vietmessenger.com
Henri Charrière
Dịch giả: Đinh Bá Kha
Đời Mới xuất bản 1974
Post by Sơn râu 7 Oct 2025

Google image edited by Sơn râu
16. Người Cận Vệ – Bé Pablito
CÓ người gõ cửa (chuông bị hư), tôi ra mở, với hy vọng đó là một trong những người bán đồng để có thể, đổ trên đầu một đứa cũng được, tất cả nỗi uất hận của tôi, và tùy sức chịu đựng của nó, cho có một trận nên thân.
Người bước vào là một người bạn, Đại tá Bolagno. Từ trước đến nay, anh và gia đình anh gọi tôi là Papillon, họ là những người duy nhất ở Venezuela gọi tôi như vậy. Ai cũng gọi tôi là Henri hay Ngài Henri, tùy theo địa vị mỗi lúc của tôi. Người Venezuela rất thích về chuyện này, họ biết ngay mình làm ăn phát đạt hay túng thiếu.
– Papillon, thế nào? Hơn ba năm chúng mình không gặp nhau.
– Vâng, Francisco, ba năm.
– Tại sao anh không đến thăm tôi nơi nhà tôi mới xây cất?
– Anh không mời.
– Không bao giờ người ta mời một người bạn, nó đến khi nào nó muốn, vì người bạn cũng có nhà, nhà của nó. Mời là chửi nó và sắp nó vào hạng những người không thể đến nếu không được mời.
Tôi không đáp vì tôi cảm thấy nó có lý.
Bolagno hôn Rita. Anh ta ngồi đó, hai tay chống trên bàn, vẻ lo âu. Anh đã cất chiếc mũ tại đó.
Rita mời anh một ly cà phê, tôi hỏi anh:
– Làm thế nào anh biết địa chỉ tôi?
– Đó là việc của tôi. Tại sao anh không gởi địa chỉ cho tôi?
– Nhiều công việc và nhiều lo âu quá.
– Anh lo nhiều?
– Khá nhiều.
– Thế thì tôi đến không đúng lúc.
– Tại sao?
– Tôi đến mượn anh năm ngàn đồng. Tôi túng quá.
– Francisco, không thể được.
– Chúng tôi bị khánh tận, Rita nói.
– Ồ, vợ chồng anh bị khánh tận hả? Papillon, anh bị khánh tận thật sao? Và anh cả gan nói với tôi? Anh bị khánh tận rồi anh tránh tôi? Và vì vậy nên anh không đến thăm tôi để kể cho tôi nghe những khó khăn của anh?
– Vâng.
– Thế thì anh cho phép tôi nói rằng anh là một thằng tồi. Bởi vì, khi người ta có một người bạn, là để kể cho nó nghe cái điều âu lo, mong nó làm một cái gì để đưa mình ra khỏi một hoàn cảnh nan giải. Anh là một thằng tồi vì anh đã không nhớ đến tôi, bạn của anh, để nâng đỡ anh, giúp anh. Vì anh nên biết, tôi được nghe người ta kể những chuyện xui xẻo của anh và chính vì vậy mà tôi đến đây để giúp anh.
Tôi với Rita không biết ăn nói làm sao, quá cảm động chúng tôi không nói nên lời. Chúng tôi không cầu xin ai hết, đúng vậy. Tuy nhiên nhiều người đã thụ ơn tôi và đã nhờ tôi nên đã có địa vị, biết chúng tôi bị khánh tận mà không người nào đến tình nguyện giúp đỡ điều gì. Phần đông là người Pháp lương thiện cũ có, lưu manh cũng có.
– Papillon, anh muốn tôi giúp gì cho anh?
– Phải cần rất nhiều tiền để lập một cơ sở thương mãi đủ nuôi sống chúng tôi. Nếu có tiền, anh không thể hy sinh, vả lại chắc anh không có một số tiền quá nhiều như vậy.
– Rita, vào trong mặc áo, ba chúng mình đi ăn tại một nhà hàng Pháp sang trọng nhất thành phố.
Đến cuối bữa ăn, chúng tôi thỏa thuận tôi sẽ tìm một cơ sở thương mãi rồi sẽ cho anh ấy biết số tiền cần thiết. Rồi Bolagno kết luận:
– Nếu tôi có số tiền, không thành vấn đề, nếu tôi không có, tôi sẽ mượn mấy anh tôi và anh rể tôi. Nhưng tôi hứa với anh tôi sẽ kiếm đủ số tiền anh cần.
Suốt ngày hôm ấy, tôi với Rita nói mãi về anh Bolagao, về thái độ tế nhị của anh ta.
– Khi còn là Trung sĩ ở ngục thất El Dorado, anh ấy đã cho anh bộ quần áo thường dân uy nhất của anh ta để mỗi lần ra ngoài anh được ăn mặc tử tế rồi hôm nay anh đến đặt chúng ta trên lưng ngựa để lên đường một lần nữa.
Chúng tôi trả tiền thuê nhà đã trễ, trước khi dọn đến một căn phố trông rất xinh vừa là quán rượu, vừa là tiệm ăn ở tại đại lộ Las Delicias, cũng trong khu Sabana Grande. Quán rượu tiệm ăn ấy lấy tên là Gab. Tại đây, chúng tôi được tin vĩ nhân De Gaulle đến.
Charles de Gaulle, lúc bấy giờ là Tổng Thống nước Pháp, được Tổng Thống Venezuela Paul Leoni mời đến viếng thăm chính thức.
Thủ đô Caracas cùng cả nước Venezuela đều tưng bừng như ngày hội. Không phải chỉ các nhân vật trong chính quyền hoặc các giai cấp ưu đãi, tôi nói rõ là tất cả dân Venezuela. Hạng bình dân thứ thiệt, tay lấm chân bùn, đội mũ rơm và mang giày vải, tất cả những người bình dân khoáng đại, không trừ một ai, đã hồi hộp chờ Charles de Gaulle để hoan hô.
Tiệm Gab có một mái hiên rất xinh và tôi đang ung dung ngồi uống rượu hồi với một người Pháp đang giải thích cho tôi rõ các bí quyết làm bột cá, và cũng nói nhỏ đến một phát minh mới của anh ta; phát minh ấy sau khi được công nhận, sẽ đem về cho anh hàng triệu bạc. Phát minh ấy không gì khác hơn chiếu bóng hình nổi. Anh hạ thấp giọng, nháy mắt cho có vẻ bí mật hơn và cũng để tôi cho biết tôi có thể bỏ bao nhiêu vào công việc tìm tòi của anh. Không ngốc chút nào, thằng chả trình bày bằng những danh từ thích ứng học tại trường cao đẳng Kỹ thuật ở Ba Lê, một trường danh tiếng đào tạo các kỹ sư có hạng.
Nghe chuyện của một gã muốn lừa gạt mình bao giờ cũng thích thú, và vì những điều đó nói quá hay, tôi nhận thấy có một người ngồi bàn kế bên lắng tai và nghiêng về phía chúng tôi để nghe. Mãi đến lúc tôi đọc một mảnh giấy của Rita ngồi ở két, do anh bồi đưa lại: “Em không biết anh thảo luận những gì với thằng cha ấy, nhưng chắc chắn là lão ngồi kế bên rất khoái nghe chuyện các anh. Có vẻ như là một tên mật vụ lạ mặt”.
Để kết luận với nhà phát minh, tôi hăng hái khuyên anh nên tiếp tục nghiên cứu, tôi rất tin anh sẽ thành công, nếu có tiền tôi tham gia vụ này ngay, nhưng rất tiếc tôi không có tiền. Anh ta đi ra, tôi đứng dậy, vừa quay lại, tôi đối diện ngay với bàn phía sau.
Một thằng cha đang ngồi, dáng dấp lễ phép, quá lễ phép, ăn vận cũng quá tươm tất, có cà vạt và mọi thứ, áo màu xanh thép, trên bàn trước mặt đã có một ly rượu hồi và một gói thuốc lá Gaulloises. Không cần phải hỏi nghề nghiệp hay quốc tịch của gã.
– Perdone usted, fuma cigarillos franceses? (Xin lỗi, ông hút thuốc lá Pháp?).
– Vâng, tôi là người Pháp.
– Lạ nhỉ, tôi không biết ông. Có phải ông là một cận vệ của tướng De Gaulle không?
Gã lễ phép đứng lên tự giới thiệu:
– Tôi là Quận trưởng Cảnh Sát Belion, phụ trách an ninh cho tướng De Gaulle.
– Hân hạnh.
– Còn ông, ông là người Pháp?
– Đừng giả vờ, ông Quận trưởng, ông biết rõ tôi là ai và không phải tình cờ mà ông đến ngồi tại hàng hiên quán này.
– Nhưng…
– Khỏi cần nói thêm. Chỉ có một ưu điểm về phần ông: ông đã đặt gói thuốc Gaulloises một cách lộ liễu trên bàn để tôi bắt chuyện với ông. Phải vậy không?
– Đúng.
– Một ly rượu hồi nữa nhá?
– O.K. Tôi đến gặp ông vì lẽ chịu trách nhiệm về an ninh của Tổng Thống, tôi đã nhờ Tòa Đại Sứ lập cho tôi danh sách những người cần phải rời Caracas khi Tổng Thống đến. Danh sách ấy sẽ trình cho Bộ Nội Vụ để có những biện pháp cần thiết.
– Tôi có tên trên danh sách?
– Chưa.
– Ông biết gì về tôi?
– Ông có gia đình, ông sống lương thiện.
– Còn gì nữa?
– Chị ông tên là Bà X… ở tại chỗ đó ở Ba Lê, một người chị nữa, Bà Y… ở tại Grenoble.
– Rồi sao nữa?
– Thời hạn quản thúc của anh sẽ được triệt tiêu vào năm tới, tháng sáu năm một ngàn chín trăm sáu mươi bảy.
– Ai nói với ông?
– Tôi biết trước khi rời Ba Lê, nhưng tại đây người ta đã tống đạt cho Tòa Lãnh sự.
– Tại sao Tòa Lãnh sự chưa cho tôi biết?
– Tòa Lãnh sự chính thức không biết địa chỉ của ông.
– Họ biết tôi quá nên mới gởi các người Pháp bị kẹt đến nhà tôi giúp đỡ.
– Đó là Hội Đồng Minh Pháp, hai chuyện khác nhau.
– Có lẽ. Dù sao cũng cảm ơn ông về tin mừng. Tôi có thể đến Tòa Lãnh Sự để được thông báo chính thức không?
– Bất cứ lúc nào.
– Nhưng mà, này, ông Quận Trưởng, tại sao sáng nay ông đến ngồi tại tiệm ăn của tôi? Không phải để tin cho tôi biết việc quản thúc của tôi đã hết hạn, cũng không phải để cho tôi biết các bà chị tôi không thay đổi địa chỉ, đúng vậy không?
– Quả vậy. Chính là để thăm ông, thăm Papillon.
– Ông chỉ biết một Papillon, con người trong hồ sơ Cảnh sát Ba Lê, một mớ chuyện láo khoét, khuyếch đại, những biên bản đầy ác ý. Một hồ sơ không phác họa đúng con người của tôi trước kia, lại càng không rõ con người của tôi ngày hôm nay.
– Tôi thành thật tin như vậy và tôi có lời mừng ông.
– Thế thì bây giờ ông đã gặp tôi, ông sẽ ghi tôi vào danh sách những người phải trục xuất trong thời gian tướng De Gaulle đến đây?
– Không.
– Ông Quận Trưởng, ông có muốn tôi nói tại sao ông đến đây không?
– Hay quá.
– Tại vì ông nghĩ: một người phiêu lưu mạo hiểm luôn luôn muốn kiếm tiền. Papillon, dù nay đã sống đàng hoàng, vẫn là một tên phiêu lưu mạo hiểm. Từ chối một số tiền khổng lồ để thân chinh chống De Gaulle, có thể lắm, nhưng kiếm một bó bạc lớn chỉ bằng cách cộng tác vào một vụ mưu sát, là một chuyện nghe được lắm.
– Cứ nói tiếp.
– Thưa ông Quận trưởng, ông lầm rồi. Trước hết, dù có được một tài sản kếch sù, tôi cũng không tham gia vào một âm mưu chính trị nhất là một âm mưu chống De Gaulle. Vả lại, gây một vụ mưu sát tại Venezuela có lợi cho ai đâu?
– Lợi cho tổ chức O. A.S.
– Đúng. Không những việc ấy có thể lắm, mà có nhiều phần sẽ xảy ra. Chúng đã nhiều lần gây lộn xộn ở Pháp, thì tại Venezuela chúng hành động quá dễ.
– Tại sao lại quá dễ?
– Với tổ chức họ sẵn có, bọn O. A. S. không cần vào Venezuela bằng đường lối thường, hải cảng hay phi cảng, chưa kể cả một bãi biển dài gần hai ngàn cây số. Biên giới nội địa thì mênh mông: Ba Tây, Colombie, Guyane thuộc Anh. Họ muốn vào khi nào cũng được, bất cứ ngày giờ nào mà không ai dòm ngó làm gì hoặc không ai trông thấy gì hết. Ông Quận trưởng, đó là sai lầm đầu tiên của ông. Nhưng còn một sai lầm khác nữa.
– Sai lầm như thế nào, Belion mỉm cười nói.
– Bọn O.A.S., nếu quả thật chúng quỉ quyệt như người ta nói, sẽ không bao giờ tiếp xúc với các người Pháp cư ngụ ở đây. Bởi vì, biết rằng bọn mật vụ sẽ đến thẳng các người Pháp, nên việc đầu tiên cần tránh là không nên gặp người Pháp nào. Ông đừng nên quên một điều, một người định làm bậy không bao giờ đến ở khách sạn. Tại đây, có hàng trăm người đến thuê phòng của bất cứ nhà ai mà không khai báo. Thế thì, ông biết đó, bọn mưu sát De Gaulle, khỏi phải nhọc công tìm trong số Pháp kiều, lưu manh hay không lưu manh.
Hình như khi nghe tôi nói như vậy, Belion không còn cười mỉm nữa. Tôi cảm thấy hắn suy nghĩ rồi bỏ đi, dặn tôi khi nào đến Paris ghé thăm hắn. Hắn cho địa chỉ tại điện Elysée. Tôi có đến đó: “Không có tên đó”. Không sao, giá mà gặp lại cái anh Quận trưởng đã tỏ ra tử tế với tôi ấy cũng vui lắm. Quả thật tôi không bị trục xuất khỏi Caracas trong khi Tổng Thống De Gaulle qua Venezuela, như một số người Pháp khác. Vả lại, trong thời gian ấy cũng không có việc gì xảy ra.
Rồi như một thằng ngốc, tôi đi hoan hô De Gaulle.
Rồi như một thằng ngốc, tôi đã khóc khi trông thấy Tổng Thống nước tôi.
Rồi như một thằng ngốc gấp đôi, với sự hiện diện của vị lãnh tụ đại tài đã cứu nguy danh dự tổ quốc của tôi, tôi đã quên chính tổ quốc ấy đã đưa tôi đi tù khổ sai chung thân.
Rồi như một thằng ngốc gấp ba, tôi sẵn sàng chặt một ngón tay để được bắt tay ông hoặc dự cuộc tiếp tân do Tòa Đại Sứ tổ chức mừng ông, dĩ nhiên là tôi không được mời. Tuy nhiên, giới giang hồ dao búa đã gián tiếp được trả thù, vì trong buổi tiếp tân, đã len lỏi vào một vài mụ điếm già người Pháp đã giải nghệ, đã thoát xác và nhờ lấy một ông chồng có địa vị, hiện đã có mặt, tay cầm bó hoa dâng tặng dì Yvonne, mặt mày rạng rỡ.
Tôi có đến gặp ông Lãnh Sự Pháp, ông đọc cho tôi nghe bản tống đạt, lệnh triệt tiêu thời hạn quản thúc của tôi vào năm tới. Còn một năm nữa tôi sẽ đi Pháp.
Tôi ghi nhận rằng từ lúc mới được trả tự do ở Venezuela cũng như sau này, cũng như trong bất cứ trường hợp nào, tôi cũng không bị các ông Đại sứ hay Lãnh sự đương chức quấy rầy. Trong suốt mấy năm dài, tôi không bao giờ bước chân đến tòa Đại sứ hoặc tòa Lãnh sự, trái lại, trong các quán rượu của tôi, các nhân viên hai cơ quan ấy thường đến luôn.
Tình trạng của chúng tôi được cải tiến mau lẹ và tôi lại hoạt động trong nghề chủ nhân các quán rượu về đêm bằng cách mua quán Scotch Club, ở Chacaito, khu phố đông đảo nhất của Caracas, tại trung tâm thành phố. Một câu chuyện kỳ lạ, vì tôi mua cơ sở này để cứu giúp một thợ hớt tóc người Pháp bị bọn du đãng âm mưu lột hết của cải. Cử chỉ mã thượng ấy sau này rất lợi về phương diện tiền bạc cho tôi.
Trong nhiều năm, tôi trở lại sống về đêm. Những đêm xứ Caracas ngày càng mất đặc tính lãng bạc kỳ hồ vô cùng hấp dẫn. Khách chơi không còn như trước, hạng chơi đêm mới này thiếu hẳn bản chất trí thức và lịch sự giai cấp thượng lưu.
Trên thực tế, tôi sống ngoài đường phố, ít khi ngồi ở quầy hàng, luôn luôn đi rong trong các khu phố lân cận. Tôi tìm hiểu các chú bé kỳ diệu của đô thị Caracas, những đứa làm việc suốt đêm chỉ để kiếm ít xu, trí óc phong phú của mấy đứa nhỏ sống bên lề cuộc đời, cha mẹ chui rúc trong các ổ chuột. Tuy vậy, họ không hẳn đã thương con, vì rất nhiều người trong cảnh đói khổ cùng cực đã không ngần ngại khai thác con mình.
Mấy thằng bé đã can đảm dấn thân trong đêm để đem về nhà số tiền nhỏ cha mẹ chúng bắt kiếm cho bằng được. Lũ con nít ấy từ năm đến mười hai tuổi. Đứa thì đánh giày, đứa thì đứng ở cửa các quán rượu, xin được giữ xe cho tay ăn chơi vừa chui vào trong hộp đêm, đứa thì tìm cách mở cửa xe trước anh gác cổng. Cả ngàn thứ nghề, cả ngàn điều khổ nhục, cả ngàn mảnh lưới để góp nhặt từng đồng, từng đồng bạc hầu đến năm, sáu giờ sáng có được khoảng mười đồng đem về nhà.
Dĩ nhiên là trong bọn con nít ấy, tôi cũng có một số bạn nhỏ, rất đàng hoàng và ý thức tình bạn là thế nào. Chúng chỉ xin tôi giúp đỡ trực tiếp khi nào chúng đuối sức, khi đêm đã tàn để lại chúng thất vọng vì không kiếm được gì. Lúc ấy chúng đến tôi.
Tình bạn giữa chúng tôi rất cảm động, một tình bạn gần như một sự đồng lõa. Nhiều khi, một khách hàng sắp sửa bước lên chiếc xe nhà to tổ bố, tôi xin ông ta nên rộng rãi đối với chúng. Câu nói thường dùng là: “Kìa, làm một cử chỉ đẹp đi! Một phần trăm số tiền ông vừa vứt đi trong hộp đêm này cũng đủ cho thằng bé này”. Chín lần trên mười, kết quả tốt đẹp, tay ăn chơi hào phóng cho thằng bé một tờ 10 hoặc 20 đồng.
Thằng bé thân nhất của tôi tên Pablito. Thấp, gầy, can đảm, nó đánh lại bọn hơn tuổi nó và to con hơn nó, như một con sư tử. Bởi vì trong cuộc tranh sống như vậy, quyền lợi chống chọi nhau và nếu một khách chơi đêm không chỉ định rõ ràng một đứa nào giữ xe, thì khi ông ấy bước ra, đứa nào nhanh chân nhất, đứa đó nhận được tiền. Do đó mới có cả trận chiến thật sự để bảo vệ và để đứa khác tôn trọng những gì của mình hay đáng lẽ là của mình.
Chú bạn tí hon của tôi rất thông minh, nó đã biết đọc các báo nó bán. Không đứa nào bằng nó khi cần chạy trước mấy đứa khác đến cửa một chiếc xe đang ghép vào lề đường. Nó cũng nhanh chân nhất khi chạy những chuyện sai vặt: mua bánh mì thịt, thuốc lá không có bán trong quán rượu.
Mỗi đêm, thằng bé Pablito phải tranh sống để đỡ đần bà nội của nó, một bà nội đã già, rất già, hình như có đầu tóc bạc trắng, cặp mắt xanh mờ, đau phong thấp nặng đến nỗi không còn làm việc gì được hết. Má nó bị ở tù vì đã dùng chai đập vào đầu một thằng láng giềng định ăn cắp chiếc máy thu thanh của bả. Má nó rất đẹp. Chỉ còn nó, Pablito, chín tuổi, là người duy nhất lo cho gia đình. Nó không muốn bà nội nó, em trai và em gái nó đi ra ngoài đường phố Caracas, kể cả ban ngày cũng như ban đêm. Nó là chủ gia đình, nó phải chăm sóc và che chở cho người thân của nó.
Thế nên tôi giúp đỡ Pablito mỗi khi suốt đêm nó kiếm không đủ tiền hoặc trong những trường hợp nguy ngập thường xảy ra: khi cần tiền để mua thuốc cho bà nội hoặc thuê tắc xi đưa bà ấy đi bệnh viện dành cho dân nghèo, khám bác sĩ.
– Henri, Bà nội cũng bị chứng suyển. Thế nên, anh cũng biết, phải tốn kém lắm.
Rồi mỗi đêm. Pablito đưa tôi xem giấy ghi bệnh trạng của bà tội nó. Một hôm, phải cần một số tiền khá lớn: 40 đồng, để mua một chiếc mền cũ. Vì chứng suyển, bà nội nó không thể nằm trên võng, bác sĩ nói nằm võng, ngực bị ép lại.
Như thường lệ, nó ngồi trong xe tôi, một hôm một anh cảnh sát trực đứng nói chuyện với nó, tay chống vào cửa xe, vừa chơi với cây súng lục, đã vô ý làm nổ súng, một viên đạn găm vào vai nó. Pablito được đưa ngay vào bệnh viện. Người ta mổ cho nó, hôm sau tôi đến thăm. Tôi hỏi nó nhà ở đâu và đi đến nhà bằng đường nào. Nó nói nếu không có nó đưa đi thì không thể nào tìm ra nhà, và bệnh tình nó thế này, bác sĩ không cho nó đứng lên.
Đêm hôm ấy, tôi kiếm tụi bạn của Pablito, với hy vọng một đứa trong bọn có thể dẫn tôi đến nhà bà nội nó. Bọn con nít sống trên lề đường đoàn kết với nhau một cách kỳ lạ, tất cả bọn đều nói không biết nhà thằng Pablito ở đâu. Tôi không tin, vì mỗi ngày, vài ba đứa chờ nhau lúc rạng đông để cùng nhau về khu phố của mình. Tôi ngạc nhiên và yêu cầu cô y tá gọi tôi khi nào Pablito có người đến thăm mà cô biết người đến thăm là thân thuộc hay láng giềng của nó. Hai ngày sau, tôi đến bệnh viện sau khi cô ta gọi điện thoại cho tôi.
– Sao đó Pablito, khỏe chứ? Mày có vẻ khó chịu.
– Anh Henri, không có. Vì em đau ở lưng.
– Thế mà nó mới cười đó, bà đến thăm nói.
– Thưa bà, bà là người trong gia đình nó phải không ạ?
– Không, tôi là người láng giềng.
– Bà nội với các em nó thế nào?
– Bà nội nào?
– Bà nội Pablito ấy mà!
– Pablito làm gì có bà nội!
– Lạ nhỉ!
Tôi kéo người đàn bà ra ngoài. Vâng, nó có một em gái, vâng, nó có một thằng em trai, nhưng không có bà nội, má nó không bị tù, má nó là thứ thân tàn ma dại, ngu si, không nguy hiểm nhưng không còn biết gì hết.
Đáng phục thằng bé của đường phố Caracas không muốn người bạn Henri của nó biết mẹ nó nửa ngu nửa si, nó thích mẹ nó ở tù nhưng đẹp, nên đã tưởng tượng ra một bà nội huyền diệu mắc bệnh suyển để cho anh bạn Pháp, khi cho tiền bà nội ấy, sẽ đỡ đần nỗi khổ đau tuyệt vọng của mẹ nó.
Tôi trở lại bên giường thằng bạn nhỏ, nó không dám nhìn thẳng mặt tôi. Tôi nhẹ nhàng nâng cằm nó lên, mắt nó nhắm lại; đến khi nó mở mắt ra, tôi bảo nó:
– Pablito, mày là một thằng ghê gớm.
Tôi chuồi cho nó một tờ một trăm đồng dành cho gia đình nó, rồi tôi bước ra sung sướng và hãnh diện có được một người bạn như nó.
Pablito, một thằng bé lêu lỏng của đường phố Caracas? Không, một tâm hồn đặc biệt được nghịch cảnh tôi luyện từ những bước đầu đời và đang tranh đấu trong các đường phố Caracas để nuôi sống người thân.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.