vietmessenger.com
Vương Hồng Sển
Post by Sơn râu 8 Nov 2025

2. Phần 2
Trước Khi Trở Nên “Thành Phố Hồ Chí Minh”, Sài Gòn Cũ Đã Đổi Thay Như Thế Nào, Từ 1919 Đến 1990 (viết từ 18-6-90)
Ngót bảy chục năm dài, từ 1919 cho đến năm 1990, gần dứt thế kỷ XX nầy, tuy có đổi tên và đổi người cầm đầu, nhưng Sài Gòn vẫn là Sài Gòn, nay như xưa, không khác, cũng bao nhiêu rác rến, hết đổ thùng đến cầu tiêu máy, nhưng vấn đề nước uống vẫn luộm thuộm như cũ, mùa nắng dân thợ ở xa, vẫn tự kiếm lấy, mà uống ăn, nước trong ống thiếc hay keo su, rỉ ra, vẫn sét đóng đỏ sậm vào chậu sành rửa tay, thử hỏi nước ấy cho vào bụng ra thế nào, và tự gẫm dân ta sanh nhiều và sống mãi mãi, không phải nhờ giữ vệ sanh và phải có trên cao kia phù hộ. Không nói đâu xa, đời vua Tự Đức đã dứt từ năm 1883- dân ở đây nào thấy long nhan ra sao, nhưng cho đến năm 1919, vẫn ky húy, nhớ câu hát:
“Chiều chiều bắt két nhổ lông, két kêu bớ Tự, sao lòng bất nhơn?” cho đến tuổi gần xuống lỗ nầy, mới biết Tự đấy ám chỉ vụ “em giết anh khác mẹ, để giành ngôi” – và đèn điện cháy nơi hãng Nhà Rồng của hãng tàu đi tây, vẫn không sáng hơn đèn thắp đầu phộng của dân trong phố. Có tục lệ ban đêm ra đường phải xách đèn lồng đem theo, tay không đèn là kẻ gian, nhà đèn đỏ đèn lộng kiếng xanh xanh là nhà số, thanh lâu, lầu hồng. Miệng hát kéc kêu mà vẫn nhớ vua, tôi có người bác tên Tự, nhưng Ba tôi dạy gọi bác Tư Chữ, và khi
Tây chinh phục bán đất, dân Nam không tranh mua, để cho bọn sớm ngã theo kẻ thù, mua rẻ rề, và sớm làm giàu: “Người Nam mà ở đất Chà (chetty), ở phố của Chệc (phố chú Hỏa), hoặc là của Tây (hãng địa ốc Crédit Foncier).
Trải bao hưng phế, Tây thua bỏ chạy, Nhựt chiếm rồi Nhựt đầu hàng, Mỹ qua rải rắc đô la mua rẻ chữ Trinh, hết Hữu qua Diệm, Thiệu, Kỳ đóng tuồng dở ẹt, dân Nam đổi tên là Việt, nhưng sợ cọp, sợ luôn cứt cọp, thằng Tây đen Bòn bon, (sanh ở cù lao Réunion, Bourbon) tay cầm roi mây (ma trắc chưa có), du côn dọn bàn sợ lấm lét, có câu: “Kiếp sau nếu có làm người, làm ông Tây trắng, hay thằng Chà đen”, “ông Tây ổng nắm cái quyền, Thằng Chà nó có đồng tiền cho vay”. Trong khi ấy, người Việt hiếp người Việt, tuy khiếp sợ da trắng da màu, nhưng cho đến bao giờ, thia thia sặt rằn vẫn quen chậu lên nước đá nhau trầy vi tróc vảy, điền chủ hiếp và cướp vợ người mướn đất, ngày nay đổi vai, con cháu của bần cố nông lấy ruộng và làm chủ cháu con của tư bản, bù trừ. Thành phố Sài Gòn mở mang, như chớp nhoáng; mau đến viết lại không kịp. Tiến hóa cũng không theo kịp số dân sinh sản. Và đường mới được xẻ thêm, duy dơ vẫn còn dơ.
Ngày xưa, cái gì cũng của vua, “Chợ búa là chợ vua”, sứ quan chế, gốm quan dụng, đường quan lộ, nhưng phần đông khiêm tốn tiện tặn theo túi tiền, khi quan Phan đi sứ về, tâu lên: “Pháp có thạch lộ, thiếc kiều”, các quan Huế bỉu môi: “Hứ! đi xa về nói khoát! Ta giàu thế này mà chưa đủ đá để mài dao, không có sắt để chế gươm” và Nguyễn Trường Tộ kêu gào cách mấy, vua cũng chẳng nghe, vì Tộ là người của Ki tô giáo! “Xóm có Tây ở, thì có mấy con đường thênh thang, nhờ lắp mấy đường nước dơ (đại lộ Sạt ne, đại lộ Bo na, đại lộ chợ Bến Thành, v.v.), một đường duy nhứt đắp đất từ Sài Gòn chạy ra Huế, danh gọi “Đường Cái Quan”, bao nhiêu đường xóm Tân Định đều uốn khúc quanh quẹo và hẹp té, vì lấy theo ranh vườn đất của tư gia và không ai chịu nhường cho ai (đường xóm chùa dọn bàn, đường xóm hậu bôi đường Trần Quang Khải, xóm Hê rô (Héraud) đã từng giết Tây lúc binh Nhựt chiếm đóng và Nhựt hiếp Tây ra mặt, những năm lối đảo chánh 1945/46, mấy ả đầm nhí nhảnh, mặc quần cụt hở hang, ưỡn ẹo khoe mông đường Ca Ti Na, đi ngang nhà hàng Công Ti Năng Tan, mé nhà sách Bọt tai, quan võ Nhựt, thấy chướng mắt, lấy tay lật tuốt bùn rền và tuột luôn quần cụt, bày mặt bợm tô hô, đầm hay mạng phụ quan to, chỉ còn nước chạy vô nhà quán, hoặc ngồi bẹp xuống đất mà lấy nước mắt che xấu. Còn lại câu: “Rượu say sưa, say rồi lại mửa, ụa mửa rồi, say nữa mửa nữa”. Không chịu thua, say đối: “Bụng chửa mang, chửa rồi đẻ, đẻ chửa rồi, chửa nữa, đẻ nữa!”
Dân số khi Tây đến, thưa thớt đếm trên đầu ngón tay được, lần hồi, ở quê dồn về chợ, dân bỏ ruộng day qua nghề làm thợ, đèn tối om, đàn ông thì thất nghiệp, bày ra rượu chè say sưa, đêm càng tối, con nít cứ sanh thêm, và chợ, nhà, phố xá, đường lộ cứ xả thêm rác, đêm đêm lén bỏ rác nhà xóm, duy nhà mình giữ cho được sạch là xong, có chuột chết, quăng liệng xác ra đường, vệ sinh đâu và lời dạy của xã hội chủ nghĩa nhắc như kéc mà không thực hành.
Cây sao trồng thời Tây, hai bên lề đường, cây vừa phát cho tàn, đường rợp mát thì Mỹ đem xe lớn qua, đường chật hẹp, đồn cây làm xa lộ, phố trệt chồng lầu, đào đường hắc phanh đặt ổng nước, lâp không kỳ cang, nay lòi ổ gà, tổ hay ổ, phân vân giữa tiếng Bắc và tiếng Nam, chưa thống nhứt.
Phố chú Hỏa, mấy năm kinh tế khủng hoảng, phố bỏ trống, phu xe kéo phá cửa xúm nhau vô ở, công ty chú Hỏa không bao giờ đuổi, rằng: “Phố có người ở, ít có mối mọt” và người ở tỉnh muốn mướn, Chú Hỏa dạy hãy điều đình với người ở cũ, hãy chịu tiền nước cho họ dọn đi, chớ công ty tôi không có lệ trục xuất ai bao giờ”. Nhà chú Hỏa là một kho tàng liễn Hán đều là chữ mấy ông Trạng nguyên danh tiếng, Phùng Tuất Tài, vân vân, liễn bị tháo xuống làm liếp trồng rau trồng hành, miếu Minh Hương Gia Thạnh, lấy làm xưởng, chùa Thất Phủ, vì có thờ Quan Đế, để cho thấy không tin dị đoan, hạ bệ tượng, lấy chùa làm ga ra chứa xe, giận chúng tôi chưa đủ, ghét luôn ông thần, duy trải mấy dời từ Tây đến nay, đứng sựng sựng áng che tòa bố gàn trở đường thông thương, nhưng miếu Lê Tả quân ở Bà Chiểu, vẫn trêu gan cùng tuế nguyệt, nay thêm được trùng tu, vảy may là được quốc tế nhìn nhận, đó là cổ tích như duy nhứt của Miền Nam, đáng được bảo tổn.
Ngày nay nhìn trong sách, thấy nhà cao ốc lềnh khênh, nhưng chỉ ở xóm buôn bán, năm 1923, chúng tôi từ trường được dẫn đi đạo mát, khu đường Nguyễn Đình Chiểu chạy lên khu vườn xoài, vẫn còn đất trống, giáp với Đồng Tập Trận, bắt từ nhà thương Bình dân lên trường đua Phú Thọ, đều là đất bỏ hoang, chính ngay gần nhà xẹt Tây, trên đường Hồng Thập Tự, xóm Tao Đàn, năm 1923 ấy, vẫn còn thấy bên lề là một xi tẹt chứa nước để chuyển xuống xe nước do hai bò kéo, và rải nước tưới đường lát đá ong, mùa nắng, bụi cát bay mịt mù mà đèn dọc theo đường, đèn hiệu mà không đủ sáng, duy khu Ca ti na, và nơi vườn cổ thụ sao gần trường Ta be, vẫn còn đến lớn thắp bằng than cạc bon, chốc chốc, cục than rớt xuống, và có một lúc, không nhớ vào năm nào than đá Hòn ngoài Bắc chở vô không kịp, Nhà Đèn Chợ Quán, dùng lúa đốt thay, vừa ngợi, rẻ tiền, và Miền Nam dổi dào lúa dư nên phí phạm, nay ông trên cao hành, cơm tế không đủ ăn, cũng đáng!
Các đại lộ thành phố, nhờ thời Mỹ cho đặt ngẩm dưới lộ, kinh tâm hai mét, nên ống kiên cố dẫn nước thông, lộ được khang trang, thương hại các hẻm nhỏ, đừng nói chi hẻm, khu ga xe lửa cũ, ngay gần chợ Bến Thành, khu trường vẽ Gia Định, khi mưa to, nước chảy không kịp, ngập đến đầu gối, xe cộ đều nằm ỳ chờ nước rút, trẻ con dầm mưa tắm, đùa giỡn không sợ xe cán, còn đâu là trật tự, xóm tôi có một gái, cỡi xe đạp, trời mưa dông to, bị xe hơi cán nơi đường trước ga xe lửa ấy xe bỏ chạy luôn, cô gái không ai tiếp cứu, nằm đó rồi tắt hơi, tội nghiệp thay cho cô Tám, sanh bất phùng thời, có học vấn, nhưng thuộc dòng tư bản, xã hội nầy, bỏ rơi không che chở.
Thời Pháp, đường ít có lề, qua thời Mỹ, mới thấy đúc lề đường bằng xi măng vững chắc. Chính mắt tôi thấy lối 1930, ở Gia Định, một người ăn xin cắng cao cắng thấp, ban ngày anh chống gậy đi hành khất, thỉnh thoảng tôi gặp lại anh, vào buổi chiều, anh bỏ gậy và đi dọc theo lề trước nhà bà Phước Mỹ, một chơn bước trên lề đá, một chơn đi trên lộ đường, anh đi ngay thẳng như người lành mạnh, khi anh chết, nghe đâu để lại bạc ngàn, nhưng 1930, thành phố đã bắt đầu có dân đông, có ai để ý và theo dõi như tôi mà biết anh là ăn mày đa mưu xảo trá.

Vấn đề nước tốt cho dân dùng, vẫn choán những hội đồng đô thành nhóm để bàn cải không thôi, giếng chứa nước ngọt trước dinh Độc lập nay vẫn còn, sau nầy nhờ đem nước Đồng nai về mới yên, thuở tôi lên đây lối 1920, nơi hoa viên Tháp Rùa, vẫn có một tháp cao xây gạch để đưa nước phong tên vào các nhà Tây, nay còn vết tích những ống dẫn nước to của công ty đèn nước, và thời Tây trở lại, quãng 1950, hội Cổ học ấn Hoa nhóm, tôi được dự, mấy ông Tây mới chê mấy ông Tây cũ, đã ngu dốt, tại sao lúc qua đây, không định đô ở Vũng Tàu, sẳn sơn sản hải, cảnh xinh gió mát có một bác sĩ viện Pasteur, chẵm rãi tỉnh bơ giải nghĩa:
“Chúng bây còn niên thiếu, thiếu kinh nghiệm, nếu lập thủ đô ở Ô Cấp, nước ngọt đâu có để cung cấp cho dân, thêm nếu có chiến tranh, tàu chiến ngoài khơi bắn vào, chết cha mổ tổ, trái lại, đặt khu cai trị ở Sài Gòn, dưới đất có nước ngắm rất sạch, thêm vùng Gò Vấp là vùng giếng tốt, lại nữa, vào cuối thế kỷ XIX, đường sông từ biển vào Sài Gòn quanh co đủ có thì giờ phòng bị, và thời ấy chưa có máy bay cao xạ, chúng bây ngu lại trách chúng tao!”
Ngày nay, xe tốt, đường tốt, xã hơi chạy ra tắm biển, Ô Cấp, Nha trang, lên Đà lạt, chớ khi Tây qua đây, chúng làm đường giáp vòng khu rộng Gia Định, giáp Tân Thuận, gọi là đường vòng đai, chiều chiều xe nhà, xe song mã đưa bà đám, Tây u dạo mát, rồi lần lần lên Thủ Đức ăn nem, tắm mát suối Xuân trường, những nơi ấy nay đã lối thời, duy một tệ đoan tổn tại mãi, có lẽ máu mê cờ bạc đã nhiễm vào cốt tủy, từ xưa
Tây qua đây đầu độc bán a phiện và rượu của công ty Tây chế bằng gạo lức, uống cháy họng, thêm bày ra sòng me cho chệc Tàu khai thác, đề 36 con công khai, me từ Chợ Lớn ra tới khỏi chợ Bến Thành, xuống đến những năm đảo chánh, sân Tao Đàn có Hồng ốc, Cầu ông Lãnh có Đại Thế Giới, me hốt đống thả cửa, ba ngày Tết cho bạc bài tại đường giữa ca ti na, và đồng bào ta ưng bụng để vợ con thiếu thốn, có bao nhiều tiền mót máy đều cho vào sòng bài, thua-hạch túi nhưng vẫn cười tít toét, chờ bán heo cúi xong sẽ gầy sòng gỡ gạt, “bán thiệt giá hai bàn tay bạc, dầu cho rẻ mạt tám ngón mới vừa” (tuồng Thằng Lãnh), đốc phủ Trần Bá Thọ, Huyện Kim, Phù Mẫn, cò mi Lân Bảy Viễn, vua kia cũng sống bằng thuế nhà xẹt Bình Xuyên, hết me đến quây số, chửi Tây vơ vét máu mủ, đua ngựa, nhưng xổ số liên tục, mỗi ngày mỗi tỉnh là giống gì. Ở ruộng, trước đây ngày giỗ của cha ông ông chủ điền, vui và bạc bài như chợ phiên, ở chợ hiện nay, cá ngựa, đá gà, xổ số là mấy thứ, trúng được bao nhiêu người, trúng một lần bị rút rỉa thua lại bao nhiêu lần, tiền cờ bạc, thẳng thì ăn xài huy hoát, quên buổi thất bại, áo quần vợ con, gạo trong lu hũ đều ráo nạo chun chui vào sòng!
Lỗi tại mình hư nết, chớ trách kẻ bề trên. Xưa đường xá hẹp uốn khúc quanh co, không đèn rọi sáng mà đặng thái bình, nay đèn sáng choang, nhà cao ốc, lộ khang trang, nhưng cướp xe, chống lại thì đâm lòi phèo đổ ruột, xưa dân thưa thớt mà đủ ăn, nay thành đông nghẹt dân thất nghiệp ngủ đường, máy móc thay nhơn công, tiến bộ văn minh giá quá đắt. Văn minh ư? Xưa ăn chắc mặc dày, nay quần áo mỏng kiểu khiêu gợi, “áo vá vai vợ ai không biết? Áo vá quàn chí quyết vợ tôi”. Câu ấy quá xưa, trẻ nay nào biết tiết kiệm như ông bà thời đường cựu. Văn minh là nhà hàng sang, bán xa xí phẩm: vải lụa nhà Marty,
Laurent Gay góc đường nay là Lý Tự Trọng/Nguyễn thị Minh Khai, ban đầu bán đồ bắc kế ngựa (yên da, hàm thiếc), xe giá ty trái bí, sau bán ô tô hiệu FIAT, nhưng xe bền có hãng SIT bán xe hăng Renauld và hãng Charner, bán xe hiệu huê kỳ, uống xăng như trâu bò uống nước. Nhắc lại sòng me còn để lại dấu tích mấy á muối, có một xẩm con của Đại Thế Giới, tay đeo ba nhẫn xoàn, vì cặp bồ với ba công tử Tàu tỷ phú Chợ Lớn, xưng danh là Tân Vũ Hậu, tay vùa chén me, miệng hô líu lo: tại sao bốn cửa me, không nói tứ môn, lại nói “Xí mứng”, mặt 2 gọi lượng mặt 3 gọi tam là phải, nhưng vì sao, mặt 1 lại gọi “vêu” và mặt 4 lại gọi “túc”, đánh cầu âu là đánh ngay một cửa duy nhứt, còn đánh “hồ giấy mộng mị” là gì, đố biết.
Các thím là các vợ Tàu, các cô, lấy Tây, khi Tây đi qua, lính ta leo lên ngọn cây, tuột xuống, la hoảng:
“chúng nó bỏ con chim của chúng ra ngoài quần, khua nghe lẻng kẻng, dài chí gối, nhưng con chim ấy, khi làm quen và dụ được thuần thục rồi, thì nào ghê sợ, lại chê của nhà, mềm như chuối nấu, ban đầu lấy giấy bao nhang làm son thoa môi giồi mặt, sau học được phấn Coty, nước hoa từ xứ Pháp đem qua, vua Minh Mạng, ghét Tây nhưng thích nước eau de Cologne, vua hút thứ a phiện, lại sinh thơ, làm bát cú có câu “Quên coi túi Nguyễn hết hay còn” nay ứng nghiệm, sạch sành sanh, đến nữ trang khéo trong lăng bà Từ Dũ cũng nấu chảy thành vàng cục, gọi là “hóa nghiệm” không biết chưng bày triển lãm, hóa ra giết mất “con gà đẻ trứng bằng vàng”. Và gái ở đây ngày nay, tiến bộ quá mức, học đòi đào chớp bóng Mỹ, đeo lông mi giả, nheo nheo đô la, khiến nên bại trận, khổ lụy, khổ lụy trần ai, sao bì ngoài kia, bà bán bún bung đường Thủ khoa Huân, to như bà thờ mày trắng trong truyện Kiều, to như thế ấy mới vác nổi từ khúc rời, cây súng đống thắng trận Điện Biên Phủ.
Lần hồi gái bỏ dầu dừa, và xức tóc nước hoa đắt tiền, các phấn son, giày dép ở Paris có thì ở Sài Gòn cũng có, guốc ngủ bằng ngà, bắt chước đàn bà Bà Ba Ma lai, thay bằng guốc Phi Mã, không xách giỏ đi chợ lại xách bóp đầm, một bà lớn nọ hai tay xách hai túi, và mới đây, ở lăng Ông Bà Chiểu, Tết Canh ngọ có xây chầu hát bội, một ký giả kỳ cựu, nhiều người biết tiếng, miệng ngậm điếu thuốc Gò ướt, thuở nay lam lụ xập xệ, tay không quên cái bị như các cán bộ từng đi kháng chiến, nhưng y ta chỉ kháng chiến vùng khu đất Đakao, mồng bảy giêng vừa rồi, lại chễm chệ áo dài bông bạc chữ Thọ và đầu bịt khăn Suối Đờn, đeo nhỡn kính cận thị không giấu được tuổi trên sáu mươi. Tưởng nên giữ y phục như cũ là đáng khen hơn.
– Người đất Sài Gòn.
– Về phách lối là số dách. Tây qua, nhỏ thì xách rổ khiêng vác cho các mụ đầm đi chợ, gọi là “ban bù” (bambou), vẫn đá cá lăn dưa, đổ hột bầu cua cá cọp, lớn tuổi hơn, đi ở dọn bàn, nấu ăn cho Tây, áo thun sát da hay bành tô sáu nút, dây nịt nỉ cao một gang tay, trẻ nít được học chữ Tây trường Pháp, biết vừa hai tiếng “ủy nông” (oui, non, có hay không), đủ làm mấy ông thầy, cắt bỏ búi tóc, duy vẫn giữ áo dài khăn đóng, một thế hệ tiếp, tóc hớt ngắn hoặc chải lưỡi mèo, chải ma ninh, sau đó hớt tóc trụi và quên luôn tiếng Việt, khuyên bà mẹ vợ nên dùng xe kéo tay để về nhà, lại gọn lỏn: “Má lấy xe kéo về cho gọn”, bà ta không vừa, chửi đổng: “Cái đ. mẹ họ mầy! Tao có con, gả cho mầy, mầy trả ơn, biểu tao lấy thẳng kéo xe xe kéo!”
Trào Tây là như vậy, qua trào Nhựt, thì “dô tô nai, ai cà, ai kia” kịp trào Mỹ thì ô kê, bãi! bãi! Đến trào nầy, tôi nào dám nói, gương cũ để lại, Diệp văn Cương, ở Hanh Thông Tây, ở chăn bò được chủ mướn đi học thay cho con, qua Alger học thành tài trở về, ra Huế thế cho Trương Vĩnh Ký, làm thầy dạy tiếng Tây cho vua Đồng Khánh, một ông nữa, Phạm văn Tươi, gốc ở Vĩnh Long, làm thơ ký ra Hà nội làm bí thư cho toàn quyền Doumer, theo ông nầy vào Huế, vua Đồng Khánh lần đầu tiên, ra sắc chỉ cho các quan đồng tịch, để dự yến tiệc, thời theo kiểu lang sa, Toàn quyền yêu cầu triều đình Huế mời dự tiệc người bí thư, các quan Huế khiếu nại, phải hàng tổng đốc sắp lên, mới xứng ngồi cùng đức vua, toàn quyền cười và dạy: “Làm sắc chỉ cử ông Tươi làm tổng đốc đi, có khó chi việc ấy, vì chính tôi ký tên phong chức! Trần Bá Lộc sát hại đồng bào, giết người chống Pháp không biết cơ mang nào kể, Lộc cũng được chức tổng đốc và huân chương mề đay điều cao tột bực, nhưng khi toàn quyền nầy lui về Pháp rồi, triều đình Huế trả hận, viện cớ người trong Lục tỉnh Nam kỳ, không được thu nhận chức của triều đình Huế, hai ông Tổng đốc trong Nam đành ưng chức “hàm”, nhớ lại có tuồng cải lương “quan Huyện hàm hàm” của Lê văn Nở soạn, ông Tươi hiền lành, khi từ trần không mang tiếng xấu, khác với Lộc, giúp Tây và bán nước, nay chỉ còn danh nhơ, nước sông Cái Bè (Mỹ Tho) gội làm sao sạch?
Viết đến đây, nhớ tật ưa nói chuyện tầm xàm, xin xin mở một dấu ngoặc, ghi lại đây một giai thoại không dính dấp chút nào đến chuyện Sài Gòn, nhưng vẫn cho thấy khi gần bị xử bắn, còn tranh cho đứng. Nguyên khi chúa Kito bị xử treo trên cây thập tự, chúa bị treo giữa hai kẻ trộm, và tên treo bên tả là đứa bán chủ hay sau nầy là chúa để lấy ba mươi tiền hỏen. Trong chuyện nói đây là chuyện đồng thời vi với lúc nước ta bị vua Napoléon III của Pháp sai lính Tây đánh chiếm nước ta. Và chính ngày 19 tháng 6 năm 1867, trùng với năm đinh mão bên ta quan Phan tuẩn tiết, thì bên xứ Mễ tây cơ, vua thuộc dòng hoàng tộc Pháp, Bourbon của Âu châu, vì thất trận, bị phe nghịch xử bắn, cùng một lúc với hai cận thần đều là đại tướng, một ông tên Miramon, và một ông nữa, người lai hai dòng máu tên Thomas Mejia, vua tên Maximilien, đứng trước ba cây trụ để xử bắn, vua nói:
“Ta rất ưng chết giữa một ngày quang đảng như vầy, và muốn được đứng giữa hai trung thần, hết lòng vì ta và vì nước, vậy Miramon hãy lại đứng bên hữu của ta”, vua nói chưa dứt lời, tướng lai Thomas Mejia chận lại xin thưa: “Tâu Bệ hạ, kẻ hạ thần nầy xin chết với vua không tiếc mạng, nhưng nhớ lại ngày trước Chúa tử tiết, đứng bên tả là kẻ trộm nhơ danh nhứt, và ngày nay kẻ hạ thần không muốn mang tiếng như tên đạo tặc bên tả như vẩy”, vua vừa nghe tâu, vội cười mà phán rằng “Đến giờ phút nầy, khanh còn nhớ điển và câu nệ tả hữu, như vậy cũng được, vậy thì khanh hãy bước qua đứng bên hữu của tướng Miramon, trắm đây đầu dộc tội nhiều, trấm ưng làm tên đứng bên tả…” và cá ba đều bị xử bắn, tướng Miramon ênh ngực cho cho đạn soi tim, tướng lai Mejia, tay lần chuỗi, còn vua khoanh tay trước ngực, hãnh diện hô to: “Ta tha thứ cho tất cả, và ước chi giọt máu của ta sẽ làm êm dịu cuộc tương tàn của xứ Mễ Tây Cơ này”. Sử chép bà hậu vợ của Maximilien để, khi nghe tin dữ, bỗng loạn trí luôn và sau sáu bảy năm mới từ trần. Khép đấu ngoặc có xảy ra việc đi chuộc đất bất thành và chớ chi vào năm 1870, Tây thua, triểu đình Huế biết thừa cơ kháng chiến kéo dài, thì ắt ta khỏi làm tôi Pháp và bị Pháp đô hộ, nhưng như đã biết, sử và sự thật đã hiển nhiên, hơi đâu bàn suông lếu
(19-6-1990).
Trở lại người dân đất Sài Gòn, như tôi đã nói, dám chắc không dân nào trí lanh tay xảo hơn. Khi nay bỏ áo giáp, tuột giày trận chịu đi đày, bán từ bàn thờ tổ tiên, bán ván gò để nằm dưới gạch, căn đày kiếp đọa, tiếc đã muộn trước kia, đã lai nhiều đời, lưỡi uốn éo ngọt xớt, nhái đủ giọng, giọng Bắc, đầy đủ, làm tốt, giọng Huế, mi mày tê mô, học với Tây nhái giọng rặt như dân kinh đô Paris, không phải sanh tại gốc mẹ, ở từ đất phèn tứ chiếng, lại khoe cha Bồn kèn, mẹ đứng đường Lăng Xi Bề, và lạ một điều, kép Bắc muốn ca vọng cổ phải bó nói “vào, vô” và bắt chước Ba Văn, cũng dào, dô, mới học được ca sáu câu mùi, lượm tiền xơi phở.
Không ra Huế nhưng làm công tử Bột vẫn trọ trẹ, không từng biết Hà Nội, nhưng rao kẹo kéo có dây có nhợ và tập húc thuốc Lào, khi say thuốc, bán ba tê trên tàu hóa, bị trẻ ăn cắp bánh mà không hay biết. Kép Tư Út, khi ngâm bài anh khóa, đừng nhìn mặt, đố ai biết Út sanh tại Giếng Nước xứ Sốc Trăng, cũng gốc phèn như kẻ nầy. Nhà ở mọc như nấm đầu mùa mưa, khi lẹt đẹt ván thùng, nóc lá chăm lá khiểu, khi thì cao ốc nhiều từng, động động là cho bà hỏa phi tang, nhà cổ năm căn, cột chạm rồng của Tổng đốc Phương, chưa đầy trăm năm, nam ngoái đã bán và chở qua Đài Loan, khu Xóm Chiếu, khu Bảy Hiền, có “nhà đá” không phải nhà bằng đá khối, và đích thị nhà ọp ẹp, đá cho một đá, nhà đi đời như đồ mẻ.
Đèn đuốc, từ dầu phộng, dầu cá, qua dầu hỏa của Hoa kỳ, chúng nó bày ra dầu nhạy lửa này, trong Nam dầu lửa, ngoài kia dầu hỏa, kẻ chữ người nôm vẫn cùng một chúng tộc, Hoa kỳ bày bán cho luôn cây đèn có ống khói, vừa quen quen, chế ra đèn thắp khí đá, đèn thấp ét xăng có măng song chói sáng, rồi bắt qua đèn điện, tiếp chuyển đèn néon, hộp quẹt đá lửa qua hòm diêm, quẹt xăng, rồi quẹt dùng hết khí thì quãng, thuốc ngon nửa điếu ai thèm, điếu bọc đầu hiệu 555, khi mua đổi tiền đã qua, một điếu mua bạc triệu, dân Sài Gòn dám chơi mà lị. Xưa giận nhau, chém dao để thẹo, sau đó đâm hay bắn nay bắt cóc khảo từ tiền kẽm qua tiền điếu, bạc tròn ra bạc giấy, sắm rương xe giường hòm, trộm hai đứa khiêng nguyên nắp thò tay lấy của sắm tủ sắt, cướp phá tủ không xuể, bắt chủ nhà mua đinh cây, tự mở tủ sắt lấy, không ưng mua, kẻ cướp đóng cây đinh dài một gang tay vào lỗ nhĩ, tài chủ có chịu đau thấu chăng?
Dân Sài Gòn tự khoe tiến bộ ký quỹ, gởi tiền nhà băng.
Giái phóng vào, hốt sạch sành sanh, thua xa dân đàn Thổ Trà Vình, Sốc Trăng không xài bạc giấy, lấy bạc đồng nguyên chất, bán lúa mùa nầy xong, chôn bạc giữa lẫm rồi đổ lúa mới lên trên, ăn cướp đến viếng, cứ chỉ lẫm, moi sạch lúa mà lấy bạc! Biết phải mấy ngày trời mới moi xong vài ngàn gia lúa, số bạc cần dùng, chủ Thổ gởi vào chùa Phật, cướp Miên không động đến Cng lục bao giờ, còn mấy đồng bạc con đầm lé, bán cho bọn chơi đồ cổ, tôi hiện không theo dối và không biết giá, muốn biết xin ra đường Đồng Khởi, hỏi chệc Tàu chuyên bán tiền xưa.
Người cố cựu Sải Gòn, tôi được thấy và biết, ở Chợ Cả, có hiệu “Kim Ngọc” của ông thợ bạc cha của hội đồng Trần Văn Khá, qua Mỹ từ lâu, ở Dakao, đường Đình Tiên Hoàng, có năm căn nhà trệt trước nhà có hai cây nhân, gánh mì rất ngon (mì cây nhãn), trong Chợ Lớn nay vẫn còn trên đường Nguyễn Trới, nhà Hộ Xưởng, nhà nửa sạc thời Tây đường Nguyễn Đinh Chiều có nhà Sáu Ngọ, tên Pháp Là Paul Daron, chuyên chứa bài chứa me, đường Cách Mạng Tháng Tám, có nhà Sáu Nhiều, cũng chuyên nghề đổ bác, đường Trần Hưng Đạo, có nhà bà Hà Minh Phải, chứa nhiều cổ vật có giá trị, sau bà dọn về đường An Bình (Chợ Lớn) và năm rồi quân vô lương đã đào mộ trộm của lấy mất đầu lâu và cục kim cương trong họng. Khoe của thật tai hại, chưa chắc lo lớt dưới Diêm đài, xác chôn từ lâu nay mắt đầu.
Không phải tôi nói xấu, có thiếu chi người cầm bút trước đây không lâu muốn bợ mà bợ không đúng chỗ, xách bị sây xuống đường, nịnh bên kia, mà nay chạy mất, đâu còn mặt mãi nào. Kẻ tu hành khác không chịu giữ đạo, lãnh dạy trường lớn, công giáo bênh công giáo, mặc áo đen thầy dòng, không biết cao lâu Tầm Dương, tiên nâu Bạch Hạc của tiên Lá Đồng Tân, chữ “tiên lâu” một thầy dạy Văn khoa viết sách, tưởng in lầm, nên sửa lại, “ăn tiên lâu” thay vì ăn tiên lầu, là lên lầu Chợ Cũ, xực cơm thố, cha Lãng nào biết và để lại chữ in rõ ràng “ăn tiêu lầu” dốt ơi là dốt. Nghề bán cơm là thạnh hành nhứt, từ cổ chí kim.
Sài Gòn là ngõ quốc tế, nơi tụ hội người tứ chiếng, Tây Nam Chà Chệc, da đen Ấn, gọi chung là Chà Và (Java), da trắng trước gọi là Hòa Lan, rồi pha lang sa, chỉ phân biệt một giống tóc đỏ là hồng mao, Mên nay là người Kơ me, Mọi trở nên đồng bào Thượng, tránh tiếng anh đi rền (indigène), nhưng xin hỏi người sanh đẻ tại Paris, chắng là indigène de Paris, chứ gì?
Đá là ngã ba, ngã tư, tức chất chứa rác rấn, biết quét dọn làm sao cho hết, (đố ai quét sạch lá rừng), mở đầu bài này, tôi nói Sài Gòn dơ những là dơ là vì vậy. Người phương đông đến trước, ở đất nóng, thích ánh sáng và thích ồn ào, trống Bắc thì gọi Bắc cấu (Bắc cổ), nhưng làm gì có người Bắc Kinh, Tô Châu đến đây, đến nhiều là dân Quảng Đông, trống bịt da căng thẳng, tiếng nghe chát chúa, thêm phèng la to bằng tàn dù, tiếng dội ở tai, lại còn chặt cho nứt cho tiếng them nhức óc, chú Tiều là huyện Tri Châu quê chuyên ăn sò hến, trồng rau cải, trống kèn chuộng êm tai, đến khi người Tây qua, họ ở xứ lạnh, xa mặt trời, lấy yên tịnh làm đầu, bên ấy, nuôi con gà cho nó báo tin sáng cũng không xong, sáng ngày anh hàng xóm đã qua nhà yêu cầu
làm thịt con trống, cho ngủ an giấc, trẻ Pháp, sai đi mua một hộp diêm quẹt, nó chạy ù cho bớt lạnh, và lấy vận động thể thao làm đầu, trái lại dân Việt ta quen ở xứ nảy nóng nực, vận chuyển sẽ ra mổ hôi, dơ áo còn gì, bởi vậy đứng đi chậm chạp, nói năng chậm rãi, đi ở làm bồi cho Tây, vẫn bị chủ quở vì nào biết đóng cửa giữ hơi ấm như bên xứ của ông, cơ khổ, cửa phải mở trống cho khoảng khoát, vả lại có gì mà giấu, sách đã dạy: “thanh thiên bạch nhựt” kia mà.
Thảy thảy đều dơ, duy món ăn ở đây là được sạch. Và có thật nhiều.
Và phân làm nhiều lối. Món phở bò, vô đây từ những năm bốn mươi, nay có phở gà, nhưng chưa đánh chết được tô hủ tíu. Hủ tíu của chệc Tiều, từ Nam Vang tiếng hủ tíu lại là tiếng Quảng Đông, “hủ” là mục nát và “ngầu dụcc phảnh” chính là “ngưu nhục phấn”, qua xóm Tiều, hóa ra “củ tiếu” tôi hiểu theo tôi và chờ người lịch duyệt dạy thêm, có lẽ “củ” là “quẻ”, “tíu, tiếu” là nhỏ nhít (ngon thơm như mùi quế, nhỏ sợi…) giải nghĩa nữa thêm phiền.
Ăn có nhiều cách ăn. Ăn mắm sống xé tay, phải ăn bốc mới ngon, ăn kiểu cách ngồi vào bàn, mặc đồ lớn, mắm rau đặt vào chén, mất thú. Ăn theo Tàu, vỏ cua bỏ đầy mặt bàn, mới gọi là “hẩu xực (hảo thực), Tàu quán cơm lại bày món ăn treo cả dọc trước cửa hàng, ăn theo Pháp, nhỏ nhẹ không cho thấy nhóp nhép, giấu từng khúc xương, bếp núc đặt ở nhà sau, nhưng sạch hay dơ, khách nào rõ, lấy nấu chín làm tiên, ợ ra tiếng
được trọng đãi, Tây ăn bánh nướng bánh mì, nhai không cho thấy hở mồm, anh bợm bãi (chà Bombay), vò cục cơm, cục gà cà ri quăng vào miệng không cho đụng môi, đạo Hồi tổ là Mahomet dạy tay trái rửa mông bằng nước, cho nên ít bị thoát gian, tay mặt đưa món ăn vào không cho đụng môi, một cách kín đáo dạy chừa uống rượu mạnh và rót rượu từ trên cao rót xuống, có ngày sặc sụa và sặc gạch. Người Ân Độ dùng lá chuối lót thức ăn, vì họ có tục không dùng đồ đựng hai lần, vì vậy xứ họ không chế tạo đồ gốm, vua chúa dùng dĩa vàng chén ngọc, tôi chưa biết nếu không dùng lại lần thứ hai, thì phải làm sao đây?
Vua ta dùng đũa trc, không dùng lại, cũng được. Vua Thổ, ăn bốc, vua ngồi xếp bằng, tay trái chống hông, tay mặt bốc và cơm rơi bừa bãi, có như vậy, phong tục cho rằng có dư thừa, dân chúng đầu đen máu đỏ mới có cơm ăn.
Có lần tôi thấy một bức tranh dầu, vẽ cảnh một chị ngồi trên ván đang “xi con ự ứ”, dưới chõng, vẽ một con xi đang chầu chực, tranh khéo, cảnh thực, nhưng dầu cho thật sự, theo tôi chán chường, không nhã chút nào, tôi thích một búc tranh nhỏ thôi, để trong tập chớ cũng không treo, phóng bút gợi cảnh đêm rồi xem diễn tuồng Mạnh Lệ Quân giả trai, đậu trạng, làm thủ tướng, bổng có đơn của Đông Bình Vương cáo thừa tướng không phải bợm mày râu, vua Nguyên cỡi tuấn mã, bêu ngựa tới trước, bức họa vẽ vua ngó ngoái lại sau, tay đang quất trên cành liễu, cho giọt nước rơi xuống rửa sạch lớp phần thì biết giả chơn, đồng thời Lịch thừa tướng (Mạnh Lệ Quân) nơi phía sau vua, vừa trờ ngựa tới, cô Bảy Phùng Há lấy tay áo lau gò má, mắt liếc như thầm trách đấng quân vương sao có thói 35, vua và tôi, không nói một lời, giàn đờn do Sáu Tứng điều khiển cứ trổi bản Khổng Minh toa lầu, đờn khảy tứng tứng tưng tưng, thì vua quơ roi, (văng vắng nghe như có câu “Kế Khống Minh cao!”, khảy tới “từng tứng tứng tưng tưng” (nghe như “Tư Mã Ý hết hồn!) thì ngựa Lệ Quân Phùng Há vừa trờ tới, không cần một tiếng hát, chỉ tiếng đờn là đủ, nhẹ nhàng tiết tấu, lấy thính âm dây sắt dây tơ thế cho tiếng người, hay tuyệt diệu, cô Bảy còn đây và bức tranh nhỏ còn đây, Tư Út đâu còn, và cần gì mấy câu “bán chiếu Cà Mau” nỉ non sầu thám của Út Trà Ôn, một đoạn khiêu vũ tài tình, bức tranh không lời, diễn tả như vậy mới là tài tình, và trở lại món ăn ở đây, không phải đợi nhiều tiền mới phải là ngon, và lối viết cũng vậy, tôi viết hoài một điệu, người đọc tránh sao khởi mỏi mắt hết muốn nghe.
Như vậy, xin để cho tôi đứt nơi đây, và mặc đầu nói chuyện của mình là nên tránh, “khoai vò mình củ, cách mấy cũng không tròn”, và đây là chuyện thẳng tới qua món ăn trong này..Năm 1924 tôi ra trường đã được kể gần hai năm. Khi còn học, nhờ anh em đồng hương đưa lại một căn phố số 71 đường nay là Lý Tự Trọng. Số 69 là Khám Lớn, đêm đêm nghe tiếng trống canh đã nhàm tai. Phố rộng và rất sâu, từ hàng hiên, độ hai mét bề sâu, có một vách gạch chừa một cửa sổ và một cửa ra vô, bước vào là một phòng tiếp khách rộng vuông bốn mét ngang, có hai cột gạch chận salon ấy với một phòng ăn phía trong khá rộng có giường đồng Hồng Kông và một bộ vấn ba gó sừng, đến đây đã bao nhiêu thước bề sâu, kế đến một sân nhỏ chái xinh xinh làm phòng rửa mặt, tiếp theo là nhà bếp và nhà tắm, thêm một phòng đủ chỗ cho chị Ba, đầu bếp, ở chung với một mẹ già, nhà bồi này ăn thông với một hẻm, chừa cho đêm đêm cu li đổ thùng làm việc vệ sinh, hèm nầy đụng vách hông của sở đo và phát giấy căn cước, Pháp gọi Service d’Identité Judiciaire, trổ ra đường
Filippini đường này sau có tên là Nguyễn Trưng Trực và sở ấy quen gọi Sở Đồ Hình, cũng có tên Pháp khác là service d’anchropométrie, Đào Duy Anh dịch sở đo nhân loại trắc định pháp.
Khi ở trong trường, Tây giám thị chánh, tên Nicolai, lãnh nấu cơm, cho học trò, mỗi sáng cho một đứa một hột vịt giằm ớt nước mắm, suốt bốn năm như vậy nuốt không biết bao nhiêu trứng mà không dám chê lợm miệng; khi ra trường, lại tá túc số 71 Lagrandière nầy cho đến năm 1925 ra riêng cưới vợ, lại học dư, học phong lưu lãng phí, làm nhiều tiền, mỗi tháng 54 đồng (tương đương chín chỉ vàng), không biết tiện tặn, không biết gới bớt về báo ơn cha nuôi dưỡng, lại lên mặt làm sang, ba bốn bữa, đi ăn cơm Tây quán
Yeng Yeng một lần, cơm tháng, nấu rất ngon, lại chê nhàm, nhưng cơm Tây không mắc, một bữa độ hai món, chừng bảy cắc bạc đủ no: nửa đĩa bò phí lê chiên chateaubriand, khoai phồng, thơm bơ giá bốn cắc, năm 1924, tôi làm việc nơi trường máy ông Rosel, mới biết thuớ ấy, mấy thầy gác lớp nơi trường Trung học Tây và nơi trường Sở Cọp nhờ chỉ chọt[SL1] cho đốc học trường xuất tiền nhà mua sắm đất vườn trồng cao su mà củng có địa vị, ông giám thị chánh nơi trường máy nhờ bán thùng thiếc đựng ét xăng khi lấy hết xăng ra, mỗi thúng bán hai cắc mà dư tiền về ăn và dưỡng nhàn bên Pháp và còn dư tiền sắm vườn trồng nho bên ấy, tôi vẫn chưa biết tổng đốc xứ Bắc và các thượng thơ triều đình Huế lương bổng mỗi tháng là bao, chớ đốc phủ sứ trong Nam, lương tột bực là ba ngàn đồng bạc con đầm xỏe trọn niên, tính ra hai trăm năm chục đồng mỗi tháng, quan Tây cai trị hạng nhứt, lương chín trăm đồng mỗi tháng (bằng giá mười lăm lượng vàng), viên thống đốc Nam kỳ mỗi tháng lương kể luôn tiền phụ cấp là hai ngàn đồng bạc, nhưng đi có một thống đốc để lại như tri huyện tuổi tý mà ước ao phải là tuổi sửu cho dân dâng lễ lộc bằng bạc hiện nặng như trâu, thống đốc sắp về hưu, than: “Làm trầy vi tróc vảy, bắt Cộng, giữ thanh liêm mà lương tháng không bằng tiền vô của viên cò chánh trong Chợ Lớn, (vì chức cò, ông cẩm, tháng lương sáu trăm đồng, nhưng nếu cho chứa bài, cho hốt me, trong một đêm, là sánh bằng lương thống đốc trong một tháng, và nếu bài và me cho chứa nội một tuần nhựt, là đủ xin về hưu sớm, khỏi chờ hưu bổng lâu lơ. Lương của quan Pháp qua thuộc địa, có bằng cứ nhơn, vào làm nơi trường bác cổ, muốn cho khởi phân bì và giữ được liêm chính, vẫn được trá lương đồng hàng với chức quan cai trị, bên Anh quốc, quan chức lương rất hậu và lương cao quan viên ở thuộc địa tâng tiu chỗ làm, để về hưu tọa hưởng và khỏi hà lạm hối lộ.
Năm 1925 và 1926
Hai năm nấy, tôi hư hết chỗ nói. Cha mẹ định đôi bạn, tôi xài trong sáu tháng, tiêu cạn sáu trăm tiền hồ của ông già cho trọn, duyên nợ cưới tiền, tiền không đem lại hạnh phúc, nói chí phải, dọn về vợ chồng ở riêng một căn phố cùng một đường nay là Lý Tự Trọng, số nhà 214 bây giờ là một hiệu phở thơm ngon, phô nầy trước của Hội đồng Trần Trinh Trạch, tỷ phú muối ở Bạc Liêu, ông Bạch Thái Bưởi ở Bắc, chủ hãng tàu đi biển, hoa lợi ra sao, chớ ở Nam, ông Trạch có ruộng sản xuất muối, gặp mùa, nắng tốt, nội một ngày, ông thâu năm ngàn đồng bạc, sau khi đóng thuế đoan rồi, công tử Qui, ái tử của ông, lấy tiền bắt tay với gái lịch, đối thủ là công tử trắng trẻo xứ Mỹ Tho, giàu dầu dừa, cả hai phung phí và nuôi gái xinh tươi, danh từ hoa khôi chưa có, Ba Trà, Tư Nhị, Năm Chời Mòi, cô lai Lucie Bandot, trong lúc ấy, như ngựa sút xiềng tôi chỉ là một thơ ký tập sự nơi trường máy, nhưng nhờ theo thầy cũ là ông đốc Nguyễn Văn Mai, ông mở lớp dạy không lấy tiền nơi trường cũ Chasseloup, tôi theo thầy làm phụ tá dạy kèm tiếng Việt cho quan Tây, có ba Tây nhờ tôi chỉ giúp, mỗi tháng tôi có thêm sáu chục đồng tiền dạy, cộng với tiền lương, tôi có gần một trăm mươi ngoài mỗi tháng, gần bằng lương huyện, phủ, việc nhà hư hỏng, tôi phế gia cang, cặp nhơn tỉnh, công tử đi xe hiệu Delage chở cô Nhị, cô Trà, tôi ngồi xe song mã mướn giờ, có Sáu Ênh, khi khác Chín Ênh, khi khác nữa, cô Sáu Ngọc Anh, Anh cũng là Ênh, ba cô có máu Tàu, Trà Nhị, danh lớn mà đóa hoa đã tàn, ba cô nầy, gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu, chắc da chắc thịt, duy thiếu xe sang và nhà cửa xinh đẹp. Lúc nẩy tôi ở ăn cơm tháng nơi đường Bô na, nhà bán vàng và nữ trang của bác Cao Văn Hy, tuy vậy trưa trưa, tôi chỉ ăn có một tô hủ tíu cá gà, một cắc bạc, nhưng chệc Quảng nầu bán dạo rất ngon, tôi dành tiền để lên xe xuống ngựa, địch thể với hai công tử, ăn cơm nhà hàng Tây, tắm mát Xuân Trường nhưng Georges Phước và Ba Huy (hay là Qui) có biết đâu cảnh tôi hết tiền thường nằm tiệm hút đường d’Espagne, ăn bánh hỏi hai cắc một tràn nơi quán Ba Tàu đường sau gọi là đường Nguyễn An Ninh, cảnh hư mà giúp tôi nên, tiệm hút và quán bán là ve hột gà luộc, ăn chịu ký bông cuối tháng sẽ trả tiền, mấy nơi ấy chính là trường đào tạo cho tôi được như ngày hôm nay, và sẵn đây nhớ lại trong tập nhỏ “Tạp lục 1989/1990” vừa viết xong, tôi nói đã học nói thơ giặm về Bùi Kiệm không ắt vào năm 1924 hay là năm 1926, và nhớ chắc việc ấy xảy ra năm 1924, chớ năm 1926, tôi đã trải qua vài lần nằm nhà thương Chợ Rấy, bịnh ho gió, bịnh đường tiểu của gái tặng, một lần xuýt bỏ mạng, ban cua, văn hóa học chi cho nhiều, ngày ngày nơi sở làm, chỉ lập tờ mua sắt đồng cho học trò trường máy luyện tập, ốc bù lon, ốc long đền, xuýt quen tiếng Pháp học nơi trường, ăn uống vất vả, tuy vậy khá sạch và khá ngon, năm 1926, có một ông già, từ Thủ Đức gánh bò bún bánh hỏi xuống bán, tháp tùng xe lửa nới tiền, xin nhớ bò bún, thịt nướng hay xào và bún rau thơm, không phải bún bò, món ăn đặc biệt của Huế. Ông ấy tuy già nhưng khương kiện, tiếng rao lảnh lót, chủ nhựt ngồi chơi bài, nghe tiếng rao lật đật gọi, mỗi đứa một tràn bánh, giá hai cắc, rượu nguyên chai sâm banh hiệu Veuve Amiot, chín cắc một chai, đủ gật gù say say, tuổi chưa tới ba mươi, ăn sắt cũng tiêu hóa được, và hạnh phúc đã qua rồi mới biết!
Năm 1927
Năm nầy tôi lập gia đình mới, đầu năm dọn từ đường Bô na, lên nhà bà nhạc tương lai ở đường nay là Nguyễn Đình Chiếu, ngày chở rương đựng sách, có ba cô ả theo tiễn, muốn cầm ở lại cùng nhau thả cầm thi, bà nhạc thấy mà ngán cho thằng rể khéo lựa, phố lầu một từng nhưng rộng lớn, dài từ Phan Đình Phùng đụng với đường Hồ Xuân Hương, giá mỗi tháng một trăm sáu chục đồng, ông nhạc gia lương tám chục, lương của tôi cũng tám chục, cả hai cộng lại vừa đủ trả tiền nhà, còn tiền mướn đầu bếp, lái xe, bồi dọn bàn, chưa tính, nhưng chờ một đêm chứa me đủ trả, gần cuối năm chịu không thấu, dọn về đường Nguyễn Du, số nhà 75, vẫn phố của Hội đồng Trạch, sáu chục đồng mỗi tháng, mặt tiền phố ngó vườn Tao Đàn, chỗ nầy kín đáo, vẫn tiếp tục chứa bài làm sanh kế, duy mẹ vợ và bố ghẻ gặp vận đen, đánh bài thua để nợ cho tôi hẹn, cùn trí quá, chịu cực không xuể, chiều nào cũng có xét ty xách dù đòi nợ, góp tuần góp mỗi ngày, tôi thú thiệt với chủ là ông Rosel, ông tốt quá, bằng lòng cho tôi xin đổi về tỉnh, và có giấy cho tôi thuyên về tòa bố Sa Đéc, nơi có nhiều người ham chơi đồ cổ, và tôi phát tích thạo về đồ sứ xưa, cũng từ đây.
Tôi nổi trôi lặn hụp đổi về Sốc Trăng từ năm 1932, đổi lên tòa bố Cần Thơ, làm thơ ký đứng bàn ông chánh bố từ năm 1936, nhưng đi thi để thăng cấp vẫn thi rớt mãi, năm 1938, đổi về Sài Gòn trụ lại từ năm 1938 đến 1943, thấy tình hình không ổn, đổi về Sốc Trăng gần với cha, tưởng được yên thân, nhưng xảy ra đảo chánh năm 1945, chạy dôn chạy đáo, vô Hòa Tú tản cư, xuýt bị chết vì tội là phe có tiền và tội làm việc cho Tây, may phước là họ điều tra lại, biết tôi chưa làm gì có hại đến đồng bào nên họ bỏ qua, tuy vậy chịu cực không quen, lối cuối 1946, có dịp tiện, tôi chạy về châu thành Sốc Trăng, nương náu nơi nhà của Ba tôi, và có ngờ đâu sau mười chín năm hòa thuận bỗng đàn bà sanh tâm, ngoại tình, tháng 7 năm 1947, ngột ngạt vì đôi bên, bên Pháp là Tây đòi ép trở về với chúng, bên kia là anh em kháng chiến, đòi tôi ra theo, nhưng như đã nói, tập ăn trái bần mấy tháng ở Hòa Tú đã ê răng, tôi dành chịu lỗi, xách gói chạy lên Sài Gòn vào lối tháng 7 năm 1947, rồi dè đâu dính gốc dính rễ, có lẽ chừng nào đến ngày nào nằm trong sáu mảnh ván kia, thì sẽ được chở xác về nơi nhau rún.
Sài Gòn xét chung, trước khi trở nên thành phố mang tên Bác kính trọng Nay bình tâm xét lại, dám đâu lớn lối khoe “có từng thử lưa mới biêt tuổi vàng” , và cung chăng nên tự phụ “gần bùn mà sen vẫn trắng trong tinh khiết”, vả lại chuyện hiện tại, tôi ru rú ở trong nhà, làm sao biết rõ hơn người lịch duyệt, từng bươn chải đi Bắc vào Nam, vậy xin chừa chuyện đời bây giờ cho người khác viết, duy phải nhìn nhận nhờ được cha mẹ dạy kỹ, “lọng dù dầu rách vẫn còn sườn”, tôi sống nhiều năm trong cảnh hư đồn và nay được như bây giờ, ơn cha mẹ không quên, mà nào dám quên sự đào tạo của hai vị ân nhơn như dưới đây xin kế:
Và tôi xin nhấn mạnh một điều: việc tôi kể rồi, có người không thương, ắt nghi tôi lẻo mép, nói sai sự thật, vậy tôi ghi lại đây, những gì của hai người cổ cựu, sống lâu năm đất Sài Gòn, nay đã quá vãng, thuở đó đã sinh sống và thuật với tôi làm sao, tôi nay thuật lại y như trí nhớ, nhưng những sự việc ấy thật quá tầm thường, đối với người làm chánh trị, ắt chướng mắt và vô ích, nhưng đổi với người làm kinh tài, muốn có tư liệu về sinh hoạt ngày xưa, thì quả là nên tin là đúng sự thật, nhưng vẫn cu cu chẳn chẵn, nhằm chướng, và tôi nhấn mạnh lại nữa, những gì tôi đã viết trong cái tập nhỏ hiện đang tái bản lần đầu, tỷ như về giá vài món cổ ngoạn, tôi thường kể lề ngày mua, giá mua, chỗ bán, lúc trước thấy như rườm rà vô ích, nhưng nay mới thấy hậu quả cũng giúp được phần nào để so sánh với giá hiện tại của mỗi món còn tìm gặp, nhưng về giá cả và giá trị, đã leo thang đến bực nào, một cây nhang thắp, một tô phở đều giá số ngàn, một ly nước chanh đường lạnh, họ bán nơi khách sạn nổi đậu chỗ một hình, giá kinh khủng quá sức tưởng tượng, tầm chục ngàn rồi sụt bốn chục ngàn, nhưng vẫn chưa mát và ngon hơn ly nước một thứ chanh chợ Bà Chiều hay Hóc Môn, Bà Điểm.
Người thứ nhứt, mở mắt cho tôi là bà chủ nấu cơm tháng năm 1924. Vì nhà của bà ở sát nách Khám Lớn, phố số nhà 77, chỉ cách Khám số 69, có ba căn: số 71 là quán hủ tíu sau đó là văn phòng một luật sư, căn 73 của mại bản Tàu tên Diệp Bắc Hưng, số 75 của chà Ponnou ký giả, căn số 77 chỗ tôi ngụ, mỗi đêm mỗi nghe tiếng trống sang canh của Khám, lại nữa tôi chơi thân với Huyện Hiệu làm thơ ký nơi Khám lâu năm và bạn đồng trường Nguyễn Văn Lạc, cũng xuất thân tập sự nơi Khám nầy, cho nên việc vặt vạnh nơi Khám, tôi nghe đầy tai, và tôi vốn là mọt sách, đã mua được vài tập nhỏ thuật chuyện phá Khám và chuyện xử bắn oan uổng những người bị bắt và tình nghi đã phá khám (xem phần phụ lục nơi sau).
Bà chủ nấu cơm tháng của chúng tôi, vốn là họ Đỗ, có chồng họ Lê, bà quê ở Gò Công, nhưng vô dân Sài Gòn đã từ đời bà Cố Hỷ, vì chồng làm cờ le cho một luật sư Pháp, nên chúng tôi gọi tặng bà là “Bà Thầy”. Lúc xuân thời bà có nhan sắc, nhưng tánh quá chặt chịa, làm eo làm xách, Ông Thầy chịu không kham, nên đã nứt niền, lập gia đình khác và không trở lại, bà có hai ái nữ đều cho học trường đầm Marie Curie, bà nấu cơm tháng cho bốn đứa chúng tôi, mỗi tháng bà có tám chục đồng, đủ trả tiền phố ba mươi lăm đồng, và bà chỉ tốn tiền túi thêm vài chục mà ba mẹ con và chúng tôi vĩ vèo sáng sữa bò hủ tíu bên xóm mỗi tô ba xu, cơm trưa và chiều, chị Ba bếp khéo xoay trở đủ gà trộn gỏi, bò bít tết và thịt kho nước dừa, dưa giá chấm vào nay nhớ lại bắt thèm. Khai quan điểm nhãn là chính bà dạy chúng tôi xa hoa học ăn ở đài các, khăn bàn lau mặt mua tiệm Marty, xà bông hiệu Cadum, cơm Tầu và cơm nhà hàng Tây vào đầu tháng, khi nhà Rénard nơi khu Chợ Cũ đường Phủ Kiệt, khi quán Yeng Yeng đường Pasteur, hoặc quán Quảng Hạp nơi đường Lê Thánh Tôn, và trở bữa có quán cơm Việt nơi Lữ quán đường d’Espagne, có cô Marie ngồi thâu tiền, mắt thu khiêu khích, hoặc nơi góc đường d’Espagne và Thủ Khoa Huân có quán lớn gọi nhà hàng Mékong, mỗi một đêm thứ bảy có đờn ca tài tử. Khi dùng cháo cá ở đường chạy sau lưng Chợ Cũ, quán cha truyền con nối, bán duy nhứt một món cháo bình dân, mỗi tô một cắc bạc, nhưng cho đến nay quán đã đẹp mà chưa nơi nào cháo sánh bằng, cháo nấu thật lỏng, cá lóc, cá bông thái thật móng, húp cháo nóng kèm với một bánh dầu cháo quảy, phong lưu hơn nữa kêu thêm một dĩa gói cá sống trộn dưa đu đủ thật dòn, không cần vào tiệm sang cho ngoại kiểu cắt cổ, chiều chiều đến đây dùng cháo, với một cà rô bi (roupie) tức nửa đồng bạc thời đó (0$50) mà tưởng tượng có thua nào Tổng Giang ăn gỏi lý ngư bên
Tầm Dương để đề phản thi trong truyện Thủy hử, còn như muốn có gió mát thì đến đầu chợ Bến Thành, nơi đường rầy sắt xe điển, hột vịt lộn, chả giò chiên nóng của Ba Đờ ra ghi (bar Draguy) là quán bán rượu lẻ, la ve có bọt, hai bạn ngồi đánh chén, khi no đứng dậy tính tiền chưa quá hai đồng bạc
Đằm xòe!
Chúng tôi bốn đứa luân phiên trả, nay cả ba bạn kia và bà chủ nấu cơm tháng đã không còn, và tôi chỉ còn nhớ bà thuật chuyện năm 1913, có vị Phan Xích Long và Tư Mắt, phá Khám không xong để đồng bào bị bắt, bà chủ nói đêm phá khám có trời mưa lớn, đêm khuya nghe súng nổ và tiếng người chạy, rạng ngày người nào bận áo trắng quần màu đen, đều bị bắt và đưa ra tòa đại hình xử, phần đông bị tử hình. Tây sơn đá đứng hàng hai, bắn tại Đồng Tập Trận, lần nhứt bắn ba mươi tám người ngày 22-2-1916, lần nhì bắn 13 người ngày 16-3-1916, hồ sơ xử bắn, gới qua Pháp quốc để chuẩn y, nhưng đại thẩm viện bên Pháp ra lịnh ân xá, chừng hồ sơ trở về thì việc bắn hai lần đã kết liểu, không nghe nói mấy thi thể chết oan có hoàn sanh được chăng, chỉ nghe lại quan tòa, quan thực hành vụ giết trước không chờ lịnh bên
Tây, thảy đều bị thuyên chuyển và giấu kín, nhưng xin hỏi, xử như vậy, công lý chỗ nào – Huyện bênh huyện, phủ bênh phủ, Tây vẫn bênh Tây.
Bên Pháp, người quí tộc, vẫn danh tánh có chữ “de…” đứng đầu, cay cú là tên tả đao, cũng có biệt hiệu là Mông xừ Đờ Pa ri, ở Sài Gòn trước đây ở Khám Lớn, tôi từng thấy hai gươm xưa giá tréo treo trên trần chỗ của viên chúa ngục Agostini đặt làm văn phòng, và tả đao điều khiển máy chém, tên là Đội Phước, làm cái nghề thật là nhàn hạ, một năm tròn, ngồi chơi xơi nước gần đủ mấy ba trăm ngày, gươm máy dặt tại một phòng tối trong khám, khi có chỗ nào cần chém đầu sẽ chở đến đó vì theo luật công lý chỉ có duy nhứt một gươm máy, mỗi lần chặt đứt đầu thầy Đội Phước được lãnh thêm một trăm quan, và nghe như cháu con của Phước vẫn còn, duy không cha truyền con nối nữa (21-6-1990).
Sài Gòn kể từ năm Nhựt chiếm đến năm 1943, tôi rời về Sốc Trăng, rồi năm 1947 trở lại. Đoạn nầy tôi không nói đến những năm tao loạn, đuổi Nhựt giành quyền với Pháp, và xin khuyên bạn đọc, hãy rán tìm hai quyển rất có giá trị và đều là sách không còn bán, đốt đuốc cũng tìm không ra, vì quyền Saigon (Septembre 45 của bạn quá cố Trần Tấn Quốc, dày 69 trang, khổ 11×14, (giá cũ 6 đồng), cũng như quyển 14×21, dày 502 trang của Nam Đình (Nguyễn Kỳ Nam) cố nhân, tập 11, 1945 – 1954, Hồi ký, chỉ dành ký tặng cho bạn quen, chớ không bán cuốn nào và bất cứ giá nào. Tôi làm sao viết kịp hai nhà săn tin tài ba nầy, lại nữa tôi nhứt định không rớ đến chánh trị, những gì tôi kể lại đây, đều cà kê nghê ngỗng, thuật lại sự sinh sống và sinh hoạt buổi trước nghe chơi.
Tiếp theo đây là cuộc sống của nhạc mẫu, họ Dương, thuộc dòng một vọng tộc đất Vãng (Vĩnh Long), ngụ nhiều đời đất Sài Gòn nầy. Làm sao tôi quên được ơn bà, dầu hai đứa tôi đã ly dị từ lâu, nhưng ngõ ý còn vương, tôi không phải bọn tắm, vuột mặt quên lòng, và không có bà kềm chế, ngựa sút chuồng như tôi, chưa ắt chịu thuần thục ngậm hàm thiếc và chạy ngay theo đường thắng.
Bà rất tốt, nhưng rất là giấy giữ lề, tôi làm dâu, ủa quên, nhờ làm rê cố công, mới học được cách ăn ở “đất lề quê thối” của nhà họ Dương nầy, một lớp trước là học trò buổi Tây vừa qua đây, thế hệ tiếp đó, xin kể lộn lạo như Dương Văn Giáo (cậu của vợ ly dị) làm cách mạng tuy có Pháp tịch mà chống Pháp kỳ cùng, như Dương Văn Mai (cậu vợ) từng làm thông ngôn dẫn thầy thợ qua Pháp làm lính chào mào, có vợ đầm, sau về đây làm trưởng tòa ở Long Xuyên, như Dương Văn Tây, anh ruột của D.V. Giáo, làm lâu năm sở Tần Đáo, còn các bạn đồng sang Pháp rồi trở về, một Trần Văn Tỳ, làm đến tòa áo đỏ nơi Pháp đình, một tòa tên Quan, một tòa tên Giác, đều có quốc tịch Pháp nhưng đều thuộc đảng Lập Hiến đòi Pháp nới tay, trả bớt quyền cho ta, nhưng chỉ đi đến Pháp Việt đề huề, tôi nói ra đây chi cho khỏi đảng ngày nay chê tôi tâng bốc người không xứng đáng, nhưng xin thưa, mỗi đời một khác, dám chơi dám chịu như một tòa Tỳ, từ thơ ký qua làm thông ngôn cho đám thợ chống giặc Đức, học trường cai trị của chánh phủ Tây, được bổ nhiệm làm quan tòa, thanh liêm nhưng ham mê gái lịch, lộ liễu cử chỉ người trong Nam nẩy, xin cứ để tôi khen.
Những thập niên 1930 và chín mươi năm sau là thời kỳ tôi gọi là “chắp nối” bán tân bán cựu, ruộng ở Hậu Giang vừa phát, lúa má trúng mùa liên tiếp, điển chủ gới con sang Pháp, nhưng các cậu trong Nam, qua bên ấy, học khiêu vũ, học ăn chơi chớ ít học chữ nghĩa, cặp mèo và nhập đảng nây đảng nọ. Nhung, con của thầy tôi là ông giáo sư Ng. V. Mai, thì học nghề nhiếp ảnh rồi về đây hút xách hư thân, Nguyễn Phong Tân, con của chủ nhà ngủ Phong Cảnh, học nghề cắt may, về Sài Gòn, khủng bố người xứ Bắc, Phong Tân theo Tây, bắt ép người nào nói giọng trọ trẹ “Tân sơn nhất” (thay vì Nhức) thì làm tội, đánh đập và tịch thu tài sán, nhưng Phong Tân sau bị xử tội và chết đáng đời, tôi kể sơ hai gương ấy thôi, còn việc tại đây, đầu những năm 1930, 1931 xe hơi mới đủ hiệu, bán liền liền, kịp đến năm 1932 bắt đầu kinh tế khủng hoảng, giá lúa tuột còn ba cắc một giạ, giá vàng ba chục đồng một lượng, rồi sụt thét có năm nọ giá vàng chỉ còn mười chín đồng (19$00) mà chẳng ai còn tiền để mua vàng, xe hơi không tiền mua xăng, để mục, lấy xác xe đổ phân trồng hành, một cuốc xe kéo tay, giá năm xu (0$05) mà chẳng có kiếm được mối, hớt tóc cũng năm chiêm (0$05) mà thợ hớt phải dẹp nghề, gái có sắc, chịu làm bé, mỗi tháng hai chục bạc (20$00) mà vẫn tranh nhau vì đói, công tử út, con Hội đồng Trạch, em của Ba Qui, tên gọi Tám Bò, chở gái từ Bạc Liêu lên Sài Gòn để giỡn tiền, công tử Bích, ở Bến Tre hay Trà Vinh, lấy kim cương nhận vào dây nịt da cá sấu để khoe giàu, công tử Đoài, con của thầy Phòng ở Sốc Trăng, cấp dưỡng cho tình nhân là cô Lucie Bandeau, vì trán có vết thẹo, lấy băng lụa che giấu thẹo mà thành danh, công tử lai Miên, cậu Emile P. ở Sốc Trăng, khi người mẹ từ trần, ăn gia tài, lấy tiền mua một lần ba bốn xe hơi, phá tán hết tiền, bán xe, vô làm lính săn đá, vì có Pháp tịch, rồi chết nơi dưỡng đường Grall, xác còn quàn chờ người em là cậu Etienne ở Sốc Trăng lên sẽ đem chôn, nửa đêm xe lên tới nơi quàn xác, Etienne (nay ở Pháp) tay xách va li, mặc quân phục bước vào, bốn lính săn đá, hai đen hai trắng, đứng gác chung quanh cái quan tài, ngơ ngác toan bỏ chạy, tưởng ma hiện hồn về, thằng nào mình mới liệm hồi sớm, và thằng nào xô cửa nhà xác bước vào đây, vì Emile và Etienne là đồng hào song sinh, và anh em giống nhau như khuôn đúc!
Khoảng những năm đó, ở Cẩn Thơ mở trường trung học Bassac, Hậu Giang, trường ở Mỹ Tho chuyên trau giồi Việt văn, Sài Gòn lập trường đặt tên là trường Pétrus Ký, đâu đâu đều rất đông học trò, học chữ nho, đã Tây cấm dạy thêm học xong kiểm nghề không ra, buộc lòng phải theo học chữ Tây, ngặt nỗi đậu bằng tú tài Pháp, thi đậu ngạch thơ ký soái phủ, lương tháng chỉ được hai mươi lăm đồng (xin đừng quên vàng y giá ba chục đồng một lượng), và số tú tài đông quá, ngạch thơ ký hạn chế tuyển rất ít (mỗi năm độ vài chục người).
Trong khi ấy, tôi đây hèn nhát, và cạn thấy, thêm nữa, buổi xuân thời, tôi vẫn bạc nhược sì sợp ho hen, lại thêm có vợ đẹp, và tiếc dại dột nửa mảnh chức cò mi (huyện nửa chừng), tuy có bản tánh cang trực và bất khuất (tôi không nói tốt cho tôi đâu), nhưng khuôn khổ bà nhạc mẫu muốn làm sao, tôi vẫn phải xuôi theo, phận sự làm rể cố công, nay nghĩ lại mà còn đỏ mặt: đi mời tay bài; ngồi nhà chờ chà đến lấy tiền góp, phải hạ mình xin khất; phố mướn đứng tên, xe mua thiếu chịu; xấu nhục đã từng, chai lơ mặt mốc, thế mà dã tràng xe cát, cô Tư Tuyết ôi, nỡ nào đành đoạn thôi nhau: Ôi! Mười chín năm ân ái!
An ủi một phần nào là bà via rất tốt, tuy dạy dỗ gắc gao nhưng lằn xếp còn đây, bà rất biết người và thường cho chúng tôi tiền để đi ăn cơm Tây nhà hàng, nhưng bù chì lại, ông via, cha ghẻ của Tư, rất xấu, nhỏ mọn kẽ vạch, bố vợ lấy của tôi mười lạng vàng dấu tích của mẹ tôi để lại, ông cầm cố và thua trong sông bài sòng me ráo nạo, ông hứa chuộc mà không giữ lời. Thôi! Bà nhạc dạy: khăn toa lét phải mua khăn lông dày ở nhà
Marty, nước hoa phải mua ở nhà hàng Sạt ne, tôi còn nhớ và là tôi: bỏ hút thuốc vì không có thứ ngon, bỏ rượu vì không phải chánh hiệu tốt thì thà nhịn thèm, xà bông vẫn loại ướp palmolive mua mấy năm nay vẫn còn dư, còn như phấn chà răng, răng đâu còn mà hỏi?
Tại nơi nhà fà nhạc, nơi đường Taberd, vẫn ván trắc, bàn ăn cũng bằng gỗ trắc duy kiểu xưa nặng nề, bộ ghế phòng khách vẫn gỗ gụ mua tại nhà buôn lớn Đào Huống Mai chở từ Bắc, do thợ khéo Nam Định cẩn xa cừ tinh tế, thợ Lái Thiêu thua xa, ô trâu bạc chạm hiệu Chauvin, bồi trẻ dọn bàn hai người, mỗi tháng mỗi người, lương tám đồng, và thay đổi liền liền, khi không vừa ý, phạm lỗi, thì bà sai tôi tìm ông già tên Ba Liếng cho người thay thế, ông Liếng là đầu nậu chuyên nghề tìm người giúp việc nhà, khi có chỗ vô làm, tháng lương đầu phải kiếng cho lão, phải cúng cho lão, và lão bẻ tiền xúp như vậy đủ phè phỡn no nê, vợ lẻ vợ mọn là khác, vì xã hội thời Pháp thuộc, con bồi chị bếp vẫn ở trong tay lão Liếng nầy.
Tôi nói dài dòng, bà nhạc tôi việc tề gia rất có kỹ cương. Xài tiền như nước, các tay cờ bạc đều mát, thêm được đồ ăn đồ uống rất nhiều nên bán rẻ, nhà hết tiền thì ký giấu mua bông (bon pour), nhà mở tiệc yến liền liền, rượu Tây đủ hiệu, duy mua nước đá cục, vì thuở đó, ít nhà sắm nổi tủ lạnh frigidaire.
Cá thịt không thiếu, vĩ vèo tôm càng cua lột, thịt rừng, đuông chà là, từ Cà Mau chở lên, bán một xu một chà là, đuông chiên rán thoa chút bơ, nhấp một hớp mạt ten (Martel), xem bầu trời như nắp vung… ngày nay đuông, tôm cua đều xuất ngoại, đầu mùa mưa không nghe ếch nhái huềnh hoang, và tiền trong túi cũng vắng. Có từng đói mới biết dẫn đầy bao tử là đủ sướng, không cần ngon dờ, có ở khám, có nằm nhà thương mới biết giá trị chưn khỏe tay lành, ngày nay cơm dùng rất trễ, sáng sớm cà phê, trưa ngọ ăn lếu láo, cơm chiều lúc tối mò, vì phải chạy phải làm mới có để ăn, buổi gần đây, thời Pháp thuộc, lấy tiếng trống bãi hầu làm hiệu, mười một giờ và năm giờ thì xơi nữa, và trước khi đi ngủ, tám chín hay mười giờ còn mì dẫn bụng mới ngủ êm, trái hắn tục Tây, ăn trưa thật no, và tối ăn món nhẹ, để bao tử nghỉ vì sợ trúng thực. Nhà nhà phần đông đều vậy, bàn cao chưn, ghế đầu vững vàng, trắc, cẩm lai… nay bàn cây trắng tạp phạo, ghế ngồi thật lùn, lé để vừa khỏi mặt đất, miễn tô phở thật nóng và bình trà uống đến nước dợt trắng xác, câu chuyện quên thôi.
Cây trắc nào còn trong rừng, cây cẩm lai nay giá mắc như vàng, bắp bênh thân phận, đăng ký, bán phứt hết cho rảnh tay, áo giáp giày ra trận cổi bỏ vào đống rác cho khỏi mang tiếng ngụy, nay nằm đất ăn ngồi xó hè…
Bữa nào vui miệng, ngồi vào bàn ăn, bà nhắc chuyện xưa, lúc làm dâu đời chồng trước, nhà mẹ chồng giàu nứt vách mà cơm chụm lá trẻ, phải ngồi canh lửa, khối xông cay nước mắt chảy mà nào dám lau, đang có thai, mẹ chồng bắt lỗi sai moi đất khoét lỗ cho đừng cấn thai và phải nằm lãnh đủ mấy roi đền tội. Tôi nín nghe mà ớn lạnh xương sống, thảo nào sau nằy tôi bởi quá dễ dãi và quá tin, nên mới xảy ra vợ ngoại tình, và nào phải có một bà nhạc tôi mà đủ tượng trưng cho cảnh sống ở Sài Gòn, hoa lệ xưa có bà Ba Ngoạn, bầu gánh hát bội và từng hầu vua Thành Thái lúc ông mất ngôi ở Huế, trong Chợ Lớn có bà Tám Đội, bầu một gánh hát bội khác, nay còn nhà là một dinh thự to, thế hệ của bà nhạc tôi là bà Huê Mỹ, chủ một hiệu giày có mặt thêu cườm gọi giày Hàm ếch Gia Định, đồng thời với bà Nguyễn Chí Hòa, mẹ của Nguyễn Chí Mai và dược sư Nguyễn Chí Nhiều, hiệu Chí Hòa đóng giày Tây nổi tiếng, giày tige drap, gót đóng thêm móng sắt cho đỡ mòn, và mặt da may thêm một đoạn ní khác màu, nên gọi tige drap, ở Âu châu, hoàng tử Anh (prince de Galles) ra kiểu cho dân sang trời Âu bắt chước, ở đất Nam, vua B.Đ. đi giày hai màu, chỗ đánh phấn trắng, đầu và gót giày bịt da màu vàng, cũng gọi giày dôn (jaune); Bắc mặc áo the lốt trắng, Trung, áo đại triều màu phân biệt theo cấp bực, trong Nam vẫn áo xuyển đen, khăn Suối Đờn xếp sẵn, trước có áo vạt hò, áo may theo kiểu Quảng Đông, Tây qua đây, thầy thông, ký lục mặc áo Bành tô, bọn dọn ăn nấu bếp, không gài nút và bày ra mốt “áo thả ngực”, khoe dây nịt nỉ đen cao một gang tay, mặc Âu phục nguyên bộ, áo vải bố sáu nút ngà, rồi bốn nút xa cừ, rồi ba nút gọi u ue (ouvert), hai nút, một nút, nhưng khi gài khi mở nút, mũ cánh chuồn, vua mất ngôi, mũ cánh chuồn đã lỗi thời, trong nầy nón rơm Panama, nón ni đen hiệu Tournier, rồi đổi hiệu Fléchet, và Borsalino, từ kháng chiến, mũ và nón đắt tiền đều thay thế bằng chiếc cát kết thợ thuyền, chằm vá nhiều màu, áo cụt tay rồi áo sơ mi bỏ ngoài quần vạt ngắn vạt dài, phụ nữ bỏ áo dài, bỏ áo vá quàn, mốt Lơ mia (Le Mut) quần áo một màu, quần thêm may ren, xưa ky mặc quần trắng, nay quần đã trắng thêm rất mỏng, xưa có áo nịt, kín đáo, nay bắt chước đầm dùng vải che nhũ hoa, nhũ hoa vun quá vun thì cót xê tém vào, nhũ hoa xẹp lép thì cót xê dộn thêm một lớp cao su cho khiêu gợi, chị nào tốt phước, nhũ hoa như của đào chớp bóng Marilyn Monroe, thôi thì trở lại diễn như xưa, xưa gánh bầu Ninh, đêm thứ bảy, để dụ khách đến xem, thường rao tuồng: “đêm nay có đánh đồ thiệt”, tức thí võ với đao kiểm sắt bén và cây chĩa ba nhọn lễu, và thời còn thuộc Pháp, các cô ăn sướng có ngực đẩy đà, thường để ngực trần, bất chấp cọt xê, vừa khiêu chiến vừa mời mọc, còn loại có nhũ hoa dài như trái mướp, ngồi chơi tứ sắc, đứa con đòi bú, thì kéo vú ra sau lưng, đến khi trở về già, khi giã gạo thì nhốt vào lưng quần cho gọn.

Vương Hồng Sển vẽ bởi con trai ông: Vương Hồng Bảo
Nói chi thì nói, phải nhìn nhận dân Sài Gòn vẫn có bản lĩnh, – nước dưới sông thấy đó mà chặt không đứt, bứt không rời, trải mấy trào liên tiếp, mà dân vẫn là dân, cảnh có đổi mà dân không đổi, và tố nào theo tố nấy, hết trắc, cẩm lai, thì còn gỗ đen gõ đỏ, bằng lăng, thao lao qua vên vên, vấn xoài vấn điệp, hết cạn tất cả thì lấy vẹt ni phết vào ván tạp, tha hồ vẽ, giả làm danh mộc dễ dàng, nhà có tiền, không còn hòm cây trai thì có hòm giáng hương, hòm Tobia, hòm hãng Vạn Thọ, không cho đất chôn thì hỏa táng cũng xong.
Anh Phạm Văn Tươi, làm chủ một nhà cắt may có danh, anh mở thêm một nhà bán sách, ngày nay loại “sách học làm người” của anh, còn có người sưu tầm.
Tôi viết đến đây đã thấm mệt, cũng không dám kết luận, thế giới đang biến chuyển, vừa rồi có tin xứ Iran, động đất chết số vạn, lụt nơi đất cao nguyên, đất lỡ, đất chuồi, gấm lại nếu biết khôn, tưởng ở cho có đức là hơn, và ngậm ngùi nhớ đến bà nhạc mẫu, chôn nơi đất thánh họ Tần Định, nghĩa địa nẩy ngày nay là xóm phố mới nơi phía sau rạp chớp bóng đường Nguyễn Trọng Luyến, tôi không gặp lại cô
Tuyết, và không rõ cô có kịp thời cải táng cho bà nhạc cũ của tôi chăng? Nhớ câu: “Ai ơi! Chồng dữ thì lo, mẹ chồng mà dữ mổ bò ăn khao”.
Bà không dữ với tôi, mà câu ca dao viết như lạc đề. Mộng Trang Châu là đúng. Bá niên trường thọ, đời nay thường chúc tụng, gẫm lại là bất hạp thời. Phải biết nhường chỗ cho cháu con tấn lên mới sáng suốt.
Nhơn đọc bài Pháp văn “Comment on vivait à Paris sous l’Empire” của Louis Madelin (Nistorama số 250 tháng 9 năm 1972, hưởng ứng mà viết bài nầy).
(Viết ngày 22-6-1990)
*Hồng ốc: bản thảo tác giả viết là Hồng ốc hay Ổng ốc không rõ
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.