Banco Papillon – Giang Hồ Tung Cánh

vietmessenger.com

Henri Charrière

Dịch giả: Đinh Bá Kha

Đời Mới xuất bản 1974

Post by Sơn râu 2 Oct 2025

Google image edited by Sơn râu

11. Cha Tôi

SAU một thời gian ngắn sửa soạn cuộc viễn du, hôm nay Rita ra đi lòng chứa chan hy vọng. Nàng ra đi để tìm chỗ cha tôi ẩn náu, trốn tránh.

– Henri, xin anh tin em. Em sẽ đưa ba về.

Bây giờ chỉ mình tôi coi sóc khách sạn. Tôi bỏ công việc bán quần áo, một công việc chỉ trong vài giờ, đã thấy lời khả quan. Tuy nhiên Rita đã ra đi tìm ba tôi, tôi phải lo liệu tất cả, không những như là có mặt nàng ở đây, mà phải hai lần hơn.

Tìm ba tôi, tìm ba tôi! Một ông giáo thuần khiết của một làng trong tỉnh Ardèche, một ông cha mà cách đây 20 năm, lần cuối không thể hôn đứa con trai trong kỳ viếng thăm tại nhà tù vì bị các song sắt ngăn cách, một đứa con bị xử phạt khổ sai chung thân. Với ông cha ấy, Rita, vợ tôi sẽ nói: “Con đến như một đứa con gái thưa ba rõ rằng con trai của ba đã ra sức tìm lại tự do, anh ấy đã làm lại cuộc đời, và trở nên một người tốt, một người lương thiện và đã cùng con tạo nên một mái ấm gia đình đang chờ đợi ba đến”.

Tôi thức dậy lúc 5 giờ và đi mua các thứ với con chó Minou và một đứa trẻ mười hai tuổi mà tôi đã nhận nuôi sau khi nó trong tù ra. Nó xách giỏ. Trong một giờ rưỡi đồng hồ, tôi mua thức ăn cho cả ngày: thịt, cá, rau. Chúng tôi đi về mang nặng như hai con lừa. Trong bếp có hai người đàn bà. Một người hai mươi bốn tuổi, người kia mười tám. Tôi đặt tất cả các thứ mua về trên bàn rồi họ sắp xếp lại.

Đối với tôi, thời gian đẹp nhất của cuộc sống đơn giản này là lúc sáu giờ rưỡi sáng, tôi điểm tâm tại phòng ăn với đứa con gái bà bếp Rosa ngồi trên đùi tôi. Đứa bé lên bốn, đen như cục than, nó không chịu ăn nên không được cùng ăn sáng với tôi. Thân hình nhỏ bé của nó trần truồng và còn mát rượi vì được mẹ nó vừa tắm cho nó lúc ngủ dậy, cặp mắt sáng ngời của nó nhìn tôi đầy tin tưởng, tiếng nói líu lo của nó, tất cả, kể cả con chó ghen tức vì bị lãng quên nên sủa lớn, con két của Rita mở ruột bánh mì nhúng sữa bên cạnh tách cà phê, tất cả, vâng, đã làm cho giờ phút ấy trở thành kỳ diệu nhất trong ngày.

Không nhận được thư từ gì của Rita cả. Tại sao? Nàng ta đi đã hơn một tháng rồi. Đành rằng phải mất mười sáu ngày đi đường, nhưng trong mười lăm ngày trên đất Pháp, nàng chưa tìm ra manh mối gì hay là nàng không muốn nói cho tôi biết? Tôi không đòi hỏi gì hơn một bức điện tín, ít ra là một bức điện tín trong đó bằng một câu ngắn nàng reo hò đắc thắng: “Ba khỏe mạnh, và vẫn yêu anh”.

Tôi trông chờ người đưa thư, tôi chỉ rời khách sạn để đi công việc cần cho mọi việc chạy đều, làm việc hối hả rồi về để luôn luôn có mặt ở nhà. Ở Venezuela, nhân viên bưu điện không mặc đồng phục, nhưng đều rất trẻ. Thế nên khi một chú bé vừa bước vào sân trong là tôi tiến đến, mắt nhìn chăm chăm vào đôi tay của nó để thấy ngay nó có cầm mảnh giấy xanh hay không. Không có, cứ không có mãi. Thường khi không phải là những chú nhân viên bưu điện. Chỉ trừ hai ba lần gì đó có chú bé đi vào với một mảnh giấy xanh. Tôi nhảy tới, hầu như giựt bức điện tín nơi tay nó để rồi thất vọng nhận thấy điện tín ấy gởi đến cho một người khách trọ.

Sự chờ mong, sự thiếu vắng tin tức khiến tôi bực bội, âu lo. Tôi làm việc như chết, tôi cần bận rộn luôn luôn nếu không tôi không thể nào chịu đựng nổi tình trạng này. Tôi phụ giúp nấu ăn, bày ra những món ăn tân kỳ, đi khám các phòng mỗi ngày hai lần, nói chuyện với khách trọ về bất cứ vấn đề gì, tôi nghe kể bất cứ chuyện gì. Chỉ có một việc đáng kể là lấp đầy ngày giờ để có thể chịu đựng cảnh thiếu tin tức và cảnh đợi mong. Chỉ có một việc tôi không thể làm được: ngồi vào bàn xì phé bắt đầu mỗi đêm vào lúc hai giờ.

Về công việc khách sạn, một mình tôi xoay sở cũng khả quan, và khách trọ đều tỏ ý hài lòng.

Chỉ có một trục trặc khá quan trọng. Do lỗi của Carlitos. Thay vì mua dầu lửa để lau chùi nhà bếp, nó lại mua dầu xăng. Sau khi đổ khá nhiều để rửa nền xi măng, mấy bà bếp không chút nghi ngờ đã đốt lò. Tất cả nhà bếp phựt cháy kinh khủng. Hai chị em bị cháy từ chân đến bụng. Tôi chỉ kịp lấy khăn bàn trùm kín bé Da đen con của Rosa và cứu được khỏi phỏng. Hai người kia bị phỏng nặng. Tôi để họ nằm điều trị tại phòng của họ trong khách sạn và tuyển một người bếp quốc tịch Panama.

Đời sống ở khách sạn vẫn đều đều, nhưng tôi bắt đầu thấy mất ăn mất ngủ vì sự bặt tin và sự thiếu vắng Rita.

Nàng ra đi đã 57 ngày. Chốc nữa nàng sẽ có ở đây, chỉ còn 10 đến 20 phút nữa. Tôi chờ nàng ở phi trường. Tại sao chỉ có một điện tín vắn tắt: “Sẽ đến thứ ba 15 giờ 30 bằng chuyến bay 705. Hôn nhiều – Rita”. Tại sao không còn gì nữa? Hay là nàng không tìm được ai hết? Tôi không biết nghĩ gì hơn, và không muốn phỏng đoán.

Kìa, Rita của tôi đã đến. Tôi sẽ biết ngay.

Nàng là người hành khách thứ năm bước xuống cầu thang máy bay. Nàng trông thấy tôi ngay và đưa cánh tay lên cùng lúc tôi đưa cánh tay tôi. Bước chân nàng không gì khác lạ. Cách xa 40 thước, tôi dò xét nét mặt nàng, nàng không cười, chỉ mỉm cười thôi. Không, nàng không tiến về phía tôi bằng những bước chân đắc thắng, không, nàng không đưa tay lên để báo hiệu nỗi vui mừng mà chỉ để cho tôi hiểu nàng đã thấy tôi.

Khi còn cách tôi 10 thước, tôi biết rõ ràng đã thất bại trong chuyến đi.

– Em có tìm thấy ba anh không?

Câu hỏi được ném thẳng vào mặt nàng, sau khi tôi chỉ hôn nàng một cái, chỉ một cái sau hai tháng xa cách. Tôi không thể chờ đợi lâu nữa.

Vâng, nàng đã tìm được ba tôi. Ông nằm trong nghĩa địa một thôn nhỏ ở tỉnh Ardèche.

Nàng đưa cho tôi một bức ảnh. Một ngôi mộ xây đắp kỹ lưỡng, bằng xi măng, có mấy chữ: “J. Charrière”. Ba tôi chết bốn tháng, trước khi nàng đến. Bức ảnh ngôi mộ là tất cả những gì Rita đem về cho tôi.

Lòng tôi tràn đầy hy vọng khi vợ tôi ra đi bây giờ nghe tin kinh khủng ấy tim tôi gần như ngừng đập. Tôi cảm thấy tim tôi bị xé nát, tất cả những ảo vọng của một người đã trưởng thành nhưng đối với cha mình vẫn còn là cậu bé, đều sụp đổ. Chúa ơi, không những Chúa đã tàn hại cả tuổi thanh xuân của tôi, Chúa còn từ khước không cho tôi hôn cha tôi, nghe giọng cha tôi chắc hẳn nói với tôi: “Lại đây với Ba, bé Riri. Số kiếp tàn nhẫn với con, công lý và chế độ lao tù đối xử bất nhân với con, nhưng ba vẫn thương con, không bao giờ ba từ con và ba hãnh diện vì con đã có nghị lực chiến thắng tất cả để trở nên con người ngày hôm nay”, Rita kể lại không biết chán những gì, tuy rất ít, nàng được biết, nàng đã hầu như van xin người ta cho biết về cảnh đời của ba tôi sau khi tôi bị kết án. Tôi không nói gì hết, tôi không thể nói được, hình như có cái gì chặn ở cổ. Rồi đột nhiên, như một giòng suối tuôn trào, ý nghĩ trả thù trở lại xâm chiếm tôi với một mãnh lực dã man. “Hỡi bọn cảnh sát, tao sẽ cho nổ chiếc rương tại số 36 đường Orfèvres, không phải để giết một vài đứa tụi bây, mà giết càng nhiều càng tốt, một trăm, hai trăm, ba trăm, một ngàn! Còn mày, Goldstein, vì ham lợi mà làm chứng gian, mày hãy xem tao, mày sẽ có phần của mày, đúng mức mà! Còn mày, thằng phó Chưởng lý khao khát kết án người ta, tao sẽ cắt cái lưỡi của mày một cách đau đớn nhất!”.

– Rita, chúng ta phải xa nhau. Em cố gắng hiểu cho anh: chúng nó đã tàn hại đời anh. Chúng đã không cho anh hôn ba anh và xin ba anh tha thứ. Anh phải trả thù, không thể để chúng thoát. Ngày mai anh sẽ đi, đêm nay là đêm cuối cùng. Tiền lộ phí và tiền chi vào việc thực hiện ý đồ, anh đã có cách. Việc duy nhất anh yêu cầu em, là để cho anh lấy 5.000 đồng trong số tiền chúng ta dành dụm hầu anh trang trải những chi phí đầu tiên.

Giây phút im lặng kéo dài, tôi không còn thấy Rita, gương mặt nàng khuất sau những hình ảnh của kế hoạch trả thù đã được tôi vạch từng chi tiết cả ngàn lần.

Phải cần những gì để thực hiện kế hoạch ấy? Tính chung ít hơn hai trăm ngàn đồng. Trước kia tôi dự trù quá nhiều. Với số tiền sáu chục ngàn Mỹ kim, là quá đủ. Có hai nơi tôi để yên vì tôn trọng xứ này. Trước hết là vùng Callao với đống vàng do cựu phạm canh giữ. Thứ đến là ngay tại trung tâm Caracas, người thâu ngân viên của một xí nghiệp lớn. Rất dễ đánh cướp tên này vì hắn chuyển tiền không có người hộ vệ. Hành lang đi vào tòa nhà rất tiện, cũng như hành lang ở lầu tư, vì cả hai đều thiếu ánh sáng. Tôi có thể ra tay một mình, không cần vũ khí, không cần thuốc mê. Có điều rắc rối là trong trường hợp chuyển một số tiền rất lớn, chúng nó đi ba người. Một mình tấn công cả ba là một việc không chắc ăn một trăm phần trăm. Dễ nhất dĩ nhiên là mớ kim cương Callao. Đến đó lấy đủ số tôi cần, ba mươi ký vàng, không hơn, rồi chôn kỹ. Nếu có bị phát giác, tôi cáo bệnh nằm tại nhà Maria, nhưng không có dấu hiệu gì chứng tỏ sẽ bị phát giác ngay. Công việc không gì phiền toái: tôi nằm với Maria, rồi khi nàng ngủ, tôi cho nàng ngửi thuốc mê để nàng khỏi thức dậy khi tôi đi. Tôi có thể ra đi, ăn hàng xong rồi trở về nằm bên nàng mà không ai thấy. Thân hình trần truồng, sơn đen, trong đêm tối đến gần người canh kho là việc quá dễ.

Phải trốn đi bằng ngả xứ Guyane thuộc Anh. Tôi phải đến Georgetown với rất ít vàng đã được đốt chảy ra thành sinh kim hoặc vàng cặn, một việc tương đối dễ làm. Chắc chắn sẽ kiếm được một người mua tất cả. Tôi sẽ thỏa thuận, với nó để nó trả bằng giấy bạc cắt làm đôi. Nó giữ một nửa, và chỉ đưa cho tôi sau khi tôi đã trao hàng trên bờ sông, Caroni thuộc Anh nơi tôi sẽ cất dấu tất cả số vàng. Như thế đôi bên sẽ được yên trí.

Tôi sẽ có thể nổi lên mặt nước ở Georgetown vì tôi đã lén bỏ thành phố ấy đi cách đây mấy năm. Vào lậu như vậy, nếu có bị hỏi, điều này không chắc, tôi sẽ nói trong mấy năm qua tôi đã vào rừng tìm vàng vì vậy mà lâu nay không ai thấy tôi.

Tôi biết thằng Julot vẫn ở đó. Nó trú ngụ hợp pháp, nó sẽ cho tôi ở tại nhà nó. Chỉ có một điều đáng lo là Indara với cô em. Tôi chỉ nên ra khỏi nhà ban đêm hay tốt hơn không nên đi đâu hết và nhờ Julot đi lo công việc giúp tôi. Tôi đoán thằng André cao lớn cũng ở Georgetown và nó có sổ thông hành do chính quyền Gia Nã Đại cấp. Thay cái ảnh, đổi con dấu, rất dễ. Nếu không có nó ở đó, sẽ mua giấy tờ của một thằng nào đang cần tiền hoặc của một lính thủy ở câu lạc bộ hải quân.

Chuyển tiền vào một trương mục ngân hàng ở Buenos Aires, bọc theo rất ít ngoại tệ, đáp máy bay ở Trinidad đi Rio de Janeiro. Đến Rio, thay số thông hành rồi vào Á Căn Đình.

Tại đây, không có vấn đề gì khó. Tôi có những thằng bạn cựu phạm ở đó, và chắc sẽ dễ dàng tìm ra những tên cựu đảng viên Đức quốc xã có lẽ có hàng đống giấy tờ trong các hộc tủ. Từ Buenos-Aires đi Bồ Đào Nha với bốn loại thông hành và căn cước mang nhiều quốc tịch khác nhau nhưng cùng một tên để khỏi bị lúng túng.

Từ Lisbonne, tôi sẽ vào Tây Ban Nha bằng đường bộ rồi đến Barcelone. Cũng vẫn bằng đường bộ, đi vào đất Pháp với một thông hành của xứ Paraguay. Bây giờ tôi nói khá thạo tiếng Tây Ban Nha đủ để một hiến binh Pháp tò mò tưởng tôi là một người Nam Mỹ.

Tôi sẽ chuyển gấp một nửa số tiền vào trương mục ở cơ quan tín dụng thành phố Lyon, nửa kia tôi để lại ở Buenos-Aires.

Tất cả những người tôi sẽ gặp ở Georgetown, ở Ba Tây, ở Á Căn Đình đều phải tin rằng tôi đi Ý để gặp vợ tôi đang chờ tôi để mở một cửa hàng tại một thành phố tắm biển.

Đến Ba lê tôi sẽ ở khách sạn George V. Không bao giờ rời khách sạn ban đêm, dùng bữa ăn tối tại khách sạn, rồi đến 10 giờ bảo đem trà lên phòng. Như vậy suốt bảy ngày trong tuần. Đó là tác phong của một anh chàng đứng đắn sống có giờ giấc nhất định. Việc này sẽ được mọi người trong khách sạn biết ngay.

Dĩ nhiên tôi sẽ để ria mép, tóc hớt ngắn, theo kiểu sĩ quan. Chỉ nói những điều cần thiết và chỉ dùng đôi tiếng Pháp được Tây Ban Nha hóa. Mỗi ngày, bảo để các báo Tây Ban Nha trong ngăn kệ của tôi ở tại phòng tiếp khách.

Cả ngàn lần tôi suy nghĩ đến vấn đề nên bắt đầu từ đứa nào hay bọn nào, để người ta không thể đặt liên hệ giữa ba vụ với cái tên Papillon. Trước tiên là bọn cảnh sát với chiếc rương đựng chất nổ ở số 36 đường Orfèvres. Nếu hành động khéo léo thì không có lý gì để nghĩ đến tôi. Tôi sẽ đi xem địa điểm, tính kỹ thời gian cần thiết để leo lên cầu thang cho đến phòng báo cáo rồi trở ra cổng. Tôi không cần ai để canh đồng hồ ngòi nổ, vì tôi đã thử rất nhiều lần ở xưởng sửa xe “Pháp – Venezuela” trước kia.

Tôi sẽ đến bằng một xe vận tải trên hông xe tôi sẽ kẻ bằng sơn mấy chữ: “Cửa hàng gì đó, cung cấp dụng cụ văn phòng”. Mặc áo tài xế kiêm khuân vác, trên vai mang chiếc rương nhỏ, thật là ăn chắc. Tuy nhiên, lúc thăm dò địa điểm, phải nhớ tên một quận trưởng cảnh sát ghi trên một cánh cửa hoặc là tìm cách biết tên một đứa nào giữ một chức vụ quan trọng ở tầng lầu ấy. Như vậy tôi sẽ nói tên đó với bọn cảnh sát gác cổng ở bên ngoài, hoặc là cũng có thể đưa cho xem hóa đơn làm như tôi không nhớ tên người đặt hàng. Rồi sau đó mặc sức cho pháo bông nổ. Phải xui xẻo hết sức người ta mới đặt sự liên hệ giữa vụ khủng bố, một hành động của bọn vô chính phủ, với cái tên Papillon.

Thế là lão Pradel không thể nghi ngờ. Để đối phó với lão, và cũng để sửa soạn chiếc rương, máy đồng hồ, chất nổ, mảnh đạn, tôi sẽ thuê một biệt thự với tên ghi trong thông hành do chính phủ Paraguay cấp nếu tôi không xoay xở được một căn cước Pháp. Nhưng gặp lại giới giang hồ cũ là một điều nguy hiểm. Có lẽ không nên, tôi sẽ dùng số thông hành.

Biệt thự sẽ ở gần Ba Lê, trên bờ sông Seine, vì tôi phải có thể đến đó cả bằng đường bộ và đường thủy. Tôi sẽ mua một tàu nhỏ, nhẹ và chạy nhanh, có buồng lái, có bến đậu trước biệt thự và một chỗ đậu khác trên bờ sông Seine ngay trung tâm Ba Lê. Trên bộ, tôi sẽ tậu một chiếc xe nhỏ chạy mau và nhanh. Chỉ lúc nào đến tại chỗ, sau khi biết Pradel ở đâu, làm việc ở đâu, nếp sống như thế nào, nghỉ cuối tuần ở đâu, đi métro, đi xe buýt, xe tắc xi hay xe nhà, tôi mới có thể chuẩn bị chu đáo để bắt cóc và nhốt lão trong biệt thự.

Điều quan trọng là phải biết rõ lúc nào và nơi nào chỉ có một mình lão. Một khi đã đưa nó vào hầm rượu của biệt thự thì nhất rồi! Thằng chả với đôi mắt kênh kênh mà các luật sư phải e sợ, tại phiên tòa đại hình năm 1931, có vẻ muốn nói với tôi: “Thằng ranh con, mày không thoát tay tao, tao sẽ vận dụng tất cả những gì chống lại mày, tất cả đống hồ sơ gớm ghiếc của mày, làm cho mày trở thành ghê tởm để các ông phụ thẩm vĩnh viễn xóa tên mày trong xã hội”. Thằng chả đã dùng tất cả công sức vào cuộc thẩm vấn để phác họa ra hình ảnh đê tiện nhất, hư hỏng nhất của một đứa con trai 24 tuổi, đến đỗi 12 lão phụ thẩm như 12 miếng phô mát không biết gì hết đã đưa tôi vào tù chung thân, tôi phải hành hạ nó ít nhất là tám ngày trước khi cho nó chết.

Đứa sau cùng phải trả nợ là thằng Goldstein, làm chứng gian. Tôi bắt nó sau cùng vì đối với tôi nó nguy hiểm nhất. Vì sau khi tôi giết nó, người ta sẽ nhìn vào cuộc đời của nó, và bọn cảnh sát không phải là hạng ngốc, sẽ dễ dàng trông thấy vai trò của nó trong vụ án xử tôi. Và cũng vì chúng biết ngay rằng hiện tôi đang bỏ trốn, từ đó đến việc nghĩ rằng có Papillon trong không khí thành phố Ba Lê, con đường không xa. Lúc bấy giờ, mọi việc sẽ vô cùng nguy hiểm đối với tôi: khách sạn, đường phố, nhà ga, hải cảng, phi trường. Phải lánh mặt gấp và không bỏ quên một điều nhỏ nhặt nào?

Bằng cửa hàng bán áo lông của cha nó, việc tìm hiểu đường đi nước bước của nó không khó. Có nhiều cách giết nó, nhưng dù cách nào đi nữa, tôi cũng muốn nó nhận ra tôi trước khi chết. Nếu có thể, tôi sẽ làm như đã nhiều lần mơ ước: lấy tay bóp cổ nó, chầm chậm, vừa bóp cổ vừa nói cho nó nghe như thế này: “Đôi khi người chết sống lại. Mày không ngờ phải không, không ngờ chết vì tay tao hả? Thế mà mày đã thắng cuộc vì chỉ chết trong mấy phút, còn tao thì mày đã kết tội phải rục rã dần dần suốt đời cho đến chết mới thôi”.

Không biết tôi có sẽ ra khỏi nước Pháp không, vì sau khi Goldstein chết, thật là nguy hiểm. Có lẽ người ta sẽ tìm ra tông tích của tôi. Đếch cần. Dầu có bỏ mạng trong vụ này, chúng nó cũng phải trả nợ về cái chết của cha tôi. Đoạn đời khổ nhục của tôi, tôi có thể tha thứ cho chúng được. Nhưng việc cha tôi chết mà không nghe tôi nói thằng con còn sống và đã thoát khỏi vòng lao lý, cha tôi đã chết vì tủi hổ, có lẽ đã phải trốn tránh những người bạn cũ, đã nằm trong nấm mồ mà không biết hiện giờ tôi ra người như thế nào, à, không được, không thể nào được! Không bao giờ tôi có thể tha thứ cho chúng nó!

Trong suốt buổi tôi im lặng để hình dung lại một lần nữa tất cả các giai đoạn hành động sắp tới để xem có gì chưa ổn, Rita ngồi dưới chân tôi, đầu tựa vào đầu gối của tôi. Nàng không nói một câu nào, một tiếng nào, hình như nàng nín thở.

– Rita yêu quí, ngày mai anh sẽ đi.

– Anh sẽ không đi?

Nàng đã đứng lên, để hai tay trên vai tôi rồi nhìn thẳng vào mặt tôi. Nàng nói tiếp:

– Anh không nên đi, anh không thể nào đi được. Đối với em cũng có chuyện mới lạ. Nhân chuyến đi vừa rồi, em đã sắp đặt cho con em đến đây. Trong ít ngày nữa nó sẽ đến. Anh cũng biết sở dĩ em chưa đem nó theo em là vì em cần có một địa vị vững chắc mới đón nó. Bây giờ không những em đã có địa vị, mà nó cũng có một người cha, là anh đó. Không lẽ anh trốn trách nhiệm? Không lẽ anh làm hỏng tất cả những gì chúng ta đã xây dựng bằng tình yêu và lòng tin nhau? Ám sát những người đã làm anh khốn khổ và có lẽ có trách nhiệm về cái chết của ba anh, anh tưởng chỉ có việc ấy cần làm, nếu đem so với tất cả những việc khác hay sao? Đó là giải pháp duy nhất anh tìm thấy hay sao?

“Số phận của chúng ta đã mãi mãi gắn liền với nhau, Henri ạ. Đối với em, đối với đứa con gái lớn sắp đến với anh và sẽ thương anh. Em tin chắc như vậy, em không đòi hỏi anh tha thứ cho chúng nó, nhưng chỉ xin anh vĩnh viễn từ bỏ ý định trả thù. Trước đây anh đã quyết định như vậy rồi. Thế mà cái chết của ba anh đã đưa anh trở lại đường cũ. Xin anh nghe em đây: nếu ba anh có thể nói được, nhà giáo tỉnh lẽ công chính và nhân từ ấy một đời đã dạy cho vô số học trò phải nhân ái, trung trực, cần mẫn thương người, tôn trọng luật pháp, lẽ nào lại có thể chấp nhận ý định trả thù của anh? Không. Ba anh sẽ bảo rằng tất cả bọn ấy, mấy tên cảnh sát, thằng làm chứng gian, lão phó chưởng lý, những thằng cha anh gọi là phụ thẩm phô mát, bọn cai ngục, nào có đáng gì để anh phải hy sinh một người đàn bà yêu anh và anh cũng yêu, một đứa con gái hy vọng sẽ tìm thấy nơi anh một người cha, một mái ấm gia đình vững chắc, một cuộc sống lương thiện?

“Mối thù của anh, em xin nói anh rõ nhãn quan của em: đối với mọi người, gia đình chúng ta sẽ là viễn tượng của hạnh phúc; với óc thông minh của anh có em phụ giúp, chúng ta sẽ đạt đến một địa vị khả quan, bằng những phương tiện lương thiện; sau này, khi nhắc đến anh, người xứ này chỉ có một giọng: anh người Pháp rất ngay thẳng, lương thiện, đàng hoàng, một lời nói của anh ấy đáng giá ngàn vàng. Đó là cách trả thù của anh và là cách trả thù đẹp nhất: chứng minh cho thiên hạ thấy rằng họ đã lầm tàn tệ về anh, rằng anh trở nên người có địa vị vì anh đã không để cho hư hỏng sau khi bước chân ra khỏi nơi tù đày khổ ải, mặc dù anh đã chịu đựng một chế độ ngục tù trung cổ khủng khiếp và sự khiếp nhược của người đời. Đó là cách trả thù duy nhất xứng đáng với lòng tin yêu của em đã gởi cho anh”.

Nàng đã thắng cuộc. Chúng tôi nói chuyện suốt đêm và tôi đã uống cạn chén sầu khổ. Tôi muốn được biết tất cả các chi tiết về chuyến đi vừa rồi của Rita. Nàng nằm trên chiếc ghế dài lớn, đau khổ vì lần đi vừa rồi đã thất bại và vì cuộc tranh đấu với tôi vừa qua. Ngồi trên xép ghế dài, cúi xuống nàng; tôi hỏi, hỏi mãi không thôi, và bằng từng mảnh, từng mảnh nhỏ, tôi đã biết được những điều nàng muốn giấu tôi.

Trước hết, sau khi ra đi đầy tin tưởng từ Maracaibo đến hải cảng Caracas để đáp tàu thủy, nàng linh cảm mơ hồ sẽ thất bại: tất cả đều như đã cấu kết lại để ngăn trở không cho nàng đi Pháp. Lúc sắp bước chân xuống tàu Colombie, nàng mới nhận thấy còn thiếu một trong những chiếu khán cần thiết. Phải chạy đua với đồng hồ bằng con đường nhỏ rất nguy hiểm tôi từng biết để đến Caracas lấy chiếu khán. Lấy chiếu khán xong, nàng trở lại hải cảng, thấp thỏm lo sợ tàu đã nhổ neo trước khi nàng đến. Một trận giông tố mạnh khủng khiếp nổi lên, nhiều đoạn đường bị sụp. Đường đi quá nguy hiểm nên người tài xế sợ quá phải quay xe trở lại, bỏ Rita đứng lại bên đường giữa cảnh bão tố cùng đất lở. Nàng đi ba cây số dưới mưa rồi như một phép lạ, gặp một chiếc tắc xi đi về Caracas, nhưng vì đất lở nên đã phải quay đầu trở về hải cảng. Từ hải cảng nàng nghe vang lên tiếng còi tàu mà trong lúc bối rối nàng tưởng tượng là tiếng còi khởi hành của chiếc Colombie.

Cuối cùng, sau khi vào đến buồng tàu, mừng đến chảy nước mắt, thì một việc trục trặc xảy ra trên tàu và giờ khởi hành phải lùi lại nhiều tiếng đồng hồ. Tất cả chuyện ấy làm cho nàng nghĩ phải chăng đó là điềm chẳng lành.

Những ngày tiếp sau là đại dương, Le Havre, Ba Lê, Marseille, không nghỉ. Tại Marseille, một cô bạn đón nàng và giới thiệu với một nghị viên thành phố. Ông này, không chút do dự, đã viết một bức thư giới thiệu rất nồng hậu cho một người bạn ở Vals les Baises, trong tỉnh Ardèche, tên là Henri Champel.

Rồi lại lên xe lửa, xe đò, và chỉ sau khi đến nhà Champel, hai vợ chồng tử tế lạ thường, Rita mới lấy lại sức và tổ chức công việc tìm kiếm. Nàng còn cực nhọc nhiều.

Henri Champel đưa nàng đi Aubenas ở Ardèche, đến nhà ông Chưởng Khế của gia đình tôi, mét Testud. Ồ, cái lão Testud! Một thằng cha trưởng giả bất nhân. Trước hết nó tàn nhẫn cho nàng hay ba tôi đã chết. Rồi, không hỏi ý kiến ai hết, lão tự tiện cấm nàng đến thăm cô tôi (em cha tôi) cùng chồng bà là Ông Dumarché, hai vợ chồng đều là giáo viên hồi hưu hiện ở Aubenas. Về sau, cách đó mấy năm, cô dượng đã niềm nở tiếp chúng tôi, và đã tỏ ra hết sức tức tối lúc bấy giờ không được gặp Rita và liên lạc với tôi vì lão Testud khốn nạn. Đối với hai người chị của tôi, cũng vậy, lão không chịu cho biết địa chỉ. Dù vậy, nàng đã tìm cách làm cho con người gỗ đá ấy nói ra địa danh cha tôi đã qua đời là Saint-Péray.

Nàng lên đường đi Saint-Péray. Tại đây, Henri Champel và Rita tìm thấy mộ ba tôi và biết thêm một điều: sau hai mươi năm ở góa, ba tôi tục huyền với một bà giáo hồi hưu, trong thời kỳ tôi bị đày. Họ đã gặp bà ta. Trong gia đình bà được gọi là Dì Ju hay Tata Ju.

Một người đàn bà đáng kính phục, Rita nói, bà đã giữ nguyên vẹn và sống động kỷ niệm và tinh thần của mẹ tôi trong gia đình mới. Nàng đã trông thấy treo trên tường phòng ăn, những bức ảnh lớn của mẹ tôi, thần tượng của tôi, cùng ảnh của cha tôi. Nàng đã lấy tay mân mê những bàn ghế đồ đạc của mẹ tôi trước đây. Dì Ju bỗng nhiên đi vào cuộc đời của tôi, đã làm đủ mọi cách để Rita cảm thấy cái không khí cha tôi và chính bà muốn còn mãi mãi: kỷ niệm của mẹ tôi cùng hình ảnh hằng cửu của đứa con đã biến mất nhưng đối với cha tôi vẫn là bé Riri.

Ngày 16 tháng 11, ngày sinh nhật của tôi, tất cả các ngày 16 tháng 11, ba tôi đều khóc. Tất cả mọi ngày lễ Giáng Sinh, đều có một chiếc ghế để trống. Khi cảnh binh đến nói cho biết người con trai của hai ông bà đã vượt ngục, một lần nữa, cả hai ông bà suýt nữa đến ôm hôn các anh cảnh binh đã đem đến một tin tức tuyệt vời như vậy. Bởi vì, Dì Ju, tuy không biết tôi, nhưng xem tôi như con ruột và đã cùng cha tôi vui mừng đến chảy nước mắt khi nghe nguồn tin hứa hẹn một niềm hy vọng mới.

Thế nên Rita đã được bà đón tiếp hết sức niềm nở. Chỉ có một bóng mờ: Dì Ju không cho nàng biết địa chỉ của hai người chị tôi. Tại sao? Vâng, tại sao Dì Ju, vợ của ba tôi, lại không cho các địa chỉ ấy? Tôi suy nghĩ rất nhanh. Không nghi ngờ gì nữa, bà không chắc cái tin tôi trở về sẽ được đón nhận như thế nào. Phải có nhiều lý do xác đáng, bà mới không nói với Rita: “Mau lên, con chạy mau lại chỗ nào đó, các chị ấy sẽ vô cùng sung sướng khi biết em các chị ấy còn sống; có địa vị trong xã hội, và được biết người em dâu”. Có lẽ Dì Ju biết rằng cả chị Yvonne, chị Hélène, cùng mấy ông anh rể của tôi không sốt sắng đón tiếp người vợ của em trai họ, một người tù vượt ngục, đã bị kết án khổ sai chung thân. Chắc hẳn bà không muốn họ trách bà đã làm cho cuộc sống của họ xáo động.

Đành rằng các chị ấy đã có chồng, đã có con, và có lẽ những đứa con ấy, không biết chúng có một ông cậu là tôi. Bà tự bảo: phải cẩn thận. Dù sao tôi chẳng biết gì, nhưng tôi kết luận rằng trong mười ba năm tôi bị đày, tôi đã sống với họ, vì họ, trong khi suốt mười ba năm ấy họ làm đủ mọi cách để quên tôi, hay ít ra cũng để xóa bỏ tên tôi trong đời sống hằng ngày của họ. Rồi vợ tôi trở về chỉ với một ít đất nhặt trên mộ ba tôi cùng với bức ảnh của ngôi mộ ba tôi đã nằm xuống tại đó đúng bốn tháng trước khi nàng đến.

Dù vậy, qua đôi mắt của Rita, tôi cũng đã được thấy (vì Champel đã đưa nàng đi khắp các nơi) cây cầu Ucel của thời thơ ấu của tôi. Tôi nghe nàng đã kể rõ ngôi trường tiểu học rộng lớn, gia đình chúng tôi ở tầng lầu trên các lớp học. Tôi được thấy lại đài chiến sĩ trận vong trước vườn nhà chúng tôi, và cả cảnh vườn trong đó một cây Mimosa đầy hoa rực rỡ hình như giữ gìn tất cả hương sắc để người nữ khách đang say sưa nhìn mảnh vườn, đài kỷ niệm, ngôi nhà, có thể nói lại với tôi: “Không có gì hoặc hầu như không có gì thay đổi, anh đã nhiều lần diễn tả nơi anh đã trải qua tuổi ấu thơ nên lúc bấy giờ em không trông thấy một cảnh mới lạ, mà em chỉ gặp lại những nơi chốn đã biết rồi.

Ban đêm, nhiều lần tôi yêu cầu Rita kể lại một đoạn nào đó trong cuộc hành trình. Cuộc sống ở khách sạn trở lại như trước. Nhưng trong đáy lòng tôi, đã xảy ra một điều gì không thể giải thích được. Cái chết của ba tôi, tôi không cảm nhận như một người đã bốn mươi tuổi, tuổi cực thịnh của cuộc đời, vừa biết tin cha mình hai mươi năm không gặp, đã qua đời, mà như một đứa bé lên mười sống bên cạnh cha mình, rồi sau một lần ngỗ nghịch trốn học bỏ đi, khi về thấy cha mình đã ra người thiên cổ.

Clotilde, con gái của Rita đã đến. Nó hơn 15 tuổi nhưng quá mảnh khảnh và nhỏ nhắn nên tưởng chừng chỉ 12 tuổi. Người nó thấp. Mái tóc đen dài, cứng và uốn cong xỏa trên đôi vai. Đôi mắt nhỏ đen huyền sáng ngời thông minh và hiếu kỳ. Miệng nó không phải của một thiếu nữ mà của một đứa bé còn chơi mạng hoặc chơi búp bê. Chúng tôi tin nhau ngay. Hình như nó hiểu rằng người đàn ông sống với mẹ nó sẽ là người bạn quí nhất của nó và sẽ yêu nó và che chở nó mãi mãi.

Từ ngày nó đến, một cái gì mới mẽ xâm chiếm tôi, bản năng che chở, lòng mong muốn nó được sung sướng; và được nó xem, dù không như cha đẻ, ít nữa cũng như một điểm tựa vững chắc.

Bây giờ Rita đã về rồi, tôi đi chợ trễ hơn, vào lúc 7 giờ. Tôi đem Clotilde theo và chúng tôi ra đi, tay nắm tay, nó cầm dây cột chó Minou, có Carlitos xách giỏ. Đối với nó, mọi việc đều lạ, cùng một lúc nó muốn biết tất cả. Mỗi khi nó trông thấy một cái gì bất ngờ, nó hét lên để được biết đó là gì. Nó ngạc nhiên nhất khi trông thấy mấy người phụ nữ da đỏ mặc áo dài lòe loẹt, má sơn đỏ, trên đôi guốc có trang trí một chùm len đủ màu sắc.

Bên cạnh có đứa nhỏ siết tay tôi đầy tin tưởng trước một nguy cơ tưởng tượng, một bé gái tựa vào cánh tay tôi để cảm thấy giữa đám đông lòe loẹt người đi qua, kẻ đi lại, người chạy, kẻ la ó trong nhịp sống sôi động, nó được che chở cẩn thận, tất cả chuyện ấy khiến tôi xúc động sâu xa và tràn đầy một tình cảm mới lạ: tình phụ tử. “Bé Clotilde, đúng đấy, con nên vững tâm, tin tưởng tiến bước trong cuộc đời, con tin chắc rằng cho đến cuối cùng ba sẽ tìm mọi cách để vẹt ra một bên các chông gai trên đường con đi”.

Chúng tôi về khách sạn, mọi người đều thỏa thích, bao giờ cũng có một chuyện buồn cười kể lại cho Rita nghe về những gì đã xảy ra cho chúng tôi hoặc chúng tôi đã trông thấy.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply