vietmessenger.com
Henri Charrière
Dịch giả: Đinh Bá Kha
Đời Mới xuất bản 1974
Post by Sơn râu 3 Oct 2025

Google image edited by Sơn râu
12. Nối Lại Tình Máu Mủ – Công Dân Vénézuéla
TÔI vẫn biết độc giả chờ đợi những biến chuyển xảy đến cho cá nhân tôi chứ không phải lịch sử nước Venezuela. Vậy xin độc giả lượng thứ nếu tôi kể lại một biến cố chính trị quan trọng đã diễn tiến trong thời kỳ này. Có hai lý do: trước hết là vì các biến cố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình đời tôi, đến các quyết định của tôi, thứ nữa vì tôi nhận thấy, trong lúc tôi đi qua các quốc gia đã ấn hành cuốn “Papillon”, người ta biết rất ít về xứ Venezuela.
Đối với phần đông, Venezuela là một quốc gia Nam Mỹ (nhiều người không biết đích xác xứ ấy ở tại nơi nào), sản xuất dầu hỏa, một quốc gia do người Hoa Kỳ khai thác, không đáng kể, tóm lại, một thứ thuộc địa Hoa Kỳ. Không đúng mảy may nào hết.
Thực ra, ảnh hưởng của các công ty dầu hỏa rất quan trọng, nhưng dần dần, từng lớp trí thức Venezuela đã hầu như hoàn toàn giải phóng xứ sở họ khỏi ảnh hưởng chính trị của Hoa Kỳ.
Hiện nay, nền độc lập chính trị của Venezuela đã hoàn toàn, bằng chứng là địa vị của quốc gia ấy tại Liên Hiệp Quốc hoặc tại các nơi khác. Tất cả các chính đảng đều giống nhau ở điểm không thích ai xâm phạm đến tự do hành động của Venezuela trong mối tương quan với các nước khác. Vì vậy mà từ ngày Caldera lên cầm quyền, chính phủ đặt quan hệ ngoại giao với tất cả các quốc gia trên thế giới, không kể chế độ chính trị.
Về phương diện kinh tế, quả thực nước Venezuela tùy thuộc vào dầu hỏa, nhưng nó đã bán dầu hỏa với giá rất cao và đã buộc các công ty dầu hỏa phải trả đến 85 phần trăm trên số lời.
Nước Venezuela còn những tài nguyên khác hơn dầu hỏa, như sắt cùng những nguyên liệu khác, lại có nhiều người, cả một kho dự trữ người với mục tiêu giải phóng hoàn toàn xứ sở họ khỏi mọi áp lực kinh tế, bất cứ từ đâu đến. Những con người đã bắt đầu chứng tỏ và ngày càng chứng tỏ rằng tại Venezuela, có thể xây dựng một nền dân chủ được tôn trọng tồn tại, xứng đáng như bất cứ một nền dân chủ nào khác.
Trong các trường đại học, thật là cả một lò rèn, đúc các tư tưởng chính trị, lớp trẻ chỉ mơ ước công bằng xã hội, cải tạo triệt để tổ quốc của mình. Họ có đức tin, chắc chắn sẽ thành công mà không loại bỏ các nguyên lý, về tự do chân chính, sẽ đưa cả dân tộc đến hạnh phúc mà không rơi vào một nền độc tài cực tả hay cực hữu. Dĩ nhiên không phải không có các cuộc biểu diễn vũ lực đã được các hãng thông tấn loan báo khắp thế giới nhưng đã quên không nói rõ nguyên nhân, đó là lòng khao khát công lý xã hội và tự do. Tôi tin tưởng thanh niên xứ này sẽ góp phần xây dựng quốc gia này thành một quốc gia kiểu mẫu, do dân chủ chân chính cũng như do nền kinh tế, vì không nên quên rằng trong một tương lai gần, các tài nguyên thiên nhiên của xứ này sẽ được hoàn toàn kỹ nghệ hóa. Ngày đó, nước Venezuela sẽ thắng một trận giặc lớn, nhất định nó sẽ thắng. Có thể tin chắc như vậy.
Ngoài khả năng kỹ nghệ hóa vô biên hoặc hầu như vô biên các tài nguyên thiên nhiên, Venezuela còn là một quốc gia lý tưởng, về phương diện du lịch trong tương lai: những bãi cát hồng có những hàng dừa che kín ánh mặt trời ăn đứt các miền khác, những nơi câu cá, nước ấm suốt bốn mùa, những phi trường các máy bay lớn nhất hạ cánh được, một đời sống rẻ hơn các nơi khác, vô số hải đảo dân chúng dễ thương, hiếu khách, hoàn toàn không có vấn đề kỳ thị màu da. Một giờ bay từ Caracas là trông thấy ngay những người da đỏ, các thôn xóm xây cất trên hồ Maracaibo, dãy núi Andes với tuyết phủ thiên nhiên.
Trong ít lâu, Venezuela sẽ có thể tiếp đón một số lớn du khách không bao giờ hối tiếc đã đến viếng xứ này. Nếu dân chúng được chính trị hóa đó là đối với các vấn đề nội bộ. Họ đủ khôn ngoan để nhận xét các ngoại kiều theo chế độ chính trị.
Tôi luôn luôn mơ ước rằng nhờ các nghiệp đoàn lớn, người ta quý các gia đình có cơ hội đoàn tụ trong dịp nghỉ hè, không phải tại các khách sạn đồ sộ, mà tại các quán trọ, ở đây họ có thể ăn, ngủ, mặc quần áo lúc nào và cách nào cũng được. Phi cơ đã bay mau hơn, các hợp đồng đã làm cho phí tổn chuyên chở hạ rất nhiều. Thế thì tại sao các nghiệp đoàn lớn không thể có những ngôi nhà nho nhỏ hầu các đoàn viên có thể hưởng thụ cảnh thiên nhiên và khí hậu đặc biệt với một giá không ai cạnh tranh nổi.
Tóm lại, có thể nói Venezuela có quá nhiều tài nguyên chỉ đòi hỏi được kỹ nghệ hóa nên không cần phải có một chính trị gia lãnh đạo, mà chỉ cần một kế toán viên giỏi với nhóm người tích cực, dùng khối lượng ngoại tệ do dầu lửa đem lại, xây cất các nhà máy để khai thác tài nguyên của xứ sở và mở rộng thị trường lao động cho những ai cần và ao ước có công ăn việc làm.
Một cuộc cách mạng phải bắt từ trên đi xuống như thế kết quả sẽ thiết thực hơn một cuộc cách mạng từ dưới lên, nếu từng lớp trẻ, tiêm nhiễm tư tưởng mới, không ý thức phải có một cuộc cải tạo sâu xa chế độ hiện tại. Riêng tôi, tôi tin rằng nước Venezuela sẽ thắng trận giặc này và nếu được vậy, quốc gia này có đủ mọi điều kiện để hưởng hạnh phúc và phú cường và sẽ đem lại cho người công dân hèn kém nhất một mức sống và một nền an sinh khá cao.
Năm 1951… Viết đến năm này, tôi tìm lại cảm tưởng lúc bấy giờ, là không còn chuyện gì để kể. Người ta thường kể những chuyện bão tố, lên thác xuống ghềnh, nhưng một khi trời thanh biển lặng, người ta muốn nhắm mắt lại và nghỉ ngơi không nói gì nữa trong cảnh thanh bình. Nhưng mưa gió lại nổi lên, sông nước không còn yên lặng, một đợt sóng cuốn ta đi, và dù ta có ước vọng sống yên thân tại một nơi hẻo lánh, biến cố bên ngoài vẫn tác động mãnh liệt vào đời ta khiến ta phải lại ra dấn thân vào cuộc sống sông hồ, phải tránh ghềnh, vượt thác với hy vọng tìm đến một bờ bến thái bình.
Sau khi Chalbaud bị ám sát bí mật cuối năm 1950, Perez Jimenez nắm vững chính quyền trong tay tuy nép mình sau một vị chủ tịch ủy hội quân nhân, Ông Flamerich. Chế độ độc tài bắt đầu. Biện pháp trước tiên: bãi bỏ tự do ngôn luận. Báo chí và đài phát thanh bị khóa miệng. Đối lập được tổ chức trong bí mật và mật vụ chính trị ghê gớm, cơ quan Seguiridad National, hoạt động mạnh, các đảng viên cộng sản và đảng viên của đảng Tác động dân chủ, đảng của Betancourt, bị săn đuổi.
Nhiều bạn chúng tôi giấu họ tại khách sạn Vera Cruz. Không bao giờ chúng tôi cấm cửa ai hết, không bao giờ chúng tôi hỏi căn cước. Tôi sung sướng đền ơn những người của Betancourt đã trả tự do cho tôi và cho tôi lưu ngụ. Làm như vậy chúng tôi có thể bị mất hết, nhưng Rita hiểu rằng chúng tôi không có quyền làm khác.
Vả lại, khách sạn Vera Cruz hầu như nơi ẩn trú của những người Pháp gặp khó khăn, những người đến Venezuela mà không có của cải nhiều và không biết đi đâu. Ở với chúng tôi, họ có thể ăn và ngủ không trả tiền trong khi chờ đợi có công ăn việc làm. Đến nỗi tại Maracaibo, người ta gọi tôi là viên Lãnh Sự Pháp kiều. Trong số ấy, có anh Georges Arnaud được ăn, ở, quần áo tử tế và đủ phương tiện cần thiết để đi sang Colombie; sau này anh ta đã rút ra từ các chuyện tôi kể quyển “Cái giá phải trả cho một cơn kinh hoàng”, và có lẽ để cảm ơn chúng tôi, đã vô cớ dèm pha chúng tôi trong một quyển sách của anh.
Tuy nhiên, trong những năm ấy, một biến cố quan trọng xảy đến cho tôi, gần quan trọng như việc tôi gặp Rita: “tôi nối lại tình máu mủ”. Quả vậy, sau khi Rita đi, Dì Ju đã viết thư cho hai chị tôi. Và cả ba người, hai chị tôi, Dì Ju gởi thư cho tôi. Hai mươi năm trôi qua, sự im lặng dai dẳng đã chấm dứt. Tôi run lên khi mở bức thư đầu. Trong thư có gì? Tôi không dám đọc. Các chị ấy từ tôi vĩnh viễn hay là…
Đắc thắng! Những bức thư ấy là tiếng reo vui vì biết tôi còn sống, có một địa vị lương thiện, kết hôn với một thiếu phụ mà Dì Ju đã không tiếc lời khen ngợi. Tôi tìm lại các chị tôi đồng thời cũng tìm lại được gia đình của các chị, đã trở thành gia đình của tôi.
Chị cả tôi có bốn đứa con rất xinh, ba gái một trai. Chồng chị cũng đã viết cho tôi rằng anh vẫn giữ nguyên vẹn tình thương đối với tôi và anh hết sức sung sướng khi được biết tôi đã được tự do và có địa vị đàng hoàng. Rồi những bức hình, thêm những bức hình, những trang thư, thêm những trang thư gợi lại các kỷ niệm và kể lại cuộc sống của họ, kể lại những năm chinh chiến, những gì họ đã phải làm để có thể nuôi các cháu. Mỗi chữ được đọc đi đọc lại, phân tích để được hiểu rõ và tận hưởng nỗi niềm hoan lạc.
Rồi từ tận cùng thời gian, sau đường hầm đen tối của những năm tháng trong ngục tù, thời thơ ấu của tôi trỗi dậy: “Riri thân mến”, đó là lời chị tôi viết. Riri… tôi còn thấy mẹ tôi gọi tôi với một nụ cười tuyệt đẹp. Hình như trên một bức ảnh tôi gởi cho các chị, tôi giống hệt ba tôi. Chị tôi tin chắc rằng bề ngoài tôi giống ba tôi, thì tánh tình tôi cũng không khác. Chồng chị với chị không lo ngại về việc tôi xuất hiện. Cảnh binh hẳn đã biết Rita có đi Ardèche, và họ đã tìm đến nhà chị tôi để hỏi tin tức về tôi, anh rể tôi đã trả lời: “Quả thật chúng tôi có nhận được tin tức về cậu ấy. Cậu ấy khỏe mạnh và hiện rất sung sướng. Cảm ơn các ông”.
Một người chị nữa ở Ba Lê, vợ một luật sư người Corse. Họ có hai trai, một gái, một địa vị khả quan. Trong thư, cũng một tiếng reo vui: “Em đã được trả tự do, được yêu, em đã có một mái ấm gia đình, một địa vị tử tế, em sống như mọi người. Hoan hô em! Các con chị, chồng chị cùng chị cảm ơn Thượng đế đã giúp em ra khỏi cảnh ngục tù ghê tởm”.
Chị cả đề nghị đem con gái chúng tôi về với chị để nó tiếp tục học hành. Đồng ý, nó sẽ qua bên ấy.
Nhưng điều làm chúng tôi ấm lòng nhất là không người nào tỏ vẻ xấu hổ vì đã có một đứa em là một tên tù vượt ngục.
Để thêm vào trận mưa rào tin tức phi thường ấy, nhờ một bác sĩ người Pháp có nhà ở Maracaibo, bác sĩ Rosenberg, tôi tìm được địa chỉ của người bạn tôi, bác sĩ Guibert-Germain, trước kia là bác sĩ trong ngục thất đã đối xử với tôi như một người trong gia đình, mời tôi đến nhà, che chở tôi khỏi các lỗi lầm và cùng bà vợ luôn luôn khuyến khích tôi tin vào giá trị làm người của tôi. Nhờ ông mà tôi không còn cô đơn trong thời kỳ ở nhà cấm cố Saint Joseph, nhờ ông tôi đã được chuyển đến Đảo Quỷ sứ để rồi trốn thoát. Tôi viết thư cho ông và một hôm, tôi vô cùng sung sướng nhận bức thư này:
“Lyon, 21 tháng 2 năm 1952. – Papillon thân mến, được tin anh, chúng tôi rất vui mừng. Từ lâu tôi đoán anh tìm cách liên lạc với tôi. Trong khi tôi ở Dijon, mẹ tôi cho biết có nhận một bức thư từ Venezuela gởi đến mà không thể biết đích xác người gởi là ai. Rồi mới đây, mẹ tôi đưa cho tôi bức thư anh nhờ bà Rosenberg chuyển. Thế là sau bao nhiêu gian nan, chúng tôi đã tìm lại anh. Từ tháng 9 năm 1945, ngày tôi rời nhà giam Royale, rất nhiều việc đã xảy ra.
“(……) Cuối cùng, đến tháng 10 năm 1951, tôi nhận lệnh thuyên chuyển qua Đông Dương, phải lên đường gấp, nghĩa là ngày 6 tháng 3 năm sau, nhiệm kỳ hai năm. Lần này tôi đi một mình. Có lẽ đến nơi rồi, tùy nơi phục vụ, tôi có thể vận động cho nhà tôi qua theo.
“Thế là từ ngày chúng ta gặp nhau lần cuối, tôi đã đi vài cây số. Dĩ vãng ấy đã để lại cho tôi nhiều kỷ niệm nhưng tiếc rằng tôi không hề được gặp lại người nào trong số các anh em thường đến nhà tôi. Trong một thời gian khá lâu, tôi đã có nhận được tin tức của anh đầu bếp Ruche đã lập nghiệp ở Saint Laurent, nhưng sau khi tôi rời khỏi Djibouti, tôi không được tin gì của anh ấy nữa. Dù sao chúng tôi rất mừng được biết anh sung sướng, khỏe mạnh, và có nhà có cửa đàng hoàng. Đời là một cái gì kỳ lạ, nhưng tôi vẫn nhớ không bao giờ anh chán nản và như vậy là anh có lý.
“Tấm hình anh chụp với vợ anh làm cho chúng tôi hết sức vui mừng và chứng tỏ anh đã thành đạt. Có lẽ một ngày nào đó chúng tôi sẽ có thể đến thăm anh, biết đâu! Các biến chuyển đi nhanh hơn chúng ta. Nhìn trong ảnh, chúng tôi để ý thấy anh có óc thẩm mỹ, bà nhà rất kiều diễm và khách sạn có vẻ rất khang trang. Anh Papillon thân, anh tha thứ nếu tôi vẫn còn gọi anh bằng cái tên ấy nhưng đối với chúng tôi nó gợi biết bao kỷ niệm!
“(……) Bạn ơi, đó là một ít tin tức của chúng tôi. Anh nên tin chắc rằng chúng tôi đã nhiều lần nhắc đến anh và chúng tôi vẫn nhớ mãi cái ngày bất hủ mà Mandolini dòm ngó vào công việc không dính dáng gì đến nó.
“Papillon thân mến, tôi kèm theo đây bức hình chụp cả hai chúng tôi, ở Marseille, cách đây hai tháng, tại Canebière.
“Tôi ngừng bút nơi đây, chúc anh mọi điều lành và hy vọng lâu lâu được thư anh.
“Nhà tôi cùng tôi gởi lời thân ái chào chị và gởi đến anh nhiều cảm tình. – A. Guibert Germain.
Tiếp theo là mấy giòng của bà Giubert Germain:
“Xin có lời mừng anh thành công và cầu chúc anh chị một năm mới khang an. Vẫn giữ kỷ niệm đẹp nhất về người em tinh thần của tôi. – M. Guibert Germain”.
Bà Guibert Germain không theo chồng qua Đông Dương. Ông đã bị giết ở đó và tôi không bao giờ thấy lại người y sĩ quân y vô cùng nhũn nhặn đã là một trong số ít người, cùng với Trung tá Péan trong đội quân cứu nguy và rất ít người nữa, can đảm bênh vực những tư tưởng nhân ái đối với các tù nhân và riêng phần ông đã đạt đến một số kết quả khi còn tại chức. Không có ngôn ngữ cao cả nào đủ để nói lên lòng tôn kính đối với những người như ông và như bà vợ ông. Chống lại mọi người và bất kể có thể nguy hại đến sự nghiệp, ông đã nói rằng con người vẫn là con người và không bao giờ hư hỏng vĩnh viễn, dù người ấy có phạm tội nặng.
Lại cũng có các bức thư của Dì Ju. Không phải những bức thư của một bà kế mẫu chưa khi nào biết mặt con chồng, mà đúng là những bức thư của một bà mẹ với lời lẽ phát xuất từ một lòng mẹ. Trong thư, bà kể lại cuộc đời của cha tôi cho đến ngày ông qua đời, một giáo chức tôn trọng luật pháp với quan tòa, nhưng cũng đã nói: “Thằng nhỏ tôi vô tội, tôi cảm thấy như vậy, thế mà bọn khốn nạn kết tội nó, sau khi vượt ngục, không biết bây giờ nó ở đâu! Nó còn sống hay đã chết”. Mỗi lần những người kháng chiến thành công một vụ chống kẻ xâm lăng, ba tôi nói: “Nếu còn Henri ở đây, nó sẽ đứng trong hàng ngũ với họ”. Rồi nhiều tháng im lặng, ba tôi không nhắc đến tên con nữa. Hình như ông đem hết tình thương dành cho tôi gởi vào những đứa cháu mà ông nuông chiều với nhiều kiên nhẫn, hơn bất cứ một ông ngoại nào.
Tôi cho vào lòng những mẩu chuyện trên như một kẻ chết đói. Những bức thư quí hóa nối lại tình gia đình đã bị đứt đoạn từ nhiều năm, tôi cùng Rita, đọc đi đọc lại và giữ lại như những thánh tích vô giá. Quả thật tôi có phúc nên quyến thuộc của tôi, không trừ một ai, đã quá thương tôi và đã quá can đảm nên mặc dù có một địa vị xã hội có phần trưởng giả, họ đã bất cần dư luận và đã hân hoan được biết tôi còn sống, được tự do và sung sướng. Thật vậy, phải có can đảm bởi vì xã hội loài người rất khắt khe và không dễ dàng tha thứ trong gia đình có một phần tử phạm tội. Có những người bần tiện đã nói: “Ồ, anh biết không, trong gia đình ấy toàn là hạt giống tù tội”.
Năm 1953, chúng tôi bán ngôi nhà khách sạn. Lâu rồi khí hậu quá nóng nực ở Marcaibo làm cho chúng tôi mệt mỏi, và dù sao, Rita với tôi cũng có máu phiêu lưu nên không muốn sống mãn đời ở đây. Phương chi tôi vừa nghe nói đến một vụ ghê gớm ở xứ Guyane thuộc Venezuela, người ta đã tìm thấy một núi sắt tinh. Nó ở đầu kia xứ này, vậy thì lên đường đi Caracas, chúng ta sẽ dừng lại đây để nghiên cứu tình hình.
Chúng tôi khởi hành vào một buổi sáng đẹp trời, bằng chiếc xe De Soto màu lục to bự của tôi chất đầy hành lý, để lại sau lưng năm năm hạnh phúc êm đềm cùng nhiều bạn bè, người tỉnh Maracaibo và người ngoại quốc.
Tôi gặp lại CARACAS. Nhưng phải chăng đây là Caracas? Kìa, không lẽ chúng tôi lầm thành phố?
Perez Jimenez, sau thời kỳ nhiếp chính của Flamerich, đã tự phong Tổng Thống, nhưng trước đó đã chủ trương biến thủ đô Caracas, một thành phố thuộc địa, thành ra một thủ đô tối tân chính cống. Việc ấy được thực hiện trong một thời kỳ mà phía chính phủ cũng như phía đối lập bí mật phóng tay sử dụng vũ lực tàn bạo khủng khiếp. Ông Caldera, đương kim Tổng Thống từ năm 1970, đã thoát khỏi một vụ mưu sát ghê gớm: một quả bom có sức công phá mãnh liệt đã được quăng trong buồng, nơi ông đang ngủ với bà vợ và một đứa con. Thật là một phép lạ, không người nào chết, rồi với một thái độ bình tĩnh phi thường, không kêu la, không hãi sợ, ông cùng bà vợ chỉ đọc kinh cảm tạ Thượng Đế đã cứu họ thoát chết. Việc này xảy ra năm 1951, và tôi xin nhấn mạnh lúc ấy ông đã là một đảng viên đảng Xã hội Thiên chúa giáo, chứ không phải ông theo đảng ấy sau vụ mưu sát.
Dù chế độ độc tài của ông gặp rất nhiều khó khăn, Perez Jimerez đã hoàn toàn biến cải Caracas cũng như nhiều thứ khác nữa.
Con đường cổ xưa đi từ Caracas đến phi trường Maiquetia và đến hải cảng La Guaira vẫn còn. Nhưng Perez Jimenez đã cho đắp một xa lộ tráng lệ, kỹ thuật tân kỳ, nối liền thành phố với bãi biển trong vòng mười lăm phút, trước kia phải đi đến hai giờ nếu theo đường cũ. Tại khu phố Silencio, công trình của Médina, ông cho mọc lên những tòa nhà đồ sộ chẳng khác gì ở Nữu ước. Ông cho làm ngay trung tâm thành phố một xa lộ kỳ lạ có ba lề, xa lộ xuyên ngang thành phố từ đầu này đến đầu kia. Đó là chưa kể công cuộc cải tiến hệ thống đường sá, việc xây cất nhà cửa cho thợ thuyền và giai cấp trung lưu, là những mẫu mực về phương diện trang thiết đô thị, cùng nhiều cải tiến khác nữa. Thật là một cuộc luân vũ hằng triệu mỹ kim, một tiềm năng mãnh liệt được đánh thức trong một quốc gia đã ngủ yên từ bao thế kỷ. Các quốc gia nhìn xứ này bằng một nhãn quan khác trước, tư bản ngoại quốc tràn vào cùng lúc với các chuyên viên đủ loại. Đời sống thay đổi hẳn, cửa được mở rộng đón tiếp ngoại kiều, và giòng máu mới ấy, thích ứng với đời sống hiện đại hơn, đã khiến cho nhịp sống mới của xứ sở này trở nên hữu hiệu hơn. Một lỗi lầm duy nhất, theo ý tôi rất quan trọng, thời kỳ ấy người ta không lợi dụng hay hầu như không lợi dụng sự hiện diện của các chuyên viên ngoại quốc để huấn luyện về kỹ thuật cho hàng ngàn thanh niên để bọn này có được một nghề hay một khả năng chuyên môn.
Nhân ghé lại Caracas, tôi tiếp xúc với các bạn và hỏi thăm tin tức về Picolino. Trong những năm vừa qua, tôi thường đưa người đến thăm nó và đem cho nó một ít tiền. Một người bạn mà tôi vừa gặp lại, trong năm 1952, đã đưa cho nó một số tiền do tôi gởi vì nó có hỏi để có thể đến ở tại La Guaira, gần hải cảng. Nhiều bận tôi đề nghị nó đến ở với chúng tôi tại Maracaibo, nhưng nó đều cho biết chỉ ở Caracas mới có bác sĩ. Hình như nó đã nói được lại và cánh tay mặt nó cử động được. Bây giờ, không ai biết nó ở đâu. Người ta có thấy nó đi lang thang ở hải cảng La Guaira rồi nó biến luôn. Có thể nó đã xuống tàu đi Pháp. Không bao giờ tôi biết được và tôi tự trách đã không đi Caracas sớm hơn để thuyết phục nó theo tôi đến ở Maracaibo.
Tình hình đã sáng sủa: nếu chúng tôi không tìm được công việc vừa ý ở Guyane thuộc Venezuela, ở đây có vụ mỏ sắt đặc biệt và có một vị tướng kiến trúc sư, trung tướng Ravard, vừa khai thác khu rừng già kinh khủng cùng với các con sông mênh mông để chứng minh rằng mặc dầu sức mạnh của sông núi vô biên, nhưng con người vẫn có thể chống chế được, trong trường hợp đó, chúng tôi sẽ trở lại lập nghiệp ở Caracas.
Trên chiếc De Soto đầy ắp va li, Rita cùng tôi trực chỉ Ciudad Bolivar, thủ đô xứ Guyane, nằm trên bờ sông Orénoque. Tám năm đã trôi qua, bây giờ tôi gặp lại tỉnh thành diễm lệ này với những người dân vui tươi, niềm nở.
Sau một đêm khách sạn, chúng tôi vừa ngồi ở nơi hàng hiên để uống cà phê thì có một người đến đứng trước mặt. Cao, gầy, sạm nắng, một chiếc mũ rơm trên đầu độ 50 tuổi, hắn nhíu cặp mắt ti hí hầu như mất hẳn trong kẽ giữa hai hàng mi.
– Hoặc là tôi điên, hoặc anh là một người Pháp tên Papillon, hắn nói.
– Bồ ơi, mày không kín đáo chút nào. Nếu người đẹp đi với tao không biết chuyện cũ, mày tính sao?
– Xin lỗi mày. Tao ngạc nhiên quá đỗi nên tao không để ý đã nói một câu ngu ngốc.
– Thôi, không nói chuyện ấy nữa. Ngồi xuống đây với bọn này.
Một thằng bạn cố triMarcel B. Chúng tôi nói chuyện này nọ. Nó ngạc nhiên thấy tôi hết sức khỏe mạnh và đã có một địa vị khả quan. Tôi nói cho nó biết tôi đã gặp rất nhiều may mắn, còn nó thì tội nghiệp, không cần nói cũng biết nó không thành đạt, quần áo của nó chứng tỏ điều đó. Tôi mời nó ăn trưa. Sau khi uống vài chén rượu Chí Lợi, nó nói:
– Vâng, thưa bà, lúc trẻ tôi là một thằng thanh niên kỳ dị, không biết sợ ai hết. Bà thử nghĩ sau khi vượt ngục lần đầu, tôi đi mãi đến Gia Nã Đại, rồi xin đăng vào Cảnh Sát kỵ mã mới hay chứ! Xin nói thêm tôi nguyên là giáp kỵ binh. Đáng lẽ tôi ở trong hàng ngũ ấy suốt đời, nhưng một hôm tôi nổi tức, đánh lộn, thằng kia đã ngã trên con dao của tôi. Quả như lời tôi nói, bà Papillon ạ, thằng Gia Nã Đại đã ngã trên con dao của tôi.
Bà không tin phải không? Thế là, vì biết cơ quan cảnh sát Gia Nã Đại cũng sẽ không tin, tôi liền bỏ trốn ngay. Sau khi qua Hoa Kỳ, tôi đến Ba Lê. Có lẽ vì bị một thằng chó chết nào đó tố cáo, tôi bị bắt, trả vào tù và tại đây tôi đã gặp chồng bà. Chúng tôi là đôi bạn thân.
– Marcel, thế bây giờ mày làm gì?
– Tao có một đồn điền cà chua ở Morichales.
– Phát đạt chứ?
– Tàm tạm. Đôi khi một đám mây không cho mặt trời minh bạch xuất hiện. Mình biết có mặt trời, nhưng không thấy. Vậy mà nó ném ra những tia ánh sáng vô hình giết chết cà chua của mình trong vài giờ.
– Thế hả? Tại sao?
– Bí mật của tạo hóa, bồ ơi. Tao không biết rõ nguyên nhân, nhưng kết quả thì tao biết.
– Ở đây có bao nhiêu cựu tù nhân?
– Vài chục.
– Có được sung sướng không?
– Vậy thôi.
– Mày cần gì không?
– Papillon, tao thề, nếu mày không hỏi tao sẽ không nói. Nhưng tao cảm thấy mày không đến nỗi nào, và xin lỗi Bà, tao sẽ nói với mày một điều rất quan trọng.
Tôi nghĩ nhanh: “Miễn là đừng quá đắt”.
– Mày cần gì nói đi Marcel.
– Một cái quần, một đôi giày, một sơ mi và một cà vạt.
– Được rồi, lên xe.
– Cái này của mày hả? Trời, mày hên quá.
– Vâng, rất hên.
– Khi nào mày đi lại?
– Chiều nay.
– Tiếc quá, nếu không mày có thể chở cô dâu chú rể bằng xe của mày.
– Cô dâu chú rể nào?
– À, tao quên nói với mày bộ quần áo là để đi dự đám cưới một thằng bạn cựu tù nhân.
– Tao có biết nó không?
– Không hiểu. Nó tên Maturette.
– Mày nói sao? Maturette?
– Đúng vậy. Có gì lạ lùng đâu? Một kẻ thù?
– Trái lại, một thằng bạn chí thân.
Không thể tưởng tượng được. Maturette! Thằng nhỏ dễ thương không những đã giúp chúng tôi trốn thoát khỏi bệnh viện Saint Laurent du Maroni, mà còn đi với chúng tôi hai ngàn cây số trên một chiếc ghe nhỏ giữa lòng đại dương.
Không còn vấn đề đi nữa, ngày hôm sau chúng tôi dự đám cưới Maturette với một cô gái nhỏ nhắn dễ thương nước da màu cà phê sữa. Việc tối thiểu là trả tiền đám cưới và sắm áo quần cho ba đứa con chúng nó đã sáng tác trước khi dẫn nhau đến trước ông linh mục. Trong dịp này tôi tiếc đã không chịu rửa tội nên không thể đứng làm chứng cho thằng bạn trong lễ cưới.
Maturette ở một khu phố nghèo nàn, mọi người trố mắt khi chiếc De Soto đi vào, nhưng nó cũng có được một ngôi nhà nhỏ bằng gạch, sạch sẽ, có bếp, buồng tắm, phòng ăn. Nó không kể cho tôi nghe lần vượt ngục thứ hai và tôi cũng không kể cho nó nghe lần vượt ngục sau của tôi. Chỉ có một câu nhắc đến dĩ vãng:
– Nếu may mắn hơn tý nữa, chúng ta đã được tự do sớm hơn mười năm.
– Ừ, nhưng số phận của chúng mình sẽ khác Maturette, tao đang sống hạnh phúc, mày cũng có vẻ sung sướng.
Chúng tôi chia tay nhau, nghẹn ngào, miệng mãi nói: “Chào mày”, “sẽ gặp lại”.
Trên đường đi Ciudad Polivar, một thành phố vừa mọc lên bên cạnh một mỏ sắt sắp được khai thác, tôi nói với Rita về Maturette, và những đổi dời kỳ lạ trong cuộc đời. Cùng nó, hơn hai mươi lần chúng tôi suýt bỏ mạng ngoài biển, chúng tôi hết sức liều lĩnh, rồi chúng tôi bị bắt lại, đưa về ngục thất, nó cũng như tôi mỗi đứa bị hai năm cấm cố. Thế mà trên đường đi đến một cuộc phiêu lưu mới, một dịp may hiếm có đã khiến không những tôi gặp lại nó, mà gặp đúng vào hôm trước ngày đám cưới của nó, nó cũng đã có một địa vị có lẽ khiêm nhường, nhưng nó sung sướng. Rita với tôi đã cùng nghĩ thế này: “Dĩ vãng không nghĩa lý gì, chỉ ta thành con người thế nào mới đáng kể”.
Tại Ciudad Polivar, vì tôi không tìm ra công việc gì thích hợp nên chúng tôi trở lại Caracas mua lại một cơ sở kinh doanh phát đạt.
Chúng tôi tìm thấy ngay một cơ sở phù hợp với năng khiếu và khả năng tài chánh của chúng tôi. Đó là một tiệm ăn muốn thay chủ rất thích hợp với chúng tôi, tiệm Aragon, bên lề công viên Carbobo, một địa điểm rất đẹp. Những ngày đầu khá nhọc nhằn vì chủ cũ là người đảo Canaries và chúng tôi phải thay đổi tất cả. Chúng tôi áp dụng thực đơn nửa Pháp, nửa Venezuela thực khách mỗi ngày mỗi tăng. Trong số thực khách, có nhiều người làm nghề tự do: y sĩ, nha sĩ, dược sĩ, luật sư. Kỹ nghệ gia cũng có. Và trong môi trường thanh lịch ấy, ngày tháng trôi qua, không gì rắc rối.
Đúng 9 giờ sáng một ngày thứ hai, ngày 6 tháng 6 năm 1956 chúng tôi nhận được một tin tuyệt vời: Bộ Nội Vụ báo cho biết đơn xin nhập tịch của tôi được chấp thuận.
Hôm nay là một ngày trọng đại, đây là phần thưởng của hơn 10 năm sống ở Venezuela mà nhà chức trách không thấy gì đáng chỉ trích trong đời sống của tôi, một công dân tương lai của xứ này. Bữa nay là ngày 5 tháng 7 năm 1956, ngày lễ Quốc Khánh. Tôi sẽ đi tuyên thệ trung thành với lá cờ của tổ quốc mới của tôi, một quốc gia biết rõ quá khứ của tôi và đã chấp nhận tôi. Chúng tôi cả thảy 300 người đứng trước lá quốc kỳ. Rita và Clotilde ngồi trong hàng khán giả. Thật khó tả lại cảm giác của tôi lúc bấy giờ, các ý nghĩ chen nhau trong đầu óc, trong lồng ngực tim tôi đập thình thình. Tôi nghĩ đến những gì dân tộc Venezuela đã cho tôi: trợ giúp vật chất, trợ giúp tinh thần mà không một lần nào nhắc đến dĩ vãng của tôi. Tôi nhớ lại câu chuyện truyền kỳ của dân Ians Mamos, một bộ lạc da đỏ sống ở biên giới Ba Tây, theo đó họ là con của Peribo, là mặt trăng. Peribo, một danh tướng, trong nguy cơ bị lằn tên kẻ thù bắn hạ, đã nhảy cao đến nỗi bay luôn lên không trung, nhưng cũng vẫn bị trúng nhiều mũi tên. Ông bay lên mãi và từ những vết thương rơi xuống đất nhiều giọt máu đã biến thành người Iano Mamos. Vâng, tôi đã nghĩ đến chuyện truyền kỳ ấy, rồi tôi tự hỏi, phải chăng ông Simon Bolivar, vị anh hùng giải phóng Venezuela, đã gieo rắc máu đào trên xứ sở này nên mới phát sinh ra một dân tộc hào hùng, nhân ái, thụ hưởng một di sản đẹp đẽ nhất?
Quốc ca trổi lên. Mọi người đứng thẳng. Tôi nhìn chăm chăm vào lá cờ có nhiều tinh tú đang được kéo lên rồi nước mắt chảy dài.
Cùng những anh em khác, tôi ra sức hát lớn bài quốc ca của tổ quốc mới, tôi, một đứa đã tưởng trong đời mình không bao giờ được hát một bản quốc ca:
“Abajo cadenas…”. Đập tan xiềng xích
Vâng, chính ngày hôm nay, và mãi mãi, tôi thật sự cảm thấy xiềng xích người ta buộc cho tôi đã rơi rụng. Mãi mãi.
– Hãy thề trung thành, lá cờ này từ nay sẽ là của các anh.
Tất cả ba trăm người chúng tôi đã long trọng tuyên thệ, nhưng tôi chắc rằng người trung thực nhất là tôi, Papillon, một thằng đã bị tổ quốc của nó xử một hình phạt tệ hại hơn tử hình, vì một tội không hề phạm. Vâng, nước Pháp là đất mẹ của tôi, nước Venezuela là thiên đàng của tôi.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.