trở lại. Lầu Ông Hoàng bỏ hoang.”

– “Tại sao hai người bỏ nhau?” Ai đó hỏi.

– “Hàn Mặc Tử bị phung. Đêm đó họ đi chơi ở lầu ông Hoàng, khi về, ngang qua một bãi tha ma thì gặp mưa to, rồi Hàn Mặc Tử bị cùi.”

Một lúc, tôi hỏi: “Mấy ông biết sao bị phung không?”

– “Tại sao?” Hiền hỏi.

– “Hồi tui mới lớn, có lần đi nghe diễn thuyết về Hàn Mặc Tử ở rạp Morin. Về, ông chú hỏi, tôi kể chuyện thi sĩ Hoàng Diệp nói về những kỷ niệm của ông ta với Hàn Mặc Tử. Tôi kể lại chuyện Hàn Mặc Tử đi chơi với Mộng Cầm ở lầu ông Hoàng về thì bị phung. Ông chú bảo: “Đừng bắt chước Hàn Mặc Tử.” Tôi chưng hửng, chưa biết chuyện gì thì ông chú nói tiếp: “Tụi bây lớn lên, có đi chơi với bồ, đừng đè nhau làm bậy trên mồ mả người ta. Nguy hiểm lắm, bị phung đó.”

Tôi nhớ chừng câu chuyện Hoàng Diệp nói bóng gió hôm đó. Về giữa đường, Hàn Mặc Tử với Mộng Cầm gặp mưa, hai người dẫn nhau vào trú trong một cái nhà mồ. Sau đó, Hàn Mặc Tử về bị phung. Không lý ông Hoàng Diệp kể đoạn phim sex của hai người ở cái nhà mồ ấy cho thính giả nghe?!”

Trắc nói đùa:

– “Chú ông Hải có kinh nghiệm chuyện nầy lắm nên muốn “truyền nghề” cho con cháu đó chớ chi.”

Câu nói của Trắc làm nhiều người cười thành tiếng.

Tôi cũng đùa: “Đ. m, kể chuyện cho nghe còn bị nói móc lò tới cha chú. Không kể nữa.”

Có người trách Trắc: “Chuyện đang hấp dẫn, ông Trắc phá đám. Tiếp đi ông Hải ơi! Đêm giao thừa nghe chuyện chơi bời cho đỡ buồn.”

Tôi kể tiếp:

– “Tôi nhớ buổi diễn thuyết đó – năm đó tôi đang học lớp Đệ Nhị -, có mấy diễn giả nói hay lắm: Ông Bác sĩ Lê Khắc Quyến nói về bệnh phung, ông Quách Tấn nói về công lao chu cấp tiền bạc của ông cho Hàn Mặc Tử những năm Hàn Mặc Tử sắp qua đời. Ông Hoàng Diệp thì nói về Thương Thương và Hàn Mặc Tử. Thương Thương là em ông Hoàng Diệp, ông tính chuyện mai mối Hàn Mặc Tử cho bà nầy. “Đêm qua trong mộng gặp Thương Thương, Má đỏ âu lên đẹp lạ thường.”

Chung nói:

– “Ở Huế, người ta nói có một người yêu cũ của Hàn Mặc Tử dạy ở Trường Đồng Khánh, phải không?”

– “Bà H.T.K.C. chớ ai, bà dạy nữ công ở đó.” Tôi nói.

– “Bà đẹp không anh?” Trắc hỏi.

Trần Hữu Bảo nói đùa:

– “Thằng Trắc dê. Cứ nghe đàn bà con gái là hỏi tới có đẹp không?

– “Tui gặp bà nầy rồi. Bà ta đẹp lão. Ông nào ưa người “tóc bạc da mồi” thì cứ nộp đơn.” Tôi nói đùa.

Một lúc, tôi nói thêm: “Người ta có âm mưu cả đấy! Chuyện là như thế nầy. Hồi đó, người ta lập “Hội Văn Hóa Thành Phố Huế”. Ghế danh dự là Cha Luận, ghế chủ tịch là do mấy ông tranh nhau. Tôi cũng được đi họp.”

– “Anh là học sinh, làm cái khỉ khô chi mà họ kêu đi họp?” Có người hỏi.

– “Đang ngồi trong lớp, ông M., giáo sư Việt Văn của tôi vào lớp. Ông đi thẳng tới chỗ tôi, đưa cho tôi cái giấy mời đi họp. Trời! Tui thấy tui to quá, đưa cái thiệp mời cho Nguyễn Công Trung ngồi bên cạnh xem. Trung nói: “Mầy ngon lành!”

Chủ Nhật đó, tôi tới trụ sở của hội ở Chi Thông Tin tại Morin. Lèo tèo khoảng vài chục người tham dự, có Cha Luận, có ông Võ Long Tê, ông Đỗ Tấn, Quang Đạo, có Kỳ Quang. Mấy ông nầy làm ở báo “Mùa Lúa Mới”, ông M. làm chủ bút. Tui làm “mầm non văn nghệ” có truyện ngắn, truyện dài đăng ở đây; có ông Phan Du, báo “Ý Dân” của Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia, có ông trung sĩ Nguyễn Đình Hòe chủ bút báo “Lửa Thiêng” của Đệ Nhị Quân Khu. Sau khi mời Cha Luận làm chủ tịch cái “danh dự”gì đó, tới mục bầu Hội Trưởng. Mấy ông biết tụi bầu cho ai không?

Không ai trả lời.

– “Tui bầu cho ông M. Mấy ông thấy không. Tui được mời nên ông M. thêm một phiếu, không lý tui bỏ phiếu cho ai mà không bỏ phiếu cho ông thầy. Nếu tui không đi họp, ông M. mất một phiếu. Ấy là  “tình đời”, đừng tưởng bở?! Trước đó, trong chương trình “Tạp lục văn nghệ”, ông M. đã có một bài “lăng xê” tui trên đài phát thanh Huế để “chuẩn bị” cho việc tui đi họp. Mình chẳng là cái thá gì cả, nhưng “trò đời” đều có bài bản cả đấy?”

Ai đó nói: “Bỏ chuyện ruồi bu đó đi, anh Hải nói tiếp về Hàn Mặc Tử.”

– “Trong buổi nói chuyện về Hàn Mặc Tử, ông Lê Hữu Mục, ông Võ Long Tê nói nhiều về bài thơ “Ma-Ri-A linh hồn tôi ớn lạnh”. Hàn Mặc Tử hay Ma-Ri-A, hay niềm tin ở Chúa Giê-Su, chẳng qua thời kỳ đó là đời Cộng Hòa, “hữu thần chống vô thần”, với lại tiếp tục công việc đánh phá đạo Phật từ thời Tây xâm lăng với mấy ông cha cố Tây, còn chính quyền miền Nam dùng đạo Thiên Chúa để chống nhau với Cộng Sản, còn âm mưu gì nữa… Sau đó, họ còn “tưởng niệm” vài “nhà thơ nhà thờ” nào đó. Gọi là hội văn hóa nhưng mục tiêu là chính trị và tôn giáo!”

“Ông Quách Tấn kể khi ông tới thăm Hàn Mặc Tử ở bãi biển Qui Hòa, Hàn Mặc Tử đọc bài thơ Phan Thiết cho ông ta nghe. Khi đọc tới những câu như:

Ta lang thang tìm tới chốn Lầu Trăng
Lầu ông Hoàng, người thiên hạ đồn vang
Nơi đã khóc, đã yêu thương da diết
Ôi trời ôi! là Phan Thiết! Phan Thiết

Khi đọc tới hai chữ Phan Thiết, ông Quách Tấn nói tưởng như Hàn Mặc Tử uất nghẹn, ngộp thở, đọc xong nằm thở dốc!”

– “Chắc hận Mộng Cầm dữ lắm!” Phan Hải nói.

– “Rõ ràng dzậy mà còn hỏi. Sướng thì sướng chung, bệnh thì một mình Hàn Mặc Tử, “Còn gì đâu em ơi!” Con nhỏ đá đít là phải.” Phạm Xuân Lý bình phẩm.

– “Ai lại kêu là con nhỏ. Bằng tuổi bà nội đó.” Chiểu phê phán.

– “Tui nói chuyện nầy cho nghe! Mai Đình có ra Qui Hòa, tính ở lại chăm sóc cho Hàn Mặc Tử. Được mấy bữa, bà ta thấy ông nầy cứ nhắc Mộng Cầm hoài nên bà bỏ về Saigon. “Mộng Cầm hỡi, nàng là tiên rớt xuống!” Mai Đình là cô Nguyễn Quảng Thành đấy.”

– “Ai biết cha ấy là cha nào?” Hiền nói.

– “Nầy Trắc!” Tôi nói. “Thành khóa 22 Võ Bị, cùng với “Hùng móm” đi Nhảy Dù.”

– “Tui biết tay nầy! Ít gặp. Nó ở Dù nhưng hoạt động tình báo ở Cao Nguyên.”

– “Bịnh phung dễ lây nên gia đình dựng cho Hàn Mặc Tử một cái chòi tranh ở bờ biển Qui Hòa, sống riêng một mình. Quách Tấn tới thăm, thấy Hàn Mặc Tử lấy bìa chen vào những chỗ thủng trên mái.” Tôi kể.

– “Ông còn làm thơ không?” Chiểu hỏi.

– “Còn! Hay lắm, mà ghê lắm.” Rồi tôi đọc liền:

                        Ai đi lẵng lặng bên làn nước

                        Với lại ai ngồi khít cạnh tôi

                        Cớ sao ngậm cứng thơ đầy miệng

                        Không nói không rằng, nín cả hơi!

                        Chao ôi ghê quá trong tư tưởng

                        Một vũng cô liêu cũ vạn đời.

                        Ta nằm trong vũng đêm trăng ấy

                        Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra!”

– “Gì mà ghê quá vậy! Trăng rồi máu, rồi cô liêu…” Dung ta thán!

– “Phung không có máu sao được. Nó ăn rụng từng ngón tay, ngón chân. Tôi không hiểu nằm trong trăng, có bị trăng đè không mà ông ta viết “mửa máu ra”. Có thể đây chỉ là cách nói biểu tượng. Bài nầy hay không phải ở tính chất ghê rợn của nó. Nó có sự im lặng như “đi lẵng lặng”, nó có “ai ngồi khít cạnh” mà không nói gì được vì miệng “ngậm cứng thơ” hay vì ai đó là ma? Thơ là nói ra, thơ ở đây không làm cho người ta nói ra được. Ý tưởng “cô liêu”, “cũ vạn đời” là ý tưởng mới. Trong thi ca nước ta, trước nay, chưa ai từng nói như ông. Tôi cho chữ hay nhất trong bài thơ là chữ “Vũng” – “Vũng đêm trăng”, “Vũng cô liêu”. Có người nói “bãi cô liêu” tôi cho là không đúng ý ông ta. Tại vì sao “vũng” mà không phải là “bãi” các ông biết không? Bãi là nói về bề rộng, bãi có tính cách mênh mông, không biên giới. “Vũng” là nói về chiều sâu. Nhà thơ như bị bao phủ, che lấp, bị nhốt dưới đáy một vũng sâu, một thung lũng của cô liêu…

– “Đi dạy, anh dạy từng chữ như vậy à?” Dung hỏi.

– “Một chữ bẻ làm đôi. Dạy Kiều, ông Mục dạy chúng tôi như vậy. Đọc Kiều là phải đọc từng chữ, phân tích từng chữ. Tôi đem cái tinh thần ấy mà dạy cho học trò, khi tôi dạy về Thơ Mới, về Hàn Mặc Tử”. Tôi nói.

– “Chắc học trò thích học với anh lắm. Có cô nào mê thầy chưa đó?” Dung hỏi.

– “Thàng cha dê đó chắc cua học trò trước khi học trò cua thầy.” Hiền lại đùa.

– “Mấy cha nói tầm bậy không?” Tôi cự nự.

– “Tầm bậy mà trúng tùm lum.” Nói xong, Trắc cười ha hả.

– “Nói là phải nói cho hết!” Tôi nói. “Các ông có biết cái bản chất của loài người không?”

Chiểu nói: – “Tại sao lại đổi đề tài. Đang nói về Hàn Mặc Tử mà!”

– “Từ từ, để tôi nói. Bản chất của con người là sống hợp quần. Từ thuở ăn lông ở lỗ, con người đã sống hợp quần, sống từng bầy. Không có con người sống riêng lẻ, cô đơn, một mình, như con sư tử hay con cọp một mình trong một rừng. Bắt con người sống riêng rẽ, sống cô đơn là tội nghiệp cho nó lắm, con người sẽ chết sớm. Người ta không quen sống cô đơn. Hồi còn nhỏ, tôi có đọc một truyện của Lý Văn Sâm, truyện “Kòn Trô”. Thuở nhân loại sơ khai, một “người rừng”, tôi nhớ mang máng Lý Văn Sâm viết như vậy, sống một mình trong một cái hang ở thượng nguồn sông Đồng Nai. Lâu lâu, anh ta tìm tới một bộ lạc nào đó, tấn công, rồi bắt về một người đàn bà làm vợ. Người đàn bà tìm cách trốn về với bộ lạc. “Cô nường” không chịu cảnh cô độc. Người rừng thì ở lại một mình. Hồi đó, tôi còn nhỏ, học lớp nhất, tôi không rõ Lý Văn Sâm muốn nói gì. Nhưng cái truyện ấy cứ ám ảnh tôi. Tại sao “người rừng” muốn ở một mình mà cô gái phải trốn về với bộ lạc của cô ta?”

– “Ở một mình với một con nhỏ là an tâm, không có thằng cha nào cậy thế, cậy “loon”, cậy tiền “cày rẽ” vợ mình cả. Có quyền, có tiền, “loon lá đầy mình” là có nhiều lòng tham, tham luôn cả vợ người ta, mười thằng như chục.” Lý nói.

– “Bọn cai trị rất thâm độc, bỏ người ta vô xà-lim, giam một mình, nó độc địa không khác chi tra khảo. Tra khảo tâm hồn. Nghĩ như anh chàng Hoan bị giam ngoài conex chẳng hạn. Suốt ngày suốt đêm ngồi trong cái conex tối om, ngày thì nóng như lửa, đêm thì lạnh như Bắc Cực, không điên cũng thành niên, đã điên lại điên thêm.” Tôi nói.

– “Thôi! Đừng ví dụ thằng Hoan vô đây, động chạm đó. Anh Hải nói về sự cô đơn của Hàn Mặc Tử đi.” Phan Hải nhắc tôi.

– “Một mình sống bên bờ biển, đêm ngày không một bóng người. Hàn Mặc Tử không gọi là cô đơn, mà gọi là cô liêu. “Một vũng cô liêu cũ vạn đời”. Hồi dạy bài thơ đó của Hàn Mặc Tử, tui phải chui vô “Thư Viện Đại Học Huế” tìm “Việt Nam Tự Điển” của Hội Khai Trí Tiến Đức với “Hán Việt Tự Điển” của Đào Duy Anh để tra chữ “cô đơn” với “cô liêu” khác nhau như thế nào?”

– “Vô Thư viện mà gọi là chui, làm như đi ăn trộm!” Chiểu đùa.

– “Bộ ông tưởng ăn trộm sách không mau giàu sao? “Một năm ăn trộm bằng ba năm làm” Khi thành lập “Thư Viện Viện Đại Học Huế”, Cha Luận phải xuất một triệu để mua lại bộ “Bulletin Des Amis Au Vieux Hué” đó. Có lẽ Mậu Thân bị ăn cắp mất rồi.”

– “Ai ăn cắp?” Chiếu hỏi.

-Sau Tết Mậu Thân, tôi lên thăm ông Vàng, ông nầy làm ở “Tòa Đại Biểu Chính Phủ”, cha ông ta vừa bị lính Mỹ bắn chết. Hồi tui chưa cưới vợ, tui thuê nhà của ông ở với hai đứa em. Nhà nầy chếch cổng sau Thư Viện Đại Học. Rõ ràng Nguyễn Hữu Châu Phan, thằng nầy hồi trước học lớp Đệ Nhất với tui. Nó đang “chỉ huy” ba bốn cái xe ba gác, lấy trộm sách từ trong thư viện đem đi. Chính hiệu nó là thằng ăn trộm sách.”

– “Thôi bỏ đi! Nói chuyện tiếp nghe chơi.”

– “Tra tự điển xong, theo tôi nhớ chữ “cô” là một mình, đơn cũng là một mình. Chữ “liêu” thì trong tự điển không có. Tôi xin gặp ngay ông Bửu Kế, “quản thủ thư viện”. Tui từng gặp ông một lần rồi. Khi giảng Kiều, gặp câu “Tiếng buông xé lụa lựa vào bốn giây”. Tui tìm trong “Tầm Nguyên Tự Điển” chính ông là tác giả, không thấy, tui hỏi trực tiếp ông. Ông giảng về tích Bao Tự. Ông có trí nhớ tốt lắm. Bây giờ tui lại vô hỏi ông. Tui hỏi chữ “liêu” thôi, mấy chữ kia dễ hiểu. “Liêu” là mênh mông, lặng lẽ, cô đơn. Chữ “liêu” không đứng một mình bao giờ. Ông ta giảng cho tui vậy đấy.”

– “Cái gì mà nghe ông nói toàn “tự điển” không. Đúng là “con một sách”. Dung nói.

– “Vô trại cải tạo, sách không có nên “mọt sách” cũng đói meo như mọi người.” Hiền nói đùa. Mọi người lại cười.

– “Mấy ông đừng chê mấy thằng cha mọt sách. Mao Trạch Đông chỉ tốt nghiệp trường sư phạm, cỡ giáo sư trung học là cùng, chưa từng du học ngoại quốc. Người mở mang trí óc cho Mao là bố của Dương Khai Tuệ, vợ đầu của Mao, – không kể bà vợ nhà quê cưới khi còn đi học -. Mao vào Thư Viện Bắc Kinh, đọc sách, chỗ nào không rõ thì hỏi ông quản thủ thư viện, ông giảng cho. Thấy Mao giỏi, ông gã con gái cho. Ông Ngô Đình Nhu cũng vậy!” Tôi nói.

– “Ông Nhu sao?” Chiểu hỏi.

– “Ông tốt nghiệp bên Tây, ở một trường “khảo cổ, khảo họng” cái École gì đó. Ông chú tôi nói “đưa ngón tay gõ vào một cái bát sứ, ông biết là sứ gì, Giang Tây làm vào đời nào, Càn Long hay Khang Hy!”

– “Chén bát thì liên quan gì tới “Chủ nghĩa Nhân vị”. Không lý đó là “Chủ Nghĩa Chén Bát”. “Chủ Nghĩa Đồ Cổ” mà xài gì được.” Lý nói.

– “Ông ta tự đọc sách. Học bên Tây về, Tây cho ông làm ở “Musée Khải Định”. Tui vô coi đó rồi, toàn súng gươm đời xưa không, có sách vở gì đâu. Chủ Nghĩa Nhân Vị của ông là theo sách vở ông ta đọc chớ không phải cái ông ta học. Chủ nghĩa của ông cũng chủ trương sống hợp quần.” Tôi nói.

– “Tui đồng ý với anh là con người sống hợp quần, nhưng họ cũng cảm thấy cô đơn vậy. Cô đơn trong tâm hồn.” Chiểu góp ý.

– “Dĩ nhiên. Có bao giờ cô Kiều không thấy mình cô đơn. “Ai tri âm đó mặn mà với ai?” – “Oan kia theo mãi với tình, Một mình mình biết một mình mình hay” Tôi nói.

– “Bọn mình sống ở đây không cô đơn sao?” Chiểu nói.

– “Lòng người đổi thay không nói trước được. Vợ chồng còn phản nhau huống chi bạn qua đường!” Lý nói.

Câu nói của Lý làm tôi nghĩ tới hoàn cảnh anh ta. Anh đi “học tập”, bỏ mấy đứa con lại không ai nuôi. Con anh còn nhỏ. Vợ anh thì lấy chồng Mỹ, bỏ nhà đi đã lâu.

Bỗng Chung lên tiếng: “Cha nầy nói tào lao! Mấy người tu thiền thì sao? Thiền là tu một mình, không lý “thiền tập thể” hay “thiền cộng đồng”?

– “Ông nói vậy thì tôi chịu. Tôi chưa từng thiền nên tui không biết như thế nào! Tui nói thiệt. Tín ngưỡng, tôn tôn giáo thường cực đoan, cuồng tín. Ngay cả thiền, nhiều người tu thiền mà nói ra nghe cuồng tín, không lọt lỗ tai được!”

– “Không phải đâu! Thiền là mở rộng tâm hồn mình với thế giới, với vũ trụ, với nhân loại. Cô đơn gì nữa!” Chiểu giải thích.

– “Cô đơn mà còn buồn là nguy lắm. Buồn là không vững tinh thần, là mau chết. Các ông nhớ Truyện Kiều không? Mười lăm năm lưu lạc, dù cô đơn, dù buồn khổ, dù đau đớn như thế nào, cô Kiều vẫn vững một niềm tin: “Dần dà rồi sẽ liệu về cố hương”. Cô Kiều chỉ tự tử ở sông Tiền Đường, khi biết mình bị gã cho thổ quan, làm vợ thằng mọi thì coi như tuyệt đường về.”

– “Thôi ông ơi! Tự dưng ông đem mười lăm của Kiều mà dọa anh em. Bộ cải tạo tới mười lăm năm hay sao?” Hiền trách cứ.

– “Biết đâu đấy” Chiểu nói. “Cộng Sản ai mà tin gì được. Thúc thủ như bọn mình thì cứ “Que sera sera” thôi. May ra còn sống tới ngày về.”

– “Chiểu nói đúng đấy! “Ai biết ra sao ngày sau!” Tôi nói.

– “Vậy là thằng Mỹ bỏ mình sao?” Chung thật thà hỏi.

Chiểu nói: “Thằng Mỹ bây giờ như Thúc Sinh. “Liệu mà cao chạy xa bay, Ái ân ta có ngần nầy mà thôi.” Thúc Sinh đang sợ Hoạn Thư Trung Cộng.”

– “Bây giờ là lúc mình hãy tự tin vào mình mà thôi. Mỹ hay “Cách mạng”, tin gì được. Mấy ông có nghĩ mình đang bị giết mà không cần tắm máu không?”

Nói xong, tôi đọc câu trong “Cung Oán Ngâm Khúc”:

                        “Giết nhau chẳng cái Lưu Cầu, (4)

                        Giết nhau bằng cái ưu sầu độc chưa?!”

hoànglonghải

 (1)-Quân Tào Tháo mười bảy vạn mỗi ngày ăn lương tốn lắm. Các quận lại mất mùa, chuyển vận không kịp. Tháo thúc quân đánh mau. Lũ Lý Phong cứ đóng chặt cửa thành không ra. Quân Tháo đánh thành hơn một tháng, lương ăn gần hết. Tháo đưa thư sang vay Tôn Sách được mười vạn hộc lương. Quan coi lương là Vương Cấu (có sách viết là Hậu) thấy ít quá không đủ phát cho quân, vào bẩm với Tháo, hỏi xem nên làm thế nào?

Tháo nói:

– “Ðem hộc nhỏ mà phát cho chúng nó, tạm cấp cứu lấy một lúc.”

Vương Cấu lại hỏi:

– “Thế ngộ quân sĩ kêu ca thì nói thế nào?”

Tháo nói:

– “Ta đã có cách.”

Vương Cấu vâng lệnh, lấy hộc nhỏ đong lương phát cho quân.

Tháo cho người đi dò các trại, chỗ nào cũng thấy quân ta thán rằng: “Thừa tướng đánh lừa quân”. Tháo thấy vậy, cho người ra đòi Vương Cấu vào bảo rằng:

– “Nay ta muốn mượn ngươi một cái, để dẹp yên lòng quân, ngươi đừng nên tiếc.”

Vương Cấu hỏi:

– “Thừa tướng muốn dùng cái gì?”

Tháo nói:

– “Ta muốn mượn cái đầu ngươi.”

Vương Cấu thất kinh, kêu oan, Tháo lại nói:

– “Ta cũng biết ngươi không có tội, nhưng không giết ngươi thì lòng quân sinh biến, ngươi hãy an tâm mà chết đi, sau khi ngươi chết, vợ con ngươi ta nuôi cho, ngươi đừng lo.

(2)-Anh Lê Dần bày ra một trò chơi khá vui. Anh phân phát cho những người chung quanh mỗi người một tờ giấy trắng. Người nhận viết một câu gì đó, xếp làm 4, đưa cho anh. Anh đưa tờ giấy lên tai, đọc câu viết trong đó bằng tai, xong đọc to lên. Mười câu, câu nào cũng đúng. Vậy là đọc bằng tai. Ai muốn biết đọc bằng cách nào, xin hỏi tác giả viết bài nầy.

(3)- “Nếu là chim, tôi sẽ là loài bồ câu trắng
Nếu là hoa, tôi sẽ là một đóa hướng dương
Nếu là mây, tôi sẽ là một vầng mây ấm
Nếu là người, tôi sẽ chết cho quê hương …

Thơ của Mai Tuyết An(?). Nhạc sĩ Trương Quốc Khánh, người phổ nhạc bài thơ trên đã qua đời./

(4) Lưu Cầu: tên một hòn đảo thuộc quần đảo Ryukyu, Nhật Bản. Nơi sản xuất gươm, dao rất bén. Các sĩ quan trong Quân Đội Thiên Hoàng thường mang theo bên mình hai thanh kiếm Lưu Cầu, một kiếm dài để chiến đấu, một kiếm ngắn để hara-kiri, bảo toàn danh dự!

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút

vietmessenger.com

Hoàng Hải Thủy

Post by Sơn râu 27 Sep 2025

Phần 9.

Tôi hổ thẹn khi phải vác mặt mo đến dự cái gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị Văn Nghệ Sĩ Sài Gòn. Có hôm xớ rớ trong hành lang Nhà Hát Lớn, thấy Lệ Thu đi đến, tôi không dám để nàng nhìn thấy mặt. Lẽ ra tôi phải hỏi thăm Lệ Thu về Hồng Dương, bạn tôi đang ở trong tù: “Ở đâu có biết không? Sức khỏe ra sao? Gửi đồ tiếp tế thế nào? Có tin gì gửi ra không? Có được gặp mặt không? v.v…” Nhưng thay vì hỏi Lệ Thu những câu ấy, tôi xấu hổ nên quay mặt đi hướng khác.

Ngày bế mạc khóa học được tổ chức ở Nhà Hát Lớn, tôi là người được anh chị em Tổ Thi Văn bầu làm đại diện Tổ, sẽ lên nói cảm tưởng sau khóa học. Nhưng đến phút cuối cùng những người tổ chức không cho tôi lên nói, tôi bị bất ngờ và tôi cũng sợ nên tôi ngồi im. Nếu tôi không ngán sợ lúc ấy lẽ ra tôi phải đứng lên phản đối: “Tôi là đại diện Tổ. Sao không cho tôi lên nói mà lại để người khác nói..?” Lẽ ra tôi phải làm như thế rồi bỏ ra về.

Tan hàng lúc 5 giờ chiều. Tôi u uất đến độ không muốn đạp xe về căn nhà tối của vợ chồng tôi ở Cư xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, tôi đến nhà ông anh kết ngãi với tôi ở đường Ký Con để nói với ông vài câu, uống chạc của ông mấy ly rượu cho bớt sầu đời. Thấy tôi vào, ông hỏi tôi:

– Làm cái gì mà mặt mũi cậu trông ghê như mặt tù cải tạo vậy?

Tôi rầu rĩ trả lời:

– Hôm nay tôi đi xem một số người tự bốc phân vứt lên mặt họ. Tôi không làm việc ấy nhưng vì tôi ngồi cạnh họ nên phân văng cả sang mặt tôi.

Hai anh An Khê Nguyễn Bính Thinh, tác giả tiểu thuyết Hai Chuyến Xe Bông, Nguyễn Ngọc Tú Ngọc Thứ Lang, dịch giả Bố Già The Godfather, Quần đảo ngục tù The Gulag Archipelago, cùng dự Khóa Bồi Dưỡng với tôi đã qua đời. Anh An Khê mất ở Pháp, Ngọc Thứ Lang chết ở trong trại cải tạo Phú Khánh, Nguyễn Đình Toàn Áo Mơ Phai, Cao Nguyên Lang hiện lúc này – năm 1995 – đang sống trong Làng Báo chí An Phú. Rất nhiều bạn đồng khóa với tôi hiện sống ở Hoa Kỳ: Lệ Thu, Ngọc Minh, Băng Châu, Ngọc Chánh v.v…

Nhân vật Đảng Ủy quan trọng nhất phát biểu kết thúc Ngày bế mạc Khóa Bồi Dưỡng là “Đồng chí Thành Quỷ” Tư Tân – người Sàigòn gọi “Thành Ủy” là Thành Quỷ – “Đồng chí Thành Quỷ” Tư Tân tức Trần Trọng Tân, người năm 1994 giữ chức vụ chính trị lãnh đạo cao nhất, nhì, ba ở Thành Hồ. Trần Trọng Đăng Đàn là em Tư Tân, viết quyển “Kết án văn nghệ đồi trụy, phản động Sàigòn”. Quyển này kê khai đầy đủ tên cúng cơm, tên tác phẩm của những người viết Sàigòn bị cấm đoán. Năm 1976 rất nhiều người đến Nhà hát Thành Phố dự lễ Bế mạc Khóa học Bồi dưỡng Chính trị còn khá trẻ. “Đồng chí” Tư Tân năm ấy cũng chưa già. Năm 1994, đọc trong quyển Hoa Xuyên Tuyết của Bùi Tín tôi thấy mấy dòng:

– “… Người dân Quảng Bình, ai còn lạ gì những việc làm của anh em ông Trần Trọng Tân trong thời quân Nhật làm chủ Quảng Bình…”

Không rõ ràng lắm nhưng người đọc dù có kém thông minh cũng có thể hiểu: “Đại tá” Bùi Tín tố cáo “Đồng chí Thành ủy Trần Trọng Tân và người em trai làm mật thám, làm tay sai, làm chó săn cho Nhật.

Kể từ khi đọc những dòng ấy về anh em “Đồng chí thành quỷ” Trần Trọng Tân mỗi lần nhìn thấy bộ mặt nghiêm trọng của “đồng chí Thành Quỷ” trên Tivi tôi lại cứ tủm tỉm, lỉm rỉm cười một mình.

Trích” Những tên biệt kích cầm bút”.  Trang 10 đến trang 20

Khi chủ nhà xin lỗi vào bên trong, còn lại một mình ở sa- lông, Hoàng Hải nhồi thuốc vào ống vố, đánh diêm rít một hơi dài. Lâu lắm anh ta mới mua được loại thuốc “Half and Half” quen thuộc ấy. Anh ta đưa bịch thuốc bọc giấy thiếc lên mũi ngửi. Mùi thơm phảng phất dịu ngọt. Ngày xưa những người bạn Mỹ trong cơ quan USIS biết anh ta nghiền loại thuốc này, nên vẫn mua ở PX để biếu hàng lố.

Bà chủ nhà bưng ly trà ra vồn vã:

– Mời ông xơi nước. Tôi nghe tên ông đã lâu, nay mới biết mặt. Thật là “văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình”.

Bà ta cố tình làm ra có vẻ suy nghĩ để tìm câu chữ cho phù hợp trước khi nói ra câu chữ Hán ấy.

– Vâng xin cảm ơn bà – Hoàng Hải lấy vẻ lịch thiệp nói – Trước đây chúng tôi và cô Kiều Trang vốn là chỗ quen biết. Vả lại một minh tinh màn bạc như Kiều Trang thì cả nước đều biết tiếng. Thưa bà, lâu nay Kiều Trang có gửi thư, quà về không nhỉ? À, xin lỗi… Bà là thế nào với Kiều Trang.

– Tôi là chị. Cô ấy vẫn gửi thư, nhưng quà thì thỉnh thoảng thôi.

– Thảo nào, trông bà giống Kiều Trang quá!

Biết là khách khen nịnh nhưng bà vẫn cố tình vuốt mấy sợi tóc vương trên trán làm như không chú ý đến những lời khách vừa nói. Hoàng Hải cũng tự thấy mình khen quá đáng. Người đàn bà ngồi trước mặt anh tuổi đã ngoài bốn mươi, đôi má bắt đầu chẩy sệ xuống. Không có một chút gì giống tấm ảnh Kiều Trang treo trên tường với cái cổ tròn lẳn hấp dẫn, cái liếc mắt rất tình.

Thấy khách ngồi im, bà chủ nhà gợi chuyện:

– Mời ông xơi nước. Lâu nay ông có sáng tác gì không ạ?

Hoàng Hải nhấp ngụm trà nóng, lắc đầu:

– Thú thật với bà, tôi đã treo bút. Viết cái gì bây giờ? Hơn nữa, viết để làm gì? Chẳng lẽ mình lại là độc giả duy nhất của chính mình.

– Tiếc thật, không riêng gì ông, nhiều người khác cũng thế. Thật phí những tài năng….

Hoàng Hải khẽ nhún vai:

– Tôi có đến sớm quá không, thưa bà? Hôm qua tôi được anh Khuất Duy nhắn đến đây để gặp anh em. Lâu quá chưa có dịp gặp anh em làng văn, làng báo cũ, kể cũng nhớ. Chẳng hay vị nào có sáng kiến tổ chức cuộc gặp mặt này, thưa bà?

Bà chủ nhà chưa kịp trả lời thì có thêm mấy người khách nữa đến, Hoàng Hải nhận ra các nhà văn Đoàn Quốc, Dương Hùng. Thật ra, thỉnh thoảng họ vẫn uống cà phê với nhau, nhưng lâu nay chưa có cuộc họp mặt nào nhiều người. Hơn thế, họ chắc nội dung cuộc gặp gỡ này khác hẳn với những lần bàn chuyện phiếm ở các quán cà phê. Do vậy, họ siết chặt tay nhau, ôm choàng lấy nhau như nhiều năm chưa gặp.

Khi Dương Hùng lấy ra chai rượu để lên bàn. Hoàng Hải đón lấy, mở nút chai đưa lên mũi ngửi, làm bộ nhăn mặt:

– Johnny Walker hay Beehive đây ông bạn? Ông vẫn nghiện Johnny Walker đấy chứ?

– Thôi mà chế nhau làm gì ông bạn già – Dương Hùng vỗ vai Hoàng Hải – “Cây Lý” đấy “gặp thời thế, thế thời phải thế”! Thời buổi này phải trở về nguồn thôi! Xem ra, ông chưa chịu “cải tạo” chút nào cả – Dương Hùng cười ha hả. Hoàng Hải cười theo và rút túi đặt gói thuốc “Half and Half” lên bàn, gõ gõ ống vố để trút tàn thuốc vào cái gạt tàn bằng sành, chậm rãi nhồi một cối thuốc khác.

Dương Hùng liếc thấy hiệu thuốc kêu lên:

– Tôi nói có sai đâu. Cậu vẫn ghiền “đế quốc” mà. Còn phải đưa đi cải tạo mút mùa.

Hoàng Hải cắn đầu ống vố nơi mép, nhếch môi cười khì. Đoàn Quốc nãy giờ vẫn ngồi im, lúc này mới lên tiếng:

– Xin hai ông. Tôi nghĩ họ không đưa chúng ta đi cải tạo vì cái món thuốc hay rượu đâu.

Mọi người hướng về phía ông ta. Kể ra trong làng văn trước đây, ông ta được xem là người thuộc “chiếu trên” vì ngoài nghề viết lách, ông ta còn dậy ở Đại học. Ông ta lại là người còn giữ “nho phong” luôn luôn đạo mạo, không ăn hút vung vít như những người khác trong “làng”

Nét mặt Đoàn Quốc có vẻ nghiêm nghị hơn:

– Một khi kiếm sĩ mà bị tước kiếm thì có khác gì người cầm bút bị người ta tước mất bút. Hắn đâu còn là hắn nữa thì cần gì phải cải tạo. Các ông thử nghĩ xem có đúng không?

Cả bọn như bị điểm huyệt, ngồi chết lặng cho đến khi bà chủ nhà lên tiếng:

– Chắc còn một số vị nữa chưa tới kịp. Nhà chúng tôi kể cũng khó tìm, nhất là đêm hôm tăm tối. Xin quý vị cảm phiền và cứ tự nhiên như nhà của mình. Bà ta nói xong lui ra nhà sau.

Nghe chủ nhà nói, Hoàng Hải bấm đùi Dương Hùng nói nhỏ:

– Này, ông biết ai mời bọn mình tới đây không?

– Chịu, tôi nghe Khuất Duy nhắn, còn ông?

– Tôi cũng thế. Hôm qua uống cà phê ở đường Phủ Kiệt cũng nghe là Khuất Duy cho địa chỉ, bảo đến đây.

Người này hỏi người kia, cuối cùng dường như không ai biết người xướng ra cuộc họp này. Thôi thì ráng chờ chút nữa hẵng hay.

Bỗng có tiếng xe đậu ở trước nhà. Mọi người đều dồn mắt nhìn ra. Không ai khác mà chính là Khuất Duy. Bước vào nhà, anh ta rối rít bắt tay từng người.

Chủ nhà dọn món nhậu lên. Khuất Duy rút từ túi xách của mình ra một chai Camus còn nguyên trong hộp rót vào những cốc nhỏ rồi cho vào những ly sô đa đầy đá.

Anh ta mời mọi người nâng cốc và tuyên bố:

– Hẳn là quý vị muốn biết là tại sao có cuộc họp mặt hôm nay. Tôi xin được phép trình bày ngay. Thật ra, cá nhân chúng tôi không dám nghĩ đến cuộc gặp gỡ này, câu chuyện còn dài, xin mời quý vị hãy cạn chén, chúng tôi sẽ thưa sau.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 27 Sep 2025

63. Phan Lạc Tiếp.

Quê Nhà 40 Năm Trở Lại của Phan Lạc Tiếp dày 279 trang, do nhà xuất bản Mõ Làng Văn ấn hành, đã được tái bản chỉ sau khi phát hành một thời gian ngắn. Người ta đọc cuốn sách để cùng ngậm ngùi cho đất nước và cho số phận của từng con người, trong đó có mình. Kể từ cuộc chia cắt đất nước năm 1954 đến biến cố 1975, đối với phần lớn người Việt Nam, không phải chỉ con người không thể nào ở yên một chỗ mà ngay cả mặt đất hình như cũng chao đảo, biến đổi.

Đúng như vậy. Đã có những năm tháng, mặt đất dưới chân chúng ta tưởng chừng không lúc nào không rung lên vì bom đạn. Núi non bị phá hủy, sông nước bị ngăn chặn, hào lũy bị đào bới khắp mọi nơi, không thể nói là mặt đất không thay đổi. Ấy là trên thực tế. Trong tâm tưởng của con người, cái quê hương mấy lần bỏ chạy không thể không biến dạng, phai mờ.

Tai ương nhiều đến nỗi, ngay cả lòng tư hương người ta cũng không dám nuôi nữa mà nó chỉ còn tồn tại như một tình cảm tự nhiên.

Hà Nội rồi Sài Gòn, rồi từ Sài Gòn đến những nơi chân trời góc biển này, có một khoảng cách là 50 năm. Có người đã nuôi lòng tư hương của mình trong đủ ngần ấy năm. Có người ít hơn. Có kẻ chỉ được san lòng thương nhớ chứ chẳng biết quê hương là gì. Vâng, phải nói người ta không dám nuôi chứ không phải không muốn nuôi lòng tư hương.

Vì người ta sợ, quá sợ sự bất trắc, quá sợ sự thất vọng. Nhưng cái mờ nhạt của lòng nhớ quê cũng từa tựa như những đám khói hương, tự nó đã chứa chất biết bao điều không thể giải thích hết, nó liên quan đến cả người sống lẫn người chết, quá khứ lẫn hiện tại.

Với cái tâm trạng chung ấy, cuốn Quê Nhà 40 Năm Trở Lại của Phan Lạc Tiếp được nhiều người đọc là một điều dễ hiểu. Người ta theo bước chân ông để được nhìn lại, gặp lại, những cảnh đời cũ, người cũ, người ta đã bỏ lại sau lưng bốn, năm mươi năm, nghĩa là khoảng thời gian gần bằng một đời người. Dĩ nhiên đây chỉ là những chuyện, những người, những cảnh chỉ thân thuộc với tác giả, nhưng có thể nói nó rất gần gũi với những kỷ niệm của mọi người.

Có thể lấy thư của một độc giả, cụ Bảo Vân, gửi cho Phan Lạc Tiếp, sau khi đọc cuốn sách làm thí dụ. Cụ Bảo Vân viết:

“Tôi và nhà tôi cũng đã từng về quê thăm mồ mả, tổ tiên, đã gặp lại hhững người thân thuộc, đã tới Văn Miếu, Ngọc Sơn, đền Đồng Nhân … đã nếm nhiều món ăn Hà Nội, đã cố tìm lại cảnh sắc và kỷ niệm của 40 năm về trước, chẳng khác gì những ngày trở lại của Phan quân!

Có điều tôi chưa kịp kể lại tỉ mỉ cho con cháu nghe khi chúng luôn luôn hỏi tôi: ‘Về quê thấy những gì? Cảm giác ra sao? Tâm tình người ở lại thế nào?’, thì may sao lại nhận được cuốn “Quê Cũ 40 Năm Trở Lại”. Thế là chẳng kịp xin phép tác giả, tôi cứ nguyên văn lai cảo, đưa tập hồi ký rất duyên dáng và xúc tích này cho mọi người đọc và nói thêm rằng: ‘Đấy! Cứ đọc trong sách này là có thể hiểu hiện tình ở quê ta. Nhà văn Phan Lạc Tiếp đã thay mặt nhiều người trở về quê cũ mà tả lại rất đúng, nói rất rõ, những điều mắt thấy, tai nghe cũng như nỗi bồi hồi, xúc động từ khi đặt chân xuống phi trường’.

Giáo sư Phạm Cao Dương cho rằng tác giả “có biệt tài về ký sự hay nửa ký sự nửa truyện”. Nhà thơ Nguyên Sa viết:

“Từ Việt Nam về, Phan Lạc Tiếp mang theo cho chúng ta thật nhiều quà. Món nào cầm lên, nhìn ngắm cũng rơi nước mắt”.

Giáo sư Nguyễn Đình Hòa bầy tỏ cảm tình trong một bức thư:

“Tác giả, mặc dầu tỏ ra khiêm nhượng, đã cống hiến rất nhiều qua kinh nghiệm của ông về văn học nghệ thuật, về cuộc đời trong và ngoài quân ngũ, về các trại tị nạn miền Đông Nam Á và nếp sống lưu vong. Tác giả, ông Phan Lạc Tiếp đã viết một cách dễ dàng và tinh tế về miền thôn dã quê

hương ông …

Độc giả không thể nào không cảm thấy tinh thần độ lượng của tác giả khi tiếp cận vấn đề và sự liêm khiết đạo đức tiềm ẩn nơi ông. Tất cả đều được ghi lại bằng văn phong đặc biệt: rõ ràng, trong sáng và vô cùng đẹp đẽ”.

Như thế, có thể nói Quê Nhà 40 Năm Trở Lại là một tác phẩm thành công của Phan Lạc Tiếp. Ông đã dùng một bút pháp giản dị, ít hoa mỹ, lấy lòng mình mà tiếp cận sự việc, đối đãi với người và kể lại chuyện. Chính sự chân thành của ông làm xúc động người đọc.

Xin trích dẫn sau đây ít dòng ở trang 263 của cuốn Quê Nhà 40 Năm Trở Lại:

“Chúng tôi trở lại trung tâm Hà Nội, ngồi bên Hồ Gươm, trong nhà Thủy Tạ. Mọi người nghỉ mệt. Lòng tôi ngao ngán, và mệt mỏi lạ lùng. Tôi nhìn ra mặt hồ, nước vẫn xanh ngắt, lớp lớp sóng xô, gió thổi trùng trùng. Mọi người ăn trưa, nâng ly rượu lên môi. Tôi cũng nâng ly rượu lên môi. Ly lạnh, bọt rượu chảy ra ngoài ly ngoằn ngoèo như hàng lệ chảy. Tôi cúi xuống, lòng tôi chùng và bỗng nhớ đến câu thơ của một người bạn, Tô Thùy Yên, sau cuộc chiến, nằm trong rừng sâu của ‘trại cải tạo’, đã viết:

Nước mắt ta tuôn khi nghĩ đến

Những người đã chết, chết như rơm

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 27 Sep 2025

62. Phan Lạc Phúc.

Nếu có một cuốn sách nào, nói chuyện đất nước, chạm đến da thịt của nhiều người, nếu không muốn nói là tất cả mọi người miền nam Việt Nam, kể từ 1975, có lẽ là cuốn Bè Bạn Gần Xa của Phan Lạc Phúc.

Đây là một cuốn sách lạ. Có thể nói, hình như tác giả không có ý định làm văn chương, viết sử, ca ngợi hay kết tội ai. Nhưng Phan Lạc Phúc đã làm đủ ngần ấy thứ trong cùng một lúc, và, bằng việc kể chuyện ở tù. Thôi thì cứ gọi thẳng là ở tù để tránh khỏi phải giải thích vì sao người ta gọi là các trại cải tạo.

Chuyện trong tù có những gì?

Chuyện cai tù, chuyện những người tù với nhau, chuyện lao động, thương nhớ vợ con, bạn bè xa cách, chuyện đói rét, bệnh tật, kẻ sống, người chết.

Tách riêng ra từng chuyện thì đó là những chuyện nhỏ thôi. Nhưng với cái thân hình còm cõi của mỗi người tù, dường như không ai kham nổi một chuyện nào cả. Thế nhưng không kham nổi thì phải làm sao đây? Và

làm sao có thể tách việc này ra khỏi việc khác, chẳng hạn như đói quá thì khỏi thương nhớ vợ con? Người ta có thể đi ỉa ra máu, sốt rét, lao phổi, gẫy chân, vẫn phải lao động, và lao động trong khi dạ dày rỗng không. Không phải người ta đói một ngày, hai ngày, một tháng, hai tháng, mà cái đói kéo dài năm, mười năm liên tiếp. Trong khi ấy, trách nhiệm về chuyện cả một quốc gia sụp đổ, đè lên vai mỗi người, nặng nhẹ tùy theo ý thức của từng cá nhân, trở thành nỗi ám ảnh không nguôi. Thời gian xẩy ra mỗi chuyện, được kể một cách rõ ràng, khác nhau, nhưng đều mờ mờ như nhìn qua một màn nước mắt.

Tất nhiên, rất nhiều chuyện buồn thảm. Nhưng cũng có những chuyện để người này nhìn người khác thấy mình đỡ thấp. Chẳng hạn như chuyện về Đại Úy Nguyễn Hữu Luyện hay Thượng Tọa Thanh Long.

Về Thượng Tọa Thanh Long, Phan Lạc Phúc viết:

“Có thể nói trơng những năm đi tù, người tôi kính trọng nhất là ông Thượng Tọa này. Ông như một ông già nhà quê, không bao giờ nói một lời ‘đạo đức’, cứ từ từ, cười cười, ‘đừng có lo, ‘rồi đâu có đó’, mà ở gần ông mình thấy vững ra nhiều”.

Chuyện giữa những người cai tù và các người tù cũng lạ lắm. Nó cho người đọc cảm tưởng, đời sống dù khốn khổ, xấu xa đến chừng nào chăng nữa, vẫn có những người những cử chỉ, khiến người ta có thể vực dậy tinh thần mà sống tiếp được.

Ai đã ở tù Cộng Sản rồi, nghe nói đến các cán bộ cai tù chắc phải nổi mề đay vì ớn hết. Thế nhưng Phan Lạc Phúc đã viết về Trung Tá Công An Việt Cộng Trần Việt như sau:

“Tôi ước mong cho một ngày trời đất phong quang, chúng ta được trở về đất nước Việt Nam yêu dấu, muốn đi đâu thì đi. Tôi sẽ đi tới những trại tù năm cũ, thăm lại người xưa, thăm lại các bạn tù chúng ta còn nằm lại. Tôi sẽ tới trại Yên Hạ, tới quận Phú Yên, hỏi xem ông cụ Việt trại trưởng năm xưa còn sống hay không? Nếu được gặp ông cụ, tôi sẽ nắm lấy tay mà nói: Tôi là cựu tù nhân Yên Hạ đây, cụ còn nhớ tôi không?”.

Rõ ràng, giữa người tù và người cai tù, thường là những hung thần, đã nẩy sinh một thứ tình người hiếm hoi chỉ có thể có giữa những người tử tế đối với nhau. Tác giả Phan Lạc Phúc, trước 75, là chủ bút nhật báo Tiền Tuyến, cơ quan ngôn luận chính thức của QLVNCH. Ông nổi tiếng với những bài Tạp Ghi đăng trên tờ báo này hàng ngày.

Như tên gọi của nó, mục Tạp Ghi nói tới đủ mọi thứ chuyện văn nghệ, chính trị, thời sự, chuyện trong nhà, ngoài phố. Từ ngày ra khỏi nước, sau khi ở trại cải tạo về, sống tại Úc, Phan Lạc Phúc tiếp tục công việc tạp ghi này. Bè Bạn Gần Xa gồm một số những bài Tạp Ghi ấy. Cuốn sách đã được đọc khá nhiều, và nói chung, được người đọc yêu mến. Người ta đọc cuốn sách để thấy lại một quãng đời mình đã trải qua. Người ta cũng đọc cuốn sách để biết những người thân của mình, đã trải qua những ngày gọi là cải tạo như thế nào. Bằng cách viết của mình, Phan Lạc Phúc cũng cho người đọc cảm tưởng, đây là bài kinh giải oan cho những tháng năm đã mất.

Một hình thức tự xá tội và xá tội cho người khác.

Banco Papillon – Giang Hồ Tung Cánh

vietmessenger.com

Henri Charrière

Dịch giả: Đinh Bá Kha

ĐỜI MỚI xuất bản 1974

Post by Sơn râu 26 Sep 2025

Google image edited by Sơn râu

5. Caracas

CUỘC hành trình rất nhọc, nhất là đối với Picolino. Khoảng một ngàn cây số, hai mươi giờ đường trường cộng với trạm nghỉ. Chúng tôi ghé lại Ciudad Bolivar vài giờ rồi sau khi qua sông Orénoque tráng lệ trên một chiếc phà, chiếc cam nhông chạy như điên, may mà lão tài xế là người bản xứ mạnh như văm.

Cuối cùng trưa ngày hôm sau, chúng tôi đến Caracas. Đã 4 giờ chiều. Ngay trong một lúc, tôi bắt gặp đô thị rộng lớn này. Cảnh náo nhiệt người qua kẻ lại thu hút tôi không chỗ chê.Năm 1929: Ba Lê. Năm 1946: Caracas. Mười bảy năm đã trôi qua, tôi không hề thấy một đô thị lớn. Đành rằng có các thành phố Trinidad, Georgetown, nhưng tại hai thành phố này tôi chỉ ở có vài tháng.

Caracas rất đẹp, rất kiêu sa với những ngôi nhà một tầng, chung quanh có dãy núi Avila, nằm sóng sượt trong thung lũng. Tọa lạc trên độ cao chín trăm thước, Caracas hưởng một mùa xuân bất tận, không quá nóng cũng không quá lạnh.

“Tôi tin tưởng nơi anh, Papillon”, bác sĩ Bougrat lặp lại bên tai tôi, như thể ông ta chứng kiến giây phút chúng tôi bước vào đô thị rộng lớn và đông đúc này.

Đâu đâu cũng thấy dân chúng đủ màu da, không một chút kỳ thị chủng tộc, từ màu trắng đến màu đen. Tất cả mọi người, từ người da đen đến người da màu gạch hoặc màu trắng tinh thuần nhất, cả khối dân đủ màu sắc ấy sống trong cảnh vui tươi vô cùng ngoạn mục đối với con mắt của người mới đến.

Nắm tay Picolino, tôi đi vào trung tâm thành phố. Charlot đã cho tôi địa chỉ một bạn cựu phạm hiện là chủ nhân một nhà trọ lấy tên Maracaibo.

Vâng, mười bảy năm đã trôi qua, một cuộc chiến tranh đã sát hại hàng trăm ngàn người cùng lứa tuổi tôi thuộc nhiều quốc gia trong đó có nước Pháp quê hương của tôi. Từ năm 1940 đến 1945, họ cũng bị bắt giam, bị chết hoặc bị thương, tàn phế suốt đời. Papillon, bây giờ mày ở đây, trong một đô thị lớn! Bây giờ mày 37 tuổi, mày trẻ, mày khỏe, mày hãy nhìn quanh mày những con người mà đa số đã ăn mặc rất khiêm nhường: họ đang cười toe toét. Tiếng hát không những vang lên trong không khí phát ra từ các đĩa nhạc thời trang, mà còn rộn rã trong lòng tất cả mọi người. Hầu hết mọi người thì đúng hơn bởi vì dĩ nhiên ta thấy ngay một số không mang xiềng xích, nhưng tệ hơn, họ chịu cảnh cùng khổ và không biết làm cách nào tự vệ trong cảnh tranh sống của đô thị lớn.

Một đô thị quả là đẹp mắt! Thế mà mới bốn giờ chiều. Đến đêm mới ra sao nữa với hàng triệu ngọn đèn điện như những vì tinh tú? Chúng tôi chỉ mới ở vào một khu bình dân không sang trọng chút nào. Tôi xài lớn:

– Ê, tắc xi.

Ngồi bên tôi, Picolino cười như một đứa trẻ thơ, miệng sùi bọt mép. Tôi lau môi cho nó, nó cảm ơn tôi bằng ánh mắt sáng lên và run lên vì xúc động. Đối với nó, ở được thành phố một đô thành lớn như Caracas, trước hết là niềm hy vọng tìm được bệnh viện và giáo sư đủ tài biến thân tàn ma dại của nó thành một con người bình thường. Hy vọng quả thật mầu nhiệm. Nó cầm tay tôi trong tay nó khi chúng tôi lướt qua hết đường phố này đến đường phố khác, quanh chúng tôi toàn người là người, nhiều đến đỗi che kín các hè phố. Lại còn xe cộ, tiếng còi, tiếng rú của xe cứu thương, của xe chữa lửa, tiếng rao của bọn bán hàng rong, bọn bán báo buổi chiều, tiếng thắng rít lên của một xe vận tải, tiếng kiềng xe điện, tiếng chuông xe đạp, tất cả tiếng động, tiếng kêu inh tai nhức óc, chúng tôi choáng váng, những tiếng ồn làm điên đầu người khác, đối với chúng tôi có một tác dụng ngược hẳn, là đã thức tỉnh chúng tôi và cho chúng tôi hiểu rằng chúng tôi đã được ghép chặt vào nhịp độ quay cuồng của đời sống máy móc hiện đại, nên thay vì bực bội, chúng tôi cảm thấy vô cùng sung sướng.

Không có gì lạ nếu tiếng ồn đã làm chúng tôi xúc động. Từ bao nhiêu năm chúng tôi sống trong im lặng! Từ 17 năm, tôi chỉ biết sự im lặng, im lặng trong nhà giam, trong ngục thất, trong nhà cấm cố, im lặng của rừng sâu và của biển cả, im lặng của những thôn vắng có những người đang sống yên vui.

Tôi nói với Picolino:

– Chúng ta bước vào hành lang của Ba Lê, Caracas là một đô thị chính cống. Ở đây người ta sẽ chữa trị cho mày, còn tao, tao sẽ tìm con đường để thực hiện vận mạng của tao, mày tin như vậy đi.

Nó siết chặt tay tôi, một giọt lệ rơi từ khóe mắt. Bàn tay nó nồng ấm tình thân ái nên tôi giữ lại để tận hưởng cảm giác kỳ diệu, và vì cánh tay mặt của Picolino bị tê liệt, nên chính tôi đã lau giọt nước mắt cho người bạn được tôi đùm bọc.

Chúng tôi đến ở tại nhà trọ của anh cựu phạm Emile S. Anh ta không có ở nhà, nhưng vợ anh, một phụ nữ Venezuela, khi được biết chúng tôi từ Callao đến, biết ngay chúng tôi là ai và vội vàng để cho chúng tôi một phòng có hai giường và mời chúng tôi dùng cà phê.

Tôi đặt Picolino nằm sau khi đã giúp nó tắm. Nó mệt và rất xúc động. Khi tôi ra đi, nó ra hiệu lung tung. Tôi biết nó định nói: “Anh trở lại, nhá! Đừng bỏ tôi một mình ở đây nhá!”

– Không đâu, Picolino. Tao chỉ ở ngoài phố vài giờ rồi về ngay.

Bây giờ tôi ở trong lòng đô thành Caracas. Đã 7 giờ tối khi tôi đến công trường Simon Bolivar, công trường lớn nhất thành phố. Ánh sáng rực rỡ khắp nơi, muôn ngàn muôn sắc. Tôi mê nhất các biển quảng cáo đèn màu ngoằn ngoèo như những con rắn bằng lửa khi ẩn khi hiện giống trong một vũ khúc dưới quyền điều khiển của một tay phù thủy.

Công trường rất đẹp. Ở giữa là tượng đồng cao lớn của Simon Bolivar cưỡi ngựa đồ sộ. Tác phong hùng dũng được diễn tả với nhiều nét cao quí của tâm hồn người anh hùng dân tộc. Tôi ngắm dưới mọi góc cạnh vị hào kiệt giải phóng Châu Mỹ La Tinh rồi tôi buột miệng chào nho nhỏ để mọi người khỏi nghe: “Kính chào Ngài! Được đứng dưới chân Ngài, con người của Tự Do, quả là một phép màu, tôi chỉ là một thằng khốn nạn luôn luôn tranh đấu cho Tự Do mà Ngài là hiện thân!”.

Tôi trở về nhà trọ, cách công trường bốn trăm thước, hai lần mới gặp Emile S. Nó nói Charlot đã viết thư tin cho nó biết chúng tôi sẽ đến. Chúng tôi rủ nhau đi uống để nói chuyện tiện hơn.

Emile kể cho tôi nghe: “Tôi ở đây đã 10 năm rồi. Tôi đã lập gia đình, có một đứa con gái, vợ tôi là chủ nhà trọ này. Vì vậy, các anh ở đây phải trả tiền nhưng chỉ trả nửa giá thôi (Tình tương thân kỳ diệu giữa bọn cựu phạm khi một đứa gặp khó khăn). Nó tiếp: “Thằng đi với anh đó, phải là một người bạn lâu năm không?”.

– Anh đã thấy nó rồi sao?

– Chưa, nhưng vợ tôi nói. Nhà tôi nói nó là một thứ thân tàn ma dại? Nó bị mất trí phải không?

– Trái lại, và đó mới là bi đát. Nó hoàn toàn minh mẫn, nhưng miệng, lưỡi và hông bên phải xuống đến mông của nó bị tê liệt. Tôi biết nó trong tình trạng ấy ở El Dorado. Không ai biết căn cước của nó, là một tên bị tù hay bị cấm cố.

– Anh không biết gì nó mà lại mang nó theo. Ngay việc nó có phải là một người tốt, một người lương thiện hay không, anh cũng không biết. Ngoài ra còn là một gánh nặng cho anh.

– Tôi nhận thấy như vậy từ tám tháng nay tôi lo cho nó. Ở Callao tôi kiếm được mấy thiếu nữ săn sóc nó. Dù sao cũng tội nghiệp.

– Anh định thế nào?

– Nếu có thể thì đưa nó vào bệnh viện. Hoặc kiếm một cái phòng nhỏ cũng được, nhưng có chỗ tắm và cầu tiêu, để săn sóc nó cho đến khi nào tìm ra chỗ gởi nó.

– Anh có tiền không?

– Một ít, nhưng tôi phải cẩn thận, vì tuy tôi hiểu tiếng Tây Ban Nha nhưng nói rất tồi và như thế tôi tranh sống rất khó.

– Vâng, ở đây không dễ dàng gì đâu, thợ thì nhiều, chỗ làm thì ít. Dù sao, Papillon, anh cứ yên trí ở nhà tôi một thời gian để tìm ra công ăn việc làm.

Tôi hiểu. Emile tuy tốt bụng nhưng nó cũng bực bội. Chắc vợ nó đã phác họa một hình ảnh ghê tởm và Picolino, với chiếc lưỡi lòng thòng và những tiếng kêu như súc vật. Chị ấy hẳn nghĩ đến cảm tưởng xấu của các khách trọ.

Ngày mai tôi sẽ đem thức ăn lên phòng. Tội nghiệp Picolino đang ngủ trên chiếc giường sắt nhỏ cạnh tôi. Mặc dù tao trả tiền ăn và tiền trọ cho mày, người ta vẫn không thích mày ở đây. Mày thấy không, người bệnh bao giờ cũng làm phiền người khỏe. Đời là vậy. Mày chỉ được một nhóm người chấp nhận nếu nhân cách của mày có đem một cái gì đến cho họ hoặc là mày phải hoàn toàn vô tính để không gây phiền phức cho ai hết. Người ta phải chịu đựng một con người bất động như chiếc bàn chiếc ghế. Nhưng mày đừng lo. Dù tao không có những cử chỉ mềm mại như các cô ở Callao, mày vẫn có bên cạnh một người bạn, hơn thế: một tay giang hồ nhận mày làm em nuôi và sẽ làm tất cả để mày khỏi chết đói như một con chó.

Emile cho tôi nhiều địa chỉ, nhưng không nơi nào tôi tìm ra việc làm. Tôi đến bệnh viện hai lần để tìm cách đưa Picolino vào đó. Không thể nào được. Người ta cho biết không còn giường trống và theo giấy tờ, nó được ngục thất El Dorado phóng thích lại càng khó nữa. Hôm qua, người ta hỏi tôi vì sao và do đâu tôi lo cho nó, nó thuộc quốc tịch nào vân vân… Sau khi tôi kể cho viên thư ký bệnh viện biết viên quản đốc ngục thất El Dorado giao nó cho tôi, và tôi đã cam kết lo cho nó, lão thư ký khả ố kết luận:

– Thế thì, nó đã được phóng thích vì anh cam kết sẽ nuôi nấng nó, anh cứ tiếp tục giữ nó và săn sóc nó ở nhà anh. Nếu không đủ khả năng thì trước kia anh cứ để nó ở trong đó.

Lúc lão hỏi địa chỉ của tôi, tôi cho lão một địa chỉ láo, tôi không tin thằng cha khốn nạn ấy, nó điển hình cho hạng công chức tép riu muốn cho mình là quan trọng!

Tôi dẫn Picolino đi gấp. Tôi thất vọng cả cho nó lẫn cho tôi. Tôi cảm thấy không thể ở nhà Emile, vợ nó phàn nàn cứ phải thay ra trải giường hằng ngày. Thế mà mỗi buổi sáng tôi đã rửa kỹ mấy chỗ bẩn, nhưng vì lâu mới khô, nên dễ thấy. Tôi phải mua một chiếc bàn ủi để là cho khô chỗ giặt.

Làm gì bây giờ? Tôi cũng không biết. Chắc chắn là phải tìm một giải pháp sống. Lần thứ ba, tôi tìm cách đưa Picolino vào bệnh viện mà không được. Từ bệnh viện đi ra, đã 5 giờ. Đã vậy thì phải làm mạnh và tôi quyết định dành trọn buổi chiều đẹp trời này cho bạn tôi. Tôi đưa nó đến Calvario, một hoa viên rất đẹp đầy hoa lá vùng nhiệt đới ở trên một ngọn đồi nằm tại trung tâm đô thị Caracas.

Tại đây, ngồi trên ghế đá, ngắm cảnh trí huy hoàng, chúng tôi ăn bánh thịt và uống một chai bia. Rồi tôi đốt hai điếu thuốc, một cho Picolino, một cho tôi. Picolino hút rất khó khăn, nước bọt ướt cả điếu thuốc. Nó linh cảm giờ phút này nghiêm trọng, tôi muốn nói với nó một điều gì sẽ làm cho nó lo âu. Cặp mắt nó khổ sở có vẻ muốn nói với tôi: “Nói đi, nói mau đi. Tôi biết anh đã có một quyết định quan trọng. Tôi van anh, nói đi”.

Vâng, tất cả những điều ấy tôi đọc rõ trong mắt nó như viết trên giấy. Thấy nó như vậy tôi rất đau lòng, nên tôi ngần ngại. Cuối cùng tôi nói mau:

– Picolino, đã ba ngày nay tao cố tìm cách đưa mày vào bệnh viện. Không thể nào được, người ta không nhận mày. Mày hiểu chứ?

– Vâng, mắt nó nói.

– Vả lại, chúng ta không thể đến tòa Lãnh sự Pháp vì họ dám nhờ Chính Phủ Venezuela dẫn độ chúng mình lắm.

Nó nhún vai.

– Mày nên nghe tao. Phải chữa cho lành, mà muốn chữa phải được điều trị. Đó là vấn đề chính. Thế mà mày biết tao không đủ tiền để điều trị cho mày. Bây giờ thế này: Chúng ta đi chơi với nhau đêm nay, tao đưa mày đi xem chiếu bóng rồi sáng mai, tao dẫn mày đến công trường Simon Bolivar, mày không đem theo giấy tờ gì hết. Tại công trường, mày nằm dưới chân pho tượng rồi không nhúc nhích nữa. Có ai bảo mày đứng dậy hay ngồi xuống, mày cứ từ chối. Chắc chắn là sau một lúc người ta sẽ gọi cảnh sát đem xe cứu thương tới. Tao sẽ chạy theo bằng tắc xi để xem người ta đưa mày đến bệnh viện nào. Tao sẽ chờ hai ngày trước khi đến thăm mày, tao sẽ đến vào giờ thân nhân vào thăm để có thể trà trộn trong đám đông. Lần đầu, có lẽ tao sẽ không nói gì với mày, nhưng lúc đi ngang qua giường mày, tao sẽ để lại một ít thuốc với một ít tiền. Được chứ? Mày đồng ý không?

Nó đặt cánh tay còn mạnh trên vai tôi rồi nhìn thẳng vào mặt tôi. Ánh mắt nó vừa buồn khổ vừa tri ân. Cổ họng nó co lại, nó cố gắng phi thường để từ miệng méo xệch phát ra một tiếng gần như tiếng: “Vâng, cảm ơn anh!”.

Ngày hôm sau, mọi việc diễn tiến như đã dự định. Mười lăm phút sau khi Picolino đến nằm dưới chân tượng Simon Bolivar, ba bốn ông lão đang hóng mát dưới bóng cây đã báo cảnh sát. Hai mươi phút sau một xe cứu thương đến xúc nó. Tôi đi theo bằng tắc xi.

Hai ngày sau, trà trộn vào đám người vào thăm bệnh nhân, tôi tìm thấy ngay Picolino trong phòng thứ ba trong số các phòng tập thể tôi đi qua. Rất may nó nằm giữa hai người bệnh nặng nên tôi có thể nói ít câu với nó mà không sợ. Trông thấy tôi, nó mừng hết lớn và múa máy hơi nhiều.

– Người ta săn sóc kỹ cho mày chứ?

Nó gật đầu.

Tôi nhìn tấm biển nơi chân giường nó: “Tê liệt hoặc sốt rét rừng với biến chứng phụ. Cần theo dõi mỗi hai giờ”. Tôi để lại cho nó 6 gói thuốc hút, diêm và 20 đồng bạc.

– Picolino, tao đi nhá!

Trước ánh mắt thất vọng và van lơn của nó, tôi nói thêm: “Đừng lo, tao sẽ trở lại thăm mày!”. Tôi không nên quên rằng tôi rất cần cho nó. Tôi là mối liên hệ duy nhất của nó đối với thế gian này.

Tôi ở đây độ 15 ngày, các tờ giấy một trăm đồng tiêu rất mau. Cũng may là lúc đến đây, tôi đã có một số quần áo tử tế. Tôi tìm được một căn phòng không tốt lắm, nhưng đối với tôi cũng là nhiều tiền. Không có viễn ảnh một người đàn bà nào. Vậy mà con gái Caracas khá đẹp, thanh nhã và rất nhanh nhẹn. Điều khó là làm quen. Lúc bấy giờ là vào năm 1946, phụ nữ không quen ngồi một mình trong các quán cà phê.

Một đô thị lớn có nhiều bí ẩn. Để tự vệ, phải biết cái bí ẩn ấy, và muốn biết phải có thầy. Các vị thầy hè phố đó là ai? Cả một đám người bí mật với những ngôn ngữ, luật lệ, tập quán, thói hư tật xấu, mánh lới riêng để mỗi ngày có thể xoay xở kiếm đủ sống trong 24 giờ. Kiếm sống, càng lương thiện càng tốt đó là vấn đề không dễ đâu.

Tôi cũng có những lối xoay xở nho nhỏ, rất buồn cười, không ác chút nào. Ví dụ, một hôm tôi gặp một anh Colombie trước kia ở El Dorado.

– Bây giờ anh làm gì?

Nó nói hiện giờ nó kiếm sống bằng cách xổ số một chiếc Cadillac lộng lẫy.

– Trời! Anh giàu đến nỗi làm chủ một chiếc Cadillac?

Nó cười ngặt nghẽo, rồi giải thích đầu đuôi công chuyện:

– Chiếc Cadillac của ông Giám đốc một ngân hàng lớn. Ông ta lái lấy, đúng chín giờ sáng đến nơi rồi đậu rất kỹ lưỡng cách ngân hàng một trăm, một trăm năm mươi thước. Tụi tôi hai đứa. Một đứa trong bọn, không phải bữa nào cũng đứa đó để khỏi bị để ý, theo ông đến cổng ngân hàng đứng cạnh. Khi có nguy cơ, nó sẽ thổi một tiếng còi đặc biệt, không thể lầm lẫn với bất cứ tiếng còi nào khác. Việc này chỉ xảy ra có một lần. Thế là từ khi ông ta đến, đến khi về vào lúc một giờ, tụi tôi treo trên xe một tấm vải rất đẹp viết chữ đỏ như thế này “Bán vé số trúng chiếc Cadillac này. Các số đi đôi với các số của cuộc xổ số Caracas. Tháng tới sẽ xổ”.

– Ồ, hay thật! Thế là anh bán vé số xổ một chiếc Cadillac không phải của anh? Anh to gan thật! Thế còn bọn cảnh sát?

– Bọn ấy thay đổi luôn, với lại chúng không láu cá, nên không bao giờ nghĩ đây là một trò lừa bịp. Nếu chúng để ý hơi nhiều thì tụi tôi cho một vài vé, thế là mỗi đứa cảnh sát về nhà mơ thấy mình trúng chiếc Cadillac. Nếu anh muốn kiếm một ít tiền với tụi tôi, tôi sẽ giới thiệu với thằng bạn hợp tác với tôi.

– Lắc túi bọn nghèo cực, anh không thấy phần nào lưu manh sao?

– Anh lầm! Mỗi vé giá 10 đồng nên người khá giả mới mua nổi. Thế thì có hại gì đâu.

Thế là sau khi gặp anh bạn cộng tác, tôi tham gia vào công việc làm ăn này. Papillon, thế này, không bảnh lắm, nhưng cần phải ăn, phải ngủ, phải tươm tất sạch sẽ nếu không được bảnh bao, và giữ lâu chừng nào hay chừng ấy mấy viên kim cương đã đem theo từ El Dorado cùng hai tờ 500 đồng tôi vẫn cất kỹ trong hậu môn như lúc còn ở trong tù. Tôi vẫn dùng cách cất tiền ấy vì hai lẽ: nếu để trong phòng khách sạn ở trong một khu phố khả nghi, có thể bị mất cắp, còn để trong túi thì có thể bị rơi mất. Dù sao, tôi đã cất của trong ruột già như vậy hơn 14 năm. Thêm một năm, bớt một năm, không nghĩa lý gì, mà tôi lại được yên trí.

Công việc bán vé số kéo dài hơn 15 ngày và có thể kéo dài nữa nếu một ngày kia, không có một khách hàng vì quá thích nên mua đến hai vé và nhìn ngắm tỷ mỷ chiếc xe tuyệt đẹp đó đang mơ được trúng. Thình lình nó ngẩng lên, la lớn:

– Kìa! Chiếc xe này có phải là của Bác sĩ Fulano giám đốc ngân hàng không?

Lạnh lùng, bình tĩnh, anh người Colombie đáp:

– Đúng vậy. Ông ta đã giao cho chúng tôi để xổ số. Ông ấy cho làm như vậy sẽ cao giá hơn là bán trực tiếp.

– Quái thật… ông mua vé nói.

– Nhất là xin ông đừng nói chuyện ấy với ông ta, anh người Colombie nói vẫn với thái độ hết sức bình tĩnh. Ông ta đã bắt chúng tôi hứa không nên nói cho ai biết vì nếu có người biết sẽ kỳ cho ông ta lắm.

– Tôi hiểu, quả thật là không ngờ đối với một người như ông ta.

Khi ông khách đi hơi xa xa, về phía ngân hàng, chúng tôi lập tức gỡ tấm biển xếp lại. Anh Colombie cầm chiếc biển biến mất, còn tôi thì đến cửa ngân hàng tin cho bạn đồng lõa biết đã dẹp hết rồi. Trong thâm tâm tôi cười bể bụng và tôi không khỏi đứng lại gần cửa ngân hàng để xem công việc tôi đoán sẽ xảy ra. Quả thật không sai. Ba phút sau, ông giám đốc ngân hàng cùng đi ra với người mua vé đa nghi. Theo cách ông vung tay ghê gớm và đi thoăn thoắt, tôi đoán ông nổi giận thực sự.

Sau khi nhận thấy, có lẽ không ngạc nhiên, không còn ai chung quanh chiếc Cadillac, họ chậm rãi đi trở lại và ghé vào một quán cà phê uống một ly rượu tại quầy. Vì người mua vé không nhận ra tôi, nên tôi cũng vào quán để xem phản ứng của họ.

– Quả chúng nó gan thật! Có phải vậy không thưa bác sĩ?

Nhưng ông chủ chiếc Cadillac, như tất cả mọi người dân Caracas thích hài hước, cười thẳng thắn và nói:

– Tôi nghĩ nếu tôi đi bộ ngang qua đó, chúng cũng có thể gạ bán vé xổ số xe của chính tôi và do vì tôi thường đãng trí nên tôi dám mua lắm! Dù sao phải công nhận là khá khôi hài!

Thế là công việc xổ số của chúng tôi bị khai tử. Mấy thằng Colombiens biến mất. Về phần tôi, tôi đã kiếm được một ngàn năm trăm đồng, đủ sống hơn một tháng. Đó là điều quan trọng.

Ngày tháng trôi qua, quả thật không dễ gì tìm được một công việc làm đáng kể. Thời kỳ này các người theo Pétain cùng những người chủ trương hợp tác với Đức bỏ nước Pháp trốn sang đây để tránh búa rìu của luật pháp. Vì không biết rõ sự khác biệt giữa những người theo Pétain với những người hợp tác với Đức, nên tôi xem họ đều là cá mè một lứa và gán cho họ một nhãn hiệu: cựu mật vụ của Đức. Bởi vậy, tôi không tới lui với họ.

Một tháng đã qua mà không có gì thay đổi quan trọng. Lúc còn ở Callao, tôi không nghĩ rằng tạo cho mình một địa vị là một điều khó như vậy. Cùng quá, tôi phải đi từng nhà để bán một thứ lọc cà phê đặc biệt dùng cho các công sở. Lối rao hàng của tôi quá dễ và quá ngốc nên tôi phát tởm: “Thưa ông Giám Đốc, ông cũng hiểu mỗi lần nhân viên của ông đi xuống uống một ly nhỏ cà phê (một tập tục thông thường ở Venezuela), họ phí phạm rất nhiều thì giờ, nhất là khi nào trời mưa, trong lúc ấy, ông Giám Đốc mất tiền. Có chiếc lọc cà phê này tại công sở, ông sẽ không bị thiệt nữa”. Có lẽ họ không bị thiệt, nhưng tôi nhiều lúc bị thiệt. Nhiều lão giám đốc trả lời vào mặt tôi:

– Ồ, anh biết đấy, ở Venezuela, chúng tôi sống bình thản ngay trong công việc làm ăn cũng vậy. Thế nên nhân viên của chúng tôi được phép xuống uống một ly cà phê trong giờ làm việc.

Với bộ mặt thông minh vì trên tay có cầm chiếc bình lọc cà phê đi ngoài phố, tôi đã xáp mặt với Paulo võ sĩ, một bạn cố tri thời Monmartre.

– Kìa! Anh có phải là Paulo võ sĩ…

– Còn anh là Papilion?…

Nhanh như chớp, nó nắm tay tôi kéo vào một quán cà phê:

– Đúng là một ngẫu nhiên kỳ lạ!

– Mày làm gì lại cầm chiếc bình lọc cà phê đi trên hè phố như vậy?

– Để bán, thật là thảm hại. Vì lấy ra để vào nhiều lần nên cái hộp giấy đã vừa rách mất.

Tôi kể cho nó nghe tình cảnh của tôi rồi hỏi nó:

– Còn mày?

– Chúng ta uống cà phê, đi chỗ khác tao nói cho nghe.

Sau khi trả tiền, chúng tôi đứng vậy, tôi với tay lấy chiếc bình lọc cà phê.

– Để nó ở đây, tao cam đoan với mày, mày sẽ không cần đến nó nữa.

– Thật hả?

– Chắc mà.

Tôi bỏ chiếc bình đau khổ lại trên bàn và hai đứa bước ra.

Một giờ sau, tại nhà tôi, sau khi trao đổi vài kỷ niệm về Monmartre, Paulo tấn công. Nó có một vụ làm ăn ghê gớm tại một xứ gần Venezuela. Nó tin tưởng nơi tôi. Nếu tôi nhận lời, nó sẽ thâu nhận tôi vào đoàn.

– Dễ hết sức, như nằm trong túi rồi vậy bạn ạ! Tao nói rất đứng đắn với mày: sẽ có nhiều mỹ kim đến nỗi phải dùng bàn ủi để là cho giẹp bớt nếu không chỗ đâu để cho hết.

– Ở đâu, cái vụ làm ăn phi thường đó?

– Đến nơi mày sẽ biết… Tao không thể nói gì trước hết.

– Chúng mình bao nhiêu người?

– Bốn. Một thằng đã có mặt tại chỗ rồi. Tao đến đây để tìm một thằng nữa. Thằng này mày biết mà. Nó là bạn của mày, thằng Gaston.

– Đúng, nhưng từ lâu tao không gặp nó.

– Tao thì gặp nó luôn, Paulo cười nói.

– Thật mày không thể nói cho tao biết gì thêm về vụ làm ăn này sao?

– Papillon, không thể được. Tao có lý do của tao.

Tôi suy nghĩ rất nhanh. Trong hoàn cảnh của tôi, tôi không còn cách gì lựa chọn. Hoặc là tiếp tục đi lang thang với một bình lọc cà phê hay bất cứ vật gì ngu ngốc nhất trên tay hoặc là trở lại phiêu lưu mạo hiểm để sớm có một số bạc lớn. Từ lâu nay tôi biết Paulo rất đứng đắn, và nó đã tính cần đến bốn đứa thế thì vụ này cũng khá quan trọng. Về mặt kỹ thuật, chắc hẳn là một vụ khả quan. Và như vậy nó hấp dẫn tôi nhiều, phải công nhận điều đó. Thế thì, Papillon, Banco nhá?

– Banco!

Ngày hôm sau, chúng ta lên đường.

Chuyến xe tháng 5

baotreonline.com

Vương Mộng Long

July 21st, 2021

Post by Sơn râu 26 Sep 2025

Kỳ cuối

Lời giới thiệu: 

Tháng 5 năm 1975 chiến tranh đã hoàn toàn chấm dứt. Trên toàn cõi Việt-Nam không còn nghe bom nổ, không còn thấy đạn bay. Nhưng giữa tháng 5 năm 1975 cũng có những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa đã bị đem đi mất biệt, mãi mãi không về…

Vừa nhảy khỏi rào trại, tôi đã bị một vệ binh túm được. Lạ lùng một điều là thằng Việt-Cộng này đã không bắn tôi, không bắt tôi, mà chỉ xua tay ra dấu cho tôi chui vào sân trại trở lại.

Ghìm súng trước ngực tôi, y ra lệnh:

“Anh Long không được đi! Trong giờ tôi gác mà anh trốn thoát thì tôi sẽ vào tù thay anh! Vào đi! Vào đi! Anh không chịu chui vào thì tôi phải bắn!”

Nghe thế, tôi bèn nhanh nhẹn chui vào trong rào trở lại. Ai ngờ, một tuần lễ sau ngày đó thì tên Công An vệ binh Việt-Cộng này đã cùng một ông tù cải tạo rủ nhau vượt biên. Họ trốn trong khi tên Công An dẫn ông cải tạo viên đi kiếm củi! Có lẽ hai người này đã an vui sinh sống trên đất Hoa-Kỳ.

Cuối năm 1985 tù cải tạo trại Z30C được tha gần hết, gần chục người sau cùng, trong đó có tôi, bị chuyển sang trại Z30D cũng ở Hàm-Tân, Thuận-Hải; trại này còn có tên là Trại Thủ-Ðức. Tôi gặp lại ông Lương Ðình Chi và anh Huỳnh Cẩm Lường ở trại này.

Tại đây, chúng tôi tiếp tục bị cưỡng bức lao động cật lực cả ngày lẫn đêm.

Khoảng trung tuần tháng 12 năm 1987, sau một ngày làm công tác đào ao thông tầm, ông Lương Ðình Chi tìm gặp tôi trong sân. Ông Chi ôm ngực, nhăn nhó,

– Long ơi! Nhờ chú cạo gió cho anh. Ngực anh đau quá, thở không được.

Tôi dẫn ông về phòng, nhờ bác Mậu già trực buồng xoa dầu, cạo gió, nắn xương cho ông.

Hôm sau ông Chi được cho vào nằm trong bệnh xá, không phải đi lao động. Bệnh tình của ông Chi ngày một tăng, ông không ăn được, không thở được. Trước lễ Giáng Sinh năm 1987 thì Việt-Cộng cho ông Chi về điều trị tại gia; sang năm 1988 tôi cũng được thả.

Tôi được về, nhưng anh bạn Trung sĩ Thông Dịch Viên Huỳnh Cẩm Lường của tôi vẫn còn bị giữ trong trại.

Về tới nhà hôm trước, hôm sau tôi tới góc đường Nguyễn Biểu, Trần Hưng Ðạo để thăm ông bạn già Lương Ðình Chi, ông Chi đang nằm liệt giường, liệt chiếu. Tháng sau thì ông Chi qua đời.

Cũng trong thời gian này tôi tái ngộ cựu Thiếu tá Biệt Ðộng Quân Hồ Văn Hòa, anh Hòa đang làm chủ một xe bán nước sinh tố trên đường Lê Thánh Tôn.

Anh Hòa cho tôi hay rằng ngay tối 11 tháng 5 năm 1975 anh và vài chục người khác bị đưa xuống tàu thủy chở ra Côn Ðảo. Không biết vì lý do gì nửa đường, tàu có lệnh quay trở lại.

Về lại Sài-Gòn, anh Hòa bị đưa vào Lao Xá Chí-Hòa chờ ngày đưa đi cải tạo. Vì lý do đó mà sáng 21 tháng 5 năm 1975 tôi đã nhìn thấy anh ta đứng trong hiên Chí Hòa.

Tới năm 1988, bạn bè mà tôi gặp trong sân Biệt Khu Thủ Ðô ngày 11 tháng 5 năm 1975 chỉ còn rất ít.

Trong suốt 13 năm, từ 1975 tới 1988, trải qua bao nhiêu trại giam; ở đâu tôi cũng cố tìm tin tức những người bạn đã cùng tôi có mặt trong phòng “Zét” ngày xưa. Nhưng tới ngày tôi rời trại tù, 6 ông bạn của tôi vẫn bặt vô âm tín.

Ít lâu sau ngày về tôi đạp xe qua khu doanh trại cũ của Biệt Khu Thủ Ðô để xem quán cháo lòng của bà vợ ông Huỳnh Thanh Bền có còn ở đó hay không.

Thời 1988 khu vực này vẫn chưa có nhiều thay đổi, lều quán bên đường vẫn y nguyên, phố xá có vẻ còn tiêu điều hơn là trước ngày tôi bị dẫn lên xe đưa đi khỏi nơi đây.

Quán cháo lòng ngày xưa được che bằng hai cái poncho ghép lại, nay được thay bằng một tấm vải nhựa dày. Nồi cháo bốc hơi ngày xưa nay được đổi thành nồi xôi đậu xanh, cũng bốc hơi.

Tôi thấy người ngồi sau cái bàn vuông có hai cái ghế con là một bà già gầy guộc tóc bạc phơ. Nhưng tôi đoan chắc rằng người đó là vợ ông Trung sĩ Huỳnh Thanh Bền.

Thấy tôi dừng xe chị Bền ngước mắt hỏi,

– Ông khách cần mấy gói xôi? Muốn gói muối đậu chung với xôi hay là gói riêng?

Tôi ân cần,

– Chị Bền! Chị không nhận ra em sao? Long đây chị!

Nghe vậy, chị Bền giật mình trợn mắt,

– Cái gì? Ông khách là chú Long hả?

Tới lúc nhận ra tôi rồi, chị Bền bật khóc,

– Em về rồi hả? Em về lúc nào vậy? Em có gặp anh Bền không?

– Em mới về mấy ngày thôi! Mười ba năm nay, đi tới trại nào em cũng dò hỏi, nhưng không có tin tức gi của anh Bền cả. Còn chị, từ ấy tới giờ chị có đi tìm anh không? Có nghe ngóng được gì không?

Chị Bền kéo cái ghế con cho tôi ngồi, rồi lấy tấm vải nhựa phủ lên trên gánh xôi, làm như đã dẹp cửa hàng, không tiếp khách nữa,

– Chuyện dài lắm chú ơi! Ðể chị từ từ kể cho chú nghe.

Chị Bền bắt đầu kể chuyện bằng những âm thanh nghẹn ngào chan bằng những giọt nước mắt.

Trong gần một giờ đồng hồ tôi đã được nghe toàn bộ câu chuyện đi tìm chồng của Chị Bền.

Thì ra từ khi bị chuyển đi, tôi đã lấy lại cái thư mà tôi đã gửi chị Bền, nên chị không còn địa chỉ nhà tôi, do đó chị không biết tìm cách nào mà liên lạc được với vợ con tôi.

Năm cái thư của những bạn phòng “Zét” đã được con gái anh Bền gửi đi ngay sau ngày các anh ấy lên xe. Bốn gia đình nhận thư đã không hồi âm, riêng người vợ của Thiếu úy Bổn mãi ba tháng sau mới liên lạc với con gái anh Bền.

Trong thư, chị Hà, vợ anh Bổn đã hẹn ngày để vào thăm chị Bền. Hôm đó chị Bền không ra quán, ở nhà đón chị Hà.

Chị Hà không đội khăn tang, nhưng ghim trên ngực áo một miếng vải đen, đó là dấu hiệu chị có thân nhân vừa quá vãng.

Bước vào nhà, chưa kịp ngồi xuống ghế, chị Hà đã vừa mếu máo vừa nói,

– Các anh ấy chết hết rồi! Các anh ấy bị xử tử, trôi sông hết rồi!

Nghe được câu này thì vợ Trung sĩ Huỳnh Thanh Bền ngã ra ngất xỉu. Cạo dầu, đánh gió cả giờ sau mà chị Bền vẫn phải nằm trên giường không dậy nổi.

Chị Hà đành kể tiếp phần sau câu chuyện cho cháu Thoa nghe.

Thì ra cơ mưu thả thư rơi của ông Thiếu úy Thám Báo đã không thành công. Những cái pháo tép có vỏ ngoài quấn bằng những tờ giấy bạc 500 đồng của Ngân-Hàng Quốc-Gia Việt-Nam phát hành đã bị tịch thu ngay khi các ông bạn tôi vừa đứng vào hàng tập họp trong sân để kiểm tra an ninh trước khi lên xe.

Chiếc Molotova chở sáu ông phòng “Zét” đã chạy thâu đêm và suốt ngày hôm sau thì tới Qui-Nhơn. Họ được giao cho Ủy Ban Thanh Lọc của Quân Khu 5.

Ngày kế đó, họ bị đưa vào một khu vườn cây cối um tùm, nằm sát bờ sông Lại Giang gần chân cầu xe lửa Bồng Sơn. Nơi này có mấy dãy nhà tôn vách ván kín mít. Sáu người bị trói tay và bị nhốt trong một căn phòng tối như bưng. Phòng giam này do ba cán binh Việt-Cộng luân phiên canh giữ suốt đêm ngày.

Liên tiếp một tuần lễ, ngày nào họ cũng bị áp giải lên một phòng chứa đầy dụng cụ tra tấn để các chuyên viên khai thác thẩm vấn và chấp cung.

Qua ngày thứ tám thì sáu ông cựu quân nhân Việt-Nam Cộng-Hòa đã kiệt lực, không ai đứng dậy nổi. Ngày thứ chín họ được ở yên trong phòng.

Tới tối ngày thứ mười thì có bốn tên Việt-Cộng từ Ủy Ban Thanh Lọc Quân Khu 5 tay thủ AK 47 lầm lì xuất hiện trước phòng giam.

Bọn này gọi tên, ra lệnh cho người tù lớn tuổi nhứt là Trung sĩ Huỳnh Thanh Bền bước ra ngoài.

Tới cửa, trước khi bị dẫn đi, ông Bền bị trói chặt hai tay bằng một sợi dây dù, hai mắt ông bị bịt bằng một vuông vải đen, miệng ông bị nhét một cái giẻ to.

Rồi cứ thế, mỗi tối phòng giam lại hụt đi một người. Anh Thiếu úy Thám Báo Tỉnh là người bị trói tay, bịt miệng, bịt mắt dẫn đi sau cùng.

Chị Hà biết được chuyện này là do một trong ba tên cán bộ Cộng-Sản canh giữ phòng giam kể lại cho chị nghe. Y là người đã chứng kiến những gì đã xảy ra từ ngày đầu tới ngày cuối.

Số là, khi ra đi, anh Bổn đã chuẩn bị sẵn mười cái khoen vàng một chỉ. Anh luồn những cái khoen vàng đó trong lưng quần. Sau khi bị khảo đả ngày đầu, anh Bổn vội rút hết vàng ra mua chuộc một tên cán bộ bảo vệ. Tên này cùng quê Phú-Phong, Bình-Ðịnh với anh Bổn. Y đã cố gắng giúp anh khai bệnh tiêu chảy lúc nửa đêm. Anh được đưa ra bờ sông để đại tiện; thừa dịp này anh có thể nhảy xuống nước mà lặn đi. Nhưng mỗi lần anh ra ngoài, đều có hai vệ binh đi theo. Tên vệ binh thứ nhì đã ranh ma, cột chặt một tay anh vào cổ tay nó, do đó đã có hai dịp may ngồi bên bờ nước mà anh Bổn vẫn không trốn được.

Vài ngày sau, biết mình đã cùng đường, anh Bổn kể hết mọi chuyện đã xảy ra từ ngày anh bị tập trung ở Sài-Gòn cho tới ngày anh bị đưa về Bình-Ðịnh cho tên Việt-Cộng gốc Phú-Phong nghe. Anh cho y địa chỉ gia đình anh ở Qui-Nhơn và viết mấy chữ nhắn người nhà anh đền ơn cho y, nếu y tìm tới gặp vợ anh và kể cho chị ấy biết hết sự tình. Thời gian này chị Hà đang ở nhà cha mẹ đẻ trong thành phố Qui -Nhơn.

Một tuần lễ sau ngày anh Bổn bị trôi sông, tên cán bộ người Phú-Phong đã tới nhà gặp chị Bổn.

Tên Việt-Cộng kể rằng ngày cuối cùng chỉ còn một mình anh Bổn trong phòng, anh vẫn bình tĩnh như thường, anh nhờ y nhắn với chị Hà một câu:

“Kiếp này duyên tình của vợ chồng mình nửa đường đứt đoạn, đôi ta chỉ biết hẹn gặp nhau ở kiếp sau!”

Y cũng tiết lộ cho chị Hà biết lý do vì sao mỗi đêm Ủy Ban Thanh Lọc Quân Khu 5 chỉ đem một người đi bắn rồi đạp xác xuống sông Lại Giang.

Sở dĩ nhà cầm quyền Vịệt-Cộng chọn cách giết từng người như thế chỉ với mục đích tránh tai mắt của ngư dân quanh vùng. Lại Giang là con sông lớn, nước chảy không ngừng, nên chỉ vài giờ sau khi bị ném xuống nước, xác người bị thủ tiêu đã trôi tới biển Ðông.

Nghe xong chuyện sáu anh em phòng «Zét» bị thủ tiêu, gia đình chị Hà đã bỏ công thuê người đi dò dẫm hỏi thăm dân cư ngụ hai bên bờ Lại Giang từ cầu Bồng-Sơn ra tới cửa biển An Dũ xem có xác chết trôi nào nổi lên không?

Cả tháng sau không tìm thấy dấu tích gì, gia đình chị Hà đành bỏ cuộc. Tới tháng thứ ba, chị Hà mới vô tình lục ra cái thư của bà chị anh Bổn gửi ra từ Sài-Gòn, từ đó chị Hà có địa chỉ của vợ anh Bền.

Từ sau lần gặp mặt đó, bẵng đi một thời gian dài, tới cuối năm 1979 chị Hà lại tái xuất hiện. Lần này chị tới từ biệt chị Bền để ra đi theo chương trình xuất cảnh bán chính thức. Chị Hà bước thêm bước nữa. Chồng mới của chị là một ông lớn tuổi, người Việt gốc Hoa.

Chị Bền cho tôi hay cháu Thoa đã có gia đình, chồng cháu là con một ông đại úy chế độ cũ, ông ấy đã được tha về từ năm 1981. Chồng cháu Thoa đã nhiều lần bỏ công sức đi tìm người tù có tên Huỳnh Thanh Bền qua những trại giam của Quân Khu 5 như Tiên Lãnh, Bình Ðiền, Gia-Trung, Thuần-Hạnh,  Củng-Sơn… vân vân, nhưng vô vọng.

Có một lần, vào năm 1982, gia đình cháu Thoa được tin ông Bền bị giam ở Trại Z30 A nơi Ngã Ba Ông Ðồn và đang nằm chờ chết vì bịnh sốt xơ gan. Cả nhà ông Bền, gồm cả con trai, con gái, con rể, cùng với hai đứa cháu ngoại, kéo nhau lên Ngã Ba Ông Ðồn để xin gặp mặt ông lần cuối. Nhưng tiếc thay, khi gặp nhau mới vỡ lẽ ra, ông Huỳnh Thanh Bền này chỉ là một người trùng tên, trùng họ với ông Bền ở phòng «Zét» của trại Lê Văn Duyệt mà thôi.

Thời gian sau khi tôi được thả thì tất cả tù nhân cải tạo còn lại đều bị tập trung về trại Z 30 D, ở Hàm-Tân. Tôi nói với cháu Thoa hãy lên đây hỏi thăm xem có ai tên là Huỳnh Thanh Bền hay không.

Bạn cựu tù cải tạo tiễn Vương Mộng Long lên đường đi Mỹ – tháng 4 năm 1993

Chỉ một tuần sau tôi gặp lại chị Bền, chị gạt nước mắt rồi nói với tôi,

– Chú ơi! Chẳng có ai tên Huỳnh Thanh Bền ở trại này!

Bận rộn công việc làm ăn kiếm sống, nhưng tôi và một anh bạn gốc Thủy Quân Lục Chiến vẫn lâu lâu ghé thăm chị Bền.

Gặp hai đứa em, chị vui mừng ra mặt, nói đủ thứ chuyện.

Chị kể rằng ngày xửa, ngày xưa chị và anh Bền là con của hai ông địa chủ ở Cần Thơ. Hai ông địa chủ gả con, cưới vợ cho con mà chẳng thèm hỏi ý kiến con.

Hai cô chiêu, cậu ấm này đều là dân học trường Tây, trường Ðầm, nhưng vẫn nghe lời phụ mẫu: “Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó!”

Chị kể cho tôi nghe chuyện đám cưới nhà quê diễn ra như thế nào.

Chị nói, ngày đưa dâu chị lo sợ lắm. Chị không biết ông chồng mình dáng dấp cao, thấp, béo, gầy, ra sao, tính tình hiền lành hay hung dữ, rồi chị che miệng cười,

– Vậy mà chỉ ít lâu sau khi thành vợ, thành chồng, tụi này đã thương nhau dứt ra không nổi.

Chị tâm sự,

– Ảnh là tri kỷ của tui, còn tui cũng là tri kỷ của ảnh! Ảnh Solo Guitar hay lắm! Nhưng ảnh chỉ đờn cho mình tui nghe thôi! Hai đứa tui cứ tự ví mình như Bá Nha, Tử Kỳ. Ngày đám cưới, mẹ ảnh có cho tui một cành thoa bằng vàng, ảnh nói sau này có con gái thì ảnh sẽ đặt tên nó là cây trâm vàng để nhớ mẹ anh ấy. Vì thế, đứa con gái đầu của tụi tui có tên là Kim Thoa…

Một hôm, tôi ghé thăm, chị cho tôi hay thằng con trai và đứa con gái út mới về làm ăn dưới Cần-Thơ, quê nội, còn chị thì dọn về ở với gia đình cháu Kim Thoa đâu đó vùng Thị Nghè.

Tôi thắc mắc,

– Giờ này mấy đứa nhỏ đã lớn khôn và có gia thất cả rồi, chị không còn phải lo lắng nuôi dạy chúng nó nữa. Sao chị không ở nhà nghỉ ngơi và trông cháu?  Chị còn tiếp tục buôn bán kiếm tiền làm chi? 

Nghe thế, chị Bền nhìn tôi rầu rầu,

–  Chị đâu có cần nuôi ai! Chị chỉ nuôi hy vọng thôi! Chị ôm gánh xôi mỗi ngày ở đây chỉ vì chị coi chỗ này như một cái hộp thư. Biết đâu hôm nào đó có một ông của phòng “Zét” còn sống sót đi qua, thì chị sẽ có tin tức của anh Bền.

Ngày 5 tháng 5 năm 1992 những người tù cải tạo sau cùng được trả tự do; một trong những người đó là Thiếu tướng Ðỗ Kế Giai, người đã chỉ huy tôi.

Một tuần sau tôi tới tư gia của Thiếu Tướng Giai để thăm ông.

Dịp này Tướng Giai đã nói với tôi,

– Thế là từ nay tất cả anh em mình đều đã được đoàn tụ với gia đình.

Tôi buồn rầu, nắm tay ông Tướng,

– Không phải vậy đâu Thiếu tướng ơi! Còn nhiều anh em đã ra đi mà chưa thấy về!

Trên đường về nhà, tôi đạp xe qua con đường xưa ghé thăm chị Bền. Chị vẫn còn ngồi chỗ cũ. Chị vẫn bán xôi. Chị vẫn chờ tin chồng.

Chị hỏi tôi,

– Em đi thăm ai về?

Tôi trả lời,

– Em vừa từ nhà Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai về, tiện đường ghé thăm chị. Ông Giai mới được thả tuần trước. Ông ấy là người sau cùng ra khỏi nhà giam.

Nghe vậy, chị Bền thở dài,

– Như thế thì anh Bền không về thật rồi! Anh ấy không về thật rồi em ơi!

Chợt chị ngẩng mặt nhìn tôi,

– Bây giờ là tháng 5, năm xưa anh Bền cũng ra đi vào tháng 5. Anh ấy không về, thì coi ngày anh lên xe cũng là ngày giỗ của anh! Chú có nhớ ngày anh Bền lên xe không?

– Hôm đó là 20 tháng 5 năm 1975.

– Hôm nay là ngày mấy rồi hả chú?

– Dạ! Hôm nay là 12 tháng 5.

Chị Bền bỗng hạ thấp giọng như tự nói cho một mình chị nghe,

– Còn tám ngày nữa là tới ngày giỗ của anh. Anh Bền ơi! Em hẹn sẽ gặp anh đúng ngày hôm đó! Chờ em! Chờ em! Anh ơi! Anh ơi!…

Nghe chị Bền buông những lời than não lòng như thế, tôi bèn an ủi chị,

– Chị đừng quá bi thương, chị còn con, còn cháu. Chị hãy nhìn vào con, vào cháu mà quên đi những muộn phiền…

Chị Bền mở to đôi mắt nhìn tôi, rồi nói với một giọng thật là tỉnh táo,

– Chị ráng sống tới ngày hôm nay chỉ vì chị còn hy vọng. 

Sau đó chị đứng lên, xếp gọn quang gánh chuẩn bị đi về.

Những lần qua đây sau ngày ấy tôi không còn trông thấy chị nữa.

Một năm sau, tháng 4 năm 1993 gia đình tôi lên đường đi Hoa-Kỳ định cư theo diện H.O.

Trước ngày đi Mỹ, tôi ra thăm Ðà-Nẵng lần cuối cùng. Trong chuyến đi này, tôi có dịp ngồi trên xe đò qua cầu Bồng-Sơn, Bình-Ðịnh.

Chiếc xe già chở đầy khách, bò từ từ trên cây cầu dài, dưới sông nước cuồn cuộn đục ngầu.

Nhìn những cụm lục bình trôi băng băng xuôi dòng, tôi chợt rùng mình, nhớ lại chuyện xưa.

Tôi tin rằng ngày 20 tháng 5 năm 1975 Thượng Ðế đã ra tay cứu tôi thoát khỏi chuyến xe oan nghiệt chở tù binh đi Quân Khu 5, vì nếu Ngài không sắp đặt sẵn những điều đã xảy ra ngày hôm đó thì chắc chắn giờ này linh hồn tôi đã vật vờ đâu đây, dưới chân cầu Bồng-Sơn hay trên sóng sông Lại Giang…

VML 

Seattle tháng 5 năm 2021

Vết Nám – Hồi ký tù cải tạo

Hoàng Long Hải

Posted on 2 Feb 2015 by quanvan.net

Post by Sơn râu 26 Sep 2025

Bài 4

Mười bài học tập

Tôi “trình diện, đóng tiền để được đi tù cải tạo” buổi sáng 24 tháng 6 năm 1975 tại trường Taberd, Saigon. Ba ngày sau, 27 tháng 6, được chuyển lên Trảng Lớn. Một tháng sau nữa, sau khi làm bản tự khai đầu tiên, thì được chuyển về L3-T3.

Khoảng tháng 9, tất cả anh em đều được cho viết thư về thăm gia đình. Thư phải viết ngắn gọn, không được “phản động”, bày tỏ sự “tin tưởng tuyệt đối vào chính sách khoan hồng trước sau như một của đảng và nhà nước”, khuyến khích gia đình an tâm, chỉ ghi rõ hòm thư, không được tiết lộ nơi hiện đang học tập cải tạo là chỗ nào, v.v…”

Thư viết xong, gom lại giao cho đội trưởng, đội trưởng giao cho khối trưởng, khối trưởng nộp cho quản giáo. Có lẽ quản giáo là người đọc và kiểm soát thư của chúng tôi, trước khi gởi đi. Khoảng một tháng sau, phần đông chúng tôi nhận được thư gia đình trả lời. Trong chế độ mới có những điều khá buồn cười. Tuy là thư riêng, gởi cho gia đình hay gia đình gởi lại, nhưng bao giờ cũng phải theo những khuôn mẫu nhứt định, phải viết những câu như trong biểu ngữ… Tối hôm đó, nằm nói chuyện với nhau trong khi chờ giấc ngủ, tôi nói đùa: “Thư đi cũng phải “Muôn tâu thánh thượng, hoàng đế vạn tuế”. Thư về thì cũng phải bài bản như thế. Thư nào viết khác đi, coi như không có người nhận.”

Lê Quang Dung hỏi: “Thư của mình có bị kiểm duyệt không?”

Phạm Xuân Lý, người dày dạn kinh nghiệm trong ngành Cảnh Sát, trả lời:

_ “Ông mang tới lon đại úy rồi mà còn hỏi ngây thơ. Thư tù mà không kiểm duyệt thì kiểm duyệt thư ai?!”

Nằm phía ngoài cùng, Phan Hải nhắc chừng:

_ “Bộ đội nghe tới thì phiền, không phải tù.”

Chúng tôi làm thinh, không nói gì.

Thói quen của tôi là đùa, hay kể “chuyện xứ Huế tui” cho tất cả anh em nghe cho vui.

Phạm Xuân Lý thì kín đáo hơn. Anh gia nhập ngành cảnh sát khi còn trẻ, khi vừa quá 20 tuổi, sau khi đậu bằng trung học. Anh chăm chỉ, vừa làm cảnh sát, vừa học thêm, đậu tú tài, đang học luật. Thời Ngô Đình Diệm đã làm trưởng phòng Cảnh Sát Quận Hai, Saigon.

Một hôm, chỉ có anh và tôi, anh ấy hỏi:

_ “Anh Hải ở Huế có biết ông dược sĩ Nguyễn Cao Thăng không?”

Tôi trả lời:

_ “Trời ơi! Ông nầy là quái kiệt, lanh lợi số một, tài ba số một, xoay chuyển tình thế như gió bão, ông nắm ai là trúng người đó, đố chạy thoát.”

Lý hỏi:

_ “Có vẻ như ông ấy là thần tượng của anh?”

_ “Không phải đâu, nhưng anh hỏi tui như vậy thì chắc anh có lần “đụng độ” với ông ta?” Tôi hỏi.

_ “Sức mình mà đụng độ với ông ta sao nổi. Nhưng ở trong ngành Cảnh Sát gần 20 năm, tôi chưa từng thấy ai chơi sộp như ông. Mình đang ở cái thế trên ông, bị ông kéo đi như kéo xe.” Lý giải thích.

_ “Chuyện gì?” Tôi hỏi.

_ “Thời Ngô Đình Diệm, triệt để bài trừ “tứ đổ tường”. Một hôm, tôi vây bắt một ổ chơi bời hạng sang ở đường Cô Bắc. Vây nhà xong rồi, gái bán dâm, khách mua dâm đều bị tóm hết. Không như trước kia, bây giờ khách mua dâm cũng bị ra tòa.

“Sau khi giữ đám khách đàn ông ở lầu trên rồi, tôi đi lên để lập danh sách. Tới nơi, tôi thấy một người ăn mặc bảnh bao lắm, vét-tông xanh đậm, cà vạt đỏ, giày “đơ cu-lơ” ngon lành.

Ông ta đến trước mặt tôi, nói: “Tôi muốn gặp người chỉ huy hôm nay!”

Tôi trả lời, hơi sẳng giọng: “Tôi.”

Ông ta nói từ tốn nhưng cương quyết:

“Tôi là dân biểu Nguyễn Cao Thăng. Tôi không thể có tên trong số những người nầy. Anh cầm tạm số tiền nầy uống càphê.”

Nói xong, ông ta đưa cho tôi một phong bì khá dày. Tôi nhìn ông ta, xong, đưa tay cầm phong bì dày, đứng tránh ra một bên đầu cầu thang, nói: “Xin mời ông dân biểu về.”

Ông ta cám ơn, bắt tay tôi rồi xuống cầu thang.”

Tôi hỏi anh Phạm Xuân Lý:

_ “Anh sợ ông ta cái gì?”

Lý cười:

_ “Cả hai. Ông ta là dân biểu, tôi không tha, về tới ty Quận Nhì, ông Trưởng ty cũng tha. Kinh nghiệm dạy cho tôi như vậy. Tui tha thì tui hưởng trọn phong bì. Còn ông Trưởng ty tha, chắc chi tui có chút tiền uống một ly cà phê?”

Tôi cười:

_ “Vậy là “Nén bạc đâm toạc tờ giấy?”

Lý cải:

_ “Không phải. “Thẳng mực tầu đau lòng gỗ”. Luật pháp không phải bao giờ cũng cứ một đường thẳng mà đi. Anh có biết “bát nghị” là gì không?” (1)

_ “Biết chút chút.” Tôi nói: “Luật Hồng Đức.”

_ “Anh chắc biết ông ta là công thần của chế độ!” Phạm Xuân Lý nói.

Thấy anh ta nói đúng, tôi làm thinh.

Một lúc, tôi nói thêm:

_ “Từ một người bị “cậu Cẩn” ghét cay ghét đắng, vì cho rằng ông ta là “đệ tử” Thủ hiến Phan Văn Giáo, cương quyết trừng trị một khi “anh thượng thư về châp chánh”, trở thành một người “kinh tài cho Ngô triều” (Báo chí hồi đó gọi ông Nguyễn Cao Thăng là một người như thế – tg) phải nói rằng ông ta là thiên tài. Ông nầy không thua gì Lã Bất Vi bên Tầu. (2).

Tôi không nhớ chắc ngày nào, sau khi dựng hội trường ở giữa hai khu nhà số 4 (Khối 4) và nhà số 5 (Khối 5) thì được tổ chức học tập. Ai nấy đều vui, hy vọng “học xong” sẽ được về.

“Đi học” mà, học xong thì về chớ có phải tù tội gì đâu!!!

Phần đông tin tưởng như vậy bởi vì “cách mạng” yêu cầu phải “tuyệt đối tin tưởng” vào “cách mạng” thì mình cũng phải tin chớ. “Cách mạng” cũng có danh dự, uy tín của “cách mạng”, không lý “cách mạng” “nói ra rồi lại nuốt lời như… Chí Phèo hay Thị Nở”.

Tất cả chỉ có 10 bài học chính trị. Tổ của tôi, ai cũng lo học cho thuộc. Hồi đó, tôi cũng rán học thuộc, nhưng đến bây giờ, tôi không sao nhớ rõ tên 10 bài học đó. Đại khái là “Đế quốc Mỹ xâm lược nước ta là kẻ thù của nhân dân ta.” Kế đó là những bài như “Đế quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân toàn thế giới”, “Đế quốc Mỹ là con đĩa hai vòi”, “Đế quốc Mỹ giàu mà không mạnh”, “Không nên sợ Mỹ và phục Mỹ”, “Ngụy quân ngụy quyền là tay sai của Mỹ, có tội với nhân dân, cách mạng”.

Quan trọng nhất là ai ai cũng phải “tự mình xác nhận có tội với “cách mạng”… Rồi thì: “Xã hội chủ nghĩa là ưu việt, là con đường tất yếu của nhân loại”, “Chính sách khoan hồng nhân đạo của Cách mạng trước sau như một”, v.v… Nói chung là như thế… như thế!…

Ban ngày thì đi học. Học xong, họp tổ, thảo luận rồi làm bài “thu hoạch” nhưng tối lại, trong bóng tối, chưa ngủ được, nằm bên nhau, chúng tôi nói toàn chuyện “phản động”, mặc dù có Phan Hải nằm ở đầu vách phòng. Đôi khi anh ta cũng góp ý, tuy không nhiệt tình. Tội nghiệp, anh ta đang hy vọng bố mẹ bảo lãnh cho về sớm, nên ai cũng thông cảm chuyện anh ta “giác ngộ cách mạng” sớm hơn chúng tôi. Đời nầy, ai cũng vì cái quyền lợi của người ta cả, “tổ quốc, tổ cò” gì đâu!!!

Một đêm, Chiểu hỏi tôi:

_ “Anh Hải, “Mỹ giàu mà không mạnh. Vậy thì chắc chắn bọn chúng đã thua ở Việt Nam.”

_ “Tôi không rõ.” Tôi nói. “Nhưng theo tôi nghĩ, các tay chuyên viên, nằm ở phía sau tòa Bạch Ốc, là các ông giáo sư đại học, như “Kít” hay Brzezinski họ có “tầm nhìn chiến lược” về toàn thế giới, vạch ra đường lối cho nước Mỹ, thì cứ 10 năm hay 20 năm, tình hình thế giới có vài biến chuyển lớn, trong đó, bao giờ cũng có vai trò như thế nào đó của Mỹ.”

Dung nói:

_ “Nói chung chung dzậy ai nói mò chẳng được. Anh đưa ra ví dụ đi.”

_ “Như vầy nè! 1945, Thế giới chiến tranh thứ hai chấm dứt. Năm 1955, Mỹ vào miền Nam, Pháp rút đi. Mười năm sau, Mỹ đổ quân vào miền Nam. Rồi mười năm nữa, Martin cuốn cờ ở tòa đại sứ Mỹ.”

Phạm Xuân Lý nói:

_ “Không chắc, vậy hiệp định Genève 1954 để làm gì, hiệp định Paris 73 để làm gì?”

Tôi nói:

_ “Theo tôi nghĩ, đó chỉ là những công việc chuẩn bị cho giai đoạn quan trọng, chính yếu tiếp theo. Có hiệp định Genève 1954 thì Mỹ mới nhảy vào trực tiếp ở miền Nam năm 1955. Lạt đổ Ngô triều năm 1963 để chuẩn bị cho Mỹ đổ quân năm 1965. Hiệp định Paris 73 chỉ là chuẩn bị cho Mỹ hoàn toàn không dính líu gì tới Việt Nam nữa, giao cho Trung Cộng.”

_ “Vậy là Mỹ thua Trung Cộng?” Trắc hỏi.

_ “Thua hay không thì phải trở lại thông cáo Thượng Hải, hay việc Kissinger bí mật qua Bắc kinh hồi tháng 7 – 1970, với việc Nixon gặp Mao hôm 21 tháng 2 năm 1972. Kissinger là một giáo sư, một lý thuyết gia, chiến lược gia. Tay nầy nguy hiểm lắm.

“Khi tiễn chân Nixon ra về, Mao nói buồn cười lắm: “Những người như chúng tôi thường nổ những loạt súng lớn, tổng thống đừng quan tâm.”

“Mấy tay đầu sỏ quốc tế chưởi nhau om sòm cho vui thiên hạ, còn trong thực tế thì họ chia chác nhau quyền lợi. Quyền lợi của các nước lớn, hy sinh quyền lợi các nước nhỏ. Tội nghiệp là thân phận các dân tộc nhược tiểu như mình, cứ nghe súng “đại bác mồm” của Mao mà sợ.”

Phạm Xuân Lý nói:

_ “Coi như Mỹ phủi tay, xong rồi!”

_ “Không đâu!” Tôi nói. “Tôi có cảm tưởng như tụi Mỹ đang “chia vùng trách nhiệm” vậy! Mấy hôm trưóoc khi trình diện (cải tạo), tui vẫn còn nghe Bêbêxê. Kissinger lại đi Ai Cập, Do Thái chuẩn bị cho một thỏa hiệp gì đó để ổn định Trung Đông. Mỹ muốn giao một trách nhiệm gì đó cho Do Thái, đệ tử ruột của Mỹ, còn Ai Cập, bàn chuyện gì bên đó mà không có Ai Cập làm sao được.

_ “Đông Dương, Đông Nam Á coi như xong” Lý nói.

_ “Liên minh Phòng thủ Đông Nam Á” là coi như xong rồi. Khi tôi còn làm viêc ở Kiên Giang, một hôm về Tam Sơn (3), nghe dân chúng thuật lại thời cụ Ngô, lính Nhảy Dù Úc nhảy xuống Tam Sơn, mới biết có lần “Liên Minh” nầy tập trận, có cho lính nhảy dù nhảy xuống đó. Dân chúng đi coi đông lắm.” Nếu nói “chia vùng trách nhiệm ở vùng Đông Á nầy, có thể coi vai trò của Trung Cộng với Nhật là quan trọng. Sau lưng Nhựt còn có Mỹ mà. Mỹ không bỏ Nhựt như bỏ miền Nam mình đâu!

Phan Hải nói, tự ái:

_ “Cách mạng mình cũng ghê lắm, họ chịu lép sao?”

_ “Nước mình là nước nhỏ, là con cờ của tụi nó. Con tốt hay, như bài thơ đánh cờ của Hồ Chí Minh thì cũng có thể, nhưng nhìn chung, cũng chỉ là con cờ.”

Chung lên tiếng:

_ “Dân cải tạo cũng nhạy bén lắm, anh biết không! Nhiều người đang học tiếng Tầu.”

Quả thật trại L3-T3 của tôi có hai hiện tượng đáng chú ý. Thiên hạ đua nhau học tiếng Tầu. Khối nào cũng có lớp học tiếng Tầu, học chữ Hán và nhiều sòng mạt chược mở ra.

Học xong 10 bài, cũng chẳng thấy biến chuyển gì cho thấy sắp được tha về, ai nấy nôn nao, buồn bã, chán nản.

Đang trong tình hình như thế, Phan Hải đề nghị:

_ “Cái giếng đầu kia đông người quá, mình đào riêng một cái giếng cho tổ của mình đi.”

Dung nói:

_ “Sắp về rồi, đào giếng làm chi nữa.”

Chiểu phản ứng:

_ “Trường học tập cải tạo không bao giờ thiếu người đâu, mình đi thì để lại cho người khác dùng.”

Trắc cười không vui, nói:

_ “Thằng “đui” nầy phát biểu câu nào cũng độc. Nó đoán trước chế độ nầy không bao giờ thiếu tù, chỉ thiếu nhà tù mà thôi.”

Phan Hải góp ý, không biết thành thật hay đùa:

_ “Cách mạng nói rồi, không phải tù, chỉ là học tập cải tạo mà thôi.”

Toán đào giếng chỉ có mấy ngoe. Phan Hải tìm một chỗ bên hông nhà, hy vọng trúng mạch nước, đào một vòng làm dấu rồi đi mất, còn lại Phạm Quang Chiểu là người tích cực nhứt trong việc đào giếng nầy, thứ đến là Trần Phú Trắc và tôi. Mấy ông khác, chỉ hụ hợ rồi chán nản bỏ đi.

Khi đào xuống sâu, thấy đất đã ướt, có mạch nước thì Chiểu không cho tôi và Trắc xuống giếng nữa. Anh ta giành lấy công việc khó nhọc đó.

Tôi và Trắc, đứng trên miệng giếng, có gác ngang hai tấn ván. Khi vét đất đầy cái giỏ do chúng tôi làm bằng giây kẽm gai, Chiểu hô to: “lên”.

Tôi và Trắc ở phía trên thay nhau kéo lên.

Đất càng ngày càng nặng, cho biết mạch có nhiều nước. Khi cái giỏ đất được kéo lên, phải từ từ để cái giỏ không lắc lư qua lại.

Chiểu phải nép vào thành giếng để tránh nước từ cái giỏ đầy chảy ra.

Khi kéo thì chúng tôi đứng dạng chân trên hai tấm ván, cúi người xuống, cầm giây kéo lên.

Trắc thì nhiều khi rất “xà bát”. Thay vì đứng cho ngay mà kéo, anh ta đứng nghiêng một bên người mà kéo. Vậy nên anh bị “cúp xương sống” nằm lì một chỗ, không nhúc nhích gì được, suốt cả mấy tháng trời. Việc ăn uống, đi tiểu, đi cầu, tắm rửa, v.v… của Trắc đều được Chiểu chăm sóc, giúp đỡ.

Chiểu rất tận tâm, chân thành, đáng quí. Sau nầy, khi về trại Long Giao, Trắc chưa bình phục hẳn mà Chiểu thì đã bị đưa ra Bắc, không ai giúp đỡ Trắc cả, tình cảnh của anh ta rất đáng thương.

Trắc nằm một chỗ, khoảng hai chục ông bác sĩ đến thăm mà Trắc không bình phục được. Bác sĩ khám thì phải có thuốc. Bác sĩ không thuốc thì cũng “cùi.”

Trần Hữu Bảo nói đùa:

_ “Hồi trẻ chơi chị Năm chị Mười, mục xương sớm chớ cúp mẹ gì đâu!” (4)

Nghe Bảo nói đùa, ai nấy đều cười. Trắc đang nằm liệt cũng cười, nói vớt vát:

_ “Đ. mẹ. thằng ba trợn, nói bậy bạ không!”

Dung, cũng hay đùa, vừa nói to, vừa cười: “Bậy bạ, trúng tùm lum.”

Không có thuốc thì châm cứu vậy.

Khi tôi bị chuyển về trại L3-T3 thì nghe nói bác sĩ Văn Tần cũng ở đây, bác sĩ Trương Thìn cũng ở đây, nhưng cả hai đã được tha về rồi. Người ta đồn bác sĩ Văn Tần nói rằng ông ta bà con với Văn Tiến Dũng. Nghe thế, tôi không cải chính, chỉ thấy buồn cười việc thiên hạ hay tán bậy. Bác sĩ Văn Tần quê ở Long Hưng, làng nầy sát thị xã Quảng Trị. Năm tôi học lớp nhứt với ông Hồ Đắc Hanh thì Văn Tần đi học lại. Đi học lại có nghĩa là mấy năm chiến tranh, việc học anh ấy bị gián đoạn, nay anh ta đi học cùng với lớp “hậu sinh”, cũng có nghĩa là trước 1945, anh ta học trước chúng tôi những mấy lớp. Tuy là bạn học nhưng nói chuyện với anh ta, bao giờ tôi cũng phải ngửng đầu lên vì anh ta vừa lớn tuổi, vừa lớn con. Chúng tôi với nhau thì gọi mày tao, nhưng với Văn Tần thì bao giờ cũng gọi bằng anh. Học chung với anh tới lớp đệ lục, thì tôi bỏ trường, tới đệ nhị cấp thì lại gặp nhau ở Quốc Học. Bố anh làm lý trưởng làng Long Hưng trước 1945, còn ông Văn Tiến Dũng là dân Bắc Kỳ. Bắc Kỳ, Trung Kỳ xa nhau lắm, đâu phải người cùng làng, cùng xứ, dễ làm bà con với nhau hơn.

Còn ông Trương Thìn vô trại thì phát triển môn châm cứu. Nhiều người theo học, người nầy dạy lại người kia. Kể từ khi ông Trương Thìn rời trại tù cải tạo đến nay chưa đầy một năm, mà có cả một chục thế hệ học trò châm cứu tiếp nối nhau.

Có lần, tôi nói đùa:

_ “Châm để cứu, hễ cứu không được thì “châm kêu”, “châm khiêng”.

Nguyễn Văn Bê không hiểu ý tôi, hỏi:

_ “Châm kêu, châm khiêng là sao?”

_ “Kêu là kêu y tá xuống cấp cứu, hoặc khiêng lên bệnh viện.”

Trắc cũng được châm cứu, lần hồi anh ta ngồi dậy được, đi lại được, cũng đỡ cho Chiểu. Tuy nhiên, không ai trong tổ tôi cho rằng đó là kết quả của châm cứu cả.

“Thầy” Đạo, tên thật là Nguyễn Đạo, cùng đội với tôi, cũng học nghề châm cứu đâu đó.

Cũng như mọi “thầy” khác, ông ta sắm một bộ kim châm cứu, rút từ sợi thép cứng trong giây điện thoại. Thỉnh thoảng “thầy” cũng mang hộp đi đâu đó, hành nghề “cứu nhân độ thế.” Hôm Lê Khắc Quyền ở khối 3, bị “thần quyền” nhập, có nghĩa là nửa đêm, anh ta tung mùng dậy, múa vỏ lung tung, mãi gần sáng, đánh võ “Xôlô” mệt quá, anh mới nằm xuống ngủ.

Trắc kể cho tôi nghe:

“Không rõ ông nào trong tổ của Lê Khắc Quyền, nghe danh “thầy Đạo” bèn lên rước “thầy”xuống.

Đang kẹt ván cờ tướng, “thầy” bảo “Chút nửa tui xuống.”

“Khi người mời “thầy” đi rồi, tui nói với Đạo:

_ “Bệnh người ta mời, cứ ngồi đánh cờ.”

“Đạo vẫn ngồi đánh cờ, trả lời Trắc:

_ “Mấy sợi giây thần kinh nó chạm nhau đó mà, chút tui xuống gở ra là xong.”

“Tuy nói vậy, “thầy” cũng giải quyết xong ván cờ cho sớm, ôm hộp kim ra đi.

Mấy hôm sau thì nghe tin Lê Khắc Quyền chết, chôn bên cạnh phi trường, chỗ “nghĩa trang tù”.

Kể lại chuyện đó với tôi, Trắc than phiền:

_ “Tính mang người ta mà coi như chuyện chơi.”

Tôi cải:

_ “Nhưng ông Quyền chết có phải vì châm cứu đâu. Tui chưa nghe ai nói vì châm cứu mà chết.”

_ “Đã đành” Trắc nói.

 “Nhưng làm thầy thuốc thì không phải tác phong như thế!”

Tôi nghĩ rằng Trắc không ưa Đạo vì tay nầy thường hay “show up” nên nói thế. Tuy nhiên, điều Trắc phê phán, không hẳn sai. Thời gian ở L3-T3 do bộ đội quản lý, chẳng lao động, phá rừng, cày cuốc gì cả, cả ngày chúng tôi chỉ lang thang chuyện trò. Để giết thì giờ, và có thêm rau “cải thiện”, chúng tôi tự kiếm đất trống, trồng rau, trồng đậu…Khoảng một lần một tuần, bộ đội tổ chức đi cuốc đất, chuẩn bị trồng khoai mì ở phi trường, hai bên phi đạo. Chỉ là chuẩn bị thôi, nghĩa là chúng tôi lấy cuốc đánh vồng, đắp từng mô đất bằng cái nón lá, chờ có mưa thì dăm hom khoai mì xuống đó. Những mô đất đó, chúng tôi gọi đùa là mả gió. Đi lao động có nghĩa là đi đắp mả gió. Mỗi khi có gọi đi lao động, vài anh em chúng tôi tình nguyện xin đi. Ở hoài trong trại cũng chán. Tuy kế hoạch thì vậy, nhưng ra tới nơi, mạnh ai muốn làm gì thì làm, có kẻ đi lang thang, thậm chí có anh vạch cỏ bắt dế về cho dế đá nhau xem chơi. Cả buổi, toàn thể chúng tôi miễn có đắp vài ba chục cái mả gió là được. Có hôm trời nắng quá, thiếu úy Đậu, Dziệt Cộng, người dẫn chúng tôi đi lao động, tập họp chúng tôi lại. Anh ta đứng trên gò đất cao, tuyên bố một câu, lần nào cũng như lần nào:

“Điều kiện trời thì nóng, đất thì cứng, ta về thôi.”

Thế là chúng tôi hoan hô, vác cuốc kéo nhau về. Gần chỗ chúng tôi đắp mả gió là “nghĩa trang tù”. Anh em trong trại tôi, ai qua đời thì chôn ở đó. Những anh em các trại khác, khi chết, cũng chôn ở đó. Vì vậy, khi đi đắp mả gió, chúng tôi thường ghé lại “nghĩa trang”. Cứ vài ngày thì có một cái mả mới, có dựng bia, bằng gỗ thì viết tên, hay bằng “tôn” lợp nhà thì đục lỗ khắc tên cho lâu bền. Có hôm, anh Thế của trại tôi ra tới nơi, bèn tới xem tên trên những bia mộ mới, rồi khóc òa lên.

Anh em đổ xô tới hỏi. Anh ta vừa chỉ lên mộ bia vừa nói: “Thằng nầy em tao. Nó chết rồi! Trời ơi. Nghe nổ ở T5, tao đã nghi. Ba má ơi, biết nói làm sao với ba má!”

Nghe khóc, chúng tôi ai cũng cảm động. Vào trại, để giết thì giờ, chúng tôi thường kiếm việc làm tiêu khiển, vừa để làm vật kỷ niệm. Trần Thanh Tuấn, khối 1 với tôi, nguyên Trưởng phòng Công xa Bộ Tư lệnh CSQG, tú tài kỹ thuật nên đục, đẻo, giũa, mài…khéo tay lắm. Cứ mỗi lần đi đắp mả gió, anh ta tới chỗ hai chiếc AD-6 bị hỏng, để bên phi đạo, đục, cạy lấy nhôm vỏ máy bay đem về. Anh ta làm cỡ vài chục cái lược, vài chục con dao. Có hai anh em ở tổ 7, khối 1, quen tay nghề ở nhà khắc tượng Chúa, Mẹ nên họ lấy mấy khúc gỗ đun bếp, cắt, khắc chạm thành những cái ống điếu (vố) rất đẹp. Ở T5, nghe nói có mấy ông thiếu úy còn trẻ, rủ nhau lấy hỏa tiển (loại gắn máy bay), lớn hơn cổ tay, chưa nổ, đem về cắt làm vòng tay, khắc tên, chạm hình, đeo chơi. Có mấy người đã làm thì không sao. Bữa đó có mấy ông xúm nhau cưa một hỏa tiển như thế. Bất thần hỏa tiển nổ khiến bốn ông mạng vong. Ai ngờ, trong số đó có một người em của Thế. Hai anh em cùng đi Thủ Đức, cùng ra sĩ quan và cùng đi tù cải tạo, chỉ khác trại mà thôi.

Bấy giờ chúng tôi phá những ca uống nước của lính. Loại nầy bằng inox. Dùng inox nầy, chúng tôi cắt, khắc chạm, chùi bóng, làm những tấm “lắc” chờ khi được tha về hay được thăm nuôi thì tặng biếu gia đình. Không lấy nhôm ở chiếc máy bay AD-6 bị hư ngoài phi trường được thì chúng tôi kiếm nhôm, cắt nhỏ, đem nấu, lại cắt, dũa mài, thành những cái lược. Tôi cũng làm cho con tôi mấy tấm lắc bằng nhôm. Hễ đứa nào tuổi con gì, thì tôi khắc hình các con đó: Trâu, mèo, ngựa …

Có người dùng “tôn” lợp nhà, cắt gò, thành dụng cụ dùng hằng ngày như nồi, soong, v.v… Sĩ quan Dziệt Cộng thì kiếm nguyên một tấm “tôn”, nhờ cắt gò thành những cái “vani” (valise) để đựng đồ đem về Bắc. Họ thích lắm. Những cái lược nầy, “vệ binh” (lính Dziệt Cộng) cũng rất thích, nhờ cải tạo viên làm giùm hay xin lại ai đã làm sẵn. Bấy giờ có bài hát phổ theo thơ của Hoàng Trung Thông: “Bàn tay ta làm nên tất cả, Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”.

Có người nhại theo đó mà hát:

“Bàn tay ta làm nên cái lược,

Để mai nầy đem biếu anh vệ binh.

Vệ binh khen “lao động là quang vinh”

Hãy phát huy làm thêm nhiều nhiều nữa.”

Dĩ nhiên là để họ xin đem về bắc./

(1)-Tám loại người nếu phạm tội nặng thì trước khi xét xử phải được phép của vua và khi kết tội phải tâu lên vua để vua định đoạt. Bộ Quốc triều hình luật thời Lê ở Việt Nam (giữa thế kỉ 15) quy định tám loại người đó:

1-Những người thân thuộc của vua (nghị thân).

2-Những người giúp đỡ vua lâu ngày (nghị cố).

3-Những người có đức hạnh lớn (nghị hiền).

4-Những người có tài năng lớn (nghị năng).

5-Những người có công lớn (nghị công).

6-Những người có chức tước lớn (nghị quý).

7-Những người siêng năng cần mẫn trong chức vụ (nghị cần).

8-Những con cháu các triều trước (nghị tôn).

Tám loại người này được hưởng ba sự ưu đãi:

a)-Vua cho phép xét xử thì quan mới được xét xử và vua quyết định việc kết tội.

b)-Khi thẩm vấn, họ không bị tra khảo như dân thường.

c)-Nếu bị kết từ tội lưu trở xuống, họ được giảm một bậc. Đối với việc phạm thập ác (mười tội ác: 1/ Mưu phản. 2/ Mưu loạn 3/ Mưu đại nghịch: giết vua 4/ Ác nghịch: Giết cha mẹ 5/ Bất đạo: thiếu đạo đức 6/ Đại bất đạo 7/ Bất hiếu. 8/ Đại bất hiếu 9/ Bất mục 10/Bất nghĩa) thì không được áp dụng bát nghị. (Theo VNTĐ)

(2)-Lã Bất Vi (trước Công Nguyên) là một thương gia thời Chiến Quốc. Sau ông làm thừa tướng nước Tần. Lã Bất Vi là cha của Doanh Chính, tức Tần Thủy Hoàng, hoàng đế đầu tiên của Tầu. Ông là người nổi tiếng trong lịch sử về buôn bán, kể cả buôn vua. (Xem phần nói về Dược sĩ Nguyễn Cao Thăng trong Viết Về Huế, tập 3, cùng tác giả)

(3)-Tam Sơn là 3 ngọn núi ở vịnh Rạch Giá: hòn Me, hòn Sóc, hòn Đất (Hòn Đất là  đặc khu của VNCH, tên gọi là Đạc Khu Hòn Đất”

(4)-Chị Năm là 5 ngón tay, chị Mười là 10 ngón tay, để thủ dâm.

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút

vietmessenger.com

Hoàng Hải Thủy

Post by Sơn râu 26 Sep 2025

Phần 9.

Tôi hổ thẹn khi phải vác mặt mo đến dự cái gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị Văn Nghệ Sĩ Sài Gòn. Có hôm xớ rớ trong hành lang Nhà Hát Lớn, thấy Lệ Thu đi đến, tôi không dám để nàng nhìn thấy mặt. Lẽ ra tôi phải hỏi thăm Lệ Thu về Hồng Dương, bạn tôi đang ở trong tù: “Ở đâu có biết không? Sức khỏe ra sao? Gửi đồ tiếp tế thế nào? Có tin gì gửi ra không? Có được gặp mặt không? v.v…” Nhưng thay vì hỏi Lệ Thu những câu ấy, tôi xấu hổ nên quay mặt đi hướng khác.

Ngày bế mạc khóa học được tổ chức ở Nhà Hát Lớn, tôi là người được anh chị em Tổ Thi Văn bầu làm đại diện Tổ, sẽ lên nói cảm tưởng sau khóa học. Nhưng đến phút cuối cùng những người tổ chức không cho tôi lên nói, tôi bị bất ngờ và tôi cũng sợ nên tôi ngồi im. Nếu tôi không ngán sợ lúc ấy lẽ ra tôi phải đứng lên phản đối: “Tôi là đại diện Tổ. Sao không cho tôi lên nói mà lại để người khác nói..?” Lẽ ra tôi phải làm như thế rồi bỏ ra về.

Tan hàng lúc 5 giờ chiều. Tôi u uất đến độ không muốn đạp xe về căn nhà tối của vợ chồng tôi ở Cư xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, tôi đến nhà ông anh kết ngãi với tôi ở đường Ký Con để nói với ông vài câu, uống chạc của ông mấy ly rượu cho bớt sầu đời. Thấy tôi vào, ông hỏi tôi:

– Làm cái gì mà mặt mũi cậu trông ghê như mặt tù cải tạo vậy?

Tôi rầu rĩ trả lời:

– Hôm nay tôi đi xem một số người tự bốc phân vứt lên mặt họ. Tôi không làm việc ấy nhưng vì tôi ngồi cạnh họ nên phân văng cả sang mặt tôi.

Hai anh An Khê Nguyễn Bính Thinh, tác giả tiểu thuyết Hai Chuyến Xe Bông, Nguyễn Ngọc Tú Ngọc Thứ Lang, dịch giả Bố Già The Godfather, Quần đảo ngục tù The Gulag Archipelago, cùng dự Khóa Bồi Dưỡng với tôi đã qua đời. Anh An Khê mất ở Pháp, Ngọc Thứ Lang chết ở trong trại cải tạo Phú Khánh, Nguyễn Đình Toàn Áo Mơ Phai, Cao Nguyên Lang hiện lúc này – năm 1995 – đang sống trong Làng Báo chí An Phú. Rất nhiều bạn đồng khóa với tôi hiện sống ở Hoa Kỳ: Lệ Thu, Ngọc Minh, Băng Châu, Ngọc Chánh v.v…

Nhân vật Đảng Ủy quan trọng nhất phát biểu kết thúc Ngày bế mạc Khóa Bồi Dưỡng là “Đồng chí Thành Quỷ” Tư Tân – người Sàigòn gọi “Thành Ủy” là Thành Quỷ – “Đồng chí Thành Quỷ” Tư Tân tức Trần Trọng Tân, người năm 1994 giữ chức vụ chính trị lãnh đạo cao nhất, nhì, ba ở Thành Hồ. Trần Trọng Đăng Đàn là em Tư Tân, viết quyển “Kết án văn nghệ đồi trụy, phản động Sàigòn”. Quyển này kê khai đầy đủ tên cúng cơm, tên tác phẩm của những người viết Sàigòn bị cấm đoán. Năm 1976 rất nhiều người đến Nhà hát Thành Phố dự lễ Bế mạc Khóa học Bồi dưỡng Chính trị còn khá trẻ. “Đồng chí” Tư Tân năm ấy cũng chưa già. Năm 1994, đọc trong quyển Hoa Xuyên Tuyết của Bùi Tín tôi thấy mấy dòng:

– “… Người dân Quảng Bình, ai còn lạ gì những việc làm của anh em ông Trần Trọng Tân trong thời quân Nhật làm chủ Quảng Bình…”

Không rõ ràng lắm nhưng người đọc dù có kém thông minh cũng có thể hiểu: “Đại tá” Bùi Tín tố cáo “Đồng chí Thành ủy Trần Trọng Tân và người em trai làm mật thám, làm tay sai, làm chó săn cho Nhật.

Kể từ khi đọc những dòng ấy về anh em “Đồng chí thành quỷ” Trần Trọng Tân mỗi lần nhìn thấy bộ mặt nghiêm trọng của “đồng chí Thành Quỷ” trên Tivi tôi lại cứ tủm tỉm, lỉm rỉm cười một mình.

Trích” Những tên biệt kích cầm bút”.  Trang 10 đến trang 20

Khi chủ nhà xin lỗi vào bên trong, còn lại một mình ở sa- lông, Hoàng Hải nhồi thuốc vào ống vố, đánh diêm rít một hơi dài. Lâu lắm anh ta mới mua được loại thuốc “Half and Half” quen thuộc ấy. Anh ta đưa bịch thuốc bọc giấy thiếc lên mũi ngửi. Mùi thơm phảng phất dịu ngọt. Ngày xưa những người bạn Mỹ trong cơ quan USIS biết anh ta nghiền loại thuốc này, nên vẫn mua ở PX để biếu hàng lố.

Bà chủ nhà bưng ly trà ra vồn vã:

– Mời ông xơi nước. Tôi nghe tên ông đã lâu, nay mới biết mặt. Thật là “văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình”.

Bà ta cố tình làm ra có vẻ suy nghĩ để tìm câu chữ cho phù hợp trước khi nói ra câu chữ Hán ấy.

– Vâng xin cảm ơn bà – Hoàng Hải lấy vẻ lịch thiệp nói – Trước đây chúng tôi và cô Kiều Trang vốn là chỗ quen biết. Vả lại một minh tinh màn bạc như Kiều Trang thì cả nước đều biết tiếng. Thưa bà, lâu nay Kiều Trang có gửi thư, quà về không nhỉ? À, xin lỗi… Bà là thế nào với Kiều Trang.

– Tôi là chị. Cô ấy vẫn gửi thư, nhưng quà thì thỉnh thoảng thôi.

– Thảo nào, trông bà giống Kiều Trang quá!

Biết là khách khen nịnh nhưng bà vẫn cố tình vuốt mấy sợi tóc vương trên trán làm như không chú ý đến những lời khách vừa nói. Hoàng Hải cũng tự thấy mình khen quá đáng. Người đàn bà ngồi trước mặt anh tuổi đã ngoài bốn mươi, đôi má bắt đầu chẩy sệ xuống. Không có một chút gì giống tấm ảnh Kiều Trang treo trên tường với cái cổ tròn lẳn hấp dẫn, cái liếc mắt rất tình.

Thấy khách ngồi im, bà chủ nhà gợi chuyện:

– Mời ông xơi nước. Lâu nay ông có sáng tác gì không ạ?

Hoàng Hải nhấp ngụm trà nóng, lắc đầu:

– Thú thật với bà, tôi đã treo bút. Viết cái gì bây giờ? Hơn nữa, viết để làm gì? Chẳng lẽ mình lại là độc giả duy nhất của chính mình.

– Tiếc thật, không riêng gì ông, nhiều người khác cũng thế. Thật phí những tài năng….

Hoàng Hải khẽ nhún vai:

– Tôi có đến sớm quá không, thưa bà? Hôm qua tôi được anh Khuất Duy nhắn đến đây để gặp anh em. Lâu quá chưa có dịp gặp anh em làng văn, làng báo cũ, kể cũng nhớ. Chẳng hay vị nào có sáng kiến tổ chức cuộc gặp mặt này, thưa bà?

Bà chủ nhà chưa kịp trả lời thì có thêm mấy người khách nữa đến, Hoàng Hải nhận ra các nhà văn Đoàn Quốc, Dương Hùng. Thật ra, thỉnh thoảng họ vẫn uống cà phê với nhau, nhưng lâu nay chưa có cuộc họp mặt nào nhiều người. Hơn thế, họ chắc nội dung cuộc gặp gỡ này khác hẳn với những lần bàn chuyện phiếm ở các quán cà phê. Do vậy, họ siết chặt tay nhau, ôm choàng lấy nhau như nhiều năm chưa gặp.

Khi Dương Hùng lấy ra chai rượu để lên bàn. Hoàng Hải đón lấy, mở nút chai đưa lên mũi ngửi, làm bộ nhăn mặt:

– Johnny Walker hay Beehive đây ông bạn? Ông vẫn nghiện Johnny Walker đấy chứ?

– Thôi mà chế nhau làm gì ông bạn già – Dương Hùng vỗ vai Hoàng Hải – “Cây Lý” đấy “gặp thời thế, thế thời phải thế”! Thời buổi này phải trở về nguồn thôi! Xem ra, ông chưa chịu “cải tạo” chút nào cả – Dương Hùng cười ha hả. Hoàng Hải cười theo và rút túi đặt gói thuốc “Half and Half” lên bàn, gõ gõ ống vố để trút tàn thuốc vào cái gạt tàn bằng sành, chậm rãi nhồi một cối thuốc khác.

Dương Hùng liếc thấy hiệu thuốc kêu lên:

– Tôi nói có sai đâu. Cậu vẫn ghiền “đế quốc” mà. Còn phải đưa đi cải tạo mút mùa.

Hoàng Hải cắn đầu ống vố nơi mép, nhếch môi cười khì. Đoàn Quốc nãy giờ vẫn ngồi im, lúc này mới lên tiếng:

– Xin hai ông. Tôi nghĩ họ không đưa chúng ta đi cải tạo vì cái món thuốc hay rượu đâu.

Mọi người hướng về phía ông ta. Kể ra trong làng văn trước đây, ông ta được xem là người thuộc “chiếu trên” vì ngoài nghề viết lách, ông ta còn dậy ở Đại học. Ông ta lại là người còn giữ “nho phong” luôn luôn đạo mạo, không ăn hút vung vít như những người khác trong “làng”

Nét mặt Đoàn Quốc có vẻ nghiêm nghị hơn:

– Một khi kiếm sĩ mà bị tước kiếm thì có khác gì người cầm bút bị người ta tước mất bút. Hắn đâu còn là hắn nữa thì cần gì phải cải tạo. Các ông thử nghĩ xem có đúng không?

Cả bọn như bị điểm huyệt, ngồi chết lặng cho đến khi bà chủ nhà lên tiếng:

– Chắc còn một số vị nữa chưa tới kịp. Nhà chúng tôi kể cũng khó tìm, nhất là đêm hôm tăm tối. Xin quý vị cảm phiền và cứ tự nhiên như nhà của mình. Bà ta nói xong lui ra nhà sau.

Nghe chủ nhà nói, Hoàng Hải bấm đùi Dương Hùng nói nhỏ:

– Này, ông biết ai mời bọn mình tới đây không?

– Chịu, tôi nghe Khuất Duy nhắn, còn ông?

– Tôi cũng thế. Hôm qua uống cà phê ở đường Phủ Kiệt cũng nghe là Khuất Duy cho địa chỉ, bảo đến đây.

Người này hỏi người kia, cuối cùng dường như không ai biết người xướng ra cuộc họp này. Thôi thì ráng chờ chút nữa hẵng hay.

Bỗng có tiếng xe đậu ở trước nhà. Mọi người đều dồn mắt nhìn ra. Không ai khác mà chính là Khuất Duy. Bước vào nhà, anh ta rối rít bắt tay từng người.

Chủ nhà dọn món nhậu lên. Khuất Duy rút từ túi xách của mình ra một chai Camus còn nguyên trong hộp rót vào những cốc nhỏ rồi cho vào những ly sô đa đầy đá.

Anh ta mời mọi người nâng cốc và tuyên bố:

– Hẳn là quý vị muốn biết là tại sao có cuộc họp mặt hôm nay. Tôi xin được phép trình bày ngay. Thật ra, cá nhân chúng tôi không dám nghĩ đến cuộc gặp gỡ này, câu chuyện còn dài, xin mời quý vị hãy cạn chén, chúng tôi sẽ thưa sau.