Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 10 Nov 2025

Bài 29

Cuộc sống ở đảo Royale (tt)

Thế là không bận tâm đến tư thế sẵn sàng tấn công của tất cả những tên cảnh binh có mặt lúc bấy giờ, chúng tôi kéo nhau trở về khối. Khối “B” đang lũ lượt kéo nhau đi làm cả khối “C” cũng vậy. ở khối chúng tôi thấy có chừng mười hai tên cảnh binh đến, và một việc không bình thường xảy ra: họ đóng cánh cửa sắt lại. Một giờ sau, bốn chục tên cảnh binh đứng thành hai hàng hai bên khung cửa, tiểu liên cầm lăm lăm trong tay. Viên phó chỉ huy trại, viên chỉ huy đội gác, viên giám thị trưởng và cả bọn giám thị đều có mặt đông đủ chỉ trừ viên chỉ huy trại đã đi thanh tra đảo Quỷ từ lúc sáu giờ sáng, trước khi xảy ra biến cố vừa qua. Viên phó chỉ huy trại nói:
– Dacelli, gọi từng người một ra.
– Grandet? Bước ra!
Grandet bước ra đứng giữa hai hàng cảnh binh xếp hai bên cửa sắt. Dacelli nói:
– Đi làm đi!
– Tôi không đi được.
– Anh từ chối phải không?
– Tôi không từ chối. Tôi ốm.
– Từ bao giờ? Lúc điểm danh lần đầu anh có cáo ốm đâu?
– Hồi sáng tôi không ốm. Bây giờ tôi mới ốm.
Sáu mươi người được gọi ra khỏi hàng sau Grandet đều lần lượt trả lời đúng như vậy. Chỉ có một người nói thẳng ra là mình không tuân lệnh. Chắc anh ta có ý định làm cho họ phải đưa anh ta về Saint~Laurent để ra tòa án binh. Khi họ hỏi: “Anh từ chối à?” anh ta trả lời:
– Đúng, tôi từ chối, mà từ chối đến ba lần.
– Ba lần? Tại sao?
– Vì các người làm tôi buồn mửa. Tôi dứt khoát không làm việc cho những hạng người đểu cáng như các anh.
Không khí càng thẳng đên tột độ. Bọn cảnh binh nhất là những tay hãy còn trẻ, khó chịu đựng nối khi bị phạm nhân sỉ nhục đến mức ấy. Họ chỉ chờ có một dịp: một cừ chỉ đe dọa của đám phạm nhân, sẽ cho phép họ ra tay trấn áp. Nhưng trong khi chờ đợi. súng họ vẫn phải chĩa mũi xuống đất.
– Tất cả những phạm nhân đã gọi tên, cởi hết ra. Đi về xà lim!
Trong khi áo quần được cởi bỏ tụt xuống đất chốc chốc lại nghe tiếng ruột con dao rơi xuống khoảng sân tráng nhựa đánh cách một cái. Vừa lúc ấy bác sĩ đến.
– Thôi, đứng lên đã! Bác sĩ đây rồi. Xin bác sĩ khám cho mấy người này. Những ai không được công nhận là ốm sẽ vào xà lim. Những người ốm thật sẽ được trả về khối.
– Có sáu mươi người ốm sao?
– Thưa bác sĩ vâng, trừ người kia không chịu đi làm.
– Nào, tôi bắt đầu khám người thứ nhất? – bác sĩ nói. – Grandet, anh ốm thế nào?
– Tôi mắc bệnh rối loạn tiêu hóa của cai ngục bác sĩ ạ. Chúng tôi dầu là phạm nhân bị xử tội nặng, phần lớn đều là án chung thân. ở quần đảo này không có hy vọng gì vượt ngục. Cho nên chúng tôi chỉ có thể chịu đựng nổi cuộc sống này nếu quy chế nhà tù được áp dụng một cách co giãn chút ít và có hiểu biết, thông cảm với chúng tôi. Thế nhưng sáng nay, trước mặt tất cả chúng tôi, một viên giám thị đã tự cho phép mình giơ cán cuốc định đánh một bạn tù được mọi người kính trọng. Đó không phái là một động tác phòng ngự, vì người tù không hề đe dọa ai cả. Bác ta chỉ nói là bác ta không muốn dùng cuốc. Nguyên nhân của bệnh dịch tập thể của chúng tôi là như thế. Xin bác sĩ cứ suy xét.
Bác sĩ cúi đầu nghĩ ngợi dễ đến một phút, rồi nói:
– Y tá, hãy ghi vào: “Do ngộ độc tập thể vì thức ăn, y tá giám thị Mỗ sẽ thi hành nhưng biện pháp cần thiết để phát cho tất cả các phạm nhân khi ốm hôm nay mỗi người một liều hai mươi gam sulfat natri để tẩy ruột. Còn phạm nhân X thì hây đưa vò bệnh viện để chúng tôi kiểm tra xem khi tuyên bố từ chối lao công anh ta có đang ở trong trạng thái tâm thần bình thường hay không”.
Nói đoạn, bác sĩ quay lưng lại, bỏ đi thẳng. 
– Tất cả về khối – Viên phó chỉ huy trại hô. – Nhặt quần áo lên, và chớ quên mấy con dao. 
Hôm ấy ai nấy đều ở lại phòng giam. Không ai ra ngoài được, kể cả người đưa bánh mì. Đến trưa không thấy đưa xúp vào, mà chỉ thấy viên giám thị y tá, có hai phạm nhân y tá đi theo, xuất hiện với một cái xô bằng gỗ đựng thuốc tẩy sulfat natri. Chỉ có ba người phải uống thuốc. Người thứ tư tự nhiên lên cơn động kinh ngã đúng vào xô thuốc, làm cả cái xô, cả cái gáo và cả cả chỗ thuốc mỗi thứ văng ra một nơi: anh ta bắt chước cơn động kinh giống như hệt! Thế là cái biến cố kia chấm dứt, nếu không kể cái lệnh loan cho trưởng khối là phải lau cho khô chỗ thuốc đổ lênh láng ra sàn nhà.
Suốt buổi trưa hôm ấy tôi ngồi nói chuyện với Castelli. Bác ta đến ăn với chúng tôi. Tổ của bác ta thì có một người Toulon tên là Louis Gravon, bị đày vì tội ăn trộm lông thú. Khi tôi nói chuyện vượt ngục, mắt anh ta sáng quắc lên. Anh nói:
– Năm ngoái tôi đã suýt vượt ngục được, nhưng rốt cuộc cũng bị thất bại. Tôi cũng đã cảm thấy anh chẳng phải là người cam phận, đành chịu bó gối ở đây. Chỉ có điều là đã ở Quần đảo này mà nói chuyện vượt ngục thì chẳng khác nào nói chuyện lên cung trăng. Mặt khác, tôi nhận thấy anh chưa hiểu được dân tù khổ sai ở Quần đảo. Trông thế chứ tám mươi phần trăm tự cảm thấy mình ở đây cũng tương đối sung sướng. Sẽ không có ai tố giác anh bao giờ, dù anh có làm gì chăng nữa. Anh giết người nào. Sẽ không có ai ra làm chứng. Anh lấy trộm ư. Cũng thế thôi. Dù một bạn tù có làm gì thì mọi người đều kết lại bênh vực bạn ấy. Dân tù quần đảo chỉ sợ có mỗi một điều: đó là một cuộc vượt ngục thành công. Vì trong trường hợp đó, cảnh sống tương đối yên ổn của họ bị đảo lộn hoàn toàn: khám xét liên tục, không còn được đánh bài, không còn chơi nhạc được nữa- các nhạc cụ đều bị phá huỷ trong những cuộc khám xét,. không còn được đánh cờ vua, cờ đam nữa. Cũng không được làm đồ mỹ nghệ nữa. Mọi thứ không trừ một thứ gì đều bị xúp hết. Họ lục xoát liên hồi. Đường, dầu ăn, bít tết, bơ đều biến sạch. Xưa nay tất cả những người trốn được khỏi Quần đảo với Quần đảo thì đó vẫn là những cuộc vượt ngục thành công: dù sao họ cũng đã trốn được ra khỏi Quần đảo. Do đó bọn gác bị phạt, và lẽ tự nhiên là họ phải trả thù cả đám phạm nhân.
Tôi vểnh hết tai lên mà nghe. Tôi nghe mà không sao khỏi bàng hoàng. Tôi chưa bao giờ xem xét vấn đề dưới góc độ này.
Castelli nói:
– Đến cái ngày cậu quyết định chuẩn bị một cuộc vượt ngục, cậu hãy coi chừng. Trước khi điều đình với một cậu nào, phải suy nghĩ cân nhắc cho thật kỹ, trừ phi đó là một người bạn chí cốt.
Jean Castelli, chuyên gia bẻ khóa, có một nghị lực và một trí thông minh hiếm có. Bác rất ghét sự hung bạo. Anh em gọi bác ta bằng cái biệt hiệu người Cổ đại. Chẳng hạn bác ta chỉ tắm rửa bằng xà-bông giặt Marseille, và nếu tôi vừa tắm bằng xà-bông Palmolive, bác ta liền nói: “ồ, cậu sặc mùi pê-đê, thật đấy! Cậu lại tắm bằng xà-bông đàn bà rồi!” Tiếc thay, bác ta đã năm mươi hai tuổi, nhưng những gân cốt sắt thép của bác trông thật sướng mắt. Bác nói: “Papi ạ, trông cậu người ta có thể ngỡ cậu là con tôi. Sinh hoạt ở Quần đảo không làm cho cậu quan tâm. Cậu ăn nhiều chỉ vì muốn giữ phong độ, chứ không bao giờ cậu nghĩ đến việc tổ chức một cuộc sống lâu dài trên Quần đảo. Tôi mừng cho cậu. Trong cả đám tù khổ sai ở đây chẳng có nổi sáu người nghĩ như cậu. Nhất là nghĩ đến chuyện vượt ngục. Quả tình, cùng có khối người chi ra hàng gia tài để được miễn giảm và chuyển về đất liền, toan tính sẽ vượt ngục từ đấy. Nhưng ngay ở đây thì không một ai tin là có thể vượt ngục”.
Ông già Castelli khuyên tôi: nên học tiếng Anh và hễ có dịp là phải nói chuyện bằng tiếng Tây Ban Nha với một người Tây Ban Nha. Ông ta có cho tôi mượn một cuốn sách học tiếng Tây Ban Nha trong hai mươi bốn bài. Một cuốn từ điển Pháp-Anh. Ông ta có một người bạn rất thân, người Marseille, tên là Gardès, có am hiểu chuyện vượt ngục. Ông này đã vượt ngục hai lần, lần thứ nhất trốn khỏi trại khổ sai Bồ Đào Nha; lần thứ hai trốn từ Đất Liền. Ông ta có quan điểm riêng về việc vượt ngục từ Quần đảo, Jean Castelli cũng có Gravon, ông bạn người Toulon, lại có một cách nhìn khác nữa đối với sự việc. Không ai nhất trí với ai. Kể từ hôm ấy, tôi quyết định tự mình tìm hiểu lấy vấn đề, và không nói với ai về chuyện vượt ngục nữa.Kể cũng gay, nhưng sự tình có thế. Điểm duy nhất mà cả ba người đều nhất trí là đánh bạc chỉ có mỗi cái lợi kiếm được tiền, nhưng lại rất nguy hiểm. Bất cứ lúc nào cũng có thể bị lâm vào cái thế phải đọ dao với một tay anh chị nào đấy. Cả ba đều là những con người hành động, và quả là những tay cừ khôi đáng gườm so với tuổi tác của họ: Louis Gravon bốn mươi lăm tuổi, Gardès gần năm mươi.
Tối hôm qua tôi được dịp phô bày cho mọi người trong khối thấy cách nhìn nhận sự việc và cách hành động của tôi. Một cậu quê ở Toulouse, người nhỏ bé, bị một tay người Nimes thách đấu dao. Cậu bé người Toulouse mang biệt hiệu Cá Trích, còn anh chàng người Nimes, rất to con được gọi là Con cừu. Con Cừu, đánh trần trùng trục, đúng giữa lối đi, dao lăm lăm trong tay.
– Mỗi ván poker phải nộp tao hăm nhăm francs, nếu không, tao cấm mày đánh.
Cá Trích đáp:
– Xưa nay đánh poker có ai phải nộp ai bao nhiêu tiền đâu. Tại sao anh lại nhè vào tôi mà đòi nộp tiền? Thế sao anh không đòi mấy tay chủ sòng Mareilaise nộp tiền đi?
– Tại sao thì chẳng việc gì đến mày. Một là mày nộp, hai là mày không được chơi nữa, hay mày không muốn đánh nhau?
– Không, tôi chả muốn đánh nhau.
– Mày rét à?
– Tôi rét đấy. Vì tôi có thể ăn một nhát dao, có thể chết vì tay một gã anh chị như anh là một kẻ chưa bao giờ vượt ngục. Tôi là dân vượt ngục. Tôi ở đây không phải để giết ai, mà cũng chẳng phải để bị ai giết.
Tất cả chúng tôi đều chăm chú chờ xem những việc sắp diễn ra. Grandet nói với tôi: “Đúng là thằng bé can đảm thật, mà lại là dân vượt ngục. Thật đáng buồn là mình không thể nói gì vào đây”. Tôi mở con dao xếp để dưới bắp vế. Lúc bấy giờ tôi đang ngồi trên cái “võng” của Grandet. Con Cừu nói:
– Thế thì mày định nộp tiền hay thôi chơi, hở thằng chết rét kia? Nói di.
Đoạn hắn bước một bước về phía Cá Trích. Tôi liền quát: 
– Câm mồm đi Con cừu, hãy để cho nó yên!
– Kìa Papillon, cậu điên rồi ư? Grandet nói.
Vẫn ngồi yên không nhúc nhích, tay đặt sẵn vào chuôi con dao để dưới bắp vế chân trái, tôi nói:
– Không, tôi không điên và tôi yêu cầu tất cả các anh hãy nghe những điều tôi sắp nói. Con Cừu ạ, trước khi đánh nhau với anh (nếu anh bắt buộc tôi phải đánh nhau ngay cả sau khi tôi nói xong), anh hãy để cho tôi ngỏ lời với anh và với mọi người rằng từ khi đến ở cái khối gồm hơn một trăm người toàn là dân trong giới này, tôi đã phải xấu hổ mà nhận thấy rằng cái hành động đẹp đẽ nhất, xứng đáng nhất, cái hành động duy nhất đánh gọi là chân chính: vượt ngục, không được kính trọng ở đây. Thế mà bất kỳ ai đã chứng tỏ được rằng mình là dân vượt ngục, rằng mình có đủ gan mật để đem sinh mạng mình đặt lên bàn cân trong một cuộc vượt ngục, thì kẻ ấy cũng phải được mọi người kính trọng, bất kể mọi chuyện khác. Có ai cho là tôi nói không đúng không? Ai phản đối? (Im lặng) Trong luật lệ của các anh thiếu mất một điều, một điều cơ bản nhất: mọi người đều có bổn phận không những phải kính trọng, mà còn phải giúp đỡ, ủng hộ những người vượt ngục. Không ai bị bắt buộc phải ra đi và tôi chấp nhận rằng hầu hết các anh đều đã quyết định sống suốt đời ở đây Thế cùng được. Nhưng nếu các anh không đủ can đảm để tìm cách sống lại, thì ít ra các anh cũng phải có được lòng kính trọng mà những người vượt ngục xứng đáng được hưởng. Và kẻ nào quên mất điều luật của đạo làm người này, kẻ ấy phải chờ đón những hậu quả nghiêm trọng. Tôi đã nói xong. Con Cừu! Bây giờ nếu anh vẫn muốn đánh nhau, thì có tôi đây.
Nói đoạn, tôi cầm dao nhảy ra giữa phòng. Con Cừu ném dao đi, nói:
– Cậu nói đúng, Papillon ạ, cho nên tôi muốn đánh nhau với cậu không phải bằng dao, mà bằng quả đấm, đề cậu thấy tôi không phải là thằng hèn.
Tôi đưa dao cho Grandet giữ. Hai đứa chúng tôi đánh nhau như hai con chó dữ trong khoảng hai mươi phút. Cuối cùng, nhờ một miếng đòn húc đầu đúng lúc, tôi thắng sát nút. Chúng tôi cùng vào phòng vệ sinh rửa cho sạch máu trên mặt. Con Cừu nói:
– Quả thật sống ở Quần đảo mãi đâm u mê ra. Tớ ở đây thế là đã mười lăm năm nay, mà cũng chưa chi được đến ngàn francs để được miễn giam. Thật xấu hổ.
Khi tôi về tổ, Grandet và Galgani mắng tôi một trận.
– Cậu phát rồ rồi hay sao mà lại đi thách thức và lăng mạ mọi người như thế? Tớ không thể hiểu nổi tại sao không có đứa nào cầm dao nhảy ra “hành lang” để đánh nhau với cậu.
– Không đúng đâu các bạn ạ, chẳng có gì khó hiểu đến thế. Bất cứ ai đã ở trong giới chúng ta, hễ thấy ai nói phải thực sự là chịu ngay.
– Thôi được, – Galgani nói. – Nhưng tôi khuyên cậu đừng bày trò đùa giỡn quá nhiều với cái núi lửa này.
Suốt buổi tối hôm ấy có những gã đến gặp tôi. Họ làm như thể tình cờ ghé qua, nói bâng quơ chuyện này chuyện nọ, rồi trước khi bỏ đi, buông một câu: “Tớ đồng ý với những điều cậu nói đấy. Papi ạ”. Cái biến cố vừa qua đã cho tôi có được một vị trí rõ ràng giữa các bạn tù.
Kể từ buổi ấy, chắc chắn là tôi được họ coi như người cùng giới với họ, nhưng lại không dễ gì chấp nhận những điều đã được mọi người coi như đương nhiên mà không phân tích, phê phán. Tôi dần dần nhận thấy rằng hễ tôi làm chủ sòng, đám bạc không mấy khi có chuyện cãi cọ, và nếu tôi ra một lệnh gì thì họ tuân theo rất nhanh.
Như tôi đã nói, chủ sòng được hưởng hồ năm phần trăm mỗi món tiền được bạc. Hắn ngồi trên một chiếc ghế dài, lưng quay vào tường để đề phòng bất trắc, vì bất cứ lúc nào cũng có kẻ muốn đâm hắn từ phía sau. Trên đùi hắn thường có một tấm chăn che một con dao mở sẵn. Xung quanh hắn, ngồi hay đứng thành vòng tròn, là ba mươi, bốn mươi hay có khi đến năm mươi con bạc từ khắp các miền của nước Pháp sang, lại có cả những dân ngoại quốc nữa, như dân A-rập chẳng hạn, cũng khá đông. Cách chơi rất dễ: một người làm cái (làm “chủ nhà băng”), một người cúp bài ngồi cạnh. Mỗi khi nhà cái thua thì nhường quyền làm cái cho người bên cạnh. Cỗ bài gồm năm mươi hai con. Người cúp bài chia bài rồi giấu đi một con. Người làm cái rút một con bài rồi lật ngửa nó ra trên tấm chăn. Thế là mọi người bắt đầu đặt tiền. Có thể đặt vào cửa của nhà cái hay vào cửa của nhà cúp bài. Khi ai nấy đã đặt xong, tiền xếp thành từng chồng nho nhỏ, nhà cái bắt đầu rút từng con bài một, lật lên. Nhà nào cùng bậc với một trong hai con đã lật trên “thảm” thì thua. Chẳng hạn: nhà cúp giấu một con Năm, còn nhà cái đã lật lên một con Đầm. Nếu rút ra được một con Đầm trước khi rút ra một con Năm, nhà cúp thua. Nếu trái lại, rút ra được một con Năm trước khi rút ra một con Đầm, thì nhà cái thua. Người chủ sòng phải biết mỗi món tiền phải chung cho ai. Việc đó chẳng phái là dễ. Lại phải bênh vực những kẻ yếu, sao cho những kẻ mạnh đừng dùng uy thế bắt nạt họ. Khi người chủ sòng quyết định cách xử lý một trường hợp nghi vấn, quyết định của chủ sòng phải được chấp nhận, không lôi thôi gì hết.
Đêm ấy có kẻ đã giết chết một người Ý tên là Carlino. Anh này sống chung với một cậu thiếu niên được anh ta coi là vợ. Cả hai cùng làm việc ở một khu vườn. Anh người Ý chắc cũng biết là tính mạng của mình đang bị đe dọa, vì khi nào anh ta ngủ thì cậu bé thức, khi nào câu bé ngủ thì anh ta lại thức. Phía dưới hai tấm vải căng làm giường ngủ (“võng”) họ bày lổn ngổn những cái hộp sắt tây rỗng để không ai có thể lần mò đến chỗ họ mà không gây thành tiếng động.
Thế mà có kẻ đã đâm anh ta từ phía dưới lên. Tiếng kêu của người bị đâm lập tức được kế tiếp bằng những tiếng loảng xoảng của đống hộp sắt tây bị sát nhân xô đấy trong khi rút lui vội vàng.
Lúc bấy giờ Grandet đang điều khiển một ván bài “Marseillaise”, xung quanh có đến ba mươi con bạc. Tôi thì đang đứng nói chuyện gần đấy. Tiếng kêu của Carlino và tiếng hộp sắt tây xủng xoảng đã làm cho ván bài phải ngừng lại. Ai nấy đều đứng dậy hỏi xem việc gì xảy ra thế. Cậu bạn trai của Carlino chẳng trông thấy gì, còn Carlino thì đã tắt thở. Ông trưởng khối hỏi mọi người xem có nên gọi giám thị đến không. Không? không nên. Để đến mai, khi điểm danh, báo cho họ biết cũng vừa, anh kia đã chết rồi thì còn cứu giúp được gì nữa mà vội? 
Grandet lên tiếng:
Không có ai nghe thấy gì hết. Cả cậu nữa, cậu nhé – Grandet dặn cậu bé của Carlino. – Mai, khi cậu thức dậy, cậu mới nhận là anh ấy chết rồi. Xong. A-lê, lại đánh tiếp. Thế là đám bạc lại nhốn nháo lên như không hề có việc gì xảy ra cả: “Nhà cúp. Không phải, nhà cái chứ!” vân vân. Tôi sốt ruột chờ xem những gì sẽ diễn ra khi bọn gác phát hiện ra vụ án mạng. Năm giờ rưỡi, tiếng chuông thứ nhất. Sáu giờ, tiếng chuông thứ hai sau đó là cà- phê. Sáu giờ rười, tiếng chuông thứ ba, mọi người ra điểm danh, thường ngày vẫn thế. Nhưng hôm nay thì khác. Đến tiếng chuông thứ hai, khối trưởng nói với tên cảnh binh đi kèm người đưa cà-phê:
– Thưa sếp, có một người vừa bị giết.
– Ai thế?
– Carlino.
– Được
Mười phút sau, sáu tên cảnh binh đến:
– Người chết đâu?
Họ nhìn thấy con dao găm cắm vào lưng Carlino từ phía dưới, qua lần vải. Họ rút nó ra.
– Cáng đi!
Hai người khiêng cáng đưa cái xác chết ra ngoài. Trời dã sáng hẳn. Tiếng chuông thứ ba đã điểm. Tay vẫn cầm con dao vấy máu, viên giám thị trưởng ra lệnh:
– Tất cả ra ngoài, xếp hàng điểm danh. Hôm nay không ai được khai ốm nằm lại.
Mọi người đều ra sân. Những buổi điểm danh ban sáng, bọn chỉ huy và giám thị trưởng bao giờ cũng có mặt. Cuộc điểm danh bắt đầu. Nghe đọc đến tên Carlino, khối trưởng đáp:
Chết đêm qua, đã đưa ra nhà xác.
– Được – tên cảnh binh điểm danh đáp. Khi ai nấy đều đã trả lời: “có”, viên chỉ huy trại giơ con dao lên hỏi:
– Có ai biết con dao này không?
Không ai trả lời 
– Có ai trông thấy kẻ giết người không?
Im lặng tuyệt đối 
– Vậy là không ai có hay biết gì hết, như thường lệ. Các người hãy lần lượt giang tay đi qua trước mặt tôi, rồi sau đó người nào đi làm việc người nấy.
– Thưa thiếu tá, bao giờ cũng chỉ có thế. Không có cách gì biết được kẻ nào là hung thủ.
– Xếp việc này lại, – viên chi huy trại nói. Giữ con dao lại, găm một tấm phiếu ghi là con dao này đã được dùng đem giết Carlino.
Thế là xong. Tôi trở về khối nằm ngủ, vì suốt đêm qua tôi không chợp mắt. Trong khi dần dần thiếp đi, tôi nghĩ cái thân một thằng tù khổ sai thật chẳng ra gì Dù có bị ám sát một cách hèn hạ, người ta cũng chẳng buồn bỏ công tìm cho ra thủ phạm. Đối với ban Quản trị, mạng một thằng tù chẳng là cái gì hết. Chẳng bằng mạng một con chó.
Tôi đã quyết định bắt đầu làm công việc đổ thùng thứ hai. Đến bốn rưỡi sáng tôi và một người nữa sẽ đi đổ các bô phóng uế của khối A tức khối của chúng tôi. Theo nội quy của trại thì phải đưa ra tận bờ biển mà đổ. Nhưng chúng tôi trả tiền cho người đánh xe trâu: hắn đợi chúng tôi ở một nơi có khe xây xi-măng dẫn xuống biển. Chúng tôi đổ bô xuống đấy, rồi anh đánh xe trâu trút xuống ba ngàn lít nước biển đựng trong một cái phùng ton-nô khổng lồ mà anh ta vừa xe từ biển lên cuốn hết các thứ xuống biển. Để thật sạch, chúng tôi dùng thêm một cái chổi cứng để lùa các thứ bẩn. Công việc chỉ trong vòng không đầy hai mươi phút là xong. Mỗi ngày chúng tôi phải trả hai mươi francs cho anh kia – một anh da đen đảo Martinique rất dễ thương. Vì đây là lần đầu, tôi phải xách một dãy bô xỏ quai vào hai thanh gỗ, cho nên mỏi cổ tay lắm. Nhưng tôi sẽ chóng quen.
Người bạn mới của tôi rất sốt sắng niềm nở, thế mà Galgani nói đó là một con người cực kỳ nguy hiểm. Đâu như hắn đã phạm đến bẩy vụ giết người ở Quần đảo. Nghề làm ăn của hắn ở dây là bán cứt. Số là mấy người làm vườn đều cần phân. Anh làm vườn đào một eái hố, lót vào đấy một ít lá khô và có thể là anh da đen Martinique bí mật đưa vài xô cứt đến đổ vào đấy. Dĩ nhiên việc này không thề làm một mình, cho nên tôi buộc lòng phải giúp anh ta. Nhưng tôi biết đây là một lỗi rất nặng, vì qua rau quả bị ô nhiễm, có thể lan truyền bệnh kiết lỵ trong các gia đình nhân viên giám thị cùng như trong các khối phạm nhân. Tôi quyết định là một ngày nào đó, khi đã quen nhau hơn, tôi sẽ bảo anh ta đừng làm việc này nữa. Dĩ nhiên tôi sẽ đền bù cho anh ta số tiền mà anh ta sẽ mất vì thôi nghề bán phân.
Ngoài công việc này ra, anh ta còn biết khắc chạm sừng bò. Về phần đánh cá, anh ta nói với tôi là chẳng biết gì để bày vẽ cho tôi, nhưng nếu ở bến tàu, Charpar hay một người nào khác sẽ có thể giúp ích cho tôi.
Thế là tôi làm nghề đổ thùng. Xong việc, tôi tắm rửa sạch sẽ, mặc đồ sọc và ngày ngày ra bờ biền câu cá, muốn câu bao nhiêu thì câu. Tôi chỉ có một bổn phận: đúng giữa trưa phải có mặt ở trại. Nhờ Chapar, tôi không thiếu cần câu và lưỡi câu. Nhưng hôm tôi từ dưới bờ biển đi lên, tay cầm sợi dây thép xâu cá một chuỗi cá hồng, chẳng mấy khi không có những cô vợ giám thị đứng trong nhà gọi ra rối rít. Họ đều biết tên tôi:
– Bươm bướm ơi! Bán tôi hai cân cá hồng nào!
– Bà ốm à?
– Không.
– Thằng bé con bị ốm à?
– Không.
– Thế thì tôi không bán cá cho bà đâu.
Tôi câu được khá nhiều, thường đem cho các bạn ở trại. Tôi đổi tôm cá lấy bánh mì sáo, lấy rau quả hay trái cây, ở tổ tôi mỗi ngày ít ra cũng có một bữa cá. Một hôm, tôi đang đi từ biển lên, tay xách một tá tôm he lớn và bảy tám ki-lô cá hồng. Đi ngang nhà thiếu tá Barrot thì thấy một bà, người hơi đẫy, nói với tôi:
– Anh câu được nhiều quá, Papillon nhỉ. Biển động thế này có ai câu được gì đâu? ít ra đã mười lăm hôm nay tôi không được ăn cá. Thật đáng tiếc là anh không bán cá. Nhà tôi có cho tôi biết anh không chịu bán cá cho vợ các nhân viên giám thị. 
– Thưa bà đúng thế. Nhưng đối với bà thì có thể khác?
– Tại sao?
– Tại bà hơi mập, ăn thịt không được tốt.
– Đúng đấy, họ nói là tôi chỉ nên ăn rau và cá luộc. Nhưng ở đây làm gì có đủ mà ăn?
– Đây, xin bà cầm lấy mớ tôm he và mấy con cá hồng này.
Đoạn tôi đưa cho bà ta cả xâu tôm he và khoảng hai cân cá hồng.
Kế từ hôm ấy, cứ lần nào câu được kha khá, tôi lại đem biếu bà ta một ít, đủ để có được một chế độ ăn thích hợp với tạng người bà. Bà thừa biết rằng ở Quần đảo này thứ gì cũng phải mua bán sòng phẳng, nhưng lần nào bà cũng chỉ đáp lại món quà của tôi bằng hai tiếng “cám ơn” mà thôi. Bà làm như thế là phải, vì bà đã cảm thấy rằng nếu đưa tiền, tôi sẽ phật lòng. Nhưng có nhiều lần bà lại mời tôi vào nhà. Bà tự tay rót cho tôi một ly rượu hồi hay một cốc vang trắng. Nếu bên Corse có gửi figatelli cho bà, bà cũng cho tôi một ít. Không bao giờ bà Barrot hỏi tôi về dĩ vãng. Chỉ có một lần, nhân nói đến trại khổ sai, bà lỡ lời nói: “Quả tình, ở Quần đảo thì không vượt ngục được, nhưng ở đây khí hậu lành, còn hơn phải thối rữa ra như một con vật ở đất liền”.
Chính bà đã giảng giải cho tôi biết sự tích tên gọi Quần đảo: dạo có dịch sốt vàng ở Cayenne, các tu sĩ dòng áo trắng và các bà xơ trong một tu viện nọ đã đến đây lánh nạn, và đều đã thoát nạn. Vì thế mà Quần đảo được gọi là Quần đảo Salut (Quần đảo Cứu nạn). Nhờ cái nghề câu cá, tôi được đi khắp đảo. Tôi làm công việc đổ thùng đã được ba tháng nay, và tôi biết rõ địa thế của đảo hơn ai hết. Tôi đi quan sát các khu vườn lấy cớ là đến đổi cá lấy rau quả. Người trông khu vườn ở cạnh nghĩa địa giám thị là Matthieu Carbonieri, bạn cùng tổ với tôi. Anh ta làm việc ở đấy một mình, cho nên tôi tự nhủ là sau này chúng tôi có thể đóng bè và giấu bè trong khu vườn của anh. Còn hai tháng nửa thì ông chỉ huy trại sẽ đổi đi nơi khác. Tôi sẽ được tự do hành động.
Tôi đã tổ chức được nếp sinh hoạt của tôi: về danh nghĩa tôi là phu đổ thùng, nhưng công việc lại do anh chàng người Martinique làm thay, dĩ nhiên là có trả tiền. Tôi đã có những thao tác làm thân với hai anh em su gia Narric và Quenier, bị khổ sai chung thân. Người ta thường gọi họ là hai anh em rể Đẩy Xe. Họ kể lại rằng hai anh em bị tố cáo là đã biến cái xác của một người đi thu tiền mà họ vừa giết chết thành một khối xi-măng rồi đem đổ cái khối ấy xuống sông. Có những nhân chứng khai là nhìn thấy hai anh em chở khối xi-măng trên một chiếc xe đẩy, đem trút xuống sông Marne hay sông Seine gì đấy. Cuộc điều tra xác định rằng người thu tiền có ghé nhà họ thu một món gì đấy rồi từ đấy không còn thấy tăm hơi đâu nửa. Hai anh em đã phủ nhận tội này từ đầu cho đến nay. Ngay ở trại tù họ cũng nói là mình vô tội. Thế nhưng, nếu người ta không bao giờ tìm được cái xác, thì người ta lại tìm thấy cái đầu của nạn nhân bọc trong một chiếc khăn mùi soa. Thế mà ở nhà hai anh em lại có những chiếc khăn mù soa dệt cùng một kiểu chính thứ sợi ấy, theo lời “các chuyên gia thẩm định”. Nhưng các trạng sư và bản thân các chuyên gia ấy lại chứng minh được rằng có đến mấy ngàn thước vải như thế đã được khâu thành mùi soa. Ai cũng có thể có những chiếc mùi soa như thế. Tuy vậy, cuối cùng hai anh em vẫn bị khổ sai chung thân, và vợ của một trong hai người, em gái của người kia, bị hai mươi năm tù cấm cố.
Tôi đã làm thân được với họ. Vì làm thợ nề cho nên họ có thể ra vào công xưởng của trại. Có lẽ họ có thể tuồn dần ra cho tôi, từng ít một, những vật liệu cần thiết để đóng một cái bè. Nhưng còn phải thuyết phục họ.
Hôm qua tôi đã gặp ông bác sĩ. Lúc ấy tôi đang vác một con cá nặng ít ra là hai mươi ki-lô, thịt rất bùi, gọi là cá mérou. Bác sĩ cùng đi với tôi lên đỉnh đồi.
Lưng chừng dốc, chúng tôi ngồi xuống nghỉ trên một bức tường thấp. Bác sĩ nói với tôi là đầu con cá này nấu canh ngon tuyệt. Tôi bèn biếu bác sĩ cái đầu cá, dính theo một mảng thịt lớn. Bác sĩ ngạc nhiên và cái cử chỉ ấy của tôi, ông nói:
– Anh chẳng thù dai, Papillon nhỉ.
– Thưa bác sĩ, tôi làm như vậy không phải vì bản thân tôi. Chẳng qua tôi thấy có bổn phận phải trả ơn bác sĩ và bác sĩ đã hết lòng cứu chữa Clousiot bạn tôi.
Chúng tôi nói chuyện qua lại một lát, rồi bác sĩ nói:
– Anh muốn vượt ngục lắm phải không? Anh chẳng phải là tù khổ sai đâu. Tôi có cảm giác anh là một hạng người khác.
– Bác sĩ nói đúng đấy. Tôi không thuộc trại khổ sai, tôi chỉ ghé vào tham quan thôi.
Bác sĩ cười. Tôi tấn công luôn:
– Bác sĩ không tin rằng một con người có thể cải hóa được sao?
– Tôi tin chứ..
– Bác sĩ có thể nghĩ rằng tôi có thể làm việc hữu ích ở ngoài đời mà không gây hiểm họa gì cho xã hội và có thể trở thành một công dân lương thiện được không?
– Tôi thành thật tin như thế:
– Thế thì tại sao bác sĩ không giúp tôi đạt được điều đó?
– Bằng cách nào?
– Bằng cách cho tôi miễn giam vì bệnh ho lao. Đến đây bác sĩ đã xác nhận một điều mà tôi đã từng nghe nói.
– Làm như thế không được, và tôi khuyên anh đừng nghĩ đến cách đó. Nó quá nguy hiểm, Ban Quản trị chỉ miễn giam một phạm nhân vì bệnh sau khi hắn đã nằm ở khu điều trị dành riêng cho bệnh ấy ít nhất là một năm.
– Để làm gì?
– Cái này nói ra cũng xấu hổ, nhưng tôi nghĩ rằng họ làm như thế là để phạm nhân biết, nếu hắn giả vờ bệnh, rằng hắn rất có khả năng bị nhiễm vì sống chung với các bệnh nhân thật, và để hắn nhiễm bệnh thật sự. Cho nên tôi không thể giúp anh được.
Kể từ ngày ấy, chúng tôi trở thành đôi bạn… Cho đến ngày ông ta suýt làm cho Carbonieri bạn tôi mất mạng. 
Số là Carbonieri, với sự thỏa thuận của tôi, đã nhận làm đầu bếp kiêm giữ kho cho nhà ăn các giám thị trưởng. Nhận việc này là để nghiên cứu xem có thể lấy trộm ba cái thùng ton-nô trước đó đựng rượu vang, đựng dầu và đựng dấm, tìm cách buộc nó lại với nhau làm thành một thứ bè để ra biển không. Dĩ nhiên là khi nào thiếu tá Barrot đã đi khỏi. Việc này rất khó, vì cùng một đêm phải lấy trộm cả ba cái thùng, đưa ra bờ biển đừng để ai trông thấy hoặc nghe thấy, rồi dùng dây cáp buộc lại. Phải vào một đêm giông bão, mưa to gió lớn may ra mới có thể làm được. Nhưng nếu mưa to gió lớn thì việc khó nhất sẽ là đưa cái bè này xuống nước, vì tất nhiên sóng sẽ đánh vào bờ đá hết sức dữ dội.
Vậy Carbonieri là đầu bếp. Viên quản lý bếp đã đưa cho anh ta ba con thỏ để chuẩn bị cho bữa ăn hôm sau, vào ngày chủ nhật. Carbonieri lột da thỏ ra (điều này thật là may), đem một con gửi cho thằng em ở bến tàu còn hai con gửi cho chúng tôi. Rồi anh ta thịt ba con mèo to nấu một nồi xi-vê ngon không thể tả. 
Chẳng may cho Carbonieri, hôm sau bác sĩ được mời dự bữa ăn. Trong khi nhấm nháp món xi-vê thỏ, ông ta nói với viên quản lý:
– Ông Filidori ạ, xin có lời khen ngợi thực đơn của ông: món thịt mèo này ngon tuyệt.
– Xin bác sĩ đừng xỏ tôi, chúng ta đang ăn ba chú thỏ tuyệt vời.
– Không đâu, – ông bác sĩ khăng khăng nói quả quyết- Đây là thịt mèo. Ông có nhìn thấy mấy miếng xương sườn tôi đang ăn đây không? Xương sườn này dẹp, mà sườn thỏ thì tròn. Vậy không thể có sự nhầm lẫn gì được: chúng ta đang ăn thịt mèo.
– Lạy Chúa, Cristacho! – viên quản lý người Corse nói. – Trong bụng tôi có một con mèo rồi.
Thế là hắn chạy bổ xuống bếp dí súng lục vào mặt Matthieu nói:
– Mày có là dân sùng mộ Napoléon như tao cũng mặc, tao sẽ giết mày chết ngay bây giờ về tội đã cho tao ăn thịt mèo.
Mắt hắn trợn lên như mắt người điên. Carbonieri không hiểu nổi làm sao hắn biết được, nhưng vẫn nói:
– Nếu ông gọi mấy cái con gì mà ông đưa cho tôi là mèo, thì tôi cũng đến chịu: đó chẳng phải là lỗi của tôi.
– Tao đưa cho mày ba con thỏ kia mà!
– Ông đưa gì tôi nấu nấy. Ông cứ nhìn mà xem: da với đầu còn kia kìa.
Lão cớm nhìn ba bộ da và ba cái đầu thỏ, chẳng còn biết nói sao.
– Thế ông bác sĩ chỉ nói mò à?
– Té ra ông bác sĩ nói thế sao? – Carbonieri vừa thở hắt ra vừa hỏi. – Ông ấy trêu ông đấy. Ông phải nói cho bác sĩ biết là không nên đùa cái kiểu như vậy.
Nguôi giận, yên lòng, Filidori trở vào phòng ăn, nói với bác sĩ:
– Ông cứ tha hồ nói đi, muốn nói gì thì cứ nói ông bác sĩ ạ. Men rượu bắt đầu bốc lên rồi đấy. Mấy cái xương sườn của ông nó bẹp hay nó tròn mặc nó, chứ tôi thì tôi biết chắc mười mươi đây là thịt thỏ. Tôi vừa nhìn thấy ba bộ lông và ba cái đầu của nó còn sờ sờ ra đấy.
Thật hú vía cho Matthieu, nhưng mấy hôm sau anh ta thấy nên xin từ chức đầu bếp thì tốt hơn.
Ngày tôi có thể sắp sửa hành động đã đến gần.
Chỉ còn mấy tuần nữa là Barrot ra đi. Hôm qua tôi vừa ghé thăm bà vợ béo tốt của ông ta (nhân thể cũng xin nói rằng nhờ chế độ ăn cá luộc với rau tươi, bà ta đã gầy bớt đi nhiều). Ngời đàn bà tốt bụng này đã mời tôi vào nhà để tặng tôi một chai rượu canh-ki-na. Trong phòng khách tôi nhìn thấy mấy cái rương đi tàu thủy đang được xếp đồ đạc vào. Họ đang chuẩn bị cho chuyến ra đi. Bà thiếu tá, như mọi người vẫn quen gọi bà ta, nói với tôi:
– Papillon ạ, tôi không biết lấy gì để cảm ơn anh đã quan tâm đến tôi mấy tháng gần đây. Tôi biết những hôm biển động cá hiếm anh đã cho tôi tất cả những gì anh câu được. Tôi cảm ơn anh nhiều lắm. Nhờ anh bây giờ tôi thấy trong người dễ chịu lắm. Tôi đã bớt được mười bốn ki-lô. Tôi có thể làm gì để tỏ lòng biết ơn anh đây?
– Thưa bà, một việc rất khó đối với bà: kiếm cho tôi một cái la bàn tốt. Chính xác, nhưng đừng to quá.
– Cái này vừa không đáng là bao, lại vừa là việc lớn đấy, Papillon ạ, mà chỉ trong vòng ba tuần phải kiếm cho ra thì hơi khó cho tôi đấy.
Tám ngày trước khi ra đi, người đàn bà cao thượng này, bực mình vì mãi không kiếm đâu ra được một cái la bàn; đã dám lên tàu thủy đi Cayenne. Bốn hôm sau, bà trở về với một cái la bàn chống nhiễm từ tuyệt hảo.Sáng nay, hai ông bà chỉ huy trại lên đường. Hôm trước ông đã trao quyền chỉ huy cho một sĩ quan cảnh binh cùng cấp với ông, một người quê ở Tunisie tên là Prouillet. Một tin mừng: viên chỉ huy mới đã quyết định cho Dega giữ nguyên chức kế toán trưởng. Điều này rất quan trọng đối với mọi người, nhất là đối với tôi. Trong bài diễn văn đọc trước đám phạm nhân tập hợp thành đội ngũ hình vuông trong khoảng sân lớn, viên chỉ huy mới làm cho mọi người cảm thấy đây là một con người rất cương nghị, nhưng thông minh. Ngoài những chuyện khác ra, ông ta có nói với chúng tôi:
– Kể từ hôm nay, tôi đảm nhiệm quyền chỉ huy Quần đảo Salut. Nhận thấy có phương pháp cai quản của người đi trước tôi đã đem lại những kết quả tích cực, tôi không thấy có lý do gì để thay đổi chế độ hiện hành. Nếu các người không làm điều gì buộc tôi phải có biện pháp khác, tôi sẽ không thay đổi gì trong nếp sống của các người.
Tôi nhìn hai ông bà chỉ huy cũ ra đi mà lòng mừng khấp khởi. Điều đó cũng rất dễ hiểu, tuy thời gian chờ đợi đã trôi qua một cách nhanh chóng lạ lùng. Cuộc sống tưởng chừng như tự do mà hầu hết các phạm nhân trên đảo được hưởng, những ván bài, những buổi đi câu những cuộc chuyện trò, những người bạn mới, những cuộc cãi vã những trận đánh nhau làm thành những phương tiện giải trí rất hữu hiệu, khiến người ta không còn thì giờ để mà buồn chán nữa.
Tuy thế, tôi đã không để cho cái không khí này lôi cuốn tôi thực sự. Mỗi lần tôi kết thân với một bạn mới, bao giờ đồng thời tôi cũng tự đặt ra câu hói: “Anh này liệu có ý định vượt ngục không? Nếu không, anh ta có đủ lòng tốt để giúp người khoẻ chuẩn bị một chuyến vượt ngục không?”
Tôi chỉ vì cái mục đích ấy mà sống: vượt ngục, vượt ngục cho bằng được, dù đi một mình hay cùng đi với bạn cũng thế thôi. Đó là một ý nghĩ thường xuyên ám ảnh tôi, tuy tôi theo đúng lời như Jean Castelli đã khuyên tôi, không nói hở ra với ai hết, nhưng ý nghĩ ấy không giây phút nào rời khỏi tâm trí tôi. Và tôi sẽ vững lòng thực hiện lý tưởng của tôi: vượt ngục.

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 9 Nov 2025

3. Chương 3

Khóc cho tuổi già vô dụng

(Viết từ ngày 30-4-1990)

Vừa rồi, ngày 29/4, một bạn trẻ đến nhà, cho tôi xem tờ Lao Động số 15/90 (20) đề ngày chủ nhật 29-4-1990. Nơi chương 3 có bài của ông Nguyễn Đắc Xuân, dưới nhan điều tra xã hội về vấn đề lăng mộ vua, chúa Nguyễn ở Huế bị đào “Đâu Rồi Những Báu Vật”?

Tôi đọc bài nầy mà nước mắt cứ tuôn… và tự trách sống làm chi để nghe thấy những việc thương tâm như vầy. Và lại, tôi còn năm tháng nữa, đến ngày 27 tháng 9 âm lịch tới đây là tôi ăn tuổi chín chục, đâu còn dư nước mắt khóc chuyện bá vơ. Với tuổi già lẩn thẩn, xin cho tôi tóm tắt kế lại những gì anh Nguyễn Đắc Xuân đã viết. Ban đầu tôi gọi ông, nay tôi lại gọi anh, rõ tôi lầm cẩm và lần thần chưa? Lý do là giữa hai tôi có chút tình biết nhau từ trước nơi trường Đại học Văn khoa Huế, Đắc Xuân là sinh viên, còn tôi vốn là trợ giáo giảng viên chỉ dẫn môn “văn chương miền Nam”, dấu nặng ra dấu huyền, một tỷ dụ khác, năm đó tôi đen quán cơm, xin một món gà xáo măng, khi dọn ra, tôi không thấy chút măng kho măng tươi nào, tôi hỏi chủ quán, ông tỉnh bơ trả lời: “Mặn như vậy thôi chứ còn muốn mặn làm sao nữa”, tôi là giáo cá ra dạy tiếng Miền Nam, đành chịu thua ông chủ quán Huế!

Tóm tắt để phê bình bài của anh Xuân, và xin Xuân đừng phiền:

Bài anh viết khéo, khéo đón ngó ngăn rào. Bấy lâu tôi từng đọc bài của anh trong báo Sông Hương, anh từng đi kháng chiến, nên anh mạnh viết, chớ như tôi đã già, đã về vườn, không chút công với xã hội, tôi dư biết cho thân, thà làm dế trốn trong hang, có lẽ được yên thân hơn là múa mép gáy cho trẻ nhỏ biết chỗ trốn, chúng đổ nước ngập hang, bắt về nuôi trong hộp diêm (hộp quẹt), thinh thoảng bắt ra đá độ, gãy càng queo râu toi mạng.

Vô đầu, anh nhắc một anh bạn tên Huế, đã từng cùng anh ở chung một cơ quan Tuyên huấn Thành ủy, nay anh Huế cho biết bọn gian đào mồ cuốc mả, đã đào phá lăng bà Từ Dũ thái hậu nhà Nguyễn, để lấy vàng. Tôi nay không biết bọn quân gian ấy, cả tháy sáu tên, đã bị xử tội cách nào, nay duy biết số vàng chúng cướp đã bị Nhà Nước thâu lại. Việc đào phá mộ lăng xảy ra năm 1983, mà cho đến nay 1990, mới được anh mạnh dạn phanh phui, riêng tôi tuy giận và ghét quân gian ăn trộm vàng, nhưng một lẽ khác tôi lại thấy nhờ tay chúng nó, của báu mới chường ra mặt trời, và theo tôi tội đáng trách nhứt là ông, mấy ông cầm cân nẻ mực, xử lý, tôi không trách hết cả đám đâu, và đây tôi xin kể dài dòng cách thức anh Nguyễn Đắc Xuân, theo dấu và dò lần từ đầu chí cuối. Thâu tóm được tang vật, giao cho ban quản lý ngân hàng tỉnh Bình Trị Thiên (nay là Thừa Thiên, Huế), nhưng việc theo dấu tang vật để thâu lại, việc ấy không phải dễ dàng. Anh Xuân vào Đại Nội hỏi thăm, gặp ban giám đốc công ty quản lý, di tích nơi cất giữ báu vật, thì đồng chí giám đốc cơ quan nẩy cho biết các báu vật ấy đã giao qua ngân hàng B.T.T., khi ấy anh Xuân không nệ khó nhọc, di lần từ tòa án tỉnh, tòa án thành phố Huế, rồi qua ban trị sự Nguyễn Phước tộc, qua ban trị sự Phủ Tuy Lý Vương, các cơ quan ấy đều tận tình giúp anh Xuân, và anh Xuân cho hay các cơ quan lập thống kê gần giống nhau.

Nhắc lại công an thành phố Huế bắt được vụ trộm vào ngày 18-5-1983, các tang vật được niêm phong tại ngân hàng B.T.T. vào năm 1983. Hội đồng niêm phong có chữ ký rô ràng là các vị: Nguyễn Hữu Nhĩ (công ty di tích Huế), Lê Minh Huê (công an thành phố Huế), Ánh Tuyết (viện kiểm sát thành phố Huế), – tôi đọc đến đây thấy việc họ làm là rất chu đáo, và như lời anh Xuân viết trong bài, nhìn nhận các cơ quan và ngân hàng B.T.T., làm việc rất chặt chẽ, nghiêm túc. Và kể từ đây, việc làm mới thật là đáng trách:

Vụ án được tòa án Bình Trị Thiên xử sơ thẩm, và tòa án Nhân Dân tối cao tại Đà Nẵng xử phúc thẩm. Tòa sơ thẩm quyết định đem sung công một số báu vật, nhưng tòa xử phúc thẩm (ông Mãn Vi Đinh, ngồi đầu tòa, bồi thẩm có Nguyễn Trọng và Huỳnh Mạo), lại quyết định cái án sơ thẩm (về vụ Hoàng Văn Huỳnh), giữ tất cả di vật vàng bạc châu báu đăng ký, gới tại ngân hàng B.T.T., theo phiểu gởi 785 gồm 19 khoản (chớ không phải 18 như Xuân đã kể nơi đoạn trước), có danh sách kèm theo “nay đem vào sang công quỹ Nhà Nước”.

Và đây nguyên văn của bài anh Nguyễn Đắc Xuân:

“Những báu vật đã bị hành quyết”.

“Thực hiện quyết định của tòa án tối cao, ngày 26-12-1988, ngân hàng B.T.T cùng với các vị Trần Nguyên Lượng, (đại diện tòa án B.T.T), bà Nguyễn Thị Thu Dung (Sở Tài chánh),

Hoàng Thị Như An, (viện kiểm sát tỉnh Thừa Thiên), Lê Duy Lâm (công an thành phố Huế); không có đại diện cơ quan Văn hóa, tổ chức hội đồng Hóa nghiệm, để sung số báu vật trên vào công quỹ.

“Và sự hóa nghiệm đã cho thâu:

“vùng 13 lượng 9 chí 5 phân,

“bạc: 0,010kg,

“ngọc: 1890 ca-ra:

“Tất cả số vật chất này đưa qua công ty vàng bạc bán được 23.362.122 đồng, (Thời giá lúc đó 2.300.700đ/lượng). Số vàng ngọc bị rổ, có cái bán 4.000 đồng, có cái chí bán được 2.000 đồng (tương đương một lon bia ở khách sạn du lịch). Lấy số tròn là 23.300.000 đồng… Không phải tất cả những báu vật trên đều bị ngân hàng hóa nghiệm. Một số đã bị bọn tội phạm đem đi hóa nghiệm làm ra khâu trước. Ngân hàng chỉ thâu lại bằng vàng chớ không phải bằng báu vật. Hơn nữa muốn nhập vô ngân sách, Nhà Nước trước nhất phải hóa nghiệm ra vàng rồi mới nộp được.

“Thế là tất cả những báu vật mà công ty quản lý di tích giờ nảy cứ tưởng đang được cất giữ rất bảo đảm ở ngân hàng tỉnh nhà, thì ra chúng đã bị hóa nghiệm từ cuối năm 1988”.

Đọc đến dây, lòng tôi bị cảm kích quá độ, tôi khóc ngay hay là nước mắt cứ tuôn trào, tôi nay thuật lại đây, vẫn bời rời đứt đoạn như nước mắt, xin độc giả niệm tình dung thứ và hãy cho tôi chép lại đây đoạn cuối của bài anh học trò cũ Nguyễn Đắc Xuân, mặc dầu như vầy là dài dòng, nhưng cốt để cho câu chuyện có thủ có vĩ. Bài anh Xuân viết tiếp:

“Đ/c Ưu (Lê Văn Ưu, người quản lý vàng bạc phạm pháp của ngân hàng tỉnh), đ/c Ưu cho biết số tiền trên đây đã được trích theo chế độ đã được ban hành để thưởng cho đơn vị đã phát hiện và tớm cổ được bọn tội phạm. Số còn lại theo quyết định 242 của tỉnh, nộp 50% vào ngân sách thành phố và 50% vào ngân sách tỉnh.

“Việc hóa nghiệm vừa nói gây ra nhiều điều thiệt hại:

“1) Dưới cái nhìn đơn thuần kinh tế: Nếu để nguyên những báu vật ấy, trao cho mọi người biết đó là những báu vật của bà Hoàng Thái Hậu có thế lực nhất của triều Nguyễn, là bà Từ Dũ, lại lấy dưới mộ của bà, theo cái giá của những nhà chơi đồ cổ, chắc cũng phải lên đến hai trăm ba mươi triệu, một cái vòng ngọc ít nhất cũng bán được 100.000 đồng, chứ không phải chỉ bằng một tô bún hoặc lon bia xuất khẩu. Nói như thế cho hết lý, chớ nữ nào lại đem đi sản văn hóa của cha ông đi bán đấu giá!

“2) Dưới cơn mắt của người làm văn hóá, chì đó là một thiệt hại không thể nào bù đắp được. Những báu vật ấy gớp phần biểu thị cho nền văn hóa vật chất của dân tộc ta thế ký thứ XIX là những báu vật vô giá.

“3) Dưới cơn mắt của người lao động, (trí óc và chơn tay), đó là một xúc phạm thô bạo. Tài năng của người nghề gì, của người thợ làm nên tác phẩm để đời không được tôn trọng bằng vàng!

“Có cách vào để sửa chứa sự sai lắm này? Câu trả lời, xin nhường lại các cấp thẩm quyền”.

Huế 24-3-1990. Nguyễn Đắc Xuân.

Tiếp theo đây, đến lượt tôi nói chuyện và bàn riêng với Nguyễn Đắc Xuân.

Tôi lấy làm hãnh diện được có một người bạn nhỏ, tiếp tuc biết “thương hoa tiếc ngọc”, biết muốn bảo tồn văn hóa và xem văn hóa là quan trọng, tôi cũng xin lỗi anh Xuân, vì quá đau lòng trước một sự mất mát quá ư to lớn và không đáng phải xảy ra, anh có kể nơi phần đầu bài bảng danh sách các bầu vật đã mất, và đến đây tôi mới chép lại như sau để tiện góp cùng anh chút ít ý kiến nghe hiểu riêng về chuyên môn, các báu vật đã mất, theo anh đã kể là:

“Một vòng xuyến, kim loại màu vàng. (Theo tôi hiểu, xuyến là một nữ trang để đeo nơi cổ tay người phụ nữ.

Anh nói một vòng xuyến kim loại, như vậy là hết sức dè dặt, đáng khen. Tôi nhớ lúc trước, trào Pháp, họ cũng cẩn thận lắm và dùng danh từ hết sức là đề phòng (đề phòng xảy ra chuyện rắc rối kiện thưa lòng vòng rối rắm, cho nên thay vì gọi “bằng vàng, bằng kim cương, hột xoàn, hột thủy xoàn, nói tỷ vậy, thì họ dùng danh từ phân hai, là “supposé or”, “supposé diamant”, có nghĩa giả thiết, cứ cho vật ấy là vàng “supposé or) hoặc giả thiết cứ cho vật ấy là kim cương (supposé diamant, supposé brillant), và như vậy, sẽ vanh cánh dứt khoát việc tranh giành kiện thưa cãi cọ về sau);

“Một vòng xuyến kim loại bằng vàng, ở giữa có khắc bốn chữ Hán (Đến đây tôi xin nêu ra một câu hỏi, tại sao lúc ấy không tìm người phiên âm bốn chữ Hán ấy, để hiểu nghĩa là gì, bộ ở Huế đã hết người thông thạo chữ Hán hay sao?).

Nếu phiên âm rành rẽ, sẽ tránh được sự hờ hững về sau.

“Một vòng đeo tay kim loại màu vàng có đính 11 hạt trắng lống lánh (có lẽ là kim cương, vì đời bà Từ Dũ, trong Đại Nội còn tích trữ nhiều kim cương báu vật lắm, Bà Thái Hậu Từ Dũ đã mất rất nhiều báu vật kim cương châu ngọc trong năm loạn ly vua Hàm Nghi bôn đào lên Tân Sở, bà và bà Học phi cùng hoàng cung đã chạy ẩn náu nơi Khiêm cung lúc binh Pháp xâm nhập phá phách Đại Nội, và gần đây, chính lão Cẩn Trầu cũng đã đoạt một mớ kim cương của dòng họ Phạm ở Huế và làm mất hết buổi lão bị bắt…).

“Sáu chiếc nhẫn bằng vàng, trên có đính một hạt trắng lóng lánh (kim cương chớ không phải đá tầm thường, theo tôi hiểu).

“Ba hộp kim loại màu vàng;

“Một miếng kim loại màu vàng, trên có nhiều hạt li ti màu trắng (cũng chắc đó là kim nữa, theo tôi); nơi sau có bản lề (tức vàng thấp).

“Một vòng đeo tay kim loại màu vàng;

“Chín mươi ba hạt kim loại màu vàng, gồm ba loại hình tròn hạt cườm (theo tôi, có lẽ đó là hạt chuỗi vàng nguyên chất, vàng cao);

“Một đoạn kim loại màu vàng được uốn cong, có hai nhánh nhỏ, (anh Xuân tả như vậy, nhưng tôi không hiểu đó là gì, nếu có ảnh chụp thì mới biết rõ);

“Bảy chiếc cúc cài áo kim loại màu vàng (theo tôi, cúc là bông cúc bằng vàng đơm vào áo quần để gài cho kín, trong Nam gọi đó là “nút áo”);

“Hai mươi ba (23) hạt bằng đá đủ màu đeo hình thay khuy nút (theo tôi đó là ngọc nhiều màu);

“Bảy mặt đá màu xanh, hình chữ “Nhật” trên mặt đá có hình chim phượng, (theo tôi, không phải mặt đá, và có lẽ đó là ngọc thạch (jade) gọi bích ngọc; “sáu mặt đá màu xanh hình tơ (toi không hiểu “hình tơ” là gì, xin anh Xuân vui lòng giải nghĩa thêm), trên mặt đá ấy, cũng khắc hình chân chim phượng, (chim phượng, theo tôi, là biểu hiệu của hoàng hậu, vợ vua);

“Ba mặt đá màu xanh hình vảm (trên lòng), trên khắc hình chim phượng;

“Vòng đeo tay bằng đá, trong có hai vòng màu xanh, một vòng màu trắng”.

Tất cả, theo Đắc Xuân, là 18 hiện vật, nhưng theo biên bản của tòa, là 19 món).

Tái bút

Nói riêng với Nguyễn Đắc Xuân, việc đã dĩ lỡ ra rồi, nay sửa chữa làm sao kịp. Nhè “con gà đẻ trứng bằng vàng”, lại đem giết đi như gà thịt! Theo thầy, những trang sức phẩm của bà Từ Dũ, đừng hóa nghiệm và cứ đem ra chưng bày nơi tủ kính sáng sủa nơi một viện bảo tàng, hoặc ở Hà Nội, hoặc ở Thành phố Hồ Chí Minh, có nhiều khách viễn phương đến viếng, hoặc trình bày nơi viện bảo tàng ở Huế, để cho dân, cho thợ trong xứ, cho người ngoại quốc theo tin đồn đến xem, thì lợi thu kể sao cho xiết, chớ chi nào mười mấy ký vàng kia. Lễ ra tòa án tối cao kia nên gới hồ sơ và mời vài sở chuyên môn (sở coi về giá trị vàng kim cương, sở Văn hod túe, chang hạn), đen lay y kien, chơ co dâu nău chày cho đành?

Thầy đây, vốn học chưa tới đâu, chữ Tây vừa đủ làm mọi kiếm cơm nuôi vợ con, và thiên bất đáo, địa bất chí,

Hán Nôm tịt mù, nhưng vậy kinh nghiệm thầy ắt có thừa, và không như mấy ông kia, ít nữa cha mẹ thầy, vốn làm chủ lò thợ làm đồ kim hoàn trước đây, gọi là thợ bạc và chủ lò làm nữ trang bằng vàng bằng bạc, đã dạy thầy, phảm đồ vàng y, vàng nguyên chất thì chủ lò phải chạm chữ “y” (hiểu đó là vàng thật tốt, không pha trộn với kim khí nào khác), bằng như nếu là vàng thấp, do người đặt làm món đồ đem vàng tới để làm “ăn tiền công” thì chủ lò chạm chữ “công” (hiểu là món đồ lãnh làm ăn tiền công, và như vậy, chủ lò không đảm bảo về chất vàng tốt hay xấu, v.v.) và ngày xưa không có việc hóa nghiệm ác ôn như vầy: Ngày xưa, thợ khéo không thiếu, làm cây trâm, cây thoa giất tóc, khi tạp hình chim phụng, thì con chim vàng ấy biết lay chuyển rung rinh tựa hồ như biết bay biết nhảy, lúc người đeo trâm hay thoa ấy, khi đứng, khi đi, khi cử động mạnh, v.v. tức nhiên vàng làm ra chim ấy phải dau, kec bang “vay” và vay fy là nhiều mảnh vàng vụn

mún, nhỏ như hạt phấn, hạt cát, và “vảy hàn” cổ nhiên phải bằng vàng tuổi thấp, mau chảy, mau gắn dính vào nhiều mảnh khác, và vật ấy (cây thoa, cây trâm), vẫn quí và có giá trị về sức khéo của người thợ bạc có hoa tay, chớ món ấy không kể về tuổi và vàng nữa. Nhờ thầy có tuổi nhiều và đã từng lăn lộn khá nhiều trong nhóm người lao động, làm việc bằng chơn tay hơn làm bằng trí ốc, nay thầy có chút kinh nghiệm và có chút nghe thấy vẫn khác hơn mấy ông tòa tối cao kia, nói thật với Xuân, sở dĩ thầy rút lui từ năm 1963, khi ở Pháp học về nghề khảo cổ nơi viện GUIMET trở về đây, thầy định nhường chỗ cho người biết việc và thầy có ngờ đâu mấy ông có bề thế, phe đảng, đi học nhiều tiền ở Mỹ, ở Pháp về, choán chỗ tốt, ăn lương cao, nhưng xin lỗi, thảy đều một loại “Mã Tắc đời Tam quốc, nói nghe hay mà đã làm thất cơ binh nơi Nhai đình”, nay việc đã lỡ rồi, nói nữa làm chi, và Xuân còn trẻ, còn dư sức, Xuân hãy rán đảm đương lấy. Sẵn dịp nối luôn năm ni là năm du lịch mà thầy cũng không giúp ích được chút nào, vì tuổi cao không lao động được nữa.

(viết sáng sớm ngày 1-5-1990)

Sự tích tóm tắt của bà Hoàng thái hậu nhà Nguyễn, mỹ danh Từ Dũ thái hậu Tôi xin kể lại đây đại lược sự tích của bà cho người hậu thế biết:

Tôi chịu thất lễ và nói tên bà ra đây. Nguyên Miền Nam, gọi theo tên cũ là đất Nam kỳ lục tỉnh, trước đây có đến hai bà làm hoàng thái hậu nhà Nguyễn Phước:

– Một bà, họ Hồ, có lăng mộ nay ở vùng Thủ Đức, và là mẫu thân của đức Thiệu Trị, bà sanh vua nầy vừa được mười ba ngày, thì quy tiên, tuổi thọ chỉ có mười mấy tuổi, bà gốc người tỉnh Biên Hòa, tên thụy là Tả thiên lệ thánh Thuận Đức, hoàng thái hậu;

– Một bà nữa là mẹ vua Tự Đức, bà họ Phạm, cha là Đức Quốc công Phạm Đăng Hưng, một công thần trụ cốt nhà Nguyễn Phước, tên thụy của bà là Nghi Thiên Tán Thành Từ Dũ Thọ Đức Chương hoàng hậu, bà sanh nơi giồng Sơn Qui, giồng nầy xưa có nhiều chim công đến làm ổ, nên cũng gọi là Gò Công. Vừa mười bốn tuổi ta, đếm theo Pháp là mười ba tuổi, là được tuyên triệu vào cung Đại Nội ở Huế, hầu việc khăn áo cho hoàng tử sau nầy lên ngôi là vua Thiệu Trị. Bà có diễm phúc thấy được long nhan nội tổ là Đức Cao Hoàng Gia Long, bà lạy vua cha là Đức Minh Mạng, và bà nâng khăn sửa tráp cho vua Thiệu Trị, mà cơ khổ vậy thôi, được làm dâu nhà vua thuở ấy, cực nhiều hơn sướng, vì vua Thiệu Trị còn một bà chánh hậu khác nữa, là ái nữ của ông Nguyễn Văn Nhơn, gốc người tỉnh Sa Đéc, nhưng khi Thiệu Trị ngự hành ra đất Bắc để thụ phong, thì chính bà Từ Dũ được cho theo hộ giá, lo trước lo sau, thức khuya dậy sớm, cho nên khi hồi loạn, vóc hạc hao gầy, vóc liễu kém trước, đức Thiệu Trị, người hiền lương bổn tánh cộc, tỷ như khi giận binh Pháp gây chiến tranh, giận cá chém thớt, vua đập gần hết những đồ sứ đặt làm ở Pháp, và vua trị vì chỉ có bảy năm, khi vua áng giá, bà chưa ráo lệ, tuổi vừa tròn xuân, bà vừa hai mươi đã chịu cảnh son giá, chứng minh bà lên ngôi Thái hậu, con là vua Tự Đức, khi làm thơ thuật thế sự, cặp trạng là: “Tranh giành trước mắt, mây tan tác” (đó là vua nhớ việc Tây gây chiến tranh…) “Đày đọa sau thân núi nặng nề” (Núi đây là vua nhớ đến mẹ, tuổi cao…).

Nhưng ngờ đâu tre lại khóc măng, chính vua băng trước, một lần cho bà nhỏ lệ, trước khóc chồng, nay lại khóc con, và bà chưa hết khổ, bà còn chứng kiến xiết bao bi thảm đau lòng, cảnh ba vua bốn chúa, ông bị bóp cổ, ông bị bỏ đói, ông khác bị đầu độc, rồi vua Hàm Nghi vừa lên ngôi, lại bị quyền thần chuyên quyền, kế bị mất ngôi thêm bị đày xứ lạ, vua Đồng Khánh nối ngôi, cảnh chạy giặc thật là khổ sở, Hàm Nghi bị ép lên Tân Sở, bà thì cùng với cung nữ và bà Học Phi đùm đề bỏ thành nội cho giặc Tây cướp phá, các bà lụi đụi chạy lên Khiêm lăng rồi lại kéo về Đại Nội, chứng kiến cảnh tan hoang mất mát châu báu kim cương, rồi sống làm chi thật nhiều tuổi mà phải mù lòa, rốt lại đến năm 1912, vào đời Thành Thái, hơn chín mươi tuổi ngoài, bà nhắm mắt qui tiên, tang lễ cử hành long trọng, tưởng như vậy là hạnh phúc, một người như bà chứng kiến gần suốt thế hệ Nguyễn triều, kể từ Gia Long đến Thành Thái, để đến năm 1983 thì lăng mộ bị đào, “hồng nhan đa truân”, miệng thế nói không lầm, sống lâu là khổ.

(viết ngày 2-5-1990)

Chuyện con bò cạp nước (bài viết ngày 4-5-1990)

Hôm nay nhớ chuyện mua cua như sau, xin chép lại đây cho độc giả xem chơi giải muộn. Chuyện nầy trích trong tập “chuyện giải buồn” của ông Huình Tịnh Của, chớ không phải do tôi đặt bày. Chuyện rằng:

“Mua cua.

Có tên nhà quê nọ, xuống đất thiềng thị, nghe người ta nói “cua ngon”, và tả hình tích cua có hai cùng, tăm ngoe, cùng có tên là “con hoành hành”‘ là vì nó đi hàng ngang, cũng có tên nữa là “vô trường công tử” 3), là vì nó không có ruột. Đến khi tên nhà quê về nhà, bèn hỏi vợ, biểu phải xuống chợ dinh, mua cho được một con cua, để ăn thứ cho biết nó ngon thế nào. Người vợ liền đem tiền xuống chợ, thấy con sam cũng có ngoe càng, ngỡ là cua, nên mua một con đem về cho chồng. Người chồng thấy mai sam khum khum mắng vợ “sao có mu rùa”, hai đàng không nhịn, liền đánh lộn la làng. Việc phải đem ra làng, chú xã thấy con sam có đuôi, lại nói là “con cá đuối”, xử hai đàng phải thất. Vợ chồng tên nhà quê không nghe, đi kiện huyện. Quan huyện cho đời làng kinh tương nội vụ tới nha. Đầu hết, quan huyện dạy đem con cua cho người coi, rồi người phê thị chi làng cùng hai vợ chồng biết ai quấy ai phải. Phê rằng:

Trần Giản Trai có đề lại câu: “Đảng kiến hoành hành nghi thị táo, bất tri công từ thật vô trường”, nghĩa là: chín thấy nghêng ngang ngờ là hốp, chẳng hay công từ thiệt không lòng. (Hóp: tiếng xưa trong Nam, có nghĩa là vội quá, tảo tính quá, hồp tốp, hồp quá. (Huỳnh Tịnh Của, Đại Nam quốc âm tự vị).

Con cua mua đã chẳng xong,

Ấy thị là con bò cạp nước!

Thẳng cha xã xử con cá đuối,

Thẳng nói rùa lại càng thêm rồi?

Hễ con dại thì có mẹ cha,

Ấy ba đàng giai quấy củ ba.

Để ông phê minh chỉ thượng,

Dân dại cậy cùng quan trưởng.

Cua, rùa, cá đuối, giai phi.

Cho khỏi hoài nghi.

Ờ! Ờ! Đem cho ông coi lại.

Bình

Tôi trích bài trên đây trong tập cũ “Chuyện Giải Buồn”, cuốn 2, của ông Huình Tịnh Của, bản in năm 1895, sách in tại Nhà in quản hạt Sài Gòn, sách nầy không đầu có bán, và rất ít nhà còn tàng trữ. Tôi cố ý chép y nguyên văn, duy có một chữ “mu sam khum khum”, tôi cho là tục, không được thanh, nên tôi đổi lại là “mai” (mai sam khum khum) và chỉ có chữ ấy bị sửa đổi. Tôi đã nói “tánh già thường hay giận lâu, và lâu hết giận”, nhưng nghĩ đi nghĩ lại, mình là dân quèn, nào dám giận ai nhứt là quan, duy nhớ lại tỷ như “chuyện giải buồn” của Huỳnh Tịnh Của, tôi từng đọc kỹ, thấy không có chỗ nào là bại hoại, thế mà chầu xưa cô một thầy giáo dạy học ở một trường trong Chợ Lớn, thầy nây nói với tôi thấy đã ra lịnh cho học trò góp sách và đem chôn hết, để tránh giữ sách cũ nhiều vi trùng, tôi tiếc không kịp vớt vát, uống quá… Và tôi xin tạm kết luận, đời nào cũng như đời nào, vẫn y nhau không khác, rất đổi, đây là ông huyện, ngồi chễm chệ cầm cân nẻ mực, vẫn trịnh trọng lên án “con dại thì có mẹ có cha, dân dại thì có ông quan xét xử”, thể mà quan huyện xử cũng không ra hồn.

Rất may thứ huyện quan ấy nay đã không còn. Nói thêm nữa cũng chẳng thừa, duy nơi mấy trang đã viết, tôi còn bỏ sốt một danh từ đồng nghĩa với chữ “công” (nữ trang làm ăn tiền công)”, đó là danh từ “đồ” nay còn thấy lưu dụng, (tiệm cầm “đồ”, và “đồ” có nghĩa “vàng đồ” tức vàng thấp, không đáng gọi “vàng y” và đời xưa không có “hóa nghiệm tư trang tinh xảo” (mấy hàng thêm, tôi viết ngày 6-5-1990, có ý muốn tỏ bày vàng nữ trang khéo, tinh xảo giá trị quí hơn vàng nguyên chất và nấu chảy hóa nghiệm, thì hại cho văn hóa…

Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên

Post by Sơn râu 9 Nov 2025

Chương 6

Ngay khi vừa qua khỏi cánh cửa, chúng tôi không còn nghe tiếng la hét nữa và tiếng chó sủa cũng xa dần; không còn lính SS nữa. Như là bị di động vì những lò xo vô hình, chúng tôi luôn luôn bước tới trước, Vừa đi ai nấy vừa đoán trong màu xám của bóng đêm, các con đường có doanh trại hai bên làm bằng gỗ và có cả những tòa nhà rất lớn tối om. Và rồi đoàn người dừng lại trước một cánh cửa được soi sáng bởi một ánh đèn đêm màu xanh. Hai người lực lưỡng nói tiếng Đức nhưng lại mặc quần rằn rện 1 cử động để chỉ cho chúng tôi đi vào. Sau chúng tôi, các tù nhân những toa khác dồn tới vì tất cả mọi người đều phải đi qua khung cửa hẹp nầy. Trước hết, đó là một căn phòng với nhiều ghế dài, móc áo và do một cửa khác chúng tôi đi vào một phòng tắm rộng mênh mông. Và như thực vật trời cho, nước bắt đầu chẩy xuống. Lúc ấy, chỉ còn nghĩ đến mỗi một điều, đầu ngửa ra sau, miệng há lớn đón cơn mưa rào quảng đại. Mỗi vòi bông sen, một màn lưới mỏng chẩy xuống vì tất cả mọi người không thể nào vào hết trong phòng, những thùng chứa dị dạng được sử dụng để tiếp tế cho những người khốn khổ, trong số đó có vài người chân đầy máu chỉ có thể tiến vào từng chút một. Những người khác đau đớn vì vết chó cắn và sau cùng có những người điên và người bệnh hoạn. Nhưng tất cả đều chỉ còn nghĩ đến một thứ khoái lạc tập thể mới: uống nước.

Trong bầu không khí kỳ dị nầy, người ta thấy nhiều người dìu bạn mình bị thương hay mê sảng và người khác cầm gào-mên chứa chất lỏng quí giá. Sự cao cả đi cạnh nỗi kinh khiếp.

Nỗi kinh hoàng đầu tiên được xoa dịu dần dần, mỗi người cố tĩnh trí lại và tập họp thành nhóm. Tâm trí trở lại từ từ, cơn mệt mỏi như biến mất. Tóm lại, chúng tôi chỉ khát. Một nhu cầu thú vật đã tạo ra thảm cảnh mà chúng tôi vừa sống trong ba ngày ba đêm. Tất cả băng thuộc trại Compiègne, được thêm đông vì các phần tử mới, hoàn toàn bình yên vô sự. Kỷ lục số nước được uống òng ọc vượt quá chục lít, trung bình là năm.

– Tôi, – Michael nói, – tôi chỉ bắt đầu nhận thấy mùi của chất lỏng khi uống gào-mên thứ tư, mỗi gào-mên chứa gần một lít. Và rồi khi bắt đầu gào-mên thứ năm, đột nhiên tôi buồn nôn.

Chúng tôi dơ bẩn đến nỗi không nhận ra mình trước một tấm gương soi. Lúc khởi hành ở Compiègne, chúng tôi còn là những người dân sự, mỗi người có y phục riêng và nhân cách riêng. Tại đây chúng tôi trông giống nhứ một bầy người múa rối xồm xoàm bị tháo rời từng mảnh. Trong đám đông hỗn loạn, nhiều linh mục mặc áo dòng xuất hiện thật trái cựa. Một trong số đó, một tu viện trưởng trẻ tuổi mang bộ mặt bê bết máu. Vì muốn giúp một người bạn xuống toa xe, ông đã nhận nguyên một báng súng vào trán. Và người bạn nầy lẽ ra cần, được dìu đi, lại phải dìu lại ông bởi vì ông bị đánh bất tỉnh. Nước đã giúp ông ta hoàn hồn một chút, nhưng ngã mình xuống một chiếc ghế dài, hai tay ôm đầu, ông ta tự hỏi không biết có phải mình ở trong phòng đợi của “Địa ngục” “chăng.

Michael luôn luôn đi dọ hỏi tin tức, đã tìm cách nói chuyện với một công nhân phục dịch trong trại nầy. Lập tức một nhóm người tập họp lại vì tất cả mọi người đều tự hỏi, không phải là không lo lắng, người ta sẽ làm gì chúng tôi. Tôi nghe anh ta nói với giọng khàn đặc:

– Tôi cũng là tù nhân như các anh, tôi là dân Đức, tất nhiên… các anh nghĩ gì? Không phải tất cả đối lập chúng tôi đều bị chết hết… còn nữa… tôi đã bị nhốt ở đây mười năm rồi..

Chúng tôi chân thành uống những lời anh ta nói, và họ đa số không hiểu tiếng Đức năn nỉ xin chúng tôi địch dần dần. Người kia, bị vô số câu hỏi tấn công, luôn luôn trả lời, tỏ vẻ rất thỏa dạ vì là đối tượng của một sự chú ý như thế:

– Với các điều kiện hiện tại, người ta không còn chết ở trại Buchenwald nữa, trừ ra những người bệnh ngặt. Thời gian nầy rất tốt… Bây giờ, đây là một nhà dưỡng bệnh thật sự, các, anh sẽ thấy ở đây có đủ sắc dân, đúng, đúng, có cả người Nga nữa. Tiến đến gần hơn chúng tôi tỏ vẻ ngạc nhiên khi thấy anh ta an nói tự do ở đây, anh ta trả lời: “Quân SS đưa các anh cho đến cửa ngoài, ở đây, bên trong toàn trại được các tù nhân chính trị cai quản. Chắc chắn là phải làm việc, nhưng các anh tha hồ nhận quà mà thân nhân có sức gởi cho và viết thơ mỗi tháng một lần. Nhiệm vụ của tôi là mơ ước và cả một hệ thống sát trùng. Vả lại lát nữa các anh sẽ đi qua đó. Cái gì vậy, một tu sĩ?

Anh ta trông thấy ông linh mục bị thương ở trán và tò mò quan sát y phục của nhà tu. Rồi, không có vẻ gì có ác ý, nhưng với giọng chế riễu:

– Sao, Cha còn tin chớ?

Vị đại diện Tòa Thánh ngước đầu nhìn chăm chú người đối thoại và nói với giọng chậm rãi:

– Tại sao không? Hơn bao giờ hết!

Anh kia phá lên cười và bỏ đi, tôi nghe anh ta lẩm bẩm:

– Nhất định là tôi không hiểu nổi.

Những tin tức mà anh bạn tù vừa cho biết có vẻ làm thỏa mãn và chúng tôi tò mò chờ đợi diễn tiến tiếp theo của các biến chuyển. Đã gần bốn giờ sáng. Một chuyển động đưa đám đông về phía bức tường của gian phòng để áo, nơi đó có một ghi-sê nhìn ra một hành lang mở rộng. Hơn một chục vẻ mặt còn thanh niên xuất hiện và chúng tôi nhận thấy những chiếc nón dã chiến của binh sĩ Nga với cái chóp nhọn và hai cánh tai buông thõng. Họ nhìn mặt chúng tôi như những con sóc nhỏ và chỉ nói hai tiếng: “Dai chleb” (cho bánh mì). Michael gốc Nga, lúc nầy tỏ ra có ích hơn bao giờ hết. Một cuộc nói chuyện thân mật diễn ra, chúng tôi chỉ nghe toàn là các âm r. Sau cùng, bị thúc giục khắp phía, Michael thông dịch:

– Họ xin bánh mì và khnyên chúng ta có gì nên ăn hết, vì lẽ chúng ta phải trút bỏ hết áo quần đồ đạc để qua một cuộc tẩy trùng tổng quát sắp sửa bắt đầu ngay. Họ nói hiện nay trong trại có chừng 20.000 tù nhân đủ mọi loại quốc tịch và trong đó có cả người Pháp nữa.

Chúng tôi còn giữ lại bánh mì được phân phát tại Compiègne. Trong thoáng chốc, cả một núi những mẩu bánh mì kèm theo các thực phẩm khác được đưa qua ghi sê có vẻ quá nhỏ hẹp. Hàng chục tiếng “Spassiba”(cảm ơn) lập đi lập lại rập ràng trên các nét mặt rạng rỡ đáp lại “quà tặng của chúng tôi. Một lát sau là bắt đầu một loạt hoạt động giống như trong các lò sát sinh ở Chicago, nhưng với một ý nghĩa khác, may mắn thay cho chúng tôi.

Trước hết, từng nhóm nhỏ, sau khi đi qua một chiếc sân nằm ngay trung tâm của tòa nhà vĩ đại, chúng tôi tiến vào một gian phòng trong đó các tù nhân cũ lấy tất cả đồ đạc của chúng tôi. Tất nhiên là phải cởi hết áo quần, trần truồng. Họ để tất cả mọi thứ vào trong một gói, ghi tên trên một tấm phiếu danh mục tất cả đồ vật quí: tiền bạc, đồ trang sức v..v… các thứ sau được bỏ vào trong một phong bì đặc biệt.-Hubert tuyệt đối muốn giữ lại một tờ giấy một ngàn quan, nên đã nhét nó vào một nơi tự nhiên nhất!

Sau đó, toán nhỏ tù nhân ấy, lúc nầy trần như nhộng, đi qua một gian kế có vào khoảng 20 thợ hớt tóc chờ sẵn với các tông-đơ điện, họ cắt tất, từ dưới lên trên. Lẽ tự nhiên là sau chúng tôi sự việc lại tiếp diễn bởi vì tất cả mọi người đều phải đi qua các giai đoạn biến dạng nầy.

Khi đến phiên tôi, tôi đối diện với một thanh niên tranh dấu Tiệp khoảng hai mươi tuổi. Anh ta biết nói tiếng Đức và nhờ đó tôi được biết hớt tóc là một trong các địa vị tốt đẹp nhất trong trại.

– Sao, người Anh và Mỹ đã đổ bộ lên đất Pháp rồi hả? Anh ta hỏi tôi, trong khi chiếc tông đơ của anh thọc lét vào nách tôi. Tỏ ý tiếc, tôi phải nói với anh ta là tin ấy sai lầm, nhưng nói thêm, chuyện đó cũng sắp xảy đến.

Tiếp theo là một phòng tắm, nhỏ hơn phòng chúng tôi được uống nước hồi đầu hôm nhiều. Bên phải một chiếc bể tắm vĩ đại được gắn liền xuống đất và vào vách tường, trong đó chứa một chất lỏng màu xanh, đang mời chúng tôi nhào vào, đúng hơn, một tù nhân người Ba Lan khổng lồ đứng sẵn đó và anh ta cho chúng tôi hiểu là phải trầm mình xuống hoàn toàn, kể cả đầu, đối với những người ngần ngại, anh ta có nhiệm vụ không để cho họ đợi chờ. Khi chừng 20 người đã lần lượt nhúng mình vào chất sát trùng hơi làm xốn mắt một tí ấy, một công nhân cho nước trên bông sen chảy sau khi phát cho mỗi người một nhúm bột sà bông. Được hớt tóc, sát trùng, tắm rửa xong, chúng tôi đi thành hàng nối đuôi nhau lên tầng thứ nhất và quang cảnh những người đủ hạng tuổi, đủ kích thước, di chuyển trần truồng qua các hành lang và cầu thang thật là bi bài. Trong một phòng lớn, đằng sau các quầy, xứng đáng là một cửa hàng vĩ đại, hàng đống quần, áo vét sơ mi quần cụt, áo len, sẵn sàng cấp phát cho chúng tôi. Một tù nhân làm việc, ở đó, liếc nhìn khổ người chúng tôi và trong niềm hạnh phúc nhỏ bé, sự may mắn, chúng tôi nhận được một gói. Cũng giống như khi hớt tóc, toàn là chuyện bất ngờ; một chiếc nón kết hay một chiếc mũ không ai biết đã được sản xuất tại đâu. Dưới chân, một đôi thiết hài thắt chặt vào nhượng chân. Áo quần được phát ra thì sạch sẽ nhưng vá chằng chịt khắp tứ phía.

Một người Hòa Lan thuộc nhóm nhân viên giải thích rằng, áo quần của chúng tôi đã được sát trùng rồi sắp xếp trong một nhà kho, từ đó, theo lý thuyết, chúng sẽ được lấy ra hoàn trả, khi chúng tôi được phóng thích.

Trái lại, áo quần của những người chết sẽ đưa vào chỗ dự trữ để phát cho người mới đến. Không ai được giữ lại đồ đạc riêng của mình.

Anh ta cũng hỏi chúng tôi làm nghề gì và nói, trước sự tò mò của chúng tôi:

– Ở đây, những tù nhân chính trị Đức cai quản bên trong trại tập trung. Những công nhân có ưu thế rõ rệt. Lát nữa các anh sẽ qua nhiều câu hỏi liên quan đến nghề nghiệp của mỗi người. Tốt hơn nên khai mình là thợ luyện kim khi hơn là Tiến sĩ Triết học!

Những điều nghe thấy rất được chúng tôi chú ý, nhưng nhiều người đã lo sợ vì các tiết lộ ấy.

Dẫu sao trong hiện tại; không còn phải sợ hãi một cái chết dữ dội nữa, và chúng tôi có cảm giác rõ rệt là họ cần nhân công cho những công việc lớn lao. Tất cả bây giờ là phải lòn lõi vào thật lẹ, bởi vì ngay cả ở địa ngục cũng phải có chỗ sơ hở!

Vụ ăn mặc đã xong, từng người chúng tôi đi qua nhiều bàn giấy, tại mỗi bàn, một câu, hỏi đặt ra liên quan đến huyết thống của chúng tôi. Một trong những câu hỏi đó là: “Địa chỉ thông báo trong trường hợp bị tai nạn”. Nói tổng quát, tất cả các hoạt động nầy, không kể nơi chốn và tuổi tác của một vài người, có thể coi như hoạt động của một hội đồng tuyển mộ.

Một chuyên viên cũng có mặt tại đó. Ông ta hỏi về tất cả những gì có liên quan đến sức khỏe của cơ thể mỗi người. Mọi công chuyện đều được thực hiện với phương pháp hoàn toàn khoa học.

Sự cấp phát một số thứ tự để may trên ngực phía trái ra trên ống quần bên phải đã hoàn thành thủ tục tiếp đón. Khi đến phiên tôi đi ngang qua người có nhiệm vụ phân phối các con số, tôi chú ý con số dành cho tôi đã sẵn sàng từ trước. Trên hai mảnh vải trắng tôi đọc: 44.809. Một tia nhìn buồn rầu hướng vào mặt tôi, và khi tôi đón lấy con số, người quan sát tôi nói: “từ nay con số ấy là tên của anh”.

Phần đông các điều tra viên đều là người Tiệp Khắc biết ít nhiều tiếng Pháp. Vì đa số là người trí thức, họ tỏ ra đứng đắn rất dễ chịu, công việc của họ ở tòa nhà nầy là xếp hạng và sửa soạn áo quần, nhưng khi có công-voa quan trọng đến, họ sẽ đến giúp các đồng nghiệp tại “Poliitsche Ableilung” (Ban điều tra chính trị) nơi đây. các tù nhân có thể chứng minh biết được nhiều thứ tiếng sẽ được phái đến làm việc như thơ ký bàn giấy. Người biết nhiều thứ tiếng, và lẽ tất nhiên, người nào ngoài tiếng mẹ đẻ còn biết thêm tiếng Đức, có hy vọng lớn lao được nhận một trong những công việc nầy.

Như thế, hoàn toàn bị biến đổi, chúng tôi bước ra để đi về phía các dãy trại, mà chúng tôi sẽ sống trong đó. Tòa nhà mà chúng tôi vừa rời khỏi gọi là Effekten Kammer (kho áo quần). Nơi đó có trang bị vòi bông sen, nhiều phòng để sát trùng và một nhà kho có thể giữ đồ vật của vài chục ngàn tù nhân. Với màu sắc tăm tối, nó là kiểu mẫu cổ điển của một trại binh Đức. Gần đó, một kiến trúc đồng kiểu được dùng làm nhà bếp vĩ đại, và giữa hai khối vật liệu đó, trong một khoảnh đất giống một cái sân mọc đầy có còm cõi như bị bỏ hoang; đứng sừng sững, đường bệ, và cô độc, một cây sồi mà dưới gốc đã từng được Goethe, cách đây gần một trăm năm mươi năm, vốn ở gần đó, ở Weimar, thường đến ngồi suy tư.

Phải chăng là do số mệnh trớ trêu, hay là do ý muốn của Himmler 2, lãnh tụ SS tối cao, một trại tập trung có nhiệm vụ bóp nghẹt đời sống tinh thần, đã được quyết định xây cất tại một nơi từng được một trong các bộ óc vĩ đại nhất Đức Quốc, nếu không muốn nói là nhất thế giới đã thường hay đến trầm tư?… Nhưng đổi vtâ chúng tôi đây không phải là chỗ để triết lý, chúng tôi đến đây lúc 2 giờ sáng và lúc bước ra, là 2 giờ chiều. Từ khi nhảy xuống tàu hỏa, trong bụng chúng tôi chỉ có mấy lít nước.

Chúng tôi đi qua các lối đi nhờ có lề đường thô sơ đây đó, và với đôi thiết hài trong chân chúng tôi không thế nào theo kịp người hướng dẫn. Sau khi gót chân bắt đầu đau nhói, chúng tôi được đưa vào một dãy trại được tiêu chuẩn hóa giống như trong bất cứ trại tù binh nào. Hoàn toàn bị chi phối bởi những gót chân đau đớn, chúng tôi không có thì giờ quan sát có gì xảy ra chung quanh trong lúc đi qua khu vực được gọi là tiểu trại.

Khu vực nầy, gồm có hơn mười dẫy nhà được gọi là “khối” và được đánh số, nằm bên dưới của một triền đất nghiêng trên đó trại tập trung Buchenwald được xây dựng. Đó là trú khu của những người mới đến để chịu đựng thời gian kiểm dịch bốn mươi ngày mà chúng tôi vừa được biết các phương thức.

Ngay khi bước vào “khối” dành cho chúng tôi và mang số 62, một tù nhân phát cho chúng tôi mỗi người một chiếc mền nhà binh và từng nhóm tám người chúng tôi đi về phía chỗ nằm. Mỗi “khối” được chia làm 10 hoặc 12 phần gọi là “ngăn mỗi “ngăn” lại gồm có 1 tầng dưới và 2 tầng gác, mỗi tầng lại được phân ra làm 2, chứa 48 người trong tình trạng bình thường nghĩa là khi không có sự ứ đọng tù nhân nội trú. Mỗi người có chỗ vừa nằm duỗi dài, và nếu giữa tầng gác thứ nhì và trần nhà còn có một khoảng trống thì các tầng dưới phải di chuyển bằng cách bò trong bụi bặm và bóng tối, vì giữa hai tầng khoảng cách không quá bảy mươi lăm phân. Tất cả đều bằng gỗ, có hai đệm rơm cho mỗi tám người. Chúng tôi mệt nhoài đến nỗi ngả xuống một cách yên lành đối với chúng tôi là cả một sự giải thoát, nhưng cơn đói đã kềm kẹp chúng tôi. Chúng tôi hy vọng được phát một thứ gì đó để ăn. Nhưng thay vì là thức ăn, chúng tôi nghe một hồi còi và người ta đọc cho chúng tôi một bài diễn văn.

Người diễn thuyết cũng là một tù nhân, bên cạnh số thứ tự trên ngực còn có một hình tam giác đỏ và một chữ N trên đầu cho biết quốc tịch của ông ta. Trong trường hợp nầy N là chữ đầu của Nederland (Pays Bas), vậy ông ta là người Hòa Lan. Ông ta nói tiếng Pháp khó khăn, tuy nhiên cũng đủ để hiểu được. Nhờ đó chúng tôi biết là sẽ ở đây chừng một tháng, một thời gian dùng để khảo sát chúng tôi. Trong thời gian đó, chúng tôi sẽ được chích một loạt sáu mũi thuốc trừ thương hàn, qua một cuộc thẩm vấn khác, và một cuộc khám sức khỏe quyết định với một y sĩ trưởng SS. Sau đó mới được chỉ định vĩnh viễn vào một đội lao tác, và sẽ được qua ở trại lớn, khang trang hơn nếu ở đó còn chỗ. Chúng tôi phải thức dậy lúc 4 giờ 30 sáng và để mình trần, đi qua sân để đến chỗ rửa mặt. Cà-phê hay là một thứ chất lỏng được gọi như vậy và đôi khi là nửa lít cháo lạt lẽo vô vị, sẽ là bữa ăn sáng của chúng tôi. Phần bánh mì dành cho ca ngày cũng được phát vào buổi sáng. Một lít súp được phát cho buổi ăn trưa, và buổi chiều lại cà-phê y như buổi sáng. Một lóng Margarine và tùy theo ngày, một muỗng mứt hay phó mát được phát cùng với bánh mì và thỉnh thoảng với một lát xúc xích. Chương trình trong ngày được bổ túc bằng công tác chùi rửa, nhiều loại tạp dịch bên ngoài và để chấm dứt, cuộc điểm danh.

Chúng tôi cũng biết là mỗi khối sẽ được điều khiển bởi một viên chỉ huy một “Schreiber” (thư ký) và hơn mười “Stubendienst” (phụ tá) mà diễn giả giới thiệu với chúng tôi, tất cả những người nầy đều là người Slaves (Tư Lạp Phu) trừ ra ông ta.

Mỗi người trong nhóm điều khiển có một chuyên môn riêng, chẳng hạn trường hợp ông ta, đó là công tác bảo vệ sức khỏe, một người khác là thợ hớt tóc, một người thứ ba, phụ trách súp, người thứ tư, bánh mì và cứ thế tiếp tục. Tổng quát, họ cai quản cả 500 người chúng tôi. Ông ta yêu cầu mỗi ngăn đề cử một người có trách nhiệm để phụ giúp vào công việc phân phối thực phẩm và cho các công việc tạp dịch đã được nói ở trên được dễ dàng. Tốt hơn hết là một người biết nói tiếng Đức vì được thông dụng ở đây. Diễn giả cũng bảo trước là mỗi “khối” có một Fuhrer, một tên SS đặc trách đích thân điểm danh vì y chịu trách nhiệm về số lượng tù nhân trước ông Lager Fuhrer (Trưởng trại tập trung). Ông ta nó tiếp đến vấn đề kỷ luật phải tôn trọng và nhất là vấn đề vệ sinh rất khắt khe. Thật vậy, khắp nơi chúng tôi đi qua, rất nhiều bích chương được dán trên đó chúng tôi đọc thấy qua nhiều thứ tiếng: “Một con rận = thần chết” với hình một con rận to tướng.

“A! Diễn giả nói tiếp sau một lúc ngừng nghỉ khi nào các anh cần hỏi thăm tin tức, tôi tên là Léo. Vả lại, ngay bay giờ các anh cũng có thể đặt câu hỏi”. Một người, có lẽ đã chờ đợi sự cho phép nầy từ lâu, vì có giọng hỏi cất lên:

“Công việc của trại Buchenwald gồm có những gì?” Đây là điều mà tất cả chúng tôi đều tha thiết muốn biết. Nằm vắt vẻo trên giường giống như các lồng nuôi thỏ không có lưới chắn, những cái đầu thò ra khỏi chăn vươn lên, và chúng tôi lắng nghe một cách kính cẩn.

“Sau thời gian 40 ngày, có anh sẽ được phải đến một biệt đội. Người nào có nghề tay chân liên quan đến sự sản xuất kim loại sẽ được phải tới công xưởng nằm đầu trại tập trung, đó là những người gặp vận hên. Được ở suốt ngày trong nhà, họ sẽ làm đủ thứ chuyện theo nghề chuyên môn và vĩnh viễn được ở lại đấy làm việc. Những người khác – ông ta ngần ngại trước khi nói tiếp, như là có gì trầm trọng phải thú nhận, – những người khác thì sẽ làm việc ngoài sân, hầm đá, đường sắt, đường lộ, tất cả những gì ở bên ngoài, và công tác chuyển vận định kỳ sẽ có những chuyến công-voa đi đến các công trường, mỗi nơi đó lại trở thành một tiểu trại lệ thuộc Trại Buchenwald. Có đủ mọi thứ: mỏ muối, nhiều loại nhà máy, tất cả những thứ đó cũng khá tốt. Tuy nhiên khổ nhọc nhất là ở Dora. Đó là một nhà máy được lập dưới lòng đất, đang được xây cất, và chính nơi đó cần nhiều nhân công nhất. Nó là một quái vật nuốt người khổng lồ”. – Và như muốn bù trừ lại, ông ta nói thêm:

“Tuy nhiên đừng có lo, các anh còn một tháng chờ đợi nữa và chiến tranh còn tiến triển”.

Ông ta còn muốn nói thêm, nhưng một hồi còi báo hiệu giờ điểm danh. Mọi người đều leo xuống đứng vào lối đi chính giữa chia “khối” ra làm hai. Chúng tôi được đặt từng toán năm người và sau khi được đếm kỹ càng, viên chỉ huy khối và viên thư ký đến nhìn mặt chúng tôi. Người đầu tiên là một người Đức miền Sudètes, to lớn, vẻ mặt lạnh lùng ăn mặc ấm áp với một áo khoát ngắn và giày bốt. Người thứ hai là người Nam Tư. Hai giờ sau khi đã được đem chúng tôi còn phải đứng, không thể cử động, không những chỉ vì không có chỗ mà còn vì lý do đơn giản là bất cứ lúc nào tên SS cũng có thể xuất hiện đột ngột. Sau cùng, y đến, tay cầm cuốn vở. Viên chỉ huy khối sau khi hô chúng tôi đứng nghiêm, trình diện nhân số với y. Y đếm, ghi chép và bỏ đi, nhưng như vậy chưa phải là xong. Tất cả các tên SS có người chỉ huy khối đi kèm lại hội họp trong văn phòng trung ương sau khi công tác kiểm soát chúng tôi xong, và bắt đầu cộng tổng số. Nếu kết quả tốt, cuộc điểm danh chấm dứt sẽ được loan báo bằng máy phóng thanh. Trong mỗi dãy trại, một loa phóng thanh được mắc vào phòng của viên chỉ huy khối, và chỉ sau khi lệnh Hay được ban hành, chúng tôi mới được giải tán.

Lập tức mỗi “ngăn” chỉ định một người trách nhiệm. Michael là người được chỉ định trong “ngăn” của anh, và Ramelin ở chung với tôi, đề nghị tôi đại diện cho “ngăn”. Tuy nhiên, trong “ngăn” chúng tôi lại có cả ông tu viện trưởng bị thương trên đầu. Nhận thấy ông ta biết tiếng Đức, tôi khuyên ông nhận nhiệm vụ nầy vốn là nhiệm vụ của một vị lãnh đạo tinh thần. Ông ta nhận lời. Đói và chân cẳng tê liệt, chúng tôi nằm duỗi ra, nhưng một ngạc nhiên khác lại dành cho chúng tôi. Nếu không có rận, thì đệm rơm và sàn ván đầy cả bọ chét và chúng không bị thất nghiệp, đồ mất dạy. Chúng tôi nghĩ rằng người ta bỏ bọ chét vào đó để ngăn không cho chúng tôi ngủ.

——————————–

1Đồng phục của tù nhân.
2Đọc! “Hitler và tên ác quỷ SS Himler” – Sông Kiên xuất bản.

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 9 Nov 2025

Bài 28

Cuộc sống ở đảo Royale

Chúng tôi vừa đến sân trại đã được sự quan tâm niềm nở của toàn thể phạm nhân. Tôi gặp lại Plerrot le Fou, Jean Sartrou, Coloudim, Chissilia. Viên giám thị bảo cả ba chúng tôi phải vào bệnh xá. Chúng tôi đi qua sân để vào bệnh xá, xung quanh có đến vài chục phạm nhân hộ tống. Chỉ mấy phút sau, Maturette với tôi đã có trước mặt hơn chục gói thuốc lá điếu và thuốc lá sợi, một bình cà-phê sữa nóng hổi, mấy tấm sô-cô- la làm bằng ca-cao nguyên chất. Ai cũng muốn tặng chúng tôi một thứ quà gì đó. Clousiot được anh y tá tiêm cho một mũi dầu long não và một liều adrenalin để trợ tim. Một anh da đen gầy gò nói: “Anh y tá ạ, anh lấy phần sinh tố của tôi phát cho anh ấy đi, anh ấy cần hơn tôi”. Cái cảnh tỏ tình đoàn kết thân ái đối với chúng tôi thật cảm động.
Pierre người Bordeaux nói với tôi:
– Cậu cầm lấy ít tiền nhé? Trước khi cậu lên đường đi Royale, tớ sẽ có đủ thì giờ quyên cho cậu một món.
– Thôi, cám ơn cậu nhiều, tớ có tiền. Nhưng sao cậu biết tớ đi Royale à?
– Biết. Viên kế toán có nói với tớ cả ba cậu sẽ đi. Tớ còn đoán chắc là cả ba sẽ được vào bệnh viện.
Viên y tá vốn là một tên cướp ở vùng núi đảo Corse. Anh ta lên là Essari. Về sau tôi đã có dịp biết anh ta rất rõ. Tôi sẽ kể lại đầu đuôi câu chuyện của anh ta. Đó là một câu chuyện thật thú vị.
Hái tiếng đồng hồ ở bệnh xá trôi qua rất nhanh. Chúng tôi đã được ăn uống ngon lành. No nê và hồ hởi, chúng tôi lên đường đi Royale. Suốt thời gian vừa qua Clousiot mắt cứ nhắm nghiền, chỉ trừ những khi tôi đến cạnh đặt bàn tay lên trán anh, anh mới mở đôi mắt đã mờ đục, nói:
– Papi, bạn ơi! Chúng mình thực sự là bạn của nhau nhỉ.
– Hơn thế nữa, chúng mình là anh em ruột thịt, – tôi đáp
Vẫn chỉ có một viên giám thị đi kèm, chúng tôi xuống bến. Đi giữa là cái cáng qua Clousiot, còn tôi và Maturette mỗi đứa đi một bên. Đến cổng trại, tất cả phạm nhân đều ra từ biệt và chúc chúng tôi may mắn. Chúng tôi cám ơn anh em. Tuy họ đều không chịu nhận. Pierrot le Fou quàng lên cổ tôi một túi dết đựng đầy thuốc lá sợi, thuốc điếu, sô-cô la, sữa hộp Nestlé. Maturette cũng được một túi như thế. Cậu ấy chẳng biết người nào đã quàng lên vai cậu cái túi quà ấy nữa.
Chỉ có anh y tá Fernadez và một viên giám thị đưa chúng tôi ra bến. Fernadez trao cho mỗi đứa chúng tôi một cái phiếu nằm bệnh viện đảo Royale. Tôi hiểu ra rằng chính hai phạm nhân khổ sai làm y tá là Essari và Fernadez đã cấp giấy nhập viện cho chúng tôi, chẳng hỏi ý kiến bác sĩ nữa. Chiếc ca~nô đã chờ sẵn.
Sáu người chèo, hai viên giám thị đeo súng trường ngồi ở phía sau và một viên nữa cầm lái. Một trong những người chèo thuyền là Chapar, bị xử trong vụ chứng khoán ở Marseile.
Chúng tôi lên đường. Sáu mái chèo vỗ xuống nước Chapar vừa chèo vừa nói với tôi: 

– Ổn cả chứ Papi? Cậu vẫn nhận được dừa đấy chứ?
– Không, bốn tháng sau thì không nhận dược nữa. 
– Tớ biết. Có trục trặc xảy ra. Cái cậu bị liên lụy đã xử sự rất cừ. Cậu ấy chỉ biết có một mình tớ, nhưng không hề khai tớ ra.
– Cậu ấy bây giờ ra sao?
– Chết rồi.
– Thế à? Tại sao? 
– Theo một viên y tá thì hình như cậu ấy bị chúng nó đá vỡ gan.
Thuyền cặp bến đảo Royale, đảo lớn nhất trong quần đảo. Đồng hồ cửa hàng bánh mì chỉ ba giờ. Nắng chiều ở đây quả là gay gắt. Tôi thấy chói và bức quá.
Một viên giám thị yêu cầu hai người khiêng cáng. Hai phạm nhân vạm vỡ đồ trắng tinh, cổ tay đeo nịt da đen, nhấc cáng của Clousiot lên trông nhẹ bỡn như nhấc cái lông chim. Maturette và tôi bước theo, đi sau cùng là một viên giám thị cầm mấy thứ giấy tờ gì đấy. Đường đi rộng hơn bốn mét, lát bằng đá cuội lớn lấy ở bờ biển, rất khó đi lên dốc. May mà hai người khiêng cáng chốc chốc lại dừng lại đợi chúng tôi lên kịp. Mỗi lần như vậy tôi lại ngồi ghé xuống khung cáng phía đầu Clousiot, tay khẽ vuốt lên trán và lên tóc anh
Clousiot mở mắt ra, mỉm cười với tôi nói:
– Cậu, Papi!
Maturette cầm lấy tay anh.
– Cậu đấy à cậu bé? – Clousiot thì thầm.
Clousiot có vẻ tràn trề hạnh phúc khi thấy chúng tôi ở bên cạnh. Vào một lúc dừng lại nghỉ, khi đã gần đến trại, chúng tôi gặp một tốp phạm nhân đi làm cỏ về. Hầu hết là những phạm nhân cùng sang một chuyến với tôi. Đi ngang qua, ai nấy đều nói với chúng tôi một lời thân ái. lên đến đỉnh dốc bằng phẳng, chúng tôi trông thấy những viên chức cao cấp nhất trên đảo ngồi trong bóng râm trước một tòa nhà vuông quét vôi trắng.
Chúng tôi đến trước mặt thiếu tá Barrot biệt hiệu là “Dừa khô” và mấy viên chỉ huy trại khác. Không đứng dậy, và không làm ra vẻ nghi thức, thiếu tá nói:
– Thế nào, ở nhà lao Cấm cố không đến nỗi gay quá chứ? Còn anh nằm cáng kia là ai thế
– Clousiot đấy ạ
Thiếu tá nhìn Clousiot rồi nói:
– Đưa cả ba vào bệnh viện đi. Khi nào họ ra viện, yêu cầu bảo cho tôi biết để họ đến gặp tôi trước khi được đưa về trại nhé.
Ở bệnh viện, họ cho chúng tôi nằm trong một căn phòng rộng rãi, rất sáng sủa, giường nằm rất sạch, có trải drap và có gối mềm hẳn hoi. Người y tá đầu tiên mà tôi nhìn thấy là Chatal – chính viên y tá ở phòng dành cho phạm nhân nguy hiểm ở Saint-Laurent-du- Maroni. Anh ta lập tức đến săn sóc Clousiot và bảo một viên giám thị gọi ngay bác sĩ. Khoảng đến năm giờ chiều bác sĩ đến. Sau khi khám nghiệm kỹ lưỡng một hồi lâu, bác sĩ lắc đầu, vẻ không hài lòng. Bác sĩ viết đơn thuốc rồi đi về phía tôi. Ông ta nói với Chatal:
– Papillon với tôi chẳng ưa gì nhau đâu.
– Thế thì tôi lấy làm lạ vì anh ta rất tốt, bác sĩ
– Có thể. Nhưng anh ta bướng lắm.
– Nhân dịp nào?
– Nhân một lần tôi khám bệnh cho anh ta ở Nhà giam cấm cố.
– Bác sĩ ạ, – tôi nói – đứng ngoài hành lang hỏi tôi mấy câu như thế mà cũng gọi là khám bệnh được sao?
– Ban Quản trị có lệnh cấm mở cửa phòng giam.
– Rất đúng, thưa bác sĩ, nhưng tôi hy vọng rằng bác sĩ không phải là một thành viên của Ban Quản trị: như thế tốt hơn cho bác sĩ nhiều.
– Ta sẽ nói chuyện này vào một dịp khác. Tôi sẽ cố làm cho anh bạn anh hồi phục. Còn anh ta thì tôi e là đà quá muộn.
Chatal kể cho tôi nghe rằng anh bị nghi là có chuẩn bị cho một cuộc vượt ngục nên bị đày ra Quần đảo. Anh ta cũng cho tôi biết rằng Jésus, kẻ đã lừa tôi trong chuyến vượt ngục của tôi, đã bị một người hủi giết chết.
Chatal không biết tên người này. Tôi cứ băn khoăn không biết đó có phải là một trong những người hủi đã giúp đỡ chúng tôi một cách hào hiệp trong chuyến vượt ngục vừa qua hay không.
Cuộc sống của tù khổ sai ở đảo Salut hoàn toàn khác với những điều người ta có thể tưởng tượng. Phần đông phạm nhân đều cực kỳ nguy hiểm, vì nhiều nguyên do. Trước hết ở đây mọi người đều được ăn rất khá, vì ở đây người ta buôn đủ thứ: rượu, thuốc lá, cà-phê, sô-cô-la, đường, thịt, rau tươi, cá, tôm he, dừa v.v… Cho nên phạm nhân đều khỏe mạnh. Khí hậu lại rất lạnh. Chỉ có những phạm nhân có thời hạn mới có hy vọng được trả tự do, còn tù khổ sai chung thân thì hoàn toàn vô vọng, cho nên họ đều rất nguy hiểm: họ còn có sợ gì nữa đâu? Mọi người đều dính dấp vào việc buôn bán lén lút hàng ngày, phạm nhân cũng như giám thị. Đấy là một sự pha trộn chăng dễ gì hiểu nổi. Có những người vợ giám thị tìm cách đưa phạm nhân trẻ về làm việc nội trợ – và cũng nhiều khi kiêm cả việc làm tình nữa. Những phạm nhân ấy được gọi là “tù gia đình”. Người thì làm vườn, người thì nấu bếp. Chính loại phạm nhân này là đầu mối liên lạc giữa trại tù và các gia đình cảnh sát. Bọn “tù gia đình” không bị các phạm nhân khác khinh ghét. vì chính nhờ bọn này mà họ có thể tha hồ buôn bán các thứ. Nhưng bọn này cũng không được họ coi như những người “trong sạch”. Trong giới giang hồ chân chính không có một ai hạ mình xuống làm những công việc như thế. Cũng như họ không chịu làm việc “giữ chìa khóa” hay hầu bàn ở nhà ăn của bọn giám thị. Ngược lại, họ rất chuộng những công việc không buộc họ phải dính dáng gì với bọn gác ngục: đổ rác, nhặt lá vàng, chăn trâu, làm y tá, làm vườn cho nhà giam làm thịt súc vật, làm bánh mì, chèo thuyền, đưa thư, canh hải đăng. Tất cả các công việc này đều do những người “giang hồ chính cống” lĩnh lấy. Một kẻ giang hồ chính cống không bao giờ làm những công việc lao dịch nhằm bảo quản tường rào, đường sá, cầu thang, hay trồng dừa; tức là những công việc lao dịch dưới ánh nắng trực tiếp hay dưới sự kiểm soát của cảnh sát. Phạm nhân phải làm việc từ bảy giờ sáng đến mười hai giờ trưa và từ hai giờ trưa đến sáu giờ nhiều, những điều trên đây có thể giúp bạn đọc hình dung sơ sài cái không khí sống trà trộn của những con người hết sức khác nhau, phạm nhân lẫn cánh sát: đây thật là một cái làng nhỏ trong đó việc gì cũng được mọi người bình luận, việc gì cũng được phán xét, trong đó mọi người đều chứng kiến và quan sát cách sống của nhau.
Dega và Galgani đã đến bệnh viện thăm tôi suốt ngày chủ nhật. Chúng tôi đã cùng ăn món ailloli nấu cá, món canh cá, khoai tây, pho-mát, uống cà-phê, rượu vang trắng. Bữa ăn này chúng tôi gồm có Chatal, Dega, Galgani, Maturette và tôi, đã cùng nấu với nhau trong phòng của Chatal. Các bạn yêu cầu tôi kể lại chuyến vượt biên thật tỉ mỉ. Dega đã quyết định là không tìm cách vượt ngục. Bác ta chờ đợi tin được giam ba năm, thành thử nếu được giam thì chỉ còn có bốn năm. Bác ta đã đành lòng ngồi cho hết bốn năm ấy. Còn Galgani thì nói là nghe đâu đang được một thượng nghị sĩ người Corse lo cho.
Sau đó đến lượt tôi hỏi. Tôi muốn biết ở đây có những chỗ làm nào thuận tiện hơn cả cho việc vượt ngục. Thế là ai nấy đều kêu vang lên. Đối với Dega vấn đề này chưa bao giờ thoáng hiện trong tâm trí. Galgani cũng vậy. Riêng Chatal thì nghĩ rằng nên tìm một mảnh vườn để chuẩn bị một cái bè. Còn Grandet thì cho tôi biết rằng anh ta làm thợ rèn cho “Công trường” của trại. Đó là một cái xưởng có đủ cái loại thợ: thợ sơn, thợ mộc, thợ rèn, thợ nề, thợ hàn – cả thảy gần trăm hai mươi người. Xưởng lo việc bảo trì nhà cửa của Ban Quản trị. Dega vốn làm kế toán trưởng, có thể xin cho tôi vào đấy làm một việc gì tùy tôi chọn. Grandet tỏ ý sẵn sàng nhường cho tôi một nửa chân chủ sòng bạc, để lấy số tiền ăn được của các con bạc mà giữ gìn sức khỏe, khỏi lạm vào tiền giấu trong plan. Về sau tôi sẽ rõ rằng việc này rất thú vị, nhưng cũng cực kỳ nguy hiểm. Ngày chủ nhật trải qua một cách nhanh chóng lạ lùng. “Năm giờ rồi – Dega nhìn cái đồng hồ tuyệt đẹp đeo trên cổ tay, nói – phải về trại thôi”. Khi ra về, Dega cho tôi năm trăm francs để đánh poker, vì trong phòng chúng tôi đôi khi có những đám bạc rất khá. Grandet cho tôi một con dao thượng hảo hạng có chốt chắn tay, lưỡi bằng thép do chính tay anh ta tôi.
– Đó là một vũ khí đáng gờm. Đêm ngày cậu bao giờ cũng phải thủ dao trong người.
– Thế nhỡ chúng nó khám thì sao?
– Phần nhiều, việc này do bọn giữ khóa A-rập làm. Đối với một người được coi là nguy hiểm, không bao giờ chúng nó phát hiện là có vũ khí, dù có sờ thấy dao rõ ràng chúng nó cũng phải lờ đi.
– Sẽ gặp lại ở trại – Grandet nói.
Trước khi ra về, Galgani nói là đã dành cho tôi một chỗ trong góc của anh ta và hai đứa sẽ cùng một tổ với nhau (người cùng tổ thì ăn chung và tiền của mỗi người cũng là tiền của cả tổ). Dega thì không ngủ ở trại: bác ta có một buồng ngủ riêng trong dãy nhà của Ban Quản trị.
Chúng tôi đến đây đã được ba ngày, nhưng vì đêm nào tôi cũng ở bên cạnh Clousiot, cho nên tôi không biết rõ cho lắm cảnh sinh hoạt ở căn phòng lớn của bệnh viện có đến gần sáu mươi người nằm. Rồi vì Clousiot mệt nặng quá, người ta cách ly anh vào một phòng riêng đã có một người bệnh nặng nằm từ trước.
Chatal cứ tống mãi morphin vào cho anh. Chatal sợ anh không qua khỏi đêm nay.
Trong phòng có sáu mươi giường xếp lại làm hai dãy, ở giữa là một lối đi rộng ba mét. Hầu như giường nào cũng có người nằm. Hai ngọn đèn dầu hỏa thắp sáng gian phòng. Maturette nói với tôi: “Ngoài kia họ đang đánh poker”. Tôi ra chỗ đánh bài. Có bốn người đang chơi.
– Tôi vào thêm một chân có được không?
– Được, ngồi xuống đi. Mỗi ván tối thiểu chừng một trăm francs. Mỗi chầu ba ván vị chi ba trăm francs.
– Này, cầm lấy ba trăm tiền cắc.
Tôi đưa Maturette giữ hộ hai trăm đồng tiền cắc.
Một người Paris tên là Dupont nói:
– Ở đây đánh theo luật Anh, khòng dùng joker. Cậu biết cách chơi chứ?
– Biết.
– Thế thì chia bài đi, cậu làm cái trước.
Mấy người này đánh bài với một tốc độ khó tưởng tượng nổi. Bài phải đỡ rất nhanh, nếu không người làm cái sẽ nói: “Đỏ chậm rồi”, và người kia sẽ phải đền. Chính ở đây tôi đã phát hiện được một loại phạm nhân mới: loại con bạc. Họ sống bằng cờ bạc, vì cờ bạc trong cờ bạc. Ngoài cờ bạc ra, họ không còn quan tâm đến một cái gì khác nữa. Họ quên hết: trước kia họ là gì, họ bị xử án gì, họ có thể làm gì để cho cuộc sống của họ thay đổi ít nhiều. Họ không cần biết người ngồi đánh bài với họ là ai, tốt xấu ra sao, chi cần người đó đánh bài, thế là đủ.
Chúng tôi chơi suốt đêm hôm ấy. Đến giờ uống cà- phê mới thôi. Tôi được một ngàn ba trăm francs. Tôi đang đi về giường thì Paulo đến gặp tôi hỏi vay hai trăm để đi đánh tiếp mấy ván belote tay đôi. Cần hai trăm mà anh ta chỉ có một.
– Đây, cầm lấy ba trăm. Chung vốn một nửa, tôi nói.
– Cám ơn Papillon. Anh đúng là gã trai tôi đã được nghe nói. Ta sẽ là bạn.
Anh ta chia tay, tôi bắt tay anh ta, và anh ta vui vẻ cầm tiền đi.
Clousiot chết vào sáng hôm ấy.
Đêm trước, vào một lúc tỉnh táo, anh đã yêu cầu Chatal đừng tiêm morphin cho anh nữa:
– Tôi muốn được trọn vẹn khi chết, ngồi trên giường bên cạnh có các bạn tôi.
Có lệ tuyệt đối cấm vào các phòng cách ly, nhưng Chatal đã tự ý bỏ lệ đó, và bạn chúng tôi đã được chết trong tay chúng tôi. Tôi đã vuốt mắt cho anh. Maturette biến dạng đi vì đau đớn.
– Anh ấy là người bạn đường trong cuộc phiêu lưu tuyệt vời của chúng ta. Thế mà bây giờ người ta đã ném anh ấy xuống biển cho cá mập.
Khi nghe mấy tiếng “ném cho cá mập”, tôi lạnh toát cả người. ở Quần đảo quả nhiên không có nghĩa địa cho phạm nhân. Khi một người tù qua đời, họ đem xác ném xuống biển vào lúc mặt trời lặn, khoảng giữa hai đảo Saint-Joseph và Royale, một nơi nhung nhúc những cá mập.
Cái chết của người bạn làm cho tôi không tài nào ở lại bệnh viện được. Tôi nhắn Dega là ngày kia tôi sẽ ra viện. Dega liền viết cho tôi mấy chử: “Cậu hãy xin Chatal ký giấy cho nghỉ mười lăm ngày ở trại, để cậu có thì giờ chọn một công việc vừa ý”. Maturette sẽ nằm viện mấy ngày nữa. Có lẽ Chatal sẽ giữ cậu ta lại làm y tá phụ việc.
Hôm tôi ra viện, họ dẫn tôi đến trụ sở ban Quản trị gặp thiếu tá Barrot biệt hiệu “Dừa khô”.
– Bươm bướm ạ, – ông ta nói, – trước khi cho anh về trại, tôi thấy cần nói chuyện với anh một chút. ở đây anh có một người bạn quý làm kế toán cho tôi: Louis Dega ấy. Lão ta nói anh không phải là người như trong các hồ sơ từ Pháp gửi cho chúng tôi nhận xét và vì coi anh là một người vô tội bị xử oan, việc anh thường nổi loạn là việc bình thường. Tôi xin nói với anh rằng tôi không đồng ý lắm với Dega về vấn đề này. Điều tôi đang muốn biết là hiện nay trạng thái tinh thần của anh ra sao.
– Thưa thiếu tá, trước tiên, để có thể trả lời ngài, xin ngài cho biết trong hồ sơ nhận xét về tôi như thế nào?
– Anh cứ xem đi thì biết.
Và thiếu tá đưa cho tôi một cái cặp bìa vàng, trong đó tôi đọc thấy những điều đại loại như sau:
“Henri Charrière, biệt hiệu Bươm bướm, sinh ngày 16 tháng Một năm 1906 ở…, tỉnh Ardèche, bị Tòa Đại hình quận sông Seine xử án khổ sai chung thân vì tội giết người. Nguy hiểm về mọi phương diện, cần được giám sát nghiêm ngặt. Không thể giao những công việc ưu đãi”
“Nhà lao trung tâm Caen: một phạm nhân bất trị, không thể cải hóa. Có khả năng khuấy động và chỉ huy một cuộc nổi loạn. Cần quan sát thường xuyên.
“Saint-Martin-de-Ré : một tù nhân có kỷ luật nhưng rất có ảnh hưởng đối với các bạn tù. Sẽ tìm cách vượt ngục từ bất kỳ nhà giam nào.
“Saint-Laurent-du-Maroni: đã tấn công một cách man rợ vào ba viên giám thị và một viên giữ khóa để trốn khỏi bệnh viện. Được đưa từ Colombia về. Có thái độ đứng đắn khi ra tòa trừng giới. Bị xử nhẹ hai năm cấm cố.
“Nhà lao cấm cố Saint-Joseph: hạnh kiểm tốt cho đến mãn hạn”.
Khi tôi trả lại tập hồ sơ, viên thiếu tá nói:
– Anh bạn Bươm bướm ạ, với một hồ sơ như thế, người có nhiệm vụ quản lý anh khó lòng có thể yên tâm. Bây giờ anh có thể ký kết với tôi một bản giao kèo không? 
– Sao lại không ạ? Tuy cũng còn tùy ở nội dung bản giao kèo.
– Tôi tin chắc mười phần là anh sẽ làm hết cách để vượt ngục khỏi Quần đảo, mặc dầu việc này hết sức khó khăn. Rất có thể anh sẽ thành công nữa là khác.
– Thế mà về phần tôi, tôi còn phải quản lý Quần đảo năm tháng nữa. Anh có biết một vụ vượt ngục xảy ra thì Giám đốc Quần đảo phải trả giá như thế nào không? Một năm phụ cấp. Tôi sẽ bị tước bỏ số phụ cấp của viên chức hải ngoại, sẽ bị hoãn nghỉ phép sáu tháng và hạn nghỉ phép rút bớt ba tháng. Và tùy theo kết luận sau khi điều tra về vụ vượt ngục, nếu thấy có sự sơ xuất của Giám đốc trại, có thể mất một lon. Anh thấy đấy: chẳng phải chuyện đùa. Nhưng nếu tôi là người làm việc một cách trung thực thì không thể chỉ vì anh có cơ vượt ngục mà tôi lại có quyền nhốt anh vào ngục hay vào xà lim. Trừ phi tôi đặt điều vu cho anh phạm lỗi này nọ. Cái đó tôi không muốn làm chút nào. Cho nên tôi mong anh lấy danh dự hứa với tôi là sẽ không tìm cách vượt ngục trước khi tôi rời Quần đảo. Năm tháng thôi.
– Thưa thiếu tá, tôi xin lấy danh dự hứa với ngài là chừng nào ngài còn ở đây, nếu không quá sáu tháng, tôi sẽ không đi khỏi Quần đảo.
– Không đến năm tháng nữa tôi sẽ ra đi: đó là điều hoàn toàn chắc chắn.
– Vậy thì rất tốt. Ngài cứ hỏi Dega: bác ta biết tôi đã hứa là giữ lời.
– Tôi tin anh.
– Nhưng đổi lại, tôi có một yêu cầu.
– Yêu cầu gì?
– Trong cái thời hạn năm tháng ấy tôi phải được phân những công việc mà lý ra về sau tôi mới được nhận, và hơn nữa, khi cần tôi sẽ được đổi sang đảo khác.
– Được, tôi đồng ý. Nhưng việc này chỉ có hai chúng ta biết thôi.
– Thưa ngài vâng.
Thiếu tá cho gọi Dega đến: Dega nói rằng chỗ của tôi không phải ở trong đám các “tù nhân tử tế” mà là trong đám giang hồ. Trong tòa nhà giam các tù nhân nguy hiểm: tất cả các bạn tôi đều ở đấy. Người ta trao cho tôi cái bị đựng toàn bộ trang phục và đồ dùng của tù khổ sai. Thiếu tá ra lệnh thêm cho tôi mấy bộ quần áo lao động màu trắng tịch thu của bọn thợ may.
Thế là tôi đi theo một viên cảnh sát về khu trung tâm của trại, với hai cái quần trắng mới tinh khôi, ba cái áo va-rơi và một cái mũ rơm. Muốn đến dãy nhà nhỏ của Ban Quản trị trại phải đi qua cả khoảng đất bằng trên đỉnh đồi. Chúng tôi đi ngang trước mặt bệnh xá của giám thị, men theo một bức tường cao bốn mét bao quanh trại giam. Sau khi đi gần hết chu vi cái hình chữ nhật rộng mênh mông này, chúng tôi đến cửa chính trại trừng giới Quần đảo “Phân trại Royale”. Cánh cửa gỗ to tướng của trại mở toang hoác. Nó cao phải đến sáu mét. hai tốp gác mỗi tốp bốn viên giám thị. Một viên đeo lon ngồi trên một chiếc ghế tựa. Không thấy có súng trường: ai nấy đều đeo súng lục. Tôi còn thấy có năm sáu tên giữ khóa người A-rập.
Khi tôi vào đến vòm cửa, bọn giám thị đều bước cả ra. Viên chỉ huy, người Corse, nói: “Đây là một phạm nhân mới, thuộc loại có hạng”. Bọn giữ khóa toan lục soát tôi, nhưng hắn ngăn họ lại:
– Thôi đừng bày trò bắt hắn giở hết cả bạc-đa ra. Vào đi Papillon. ở nhà tù trung tâm chắc chắn là có nhiều bạn cũ đang đợi mày. Tao tên là Sofram. Chúc mày gặp may mắn ở Đảo này!
– Cám ơn sếp.
Tôi bước vào một khoảng sân rộng mênh mông xung quanh có ba tòa nhà lớn. Tôi đi theo viên giám thị, vào một tòa nhà có đề trên cửa: nhà A – Khối Đặc biệt” trước cánh cửa rộng mở viên giám thị gọi lớn: “Khối trưởng đâu!” Một người tù khổ sai già bước ra. Viên sếp nói: “Đây là một tay mới”, đoạn bỏ đi. Tôi bước vào một gian phòng lớn hình chữ nhật có một trăm hai mươi người ở. Cùng như trong cái lán đầu tiên của tôi ở Saint-Laurent, hai bên có hai thanh sắt dài chạy song song với hai bức tường làm thành chiều dài của gian phòng, chỉ đứt quãng ở chỗ có cánh cửa sắt đóng vào ban đêm. Giữa mỗi thanh sắt và bức tường đối diện có căng rất thẳng những tấm vải bố dùng làm giường, được gọi là “võng” tuy nó chẳng giống võng chút nào. Nhưng cái “võng” này rất tiện nghi và hợp vệ sinh. Phía trên mỗi tấm vải có hai tấm ván đóng vào tường dành cho phạm nhân để đồ đạc: một tấm để áo quần, một tấm để cà-mèn và thức ăn v.v… Giữa hai hàng võng có một lối đi rộng ba mét, gọi là “hành lang”. ở đây phạm nhân cũng họp thành từng nhóm nhỏ gọi là “xóm” hay “tổ” sinh hoạt. Có những tổ chỉ có hai người, nhưng cũng có nhưng tổ có đến mười người.
Chúng tôi vừa vào một cái là các tù nhân mặc đồ trắng đổ xô lại.
“Papi, ra phía này!”
“Không, cậu ấy đến chỗ chúng tớ”.
Grandet cầm lấy cái bị của tôi, nói: “Papi sẽ ở một tổ với tớ”
Tôi đi theo Grandet. Họ lắp “võng” cho tôi, kéo thật căng.
– Này. cầm lấy cái gối lông gà này mà gối. Grandet nói.
Tôi gặp lại cả một lô bạn bè cũ. Rất nhiều Người Corse và người Marseille, cùng có mấy người Paris: đều là những bạn từ Pháp sang, hoặc giả nhưng người tôi đã làm quen ở nhà lao Sante, nhà lao Conciergie hay trên tàu thủy. Nhưng tôi lấy làm lạ sao giờ này mà họ đều có mặt ở đây cả. Tôi hỏi: “Giờ này mà các cậu không phải đi làm à?” Thế là ai nấy đều cười rộ.
– Chà! Câu này cậu phải chép lại cho chúng tớ làm kỷ niệm đấy! ở nhà A này ai phải đi làm thì nhiều nhất là mỗi ngày một tiếng. Sau đó là về tổ.
– Cuộc đón tiếp của các bạn thật là nồng nhiệt. Được như thế này mãi thì hay quá. Nhưng tôi chợt nhận thấy một điều mà tôi không hề dự kiến: tuy chỉ nằm bệnh viện có mấy ngày, giờ đây tôi thấy mình phải học lại cách sống tập thể.
Tôi được chứng kiến một cảnh mà tôi khó lòng có thể tưởng tượng nổi. Một anh chàng mặc đồ trắng bước vào hai tay bưng một cái khay lớn phủ một tấm vải trắng tinh, rao: “Bít-tết, bít-tết đây! Ai bít-tết nào?” Một lát sau hắn đã đến ngay chỗ chúng tôi, dừng lại, giở tấm vải trắng ra, để lộ cả một khay bày toàn là bít-tết xếp từng chồng sắp rất ngang hàng thẳng lối như trong một cửa hàng thịt chính quy ở Pháp. Có thể thấy rõ Grandet là một ông khách thường xuyên, vì cái anh bưng bít-tết không hỏi xem anh ta có mua bít-tết không, mà chỉ hỏi xem anh ta lấy bao nhiêu suất.
– Năm suất.
– Phô-phi-lê hay thịt vai nào?
– Phô-phi-lê. Hết bao nhiêu đây? Cậu tính sổ lại thử xem, vì bây giờ tổ tớ thêm một nhân khẩu, chẳng giống mọi hôm.
Cậu bán bít-tết rút ra một cuốn sổ tay, tính toán cái gì một lúc.
– Cả thảy vị chi một trăm ba mươi lăm francs: tổng cộng đấy.
– Thế thì tớ thanh toán hết, để bắt đầu ghi sổ lại từ đầu
Khi anh bán thịt đã đi chỗ khác. Grandet nói với tôi:
– ở đây mà không có bím thì chỉ có chết. Nhưng cũng may là có một phương pháp để lúc nào cũng rủng rỉnh: đó là “biện pháp D”.
ở trong đám giang hồ chính cống, “biện pháp D” (tức là “debrouille”) là cái cách xoay sở riêng của từng người để kiếm tiền xài. Anh đầu bếp của trại lấy suất thịt của cái tù nhân, rán bít-tết đem bán. Khi nhận thịt ở nhà bếp, hắn cắt bớt đi chừng một nửa. Tùy loại thịt, hắn làm bít-têt, làm ra-gu hay đem hầm nhừ. Một phần đem bán cho bọn giám thị thông qua vợ họ, một phần đem bán cho các phạm nhân có tiền. Dĩ nhiên, anh đầu bếp cũng có chia phần lời cho viên giám thị phụ trách bếp núc. Nhà đầu tiên anh ta mang hàng đến bao giờ cũng là nhà A, nhà của khối Đặc biệt tức của chúng tôi.
Vậy thì biện pháp D là biện pháp của anh đầu bếp bán thịt bán mỡ, của anh làm bánh mì bán bánh mì phăng-te-di và bánh mì trắng ba-ghét, tức bánh mì ống sáo nướng dòn tan, dành cho bọn giám thị, của anh đồ tể ở lò thịt bán thịt cho anh đầu bếp; của anh y tá bán thuốc tiêm; của anh kế toán ăn tiền để chỉ định cho phạm nhân nhận việc này việc nọ, hay chỉ để cho anh miễn một khoản cỏ vê nào đấy; của anh làm vườn, bán rau quả tươi; của anh tù làm ở phòng thí nghiệm bán kết quả xét nghiệm, nhiều khi còn sản xuất ra cả những bệnh nhân ho lao dỏm, cùi dỏm, lỵ dỏm, v.v…, của những chuyên gia ăn cắp các thứ vặt vãnh trong sân nhà bọn giám thị rồi đem ra bán: trứng, gà, xà-bông Marseille; của những anh “tù gia đình” chuyên móc nối đổi chác với bà chủ nhà, ai cần gì cứ nhờ họ kiếm cho: bơ, sữa đặc, sữa bột, hộp cá thu, hộp cá trích, pho-mát, và dĩ nhiên là cả rượu vang, rượu mạnh (chẳng hạn tổ tôi bao giờ cũng có một chai Ricard và mấy bao thuốc lá Mỹ hayĂng-lê); rồi lại còn những anh tù được phép đi câu, chuyên bán cá tươi và tôm he nữa.
Nhưng cái biện pháp D hời nhất, và cũng là nguy hiểm nhất nữa, là làm chủ sòng bạc. Lệ ở đây quy định là không bao giờ được có hơn ba hay bốn chủ sòng trong một khối gồm một trăm hai mươi tù nhân. Người nào định kiếm chân chủ sòng thì đang đêm cứ đến một sòng đang chơi tuyên bố:
– Tớ muốn kiếm một chân chủ sòng.
Người ta thường trả lời hắn là không được đâu.
– Mọi người đều đồng ý là không được chứ?
– Không được.
– Vậy thì tớ chọn cậu Mỗ đây: tớ chiếm chỗ cậu.
Cái anh mỗ được chọn kia đã hiểu. Hắn đứng dậy, ra giữa phòng và hai người rút dao ra đọ sức. Ai thắng thì được giữ chân chủ sòng. Chủ sòng được hưởng hồ năm phần trăm mỗi số tiền thắng được.
Cờ bạc cũng là cơ hội thực hiện những biện pháp D vụn vặt khác, có những anh chuyên trải những tấm chăn thật thẳng thóm xuống đất cho mọi người ngồi, lại có những anh cho thuê mấy cái ghế đòn con con dành cho những con bạc không quen ngồi xếp bằng, có những anh bán thuốc lá điếu bên sòng bạc: họ đặt lên tấm chăn mấy cái hộp xì gà cũ, đựng những bao thuốc Pháp, Anh, Mỹ hay những điếu thuốc quấn lấy. Mỗi thứ đều có giá nhất định. Ai muốn hút cứ việc tự lấy ra, nhưng không được quên bỏ vào hộp số tiền đã ấn định cho từng loại thuốc. Lại có cả những anh chuyên trách mấy cái đèn dầu noa, trông nom cho đèn đừng bốc khói nhiều quá. Đó là những cây đèn làm bằng hộp sữa, mặt trên đục lỗ xâu bấc. Lâu lâu lại phải gạt bấc cho đỡ bốc khói. Những con bạc không hút thuốc thì dùng kẹo hay bánh ngọt: việc sản xuất các thứ này cũng làm thành một nghề D riêng. Mỗi khối nhà đều có một hay hai anh bán cà-phê. Cà-phê theo kiểu A-rập, được ủ nóng suốt đêm trong hai cái bao bố gấp kín lại và được để ở một chỗ cố định. Lâu lâu người bán cà-phê lại đảo qua sòng bạc chào mời, tay cầm một cái bình thủy tự chế đựng cà-phê hay ca cao nóng.
Cuối cùng là nghề tiểu thủ công. Đây có thể nói là một biện pháp D có tính chất mỹ nghệ. Có người mua lại đồi mồi của những tù nhân chuyên đi câu để gia công. Mỗi cái mai như vậy có mười ba mang có thể nặng tới hai ki lô. Nhà mỹ nghệ dùng đồi mồi làm vòng đeo tay, làm hoa mai, làm vòng đeo cổ, làm cán điếu, làm lược và làm bàn chải. Tôi còn được trông thấy một cái hộp làm bằng đồi mồi vàng, thật là một tuyệt phẩm. Lại có những người chạm trổ sọ dừa, sừng trâu sừng bò, gỗ mun và gỗ đảo hình rắn. Cũng có người làm những thứ đồ gỗ cao cấp đòi hỏi độ chính xác rất cao, không có lấy một cái đinh, toàn dùng khớp làm lại. Những người khéo tay nhất thì làm đồ đồng đen. Lại có cả những họa sĩ nữa.
Cũng có nhiều tài nghệ khác nhau được liên kết lại để làm một sản vật duy nhất. Nói giả dụ có một người tù câu được một con cá mập. Hắn liền lấy xương hàm con cá đánh thật sạch rồi gia công sao cho xương và hai hàng răng thật bóng, thật thẳng, chốt cho cái hàm há rộng thành một cái khung xung quanh toàn răng nhọn hoắt. Một anh thợ gỗ làm một cái mô hình neo bằng gỗ mịn thớ đánh thật bóng, phần giữa thật rộng để có thể vẽ tranh lên trên. Cái neo được gắn vào giữa cái hàm cá mập, và một họa sĩ vẽ lên đấy một cảnh Quần đảo Salut giữa biển cả. Chủ đề hay được sử dụng nhất là chủ đề sau đây: mũi đảo Royale, có biển và đảo Saint~Joseph. Trên mặt biển màu xanh biếc ánh tà dương lấp lánh. Trên mặt biển là một con thuyền có sáu phạm nhân mình trần đứng cầm chèo đứng thẳng, phía sau lại có ba viên cảnh binh cầm tiểu liên. ở mũi thuyền, hai người đang dốc một cỗ quan tài: từ đấy tụt ra một cái xác chết bọc trong bao bột. Trên mặt nước có thể trông thấy mấy con cá mập đang há mõm đợi ăn. ở phía dưới bức tranh, bên góc phải có đề “Mai táng ở Royale” và ngày tháng vẽ tranh.
Tất cả các “mỹ nghệ phẩm” như trên đều bán cho các nhà giám thị. Những chế phẩm đẹp nhất thường được đặt mua trước hay đặt làm riêng. Phần còn lại bán cho các chuyến tàu ghé đảo. Đây là lãnh vực của mấy anh chèo thuyền. Cũng có những anh bịp đời, lấy một cái ca cũ kỹ mép méo, khắc dòng chừ “cái ca này trước kia là ca của Dreyfus – Đảo quỷ, – ngày… tháng…” Thìa và cà-mèn cũng được dân bịp đời sử dụng kiểu đó. Đối với mấy anh lính thủy người Bretagne thì có một món ăn chắc: bất cứ đồ vật gì có khắc tên “Sezenec”.
Những cuộc mua bán thường xuyên này thu hút vào Quần đảo rất nhiều tiền, và bọn giám thị thấy rõ điều đó có lợi cho họ, cho nên họ cứ để mặc. Mải lo việc sản xuất và bán chác, tù nhân dễ điều khiển hơn và dễ an phận với cuộc sống đày ải của họ hơn. Thói pê-đê ở đây đã trở thành một nếp sống chính thức. Mọi người, cho đến cả chi huy trại giam, đều biết rằng cậu Mỗ nào đó là vợ của một cậu Mễ nào đó, và nếu có trót chuyển một trong hai cậu ấy sang đảo khác mà quên mất cậu kia thì người ta làm đủ cách để cho cái đôi bị “chia loan rẽ thúy” kia sớm đoàn tụ. Trong cả đám phạm nhân ấy không có lấy được ba phần trăm có ý định tìm cách trốn khỏi quần đảo. Ngay cả những người bị án chung thân cũng không. Cách duy nhất để có cơ vượt ngục là làm sao được miễn giam và được chuyển về Đất liền, về Saint-Laurent, Kourou hay Cayenne. Điều đó chỉ có thể có được với những người bị giam có thời hạn. Đối với những người bị án giam chung nhân thì không có cách gì, trừ phi là giết người. Vì nếu phạm nhân giết chết một người nào, thì sẽ bị đưa về Saint-Laurent để xử. Nhưng vì muốn đến Saint-Laurent phải qua thủ tục thú nhận tội sát nhân, người ấy có nguy cơ bị năm năm cấm cố mà không biết là liệu trong cái thời hạn ngắn ngủi ở trại trừng giới Saint-Laurent (tối đa là ba tháng) có đủ thì giờ để tổ chức vượt ngục hay không?
Cũng có thể tìm cách xin được miễn giam vì lý do sức khỏe. Nếu được công nhận là ho lao thì được chuyển đến trại của phạm nhân ho lao, gọi là “Trại mới”, cách Saint-Laurent tám mươi cây số.
Còn có bệnh hủi hay bệnh kiết lỵ kinh niên nữa. Muốn được công nhận có một trong hai bệnh này cũng tương đối dễ, nhưng làm như thế có một nguy cơ rất khủng khiếp: phải chung sống hai năm, cách ly trong một căn nhà riêng với những người mắc bệnh hủi thứ thiệt hay bệnh kiết lỵ thứ thiệt. Trong hai năm ấy chẳng khó gì mà chẳng chuyển từ hủi dỏm thành hủi xịn và từ kiết dỏm thành kiết xịn: không ít người đã qua cái quá trình ấy.
Thế là tôi đã an cư lạc nghiệp trong khối nhà A với một trăm hai mươi bạn tù của tôi. Phải cố học cách sống trong cái khối cộng đồng này, nơi mà người ta phân loại được anh ngay. Trước hết phải làm sao cho mọi người biết rõ rằng không thể nào tấn công mình mà không bị giáng trả đích đáng. Được mọi người e sợ rồi, còn phải được họ kính trọng vì thái dộ của mình khi đối xử với bọn cớm, không được nhận một số chức việc nào đấy, phải khước từ một số công việc nhất định, không bao giờ được khuất phục một tên giữ khóa, không bao giờ tuân lệnh hắn, dù có phải vì thế mà xung đột với một viên giám thị cũng vậy. Nếu đã đánh bạc suốt đêm rồi thì đến giờ điểm danh cũng không ra. Người trường khối chỉ việc trả lời: “ốm phải nằm”, thế là xong. ở các khối khác, nhiều khi bọn giám thị vào tận phòng tìm “người ốm” và bắt hắn ra điểm danh. Nhưng ở khối dân cứng đầu thì không bao giờ. Chung quy, điều mà từ cấp cao đến cấp thấp bọn họ quý nhất là được yên thân ở trại khổ sai này.
Bạn cùng tổ với tôi, Grandet, là một người Marseille ba mươi lăm tuổi. Người cao lêu đêu, gầy như que củi, nhưng rất khỏe. Chúng tôi là chỗ bạn thân từ hồi ở Pháp. Chúng tôi hay gặp nhau ở Toulon, cũng như ở Marseille và ở Paris. Đó là một tay khoét tủ sắt nổi tiếng. Anh ta hiền nhưng có lẽ rất nguy hiểm. Hôm nay tôi không ra ngoài. Trong gian phòng rộng mênh mông hầu như chỉ có một mình tôi. Ông già trưởng khối đang quét và lau cái sàn xi măng. Tôi trông thấy một phạm nhân đang ngồi sửa đồng hồ, mắt trái đeo cái gì bằng gỗ. ở phía trên võng của hắn có một tấm ván treo đến ba chục cái đồng hồ. Nhìn nét mặt thì hắn độ ba mươi tuổi là cùng, nhưng đầu hắn bạc trắng. Tôi đến cạnh hắn, nhìn hắn làm việc một lúc. Rồi tôi thử bắt chuyện với hắn. Hắn cứ câm như hến. Thậm chí cũng chẳng thèm ngẩng mặt lên một lần nào, hơi trạnh lòng, tôi bỏ đi ra sân, đến ngồi ở cạnh máy nước. ở đây đà có Titl la Belote, đang tập dượt với một cỗ bài mới tinh khôi. Mười ngón tay mềm mại của hắn thoăn thoắt trang di trang lại ba mươi con bài với một tốc độ không tài nào tưởng tượng nổi. Vẫn không ngừng ngưng động tác chớp nhoáng của nhà ảo thuật, hắn bảo tôi:
– Thế nào anh bạn? ở Royale có ổn không?
– ổn, nhưng hôm nay tớ chán quá. Tớ sẽ tìm việc gì làm, để ra ngoài trại một chút. Ban nãy tớ muốn nói chuyện một lát với cái tay gì sửa đồng hồ trong kia, nhưng hắn cũng chẳng buồn trả lời tớ nữa.
– Anh không biết đấy Papi ạ, chứ thằng cha ấy nó có coi ai ra gì đâu. Nó chỉ biết mấy cái đồng hồ của nó. Ngoài ra nó đếch cần. Quả tình sau những chuyện nó phải chịu đựng, nó có quyền điên lắm. Nó chưa điên là may. Anh hãy tương tượng mà xem, cái anh chàng trẻ tuổi ấy – có thể gọi hắn như vậy vì hắn chưa đến ba mươi – năm ngoái đã từng bị xử tử vì bị buộc tội là “hiếp” vợ một thằng cớm. Chuyện láo toét cả. Hắn ngủ với cô chủ từ lâu – cô ta là vợ một viên giam thị trưởng người Bretagne. Vì hắn là “tù gia đình” ở nhà họ, cho nên cứ đến ngày trực của viên giám thị là hai anh chị tha hồ. Nhưng anh chị đã phạm một sai lầm lớn: cô nàng không cho anh chàng giặt là áo quần nữa, cô ta tự làm lấy: thế là anh chồng mọc sừng xưa nay vốn biết tính cô ta lười, thấy lạ và sinh nghi. Nhưng anh ta chưa có bằng chứng là mình bị mọc sừng. Cho nên anh ta quyết định bày mưu để bắt quá tang tại trận và giết chết cả đôi. Anh ta đã không lường trước được cách phản ứng của cô nàng. Một hôm, trực được hai tiếng thì anh ta bỏ phiên về nhà, gọi một viên giám thị về theo lấy cớ là để biếu tay này một súc giăm-bông nhà mới gửi cho. Hai người khẽ khàng đi vào cổng, nhưng vừa vào đến nhà thì con vẹt nuôi trong nhà ré lên “Ông chủ đã về!” như nó vẫn quen làm mỗi khi viên giám thị về. Ngay tức khắc cô vợ hét lên: “Cứu với! Nó hiếp tôi đây này?” Hai tên gác xông vào buồng đúng vào lúc cô vợ vừa vùng ra khỏi tay anh tù. Anh này vội nhảy qua cửa sổ chạy. Viên giám thị bắn theo, một phát trúng vai anh ta. Trong khi đó, cô nàng xé rách áo choàng, cào xước vú và má mình ra. Anh tù ngã xuống, tên gác người Breton toan bắn chết thì tên gác kia giật súng đi. Tớ cần nói rõ là tên gác này người Corse, ngay từ đầu đã hiểu rằng ông sếp phịa chứ ở đây chẳng có chuyện hãm hiếp gì hết. Nhưng tên người Corse không thể nói chuyện này với tên kia, cứ làm như thể mình tin câu chuyện hiếp dâm là chuyện thật. Anh thợ đồng hồ bị xử tử hình. Đến đây thì chẳng có gì phi thường hết, anh bạn ạ. Sau đó mới ly kỳ.
“ở Royale, trong những khu trừng phạt có một cái máy chém, mỗi bộ phận đều có chỗ cất riêng trong một căn nhà đặc biệt. Ngoài sân là năm phiến đá xây kỹ thành bệ bằng phẳng để đặt máy chém. Cứ mỗi tuần, đao phủ thủ và hai người tù giúp việc cho hắn lại đem cái máy ra lắp lên bệ, lưỡi dao lười diếc đầy đủ bộ sậu, rồi cho máy chém thử hai ba cây chuối. Để cho chắc là máy vẫn trơn tru, khi cần đến không lo trục trặc. (anh thợ đồng hồ người Savoie lúc bấy giờ đang nằm trong khám tử hình với bốn người nữa, hai người A-rập và một người Sicilia). Cả năm người đang đợi phúc đáp đơn xin ân xá do những viên giám thị đã bênh vực họ viết hộ cho.
Một buổi sáng nọ người ta lắp máy chém và đột nhiên mở cửa buồng giam anh thợ đồng hồ. Tốp đao phủ xông vào trói chân anh ta lại và cũng sợi dây ấy buộc hai cổ tay, dây liền với chân. Họ lấy kéo xén cổ áo rồi dắt anh ta đi từng bước ngắn trong ánh sáng mờ mờ của buổi bình minh, từ từ vượt qua cái khoảng cách chừng hai mươi mét từ buồng giam đến máy chém. (chắc bạn cũng biết rằng khi anh đến trước máy chém, anh giáp mặt với một tấm ván dựng đứng cao ngang vai anh, có đính sẵn nịt da để buộc sấp anh vào đấy, sau đó, tấm ván sẽ được lật ngang ra và thế là anh chuyển sang tư thế nằm sấp, cổ đặt vừa đúng vào chỗ lưỡi dao sẽ rơi xuống. Vậy thì người ta đang sắp sửa lật ngang tấm ván có buộc anh thợ đồng hồ, nhưng vừa đúng lúc ấy ông chỉ huy trại – ông “Dừa khô” đương kim trại trưởng đấy – ra sân: theo lệ của trại, ông ta bắt buộc phải dự cuộc hành quyết. Tay ông ta cầm một cây đèn bão lớn, và khi giơ đèn lên soi, ông ta mới thấy là bọn cớm chết tiệt ấy nhầm: chúng nó suýt chặt đầu anh thợ đồng hồ trong khi anh ta chẳng dính dáng gì với cuộc hành quyết sáng hôm ấy.
– Dừng lại Dừng lại! – Barrot quát lớn.
Ông ta xúc động đến mức dường như không nói được nữa. Ông ta buông cây đèn bão rơi xuống đất, xô lấn mọi người, cảnh sát cũng như phạm nhân, tự tay đến cởi trói cho anh sửa đồng hồ Savoie. Mãi sau đó ông ta mới ra lệnh được:
– Y tá, đưa anh ta về buồng giam. Săn sóc kỹ, cho uống rượu rhum. Còn các anh, cái lũ ăn hại kia, vào bắt ngay tên Rencassen đưa ra đây. Hắn mới là kẻ phải xử tử hôm nay, chứ không phải ai khác!
“Hôm sau, anh thợ đồng hồ đã bạc trắng cả đầu ra như anh thấy đấy. Trạng sư của hắn là một cảnh binh ở Calvi, bèn viết thêm một lá đơn xin ân xá nữa gửi ông Bộ trưởng Tư pháp, trong đơn có kể lại việc này. Anh thợ đồng hồ được ân xá, chuyển án tứ hình thành án chung thân. Từ đấy, anh ta suốt ngày sửa đồng hồ cho nhân viên trong trại. Anh ta say mê công việc quên hết mọi sự trên đời. Sửa xong anh ta giữ lại rất lâu để kiểm tra, điều chỉnh, cho nên trên ván mới treo ngần ấy đồng hồ. Bây giờ thì anh đã hiểu ra rằng hắn có quyền hơi điên một chút chứ? 
– Hiểu, Tita ạ, sau một cái sốc như thế, hắn có quyền không hồ hởi với mọi người cho lắm. Tôi thành thật thương hại hắn. 
Mỗi ngày tôi lại học thêm được chút ít về cuộc sống mới này Khối A quả là một nơi tập trung những con người đáng sợ, xét về những thành tích dĩ vãng cũng như về cách phản ứng của họ trong sinh hoạt hàng ngày. Tôi vẫn chưa làm việc: tôi còn đợi một chân đổ thùng. Kiếm được chân này; tôi chỉ phải làm mỗi ngày bốn mười lăm phút, rồi sau đó được đi lại tự do trên đảo và được phép xuống biển đánh cá. Sáng hôm ấy, đến buổi điểm danh lấy người đi làm cỏ vê ở đồn điền trồng dừa, họ chỉ định Jean Castelli. Ông ta bước ra khỏi hàng hỏi:
– Cái gì? Tôi mà cắt di làm cỏ-vê à? Tôi ấy à?
– Phải, anh đấy! – Tên gác đội cỏ-vê nói. – Đây, cầm lấy cái cuốc chim này.
Castelli lạnh lùng nhìn hắn;
– Anh kia. anh không hiểu rằng phải là dân cái xứ Auvergne nhà anh mới biết cánh dùng cái thứ cuốc quỉ quái ấy à? Tôi là người Corse ở Marseille. ở Corse người ta ném các dụng cụ đi cho thật xa, còn ở Marseille người ta còn không biết nó là cái gì nữa. Anh cứ giữ lấy cái cuốc và để cho tôi yên.
Tên cớm trẻ, chưa am hiểu công chuyện ở đây lắm (như về sau tôi được biết), giơ cao cái cán cuốc lên dọa Castelli. Lập tức một trăm hai mươi người quát lên cùng một lúc:
– Buông cuốc xuống, không thì chết ngay bây giờ!
Grandet hô:
– Giải tán!

Số Mạng

Trạch An – Trần Hữu Hội

Giao Chỉ xuất bản 2017

Post by Sơn râu 9 Nov 2025

Phần 10 – Hy vọng của “Thăng tử hình”

Ô cửa sáo mở ra đột ngột, một gương mặt nghiêm khắc của cán bộ biệt giam nhìn chòng chọc vào tôi và phạm nhân chung phòng, cuối cùng một ngón tay chỉ đúng vào tôi:

-Chuẩn bị đồ đạc.

Khẩu lệnh này đã quá quen thuộc với tôi vì đã hơn hai năm nằm biệt giam, chuyển phòng không biết bao nhiêu lần. tuy vậy lần nào cũng hồi hộp lo âu vì không biết là chuyển phòng hay chuyển trại.

Lần này thì tôi biết chắc là chuyển phòng, bởi sáng nay, cán bộ phát hiện “ chậu hoa” trên ô cửa phòng tôi và lập tức tịch thu với anh mắt ngờ vực, đe dọa.

Từ ngày vào tù. tôi vào ngay biệt giam, chỉ những lần hỏi cung là được ra ngoài, còn lại, nằm trong căn phòng 2×2 mét. Một bệ xi măng cao hai mươi phân, rộng một mét hai mươi phân cho hai người nằm, nhưng thường thì một người nằm trên và một người nằm dưới. tôi luôn chọn nằm dưới. Khoảng này tám mươi phân, hẹp hơn, không tô láng. dành cho sinh hoạt và để thùng cầu. Có những lúc xui xẻo gặp thùng câu thủng là suốt đêm phải ngồi, luôn tay dùng giẻ thấm rồi vắt ngược vào lại thùng cho đến sáng! Bù lại. nằm dưới có cái lợi là có thể nghe dộng tỉnh bên ngoài dễ hơn, thấy bóng cán bộ rình nghe lén và mát hơn nhờ cửa chính có một khe hở nhỏ chừng năm, bảy ly. Năm bảy ly thôi nhưng là cả một “khoảng trời mênh mông”đối với người nằm dưới. “Chậu hoa” chúng tôi bị tịch thu sáng nay là một mất mát lớn, bởi công sức chăm trồng của cả hai chúng tôi hơn tháng nay!

Trong biệt giam, cứ chừng vài tháng là có lệnh xem lại những đồ đạc ít dùng. Những món đồ thường dùng thì để trước cửa phòng, những gì ít dùng tới, cho vào giỏ gởi phục vụ đem đến phòng đồ đạc tập thể. Khi xem lại đồ dùng, tôi thích thú vì bao nilon đựng hạt ném(*) tua tủa mầm xanh. Mẹ tôi luôn gởi ném cho tôi, bà dặn là khi nào cảm hay đau bụng thì nhai vài hạt sẽ bớt ngay. Bởi ít khi bị cảm, nên tôi cho vào giỏ đồ ít dùng. Tôi và bạn cùng phòng, một phạm nhân hình sự, tội mổ bò lậu. Biệt giam luôn bố trí cho tù chính trị ở chung với hình sự. Tuy mới ở tù bốn tháng nhưng bạn tù chung phòng với tôi cũng rất thích thú khi nhìn những hạt ném mọc mầm xanh tươi. Chúng tôi giữ lại bốn hạt có mầm cao nhất với ý định trồng. Muốn trồng những hạt ném sẽ cần một cái chậu, nhanh trí, tôi lấy lại hai hộp diêm rồi gởi lại giỏ đồ cho tù phục vụ mang lại phòng kho.

Tôi mở hẳn hộp diêm ra rồi cắt đôi, ghép lại thành một ô chữ nhật, cao chừng ba phân, đặt chồng lên nắp hộp diêm, như vậy là có một cái chậu đủ cho bốn hạt ném. Bây giờ cái khó là đất, phòng luôn sạch không một chút bụi, kiếm ra đất thật khó! Tôi nghỉ đến chuyện khi nào đi hỏi cung, trong này thường gọi là “đi làm việc”, sẽ lén lấy một nắm đất. Ý tưởng này trở thành khó thực hiện vì tôi từ hơn một năm nay không thấy gọi đi làm việc, bạn chung phòng cũng hình như đã kết cung, chờ ra tòa. Hai chúng tôi cùng chọn cách lót dưới một lớp giẻ, dặt bốn hạt ném vào rồi xé vụn giẻ nhét thêm xung quanh. Sau một hồi “hì hục”, đã có một chậu ném tươi xinh tua tủa mầm…Chúng tôi nhỏ nước hàng ngày làm chất dinh dưỡng…May mà hộp diêm bằng gỗ, hơn tháng rồi vẫn chưa bị hư!

Suốt ngày, hai chúng tôi nhìn những lá xanh tăng trưởng! “Chậu hoa” được đặt cuối phòng, đến chừng sáu giờ chiều, chúng tôi đứng lên vai nhau, cho“chậu hoa” lên ô cửa có song sắt hóng sương đêm, rồi sáng mai, nán đến chín giờ cho hoa tắm nắng mai, rồi lại đứng lên vai nhau đưa trở lại phòng. Chúng tôi nâng niu hộp diêm như một chậu hoa hồng mỏng manh.

Chúng tôi ngây thơ, sau khi phát hiện và tịch thu chậu hoa, tôi bị lên phòng đều hành trại, cán bộ hỏi tôi là đã làm ám hiệu liên lạc với ai. ở nhà nào?

(Nhà là trại tập thể, ở chừng ba, bốn chục người.) Lúc này tôi mời biết là có thể bỏ một vật gì đò lên cửa sổ, làm ám hiệu cho bạn tù ở ngoài định vị phòng biệt giam mình đang ở, trong những lần trốn trại trước dây đã xảy ra đều này.

Vậy là tôi bị chuyển phòng! Phòng tôi chuyển đến nằm dãy đối diện với phòng cũ, vừa chào bạn tù mới, đã nghe tiếng gõ tường, Tôi đưa mắt hỏi bạn mới:

-Ai bên phòng đó vậy?

– Thăng tử hình!

“Thăng Tử hình” là đồng hương với tôi. Tội đốt kho lương thực, chung vụ của Thăng gần như cả phòng lương thực, trưởng, phó phòng và hai mươi mấy nhân viên. Phiên tòa lớn nhất từ trước tới nay, phải hơn hai năm mới kết cung và xét xử, Thăng là thủ kho, tự tay châm lửa, lãnh án nặng nhất: Tử hình, còn lại chung thân, hai mươi hai năm, mười tám năm… Thăng đang chờ ân xá hoặc giảm án. Theo nguyên tắc, tù nhân sau khi tuyên án, có quyền xin phúc thẩm hoặc viết đơn lên Chủ tịch nước xin ân xá. Bởi chỉ là nguyên tắc nên không mấy khi tù nhân được thỏa mãn. phần nhiều được phê “Y án tỉnh Ninh Thuận”. Lúc này, tù nhân chỉ còn chờ ngày thi hành án: Xử bắn !

Nguyên tắc này cho tù nhân tử hình kéo dài thời gian có khi cả năm, bởi đơn đi và về rất lâu.

Tôi biết mình sẽ chuyển phòng lần nữa vì sớm muộn gì ban đều hành trại giam cũng phát hiện ra sơ suất của cán bộ: Tôi và Thăng tử hình là đồng hương.

Thăng bị cùm cố đinh, khác vời cùm thường là không thể di chuyển, cùm cố định được xuyên qua tường, sau khi xỏ hai chân vào, cán bộ đích thân bấm khóa từ bên ngoài. Bên trong, tù nhân chỉ được đứng, ngồi hoặc nằm tai chỗ!

Lại nghe tiếng gõ tường, tôi vờ hỏi bạn mới:

-Thăng tử hình nói gì vây?

-Anh ấy hỏi có phải anh Hân chính trị, ở Sông Pha không?

Tôi vờ không biết nghe và gõ tường vì chưa thể tin bạn mới, tội liên lạc với nhau có thể bị còng hoặc cùm 15 ngày đến một tháng!.

-Trả lời giùm anh với, nói là đúng rồi.

Bạn mới gõ tường, tiếng gõ thật nhanh chứng tỏ cũng đã ở biệt giam lâu rồi.

Qua phút làm quen ban đầu, tôi có thể tin là bạn mới không tố cáo, tôi tự mình nghe và gõ lại. Có hai bảng mã cho tù nhân dùng liên lạc với nhau bằng cách gõ lên tường. Cách liên lạc này cần một vật cứng, nhỏ chừng ngón tay, thường thì dùng cán quạt, rồi lấy thun quấn chặt là có thể gõ. : Bảng mã 5×7 và 6×7. Bảng 5×7 là 5 ô hàng ngang và 7 ô hàng dọc, mỗi ô chứa một chữ cái theo mẫu chữ a, ă, â,b,c….Thí dụ chữ “a”, nằm ô thứ nhất hàng ngang và cũng ô thứ nhất hàng dọc, gõ: Cạch – cạch…Hàng ngang được gõ trước, hàng dọc gõ sau. Xem thật là khó khăn và rắc rối, nhưng như người xưa nói: “Nước sông, công tù”. Trong tù ai cũng tỷ mỷ và kiên nhẫn bởi suốt ngày nằm không, tháng này qua tháng nọ, năm này qua năm kia!

Thăng ở đã lâu, dùng mẫu 5×7, tôi lại quen dùng mẫu 6×7, ban đầu có khó hiểu đôi chút nhưng rồi chuyển đổi rất nhanh.

Thăng tâm sự nhiều về vụ đốt kho, hỏi tôi chuyện ở địa phương, ngoài đời…và cuối cùng thì hỏi tôi có biết Hương, người yêu của Thăng không?

Thăng bị bắt từ khi tôi còn ở ngoài, bởi Thăng nhỏ hơn tôi nhiều nên cũng ít quan tâm, nhưng Hương thì tôi biết, tôi có dạy Hương năm lớp chín. Hương bỏ học sớm để giúp gia đình. Sau khi Thăng bị bắt, tình cờ tôi gặp Hương trong một hoàn cảnh, mà nói ra chắc Thăng sẽ thất vọng và đau lòng lắm!

Tôi trả lời là không biết.

Thăng kể chuyên tình của mình thật lâm ly, thật đẹp! Hôm ra tòa, Hương khóc lóc và hứa ở vậy không lấy chồng nếu Thăng bị tử hình thật! Thăng luôn hy vọng là được ân xá, giảm án qua chung thân, rồi giảm qua 22 năm, nếu chấp hành tốt thì sẽ được giảm dần và cuối cùng thì chừng 12 năm là có thể trở về sống hạnh phúc cùng Hương! Có đều làm Thăng cứ ray rứt băn khoăn là không hiểu tại sao, từ sau ngày ra tòa, không thấy Hương thăm nuôi. Nhưng Thăng cũng tự an ủi là có lẽ trại không cho phép vì Hương không phải là vợ, chỉ cho gia đình thăm mà thôi.

Tôi an ủi Thăng là hắn đã nghỉ đúng, trong lòng mong sớm chấm dứt câu chuyện!

Phát hiện của trại giam nhanh hơn tôi tưởng. Ô cửa sáo lại mở ra, may là cuộc chuyện trò của tôi với Thăng vừa dứt, nếu không, không những chuyển phòng mà còn bị lãnh cùm vào chân!

– Chuẩn bị đồ đạc!

Tôi khỏi chuẩn bị vì chưa kịp soạn đồ dùng cá nhân ra.

oOo

Trước khi bị bắt, cũng như bao người trong địa phương tôi sinh sống, làm nông thì chỉ là công việc phụ bởi chẳng đủ sống, đi buôn mới là công việc đem lại cái ăn hằng ngày. Không kể đàn ông hay đàn bà, cứ còn sức khỏe thì đi buôn. Khi thì hàng nông sản, khi thì hàng điện máy linh tinh. Nông sản có gạo từ Tuy Hòa, Quảng Ngãi… Thuốc lá, đậu xanh, mì lát, từ Cam Ranh vào Sài Gòn. Điện máy là gọi cho to tác thế chứ thực ra chừng chục, mười lăm kg đinh, dăm cái bóng đèn tròn… mua được ở cửa hàng phân phối cũng mang vào Sài Gòn kiếm lời. Ga tàu là nơi hội tụ nhiều hạng người lăn lộn mưu sinh.

Hung thần của ga là Thuế vụ, Du kích. Mọi mặt hàng đều là hàng lậu.

Bởi ga là nơi dễ gặp, dễ quen nhau, nhất là người cùng địa phương. Tôi gặp Hương một vài lần. Hương thuộc hạng buôn lớn, hàng nhiều và là hàng có lãi cao. Hương thuê người áp tải hàng, lo chuyện vào ga, lên tàu thì thường ngồi trên toa Trưởng tàu và Kiểm soát viên. Dưới ga có thuế vụ che chở, lên tàu có Kiểm soát viên bao che.

Hôm ấy, tôi mang một ba lô 6kg và một túi xách 4kg thuốc lá ra Nha Trang. Mười kg thuốc lá là cả một gia tài, tất cả vốn liếng của tôi là đó!

Đang ngồi một góc trong sân ga, nơi có đám tranh lúp xúp, chờ tàu chợ từ Sài Gòn ra thì Thuế vụ cùng Du kích xuất hiện. Cả ga nhốn nháo, con buôn chạy mọi hướng. Tôi không kịp mang ba lô, chụp vội túi xách chạy theo những con buôn khác.

Tàu vào ga nhưng con buôn hầu hết kẹt không lên tàu được. Khi tàu đã qua, tôi dấu túi xách vào nơi khác rồi trở lại tìm ba lô, không còn ở đó nữa!

Tôi thất vọng vì hơn phân nữa vốn liếng nằm trong ba lô. Mua thêm hàng thì không có tiền, đi ra Nha Trang với 4kg thì lỗ chi phí! Tôi quết định vào xin lại ba lô hàng. Với giấy đi lại là giáo viên, tôi hy vọng các nhân viên thuế thông cảm. Giáo viên thời này, thỉnh thoảng, vào dịp nghỉ, cũng đi buôn gọi là “cải thiện”.

Chờ cho trạm thuế vắng người, thường thì khi tàu ra khỏi ga chừng hai tiếng thì sinh hoạt sân ga vắng lại.

Tôi vào trạm với tâm trạng hồi hộp lo âu. Nhìn đống hàng ngổn ngang, đảo mắt qua tìm cái ba lô có nằm ở đó không nhưng không thấy, có lẽ nó nằm dưới những bao hàng khác. Thấy cửa phòng khép hờ, tôi cố xua đi nỗi sợ hải thường trực, đẩy cánh cửa. Hai tấm thân trần truồng trên chiếc sạp gỗ sau bàn làm việc, họ bật dậy vội vã kéo tấm chăn che, tôi nhận ra Hương và một nhân viên thuế vụ.

Đóng nhanh cửa, tôi ra ngoài với nỗi thất vọng tột cùng, trong lòng cứ nghỉ giây phút chứng kiến vừa qua là một tai họa, bởi nhân viên thuế sẽ ác cảm không hy vọng gì cảm thông, cho tôi lại ba lô!

Nhưng Hương lại là cứu tinh, tôi đang ngồi bần thần lo lắng nơi một góc của quán nước gần trạm thuế thì Hương đến.

-Thầy bị mất hàng à?

Tôi không còn đi dạy, nhưng trong địa phương vẫn quen gọi bằng thầy.

-Ừ, tôi bị mất một ba lô thuốc lá.

-Thầy vào đây.

Tôi theo chân Hương vào trạm thuế

– Cái nào là của thầy?

Anh thuế vụ ngồi sau bàn làm việc nhìn tôi dò xét, ánh mắt lườm lườm ác cảm. Tôi tìm trong đống hàng, ba lô của tôi nằm dưới mấy bao hàng khác, có bao là gạo, có bao là đậu đen…Tôi xách lên đưa cho Hương.

-Thầy mang ra đi, cẩn thận nghe thầy! Thầy của em đó anh!

Tôi cảm ơn rồi đi nhanh ra khỏi trạm, như sợ chậm chân sẽ làm gã thuế vụ đổi ý, lòng băn khoăn sao mọi chuyện lại dễ dàng như thế!

Qua ngày hôm sau, trong lúc chờ tàu, gặp một đồng hương, anh này là tay buôn chuyên nghiệp, hôm qua biết tôi bị mất hàng:

-Xin được rồi à, nhờ Hương phải không?

-Vâng.

-Gặp Hương là hên rồi, “vợ bé” trưởng trạm đó.

oOo

Sau cuộc chuyện trò ngắn ngủi trong biệt giam, Hai tháng sau tôi được ra trại. tháng sau nữa thì nghe tin Thăng bị đưa đi xử bắn ở Cà Đú!

Tôi băn khoăn không biết trong thời gian ngắn ngủi đó, có ai biết sự thật phủ phàng về Hương, vô tình hay cố ý, tiết lộ với Thăng không?!

Mong rằng đừng có ai, cho hắn mang theo niềm hy vọng thủy chung của Hương về bên kia thế giới, như thế vẫn tốt hơn!

Sài Gòn, tháng 5, năm 2015.

Trạch An-Trần Hữu Hội

(*) Hạt ném: dạng củ, giống như củ hành, nhưng nhỏ hơn, chỉ bằng ngón tay, màu trắng đục. Củ chứa nhiều nước có vị hăng. Giải cảm, đau bụng rất tốt.

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều – Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 9 Nov 2025

Phần 10 – Bên bờ tử sinh

Từ Phan Thiết ra, qua khỏi ngã 3 Chợ Lầu – Sông Mao chừng khoảng một cây số, có một con sông nhỏ chảy qua một cái cầu trên quốc lộ 1. Con sông này là phần đuôi cuối cùng của con sông tên Sông Lũy trước khi đổ ra biển ở Phan Rí, nếu tôi không lầm.

Thằng em lớn tôi đã vô Phan Thiết bốc tôi bằng xe Honda để ra Bắc Bình Thuận, để vượt mật khu Lê Hồng Phong băng ra biển đón ghe. Chiếc xe Honda hàng ngày chạy ngon lành, nhưng đúng cái ngày mình cần làm một chuyến đi định mệnh thoát khỏi Việt Nam, nó cứ ì ạch theo đường, hết Long Thạnh tới Bàu Ôc, hết Bàu Ôc tới Lương Sơn, rồi cuối cùng nó mới lết qua khỏi Chợ Lầu và bỏ tôi xuống ngay cái cầu nhỏ trên QL1.

Tôi và thằng em 8 tuổi ngồi bên vệ cầu, chờ trời sập tối, thấy đêm bắt đầu xuống, không có ai trên đường, hai anh em tuột cái ào xuống bờ ruộng, vượt sông, băng rừng xuyên mật khu Lê Hồng Phong ra biển.

Theo kế hoạch, Lương không đi chung với tôi mà phải ẳm cu Nguyên đi với nhóm Sài Gòn theo một con đường khác, rồi gặp nhau trên một động cát. Lương bỏ lại sau lưng quê hương, thân nhân và trường Phan Bội Châu ngày ngày trên bục giảng. Hai mẹ con không gặp tôi trên động cát trên biển rộng, mà gặp nhau trong tù.

Mật khu Lê Hồng Phong là một giải rừng thưa dựa lưng tận tới biển với những con đường mòn cát trắng thơ mộng dưới bóng trăng. Tôi đi dưới bóng trăng, tay dắt đứa em, tay ôm cái hải bàn tổ bố trong bao lác, mõi tay thì vác trên vai. Con đường thanh vắng, nó như một giải nam châm cứ hút tôi về hướng Đông để tới điểm hẹn rồi cùng nhau ra biển. Tôi không để ý con trăng sáng vằng vặc trên đầu, cũng chẳng màng tới cọp beo, chẳng thấy con đường trăng cát trắng thơ mộng ra sao… Trong đầu chỉ có một con thuyền, một con thuyền trên sóng nước vượt trùng dương lìa xa mảnh đất thân yêu ngộp thở trong cùm gông cộng sản.

Tôi đi. Chân vẫn bước, và ý niệm thời gian biến mất. Trăng vẫn sáng, người vẫn mơ theo ánh trăng soi chân đi trên cát. Rồi chợt trong một sát-na, không gian cứng đọng, ta-bà thế giới gom lại trên đỉnh đầu, giá băng tụ lạnh, buốt dài xuống hai bàn chân:

– Đứng lại! Giơ tay lên!

Thế là hết. Tôi không thấy vầng trăng vỡ trên trời, dường như nó vỡ đột ngột. Tôi có cảm giác toàn thân biến mất trên cõi trần. Thiên đàng, địa ngục, khổ đau, bất hạnh tụ lại trong một hạt cát, rồi biến tan. Mắt tôi nhắm lại, hai tay giơ cao, hai cạnh sườn bị dí mấy lưỡi lê nhưng cảm giác không còn. Tôi trở thành cục đá. Tôi trở thành Từ Hải trên lưng ngựa, chết cứng khi bất ngờ nghe tiếng pháo phục kích của quân Hồ Tôn Hiến nổ vang. Tôi thua cuộc. Thế là cùng đường. Không còn gì để mơ. Cả một trung đội công an Bắc Bình đã được báo để vây bắt một mình tên đại úy ngụy mang vàng và tài liệu đi vượt biên. Sau này, khi thẩm cung ở Sông mao, tôi biết như thế.

Thời gian chết, không gian chết. Tôi coi như cũng đã chết tự thuở nào không hay, không biết. Tên VC kéo ngược hai cánh tay tôi quặt xuống ra phía sau và trói mấy bận giây. Đến khi cổ tay đau buốt, tôi tỉnh lại. Tôi tỉnh lại để thấy nỗi tuyệt vọng đau đớn dồn ứ trong tim. Tôi không còn muốn sống. Tôi nghiêng người muốn chạy cho họ bắn. Một băng AK là nỗi đau đớn trong tôi sẽ biến đi, và tôi không còn là tôi, không còn là cái chi trên cõi đời. Thằng em tôi chợt ôm cổ tay tôi. Nó vừa đi, vừa nắm cứng hai tay bị trói của tôi như thể nó hiểu những giây thần kinh chuyển động trong đầu tôi, như thể nó biết tôi muốn chạy để bị bắn. Nó khóc và nó kêu “anh Hai! Anh Hai!…”

Tôi nhìn đứa em bé nhỏ lếch thếch theo tôi với đội công an, súng đạn quanh mình. Thương em, hai dòng nước mắt tôi chợt lăn xuống. Cái mộng anh em qua Mỹ tìm tự do đã vỡ giữa rừng xanh oan nghiệt. Trăng vẫn trải một vệt sáng vô hồn trên lối về tuyệt vọng.

Trên đường áp tải ra hướng quốc lộ 1, khi hai cánh tay quặt ngược ra sau quá đau, tôi chùng tay xuống thì sợi giây tròng qua cổ xiết lại, tôi thở rất khó khăn. Tôi nói với tên VC nới giây một chút cho tôi đỡ đau tay và dễ thở, hắn làm thinh, hắn coi tôi như khúc gỗ biết đi, không thương không xót. Tôi liếc nhìn hắn, mũ tai bèo, giép râu, AK, lưỡi lê vẫn chưa xếp lại, và tôi thấy hắn cũng như khúc gỗ, không nhân không tính.

Tôi cắn răng chịu đau nâng cao hai tay để thở, khi tay đau, nín thở để buông thỏng hai tay xuống. Cứ lê lết như thế cho đến khi qua khỏi vùng đất cát, tôi biết là đã gần tới cánh đồng. Đất dưới chân đã đổi, cứng và lởm chởm. Chân tôi không còn cảm giác đau khi đạp những hòn sỏi.

Đám công an cho dừng chân nghỉ trên một chỗ đất khô bên cạnh một mô đất nhô lên cao mà tôi đoán là một cục gò mối. Lúc này, trăng đã ngả về Tây, ánh trăng vàng vọt, thê lương và mờ dần. Sương đẫm ướt vai lúc nào không hay. Tôi thấy hơi lạnh. Thịt đa bên ngoài cảm được khí trời nhưng trong đầu tôi là một khối mông mênh vô hồn. Một tên VC được lệnh canh tôi, đứng cách tôi chừng hai thước, súng vẫn chỉa vào tôi. Tôi và đứa em ngồi phệt xuống đất. Tôi thấy hắn không phản đối, nhưng hắn vẫn là một khúc gỗ ma quái trong cuộc đời tôi lúc đó.

Toán VC chùm nhum bên kia gò mối gần bờ ruộng. Trong cái thanh vắng lạnh người đó, tôi bỗng nghe tiếng được tiếng mất của họ bàn nhau về số phận của tôi. Tôi vẫn tưởng là họ nói chuyện giải tôi về lao xá Phan Thiết hay đưa tôi về trại giam Sông Mao, nhưng không, họ nói cái gì trước đó tôi không biết, nhưng tôi chợt lạnh người khi nghe một tên đề nghị…

– Bắn nó! Các đồng chí cứ báo cáo nó là sĩ quan ngụy bị bắt và chạy nên bị bắn. Cái bao nó mang theo cả trăm lượng vàng, chúng ta chỉ nộp lên huyện một nửa, còn bao nhiêu chúng ta chia nhau! Các đồng chí nghĩ sao?

Một tên lên tiếng:

– Tôi nhất trí!

Dường như lúc này toàn bộ giác quan trong con người tôi biến đi đâu mất, chỉ còn lại có thính giác, công lực dồn hết cho thính giác. Tôi nghe rất rõ, và biết rất rõ số phận mình. Tôi nghĩ đến vợ con, cha mẹ, tôi nghĩ đến mây viên đạn AK phóng vào người, và tôi sẽ ra đi thanh thản. Mọi toan tính, mọi cảm giác đông lại.

Toán VC đứng dậy. Họ không tới gặp tôi mà đi vòng qua phía bờ ruộng trước mặt tôi, đối diện cục gò mốì. Họ cho một tên đến gặp tên canh giữ tôi, nói nhỏ thì thầm cái gì đó tôi không nghe, nhưng khi tên kia bước xa ra, tên VC bỗng đến kéo đứa em tôi đi chỗ khác và bảo tôi:

– Anh đứng dậy! Đứng sát vào cột gò mối!

Tôi hiểu cái gì sắp xẩy ra. Tôi đứng dậy. Tôi định nói về cái bao lác không có vàng nhưng miệng tôi bất ngờ bị bịt khóa bằng một tấm vải dày siết cứng cột từ phía sau. Tự nhiên tôi buông trôi định mệnh. Tôi đứng yên. Tôi thanh thản nhìn vào rừng sâu để quên cái vô cùng tận của khoảnh khắc cuối đời.

Tên VC lùi ra xa. Trăng sắp lặn. Tôi không thấy hắn làm động tác gì, chỉ nghe tiếng lắc cắc lạnh lùng của cơ bẩm cây AK. Bỗng trong khoảnh khắc một phần nghìn giây, thần trí tôi tỉnh ra khi nghe tiếng em tôi khóc. Dường như nó nghe và biết tất cả những gì tôi đã nghe. Tôi bàng hoàng đoạn ruột khi nghĩ ra rằng, nếu nó bắn mình thì nó phải diệt khẩu em mình để che dấu cái vụ sát nhân chia vàng. Tôi lại đứt ruột. Chả lẽ hai anh em cùng chết chung một lúc? Nhưng cũng ngay lúc đó, tôi nghe đâu đó tiếng ra lệnh:

– Khoan! Các đồng chí phải chắc trong cái bao đó có vàng hay thứ gì khác? Và vàng thì bao nhiêu thẻ cái đã!

Sau câu nói này của một tên VC dường như là cấp chỉ huy, không biết hắn chỗ nào hiện ra đúng cái lúc mà tôi chuẩn bị chấp nhận cái chết. Và tôi thấy càn khôn dường như đảo ngược, tử sinh chập chờn đánh cuộc trên đầu tôi. Tôi biết ngay tôi có cơ hội sống. Tôi nghe chúng chửi thề:

– Địt mẹ! Chỉ có 2 lượng vàng và cái hải bàn mắc dịch!

Tôi đoán biết là tôi sống. Cái hải bàn hải quân nặng mấy ký lô là của bạn tôi, kỷ sư Dương Đình Học, chồng Khánh Linh, rể Thầy Giảng ở Phan Thiết, mang ra từ Sài Gòn. Anh đi toán khác cùng vợ con tôi. Hai lượng vàng là của má tôi nhét theo cho tôi, không phải để cho tôi ra nước ngoài sống, mà để tôi phòng thân khi chuyến đi bị lộ phải thoát vô Sài Gòn hay ra Nha Trang có tiền mà sống chui sống nhủi…

 Ở tù cải tạo về vượt biên bị bắt lại là chết. Đó là lý do tại sao tôi phải đi bằng một lộ trình riêng một mình. Song chuyến đi của tôi bị nội tuyến. Tôi đã qua bờ tử, với tới bờ sinh bằng cái lệnh “khoan” định mệnh. Hắn mà không ra lệnh, hay ra lệnh trễ, những dòng chữ hôm nay không có trên trang giấy. Định số chưa tận, hay phúc đức ông bà? Tôi không biết, nhưng “cái phút lạnh người đêm trăng ấy, nghìn năm hồ dễ đố mà quên!”

Khi VC áp tải tôi lên quốc lộ 1, tôi ngạc nhiên thấy bạn bè và vợ con chùm nhum ngồi đó tự lúc nào. Một toán du kích ngồi hút thuốc, vây quanh đám tù vượt biên bị gom chung một chỗ trên cây cầu. Lương thấy tôi bị trói, ôm mặt ngồi khóc dưới bóng trăng sắp tàn. Cu Nguyên không khóc, vẫn còn thức nhìn trăng. Phản xạ tự nhiên, tôi dợm chạy lại ôm con, sợi giây cột tay tôi giật mạnh làm tôi muốn bật ngữa: “Đứng im! Nát sọ bây giờ!”

Nằm trong trại giam Sông Mao, đêm nghe tiếng con khóc, tôi biết là mình còn sống. Niềm vui, mạch sống bắt đầu mọc rễ đâm chồi trở lại từ tiếng khóc của cu Nguyên mỗi đêm, từ đáy tuyệt vọng cùng đường của bố nó, và may mắn thay, đáy tuyệt vọng dường như không có kẽ nứt nào để tôi chui sâu thêm xuống địa ngục.

Tôi thầm tạ ơn Trời Phật đã cho tôi còn sống để tôi còn cơ duyên tìm đường ra biển trở lại! Mệnh số man man, không biết đâu mà tìm ra câu trả lời! Cuối cùng, tôi đã thắng cái số kiếp đen thui của mình.

Xén nửa vầng trăng đêm Sàigòn
Bên đèn rực rỡ dấu chân son
Triệu người nheo nhóc không màn chiếu
Soi Bắc vô Nam, nước không hồn.

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 8 Nov 2025

2. Phần 2

Trước Khi Trở Nên “Thành Phố Hồ Chí Minh”, Sài Gòn Cũ Đã Đổi Thay Như Thế Nào, Từ 1919 Đến 1990 (viết từ 18-6-90)

Ngót bảy chục năm dài, từ 1919 cho đến năm 1990, gần dứt thế kỷ XX nầy, tuy có đổi tên và đổi người cầm đầu, nhưng Sài Gòn vẫn là Sài Gòn, nay như xưa, không khác, cũng bao nhiêu rác rến, hết đổ thùng đến cầu tiêu máy, nhưng vấn đề nước uống vẫn luộm thuộm như cũ, mùa nắng dân thợ ở xa, vẫn tự kiếm lấy, mà uống ăn, nước trong ống thiếc hay keo su, rỉ ra, vẫn sét đóng đỏ sậm vào chậu sành rửa tay, thử hỏi nước ấy cho vào bụng ra thế nào, và tự gẫm dân ta sanh nhiều và sống mãi mãi, không phải nhờ giữ vệ sanh và phải có trên cao kia phù hộ. Không nói đâu xa, đời vua Tự Đức đã dứt từ năm 1883- dân ở đây nào thấy long nhan ra sao, nhưng cho đến năm 1919, vẫn ky húy, nhớ câu hát:
“Chiều chiều bắt két nhổ lông, két kêu bớ Tự, sao lòng bất nhơn?” cho đến tuổi gần xuống lỗ nầy, mới biết Tự đấy ám chỉ vụ “em giết anh khác mẹ, để giành ngôi” – và đèn điện cháy nơi hãng Nhà Rồng của hãng tàu đi tây, vẫn không sáng hơn đèn thắp đầu phộng của dân trong phố. Có tục lệ ban đêm ra đường phải xách đèn lồng đem theo, tay không đèn là kẻ gian, nhà đèn đỏ đèn lộng kiếng xanh xanh là nhà số, thanh lâu, lầu hồng. Miệng hát kéc kêu mà vẫn nhớ vua, tôi có người bác tên Tự, nhưng Ba tôi dạy gọi bác Tư Chữ, và khi

Tây chinh phục bán đất, dân Nam không tranh mua, để cho bọn sớm ngã theo kẻ thù, mua rẻ rề, và sớm làm giàu: “Người Nam mà ở đất Chà (chetty), ở phố của Chệc (phố chú Hỏa), hoặc là của Tây (hãng địa ốc Crédit Foncier).

Trải bao hưng phế, Tây thua bỏ chạy, Nhựt chiếm rồi Nhựt đầu hàng, Mỹ qua rải rắc đô la mua rẻ chữ Trinh, hết Hữu qua Diệm, Thiệu, Kỳ đóng tuồng dở ẹt, dân Nam đổi tên là Việt, nhưng sợ cọp, sợ luôn cứt cọp, thằng Tây đen Bòn bon, (sanh ở cù lao Réunion, Bourbon) tay cầm roi mây (ma trắc chưa có), du côn dọn bàn sợ lấm lét, có câu: “Kiếp sau nếu có làm người, làm ông Tây trắng, hay thằng Chà đen”, “ông Tây ổng nắm cái quyền, Thằng Chà nó có đồng tiền cho vay”. Trong khi ấy, người Việt hiếp người Việt, tuy khiếp sợ da trắng da màu, nhưng cho đến bao giờ, thia thia sặt rằn vẫn quen chậu lên nước đá nhau trầy vi tróc vảy, điền chủ hiếp và cướp vợ người mướn đất, ngày nay đổi vai, con cháu của bần cố nông lấy ruộng và làm chủ cháu con của tư bản, bù trừ. Thành phố Sài Gòn mở mang, như chớp nhoáng; mau đến viết lại không kịp. Tiến hóa cũng không theo kịp số dân sinh sản. Và đường mới được xẻ thêm, duy dơ vẫn còn dơ.
Ngày xưa, cái gì cũng của vua, “Chợ búa là chợ vua”, sứ quan chế, gốm quan dụng, đường quan lộ, nhưng phần đông khiêm tốn tiện tặn theo túi tiền, khi quan Phan đi sứ về, tâu lên: “Pháp có thạch lộ, thiếc kiều”, các quan Huế bỉu môi: “Hứ! đi xa về nói khoát! Ta giàu thế này mà chưa đủ đá để mài dao, không có sắt để chế gươm” và Nguyễn Trường Tộ kêu gào cách mấy, vua cũng chẳng nghe, vì Tộ là người của Ki tô giáo! “Xóm có Tây ở, thì có mấy con đường thênh thang, nhờ lắp mấy đường nước dơ (đại lộ Sạt ne, đại lộ Bo na, đại lộ chợ Bến Thành, v.v.), một đường duy nhứt đắp đất từ Sài Gòn chạy ra Huế, danh gọi “Đường Cái Quan”, bao nhiêu đường xóm Tân Định đều uốn khúc quanh quẹo và hẹp té, vì lấy theo ranh vườn đất của tư gia và không ai chịu nhường cho ai (đường xóm chùa dọn bàn, đường xóm hậu bôi đường Trần Quang Khải, xóm Hê rô (Héraud) đã từng giết Tây lúc binh Nhựt chiếm đóng và Nhựt hiếp Tây ra mặt, những năm lối đảo chánh 1945/46, mấy ả đầm nhí nhảnh, mặc quần cụt hở hang, ưỡn ẹo khoe mông đường Ca Ti Na, đi ngang nhà hàng Công Ti Năng Tan, mé nhà sách Bọt tai, quan võ Nhựt, thấy chướng mắt, lấy tay lật tuốt bùn rền và tuột luôn quần cụt, bày mặt bợm tô hô, đầm hay mạng phụ quan to, chỉ còn nước chạy vô nhà quán, hoặc ngồi bẹp xuống đất mà lấy nước mắt che xấu. Còn lại câu: “Rượu say sưa, say rồi lại mửa, ụa mửa rồi, say nữa mửa nữa”. Không chịu thua, say đối: “Bụng chửa mang, chửa rồi đẻ, đẻ chửa rồi, chửa nữa, đẻ nữa!”
Dân số khi Tây đến, thưa thớt đếm trên đầu ngón tay được, lần hồi, ở quê dồn về chợ, dân bỏ ruộng day qua nghề làm thợ, đèn tối om, đàn ông thì thất nghiệp, bày ra rượu chè say sưa, đêm càng tối, con nít cứ sanh thêm, và chợ, nhà, phố xá, đường lộ cứ xả thêm rác, đêm đêm lén bỏ rác nhà xóm, duy nhà mình giữ cho được sạch là xong, có chuột chết, quăng liệng xác ra đường, vệ sinh đâu và lời dạy của xã hội chủ nghĩa nhắc như kéc mà không thực hành.
Cây sao trồng thời Tây, hai bên lề đường, cây vừa phát cho tàn, đường rợp mát thì Mỹ đem xe lớn qua, đường chật hẹp, đồn cây làm xa lộ, phố trệt chồng lầu, đào đường hắc phanh đặt ổng nước, lâp không kỳ cang, nay lòi ổ gà, tổ hay ổ, phân vân giữa tiếng Bắc và tiếng Nam, chưa thống nhứt.
Phố chú Hỏa, mấy năm kinh tế khủng hoảng, phố bỏ trống, phu xe kéo phá cửa xúm nhau vô ở, công ty chú Hỏa không bao giờ đuổi, rằng: “Phố có người ở, ít có mối mọt” và người ở tỉnh muốn mướn, Chú Hỏa dạy hãy điều đình với người ở cũ, hãy chịu tiền nước cho họ dọn đi, chớ công ty tôi không có lệ trục xuất ai bao giờ”. Nhà chú Hỏa là một kho tàng liễn Hán đều là chữ mấy ông Trạng nguyên danh tiếng, Phùng Tuất Tài, vân vân, liễn bị tháo xuống làm liếp trồng rau trồng hành, miếu Minh Hương Gia Thạnh, lấy làm xưởng, chùa Thất Phủ, vì có thờ Quan Đế, để cho thấy không tin dị đoan, hạ bệ tượng, lấy chùa làm ga ra chứa xe, giận chúng tôi chưa đủ, ghét luôn ông thần, duy trải mấy dời từ Tây đến nay, đứng sựng sựng áng che tòa bố gàn trở đường thông thương, nhưng miếu Lê Tả quân ở Bà Chiểu, vẫn trêu gan cùng tuế nguyệt, nay thêm được trùng tu, vảy may là được quốc tế nhìn nhận, đó là cổ tích như duy nhứt của Miền Nam, đáng được bảo tổn.
Ngày nay nhìn trong sách, thấy nhà cao ốc lềnh khênh, nhưng chỉ ở xóm buôn bán, năm 1923, chúng tôi từ trường được dẫn đi đạo mát, khu đường Nguyễn Đình Chiểu chạy lên khu vườn xoài, vẫn còn đất trống, giáp với Đồng Tập Trận, bắt từ nhà thương Bình dân lên trường đua Phú Thọ, đều là đất bỏ hoang, chính ngay gần nhà xẹt Tây, trên đường Hồng Thập Tự, xóm Tao Đàn, năm 1923 ấy, vẫn còn thấy bên lề là một xi tẹt chứa nước để chuyển xuống xe nước do hai bò kéo, và rải nước tưới đường lát đá ong, mùa nắng, bụi cát bay mịt mù mà đèn dọc theo đường, đèn hiệu mà không đủ sáng, duy khu Ca ti na, và nơi vườn cổ thụ sao gần trường Ta be, vẫn còn đến lớn thắp bằng than cạc bon, chốc chốc, cục than rớt xuống, và có một lúc, không nhớ vào năm nào than đá Hòn ngoài Bắc chở vô không kịp, Nhà Đèn Chợ Quán, dùng lúa đốt thay, vừa ngợi, rẻ tiền, và Miền Nam dổi dào lúa dư nên phí phạm, nay ông trên cao hành, cơm tế không đủ ăn, cũng đáng!
Các đại lộ thành phố, nhờ thời Mỹ cho đặt ngẩm dưới lộ, kinh tâm hai mét, nên ống kiên cố dẫn nước thông, lộ được khang trang, thương hại các hẻm nhỏ, đừng nói chi hẻm, khu ga xe lửa cũ, ngay gần chợ Bến Thành, khu trường vẽ Gia Định, khi mưa to, nước chảy không kịp, ngập đến đầu gối, xe cộ đều nằm ỳ chờ nước rút, trẻ con dầm mưa tắm, đùa giỡn không sợ xe cán, còn đâu là trật tự, xóm tôi có một gái, cỡi xe đạp, trời mưa dông to, bị xe hơi cán nơi đường trước ga xe lửa ấy xe bỏ chạy luôn, cô gái không ai tiếp cứu, nằm đó rồi tắt hơi, tội nghiệp thay cho cô Tám, sanh bất phùng thời, có học vấn, nhưng thuộc dòng tư bản, xã hội nầy, bỏ rơi không che chở.
Thời Pháp, đường ít có lề, qua thời Mỹ, mới thấy đúc lề đường bằng xi măng vững chắc. Chính mắt tôi thấy lối 1930, ở Gia Định, một người ăn xin cắng cao cắng thấp, ban ngày anh chống gậy đi hành khất, thỉnh thoảng tôi gặp lại anh, vào buổi chiều, anh bỏ gậy và đi dọc theo lề trước nhà bà Phước Mỹ, một chơn bước trên lề đá, một chơn đi trên lộ đường, anh đi ngay thẳng như người lành mạnh, khi anh chết, nghe đâu để lại bạc ngàn, nhưng 1930, thành phố đã bắt đầu có dân đông, có ai để ý và theo dõi như tôi mà biết anh là ăn mày đa mưu xảo trá.

Vấn đề nước tốt cho dân dùng, vẫn choán những hội đồng đô thành nhóm để bàn cải không thôi, giếng chứa nước ngọt trước dinh Độc lập nay vẫn còn, sau nầy nhờ đem nước Đồng nai về mới yên, thuở tôi lên đây lối 1920, nơi hoa viên Tháp Rùa, vẫn có một tháp cao xây gạch để đưa nước phong tên vào các nhà Tây, nay còn vết tích những ống dẫn nước to của công ty đèn nước, và thời Tây trở lại, quãng 1950, hội Cổ học ấn Hoa nhóm, tôi được dự, mấy ông Tây mới chê mấy ông Tây cũ, đã ngu dốt, tại sao lúc qua đây, không định đô ở Vũng Tàu, sẳn sơn sản hải, cảnh xinh gió mát có một bác sĩ viện Pasteur, chẵm rãi tỉnh bơ giải nghĩa:
“Chúng bây còn niên thiếu, thiếu kinh nghiệm, nếu lập thủ đô ở Ô Cấp, nước ngọt đâu có để cung cấp cho dân, thêm nếu có chiến tranh, tàu chiến ngoài khơi bắn vào, chết cha mổ tổ, trái lại, đặt khu cai trị ở Sài Gòn, dưới đất có nước ngắm rất sạch, thêm vùng Gò Vấp là vùng giếng tốt, lại nữa, vào cuối thế kỷ XIX, đường sông từ biển vào Sài Gòn quanh co đủ có thì giờ phòng bị, và thời ấy chưa có máy bay cao xạ, chúng bây ngu lại trách chúng tao!”
Ngày nay, xe tốt, đường tốt, xã hơi chạy ra tắm biển, Ô Cấp, Nha trang, lên Đà lạt, chớ khi Tây qua đây, chúng làm đường giáp vòng khu rộng Gia Định, giáp Tân Thuận, gọi là đường vòng đai, chiều chiều xe nhà, xe song mã đưa bà đám, Tây u dạo mát, rồi lần lần lên Thủ Đức ăn nem, tắm mát suối Xuân trường, những nơi ấy nay đã lối thời, duy một tệ đoan tổn tại mãi, có lẽ máu mê cờ bạc đã nhiễm vào cốt tủy, từ xưa
Tây qua đây đầu độc bán a phiện và rượu của công ty Tây chế bằng gạo lức, uống cháy họng, thêm bày ra sòng me cho chệc Tàu khai thác, đề 36 con công khai, me từ Chợ Lớn ra tới khỏi chợ Bến Thành, xuống đến những năm đảo chánh, sân Tao Đàn có Hồng ốc, Cầu ông Lãnh có Đại Thế Giới, me hốt đống thả cửa, ba ngày Tết cho bạc bài tại đường giữa ca ti na, và đồng bào ta ưng bụng để vợ con thiếu thốn, có bao nhiều tiền mót máy đều cho vào sòng bài, thua-hạch túi nhưng vẫn cười tít toét, chờ bán heo cúi xong sẽ gầy sòng gỡ gạt, “bán thiệt giá hai bàn tay bạc, dầu cho rẻ mạt tám ngón mới vừa” (tuồng Thằng Lãnh), đốc phủ Trần Bá Thọ, Huyện Kim, Phù Mẫn, cò mi Lân Bảy Viễn, vua kia cũng sống bằng thuế nhà xẹt Bình Xuyên, hết me đến quây số, chửi Tây vơ vét máu mủ, đua ngựa, nhưng xổ số liên tục, mỗi ngày mỗi tỉnh là giống gì. Ở ruộng, trước đây ngày giỗ của cha ông ông chủ điền, vui và bạc bài như chợ phiên, ở chợ hiện nay, cá ngựa, đá gà, xổ số là mấy thứ, trúng được bao nhiêu người, trúng một lần bị rút rỉa thua lại bao nhiêu lần, tiền cờ bạc, thẳng thì ăn xài huy hoát, quên buổi thất bại, áo quần vợ con, gạo trong lu hũ đều ráo nạo chun chui vào sòng!
Lỗi tại mình hư nết, chớ trách kẻ bề trên. Xưa đường xá hẹp uốn khúc quanh co, không đèn rọi sáng mà đặng thái bình, nay đèn sáng choang, nhà cao ốc, lộ khang trang, nhưng cướp xe, chống lại thì đâm lòi phèo đổ ruột, xưa dân thưa thớt mà đủ ăn, nay thành đông nghẹt dân thất nghiệp ngủ đường, máy móc thay nhơn công, tiến bộ văn minh giá quá đắt. Văn minh ư? Xưa ăn chắc mặc dày, nay quần áo mỏng kiểu khiêu gợi, “áo vá vai vợ ai không biết? Áo vá quàn chí quyết vợ tôi”. Câu ấy quá xưa, trẻ nay nào biết tiết kiệm như ông bà thời đường cựu. Văn minh là nhà hàng sang, bán xa xí phẩm: vải lụa nhà Marty,
Laurent Gay góc đường nay là Lý Tự Trọng/Nguyễn thị Minh Khai, ban đầu bán đồ bắc kế ngựa (yên da, hàm thiếc), xe giá ty trái bí, sau bán ô tô hiệu FIAT, nhưng xe bền có hãng SIT bán xe hăng Renauld và hãng Charner, bán xe hiệu huê kỳ, uống xăng như trâu bò uống nước. Nhắc lại sòng me còn để lại dấu tích mấy á muối, có một xẩm con của Đại Thế Giới, tay đeo ba nhẫn xoàn, vì cặp bồ với ba công tử Tàu tỷ phú Chợ Lớn, xưng danh là Tân Vũ Hậu, tay vùa chén me, miệng hô líu lo: tại sao bốn cửa me, không nói tứ môn, lại nói “Xí mứng”, mặt 2 gọi lượng mặt 3 gọi tam là phải, nhưng vì sao, mặt 1 lại gọi “vêu” và mặt 4 lại gọi “túc”, đánh cầu âu là đánh ngay một cửa duy nhứt, còn đánh “hồ giấy mộng mị” là gì, đố biết.
Các thím là các vợ Tàu, các cô, lấy Tây, khi Tây đi qua, lính ta leo lên ngọn cây, tuột xuống, la hoảng:
“chúng nó bỏ con chim của chúng ra ngoài quần, khua nghe lẻng kẻng, dài chí gối, nhưng con chim ấy, khi làm quen và dụ được thuần thục rồi, thì nào ghê sợ, lại chê của nhà, mềm như chuối nấu, ban đầu lấy giấy bao nhang làm son thoa môi giồi mặt, sau học được phấn Coty, nước hoa từ xứ Pháp đem qua, vua Minh Mạng, ghét Tây nhưng thích nước eau de Cologne, vua hút thứ a phiện, lại sinh thơ, làm bát cú có câu “Quên coi túi Nguyễn hết hay còn” nay ứng nghiệm, sạch sành sanh, đến nữ trang khéo trong lăng bà Từ Dũ cũng nấu chảy thành vàng cục, gọi là “hóa nghiệm” không biết chưng bày triển lãm, hóa ra giết mất “con gà đẻ trứng bằng vàng”. Và gái ở đây ngày nay, tiến bộ quá mức, học đòi đào chớp bóng Mỹ, đeo lông mi giả, nheo nheo đô la, khiến nên bại trận, khổ lụy, khổ lụy trần ai, sao bì ngoài kia, bà bán bún bung đường Thủ khoa Huân, to như bà thờ mày trắng trong truyện Kiều, to như thế ấy mới vác nổi từ khúc rời, cây súng đống thắng trận Điện Biên Phủ.
Lần hồi gái bỏ dầu dừa, và xức tóc nước hoa đắt tiền, các phấn son, giày dép ở Paris có thì ở Sài Gòn cũng có, guốc ngủ bằng ngà, bắt chước đàn bà Bà Ba Ma lai, thay bằng guốc Phi Mã, không xách giỏ đi chợ lại xách bóp đầm, một bà lớn nọ hai tay xách hai túi, và mới đây, ở lăng Ông Bà Chiểu, Tết Canh ngọ có xây chầu hát bội, một ký giả kỳ cựu, nhiều người biết tiếng, miệng ngậm điếu thuốc Gò ướt, thuở nay lam lụ xập xệ, tay không quên cái bị như các cán bộ từng đi kháng chiến, nhưng y ta chỉ kháng chiến vùng khu đất Đakao, mồng bảy giêng vừa rồi, lại chễm chệ áo dài bông bạc chữ Thọ và đầu bịt khăn Suối Đờn, đeo nhỡn kính cận thị không giấu được tuổi trên sáu mươi. Tưởng nên giữ y phục như cũ là đáng khen hơn.
– Người đất Sài Gòn.
– Về phách lối là số dách. Tây qua, nhỏ thì xách rổ khiêng vác cho các mụ đầm đi chợ, gọi là “ban bù” (bambou), vẫn đá cá lăn dưa, đổ hột bầu cua cá cọp, lớn tuổi hơn, đi ở dọn bàn, nấu ăn cho Tây, áo thun sát da hay bành tô sáu nút, dây nịt nỉ cao một gang tay, trẻ nít được học chữ Tây trường Pháp, biết vừa hai tiếng “ủy nông” (oui, non, có hay không), đủ làm mấy ông thầy, cắt bỏ búi tóc, duy vẫn giữ áo dài khăn đóng, một thế hệ tiếp, tóc hớt ngắn hoặc chải lưỡi mèo, chải ma ninh, sau đó hớt tóc trụi và quên luôn tiếng Việt, khuyên bà mẹ vợ nên dùng xe kéo tay để về nhà, lại gọn lỏn: “Má lấy xe kéo về cho gọn”, bà ta không vừa, chửi đổng: “Cái đ. mẹ họ mầy! Tao có con, gả cho mầy, mầy trả ơn, biểu tao lấy thẳng kéo xe xe kéo!”
Trào Tây là như vậy, qua trào Nhựt, thì “dô tô nai, ai cà, ai kia” kịp trào Mỹ thì ô kê, bãi! bãi! Đến trào nầy, tôi nào dám nói, gương cũ để lại, Diệp văn Cương, ở Hanh Thông Tây, ở chăn bò được chủ mướn đi học thay cho con, qua Alger học thành tài trở về, ra Huế thế cho Trương Vĩnh Ký, làm thầy dạy tiếng Tây cho vua Đồng Khánh, một ông nữa, Phạm văn Tươi, gốc ở Vĩnh Long, làm thơ ký ra Hà nội làm bí thư cho toàn quyền Doumer, theo ông nầy vào Huế, vua Đồng Khánh lần đầu tiên, ra sắc chỉ cho các quan đồng tịch, để dự yến tiệc, thời theo kiểu lang sa, Toàn quyền yêu cầu triều đình Huế mời dự tiệc người bí thư, các quan Huế khiếu nại, phải hàng tổng đốc sắp lên, mới xứng ngồi cùng đức vua, toàn quyền cười và dạy: “Làm sắc chỉ cử ông Tươi làm tổng đốc đi, có khó chi việc ấy, vì chính tôi ký tên phong chức! Trần Bá Lộc sát hại đồng bào, giết người chống Pháp không biết cơ mang nào kể, Lộc cũng được chức tổng đốc và huân chương mề đay điều cao tột bực, nhưng khi toàn quyền nầy lui về Pháp rồi, triều đình Huế trả hận, viện cớ người trong Lục tỉnh Nam kỳ, không được thu nhận chức của triều đình Huế, hai ông Tổng đốc trong Nam đành ưng chức “hàm”, nhớ lại có tuồng cải lương “quan Huyện hàm hàm” của Lê văn Nở soạn, ông Tươi hiền lành, khi từ trần không mang tiếng xấu, khác với Lộc, giúp Tây và bán nước, nay chỉ còn danh nhơ, nước sông Cái Bè (Mỹ Tho) gội làm sao sạch?
Viết đến đây, nhớ tật ưa nói chuyện tầm xàm, xin xin mở một dấu ngoặc, ghi lại đây một giai thoại không dính dấp chút nào đến chuyện Sài Gòn, nhưng vẫn cho thấy khi gần bị xử bắn, còn tranh cho đứng. Nguyên khi chúa Kito bị xử treo trên cây thập tự, chúa bị treo giữa hai kẻ trộm, và tên treo bên tả là đứa bán chủ hay sau nầy là chúa để lấy ba mươi tiền hỏen. Trong chuyện nói đây là chuyện đồng thời vi với lúc nước ta bị vua Napoléon III của Pháp sai lính Tây đánh chiếm nước ta. Và chính ngày 19 tháng 6 năm 1867, trùng với năm đinh mão bên ta quan Phan tuẩn tiết, thì bên xứ Mễ tây cơ, vua thuộc dòng hoàng tộc Pháp, Bourbon của Âu châu, vì thất trận, bị phe nghịch xử bắn, cùng một lúc với hai cận thần đều là đại tướng, một ông tên Miramon, và một ông nữa, người lai hai dòng máu tên Thomas Mejia, vua tên Maximilien, đứng trước ba cây trụ để xử bắn, vua nói:

“Ta rất ưng chết giữa một ngày quang đảng như vầy, và muốn được đứng giữa hai trung thần, hết lòng vì ta và vì nước, vậy Miramon hãy lại đứng bên hữu của ta”, vua nói chưa dứt lời, tướng lai Thomas Mejia chận lại xin thưa: “Tâu Bệ hạ, kẻ hạ thần nầy xin chết với vua không tiếc mạng, nhưng nhớ lại ngày trước Chúa tử tiết, đứng bên tả là kẻ trộm nhơ danh nhứt, và ngày nay kẻ hạ thần không muốn mang tiếng như tên đạo tặc bên tả như vẩy”, vua vừa nghe tâu, vội cười mà phán rằng “Đến giờ phút nầy, khanh còn nhớ điển và câu nệ tả hữu, như vậy cũng được, vậy thì khanh hãy bước qua đứng bên hữu của tướng Miramon, trắm đây đầu dộc tội nhiều, trấm ưng làm tên đứng bên tả…” và cá ba đều bị xử bắn, tướng Miramon ênh ngực cho cho đạn soi tim, tướng lai Mejia, tay lần chuỗi, còn vua khoanh tay trước ngực, hãnh diện hô to: “Ta tha thứ cho tất cả, và ước chi giọt máu của ta sẽ làm êm dịu cuộc tương tàn của xứ Mễ Tây Cơ này”. Sử chép bà hậu vợ của Maximilien để, khi nghe tin dữ, bỗng loạn trí luôn và sau sáu bảy năm mới từ trần. Khép đấu ngoặc có xảy ra việc đi chuộc đất bất thành và chớ chi vào năm 1870, Tây thua, triểu đình Huế biết thừa cơ kháng chiến kéo dài, thì ắt ta khỏi làm tôi Pháp và bị Pháp đô hộ, nhưng như đã biết, sử và sự thật đã hiển nhiên, hơi đâu bàn suông lếu

(19-6-1990).

Trở lại người dân đất Sài Gòn, như tôi đã nói, dám chắc không dân nào trí lanh tay xảo hơn. Khi nay bỏ áo giáp, tuột giày trận chịu đi đày, bán từ bàn thờ tổ tiên, bán ván gò để nằm dưới gạch, căn đày kiếp đọa, tiếc đã muộn trước kia, đã lai nhiều đời, lưỡi uốn éo ngọt xớt, nhái đủ giọng, giọng Bắc, đầy đủ, làm tốt, giọng Huế, mi mày tê mô, học với Tây nhái giọng rặt như dân kinh đô Paris, không phải sanh tại gốc mẹ, ở từ đất phèn tứ chiếng, lại khoe cha Bồn kèn, mẹ đứng đường Lăng Xi Bề, và lạ một điều, kép Bắc muốn ca vọng cổ phải bó nói “vào, vô” và bắt chước Ba Văn, cũng dào, dô, mới học được ca sáu câu mùi, lượm tiền xơi phở.

Không ra Huế nhưng làm công tử Bột vẫn trọ trẹ, không từng biết Hà Nội, nhưng rao kẹo kéo có dây có nhợ và tập húc thuốc Lào, khi say thuốc, bán ba tê trên tàu hóa, bị trẻ ăn cắp bánh mà không hay biết. Kép Tư Út, khi ngâm bài anh khóa, đừng nhìn mặt, đố ai biết Út sanh tại Giếng Nước xứ Sốc Trăng, cũng gốc phèn như kẻ nầy. Nhà ở mọc như nấm đầu mùa mưa, khi lẹt đẹt ván thùng, nóc lá chăm lá khiểu, khi thì cao ốc nhiều từng, động động là cho bà hỏa phi tang, nhà cổ năm căn, cột chạm rồng của Tổng đốc Phương, chưa đầy trăm năm, nam ngoái đã bán và chở qua Đài Loan, khu Xóm Chiếu, khu Bảy Hiền, có “nhà đá” không phải nhà bằng đá khối, và đích thị nhà ọp ẹp, đá cho một đá, nhà đi đời như đồ mẻ.
Đèn đuốc, từ dầu phộng, dầu cá, qua dầu hỏa của Hoa kỳ, chúng nó bày ra dầu nhạy lửa này, trong Nam dầu lửa, ngoài kia dầu hỏa, kẻ chữ người nôm vẫn cùng một chúng tộc, Hoa kỳ bày bán cho luôn cây đèn có ống khói, vừa quen quen, chế ra đèn thắp khí đá, đèn thấp ét xăng có măng song chói sáng, rồi bắt qua đèn điện, tiếp chuyển đèn néon, hộp quẹt đá lửa qua hòm diêm, quẹt xăng, rồi quẹt dùng hết khí thì quãng, thuốc ngon nửa điếu ai thèm, điếu bọc đầu hiệu 555, khi mua đổi tiền đã qua, một điếu mua bạc triệu, dân Sài Gòn dám chơi mà lị. Xưa giận nhau, chém dao để thẹo, sau đó đâm hay bắn nay bắt cóc khảo từ tiền kẽm qua tiền điếu, bạc tròn ra bạc giấy, sắm rương xe giường hòm, trộm hai đứa khiêng nguyên nắp thò tay lấy của sắm tủ sắt, cướp phá tủ không xuể, bắt chủ nhà mua đinh cây, tự mở tủ sắt lấy, không ưng mua, kẻ cướp đóng cây đinh dài một gang tay vào lỗ nhĩ, tài chủ có chịu đau thấu chăng?
Dân Sài Gòn tự khoe tiến bộ ký quỹ, gởi tiền nhà băng.
Giái phóng vào, hốt sạch sành sanh, thua xa dân đàn Thổ Trà Vình, Sốc Trăng không xài bạc giấy, lấy bạc đồng nguyên chất, bán lúa mùa nầy xong, chôn bạc giữa lẫm rồi đổ lúa mới lên trên, ăn cướp đến viếng, cứ chỉ lẫm, moi sạch lúa mà lấy bạc! Biết phải mấy ngày trời mới moi xong vài ngàn gia lúa, số bạc cần dùng, chủ Thổ gởi vào chùa Phật, cướp Miên không động đến Cng lục bao giờ, còn mấy đồng bạc con đầm lé, bán cho bọn chơi đồ cổ, tôi hiện không theo dối và không biết giá, muốn biết xin ra đường Đồng Khởi, hỏi chệc Tàu chuyên bán tiền xưa.
Người cố cựu Sải Gòn, tôi được thấy và biết, ở Chợ Cả, có hiệu “Kim Ngọc” của ông thợ bạc cha của hội đồng Trần Văn Khá, qua Mỹ từ lâu, ở Dakao, đường Đình Tiên Hoàng, có năm căn nhà trệt trước nhà có hai cây nhân, gánh mì rất ngon (mì cây nhãn), trong Chợ Lớn nay vẫn còn trên đường Nguyễn Trới, nhà Hộ Xưởng, nhà nửa sạc thời Tây đường Nguyễn Đinh Chiều có nhà Sáu Ngọ, tên Pháp Là Paul Daron, chuyên chứa bài chứa me, đường Cách Mạng Tháng Tám, có nhà Sáu Nhiều, cũng chuyên nghề đổ bác, đường Trần Hưng Đạo, có nhà bà Hà Minh Phải, chứa nhiều cổ vật có giá trị, sau bà dọn về đường An Bình (Chợ Lớn) và năm rồi quân vô lương đã đào mộ trộm của lấy mất đầu lâu và cục kim cương trong họng. Khoe của thật tai hại, chưa chắc lo lớt dưới Diêm đài, xác chôn từ lâu nay mắt đầu.
Không phải tôi nói xấu, có thiếu chi người cầm bút trước đây không lâu muốn bợ mà bợ không đúng chỗ, xách bị sây xuống đường, nịnh bên kia, mà nay chạy mất, đâu còn mặt mãi nào. Kẻ tu hành khác không chịu giữ đạo, lãnh dạy trường lớn, công giáo bênh công giáo, mặc áo đen thầy dòng, không biết cao lâu Tầm Dương, tiên nâu Bạch Hạc của tiên Lá Đồng Tân, chữ “tiên lâu” một thầy dạy Văn khoa viết sách, tưởng in lầm, nên sửa lại, “ăn tiên lâu” thay vì ăn tiên lầu, là lên lầu Chợ Cũ, xực cơm thố, cha Lãng nào biết và để lại chữ in rõ ràng “ăn tiêu lầu” dốt ơi là dốt. Nghề bán cơm là thạnh hành nhứt, từ cổ chí kim.

Sài Gòn là ngõ quốc tế, nơi tụ hội người tứ chiếng, Tây Nam Chà Chệc, da đen Ấn, gọi chung là Chà Và (Java), da trắng trước gọi là Hòa Lan, rồi pha lang sa, chỉ phân biệt một giống tóc đỏ là hồng mao, Mên nay là người Kơ me, Mọi trở nên đồng bào Thượng, tránh tiếng anh đi rền (indigène), nhưng xin hỏi người sanh đẻ tại Paris, chắng là indigène de Paris, chứ gì?

Đá là ngã ba, ngã tư, tức chất chứa rác rấn, biết quét dọn làm sao cho hết, (đố ai quét sạch lá rừng), mở đầu bài này, tôi nói Sài Gòn dơ những là dơ là vì vậy. Người phương đông đến trước, ở đất nóng, thích ánh sáng và thích ồn ào, trống Bắc thì gọi Bắc cấu (Bắc cổ), nhưng làm gì có người Bắc Kinh, Tô Châu đến đây, đến nhiều là dân Quảng Đông, trống bịt da căng thẳng, tiếng nghe chát chúa, thêm phèng la to bằng tàn dù, tiếng dội ở tai, lại còn chặt cho nứt cho tiếng them nhức óc, chú Tiều là huyện Tri Châu quê chuyên ăn sò hến, trồng rau cải, trống kèn chuộng êm tai, đến khi người Tây qua, họ ở xứ lạnh, xa mặt trời, lấy yên tịnh làm đầu, bên ấy, nuôi con gà cho nó báo tin sáng cũng không xong, sáng ngày anh hàng xóm đã qua nhà yêu cầu

làm thịt con trống, cho ngủ an giấc, trẻ Pháp, sai đi mua một hộp diêm quẹt, nó chạy ù cho bớt lạnh, và lấy vận động thể thao làm đầu, trái lại dân Việt ta quen ở xứ nảy nóng nực, vận chuyển sẽ ra mổ hôi, dơ áo còn gì, bởi vậy đứng đi chậm chạp, nói năng chậm rãi, đi ở làm bồi cho Tây, vẫn bị chủ quở vì nào biết đóng cửa giữ hơi ấm như bên xứ của ông, cơ khổ, cửa phải mở trống cho khoảng khoát, vả lại có gì mà giấu, sách đã dạy: “thanh thiên bạch nhựt” kia mà.

Thảy thảy đều dơ, duy món ăn ở đây là được sạch. Và có thật nhiều.

Và phân làm nhiều lối. Món phở bò, vô đây từ những năm bốn mươi, nay có phở gà, nhưng chưa đánh chết được tô hủ tíu. Hủ tíu của chệc Tiều, từ Nam Vang tiếng hủ tíu lại là tiếng Quảng Đông, “hủ” là mục nát và “ngầu dụcc phảnh” chính là “ngưu nhục phấn”, qua xóm Tiều, hóa ra “củ tiếu” tôi hiểu theo tôi và chờ người lịch duyệt dạy thêm, có lẽ “củ” là “quẻ”, “tíu, tiếu” là nhỏ nhít (ngon thơm như mùi quế, nhỏ sợi…) giải nghĩa nữa thêm phiền.

Ăn có nhiều cách ăn. Ăn mắm sống xé tay, phải ăn bốc mới ngon, ăn kiểu cách ngồi vào bàn, mặc đồ lớn, mắm rau đặt vào chén, mất thú. Ăn theo Tàu, vỏ cua bỏ đầy mặt bàn, mới gọi là “hẩu xực (hảo thực), Tàu quán cơm lại bày món ăn treo cả dọc trước cửa hàng, ăn theo Pháp, nhỏ nhẹ không cho thấy nhóp nhép, giấu từng khúc xương, bếp núc đặt ở nhà sau, nhưng sạch hay dơ, khách nào rõ, lấy nấu chín làm tiên, ợ ra tiếng

được trọng đãi, Tây ăn bánh nướng bánh mì, nhai không cho thấy hở mồm, anh bợm bãi (chà Bombay), vò cục cơm, cục gà cà ri quăng vào miệng không cho đụng môi, đạo Hồi tổ là Mahomet dạy tay trái rửa mông bằng nước, cho nên ít bị thoát gian, tay mặt đưa món ăn vào không cho đụng môi, một cách kín đáo dạy chừa uống rượu mạnh và rót rượu từ trên cao rót xuống, có ngày sặc sụa và sặc gạch. Người Ân Độ dùng lá chuối lót thức ăn, vì họ có tục không dùng đồ đựng hai lần, vì vậy xứ họ không chế tạo đồ gốm, vua chúa dùng dĩa vàng chén ngọc, tôi chưa biết nếu không dùng lại lần thứ hai, thì phải làm sao đây?

Vua ta dùng đũa trc, không dùng lại, cũng được. Vua Thổ, ăn bốc, vua ngồi xếp bằng, tay trái chống hông, tay mặt bốc và cơm rơi bừa bãi, có như vậy, phong tục cho rằng có dư thừa, dân chúng đầu đen máu đỏ mới có cơm ăn.

Có lần tôi thấy một bức tranh dầu, vẽ cảnh một chị ngồi trên ván đang “xi con ự ứ”, dưới chõng, vẽ một con xi đang chầu chực, tranh khéo, cảnh thực, nhưng dầu cho thật sự, theo tôi chán chường, không nhã chút nào, tôi thích một búc tranh nhỏ thôi, để trong tập chớ cũng không treo, phóng bút gợi cảnh đêm rồi xem diễn tuồng Mạnh Lệ Quân giả trai, đậu trạng, làm thủ tướng, bổng có đơn của Đông Bình Vương cáo thừa tướng không phải bợm mày râu, vua Nguyên cỡi tuấn mã, bêu ngựa tới trước, bức họa vẽ vua ngó ngoái lại sau, tay đang quất trên cành liễu, cho giọt nước rơi xuống rửa sạch lớp phần thì biết giả chơn, đồng thời Lịch thừa tướng (Mạnh Lệ Quân) nơi phía sau vua, vừa trờ ngựa tới, cô Bảy Phùng Há lấy tay áo lau gò má, mắt liếc như thầm trách đấng quân vương sao có thói 35, vua và tôi, không nói một lời, giàn đờn do Sáu Tứng điều khiển cứ trổi bản Khổng Minh toa lầu, đờn khảy tứng tứng tưng tưng, thì vua quơ roi, (văng vắng nghe như có câu “Kế Khống Minh cao!”, khảy tới “từng tứng tứng tưng tưng” (nghe như “Tư Mã Ý hết hồn!) thì ngựa Lệ Quân Phùng Há vừa trờ tới, không cần một tiếng hát, chỉ tiếng đờn là đủ, nhẹ nhàng tiết tấu, lấy thính âm dây sắt dây tơ thế cho tiếng người, hay tuyệt diệu, cô Bảy còn đây và bức tranh nhỏ còn đây, Tư Út đâu còn, và cần gì mấy câu “bán chiếu Cà Mau” nỉ non sầu thám của Út Trà Ôn, một đoạn khiêu vũ tài tình, bức tranh không lời, diễn tả như vậy mới là tài tình, và trở lại món ăn ở đây, không phải đợi nhiều tiền mới phải là ngon, và lối viết cũng vậy, tôi viết hoài một điệu, người đọc tránh sao khởi mỏi mắt hết muốn nghe.

Như vậy, xin để cho tôi đứt nơi đây, và mặc đầu nói chuyện của mình là nên tránh, “khoai vò mình củ, cách mấy cũng không tròn”, và đây là chuyện thẳng tới qua món ăn trong này..Năm 1924 tôi ra trường đã được kể gần hai năm. Khi còn học, nhờ anh em đồng hương đưa lại một căn phố số 71 đường nay là Lý Tự Trọng. Số 69 là Khám Lớn, đêm đêm nghe tiếng trống canh đã nhàm tai. Phố rộng và rất sâu, từ hàng hiên, độ hai mét bề sâu, có một vách gạch chừa một cửa sổ và một cửa ra vô, bước vào là một phòng tiếp khách rộng vuông bốn mét ngang, có hai cột gạch chận salon ấy với một phòng ăn phía trong khá rộng có giường đồng Hồng Kông và một bộ vấn ba gó sừng, đến đây đã bao nhiêu thước bề sâu, kế đến một sân nhỏ chái xinh xinh làm phòng rửa mặt, tiếp theo là nhà bếp và nhà tắm, thêm một phòng đủ chỗ cho chị Ba, đầu bếp, ở chung với một mẹ già, nhà bồi này ăn thông với một hẻm, chừa cho đêm đêm cu li đổ thùng làm việc vệ sinh, hèm nầy đụng vách hông của sở đo và phát giấy căn cước, Pháp gọi Service d’Identité Judiciaire, trổ ra đường
Filippini đường này sau có tên là Nguyễn Trưng Trực và sở ấy quen gọi Sở Đồ Hình, cũng có tên Pháp khác là service d’anchropométrie, Đào Duy Anh dịch sở đo nhân loại trắc định pháp.
Khi ở trong trường, Tây giám thị chánh, tên Nicolai, lãnh nấu cơm, cho học trò, mỗi sáng cho một đứa một hột vịt giằm ớt nước mắm, suốt bốn năm như vậy nuốt không biết bao nhiêu trứng mà không dám chê lợm miệng; khi ra trường, lại tá túc số 71 Lagrandière nầy cho đến năm 1925 ra riêng cưới vợ, lại học dư, học phong lưu lãng phí, làm nhiều tiền, mỗi tháng 54 đồng (tương đương chín chỉ vàng), không biết tiện tặn, không biết gới bớt về báo ơn cha nuôi dưỡng, lại lên mặt làm sang, ba bốn bữa, đi ăn cơm Tây quán
Yeng Yeng một lần, cơm tháng, nấu rất ngon, lại chê nhàm, nhưng cơm Tây không mắc, một bữa độ hai món, chừng bảy cắc bạc đủ no: nửa đĩa bò phí lê chiên chateaubriand, khoai phồng, thơm bơ giá bốn cắc, năm 1924, tôi làm việc nơi trường máy ông Rosel, mới biết thuớ ấy, mấy thầy gác lớp nơi trường Trung học Tây và nơi trường Sở Cọp nhờ chỉ chọt[SL1]  cho đốc học trường xuất tiền nhà mua sắm đất vườn trồng cao su mà củng có địa vị, ông giám thị chánh nơi trường máy nhờ bán thùng thiếc đựng ét xăng khi lấy hết xăng ra, mỗi thúng bán hai cắc mà dư tiền về ăn và dưỡng nhàn bên Pháp và còn dư tiền sắm vườn trồng nho bên ấy, tôi vẫn chưa biết tổng đốc xứ Bắc và các thượng thơ triều đình Huế lương bổng mỗi tháng là bao, chớ đốc phủ sứ trong Nam, lương tột bực là ba ngàn đồng bạc con đầm xỏe trọn niên, tính ra hai trăm năm chục đồng mỗi tháng, quan Tây cai trị hạng nhứt, lương chín trăm đồng mỗi tháng (bằng giá mười lăm lượng vàng), viên thống đốc Nam kỳ mỗi tháng lương kể luôn tiền phụ cấp là hai ngàn đồng bạc, nhưng đi có một thống đốc để lại như tri huyện tuổi tý mà ước ao phải là tuổi sửu cho dân dâng lễ lộc bằng bạc hiện nặng như trâu, thống đốc sắp về hưu, than: “Làm trầy vi tróc vảy, bắt Cộng, giữ thanh liêm mà lương tháng không bằng tiền vô của viên cò chánh trong Chợ Lớn, (vì chức cò, ông cẩm, tháng lương sáu trăm đồng, nhưng nếu cho chứa bài, cho hốt me, trong một đêm, là sánh bằng lương thống đốc trong một tháng, và nếu bài và me cho chứa nội một tuần nhựt, là đủ xin về hưu sớm, khỏi chờ hưu bổng lâu lơ. Lương của quan Pháp qua thuộc địa, có bằng cứ nhơn, vào làm nơi trường bác cổ, muốn cho khởi phân bì và giữ được liêm chính, vẫn được trá lương đồng hàng với chức quan cai trị, bên Anh quốc, quan chức lương rất hậu và lương cao quan viên ở thuộc địa tâng tiu chỗ làm, để về hưu tọa hưởng và khỏi hà lạm hối lộ.

Năm 1925 và 1926

Hai năm nấy, tôi hư hết chỗ nói. Cha mẹ định đôi bạn, tôi xài trong sáu tháng, tiêu cạn sáu trăm tiền hồ của ông già cho trọn, duyên nợ cưới tiền, tiền không đem lại hạnh phúc, nói chí phải, dọn về vợ chồng ở riêng một căn phố cùng một đường nay là Lý Tự Trọng, số nhà 214 bây giờ là một hiệu phở thơm ngon, phô nầy trước của Hội đồng Trần Trinh Trạch, tỷ phú muối ở Bạc Liêu, ông Bạch Thái Bưởi ở Bắc, chủ hãng tàu đi biển, hoa lợi ra sao, chớ ở Nam, ông Trạch có ruộng sản xuất muối, gặp mùa, nắng tốt, nội một ngày, ông thâu năm ngàn đồng bạc, sau khi đóng thuế đoan rồi, công tử Qui, ái tử của ông, lấy tiền bắt tay với gái lịch, đối thủ là công tử trắng trẻo xứ Mỹ Tho, giàu dầu dừa, cả hai phung phí và nuôi gái xinh tươi, danh từ hoa khôi chưa có, Ba Trà, Tư Nhị, Năm Chời Mòi, cô lai Lucie Bandot, trong lúc ấy, như ngựa sút xiềng tôi chỉ là một thơ ký tập sự nơi trường máy, nhưng nhờ theo thầy cũ là ông đốc Nguyễn Văn Mai, ông mở lớp dạy không lấy tiền nơi trường cũ Chasseloup, tôi theo thầy làm phụ tá dạy kèm tiếng Việt cho quan Tây, có ba Tây nhờ tôi chỉ giúp, mỗi tháng tôi có thêm sáu chục đồng tiền dạy, cộng với tiền lương, tôi có gần một trăm mươi ngoài mỗi tháng, gần bằng lương huyện, phủ, việc nhà hư hỏng, tôi phế gia cang, cặp nhơn tỉnh, công tử đi xe hiệu Delage chở cô Nhị, cô Trà, tôi ngồi xe song mã mướn giờ, có Sáu Ênh, khi khác Chín Ênh, khi khác nữa, cô Sáu Ngọc Anh, Anh cũng là Ênh, ba cô có máu Tàu, Trà Nhị, danh lớn mà đóa hoa đã tàn, ba cô nầy, gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu, chắc da chắc thịt, duy thiếu xe sang và nhà cửa xinh đẹp. Lúc nẩy tôi ở ăn cơm tháng nơi đường Bô na, nhà bán vàng và nữ trang của bác Cao Văn Hy, tuy vậy trưa trưa, tôi chỉ ăn có một tô hủ tíu cá gà, một cắc bạc, nhưng chệc Quảng nầu bán dạo rất ngon, tôi dành tiền để lên xe xuống ngựa, địch thể với hai công tử, ăn cơm nhà hàng Tây, tắm mát Xuân Trường nhưng Georges Phước và Ba Huy (hay là Qui) có biết đâu cảnh tôi hết tiền thường nằm tiệm hút đường d’Espagne, ăn bánh hỏi hai cắc một tràn nơi quán Ba Tàu đường sau gọi là đường Nguyễn An Ninh, cảnh hư mà giúp tôi nên, tiệm hút và quán bán là ve hột gà luộc, ăn chịu ký bông cuối tháng sẽ trả tiền, mấy nơi ấy chính là trường đào tạo cho tôi được như ngày hôm nay, và sẵn đây nhớ lại trong tập nhỏ “Tạp lục 1989/1990” vừa viết xong, tôi nói đã học nói thơ giặm về Bùi Kiệm không ắt vào năm 1924 hay là năm 1926, và nhớ chắc việc ấy xảy ra năm 1924, chớ năm 1926, tôi đã trải qua vài lần nằm nhà thương Chợ Rấy, bịnh ho gió, bịnh đường tiểu của gái tặng, một lần xuýt bỏ mạng, ban cua, văn hóa học chi cho nhiều, ngày ngày nơi sở làm, chỉ lập tờ mua sắt đồng cho học trò trường máy luyện tập, ốc bù lon, ốc long đền, xuýt quen tiếng Pháp học nơi trường, ăn uống vất vả, tuy vậy khá sạch và khá ngon, năm 1926, có một ông già, từ Thủ Đức gánh bò bún bánh hỏi xuống bán, tháp tùng xe lửa nới tiền, xin nhớ bò bún, thịt nướng hay xào và bún rau thơm, không phải bún bò, món ăn đặc biệt của Huế. Ông ấy tuy già nhưng khương kiện, tiếng rao lảnh lót, chủ nhựt ngồi chơi bài, nghe tiếng rao lật đật gọi, mỗi đứa một tràn bánh, giá hai cắc, rượu nguyên chai sâm banh hiệu Veuve Amiot, chín cắc một chai, đủ gật gù say say, tuổi chưa tới ba mươi, ăn sắt cũng tiêu hóa được, và hạnh phúc đã qua rồi mới biết!

Năm 1927

Năm nầy tôi lập gia đình mới, đầu năm dọn từ đường Bô na, lên nhà bà nhạc tương lai ở đường nay là Nguyễn Đình Chiếu, ngày chở rương đựng sách, có ba cô ả theo tiễn, muốn cầm ở lại cùng nhau thả cầm thi, bà nhạc thấy mà ngán cho thằng rể khéo lựa, phố lầu một từng nhưng rộng lớn, dài từ Phan Đình Phùng đụng với đường Hồ Xuân Hương, giá mỗi tháng một trăm sáu chục đồng, ông nhạc gia lương tám chục, lương của tôi cũng tám chục, cả hai cộng lại vừa đủ trả tiền nhà, còn tiền mướn đầu bếp, lái xe, bồi dọn bàn, chưa tính, nhưng chờ một đêm chứa me đủ trả, gần cuối năm chịu không thấu, dọn về đường Nguyễn Du, số nhà 75, vẫn phố của Hội đồng Trạch, sáu chục đồng mỗi tháng, mặt tiền phố ngó vườn Tao Đàn, chỗ nầy kín đáo, vẫn tiếp tục chứa bài làm sanh kế, duy mẹ vợ và bố ghẻ gặp vận đen, đánh bài thua để nợ cho tôi hẹn, cùn trí quá, chịu cực không xuể, chiều nào cũng có xét ty xách dù đòi nợ, góp tuần góp mỗi ngày, tôi thú thiệt với chủ là ông Rosel, ông tốt quá, bằng lòng cho tôi xin đổi về tỉnh, và có giấy cho tôi thuyên về tòa bố Sa Đéc, nơi có nhiều người ham chơi đồ cổ, và tôi phát tích thạo về đồ sứ xưa, cũng từ đây.

Tôi nổi trôi lặn hụp đổi về Sốc Trăng từ năm 1932, đổi lên tòa bố Cần Thơ, làm thơ ký đứng bàn ông chánh bố từ năm 1936, nhưng đi thi để thăng cấp vẫn thi rớt mãi, năm 1938, đổi về Sài Gòn trụ lại từ năm 1938 đến 1943, thấy tình hình không ổn, đổi về Sốc Trăng gần với cha, tưởng được yên thân, nhưng xảy ra đảo chánh năm 1945, chạy dôn chạy đáo, vô Hòa Tú tản cư, xuýt bị chết vì tội là phe có tiền và tội làm việc cho Tây, may phước là họ điều tra lại, biết tôi chưa làm gì có hại đến đồng bào nên họ bỏ qua, tuy vậy chịu cực không quen, lối cuối 1946, có dịp tiện, tôi chạy về châu thành Sốc Trăng, nương náu nơi nhà của Ba tôi, và có ngờ đâu sau mười chín năm hòa thuận bỗng đàn bà sanh tâm, ngoại tình, tháng 7 năm 1947, ngột ngạt vì đôi bên, bên Pháp là Tây đòi ép trở về với chúng, bên kia là anh em kháng chiến, đòi tôi ra theo, nhưng như đã nói, tập ăn trái bần mấy tháng ở Hòa Tú đã ê răng, tôi dành chịu lỗi, xách gói chạy lên Sài Gòn vào lối tháng 7 năm 1947, rồi dè đâu dính gốc dính rễ, có lẽ chừng nào đến ngày nào nằm trong sáu mảnh ván kia, thì sẽ được chở xác về nơi nhau rún.

Sài Gòn xét chung, trước khi trở nên thành phố mang tên Bác kính trọng Nay bình tâm xét lại, dám đâu lớn lối khoe “có từng thử lưa mới biêt tuổi vàng” , và cung chăng nên tự phụ “gần bùn mà sen vẫn trắng trong tinh khiết”, vả lại chuyện hiện tại, tôi ru rú ở trong nhà, làm sao biết rõ hơn người lịch duyệt, từng bươn chải đi Bắc vào Nam, vậy xin chừa chuyện đời bây giờ cho người khác viết, duy phải nhìn nhận nhờ được cha mẹ dạy kỹ, “lọng dù dầu rách vẫn còn sườn”, tôi sống nhiều năm trong cảnh hư đồn và nay được như bây giờ, ơn cha mẹ không quên, mà nào dám quên sự đào tạo của hai vị ân nhơn như dưới đây xin kế:

Và tôi xin nhấn mạnh một điều: việc tôi kể rồi, có người không thương, ắt nghi tôi lẻo mép, nói sai sự thật, vậy tôi ghi lại đây, những gì của hai người cổ cựu, sống lâu năm đất Sài Gòn, nay đã quá vãng, thuở đó đã sinh sống và thuật với tôi làm sao, tôi nay thuật lại y như trí nhớ, nhưng những sự việc ấy thật quá tầm thường, đối với người làm chánh trị, ắt chướng mắt và vô ích, nhưng đổi với người làm kinh tài, muốn có tư liệu về sinh hoạt ngày xưa, thì quả là nên tin là đúng sự thật, nhưng vẫn cu cu chẳn chẵn, nhằm chướng, và tôi nhấn mạnh lại nữa, những gì tôi đã viết trong cái tập nhỏ hiện đang tái bản lần đầu, tỷ như về giá vài món cổ ngoạn, tôi thường kể lề ngày mua, giá mua, chỗ bán, lúc trước thấy như rườm rà vô ích, nhưng nay mới thấy hậu quả cũng giúp được phần nào để so sánh với giá hiện tại của mỗi món còn tìm gặp, nhưng về giá cả và giá trị, đã leo thang đến bực nào, một cây nhang thắp, một tô phở đều giá số ngàn, một ly nước chanh đường lạnh, họ bán nơi khách sạn nổi đậu chỗ một hình, giá kinh khủng quá sức tưởng tượng, tầm chục ngàn rồi sụt bốn chục ngàn, nhưng vẫn chưa mát và ngon hơn ly nước một thứ chanh chợ Bà Chiều hay Hóc Môn, Bà Điểm.

Người thứ nhứt, mở mắt cho tôi là bà chủ nấu cơm tháng năm 1924. Vì nhà của bà ở sát nách Khám Lớn, phố số nhà 77, chỉ cách Khám số 69, có ba căn: số 71 là quán hủ tíu sau đó là văn phòng một luật sư, căn 73 của mại bản Tàu tên Diệp Bắc Hưng, số 75 của chà Ponnou ký giả, căn số 77 chỗ tôi ngụ, mỗi đêm mỗi nghe tiếng trống sang canh của Khám, lại nữa tôi chơi thân với Huyện Hiệu làm thơ ký nơi Khám lâu năm và bạn đồng trường Nguyễn Văn Lạc, cũng xuất thân tập sự nơi Khám nầy, cho nên việc vặt vạnh nơi Khám, tôi nghe đầy tai, và tôi vốn là mọt sách, đã mua được vài tập nhỏ thuật chuyện phá Khám và chuyện xử bắn oan uổng những người bị bắt và tình nghi đã phá khám (xem phần phụ lục nơi sau).

Bà chủ nấu cơm tháng của chúng tôi, vốn là họ Đỗ, có chồng họ Lê, bà quê ở Gò Công, nhưng vô dân Sài Gòn đã từ đời bà Cố Hỷ, vì chồng làm cờ le cho một luật sư Pháp, nên chúng tôi gọi tặng bà là “Bà Thầy”. Lúc xuân thời bà có nhan sắc, nhưng tánh quá chặt chịa, làm eo làm xách, Ông Thầy chịu không kham, nên đã nứt niền, lập gia đình khác và không trở lại, bà có hai ái nữ đều cho học trường đầm Marie Curie, bà nấu cơm tháng cho bốn đứa chúng tôi, mỗi tháng bà có tám chục đồng, đủ trả tiền phố ba mươi lăm đồng, và bà chỉ tốn tiền túi thêm vài chục mà ba mẹ con và chúng tôi vĩ vèo sáng sữa bò hủ tíu bên xóm mỗi tô ba xu, cơm trưa và chiều, chị Ba bếp khéo xoay trở đủ gà trộn gỏi, bò bít tết và thịt kho nước dừa, dưa giá chấm vào nay nhớ lại bắt thèm. Khai quan điểm nhãn là chính bà dạy chúng tôi xa hoa học ăn ở đài các, khăn bàn lau mặt mua tiệm Marty, xà bông hiệu Cadum, cơm Tầu và cơm nhà hàng Tây vào đầu tháng, khi nhà Rénard nơi khu Chợ Cũ đường Phủ Kiệt, khi quán Yeng Yeng đường Pasteur, hoặc quán Quảng Hạp nơi đường Lê Thánh Tôn, và trở bữa có quán cơm Việt nơi Lữ quán đường d’Espagne, có cô Marie ngồi thâu tiền, mắt thu khiêu khích, hoặc nơi góc đường d’Espagne và Thủ Khoa Huân có quán lớn gọi nhà hàng Mékong, mỗi một đêm thứ bảy có đờn ca tài tử. Khi dùng cháo cá ở đường chạy sau lưng Chợ Cũ, quán cha truyền con nối, bán duy nhứt một món cháo bình dân, mỗi tô một cắc bạc, nhưng cho đến nay quán đã đẹp mà chưa nơi nào cháo sánh bằng, cháo nấu thật lỏng, cá lóc, cá bông thái thật móng, húp cháo nóng kèm với một bánh dầu cháo quảy, phong lưu hơn nữa kêu thêm một dĩa gói cá sống trộn dưa đu đủ thật dòn, không cần vào tiệm sang cho ngoại kiểu cắt cổ, chiều chiều đến đây dùng cháo, với một cà rô bi (roupie) tức nửa đồng bạc thời đó (0$50) mà tưởng tượng có thua nào Tổng Giang ăn gỏi lý ngư bên

Tầm Dương để đề phản thi trong truyện Thủy hử, còn như muốn có gió mát thì đến đầu chợ Bến Thành, nơi đường rầy sắt xe điển, hột vịt lộn, chả giò chiên nóng của Ba Đờ ra ghi (bar Draguy) là quán bán rượu lẻ, la ve có bọt, hai bạn ngồi đánh chén, khi no đứng dậy tính tiền chưa quá hai đồng bạc

Đằm xòe!

Chúng tôi bốn đứa luân phiên trả, nay cả ba bạn kia và bà chủ nấu cơm tháng đã không còn, và tôi chỉ còn nhớ bà thuật chuyện năm 1913, có vị Phan Xích Long và Tư Mắt, phá Khám không xong để đồng bào bị bắt, bà chủ nói đêm phá khám có trời mưa lớn, đêm khuya nghe súng nổ và tiếng người chạy, rạng ngày người nào bận áo trắng quần màu đen, đều bị bắt và đưa ra tòa đại hình xử, phần đông bị tử hình. Tây sơn đá đứng hàng hai, bắn tại Đồng Tập Trận, lần nhứt bắn ba mươi tám người ngày 22-2-1916, lần nhì bắn 13 người ngày 16-3-1916, hồ sơ xử bắn, gới qua Pháp quốc để chuẩn y, nhưng đại thẩm viện bên Pháp ra lịnh ân xá, chừng hồ sơ trở về thì việc bắn hai lần đã kết liểu, không nghe nói mấy thi thể chết oan có hoàn sanh được chăng, chỉ nghe lại quan tòa, quan thực hành vụ giết trước không chờ lịnh bên

Tây, thảy đều bị thuyên chuyển và giấu kín, nhưng xin hỏi, xử như vậy, công lý chỗ nào – Huyện bênh huyện, phủ bênh phủ, Tây vẫn bênh Tây.

Bên Pháp, người quí tộc, vẫn danh tánh có chữ “de…” đứng đầu, cay cú là tên tả đao, cũng có biệt hiệu là Mông xừ Đờ Pa ri, ở Sài Gòn trước đây ở Khám Lớn, tôi từng thấy hai gươm xưa giá tréo treo trên trần chỗ của viên chúa ngục Agostini đặt làm văn phòng, và tả đao điều khiển máy chém, tên là Đội Phước, làm cái nghề thật là nhàn hạ, một năm tròn, ngồi chơi xơi nước gần đủ mấy ba trăm ngày, gươm máy dặt tại một phòng tối trong khám, khi có chỗ nào cần chém đầu sẽ chở đến đó vì theo luật công lý chỉ có duy nhứt một gươm máy, mỗi lần chặt đứt đầu thầy Đội Phước được lãnh thêm một trăm quan, và nghe như cháu con của Phước vẫn còn, duy không cha truyền con nối nữa (21-6-1990).

Sài Gòn kể từ năm Nhựt chiếm đến năm 1943, tôi rời về Sốc Trăng, rồi năm 1947 trở lại. Đoạn nầy tôi không nói đến những năm tao loạn, đuổi Nhựt giành quyền với Pháp, và xin khuyên bạn đọc, hãy rán tìm hai quyển rất có giá trị và đều là sách không còn bán, đốt đuốc cũng tìm không ra, vì quyền Saigon (Septembre 45 của bạn quá cố Trần Tấn Quốc, dày 69 trang, khổ 11×14, (giá cũ 6 đồng), cũng như quyển 14×21, dày 502 trang của Nam Đình (Nguyễn Kỳ Nam) cố nhân, tập 11, 1945 – 1954, Hồi ký, chỉ dành ký tặng cho bạn quen, chớ không bán cuốn nào và bất cứ giá nào. Tôi làm sao viết kịp hai nhà săn tin tài ba nầy, lại nữa tôi nhứt định không rớ đến chánh trị, những gì tôi kể lại đây, đều cà kê nghê ngỗng, thuật lại sự sinh sống và sinh hoạt buổi trước nghe chơi.

Tiếp theo đây là cuộc sống của nhạc mẫu, họ Dương, thuộc dòng một vọng tộc đất Vãng (Vĩnh Long), ngụ nhiều đời đất Sài Gòn nầy. Làm sao tôi quên được ơn bà, dầu hai đứa tôi đã ly dị từ lâu, nhưng ngõ ý còn vương, tôi không phải bọn tắm, vuột mặt quên lòng, và không có bà kềm chế, ngựa sút chuồng như tôi, chưa ắt chịu thuần thục ngậm hàm thiếc và chạy ngay theo đường thắng.

Bà rất tốt, nhưng rất là giấy giữ lề, tôi làm dâu, ủa quên, nhờ làm rê cố công, mới học được cách ăn ở “đất lề quê thối” của nhà họ Dương nầy, một lớp trước là học trò buổi Tây vừa qua đây, thế hệ tiếp đó, xin kể lộn lạo như Dương Văn Giáo (cậu của vợ ly dị) làm cách mạng tuy có Pháp tịch mà chống Pháp kỳ cùng, như Dương Văn Mai (cậu vợ) từng làm thông ngôn dẫn thầy thợ qua Pháp làm lính chào mào, có vợ đầm, sau về đây làm trưởng tòa ở Long Xuyên, như Dương Văn Tây, anh ruột của D.V. Giáo, làm lâu năm sở Tần Đáo, còn các bạn đồng sang Pháp rồi trở về, một Trần Văn Tỳ, làm đến tòa áo đỏ nơi Pháp đình, một tòa tên Quan, một tòa tên Giác, đều có quốc tịch Pháp nhưng đều thuộc đảng Lập Hiến đòi Pháp nới tay, trả bớt quyền cho ta, nhưng chỉ đi đến Pháp Việt đề huề, tôi nói ra đây chi cho khỏi đảng ngày nay chê tôi tâng bốc người không xứng đáng, nhưng xin thưa, mỗi đời một khác, dám chơi dám chịu như một tòa Tỳ, từ thơ ký qua làm thông ngôn cho đám thợ chống giặc Đức, học trường cai trị của chánh phủ Tây, được bổ nhiệm làm quan tòa, thanh liêm nhưng ham mê gái lịch, lộ liễu cử chỉ người trong Nam nẩy, xin cứ để tôi khen.

Những thập niên 1930 và chín mươi năm sau là thời kỳ tôi gọi là “chắp nối” bán tân bán cựu, ruộng ở Hậu Giang vừa phát, lúa má trúng mùa liên tiếp, điển chủ gới con sang Pháp, nhưng các cậu trong Nam, qua bên ấy, học khiêu vũ, học ăn chơi chớ ít học chữ nghĩa, cặp mèo và nhập đảng nây đảng nọ. Nhung, con của thầy tôi là ông giáo sư Ng. V. Mai, thì học nghề nhiếp ảnh rồi về đây hút xách hư thân, Nguyễn Phong Tân, con của chủ nhà ngủ Phong Cảnh, học nghề cắt may, về Sài Gòn, khủng bố người xứ Bắc, Phong Tân theo Tây, bắt ép người nào nói giọng trọ trẹ “Tân sơn nhất” (thay vì Nhức) thì làm tội, đánh đập và tịch thu tài sán, nhưng Phong Tân sau bị xử tội và chết đáng đời, tôi kể sơ hai gương ấy thôi, còn việc tại đây, đầu những năm 1930, 1931 xe hơi mới đủ hiệu, bán liền liền, kịp đến năm 1932 bắt đầu kinh tế khủng hoảng, giá lúa tuột còn ba cắc một giạ, giá vàng ba chục đồng một lượng, rồi sụt thét có năm nọ giá vàng chỉ còn mười chín đồng (19$00) mà chẳng ai còn tiền để mua vàng, xe hơi không tiền mua xăng, để mục, lấy xác xe đổ phân trồng hành, một cuốc xe kéo tay, giá năm xu (0$05) mà chẳng có kiếm được mối, hớt tóc cũng năm chiêm (0$05) mà thợ hớt phải dẹp nghề, gái có sắc, chịu làm bé, mỗi tháng hai chục bạc (20$00) mà vẫn tranh nhau vì đói, công tử út, con Hội đồng Trạch, em của Ba Qui, tên gọi Tám Bò, chở gái từ Bạc Liêu lên Sài Gòn để giỡn tiền, công tử Bích, ở Bến Tre hay Trà Vinh, lấy kim cương nhận vào dây nịt da cá sấu để khoe giàu, công tử Đoài, con của thầy Phòng ở Sốc Trăng, cấp dưỡng cho tình nhân là cô Lucie Bandeau, vì trán có vết thẹo, lấy băng lụa che giấu thẹo mà thành danh, công tử lai Miên, cậu Emile P. ở Sốc Trăng, khi người mẹ từ trần, ăn gia tài, lấy tiền mua một lần ba bốn xe hơi, phá tán hết tiền, bán xe, vô làm lính săn đá, vì có Pháp tịch, rồi chết nơi dưỡng đường Grall, xác còn quàn chờ người em là cậu Etienne ở Sốc Trăng lên sẽ đem chôn, nửa đêm xe lên tới nơi quàn xác, Etienne (nay ở Pháp) tay xách va li, mặc quân phục bước vào, bốn lính săn đá, hai đen hai trắng, đứng gác chung quanh cái quan tài, ngơ ngác toan bỏ chạy, tưởng ma hiện hồn về, thằng nào mình mới liệm hồi sớm, và thằng nào xô cửa nhà xác bước vào đây, vì Emile và Etienne là đồng hào song sinh, và anh em giống nhau như khuôn đúc!

Khoảng những năm đó, ở Cẩn Thơ mở trường trung học Bassac, Hậu Giang, trường ở Mỹ Tho chuyên trau giồi Việt văn, Sài Gòn lập trường đặt tên là trường Pétrus Ký, đâu đâu đều rất đông học trò, học chữ nho, đã Tây cấm dạy thêm học xong kiểm nghề không ra, buộc lòng phải theo học chữ Tây, ngặt nỗi đậu bằng tú tài Pháp, thi đậu ngạch thơ ký soái phủ, lương tháng chỉ được hai mươi lăm đồng (xin đừng quên vàng y giá ba chục đồng một lượng), và số tú tài đông quá, ngạch thơ ký hạn chế tuyển rất ít (mỗi năm độ vài chục người).

Trong khi ấy, tôi đây hèn nhát, và cạn thấy, thêm nữa, buổi xuân thời, tôi vẫn bạc nhược sì sợp ho hen, lại thêm có vợ đẹp, và tiếc dại dột nửa mảnh chức cò mi (huyện nửa chừng), tuy có bản tánh cang trực và bất khuất (tôi không nói tốt cho tôi đâu), nhưng khuôn khổ bà nhạc mẫu muốn làm sao, tôi vẫn phải xuôi theo, phận sự làm rể cố công, nay nghĩ lại mà còn đỏ mặt: đi mời tay bài; ngồi nhà chờ chà đến lấy tiền góp, phải hạ mình xin khất; phố mướn đứng tên, xe mua thiếu chịu; xấu nhục đã từng, chai lơ mặt mốc, thế mà dã tràng xe cát, cô Tư Tuyết ôi, nỡ nào đành đoạn thôi nhau: Ôi! Mười chín năm ân ái!

An ủi một phần nào là bà via rất tốt, tuy dạy dỗ gắc gao nhưng lằn xếp còn đây, bà rất biết người và thường cho chúng tôi tiền để đi ăn cơm Tây nhà hàng, nhưng bù chì lại, ông via, cha ghẻ của Tư, rất xấu, nhỏ mọn kẽ vạch, bố vợ lấy của tôi mười lạng vàng dấu tích của mẹ tôi để lại, ông cầm cố và thua trong sông bài sòng me ráo nạo, ông hứa chuộc mà không giữ lời. Thôi! Bà nhạc dạy: khăn toa lét phải mua khăn lông dày ở nhà

Marty, nước hoa phải mua ở nhà hàng Sạt ne, tôi còn nhớ và là tôi: bỏ hút thuốc vì không có thứ ngon, bỏ rượu vì không phải chánh hiệu tốt thì thà nhịn thèm, xà bông vẫn loại ướp palmolive mua mấy năm nay vẫn còn dư, còn như phấn chà răng, răng đâu còn mà hỏi?

Tại nơi nhà fà nhạc, nơi đường Taberd, vẫn ván trắc, bàn ăn cũng bằng gỗ trắc duy kiểu xưa nặng nề, bộ ghế phòng khách vẫn gỗ gụ mua tại nhà buôn lớn Đào Huống Mai chở từ Bắc, do thợ khéo Nam Định cẩn xa cừ tinh tế, thợ Lái Thiêu thua xa, ô trâu bạc chạm hiệu Chauvin, bồi trẻ dọn bàn hai người, mỗi tháng mỗi người, lương tám đồng, và thay đổi liền liền, khi không vừa ý, phạm lỗi, thì bà sai tôi tìm ông già tên Ba Liếng cho người thay thế, ông Liếng là đầu nậu chuyên nghề tìm người giúp việc nhà, khi có chỗ vô làm, tháng lương đầu phải kiếng cho lão, phải cúng cho lão, và lão bẻ tiền xúp như vậy đủ phè phỡn no nê, vợ lẻ vợ mọn là khác, vì xã hội thời Pháp thuộc, con bồi chị bếp vẫn ở trong tay lão Liếng nầy.

Tôi nói dài dòng, bà nhạc tôi việc tề gia rất có kỹ cương. Xài tiền như nước, các tay cờ bạc đều mát, thêm được đồ ăn đồ uống rất nhiều nên bán rẻ, nhà hết tiền thì ký giấu mua bông (bon pour), nhà mở tiệc yến liền liền, rượu Tây đủ hiệu, duy mua nước đá cục, vì thuở đó, ít nhà sắm nổi tủ lạnh frigidaire.

Cá thịt không thiếu, vĩ vèo tôm càng cua lột, thịt rừng, đuông chà là, từ Cà Mau chở lên, bán một xu một chà là, đuông chiên rán thoa chút bơ, nhấp một hớp mạt ten (Martel), xem bầu trời như nắp vung… ngày nay đuông, tôm cua đều xuất ngoại, đầu mùa mưa không nghe ếch nhái huềnh hoang, và tiền trong túi cũng vắng. Có từng đói mới biết dẫn đầy bao tử là đủ sướng, không cần ngon dờ, có ở khám, có nằm nhà thương mới biết giá trị chưn khỏe tay lành, ngày nay cơm dùng rất trễ, sáng sớm cà phê, trưa ngọ ăn lếu láo, cơm chiều lúc tối mò, vì phải chạy phải làm mới có để ăn, buổi gần đây, thời Pháp thuộc, lấy tiếng trống bãi hầu làm hiệu, mười một giờ và năm giờ thì xơi nữa, và trước khi đi ngủ, tám chín hay mười giờ còn mì dẫn bụng mới ngủ êm, trái hắn tục Tây, ăn trưa thật no, và tối ăn món nhẹ, để bao tử nghỉ vì sợ trúng thực. Nhà nhà phần đông đều vậy, bàn cao chưn, ghế đầu vững vàng, trắc, cẩm lai… nay bàn cây trắng tạp phạo, ghế ngồi thật lùn, lé để vừa khỏi mặt đất, miễn tô phở thật nóng và bình trà uống đến nước dợt trắng xác, câu chuyện quên thôi.

Cây trắc nào còn trong rừng, cây cẩm lai nay giá mắc như vàng, bắp bênh thân phận, đăng ký, bán phứt hết cho rảnh tay, áo giáp giày ra trận cổi bỏ vào đống rác cho khỏi mang tiếng ngụy, nay nằm đất ăn ngồi xó hè…

Bữa nào vui miệng, ngồi vào bàn ăn, bà nhắc chuyện xưa, lúc làm dâu đời chồng trước, nhà mẹ chồng giàu nứt vách mà cơm chụm lá trẻ, phải ngồi canh lửa, khối xông cay nước mắt chảy mà nào dám lau, đang có thai, mẹ chồng bắt lỗi sai moi đất khoét lỗ cho đừng cấn thai và phải nằm lãnh đủ mấy roi đền tội. Tôi nín nghe mà ớn lạnh xương sống, thảo nào sau nằy tôi bởi quá dễ dãi và quá tin, nên mới xảy ra vợ ngoại tình, và nào phải có một bà nhạc tôi mà đủ tượng trưng cho cảnh sống ở Sài Gòn, hoa lệ xưa có bà Ba Ngoạn, bầu gánh hát bội và từng hầu vua Thành Thái lúc ông mất ngôi ở Huế, trong Chợ Lớn có bà Tám Đội, bầu một gánh hát bội khác, nay còn nhà là một dinh thự to, thế hệ của bà nhạc tôi là bà Huê Mỹ, chủ một hiệu giày có mặt thêu cườm gọi giày Hàm ếch Gia Định, đồng thời với bà Nguyễn Chí Hòa, mẹ của Nguyễn Chí Mai và dược sư Nguyễn Chí Nhiều, hiệu Chí Hòa đóng giày Tây nổi tiếng, giày tige drap, gót đóng thêm móng sắt cho đỡ mòn, và mặt da may thêm một đoạn ní khác màu, nên gọi tige drap, ở Âu châu, hoàng tử Anh (prince de Galles) ra kiểu cho dân sang trời Âu bắt chước, ở đất Nam, vua B.Đ. đi giày hai màu, chỗ đánh phấn trắng, đầu và gót giày bịt da màu vàng, cũng gọi giày dôn (jaune); Bắc mặc áo the lốt trắng, Trung, áo đại triều màu phân biệt theo cấp bực, trong Nam vẫn áo xuyển đen, khăn Suối Đờn xếp sẵn, trước có áo vạt hò, áo may theo kiểu Quảng Đông, Tây qua đây, thầy thông, ký lục mặc áo Bành tô, bọn dọn ăn nấu bếp, không gài nút và bày ra mốt “áo thả ngực”, khoe dây nịt nỉ đen cao một gang tay, mặc Âu phục nguyên bộ, áo vải bố sáu nút ngà, rồi bốn nút xa cừ, rồi ba nút gọi u ue (ouvert), hai nút, một nút, nhưng khi gài khi mở nút, mũ cánh chuồn, vua mất ngôi, mũ cánh chuồn đã lỗi thời, trong nầy nón rơm Panama, nón ni đen hiệu Tournier, rồi đổi hiệu Fléchet, và Borsalino, từ kháng chiến, mũ và nón đắt tiền đều thay thế bằng chiếc cát kết thợ thuyền, chằm vá nhiều màu, áo cụt tay rồi áo sơ mi bỏ ngoài quần vạt ngắn vạt dài, phụ nữ bỏ áo dài, bỏ áo vá quàn, mốt Lơ mia (Le Mut) quần áo một màu, quần thêm may ren, xưa ky mặc quần trắng, nay quần đã trắng thêm rất mỏng, xưa có áo nịt, kín đáo, nay bắt chước đầm dùng vải che nhũ hoa, nhũ hoa vun quá vun thì cót xê tém vào, nhũ hoa xẹp lép thì cót xê dộn thêm một lớp cao su cho khiêu gợi, chị nào tốt phước, nhũ hoa như của đào chớp bóng Marilyn Monroe, thôi thì trở lại diễn như xưa, xưa gánh bầu Ninh, đêm thứ bảy, để dụ khách đến xem, thường rao tuồng: “đêm nay có đánh đồ thiệt”, tức thí võ với đao kiểm sắt bén và cây chĩa ba nhọn lễu, và thời còn thuộc Pháp, các cô ăn sướng có ngực đẩy đà, thường để ngực trần, bất chấp cọt xê, vừa khiêu chiến vừa mời mọc, còn loại có nhũ hoa dài như trái mướp, ngồi chơi tứ sắc, đứa con đòi bú, thì kéo vú ra sau lưng, đến khi trở về già, khi giã gạo thì nhốt vào lưng quần cho gọn.

Vương Hồng Sển vẽ bởi con trai ông: Vương Hồng Bảo

Nói chi thì nói, phải nhìn nhận dân Sài Gòn vẫn có bản lĩnh, – nước dưới sông thấy đó mà chặt không đứt, bứt không rời, trải mấy trào liên tiếp, mà dân vẫn là dân, cảnh có đổi mà dân không đổi, và tố nào theo tố nấy, hết trắc, cẩm lai, thì còn gỗ đen gõ đỏ, bằng lăng, thao lao qua vên vên, vấn xoài vấn điệp, hết cạn tất cả thì lấy vẹt ni phết vào ván tạp, tha hồ vẽ, giả làm danh mộc dễ dàng, nhà có tiền, không còn hòm cây trai thì có hòm giáng hương, hòm Tobia, hòm hãng Vạn Thọ, không cho đất chôn thì hỏa táng cũng xong.

Anh Phạm Văn Tươi, làm chủ một nhà cắt may có danh, anh mở thêm một nhà bán sách, ngày nay loại “sách học làm người” của anh, còn có người sưu tầm.

Tôi viết đến đây đã thấm mệt, cũng không dám kết luận, thế giới đang biến chuyển, vừa rồi có tin xứ Iran, động đất chết số vạn, lụt nơi đất cao nguyên, đất lỡ, đất chuồi, gấm lại nếu biết khôn, tưởng ở cho có đức là hơn, và ngậm ngùi nhớ đến bà nhạc mẫu, chôn nơi đất thánh họ Tần Định, nghĩa địa nẩy ngày nay là xóm phố mới nơi phía sau rạp chớp bóng đường Nguyễn Trọng Luyến, tôi không gặp lại cô

Tuyết, và không rõ cô có kịp thời cải táng cho bà nhạc cũ của tôi chăng? Nhớ câu: “Ai ơi! Chồng dữ thì lo, mẹ chồng mà dữ mổ bò ăn khao”.

Bà không dữ với tôi, mà câu ca dao viết như lạc đề. Mộng Trang Châu là đúng. Bá niên trường thọ, đời nay thường chúc tụng, gẫm lại là bất hạp thời. Phải biết nhường chỗ cho cháu con tấn lên mới sáng suốt.

Nhơn đọc bài Pháp văn “Comment on vivait à Paris sous l’Empire” của Louis Madelin (Nistorama số 250 tháng 9 năm 1972, hưởng ứng mà viết bài nầy).

(Viết ngày 22-6-1990)

*Hồng ốc: bản thảo tác giả viết là Hồng ốc hay Ổng ốc không rõ


 

Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên  

Post by Sơn râu 8 Nov 2025

Chương 5

Chúng tôi lại trở về địa điểm mà chúng tôi tạm trú khi mới đến, và mỗi người cố tìm giấc ngủ ngon. Sung sướng thay cho những người vô tư lự! Những người khác, bị khích động, đi lui đi tới trong các hành lang, hành hạ đầu óc mình để trừ tuyệt phương thuốc chưa nỗi lo âu. Chắc chắn là chúng tôi khỏe mạnh hơn tuần trước. Nhà tù và xà lim đã bị quên lãng và hồi sáng, trong khi bị lục soát, chúng tôi dấu được dụng cụ. Nhưng tại sao trên tấm thiếp hình ảnh mà chúng tôi có thể gởi cho gia đình bạn bè lại có một câu tiêu chuẩn rất lạ: “Hãy đợi địa chỉ mới rồi mới nên trả lời”, Tại sao lại có sự bí ẩn ấy? Tại sao lại dấu không cho chúng tôi biết nơi đến của chúng tôi?

Đại diện Hồng Thập Tự đã nói rõ rằng chúng tôi sắp đi về miền Weimar 1 và đó là một trại tập trung có tên Buchenwald. Đối với phần đông, tên trại nầy có vẻ xa lạ, nhưng nó nhắc nhở cho chính tôi một kỷ niệm nào đó. Trong những năm tiếp theo sự đăng quang của Hitler, ở Ba-lê có xuất hiện một nguyệt san do ủy ban Thaelmann xuất bản – một tổ chức chống phát xít được sáng lập sau khi đảng Quốc Xã lên cầm quyền, nhằm mục đích giúp đỡ các người tỵ nạn chính trị. Nhiều lần tôi đọc trong tạp chí đó các thiên phóng sự về các “Koncentrations lager” (trại tập trung) nổi danh và đặc biệt là về trại tập trung Buchenwald, Dachau, và Oranienbourg, ba trại nổi danh nhất, và tôi còn nhớ lại các cuộc tra tấn giáng cho các người đối lập cứng đầu đối với chế độ mới. Vết đốt cháy trên vú một phụ nữ bằng đèn cầy, đã làm tôi đặc biệt lưu ý.

Thời đó, có mấy ai lưu ý đến nỗi khổ đau của những người bị giam trong các trại tập trung đó đâu, và tuy nhiên không ai có thể trách họ ở xa chúng tôi quá, giống như hàng ngàn người chết đói hay chết vì bão lụt ở Ấn Độ hay ở Trung Hoa, những sự kiện như vậy chỉ chiếm năm hay sáu giòng trên mặt nhật báo.

Có thể nào chúng tôi lại sắp đi đến các trại tập trung đó không? Câu hỏi nầy đặt ra và luôn luôn kéo theo câu trả lời: Không! Những trại ấy chắc phải đầy dân Đức, nghĩa là kể cả người Áo, Tiệp Khắc, Do Thái ngay cả Ba Lan và người Nga nữa, nhưng người Pháp thì không! Trước hết, người Đức không bao giờ bỏ qua phẩm chất nhân lực Pháp, mặt khác chúng tôi vừa chịu đựng đầy ải trong các nhà lao và điều đó đã thể hiện hình phạt thật sự rồi. Chắc chắn là chúng tôi sẽ bị canh giữ và bị canh giữ kỹ hơn là các công nhân tự do, nhưng dần dần sự canh giữ sẽ được nới lỏng và chúng tôi sẽ trở thành những người dân sự với tất cả những gì dễ dãi mà một thường dân được hưởng.

Và rồi, chúng tôi vẫn chưa ở trên đất Đức. Từ đây đến biên giới nhiều chuyện có thể xảy ra.

Đây là những suy tư của chúng tôi vào đêm trước ngày khởi hành. Chuyện lạ lùng, không một ai, kể cả những người kỳ cựu trong trại, có thể cung cấp bất cứ tin tức gì về số phận của các chuyến công-voa trước và về cách du hành của những người đi trước chúng tôi, nhận xét nầy được nhiều người chia xẻ. Mỗi toa sẽ chứa năm mươi người, một người đoán; bảy mươi, người khác nói. Tôi là người thứ ba, tôi có nghe nói đã từng xẩy ra trường hợp một toa chất một trăm mạng. Các lời tuyên bố ấy đều là phỏng đoán không có gì chắc chắn, nhưng mọi người đều cười chế nhạo trước con số sau cùng, và một người trong bọn tôi còn nói:

– Không nên nói quá lố chớ; đồng ý, họ chẳng thương gì chúng ta, nhưng họ cần chúng ta làm việc, họ không thể nhét một trăm người chúng ta vào một toa. Người ta sẽ bị ngộp thở, hoặc giả là họ đã mang chúng ta ra bắn bỏ trước còn hơn. Tại sao họ lại bận tâm đến chúng ta?

Những lời vừa rồi có vẻ là hợp lý. Nhưng không họp lý đối với Ramelin, vẻ người khổ hạnh, con người đấu tranh toàn diện và kiểu mẫu, cả con người anh là tượng trưng cho hành động.

– Không đâu các anh ơi – anh ta rống lên trong phòng, quên mất cả sự thận trọng sơ đẳng – bọn phát xít có thể làm mọi chuyện lắm, – họ không đối xử đặc biệt gì với chúng ta đâu. Phải làm tất cả mọi cách để tẩu thoát trước khi đến biên giới. Chúng ta luôn luôn ở trong tình trạng chiến đấu và một khi đến Đức rồi, thì chỉ còn là việc khổ sai hay là chết.

Quì gối trên đệm rơm dùng làm giường ngủ, anh nói trong bóng tối của căn phòng, người ta chỉ có thể thấy cặp mắt sáng nhấp nháy của anh. Lời nói của anh như quất vào chúng tôi và nhóm nhỏ của chúng tôi thì sẵn sàng, nhưng tất cả những người còn lại thì chờ xem có bao nhiêu người trong một toa.

Vào lúc 4 giờ sáng, các hồi còi đinh tai đánh thức chúng tôi. Luôn luôn giờ nầy là giờ ngủ ngon nhất.

Sau khi mỗi người nhận một mẩu bánh mì và một miếng xúc xích, người ta báo cho chúng tôi biết là sự rộng rãi ấy tượng trưng cho đồ ăn dành cho suốt chuyến đi, đoạn xếp hàng 5, tiến bước!

Ánh bình minh bắt đầu ló dạng, một đội hộ tống canh kỹ chúng tôi và lần nầy khoảng cách giữa hai người lính chỉ còn lại 2 thước. Vì lẽ chúng tôi được nhóm 50 người một, lập tức một ý tưởng đến với chúng tôi là mỗi nhóm sẵn sàng lên một toa. Chúng tôi đi qua các con đường bên ngoài. Tự nhiên, chúng tôi đưa mắt nhìn lên các cửa sổ. Sao nhưng cánh màn kia, người ta còn ngủ say, dám có kẻ đang ân ái với nhau nữa. Không ai nhìn thấy chúng tôi. Và suy cho cùng, 2500 người là cái nghĩa lý gì trong khi hàng ngày hàng ngàn người gục ngã… A! Dầu vậy, bên cạnh cầu sông Oise, một nhóm phụ nữ bị giữ cách một quãng xa bởi một hàng lính đi mô tô, đang đứng khóc và vẫy tay với chúng tôi.

Nhà ga đây rồi!… Mọi người đều nhìn về phía trước như đang thử nhìn một cái gì. Rồi đến lượt nhóm chúng tôi…

– Nào mau lên các ngài.

Thật chói tai kinh khủng khi nghe một tên Đức nói tiếng Pháp. Và đó là những tên lính được phép nói tiếng Pháp sau một cuộc thử thách nghiêm ngặt, và đã phải trải qua một kỳ thi. Ai nấy hấp tấp trèo lên. Những chỗ tốt trên một toa xe chở hàng thật hiếm, trong một toa chỉ có hai lỗ thông hơi và một nữa lỗ lại bịt bằng thép gai đan kín.

– Ồ! 50 người được rồi, đừng nói gì nữa!

– Sao, các ông cũng lên nữa sao?

– Ê lầm rồi! Ở đây đã có 50 mạng rồi!

Các câu hỏi, câu phát biểu đó được dành cho toán 50 người đi sau, những vô ích.

“Los” (đi đi)! nhiều tên lính quát tháo vừa xô đẩy 50 người kế tiếp và một tên kéo cánh cửa dữ dội phát ra tiếng kêu như sấm. Chúng tôi cả thẩy là 100 lóp ngóp trông như chuột.

Lúc cánh cửa đóng ập lại, nhiều ảo tưởng đã tan biến và nhiều người sẵn sàng từ bỏ thái độ ngần ngại. Tất cả từ kẻ đa nghi, lạc quan, hèn hạ, cho đến can đảm tất cả chúng tôi nhìn nhau sững sờ và trong ánh mắt, một tia khiếp đảm thoáng qua.

Đúng, quả thật Hamelin có lý khi báo trước với chúng tôi, quân Đức có thể làm mọi chuyện, than vãn không giúp ích được gì cả. Nhưng mà tình trạng còn ở dưới mức mà mỗi người trong chúng tôi gọi là tối thiểu. Căn xà lim ở Montluc chứa tới sáu người đối với chúng tôi nay là một tình trạng tuyệt đẹp. Nơi đó chúng tôi có thể ngồi, nằm; ở đây không thể nào tìm được một vị thế thoải mái. Và còn với hành lý nữa, những cụ già, làm sao đây? Ngay cả chuyện đi lại, gục ngã hay nói một câu “ông cóc cần” cũng không thể làm được. Không thể được bởi vì anh đang bị đạp, bị nghiền nát bởi một rừng chân, tay, thân người. Cùng với Hubert và Pierre chúng tôi đứng gần được một lỗ thông hơi. Ramelin và Michael ở cuối toa và qua tiếng la và cử động họ có thử tìm cách đến với chúng tôi, qua một cuộc hỗn chiến. Trong khi đó ở hai đầu toa, chúng tôi có thể lờ mờ trông thấy nhau, nhưng ở giữa toa thì tối mịt. Một người khốn khổ nào bị dồn vào đó sẽ thiếu không khí để thở và còn phải chịu đựng hai thùng vệ sinh đã được sử dụng đến rồi.

Chuyến tàu chỉ khởi chạy lúc 1 giờ trưa. Vậy là chúng tôi bị đưa lên đây đã sáu tiếng đồng hồ và đã có người bị ngộp thở. Tất cả mọi người bị ghi tên, đau ốm hay khỏe mạnh đều phải ra đi.

Vì ai cũng kiếm chỗ tốt, mỗi người chúng tôi làm những kẻ đứng bên cạnh khó chịu. Chúng tôi quyết định ai bị đau thì có quyền đến gần lỗ thông hơi một chốc. Người đau thì rất đông và lập tức cãi lộn xẩy ra để tranh nhau đến gần lỗ thông hơi. May thay, khối lượng niềm hy vọng nơi con người không bao giờ cạn.

“Họ không thể nào để chúng ta trong nầy quá 24 giờ”, người bi quan nhất có nhận định như vậy, và vì nhận định đó chấp nhận được, yên lặng bình tĩnh lại được tái lập phần nào. Cũng có quyết định theo đó cho đến tối, một nửa sẽ đứng, một nửa ngồi và mỗi người bắt đầu ăn. Thật kinh khủng khi thấy, bất chấp mọi sự, một vài người ăn rất ngon miệng. Tuồng như họ có vẻ tống đồ ăn vào mồm.

Một trong những người ngồi trên thùng tiêu – vì như vậy là tiết kiệm được một chỗ – phải đứng dậy một cách máy móc để cho một người khác cần xử dụng để giải quyết nhu cầu, nhưng mặc kệ tiếng động và hương vị bốc lên, ông ta tiếp tục nhai ngon lành.

Ánh sáng giảm bớt dần, và đêm bắt đầu. Mỗi người lại tìm thế thoải mái nhất, và lộn xộn lại trở lại, nhưng đột nhiên ngừng hẳn, mệt mỏi và một vài kẻ bị ngạt thở, im lặng bao trùm tất cả. Tứ chi của con người có sức thích ứng đối với mọi hoàn cảnh và không có gì phức tạp hơn cảnh sống mà chúng tôi đang chịu đựng. Người ta nghe tiếng chửi thề giận dữ rõ mồn một, tiếng rên rỉ của người bị ngộp hay tiếng la đau đớn của một người có chân bị dẫm, nhưng không ai chú ý vì mỗi người đều có niềm ưu tư riêng biệt.

Trong suốt buổi chiều, Ramelin đã chú ý đến một góc, chỗ đó vách ván đã bị mòn mục dễ đâm thủng để tạo một lỗ hổng phôi thai. Chúng tôi thấy cả năm người phải nhóm lại với nhau để có thể luân phiên làm việc, nhưng không ngờ có đông người quá, nhất là lúc mới trèo lên toa xe, việc đầu tiên là mỗi người kiếm một chỗ kha khá. Kế hoạch của chúng tôi bị sụp đổ vì không thể nào xê dịch trên đám thập cẩm người nầy được. Hợn nữa, chúng tôi chỉ là một thiểu số muốn chấp nhận rủi ro với một cuộc vượt thoát. Nếu trừ ra số người què quặt, người đau ốm, người tiêu cực, nhát gan, số còn lại không có bao nhiêu cả. Và khi Ramelin cao giọng báo cho chúng tôi biết là anh cứ thử đục một lỗ với sự phụ lực của Michael, thì một tiếng thét, không giống là của con người nữa, có ý định ngăn cản anh. Đó là một người ở giữa toa từ lâu không ngớt theo dõi các hoạt động của chúng tôi. Như có vẻ muốn đe dọa, giọng ông ta run rẩy người ông ta ướt đẫm mồ hôi:

– Họ sẽ bắn vào cả đám! Họ đã báo trước rồi mà! Đến trại rồi các anh hãy trốn.

Nhiều người ủng hộ ông ta; thế rồi mọi người nhất tề phản đối:

– Đúng, đúng, bây giờ thì khá rồi, đừng sinh chuyện nữa!

A! vấn đề “đừng sinh chuyện” nầy là cả một chương trình, một chính sách đã trở về với trí nhớ. Trong lúc đó, chúng tôi vượt qua biên giới rồi, Ramelin vẫn tiếp tực và đã đục thủng đây đó. Một chút cố gắng nữa và cả một miếng ván bật tung, đúng lúc đó, nhiều tiếng súng nổ vang dội và qua lỗ thông hơi, chúng tôi thấy ánh đèn pha dường như được đặt ở toa cuối. Con tàu chậm lại và ngừng hẳn.

Chuyện gì đã xảy ra? có chuyện gì vậy?

Tất cả mọi người thức dậy, lo lắng tự hỏi. Cổ họng thắt lại, chúng tôi nghe nhiều tiếng Đức la hét, cửa một toa được mở ra rồi đóng lại cuối cùng cửa toa chúng tôi mở tang và đi đầu cả một nhóm lính gát, tên biết nói tiếng Pháp ra lệnh chúng tôi dồn lại để y đếm.

 Từ trên sân ga, ra vẻ đe dọa bằng các báng súng lục, những tên khác hét lên như chó điên. Mặc dù tình trạng lúc đó có vẻ bi đát, hình ảnh của một cuộc tấn công đoàn tầu bởi một bộ lạc da đỏ thoáng hiện trong trí tôi.

Viên chỉ huy đoàn công-voa trèo lên đứng gần cửa và bắt đầu đếm:

– 5, 10, 15, 60, 90, 100, “Stimmi!” (Được rồi! ), – y nói với vẻ diễu cợt. – Và bây giờ lột giày ra, mau lên! mau lên! Phải lột bỏ hết giày và ném xuống sân ga.

Chúng tôi độ mười người không chịu cởi giày, có lẽ vì đã phần nào hiểu chúng, bọn Đức. Chúng rống lên, đe dọa và thử tạo một tình trạng khiếp đảm mà chúng sẽ lợi dụng ngay, Khi quan sát chúng trong những lúc đó, người ta có cảm tưởng rõ rệt đối diện với đám người man rợ Trung Phi, nhưng là đám người man rợ da trắng mắt xanh.

– Chấm dứt cởi giày, bây giờ cởi đồng hồ ra! Những ai có đồng hồ, bước tới!

Một rừng tay đưa lên mời đón và tên hạ sĩ quan bắt đầu gặt hái. Đó là mối lợi của tình trạng khiếp đảm và sợ hãi đang ngự trị trong toa xe. Nhưng biết làm sao được? Một chiếc đồng hồ không đáng kể gì khi người ta biết là mình có thể bị bắn bỏ một cách giản dị và bất cứ lúc nào. Cửa đóng lại, và chúng tôi nghe chúng đóng đinh trên ván. Tất cả mọi chuyện xẩy ra không đầy mười lăm phút. Hành vi tương tự cũng được thực hiện ở các toa sau. Lúc đó chúng tôi biết là đã có các vụ trốn thoát hay ít ra cũng là các dự định trốn thoát,

Vài giờ sau biến cố đó, chúng tôi vượt qua Metz với tốc độ chậm. May mắn sau cùng của chúng tôi tan biến.

Buổi sáng ngày thứ hai chúng tôi co quắp khắp phía. Bên trên chúng tôi, lủng lẳng nào là túi dết, nào xắc, áo choàng ngoài, móc trên vách ván bằng đủ mọi cách. Không khí hôi thối và hình như đã có một hàm răng khổng lồ nghiền nát và xáo trộn chúng tôi. Cùng với ánh sáng ban ngày đến, bắt đầu có tiếng la hét, cãi cọ, bởi vì tất cả chúng tôi đều đau đớn và cố vươn vai duỗi mình để chiếm cho được một vị trí thích đáng hơn cho suốt ngày. Buổi sáng đã trôi qua khi con tàu dừng lại một lần nữa. Chúng tôi đang ở Trèves và trong một nhà ga đổi hướng tàu. “Phải xuống ở đây, chịu không nổi nữa” một người nói. Có vụ xuống ga thật nhưng phải leo trở lên sau 10 phút. Mục đích là để phân phát xúp lúa mạch trong các tô mà chỉ có dân Đức mới sản xuất được. Trên sân ga đầy nghẹt hiến binh và tên đến mở cửa toa đã phải lùi lại tức thắc, tay bịt mũi. Hai thùng vệ sinh đã đầy lưng chừng, nhưng chúng từ chối không cho mang đi đổ và rửa, có lẽ là vì các thường dân đang nhìn chúng tôi. Những em bé nắm tay lại đe dọa chúng tôi, liệng sỏi về phía chúng tôi. Phải trở lại với thực tế, chúng tôi chưa đến nơi và nếu chúng phát súp, tức là còn một đoạn đường nữa. Tuy nhiên chúng tôi nghĩ rằng tối nay hay sáng mai sẽ đến nơi. Và ngày thứ hai chấm dứt với hy vọng ấy.

Nhưng nếu bữa súp sáng giúp chúng tôi phần nào nhẹ mình vì đỡ khát, cơn khát trở lại rất mau và tấn công một cách hung dữ, bởi vì chúng tôi chấm dứt ngày thứ hai trong tình trạng cơ thể khô hết nước, và một vài người trong chúng tôi bắt đầu nói lảm nhảm.

Một tên đồng tính luyến ái cặp bồ với một viên Thiếu tá Lục quân Đức, rú lên như bị hiếp. Không ai đụng đến hắn, nhưng bị kích thích bởi hoàn cảnh, hắn muốn được qua tay một tên bạo dâm tưởng tượng. Trong các chuyến công-voa có đủ hạng người như thế, và đó là một phương pháp cổ điển của bọn Gestapo, để dẻ và khăn mặt trong cùng một hộc tủ.

Một người bán bơ người vùng Normandie, lập đi lập lại không ngừng. “Đến đây chúng mình uống một cái đờ mi đi”. Người bạn của ông ta muốn lái câu chuyện qua hướng khác nhưng ông ta cứ nói “Coi, đến đây tại sao anh không đến?”, ông ta đã điên thật sự.

Cơn khát đã rõ ràng chế ngự mọi loại lo âu khác. Mùi hôi thúi, tay chân đau đớn, và tương lai vô định, đều không quan trọng, một tư tưởng cố định ngự trị như chủ nhân ông: “uống”. Nhưng làm thế nào trong tình trạng vô phương nầy?

Một kỹ sư tại Rouen đã uống nước tiểu của mình, nhưng ông ta báo trước cho chúng tôi bằng giọng hổn hển: “Đừng, đừng, đừng có uống, hôi lắm, mặn lắm, uống vào lại khát thêm”. Ông ta biết rõ là mặn nhưng không tự kềm chế nổi. Phải uống bằng mọi giá. Phải chăng là để tránh một cuộc giết nhau giữa chúng tôi? Đã có những cú đấm trao đổi vì những lý do không đáng kể và người yếu nhất đã không còn hơi sức để rên nữa. Trong suốt đêm thứ nhì, một vài người trong chúng tôi phải canh chừng. May thay cơn mệt mỏi đã giúp chúng tôi và bình minh một buổi sáng thứ ba chiếu sáng dần toa xe, nhưng ánh sáng lại cho thấy một quang cảnh đáng buồn hơn hôm trước. Đêm thứ nhì đã trôi qua như một chiếc xe lăn đường ép lên chúng tôi. Những cái đầu không còn ra đáng người ló ra khỏi một mớ hỗn độn rối rên và nhiều cẳng chân để trong vũng nước hôi thối, hậu quả của một tai nạn xảy ra trong đêm làm đổ một thùng phân đầy tràn, và cũng giống như các hôm trước, tiếng la hét trở lại cùng với lời lăng nhục, đe dọa, và sẵn sàng đánh nhau. Một dấu hiệu khởi đầu của một cơn điên loạn tập thể đã làm óc não bừng bừng và con người không thể nào còn giữ được bình tĩnh nữa. Những người còn làm chủ được mình, là những người đau đớn hơn hết khi trông thấy tình cảnh đó.

Cơn khát đã tha tôi mà chúng tôi cũng không biết do một sự ngẫu nhiên tốt phước nào bây giờ đây lại xâm chiếm lấy tôi. Tôi tin rằng chính lúc đó tôi đã thực sự lướt qua biên giới phân cách giữa con người và con vật.

Buổi chiều, một cơn mưa đã kéo dài nhiều giờ. Chúng tôi đã rình từ tối hôm trước bầu trời xám xịt, và lại là cả một cuộc chiến đấu để liếm những giọt nước nhỏ rơi từ lỗ thông hơi. Lúc đó mặc dầu bên ngoài trời giá buốt, mọi người cởi áo choàng, áo len và có người cởi trần truồng. Mồ hôi nhầy nhụa tươm khắp nơi trên thân thể. Chúng tôi là những thây ma còn sống chờ đợi được cứu vớt một cách tuyệt vọng.

Chính trong đêm thứ ba, tình trạng mới thật sự bi đát. Người luôn miệng đòi uống một ly đờ mi đã chết và người bạn cố giữ thây ông ta ở chỗ ngồi để khỏi bị dẫm nát. Tại các chỗ khác trong toa, nhiều kẻ bị đầy đọa khác cũng trút hơi thở cuối cùng, và mùi tử khí cùng trộn lẫn với mùi phân và nước tiểu đã làm cho không khí không còn thở được nữa..

Từ lỗ thông hơi đằng kia Michael đã có thể nói chuyện được với một tên lính trên sân ga.

– Tối nay các anh sẽ đến nơi, – y nói với Michael, các anh sẽ thấy một “Erholungshelm” (dưỡng đường) thật sự.

Y nói danh từ nầy với một nụ cười tinh quái.

Đêm thứ ba đến, chúng tôi đã có 6 chết, một tá nổi điên và số còn lại không còn giống con người nữa. Con tàu lại dừng nhiều lần và hình như để sắp xếp các toa. Thình lình nó dừng lại đột ngột và tất cả các cửa được mở ra cùng một lúc. Nhiều tiếng la, tiếng hú, tiếng chó sủa và nhiều ánh đèn pha rọi trên sân chờ đón chúng tôi. Xa xa, những cây đèn đường cách quãng đều nhau cho thấy các hàng cọc chăng dây kẽm gai. Hình ảnh chập chờn như ảo tưởng. Từ hơn 60 giờ đồng hồ trôi qua chúng tôi bị dồn đống như đồ hộp và bây giờ phải nhảy xuống thật mau. A! Những người khốn khổ còn đang tìm hành lý. Những tên SS, thật sự SS những tên làm việc trong các trại tập trung đã nhảy lên và dáng các báng súng, trong đêm tối, lên đầu, bụng, ngực, và trên cả các xác chết nữa. Ánh sáng đèn pha chiếu ngắt quãng quang cảnh nầy Tôi đã nhảy xuống từ lâu và đứng vào hàng, vì chúng tôi phải sắp hàng năm. Một thứ bùn lạnh buốt và tuyết, chờ đón chân không mang giày của chúng tôi. Bọn SS bắt chúng tôi rảo bước đi tới, và những người vì quá yếu đuối và mệt mỏi không theo kịp sẽ có báng súng và chó săn sẵn sàng tiếp sức. Chúng tôi đi tới trước, gần như chạy cho đến một cánh cửa sắt lớn hiện ra trước những cặp mắt kinh ngạc của chúng tôi, cửa mở cho đoàn đầu tiên tiến vào và mỗi bên lính SS và các tên cai tù nhưng không còn mặc đồng phục nữa, đếm chúng tôi đi qua một cách say sưa. Đúng lúc sắp bước vào, tôi còn có thì giờ để chú ý và dịch một câu viết trên cửa

“Mầy vào đây để làm việc và chết”.

——————————–

1Weimar = Khu vực kỹ nghệ ở miền đông nước Đức.

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 8 Nov 2025

Bài 27 – Nhà giam cấm cố (tt)

Chầm chậm, rất chậm, những giờ, những ngày, những tuần, những tháng trôi qua. Rồi đến một lúc nào đó, tỉnh lại thấy mình đã ở đây được gần một năm. 
Đúng mười một tháng và hai mươi ngày tôi chưa được nói chuyện với ai hơn bôn mươi giây, mà cũng chỉ nói nhát gừng, và nói thầm thì, chứ không thành tiếng. Tuy vậy có một hôm tôi cũng đã dự một cuộc đối thoại to tiếng. Hôm ấy tôi bị cảm và ho nhiều. Nghĩ rằng như vậy cũng đủ để xin đi khám, tôi liền báo cáo ốm. Bác sĩ đã đến. Trước sự kinh ngạc của tôi, cái ghi-sê mở ra. Trong cái khung hẹp ấy thấy hiện ra một cái đầu.
– Anh làm sao? Anh đau gì? Phế quản à? Quay lưng lại. Ho đi. 
Kìa, sao lạ thế nhỉ. Người ta đùa chăng? Thế nhưng đó lại là sự thật một trăm phần trăm. Một ông thầy thuốc xứ thuộc địa đã đến chẩn bệnh qua một cái ghi-sê, bảo tôi quay lưng lại đứng cách cánh cửa một mét, và ghé tai vào lỗ để nghe phổi tôi. Rồi ông ta lại nói: “Thò tay ra. Tôi toan làm theo như cái máy, thì do một thứ tự trọng nào đấy, tôi nói với cái ông thầy thuốc quái dị này: “Cám ơn bác sĩ, phiền bác sĩ quá nhỉ. Thôi không cần. Chẳng ích gì đâu. ít nhất tôi cũng có đủ bản lĩnh để tỏ ra cho hắn hiểu rằng tôi không tưởng lầm là cái kiểu chẩn bệnh của hắn có chút gì nghiêm chỉnh. 
– Tùy anh, – hắn đã có đủ vô liêm sỉ để trả lời như vậy. Rồi bỏ đi. Cũng may, vì chỉ chút nữa tôi đã nổ tung ra vì phẫn nộ.. 
Một, hai, ba, bốn, năm, đằng sau quay. Một, hai, ba, bốn, năm, đằng sau quay. Tôi đi đi lại lại, đi đi lại lại mãi, không mỏi mệt, không dừng lại, và hôm nay tôi đi đi lại lại một cách giận dữ, hai chân tôi căng thẳng chứ không buông lơi một cách thư thái như thường lệ. Dường như sau sự việc vừa xảy ra, tôi cần phải xéo nát một cái gì. Chân tôi thì có thể giẫm lên cái gì? 
Dưới chân tôi chỉ có xi-măng. Không, tôi giẫm lên rất nhiều thứ trong khi đi như vậy. Tôi giẫm lên sự hèn hạ của tên bác sĩ đã cam tâm chịu chiều theo ý Ban Quản trị để làm những việc tởm lợm như vậy. Tôi giẫm lên thái độ dửng dưng của một tầng lớp người trước sự đau khổ của một tầng lớp người khác. Tôi giẫm lên sự ngu dốt của dân tộc Pháp không hề quan tâm, không hề tò mò muốn biết những đồng bào của họ cứ hai năm lại được lùa lên tàu như những bầy gia súc qua Saint- Martin-de-Ré là để đi đến đâu và được đối xử như thế nào. Tôi giẫm lên các phóng viên của các báo chí cánh tả, sau khi viết những bài báo chua ngoa về một con người đã phạm tội nào đấy thì chỉ mấy tháng sau là đã không còn nhớ rằng trên đời có một người như thế. Tôi giẫm lên bọn linh mục công giáo đã nghe các phạm nhân xưng tội, biết rất rõ những gì đang diễn ra ở trại khổ sai của Pháp mà vẫn im hơi lặng tiếng. Tôi giẫm lên một hệ thống xử án biến việc cân nhắc công bằng thành một cuộc đấu khẩu giữa kẻ buộc bội và kẻ bào chữa. 
Tôi giẫm lên tổ chức Liên minh Nhân quyền và Dân quyền không hề lên tiếng để nói: Hãy chặn đứng cái máy chém khô của các người lại, hãy hủy diệt cái tâm lý xa-đích tập thể đang hoành hành trong giới viên chức Hành chính. Tôi giẫm lên cái tình trạng tệ mạt là không có một tổ chức hay hiệp hội nào chất vấn những kẻ có trách nhiệm về hệ thống xử án này để hỏi họ xem tại sao và làm thế nào mà trại khổ sai cứ hai năm lại chết mất tám mươi phần trăm dân số của nó. Tôi giẫm lên những tờ giấy báo tử của tổ chức y tế nhà nước: tự tử, suy dinh dưỡng, suy nhược toàn thân, hoại huyết, ho lao, điên loạn, dở hơi. Tôi còn biết tôi đang giẫm lên những gì nữa? Nhưng dù sao, sau sự việc đã xảy ra, tôi không còn đi bình thường nữa, cứ mỗi bước tôi lại xéo nát một cái gì. 

Một, hai, ba, bốn, năm,… và những giờ phút chảy qua chầm chậm làm cho cuộc nổi loạn thầm lặng của tôi lắng dần vì mệt mỏi. Còn mười ngày nữa tôi sẽ qua được một nửa thời hạn cấm cố. Đây quả là một kỷ niệm rất đáng ăn mừng, vì nếu không kể cái bệnh cảm khá nặng kia, sức khỏe tôi vẫn tốt. Tôi vẫn không điên, mà cũng chưa bước vào quá trình trở thành điên. Tôi tin chắc, thậm chí chắc một trăm phần trăm là sẽ ra khỏi chốn này khỏe mạnh về thể chất và tinh thần khi cái năm đang sắp bắt đầu sẽ hết. 
Tôi sực tỉnh vì ngoài kia có tiếng nói rì rầm. 
– Hắn đã chết khô từ bao giờ ấy. Durand ạ. Sao, ban nãy anh không nhận thấy à? 
– Thưa sếp tôi không biết ạ. Vì hắn treo cổ trong góc tường phía lối đi tuần cho nên tôi đi qua nhiều lần mà không trông thấy. 
– Cái đó không quan trọng, nhưng phải thú nhận rằng anh không trông thấy hắn là phi lô-gíc. 
Người bị giam ở buồng bên trái đã tự tử. 
Đó là điều mà tôi đã hiểu ra, họ đến khiêng hắn đi. Cánh cửa khép lại. Nội quy đã được tuân thủ một cách nghiêm chỉnh vì cánh cửa ấy đã được mở ra và đóng lại trước mắt một “cấp trên” là viên giám đốc của nhà giam cấm cố mà tôi đã nhận ra giọng nói. Đó là người thứ năm đã chết trong các buồng giam ở quanh tôi trong vòng mười tuần. 
Ngày kỷ niệm một năm cấm cố đã đến. Trong cái bô tôi thấy có một hộp sữa đặc Nestlé. Đó là một cử chỉ điên rồ của các bạn tôi. Họ đã tìm mua hộp sữa này với một giá đắt không thể tưởng tượng nổi và đã liều lĩnh gửi nó cho tôi. Dù sao tôi cũng đã có được một ngày đắc thắng trước sự tàn nhẫn của số phận. Cho nên tôi tự hứa là không bay đi đâu cả. Tôi đang ở nhà giam cấm cố. Một năm đã qua từ khi tôi đến đây, thế mà tôi vẫn tự cảm thấy đủ sức để lên đường vượt ngục ngày mai nếu có cơ hội. Bản tổng kết như vậy là tích cực, và tôi tự hào về nó. 
Thông qua người quét hành lang buổi trưa, tôi nhận được mấy chữ của các bạn (đó là một việc khác thường): “Can đảm lên. Chỉ còn một năm nửa thôi. chúng tôi biết cậu vẫn khỏe. Chúng tôi cũng bình thường, yên ổn. Chúng tôi hôn cậu. Louis, Ignace. Nếu tiện, cậu gửi cho chúng tôi mấy chữ, đưa ngay cho người đã trao cậu mảnh giấy này”. 
Trên mảnh giấy trắng gửi kèm theo bức thư tôi viết: “Cám ơn về tất cả. Tôi khỏe mạnh, và nhờ các cậu tôi hy vọng vẫn sẽ như thế này sau một năm. Có thể cho tôi biết tin Clousiot, Maturette không?” Quả nhiên một lúc sau người quét hành lang trở lại, cào vào cửa tôi. Tội vội vàng nhét mảnh giấy dưới cửa, nó biến ngay. Suốt ngày hôm ấy và một phần đêm ấy, tôi ở lại trên mặt đất, trong cái trạng thái mà tôi đã mấy lần tự hứa là sẽ giữ. Một năm nữa tôi sẽ được đưa về một trong hai đảo. Royale hay Saint-Joseph? Tôi sẽ nói chuyện, hút thuốc đến đã đời thì thôi, và lập tức sẽ chuẩn bị vượt ngục. 
Hôm sau tôi bước vào ngày thứ nhất trong số ba trăm sáu mươi lăm ngày còn lại, lòng vững tin vào số phận của mình. Tám tháng tiếp theo, mọi sự đã trôi qua đúng như tôi dự kiến. Nhưng đến tháng thứ chín thì tình hình trở nên nghiêm trọng. Sáng hôm ấy, đến giờ để bô, người đưa dừa bị bắt quả tang vào lúc đẩy cái bô vào buồng tôi, trong đó đã để sẵn quả dừa và năm điếu thuốc lá. 
Việc vừa xảy ra nghiêm trọng đến nỗi trong mấy phút đồng hồ họ đã quên mất quy chế im lặng tuyệt đối. Tiếng người ta đấm đá người tù khốn khổ kia nghe rất rõ. Sau đó là tiếng rên khò khè của một người đã bị đánh một đòn chí mạng. Cái ghi-sê của tôi mở ra và một cái mặt lính gác đỏ bừng quát vào buồng: “Còn mày nữa, hãy đợi đấy!” 

– Tao sẵn sàng đợi mày, thằng chó đẻ! – Tôi trả lời thần kinh căng thẳng đến tột độ vì đã phải ngồi im nghe chúng nó đánh dập người tù khốn khổ kia. 
Việc ấy đã xảy ra lúc bảy giờ. Đến mười một giờ, một phái đoàn do viên phó chỉ huy nhà giam cấm cố đứng đầu đến buồng tôi. Người ta mở cánh cửa đã đóng lại sau lưng tôi cách đây hai mươi tháng và từ đó chưa bao giờ được mở ra. Tôi đang đứng ở cuối buồng giam, tay cầm cái ca, giữ thế thủ, quyết tâm đánh trả đến cùng, vì hai lẽ: thứ nhất là để cho bọn lính gác khi đánh tôi sẽ được trừng trị đích đáng, thứ hai là để chúng nó đánh tôi chết thật nhanh. Nhưng mãi chẳng thấy chúng làm gì cả, viên phó chỉ huy nói: 
– Phạm nhân, bước ra. 
– Nếu các anh bảo tôi ra để đánh tôi thì hãy coi chừng: tôi sẽ đánh lại Mà tôi chẳng dại gì ra để bị đánh từ bốn phía. Tôi cứ đứng đây, hễ đứa nào động vào tôi tôi sẽ cho đi đời ngay. 
– Charrière, người ta sẽ không đánh anh đâu. 
– Ai bảo đảm điều đó? 
– Tôi, phó chỉ huy nhà giam. 
– Anh có danh dự không mà bảo đảm? 
– Anh đừng thóa mạ tôi, vô ích. Tôi lấy danh dự hứa với anh rằng anh sẽ không bị đánh. Nào ra đi! 
Tôi vẫn cầm cái ca trong tay. 
– Anh có thể giữ cái ca, anh không phải dùng đến nó đâu. 
– Được 
Tôi bước ra, và đi giữa sáu tên giám thị cùng đi với viên phó chỉ huy, vượt qua suốt chiều dài của hành lang. Ra đến sân, tôi thấy chóng mặt và chói mắt dữ dội, phải nhắm nghiền lại. Cuối cùng tôi trông thấy cái nhà nhỏ nơi họ đã đón chúng tôi. ở đấy có khoảng mười hai tên giám thị. Không xô đẩy, họ đưa tôi vào phòng “quản trị”. Giữa nền nhà bê bết máu, một người tù đang nằm rên rỉ. Khi thấy cái đồng hồ treo trên tường chỉ một giờ, tôi nghĩ: “Tội nghiệp, chúng nó tra tấn anh ta bốn tiếng đồng hồ rồi”.

Viêm giám đốc đang ngồi sau bàn giấy, viên phó giám đốc ngồi xuống cạnh hắn ta. 
– Charrière, anh nhận thức ăn và thuốc lá bao lâu rồi? 
– Anh kia đã nói cho các ông biết rồi còn gì. 
– Tôi hỏi anh ấy. 
– Tôi thì bị bệnh mất trí nhớ, hôm qua có chuyện gì tôi không thể biết được. 
– Anh giễu chúng tôi đấy à? 
– Không, việc này mà người ta không ghi vào hồ sơ của tôi thì lạ thật. Tôi bị mất trí nhớ vì một đòn đánh vào đầu. 
Viên giám đốc nghe câu trả lời của tôi ngạc nhiên quá quay ra hỏi: 
– Gọi diện hỏi Royale xem thử trong hồ sơ có ghi gì về việc này không? 
Trong khi người ta gọi điện thoại, hắn nói tiếp: 
– Anh có nhớ mình tên là Charrière chứ? 
– Cái đó thì có. – Đoạn tôi nói tiếp thật nhanh để làm cho họ ngỡ ngàng hơn nữa, nói như một cái máy: 
Tôi tên là Charrière, tôi sinh năm 1906 ở tỉnh Ardèehe, bị xử án chung thân ở Paris, quận Seine. Ông ta trợn mắt tròn xoe như hai hòn bi, và tôi cảm thấy mình đã làm cho viên giám đốc lung lay thực sự. 
– Sáng nay anh vẫn được phát cà-phê và bánh mì đấy chứ? 
– Vâng. 
– Tối hôm qua người cho anh ăn món đậu gì? 
– Tôi không biết. 
– Thế thì theo anh, anh không còn chút trí nhớ gì sao? 
– Những việc xảy ra thì hoàn toàn không nhớ chút gì. Mặt thì tôi nhớ. Chẳng hạn như tôi nhớ rằng ông có tiếp tôi một lần. Vào lúc nào thì tôi không biết. 
Thế anh không biết anh còn phải bị giam bao lâu nữa sao? 
– Chung thân mà? Hình như đến khi chết. 
– Không! Hạn giam cấm cố ấy. 
– Tôi mà bị giam cấm cố à? Vì tội gì? 
– Ơ thế thì thật quá sức! Mẹ kiếp! Anh đừng làm cho tôi nổi khùng lên. Anh dám nói rằng anh không nhớ đã bị xử hai năm vì tội vượt ngục sao? Gớm thật! 
Đến đây, tôi hạ nốt đòn cuối cùng cho hắn gục hẳn: 
– Tôi mà lại vượt ngục à? Thưa ông chỉ huy, tôi là người nghiêm chỉnh và có trách nhiệm. Xin ông cứ đi với tôi về buồng giam, ông sẽ rõ là tôi có vượt ngục hay không. 
Vừa lúc ấy một tên cảnh sát nói với viên chỉ huy: 
– Thưa xếp, có điện của Royale gọi. 
Viên giám đốc đến cầm máy lên: “Không ghi gì cả à? Lạ thật, hắn bảo là hắn bị mất trí nhớ… Nguyên nhân à? Bị đánh vào đầu… hiểu rồi, hắn giả vờ. Ai mà biết… Vâng, xin lỗi thiếu tá, tôi sẽ kiểm tra lại. Chào thiếu tá… Vâng, tôi sẽ báo cáo lại để thiếu tá rõ”. 
– Đồ kép hát, xem cái đầu nào. ừ, mà phải. Có một vết thương khá dài. Thế anh làm cách nào mà nhớ được rằng anh bị mất trí nhớ từ khi bị đánh cú này, hả? Nói đi xem nào? 
– Tôi không hề giải thích, tôi chỉ ghi nhận rằng tôi nhớ là đã bị đánh, nhớ rằng tên tôi là Charriène. 
Tôi còn nhớ nhiều thứ khác nữa ấy chứ. 
– Rốt cuộc anh muốn nói gì hay làm gì? 
– Vấn đề đó thì chúng ta đang bàn đây thôi. Ông hỏi tôi là người ta gửi thức ăn và thuốc hút cho tôi từ bao giờ. Vậy tôi xin trả lời dứt khoát: tôi không biết; chắc đây là lần đầu, nhưng cũng có thể là lần thứ một ngàn. Bị bệnh mất trí nhớ, tôi không thể trả lời rõ hơn được. Xin hết, các ông muốn làm gì tôi thì làm. 
– Điều mà tôi muốn cũng đơn giản thôi. Anh đã ăn quá tiêu chuẩn lâu rồi, thế thì bây giờ phải để cho anh gầy đi một chút. Bỏ bữa ăn chiều cho đến hết thời hạn gian cấm cố. 

Ngay hôm ấy, tôi nhận được một mảnh giấy lúc họ đi quét hành lang lần thứ hai. Tiếc thay tôi không đọc được vì nó không được viết bằng mực lân tinh. Đến khuya, tôi châm một chiếu thuốc lá còn lại từ hôm qua đã thoát khỏi cuộc khám xét vì nó được giấu rất kỹ trong tấm ván nằm. Rít mạnh điếu thuốc cho đốm lửa sáng lên, tôi dần dần đọc được: “Người đổ bô đã giữ vững. Anh ta khai đây là lần thứ hai anh đưa thức ăn vào cho cậu, một cách hoàn toàn tự nguyện. Lại khai là đã làm như thế vì trước kia có quen cậu ở Pháp. Sẽ không có ai bị liên lụy ở Royale. Can đảm lên”. Vậy là tôi bị tước mất món lửa, thuốc lá và tin tức của bạn bè ở Royale. Hơn nữa họ đã cúp mất bữa ăn chiều của tôi. Tôi đã quen với tình trạng không phải chịu đói và với mười lần hút thuốc lá mà trước đây tôi vẫn dùng để lấp thời gian trong ngày và một phần đêm. Không phải tôi chỉ nghĩ đến mình, tôi nghĩ đến người tù đáng thương bị chúng nó đánh đập tàn nhẫn vì tôi mong rằng anh ta sẽ không bị phạt quá nặng. 
Một, hai, ba, bốn, năm đằng sau quay… Một hai, ba, bốn, năm đằng sau quay. Mày sẽ không dễ gì chịu được cái chế độ ăn đói này đâu, Papi ạ, và bây giờ mày sẽ ăn ít như vậy thì có lẽ phải thay đổi chiến thuật chăng? Chẳng hạn nằm đến mức tối đa để khỏi tiêu hao năng lượng. Càng ít cứ động thì đốt càng ít ca-lo-ri. Những lúc không nằm thì cố ngồi trong nhiều giờ. 
Bây giờ tôi phải tập sinh hoạt theo một kiểu khác. Bốn tháng là một trăm hai mươi ngày. Cứ cái chế độ ăn này thì bao lâu tôi sẽ bắt đầu thiếu máu? ít nhất là hai tháng. Vậy trước mắt tôi có hai tháng quyết định. Khi tôi đã quá yếu thì các bệnh tật sẽ có được một mảnh đất tuyệt vời để hoành hành. Tôi quyết định là sẽ nằm từ sáu giờ chiều đến sáu giờ sáng. Tôi sẽ đi đi lại lại từ khi đưa cà-phê cho đến khi thu bô, nghĩa là khoảng hai giờ. Đến giữa trưa, sau bữa xúp, lại đi khoảng hai giờ nữa. Cả thảy là bốn giờ đi đi lại lại. Thời gian còn lại thì ngồi hay nằm. 
Không mệt thì sẽ khó bay đi lang thang. Nhưng tôi vẫn sẽ cố bay thử. 

Hôm nay, sau một hồi lâu suy nghĩ đến các bạn và đến người tù khốn khổ đã bị hành hạ tàn nhẫn vì tôi, tôi bắt đầu tập dượt cho quen với cái kỷ luật mới này. Kết quả khá tốt, tuy tôi thấy thời gian trôi chậm hơn, và đôi chân tôi không làm việc mấy giờ liền cứ thấy buồn buồn như chứa đầy kiến. 
Cái chế độ này đã thi hành được mười ngày. Bây giờ tôi đói thường xuyên. Tôi đã bắt đầu lâm vào tình trạng mỏi mệt kéo dài. Tôi thấy thèm dừa quá, và cũng thèm thuốc lá nữa. Tôi đi nằm rất sớm và chỉ một lát sau, không lâu lắm, tôi đã vượt ra khỏi buồng giam trong tưởng tượng. Hôm qua, tôi ở Paris, đang ngồi uống sâm banh ở quán Au Rat Mort với mấy thằng bạn, trong đó có Antonio de Londres, quê quán ở Baléares, nhưng nói tiếng Pháp như một người Paris và nói tiếng Anh như một tay roastbeef chính cống của xứ Anh-cát-lợi. Hôm sau ở quán Au Marronnier trên đại lộ Clichy, cậu ta giết một người bạn bằng năm phát súng lục. Trong giới giang hồ những sự đổi thay từ tình bạn sang căm thù diễn ra rất nhanh. Phải, hôm qua tôi ở Paris, khiêu vũ trong tiếng đàn accordéon ở tiệm Petit Jardin, đại lộ Saint-Quen, khách đến nhảy toàn người Corse và người Marseille. Tất cả các bạn tôi lần lượt hiện ra trong chuyến du hành tưởng tượng này một cách rõ rệt và chính xác đến nỗi tôi không một giây nào nghi ngờ sự có mặt của họ cũng như sự có mặt của tôi ở những nơi mà tôi đã sống qua những đêm diễm phúc ấy. Như vậy, (tôi) không đi nhiều, với chế độ ăn rất có hẹp này tôi vẫn đạt được một kết quả tương đương như cái kết quả đạt được bằng cách làm cho thân thể mỏi mệt. Những hình ảnh của quá khứ lôi tôi ra khỏi buồng giam một cách mạnh mẽ đến nỗi tôi thực sự được sống nhiều giờ tự do hơn là những giờ cấm cố. Chỉ còn một tháng nữa. 
Đã ba tháng rồi tôi chỉ ăn một ổ bánh mì tròn và một soong xúp nóng không có chất bột vào bữa trưa với miếng thịt hầm của nó. Tình trạng đói thường xuyên đã đưa tôi đến chỗ vừa nhận xong soong xúp tôi đã vội vàng nhìn kỹ miếng thịt xem thử có phải nó chỉ là một miếng da như đã từng xảy ra khá nhiều lần không. 
Tôi đã gầy đi nhiều, và bây giờ tôi đã nhận thức được tầm quan trọng của trái dừa mà tôi đã may mắn nhận được trong hai mươi tháng liền đối với việc duy trì sức khỏe và trạng thái cân bằng trong tình cảnh bị gạt ra ngoài cuộc sống.
Sáng nay, sau khi uống suất cà-phê, tôi thấy bứt rứt khác thường. Tôi đã tự buông thả đến mức ăn một lúc hết nửa ổ bánh mì, điều mà tôi không bao giờ làm. Mọi khi tôi cắt nó ra làm bốn miếng gần bằng nhau dể ăn làm bốn lần, vào lúc sáu giờ sáng, vào giữa trưa, vào sáu giờ chiều, và miếng cuối cùng vào ban đêm. “Sao lại làm như vậy”. Tôi tự mắng nhiếc một mình. “Sắp kết thúc rồi mà mày lại tự cho phép sa ngã một cách nghiêm trọng như thế – “Tôi đói, và tự cảm thấy không còn sức mạnh – “Sao mày lắm tham vọng thế. Làm sao mày lại có thể mạnh được trong khi ăn như vậy? Điều quan trọng là mày yếu, đúng vậy, nhưng mày không đau ốm: và điểm này mày là kẻ chiến thắng. Xét một cách lô~gích, nếu mày không quá rủi ro, cái nhà giam “ăn thịt người” này rốt cục sẽ thua mày trong cuộc tỷ thí 
Sau hai giờ đi đi lại lại, tôi ngồi trên cái khối xi- măng dùng làm ghế. Còn ba mươi ngày nữa, tức bảy trăm hai mươi giờ, cánh cửa kia sẽ mở ra và người ta sẽ nói với tôi: “Phạm nhân Charriere, ra đi. Anh đã mãn hạn hai năm cấm cố”. Và tôi sẽ nói gì? Tôi sẽ nói: “Vâng, cuối cùng tôi cũng đã kết thúc được hai năm đày đọa này”. ồ, không được, sao lại nói thế! Nếu đó là viên giám đốc mà mày đã chơi xỏ vụ “mất trí nhớ” mày phải tiếp tục chơi cái trò đó, tỉnh bơ như không. Mày sẽ nói: “Sao, tôi được ân xá rồi à? Tôi được về Pháp à? án chung thân của tôi đã mãn hạn à?” Chẳng qua để côi bộ mặt của hắn và cho hắn thấy rằng cái chế độ ăn đói mà hắn dùng để trừng phạt mày là một hành động bất công. 
– “Trời ơi, mày làm sao thế? Bất công hay không, tên giám đốc kia đếch cần. Đối với một tâm địa như vậy thì phạt oan hay không có gì quan trọng đâu? Chẳng lẽ mày nghĩ rằng hắn ân hận vì đã trừng phạt mày một cách bất công sao? Từ nay trở đi tao cấm mày không được coi một tên cai ngục như một con người bình thường. Không có một con người nào đáng được gọi là người lại có thể làm cái nghề này. Trên đời, cái gì người ta cũng có thể quen đi, thậm chí suốt đời quen với cái sự nghiệp của một thằng khốn nạn. May ra chỉ khi nào gần kề miệng lỗ thì nỗi sợ hãi trước Thượng đế mới có thể làm cho hắn ân hận và sám hối, nếu hắn có một tôn giáo. Không phải thực sự hối hận về những hành vi bỉ ổi mà hắn đã làm, chẳng qua vì sợ sự phán xử của Thượng đế, trong đó bản thân hắn là kẻ bị xử tội. Như vậy, khi ra khỏi nhà lao cấm cố, có được đưa về đảo nào chăng nữa, ngay từ đầu mày chớ có chút nào thỏa hiệp với giống người này: Mày với chúng nó đối lập hoàn toàn với nhau, và ở giữa có một đường phân giới rất rạch ròi. Một bên là sự hèn hạ, là quyền thế câu nệ không hồn, là bệnh xa-đích bẩm sinh, có tính chất bản năng, máy móc trong những phản ứng của nó; và bên kia là tôi và những người cùng cảnh ngộ, chắc chắn là phạm những tội nặng, nhưng đã được sự đau khổ tạo cho những phẩm chất vô giá; tình thương xót lòng nhân hậu, sự tôn quý, lòng dũng cảm.
Hoàn toàn thành thật mà nói, tôi thà làm tên tù khổ sai còn hơn làm một tên cai ngục. 
Chỉ còn hai mươi ngày nữa. Tôi cảm thấy trong người yếu lắm rồi. Tôi có nhận thấy ổ bánh mì của tôi bao giờ cũng thuộc loại nhỏ. Ai là kẻ có thể tự hạ mình đến mức chọn bánh mì nhỏ cho tôi? Từ mấy ngày rồi trong soong xúp của tôi chỉ có nước nóng, và suất thịt bao giờ cũng là một cái xương có ít thịt dính quanh, nếu không phải là một miếng da. Tôi sợ mình lăn ra ốm. Nỗi lo sợ này cứ ám ảnh tôi. Tôi yếu đến nỗi trong khi thức tôi chẳng cần cố gắng một chút nào cũng có thể mơ tưởng bất cứ điều gì. Tình trạng mệt mỏi rã rời kèm theo một tâm trạng chán nản trầm trọng làm cho tôi rất lo ngại. Tôi tìm mãi cách phản ứng, nhưng phải khó khăn lắm mới qua được hai mươi bốn tiếng đồng hồ mỗi ngày. Có tiếng cào ngoài cửa. Tôi hối hả rút mảnh giấy. Nó viết bằng bút dạ quang. Đó là một bức thư của Dega và Galgani. “Cậu viết cho chúng mình mấy chữ đi. Rất lo ngại về tình trạng sức khỏe của cậu. Còn mười chín ngày nữa, can đảm lên. Louis, lgnace”. Kèm theo có một mẩu giấy và một khúc ruột bút chì đen. Tôi viết: “Tôi còn chịu được, tuy rất yếu. Cám ơn. Papi”. 
Khi nghe tiếng chổi cào cửa lần nữa, tôi luồn mẫu giấy ra. Bức thư nhỏ, không kèm điếu thuốc lá và quả dừa, đối với tôi vẫn là một cái gì hơn tất cả các thứ đó. Sự thể hiện này của một tình bạn chung thủy tuyệt vời đã cho tôi sức khích lệ mà tôi đang cần. ở bên ngoài, các bạn biết tôi ra sao và nếu tôi lâm bệnh, thế nào các bạn tôi cũng sẽ tìm cách thúc dục bác sĩ chăm sóc tôi tứ tế Các bạn tôi nói đúng: chỉ còn mười chín ngày nữa tôi sẽ đến đích trong cuộc chạy đua gian khổ với cái chết và với sự điên rồ. Tôi sẽ không lâm bệnh. 
Phần tôi là phải làm thật ít động tác để chỉ tiêu hao những ca-lo-ri không thể không dùng đến. Tôi sẽ bỏ bớt hai giờ đi đi lại lại buổi sáng và hai giờ buổi chiều. Đó là cách duy nhất để giữ vững. Cho nên suốt đêm, trong mười hai tiếng đồng hồ tôi nằm và mười hai tiếng còn lại, tôi ngồi yên trên cái ghế xi-măng. Thỉnh thoảng tôi đứng dậy, duỗi tay ra co tay vào mấy lần, rồi lại ngồi xuống. 
Chỉ còn mười ngày nữa. 
Tôi đang dạo chơi ở Trinidad, những cây đàn cò một dây của người Java đang ru tôi với những giai điệu ai oán thì một tiếng gớm ghiếc, nghe không còn ra tiếng ngươi nữa, lôi thôi về cõi thực. Tiếng hét này từ một buồng giam ở sát phía sau buồng tôi hay gần như thế, rất gần, tôi lắng tai nghe: 
– Thằng khốn kiếp, mày xuống đây đi, xuống cái hố này. Mày đứng trên ấy giám sát tao mãi mà không chán à? Mày không thấy là mày bị thiệt mất một nửa cảnh vì dưới này tối quá à? 
– Anh im đi, nếu không sẽ bị phạt nặng đấy? – Tên lính gác nói. 
– à à? Mày nói nghe thối bỏ mẹ, đồ mặt l…? Mày bảo còn có cách gì phạt nặng hơn là sự im lặng này? Mày muốn phạt bao nhiêu cứ phạt, nếu thích thì cứ đánh đập tao đi, tên đao phủ ghê tởm kia, nhưng mày sẽ không bao giờ tìm được một cái gì có thể so sánh với sự im lặng mà mày bắt tao phải giữ. Không, không, không? Tao không chịu thế này nữa đâu, tao không chịu im lặng nữa đâu, tao không thể im lặng mãi được nữa? Lẽ ra từ ba năm trước tao phải nói vào mặt mày: đồ khốn nạn? Đồ cứt đái? Thế mà tao đã ngu dại đến nỗi đợi ba mươi sáu tháng rồi mới chửi vào mặt mày, chỉ vì sợ trừng phạt? Tao nhổ vào mặt mày và cả bọn chúng mày, đồ cai ngục thối nát? 
Một lát sau có tiếng cửa mở và tôi nghe thấy: 
– Không, không phải thế! Mặc trái vào cho nó, như thể hiệu quả hơn nhiều? 
Người tù đáng thương gào lên: 
– Mày muốn mặc áo cùm cho tao cách nào thì cứ mặc đi, đồ sâu bọ! Mặc ngược cũng được, riết thật chặt vào cho tao chết ngạt đi, kề đầu gối vào mà rút dây cho chặt. Đằng nào thì tao cũng cứ nói rằng mẹ mày chỉ là một con lợn cái, còn mày chỉ có thể là một đống cứt? 

Chắc chúng nó đã ghét giẻ vào mồm người tù vì tôi không còn nghe thấy gì nữa. Cánh cửa đã đóng lại. 
Cảnh vừa qua chắc đã làm cho tên lính gác trẻ tuổi đang đi lại lại phía trên xúc động vì mấy phút sau hắn đứng lại trước buồng giam tôi và nói: “Chắc anh ta phát điên rồi” 
– Anh nghĩ thế à? Những điều anh ta nói ra đều phải cả đấy chứ. Tên lính gác sửng sốt một lúc rồi bỏ đi sau khi ném một câu: “Thế à, thế thì anh cũng sẽ theo gót hắn thôi?”. 
Việc vừa xảy ra đã tách tôi khỏi những người tốt bụng, những tiếng đàn cò, những đôi vú Ấn Độ, cái cảng Port of Spain, và lôi tôi về cái thực tế đáng buồn của nhà giam cấm cố. 
Còn mười ngày nữa, tức hai trăm bốn mươi giờ, phải chịu đựng. 
Cái chiến thuật không cử động đã đem lại kết quả. 
Nếu đó không phải là do những giờ cuối ngày trôi qua một cách êm đềm, hay là nhờ mẩu giấy của các bạn tôi. Tôi có thiên hướng nghĩ rằng sở dĩ mình tự cảm thấy mạnh mẽ hơn là nhờ một sự so sánh đã đến với tôi như một điều hiển nhiên: tôi chỉ còn cách giờ ra khỏi nhà giam có hai trăm bốn mươi tiếng đồng hồ, tôi yếu nhưng óc tôi vẫn nguyên vẹn, năng lực của tôi chỉ cần thêm một ít sức nữa là có thể làm việc trở lại một cách hoàn hảo. Trong khi đó thì sau lưng tôi, chỉ cách hai mét, sau bức tường này, một người tù khốn khổ đang bước vào giai đoạn thứ nhất của sự điên rồ, có lẽ là bước vào bằng một ngưỡng cửa không nên vượt qua: ngưỡng cửa của bạo lực. Người ấy sẽ không sống lâu nữa, vì sự nổi loạn của anh ta khiến cho bọn cai ngục cơ hội sừ dụng những biện pháp đã nghiên cứu rất kỹ để giết anh ta một cách thật khoa học. Tôi tự trách mình là đã cảm thấy mình mạnh hơn chỉ vì người kia bại trận. Tôi tự hỏi, không biết mình có phải là một trong những kẻ ích kỷ mà vào những ngày mùa đông, chân đi giày ấm, tay đi găng, mình khoác tấm áo lông dày, đang nhìn những đám người lao động đang đi làm ăn mặc phong phanh, người rét cóng, hai tay tím lại vì gió rét, đang hớt hải chạy cho kịp chuyến xe buýt hay chuyến mé tro đầu tiên, càng nhìn họ càng thấy mình ấm áp và thường thức cái cảm giác ấy một cách trọn vẹn hơn bao giờ hết. 
Trên đời này, nhiều khi mọi sự chỉ là do so sánh mà có. Đúng thế, người ta có thể nghĩ: tôi bị mười năm nhưng Papillon thì bị chung thân. Đúng thế, tôi bị chung thân, nhưng tôi mới hai mươi tám tuổi, còn anh kia chỉ bị mười lăm năm, nhưng tuổi anh đã năm mươi rồi. Dù sao cuối cùng tôi cũng đã gần đến đích, và tôi hy vọng rằng chỉ trong vòng sáu tháng là cùng tôi sẽ lại sung sức về mọi phương diện – thể chất, tinh thần, ý chí – để thực hiện một cuộc vượt ngục ngoạn mục. 
Người ta đã phải nói nhiều về chuyến vượt ngục đầu tiên, chuyến thứ hai sẽ được khắc lại trên những phiến đá xây tường của trại khổ sai. Tôi không chút nghi ngờ. 
Tôi sẽ ra đi trước sáu tháng: đó là điều hoàn toàn chắc chắn. 
Đây là đêm cuối cùng của tôi ở nhà giam cấm cố. Cách đây một vạn bảy ngàn năm trăm tám giờ tôi đã bước vào buồng giam 234. Họ đã mở cửa ra một lần để giải tôi ra trước mặt viên giám đốc cho hắn xử tội. 
Ngoài người tù ở buồng bên mỗi ngày thường trao đổi với tôi mấy tiếng nhát gừng, người ta đã nói chuyện với tôi bốn lần. Một lần để nói rằng khi có tiếng còi huýt có thể hạ ván xuống: đó là ngày thứ nhất. Một lần là các ông bác sĩ nói: “Quay lưng lại ho đi”. Một buổi nói chuyện dài hơn và sôi nổi hơn với viêm giám đốc. Và hôm trước là bốn câu trao đổi với tên lính gác bị người tù phát điên làm cho xúc động. Giải khuây như vậy thật không lấy làm gì phong phú! Tôi chìm vào một giấc ngủ yên lành, trong ý nghĩ không có gì khác hơn là: ngày mai người ta sẽ mở hẳn cánh cửa này. Ngày mai tôi sẽ được nhìn thấy ánh mặt trời, và nếu họ đưa tôi sang Royale tôi sẽ được hít thở không khí của biển khơi. Ngày mai tôi sẽ được tự do. Tôi bật cười. Tự do là thế nào? Ngày mai mày bắt đầu chính thức hưởng cái án khổ sai chung thân. Thế mà mày gọi là tự do ư? Tôi biết, tôi biết chứ, nhưng cuộc sống ở bên ngoài không thể nào so sánh với cuộc sống mà tôi vừa phải chịu đựng. Tôi sẽ gặp Clousiot và Maturette như thế nào đây. 
Đến sáu giờ, họ đưa cà-phê và bánh mì cho tôi. Tôi chỉ muốn nói: Kìa, hôm nay tôi được ra kia mà. 
“Anh nhầm rồi”. Nhưng tôi chợt nhớ ra rằng mình là người “mất trí nhớ”, và biết đâu nếu tôi nói như vậy thì khác nào thừa nhận là đã giỡn mặt viên giám dốc, và hắn rất có thể phạt tôi ba mươi ngày xà-lim nữa? 
Vì dù có thể nào, theo pháp luật tôi phải ra khỏi nhà giam cấm cố trừng giới Saint-Joseph đúng vào ngày hôm nay, 26 tháng sáu 1936. Bốn tháng nữa tôi tròn ba mươi tuổi. 
Tám giờ. Tôi đã ăn hết cả ổ bánh mì. Ra ngoài tôi sẽ có thứ khác để ăn ngay. Họ đến mở cửa. Trước mặt tôi là viên phó giám đốc và hai tên giám thị. 
– Charrière, anh đã mãn hạn, hôm nay là ngày 26 tháng sáu 1936. Anh đi theo chúng tôi. 
Tôi ra ngoài. Ra đến tận sân thì mặt trời đã đủ sáng để làm tôi lóa mắt. Tôi có cảm giác như muốn xỉu. 
Hai chân tôi mềm nhũn ra, và những chấm đen quay cuồng trước mắt tôi. Thế mà tôi mới vừa đi được chừng năm mươi mét trong đó có ba mươi mét đi dưới nắng. 
Đến trước gian nhà “Ban quản trị” tôi trông thấy Maturette và Clousiot. Maturette đúng là một bộ xương, hai má hóp vào, đôi mắt sâu hoắm. Clousiot thì nằm trên cáng. Anh ta xanh xao và đã phảng phất mùi người chết. Tôi nghĩ: “Hai bạn của tôi trông chẳng đẹp chút nào. Không biết mình có như vậy không?” Tôi nóng lòng muốn được nhìn thấy mình trong gương. Tôi nói với hai bạn: 
– Thế nào, ổn không? 
Họ không trả lời. Tôi nhắc lại: 
– ổn không? 
– ổn – Maturette nói rất khẽ. 
Tôi muốn nói với cậu ta rằng bây giờ đã hết hạn cấm cố, chúng tôi có quyền nói chuyện. Tôi cúi xuống hôn lên má Clousiot. Anh nhìn tôi với đôi mắt sáng long lanh và mỉm cười: 
– Vĩnh biệt Papillon, – anh nói. 
– Không, sao lại nói thế? 
– Tôi đến rồi, thế là hết. 
Mấy ngày sau, Clousiot sẽ chết ở bệnh viện đảo Royale. Anh được ba mươi hai tuổi, bị xử hai mươi năm khổ sai vì một vụ ăn cắp xe đạp mà anh không phải là thủ phạm. Nhưng lúc ấy viên giám đốc đã đến: 
– Cho họ vào. Maturette và Clousiot, các anh đã có hạnh kiểm tốt. Cho nên tôi đề vào phiếu của các anh là “Hạnh kiểm tốt”. Còn anh, Charriere, anh đã phạm một lỗi nặng, tôi phải đề: hạnh kiểm xấu. 
– Xin lỗi ông, tôi phạm lỗi gì ạ? 
– Thế anh không nhớ vụ thuốc lá và dừa bị bắt quả tang à? 
– Cây dừa ở đâu? 
– Kìa, bốn tháng nay anh hưởng chế độ gì? 
– Về phương diện nào chứ? ăn uống à? Từ khi tôi vào đây hôm nào chẳng thế! 
– Chà! Thế thì thật quá quắt! Chiều qua anh ăn gì? 
– Như mọi khi, cho gì tôi ăn nấy. Tôi đi đâu mà biết? Tôi không nhớ, nhưng tôi biết đại khái là đậu hay cơm xào, hay một thứ rau gì đấy. 
– Thế anh có ăn bữa chiều à? 
– Trời đất! ông tưởng tôi đổ đi sao? 
– Không thế này thì không được, tôi xin bỏ cuộc. Thôi, tôi rút lui “Hạnh kiểm xấu”. Làm lại phiếu ra tù đi ông X… Tôi ghi cho anh “Hạnh kiểm tốt”, được chưa? 
– Như thế là công bằng thôi. Tôi có làm gì đâu mà chẳng hạnh kiểm tốt? 
Và đó là câu cuối cùng trước khi chúng tôi ra khỏi văn phòng. 
Cổng lớn của nhà giam cấm cố mở ra cho chúng tôi đi qua. Chỉ có một tên giám thị đi theo áp giải, chúng tôi thong thả bước xuống con đường dẫn ra trại. Phía dưới là mặt biền lấp lánh những ánh bạc và bọt sóng. Đảo Royale ở phía trước mặt, phủ đầy cây cối xanh rờn và mái ngói đó. Đảo Quỷ, khắc khổ và hoang dại. Tôi xin phép tên giám thị ngồi xuống mấy phút. Hắn bằng lòng. Chúng tôi ngồi xuống cạnh Clousiot, tôi bên phải, Maturette bên trái. Chúng tôi cầm lấy tay anh từ lúc nào cũng không biết nữa. Sự tiếp xúc này gieo vào lòng chúng tôi một nỗi xúc động lạ kỳ. Không nói một lời, chúng tôi ôm hôn nhau. Viên giám thị nói. 
– Thôi các cậu. Phải xuống thôi. 
Và chúng tôi từ từ, rất chậm rãi, đi xuống trại. Hai đứa chúng tôi cùng vào trại một lúc, hai bàn tay vẫn nắm lấy nhau, phía sau là hai người khiêng cáng bạn chúng tôi đang hấp hối.








Số Mạng

Trạch An – Trần Hữu Hội

Giao Chỉ xuất bản 2017

Post by sơn râu 8 Nov 2025

Phần 9 – Hiếm muộn

Khải chống tay nằm xuống bên Huyền, tay anh bóp nhè nhẹ cánh tay trần của chị, vuốt dọc theo bên hông trái, hai bầu ngực mềm mại, tuy đã vào tuổi trung niên vẫn còn gợi cảm mổi lần vô tình anh nhìn thấy chị thay áo, rồi dừng lại nơi vùng bụng mát dịu, Khải dừng lại nơi đây thật lâu, anh biết Huyền vẫn còn cảm giác đê mê của cuộc ái ân, những vuốt ve sẽ làm chị dịu dần, thỏa mản và cảm thấy hạnh phúc.

-Tháng này em về thăm mẹ nhé.

Huyền im lặng nhìn lên trần nhà, ánh đèn ngủ mờ mờ soi lên gương mặt hồng hồng của chị. Mấy tháng nay, nhiều lần Khải thúc dục chị về thăm mẹ, về một mình.

Lâu nay, mổi lần về quê thăm mẹ, họ đều cùng về. Ba tháng nay, sau khi hai vợ chồng tính toán với nhau và cùng chấp nhận một giải pháp mà cả hai không ai muốn, nhất là chị, thì ý tưởng này khó chấp nhận hơn, nhưng vì sự mong mỏi đến khát khao một đứa con của Khải mà chị không quyết liệt phản đối, Huyền cứ lần lữa mải…

Cưới nhau mười năm nay, chuyện làm ăn kinh tế suôn sẽ nhờ anh tính toán phù hơp cho cả hai người: Anh vẫn giử công việc lâu nay ở công ty, một chân trưởng phòng dều hành có thể nói là nhàn hạ. Huyền thôi việc kế toán, về quản lý quầy tạp hóa theo mô hình “cửa hàng tiện ích” mà anh mở sau đám cưới, chị thảnh thơi khi chỉ coi ba nhân viên bán hàng theo ca, thậm chí chuyện giao nhận hàng cho cửa hàng cũng đều do các công ty và siêu thị chở đến tận kho.

Tích góp lâu nay, trừ đi những sinh hoạt gia đình và giúp bà con hai bên, chị không ngờ vợ chồng chị khá sung túc khi nhẩm lại: Ngoài căn nhà đang là cửa hàng và là nhà ở, vợ chồng chị có một căn nhà ở Thủ Đức, mặt tiền đường Kha Vạn Cân, lâu nay cho thuê, mổi năm thu nhập hai trăm bốn chục triệu, một lô dất ở Bình Dương rộng 1.400m2, anh tính chờ giá nhà đất phục hồi trở lại sẽ bán, bấy nhiêu tài sản cộng với thu nhập đều đặn của cửa hàng cho phép chị và Khải không phải băn khoăn về kinh tế.

Chị hạnh phúc vì Khải là người đàn ông chừng mực trong mọi chuyện, trầm tỉnh, chu đáo và hào phóng khi cần thiết, thế nhưng một đứa con mong mỏi mười Năm nay vẫn chưa có!

Trong chuyện vợ chồng, Khải ham muốn nhiều hơn Huyền, những cuộc giao hoan đều dặn trong những năm sống cùng nhau luôn cho chị càm giác thỏa mản, hạnh phúc. Khải, với những trải nghiệm của những năm độc thân, với những cuộc tình không đi đến được hôn nhân, đã tích lủy cho anh những kinh nghiệm chăn chiếu. Lấy nhau khá muộn, khi anh đã ba mươi hai tuổi còn chị hai mươi tám. Bởi đã hơi muộn, họ không dùng một phương pháp tránh thai nào, vậy mà mãi chị không mang thai! Bao nhiêu lần một mình chị đi khàm phụ khoa, rồi cả hai cùng đến bênh viện, nhưng khi thì nói là do chị, khi thì bảo do anh…Cuối cùng, nguyên nhân là bởi tinh trùng của anh loãng, không thể thụ thai bình thường như những người khác, Khải tỏ ra lo âu khi biết chính anh là nguyên nhân của sự hiếm muộn, nỗi lo gần như là một mặc cảm!

Đối với Huyền, tuy cũng ước ao có con nhưng không đến độ mãnh liệt như Khải, cũng có thể do anh là con trai duy nhất trong gia đình mình, một gia đình mà Khải thường nữa đùa nữa thật khi nói về mình là “không danh giá gì!”.

Bốn năm trước, theo lời khuyên của nhiều bạn hữu, Khải và chị quyết định thụ tinh nhân tạo. Tại bệnh viện, Trực bớt buồn phiền khi thấy quanh mình có rất nhiều đôi vợ chồng cùng cảnh ngộ, ai cũng khao khát một đứa con, có đôi là bác sĩ cả vợ lẫn chồng, cũng lặn lội từ ngoài Bắc vào để nhờ y khoa can thiệp!

Lần thụ tinh nhân tạo chỉ cho hai người một niềm hy vọng ngắn ngủi trong hai tuần lễ, anh chưng hửng khi bệnh viên bào tin việc thụ tinh nhân tạo thất bại với nhiều lý do chuyên môn mà anh lẫn Huyền đều không hiểu được. Nhìn gương mặt thất vọng của Khải mà Huyền ứa nước mắt, dù trong lòng chị cũng hụt hẫng không kém!

Nắm bàn tay của anh đang ở trên bụng, áp vào cổ mình, Huyền xoay qua phia Khải, nói thật nhẹ:

-Em vẫn thấy phân vân anh ạ, hay là mình xin một đứa con nuôi? Khải thoáng thất vọng, anh đã loại giải pháp này từ lâu:

-Như anh đã nói, đứa con do em cưu mang và sinh ra, cho dù giọt máu tạo ra nó không phải là anh, thì mình cùng thương yêu và chăm chút cho nó dễ hơn là một đứa con mà cả hai chúng ta cùng biết là không máu mủ gì. Cứ xem như anh lấy em sau khi em đã lỡ dại có một đứa con, chuyện đó cũng thường tình, và anh, vì yêu em mà thương đứa con riêng của em vậy thôi. Trong hai chúng ta, có em là máu mủ vẫn hơn mà em, miễn là giữ kín được…

Cứ mỗi lần nhắc đên chuyên này, cả hai đều cảm thấy bị tổn thương và buồn lòng…

Huyền thật sự không an tâm vì có chuyện gì trên đời giữ mãi được bí mật, mà khi vở lỡ, những hệ lụy nó mang lại thì…Nhiều lần chị cố xua đuổi khỏi tâm trí về những hậu quả đến sau này sẽ làm xáo trộn cuộc sống hạnh phúc, bình yên mà chị đang có!

-Nhớ nhé, lâu lắm rối mày về đúng dịp tổ chức họp lớp. họp trường đó nghe Huyền, nguyên cả khối cấp ba ngày nào luôn, có mấy đứa ở Đà lạt, Sài gon, Cần thơ và cả Hải phòng cũng về, không đi tụi tao từ mày luôn!

-Ừ, mình nhất định sẽ có mặt mà, tiếc là không có Khải, anh ấy sẽ rất vui! Mỹ Duyên nhiệt tình:

-Tụi tao sẽ làm mày vui, nhiều đứa không có chồng đi cùng chứ không riêng gì mày, tuyệt vời lắm mày ạ!

Mỹ Duyên leo lên xe, còn hét to cùng với cái vẫy tay:

-Ê, cho tao chào bà già, trưa mai chuẩn bị sẵn rồi tao đến chở!

Ngồi nơi lan can ngôi nhà đã sống qua thời thơ ấu và thanh xuân, một cảm giác bình yên và thanh thản len trong hồn chị, buổi chiều nhuộm ánh vàng trên hàng chè tàu xung quanh nhà, nó được cắt tỉa gọn gàng nhờ bàn tay của cậu Lư, trong lần về quê năm trước, thấy mẹ lụm đụm quét sân, Khải đã tìm gặp câu Lư, nhờ cậu chăm nom nhà cửa vườn tược giúp, dĩ nhiên là một người khéo léo như Trực, anh không quên gởi tiền hàng tháng cho cậu, với lý do: “Vợ chồng cháu gởi cậu uống trà” .

Huyền cảm thầy trong lòng dâng lên niềm hạnh phúc, rất ít người may mắn như chị, trong số những người bạn thủa còn con gái. Những lần về quê trước đây, khi thì nghe tin chồng một người bạn chết vì lũ, khi thì nghe tin con của một ai đó bị tai nạn giao thông, chết vì túng thiếu không có tiền chuyển vào Sài gòn làm phẩu thuật, có người bị bệnh nan y dang đều tri… Tội nhất là cô bạn ngồi gần Huyền năm học lớp 11, đẹp và hài hước nhất trong đám bạn gái ngày ấy là Liên, cứ ở đâu có Liên là ở đó rộn tiếng cười…thế mà chính Liên lại không may, gặp cảnh buồn là lấy nhẳm anh chồng vủ phu, đã rượu chè lại thích trăng hoa, thương hai đứa con nên Liên cắn răng chịu những trận dòn vô cớ năm này tháng nọ bấy nay!

Hình như chỉ có Mỹ Duyên là yên bình hơn cả, đang làm hiệu trưởng một trường cấp 1 ở địa phương.

Huyền cùng Khải thường đi thăm họ vào những lần về trước, chị an tâm và trong lòng như bớt những muộn phiền khi lần nào ra khỏi nhà bạn là nghe Khải nói nhỏ vào tai: “Anh có gởi lại cho cô ấy năm triệu”, có lần anh đưa trước mặt chị, mười triệu cho chồng một cô bạn, khi anh ta chuẩn bị lên bệnh viện tỉnh thăm con. Chị cũng tự biết là tiền bạc khó có thể đem đến cho bạn bè niềm hạnh phúc, nhưng trong lúc ngặt nghèo túng thiếu, thì cũng đắp đỗi được phần nào. Khải quan tâm đến nỗi khổ của những người xung quanh một cách tự nhiên chứ khồng hề màu mè hay có ý gì khác, Năm ngoái, một người bạn có đứa con gái học đại học đã ra trường, xin mãi chẳng có việc làm, đang ở Sài Gòn. Anh hỏi han rồi khi vào lại, gọi diên cho cháu hẹn đến nhà, xin cho một chân ở siêu thị, ban đầu làm bán hàng, sau đó nhờ có học ngành Công nghệ Sinh học, được chuyễn qua làm kiểm định thực phẩm cho cửa hàng, lương khá cao, vợ chồng người bạn mừng như trúng số! Những lần như thế chị như có chút tự hào và càng yêu Khải hơn. Lần về này, chị buồn và cảm thấy trống trải, bất an…

Nghỉ đến buổi họp lớp, cùng bạn bè những năm tháng học trò xa xuôi ấy khi đã ở vào tuổi xấp xỉ bốn mươi mà Huyền mỉm cười một mình. Huyền vẫn giử được vẻ trẻ trung, tuy không đẹp nhưng dễ nhìn theo nhận xét của Khải và nhiều ngươi, bụng Huyền có hơi lớn chút vì ngồi nhiều, nhưng vẫn còn gọn gàng khi mang chiếc váy ngắn hay áo dài vào những hôm đi dự tiệc. hai bên đuôi mắt và khóe miêng không hề có vết nhăn khi cười. Vẫn rạo rực khi tay anh vuốt ve cơ thể, kinh nguyệt chị vẫn đều đặn vào mỗi tháng, chị luôn háo hức chờ anh lên giường những lần anh có việc của công ty, vắng nhà vài hôm…Lần nào chị cũng thỏa mãn, hạnh phúc.

Buổi họp mặt vui và ồn ào, tuy không“tuyệt vời” như Mỷ Duyên nói, nhưng cũng không tẻ nhạt. Từ ngày rời Quãng Ngải vào Sài Gòn học, làm việc rồi lấy chồng đến nay, ngoài những lần về, thăm một vài người ở gần, chị chưa lần nào được gặp bạn bè cùng trường cùng lớp dông đủ như lần này, người quên kẻ nhớ, cứ ậm à với nhau nhưng ai cũng thấy thân mật và nhiệt tình. Những người bạn trai nói những câu tiếc nuối vu vơ rằng “ngày ây tôi thương…lắm mà không dám nói…” hay “ngày đó tui dâu dám nói với…Cứ thấy…là lưỡi quíu lại, mở mồm không ra!”… làm những gương mặt không còn trẻ, ửng hồng vì thích thú, ngượng ngùng…

Rồi đến văn nghệ, những bản nhạc gợi lại kỷ niệm thủa học trò, những màn múa và nhảy hơi bát nháo nhưng cũng vui…

Một gương mặt Huyên không nhớ là có quen, có lẽ học sau hoặc khác lớp, làm chị kém vui, hắn mang cái tên đầy ngạo mạn và hợm hỉnh như chính gương mặt hắn, anh ta chính là người tài trợ cho buổi họp mặt này và còn là ân nhân của Trường hiện nay. Khi anh đại diện học sinh toàn khối, kiêm luôn MC, giới thiệu với vẻ trịnh trọng: Anh Nguyễn Thành Đạt, Phó bì thư kiêm phó chủ tịch huyện, là học sinh cùng khối với chúng ta, cũng có mặt hôm nay! Tiếng vỗ tay và tiếng trầm trồ nỗi lên, tự nhiên trong lòng Huyền nhen lên một ác cảm không nguyên do!

Thế mà sau khi tan buổi gặp mặt, đã hơn mười giờ đêm, Huyền lại lên chiếc Camry ngồi cùng hắn! Không uống được những loại nước giải khát có men nên chị hoàn toàn tỉnh táo, Đạt có vẽ tự tin sau tay lái, người hắn có mùi khó chịu, khi nói phả hơi men làm chị nhăn mặt, nhưng không hiểu sao chị vẫn ngồi bên hắn!

Xe loanh quanh phố huyên rồi thẳng ra Quốc lộ, Huyền hỏi cộc lốc:

-Không về còn đi đâu thế này?

Hắn quay sang phía chị, nụ cười nham nhỡ làm gương mặt hắn thêm đáng ghét:

-Ra Hội An chơi nghe, cô lâu lắm mới về quê mà…

Xe loanh phố cỗ, rồi dừng lại trong sân một khách sạn, Huyền muốn thúc dục Đạt quay về, nhưng rồi chị bước xuống xe, ngoan ngoãn cùng hắn đi vào!

Mặc cảm tội lỗi, ý nghĩ phản bội như một cơn đau dầu làm Huyền loạng choạng. Đạt dìu chị vào hành lang rộng rồi vào phòng, đầu chị lùng bùng, người chị nóng ran!

Nghiến chặt răng, hai tai nắm chặt, Huyền gồng cứng người cố chống đỡ khoái cảm tư nhiên của thân xác khi hắn vục mặt giữa hai chân chị. Chị giận Khải, giận bản thân, nước mắt trào lên khóe mắt!

Huyền trể kinh hai tuần, cơ thể chị có những triệu chúng khác lạ, vào lúc này, một tin nhắn của Mỹ Duyên làm chị nhẹ nhỏm: “ Huyền có nhớ Đạt không? Bạn ấy vừa bị lật xe, chết cùng mấy cán bộ trong ủy ban huyện, các bạn tổ chức phúng điếu, Huyền tham gia thì mình sẽ ứng rồi gởi lại mình sau cũng được, chúc hạnh phúc nhé”. Huyền nhắn lại “OK” rồi buông thỏng hai tay, tựa người vào lưng ghế thở phào.

Chiều nay Khải sẽ đưa chị đi bác sĩ phụ khoa. Nỗi lo lắng về “những hệ lụy có thể xảy đến sau này…” đã theo cái chết của Đạt vĩnh viễn thôi dày vò Khải và chị!

Chị gọi cho cô tổ trưởng bán hàng, cho biết là chiều nay nghỉ sớm, dặn là nhớ để bảng thông báo: “Kiểm hàng” như mọi khi.

Cô bác sĩ phụ khoa trẻ mĩm cười, nói với Khải và Huyền:

-Cô có thai rồi, khoảng ba tuần tuổi.

Khải mừng ra mặt, trong lòng Huyền dấy lên một tình cảm khác lạ, mâu thuẩn, không hoàn toàn vui như Khải, chị vào giường nằm khi về đến nhà. Thấy chị không vui, Khải xoắn xuýt bên chị càng làm cho chị thêm khó chịu. Khải cũng lên giường nằm bên Huyên nhìn lên trần nhà. Thấy Khải như thế, chị ngồi dậy nói:

-Em chỉ hơi mệt một chút, anh làm cho em ly nước, có lẽ do cái thai thôi. Khải nhổm dậy nhìn vào mắt Huyền:

-Thật hả em, em thấy có mệt lắm không?

-Nó cứ dợn dợn muốn ói…Bác sĩ dặn lúc nào đến khám lại vậy anh?

-Cô ấy nói là nên đến hàng tuần em ạ.

Khải đến tủ lạnh nhìn vào trong, phân vân một lát rồi lấy bình cam vắt rót ra ly. oOo

Huyền trố mắt nhìn vào bồn vệ sinh, một chút máu hồng hồng loang trong nước tiểu, chị trở vào ngồi lại bàn, hơi thở chị mệt mỏi làm các nhân viên lo lắng, chi bảo họ chị không sao…Rồi gọi điện cho Khải:

-Em thấy có chút máu trong nước tiểu anh ạ. Tiếng Khải hoảng hốt:

-Ủa, sao hôm qua khám vẫn ổn mà em?!

-Anh về được không? chở em đến khám lại xem nhé.

-Ừ, chờ anh một lát.

Chừng hai mươi phút sau, xe Khải dừng trước cửa hàng, anh lùi sát cửa ra vào rồi tắt máy, vào đặt tay lên vai chị:

-Em thấy trong người thế nào, em có làm gì nặng không?

Huyền ngước mắt nhìn Khải, chị lắc đầu nhè nhẹ rồi đứng dậy, Khải dìu chi ra xe, tay mở cửa tay vẫn giữ vai chị, Huyền ngồi vào ghế tựa người vào lưng nệm êm, Khải vòng qua mũi xe ngồi bên chị với vẽ bồn chồn lo lắng. Cô bác sĩ hơi nhăn mặt khi nghe khải nói, nhìn qua chị, rồi dưa tay kéo màn phòng khám, dẩy nhẹ lưng Huyền:

-Cô nằm lên bàn cho cháu xem lại.

Hai mắt cô bác sĩ trẻ dán lên màn hình, tay rà chầm chậm lên bụng Huyền, màn hình màu nhấp nhoáng liên tục. Huyền cũng hồi hộp chờ đợi…

Vừa ra khỏi phòng Khải đã chồm tới:

-Có sao không cháu?

-Cô về uống hai viên thuốc này, nếu sáng ngày mai vẫn ra máu, cô đến cháu xem lại nhé, thai năm, sáu tuần tuổi thường xãy ra nhiều biểu hiện như thế cô chú ạ.

Huyền vẫn khỏe, chị chỉ hơi cảm thấy buồn nôn. hơi đau lâm râm phần dưới bụng như những ngày trước lúc hành kinh. Khải cố làm ra vẽ tỉnh tào nhưng thỉnh thoảng lại thở dài! Anh bảo chị đi ngủ sớm. Có lẽ do mệt, Huyền thiếp đi rồi ngủ thật sâu, khi khải vuốt lên má, chị mở mắt dã hơn sáu giờ.

Nhìn vào bồn vệ sinh, vẫn có chút máu hồng hồng, Huyền gọi Khải vào, xem xong anh gọi điện cho ai đó, có lẽ là công ty. Huyền suýt bật cười khi Khải làm gì cũng rón rén nhẹ nhàng, nói diện thoại với phòng khám cũng ra ngoài thầm thì!

Phòng khám có thêm một bác sĩ lớn tuổi, trạc tuổi Huyền. Cả hai như đang chờ chị đến. Người bác sĩ lớn tuổi giới thiệu minh tên là Như. Huyền cùng hai bác sĩ vào trong nằm lên bàn. Hơn nữa giờ siêu âm, bác sĩ Như mím môi nghiêm nghị:

-Thai không bám vào thành tử cung chị ạ, trường hợp này cũng ít nhưng có lẽ chị đã lớn tuồi lại mang thai lần đầu!

Khải không cần ý tứ, vạch màn phòng khám hỏi:

-Liệu có giử được thai không chị? Chị Như lắc đầu:

-Không, thai đã hư và không phát triển được nữa, có thể uống thuốc rồi thai tự ra nhưng gắp ra lúc này là hay hơn cả.

Khải nhìn Huyền rồi buồn bả nói gọn lỏn:

-Vậy nhờ chị.

Ngồi trên xe, Huyền nhìn Khải như đo lường nỗi thất vọng trong lòng anh. Khải im lặng nhìn chăm chăm phía trước, khi dừng xe trong sân nhà, anh quay qua nắm lấy hai bàn tay chị, nhìn sâu vào mắt thầm thì:

-Anh xin lỗi em, anh rất hối hận!

-Anh biết rồi đó, cả em cũng là nguyên nhân hiếm muộn của chúng ta chứ không phải riêng một mình anh!

Rồi Huyền ôm lấy đầu Khải, luồn năm ngón tay vào trong mớ tóc lốm đốm bạc:

-Đừng quay quắt chuyện hiếm muộn mà làm những đều trái lẽ tự nhiên. Một đứa con nuôi, nếu chúng ta có phúc, có khi mang lại nhiều hạnh phúc cho chúng ta hơn đó anh. Mai em gọi diện ra Huế nhờ một người bạn là nữ tu, đang phục vụ trong trại bảo trợ những sơ sinh vô thừa nhận, lo cho mình một bé gái thật xinh, anh nhé!

Khải cũng vòng tay ôm lấy cổ Huyền, hôn nhẹ lên môi chị:

-Ừ, anh cảm ơn em, cảm ơn em!

Sài Gòn, tháng X. năm 2014.