Banco Papillon – Giang Hồ Tung Cánh

vietmessenger.com

Henri Charrière

Dịch giả: Đinh Bá Kha

ĐỜI MỚI xuất bản 1974

Post by Sơn râu 28 Sep 2025

Google image edited by Sơn râu

7. Carotte – Nhà Cầm Đồ

BÂY giờ là lễ Giáng sinh ở Caracas. Trong tất cả các đường phố lớn, ánh sáng tưng bừng kỳ ảo. Khắp nơi tiếng hát, tiếng đồng ca vang dội với những điệu đặc biệt của giới bình dân. Mọi người đều vui tươi. Riêng tôi có phần kém vui vì vừa bị thất bại nhưng không cay. Chúng tôi đã chơi một canh bạc, đã thua, đó là cái chắc, nhưng tôi vẫn còn sống và tự do hơn bao giờ hết. Vả lại, như Gaston đã nói, dù sao cũng là một đường hầm khá đẹp.

Dần dần tôi vui lây vì những tiếng hát ca ngợi hài đồng Béthléem và rồi lấy lại bình tĩnh, tâm hồn thanh thản, tôi gởi một bức điện tín cho Maria: “Em Maria, anh cầu chúc ngày Giáng sinh sẽ đem hạnh phúc tràn đầy đến nhà em, nơi em đã cho anh tất cả”.

Ngày Giáng sinh, tôi ở lại bệnh viện với Picolino. Nó đã đi ra vườn hoa nhỏ của bệnh viện ngồi trên ghế dài. Chúng tôi cũng có lễ Giáng sinh của chúng tôi. Tôi đã mua hai chiếc bánh hallacas, một thứ bánh, người ta chỉ làm vào dịp Giáng sinh, hai chiếc bánh đắt tiền nhất và ngon nhất. Tôi bọc theo hai chai rượu nhỏ hảo hạng.

Giáng sinh của người nghèo? Không, Giáng sinh của người giàu, rất giàu! Giáng sinh của hai thằng sống sót từ “con đường thối nát” trở về. Giáng sinh sáng ngời tình bạn được tôi luyện trong gian nguy. Giáng sinh trong tự do hoàn toàn, dù để làm những việc điên khùng như tôi đã làm. Giáng sinh không có tuyết của Caracas, nhưng đầy hoa của khu vườn nhỏ bệnh viện, Giáng sinh với nhiều hy vọng đối với Picolino, từ ngày được điều trị tại bệnh viện, lưỡi nó không thòng xuống nữa, và nó không còn sùi bọt mép. Đúng, Giáng sinh màu nhiệm đối với Picolino vì nó đã nói rõ tiếng “vâng” rất vui vẻ khi tôi hỏi nó bánh có ngon không.

Trời ơi! làm lại cuộc đời quả thật là chua cay! Tôi trải qua vài tuần lễ khó khăn, nhưng không nản chí. Tôi có được hai đức tính: một là lòng tin tưởng sắt đá vào tương lai, hai là niềm ham sống không gì lay chuyển. Ngay những lúc đáng lẽ phải lo âu thì chỉ một việc không đâu ở ngoài đường phố cũng làm tôi bật cười và khi gặp một người bạn, tôi có thể đùa giỡn với nó suốt đêm như lúc còn 20 tuổi. Đó là điều làm cho tôi giữ vững được tinh thần.

Bác sĩ Bougrat có cho tôi một công việc làm sơ sài trong phòng bào chế mỹ phẩm của ông ta. Tiền công không nhiều, nhưng cũng vừa đủ để ăn mặc tử tế, có phần thanh lịch nữa là khác. Thêm vào đó, tôi đang tuổi thanh xuân. Tôi thôi làm việc với Bác sĩ Bougrat để theo một phụ nữ người Hung Gia Lợi, chủ một tiệm làm da-ua và tại đây tôi quen với một phi công mà tôi không nói tên vì hiện giờ anh ta là phi công trưởng trong công ty Hàng Không Pháp. Tôi sẽ gọi hắn là Carotte.

Hắn cũng làm việc trong tiệm da-ua của bà người Hung và chúng tôi kiếm cũng đủ tiền để đi du hí. Đêm nào chúng tôi cũng đi dạo chơi các quán nước ở Caracas. Thường thì đến uống một đôi ly rượu tại nhà hàng Majestic, một nơi thời thượng nhất thành phố, trong khu Silencio; bây giờ nhà hàng ấy không còn nữa.

Thế rồi, trong lúc chúng tôi nghĩ rằng không thể có gì lạ xảy ra thì lại xảy ra phép lạ. Một hôm, Carotte, như tất cả những người đàn ông, không bao giờ kể lể cuộc đời của mình, Carotte biến mất để rồi vài ngày sau, từ Hoa Kỳ trở về với một chiếc máy bay quan sát hai chỗ ngồi, một chỗ trước, một chỗ phía sau. Nhất rồi. Tôi không hỏi hắn do đâu có chiếc máy bay mà chỉ hỏi hắn định làm gì với chiếc máy bay ấy.

Hắn cười, nói:

– Tôi chưa định gì hết… Nhưng chúng mình có thể hợp tác.

– Để làm gì?

– Làm bất cứ việc gì, miễn là vừa chơi vừa kiếm tí tiền còm.

– Đồng ý, để rồi tính.

Bà người Hung rất dễ thương, hẳn là không tin rằng chúng tôi sẽ làm việc lâu với bà, đã cầu chúc chúng tôi nhiều may mắn. Từ ngày ấy chúng tôi bắt đầu một tháng vô cùng điên rồ và phi thường.

Carotte là một phi công thượng thặng. Trong thời chiến, ban đêm hắn chở những chiến sĩ Pháp từ Anh quốc đến các khu kháng chiến và chở về Luân Đôn những chiến sĩ khác. Thường hắn hạ cánh theo ánh sáng đèn bấm của những người chờ hắn ở dưới đất. Hắn rất gan dạ và thích đùa dai. Một hôm đột ngột hắn quay cánh thẳng góc khiến tôi tắt thở, chỉ để dọa chơi một bà to lớn đang để hở mông đi tiêu trong vườn.

Tôi quá thích chiếc máy bay và những vòng bay lượn trên không trung đến nỗi vì thiếu tiền mua xăng, tôi có một sáng kiến kỳ diệu là làm một gã bán hàng rong bằng máy bay nhỏ.

Đây là lần duy nhất trong đời, tôi bội tín đối với một người. Hắn tên là Coriat và có một tiệm bán quần áo đàn ông và đàn bà lấy bảng hiệu là “Almacen Rio”, Coriat hùn vốn với em hắn. Hắn người Do Thái, tầm thước trung bình, da ngăm, vẻ mặt thông minh, nói tiếng Pháp rất thạo. Tiệm của hắn ngày mỗi phát đạt nhờ buôn bán đàng hoàng. Trong gian hàng bán quần áo phụ nữ, có đủ loại áo cùng mọi thứ mới nhất, nhập cảng từ Ba Lê, nên tôi tha hồ chọn những hàng dễ bán nhất.

Tôi tìm cách làm cho hắn giao cho một số lớn áo dài, áo sơ-mi, quần vân vân… để chúng tôi đem đi bán ở các tỉnh xa.

Chúng tôi mặc sức ngao du, đi đâu, về khi nào không cần thiết, hoàn toàn tùy hứng. Tuy nhiên, mặc dù bán cũng khá, chúng tôi không kiếm đủ tiền để trang trải phí tổn và phần của Coriat tiêu tan theo tiền xăng. Hắn không còn gì hết.

Khách hàng sộp nhất là các cô gái điếm và lẽ dĩ nhiên chúng tôi thường viếng họ. Áo sơ-mi màu sắc sặc sỡ, quần thời trang nhất, jupe hoa, khăn choàng bằng tơ vân vân, là những món hàng vô cùng hấp dẫn đối với các cô gái mỗi lần chúng tôi trải các thứ ấy trên bàn để tại phòng ăn nhà chứa, và tôi bô bô quảng cáo:

– Xin các cô nghe kỹ đây. Đối với các cô, các thứ này không phải là xa xỉ phẩm. Trái lại tôi có thể nói đây là một sự đầu tư về nghề nghiệp, vì các cô thêm hấp dẫn, đàn ông càng nhào vô. Về phần những cô chỉ biết tiết kiệm, tôi có thể nói chắc chắn rằng không mua gì của tôi là một sự tiết kiệm ngu xuẩn. Tại sao vậy? Tại vì những nàng ăn mặc bảnh bao sẽ là những đối thủ ghê gớm!

Nhiều chủ nhà chứa không thích việc buôn bán của chúng tôi vì họ buồn lòng trông thấy tiền đi vào túi người khác thay vì vào hầu bao của họ. Bởi vì một số lớn chủ nhà chứa cũng bán cho gái điếm trong nhà các “dụng cụ làm ăn”. Đôi khi lại còn bán chịu. Bọn ăn cướp ấy muốn nuốt hết!

Chúng tôi thường đến Puerto La Cruz vì có một phi trường rất tốt trong một đô thị kế cận, Barcelona. Chủ nhà chứa sang nhất, đàng hoàng nhất, có sáu chục cô gái, rất dễ ghét, thô lỗ, kiêu kỳ, một thằng ngốc bẩn thỉu. Nó người Panama. Vợ nó người Venezuela rất dễ thương, nhưng khốn nỗi, chính nó là người chỉ huy và chúng tôi không cách gì mở va li ra được, dù chỉ trong một giờ, lại càng không thể trải hàng hóa ra trên một chiếc bàn.

Có một lần nó đi quá trớn. Nó đuổi ngay lập tức một cô gái vì cô ta mua một chiếc khăn choàng cổ. Cuộc cãi vã trở nên gay gắt, rồi người cảnh sát trực ở đó mời chúng tôi đi và cấm chúng tôi không được để chân trở lại đó.

– O.K., đồ đại ngốc, Carotte nói với thằng chủ chứa. Chúng tao không trở lại bằng đường bộ, nhưng sẽ trở lại bằng đường bay! Mày không cấm chúng ông chuyện ấy được đâu.

Qua buổi sáng ngày hôm sau tôi mới hiểu lời đe dọa ấy khi bắt đầu cất cánh từ Barcelona vào lúc rạng đông, Carotte nói với tôi bằng điện thoại trong buồng lái: “Chúng mình đến chào thằng người Panama. Mày ngồi cho vững, đừng sợ nhé!”.

– Mày định làm gì?

Nó không đáp và đến khi trông thấy nhà chứa, nó bay hơi cao một ít và xả hết tốc lực, đâm nhào xuống nhà chứa, chui dưới mấy dây điện cao thế ở gần ngôi nhà và lướt rầm rộ sát mái nhà lợp tôn, nhiều tấm tôn gắn không chặt tung bay như những chiếc lá, để lộ các phòng với đầy đủ giường ngủ cùng gái trai trên đó. Quay đầu lại, chúng tôi bay cao lên rồi trở lại cũng khá cao để ngắm cảnh bên dưới. Tôi chưa từng thấy cảnh nào buồn cười một cách kỳ lạ hơn cảnh bọn gái điếm với khách làng chơi, trần truồng như nhộng, tức điên người trong các chiếc hộp không nắp đậy, đưa những nắm tay thù hận về phía những chàng phi công đã làm gián đoạn một cuộc làm tình hay một giấc ngủ say mê của họ. Tôi với Carotte cười đến ốm người.

Không bao giờ chúng tôi trở lại đó bởi vì không phải chỉ có lão chủ tức giận mà cả bọn gái nữa. Về sau, tôi gặp một cô gái có óc hài hước nhắc lại vụ ấy. Hình như sự phẫn nộ đã lên đến cực độ và trong lúc tức giận, thằng Panama to lớn ngu ngốc đã tự tay dùng những chiếc bù lon bự nhất để đóng thật chặt các tấm tôn trên mái nhà chứa các cô gái.

Tôi với Carotte, hai đứa đều thích thiên nhiên và nhiều khi chúng tôi bay một vòng không mục đích gì khác hơn là tìm những cảnh trí phi thường. Nhờ vậy mà chúng tôi đã khám phá ở ngoài khơi, cách bờ biển 200 cây số, một kỳ quan độc đáo, Los Roquès. Đó là một quần đảo gồm hơn 360 đảo nhỏ sắp theo hình thuẩn, ở cạnh nhau, tạo thành một hồ lớn ngay giữa biển khơi. Một hồ nước lặng yên, vì các hòn đảo tạo thành một bờ đê, nước hồ xanh biếc, trong suốt đến nỗi có thể nhìn thấy đáy biển sâu từ 20 đến 25 thước. Tiếc là ở vào thời ấy, không có bãi đáp, đôi khi chúng tôi lượn đi lượn lại trên quần đảo đến hơn mười vòng trước khi đến một hải đảo cách đó khoảng 50 cây số về phía tây, Las Aves.

Carotte quả thật là một phi công xuất chúng, tôi đã chứng kiến nó đáp xuống với một cách cào vào cát hay cào vào nước khi bờ biển quá dốc.

Las Aves có nghĩa là hải đảo của loài chim. Có hàng ngàn, hàng vạn giống chim, lông xám nhưng lúc nhỏ lại trắng. Người ta gọi chúng là chim “bobos” vì chúng khờ khạo và không biết sợ. Quả là một cảm giác đặc biệt khi chỉ có hai đứa trần truồng trên hải đảo bằng phẳng như chiếc bánh tráng, giữa một bầy chim đậu hoặc trèo trên người chúng tôi không chút sợ hãi vì chúng chưa hề thấy giống người. Chúng tôi nằm phơi nắng cả buổi trên bãi cát nhỏ bao quanh hải đảo. Chúng tôi đùa với bầy chim, đưa bàn tay cho chúng đậu, nhiều con thích đậu trên đầu và mổ nhè nhẹ vào tóc chúng tôi. Tắm rồi lên phơi nắng trở lại và khi cảm thấy đói, chúng tôi tìm có ngay những con tôm hùm nằm phơi mình sát mặt nước. Chúng tôi đưa tay chụp một vài con đem nướng trên lửa đỏ. Một điều gay go là tìm đủ cây khô để đốt lửa, vì trên đảo hầu như không có thảo mộc. Vừa ăn những con tôm ngon tuyệt kỹ, vừa uống một ít rượu chát trắng hảo hạng đem theo trong máy bay, trên bãi biển hoang vắng này, chúng tôi có cảm tưởng như lạc bước vào một cảnh thiên thai, không cần nói câu nào, cũng cảm thông nhau hoàn toàn.

Trước khi màn đêm buông xuống, chúng tôi cất cánh bay lên, lòng đầy ánh mặt trời và niềm hoan lạc, muốn cắn mạnh vào cuộc đời, bất cần tất cả, kể cả việc không biết đào đâu ra tiền để trả tiền xăng cho cuộc du ngoạn chỉ có một mục đích duy nhất: sống trong cảnh đẹp không chờ không đợi.

Trên đảo Las Aves, chúng tôi khám phá một cảnh động ở dưới biển, mỗi khi thủy triều xuống cửa động lộ ra, không khí và ánh sáng mặt trời lọt vào. Tôi say mê cảnh động kỳ diệu ấy. Vào động phải bơi nước trong vắt, sâu không quá một thước. Khi bỏ hai chân xuống đứng thẳng ở giữa động, nhìn quanh thấy vách và vòm động như có muôn ngàn con ve sầu lấp lánh. Dĩ nhiên không phải là ve sầu, mà là hàng ngàn con tôm nhỏ bám vào vách đá, y hệt những con ve sầu trên cành cây xứ Provence, không lớn hơn ve sầu bao nhiêu. Chúng tôi ở trong động rất lâu, không làm cho các con vật ấy sợ hãi. Chúng tôi chỉ can thiệp khi một con mực lớn, rất ham tôm nhỏ, đưa vòi ra chụp một vài chú tôm. Chúng tôi nhanh tay lật con mực ngửa ra. Nó sẽ tiêu ra tại chỗ nếu trước đó nó không bị mấy con cua đớp ngon lành.

Chúng tôi nhiều lần trở lại đảo Las Aves để ngủ đêm. Mỗi đứa cầm một chiếc đèn bấm, bắt những con tôm độ một kí hai bỏ đầy hai bao lớn. Lúc khởi hành từ phi trường Carlota tại trung tâm Caracas, chúng tôi đã bỏ lại hết hàng hóa, nên bây giờ có thể chở về đến bốn trăm kí tôm. Chở nặng như vậy là điên, nhưng chúng tôi xem là trò đùa. May mà cất cánh được, còn chuyện bay lên cao thì các vì tinh tú khỏi phải lo. Khó nhọc lắm mới qua hết thung lũng 25 cây số từ bờ biển đến Caracas, rà sát mái nhà. Những con tôm sống ấy được bán với giá rẻ mạt 2$50 một con. Đủ để trả tiền xăng và tiền trọ. Nhưng bắt tôm thường bị xóc tay, nên nhiều khi phải đi về không. Điều ấy không quan hệ gì, chúng tôi bất cần tất cả, cuộc sống thật đáng sống.

Một hôm đang trên đường đi Puerto La Cruz, cách hải cảng không xa, Carotte dùng điện thoại trong máy bay nói với tôi: “Papillon, còn vừa đủ xăng, chúng mình sẽ đậu trên khoảnh đất của công ty đầu hỏa San Tonné!”. Sau khi chúng tôi lượn một vòng trên khoảnh đất để cho người ta hiểu chúng tôi muốn đậu trên phi đạo riêng của họ, họ đáp lại bằng cách đem đặt tại chính giữa phi đạo một xe chở nước hoặc xăng gì đó không biết! Carotte vẫn bình tĩnh và mặc dù tôi lo ngại nói đi nói lại với nó không thấy chỗ nào có thể hạ cánh được, nó chỉ nói: “Papillon, hãy ngồi cho vững!”. Rồi nó cho máy bay đáp xuống trên một con lộ khá rộng mà không lồi lõm lắm. Nhưng trớn của máy bay đưa đến một khúc quanh vừa có một chiếc xe vận tải hạng nặng chở đầy bò chạy ào tới hết tốc lực. Tiếng rít thắng át cả tiếng thét rùng rợn của chúng tôi, bởi vì nếu người tài xế không bị mất bình tĩnh và chiếc xe không bị văng xuống rãnh bên đường, chúng tôi đã tan xác rồi. Chúng tôi liền nhảy ra khỏi máy bay và Carotte chặn ngang tiếng chửi thề của anh tài xế người Ý: “Phụ một tay với chúng tôi để đẩy chiếc máy bay qua một bên đường rồi hãy chửi thề!”. Anh người Ý vẫn còn run, mặt mày trắng như bột. Chúng tôi phải giúp anh ta bắt lại mấy con bò đã bỏ xe chạy lung tung.

Chuyến đáp thần tình ấy có tiếng vang, chánh phủ đã mua chiếc máy bay của Carotte và bổ nó làm huấn luyện viên dân sự ở phi trường Carlotta.

Đoạn đời phi công của tôi chấm dứt. Thật đáng tiếc. Tôi có theo học một số giờ bay, khả quan lắm. Người bị thiệt thòi trong vụ này là Coriat. Điều kỳ lạ là nó không kiện tôi. Ít năm sau, tôi đã bồi thường thiệt hại đầy đủ cho nó và ở đây tôi muốn cảm ơn lòng tốt của nó đối với tôi.

Nhưng hiện giờ không những tôi đã không còn máy bay mà còn mất chỗ làm ở nhà thiếu phụ người Hung, lại còn phải tránh trung tâm thành phố Caracas vì tiệm của Coriat ở nơi đó, đụng đầu với nó chẳng có lợi gì cho tôi. Cảnh ngộ của tôi, một lần nữa không lấy gì làm sáng sủa, nhưng không ăn nhằm gì. Mấy tuần sống với Carotte quá đầy đủ, nên không có gì đáng tiếc rẻ. Không bao giờ tôi quên được khoảng thời gian ấy.

Tôi với Carotte thường gặp nhau lại trong một quán nước của một người Pháp già, công nhân một hãng thương thuyền, hồi hưu. Một đêm nọ, chúng tôi chơi cờ trong một góc phòng với một cựu phạm đang sống yên lành với nghề buôn bán chịu nước hoa và một đảng viên cộng hòa Tây Ban Nha, bỗng có hai người lạ mang kính đen bước vào và hỏi có phải nơi đây có một phi công người Pháp thường đến không.

Carotte đứng lên nói: “Tôi đây”.

Tôi ngắm kỹ hai người lạ mặt, từ đầu đến chân và dễ dàng nhận diện một người, dù nó mang kín đen. Hết sức xúc động, tôi bước tới. Trước khi tôi mở miệng, nó đã nhận ra tôi:

– Papillon!

Đó là thằng Léon, một trong những bạn cựu phạm thân nhất của tôi. Một thằng cao lớn, một tấm lòng quảng đại. Không phải lúc tỏ ra quá thân mật, nó chỉ giới thiệu với tôi bạn nó là Pédro người Chí Lợi. Ngồi lại trong một góc, nhấm nháp một ly rượu, Léon cho biết nó tìm một chiếc máy bay nhỏ với một phi công, người ta mách cho nó người phi công Pháp.

– Người phi công ở đây, chính là tôi, Carotte đáp. Nhưng chiếc máy bay nhỏ không còn nữa. Người khác đã mua mất rồi.

– Tiếc quá, Léon nói. Tiếc không hơn, không kém.

Carotte rút lui để tiếp tục chơi cờ, một tên khác đã thế chân tôi. Pédro người Chí Lợi đi lại ngồi nơi quầy rượu, nên chúng tôi yên trí nói chuyện.

– Sao đó, Papillon?

– Sao đó, Léon?

– Lần cuối cùng tụi mình gặp nhau, đến nay đã hơn 10 năm.

– Ừ. Mày vừa trong nhà Cấm Cố ra, còn tao thì vào đó. Léon, mày khỏe chứ?

– Không đến nỗi nào. Còn mày, Papillon?

Với nó, tôi có thể nói.

– Tao sẽ nói thật với mày: Léon, tao đang có phần lúng túng. Không dễ gì leo lên con dốc. Vả lại, mặc dù mình bước ra khỏi nhà tù với đầy đủ thiện chí, khi mà mình không có nghề nghiệp gì, đời sống rất khó khăn nên mình chỉ muốn nghĩ đến chuyện phiêu lưu mạo hiểm.

“Với lại, Léon, này, mày lớn tuổi hơn tao và mày không phải một cựu phạm như những đứa khác. Với mày tao có thể nói tất cả những ý nghĩ của tao. Mày biết đấy, rất thành thật và rất lương thiện mà nói, tao mang ơn xứ này nhiều lắm. Ở đây tao đã sống lại và tao đã tự nguyện tôn trọng đại gia đình này, làm điều đáng chê trách ít chừng nào hay chừng ấy. Nhưng nào có dễ. Mặc dù có óc phiêu lưu mạo hiểm, nếu tao không có một mối thù phải trả ở Ba Lê, tao tin chắc tao có thể tạo được một địa vị khả quan từ số không, bằng những phương tiện đàng hoàng, tuy nhiên tao không thể chờ để cho bọn sâu bọ ấy chết trước khi tao đến.

“Khi tao thấy tuổi trẻ xứ này vui sống, vô tư, khi tao đứng trước một thanh niên từ 24 đến 30 tuổi rực sáng niềm vui sống thì dù muốn dù không, tao cũng quay về quá khứ, về những năm tháng đã bị người cướp mất, những năm tháng tốt đẹp nhất. Rồi tao thấy mấy lỗ đen tối của trại Cấm Cố, ba năm trời chờ đợi trước và sau phiên tòa đại hình cùng cái ngục thất thối tha đã đối xử với tao tồi tệ hơn với một con chó dại. Thế rồi, suốt giờ này sang giờ khác, ngày này sang ngày khác, tao đi trong các đường phố Caracas gậm nhấm tất cả dĩ vãng ấy. Thay vì mỗi ngày nên cảm ơn 10 lần, 20 lần số mạng đã đưa tao đến đây, tao lại không làm như vậy: tao thấy, tao hồi tưởng, tao tưởng tao đang ở trong những nấm mồ dĩ vãng ấy, và cũng như lúc còn ở trong các ngôi mộ, tao đi tới đi lui như một con thú bị nhốt trong chuồng, tao trở lại đếm: một, hai, ba, bốn, năm, quay lại! Thật không cưỡng nổi, đúng là một ám ảnh. Không, tao không thể nào nghĩ rằng những thằng đã bắt tao phải chịu cảnh khổ nhục ấy một cách oan ức, tao có thể đã bỏ thây ở đó như một con vật khốn nạn nhất, trên mặt cũng như trong lòng không còn chút gì gọi là của một con người, tao đã thoát cảnh ấy nhờ đã chịu nhiều đau khổ và có nhiều ý chí, không tao không thể nghĩ chúng có thể chết yên lành mà không phải trả nợ.

“Thế là khi tao đi như thế này giữa lòng phố, tao không còn nhìn quanh một cách bình thản. Mỗi một tiệm kim hoàn, mỗi một nơi chứa đựng cái mà tao cần, là tiền bạc, tao không khỏi ngắm nhìn để tính xem làm cách nào để lấy hết những gì ở bên trong. Nếu tao chưa làm, như mày biết, không phải tao không ham, bởi vì ở đây có nhiều nơi hành động quá dễ đến nỗi tao như luôn luôn bị khiêu khích.

“Đến giờ này, tao đã thắng tao, trong cuộc thử thách cam go này, tao chưa làm gì nguy hại trong xứ sở này và đối với dân tộc đã tin tao này. Hiếp dâm con gái một nhà đã chứa chấp mình là một điều khiếp nhược, ghê tởm, đáng khinh. Nhưng tao sợ, đúng vậy, tao sợ chính tao, sợ một ngày nào đó tao không cưỡng được lòng ham muốn làm một vụ lớn. Tất cả chuyện ấy tạo một vấn đề nan giải khiến đôi lúc tao hết tin rằng một ngày nào đó tao có thể sống lương thiện. Bởi vì nếp sống lương thiện, không thể nào có thể kiếm gấp số tiền quá lớn cần để trả thù. Léon, nói riêng với mày, tao đuối sức rồi”.

Léon im lặng nghe tôi nói. Nó nhìn tôi chăm chăm. Chúng tôi uống ly rượu cuối cùng hầu như không trao đổi lời nào. Nó đứng lên và hẹn ngày mai sẽ đi ăn trưa, có cả Pédro người Chí Lợi.

Chúng tôi gặp lại trong một tiệm ăn yên tịnh, dưới bóng một dàn hoa. Trời tốt.

– Papillon, tao đã suy nghĩ về những điều mày nói. Bây giờ tao nói cho mày biết tại sao chúng tao đến Caracas.

Bọn Léon chỉ ghé qua đây trên đường đi đến một xứ Nam Mỹ khác để tính chuyện một tiệm cầm đồ; theo tin tức của một nhân viên kỳ cựu trong tiệm và của bọn Léon đã điều tra thì tiệm cầm đồ này có một số nữ trang khá quan trọng, sau khi được đổi thành mỹ kim, mỗi đứa sẽ làm chủ một số tiền khá lớn. Vì vậy mà chúng tìm Carotte. Léon muốn đưa cho Carotte một đề nghị về phần Carotte và về chiếc máy bay, nhưng chuyện ấy không thành vấn đề nữa rồi.

– Nếu mày muốn, Papillon, mày cùng đi với tụi tao, Léon kết luận.

– Tao không có thông hành, lại cũng yếu tiền lắm.

– Về chuyện thông hành, tụi tao sẽ lo. Phải vậy không, Pédro?

– Coi như mày có thông hành rồi vậy, Pédro nói, với một căn cước giả. Như thế mày chính không xuất cũng không nhập cảnh xứ Venezuela.

– Tổn phí phỏng độ bao nhiêu?

– Khoảng 1.000 mỹ kim, vì xứ chúng ta sẽ đến xa đấy. Mày có đủ tiền không?

– Đủ.

– Thế thì trong hoàn cảnh, mày không còn gì phải do dự.

Mười lăm ngày tiếp theo cuộc gặp gỡ ấy sau ngày ra tay, tôi thuê một chiếc xe đến một nơi cách thủ đô một xứ Nam Mỹ vài cây số, chôn phần nữ trang của tôi đựng trong một hộp bánh bằng thiếc trắng.

Vụ ăn hàng, tính rất chu đáo, đã xảy ra không gì khó khăn. Chúng tôi vào bằng ngõ một tiệm bán cà vạt sát nách tiệm cầm đồ. Léon với Pédro đã nhiều bận đến vờ mua cà vạt để ngắm kỹ ống khóa nhà kho và định rõ chỗ sẽ đục lỗ trong bức vách để chui vào. Không có tủ sắt, chỉ có nhiều kệ bọc sắt ở tứ phía. Chúng tôi chui vào lúc 10 giờ đêm thứ bảy và đi ra lúc 23 giờ ngày chúa nhật.

Một vụ trộm tiến hành hoàn hảo, không chút trục trặc. Thế là tôi chôn chiếc hộp dưới chân một cây cổ thụ, cách thành phố độ 20 cây số. Tôi yên trí sẽ tìm thấy chỗ ấy khi nào tôi muốn, không chút bỡ ngỡ, bởi vì ngoài một cái dấu tôi làm bằng dao, cây cổ thụ rất dễ nhận ra: liền sau khi qua khỏi cây cầu, bên bờ lộ, cây đầu tiên của khu rừng bắt đầu từ đó. Trên đường về, tôi quăng cái cuốc cách đó 10 cây số.

Tối hôm đó, ba đứa chúng tôi gặp nhau lại trong một tiệm ăn sang trọng. Chúng tôi đến từng người và làm như tình cờ gặp nhau ở quầy rượu trước khi định cùng ăn với nhau.

Mỗi đứa đều đã giấu phần của mình. Léon thì gởi cho một người bạn, Pédro chôn trong rừng như tôi.

Léon giải thích cho tôi hiểu:

– Mày thấy không, mỗi đứa mỗi phần như vậy hay hơn. Như thế mỗi đứa không biết hai đứa kia đã làm gì với phần của mình. Đây là một lối làm ăn chu đáo thường áp dụng ở Nam Mỹ, nếu một đứa bị cảnh sát bắt, vấn đề tra tấn không phải là chuyện đùa, và nếu nó có khai nó cũng chỉ biết phần nào thôi. Cho qua chuyện đó, Papillon, chia như vậy mày bằng lòng chứ?

– Thành thật mà nói, tao tin chắc chúng ta dùng mắt ước lượng các món nữ trang rất đúng. Tốt lắm, không có gì đáng nói.

Mọi việc êm xuôi và mọi người đều thỏa mãn.

– Đưa tay lên!

– Cái gì vậy! Léon la lên. Các anh điên hả!

Không kịp phản ứng, chúng tôi liền bị dùi cui giáng xuống, bị còng tay và bỏ lên xe cây chạy về hướng nhà giam của cảnh sát. Chúng tôi chưa ăn xong món sò huyết.

Trong xứ này, bàn tay của mấy ông bạn dân cũng không nhẹ nhàng chút nào. Người ta quay chúng tôi suốt cả đêm, ít ra là tám giờ.

Câu hỏi thứ nhất:

– Tụi bay thích cà vạt phải không?

– Đồ khốn kiếp!

Và vân vân. Đến 5 giờ sáng, chúng tôi trở thành những đống thịt sưng húp. Giận điên lên vì chúng tôi không chịu khai, bọn cảnh sát nổi khùng: “Được rồi. Tụi bay chảy mồ hôi, lại lên cơn sốt, chúng ông cho tụi bay tắm mát”. Người ta bỏ chúng tôi vào một cái giỏ lớn, vừa đủ đứng chen nhau, đưa đến một tòa nhà đồ sộ. Bọn cảnh sát chui vào nhà rồi có bọn thợ đi ra. Có lẽ do bọn cảnh sát yêu cầu. Thế là đến lượt chúng tôi đi vào, mỗi chúng tôi do hai người cảnh sát đỡ, gần như lôi đi.

Một hành lang mênh mông, nhiều cánh cửa sắt ở bên trái và bên mặt, trên mỗi cánh cửa có một chiếc đồng hồ chỉ có một cây kim giờ. Nhiều cây hàn thử biểu. Tôi nhận ra ngay chúng tôi đang ở hành lang các phòng ướp lạnh của một lò sát sinh cỡ lớn.

Mọi người đứng lại ở một nơi hành lang có nhiều bàn.

– Thế nào? người chỉ huy cảnh sát hỏi. Một lần cuối tao để cho tụi bây suy nghĩ. Đây là cái hầm chứa thịt đông lạnh. Tụi bây có hiểu như vậy là nghĩa gì chưa? Lần cuối cùng, tao hỏi tụi bây để nữ trang cùng các thứ khác ở đâu?

– Chúng tôi không thấy nữ trang, cũng không thấy cà vạt, Léon đáp.

– Hay lắm, cho mày làm luật sư. Mày đi tiên phong.

Bọn cảnh sát mở khóa cửa một căn hầm và kéo rộng cửa ra. Từ hầm tỏa ra một thứ khói mù lạnh cóng lan khắp hành lang. Chúng nó xô Léon vào trong sau khi đã lột hết giày vớ.

– Đóng cửa nhanh lên, viên chỉ huy nói, chúng mình cũng sẽ lạnh cóng hết bây giờ!

Nhìn thấy cửa khép lại sau lưng thằng Léon, tôi cảm thấy rợn người.

– Tới phiên mày, thằng Chí Lợi. Mày có chịu gáy không?

– Tôi không có gì để gáy hết.

Chúng nó mở cửa hầm thứ hai và đẩy thằng Chí Lợi vào.

– Thằng Ý Đại Lợi, mày trẻ nhất bọn (số thông hành của tôi mang căn cước Ý). Mày nhìn kỹ mấy cây hàn thử biểu kia. Kim chỉ ít nhất 40 độ. Như thế có nghĩa là đối với mày bây giờ sau khi bị quay, đang nóng bức, nếu mày không nói và nếu tống mày vào trong đó, chín phần mười mày sẽ bị sưng phổi và trước 48 tiếng đồng hồ, mày sẽ chết tại bệnh viện. Mày thấy đó, tao cho mày dịp may cuối cùng: mày đã ăn trộm nhà cầm đồ bằng cách đi qua tiệm bán cà-vạt, có phải vậy không?

– Tôi không dính líu gì với mấy đứa kia. Tôi chỉ biết một thằng, từ lâu rồi, và tôi tình cờ gặp chúng nó trong tiệm ăn. Xin ông hỏi những người làm công. Tôi không biết chúng có nhúng tay vào vụ này không, nhưng tôi thì không.

– Được rồi, cho mày chết luôn. Tao rất tiếc, còn trẻ như mày mà phải chết, nhưng kệ xác mày. Tại mày muốn vậy!

Cánh cửa mở ra. Người ta xô mạnh tôi vào bóng tối hầm lạnh và tôi nằm dài trên nền đầy băng giá vì đã đụng đầu vào một nửa con bò cứng như sắt treo trên một cái mốc. Từng giây từng giây, tôi nghe hơi lạnh kinh khủng trong hầm thấm vào da thịt, xuyên qua da thịt vào tận xương tủy. Cố gắng hết sức tôi mới đứng lên được, lúc đầu quỳ hai gối rồi đeo vào một con bò tôi đứng dậy. Mặc dù sau khi bị tra khảo, mỗi cử động đều làm tôi nhức nhối, tôi quay hai cánh tay, xát nơi cổ, má, mũi, mắt. Tôi kẹp hai bàn tay trong nách để sưởi ấm. Trên người tôi chỉ còn chiếc quần với chiếc sơ mi rách. Vì chúng nó cũng đã lột giày vớ của tôi, nên tôi cảm thấy nhức nhối không chịu được ở bàn chân bị dính vào nền nhà đóng băng và mấy ngón chân bắt đầu tê cóng.

Tôi tự bảo: “Không thể kéo dài quá 10 phút, năm phút là cùng, nếu không mình sẽ trở nên những con bò kia, một khối thịt đông lạnh! Không, không thể như thế này được, không lẽ chúng nó ướp lạnh người sống thế này sao? Papillon, hãy can đảm lên! Chỉ ít phút nữa là cánh cửa sẽ mở. Hành lang lạnh ngắt sẽ trở thành ấm áp”. Tôi không còn sử dụng được hai cánh tay, không thể nắm bàn tay lại, cũng không thể cử động mấy ngón tay, hai chân tôi dán vào mặt băng và không còn đủ sức để rút ra nữa. Tôi biết tôi sẽ ngất đi, rồi trong mấy giây đồng hồ, tôi thấy lại vẻ mặt của cha tôi bị cái miệng ghê tởm của viên Chưởng lý che khuất, cái miệng ấy cũng không được rõ ràng vì trộn lẫn với mặt mũi của bọn cảnh sát. Ba khuôn mặt làm một. Tôi nghĩ: “Lạ thật, chúng nó giống nhau hết, chúng cười gằn vì đã thắng”. Rồi tôi mê man.

Việc gì đã xảy ra? Tôi ở đâu đây? Một khuôn mặt đàn ông đẹp đẽ cúi xuống khi tôi mở mắt ra. Tôi không nói được vì miệng còn bị tê cóng, nhưng tôi tự hỏi: tôi đang nằm dài trên bàn này để làm gì vậy?

Hai bàn tay to lớn, khỏe mạnh và khéo léo đang xoa bóp toàn thân tôi bằng mỡ nóng và dần dần tôi cảm thấy nhiệt độ và sự co giãn trở lại cơ thể. Đứng cách hai ba thước, viên chỉ huy cảnh sát nhìn cảnh này. Nó có vẻ bực bội. Nhiều lần người ta mở miệng tôi ra để đổ một ít rượu. Có một lần, đổ nhiều rượu quá, tôi ngộp thở và phun mạnh hết rượu ra.

– Xong rồi, người thoa bóp nói, nó khỏi rồi.

Người ta tiếp tục thoa bóp trong cả nửa giờ đồng hồ. Tôi cảm thấy có thể nói được, nhưng tốt hơn là nên im lặng. Bên mặt, tôi nhận thấy có một người khác trên mặt chiếc bàn cũng cao như bàn tôi. Người ấy cũng trần truồng, người ta đang thoa và đấm bóp. Ai vậy? Thằng Léon hay thằng Chí Lợi? Chúng tôi ba người, thế mà tôi cộng với người nằm trên bàn kia, là hai. Thằng thứ ba đâu rồi?

Các bàn khác đều trống.

Người đấm bóp đỡ tôi ngồi dậy và tôi có thể nhận ra người kia là ai. Đó là thằng Pédro Chí Lợi. Chúng nó mặc áo lại cho hai đứa tôi, chiếc áo lùng bùng độn bông đặc biệt dùng cho những người làm việc trong các phòng ướp lạnh. Viên chỉ huy cảnh sát tấn công trở lại:

– Thằng Chí Lợi, mày nói được chưa?

– Được.

– Nữ trang để đâu?

– Tôi không biết.

– Còn mày, thằng mì ống?

– Tôi không đi với mấy đứa đó.

– Hay lắm!

Tôi tụt từ bàn xuống. Tôi đứng không vững, nhưng lúc hai chân chạm đất tôi rất thích thú khi cảm nhận đôi bàn chân như bị đốt nhè nhẹ khiến hơi đau một chút, và máu chạy khắp người mạnh đến nỗi tôi nghe rõ giòng máu động vào bờ huyết quản.

Trước đây tôi tưởng hôm nay tôi đạt đến tận cùng cảnh khủng khiếp, nhưng bây giờ không đến nỗi nào.

Sau khi để Pédro với tôi đứng cạnh nhau, viên chỉ huy đã lấy lại phong độ, ra lệnh: “Cởi áo chúng nó ra!”. Người ta lột áo chúng tôi, tôi phơi thân trần trụi ra, và run ngay vì lạnh.

– Bây giờ tụi bay hãy nhìn xem.

Chúng nó kéo từ dưới bàn ra một đống cứng ngắt, dựng lên trước mặt chúng tôi. Đó là một thân xác đã đông lạnh, rắn như một miếng gỗ. Cặp mắt mở lớn, hai tròng nhìn sửng như hai hòn bi, thật ghê gớm, khủng khiếp. Thằng Léon! Chúng nó đã ướp lạnh thằng Léon!

– Tụi bay nhìn kỹ đi! viên chỉ huy lập lại: thằng đồng lõa với tụi bay không chịu khai, nên người ta đã cho nó đi đến cùng. Bây giờ đến lượt mày, nếu mày ngoan cố như nó. Tao được lệnh phải tàn nhẫn vì vụ của chúng mày hết sức nghiêm trọng. Nhà cầm đồ do Nhà nước quản trị, và trong thành phố, đã có lộn xộn vì dân chúng nghĩ đây là một vụ trộm do công chức bày ra. Vậy thì, hoặc mày khai đi hoặc là trong nửa giờ mày sẽ như thằng đồng lõa của mày.

Tôi chưa hoàn toàn minh mẫn, và trước cảnh ghê rợn này tôi quá xúc động nên trong khoảng ba giây đồng hồ bất tận, tôi muốn khai hết. Điều duy nhất khiến tôi không làm công việc ghê tởm ấy là tôi không biết chỗ giấu các phần nữ trang khác. Không bao giờ người ta chịu tin tôi và chỉ nguy hiểm thêm cho tôi.

Tôi hết sức ngạc nhiên nghe một giọng nói rất chững chạc, giọng của Pédro:

– Kìa, tao không sợ đâu mà dọa. Chắc chắn là một tai nạn mà thôi! Mày không cố ý ướp lạnh nó, mày bị trục trặc kỹ thuật, chỉ có thế, và mày không muốn làm lại chuyện ấy với chúng tao. Bởi vì, một thì còn cho qua được, chứ ba thằng ngoại kiều biến thành ba khối băng sẽ quá nhiều và tao không tưởng tượng nổi mày sẽ biện minh như thế nào với hai tòa đại sứ. Một, thì được, nhưng ba thì quá nhiều.

Tôi không khỏi phục thái độ gan dạ sắt lạnh của Pédro. Viên cảnh sát bình tĩnh im lặng nhìn thằng Chí Lợi. Một lúc sau, nó nói:

– Mày là thằng ăn cướp, điều ấy hẳn rồi, nhưng phải công nhận mày rất gan lì. Nói đoạn, nó quay sang mấy đứa kia ra lệnh: Kiếm cho chúng nó một cái áo sơ mi rồi đưa chúng về nhà tù, tòa án sẽ lo cho chúng. Khỏi cần tiếp tục “đối xử tử tế” với hạng súc sinh như vậy, chỉ tổ mất thì giờ.

Nó quay lưng bỏ đi.

Một tháng sau tôi được thả ra. Người chủ tiệm cà vạt công nhận tôi không bao giờ đến tiệm hắn, điều ấy đúng, còn bọn ở quán rượu khai tôi đã đến một mình uống hai ly whisky, tôi giữ sẵn một bàn cho một người thì vừa có hai người đến, và bọn chúng tôi đã tỏ vẻ rất ngạc nhiên được gặp lại ở đô thị này. Thế nhưng tôi được lệnh trong 5 ngày phải rời khỏi xứ này, người ta sợ tôi sẽ đến tòa lãnh sự tố cáo sự việc đã xảy ra vì theo số thông hành, tôi là người Ý Đại Lợi, đồng hương với Léon.

Tại phòng dự thẩm, tôi được đối chất với một người tôi không quen biết, nhưng rất quen với Pédro, người nhân viên của tiệm cầm đồ đã chỉ vẽ vụ này. Bữa tối chia của, thằng già đó đã tặng cho một cô gái bán bar một chiếc nhẫn xưa tuyệt kỹ. Được báo động cảnh sát dễ dàng làm cho nó khai hết và vì vậy mà Léon với Pédro bị bắt ngay. Pédro người Chí Lợi bị kết án vì vụ này.

Tôi lên máy bay trong túi còn 500 mỹ kim. Tôi không đến chỗ giấu nữ trang vì sẽ rất nguy hiểm. Trong vòng 1 năm tôi sẽ trở lại tìm kho vàng của tôi. Tôi kiểm điểm cơn ác mộng vừa qua. Các báo ước tính vụ trộm tiệm cầm đồ lên đến hai trăm ngàn mỹ kim. Dù họ có phóng đại lên gấp đôi, cũng còn một trăm ngàn mỹ kim và như thế phần tôi khoảng độ ba mươi ngàn. Vì người ta ước tính theo số tiền đã cho vay, nghĩa là bằng nửa giá thực và nếu tôi bán thẳng không qua tay một người oa trữ, tôi tính có thể có hơn 60 ngàn mỹ kim! Đủ số tiền cần cho công việc trả thù, với điều kiện đừng động vào đó để sống qua ngày. Số tiền ấy bất khả xâm phạm, sẽ dùng vào một mục đích thiêng liêng, tôi không thể dùng vào một việc nào khác bất cứ vì lý do gì.

Dù nó đã đau đớn cho bạn tôi, Léon, một kết cuộc ghê gớm, đối với tôi vụ này là một thắng lợi. Trừ phi tôi phải giúp đỡ thằng Chí Lợi, nhưng chuyện này không chắc vì có lẽ trong vài tháng nữa nó sẽ cho một thằng bạn của nó đi lấy số của ấy để trả tiền biện hộ cho nó và để tìm cách trốn thoát. Vả lại chúng tôi đã đồng ý như vậy: mỗi đứa để riêng phần của mình để đứa này không liên hệ đến số phận đứa khác. Tôi không tán thành phương thức ấy, nhưng đó là lề lối áp dụng trong giới giang hồ Nam Mỹ. Công việc xong xuôi, đứa nào lo phần đứa ấy, Chúa thương tất cả mọi người.

Chúa thương tất cả mọi người… Nếu quả Chúa cứu tôi, đối với tôi Chúa không chỉ là cao cả, mà còn vô cùng đại lượng. Tuy vậy Chúa không dạy tôi phải trả thù. Chúa không muốn tôi trả thù, tôi biết vậy. Tôi còn nhớ ngục thất El Dorado, một ngày trước hôm tôi được phóng thích. Tôi cảm ơn Chúa của người công giáo. Trong niềm xúc động, tôi nói với Chúa: “Tôi phải làm gì để chứng tỏ lòng chân thành tri ân Chúa!” Và hình như tôi nghe rõ một giọng nói:

– Hãy từ bỏ ý chí phục thù.

Tôi đã đáp không, tất cả, trừ điểm này. Thế thì không thể nào Chúa che chở tôi trong vụ này. Không thể. Tôi gặp may, chỉ có thế, may như một đứa bị cắm sừng. Chúa không có liên can gì đến vụ bậy bạ này.

Tuy nhiên, kết quả còn đó, chôn chặt dưới một gốc cây cổ thụ. Tôi đã bớt được một gánh nặng trong việc đi tìm kiếm phương tiện để thực hiện ý đồ vẫn canh cánh bên lòng trong 13 năm trời nay.

Cầu mong chiến tranh chưa giết chết mấy thằng đồ tể trời đánh của tôi! Trong lúc chờ đợi giờ G, tôi chỉ còn tìm công việc làm ăn và sống yên trí cho đến ngày đi moi đống của.

Chiếc phi cơ bay rất cao, trong bầu trời rực rỡ, trên một đám mây trắng như tuyết. Ở đây là thanh khiết, và tôi nghĩ đến người thân, đến cha tôi, mẹ tôi, gia đình tôi, tuổi thơ chan hòa ánh sáng của tôi. Bên dưới đám mây trắng là những cụm mây bẩn thỉu, mưa xám xịt, đục ngầu, đúng là hình ảnh của trần thế: niềm khao khát danh vọng, khao khát biểu tỏ rằng mình hơn tha nhân, một niềm khao khát ô trọc, thiếu lương tri của những con người bất kể sinh mạng kẻ khác miễn là khi giết người, chúng gặt hái hoặc chứng minh một điều gì.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply