Banco Papillon – Giang Hồ Tung Cánh

vietmessenger.com

Henri Charrière

Dịch giả: Đinh Bá Kha

Đời Mới xuất bản 1974

Post by Sơn râu 6 Oct 2025

Gơgle image edited by Sơn râu

15. Vụ Tôm Hùm – Vụ Đồng Phế Thải

LẠI trở về Caracas. Bây giờ là năm 1961, mười sáu năm đã trôi qua từ ngày tôi ra khỏi ngục thất El Dorado. Chúng tôi hoàn toàn hạnh phúc, sống vui vẻ, không có vấn đề gì quan trọng. Hoàn cảnh không cho phép tôi gặp lại gia đình tại Tây Ban Nha, nhưng các thư từ trao đổi đều đặn cho chúng tôi biết rõ đời sống của mỗi người.

Ở Caracas, cuộc sống về đêm đã thay đổi rất nhiều, nên mua lại một cơ sở lành mạnh, đẹp đẽ và quan trọng như quán rượu “Le grand Café” tôi đã bán, là một việc làm trên khả năng của chúng tôi, vả lại, cũng không thể nào kiếm ra, lại càng không thể tạo dựng một cơ sở như vậy. Vả lại, một đạo luật lố bịch cho rằng chủ nhân các quán rượu, các tiệm bán rượu mạnh là những người làm băng hoại luân lý công cộng, do đó đã mở cửa cho mọi thứ lạm quyền, lợi dụng của một số viên chức; tôi không muốn chui đầu vào chịu trận.

Phải kiếm một chuyện gì khác. Tôi tìm ra, không phải một mỏ kim cương, mà một mỏ tôm hùm. Cũng tại Maracaibo.

Chúng tôi ở một căn nhà rất đẹp, tôi mua một khoảnh bãi biển và thành lập một công ty lấy tên “Capitan Chico”, tên của khu phố có bãi biển của tôi. Cổ đông duy nhất, Henri Charrière. Đệ nhất cộng sự viên, Rita.

Thế là chúng tôi dấn thân vào một cuộc phiêu lưu kỳ lạ. Tôi mua mười bảy chiếc thuyền đánh cá. Đó là những chiếc ghe lớn trang bị một máy bo-bo năm mươi mã lực và một giàn lưới hai trăm năm mươi sải. Mỗi chiếc thuyền có năm thủy thủ. Một chiếc thuyền trang bị đầy đủ giá mười hai ngàn năm trăm đồng, có đến mười bảy chiếc cũng bộn bạc.

Chúng tôi sống mãnh liệt. Tạo đời sống quanh mình, cải biến nhiều thôn xóm, quét sạch nghèo đói, xóa bỏ tính không thích làm việc do tiền công hậu hỉ, làm tan biến thói lười biếng bằng một nếp sống mới, đó là những việc tôi thực hiện rất lẹ trong các xóm ngư phủ trên bờ hồ, đặc biệt là tại San Francisco.

Hạng dân nghèo ấy không có một tài sản nào hết, chúng tôi cho mỗi nhóm năm người một giàn lưới mà không cần bảo đảm. Họ tự do đánh lưới và chỉ cần cam kết bán tôm hùm cho tôi với giá trong ngày trừ 0,50 đồng bởi vì tất cả ngư cụ và phí tổn bảo trì về phần tôi phải chịu.

Công việc tiến hành tốt đẹp, tôi mê quá. Chúng tôi có ba chiếc xe vận tải có máy ướp lạnh, không ngớt chạy quanh các bãi biển để thu nhặt những gì các chiếc thuyền đã lưới được và cả những hải sản do các ngư phủ khác bán cho người nào mua được giá.

Tôi cho xây trên hồ một cầu tàu dài hơn ba mươi thước, và một cái nền lớn che kín. Tại đây Rita điều khiển một đoàn từ một trăm hai mươi đến một trăm bốn mươi phụ nữ gỡ ruột và bứt đầu tôm. Sau khi rửa đi rửa lại bằng nước lạnh, tôm được sắp theo trọng lượng. Có khi một kí tôm từ mười đến mười lăm con, có khi hai mươi đến hai mươi lăm hoặc hai mươi lăm đến ba mươi con. Tôm càng lớn càng đắt tiền. Mỗi tuần, tôi tiếp từ Hoa Kỳ gởi qua một tờ giấy xanh, cho biết giá tôm hùm mỗi thứ ba. Mỗi ngày, ít nhất có một chiếc DC. 8 bay đi Miami, chở 24.800 kí, đôi khi hai chiếc mà một trong hai chiếc là một DC. 4 chở 12.400 kí.

Tôi có thể kiếm được nhiều tiền nếu một hôm tôi không làm cái chuyện ngu ngốc là nhận cho một thằng Mỹ hợp tác. Mặt nó tròn như trăng rằm, vẻ hiền lành, ngốc và lương thiện. Nó không nói được tiếng Tây Ban Nha, cũng không nói được tiếng Pháp, còn tôi thì không nói được tiếng Anh, nên chúng tôi không thể cãi nhau.

Thằng Mỹ ấy không bỏ vốn, nhưng nó có thuê máy ướp lạnh của một hãng nước đá tên tuổi được bán khắp Maracaibo và vùng ngoại ô. Tôm ướp lạnh bằng máy ấy tuyệt hảo.

Thế là tôi phụ trách việc đánh cá, việc canh chừng các chiếc thuyền, việc tiếp nhận ngư sản trong ngày với ba chiếc xe vận tải có máy lạnh của tôi và trả tiền thẳng cho các ngư phủ, như vậy là tôi cung ứng một mình các số tiền khổng lồ. Có ngày tôi đi ra bãi bọc theo ba mươi ngàn đồng, khi về nhà không còn một xu.

Tất cả chuyện ấy được sắp đặt chu đáo, nhưng không có việc gì làm một mình được, nên luôn luôn phải tranh đấu với các ngư phủ của chính tôi cũng như với các ngư phủ lưu manh.

Ngư phủ là hạng người tánh bổn thiện. Họ ham làm việc vì ham tiền. Nhưng tiền làm ra ấy đã được dùng không đúng cách nên nếp sống của họ vẫn khiêm tốn. Không biết có phải vì họ khôn hay không, nhưng họ không thấy cần phải sửa sang nhà cửa, sắm bàn ghế, có một nhà bếp hay một phòng ngủ ra hồn. Mặc dù tôi đem hết tài hùng biện giải thích cho họ hiểu tất cả lợi ích của sự sửa sang ấy, vẫn còn một căn bản lười biếng cố hữu không cách gì lay chuyển nổi. Thật đáng tiếc, nhưng dù sao tôi cũng đã là cha đỡ đầu của rất nhiều đứa trẻ!

Tai hại nhất là bọn mua tôm lưu manh. Như đã nói, tôi đã thỏa thuận với các ngư phủ dùng ngư cụ của tôi rằng tôi mua ngư sản của họ theo giá trong ngày trừ 0,50 một kí, điều ấy rất phải chăng. Bọn mua tôm lưu manh không có gì phải lo hết. Chúng không có thuyền, chỉ có một máy ướp lạnh mà thôi. Chúng đến bãi biển, mua tôm của bất cứ ai. Một chiếc thuyền có 800 kí tôm, thêm 0,50 đồng một kí, thế là có một sai biệt 400 đồng giữa số tiền do tôi trả với số tiền bọn lưu manh trả cho các ngư phủ của tôi. 400 đồng chia cho năm người, thành ra mỗi ngư phủ được thêm 80 đồng. Phải là thánh mới không ham. Vì vậy, gặp dịp là bọn ngư phủ của tôi nhận bán cho thằng mua lưu manh. Tôi phải bảo vệ quyền lợi của tôi hầu như cả ngày lẫn đêm, nhưng tôi thích công việc tranh đấu ấy.

Khi chúng tôi gởi tôm hùm đi Hoa Kỳ, người ta trả bằng tín dụng thư sau khi xem tài liệu về việc gửi hàng tại ngân hàng cùng với chứng thư kiểm phẩm chất và tình trạng đông lạnh hoàn hảo của món hàng. Ngân hàng trả 80% trên tổng giá, số 15% còn lại được lãnh 72 giờ sau, một khi hàng được nhận và kiểm soát tại nơi đến, với ý kiến từ Miami đến Maracaibo.

Nhiều lúc gặp ngày thứ bảy, khi chở tôm bằng hai phi cơ, người hợp tác với tôi đi theo hàng trên một chiếc. Ngày đó cước phí tăng mỗi kí năm trăm Mỹ kim và tại Miami nhân công bốc dở không đi làm. Phải có người của mình tại chỗ để cho xuống bằng những nhân công đặc biệt, rồi cho lên xe có máy ướp lạnh, đưa đến xưởng của người mua ở Miami hoặc đến Tampa hay Jacksonville. Vì ngày ấy các ngân hàng đóng cửa, không cách gì vận dụng tín dụng thư, cũng không có bảo hiểm nốt. Nhưng qua sáng thứ hai, tại Hoa Kỳ, tôm bán đắt hơn từ mười đến mười lăm phần trăm. Nghiệp vụ này lời nhiều.

Công việc tiến triển tốt đẹp và tôi hân hoan về những chuyến buôn do người cộng tác với tôi đi theo các phi cơ ngày thứ bảy. Cho đến một ngày nó đi không về.

Vì thiếu hàng, như thường xảy ra trong các tháng hồ ít tôm hùm, tôi thuê một chiếc tàu lớn ở Punto Fijo, một hải cảng, và tôi đi Los Roques để mua cả một tàu tôm hùm hảo hạng. Tôi trở về với đầy đủ hàng cần thiết. Đến nơi tôi cho bứt đầu tôm. Thế là tôi có một chuyến hàng rất đắt tiền, toàn là thân tôm hùm cân nặng từ một kí hai trăm đến một kí ba trăm, thứ tốt nhất.

Rồi một ngày thứ bảy nọ, hai chiếc DC. 8 chở đầy thân tôm hùm, do tôi trả tiền thuế, tiền cước phí cùng các chi phí khác, cất cánh với thằng khù khờ hợp tác với tôi và biến mất trong mây.

Thứ hai không tin tức, thứ ba cũng vậy. Tôi đến ngân hàng, từ Miami không có gì gởi đến, tôi không tin nhưng tôi đã biết: tôi bị gạt. Vì các tín dụng thư do cái thằng hợp tác với tôi sử dụng và ngày thứ bảy không có bảo hiểm, nên nó đã bán tất cả chuyến hàng khi đến nơi và ôm tiền bỏ trốn.

Tôi nổi một trận lôi đình kinh khủng rồi tôi đi Hoa Kỳ để tìm cái thằng mặt mẹt, trong lưng tôi dắt theo một con chó lửa. Tôi tìm ra dấu vết nó, điều này không khó, nhưng tại mỗi nơi, chỉ thấy một người đàn bà xưng là vợ chính thức của nó, không biết chồng đi đâu. Như vậy đến ba lần, trong ba thành phố khác nhau! Tôi không bao giờ tìm lại được thằng đã hợp tác đáng quí ấy.

Tôi không còn một đồng. Chúng tôi bị mất một trăm năm chục ngàn mỹ kim. Đành rằng còn mấy chiếc thuyền, nhưng thuyền cũng như máy móc không còn tốt lắm. Vả lại, nghề này hằng ngày cần rất nhiều tiền để hoạt động, chúng tôi không thể tiếp tục, cũng không thể đứng lên được. Gần khánh tận, chúng tôi bán tất cả. Rita không phàn nàn một lời nào, cũng không trách tôi đã quá tin người. Vốn của chúng tôi, số tiền dành dụm của mười bốn năm lao lực, cộng với hai năm hy sinh vô nghĩa và cố gắng liên tục, hầu như mất tất cả.

Khóc không ra nước mắt, chúng tôi từ bỏ đại gia đình ngư phủ và nhân công do tôi tạo lập ra. Họ cũng kinh ngạc và biểu tỏ nỗi đau xót thấy chúng tôi ra đi và cảm tạ chúng tôi, trong hai năm, đã đem lại cho họ một mức sống khá giả hơn trước.

Trở về Caracas. Chúng tôi ở tại một căn nhà xinh xinh, không xa quán rượu “Le grand Café”, ngay giữa khu Sabara Grande.

Làm gì bây giờ?

Không còn vốn để mua lại một cơ sở kinh doanh. Phải tìm ra một cái gì.

Tôi được biết có một nhóm người ngoại quốc kiếm mua tất cả loại đồng điện giải phế thải, số lượng bao nhiêu cũng được. Vụ này khá tế nhị vì loại đồng ấy được kể là nguyên liệu chiến lược. Trong tất cả các nước Nam Mỹ, nguyên liệu ấy do người Hoa Kỳ kiểm soát để cho nó khỏi lọt qua bên kia bức màn sắt. Ở Venezuela, cơ quan phụ trách kiểm soát là cục quân tiếp vận. Theo các người mua, hiện ở Venezuela có một số lượng đáng kể không sử dụng, vì Venezuela không có các phương tiện kỹ nghệ để biến chế. Họ biết hầu như không thể nào đưa số đồng ra nước ngoài, vì phải cần giấy phép xuất cảng chỉ được cấp sau khi quân đội thỏa thuận hoặc ít ra một văn kiện không cản trở việc cấp giấy phép xuất cảng.

Thế là bắt đầu một câu chuyện ly kỳ nhất đời tôi.

Tôi tiếp xúc với các nhóm người mua đồng và cho họ biết tôi là người có thể làm việc này. Sau vài lần tiếp xúc, tôi liền được họ mở tín dụng thư cần thiết để hoạt động, bởi vì trước kia khi đi vận động này nọ, tôi phải được bảo đảm rằng sau khi có kết quả, họ có sẵn những triệu mỹ kim cần thiết. Và số lượng được đưa đến, dĩ nhiên là do họ đứng tên.

Tôi bắt đầu ngay và tiếp xúc hết người này đến người khác. Từ mọi nơi người ta chịu cung cấp những số lượng quan trọng đồng phế thải. Người thì biết có một dây cáp ngầm dưới biển không dùng nữa được đem giấu trong kho, theo họ, quí đến nỗi, kho ấy do lính vệ quốc canh giữ mà không biết trong kho có gì. Người gạ bán giải thích rằng người điểm chỉ vụ này có cho một chi tiết quí giá: dây cáp được chặt ra từng khúc, để vào trong những chiếc thùng cũ, trên mặt thùng có đề gang và sắt phòng khi xuất cảng sẽ khai đó là sắt vụn cũ, thế là hợp pháp.

Một nhà buôn khả kính người xứ Latalogne có một đứa con rể làm tại Công ty Điện lực. Công ty này có hàng ngàn cây số đường cáp cao thế cũ bằng đồng, đã được thay thế bởi những dây cáp bằng một kim loại khác. Theo ông ta, khi nào tôi muốn là có ngay, giá rẻ, trả tiền mặt. Khắp bốn phương tám hướng xứ Venezuela đều có hàng đống đồng, cất giấu rất kỹ, chỉ còn chờ người mua.

Mỗi người bán giữ kỹ bí mật về nguồn gốc của mình, vì thường thường chính người ấy chỉ là trung gian của người mua khác. Thế nên, tuy đa số họ ngay tình, nhưng họ chỉ cho những chi tiết mơ hồ, không bao giờ cho biết tên và không nói đến người bán cho họ. Tất cả đều cơ sở trên lòng tin nhau. Phải cần có các hàng rào im lặng.

Tôi rất quỷ quyệt, tôi mua chịu lương tri của thiên hạ (cũng còn là điều may), khi thì để lâm thời được cấp giấy phép xuất cảng, khi thì để các hội đồng quản trị các Công ty hứa chắc chỉ bán cho tôi mà thôi.

Tôi đã phải đem hết tài năng, thì giờ, tiền bạc, còn lại sau vụ buôn tôm thất bại. Tiền dùng để trả các lần di chuyển, trả tiền thuê nhà đã đến hạn hơn một năm rồi, trả tiền rượu chát, rượu whisky và những bữa ăn thịnh soạn thiết đãi mọi người như một tay tài phiệt.

Tôi tổ chức các cuộc họp, mỗi người gay gắt bảo vệ những triệu mỹ kim sẽ về phần mình. Cách hưởng lợi tức tương lai vừa quan trọng vừa phức tạp. Có những bữa ăn và những phiên họp bí mật với những người mua đồng thiếu kiên trì. Lại có những bữa ăn và những phiên họp bí mật hơn nữa với những người bạn của những người bạn có những người bạn có thể cấp giấy phép xuất cảng của Bộ sở quan. Có người trung gian đề nghị một hải cảng bốc hàng, ở đó anh ta muốn làm gì cũng được: người ta sẽ nhắm mắt, đồng sẽ trở thành chì, gang hay sắt vụn. Người ta tính giá chuyên chở, tôi kết luận phải có một hải cảng cho mỗi vùng. Về phía đông có Guanta, về phía tây có Maracaibo. Tóm lại, càng tính toán với các người mua, càng phải chi tiền, càng nhận thấy khối lượng mỹ kim hàng triệu sẽ được chia rất trọng đại.

Tôi gần thành công. Sau bữa cơm bất hủ do Rita thết đãi mà đến nay một vài thương gia tên tuổi ở Caracas còn nhắc, tôi đã cùng những người bán hoàn thành các chi tiết của vụ này. Tất cả mọi việc đều được tính kỹ. Mỗi người đã ghi cẩn thận số lượng hàng trăm tấn đồng sẵn sàng cung cấp và thảo luận số tiền hoa hồng của mình. Ngày giao hàng được ấn định, cách gói ghém cũng được nói rõ.

Thế là, tứ phía mọi việc đã qui định như một sổ giấy chép nhạc, chỉ còn chờ một sĩ quan Venezuela xác nhận tôi phải làm cách nào để cho các cơ quan liên hệ của quân đội đừng cản trở việc Bộ sở quan cấp giấy phép xuất cảng. Tôi đưa cho viên sĩ quan hồ sơ gồm số lượng, phẩm chất và xuất xứ của khối lượng đồng.

Ngày hôm sau, mọi việc nổ tung. Viên sĩ quan gọi điện thoại cho tôi:

– Bạn ơi, tôi rất đau lòng báo cho bạn biết bạn bán một số đồng nhiều hơn khối lượng đồng hiện có tại Trung Mỹ và Nam Mỹ cộng lại.

Sao lạ thế này? Thằng này điên chắc? Hay nó không muốn lo việc này? Nó cho là bất lương, nguy hiểm? Vì có đồng kia mà! Không thể nào khác! Không lẽ bao nhiêu người ấy đều nói dối cả sao? Nhưng tối lại, nó đến nhà và với tài liệu trong tay, nó cho tôi nhiều bằng chứng không thể cãi được. Tôi không còn gì nghi ngờ về sự thực thê thảm.

Tôi đã quá tin những người bán, những người này tin những người bán cho họ, thường là trung gian giữa cái vòng trước và cái vòng cuối của dây chuyền. Nhưng thường thì đến vòng cuối cùng, đồng chỉ có trong óc tưởng tượng của người bán. Nhiều khi nó làm mồi để thương lượng một vụ khác. Chính anh người Catologne bị lừa như vậy, thế mà người Catologne rất thừa lanh lợi đấy nhé! Người ta làm cho anh ta mua ba tá máy đông lạnh hư hỏng, cho không cũng không ai thèm lấy, vì người ta gạ cho anh thấy một vụ thứ hai: chắc chắn sẽ mua được ba mươi tấn đồng phế thải. Một người bán khác, người Hung, cũng vì hy vọng như vậy mà đem cán cuốc về chất đầy nhà. Từ ngày ấy, anh ta quay mặt khi thấy mấy người phu lục lộ.

Tôi đưa các người bán vào chân tường, nhưng đã quá trễ. Đáng lẽ trước kia tôi phải bắt đầu từ đó. Đi ngược đường dây, những tấn trở thành kí, nhiều khi còn ít hơn. Tại một nơi đáng lẽ có một kho nhiều đồng ghê gớm, tôi chỉ thấy một đống nhỏ đầu đạn súng cối đã dùng trong các kỳ tập bắn, thế thôi. Đường cáp dưới biển không bao giờ có, dây điện cao thế cũng vậy, đường dây hư hỏng của các Công ty dầu hỏa này nọ cũng không có.

Tình hình rất nghiêm trọng, tôi từ trên trời rớt xuống; từ hơn một năm, tôi đã xài gần hết số tiền còn lại vì tin rằng tương lai sẽ được bảo đảm.

Thực ra, chỉ có một việc có thật, đó là những người mua. Đối với họ, tôi cũng không thể bồi hoàn các chi phí khổng lồ về việc chuyển tiền và mở tín dụng thư. Họ không làm gì rắc rối lắm, họ biết tôi đã làm như vậy vì ngay tình và chỉ phạm một lỗi lầm: tin vào những người kia, toàn là những nhà buôn lương thiện.

Khỏi cần diễn tả tâm trạng của tôi lúc bấy giờ. Trong không đầy hai năm, tôi bị lường gạt hai lần. Một lần bị thằng Mỹ mặt tròn như trăng rằm, rồi đến bọn con buôn trưởng giả tự cho làm gì cũng hay. Trên thực tế, chỉ là một bọn không làm được gì hết!

Tôi giận tôi quá đỗi nên nổi lên la hét om xòm trong phòng ăn:

– Từ nay không bao giờ chơi với bọn lương thiện, chúng chỉ tổ ăn gian nói dối! Trong tương lai chỉ chơi với bọn lưu manh chính cống! Ít ra với bọn này, mình còn biết nên làm gì!


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply