Banco Papillon – Giang Hồ Tung Cánh

vietmessenger.com

Henri Charrière

Dịch giả: Đinh Bá Kha

Đời Mới xuất bản 1974

Post by Sơn râu 7 Oct 2025

Google image edited by Sơn râu

16. Người Cận Vệ – Bé Pablito

CÓ người gõ cửa (chuông bị hư), tôi ra mở, với hy vọng đó là một trong những người bán đồng để có thể, đổ trên đầu một đứa cũng được, tất cả nỗi uất hận của tôi, và tùy sức chịu đựng của nó, cho có một trận nên thân.

Người bước vào là một người bạn, Đại tá Bolagno. Từ trước đến nay, anh và gia đình anh gọi tôi là Papillon, họ là những người duy nhất ở Venezuela gọi tôi như vậy. Ai cũng gọi tôi là Henri hay Ngài Henri, tùy theo địa vị mỗi lúc của tôi. Người Venezuela rất thích về chuyện này, họ biết ngay mình làm ăn phát đạt hay túng thiếu.

– Papillon, thế nào? Hơn ba năm chúng mình không gặp nhau.

– Vâng, Francisco, ba năm.

– Tại sao anh không đến thăm tôi nơi nhà tôi mới xây cất?

– Anh không mời.

– Không bao giờ người ta mời một người bạn, nó đến khi nào nó muốn, vì người bạn cũng có nhà, nhà của nó. Mời là chửi nó và sắp nó vào hạng những người không thể đến nếu không được mời.

Tôi không đáp vì tôi cảm thấy nó có lý.

Bolagno hôn Rita. Anh ta ngồi đó, hai tay chống trên bàn, vẻ lo âu. Anh đã cất chiếc mũ tại đó.

Rita mời anh một ly cà phê, tôi hỏi anh:

– Làm thế nào anh biết địa chỉ tôi?

– Đó là việc của tôi. Tại sao anh không gởi địa chỉ cho tôi?

– Nhiều công việc và nhiều lo âu quá.

– Anh lo nhiều?

– Khá nhiều.

– Thế thì tôi đến không đúng lúc.

– Tại sao?

– Tôi đến mượn anh năm ngàn đồng. Tôi túng quá.

– Francisco, không thể được.

– Chúng tôi bị khánh tận, Rita nói.

– Ồ, vợ chồng anh bị khánh tận hả? Papillon, anh bị khánh tận thật sao? Và anh cả gan nói với tôi? Anh bị khánh tận rồi anh tránh tôi? Và vì vậy nên anh không đến thăm tôi để kể cho tôi nghe những khó khăn của anh?

– Vâng.

– Thế thì anh cho phép tôi nói rằng anh là một thằng tồi. Bởi vì, khi người ta có một người bạn, là để kể cho nó nghe cái điều âu lo, mong nó làm một cái gì để đưa mình ra khỏi một hoàn cảnh nan giải. Anh là một thằng tồi vì anh đã không nhớ đến tôi, bạn của anh, để nâng đỡ anh, giúp anh. Vì anh nên biết, tôi được nghe người ta kể những chuyện xui xẻo của anh và chính vì vậy mà tôi đến đây để giúp anh.

Tôi với Rita không biết ăn nói làm sao, quá cảm động chúng tôi không nói nên lời. Chúng tôi không cầu xin ai hết, đúng vậy. Tuy nhiên nhiều người đã thụ ơn tôi và đã nhờ tôi nên đã có địa vị, biết chúng tôi bị khánh tận mà không người nào đến tình nguyện giúp đỡ điều gì. Phần đông là người Pháp lương thiện cũ có, lưu manh cũng có.

– Papillon, anh muốn tôi giúp gì cho anh?

– Phải cần rất nhiều tiền để lập một cơ sở thương mãi đủ nuôi sống chúng tôi. Nếu có tiền, anh không thể hy sinh, vả lại chắc anh không có một số tiền quá nhiều như vậy.

– Rita, vào trong mặc áo, ba chúng mình đi ăn tại một nhà hàng Pháp sang trọng nhất thành phố.

Đến cuối bữa ăn, chúng tôi thỏa thuận tôi sẽ tìm một cơ sở thương mãi rồi sẽ cho anh ấy biết số tiền cần thiết. Rồi Bolagno kết luận:

– Nếu tôi có số tiền, không thành vấn đề, nếu tôi không có, tôi sẽ mượn mấy anh tôi và anh rể tôi. Nhưng tôi hứa với anh tôi sẽ kiếm đủ số tiền anh cần.

Suốt ngày hôm ấy, tôi với Rita nói mãi về anh Bolagao, về thái độ tế nhị của anh ta.

– Khi còn là Trung sĩ ở ngục thất El Dorado, anh ấy đã cho anh bộ quần áo thường dân uy nhất của anh ta để mỗi lần ra ngoài anh được ăn mặc tử tế rồi hôm nay anh đến đặt chúng ta trên lưng ngựa để lên đường một lần nữa.

Chúng tôi trả tiền thuê nhà đã trễ, trước khi dọn đến một căn phố trông rất xinh vừa là quán rượu, vừa là tiệm ăn ở tại đại lộ Las Delicias, cũng trong khu Sabana Grande. Quán rượu tiệm ăn ấy lấy tên là Gab. Tại đây, chúng tôi được tin vĩ nhân De Gaulle đến.

Charles de Gaulle, lúc bấy giờ là Tổng Thống nước Pháp, được Tổng Thống Venezuela Paul Leoni mời đến viếng thăm chính thức.

Thủ đô Caracas cùng cả nước Venezuela đều tưng bừng như ngày hội. Không phải chỉ các nhân vật trong chính quyền hoặc các giai cấp ưu đãi, tôi nói rõ là tất cả dân Venezuela. Hạng bình dân thứ thiệt, tay lấm chân bùn, đội mũ rơm và mang giày vải, tất cả những người bình dân khoáng đại, không trừ một ai, đã hồi hộp chờ Charles de Gaulle để hoan hô.

Tiệm Gab có một mái hiên rất xinh và tôi đang ung dung ngồi uống rượu hồi với một người Pháp đang giải thích cho tôi rõ các bí quyết làm bột cá, và cũng nói nhỏ đến một phát minh mới của anh ta; phát minh ấy sau khi được công nhận, sẽ đem về cho anh hàng triệu bạc. Phát minh ấy không gì khác hơn chiếu bóng hình nổi. Anh hạ thấp giọng, nháy mắt cho có vẻ bí mật hơn và cũng để tôi cho biết tôi có thể bỏ bao nhiêu vào công việc tìm tòi của anh. Không ngốc chút nào, thằng chả trình bày bằng những danh từ thích ứng học tại trường cao đẳng Kỹ thuật ở Ba Lê, một trường danh tiếng đào tạo các kỹ sư có hạng.

Nghe chuyện của một gã muốn lừa gạt mình bao giờ cũng thích thú, và vì những điều đó nói quá hay, tôi nhận thấy có một người ngồi bàn kế bên lắng tai và nghiêng về phía chúng tôi để nghe. Mãi đến lúc tôi đọc một mảnh giấy của Rita ngồi ở két, do anh bồi đưa lại: “Em không biết anh thảo luận những gì với thằng cha ấy, nhưng chắc chắn là lão ngồi kế bên rất khoái nghe chuyện các anh. Có vẻ như là một tên mật vụ lạ mặt”.

Để kết luận với nhà phát minh, tôi hăng hái khuyên anh nên tiếp tục nghiên cứu, tôi rất tin anh sẽ thành công, nếu có tiền tôi tham gia vụ này ngay, nhưng rất tiếc tôi không có tiền. Anh ta đi ra, tôi đứng dậy, vừa quay lại, tôi đối diện ngay với bàn phía sau.

Một thằng cha đang ngồi, dáng dấp lễ phép, quá lễ phép, ăn vận cũng quá tươm tất, có cà vạt và mọi thứ, áo màu xanh thép, trên bàn trước mặt đã có một ly rượu hồi và một gói thuốc lá Gaulloises. Không cần phải hỏi nghề nghiệp hay quốc tịch của gã.

– Perdone usted, fuma cigarillos franceses? (Xin lỗi, ông hút thuốc lá Pháp?).

– Vâng, tôi là người Pháp.

– Lạ nhỉ, tôi không biết ông. Có phải ông là một cận vệ của tướng De Gaulle không?

Gã lễ phép đứng lên tự giới thiệu:

– Tôi là Quận trưởng Cảnh Sát Belion, phụ trách an ninh cho tướng De Gaulle.

– Hân hạnh.

– Còn ông, ông là người Pháp?

– Đừng giả vờ, ông Quận trưởng, ông biết rõ tôi là ai và không phải tình cờ mà ông đến ngồi tại hàng hiên quán này.

– Nhưng…

– Khỏi cần nói thêm. Chỉ có một ưu điểm về phần ông: ông đã đặt gói thuốc Gaulloises một cách lộ liễu trên bàn để tôi bắt chuyện với ông. Phải vậy không?

– Đúng.

– Một ly rượu hồi nữa nhá?

– O.K. Tôi đến gặp ông vì lẽ chịu trách nhiệm về an ninh của Tổng Thống, tôi đã nhờ Tòa Đại Sứ lập cho tôi danh sách những người cần phải rời Caracas khi Tổng Thống đến. Danh sách ấy sẽ trình cho Bộ Nội Vụ để có những biện pháp cần thiết.

– Tôi có tên trên danh sách?

– Chưa.

– Ông biết gì về tôi?

– Ông có gia đình, ông sống lương thiện.

– Còn gì nữa?

– Chị ông tên là Bà X… ở tại chỗ đó ở Ba Lê, một người chị nữa, Bà Y… ở tại Grenoble.

– Rồi sao nữa?

– Thời hạn quản thúc của anh sẽ được triệt tiêu vào năm tới, tháng sáu năm một ngàn chín trăm sáu mươi bảy.

– Ai nói với ông?

– Tôi biết trước khi rời Ba Lê, nhưng tại đây người ta đã tống đạt cho Tòa Lãnh sự.

– Tại sao Tòa Lãnh sự chưa cho tôi biết?

– Tòa Lãnh sự chính thức không biết địa chỉ của ông.

– Họ biết tôi quá nên mới gởi các người Pháp bị kẹt đến nhà tôi giúp đỡ.

– Đó là Hội Đồng Minh Pháp, hai chuyện khác nhau.

– Có lẽ. Dù sao cũng cảm ơn ông về tin mừng. Tôi có thể đến Tòa Lãnh Sự để được thông báo chính thức không?

– Bất cứ lúc nào.

– Nhưng mà, này, ông Quận Trưởng, tại sao sáng nay ông đến ngồi tại tiệm ăn của tôi? Không phải để tin cho tôi biết việc quản thúc của tôi đã hết hạn, cũng không phải để cho tôi biết các bà chị tôi không thay đổi địa chỉ, đúng vậy không?

– Quả vậy. Chính là để thăm ông, thăm Papillon.

– Ông chỉ biết một Papillon, con người trong hồ sơ Cảnh sát Ba Lê, một mớ chuyện láo khoét, khuyếch đại, những biên bản đầy ác ý. Một hồ sơ không phác họa đúng con người của tôi trước kia, lại càng không rõ con người của tôi ngày hôm nay.

– Tôi thành thật tin như vậy và tôi có lời mừng ông.

– Thế thì bây giờ ông đã gặp tôi, ông sẽ ghi tôi vào danh sách những người phải trục xuất trong thời gian tướng De Gaulle đến đây?

– Không.

– Ông Quận Trưởng, ông có muốn tôi nói tại sao ông đến đây không?

– Hay quá.

– Tại vì ông nghĩ: một người phiêu lưu mạo hiểm luôn luôn muốn kiếm tiền. Papillon, dù nay đã sống đàng hoàng, vẫn là một tên phiêu lưu mạo hiểm. Từ chối một số tiền khổng lồ để thân chinh chống De Gaulle, có thể lắm, nhưng kiếm một bó bạc lớn chỉ bằng cách cộng tác vào một vụ mưu sát, là một chuyện nghe được lắm.

– Cứ nói tiếp.

– Thưa ông Quận trưởng, ông lầm rồi. Trước hết, dù có được một tài sản kếch sù, tôi cũng không tham gia vào một âm mưu chính trị nhất là một âm mưu chống De Gaulle. Vả lại, gây một vụ mưu sát tại Venezuela có lợi cho ai đâu?

– Lợi cho tổ chức O. A.S.

– Đúng. Không những việc ấy có thể lắm, mà có nhiều phần sẽ xảy ra. Chúng đã nhiều lần gây lộn xộn ở Pháp, thì tại Venezuela chúng hành động quá dễ.

– Tại sao lại quá dễ?

– Với tổ chức họ sẵn có, bọn O. A. S. không cần vào Venezuela bằng đường lối thường, hải cảng hay phi cảng, chưa kể cả một bãi biển dài gần hai ngàn cây số. Biên giới nội địa thì mênh mông: Ba Tây, Colombie, Guyane thuộc Anh. Họ muốn vào khi nào cũng được, bất cứ ngày giờ nào mà không ai dòm ngó làm gì hoặc không ai trông thấy gì hết. Ông Quận trưởng, đó là sai lầm đầu tiên của ông. Nhưng còn một sai lầm khác nữa.

– Sai lầm như thế nào, Belion mỉm cười nói.

– Bọn O.A.S., nếu quả thật chúng quỉ quyệt như người ta nói, sẽ không bao giờ tiếp xúc với các người Pháp cư ngụ ở đây. Bởi vì, biết rằng bọn mật vụ sẽ đến thẳng các người Pháp, nên việc đầu tiên cần tránh là không nên gặp người Pháp nào. Ông đừng nên quên một điều, một người định làm bậy không bao giờ đến ở khách sạn. Tại đây, có hàng trăm người đến thuê phòng của bất cứ nhà ai mà không khai báo. Thế thì, ông biết đó, bọn mưu sát De Gaulle, khỏi phải nhọc công tìm trong số Pháp kiều, lưu manh hay không lưu manh.

Hình như khi nghe tôi nói như vậy, Belion không còn cười mỉm nữa. Tôi cảm thấy hắn suy nghĩ rồi bỏ đi, dặn tôi khi nào đến Paris ghé thăm hắn. Hắn cho địa chỉ tại điện Elysée. Tôi có đến đó: “Không có tên đó”. Không sao, giá mà gặp lại cái anh Quận trưởng đã tỏ ra tử tế với tôi ấy cũng vui lắm. Quả thật tôi không bị trục xuất khỏi Caracas trong khi Tổng Thống De Gaulle qua Venezuela, như một số người Pháp khác. Vả lại, trong thời gian ấy cũng không có việc gì xảy ra.

Rồi như một thằng ngốc, tôi đi hoan hô De Gaulle.

Rồi như một thằng ngốc, tôi đã khóc khi trông thấy Tổng Thống nước tôi.

Rồi như một thằng ngốc gấp đôi, với sự hiện diện của vị lãnh tụ đại tài đã cứu nguy danh dự tổ quốc của tôi, tôi đã quên chính tổ quốc ấy đã đưa tôi đi tù khổ sai chung thân.

Rồi như một thằng ngốc gấp ba, tôi sẵn sàng chặt một ngón tay để được bắt tay ông hoặc dự cuộc tiếp tân do Tòa Đại Sứ tổ chức mừng ông, dĩ nhiên là tôi không được mời. Tuy nhiên, giới giang hồ dao búa đã gián tiếp được trả thù, vì trong buổi tiếp tân, đã len lỏi vào một vài mụ điếm già người Pháp đã giải nghệ, đã thoát xác và nhờ lấy một ông chồng có địa vị, hiện đã có mặt, tay cầm bó hoa dâng tặng dì Yvonne, mặt mày rạng rỡ.

Tôi có đến gặp ông Lãnh Sự Pháp, ông đọc cho tôi nghe bản tống đạt, lệnh triệt tiêu thời hạn quản thúc của tôi vào năm tới. Còn một năm nữa tôi sẽ đi Pháp.

Tôi ghi nhận rằng từ lúc mới được trả tự do ở Venezuela cũng như sau này, cũng như trong bất cứ trường hợp nào, tôi cũng không bị các ông Đại sứ hay Lãnh sự đương chức quấy rầy. Trong suốt mấy năm dài, tôi không bao giờ bước chân đến tòa Đại sứ hoặc tòa Lãnh sự, trái lại, trong các quán rượu của tôi, các nhân viên hai cơ quan ấy thường đến luôn.

Tình trạng của chúng tôi được cải tiến mau lẹ và tôi lại hoạt động trong nghề chủ nhân các quán rượu về đêm bằng cách mua quán Scotch Club, ở Chacaito, khu phố đông đảo nhất của Caracas, tại trung tâm thành phố. Một câu chuyện kỳ lạ, vì tôi mua cơ sở này để cứu giúp một thợ hớt tóc người Pháp bị bọn du đãng âm mưu lột hết của cải. Cử chỉ mã thượng ấy sau này rất lợi về phương diện tiền bạc cho tôi.

Trong nhiều năm, tôi trở lại sống về đêm. Những đêm xứ Caracas ngày càng mất đặc tính lãng bạc kỳ hồ vô cùng hấp dẫn. Khách chơi không còn như trước, hạng chơi đêm mới này thiếu hẳn bản chất trí thức và lịch sự giai cấp thượng lưu.

Trên thực tế, tôi sống ngoài đường phố, ít khi ngồi ở quầy hàng, luôn luôn đi rong trong các khu phố lân cận. Tôi tìm hiểu các chú bé kỳ diệu của đô thị Caracas, những đứa làm việc suốt đêm chỉ để kiếm ít xu, trí óc phong phú của mấy đứa nhỏ sống bên lề cuộc đời, cha mẹ chui rúc trong các ổ chuột. Tuy vậy, họ không hẳn đã thương con, vì rất nhiều người trong cảnh đói khổ cùng cực đã không ngần ngại khai thác con mình.

Mấy thằng bé đã can đảm dấn thân trong đêm để đem về nhà số tiền nhỏ cha mẹ chúng bắt kiếm cho bằng được. Lũ con nít ấy từ năm đến mười hai tuổi. Đứa thì đánh giày, đứa thì đứng ở cửa các quán rượu, xin được giữ xe cho tay ăn chơi vừa chui vào trong hộp đêm, đứa thì tìm cách mở cửa xe trước anh gác cổng. Cả ngàn thứ nghề, cả ngàn điều khổ nhục, cả ngàn mảnh lưới để góp nhặt từng đồng, từng đồng bạc hầu đến năm, sáu giờ sáng có được khoảng mười đồng đem về nhà.

Dĩ nhiên là trong bọn con nít ấy, tôi cũng có một số bạn nhỏ, rất đàng hoàng và ý thức tình bạn là thế nào. Chúng chỉ xin tôi giúp đỡ trực tiếp khi nào chúng đuối sức, khi đêm đã tàn để lại chúng thất vọng vì không kiếm được gì. Lúc ấy chúng đến tôi.

Tình bạn giữa chúng tôi rất cảm động, một tình bạn gần như một sự đồng lõa. Nhiều khi, một khách hàng sắp sửa bước lên chiếc xe nhà to tổ bố, tôi xin ông ta nên rộng rãi đối với chúng. Câu nói thường dùng là: “Kìa, làm một cử chỉ đẹp đi! Một phần trăm số tiền ông vừa vứt đi trong hộp đêm này cũng đủ cho thằng bé này”. Chín lần trên mười, kết quả tốt đẹp, tay ăn chơi hào phóng cho thằng bé một tờ 10 hoặc 20 đồng.

Thằng bé thân nhất của tôi tên Pablito. Thấp, gầy, can đảm, nó đánh lại bọn hơn tuổi nó và to con hơn nó, như một con sư tử. Bởi vì trong cuộc tranh sống như vậy, quyền lợi chống chọi nhau và nếu một khách chơi đêm không chỉ định rõ ràng một đứa nào giữ xe, thì khi ông ấy bước ra, đứa nào nhanh chân nhất, đứa đó nhận được tiền. Do đó mới có cả trận chiến thật sự để bảo vệ và để đứa khác tôn trọng những gì của mình hay đáng lẽ là của mình.

Chú bạn tí hon của tôi rất thông minh, nó đã biết đọc các báo nó bán. Không đứa nào bằng nó khi cần chạy trước mấy đứa khác đến cửa một chiếc xe đang ghép vào lề đường. Nó cũng nhanh chân nhất khi chạy những chuyện sai vặt: mua bánh mì thịt, thuốc lá không có bán trong quán rượu.

Mỗi đêm, thằng bé Pablito phải tranh sống để đỡ đần bà nội của nó, một bà nội đã già, rất già, hình như có đầu tóc bạc trắng, cặp mắt xanh mờ, đau phong thấp nặng đến nỗi không còn làm việc gì được hết. Má nó bị ở tù vì đã dùng chai đập vào đầu một thằng láng giềng định ăn cắp chiếc máy thu thanh của bả. Má nó rất đẹp. Chỉ còn nó, Pablito, chín tuổi, là người duy nhất lo cho gia đình. Nó không muốn bà nội nó, em trai và em gái nó đi ra ngoài đường phố Caracas, kể cả ban ngày cũng như ban đêm. Nó là chủ gia đình, nó phải chăm sóc và che chở cho người thân của nó.

Thế nên tôi giúp đỡ Pablito mỗi khi suốt đêm nó kiếm không đủ tiền hoặc trong những trường hợp nguy ngập thường xảy ra: khi cần tiền để mua thuốc cho bà nội hoặc thuê tắc xi đưa bà ấy đi bệnh viện dành cho dân nghèo, khám bác sĩ.

– Henri, Bà nội cũng bị chứng suyển. Thế nên, anh cũng biết, phải tốn kém lắm.

Rồi mỗi đêm. Pablito đưa tôi xem giấy ghi bệnh trạng của bà tội nó. Một hôm, phải cần một số tiền khá lớn: 40 đồng, để mua một chiếc mền cũ. Vì chứng suyển, bà nội nó không thể nằm trên võng, bác sĩ nói nằm võng, ngực bị ép lại.

Như thường lệ, nó ngồi trong xe tôi, một hôm một anh cảnh sát trực đứng nói chuyện với nó, tay chống vào cửa xe, vừa chơi với cây súng lục, đã vô ý làm nổ súng, một viên đạn găm vào vai nó. Pablito được đưa ngay vào bệnh viện. Người ta mổ cho nó, hôm sau tôi đến thăm. Tôi hỏi nó nhà ở đâu và đi đến nhà bằng đường nào. Nó nói nếu không có nó đưa đi thì không thể nào tìm ra nhà, và bệnh tình nó thế này, bác sĩ không cho nó đứng lên.

Đêm hôm ấy, tôi kiếm tụi bạn của Pablito, với hy vọng một đứa trong bọn có thể dẫn tôi đến nhà bà nội nó. Bọn con nít sống trên lề đường đoàn kết với nhau một cách kỳ lạ, tất cả bọn đều nói không biết nhà thằng Pablito ở đâu. Tôi không tin, vì mỗi ngày, vài ba đứa chờ nhau lúc rạng đông để cùng nhau về khu phố của mình. Tôi ngạc nhiên và yêu cầu cô y tá gọi tôi khi nào Pablito có người đến thăm mà cô biết người đến thăm là thân thuộc hay láng giềng của nó. Hai ngày sau, tôi đến bệnh viện sau khi cô ta gọi điện thoại cho tôi.

– Sao đó Pablito, khỏe chứ? Mày có vẻ khó chịu.

– Anh Henri, không có. Vì em đau ở lưng.

– Thế mà nó mới cười đó, bà đến thăm nói.

– Thưa bà, bà là người trong gia đình nó phải không ạ?

– Không, tôi là người láng giềng.

– Bà nội với các em nó thế nào?

– Bà nội nào?

– Bà nội Pablito ấy mà!

– Pablito làm gì có bà nội!

– Lạ nhỉ!

Tôi kéo người đàn bà ra ngoài. Vâng, nó có một em gái, vâng, nó có một thằng em trai, nhưng không có bà nội, má nó không bị tù, má nó là thứ thân tàn ma dại, ngu si, không nguy hiểm nhưng không còn biết gì hết.

Đáng phục thằng bé của đường phố Caracas không muốn người bạn Henri của nó biết mẹ nó nửa ngu nửa si, nó thích mẹ nó ở tù nhưng đẹp, nên đã tưởng tượng ra một bà nội huyền diệu mắc bệnh suyển để cho anh bạn Pháp, khi cho tiền bà nội ấy, sẽ đỡ đần nỗi khổ đau tuyệt vọng của mẹ nó.

Tôi trở lại bên giường thằng bạn nhỏ, nó không dám nhìn thẳng mặt tôi. Tôi nhẹ nhàng nâng cằm nó lên, mắt nó nhắm lại; đến khi nó mở mắt ra, tôi bảo nó:

– Pablito, mày là một thằng ghê gớm.

Tôi chuồi cho nó một tờ một trăm đồng dành cho gia đình nó, rồi tôi bước ra sung sướng và hãnh diện có được một người bạn như nó.

Pablito, một thằng bé lêu lỏng của đường phố Caracas? Không, một tâm hồn đặc biệt được nghịch cảnh tôi luyện từ những bước đầu đời và đang tranh đấu trong các đường phố Caracas để nuôi sống người thân.

Vết Nám – Hồi Ký Tù Cải Tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 5 Apr 2015 

Post by Sơn râu 7 Oct 2025

Những “hội ngộ” bất thường

Bài 15

Sau tết Dương lịch năm 1977, có hai người cùng quê, bạn học với “Hùng móm”, em út tôi, đến thăm. Họ cũng ở chung Khu 4, nhưng khác đội.

Người thứ nhứt là Nguyễn Ngọc Túc, cựu đại úy, làm việc trong Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên, nhà cách nhà tôi ở thị xã Quảng Trị chưa quá 100 mét, cũng trên đường Cửa Hậu (tên mới là Lê Văn Duyệt). Sau đó, anh tới thăm tôi một lần nữa, lại kéo theo Võ Bang, nhà cách nhà tôi chỉ có hai căn nhà vườn (khu vực nhà tôi phần đông nhà có vườn).

Túc đem theo mấy tờ Báo Ảnh Liên Xô. Tờ thứ nhứt, bìa in hình Mao Trạch Đông, đưa cả hai tay, nắm tay Nixon, Tổng Thống Mỹ. Trần Hưng cùng coi tấm hình với tôi. Anh ấy đùa: “Phải chú thích dưới tấm hình nầy câu “Thưa đại ca, cảm phiền giùm, nhà em bữa nay chỉ có cơm rau muống mà thôi.”

Hồi đó, mỗi ngày chúng tôi cũng chỉ có cơm rau muống. Có khi không có cơm, chúng tôi được phát bột mì hay bo bo Ấn Độ, rất khó nuốt.

Tờ thứ hai, có một bài bình luận của Cronin, nhà bỉnh bút của tờ báo nầy. Bài bình luận đưa ra chủ trương “Trung Lập Hóa Đông Dương”. Đó là lập trường của Liên Xô đối với Đông Dương hồi đó, đã được Brezhnev, Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Liên Xô xác nhận trong bài diễn văn đọc tại đại hội lần thứ 25 đảng Cộng Sản Liên Xô.

Trần Hưng cũng đọc bài ấy, sau khi tôi xem báo xong trao cho anh.

Túc hỏi: “Liệu có trung lập hóa Đông Dương được không?”

Tôi chưa trả lời thì Trần Hưng nói ngay:

– “Không “anh” nào giữ được thì phải trung lập. Mỹ không giữ được, bỏ chạy. Liên Xô thì đang gồng mình mà nắm lấy, lâu ngày, tốn kém quá, cũng phải buông. Tầu thì ở ngay bên cạnh, không nghiêng vào nó tí chút, không thể yên được.”

Túc nói:

– “Anh có thấy hôm đại hội 4 của tụi nó không? Ghế đại biểu Trung Quốc không được đặt ở hàng đầu, lại bị bỏ trống. Tại sao vậy?”

– “Cơm không lành, canh không ngọt”. Tầu mà đã quậy thì mệt với nó lắm, phải khôn khéo mới được.” Tôi nói.

-“Khôn khéo là như thế nào?” Túc hỏi.

-“Khi tôi dạy “Mười năm bình định giặc Minh” cho học trò”, tôi nói: “Sử viết rằng, sau khi Vương Thông xin hàng, Lê Lợi tha cho về. Tuy nhiên, sau đó, Bình Định Vương cũng phải cho người sang Tầu “cầu phong”, có nghĩa là tuy thắng nó, nhưng cũng phải giàn hòa. Ba năm một lần sứ nước mình sang Tầu, phải mang theo hai người bằng vàng, gọi là “đại thân kim nhân” để thế mạng Liễu Thăng và Lương Minh, hai tên nầy bị chém chết ở Chi Lăng.”

-“Nước nó lớn quá phải không?” Bang hỏi.

-“Thường thì quanh những nước lớn, phải có những “vùng đệm”, là những nước nhỏ, làm cục kê giữa hai nước lớn hay hai thế lực hùng mạnh. Trong Hội Nghị Yalta tháng 2 năm 1945, Tổng thống Mỹ Roosevelt giao các nước Đông Âu cho Liên Xô. Liên Xô thì giao Châu Á cho Mỹ. Liên Xô với Mỹ giao ước với nhau mà không cho Sir Wilston hay. Ông nầy giận lắm, thề có đến New York, sẽ không bao giờ nhìn vào tượng “Nữ Thần Tự Do”. Bây giờ Tầu mạnh lên, cũng phải có vùng đệm cho nó, không thì Mỹ-Nga-Tầu đụng đầu trực tiếp thì thế giới không yên.” Tôi giải thích.

Trần Hưng tiếp tục đưa ý kiến:

– “Trung lập là trung lập với quốc tế, giữa Nga, Mỹ và Tầu, chớ Việt Nam vẫn là chế độ Cộng Sản, mình có sống được hay không?”

Trong Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự 4 bên, Túc là “đệ tử” chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp, khi ông nầy làm Trưởng Phái Đoàn Việt Nam Cộng Hòa, tham dự các buổi họp ở Camp Davis trong phi trường Tân Sơn Nhứt.

Theo lời Túc kể, anh ta thường được chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp cho tiền để rủ mấy anh chàng sĩ quan Hungary, trong Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự đi chơi, để moi tin tức bên phía đó. Anh ta cũng móc nối được vài sĩ quan Ba Lan không ưa Cộng Sản.

Còn Võ Bang là đại úy Pháo binh, giữ mấy cây súng 105-ly án ngữ ở ngã ba Dầu Giây, chận đường Dziệt Cộng từ hướng Đà Lạt đánh xuống. Khi tướng Lê Minh Đảo được lệnh rút bỏ Xuân Lộc, phía sau lưng Võ Bang bị trống. Dziệt Cộng đánh riết tới, Bang bỏ súng mà chạy.

Nghe Bang kể chuyện ấy, tôi vừa kể chuyện cũ, vừa nói đùa: “Trận Hạ Lào, ông Thiết Đoàn trưởng Bùi Thế Dung; Thiếu tá Nô, Thiết Đoàn phó, Thiết Đoàn 11 lấy lý do về lấy thêm lính bổ sung, bỏ đơn vị bên đó mà về. Thiết Đoàn 11 như rắn mất đầu, không ai chỉ huy. Chi Đoàn 3/11 của Đại úy Hải, binh sĩ bỏ xe thiết giáp lội bộ mà về theo. Ông Thiếu Tá Hoàng Văn Giao, ở bộ Chỉ Huy Thiết Giáp, nói đùa là “Lính kỵ đánh bộ.” Bây giờ ông bỏ mấy cây đại bác mà chạy thì gọi là gì?”

Bang thật thà nói: “Em mang theo chỉ có một cây súng Colt mà thôi.”

Túc đùa:

– “Vậy tau gọi mày là “pháo binh bắn súng Colt”, có được không?”

Câu nói đùa của Túc không làm cho chúng tôi cười được chút nào!

Tết Đinh tỵ năm 1977 là tết thứ 2 trong tù.

Khu 4 có tổ chức văn nghệ.

Tết năm nay không “vui” như tết năm rồi, mọi người thấy chán nản vì không biết ngày nào về nên hầu như “mặc kệ”, ai làm gì thì làm. Cha Cao (linh mục), tập họp một số đông tù cải tạo, thành lập một ban hợp xướng, tập hát một hai bài hát “cách mạng” gì đó.

Ông linh mục nầy du học về âm nhạc, ở bên Ý mới về, nên soạn bè hay lắm. Hôm trình diễn, một số đông người đi nghe.

Tôi biết thêm ông Hồ Đăng Tín khi ông còn học trường Khải Định, tên cũ trường Quốc Học. Khi đang học tại đó, ông có bản nhạc in ở bìa sau “Tập Văn Học Sinh Khải Định”. Bây giờ gặp ông ở trại nầy; ông can tội “trưởng Ban Quân Nhạc Bộ Tổng Tham mưu” (hay Tổng Thống? – tôi không nhớ) Ông cũng thành lập một ban hợp ca, tham gia văn nghệ tết năm nay. Ban hợp ca của ông không được hoan hô bằng ban hợp xướng của cha Cao.

Mấy ông cha tuyên úy vô tù, phần đông có tư cách. Tôi đi đào giếng chung với cha Hoạt. Tác phong của ông, làm cho tôi rất có cảm tình. Cha Thiên, – Hoàng Văn Thiên -, buồn cười hơn. Khi trại cấp than đá để nấu, thay vì củi cây cao-su như trước, cha Thiên trở thành “chuyên viên” úm lửa cho các lò nấu. Than đá, mỗi khi mồi cho cháy, khó khăn lắm, nên mỗi tối, phải úm lại, để sáng hôm sau lên lửa dễ dàng và nhanh.

Bấy giờ cha Thiên ở chung một đội với tôi, một vài lần ăn chung với thầy Ca, Nguyễn Đức Ca, cũng là một tuyên úy Phật giáo.

Ông Ca, khoảng hơn chục năm trước là học trò của tôi ở lớp đệ tam, tôi dạy Việt Văn. Tôi nhớ ông vì cả lớp chỉ có hai chú (đi tu Phật, còn nhỏ tuổi). Đó là chú Ca và chú Bình. Các chú tu ở Chùa Từ Đàm hay Báo Quốc, sau khi xong lớp Đệ Tứ, nếu có bằng Trung học, được vô lớp Đệ Tam trường Quốc Học.  Có thể đó là trường hợp ông Tuệ Sĩ. Chú nào không đậu Trung Học hay không muốn học Quốc Học, thì xin vào lớp Đệ Tam Trường Trung Học Đệ Nhị Cấp Bán Công Huế, là trường tôi dạy hồi đó. Ông Nguyễn Văn Hai vừa làm Giám Đốc Nha Đại Diện Giáo Dục vừa làm Hiệu Trưởng trường Bán Công nầy. Ông là người được “Cậu Cẩn” tin cẩn, lại là “đệ tử” thầy Trí Quang. Vài giáo sư, như Hồng Quang Anh, dạy Toán, Tôn Thất Đát, dạy Anh Văn, lên dạy giúp ở Trường Hàm Long của Chùa Báo Quốc, nhưng Trường Bán Công trả lương. Còn các chú, các thầy còn trẻ, học trường Bán Công đều được miễn học phí, chẳng phải lo “Tiên học phí, hậu học văn” gì cả, như bọn học trò thường nói đùa.

Chú Ca học tới đâu tôi không biết. Khi vào trại tù cải tạo, anh em bạn tù nói rằng ông “Can tội đại úy tuyên úy”. Chú Bình sau nầy đậu cử nhân văn chương ở Viện Đại Học Huế, có thời làm Hiệu Trưởng trường Bồ Đề Huế, hiện giờ là ông sư Thích Thiện Hạnh.

Gặp tôi, ông thầy Ca không chào, không nhận ra thầy cũ hay ông cố ý lơ tôi? Có thể ông quên chăng! Thấy thầy Ca không nhìn tôi, tôi cũng giả bộ… quên luôn!

Hôm Trắc đi đâu về, thấy cha Thiên và thầy Ca ăn chung mâm, (thầy Ca đã bỏ ăn chay), vui tính, Trắc la to lên: “Hòa bình rồi anh em ơi! Mèo chuột ăn chung với nhau kìa!”

Cha Thiên chỉ cười. Thầy Ca thì cự nự Trắc rất nặng lời.

Trắc than: “Tui nói chơi một chút. Chi mà thầy làm dữ dzậy? Tui nói thiệt, người đi tu mà sân si như thầy, chết xuống âm phủ, bao giờ tui cũng được ở trên thầy một tầng.  Thầy ở tầng thứ chín, tui ở tầng tám.”

Nghe Trắc nói đùa như thế, Trần Hưng nói: “Ông nầy hay đùa mà thông minh lắm.”

Tôi nói:

– “Kinh nghiệm dạy học cũng cho tôi thấy như thế. Những đứa hoang nghịch thường thông minh hơn mấy anh học trò ngoan ngoãn mà vô ơn lắm.”

Nói vô ơn cũng chỉ là một cách nói mà thôi. Tôi đi dạy, làm nghề thầy giáo, cũng chỉ là kiếm một “cái cần câu cơm” mà nuôi thân, nuôi em, nuôi vợ con, chớ có nghĩ tới ơn nghĩa gì đâu! Nghề nào cũng là nghề, ơn nghĩa hay bạc bẽo cũng chỉ là nghề kiếm ăn mà thôi!

Linh mục Phan Khắc Từ thường lên thăm cha Thiên. Đó là những lần thăm “đặc biệt”. Qua đó, tôi được cha Thiên cho mượn những tờ báo “Công Giáo và Dân Tộc” do cha Từ đem biếu cha Thiên đọc chơi.

Có lần tôi hỏi cha Thiên: “Công Giáo và Dân Tộc”, cái nào lớn hơn cái nào?

Cha Thiên trả lời tôi:

– “Ngang nhau! Người dân phải là của dân tộc và của tôn giáo!”

Tôi lại nói:

– “Cha trả lời hay. Nhưng tôi nghĩ không phải đó là quan điểm của “cách mạng”. Quan điểm họ khác nhiều lắm. Nói “Công Giáo và Dân Tộc”, chỉ là một cách nói mỵ dân khi họ chưa tiêu diệt được tôn giáo mà thôi. Trong thâm tâm họ, tôn giáo đã không có, mà dân tộc cũng không luôn. Không phải Dân Tộc mà Nhân Dân. Nhân Dân toàn thế giới là một, đã là chủ nghĩa Đại Đồng, Dân tộc gì nữa!”

Cha Thiên khẳng định:

– “Làm sao tiêu diệt tôn giáo được?!”

– “Được hay không là do chủ quan của họ, cũng như chủ quan của cha.” Tôi nói. “Nhưng sự đụng độ giữa Công Giáo, tôi nói là Công Giáo, – không hẳn là toàn thể các tôn giáo -, với Cộng Sản sẽ rất quyết liệt, sinh tử, một mất một còn trước khi Cộng Sản tiêu diệt các tôn giáo khác.”

– “Anh cho là vì Công Giáo có quan hệ với đế quốc, tư bản chớ gì?” Cha Thiên nói.

– “Không phải dzậy. Tôi muốn nói tới mục đích cuối cùng của Công Giáo và Cộng Sản. Mục đích của Cộng Sản là “Thế giới Đại Đồng”, còn Công Giáo thì không phải Thế Giới nầy là của Chúa, hay nói đúng hơn là của Giáo Hội La Mã, tức là “Đế Quốc Vatican” hay sao? Hai “Đế Quốc” có thể cùng tồn tại song song được không hay một mất một còn?”

Cha Thiên sẳng giọng: “Anh nói bậy! Giáo Hội nào muốn giành hết thế giới nầy. Nhân loại nầy là của Chúa thì phải trả lại cho Chúa chứ!”

Trắc đoán chừng tôi và cha Thiên sẽ tranh cải nhau làm mất lòng nên giả bộ gọi tôi rồi kéo tôi đi. Ra tới sân, Trắc nói:

– “Tui biết anh không ưa những người cuồng tín. Các ông cha, ông nào lại chẳng cuồng tín, nên tôi kéo anh đi cho rồi.”

Lúc đó, sẵn Hiền cũng ghé lại chơi.

Hiền nói:

-“Người ta đồn cha Từ là Việt Cộng phải không?”

-“Đã là cha thì Việt Cọng thế nào được! Chẳng qua là ở cái thế vậy mà. Một là mấy ông cha du học ở bên Tây, thường có khuynh hướng xã hội, không ưa Giáo Hội La Mã. Thứ hai, họ cũng như “Lê Lai cứu chúa” vậy, không ưa nhưng cũng phải làm sứ mạng Giáo Hội giao cho. Trong hoàn cảnh sống dưới chế độ Cộng Sản, ông cha nào cũng “thẳng đứng”, dễ gãy lắm. Phải có người mềm mỏng. Mấy ông cha cũng có nhiều khuynh hướng khác nhau, chưa hẳn họ “thống nhất” một ý chí đâu!”

-“Rắc rối thiệt!” Hiền nói.

 Tôi giải thích thêm:

– “Giáo Hội La Mã, hay “Đế Quốc Vatican”, theo tôi nghĩ là hiện thân của “Đế Quốc La Mã” ngày xưa. “Đế Quốc Vatican” ngày nay, theo đuổi một mục đích giống như Đế Quốc La Mã xưa vậy. Vatican thì nhỏ tí chút nhưng Giáo Hoàng làm vua khắp thế giới. Lãnh thổ “Giáo Hội La Mã” cũng khắp nơi, đâu cũng là “đất Chúa”, “nước Chúa”, “dân Chúa”, “quân Chúa”… khác gì Đế Quốc La Mã đâu! Dziệt Cộng nó không gọi là Giáo Hoàng mà gọi là Giáo Chủ là có chủ ý đấy!  Tham vọng đó của Giáo Hội không hẳn là của Chúa Giê-su đâu, mà do mấy ông ngồi ở Vatican muốn dựng nên một “Đế Quốc La Mã mới”, bao giờ cũng mâu thuẫn với những người lãnh đạo đất nước, dân tộc, ngay cả với một người có đạo Thiên Chúa như cụ Diệm đi nữa.”

Trắc nói: “Đó! Nổi nóng, nói bậy đi.”

– “Tui không nói bậy! Quả đất tròn, Giáo Hội bảo vuông, rồi bài bác Newton, (1) bỏ tù Galilé (2), cắt lưỡi Erathosthène thì giải thích làm sao? Không phản động, không lạc hậu, không bảo thủ thì làm sao có cuộc “Cách Mạng Tôn Giáo” của ông Calvin, ông Luther, (3) làm sao có Anh Quốc Giáo, Thanh Giáo, Protestant. Napoléon bảo Giáo Hoàng có muốn thì cứ qua Paris mà đội mão, ban phép thánh cho ông ta. Ông không chịu phải qua Vatican như các ông vua châu Âu khác khi lên ngôi. Vì Vatican lợi dụng danh Chúa nên Nietzche (4) phải tuyên bố rằng “Chúa đã chết”. Chúa chết rồi, đừng lợi dụng Chúa làm chi nữa. Đừng đem thần quyền vào thế quyền.” Đang bực mình vì cha Thiên, tôi nói một hơi.

– “Sao anh cay cú vậy?” Hiền nói.

– “Tui cay cú? Thiệt không? Có lẽ cũng như những người Huế khác, tui là nạn nhân của ông Ngô Đình Thục.”

-“Anh đả kích những người cuồng tín, trong khi anh lại cuồng tín trong việc đả kích. Anh không thấy anh là người cuồng tín, cuồng tín theo cái anh nghĩ. Lại mâu thuẫn rồi đó.”

Tôi làm thinh, vì nghĩ Hiền nói có lý!

– “Thôi, bình tĩnh đi. Tui hỏi anh, rõ ràng là có sự đụng độ giữa Giáo Hội La Mã với Cộng Sản, nhưng cái đó có ảnh hưởng gì tới dân tộc mình?” Trắc hỏi.

– “Bọn mình, người dân, có hai bà mẹ. Một là “Bà Mẹ Tôn Giáo” và một bà nữa là “Bà Mẹ Dân Tộc”, như Giáo Sư Lý Chánh Trung giải thích vậy. Hai cái yếu tính đó làm nên con người Việt Nam. Phía Công Giáo thì muốn giành lấy đứa con mà loại bà “Mẹ Dân Tộc” ra, vì với họ, Chúa là trên hết chứ không phải Dân Tộc trên hết. Còn Cộng Sản, chủ nghĩa Mác là trên hết, “Thế Giới Đại Đồng” là mục đích cuối cùng. Bị kẹp trong hai cái gọng kềm đó, dân tộc sẽ tiêu ma, người Việt sẽ tiêu ma. Mấy ông thấy không? Tui có lý do để chống Cộng Sản và chống Giáo Hội La Mã. Tui chống Giáo Hội La Mã chớ không chống Chúa Dê-su. Đó là hai mặt khác nhau. Tui cũng như ông Calvin, ông Luther hay tui theo chưn ông Nietzche thì cũng vậy. Tui cũng chống mấy ông thầy chùa, nhưng tui tin Phật. Tui chỉ “qui y Phật, qui y Pháp” mà thôi, “quy y tang” thì còn lâu. Tăng như ông thầy Ca đội mình thì không những đuổi đi chỗ khác chơi mà còn phải đuổi ra khỏi nơi tu Phật!”

&

Khi có đợt đưa “tù cải tạo” đi Bắc, các linh mục đều bị đưa đi hết. Riêng cha Thiên thì được ở lại. Sau nầy được tha, ngồi trên tầng ba nhà cô em gái, nhìn xuống nhà thờ Vườn Xoài của cha Từ bên kia con hẽm 429, đường Trương Minh Giảng cũ, tôi thấy cha Thiên đi lui đi tới trong sân. Có phải cha Thiên đang ở nhà thờ nầy? Thường khi gặp bạn tù cũ, tôi rất vui, nhưng tại sao biết cha Thiên ở nhà thờ nầy mà tôi chẳng bao giờ ghé thăm. Tôi không ghét cha Thiên, thật lòng, tôi nói rõ ra như thế, nhưng quả thật tôi không ưa những người cuồng tín dù của bất cứ tôn giáo nào! Nhiều khi tôi tự suy nghĩ về mình. Có phải tôi là người cuồng tín trong việc chống lại những người cuồng tín? Tôi tự mâu thuẫn tôi hay đời nầy lắm chuyện buồn cười???!!!

Nhân dịp tết nầy, trại tổ chức đấu bóng chuyền giữa các khu. Khi đội bóng chuyền Khu 2 sang đấu bóng với đội Khu 4, tôi đi tìm xem có ai quen không thì may mắn gặp Hoàng Xuân Định. Định nói:

– “Moa có đấu bóng chuyền đâu, giả bộ tham gia để sang đây đi tìm bạn bè chơi.”

Gặp Định, tôi mừng lắm. Định học trước tôi một lớp khi trường Nguyễn Hoàng (Quảng Trị) mới “khai thiên lập địa” năm 1951, nghĩa là lúc đó chưa có tên Nguyễn Hoàng mà chỉ là Trrường Trung Học Quảng Trị. Chúng tôi vui chơi với nhau suốt mấy chục năm dài. Hôm đó, Túc, Bang cũng đến chuyện trò với chúng tôi.

Định là em chú bác tướng Lãm. Tướng Lãm và gia đình thì di tản hồi 30 tháng Tư rồi, nhưng các em ông, em ruột cũng như em chú bác, em rể… như anh Thiệu, anh Đạm, Lê văn Tịnh (chồng của Xuân Tuyết), gọi tôi bằng cậu, đều ở lại “đóng tiền đi ở tù” cả. Chuyện nầy không vui gì!!!

Năm 1977, trại Suối Máu có hai đợt chuyển tù.

Lần thứ nhất, một số được chuyển đi Trảng Bom. Phần đông tù binh là những sĩ quan cấp thiếu úy, trung úy, trong số có đại úy họa sĩ Nguyễn Cang, đại úy họa sĩ Nguyễn Uyên, thuộc cục Tâm Lý Chiến chế độ cũ. Ông nầy có chỗ nằm kế cận tôi. Ông ta hy vọng về sớm vì có người anh đang làm bộ trưởng hay thứ trưởng bộ tư pháp ở Hà Nội, đơn bảo lãnh đã làm xong rồi.

Đợt thứ hai, chuyển ra bắc, phần đông là cấp đại úy. Có thể kể thêm một số tù binh cấp tá, nhưng ở các khu khác, như Khu 1, Khu 2 hoặc Khu 3. Tôi ở Khu 4, chỉ nghe nói mà không rành ai bị đưa đi.

Đi chuyến nầy, đội tôi có Huỳnh Văn Khánh, Trần Hưng, Nguyễn Quốc Trương. Những người quen biết thì có Võ Bang, Nguyễn Ngọc Túc, anh em Trần Hữu Tín, Trần Hữu Xiêm như tôi đã giới thiệu. Ban đầu, nhiều anh em tưởng được đưa đi lao động để được tha về sớm như đợt đi Trảng Táo vừa rồi, nhưng sau khi tập trung xong, thấy bộ đội khám xét rất kỹ, xe cộ đóng mui kín mít thì ai cũng đoán chừng người đi sẽ gặp khó khăn. Không ngờ họ bị đưa đi Tân Cảng để xuống tầu thủy ra bắc, xa xôi mịt mù, biết có ngày về không!!!???

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút

vietmessenger.com

Hoàng Hải Thủy

Post by Sơn râu 7 Oct 2025

Phần 20

Việt cộng vào Sàigòn, theo đúng thông lệ Cộng đi tới đâu ruồi bâu đến đấy, thành phố Sàigòn thất thủ một sớm, một chiều trở thành cái Chợ Trời khổng lồ. Người Sè Goòng mang ra vỉa hè bán đủ thứ linh tinh. Hai chợ Trời đông đảo nhất Sàigòn là Chợ Cũ và Chợ Lăng Cha Cả. Mộng ước cao đẹp nhất của những anh nông dân Bắc Việt đi lính cụ Hồ vào được Sàigòn là được làm chủ cái đồng hồ “không người lái”. Người bán đồ toàn là dân Sàigòn, người mua đồ toàn là lính Bắc Việt cộng sản. Các em Lính Cái Việt cộng mông to hơn cái thúng đi chợ trời tìm mua “Áo Mông” – Montagut – đồ các em mua phải là đồ có chữ U Ét – US- hay U Ét A – USA.

Ba Trung có đọc bài thơ Chợ Trời, anh nói:

– Anh làm thơ gọi chúng tôi là Mán, là Mường. Nếu các chú đi bắt anh mỗi chú chỉ đánh anh một cái thôi giờ này anh cũng ngồi không vững.

Cay cú nặng vì vụ vồ hụt Mai Thảo, Ba Trung nói:

– Anh thấy đấy… Chúng tôi định bắt một trăm anh là đúng một trăm anh bị bắt. Chúng tôi chỉ có bắt hụt mỗi một mình Mai Thảo.

Thấy anh đối xử với tôi tử tế, tôi nói:

– Các anh bắt vậy là hay quá rồi. Chỉ vì cái sơ suất này mà các anh không bắt được Mai Thảo: chúng tôi có vợ con, khi nghe tin anh em chúng tôi bị bắt chúng tôi quyến luyến vợ con nên chúng tôi cứ ở nhà chờ không chịu bỏ đi. Mai Thảo không có vợ con, sau giải phóng nó lại quen ở nhà này ít lâu, ở nhà khác năm bữa nửa tháng. Nghe nói bị bắt là nó lững thững hai tay không nó đi. Lẽ ra các anh phải bắt Mai Thảo trước nhất, sau nó mới đi bắt những người khác.

Ba Trung hỏi:

– Anh có nhiều lần gặp Mai Thảo phải không?

Có cái tật không thích nói dối – mặc dầu đôi khi cũng nói dối như máy – và không nói dối được, tôi trả lời:

– Có. Mai Thảo đến nhà tôi vài lần.

Ba Trung bất thần hỏi mánh:

– Cũng có khi anh đến rủ Mai Thảo đi chơi chứ?

Phải nói thật là tôi chẳng lần nào đến chỗ Mai Thảo trốn tránh gọi anh đi chơi cả. Nên tôi trả lời ngay boong.

– Không.

Và tôi giải thích “tại sao không”:

– Mai Thảo không nói cho tôi biết chỗ hắn ở là vì việc đó không cần thiết, tôi không cần biết chỗ hắn ở làm chi. Tôi không hỏi chỗ Mai Thảo ở vì tôi sợ nếu tôi bị bắt, các anh sẽ hỏi tôi Mai Thảo ở đâu. Tôi không khai thì sợ các anh hành hạ tôi. Tôi khai thì tôi ân hận vì tôi mà Mai Thảo bị bắt. Vì vậy, tôi không hỏi. Nhưng bây giờ, khi đã bị bắt vào đây rồi, nếu tôi biết chỗ Mai Thảo ở tôi khai với các anh ngay. Nếu tôi còn ở ngoài mà tôi làm cho hắn bị bắt, tôi mới ân hận. Đã bị bắt rồi, tôi chẳng có gì mà để sợ. Mai Thảo có bị bắt thì nó cũng chỉ khổ như tôi thôi. Tôi chẳng áy náy gì về việc khai ra chỗ nó ở để nó bị bắt vì tôi biết trước sau gì nó cũng bị bắt thôi. Làm sao nó trốn mãi được…

Ba Trung không nói gì cả. Chèn đét ơi… tôi nói có lý quá trời đi, còn bắt bẻ tôi vào đâu được. Bị Việt cộng bắt mình khai báo với nó phải có lý may ra mới được nó nể nang phần nào. Có lần, tôi nhớ vào buổi tối đã khuya, khi đã sửa soạn ra về, cho tôi vào xà lim ăn cơm tù nguội cứng ngắc, Ba Trung nói:

– Làm việc với anh, tôi cũng học được nhiều điều hay hay…

Ba Trung nuôi mộng qua tôi, qua vợ tôi, bắt được Mai Thảo. Có lần hắn bảo tôi:

– Tôi muốn anh viết một thư cho Hoài Bắc. Ý thư là anh báo cho Hoài Bắc biết người ta, tức là chúng tôi, đã biết chỗ ở của Mai Thảo, Hoài Bắc phải đến cho Mai Thảo biết để Mai Thảo đi nơi khác ngay…

Tôi biết ngay mánh mung của Ba Trung. Trong tù thường có người bị bắt khi được thả lén mang thư của người tù ra ngoài, đem đến cho thân nhân người tù. Ba Trung muốn tôi viết thư cho Hoài Bắc, hắn sẽ cho một chú công an nào đó giả làm tù ở chung phòng với tôi trong Số 4 Phan Đăng Lưu mới được thả, đem thư HHT đến cho Hoài Bắc. Được thư Hoài Bắc sẽ nhẩy lên ngựa sắt lọc cọc đến chỗ Mai Thảo hay cho người nhà đi báo tin cho Mai Thảo biết là công an đã biết chỗ ở của Mai Thảo, nên đi chỗ khác ngay.. Anh em Ba Trung chờ sẵn ngoài đường sẽ đi theo, ập vào nơi Mai Thảo ở, còng tay Mai Thảo ngon lành.

Tháng 10 năm 1977, khi tôi ngơ ngáo tay bị còng, theo những anh Công An Nhăn Dăn thành Hồ, đặt những bước chân đầu tiên đi vào con đường tù đầy nạn nhân Cộng sản, đặt những bước chân đầu tiên là lời nói văn huê để diễn tả việc loạng quạng đi vào trại giam số 4 Phan Đăng Lưu, các ông Mai Thảo, Hoài Bắc vẫn còn vất vưởng ở Thành Hồ. Nói rõ hơn là ngày tôi bị bắt các ông chưa vượt biên đi thoát. Sở dĩ công an Thành Hồ không tóm được Mai Thảo là vì Thành Hồ có trò vượt biên. Nhờ có vượt biên, Mai Thảo mới thoát được tù đầy cộng sản. Nếu không có vượt biên làm sao ông có thể lẩn tránh mãi. Bị Việt cộng vồ trượt, lùng bắt từ tháng 3 năm 1976 cho đến đầu năm 1978 ông mới đi thoát. Thành tích sống ẩn mình chờ đi chui của ông như dzậy là khoảng hai niên. Kỷ lục Guiness Mít.

Khi Ba Trung Huỳnh Bá Thành đưa cho tôi mảnh giấy bao thuốc lá, cây bút, bảo tôi viết thư cho Hoài Bắc theo ý hắn, tôi ngồi lặng đi nửa phút. Tôi thầm đọc Ba Kinh Kính Mừng xin Đức Mẹ Maria làm cho lá thư tôi viết không gây tác hại gì cho các bạn tôi. Tôi cẩn thận khẩn cầu cho chắc ăn. Trong lòng tôi không tin Hoài Bắc khi nhận được thư tôi – nếu Ba Trung cho công an giả làm tù được ra đến đưa thư thực sự – lại lóc cóc đạp xe đến chỗ Mai Thảo ở để phi báo ngay. Tôi chắc vậy, vì tôi biết Hoài Bắc cũng không biết rõ chỗ Mai Thảo ẩn náu như tôi. Dù có nhận thư báo, anh cũng chỉ chờ anh cháu liên lạc viên của ông bạn lại mới nói cho biết. Nếu tôi là Hoài Bắc tôi cũng làm như vậy.

Hai mươi mùa lá rụng đã qua kể từ ngày ấy – không nhớ là sáng, hay chiều, hay tối, trong phòng thẩm vấn số 4 Phan Đăng Lưu, cửa ngõ tù đầy của những công dân thành phố Hồ Chí Minh quang vinh, tôi cầm bút viết. Đại khái lời thư tôi còn nhớ:

Hoài Bắc,

Người ta đã biết chỗ ở của Mai Thảo. Mày đi cho nó biết ngay để nó đi chỗ khác. Ở lại đấy là bị vồ đấy.

H.H.T.

Tôi ký tờ thư ngắn. Ba Trung bảo tôi:

– Anh vẽ bông hoa dưới chữ ký anh.

Y xem tập thơ của tôi, thấy tôi thường vẽ bông hoa trên đầu bài, trên chữ ký. Tôi có con dấu bằng đồng hình bông hoa và chữ ký tôi khá đẹp. Khi đến bắt tôi, bọn công an lục soát lấy đi tất cả những con dấu hoa hòe hoa sói của tôi. Tôi vẫn nghĩ bông hoa là biểu hiệu tiền định của đời tôi. Hoa đẹp, hoa thơm, nhưng người ta không ăn được hoa. Đời tôi an nhàn, có chút tiếng tăm còm, có vài ba nữ độc giả ái mộ, vợ không đẹp lắm, con không khôn lắm nhưng cũng không quá ngu. Đời tôi đúng như bông hoa. Không có tiền. Phải chi thời trẻ tôi lấy dấu hiệu là trái sầu riêng hay trái mít. Tiếc thật. Lấy dấu hiệu là trái đu đủ cũng có ăn. Hoa thì hèn chi hổng nghèo phai nhạt nụ tầm xuân.

Dễ thôi. Tôi là người tù dễ bảo có hạng. Tôi vẽ bông hoa bên chữ ký theo lời của Ba Trung. Tôi tin dù thư có đến tay Hoài Bắc anh sẽ không tin đó là thư tôi. Vì tôi “mày tao” mí ông Mai Thảo, tôi không “mày tao” mí ông Hoài Bắc. Ông Hoài Bắc không mày tao với ai cả thì đúng hơn. Thư tôi “mày tao” vớí ông chắc vừa đọc ông đã thấy có cái gì khác lạ. Tôi có thể “toa, moa” nhưng nhất định không thể “mày, tao” vớí ông. Có vài lần tôi nghe ông Thanh Nam mày tao vớí ông Hoài Bắc, nhưng ông Hoài Bắc vẫn cứ “tôi, anh” với ông Thanh Nam.

Ba Trung có thực hiện mánh mung cho đàn em giả tù được thả đem thư rởm của tôi đến cho Hoài Bắc hay không? Chuyện đó tôi không biết và không bao giờ tôi biết. Hoài Bắc đã qua đời, hình như anh mất năm 1993. Ở Thành Hồ chúng tôi biết tin Hoài Bắc nhờ nghe đài VOA. Công an Việt cộng Ba Trung Huỳnh Bá Thành cũng đã chết.

Tôi bị giam 12 tháng 2 ngày trong xà lim, Biệt giam số 15 khu B hai tháng, Biệt giam 6 khu C Một mừời tháng. Khi sang phòng tập thể cuối năm 1978 tôi được anh em tù báo tin:

– Mai Thảo, Hoài Bắc, Lê Thiệp, Nguyễn Hữu Hiệu… đi thoát hết. Sang Mỹ cả rồi…

Nghe tin tôi nhẹ người.

Tuy không biết nơi ẩn náu của Mai Thảo tôi vẫn có thể chỉ cho Ba Trung bắt được anh. Số là vợ chồng tôi chỉ về ở căn nhà nhỏ của mẹ tôi vẫn bỏ không trong Cư xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ ba tháng sau ngày nón cối, dép râu ngơ ngáo vào Sàigòn. Khoảng tháng Mười, tháng Mười Một đen hơn mõm chó năm 1975 một tối buồn, trời trở lạnh, tôi đạp xế lang thang trong những đường phố tang thương của Sàigòn thương yêu. Khoảng mười giờ khuya ở đường Phan Đình Phùng, đèn tắt tối om, tôi gặp ông Mai Thảo, Hoài Bắc trên hai con ngựa sắt. Chúng tôi vào tiệm Nghi Xuân đớp phở. Khi đang dùng dằng chưa nỡ rời tay mà cũng chưa biết nên và có thể kéo nhau vào đâu chơi, chúng tôi nghe người gọi tên:

– Hoài Bắc… Mai Thảo… Hoàng Hải Thủy…

Gọi mà gọi lớn tiếng chứ không vừa đủ nghe. Ông Đoàn Khê – một tên khác là Khê Vinh – cầu thủ bóng tròn nổi tiếng trước năm 1954 – trên lưng ngựa sắt ghé đến. Chúng tôi trao đổi vài lời trên lề đường vắng.

– Bọn đá bóng Bắc Kỳ vào chúng nó có tìm ông không?

– Có chứ. Về bóng tròn thì tôi là Hồ Chí Minh của chúng nó…

Đó là lời tuyên bố giữa đường của ông Đoàn Khê, tức Khê Vinh, cựu cầu thủ Bắc Việt. Ba ông Khê Vinh, Mai Thảo, Hoài Bắc đều đã ra người thiên cổ.

Đêm ấy trời quá khuya, tôi theo ông Mai Thảo về ngáo một giường mí ông trong căn nhà một ông anh của ông phú lỉnh được để lại. Sáng hôm sau, tôi rủ Mai Thảo về nhà tôi chơi.

– Mẹ tao đau, vợ tao lên hầu bà cụ. Có mình tao ở nhà. Trưa mình đi đớp thịt chó.

Khu Ông Tạ Bắc Kỳ Ri Cư tám mươi phần trăm là dân công giáo, nổi tiếng khắp Sàigòn về mục Cầy Tơ. Ngã Ba Ông Tạ có một điểm độc đáo không nơi nào có là Ngã Ba được gọi bằng tên ông thầy thuốc hành nghề ở đó. Ông thầy thuốc tên là Tạ vẫn còn sống, vẫn ngày ngày hành nghề, nhân dân ta đã lấy tên ông đặt cho toàn khu. Không có văn bản địa đồ chính thức nào ghi địa danh ông Tạ nhưng địa danh ấy nằm trên cửa miệng của người Sàigòn từ những năm 1950 đến chưa biết bao giờ.

Trên đường đi, chúng tôi gặp Nguyễn Đình Toàn. Toàn đã biết nhà tôi, anh bảo:

– Chúng mày về trước. Trưa tao đến.

Mai Thảo chỉ đến nhà tôi ở Cư xá Tự Do có lần ấy. Khi nhờ anh cháu đến nhà tôi mượn truyện, anh chỉ có thể chỉ đường lờ mờ.

Anh cháu của Mai Thảo nói với tôi:

– Ông cậu tôi đâu có nhớ số nhà. Ông chỉ nói là ông ở trong cư xá Tự Do trước hồ tắm Cộng Hòa. Tôi có người quen ở ngay cùng dẫy với ông, chỉ cách nhà ông có mấy nhà. Tôi hỏi là trúng phóc.

Người quen của anh cháu Mai Thảo ở ngay gần nhà tôi. Mỗi lần đến nhà tôi, anh đều ghé nhà ấy trước. Tôi có thể khai với Ba Trung về người quen anh ở cùng cư xá với tôi. Nếu tôi khai biết đâu anh cháu Mai Thảo đã chẳng bị công an VC theo rõi và biết đâu nhà văn lớn đã chẳng vì thế mà theo tôi vào Số 4 Phan Đăng Lưu, biết đâu Mai Thảo đã chẳng ở lại với quê hương, biết đâu giờ này tên ông đã chẳng nằm trên một bảng đường nào đó ở thủ đô tị nạn. Biết đâu v.v…??

Hai mươi tháng tù đầy kéo dài trong ba niên. Cuối 1979, trở về căn nhà nhỏ Alice kể cho tôi nghe:

– Ba Trung nó gọi em lên Sở. Nó dụ em chỉ chỗ cho nó bắt Mai Thảo. Nó nói bóng gió là nếu em muốn anh sớm được tha thì em phải giúp chúng nó bắt Mai Thảo. Nó gọi em lên sở từ 9 giờ sáng để em chờ tới 11 giờ nó mới ra tiếp em. Nó nói đủ thứ ba lăng nhăng đến bốn, năm giờ chiều mới cho em về. Nó nói: “… Chúng tôi sẽ xây dựng nước Việt Nam thành một vườn hoa bên bờ Thái Bình Dương…”. Nó còn hỏi em đã coi phim Chiến Tranh Và Hòa Bình của Liên Sô chưa? Nó nói phim chiến tranh và hòa bình của Liên Sô mới thật vĩ đại. Phim Mỹ không đi đến đâu. Nó còn nói: “Cái gọi là quốc gia Việt Nam Cộng Hòa nó đã chết rồi. Anh ấy cứ đào nó lên anh ấy thương xót nó…”. Em điên lên em nói: “Nếu mà nó đúng thì nó có chết đến một trăm năm cũng vẫn đào nó lên. Việt Nam Cộng Hòa mới mất có mấy năm nay mà…”. Nó dọa em: “Chị mới là người đáng bị chúng tôi bắt…”. Em nói: “Các anh làm ơn bắt ngay tôi đi. Tôi mừng. Bị bắt là tôi hết lo. Bây giờ tôi phải lo nuôi chồng tôi ở trong tù, lo nuôi các con tôi. Tôi không sợ các anh bắt đâu…”

Nàng cay cú nhiều vì bị Ba Trung quấy rầy. Nàng từng hẹn hò:

– Nếu có ngày đổi đời, phe ta lại nắm quyền, ai giành cái gì thì giành, em giành thằng Ba Trung. Em bắt nó về em xích cổ nó ở chân giường, em cho nó ăn uống tử tế nhưng em bắt nó suốt ngày phải nói câu: “Xây vườn hoa bên bờ Thái Bình Dương…”

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 7 Oct 2025

83. Trần Đức Uyển.

Nói tới Trần Đức Uyển người ta nghĩ ngay đến những bài thơ đen, thơ chì của ông. Như thế, người ta nhớ và biết đến Tú Kếu nhiều hơn Trần Đức Uyển. Chúng ta có rất nhiều thi sĩ, nhưng những người làm thơ trào phúng, châm biếm, để lại tên tuổi, vẫn còn có thể đếm được trên những đầu ngón tay. Điều ấy chứng tỏ trào phúng không phải là thể thơ dễ làm. Tú Kếu là một trong những nhà thơ hiếm hoi nổi tiếng về loại thơ đó.

Vì nhu cầu công việc của các nhật báo ông cộng tác, Tú Kếu đã làm nhiều thơ hơn Trần Đức Uyển. Rồi thơ đen, thơ chì của ông lại được in ra thành sách. Nên người ta biết đến Tú Kếu nhiều hơn Trần Đức Uyển là một điều tự nhiên. Nhưng, ký hai cái tên như thế, rõ ràng ông đã phân biệt hai công việc khác nhau. Ngoài thơ đen, thơ chì có bao nhiêu bài thơ ký tên Trần Đức Uyển, không ai biết rõ. Bởi vì, sau biến cố tháng tư 75, ông đã bị cộng sản bắt giam hơn 10 năm. Những ngày ở tù, những ngày còn lại sau đó, ông nghĩ gì, làm gì, cũng như hầu hết các nghệ sĩ ở miền Nam khi ấy, chỉ một mình ông biết. Ngoài sáng tác, Trần Đức Uyển còn dịch một số truyện ngắn ngoại quốc ra Việt ngữ, nhất là các bản dịch thơ Langston Hughes của ông được coi là rất đạt. Một vài bài thơ của Trần Đức Uyển, do bằng hữu của ông mang đi được, hay bằng cách nào đó, lọt được ra ngoài, cho thấy, ông có một hồn thơ trong suốt. Hình như hoàn cảnh đen tối không làm u ám tâm hồn ông.

Bài thơ “Buổi Chiều Ngồi Trên Đồi” của ông là một thí dụ:

Ngồi dưới gốc cây gõ ống trúc

Hứng thú nghêu ngao vài ca khúc

Trên cành lánh lót con chim xanh

Trời đất thu tròn trong khoảnh khắc

Gió cao lồng lộng hồn cao tĩnh

Ta ngao du khoái tỉ vô cùng

Trăng lên dây đàn tơ khẽ rung

Gió lộng nghe lòng thương bạn hữu

Biết gặp nhau chăng giờ lâm chung

Vài cánh chim đêm xoải vội vàng

Quanh mình trăng lụa nỗn mênh mông

Nằm đây đồi cỏ nghe trời rộng

Nghe cả chiều sâu của sắc không

Được biết Trần Đức Uyển sống ở Blao, vùng cao nguyên trồng trà gần Đà Lạt. Ông mất cách đây không bao lâu.

Những ngày cuối cùng ông bị chứng alzheimer. Hiển nhiên bệnh trạng của ông là nỗi khổ của gia đình ông. Nhưng rất có thể đó lại là điều may cho chính ông. Không ai ở trong những trại được gọi là “cải tạo” ra mà cả thể xác lẫn tâm hồn lại không bị thương tổn và dễ dàng quên được những gì đã xẩy ra với mình cùng những người chung quanh.

Có lẽ chỉ căn bệnh, cho đến hiện nay vẫn chưa có thuốc chữa ấy, mới giúp người ta xóa bỏ được ký ức chăng? Có thể coi những bài thơ cuối cùng của Trần Đức Uyển đã được viết giữa ranh giới nhớ / quên của ông và không vương một chút oán hận nào.

Người hỏi vợ anh đâu

Ta đáp không mà có

Nhân gian dưới trời sâu

Tỷ tỷ nằm trong mộ

Lại hỏi con anh đâu

Ta cười đang bú sữa

Thoáng sáu chục năm sau

Nó đã thành ông cụ

Lại hỏi nay đi đâu

Nơi vui không thiếu chỗ

Hãy cứ đi trên đường

Cất tiếng ca cùng gió

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 7 Oct 2025

82. Trần Dzoãn Nho.

Dặm Trường là một cố gắng của Trần Doãn Nho, thu nhỏ cuộc sống của chung tất cả những người ở miền Nam, kể từ sau biến cố 1975, vào một gia đình, vào một cuốn truyện. Đó là một gia đình trung lưu ở Huế. Cái gia đình ấy bắt đầu phải tìm cách tồn tại trong cuộc đổi đời. Vâng, đúng như vậy.

Biến cố 1975 là một cuộc đảo lộn hoàn toàn nếp sống của những người ở miền Nam. Giới thiệu cuốn Dặm Trường, Phạm Xuân Đài viết trên báo Thế Kỷ 21, số 150, ra tháng 10/ 2001 như sau:

“Chế độ toàn trị của một đảng, mọi con người, mọi sinh hoạt phải theo một cây gậy chỉ huy duy nhất, khác hẳn nếp sống kia. Nhưng đưa cả một xã hội loài người, nhất là một xã hội đã quen sống tự do và có ý thức về sự tự do ấy, vào một khuôn phép duy nhất quả là một chuyện không dễ. Dĩ nhiên phải xử dụng bạo lực khi muốn thực hiện một việc như thế, nhưng sự sống thực sự của con người cũng như của muôn loài-vốn có một sức mạnh tiềm tàng mà người ta gọi là bản năng sống còn, lúc nào cũng ngọ nguậy, tìm đủ mọi khe hở để vươn ra mà sống”.

Hạnh, nhân vật chính trong truyện, là biểu trưng cho cái sức cố ngọ nguậy mà sống đó. Là người đàn bà trước đây chỉ biết ở trong nhà trông nom nuôi nấng con cái, Hạnh phải bung ra ngoài đời đi buôn bán kiếm ăn. Vì người chồng ngụy sau 75 kể như không còn làm được việc gì ra hồn, ngoài công việc chẻ củi, xách nước, trông con … Nhất là sau mấy năm đi cải tạo về, gần như chàng chỉ còn biết ngồi nhìn sự bất lực của mình. Nhưng buôn bán gì đây, nếu không phải là những thứ hàng quốc cấm? Vì chỉ những thứ hàng ấy mới kiếm ra tiền: quế, chẳng hạn. Công việc hiển nhiên cần tới thế lực.

Nhưng những người như Hạnh lấy đâu ra thế lực, chỉ còn cách dựa vào thế lực của người khác.

Đó là cái triền dốc có thể thấy trước người đàn bà sẽ té. Trong một chuyến đem trầm từ Huế vào Sài Gòn, nhờ một người tài xế xe tải từ Hà Nội vào, cứu giúp, Hạnh đã thoát mất hết dấn vốn. Nhưng Hạnh đã phải trả ơn bằng chính thân xác. Đó là việc đáng sợ. Nhưng so với nỗi kinh hoàng mất hết dấn vốn, thì trả bằng cái giá nào cũng vẫn là nhẹ, nhất là lại đem so với thứ lễ nghĩa còn sót lại từ xã hội xa vời cũ, như cách nói của Phạm Xuân Đài.

Một nhân vật khác của cuốn truyện đã nói với Hạnh như thế này:

“Thời buổi này, cận đâu xâu đấy, gặp đâu làm liền đó. Bà xem, không có thời buổi nào mà mọi sự xoay đổi xoành xoạch như bây giờ. Mới vợ vợ chồng chồng đó, thoắt cái, bỏ nhau. Mạ mạ con đó, thoắt cái ở tù. Mới có mấy cây vàng đó, thoắt cái mất hết trơn, hết trọi. Có nghĩ có lo cho lắm cũng chẳng thấu đâu, Hạnh à. Bà hiền quá, cứ ru rú với chồng con, lại ở ngoài cái xứ Huế cổ chẳng ra cổ, kim không ra kim, nên chẳng hiểu chi sự đời”.

Lăn vào cuộc sống để hiểu sự đời như Hạnh cũng chẳng hay ho gì. Nhưng biết trước hay biết sau như thế Hạnh vẫn phải dấn thân vào. Vì đó không phải điều nàng muốn hay không muốn, mà mọi sự đưa đẩy đến chỗ nàng phải làm như vậy. Nàng phải gánh vác cả gia dình, cái gánh nặng trước đó hoàn toàn nằm trên vai người chồng. Chỉ cần nghĩ tới một yếu tố, người đàn bà phải lao mình trên những dặm trường, trong một xã hội xáo trộn, không luật pháp, hay đúng ra là luật pháp nằm trong tay những kẻ có quyền, với chút vốn sinh tử, lúc nào cũng có thể bị mất hết, với những sự bấp bênh, may rủi của những chuyến đi dài ngày không biết chắc lúc nào mới về nhà được, người ta đủ thấy cái nền tảng gia đình đã khó lòng mà giữ vững được rồi. Những gì Hạnh làm được và những gì nàng mất đi cái nào quan trọng hơn? Và ai là người đánh giá sự quan trọng ấy?

Dặm Trường ghi lại một giai đoạn lịch sử đắng cay, đặc biệt là nhân dân miền Nam, vừa trải qua. Nói vừa trải qua không có nghĩa là nó đã chấm dứt. Nó vẫn còn đang tiếp diễn. Trần Dzoãn Nho với một lối viết ngắn gọn đã kể lại sự thay đổi ấy. Ông cố gắng giữ sự trung thực, không làm cho nó vui hơn hay buồn hơn. Xen giữa những giọt nước mắt vẫn có những nụ cười. Cái cười có thể làm cho người ta khóc.

Và cái khóc có thể làm cho người ta cười. Cuối cùng, gần như việc phải đến đã đến, trong một chuyến buôn Hạnh đã mất sạch vốn. Lục, chồng nàng bị bắt vì giao du và nhậu nhẹt với đám bạn bè cũ, với tội ‘âm mưu chống chinh quyền cách mạng. Truyện kết thúc bằng cảnh Lục đi lao động trong rừng và làm tình với một người nữ tù, sau đó mới khám phá ra, người nữ tù ấy chính là Hạnh.

Người đọc không biết Trần Dzoãn Nho đã cố tình sắp xếp cuộc gặp gỡ có một chút gì siêu thực đó, hay chính các nhân vật đã một nửa mê sảng, cả cuộc đời cũng đã một nửa mê sảng.

Cũng như hầu hết các sách viết về đất nước, dù tác giả là người còn ở trong hay đã ra khỏi nước, tất cả chỉ còn lại những chuyện buồn.

Dặm Trường là một cuốn truyện hay, nhưng buồn.

Banco Papillon – Giang Hồ Tung Cánh

vietmessenger.com

Henri Charrière

Dịch giả: Đinh Bá Kha

Đời Mới xuất bản 1974

Post by Sơn râu 6 Oct 2025

Gơgle image edited by Sơn râu

15. Vụ Tôm Hùm – Vụ Đồng Phế Thải

LẠI trở về Caracas. Bây giờ là năm 1961, mười sáu năm đã trôi qua từ ngày tôi ra khỏi ngục thất El Dorado. Chúng tôi hoàn toàn hạnh phúc, sống vui vẻ, không có vấn đề gì quan trọng. Hoàn cảnh không cho phép tôi gặp lại gia đình tại Tây Ban Nha, nhưng các thư từ trao đổi đều đặn cho chúng tôi biết rõ đời sống của mỗi người.

Ở Caracas, cuộc sống về đêm đã thay đổi rất nhiều, nên mua lại một cơ sở lành mạnh, đẹp đẽ và quan trọng như quán rượu “Le grand Café” tôi đã bán, là một việc làm trên khả năng của chúng tôi, vả lại, cũng không thể nào kiếm ra, lại càng không thể tạo dựng một cơ sở như vậy. Vả lại, một đạo luật lố bịch cho rằng chủ nhân các quán rượu, các tiệm bán rượu mạnh là những người làm băng hoại luân lý công cộng, do đó đã mở cửa cho mọi thứ lạm quyền, lợi dụng của một số viên chức; tôi không muốn chui đầu vào chịu trận.

Phải kiếm một chuyện gì khác. Tôi tìm ra, không phải một mỏ kim cương, mà một mỏ tôm hùm. Cũng tại Maracaibo.

Chúng tôi ở một căn nhà rất đẹp, tôi mua một khoảnh bãi biển và thành lập một công ty lấy tên “Capitan Chico”, tên của khu phố có bãi biển của tôi. Cổ đông duy nhất, Henri Charrière. Đệ nhất cộng sự viên, Rita.

Thế là chúng tôi dấn thân vào một cuộc phiêu lưu kỳ lạ. Tôi mua mười bảy chiếc thuyền đánh cá. Đó là những chiếc ghe lớn trang bị một máy bo-bo năm mươi mã lực và một giàn lưới hai trăm năm mươi sải. Mỗi chiếc thuyền có năm thủy thủ. Một chiếc thuyền trang bị đầy đủ giá mười hai ngàn năm trăm đồng, có đến mười bảy chiếc cũng bộn bạc.

Chúng tôi sống mãnh liệt. Tạo đời sống quanh mình, cải biến nhiều thôn xóm, quét sạch nghèo đói, xóa bỏ tính không thích làm việc do tiền công hậu hỉ, làm tan biến thói lười biếng bằng một nếp sống mới, đó là những việc tôi thực hiện rất lẹ trong các xóm ngư phủ trên bờ hồ, đặc biệt là tại San Francisco.

Hạng dân nghèo ấy không có một tài sản nào hết, chúng tôi cho mỗi nhóm năm người một giàn lưới mà không cần bảo đảm. Họ tự do đánh lưới và chỉ cần cam kết bán tôm hùm cho tôi với giá trong ngày trừ 0,50 đồng bởi vì tất cả ngư cụ và phí tổn bảo trì về phần tôi phải chịu.

Công việc tiến hành tốt đẹp, tôi mê quá. Chúng tôi có ba chiếc xe vận tải có máy ướp lạnh, không ngớt chạy quanh các bãi biển để thu nhặt những gì các chiếc thuyền đã lưới được và cả những hải sản do các ngư phủ khác bán cho người nào mua được giá.

Tôi cho xây trên hồ một cầu tàu dài hơn ba mươi thước, và một cái nền lớn che kín. Tại đây Rita điều khiển một đoàn từ một trăm hai mươi đến một trăm bốn mươi phụ nữ gỡ ruột và bứt đầu tôm. Sau khi rửa đi rửa lại bằng nước lạnh, tôm được sắp theo trọng lượng. Có khi một kí tôm từ mười đến mười lăm con, có khi hai mươi đến hai mươi lăm hoặc hai mươi lăm đến ba mươi con. Tôm càng lớn càng đắt tiền. Mỗi tuần, tôi tiếp từ Hoa Kỳ gởi qua một tờ giấy xanh, cho biết giá tôm hùm mỗi thứ ba. Mỗi ngày, ít nhất có một chiếc DC. 8 bay đi Miami, chở 24.800 kí, đôi khi hai chiếc mà một trong hai chiếc là một DC. 4 chở 12.400 kí.

Tôi có thể kiếm được nhiều tiền nếu một hôm tôi không làm cái chuyện ngu ngốc là nhận cho một thằng Mỹ hợp tác. Mặt nó tròn như trăng rằm, vẻ hiền lành, ngốc và lương thiện. Nó không nói được tiếng Tây Ban Nha, cũng không nói được tiếng Pháp, còn tôi thì không nói được tiếng Anh, nên chúng tôi không thể cãi nhau.

Thằng Mỹ ấy không bỏ vốn, nhưng nó có thuê máy ướp lạnh của một hãng nước đá tên tuổi được bán khắp Maracaibo và vùng ngoại ô. Tôm ướp lạnh bằng máy ấy tuyệt hảo.

Thế là tôi phụ trách việc đánh cá, việc canh chừng các chiếc thuyền, việc tiếp nhận ngư sản trong ngày với ba chiếc xe vận tải có máy lạnh của tôi và trả tiền thẳng cho các ngư phủ, như vậy là tôi cung ứng một mình các số tiền khổng lồ. Có ngày tôi đi ra bãi bọc theo ba mươi ngàn đồng, khi về nhà không còn một xu.

Tất cả chuyện ấy được sắp đặt chu đáo, nhưng không có việc gì làm một mình được, nên luôn luôn phải tranh đấu với các ngư phủ của chính tôi cũng như với các ngư phủ lưu manh.

Ngư phủ là hạng người tánh bổn thiện. Họ ham làm việc vì ham tiền. Nhưng tiền làm ra ấy đã được dùng không đúng cách nên nếp sống của họ vẫn khiêm tốn. Không biết có phải vì họ khôn hay không, nhưng họ không thấy cần phải sửa sang nhà cửa, sắm bàn ghế, có một nhà bếp hay một phòng ngủ ra hồn. Mặc dù tôi đem hết tài hùng biện giải thích cho họ hiểu tất cả lợi ích của sự sửa sang ấy, vẫn còn một căn bản lười biếng cố hữu không cách gì lay chuyển nổi. Thật đáng tiếc, nhưng dù sao tôi cũng đã là cha đỡ đầu của rất nhiều đứa trẻ!

Tai hại nhất là bọn mua tôm lưu manh. Như đã nói, tôi đã thỏa thuận với các ngư phủ dùng ngư cụ của tôi rằng tôi mua ngư sản của họ theo giá trong ngày trừ 0,50 một kí, điều ấy rất phải chăng. Bọn mua tôm lưu manh không có gì phải lo hết. Chúng không có thuyền, chỉ có một máy ướp lạnh mà thôi. Chúng đến bãi biển, mua tôm của bất cứ ai. Một chiếc thuyền có 800 kí tôm, thêm 0,50 đồng một kí, thế là có một sai biệt 400 đồng giữa số tiền do tôi trả với số tiền bọn lưu manh trả cho các ngư phủ của tôi. 400 đồng chia cho năm người, thành ra mỗi ngư phủ được thêm 80 đồng. Phải là thánh mới không ham. Vì vậy, gặp dịp là bọn ngư phủ của tôi nhận bán cho thằng mua lưu manh. Tôi phải bảo vệ quyền lợi của tôi hầu như cả ngày lẫn đêm, nhưng tôi thích công việc tranh đấu ấy.

Khi chúng tôi gởi tôm hùm đi Hoa Kỳ, người ta trả bằng tín dụng thư sau khi xem tài liệu về việc gửi hàng tại ngân hàng cùng với chứng thư kiểm phẩm chất và tình trạng đông lạnh hoàn hảo của món hàng. Ngân hàng trả 80% trên tổng giá, số 15% còn lại được lãnh 72 giờ sau, một khi hàng được nhận và kiểm soát tại nơi đến, với ý kiến từ Miami đến Maracaibo.

Nhiều lúc gặp ngày thứ bảy, khi chở tôm bằng hai phi cơ, người hợp tác với tôi đi theo hàng trên một chiếc. Ngày đó cước phí tăng mỗi kí năm trăm Mỹ kim và tại Miami nhân công bốc dở không đi làm. Phải có người của mình tại chỗ để cho xuống bằng những nhân công đặc biệt, rồi cho lên xe có máy ướp lạnh, đưa đến xưởng của người mua ở Miami hoặc đến Tampa hay Jacksonville. Vì ngày ấy các ngân hàng đóng cửa, không cách gì vận dụng tín dụng thư, cũng không có bảo hiểm nốt. Nhưng qua sáng thứ hai, tại Hoa Kỳ, tôm bán đắt hơn từ mười đến mười lăm phần trăm. Nghiệp vụ này lời nhiều.

Công việc tiến triển tốt đẹp và tôi hân hoan về những chuyến buôn do người cộng tác với tôi đi theo các phi cơ ngày thứ bảy. Cho đến một ngày nó đi không về.

Vì thiếu hàng, như thường xảy ra trong các tháng hồ ít tôm hùm, tôi thuê một chiếc tàu lớn ở Punto Fijo, một hải cảng, và tôi đi Los Roques để mua cả một tàu tôm hùm hảo hạng. Tôi trở về với đầy đủ hàng cần thiết. Đến nơi tôi cho bứt đầu tôm. Thế là tôi có một chuyến hàng rất đắt tiền, toàn là thân tôm hùm cân nặng từ một kí hai trăm đến một kí ba trăm, thứ tốt nhất.

Rồi một ngày thứ bảy nọ, hai chiếc DC. 8 chở đầy thân tôm hùm, do tôi trả tiền thuế, tiền cước phí cùng các chi phí khác, cất cánh với thằng khù khờ hợp tác với tôi và biến mất trong mây.

Thứ hai không tin tức, thứ ba cũng vậy. Tôi đến ngân hàng, từ Miami không có gì gởi đến, tôi không tin nhưng tôi đã biết: tôi bị gạt. Vì các tín dụng thư do cái thằng hợp tác với tôi sử dụng và ngày thứ bảy không có bảo hiểm, nên nó đã bán tất cả chuyến hàng khi đến nơi và ôm tiền bỏ trốn.

Tôi nổi một trận lôi đình kinh khủng rồi tôi đi Hoa Kỳ để tìm cái thằng mặt mẹt, trong lưng tôi dắt theo một con chó lửa. Tôi tìm ra dấu vết nó, điều này không khó, nhưng tại mỗi nơi, chỉ thấy một người đàn bà xưng là vợ chính thức của nó, không biết chồng đi đâu. Như vậy đến ba lần, trong ba thành phố khác nhau! Tôi không bao giờ tìm lại được thằng đã hợp tác đáng quí ấy.

Tôi không còn một đồng. Chúng tôi bị mất một trăm năm chục ngàn mỹ kim. Đành rằng còn mấy chiếc thuyền, nhưng thuyền cũng như máy móc không còn tốt lắm. Vả lại, nghề này hằng ngày cần rất nhiều tiền để hoạt động, chúng tôi không thể tiếp tục, cũng không thể đứng lên được. Gần khánh tận, chúng tôi bán tất cả. Rita không phàn nàn một lời nào, cũng không trách tôi đã quá tin người. Vốn của chúng tôi, số tiền dành dụm của mười bốn năm lao lực, cộng với hai năm hy sinh vô nghĩa và cố gắng liên tục, hầu như mất tất cả.

Khóc không ra nước mắt, chúng tôi từ bỏ đại gia đình ngư phủ và nhân công do tôi tạo lập ra. Họ cũng kinh ngạc và biểu tỏ nỗi đau xót thấy chúng tôi ra đi và cảm tạ chúng tôi, trong hai năm, đã đem lại cho họ một mức sống khá giả hơn trước.

Trở về Caracas. Chúng tôi ở tại một căn nhà xinh xinh, không xa quán rượu “Le grand Café”, ngay giữa khu Sabara Grande.

Làm gì bây giờ?

Không còn vốn để mua lại một cơ sở kinh doanh. Phải tìm ra một cái gì.

Tôi được biết có một nhóm người ngoại quốc kiếm mua tất cả loại đồng điện giải phế thải, số lượng bao nhiêu cũng được. Vụ này khá tế nhị vì loại đồng ấy được kể là nguyên liệu chiến lược. Trong tất cả các nước Nam Mỹ, nguyên liệu ấy do người Hoa Kỳ kiểm soát để cho nó khỏi lọt qua bên kia bức màn sắt. Ở Venezuela, cơ quan phụ trách kiểm soát là cục quân tiếp vận. Theo các người mua, hiện ở Venezuela có một số lượng đáng kể không sử dụng, vì Venezuela không có các phương tiện kỹ nghệ để biến chế. Họ biết hầu như không thể nào đưa số đồng ra nước ngoài, vì phải cần giấy phép xuất cảng chỉ được cấp sau khi quân đội thỏa thuận hoặc ít ra một văn kiện không cản trở việc cấp giấy phép xuất cảng.

Thế là bắt đầu một câu chuyện ly kỳ nhất đời tôi.

Tôi tiếp xúc với các nhóm người mua đồng và cho họ biết tôi là người có thể làm việc này. Sau vài lần tiếp xúc, tôi liền được họ mở tín dụng thư cần thiết để hoạt động, bởi vì trước kia khi đi vận động này nọ, tôi phải được bảo đảm rằng sau khi có kết quả, họ có sẵn những triệu mỹ kim cần thiết. Và số lượng được đưa đến, dĩ nhiên là do họ đứng tên.

Tôi bắt đầu ngay và tiếp xúc hết người này đến người khác. Từ mọi nơi người ta chịu cung cấp những số lượng quan trọng đồng phế thải. Người thì biết có một dây cáp ngầm dưới biển không dùng nữa được đem giấu trong kho, theo họ, quí đến nỗi, kho ấy do lính vệ quốc canh giữ mà không biết trong kho có gì. Người gạ bán giải thích rằng người điểm chỉ vụ này có cho một chi tiết quí giá: dây cáp được chặt ra từng khúc, để vào trong những chiếc thùng cũ, trên mặt thùng có đề gang và sắt phòng khi xuất cảng sẽ khai đó là sắt vụn cũ, thế là hợp pháp.

Một nhà buôn khả kính người xứ Latalogne có một đứa con rể làm tại Công ty Điện lực. Công ty này có hàng ngàn cây số đường cáp cao thế cũ bằng đồng, đã được thay thế bởi những dây cáp bằng một kim loại khác. Theo ông ta, khi nào tôi muốn là có ngay, giá rẻ, trả tiền mặt. Khắp bốn phương tám hướng xứ Venezuela đều có hàng đống đồng, cất giấu rất kỹ, chỉ còn chờ người mua.

Mỗi người bán giữ kỹ bí mật về nguồn gốc của mình, vì thường thường chính người ấy chỉ là trung gian của người mua khác. Thế nên, tuy đa số họ ngay tình, nhưng họ chỉ cho những chi tiết mơ hồ, không bao giờ cho biết tên và không nói đến người bán cho họ. Tất cả đều cơ sở trên lòng tin nhau. Phải cần có các hàng rào im lặng.

Tôi rất quỷ quyệt, tôi mua chịu lương tri của thiên hạ (cũng còn là điều may), khi thì để lâm thời được cấp giấy phép xuất cảng, khi thì để các hội đồng quản trị các Công ty hứa chắc chỉ bán cho tôi mà thôi.

Tôi đã phải đem hết tài năng, thì giờ, tiền bạc, còn lại sau vụ buôn tôm thất bại. Tiền dùng để trả các lần di chuyển, trả tiền thuê nhà đã đến hạn hơn một năm rồi, trả tiền rượu chát, rượu whisky và những bữa ăn thịnh soạn thiết đãi mọi người như một tay tài phiệt.

Tôi tổ chức các cuộc họp, mỗi người gay gắt bảo vệ những triệu mỹ kim sẽ về phần mình. Cách hưởng lợi tức tương lai vừa quan trọng vừa phức tạp. Có những bữa ăn và những phiên họp bí mật với những người mua đồng thiếu kiên trì. Lại có những bữa ăn và những phiên họp bí mật hơn nữa với những người bạn của những người bạn có những người bạn có thể cấp giấy phép xuất cảng của Bộ sở quan. Có người trung gian đề nghị một hải cảng bốc hàng, ở đó anh ta muốn làm gì cũng được: người ta sẽ nhắm mắt, đồng sẽ trở thành chì, gang hay sắt vụn. Người ta tính giá chuyên chở, tôi kết luận phải có một hải cảng cho mỗi vùng. Về phía đông có Guanta, về phía tây có Maracaibo. Tóm lại, càng tính toán với các người mua, càng phải chi tiền, càng nhận thấy khối lượng mỹ kim hàng triệu sẽ được chia rất trọng đại.

Tôi gần thành công. Sau bữa cơm bất hủ do Rita thết đãi mà đến nay một vài thương gia tên tuổi ở Caracas còn nhắc, tôi đã cùng những người bán hoàn thành các chi tiết của vụ này. Tất cả mọi việc đều được tính kỹ. Mỗi người đã ghi cẩn thận số lượng hàng trăm tấn đồng sẵn sàng cung cấp và thảo luận số tiền hoa hồng của mình. Ngày giao hàng được ấn định, cách gói ghém cũng được nói rõ.

Thế là, tứ phía mọi việc đã qui định như một sổ giấy chép nhạc, chỉ còn chờ một sĩ quan Venezuela xác nhận tôi phải làm cách nào để cho các cơ quan liên hệ của quân đội đừng cản trở việc Bộ sở quan cấp giấy phép xuất cảng. Tôi đưa cho viên sĩ quan hồ sơ gồm số lượng, phẩm chất và xuất xứ của khối lượng đồng.

Ngày hôm sau, mọi việc nổ tung. Viên sĩ quan gọi điện thoại cho tôi:

– Bạn ơi, tôi rất đau lòng báo cho bạn biết bạn bán một số đồng nhiều hơn khối lượng đồng hiện có tại Trung Mỹ và Nam Mỹ cộng lại.

Sao lạ thế này? Thằng này điên chắc? Hay nó không muốn lo việc này? Nó cho là bất lương, nguy hiểm? Vì có đồng kia mà! Không thể nào khác! Không lẽ bao nhiêu người ấy đều nói dối cả sao? Nhưng tối lại, nó đến nhà và với tài liệu trong tay, nó cho tôi nhiều bằng chứng không thể cãi được. Tôi không còn gì nghi ngờ về sự thực thê thảm.

Tôi đã quá tin những người bán, những người này tin những người bán cho họ, thường là trung gian giữa cái vòng trước và cái vòng cuối của dây chuyền. Nhưng thường thì đến vòng cuối cùng, đồng chỉ có trong óc tưởng tượng của người bán. Nhiều khi nó làm mồi để thương lượng một vụ khác. Chính anh người Catologne bị lừa như vậy, thế mà người Catologne rất thừa lanh lợi đấy nhé! Người ta làm cho anh ta mua ba tá máy đông lạnh hư hỏng, cho không cũng không ai thèm lấy, vì người ta gạ cho anh thấy một vụ thứ hai: chắc chắn sẽ mua được ba mươi tấn đồng phế thải. Một người bán khác, người Hung, cũng vì hy vọng như vậy mà đem cán cuốc về chất đầy nhà. Từ ngày ấy, anh ta quay mặt khi thấy mấy người phu lục lộ.

Tôi đưa các người bán vào chân tường, nhưng đã quá trễ. Đáng lẽ trước kia tôi phải bắt đầu từ đó. Đi ngược đường dây, những tấn trở thành kí, nhiều khi còn ít hơn. Tại một nơi đáng lẽ có một kho nhiều đồng ghê gớm, tôi chỉ thấy một đống nhỏ đầu đạn súng cối đã dùng trong các kỳ tập bắn, thế thôi. Đường cáp dưới biển không bao giờ có, dây điện cao thế cũng vậy, đường dây hư hỏng của các Công ty dầu hỏa này nọ cũng không có.

Tình hình rất nghiêm trọng, tôi từ trên trời rớt xuống; từ hơn một năm, tôi đã xài gần hết số tiền còn lại vì tin rằng tương lai sẽ được bảo đảm.

Thực ra, chỉ có một việc có thật, đó là những người mua. Đối với họ, tôi cũng không thể bồi hoàn các chi phí khổng lồ về việc chuyển tiền và mở tín dụng thư. Họ không làm gì rắc rối lắm, họ biết tôi đã làm như vậy vì ngay tình và chỉ phạm một lỗi lầm: tin vào những người kia, toàn là những nhà buôn lương thiện.

Khỏi cần diễn tả tâm trạng của tôi lúc bấy giờ. Trong không đầy hai năm, tôi bị lường gạt hai lần. Một lần bị thằng Mỹ mặt tròn như trăng rằm, rồi đến bọn con buôn trưởng giả tự cho làm gì cũng hay. Trên thực tế, chỉ là một bọn không làm được gì hết!

Tôi giận tôi quá đỗi nên nổi lên la hét om xòm trong phòng ăn:

– Từ nay không bao giờ chơi với bọn lương thiện, chúng chỉ tổ ăn gian nói dối! Trong tương lai chỉ chơi với bọn lưu manh chính cống! Ít ra với bọn này, mình còn biết nên làm gì!

Vết Nám – Hồi Ký Tù Cải Tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 22 Mar 2015

Post by Sơn râu 6 Oct 2025

Hai Bà Trưng, Hai Bà Triệu

Bài 14

Khi về trại Suối Máu, mỗi tối chúng tôi đều được xem TV. Đời tù buồn tẻ, được xem TV, dù chỉ là tuyên truyền, nhiều người cũng thấy vui.

Cứ hai ba đội chung tiền nhau mua một cái TV, dĩ nhiên TV cũ, giá rẻ. Tuy cũ, nhưng TV cũng còn tốt, ít khi xảy ra “sự cố” bất thường nên cũng không đến nỗi bực mình. Nếu TV có nổi chứng, chỉ lằn ngang lằn dọc thì có “Hoàng chấm phết”, chuyên viên của chúng tôi sửa chữa. Qua bàn tay rành rọt của anh, TV lại hoạt động bình thường. Gọi là “Hoàng chấm phết” vì anh bị thương ở một chân nên đi đứng không bình thường.

Bộ đội dành một gian trong các gian nhà tôn để làm nơi xem TV. Nhờ đó, dù trời mưa, chương trình xem TV cũng không có gì trở ngại.

Cái TV để ở đầu gian nhà, trên một cái kệ cao, quay mặt về hướng trống. Dĩ nhiên phòng xem TV không có ghế. Mỗi người đi xem tự đem theo một cái đòn hoặc một cái ghế xếp tự mình đóng lấy hay của ai cho. Có người khéo tay, đóng một cái ghế xếp có lưng dựa, ngồi dựa ngữa mà xem cũng thoải mái chán. Cơm chiều xong, điểm danh xong, bảy giờ tối chương trình TV bắt đầu thì anh em tụ lại phòng TV để xem. Có khi vào đó thì người ta ngồi dầy đặc, nhất là ở những chỗ tốt, vừa tầm xem và nghe được rõ. Có anh đến sớm hơn nhưng nhiều khi người ta đã đặt ghế, đặt đòn dày đặc để xí phần.

Khoảng mùa hè năm 1976, sau khi “Hội Nghị Hiệp Thương Thống Nhất” họp ở rạp Rex Saigon xong màn trình diễn, đội bóng tròn Tổng Cục Đường Sắt ở Hà Nội vào Saigon đá trận đầu tiên để “mừng thắng lợi”. “Mừng thắng lợi” là do quản giáo nói như thế, và trại cho phép mở TV để xem đài truyền hình Saigon trực tiếp chiếu cho xem trận đấu. Dân ghiền bóng đá bắt đầu bàn tán xôn xao, nhiều ông làm “thầy bàn”, làm “tham mưu”. Có người nói:

– “Xem làm mẹ gì! Làm sao mà Saigon thắng được Hà Nội, có chỉ thị rồi. Cái gì xã hội chủ nghĩa cũng “ưu việt”. Đã ưu việt thì miền Bắc không thể thua miền Nam. Coi làm gì cho bực mình.”

Lê Thành Công, bạn tôi, nói đùa:

– “Cứ coi việc đi ỉa cũng đã thấy ưu việt rồi. Ỉa xong còn hốt đem bón rau. “Hiện đại” lắm đó nhá.”

Tuy có người nói thế nhưng cũng lắm người xem. Mới cơm trưa xong, “Hoàng chấm phết” đã loay hoay dời TV ra cửa giữa bên hông nhà, hướng TV ra khoảng sân trống giữa hai gian nhà. Người ta đoán chắc trận nầy, anh em xem TV đông lắm. Đưa TV ra cửa hông để rộng chỗ anh em ngồi xem.

Một số anh em khác thấy chỗ đặt TV chói nắng bèn lấy hai ba cái poncho nối lại với nhau làm màn che cho tối bớt, dễ thấy hình trên TV hơn.

Ba giờ chiều trận đấu mới bắt đầu nhưng mới hơn 1 giờ, chỗ sân bóng xem TV đã dày đặc người và đòn, ghế. Có người đặt ghế rồi, nhưng vẫn không yên tâm sợ người ta dời mất chỗ bèn ra ngồi ngay chỗ cho yên tâm. Người lui tới nói cười xôn xao.

Ồn ào nhứt là cựu Đại úy Trương Văn Tuyên, hiện ở Montréal.

Ông nầy người Bắc di cư, xuất thân Quốc Gia Hành Chánh, bị động viên, trước kia, khi còn mang “lon” trung úy, đã có thời làm quận trưởng một quận ở Quảng Ngãi, đánh nhau với Việt Cộng khá dữ, “nợ máu”, – nói theo theo kiểu Việt Cộng -, cũng không ít; nói theo kiểu người miền Nam thì anh ấy là “anh hùng diệt Cộng”. Tuyên thuộc loại bạo phổi, học tập không chịu “giác ngộ”, hễ nói tới Dziệt Công thì anh ta đã kích ào ào, đếch sợ thằng ăng-ten nào cả. Giữa sân xem đông người, anh ta cứ oang oang.

– “Coi thì coi nhưng tao chắc chắn là đội Quan Thuế không được thắng. Có lệnh rồi đó, hễ thằng nào đá lọt banh vào “gôn” tụi Hà Nội là có giấy gọi đi học tập cải tạo ngay. Đ.m. Ngu hay sao mà thắng để rồi đi ở tù.”

Có người góp ý, giả bộ hỏi để anh ta nói nghe cho vui:

– “Trận nầy có Tam Lang. Ông liệu Tam Lang có dám đá hết mình như thường lệ không?”

Giọng Tuyên cứ oang oang:

– “Dám! Thằng nầy đứng tiền vệ hay lắm. Nhưng trận nầy, bọn Bắc Kỳ đem banh xuống, nó đứng qua một bên mà  nói “Xin mời ông đá vào “gôn” dùm chúng cháu.”

Có người nói:

– “Tụi nó là Bắc Kỳ! Còn anh là gì! Bắc kỳ cục chắc!”

Mọi người cười ồ!

Tuyên cố giải thích:

– “Tao đâu có Bắc Kỳ mầy. Tao là… “Rân Ri Cư”. Anh ta cười, nói đùa.

Nguyễn Hoàng Trương, dân Bình Định, cùng đội với tôi, nói thật to cố ý cho mọi người nghe:

– “Nó là cam Bố Hạ thành bưởi Biên Hòa rồi.”

Thiên hạ lại cười.

Khi vào trận được ít phút, đội Đường Sắt đem banh xuống, Tam Lang ra chận, lại hỏng, Trương Văn Tuyên la toáng lên:

– “Đ. mẹ thằng Tam Lang. Thấy không! Thấy không! Nó đâu có dám chận banh. Có chỉ thị rồi!”

Bên đội Đuờng Sắt, có Điểm, mang số 7, chạy biên khá nhanh. Anh ta đem banh xuống nhanh bên cánh trái, ai nấy hồi hộp, lại nghe Trương Văn Tuyên la to lên:

– “Chặt giò thằng ấy đi. Thằng đó nguy hiểm lắm.”

Vừa nghe, anh em vừa cười vì những câu nhận xét của “Nhà bình luận bóng đá chống Cộng Trương Văn Tuyên”. Đá càng lâu, người xem càng thấy chán vì trận đấu không cân sức, coi như một bên thì đá thẳng cẳng, đá bạo, ăn hiếp, đá kiểu “chém đinh chặt sắt”, một bên thì bị trói chân mà còn sợ gọi đi “cải tạo”.

Sự việc diễn ra lộ liễu quá khiến người ta thấy khó chịu, bất mãn. Số “bình luận gia bóng đá kiểu Trương Văn Tuyên” càng lúc càng đông, khiến cho chỗ ngồi xem càng thêm ồn ào như cái chợ. Khi có một đường banh Saigon bị thua hay mất banh một cách vô lý thì nhiều tiếng ồ đồng loạt vang lên kèm theo những tiếng chưởi tục.

Tới 5 giờ trận đấu kết thúc, Saigon thua một bàn. Mọi người chán nản ra về, uể oải, mệt mỏi và buồn bực. Đâu đâu cũng nghe những lời bình luận khách quan có, chủ quan cũng có nhưng không thiếu khôi hài. Xem một trận banh, sự dàn xếp có tính chính trị hiện ra một cách quá lộ liễu, trắng trợn. Điều ấy chạm đến lòng tự ái của người miền Nam, những kẻ thua trận, cọng thêm với thân phận tù, người ta thấy qua đó, ngày về xa hơn, buồn hơn!

Cũng tại cái sân đó, sau khi mọi người ra về hết, trở thành nơi anh em đội tôi ngồi ăn chiều mỗi ngày. Trong bữa ăn, dư âm trận đấu bóng đá vẫn còn, nhiều anh em lại bàn bạc sôi nổi.

Tôi đang ngồi ăn chung với Nguyễn Thụy Hiền, nói to cho nhiều anh em cùng nghe:

– “Đ. m. Con tau sau nầy nhứt định tau không cho nó làm cầu thủ đá banh.”

Trần Phú Trắc, ngồi cách tôi hơi xa, nói:

– “Bộ anh thấy đá banh như hồi chiều nên anh chán chớ gì?”

Tôi cười:

– “Đâu phải lý do chính trị. Ông coi có thằng cha nào đá banh mà người ta gọi bằng anh hay bằng ông không. Giữ “gôn” hay là “thằng Rạng”, tiền vệ hay là “thằng Tam Lang”, tiền đạo hay là “hằng Đức”, “thằng Vinh”. Có ai gọi “ông Tam Lang”, “ông Rạng đâu”. Tau đâu có muốn người ta gọi con tau bằng thằng.”

Mọi người cùng cười.

Họa sĩ Nguyễn Uyên nói:

– “Ông không đá bóng, người ta cũng gọi ông là “thằng điện chạm vậy!”

Mọi người lại cười to.

Hiền nói:

– “Vậy nhưng mấy ông ấy là thần tượng của đám trẻ con đó. Mấy chả đi đâu, bọn trẻ chạy theo rần rần. Đứa nào nắm tay “anh Rạng” yêu mến của chúng được một cái là tối ấy nằm ngủ mơ.”

Tuyên cười, hỏi:

– “Ông cũng từng nằm mơ hay sao mà ông rành vậy?”

Một hôm, TV chiếu vở tuồng “Cô gái và người lái xe”, Tú Trinh đóng vai cô gái. Xem phim, tôi dè chừng Trần Phú Trắc chưa quên người cũ, bèn nói đùa với Trắc:

– “Bữa nay không có Khả Năng nên không có ai ôm Tú Trinh mà run nữa nghe!” (1)

Trắc trả lời tôi, cười mà như mếu:

– “Thôi mà anh! Phận mình bây giờ là tù rồi!”

            Lúc ấy, chúng tôi chưa biết Khả Năng cũng đi “tù Cải Tạo”.

Tự nhiên tôi thấy buồn, nói với Trắc và Hiền:

– “Hai tiếng phận tù làm người ta đau lòng lắm! Bao nhiêu tình đời tới một chữ tù thì coi như năm sáu chục phần trăm “thuyền ra cửa biển”.

Lại một hôm xem vở tuồng “Gánh Cỏ Sông Hàn”. Vốn không thích cải lương, nhưng chúng tôi tối tối cũng đi xem TV để giết thì giờ. Hôm sau, đi cuốc đất ngoài suối, phía trước cổng trại Suối Máu để trồng rau muống, chúng tôi vừa gom cỏ đem đốt, vừa nói đùa với nhau: “Bữa nay “Gánh Cỏ Sông Hàn” nha!”

Trung úy Đoan, Dziệt cộng, quản giáo, người dẫn chúng tôi đi cuốc đất nói:

– “Các anh nói “Gánh Cỏ Sông Hàn” là nói con ngựa không quên chủ cũ chứ gì?!?”

Chúng tôi nhìn nhau, không nói gì. Trên đường về, Trắc đi bên cạnh tôi, lúc trung úy Đoan ở xa xa, bèn nói:

– “Anh thấy không! Mình thì nói chơi mà tụi cán bộ Cộng Sản thì sâu sắc vậy đó.”

Chương rồng (2) cười cười ý nhị:

– “Thiếu sâu sắc chính trị cũng là một lý do để mất nước đó ông ơi!”

Sau khi hái rau đợt 1 (Cộng sản gọi là thu hoạch), Chương rồng, tổ trưởng, biểu chúng tôi cuốc vào bên hông gốc rau rồi cạy vừa cho gốc rau vừa bị bứng nhẹ lên một chút, xong hạ gốc xuống và tưới nước lên. Quản giáo Đoan hỏi tại sao làm như thế, Chương rồng giải thích:

– “Cuốc cho rễ rau bị đứt một chút thôi. Vì đứt, rễ rau sẽ mọc rễ mới, như cành cây bị chặt nó sẽ nẩy ra chồi mới vậy. Nhờ thêm rễ, rau sẽ mọc mạnh.”

Nghe giải thích, quản giáo Đoan phải nói: “Các anh thông minh thật! Tôi làm nông nghiệp nhiều nhưng chưa nghe ai lý luận như anh.”

Tới ngày hôm sau nữa, đang tưới rau thì có lệnh tập trung về sớm. Quản giáo Đoan phát hiện anh Quang nhân khi đi tưới rau hôm nay, đã trốn trại. Trong khi chúng tôi tập trung chuẩn bị ra về, quản giáo Đoan đi dọc bờ suối, hy vọng Quang có núp vào bờ suối nào đó không. Chương rồng thấy vậy, nói:

– “Thằng Quang nó không ngốc như anh bộ đội nầy đâu. Nó lên xe lam đi Biên Hòa lâu lắm rồi, khi tụi mình còn cuốc rau kia.”

Quang, gốc Trinh sát Dù, đâu có trốn trại theo kiểu quản giáo Đoan nghĩ. Anh ta chuẩn bị khá kỹ. Sáng hôm nay, đi tưới sau, trời hơi lạnh, Quang mặc hai áo. Trong là cái áo trắng, ngoài áo trận. Vừa mới tản hàng, Quang xin “đi ngoài” bên kia suối. Một chốc, anh ta lại xin “đi ngoài” lần thứ hai. Lúc nầy, ai cũng lo làm việc. Quản giáo Đoan đang theo dõi chúng tôi cuốc đất. Quang từ bên kia suối, đi thẳng ra hướng Quốc lộ 1. Gần tới nơi, anh ta cởi cái áo trận dấu dưới bụi lau rồi bước ra bên đường, xe lam Hố Nai – Biên Hòa trờ tới, anh ta nhảy vội lên xe, như một người khách đi đường. Xe chạy mất.

Thế là xong. Vài anh em thấy Quang trốn, chận xe, lên xe rõ ràng nhưng không ai hô hoán, chờ tới khi trên đường về trại mới kể cho nhau nghe!

Gần tới trại, khi quản giáo ở phía sau khá xa, Chương giải thích:

– “Dân biệt kích. Tụi nó học biết bao nhiêu khóa, đánh bao nhiêu trận, mấy bộ đội lớ ngớ nầy, bị qua mặt dễ như không!”

Có nhiều lần trên chương trình TV mấy ông Việt kiều, phần đông ở Pháp, về thăm quê hương nói chuyện với đồng bào. Ông nào giọng điệu cũng giống nhau, cũng “nhân dân ta anh hùng”, “đảng ta vinh quang”, “kiên cường đánh Pháp, đuổi Mỹ”, v.v…

Hôm ấy, có ông họa sĩ Lê Bá Đảng, (3) quê ở Quảng Trị, nghe nói rời đất nước hồi còn trẻ, đi lính Tây, lính thợ gì đấy; ngày xưa, khi tôi còn nhỏ thấy người ta gọi là lính ONS (Ouvrier-Non-Special). Ông họa sĩ Lê Bá Đảng cũng lên TV, ca ngợi Cộng Sản, ca ngợi nhân dân ta, v.v… Ông ta nói:

– “Nước ta có nhiều anh hùng như Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Hai Bà Trưng, Hai Bà Triệu…”

Có lẽ ông ta lịu miệng mà nói Hai Bà Triệu chớ không đến nỗi dốt mà cho rằng lịch sử có tới những Hai Bà Triệu.

Nguyễn Thụy Hiền, nguyên là học sinh chương trình Pháp, không rành lịch sử Việt Nam, ngồi bên tôi thật thà hỏi:

– “Anh Hải, anh dạy sử địa biết nước ta làm gì có hai bà Triệu?”

Tôi chưa kịp trả lời thì “thầy đồ Nho” Trần Hưng (4), dân “Bình Định hay lo”, cựu đại úy, nói đùa:

– “Có chớ sao không. Anh Hải dạy sử nhưng có biết đâu. Nầy, hai bà Triệu thì một là Bà Triệu Ẩu, hai là Bà Triệu Tả…”

Thiên hạ lại cười.

Tôi nói:

– “Mấy ông đừng ghét họ. Ở Pháp vô đảng Cộng Sản cũng như trong Nam hồi xưa vô dân Tây vậy. Vô để khỏi bị đàn áp, chèn ép. Vô dân Tây thì Tây nó sợ. Vô đảng Cộng Sản Pháp để được Cộng Sản nó bảo vệ cho. Các đảng chính trị bên Pháp chẳng có đảng nào bênh vực kiều dân. Tụi Pháp kỳ thị quá cha tụi Mỹ.”

Khoảng sau tết, một buổi sáng, vài anh em ở Khu 4 nhìn sang đầu nhà phía sau của Khu 3, có một người treo cổ. Bên Khu 4 la lớn lên, chỉ chỏ, khi đó bên Khu 3 mới biết phía họ có người tự tử. Sau đó, có bộ đội xuống, tháo giây đem xác chết đi. Trưa lại, tôi nghe nói người tự tử là thiếu tá Phê, không rõ binh chủng, đơn vị nào.

Hồi mới tới Khu 4, nghe bên Khu 3 kể lại khi học 10 bài chính trị, linh mục Phan Phát Hườn, giám đốc Nha Tuyên úy Công giáo chất vấn Dziệt Cộng dữ lắm mà họ không trả lời được.

Cha Hườn hỏi họ đây là đi ở tù hay đi học tập. Học tập thì phải có ngày khai giảng, ngày bế giảng, không thể có chuyện học tập tốt thì về. Tốt theo tiêu chuẩn nào? Còn tù thì phải có án. Bao giờ thì xử án để biết án tù bao lâu?

Thay vì trả lời, Dziệt Cộng bắt cha Hườn, đem đi mất!

Thế là xong!

            hoànglonghải

1)-Trước 1975, tờ báo Sân Khấu in hình bìa Khả Năng ôm Tú Trinh, dưới ghi chú: “Khả Năng run vì sợ ông cò Bình Chánh.” Hồi ấy Trần Phú Trắc làm chỉ huy trưởng Cảnh Sát quận Bình Chánh, là bạn của Tú Trinh.

2)-Lê Văn Chương, khóa 17 Võ Bị, người chơi đàn Guitar nổi tiếng ở Đà Lạt, thường biểu diễn chơi đàn một tay cho chúng tôi nghe. Trên đường di tản Quốc Lộ 7, anh bị thương ở ngón chân cái, không được điều trị nên bị gân rút, ngón chân cái tự nhiên ngóc cao đầu lên như đầu rồng. Do đó, Trần Phú Trắc đặt cho anh ta biệt danh là “Chương Rồng”.

3)-Vài người kể cho tôi nghe, mấy năm sau, ông Lê Bá Đảng cũng chán đảng lắm. Về thăm quê, làng Bích La Đông, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, cùng quê với Lê Duẫn. Ông bỏ tiền thuê người vận chuyển mấy tảng đá to đem về để ở đầu làng, nói là để xây cổng làng, nhưng ông bỏ đó, không xây, cứ hẹn lần hẹn lữa hoài. Người làng ai hỏi đá của ai để đó, ông bảo là “Đá Đảng”.

4)-Anh em chúng tôi gọi anh Trần Hưng là “thầy đồ Nho” vì anh đang học thêm chữ Hán, viết chữ Nho rất đẹp, trình độ Hán Học cũng cao. Lúc ấy, tôi học chữ Hán với anh. Tôi không gọi anh ta là “thầy đồ Nho” mà gọi theo tiếng Tàu là “Chi-Pụ” (Sư phụ).

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút

vietmessenger.com

Hoàng Hải Thủy

Post by Sơn râu 6 Oct 2025

Phần 19

Công tử Hà Đông nhấn nút linh tử xem lại vài cảnh bỏ nước chạy lấy người thê thảm hai mươi mốt mùa cô hồn tháng Bảy năm xưa. Phải nói là ngày ấy, tháng ấy, năm ấy Công tử gà què kẹt giỏ chạy không kịp chứ không phải là không muốn chạy. Từ trưa ngày 29 tháng Tư trực thăng Mẽo bay vần vũ trên trời Sàigòn, tiếng máy bay quần thảo suốt đêm. Tảng sáng Ba Mươi, trực thăng Mẽo vắng bóng trên thành phố đầu hàng. 11 giờ trưa “Toỏng Thoóng” Dương Văn Minh đọc lệnh buông súng trên ra-dzô, những người lính Việt Nam Cộng Hòa bại trận, buông súng, vừa đi vừa khóc trên hè phố. Đường phố Sàigòn náo loạn, người ta chạy lên, chạy xuống như kiến vỡ tổ. Bốn giờ chiều có anh nào đó tên là Tòng – Nguyễn hay Lê Văn Tòng – cùng vài anh nữa hát bài “Nối Vòng Tay Lớn” chào mừng Việt cộng trên đài phát thanh.

Năm, sáu, bẩy, tám, chín, mười ngày sau một số ký giả nhanh chân chạy đến “trình diện” ở Câu Lạc Bộ Báo Chí đường Lê Lợi. Ở đây có một anh cán bộ nào đó tên là Kỳ Nhân cấp cho đám ký giả Sàigòn nhanh chân chạy đến với chủ mới những giấy chứng nhận “có đến trình diện” ký tên Kỳ Nhân. Ít ngày sau, anh Kỳ Nhân này mất tích. Nhiều ký giả nói với nhau: “Không biết thằng Kỳ Nhân là thằng nào. Có lẽ tên nó là Kỳ Nhông thì đúng hơn…”

Bọn Văn Nghệ Giải Phóng Miền Nam chiếm tòa Đại sứ Đại Hàn ở đường Nguyễn Du – nghe nói nhà này nguyên là nhà của ông Nguyễn Hữu Hào, ông Quốc cữu thời vua Bảo Đại – văn nghệ sĩ Sàigòn kẹt giỏ bảo nhau đến đó “trình diện cách mạng”. Thực ra Việt cộng nó chỉ ra lệnh và kêu gọi các sĩ quan, công chức và đặc biệt là quý ông phú lít, bác sĩ, giáo viên, nhân viên bệnh viện v.v… đi trình diện thôi. Mới vào được Sàigòn Việt cộng đang có quá nhiều việc rối tinh, rối mù. Họ không ngờ họ chiếm được Sàigòn đẹp quá Sàigòn ơi dễ và nhanh ngon lành đến thế, hai là họ chẳng thèm để ý, để tứ, để mắt, để mũi gì đến đám văn nghệ sĩ Sàigòn nên họ hổng có kêu gọi mấy anh đi “trình diện, trình mạo” chi ráo trọi. Mấy ảnh sợ và mấy ảnh tưởng bở, mấy anh nghĩ “đi trình diện là tốt”, nên mấy ảnh lơ láo đến Tòa Đại sứ Đại Hàn nay đã đổi chủ. Công tử Hà Đông cũng đến đấy.

Đến đấy mấy ảnh gặp ký giả Thái Bịch. Bộ mặt Thái Bịch những ngày Việt Nam Cộng Hòa còn hùng mạnh trông đã khó thương rồi, nay cờ đỏ sao vàng đầy thành phố bộ mặt ấy trông lại càng ghê rợn. Ký giả nhà ta lúc thì mặt lạnh như tiền, lúc thì hòa nhã với cái vẻ cố ý để cho những kẻ đến gặp anh biết anh muốn nói với họ: “Bi giờ ngươi đã biết Thái Bịch này chưa?”

Để chứng tỏ mình không phải là thường dân, mình là chiến sĩ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, mấy anh cách mạng Ba mươi chạy cờ, chạy hiệu, chạy bàn thường đeo cái băng đỏ ở cánh tay. Đặc biệt Ký giả Thái Bịch đeo sề sệ một khẩu Côn Đui bên hông.

Ký giả Thái Bịch nhờ ơn Bác, Đảng, được hạnh phúc đeo Côn Đui- hay Côn Bạt, súng Mỹ -liên tục dễ đến hơn cả tháng. Ít lâu sau, Việt cộng tổ chức lại, đem cái gọi là Hội Văn Nghệ Giải Phóng về tòa nhà Tình báo Việt Nam Cộng Hòa đường Trương Minh Giảng-Tú Xương. Bộ mặt hãm tài của ký giả Thái Bịch không còn xuất hiện nữa.

Trở lại với Sàigòn ngày tan hàng. Nhiều anh em tù cải tạo gọi là Ngày Đứt Phim. Lấy ý như là mình đang ngồi trong rạp Rex xem đào E-Li-Za-Bét Tê-Lo mần tình với kép Rốc-Hất-sân. Đang cụp lạc bỗng màn ảnh tối om rồi đèn bật sáng. Những cặp tình nhân ngồi nghiêm chỉnh lại, tay chân, miệng lưỡi không còn dính nhau, những trinh nữ sửa lại y phục. Đèn sáng trong một lúc. Nhân tiện kháng giả đi đé. Đứt phim. Khi phim nối lại, cuộc sống sẽ trở lại như trước.

Saigon ngày tan hàng. Nhìn lên trời thấy những chiếc trực thăng bay ra biển Công tử Hà Đông cảm khái lẩy Kiều:

Ào ào gió dục mây vần

Trực thăng trong cõi hồng trần như bay…

Mai Thảo là văn nghệ sĩ Sàigòn duy nhất công an Việt cộng muốn bắt mà không bắt được. Đúng là con người có số. Số ông Mai Thảo, số ông Lê Trọng Nguyễn Nắng Chiều – những ông ba chân bốn cẳng vắt giò lên cổ chạy thoát được trước Ngày Ba Mươi Tháng Tư không nói làm chi – hai ông Mai Thảo, Lê Trọng Nguyễn sống ở Thành Hồ cả mấy năm mà vẫn không bị Việt Cộng bắt – Số hai ông là số không ở tù nên hai ông không bị ở tù. Giản dị và trong sáng, dễ hiểu như vậy thôi. Hai ông chẳng giỏi giang gì cả.

Công an Việt cộng, nhất là anh Huỳnh Bá Thành họa sĩ Ớt nhật báo Đồng Nai của Thượng nghị sĩ Hồng Sơn Đông, rất lấy làm cay cú vì không bắt được Mai Thảo. Chúng lại càng ức hơn khi chúng biết Mai Thảo vẫn sống giữa lòng Thành Hồ, vẫn gặp anh em. Cuối năm 1977 sau khi vác mặt mo đi dự cái khóa Bồi dưỡng chính chị, chính em ruồi bâu kiến đậu Công tử Hà Đông được nhà văn lớn Bảng Đường cho người đến nhà đưa thư.

Thư nhà văn lớn viết đại ý: “Tưởng mày cũng bị bắt nên tao không liên lạc. Người cầm thư này là người thân của tao. Đưa nó mang về cho tao mấy quyển truyện trinh thám Pháp. Tao suốt ngày nằm đọc sách. Tao là kẻ thù của mặt trời…”

Công tử học hành dốt nát, tiếng Tây, tiếng Mẽo tiếng nào cũng ăn đong nhưng tiểu thuyết tiếng Tây, tiếng Mẽo lại có khá nhiều. Toàn là loại sách bìa mềm rẻ tiền. Đọc thư nhà văn lớn, Công tử bèn xếp, không phải mười quyển mà là hai mươi quyển liền một khi, đưa anh mang thư đem về cho nhà văn đọc. Đồng thời một thư cũng được gửi Công tử gửi cho nhà văn lớn: “Hôm nào mày đến nhà tao chơi…”

Người giao liên của Mai Thảo là anh cháu con bà chị của ổng. Anh và gia đình hiện ở San José, Cali. Lần sau trở lại, anh cho biết Mai Thảo chỉ ra khỏi nhà lúc sáng sớm và trở về nhà lúc tối mịt, anh sẽ đưa ông cậu anh đến nhà tôi sớm, để ông ở nhà tôi, tối anh đến đón về…

Một sáng Mai Thảo đến nhà tôi. Ông đội mũ phớt, để hàng ria mép. Vợ tôi nấu cơm. Tôi đi mời bà dì tôi ở gần nhà sang chơi. Bà dì tôi, vợ tôi, cậu, cháu Mai Thảo là bốn tay đánh chắn cừ khôi. Tôi chắn cạ A B C nhưng phải ngồi dzô cho đủ năm tay. Tôi sinh trưởng trong một gia đình tổ tôm, tài bàn, chắn cạ, bất, đố mười gia truyền. Những tờ giấy bạc lương thiện do sức lao động đầu tiên tôi kiếm được trong đời tôi là tiền chia bài. Những năm 40 với việc chia bài mỗi canh chắn khoảng ba , bốn tiếng đồng hồ tôi kiếm được hai ba đồng tiền công chia bài. Tôi chi số tiền này vào việc đớp bò khô thoải mái. Năm ấy thịt bò khô Hà Đông – Sàigòn là gỏi đu đủ – một đĩa là một hào. Một đồng bạc Đông Dương đớp được những mười đĩa. Ở số tuổi một bó, một bó hai ba que tôi đớp liền tù tì bẩy tám dĩa thịt bò khô giấm chua trinh nữ són đé mà vẫn tỉnh queo không xót ruột, sót gan gì cả.

Vậy mà khi lớn lên, tôi lại không ưa cờ bịch một ly Cửu Sừng, Ông Cụ nào cả. Về bộ môn cờ bịch có thể nói tôi biết đủ thứ. Nhưng vì tôi không thích nên dù biết bí kíp mà không tập luyện nên võ công của tôi không cao. Chắn cạ, mạt chược, cờ tướng tôi chơi thấp hơn vịt… Vì thiếu chân nên tôi phải ngồi vào bàn chắn cho Mai Thảo tiêu thì giờ trong một ngày quanh quẩn ở nhà tôi từ sáng đến tối.

Trước sau Mai Thảo đến nhà tôi chừng ba lần. Thế rồi tình cờ khi gặp anh em ký giả ở đâu đó nghe họ nói:

– Mai Thảo bị bắt rồi

Tôi hỏi:

– Bị bắt hồi nào? Cách đây bao lâu rồi?

Với vẻ thản nhiên đầy quan trọng tôi nói:

– Bậy. Mới tuần trước Mai Thảo đến nhà tôi.

“Tin Mai Thảo đến nhà Hoàng Hải Thủy…” dần dần được chuyền đến tai bọn công an muốn bắt Mai Thảo. Tôi tuy ngu nhưng không đến nỗi không biết là tin ấy sẽ được truyền đến tai bọn công an Việt cộng, tôi chỉ ngu si – vì lúc đó tôi chưa bị bắt – khi nghĩ tôi không có tội gì khi tôi biết Mai Thảo bị lùng bắt mà tôi không báo cáo cho công an đến bắt Mai Thảo, là công dân tốt, theo nghĩa tốt của Việt cộng – tôi phải báo cáo với công an Việt cộng để họ giăng bẫy bắt Mai Thảo. Nếu tôi vì tính chất phản động không chịu làm việc ấy thì vợ tôi phải sáng mắt, sáng lòng đi khai báo mà không cho tôi biết.

Vì vậy, khi tôi bị bắt lần thứ nhất – lần bị bắt này của tôi không được hai anh Nam Thi – Minh Kiên nhắc đến, dù chỉ nhắc sơ nửa dòng trong quyển Những Tên Biệt Kích Cầm Bút – người phụ trách thẩm vấn tôi là Huỳnh Bá Thành. Lần thứ nhất gặp tôi trong phòng thẩm vấn của Nhà giam số 4 Phan Đăng Lưu, Huỳnh Bá Thành tự giới thiệu:

– Tôi là Huỳnh Bá Thành, họa sĩ Ớt báo Đồng Nai. Anh gặp những anh chị bị bắt và đã được thả chắc cũng có nghe nói đến tên tôi.

Khi tôi vào Số 4 Phan Đăng Lưu một số văn nghệ sĩ bị bắt tháng Ba, tháng Tư năm 1976 đã được thả về: Hồng Dương, Minh Đăng Khánh, Hoàng Vĩnh Lộc, Sao Biển, Hoàng Anh Tuấn, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Hữu Hiệu, Nhã Ca, Xuyên Sơn, Minh Vồ, Hồ Nam, Lê Xuyên, Trần Việt Sơn v.v… Tôi có nghe anh em kể vài mẩu chuyện trong tù nhưng thực sự tôi chưa một lần nghe nói đến tên anh Huỳnh Bá Thành.

Trước mắt tôi, Huỳnh Bá Thành gầy, đen, tóc chải sang bên trái cho tôi biết anh thuận tay trái. Anh cho tôi biết bí danh anh là Ba Trung. Anh cũng tự giới thiệu anh là tác giả quyển Vụ án Hồ Con Rùa.

Tôi không nói cho anh biết là tôi chưa nghe ai nói đến tên anh lần nào, tôi không biết họa sĩ Ớt và tôi cũng chưa từng để mắt đọc nửa trang truyện Vụ Án Hồ Con Rùa.

Tôi bị bắt chiều thứ Bảy – công an đến nhà tôi lúc 11 giờ trưa, khám xét, tìm tang vật mãi đến khoảng 5 giờ chiều tôi mới vào đến Biệt giam 15 khu B, Số 4 Phan Đăng Lưu – 10 giờ sáng Chủ nhật hôm sau Huỳnh Bá Thành đã gọi tôi ra phòng thẩm vấn.

Mỗi lần Ba Trung thẩm vấn tôi rất lâu. Ngoài phần hỏi đáp còn có phần nói chuyện linh tinh, lang tang về văn nghệ, văn gừng, chính em, chính chị. Ba Trung thường gọi tôi ra thẩm vấn vào buổi chiều, ngồi mãi đến chín, mười giờ tối mới thả tôi về biệt giam. Tôi không lấy gì làm phiền nhiễu vì những lần hỏi cung dài lòng thòng này. Mới bị bắt nằm xà lim một mình buồn thấy mồ đi. Được ra ngoài ngồi thoải mái, được có người nói chuyện qua lại – dù người đó là Vixi – cũng đỡ buồn hơn là cứ nằm đến mỏi nhừ cả người trên nền xi măng xà lim. Tôi phải nói rằng Huỳnh Bá Thành đối xử với tôi rất nhã nhặn, lịch sự. Anh ta không nói nặng tôi nửa câu, không tỏ ra khinh bỉ hay vô lễ với tôi, cũng không đe dọa tôi nửa lời. Anh có thể đe dọa tôi, nhưng anh đã không làm. Anh cũng không nói lời gì để tôi thêm buồn , thêm sợ. Anh có đọc tập thơ của tôi – Sau ngày oan nghiệt, tôi có làm một số bài thơ vẩn vương, chép vào một tập để ngay trên bàn. Bọn công an xét nhà vồ được tập thơ này của tôi. Giờ này tập thơ vẫn nằm yên trong kho Lưu trữ tang vật của Sở Công an thành phố Hồ Chí Minh, trong tập có bài thơ tả cảnh Chợ Trời Saigòn sau ngày ta mất nước:

Chợ Trời

Trời chiều đi dạo Chợ Trời

Xem đồ ta, ngắm đồ người cho vui

Tìm vui chỉ thấy ngậm ngùi

Vỉa hè này những khóc cười bầy ra

Lạc loài áo gấm, quần hoa

Này trong khuê các, sao mà đến đây?

Chợ bầy những đọa cùng đầy

Vàng phơi nắng quái, ngọc vầy mưa sa

Bán đồ toàn những người ta

Mua đồ thì rặt những ma cùng Mường

Chợ Trời hay Chợ Đoạn Trường

Đầu âm phủ, cuối thiên đường là đây!

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 6 Oct 2025

81. Trần Dần

Viết lời giới thiệu cho cuốn Ghi của Trần Dần, Phạm Thị Hoài đã trích dẫn chính một đoạn ghi chép của Trần Dần:

“Thế là tôi mất bẩy năm kể từ ngày hòa bình bắt đầu sinh sự cho đến ngày xóa án … Bẩy năm trong văn học có nghĩa lý gì? Một cái chớp mắt. Bẩy năm trong đời một con người thì có nghĩa lý lắm! Chớp mắt mãi không xong”.

Trần Dần đã viết như thế ngày 7 tháng 7 năm 1958, khi nhận kỷ luật treo bút ba năm và Phạm Thị Hoài chọ rằng, như thế, ông đã lường trước cái ‘mãi không xong’ của ba năm rồi sẽ thành ba mươi năm và một lần nữa lại thu vén sao cho cái mất càng ngày càng phình ra quái gở của số phận mình có thể đút vừa lỗ kim bé tí của hy vọng được.

“Được cái hoạn nạn” quả nhiên là lời tổng kết cuối cùng của ông, người mê biện chứng và nghiện nghịch lý, về “ván đời” lạ lùng của mình. Những ghi chép của Trần Dần tập hợp trong sách này là chứng chỉ tự cấp về bẩy năm mở ra và quyết định cái thành quả hoạn nạn đó. Với chúng ta, đó là những văn liệu và sử liệu vô giá về một giai đoạn văn chương và lịch sử cho đến nay vẫn xếp sổ, nếu quả còn có sổ. Với Trần Dần, đó là phần mở đầu “tác phẩm dành cho một người” tác phẩm bất đắc dĩ mà thành đồ sộ và gay cấn nhất của văn nghiệp ông, khi “Ghi trở nên một hình phạt” khi ông “bắt tội” mình, “cưỡng bức” mình vào một “chế độ ghi sổ tay” ba mươi năm ròng rã.

Với hơn 461 trang sách, ghi chép những sự việc, những suy nghĩ của mình trong các năm từ 1954 tới 1960, Trần Dần đã cho người đọc thấy rõ hơn đời sống của các văn nghệ sĩ ở miền Bắc dưới chế độ Cộng Sản trong thời kỳ chiến tranh vừa qua.

Trong đầu Trần Dần là một cuộc tranh luận, ray rứt không ngừng, giữa một con người sáng tác và lý thuyết, giữa đòi hỏi của Đảng và những gì cá nhân các văn nghệ sĩ nói chung và Trần Dần nói riêng, muốn làm, muốn viết. Một cuộc tranh chấp mệt nhoài mà phần thắng không bao giờ thuộc về các văn nghệ sĩ, nghĩa là, gần như chẳng bao giờ người ta có thể viết được cái gì mình muốn, vì trăm ngàn lý do chứ không phải chỉ có một vài.

Trần Dần viết:

“Chúng ta hãy nghĩ lại mà xem. Người ta làm việc và làm việc. Họp và họp. Đánh và đánh. Học và học. Sinh hoạt và sinh hoạt. Kiểm điểm và kiểm điểm. Đả thông và nghe đả thông. Tôi tính thử những cuộc họp trong một tuần lễ: họp tổ 3, họp cán bộ, họp tổ Đảng, họp tiểu đội, họp toàn ban, họp đại đội. Mỗi cuộc họp kèm theo dăm bẩy cuộc hội ý. Hội ý thì nói rằng chớp nhoáng nhưng sự thực đúng là những cuộc họp, thường thường kéo dài hàng giờ thành những cuộc họp đội lốt hội ý cho người ta đỡ ngại.

Tôi tính thử, dù cứ cho là hội ý chớp nhoáng, cộng lại cũng thành một cái không chớp nhoáng. Hội ý cán bộ, hội ý đảng viên, hội ý tổ trưởng, hội ý chi ủy … Tôi không muốn tính nữa. Tôi không hiểu tôi đã làm thế nào? Vì tính ra một tuần có 7 ngày, một ngày 24 tiếng, thì thật không đủ ngày giờ mà xếp những cuộc họp và hội ý đó vào. Chúng ta không có lạ gì nếu người phụ trách cán bộ của ta, nhiều anh không đủ thời gian. Và tất cả là thiếu máu. Chúng ta không lạ lùng gì nếu người ta trách cán bộ mình kém sâu sắc, ít sát quần chúng, nhiều anh trở nên máy móc và khô khan thực sự. Vì những nết xấu đó là một lẽ tự nhiên. Cuộc đời anh chật ních những họp hành, tháng năm mòn trong những hội nghị. Tôi nói vậy không phải là phản đối họp, – tôi thấy nó rất cần. Nhưng tôi nói vậy là phản đối chiến tranh. Và tôi cũng phản đối họp nhiều, nó có nghĩa là chúng ta bị động với chiến tranh, chúng ta không làm chủ được nó”.

Thật là buồn khi phải nghe những người như Trần Dần phải vận dụng sự khôn ngoan để nói ra những điều muốn nói lại vừa phải tìm cách đỡ đòn, vì e, mà cũng chẳng phải là e nữa, mà là chắc chắn rồi thế nào, lời nói của mình cũng gây ra tai họa cho bản thân.

Với cuốn ghi nhận, Trần Dần cho người đọc thấy rõ, gần như tất cả các bộ mặt, bộ mặt thật của hầu hết các nhân vật văn nghệ tại miền Bắc một thời từ Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, đến những Văn Cao, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Lê Đạt, Phùng Quán v.v …

Và có thể nói, những phát giác của Trần Dần làm chúng ta vừa ngỡ ngàng vừa kinh hoàng. Chẳng hạn ngày 21-5, không đề năm, Trần Dần ghi lại chuyện do Tử Phác kể, trong một lớp học, Hoàng Cầm tố Văn Cao, chắc tính rằng từ nay về là dựa hẳn vào lãnh đạo. Còn bè bạn cũ phen này là đi toi cả rồi. Song trở về thì thấy khác. Sờ vào lãnh đạo cũng chưa thấy cái mấu nào mà víu cả. Mặt khác, Văn Cao lại vẫn thấy đình huỳnh! Khả dĩ vẫn có thể là một cái tay vịn. Khổ thân cái kiếp anh chàng, suốt đời cứ quẩn quanh tìm cái cọc cho cái thân thể dây leo của mình. Hoàng Cầm bèn tìm cách trở về với tiên chỉ.

Anh chàng một hôm viết thư cho Văn Cao, đại ý muốn thanh minh về chuyện lớp học, sang nhà Văn Cao thì nguy hiểm, thì mời Văn Cao đến nhà mình. Văn Cao nhận được thư ấy, không biết nghĩ sao, bèn đi gặp Nguyễn Đình Thi, đem việc ấy ra báo cáo, và xin chỉ thị “xem có nên đi gặp Hoàng Cầm hay không”. Dĩ nhiên Nguyễn Đình Thi không thèm ngăn cản một

cái việc chẳng có gì là nguy hiểm mà phải xin chỉ thị ấy. Và sau đó ông gọi là một cuộc nói chuyện bỉ ổi.

Như chúng ta đều cũng đã biết.

Cả Văn Cao lẫn Hoàng Cầm đều đã mất.

Chúng ta cũng không thể cả quyết tất cả những gì Trần Dần viết lại trong cuốn Ghi của mình đều là sự thật, một phần sự thật hay hoàn toàn bịa đặt.

Nhưng những người liên hệ, được nhắc tới trong sách, hiện vẫn còn sống, có đủ thẩm quyền để khẳng định đâu là sự thật, không thấy ai lên tiếng gì cả. Và chúng ta cũng không thể biết, hiện nay, đời sống của các văn nghệ sĩ ở trong nước có khác bao nhiêu với cái thời Trần Dần kể trong sách.

Nhưng đọc xong cuốn sách, người đọc không tránh khỏi cảm tưởng u uất. Một đời sống như thế mà kéo dài mãi sao? Người trong nước, người ngoài nước có thể làm gì để thay đổi?

Thật là buồn.

Xin trích đọc một đoạn trong bài thơ Nhất Định Thắng của Trần Dần, để những ai đã từng đọc và biết ông nhớ lại ông, những người chưa hề đọc ông, biết qua tư tưởng và cách thức làm thơ của ông:

Em đi cúi đầu nghiêng vai

không thấy phố

không thấy nhà

Chỉ thấy mưa sa

trên màu cờ đỏ

Đất nước khó khăn này

sao không thấm được vào thơ?

Những tủ kính tôi dừng chân dán mũi

Các thứ hàng ế ẩm đợi người mua

Nhưng mà sách-hình như khá chạy

À quyển kia của bạn này – bạn ấy

Quyển của tôi tư lự – nét đăm đăm

Nó đang mơ: nếu thêm cả miền Nam

Số độc giả sẽ tăng lên dăm bẩy triệu

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 6 Oct 2025

80. Trà Lũ

Trước 1975 Trà Lũ là một giáo sư đại học. Từ khi ra khỏi nước sau biến cố

1975, ông dịnh cư tại Canada. Giữa đất bao dung và người được bao dung,

đã nẩy sinh một mối tình. Nói cách khác, Trà Lũ đã thẳng thắn tỏ lòng biết ơn đối với cái đất nước đã cưu mang mình trong những ngày lưu lạc. Ông gọi Canada là đất quê ngoại. Trong ngôn ngữ của chúng ta, hai tiếng quê ngoại có rất nhiều ý nghĩa: vừa xa vừa gần.

Vâng, quê ngoại là quê mẹ.

Gọi như thế để phân biệt với quê cha là quê nội. Trong ngôn ngữ của chúng ta cũng ít khi người ta dung hai tiếng quê nội, trừ trường hợp cần phải xác định. Mẹ không thể là ngoại, không thể là người ngoài. Vậy quê ngoại cũng không thể là quê người. Nó chỉ có nghĩa là quê hương thứ hai của mỗi người. Và trong tiếng gọi quê ngoại hàm chứa rất nhiều nỗi niềm yêu thương, trìu mến. Sự yêu thương, trìu mến, người ta nhận được từ mẹ và bằng cái tình ấy người gọi lại quê mẹ. Nhưng tính nguồn gốc, người ta tính quê cha chứ không tính quê mẹ.

Quan niệm quê hương, dòng tộc của chúng ta, như vậy. Nói thế để thấy ông Trà Lũ trả nghĩa đất bao dung như thế nào, đồng thời, điều đó hình như cũng khẳng định nó không phải và cũng không thể là quê nội, quê hương chính của mình được. Nhận xét về cuốn Đất Quê Ngoại phần lớn người đọc cho rằng nó có những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất: đây là tác phẩm của một nhà văn trào phúng Việt Nam đầu tiên ở hải ngoại. Thứ đến: qua các câu chuyện được viết lại trong sách, chứng tỏ tác giả có sự hiểu biết rộng lớn về nhiều mặt. Nhưng cách viết của ông không làm mệt người đọc về sự uyên bác của mình. Ông kể chuyện, hình như lúc nào cũng với nụ cười trên môi. Ông không chọc cười người đọc mà cùng cười với người đọc, cùng người đọc khám phá những chuyện để cười.

Truyện trào phúng của chúng ta từ xưa, dường như luôn kèm theo một vẻ gì đó, chua cay, độc địa. Trà Lũ không có cái giọng xỏ xiên, độc địa đó. Cuộc đời tự nó chứa sẵn những điều khôi hài, tức cười. Trà Lũ chỉ làm công việc bật mí để người ta thấy rõ hơn thôi.

Nhìn thấy để cười với nhau cho vui, và tất nhiên, nếu ai cũng nhìn thấy như vậy, cuộc đời có thể đổi khác đi chút ít không chừng.

Vâng, cái cười của Trà Lũ là cái cười nhân hậu. Ngay cả khi ông ông nói tới những thói hư, tật xấu của chính quyền Việt cộng, ông cũng không có giọng hằn học, cay cú.

Nói về các chuyện của mình Trà Lũ cho biết: tất cả các nhân vật trong tác phẩm của ông đều là người thật và những gì ông mô tả trong chuyện cũng thật đến 80%. Chẳng hạn nói về chuyện Chị Ba Biên Hòa trong cuốn sách, Trà Lũ cho biết: có một độc giả ở Houston xưng mình ở góa đã 4 năm, cứ đòi tác giả làm mai cho ông lấy chị Ba, nếu sau này anh John, chồng chị, có khuất núi. Về bản thân anh John, một nhân vật khác, cũng có thật trong đời sống, đã là nguồn hứng khởi triền miên cho tác giả về cái đẹp và sự duyên dáng của tiếng Việt.

“Anh John, một người Canada, từng tham chiến tại Việt Nam trước 75, đã nêu lên nhiều câu hỏi như: tại sao, người miền Nam lại nói muốn bệnh trong khi có ai muốn chuyện đó? Tại sao lại nói khám bác sĩ trong khi chính thực là để bác sĩ khám mình?

Tại sao lại uống thuốc đau tim trong khi đích thực là muốn chữa khỏi bệnh đau tim? Tại sao lại có Viện Sửa Sắc Đẹp trong khi ai đến đó cũng là để sửa sắc xấu? Bằng ngòi bút của mình, bằng cách kể chuyện của mình, Trà Lũ đã làm cho người đọc yêu thêm tiếng Việt. Tiếng Việt miệt vườn [Nam] khác hẳn tiếng Việt miền quê [Bắc]. Nhưng nó cũng tựa như cái đẹp, cái duyên dáng của người phụ nữ Việt Nam. Sau 1954 cái đẹp, cái duyên ấy đã hòa làm một. Y hệt những cô gái được sinh ra tại miền Nam, dù bố mẹ có hoàn toàn Bắc hay nửa Bắc nửa Nam, cũng không còn thể gọi là gái Bắc hay gái Nam nữa. Mà chính xác chỉ có thể gọi là người Việt Nam thôi.

Văn Trà Lũ có cái duyên Việt Nam ấy.