vietmessenger.com
Nguyễn Đình Toàn
234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam
Post by Sơn râu 29 Sep 2025

67. Phùng Cung.
Tuyển tập Phùng Cung dày 436 trang, chia làm 3 phần:
Phần thứ nhất gồm 10 truyện ngắn. Phần thứ hai là tập thơ Trăng Ngọc. Phần thứ ba gồm một bài viết của Nguyễn Chí Thiện về Phùng Cung và truyện ngắn Con Ngựa Già Của Chúa Trịnh. Độc giả trong và ngoài nước biết nhiều đến Phùng Cung là qua truyện ngắn này. Đọc sách của những tác giả sống trong thế giới công sản nói chung, chỉ có một điều người ta thấy được một cách rõ rệt, đó là: con người khổ quá! Người viết, hay tác giả, thường cùng với các nhân vật trầm luân trong một bể khổ. Dường như các tĩnh từ, trạng từ không đủ để diễn tả những hoàn cảnh, trạng thái của các nhân vật. Sự can đảm chịu đựng cũng như các mưu chước, độc ác, lạnh lùng, người ta đem ra đối xử, hành hạ nhau, đều đáng sợ.
Được biết Phùng Cung sinh năm 1928 và theo chính lời con trai ông kể lại, Phùng Cung đã tham gia cách mạng từ năm mới 17 tuổi. Phùng Hà Phủ con trai Phùng Cung cho biết:
“Trong suốt thời gian tham gia cách mạng, bố tôi ít có dịp trở lại quê nhà. Khi chính phủ phát động phong trào ‘cải cách ruộng đất bố tôi cũng như bao anh em khác cùng cơ quan phải về các địa phương khác nhau tham gia phong trào. Một lần, nhân dịp tết Nguyên Đán về thăm gia đình, thấy cảnh tượng cửa nhà, ruộng đất bị chia cướp, phá phách. Ông nội tôi rất lo lắng vì gia đình sợ bị quy là thành phần địa chủ, cường hào. Bố tôi çó an ủi, động viên ông: Con đi làm cách mạng, thoát ly đã lâu, thì thế nào gia đình mình cũng được chiếu cố. Cùng lắm là nhà nước lấy lại hết ruộng đất chia cho người nghèo hơn, bố cứ an tâm, đừng lo lắng gì”.

Nhưng hy vọng của Phùng Cung đã tan thành mây khói ngay đợt phát động đầu tiên: bố ông đã bị quy là thành phần địa chủ, bị đấu tố và sau đó chết trong tù. Về việc Phùng Cung tham gia vào vụ Nhân Văn Giai Phẩm, con trai ông cho biết như sau:
“Năm 1956, một nhóm văn nghệ sĩ gồm những người tham gia kháng chiến cũ tập họp nhau đứng ra thành lập báo Nhân Văn và Giai Phẩm. Ông Nguyễn Hữu Đang đến gặp và bảo bố tôi tham gia viết bài ‘Con Ngựa Già Của Chúa Trịnh’ đăng trên báo Nhân Văn ngay sau đó. Thời gian này mẹ tôi thấy người chung quanh bàn tán với nhau tờ Nhân Văn ‘có vấn đề’. Và chỉ một thời gian ngắn sau khi có bài viết của bố tôi thì tờ báo bị cấm xuất bản và lưu hành”.
Sau đó, như người ta được biết, gần như toàn bộ các *người tham gia vào việc xuất bản hai tờ Nhân Văn và Giai Phẩm đều bị bắt. Riêng Phùng Cung bị giam từ đó, tức là khoảng tháng 05-1956 cho đến khi có Hiệp Định Paris, nghĩa là 12 năm sau mới được tha ra. Ông bị giam tại Hỏa Lò [Hà Nội], rồi Bất Bạt [Sơn Tây], Yên Bình [Yên Bái] Phong Quang [Lào Cai] …
Phùng Hà Phủ kể tiếp:
“Nhớ lại, theo bố tôi kể, khi xảy ra chuyện, buổi sáng đó, bố tôi được triệu tập tới cơ quan để họp. Đến nơi thấy mọi người xung quanh cố lảng tránh mình, thậm chí không ai dám mời nhau một chén nước. Ngay cả những người bạn rất thân và thường lui tới nhà cũng tìm cách lánh mặt. Ngay sau đó, bố tôi bị đem ra kiểm điểm trước cuộc họp, mà thực chất gần như một buổi đấu tố ‘cải cách’ của thời Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật [gồm cả đại diện bên văn nghệ quân đội].
Chủ trì cuộc đấu tố gồm các ông Võ Hồng Cương, Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên, Hoài Thanh … Cảm tưởng đau xót và ngỡ ngàng nhất đối với bố tôi là những bạn thường ngày chơi thân với bố tôi như vậy, tham gia vào việc đấu tố. Ngày hôm đó, ông Trần Dần là người đứng lên ‘tố để hai ông Hoàng Cầm và Lê Đạt làm chứng dối. Tội chính mà bố tôi bị ‘tố” là mang lòng hận thù cách mạng sau cái chết của bố mình. Lôi kéo người khác cùng về hùa để lăng mạ lãnh đạo” …
Vẫn theo lời kể của con trai ông Phùng Cung thì, trước khi bị bắt và khai trừ khỏi Đảng, ông từng là đối tượng được cơ quan đề nghị sang học tại Liên Sô, nhưng ông trực tính, không ưa sự giả dối, hay châm chọc, đả kích người xu nịnh, nên có lẽ vì thế ông bị những người này ghét, hận. Con trai ông không nói rõ, nhưng chắc là chuyến đi Liên Sô của ông đã bị hủy bỏ.

Về việc lấy vợ của Phùng Cung cũng bị rắc rối. Ông báo cáo với cơ quan ý định kết hôn của mình. Cơ quan cử các ông Kim Lân, Hoàng Thượng Khanh, Lều Thọ Hợp … về quê bà để điều tra. Họ cho rằng nhà bà tuy không là địa chủ nhưng cũng thuộc thành phần của giai cấp phong kiến, không tiến bộ, nên không đồng ý. Nhưng Phùng Cung đã không chấp hành ý kiến trên’, ông cứ tiến hành đám cưới của mình.
Ở tù ra, Phùng Cung bệnh hoạn, không công ăn việc làm, cả gia đình ông chỉ còn trông cậy vào đôi vai gánh vác của bà, mọi người sống trong khổ cực, âu lo, vất vả. Có thể nói, gần như suốt đời, từ lúc thoát ly tham gia
cách mạng như cách nói thời bấy giờ, cho đến lúc chết, hình như ông không được sống một ngày thong thả, hạnh phúc. Suốt cuộc đời đau thương ấy, thực tế không bao giờ người ta thấy một nhân vật có quyền hành thật sự nào xuất hiện, chỉ vài ba người trong chính giới cầm bút, được ai đó trao cho chút quyền, hành hạ các đồng nghiệp, bằng hữu.
Đã có lần Lê Đạt nói với Phùng Cung thế này:
“Cung ơi, dù thế nào tao vẫn là bạn mày, tao có lỗi với mày. Có gì mày cứ gọi tao ra mà mắng”.
Mắng nhau thì vớt vát được cái gì đây?
Sống một cuộc sống như thế mà vẫn tồn tại được, vẫn viết được, thật khủng khiếp! Những người từng bị tù cộng sản, ở tù có thể không biết vì sao mình bị ở tù, tù không án, không xét xử, không biết bao giờ được tha, nói rằng sau một năm, hai năm và càng lâu người ta càng không còn để ý hay biết đến ngày tháng nữa. Biết để làm gì đây? Người ta tồn tại chứ không còn sống nữa. Và tồn tại trong những điều kiện không một con vật nào chịu đựng nổi, chẳng hạn như chỉ làm chứ không được ăn, đừng nói đến những cái khác. Dấu hiệu duy nhất để người ta biết chắc mình còn sống trong những ngày địa ngục ấy là người ta còn suy nghĩ được.
Thơ của Phùng Cung, truyện của Phùng Cung là những gì ông suy nghĩ trong những ngày như thế. Chỉ cần nói thật về mình, nói thật về người, về những gì nhìn thấy chung quanh, đủ làm nên những ‘tác phẩm’ trường
hợp thông thường, không trí tưởng tượng nào tạo ra nổi. Vì thế, tất cả các truyện ngắn trong tuyển tập của Phùng Cung đều là những truyện hay.
Nhưng tiểu sử của ông, những gì ông trải qua lại là những truyện hay nhất, dù đọc xơng, trong nhiều giờ, nhiều ngày, người ta cảm thấy tâm hồn không bình thường trở lại được nữa.
Cũng như Phùng Cung người ta thấy thương những con ngựa, dù có cố giữ cái thế ‘cao đầu phong vĩ’ thì rút cục vẫn chỉ là những con ngựa. Tuy được in chung trong tuyển tập truyện ngắn, nhưng Trăng Ngọc, thơ của Phùng Cung là một phần riêng biệt. Có thể coi Trăng Ngọc như tập nhật ký trong tù của
Phùng Cung, một tập nhật ký không đề ngày tháng. Không đề ngày tháng, vì đó là một chuỗi thời gian trắng, một cái khuôn, hay dùng chữ của Ôn Như Hầu cái lò cừ [Lò cừ nung nấu sự đời] không cần ghi dấu.
Trong bài Vay Nóng Phùng Cung viết:
Đất nước tôi
Triền miên bất hạnh
Tụi mặt dày – tay bẩn
Tim rắn – lời cừu
Văn hóa lớp hai
Điều hành cuộc sống
Tránh làm sao
Khỏi nát ngọc nhân quyền
Nhân danh một nạn nhân
Đứng giữa mênh mông
Cùm lim – rào kẽm
Khản cổ – chìa tay
Khấn xin những quốc gia
Văn minh – từ thiện
Cho dân Việt Nam tôi
Vay nóng chút dân quyền
Vay nóng? Lâu lắm người ta mới được đọc, mới được nghe lại hai cái từ buồn bã đó. Vay nóng. Vay xổi. Vì cần quá. Không còn biết kiếm đâu ra. Vay cũng hàm ý sẽ trả. Trông cậy vào đâu để trả chỉ có người vay biết.
Thật tàn nhẫn khi đọc những lời như thế, viết trong những hoàn cảnh như thế mà người ta lại muốn nó phải hay, phải văn chương, phải mới từ ngôn ngữ đến ý tứ …
Đáng lẽ vấn đề nêu ra chỉ là: làm thế nào con người có thể sống được, tồn tại được, trong hoàn cảnh như thế. Thơ cứu rỗi người ta chăng?
Trước mắt trẻ thơ,
mỗi tinh cầu chỉ là chấm nhỏ
Càng tối đen càng nhìn rõ xa / xanh
Mắt phàm tục đăm đăm vương chút lệ
Chút lệ này xuất hành từ trí tuệ con người
Hỡi biển cả
Diện tuy rộng
nhưng thiếu những giác quan
cần thiết
Lòng tuy xạnh – sâu
Xanh sâu đầy mặn chát
Bỏ mất mênh mông, chuốc lấy ồn ào
Tự thao túng – cái thói hư nộ cuồng
sóng vỗ
Trống trải bơ vơ, chiều quả phụ
Bình minh vô vọng phương mờ
Ôi! Bao yên lặng thanh cao
Đều chìm lặng trong thét gào man rợ
Thì nhắm mắt, bưng tai
Nhưng phải đâu khiếp sợ
Chỉ điếc đui vừa đủ, để làm ngơ
Ai cho phép ngươi
tự dành phần hương hoả nhỏ to
Một giọt nước
Vẫn tình nguyện tách đôi
Để cùng thấy rõ
Vậy dẫu vô cùng lớn lao gì đó
Ta chỉ yêu cầu hài hòa
Với vô cùng bé nhỏ mà thôi!
Điều khiến người đọc rùng mình khiếp sợ tự hỏi, thế những người vợ, những đứa con, người ta đi công tác vài ba năm, có khi dăm bảy năm mới được phép về nhà một lần, để lại / đâu / không thấy nhà thơ nhắc đến nhỉ?
Tổ quốc, quê hương, ý nghĩa cuộc đời là những điều to lớn đã chiếm hết tâm trí người ta hay sự thực là người ta phải quên những điều nhỏ bé ấy mới sống nổi?
Tổ quốc ư?
Đây là những lời Phùng Cung nói với tổ quốc:
Tổ quốc kính yêu ơi
Văn hiến – thuần phong – mỹ tục
Phút chốc bàn tay cộng sản dập vùi
Định nghĩa – tên người
Tôi không nói được
Nếu bị dồn hỏi
Tôi chỉ có thể trả lời
Bằng hai hàng nước mắt
Tổ quốc kính yêu ơi!
Quê hương u?
Đây là những điều Phùng Cung nói với quê hương:
Quê hương ơi!
Đường quan lầy nước mắt
Điệu sáo hết du dương
Mây chìm, gió ngủ
Chiều nắng da bò
Vẫn nhằm biên giới ưu tư
Rầu rầu đề bộ
Sông sâu bặt tiếng gọi đò
Chim hãy giùm ta
Gọi cành xanh ngóc dậy
Quê hương thấy lại quê hương
Ý nghĩa cuộc đời ư?
Còn có gì quan trọng hơn sống chết
Phùng Cung nói về sống chết như sau:
Sống quá khó khăn
Chết chẳng dễ dàng
Ta phải sống
Vì ta còn phải chết
Ơi! Những cánh buồm xanh biếc
Ngược dòng ngân – lộng gió
Có phải đang đưa những oan hồn
Về bên Thượng Đế chí nhân?
Thơ Phùng Cung là những gì vắt ra từ trí não và tàn lực của một người, bị treo giữa đời sống và cái chết, hay nói như chính ông ‘sống quá khó khăn, chết chẳng dễ dàng’. Nó là những tiếng kêu thất thanh, nhưng lại chỉ thốt ra bằng chữ viết. Những câu thơ người ta có thể phải trả giá bằng mạng sống. Và quả thật Phùng Cung đã phải trả bằng chính mạng sống của mình.
Những câu thơ như vậy, chúng ta phải đọc thế nào cho phải đây?
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.